Dictionary Search
toán đề
(算題) Cũng gọi: Đoản sách Gọi tắt: Toán Chỉ cho đề mục trong luận trường của tông Thiên thai. Toán là thanh tre nhỏ và dài. Trong tông Thiên thai, khi bàn bạc và hỏi đáp về pháp nghĩa thì những câu văn khó hiểu được viết lên Toán để tiện nêu ra từng đề mục một mà thảo luận, gọi là Toán đề, giống như tấm phiếu hoặc cái thẻ mà người đời thường dùng để chép những điều cần ghi nhớ. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm chính là bộ sách do Đại sư Kinh khê đời Đường giải thích những câu hỏi được ghi trên các thẻ tre mà hình thành. Tông Thiên thai Nhật bản quen dùng phương pháp này.
toát mồ hôi
To sweat—To perspire.
toát yếu
1) Summery—Resume. 2) To choose the chief points only.
Toạ
坐; C: zuò; J: za; |Có các nghĩa sau: 1. Ngồi; 2. Chỗ ngồi; 3. Giữ gìn, bảo quản, giữ vững.
toạ
(坐) Phạm:Niwadyà. Pàli:Nisajjà. Chỉ cho tướng ngồi ngay thẳng với y phục chỉnh tề, nét mặt trang nghiêm, 1 trong 4 uy nghi:Đi, đứng, ngồi, nằm. Có các cách ngồi như: Kết già phu tọa (cũng gọi Già phu tọa, Phu tọa), Cứ tọa, Trường quị, Hỗ quị,…... 1. Kết già phu tọa: Cách ngồi xếp bằng, chân phải đặt trên bắp đùi trái, chân trái đặt trên đùi phải, thông thường gọi là Kết chích(tréo chân), Nhưlai tọa. Còn cách ngồi chỉ đặt chân phải trên bắp đùi trái thì gọi là Bán già phu tọa(cũng gọi Hiền tọa), đối lại với Kết già phu tọa của Như lai thì Bán già phu tọa cũng gọi là Bồ tát tọa. Hai cách ngồi toàn già và bán già này mỗi cách lại chia làm 2 loại là Cát tường và Hàng ma tọa.2. Cứ tọa: Tức Tỗn tọa, nghĩa là ngồi xổm. Kinh Đại tỉkhưu tam thiên uy nghi quyển hạ, có nêu ra 5 điều nói về Cứ tọa, như không được tréo chân, không được để chân trên, chân dưới…... 3. Trường quị: Quì dài. Tức 2 đầu gối quì sát đất, 2 ống chân cách mặt đất, đầu 10 ngón chân chống đất, mình thẳng, là cách lễ của tỉ khưu ni. 4. Hỗ quị: Hai đầu gối giao nhau quì sát đất, là cách lễ của tỉ khưu. Trường quị và Hỗ quị thường được sử dụng khi lễ bái. Mật giáo cũng có nhiều cách ngồi tùy theo chủng loại pháp tu và tương ứng với Bản tôn, như Tát kết già tọa(ngồi tréo 2 chân, đầu gối dựng đứng) trong pháp tu Tức tai; Liên hoa tọa(ngồi theo cáchkết già phu tọa)trong pháp tu Tăng ích; Hiền tọa(ngồi xổm, mông không chạm đất) trong pháp tu Hàng phục; Ốt câu tra tọa (chân phải đạp lên chân trái, mông không chạm đất) trong pháp tu Hộ ma…... Các cách ngồi trên đây có lẽ đã được chuyển biến từ các cách ngồi: Cát tường tọa (Phạm:Svastikàsana), Ngưu khẩu tọa (Phạm: Gomukhà), Liên hoa tọa (Phạm: Padmà), Dũng tọa (Phạm: Vìrà), Giải thoát tọa (Phạm:Muktà)...… được nói trong Áo nghĩa thư của Ấn độ đời xưa như chương thứ 3, thiên 1 Zaịđilyopa-niwad, thiên thứ 3Zrìjàhàla-darzano, Trizikhibràhmaịo… [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Nhuy hi da Q. hạ; kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; kinh Tì ni mẫu Q.5; luật Ma ha tăng kì Q.35; luận Đại trí độ Q.7; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q. hạ, phần 3, tiết 4; Thích môn qui kính nghi Q. hạ]. (xt. Bán Già Phu Tọa, Kết Già Phu Tọa).
Toạ bồ đoàn
坐蒲團; J: zabuton; cũng được gọi tắt là Bồ đoàn; |Một dụng cụ để Toạ thiền, thường được dồn bằng bông gòn và bọc bằng một lớp vải xanh dương đậm. Toạ bồ đoàn có hình vuông, với kích thước mà một người ngồi thiền trong tư thế Kết già phu toạ vừa đủ ngồi và để hai đùi gối lên.
Toạ cao quảng đại sàng
坐高廣大牀; C: zuògāoguăngdàchuáng; J: zakōkōdaishō; |Việc sử dụng giường cao rộng; các tăng sĩ Phật giáo không được dùng theo điều luật trong Thập giới.
Toạ cao quảng đại sàng 坐高廣大牀
[ja] ザコウコウダイショウ zakōkōdaishō ||| The usage of a high, wide bed; prohibited for members of the Buddhist clery according to the ten precepts 十戒. => Việc sử dụng giường cao rộng; các tăng sĩ Phật giáo không được dùng theo điều luật trong Thập giới.
Toạ cụ
坐具; J: zagu; là »Dụng cụ để ngồi (thiền)«;|Ban đầu toạ cụ chỉ là một tấm vải để ngồi và là một trong sáu vật (lục vật) mà một thiền tăng được mang theo tuỳ thân. Nếu thiền sinh đi Hành cước thì toạ cụ thường được xếp gọn và cất giữ dưới y phục. Trong Thiền tông thì toạ cụ trở thành một tấm khăn mà ngày nay cũng còn được sử dụng trong những buổi lễ, ví dụ như khi thiền sinh trải toạ cụ để quì lạy, lễ bái. Toạ cụ cũng được nhắc đến trong một vài Công án.
toạ cụ
(坐具) Phạm: Niwìdana, Niwadana. Hán âm: Ni sư đàn, Ni sư đán na, Ninh sử na nẵng. Hán dịch: Phu cụ, Phô cụ, Tọa ngọa cụ, Tọa y, Thấn ngọa y, Tùy tọa y. Gọi tắt: Cụ. Đồ dùng để ngồi. Tức tấm vải hình vuông và dài được trải trên đất hoặc trên đồ nằm khi ngồi, nằm, 1 trong 6 vật dụng của tỉ khưu. Tọa cụ này được dùng để ngăn ngừa thực vật, côn trùng khiến 3 áo và đồ nằm không bị dơ bẩn và hư tổn, tức nó có tác dụng giữ mình, giữ áo, giữ giường chiếu, đồ nằm...… của mọi người. Màu sắc của tọa cụ giống như màu 3 áo, tức màu xanh, đen và mộc lan. Nếu dùng vải mới làm tọa cụ thì được may 2 hoặc 3 lớp, nếu là vải cũ thì được may 4 lớp. Khi may tọa cụ mới phải lấy 1 miếng vải của tọa cụ cũ may chồng lên chính giữa hoặc 4 bên tọa cụ mới; miếng vải cũ này lớn hay nhỏ là tùy theo bộ luật mà có khác nhau, căn bản thì dài 2 gang tay và rộng 1 gang tay 1/2 của Phật. Theo điều Biện đạo cụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui thì tọa cụ dài 4 thước 8 tấc, rộng 3 thước 6 tấc; thông thường dài khoảng 60cm và rộng 45cm. Về sau, tọa cụ dần dần được may lớn hơn, dài khoảng 165cm và rộng khoảng 80cm. Ngoài ra còn có tọa cụ được làm bằng cỏ, đây là phỏng theo sự tích đức Phật trải cỏ cát tường để ngồi lúc Ngài thành đạo. Loại tọa cụ này dành cho vị Trưởng lão ngồi khi cử hành pháp hội. Từ thời Trung cổ về sau, các châu ở vùng Nam hải lấy tọa cụ làm dụng cụ lễ bái, Trung quốc, Nhật bản đều noi theo phong tập này, các ngài Đạo tuyên, Nghĩa tịnh tha thiết quở trách, nhưng thói quen vẫn được lưu truyền cho đến nay, việc trải tọa cụ để lạy Phật hoặc lễ bái sư trưởng đã trở thành qui chế nhất định. [X. kinh Trung a hàm Q.20; luật Tứ phần Q.19; luật Thập tụng Q.5, 18; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.21; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.6; Luật Ma ha tăng kì Q.24; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ, phần 1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1; điều Lễ nghi duyên cách trong Đại tống tăng sử lược Q. thượng; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Thích môn qui kính nghi Q. hạ].
toạ cửu thành lao
(坐久成勞) Gọi đủ: Hương lâm tọa cửu thành lao. Tên công án trong Thiền tông. Ngồi lâu thành mệt. Bích nham lục tắc 17 (Đại 48,157 thượng) ghi: Có vị tăng hỏi ngài Hương lâm:ÝTổ sư từ Ấnđộ đến là thế nào? Ngài Hươnglâm trả lời: Ngồi lâu thành mệt! [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q. 22; Ngũ đăng hội nguyên Q.5 ].
Toạ hạ
坐夏; J: zage; nghĩa là »Toạ thiền mùa hè«;|Một tên khác của mùa An cư (j: ango).
toạ hạ do
(坐夏由) Do, chỉ cho chứng minh thư. Khi vị tăng hành cước kết hạ an cư ở một ngôi chùa nào đó, giấy chứng nhận do chùa ấy cấp, gọi là Tọa hạ do. [X.điềuThánh tiết trongSắctu Bách trượng thanh qui Q.1; môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên].
toạ phá thất cá bồ đoàn
(坐破七個蒲團) Ngồi rách đến 7 chiếc bồ đoàn(tọa cụ). Chỉ cho đệ tử nối pháp của ngài Tuyết phong Nghĩatồn đời Đường là Thiền sư Trườngkhánh Tuệlăng (854-932), trong 20 năm cũng như 1 ngày, tinh tiến tọa thiền, ngồi rách 7 chiếc bồ đoàn. Trong các tùng lâm đời sau, sự tích ngài Trường khánh ngồi rách 7 chiếc bồ đoàn thường đượcdùng để nhắc nhở người tu đạo nên tinh tiến không gián đoạn. Chương Trường khánh Tuệ lăng trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục 138, 125 hạ) ghi: Cứ như thế sư đi về nơi Tuyết phong, Huyền sa, trong 20 năm ngồi rách 7 chiếc bồ đoàn mà không rõ việc này.
toạ quan
(坐關) Vị tăng đóng cửa ngồi trong thất tụng kinh, tọa thiền hoặc niệm Phật để hẹn kì tu chứng, gọi là Tọa quan. Cứ theo Thanh khê hạ bút kí thì từng có vị tăng từ Tây vực đến, thực hành pháp tọa quan, ở trong chiếc khám, mỗi ngày chỉ ăn vài quả táo mà thôi, chiếc khám sư ngồi chỉ vừa thân hình sư, nếu muốn nhập định thì nhờ người khóa cửa khám, dùng giấy dán kín lại, có khi qua hơn một tháng, tiếng ho hắng đều dứt bặt, mọi người cho rằng sư đã qua đời, lắng tai thì nghe tiếng sư lần chuỗi rõ ràng. Có người hỏi về bí quyết tọa quan thì sư bảo: Ít nghĩ, ít ngủ, ít ăn là bí quyết tọa quan tĩnh tu. (xt. Bế Quan).
toạ tham
(坐參) Ngồi thiền trước khi tham(tiểu tham, vãn tham), cũng tức là ngồi thiền lúc xế chiều(từ 2 đến 4 giờ sauNgọ) để đợi đến giờ, gọi là tọa tham. Điều Tọa tham trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1143 trung) ghi: Vì người xưa vào mỗi buổi chiều thì tham vấn vị Trụ trì để cầu khai thị, cho nên đại chúng được hướng dẫn tập họp ngồi thiền, đợi trống đánh thì đến tham vấn, gọi là Tọa tham. Lại đi các nơi để tham thiền cũng được gọi là Tọa tham. Ngoài ra, tấm bảng thông báo giờ tọa tham trong Thiền lâm, được treo trước Tăng đường, các liêu, gọi là tọa tham bài. Theo điều tọa tham trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, trong Thiền lâm, thường sau khi thụ trai thì vị hành giả Đường ti trình vị Thủ tọa về giờ tọa tham, đồng thời treo bảng tọa tham trước tăng đường và các liêu. [X. Môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Toạ thiền
坐禪; C: zuòchán; J: zazen; nghĩa là ngồi thiền;|Phương pháp tu tập trực tiếp đưa đến Giác ngộ. Mới đầu toạ thiền đòi hỏi thiền giả tập trung tâm trí lên một đối tượng (ví dụ một Man-đa-la hay linh ảnh một vị Bồ Tát), hay quán sát về một khái niệm trừu tượng (ví dụ như quán tính Vô thường hay lòng Từ bi). Sau đó toạ thiền đòi hỏi thiền giả phải thoát ra sự vướng mắc của tư tưởng, ảnh tượng, khái niệm vì mục đích của toạ thiền là tiến đến một tình trạng vô niệm, tỉnh giác, không dung chứa một nội dung nào. Sau một giai đoạn kiên trì trong vô niệm, hành giả sẽ bỗng nhiên trực ngộ thể tính của mình, đó là tính Không, cái »thể« của vạn vật. |Trong một chừng mực nhất định, toạ thiền đối lập với cách thiền quán Công án vì công án là một đề tài nghịch lí, bắt thiền giả phải liên tục quán tưởng để đến một lúc nào đó bỗng chợt phát ngộ nhập. Trong các phái Thiền Trung Quốc và Nhật Bản, có phái nghiêng về công án (Khán thoại thiền), có phái nghiêng về toạ thiền (Mặc chiếu thiền).|Như từ »thiền« cũng có nghĩa »trầm lắng«, toạ thiền là »ngồi trong sự trầm lắng.« Toạ thiền quan trọng đến mức có người cho rằng không có toạ thiền thì không có thiền. Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng có lần nói đại ý »không thể thành Phật bằng việc ngồi.« Công án này có nhiều người hiểu sai, cho rằng Nam Nhạc chê bai việc »ngồi«, vì con người vốn đã là Phật. Ðã đành, Phật giáo Ðại thừa cũng như Thiền tông đều cho rằng chúng sinh đã là Phật, nhưng Thiền cũng nhấn mạnh rằng, điều khác nhau là tin hiểu điều đó một cách lí thuyết hay đã trực ngộ điều đó. Kinh nghiệm trực ngộ đó chính là giác ngộ, mà hành trì toạ thiền là một phương pháp ưu việt.|Như Tổ Thiền Trung Quốc Bồ-đề Ðạt-ma đã ngồi chín năm quay mặt vào vách tại chùa Thiếu Lâm, phép toạ thiền là phép tu chủ yếu của Thiền và được mọi Thiền sư hành trì. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền cho rằng toạ thiền là »đường dẫn đến cửa giải thoát.« Trong tác phẩm Bạch Ẩn Thiền sư toạ thiền hoà tán, Thiền sư Bạch Ẩn viết:|»Ôi toạ thiền, như Ðại thừa chỉ dạy, không có lời tán dương nào nói hết. Tu sáu Ba-la-mật hay tu hạnh bố thí, giữ giới hay hành trì, kể sao cho hết.|Tất cả đều xuất phát từ toạ thiền. Chỉ một lần toạ thiền, công đức sẽ rửa sạch tất cả nghiệp chướng chồng chất từ vô thuỷ.«|Lục tổ Huệ Năng giảng về Toạ thiền trong Pháp bảo đàn kinh: »Thiện tri thức, tại sao gọi là Toạ thiền? Trong Pháp môn này vô chướng, vô ngại, bên ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác tâm niệm chẳng khởi gọi là Toạ, bên trong thấy tự tính chẳng động gọi là Thiền. Thiện tri thức, sao gọi là Thiền định? Bên ngoài lìa tướng là Thiền, bên trong chẳng loạn là Ðịnh. Ngoài nếu chấp tướng trong tâm liền loạn, ngoài nếu lìa tướng thì tâm chẳng loạn. Bản tính tự tịnh, tự định, chỉ vì thấy cảnh chấp mà thành loạn. Nếu người thấy mọi cảnh mà tâm chẳng loạn, đó là Chân định vậy.«
toạ thiền
(坐禪) Thiền, gọi đủ: Thiền na (Phạm:Dhyàna). Hán dịch: Tĩnh lự. Ngồi ngay thẳng mà nhập thiền định. Tức ngồi xếp bằng, không suy nghĩ phân biệt, tập trung tư tưởng vào một đối tượng nào đó, gọi là Tọa thiền. Tọa thiền vốn là phương pháp nội tỉnh đã được các nhà tông giáo Ấn độ ứng dụng từ xưa, Phật giáo cũng thực hành phương pháp này. Lúc đức Thích tôn thành đạo, Ngài ngồi ngay thẳng tĩnh lặng dưới gốc cây Bồ đề, sau đó, Ngài lại ngồi dưới cây A du ba la (Phạm: Ajapàla) 7 ngày, dưới cây Mục chân lân đà (Phạm: Mucilinda) 7 ngày, dưới cây La xà da hằng na (Phạm:Rajà vatana) 7 ngày lặng lẽ tư duy, đó chính là sự khởi đầu của tọa thiền trong Phật giáo. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển trung (bản 3 quyển) thì pháp xuất gia lấy tọa thiền làm bậc nhất. Phật giáo Đại thừa cũng như Phật giáo Tiểu thừa đều tu tập tọa thiền. Vì có nhiều loại thiền pháp khác nhau như Sổ tức, Bất tịnh, Từ tâm, Nhân duyên, Niệm Phật, Tứ vô lượng…... nên cũng có nhiều loại Tam muội như Bát chu tam muội, Thủ lăng nghiêm tam muội…... Sau khi tổ Bồ đề đạt ma qua Đông độ thì Thiền tông ở Trung quốc dần dần hưng thịnh, chỉ lấy việc tu thiền làm phương pháp trọng yếu để ngộ đạo, Thiền và Tam muội được coi chung là Thiền pháp. Các Thiền sư như Tăng duệ, Tuệ viễn, Trí khải... đều khuyên người tọa thiền. Căn cứ theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng thì qui tắc và nghi thức tọa thiền có các việc như nên tùy thời, nên có chỗ ngồi an ổn, nên ngồi ngay ngắn, nên ở nơi yên tĩnh, nên có thiện tri thức, nên có đàn việt tốt lành, nên có thiện ý, nên có thuốc hay, thường nên uống thuốc, nên có sự giúp đỡ tốt…... Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu của ngài Trí khải đặc biệt lập ra 10 khoa là Cụ duyên, Ha dục, Khí cái, Điều hòa, Phương tiện, Chính tu, Thiện phát, Giác ma, Trị bệnh và Chứng quả để nói rõ về pháp tắc tu tập Chỉ quán. Trong đó, Cụ duyên là chỉ cho việc giữ giới trong sạch, ăn mặc đầy đủ, ở nơi vắng vẻ yên tĩnh, dứt hẳn các duyên, gần thiện tri thức; Ha dục là quở trách 5 dục thế gian: Sắc, thanh, hương, vị, xúc; Khí cái là dứt tuyệt 5 cái(phiền não): Tham muốn, sân hận, ngủ gục, thô động và nghi kị; Điều hòa là điều hòa việc ăn uống, ngủ nghỉ có chừng mực, điều hòa hơi thở, điều hòa thân tâm; còn Phương tiện thì chỉ cho 5 pháp: Dục, tinh tiến, niệm, xảo tuệ và nhất tâm. Về phương pháp tọa thiền thì trong các bộ Thanh qui của Thiền tông có rất nhiều qui định rõ ràng và tỉ mỉ. Chẳng hạn như điều Tọa thiền ghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 nói rằng: Tọa thiền nên dứt tâm nghĩ ngợi, tiết chế việc uống ăn, ngồi kết già, hoặc ngồi bán già ở nơi vắng vẻ yên tĩnh, bàn tay trái đặt ở trên bàn tay phải, đầu 2 ngón tay cái cụng vào nhau, ngồi thật ngay thẳng, tai và vai, mũi và rốn đối nhau thẳng một đường, lưỡi đặt sát hàm ếch, môi và răng dính nhau, 2 mắt mở hé. Có nhiều trường hợp người tọa thiền thường dẫn đến tật bệnh là vì không nắm được chỗ cốt yếu của việc tọa thiền. Lại nữa, trong Lục diệu pháp môn, ngài Trí khải nói rằng lúc tọa thiền có khả năng sinh khởi báo chướng, phiền não chướng và nghiệp chướng, đồng thời ngài cũng cho biết rõ về cách đối trị các thứ chướng trên. Biện đạo pháp trong Vĩnh bình thanh qui của Nhật bản có nêu pháp tọa thiền trong 4 thời là hoàng hôn (sau khi mặt trời lặn), sau đêm (2 giờ sáng), sáng sớm (sau bữa ăn sáng), và xế chiều(sau bữa ăn trưa). Có chỗ bớt thời tọa thiền sau đêm, còn lại 3 thời tọa thiền. Đứng về các mặt tinh thần, thân thể, y học…... mà nhận xét thì tọa thiền rất được xem trọng; trong lúc vị cao tăng tọa thiền thì não trạng của ngài giống như trạng thái người ngủ say, nhưng không phải là ngủ, đó là chỗ đặc trưng của tọa thiền. Ngoài ra, trong Thiền lâm, tạm thời tọa thiền ở Tăng đường trước khi thướng đường, gọi là Tọa đường; trước giờ tiểu tham và vãn tham mỗi ngày, tọa thiền ở Tăng đường để đợi giờ đến, gọi là Tọa tham. Sau khi tọa thiền theo nghi thức nhất định lại tọa thiền nữa, gọi làTái thỉnh thiền; vịTrụ trì đã đắc pháp hướng dẫn đại chúng tọa thiền, gọi làBạn thiền, hoặc gọi là Bồi thiền. Tấm bảng dùng để thông báo giờ giấc tọa thiền được treo ở trước các liêu của chúng tăng, gọi là Tọa thiền bản. [X.kinh Đạt ma ba la thiền Q. thượng; Kinh Tọathiềntammuội;luậnPhân biệt công đức Q.2;luận Đại thừa khởi tín; Ma ha chỉ quán Q. 8, hạ; Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q. thượng, phần cuối; Khởi tín luận nghĩa kí Q. hạ;điều Nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; Cảnh đức truyền đăng lục Q.30; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tọa Đường, Tham, Thiền).
toạ thiền châm
(坐禪箴) Tác phẩm, 1 thiên, do ngài Hoành trí Chính giác soạn vào đời Tống, Trung quốc. Toàn văn gồm 98 chữ: Huyền cơ Phật Phật, Huyền cơ Tổ Tổ, không chạm việc mà biết, không đối duyên mà soi. Không chạm việc mà biết, biết ấy sâu xa; không đối duyên mà soi, soi ấy nhiệm mầu. Biết ấy sâu xa, không hề có ý phân biệt; soi ấy nhiệm mầu, không hề mảy may báo trước. Không hề có ý phân biệt; biết chẳng tình cờ mà lạ; không hề mảy may báo trước, soi rọi chẳng lấy mà rõ. Nước trong chừ suốt đáy, cá chầm chậm bơi. Trời rộng chừ không bờ, chim bay lặng lẽ. Tác phẩm này dùng các vế đối cách câu rất khéo léo, theo lập trường Mặc chiếu thiền để dạy răn người tu thiền, nổi tiếng nhất trong các bài Tọa thiền nghi, Tọa thiền minh hoặc Tọa thiền châm. Thiên Tọa thiền châm này được thu vào Hoành trí thiền sư quảng lục quyển 8 (Đại chính tạng tập 48) hoặc Hoành trí thiền sư ngữ lục quyển 6. [X. Tọa thiền châm bất năng ngữ (Tuệ ấn), Tọa thiền châm văn giải (Diện sơn); Tọa thiền châm luận (Huyền lâu); Khán thoại thiền dữ Mặc chiếu thiền (Bác lâm Hạo đường)].
toạ thiền dụng tâm kí
(坐禪用心記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Oánhsơn Thiệucẩn (1268-1325), thuộc tông Tào động, Nhậtbản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung sách này ghi chép các phép tắc và yếu chỉ của việc tọa thiền, phỏng theo tác phẩm Phổ khuyến tọa thiền nghi của ngài Đạonguyên (1200-1253), Tổ khai sáng tông Tào động. Đây là bộ sách chỉ nam của những người tu thiền thuộc tông Tào động Nhậtbản.
toạ thiền nghi
(坐禪儀) Chỉ cho các sách nói về uy nghi pháp tắc tọa thiền, như Tọa thiền nghi trong Thiền uyển thanh qui của ngài Trường lô Tông trách đờiTống, Tọa thiền nghi của ngài Phậttâm Bảntái trong Gia thái phổ đăng lục, Tọa thiền nghi của ngài Lankhê Đạolong đời Tống, Tọa thiền châm của ngài Hoànhtrí Chínhgiác đời Tống, Phổ khuyến tọa thiền nghi của ngài Vĩnh bình Đạonguyên, Tổ của tông Tào động, Nhật bản…... đều là những tác phẩm trọng yếu thuộc về nghi tắc tọa thiền.
toạ thiền nhân thập chủng hành
(坐禪人十種行) Chỉ cho 10 hạnh làm nhân duyên phương tiện khiến tâm được yên tịnh trong khi tọa thiền. Đó là: 1. Quán xứ minh tịnh: Quán xét chỗ sáng sạch. Nghĩa là người tu hành muốn tu thiền định, trước phải điều hòa sự ăn uống, không đói không no; kế phải tùy theo thời tiết, không trước không sau, phải giữ uy nghi nghiêm túc, không được biếng nhác. Tu 3 hạnh này, quán xét rõ ràng thì các căn dứt bặt, tâm thường vắng lặng, được an trụ trong thiền định. 2. Biến khởi quán chư căn: Khởi quán tất cả các căn. Nghĩa là người tu hành muốn tu thiền định phải quán xét 5 căn (tín, tiến, niệm, định, tuệ)không để cho tiêu giảm, tương ứng với định, tâm không trễ nải thì xa lìa được các lỗi như nghi cái(ngờ vực)…..., tam muội hiện trước. 3. Hiểu liễu ư tuớng: Hiểu rõ tướng. Nghĩa là người tọa thiền muốn tu thiền định phải hiểu rõ tướng nghĩ tưởng của ý thức, khiến không gấp không hoãn, điều hòađúng mức thì vọng tưởng không sinh, dễ vào thiền định. 4. Chế linh tâm điều:Chế phục khiến tâm điều hòa. Nghĩa là người tọa thiền muốn tu thiền định, phải luôn tinh tiến chế phục tâm mình, điều hòa thích đáng, không để quá độ, tăng trưởng loạn ý thì tướng định được hiện tiền, tam muội thành tựu.5. Chiết phục giải đãi: Khắc phục tính biếng nhác. Nghĩa là người tọa thiền, nếu không được định thù thắng thì tâm trở thành vô vị nên sinh biếng nhác và muốn ngủ gục, lúc đó phải phán xét kĩ các công đức của thiền, thúc giục tiến lên thì tướng định hiện tiền, đạt được tam muội. 6. Tâm vô vị trước: Tâm không mặn mà. Nghĩa là người tọa thiền muốn tu thiền định, nhưng vì tuệ căn chậm lụt và ít phương tiện, không được niềm vui vắng lặng, nên đối với thiền định thù thắng, tâm không mặn mà. 7. Tâm hoan hỉ: Tâm vui mừng. Nghĩa là người tọa thiền, đối với thắng định, nếu tâm không tha thiết thì phải quán tưởng cảnh sống già bệnh chết và các nẻo ác, khiến sinh sợ hãi, rồi nghĩ đến các công đức của Phật pháp tăng, thúc giục tinh tiến để được thiền định, khiến tâm hoan hỉ. 8. Tâm định thành xả: Tâm định thì xả bỏ. Nghĩa là người tọa thiền muốn tu thiền định thì phải điều phục các căn, tư duy đúng như lí, an trụ vắng lặng, xả bỏ tất cả các hành vi trái với chính pháp. 9. Cận học định nhân:Gần gũi và học tập người tu định. Nghĩa là người tọa thiền muốn tu thiền định thì phải xa lánh những người không tu uy nghi, không tập tịch tĩnh, mà thường gần gũi người an trụ vắng lặng, uy nghi chỉnh túc, nguồn tâm thanh tịnh và làm theo lời dạy răn của họ để thành tựu đạo nghiệp chính định. 10. Nhạo trước an định: Ưa thích an định. Nghĩa là người tọa thiền muốn tuthiền định thì đối với người đã được thiền định, khéo hiểu duyên khởi dẫn đến tịch tĩnh, phải quí mến cung kính, cầu người ấy mở đường để khởi tâm định. [X.luậnGiải thoát đạo Q.4].
toạ thiền tam muội kinh
(坐禪三昧經) Phạm: Dhyàna-niwỉhita-samàdhidharmparyàya-sùtra. Cũng gọi: Tọa thiền tam muội pháp môn kinh, Bồ tát thiền pháp kinh, A lan nhã tập thiền pháp, Thiền pháp yếu. Gọi tắt: Thiền kinh. Kinh, 2 quyển (hoặc 3 quyển), do ngài Cưu ma la thập dịch tại Trường an vào năm Hoằngthủy thứ 4 (402) đời Diêu Tần, năm Hoằngthủy thứ 9 (407) sửa chữa lại, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thu chép thiền yếu của các nhà, nói rõ về pháp Ngũ môn thiền, đồng thời bàn về Thiền quán tổng hợp giữa Tiểu thừa và Đại thừa. Cứ theo lời tựa trong Quan trung xuất thiền kinh của ngài Tăng duệ thì từ ngữ Các nhà là chỉ cho các Đại sư: Cưu ma la la đà, Mã minh, Bà tu mật, Tăng già la xoa, Âu ba quật, Tăng già tư na, Lặctỉkhưu...… Kinh này giống với kinh Đạt ma đa la thiền do ngài Giáchiền dịch tạiLô sơn, nói về Thiền quán có tính cách tổng hợp giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Khi kinh này chưa được phiên dịch thì Thiền quán của Phật giáo Trung quốc ở thời kì đầu đều căn cứ theo bộ Thiền kinh do ngài An thế cao dịch vào thời Hậu Hán. Về sau, nhờ ngài Đạoan đề xướng thì Thiền quán Miền Bắc vào đời Tiền Tần và Hậu Tần mới dần dần hưng thịnh, đồng thời phương pháp thực tu cũng thịnh hành, nhưng đều không ngoài lãnh vựcThiền Tiểu thừa. Sau khi ngài Cưu ma la thập dịch kinh này thì sự quan hệ giữa Phật giáo Đại thừa và Thiền Tiểu thừa cũng như sự quan hệ giữa Thiền Đại thừa và Thiền Tiểu thừa mới được xác định rõ ràng. Cho nên công lao thúc đẩy của kinh này đốivới việc thành lập Thiên thai chỉ quán và sự ra đời của Thiền tông Trung quốc thực là to lớn, không thể bị quên lãng. [X. Xuất tam tạng kí tập quyển 2, 9; Khai nguyên thích giáo lụcQ.4; Trung quốc Phật giáo sơ kì chi Thiền quán (Hoành siêu Tuệ nhật)].
toạ thiền tứ tức
(坐禪四息) Bốn thứ hơi thở khi tọa thiền. Cứ theo Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu, nếu người tọa thiền muốn thu nhiếp tâm để nhập định thì trước hết phải thực hành phương pháp Sổ tức. Sổ là đếm, Tức là hơi thở, nghĩa là đếm hơi thở ra vào ở nơi mũi. Hơi thở này được chia làm bốn thứ sau đây: 1. Phong:Hơi thở trong mũi ra vào có tiếng gọi là Phong(gió), nếu người tọa thiền dựa theo đó mà đếm số thì tâm tán loạn, khó điều phục, nên phải loại trừ. 2. Suyễn: Hơi thở trong mũi tuy không thành tiếng nhưng khò khè(suyễn) không thông, gọi là Suyễn; nếu người tọa thiền nương theo đó mà đếm số thì tâm rối rắm khó định, vì thế phải loại trừ. 3. Khí: Hơi thở trong mũi tuy không có tiếng gió, tiếng khò khè nhưng ra vào không tinh tế, gọi là Khí; nếu người tọa thiền nương vào đó mà đếm số thì tâm mệt nhọc khó định, cho nên phải loại trừ. 4. Tức:Hơi thở không có 3 tướng thô động nói trên, mà ra vào êm nhẹ, như còn như mất, gọi là Tức; nếu người tọa thiền nương theo đó mà đếm số thì thần tháian ổn, trong lòng thư thới dễ định, cho nên phải giữ, không được bỏ.
toạ thiền đậu
(坐禪豆) Cũng gọi Tọa thiền nạp đậu, Tự nạpđậu, Nạp đậu. Thực phẩm được làm bằng đậu nành đã nấu chín, để lên men và thêm muối vào. Trong các Thiền viện thời xưa, chư tăng thường dùng đậu này trước khi tọa thiền để phòng ngừa tiểu tiện luôn, vì nó có tác dụng hút nước. Cách biến chế nạp đậu của Nhật bản bắt nguồn từ Trung quốc, nên cũng gọi là Đường(Trung quốc đời Đường) nạp đậu. Nạp đậu có nghĩa là đậu do các chùa viện thu cất để đến cuối năm hoặc đầu năm làm lễ vật tặng biếu nhau, hoặc chùa viện tặng thí chủ để đáp lễ. (xt. Nạp Đậu).
toạ thoát lập vong
(坐脫立亡) Tọa thoát, cũng gọi Tọa hóa, Tọa vong. Ngồi ngay ngắn khi thoát hóa, đứng thẳng mà thị tịch. Theo điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui quyển 7, nếu trong Thiền lâm có vị Tôn túc tọa hóa thì nên đặt nhục thân của ngài ở Phương trượng, dâng hoa thơm cúng dường, đồng thời dán kệ tụng di giới của ngài trên tấm bảng. Phổ khuyến tọa thiền nghi (Đại 82, 1 trung) nói: Vượt qua phàm thánh, tọa thoát lập vong, an nhiên tự tại. [X. Điều Tọa thiền nghi trong Thiền uyển thanh qui quyển 8].
toạ tượng
(坐像) Tượng Phật ngồi. Tọa tượng phần nhiều biểu thị tướng nhập định, thuyết pháp, hàng ma thành đạo...… Trong các cách ngồi của tượng Phật, thì cách thông dụng nhất là kết già phu và cách bán già phu. Cách ngồi kết già dùng cho tượng Phật, cách ngồi bán già dùng cho tượng Bồ tát. Dưới đây là cách ngồi đặc biệt: 1. Hồ tọa(cũng gọi Trường quị): Quỳ 2 đầu gối và đặt 10 đầu ngón chân sát đất. Đây vốn là cách lễ của người Ấnđộ. Trong Quyến thuộc bộ có cách ngồi này. 2. Luân vương tọa(cũng gọi Luân già, Luân vương già): Cách ngồi của vua Chuyển luân, nhưbồ tát Quan âmNhư ý luân, dựng đứng một đầu gối để giữ cho thân thể thăng bằng và đưa tay hướng về phía sau chống xuống đất. 3. Hỗ quị: Cách ngồi đặt một đầu gối sát đất. 4. Ki tọa:Cách ngồi tréo chân hình chữ X. Ngoài ra cũng có các tượng ngồi theo các kiểu Hỗ tọa, Thiên tọa, Hiền tọa, Tỗn tọa(cũng gọi Cứ tọa)…... (xt. Tọa).
toạ vong
(坐忘) Ngồi ngay thẳng và yên lặng mà qua đời. Đây là cảnh giới của Đạo gia, Đạo giáo, trong đó tâm và pháp ứng hợp với nhau, vật và mình cả hai đều quên. Theo luận Tọa vong do Đạo sĩ Tư mã Thừa trinh soạn vào đời Đường thì điểm then chốt của việc tu luyện hình khí, dưỡng hòa tâm linh, sống lâu mạnh khỏe là nhờ ở công phu định tĩnh, tức là pháp Tọa vong an tâm.
toạ vị chiếu bài
(坐位照牌) Cũng gọi Tọa bài. Chỉ cho tấm bảng treo có ghi rõ chỗ ngồi của mỗi người trong Thiền lâm. Tọa vị là chỗ để ngồi; trong Thiền lâm, tọa vị đặc biệt chỉ cho chỗ ngồi ở Tăng đường. Trong Thiền lâm, Tọa bài chẳng những phải được treo ở chỗ ngồi của mỗi người ở trong Tăng đường, mà còn phải yết thị ở bên ngoài Tăng đường. Theo điều Phó trà thang trong Thiền uyển thanh qui quyển 1, khi Thiền tăng nghe tiếng trống, tiếng bảng mà đến đúng giờ thì phải nhớ rõ tọa vị chiếu bài của mình để tránh sự vội vàng lộn xộn.
Toạ đoạn
坐斷; J: zadan; cũng được gọi là Toạ diệt (坐滅; j: zasetsu); |Nghĩa »Ngổi thiền để đoạn diệt« và cái được đoạn diệt ở đây chính là những vọng tưởng, ý nghĩ Si mê, Vô minh.|Khi các vọng tưởng trong một phàm phu tâm thức đã được cắt đứt thì người ta sẽ trực ngộ được Phật tính, ngộ được tính Không (s: śūnyatā; j: kū) của hiện hữu. Nếu người ta còn vướng mắc, bám vào khía cạnh sắc tướng của sự vật và cho nó là sự thật tuyệt đối thì không bao giờ trực chứng được cái chân tính nằm sau mọi hiện tượng. Trong lúc toạ thiền thì tất cả những vọng tưởng che đậy Chân như dần dần được đoạn diệt một cách có hệ thống – đến khi cách nhìn theo lối nhị nguyên »Ta đây vật đó« bất thình lình bị phá vỡ và hành giả chết một cái chết lớn (大死; đại tử) trên Toạ bồ đoàn. Cái chết lớn này chính là điều kiện căn bản của sự sống mới hoàn toàn tự do tự tại, không còn bị ảnh hưởng của sinh tử luân hồi.
toạ đoạn
(坐斷) Cũng gọi Tọa phá. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tọa là ngồi, Đoạn là dứt đi. Nghĩa là nhờ năng lực của việc tọa thiền mà dứt trừ mê vọng, tức xa lìa các tướng sai biệt và đạt đến cảnh giới bình đẳng triệt để. Lâm tế nghĩa huyền thiền sư ngữ lục (Đại 47, 497 hạ) nói: Tọa đoạn báo hóa Phật đầu(dứt bặtBáo thân Phật vàHóa thân Phật). Bích nham lục tắc 32 (Đại 48, 171 trung) ghi: Mười phương quét sạch, nghìn mắt mở ngay; một câu phá tan tất cả vọng niệm và muôn nghìn tính lường. Ngoài ra, tọa cũng giống như chữ tỏa (ngăn dứt). Ngăn dứt những lời nói vô dụng của người khác, không để cho họ nói bất cứ lời nào, gọi là Tọa đoạn thiên hạ nhân thiệt đầu(Ngăn dứt đầu lưỡi người trong thiên hạ).Bích nham lục tắc 13 (Đại 48,153 hạ) ghi: Nêu một rõ ba hãy tạm gác lại, dứt đầu lưỡi mọi người(tọa đoạn thiên hạ nhân thiệt đầu) thì làm sao nói đây? Khi hình dung việc ngăn dứt chỗ xung yếu để qua sông, từ bờ bên này (phàm) qua đến bờ bên kia (thánh),cũng tức là biểu thị sự dứt bặt các ý niệm về quan hệ đối đãi như: Phàm và thánh, chúng sinh và Phật, mê và ngộ, tu và chứng...… thì gọi là Tọa đoạn yếu tâm bất thông phàm thánh. Phần chú thích trong Bích nham lục tắc 52 (Đại 48, 187 trung) ghi: Dứt bặt quan hệ đối đãi giữa phàm và thánh (Tọa đoạn yếu tân bắt thông phàm thánh), tôm, hến, ngao sò chẳng đủ sức thưa hỏi. [X. Bích nham lục tắc 68; Đại tuệ lục Q. 29].
toạ đường
(坐堂) I. Tọa Đường. Gọi đủ: Tọa thiền đường. Chỉ cho Tăng đường. II. TọaĐường. Đồng nghĩa: Tọa tham. Chỉ cho việc tọa thiền trong chốc lát ở Tăng đường của chúng tăng trong Thiền lâm trước khi thướng đường, hoặc trước khi tiểu tham, vãn tham. Hoặc có chỗ gọi tọa thiền tại Tăng đường trong chốc lát trước khi thướng đường là Tọa đường; còn gọi việc ngồi thiền trong chốc lát ở Tăng đường trước khi tiểu tham và vãn tham hàng ngày là Tọa tham. [X.điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
toạ ấn
(坐印) Chỉ cho các cách ngồi như Toàn già tọa, Bán già tọa...… trong Mật giáo. Vì các cách ngồi này dựa theo tư thế ngồi mà thực hành nên gọi là Tọa ấn. Tuy được gọi là Tọa ấn nhưng không bắt buộc phải kết thủ ấn. Cứ theo Quán tự tạibồ tát như ý luân du già, lễ chư Phật rồi thì ngồi theo kiểu Toàn già, Bán già, hoặc Luân vương già…... tùy ý ngồi cách nào cũng được. Sau khi tọa ấn thì quán tưởng chư Phật đầy khắp hư không. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.7].
Toạ 坐
[ja] ザ za ||| (1) To sit. (2) A seat. (3) Preserve, protect, hold to. => Có các nghĩa sau: 1. Ngồi. 2. Chỗ ngồi. 3. Giữ gìn, bảo quản, giữ vững.
toạc
Openly.
toại chí
Satisfied—Content.
toại nguyện
To be satisfied—Wish-fulfilled—To have fulfilled one's desires.
toại ý
See Toại Chí.
toả khám
(鎖龕) Cũng gọi Cái quan. Khóa quan tài, tức đậy nắp quan tài lại. Theo nghi thức an táng trong Thiền lâm, trước khi nhập liệm vị tăng qua đời thì quan tài từ tẩm đườngđượcdời đến Pháp đường, thỉnh chúng tăng tẩn liệm, liệm xong thì đặt di hài vào trong quan tài và đậy nắp lại, gọi là Tỏa khám. [X.điều Thiên hóa trong sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên].
toả khẩu
(鎖口) Khóa miệng. Tức điều mà lời nói không thể diễn đạt được, giống như miệng bị khóa nên gọi là Tỏa khẩu. Còn đối với lí mầu nhiệm, sâu xa của Phật pháp, không thể dùng ngôn ngữ mà diễn tả được, thì gọi là Tỏa khẩu quyết. Hư đường lục quyển 4 (Đại 47, 1018 thượng) ghi: ...…Bèn dùng Tỏa khẩu quyết để nói, giữa muôn tượng sum la chỉ một mình nó hiển bày, vậy là trừ sạch muôn tượng hay không trừ sạch muôn tượng?. Lại nữa, chân như cần phải tham cứu chân thực, ngoài ra thì không thể dùng ngôn ngữ để hỏi biết được. Thung dung lục tắc 6 (Đại 48, 230 hạ) ghi: Vị tăng thưa: Lìa tứ cú, dứt bách phi, xin Sư chỉ thẳng ý Tổ sư từ Ấn Độ đến, các phương cho đó là Tỏa khẩu vấn.
toản
Khoan dùi—To bore—To pierce.
; (toản) Cũng gọi Xả, Thiền, Tán, Thiện, Xà, Thược, Nặc, Sai, Sa. Chỉ cho chữ (jha) trong 50 chữ cái Tất đàn. Đây là tiếng hàng phục các quân ma hung ác, tiếng có năng lực chế phục những lờinóiác, là tiếng tất cả chiến địch bất khả đắc. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì Xã ma la nghĩa là chiến địch, nếu thấy chữ Xã thì biết tất cả các pháp đều có chiến địch, như pháp thiện và bất thiện, pháp ngược dòng sống chết và xuôi dòng sống chết, bố thí và bỏn sẻn, trì giới và phá giới, cho đến trí tuệ và vô minh...… càng đối đãi nhau, hơn thua vô thường; cho đến việc Như lai ứng hóa thế gian, dùng năng lực nhất thiết trí phá các ma quân, đều gọi là Chiến. Tuy nhiên, tất cả pháp vốn chẳng sinh, cho đến khi có bóng dáng, thực chẳng có chiến địch giữa Phật giới và ma giới, cho nên khi Phật ngồi ở đạo tràng, đã biết rõ không có tướng đối lập, danh từ chiến thắng là do người đời bàn luận rồi tự đặt ra. Chữ Toản hiện nay không có chữ Phạm tương đương, có lẽ thuộc về tục ngữ. Ngoài ra, bản tiếng Phạm của kinh Phương quảng đại trang nghiêm có câu Jhawadhvaja-bala-nigrahaịa-zabda, là âm thanh có năng lực hàng phục thần Ngư chàng, trong đóJhawa cũng có nghĩa là rừng sâu. Kinh Đại niết bàn (quyển 8) bản Bắc (Đại 12, 413) hạ: Thiện là phiền não tươi tốt, ví như rừng rậm. Ở đây có thể đã dựa theo nghĩa chữ Jhawamà dịch như vậy. [X.kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4;kinh Phật bản hạnh tập Q.10;phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn; phẩm Thích tự mẫu trong kinh du già kim cương đính].
toản chỉ dăng
(鑽紙蠅) Con ruồi dùi giấy, là ví dụ trong bài kệ Dăng tử thấu song(con ruồi xuyên qua cửa sổ) của Thiền sư Bạch vân Thủ đoan (1025- 1071) đời Tống. Hồng giác phạm lâm gian lục quyển hạ (Vạn tục 148, 313 hạ): Vị ái tầm quang chỉ thượng toản Bất năng thấu xứ kỉ đa nan. Hốt nhiên chàng trước lai thời lộ, Thủy giác bình sinh bị nhãn man (Muốn tìm ánh sáng nên dùi giấy, Chẳng biết chỗ nào để thoát ra; Bỗng nhiên va phải đường vào trước, Mới biết bình sinh mắt bị lòa). Đại ý bài kệ cho rằng người học đạo, nếu cứ rán mắt dùi vào chữ nghĩa trên giấy tờ,trênsách vở, thì chẳng bao giờ tìm thấy chân lí.
toản cố chỉ
(鑽故紙) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dùi giấy cũ. Lời châm biếm vị tăng chỉ biết một mực dùi mài kinh điển chứ không biết cầu giải ngộ. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 27 (Đại 47, 928 trung) nói: Đóng cửa ngồi nhìn vách, đây chính là thuốc hay để dừng tâm; nếu chỉ dùi mài kinh sách (Toản cố chỉ) thì nhất định sinh ra mầm mống sinh tử từ vô thủy đến nay trong tạng thức. [X.chương Thần tán trong cảnh đức truyền đăng lục Q.9].
toản li thái
(鑽籬菜) Rau dùi qua bờ giậu. Đây là tiếng lóng mà vị tăng dùng để chỉ con gà. Đôngphachílâm ghi: Tăng gọi rượu là nước Bátnhã, cá là hoa thoi nước và gà là rau dùi bờ giậu.
toản thủy cầu tô
Khoan nước tìm bánh sữa—To churn water to get curd.
; (鑽水求酥) Khoan nước tìm váng sữa, ví dụ việc mong cầu một cách vô lí. Kinh Bồ tátbảnduyên quyển hạ (Đại 3, 65 hạ) nói: Ví như khoan nước tìm váng sữa, đó là việc làm khó đạt được. Ngoài ra, từ ngữ Toản hỏa đắc băng (bới lửa tìm băng)thì ví dụ nhân quả không thể trái nhau, vì lí nhân quả là gieo nhân nào được quả ấy, cho nên trồng dưa không thể được đậu, bới lửa không thể được băng, lí ấy cũng rõ ràng, dễ hiểu.
Toản yếu 纂要
[ja] サンヨウ sanyou ||| "Collected essentials." A type of East Asian commentarial style, as seen in such titles as 金剛經疏論纂要 and 五家宗旨纂要. => Một dạng luận giải kinh điển ở vùng Á đông, được thấy qua các nhan đề như Kim cương kinh sớ luận soạn yếu 金剛經疏論纂要 và Ngũ gia tông chỉ soạn yếu 五家宗旨纂要.
tra
1) To examine—To investigate---To interrogate. 2) To look up—To consult. 3) To put (fix—To fit) in (tra cán dao).
tra chỉ vương
Xem ái Nhiễm vương.
tra cứu
To study.
tra hỏi
See Tra (1).
tra khảo
To examine—To study.
tra lan đức cáp
Jalandhara (S)Tên một vương quốc quê hương của Ngài Phật đà mật đa Tổ sư, một vị tổ của Phật giáo Ấn độ.
tra tấn
To torture.
tra xét
To investigate—To examine.
trai
Chai (C), Fasting feasts.
; Virati (S). Abstinence. Trường trai, long abstinence, long fast. Ăn chay, vegetarianism.
; Uposatha (skt)—Thời Trai Thực—Ô Bổ Sa Tha có nghĩa là thanh tịnh, sau chuyển thành giới không ăn quá ngọ, sau đó lại chuyển thành giới không ăn thịt cá—Uposatha means abstinence or to purify by fasting, latter Uposatha means the ritual period for food, eating at or before noon; latter Uposatha has further meaning of abstinence from meat and fish.
trai bãi
Trai Thối—Sau giờ ăn ngọ—After the midday meal.
trai bản
Bản gỗ treo trước phòng ăn tự viện để báo giờ cơm—A wooden board (in place of a bell) in front of the dining hall, calling or informing to the midday meal.
trai chung
Chuông báo đến giờ ăn (thường đánh 36 tiếng)—The bell, or drum, calling or informing to the midday meal (usually 36 strikes).
trai chúc
Cháo lỏng để ăn sáng, hay húp vào buổi tối—The midday and morning meals, breakfast of rice or millet congee, dinner of vegetarian foods.
trai chủ
Thí chủ cúng dường Tăng chúng đồ ăn—The donor of monastic food.
Trai diên
(齋筵): cỗ chay. Như trong bài văn Quảng Châu Bảo Trang Nghiêm Tự Xá Lợi Tháp Bi (廣州寶莊嚴寺舍利塔碑) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường có đoạn: “Giảng tứ hoành sưởng, trai diên cự dực, cúng dẫn Thuần Đà, phạn hồi Hương Tích (講肆宏敞、齋筵巨翼、供引純陀、飯迴香積, hội giảng rộng mở, cỗ chay khắp bày, cúng theo Thuần Đà, cơm về Hương Tích).” Hay trong chương Văn Tông Kỷ (文宗紀) của Cựu Đường Thư (舊唐書) có câu: “Quảng trí trai diên, đại tập tăng chúng (廣置齋筵、大集僧眾, rộng thiết cỗ chay, tập trung tăng chúng).” Trong Nam Tống Nguyên Minh Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (南宋元明禪林僧寶傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1562) quyển 11, phần Phục Long Thiên Nham Trường Thiền Sư (伏龍千巖長禪師), có đoạn: “Thời Trung Phong Bổn Hòa Thượng, ngụ Hàng Thành Vân Cư Lan Nhã, hội phó Thừa Tướng Phủ trai, công đắc bái kiến ư trai diên (時中峰本和尚、寓杭城雲居蘭若、會赴丞相府齋、公得拜見於齋筵, lúc bấy giờ Hòa Thượng Trung Phong Minh Bổn, trú tại Vân Cư Lan Nhã thuộc Hàng Châu, đến dự tiệc chay tại Phủ Thừa Tướng, Thiền Sư được dịp bái kiến Hòa Thượng tại tiệc chay đó).” Hay như trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 10, phần Trai Tăng Nghi (齋僧儀), có giải thích rằng: “Trai tăng chi pháp dĩ kính vi tông, đản y tăng thứ duyên nghênh, bất đắc vọng sanh khinh trọng, phàm phu nhục nhãn thùy biện thánh hiền, ngộ khởi khinh tâm định chiêu bạc phước, hoặc hữu thân lâm Phạm sát tựu thiết trai diên, thử nhân lai thế chi trung, tất cảm tự nhiên chi báo (齋僧之法以敬為宗、但依僧次延迎、不得妄生輕重、凡夫肉眼誰辨聖賢、誤起輕心定招薄福、或有親臨梵剎就設齋筵、此人來世之中、必感自然之報, pháp cúng dường trai tăng lấy sự kính trọng làm chính, chỉ cần tùy theo chư tăng đến mà đón rước, không được sanh tâm khinh trọng, mắt thịt phàm phu ai biết được đâu là thánh hiền, lỡ như sanh khởi tâm khinh thường thì nhất định rước chịu phước mỏng; hoặc nếu có vị thân lâm đến chùa chiền thì thiết bày cỗ chay, người này trong đời tương lai, ắt hẳn cảm được quả báo tự nhiên).”
trai diên
Cúng dường thức ăn đến Tam Bảo—Offerings of food to the Triratna.
trai giới
Abstinence, fast; to fast, to observe a fast.
; Thanh tịnh thân tâm hay đề phòng thân tâm lười biếng giải đãi, thí dụ như bát quan trai giới—Purification, or abstinential rules, e.g. the eight prohibitions—See Trai.
trai hội
Hội chúng của Tăng Ni niệm chú trước khi thọ thực—An assembly of monks for chanting, with food provided, usually before eating.
trai kì
Fasting period.
trai nguyệt
Ba tháng ăn chay đặc biệt của Phật tử tại gia, tháng giêng, tháng năm và tháng chín (trong ba tháng nầy Phật tử nên trì trai giữ giới, giữ gìn lời ăn tiếng nói, cũng như hành vi cử chỉ, tránh làm việc ác, nên làm việc thiện, và luôn giữ cho tâm ý thanh sạch)—The three special months of abstinence and care for lay Buddhists, the first, fifth, and ninth months
trai nhật
Day of abstinence Theo Tổ Long Thọ, trai nhật trong một tháng có 6 ngày: múng 8, 14, 15, 23, 29 và 30 cùng 45 ngày sau ngày Đông chí.
; Upavasatha (S). Fasting day.
; Vegetarian Day. 1) Trong đạo Phật, lý tưởng nhất vẫn là trường trai; tuy nhiên, việc trường trai rất ư là khó khăn cho Phật tử tại gia, nên có một số ngày trong tháng cho cư sĩ tại gia. Lý do ăn chay thật là đơn giản, vì theo lời Phật dạy thì tất cả chúng sanh, kể cả loài cầm thú đều quý mạng sống, nên để tu tập lòng từ bi, người Phật tử không nên ăn thịt. Những ngày trai lạt theo đạo Phật thường là mồng một, 14, 15, và 30 âm lịch—In Buddhism, ideally speaking, Buddhists should be lifetime vegetarians; however, this is very difficult for lay people. So certain days out of each month are denoted as a day not to eat meat. The reason behind this is simple. The Buddha taught that each sentient being, including animals, values life, so not to eat meat is to practice being compassionate. Vegetarian Days of the month are the first, the fourteenth, the fifteenth, and the thirtieth lunar calendar. 2) Ngày trai thất hay ngày cúng vong—Days of offerings to the dead, ceremonial days. 3) Ngày mà cư sĩ Phật giáo thọ bát quan trai trong một ngày một đêm: The day lay Buddhists strictly follow the eight commandments in one day and one night—See Bát Quan Trai Giới.
Trai pháp
phép tu hành trong sạch và có giới hạnh, được dùng để chỉ Giáo pháp của Phật.
trai pháp
1) Luật không được ăn sau giờ ngọ—The rule of not eating after noon. 2) Phép uy nghi của giáo đoàn: The discipline of the order, or the establishment.
trai phòng
Fasting room. Also Trai xá.
Trai sự
(齋事): chỉ cho các Phật sự như tụng kinh, bái sám, cầu đảo, cầu phước, v.v. Như trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 5 có đoạn: “Quân triêm thượng vị, hàm ngộ viên thường, thứ nhân trai sự chi duyên, đồng thành pháp thí chi hội (均沾上味、咸悟圓常、庶因齋事之緣、同成法施之會, đều thắm vị tuyệt, thảy ngộ viên thường; mong nhờ Phật sự nhân duyên, cùng thành pháp thí đại hội).” Hay trong Tịnh Độ Toàn Thư (淨土全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1176) quyển Hạ, phần Trương Nguyên Tường (張元祥), cũng có đoạn: “Đường Trương Nguyên Tường, cư thường niệm Phật bất chuyết, nhất nhật xúc gia nhân vân: 'Tây phương thánh nhân đãi ngã trai tất đồng vãng'. Trai sự ngật, phần hương già phu, diện Tây nhi hóa (唐張元祥、居常念佛不輟、一日促家人云、西方聖人待我齋畢同往、齋事訖、焚香跏趺、面西而化, Trương Nguyên Tường nhà Đường, sống thường niệm Phật không ngừng nghỉ, một hôm nọ thúc giục người nhà rằng: 'Thánh nhân phương Tât đang chờ ta, ăn xong sẽ cùng đi'. Sau khi Phật sự xong, ông đốt hương ngồi xếp bằng, mặt xoay về hướng Tây mà thác hóa).”
trai thất
Trai thất hay lũy trai thất là giai đoạn bảy lễ, mỗi lễ cách nhau bảy ngày cho người vừa quá vãng cho đến hết thời gian 49 ngày (cứ mỗi bảy ngày lại làm lễ tụng kinh cúng vong một lần gọi là cúng trai thất, tới ngày mãn “Trung Ấm” tức là ngày thứ 49 mới thôi)—The seven periods of masses for the dead, during the seven sevens or forty-nine days after death. ** For more information, please see Hộ Niệm in Vietnamese-English Section.
trai thời
Giờ ăn trong tự viện, đặc biệt là giờ ăn trưa, sau giờ đó Tăng Ni không được phép ăn bất cứ đồ ăn nào ( nhưng có thể uống chất lỏng)—The regulation hours for monastic meals, especially the midday meal, after which no food should be eaten; however, they can drink liquid.
trai thực
Buổi ăn trưa của chư Tăng Ni; không ăn sau giờ ngọ, chỉ ăn thực phẩm chay, ngoại trừ những loại có mùi nồng như tỏi hành—The midday meal; not eating after noon; abstinential food, i.e. vegetarian food, excluding vegetables of strong odour, as garlic, or onion.
trai trì
Trì trai giữ giới, thí dụ như thọ trai đúng thời—To observe the law of abstinence, i.e. food at the regulation times.
trai trường
Nơi ăn hay phòng ăn của tự viện—A dining place in a monastery.
trai tăng
To offer presents to the monks and nuns on the occaion of a fasting ceremony.
; Cúng dường chư Tăng hay cúng dường thức ăn đến chư Tăng—To provide a meal for monks.
Trai đàn
(齋壇): có hai nghĩa chính:(1) Chỉ cho nơi cúng tế trời đất của đế vương thời cổ đại. Như trong bài thơ Tặng Trần Thương (贈陳商) của Lý Hạ (李賀, 790-816) nhà Đường có câu: “Phong tuyết trực trai đàn, mặc kinh quán đồng thụ (風雪直齋壇、墨經貫銅綬, gió tuyết thẳng đến trai đàn, chỉ đen xuyên suốt dây đồng).” (2) Nơi các Đạo Sĩ tụng kinh, lễ bái thần linh. Như trong bài thơ Đề Chu Luyện Sư Sơn Phòng (題朱煉師山房) của Vương Xương Linh (王昌齡, 698-756) nhà Đường có câu: “Khấu xỉ phần hương xuất thế trần, trai đàn minh khánh bộ hư nhân (叩齒焚香出世塵、齋壇鳴磬步虛人, đánh răng xông hương thoát bụi trần, trai đàn tiếng khánh vọng người âm).” Theo như nghi lễ của Đạo Giáo lúc ban đầu, không chuyên thiết lập trai đàn. Theo các tư liệu cho biết rằng, thời xưa người ta thiết lập ngoài lộ thiên một đài cao bằng đất hình vuông, trên ấy đặt lò hương, cúng tế rượu, và các đạo sĩ trong núi hành lễ trên đài đó. Đến thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589), nghi lễ Đạo Giáo bắt đầu phát triển mạnh. Theo bản Động Huyền Linh Bảo Ngũ Cảm Văn (洞玄靈寶五感文) của đạo sĩ Lục Tu Tĩnh (陸修靜, 406-477) nhà Lưu Tống (劉宋), lễ Kim Lục Trai (金籙齋) và Hoàng Lục Trai (黃籙齋) thì cần phải thiết đàn, và đàn có nhiều tầng. Từ thời nhà Đường (唐, 618-907) và Tống (宋, 960-1279) trở về sau, nghi lễ Đạo Giáo lại càng phong phú, phức tạp hơn; cho nên đàn tràng thiết trí lại càng phồn hoa hơn. Sau thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) và Minh (明, 1368-1662), do vì nghi lễ cúng tế rượu của Đạo Giáo dần dần thay thế cho nghi lễ cúng chay; do vậy trai đàn còn gọi là tiếu đàn (醮壇). Phật Giáo cũng lấy hình thức trai đàn này để thiết lập những đàn tràng Giải Oan Bạt Độ, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, v.v. Trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 17, truyện Thích Trí Khải (釋智顗, 538-597) có đoạn: “Khải hựu suất lữ kiến trai thất nhật, hành Kim Quang Minh Sám chí đệ lục tịch, hốt giáng dị điểu phi nhập trai đàn, uyển chuyển nhi tử, tu du phi khứ, hựu văn thỉ ngâm chi thanh, chúng tinh đồng chúc (顗又率侶建齋七日、行金光明懺至第六夕、忽降異鳥飛入齋壇、宛轉而死、須臾飛去、又聞豕吟之聲、眾幷同矚, Trí Khải lại cùng bạn bè thiết lập trai đàn trong bảy ngày, tiến hành pháp sám hối Kim Quang Minh đến đêm thứ sáu, chợt có một con chim lạ bay vào trong trai đàn, lượn quanh mà chết, thoáng chốc bay đi mất, rồi lại nghe tiếng lợn rên rỉ, mọi người đều trố mắt nhìn).”
trai đàn
Altar for expiatory or atonement ceremony.
trai đường
Phòng ăn của tự viện—Abstinence hall, i.e. monastic dining hall.
trai đảo
To fast and pray.
trang
Sedate, serious, proper, stern.
; 1) Ngụy trang: To camouflage. 2) Thời trang: Fashion. 3) Trang điểm: To make up. 4) Trang sức: ornament.
trang hoàng
Maṇḍana (S), Adorning.
; Decoration—Ornamentation.
trang hương
Để thêm nhang vào lư hương—To put incense into a censer.
Trang nghiêm
(s: vyūha, alaṃkāra, 莊嚴): theo nguyên ngữ Sanskrit thì từ vyūha có nghĩa là được phối trí một cách tuyệt hảo, còn từ alaṃkāra thì có nghĩa là trang hoàng lộng lẫy. Đặc biệt riêng trong Phật Giáo thì từ trang nghiêm có nghĩa là trang hoàng lộng lẫy quốc độ của Phật hay nơi thuyết pháp. Bên cạnh đó nó còn có nghĩa là chư Phật và Bồ Tát trang sức thân mình bằng phước đức, trí tuệ, v.v.
trang nghiêm
VyŪha (S).
; Alamkàraka (S). Adorn, adornment, glory, honour, ornament, ornate; e.g. the adornments of morality, meditation, wisdom, and the control of good and evil forces. In Amitàbha's paradise twenty nine forms of adornments are described.
; Alamkaraka (skt)—Dùng những thứ hay đẹp để làm đẹp cho đất nước hay quốc độ, hoặc dùng công đức làm đẹp cho bản thân. Trong cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà có 29 loại trang nghiêm khác nhau—Adornment—Ornament—Glory—Honour—To ornate—To adorn, e.g. the adornments of morality, meditation, wisdom, and the control of good and evil forces. In Amitabha's paradise twenty-nine forms of adornment are described—See Nhị Trang Nghiêm.
trang nghiêm bảo vương kinh
Xem Đại thừa Trang nghiêm Bảo vương Kinh.
trang nghiêm chứng đạo
Abhisamayā-laṇkāra (S)Trang nghiêm cho sự chứng đạo.
trang nghiêm kinh
Vyùharàja sùtra (S). An exposition of the principal doctrines of the Tantra school.
; Vyuharaja-Sutra—An exposition of the principal doctrines of the Tantra school.
trang nghiêm kinh luận
Vajrasuci (S)Luận Kim Cang Thân, Đại lực Kim Cang Châm Bồ tát, Kim Cang Châm Bồ tátTên một bộ kinh dDo Mã Minh Bồ tát biên soạnXem Đại thừa Trang Nghiêm Kinh luận.
Trang nghiêm kinh luận 莊嚴經論
[ja] ショウゴンキョウロン Shōgonkyō ron ||| The Zhuangyanjing lun. An abbreviated title of Dasheng zhuangyanjing lun 大乘莊嚴經論 (Mahāyānasūtralaṃkāra), T 1604.31.589b661c. => (j: Shōgonkyō ron; c: Zhuangyanjing lun). Tên gọi tắt của Đại thừa trang nghiêm kinh luận (大乘莊嚴經論c: Dasheng zhuangyanjing lun; s: Mahāyānasūtralaṃkāra).
trang nghiêm kiếp
The glorious kalpa to which the thousand Buddhas, one succeeding another, bring their contribution of adornment.
; Kiếp trang nghiêm huy hoàng trong đó hàng ngàn vị Phật nối tiếp nhau góp phần làm trang nghiêm (đại kiếp quá khứ trong ba đại kiếp của tam thế gọi là Trang Nghiêm Kiếp. Trong mỗi đại kiếp có 80 tiểu kiếp, mỗi tiểu kiếp đều thành lập bởi thành trụ hoại không. Trong 20 tiểu kiếp của trụ kiếp có 1000 vị Phật ra đời, mở đầu là Đức Hoa Quang Như Lai, kết thúc là Phật Tỳ Xá Phù)—The glorious kalpa (past) to which thousands of Buddhas, one succeeding another, bring their contribution of adornment.
trang nghiêm luận
Xem Đại thừa Trang Nghiêm Kinh luận.
; Mahàyàna sùtra lankara satra (S). A sastra written by Asanga.
Trang nghiêm luận 莊嚴論
[ja] ショウゴンロン T 1604.31.589b661c). => (j: Shōgon ron; c: Zhuangyan lun). Tên gọi tắt của Đại thừa trang nghiêm kinh luận (大乘莊嚴經論 c:Dasheng zhuangyanjing lun; s: Mahāyānasūtralaṃkāra).
trang nghiêm môn
The gate or school of the adornment of the spirit, in contrast with external practices, ceremonies, asceticism, etc.
; Cổng trang nghiêm tâm linh, đối lại với hình tướng tu hành bên ngoài, như lễ lạc hay khổ hạnh—The gate or school of the adornment of the spirit, in contrast with external practices, ceremonies, asceticism, etc.
trang nghiêm tịnh độ
Sukkhavati-vyŪha (S).
Trang Nghiêm Tự
(莊嚴寺, Shōgon-ji): hiện tọa lạc tại Huyện Giang Ninh (江寧縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Thăng Châu (昇州), Tỉnh Giang Tô (江蘇省, Kim Lăng). Vào năm thứ 4 (348) niên hiệu Vĩnh Hòa (永和) nhà Đông Tấn, Tạ Thượng (謝尚) cải trang tư gia của ông thành chùa và trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Minh (大明) nhà Tống thì được đặt tên là Trấn Tây Tự (鎭西寺). Vào năm thứ 5 (573) niên hiệu Thái Kiến (太建), chùa bị thiêu cháy tan tành, Trình Văn Tú (程文秀), vị sắc sứ Dự Châu (豫州), tu sửa lại và đổi tên thành Hưng Nghiêm Tự (興嚴寺). Đến năm thứ 23 (649) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) nhà Đường, Ngưu Đầu Huệ Trung (牛頭慧忠) đến trú trì nơi đây và xây dựng Pháp Đường. Đối với Thiền Tông, đây được xem như là ngôi Pháp Đường đầu tiên. Một số danh tăng như Đàm Bân (曇斌), Tăng Mân (僧旻), Đạo Huệ (道慧), Huệ Thiệp (慧涉), v.v., cũng đã từng sống qua ở đây.
trang nghiêm vương
Vyuharaja (skt)—Một vị Bồ Tát trong quyến thuộc của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai—A bodhisattva in the retinue of Sakyamuni.
trang nghiêm vương bồ tát
VyŪharāja-bodhisattva (S)Tên một vị Bồ tát.
; Vyùharàja (S). A Bodhisattva in the retenue of Sàkyamuni.
trang nghiêm vương kinh
Vyuharaja sutra (skt)—Tên gọi tắt của Trang Nghiêm Vương Đà La Ni Chú, giáo thuyết căn bản của Mật giáo—An exposition of the principal doctrines of the Tantra school.
trang nghiêm vương tam muội
Vyuaharāja (S), VyŪharadja samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
Trang nghiêm vương đà-la-ni chú kinh 莊嚴王陀羅尼呪經
[ja] ショウゴンオウダラニジュキョウ Shōgonnō daranijukyō ||| The Zhuangyanwang tuoluonizhoujing; Skt. Sarvatathāgatādhiṣṭhānasattvāvalokanabuddhakṣetrasandarśanavyūha; Tib. ['phags pa] de bzhin gshegs pa thams cad kyi byin gyis rlabs sems can la gzigs shing sangs rgyas kyi shing gi bkod pa kun tu ston pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo [To.98/721]; (Dhāraṇī of the Lord's Arrangement). 1 fasc. (T 1375.21.894895), fully 一切如來所護觀察衆生示現佛刹 trans. Yijing 義淨. Corresponds to one section of the Sanskrit version. BGBT4/133. => (j: Shōgonnō daranijukyō; c: Zhuangyanwang tuoluonizhoujing; s: Sarvatathāgatādhiṣṭhānasattvāvalokanabuddhakṣetrasandarśanavyūha; t: ['phags pa] de bzhin gshegs pa thams cad kyi byin gyis rlabs sems can la gzigs shing sangs rgyas kyi shing gi bkod pa kun tu ston pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo; e: Dhāraṇī of the Lord's Arrangement). 1 quyển . Tên goi đầy đủ là Nhất thiết Như Lai sở hộ quán sát chúng sinh thị hiẹn Phật sát 一切如來所護觀察衆生示現佛刹 . Ngài Nghĩa Tịnh (c: Yijing 義淨) dịch.
Trang nghiêm 莊嚴
[ja] ショウゴン shōgon ||| (1) Sublime, impressive, magnificent, majestic. (2) To establish, set up. Brightness, splendor. Adornment, decoration, ornamentation. => 1. Uy nghi, nguy nga, tráng lệ, oai nghiêm. 2. Kiến lập, gây dựng. Sự rực rỡ, Sự lộng lẫy. Sự trang hoàng, trang trí.
trang nhã
Elegant—Refined.
trang tượng
Trang trí cho tôn tượng—To dress an image.
Trang Tử
莊子; C: zhuāngzǐ, ~369-286, cũng được gọi là Trang Châu (莊周);|Một hiền triết Trung Quốc, tác giả của Trang Tử nam hoa chân kinh (莊子南花真經; c: zhuāngzǐ nánhuā zhēnjīng). Cùng với Lão Tử, ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo.|Trang Tử sinh trưởng tại tỉnh Hồ Nam bây giờ của Trung Quốc. Về cuộc đời của ông thì hầu như không có tài liệu gì được lưu lại cụ thể. Ông có lập gia đình, giữ một quan chức nhỏ. Vì từ chối phục hầu một Chư hầu nên ông sống trong hoàn cảnh cơ hàn. Trong Nam hoa chân kinh, ông chỉ trích mạnh mẽ các nghi lễ, quan niệm của nhà Nho.|Một giai thoại được ghi lại trong Sử kí của Tư Mã Thiên nêu rõ tính tình lạ lùng, tự do tự tại của Trang Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần): |»Uy vương nước Sở nghe nói Trang Châu là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời ra làm tướng. Trang Châu cười, bảo với sứ giả: Cái lợi của nghìn vàng quả trọng thật, cái địa vị khanh tướng quả cũng quý thật. Nhưng riêng ông chả thấy con bị tế hay sao? Ðược người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu. Lúc ấy, dù nó muốn được làm con lợn côi há còn được nữa hay không? Ông hãy đi đi, chớ có đến làm nhục ta. Thà ta dong chơi ở chốn bùn lầy nhơ bẩn còn thấy sung sướng hơn là để cho kẻ làm chủ một nước kia trói buộc ta.«|Các đề tài được Trang Tử nêu lên trong Nam hoa chân kinh trùng hợp với quan niệm của Lão Tử trong Ðạo đức kinh, nhất là tư tưởng về Ðạo. Tác phong »vô vi«, tức là làm không có tác ý (Bất hành nhi hành) rất được Trang Tử chú trọng. Ngoài vô vi ra, ông cũng rất đề cao tính chất tương đối của vạn vật hiện hữu, sự đồng nhất của sinh tử và sự quan trọng của phép tu tập thiền định (tĩnh toạ) để đạt sự thống nhất với Ðạo. Theo ông, thế giới chỉ là sự luân chuyển, biến chuyển vô cùng của vạn vật và ông cũng là một trong những người đầu tiên chỉ rõ tính chất huyễn, Ảo ảnh của thế giới hiện hữu.|Một bài luận rất ngắn, rất đơn giản trong thiên Tề Vật Luận (齊物論) đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho những thế hệ sau và nó cũng là một ví dụ tiêu biểu cho lối hành văn vô song của Trang Tử. Nguyên văn (bản dịch của N. D. Cần): |昔者莊周夢爲蝴蝶,栩栩然蝴蝶也自喻適志與不知周。我然覺,則蘧蘧然周也。不知周之夢爲蝴蝶與?蝴蝶之夢爲周與?周與蝴蝶則必有分矣!此之謂物化|»Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là bướm, vui phận làm bướm: tự nhiên thích chí không còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là Châu. Không biết Châu lúc chiêm bao là bướm, hay bướm lúc chiêm bao là Châu? Châu cùng bướm ắt có phận định. Ấy chính gọi là Vật hoá«|Trang Tử từ chối sự phân minh rõ ràng giữa »phải« và »quấy« theo người đời vì ông cho rằng, trong thế giới hiện hữu tương đối này người ta không thể tìm được một thước đo tuyệt đối cụ thể để phân biệt chúng. »Sinh« và »Tử« cũng như thế; chúng chỉ là những bước luân chuyển không cùng, không phải là »Thuỷ«, là »Chung.« Tư tưởng này của ông được trình bày rất rõ qua thái độ bình thản ngay khi vợ ông chết. Nguyên văn (bản dịch của N. D. Cần): |»Vợ Trang Tử chết, Huệ Tử đến điếu. Thấy Trang Tử ngồi, duỗi xoác hai chân, vừa vỗ bồn vừa ca. Huệ Tử nói: Cùng người ở tới già, có con lớn mà người chết lại không khóc, cũng đã là quá lắm rồi, lại còn vỗ bồn ca, không phải thái quá sao? Trang Tử nói: Không! Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng động lòng. Nhưng nghĩ lại hồi trước, nàng vốn là không sinh. Chẳng những là không sinh, mà đó vốn là không hình. Chẳng những không hình, mà đó vốn là không khí. Ðó, chẳng qua là tạp nhất ở trong hư không biến ra mà có khí, khí biến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại biến ra nữa mà có tử. Sinh, hình, khí, tử có khác nào xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa hành vận. Vả lại, người ta nay đã yên nơi nhà lớn, mà tôi còn cứ than khóc, chẳng là tự tôi không thông Mệnh ư? Nên tôi không khóc.«|Trang Tử nam hoa chân kinh đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho nền văn hoá, tư tưởng Trung Quốc. Nhiều vị Thiền sư đã nghiên cứu bộ sách này và đã nếm »đạo vị« nơi nó trước khi xuất gia tu học thành đạo.
trang tử
Chuang-tzu (C), Chuang Chou (C)Một nhà hiền triết Đạo gia, còn gạoi là Trang Chu.
Trang tử 莊子
[ja] ソウシ Sōshi ||| Zhuangzi; a famous Chinese sage and philosopher who is regarded to be a transmitter, as well as a major innovator of the Taoist teachings of Laozi (老子). He is the reputed author a work by the same name. His philosophy is characterized by an emphasis on naturalness in one's life and actions and tongueincheek criticism of unchecked intellectuality. Intellectual historians generally attribute a significant amount of LaoZhuang thought to the development of Chan Buddhism. => (j: Sōshi; c: Zhuangzi) Nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Hoa sống vào khoảng (369-286 trước CN.), là nhà cải cách học thuyết Lão giáo của Lão Tử (老子c: Laozi). ông là tác giả một tập sách nổi tiếng mang tên ông. triết lý của ông đặc sắc ở điểm nhấn mạnh vào tính tự nhiên của cuộc sống qua hành xử và mỉa mai phê phán tính cách không kềm chế được của tri thức. Những sử gia hiểu biét rộng thường đưa những giá trị nổi bật của tư tưởng Lão Trang vào sự phát triển thiền Phật giáo Trung Hoa.
Trang/tráng 莊
[ja] ソウ、ショウ sō, shō ||| (1) Strong, ablebodied, healthy. (2) Fertile, flourishing. (3) Adorned; dressed up; to dress. (4) A small village or farm. (5) Sedate, serious, respectful, grace; correct in conduct. (6) A shop; place of business. (7) A reference to Zhuangzi 莊子. => 1. (âm tráng) Mạnh, khoẻ mạnh, cường tráng. 2. Phong phú, phì nhiêu. 3. Trang hoàng, tô điểm, trang sức. 4. Một nông trại hay khu làng nhỏ. 5. Bình thản, nghiêm nghị, tôn nghiêm, thanh nhã; cư xử đúng phép. 6. Cửa hiệu, tiệm buôn. 7. Chỉ cho Trang tử (c: Zhuangzi 莊子).
tranh
1) Bức tranh: Picture. 2) Cỏ tranh: Thatch. 3) Tranh Đua: To contest—To struggle—To contend—To compete. 4) Tranh Luận: To debate—To dispute.
tranh biện
To discuss—To debate.
tranh chấp
Quarrels—To dispute the differences—To provoke arguments.
tranh giành
To strife.
tranh giải
To compete (contest) for a prize.
tranh hùng
To fight for supremacy.
tranh khôn
To match wits.
tranh luận
See Tranh (4).
tranh luận phật pháp
Dharma Dual.
tranh lụa
thangka (T), Scroll Hoành.
tranh sống
To fight for life.
tranh thủ
To struggle—To fight—To dispute.
tranh tối tranh sáng
In semi-darkness.
tranh tồn
To fight for existence.
tranh đoạt
To seize.
tranh đua
To compete.
tranh đấu
To struggle—To fight.
trao
To give—To pass (by hand).
trao quyền
To hand over an authority.
trao tráo
Wide-open.
trao đổi
To exchange.
trao đổi ý kiến
Consultation.
trau chuốt
To flatter falsely (in order to sell something).
trau dồi (giồi)
To improve (knowledge)—To enrich—To develop—To cultivate.
trau dồi sự hoàn thiện
To cultivate the perfection—A true Buddhist always cultivates his or her perfection of patience and forebearance.
trau dồi trí tuệ
To develop one's mind.
Trạch Am Tông Bành
(澤庵宗彭, Takuan Sōhō, 1573-1645): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, trú trì đời thứ 153 của Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), húy Tông Bành (宗彭), đạo hiệu Trạch Am (澤庵), hiệu Đông Hải (東海), Mộ Ông (暮翁), Minh Tử (冥子), xuất thân vùng Đản Mã (但馬, Tajima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Ông theo Tông Viên (宗園) ở Đại Đức Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) tu tập, rồi theo học với Động Nhân (洞仁) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji) và kế thừa dòng pháp của Thiệu Trích (紹滴) ở Dương Xuân Tự (陽春寺). Năm 1607, ông làm Thủ Tòa (首座) của Đại Đức Tự, rồi trải qua trú trì các chùa Đức Thiền Tự (德禪寺, Tokuzen-ji), Nam Tông Tự (南宗寺, Nanshū-ji). Đến năm 1629, do vì phản đối chuyện chính quyền Mạc Phủ ban Tử Y, ông bị lưu đày lên Quốc Thượng Sơn (國上山) vùng Xuất Vũ (出羽, Dewa), sau ông được Hậu Thủy Vĩ Thượng Hoàng (後水尾上皇, Gomizuno Jōkō) cũng như Tướng Quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu) quy y theo, ông sáng lập nên Đông Hải Tự (東海寺, Tōkai-ji) ở vùng Phẩm Xuyên (品川, Shinakawa), Võ Tàng (武藏, Musashi). Trước tác của ông để lại có Trạch Am Hòa Thượng Pháp Ngữ (澤庵和尚法語) 1 quyển, Bất Động Trí Thần Diệu Lục (不動智神妙錄) 1 quyển, Lâm Tế Lục Sao (臨濟錄鈔) 3 quyển, Minh Ám Song Song Tập (明暗雙雙集) 10 quyển, Linh Lung Tùy Bút (玲瓏隨筆) 1 quyển, Trạch Am Hòa Thượng Toàn Tập (澤庵和尚全集) 6 quyển, v.v.
treo
1) Treo vật gì: To hang up—To suspend. 2) Án treo: Sentence with reprieve.
treo gương
Nêu gương—To set (give) an example.
treo ngược
To hang upside down.
treû
Young.
tri
To know. Sanskrit root Vid, hence Vidyà knowledge; the vedas etc. Tri vijnà to know, Trí is vijnàna, wisdom arising from perception or knowing.
; • Biết: Vijna (skt)—To know. • Biết: Jnanam or Jnapti (p)—Knowing—Understanding—Learning—Apprehension.
tri bạch
Monk and lay person.
Tri chủng chủng giải trí lực
xem Giải lực thứ năm.
tri căn
The organs ođ perception, To know the roots, or capacities (of all beings, as does a Bodhisattva; hence he has no fears). Tri căn vô sở úy.
; 1) Ngũ căn: Five organs of perception. 2) Bồ Tát biết rõ căn cội và khả năng của chúng sanh nên không còn sợ hãi—To know the roots or capacities of all beings as do Bodhisattva; therefore, they have no fear.
tri giác
Consciousness—Perception—Apprehension.
Tri giác 知覺
[ja] チカク chikaku ||| Guess, infer, imagine, speculate (mistakenly). Discrimination, thought (tarka). => Suy luận ra, hiểu ra, suy xét (một cacg sai lầm). Sự nhận rõ các điều khác nhau, quá trình suy nghĩ (s: tarka). .
tri giả
Thể của thần ngã trong thân thể con người có thể biết được sự vật—The knower, the cognizer, the person within who perceives.
tri hành
To know and to execute.
Tri hành hợp nhất
知行合一|Nghĩa là »hiểu biết và thực hành phải đi đôi với nhau«; »Tri« có nghĩa là hiểu biết, là nghiên cứu kinh điển, những lời dạy của đức Phật, của chư vị Tổ sư, là sự cố gắng hiểu trọn vẹn ý nghĩa trong kinh sách bằng tri thức. »Hành« có hai nghĩa chính: 1. Hành động chính chắn, tránh làm điều ác, gia tăng việc thiện như lời Phật dạy và 2. Tu tập Thiền Ðịnh để trực chứng Chân lí đức Phật đã dạy. Qua kết quả từ Thiền định, cái biết vay mượn từ kinh sách, cái cảm giác »Tôi nghĩ là tôi biết« được thay thế bằng kinh nghiệm ở chính bản thân, bằng một kinh nghiệm xác định »Tôi biết!«, ví như người uống nước biết vị của nước ra sao.|Tri và hành nêu trên vốn xuất phát từ một niềm tin (Tín) vững chắc, tin rằng Phật là một người đã Giác ngộ hoàn toàn và những lời nói của Ngài là những gì người đời nên tin. Lòng tin này lại bắt nguồn từ việc quan sát kĩ lưỡng, đúng đắn những hiện tượng bên ngoài »như chúng là« và so sánh nó với những lời Phật dạy. Nói như thế không có nghĩa là tín, tri và hành là ba cấp bậc theo thứ tự thời gian mà hơn nữa, chúng lúc nào cũng phải đi song song với nhau, bổ sung cho nhau. Chỉ khi nào tri và hành hợp nhất thì kết quả đạt được mới viên mãn.
tri hô
To shout for help.
tri hữu
Close friend.
Tri khách
知客; J: shika;|Là người lo tiếp khách; một chức vị quan trọng trong một Thiền viện, còn được gọi là Ðiển khách hoặc Ðiển tân.|Tại Nhật, Tri khách thường là vị Trưởng lão quản lí thiền viện. Tri khách ở đây thường là một vị đã tiến xa trên Phật đạo, có khả năng thay thế vị Lão sư (j: rōshi) để dạy chúng. Tri khách chính là người trắc nghiệm những thiền sinh mới đến xem họ có đủ khả năng, tư cách để học với vị trụ trì hay không.
tri khách
Shika (C)Người tiếp đãi tân khách, có quyền nhận chúng. Người cầu nhập chúng phải qua tri khách thẩm vấn, nếu tri khách không chấp thuận thì không được ở lại.
; The director of guests, i.e. the host.
; Trong Tòng lâm, người tiếp đãi tân khách, có quyền nhận chúng. Người cầu nhập chúng phải qua tri khách thẩm vấn, nếu Tri khách không chấp nhận thì không được ở lại.
; Vị Tăng coi về việc tiếp khách—The director of guests in a monastery—Guest supervisor.
Tri khách 知客
[ja] チキャク chikyaku ||| The job in the monastery of receiving guests. The fourth level of the six supervisory positions. => Công việc đón tiếp quan khách trong thiền viện. Chức vụ thứ tư trong sáu chức sự trông coi tu viện.
Tri khố
知庫|người trông lo, quản lí tiền bạc, tài sản của một Thiền viện.
tri khố
Người quản lý tiền tài, vật chất, lương thực của tòng lâm.
; The bursar (of a monastery)
; Người quản lý tiền tài, vật chất, lương thực trong Tòng lâm.
; Khố Đầu—Người trông coi kho của tự viện—The bursar of a monastery.
tri khổ đoạn tập
To know (the truth of) suffering and be able to cut off its accumulation.
; Biết được cái khổ của sống chết quả báo thì phải đoạn trừ các nhân duyên tạo ra các mối khổ—To know the dogma of suffering and be able to cut off its accumulation. ** For more informatio, please see Tứ Diệu Đế.
tri kiến
To know, to know by seeing, becoming aware, intellection; the function of knowing; views; doctrines.
; Nanam (p)—Jnana (skt)—Biết khi thấy—Wisdom—Knowledge—To know by seeing—The function of knowing—becoming aware—Intellection—Views—Doctrines. • Tri kiến: Trí thông thường của thế gian—Ordinary world knowledge. • Biết: Trí tương đối: Knowledge of relativevity. • Trí thù thắng: Transcendental knowledge.
tri kiến ba la mật
Parajnaparamita (skt)—Trí Tuệ Bát Nhã—Wisdom paramita.
tri kiến bất nhị
Advaya-jnatritva (skt)—Tri kiến không nghĩ đến nhị biên—Nondualistic knowledge (the knowledge without thinking of extremes)—The knowledge of non-duality.
Tri kiến lực 知見力
[ja] チケンリキ chikenriki ||| The power of insight. 〔法華經 T 262.9.13a14〕 => Năng lực của cái thấy.
tri kiến phật
Buddha-jnana (p)—Tri kiến Phật hay sự hiểu biết thuần tịnh hay cái thấy của tánh giác—Buddha's knowledge.
tri kiến thanh tịnh
Purification by Knowledge and Vision—See Tứ Thánh Quả (B).
tri kiến thế tục
Worldly knowledge.
tri kiến trực giác
Cintamaya-panna (p)—Intuitional knowledge.
tri kiến tâm linh
Spiritual knowledge.
tri kiến vô ngôn
Nonverbal knowledge.
Tri kiến 知見
[ja] チケン chiken ||| (jñāna-darśana). (1) Seeing with wisdom. An understanding based on knowledge. 〔法華經 T 262.9.7b18〕(2) The understanding of knowing phenomena through having awakened to them. (3) A synonym for 明行足, 'one perfected in wisdom and action', one of the ten epithets of the Buddha. (4) Wisdom and insight; knowledge and views. => (s: jñāna-darśana). 1. Cái thấy bằng trí huệ. Sự nhận biết căn cứ vào kiến thức. 2. Sự nhận biết các hiện tượng thông qua sự giác ngộ về chúng. 3. Đồng nghĩa với Minh hạnh túc, một trong 10 danh hiệu của Đức Phật. 4. Trí huệ và sự hiểu biết; kiến thức và quan niệm.
tri kỷ
Friend in need.
Tri liêu
知寮|người trông lo liêu phòng, chỗ ở của tăng chúng trong một Thiền viện.
tri liêu
Người quản lý các liêu phòng, trông coi chỗ ở của tăng chúng.
; Người quản lý các liêu phòng, trông coi chỗ ở của Tăng chúng.
; Người trông nom phòng ốc trong tự viện—The warden of the monasterial abodes.
tri luận
Tên khác của Bát Nhã—Another name for the prajnaparamita.
tri lâm
A monastery.
tri lưu
Monks.
tri lễ
Knowing the right modes of respect, or ceremonial; courteous, reverential; Chih li, name of the famous tenth century monk of the Tống dynasty, Tứ Minh so called after the name of his monastery, a follower of the Thiên Thai school, sought out by a Japanese deputation in 1017.
; 1) Biết nghi thức lễ lạc: Knowing the right modes of respect or ceremonial. 2) Tri Lễ tức ngài Pháp Trí Tôn giả, một danh Tăng vào thế kỷ thứ mười đời Tống. Người đời sau gọi ngài là đại sư Tứ Minh (tên của tự viện nơi ngài trụ trì). Sư là một đệ tử của tông Thiên Thai—Chih-Li, name of a famous tenth-century monk of the Sung dynasty, Ssu-Ming, so called after the name of his monastery, a follower of the T'ien-T'ai school.
tri lực
Comprehension.
tri môn
The black-robe order, monks
tri ngộ
Biết nhau và tiếp đãi nhau chu đáo—To know and to treat each other well.
tri nhất thiết chúng sinh trí
The Buddha-wisdom which knows (the karma of) all beings.
tri nhất thiết pháp trí
The Buddha-wisdom of knowing everything or method (of salvation).
tri nhứt thiết chúng sanh trí
Trí huệ Phật biết tất cả nghiệp của chúng sanh—The Buddha-wisdom which knows the karma of all beings.
tri nhứt thiết pháp trí
Trí huệ Phật hiểu biết vạn hữu và phương cách cứu độ—The perfect understanding of omniscience regarding the laws of universal salvation—The Buddha-wisdom of knowing everything or method of salvation.
tri nhứt thiết thế gian trí
Toàn trí—The perfect understanding of omniscience regarding all living beings.
Tri Nột 知訥
[ja] チトツ Chitotsu ||| Chinul (1158-1210); Korean monk of the Koryŏ period, who is considered to be the most influential figure in the formation of Korean Sŏn Buddhism. Chinul entered the world at a time when the sangha was in a state of crisis, in terms of external appearance as well as internal issues of doctrine. Deeply disturbed at the degree of corruption that had crept into the sangha, he sought to establish a new movement within Korean Sôn which he called the "samādhi and prajñā society" (定慧社) whose goal was to establish a new community of disciplined, pure-minded practitioners deep in the mountains. Chinul eventually accomplished this mission with the founding of the Sônggwangsa monastery (松廣寺) at Mt. Chogye (曹溪山). One major issue that had fermented long in Chinese Ch'an and which had received special focus from Chinul, was the relationship between so-called "gradual" 漸 and "sudden" 鈍 methods in practice and enlightenment. Drawing upon various Chinese treatments of this topic, most importantly those by Zongmi (宗密; 780-841) and Dahui, (大慧; 1089-1163) Chinul came up with his famous "sudden enlightenment followed by gradual practice" 頓悟漸修 dictum. From Dahui Chinul also incorporated the kwanhwa (觀話 "observing the key phrase of the kong'an") method into his practice. This form of meditation is the main method taught in Korean Sôn down to modern times. Chinul did not undergo his enlightenment experiences as the result of the classical so-called personal "mind-to-mind transmission" between teacher and student as characterized in the Sôn school. Rather, each of his three enlightenment experiences came in connection with the contemplation of a passage in a Buddhist text. In his final articulation of the issue, Chinul was highly influenced by the explanation of the relationship between Sôn and Kyo provided by the Tang Huayan master Li Tongxuan (李通玄; 635-730). Chinul's phīosophical resolution of this issue brought a deep and lasting impact on Korean Buddhism. Chinul produced a number of important disciples who passed on his teaching and continued to work within his discourse. His major works include: Encouragement to Practice: The Compact of the Samādhi and Prajñā Community 勸修定慧結社文(one fasc.), Moguja's Secrets on Cultivating the Mind 牧牛子修心訣 (one fasc.), Straight Talk on the True Mind 眞心直説 (one fasc.), The Complete and Sudden Attainment of Buddhahood 圓頓成佛論 (one fasc.), Resolving Doubts About Observing the Hwadu 看話決疑論 (one fasc.), Admonitions to Beginning Students 誡初心學人文 (one fasc.), Afterword to the Sixth Patriarch's Dharma Jewel Platform Sutra 六祖法寶壇經跋, Excerpts from the Dharma Collection and Special Practice Record 法集別行録節要并入私記, Essentials of the Flower Ornament Scripture 華嚴論節要 (three fascicles). For background on Chinul and translations of most of the above works, see Buswell (1983); see also Keel (1984). => (Chinul; k: 1158-1210) Tăng sĩ Cao Ly vào thời đại Cao Cú Lệ (Koryŏ), người được xem là nhân vật có ảnh hưởng nhất trong sự hình thành Thiền tông Phật giáo Cao Ly. Sư ra đời vào lúc tăng đoàn đang trong tình trạng khủng hoảng, có nghĩa là về mặt hình tướng bên ngoài cũng như xuất phát từ giáo lý bên trong. Rối loạn đến mức độ sự tham nhũng đã lan vào trong tăng đoàn, sư tìm cách thiết lập một cuộc vận động mới trong Thiền tông Cao Ly gọi là 'Định huệ xã', nuch đích của nó là lập nên một cộng đồng hành trì có giới luật,chuyên thanh tịnh tâm ý ở sâu trong rừng núi. Cuối cùng sư thành tựu được sự mệnh khai sơn Tùng Quảng tự (松廣寺e: Sônggwangsa monastery ) trên núi Tào Khê (Mt. Chogye 曹溪山). Một đề tài từ lâu làm xôn xao trong Thiền tông Trung Hoa đã làm cho Trí Nột có sự quan tâm đặc biệt, đó là sự liên hệ giữa phương pháp tu tập 'tiệm' (gradual" 漸) và 'đốn' ( "sudden" 鈍) để đạt đến giác ngộ. Rút ra từ nhiều cách lý giải về đề tài nầy từ các Thiền sư Trung Hoa, quan trọng nhất là của Tông Mật và Đại Huệ, sư đưa ra châm ngôn nổi tiếng 'đốn ngộ tiệm tu'. Từ Đaị Huệ, sư kết hợp pháp tu khán thoại đầu (Quán thoại 觀話). Pháp thiền nầy là pháp môn chính của Thiền tông Cao Ly cho đến thời hiện đại. Trí Nột không trải qua kinh nghiệm chứng ngộ như là kết quả theo lối gọi riêng là 'tâm truyền tâm' giữa thầy và đệ tử như là đặc điểm của thiền tông. Mà đúng hơn, cả ba kinh nghiệm chứng ngộ của sư đều đến từ sự tham cứu từ những đoạn kinh. Trong lần cuối cùng, sư chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ sự giải thích về mối quan hệ giữa Thiền và Giáo do Lý Thông Huyền, bậc thầy của tông Hoa Nghiêm. Luận giải triết học của Tri Nột về tác phẩm nầy đã tạo nên ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài cho Phật giáo Cao Ly. Trí Nột cũng đào tạo được một số đệ tử quan trọng để truyền bá tư tưởng và tiếp tục chú giải những tác phẩm của mình. Những tác phẩm chính của sư là: Khuyến tu định huệ kết xã văn (勸修定慧結社;1 quyển), Mục ngưu tử tu tâm quyết (牧牛子修心; 1 quyển), Chân tâm trực thuyết (眞心直;1 quyển), Viên đốn thành Phật luận (圓頓成佛論; 1 quyển), Khán thoại quyết nghi luận (看話決疑論; 1 quyển), Giới sơ tâm học đạo văn 誡初心學人文 1 quyển, Lục Tổ Pháp Bảo Đàn kinh bạt六祖法寶壇經跋, Pháp tập biệt hạnh lục tiết yếu tịnh nhập tư ký法集別行録節要并入私記, Hoa Nghiêm luận tiết yếu (華嚴論節要; 3 quyển), Về hành trạng của Tri Nột và các bản dịch của 3 cuốn trên, xin xem tác phẩm của Buswell (1983) và Keel (1984).
tri pháp
To know the Buddha-law, or the rules; to know things; in the exoteric sects, to know the deep meaning of the sùtras; in the esoteric sects, to know the mysteries.
; 1) Tri Pháp Hiển Giáo: Người biết được các nghĩa thâm sâu của kinh điển—In the exoteric sects, to know the deep meaning of the sutras. 2) Tri Pháp Mật Giáo: Người biết được sự tướng bí mật—In the esoteric sects, to know the mysteries.
Tri Phủ
(知府): tên gọi một chức quan được đặt ra dưới thời nhà Tống, là tiếng gọi tắt của Quyền Tri Phủ Sự (權知府事), vị quan quản lý hành chính của một phủ, tương đương với Tỉnh Trưởng ngày nay.
tri quá
To know one's fault.
Tri Sự
(知事, Chiji): người đứng đầu cơ quan quản lý hành chính địa phương; như tại Nhật là người đứng đầu của một Huyện (縣, Ken); hay ở Hoa Kỳ là người lãnh đạo của một tiểu bang (governor). Từ “Tri Sự (知事)” có nghĩa là quản lý và điều hành sự việc. Tại Trung Quốc, từ thời nhà Tùy (581-619) trở đi, từ này được dùng như là danh xưng của vị Trú Trì ở các tự viện. Đến thời nhà Tống (960-1127), Tri Sự trở thành danh xưng của vị đứng đầu của một Phủ, Châu, Huyện. Tại Nhật Bản, trước thời chiến, chức này thuộc Bộ Nội Vụ và được sắc phong bổ nhiệm; nhưng sau này thì được tuyển chọn thông qua bầu cử.
Tri sự
知事; S: karmadāna; cũng được gọi là Duyệt chúng, gọi theo âm là Kiết-ma Ðà-na, Yết-ma Ðà-na, Duy na;|Chỉ chức vị trông coi sinh hoạt của chúng trong Tăng-già, trong một Thiền viện.
tri sự
Người quản lý, điều động nhân sự trong tòng lâmXem Yết ma.
; To know affairs. The karmadàna director of affairs in a monastery, next below the abbot.
; Người quản lý, điều động nhân sự trong Tòng lâm.
; Karmadana (skt)—Vị sư chăm sóc hết mọi sự trong tự viện, chỉ dưới quyền vị sư trụ trì—The director (manager) of affairs in a monastery, next below the abbot (whose office locates on the east side of the monastery).
tri sự thanh qui
Chiji shingi (J).
tri sự đầu thủ
Tri sự và Đầu thủ, hai dịch Tăng trong tự viện—Two co-directors in a monastery, one on the east and the other on the west side of the monastery. 1) See Tri Sự. 2) See Đầu Thủ.
Tri sự 知事
[ja] チジ chiji ||| The six officers of a Chan monastery. See 六知事. => Sáu chức sự trong một thiền viện. Xem Lục tri sự 六知事.
tri thiết túc luận
Prajātipada (S)Tên một bộ luận kinh do Ngài Ca chiên diện soạn.
tri thế gian
Lokavid (S). He who knows the world, one of the ten characteristics of an Buddha. Also Thế gian giải.
; Lokavid (skt)—Lô Ca Bị—Người biết hết các pháp của thế gian, một trong mười danh hiệu của Đức Phật—One who knows the world, one of the ten characteristics of a Buddha.
tri thức
(1) To know and perceive, perception, knowledge. (2) A friend, anintimate. (3) The false ideas produced in the mind by common, or unenlightened-knowledge one of the Ngũ thức in the Khởi tín luận.
; 1) Hiểu Biết: Knowledge—Learning—Perception—To know and perceive. 2) Những tư tưởng sai lạc của người chưa giác ngộ: False ideas produced in the mind by common or unenlightened knowledge. 3) Những người mình quen biết: A friend—An intimate—Acquaintance.
tri thức bất toàn
Imperfect intellection—Đức Phật dạy: “Vô minh bị chất chứa càng lúc càng nhiều them do bởi cái tri thức bất toàn từ vô thỉ là nguồn gốc của tâm.”—The Buddha taught: “Ignorance accumulated over and over again owing to imperfect intellection since the infinite past is the origin of the mind.”
tri thức chúng
A body of friends, all you friends.
tri thức hữu
Thiện hữu tri thức—Người bạn thân thiết có thể giúp chúng ta thông hiểu chân lý—A friend or an intimate who can help us to understand the truth—For more information, please see Thiện Hữu Tri Thức in Vietnamese-English Section.
tri thức luận
Epistemological questions—Về tri thức luận, Phật giáo không bàn đến nhiều như các triết học khác. Đối với nguồn gốc của nhận thức, Phật giáo nhìn nhận có thế giới của cảm giác hay thế giới hiện lượng (Pratyaksa-pramana); thế giới của suy luận hay thế giới tỷ lượng (Anumana); thế giới của trực giác thuần túy hay thế giới thiền định (dhyana). Như vậy, các giác quan, lý tính và kinh nghiệm nội tại sẽ cung ứng cho nội dung của tri thức. Ngoài ra, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể viện tới Thánh Giáo Lượng (Agama) tức ngôn ngữ được phát ra từ thế giới của giác ngộ viên mãn (Bodhi), nghĩa là ngôn ngữ của Phật, đấng giác ngộ—Concerning epistemological questions, Buddhism has much more to say than any other philosophy. As sources of cognition Buddhism recognizes the world of sensation (Pratyaksa-pramana), the world of inference (anumana) and the world of pure intuition (dhyana). Thus sense-data, reason and inner experience resulting from intuition will all provide the content of knowledge. Besides these we can appeal in every case to the Word that has been uttered from the world of perfect enlightenment (Bodhi), i.e., the Buddha (the Enlightened).
Tri thức 知識
[ja] チシキ chishiki ||| (1) Consciousness, awareness. (2) The content of what is known; knowledge, information. (3) An eminent monk. A Buddhist teacher. An exemplary practitioner with whom one is intimate. (4) A friend, an acquaintance. => 1. Sự hiểu biết, sự nhận thức. 2. Nội dung của điều nhận biết; kiến thức. 3. Một vị tăng xuất chúng. Giáo thọ sư. Một bậc tu hành mẫu mực làm mô phạm cho mọi người noi theo. 4. Người bạn đồng tu, bậc thiện tri thức.
tri tình
To know the situation.
tri túc
Saṃtusta (S)Đối với vật đã được không chê là ít, không sanh hối hận.
; Complete knowledge; satisfaction.
; • Biết đủ và thỏa mãn với những gì mình có ngay trong lúc nầy. Tri túc là đặc điểm của hạnh phúc cá nhân. Phàm phu thường nghĩ rằng tri túc rất khó trau dồi và phát triển. Tuy nhiên, nếu chúng ta kiên trì dũng mãnh, và quyết tâm kiểm soát những tư tưởng bất thiện cũng như hậu quả gây ra do bởi không biết tri túc, thì chúng ta sẽ cảm thấy luôn hạnh phúc với những gì mình đang có. Đối với những người có trí tuệ, biết quyền biến, tháo vát, khéo an nhẫn với cảnh đời, biết suy cùng nghĩ cạn, thì trong cảnh ngộ nào cũng vẫn an nhiên bình thản. Với hoàn cảnh giàu sang thì biết đủ theo cảnh giàu sang, với cảnh nghèo hèn thì biết đủ theo nghèo hèn. Thật vậy, trong đời sống hằng ngày, chúng ta làm đủ cả mọi việc, suy tính đủ mọi phương cách, chước mầu, thậm chí đến việc không từ nan bất cứ thủ đoạn nào, miễn sao cho mình được lợi thì thôi, còn thì tổn hại cho ai cũng không cần nghĩ đến. Thử hỏi chúng ta làm như vậy để chi? Chẳng qua là để có cuộc sống tốt đẹp hơn, ăn mặc, nhà cửa, cất chứa tiền bạc nhiều hơn. Nhưng suy nghĩ kỹ chúng ta sẽ thấy mặt trời mọc, đứng bóng, rồi lặn và biến mất về đêm; trăng đầy rồi khuyết, rồi mất hẳn ánh sáng; gò cao đổi thành vực thẳm, biển cả hóa nương dâu, vân vân. Cuộc đời xưa nay thịnh suy, đắc thất, vinh nhục, bổng trầm, còn mất, hợp tan, chỉ là lẽ thường chớ đâu có gì được tồn tại mãi, tất cả rồi cũng về với hư không. Thế nên người trí phải luôn biết tri túc với hoàn cảnh hiện tại—Satisfy with what we have at this very moment—Satisfaction. Contentment is a characteristic of the really happy individual. The ordinary people seem to think that it is difficult to cultivate and develop contentment. However, with courage and determination to control one's evil inclination, as well as to understand the consequences of these evil thoughts, one can keep the mind from being soiled and expereince happiness through contentment. For those who have wisdom, know how to apply themselves and are able to endure life, and are able to think cleverly, will find peace in his fate under whatever circumstances. With the conditions of wealth, one satisfies and is at peace with being wealth; with the conditions of poverty, one satisfies and is at peace with being impoverished. In fact, in our lifetime, we engage in all kinds of activities, think and calculate every imaginable method without abandoning any plot, so long as it is beneficial, but whether or not our actions affect others we never care. We have been doing all these for what? For a better life, clothes, house, and for storing more money. If we think carefully, we will see that the sun rises, reaches its stand still, and then it will set and disappears in the evening; a full moon will soon become half, quarter, then lose its brightness; mountains become deep canyons; oceans become hills of berries, etc. The way of life has always been rise and fall, success and failure, victory and defeat, lost and found, together and apart, life and death, etc., goes on constantly and there is absolutely nothing that remain unchanged and eternal. People with wisdom should always satisfy with their current circumstances. • Đức Phật tán dương cuộc sống đơn giản, cuộc sống đơn giản dẫn đến việc mở mang tâm trí con người. Chính vì thế mà Đức Phật luôn thuyết giảng sự lợi ích cho các thầy Tỳ Kheo về tri túc trên những món như sau: Y áo mà các thầy nhận được, dù thô hay dù mịn; đồ cúng dường hay thực phẩm các thầy nhận được, dù ngon hay không ngon; nơi ở mà các thầy nhận được, dù đơn sơ hay sang trọng. Ai mà mãn ý với ba điều trên đây có thể giảm được lòng ham muốn và đồng thời in sâu vào tâm khảm những thói quen của một cuộc sống đơn giản—The Buddha extols simple living as being more conducive to the development of one's mind. Thus, the Buddha always preaches the self-contentment for the benefit of the Bhikkhus as follow: The robes or clothes they receive, whether coarse or fine; alms or food they receive, whether unpalatable or delicious; the abodes or houses they receive, whether simple or luxurious. Those who satisfy with these three conditions can reduce the desires, and at the same time develop the habits and values of simple living.
tri túc thiên
Xem Đâu suất thiên cung.
; Tusita, the fourth devaloka, Maitreya's heaven of full knowledge, where all Bodhisattvas are reborn before rebirth as Buddhas.
; Tusita (skt)—Đâu Suất Đà—Tầng trời Đâu Suất, cõi trời Tri Túc hay cõi Tịnh Độ của Đức Di Lặc, nơi mà chư Bồ Tát tái sanh vào trước khi sanh vào cõi Phật—The fourth Devaloka, Maitreya's heaven of full knowledge, where all Bodhisattvas are reborn before rebirth as Buddhas.
tri túc viện
Nội điện của Tri Túc Thiên—The inner court of the tusita.
Tri túc 知足
[ja] チソク chisoku ||| (1) To be aware that one has had enough--to be satisfied (saṃtuṣṭi, tuṣṭi). (2) A term for Tuṣita Heaven 兜率天. This term originally comes from Chapter 33 of the Daodejing. => 1. Nhận thức rằng những gì mình có là đầy đủ–hài lòng (saṃtuṣṭi, tuṣṭi). 2. Tên của cõi trời Đâu Suất (e: Tuṣita Heaven 兜率天).
Tri tạng
知藏|Người trông lo, quản lí kinh sách của Thiền viện.
tri tạng
Người quản lý về kinh sách của tòng lâm.
; Người quản lý kinh sách của Tòng lâm.
Tri viên
知園|người trông lo vườn tược trong một Thiền viện.
tri viên
Người trông coi vườn tược trồng trọt, cũng gọi là viên đầu.
; Cũng gọi là Viên đầu, người trông coi vườn tượt trồng trọt ở Tòng lâm.
tri vô biên chư phật trí
To have the infinite Buddha-wisdom (of knowing all the Buddha-worlds and how to save the beings in them).
; Biết được trí vô biên của chư Phật hay biết những lời Phật dạy cũng như cách cứu độ chúng sanh—To have the infinite Buddha-wisdom (knowing the Buddha-worlds and how to save the beings).
tri vô ngại chư phật trí
Thông hiểu tri kiến Phật—The perfect understanding of omniscience regarding all Buddha wisdom.
tri y
Black robes, monks.
tri ân
To be grateful.
Tri Ân Viện
(知恩院, Chion-in): ngôi chùa Tổng Bản Sơn của Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại Higashiyama-ku (東山區), Kyoto (京都市), gọi cho đủ là Hoa Đảnh Sơn Tri Ân Giáo Viện Đại Cốc Tự (華頂山知恩敎院大谷寺). Pháp Nhiên Thượng Nhân (法然上人, Hōnen Shōnin) được xem như là người khai sơn ngôi viện này, và vị pháp đệ của ông Thế Quán Phòng Nguyên Trí (勢觀房源智) là người sáng kiến. Vào năm 1175, qua bộ Quán Kinh Sớ (觀經疏) của Thiện Đạo Đại Sư (善導大師), Pháp Nhiên Thượng Nhân ngộ được rằng việc xưng danh hiệu Di Đà là con đường thích hợp với bản nguyện của Như Lai, nên ông khai sáng ra Tịnh Độ Tông. Sau đó, ông dựng một ngôi thảo am ở vùng Cát Thủy (吉水, Yoshimizu), cho dù có bị áp bức thế nào đi nữa ông vẫn truyền bá pháp môn Niệm Phật, và đến năm 1211, lúc 80 tuổi, ông thị tịch ở Thiền phòng (nay là thuộc nơi gần bên Thế Chí Đường) nơi vùng Đại Cốc (大谷, Ōtani) thuộc Đông Sơn (東山, Higashiyama). Chúng môn đệ của ông mới an táng di cốt của ông nơi một góc phòng ở, rồi lập nên Miếu Đường để thờ phụng. Sau đó, phòng xá này bị chúng đồ của Sơn Môn phá hại, nên hài cốt của Thượng Nhân được dời về vùng Tha Nga (嵯峨, Saga), rồi làm lễ Trà Tỳ ở vùng Lật Sanh Dã (栗生野, nay ở cạnh bên Quang Minh Tự [光明寺]), và đem an táng ở vùng Tiểu Thương Sơn (小倉山). Về sau, vào năm 1234, Thế Quán Phòng Nguyên Trí lo sợ di tích ở vùng Đại Cốc bị phế diệt, nên mới thỉnh cầu Tứ Điền Thiên Hoàng (四條天皇, Shijō Tennō), và xây dựng lại Điện Phật, Ảnh Đường, Tổng Môn, v.v, lấy tên là Đại Cốc Tự (大谷寺). Nguồn gốc của chùa này là như vậy. Sau đó các đường vũ dần dần được xây dựng thêm, chùa trở rất hưng thạnh với tư cách là bản cứ của Tịnh Độ Tông, song đến năm 1434 chùa lại bị cháy rụi tan tành do hỏa tai. Đến thời vị Tổ đời thứ 20 của chùa là Không Thiền (空禪, Kūzen), ông mới thỉnh cầu sự ủng hộ của Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Giáo (足利義敎, Ashikaga Yoshinori), rồi mãi mấy năm sau thì mới tái kiến được các ngôi đường vũ và làm cho cảnh quan cũ trở lại như xưa. Vào năm 1467, nhân vụ loạn Ứng Nhân (應仁), chùa lại bị thiêu cháy rụi, vị Tổ kế thế đời thứ 22 của chùa là Châu Dữ (周與) thì chạy trốn lên vùng Cận Giang (近江, Ōmi), và xây dựng lên một ngôi chùa khác. Đây chính là ngôi Tân Tri Ân Viện (新知恩院) ngày nay. Rồi đến 11 năm sau, tức vào năm 1478, ông thỉnh cầu Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政), xây dựng lại A Di Đà Đường và Ngự Ảnh Đường ở vùng đất cũ. Nhưng sau đó thì chùa cũng mấy lần bị hỏa hoạn cháy tan tành, mãi đến năm 1524 chùa mới được Hậu Bá Nguyên Thiên Hoàng (後柏原天皇, Gokashiwabara Tennō) cho phép gọi tên là Tổng Bản Sơn của Tịnh Độ Tông. Rồi Hậu Nại Lương Thiên Hoàng (後奈良天皇, Gonara Tennō) còn gởi sắc phong ban tên chùa là Tri Ân Giáo Viện Đại Cốc Tự (知恩敎院大谷寺). Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) thì quy y với vị đệ tử kế thế đời thứ 29 của chùa là Tôn Chiếu (尊照, Sonshō), cho nên Đại Ngự Ảnh Đường rồi các ngôi đường vũ khác đươc xây dựng lên, đăc biệt Cung Môn Tích (宮門跡) là nơi xuống tóc xuất gia của vị Hoàng Tử thứ 8 của Dương Thánh Thiên Hoàng (陽成天皇, Yōzei Tennō) là Lương Vụ Thân Vương (良輔親王). Tuy nhiên, ngôi già lam do Gia Khang tạo dựng cũng biến thành tro bụi vào năm 1633, rồi sau đó thì vị Tướng Quân đời thứ 3 của dòng họ Đức Xuyên là Gia Quang (家光, Iemitsu) mới phục hưng lại cảnh quang như xưa. Sau thời Gia Quang, đời đời con cháu dòng họ Đức Xuyên cũng luôn thâm tín quy ngưỡng với chùa này, và đã cúng dường ngoại hộ rất nhiều vô số kể. Đến thời Minh Trị, chùa được công nhiên gọi tên là chùa Môn Tích. Thêm vào đó, vào năm 1887, chức Quản Trưởng của Tịnh Độ Tông cũng được chế định ra để thống suất toàn giáo đồ Sơn Môn. Hiện tại, chánh điện chùa (tức Ngự Ảnh Đường), kiến trúc được Đức Xuyên Gia Quang tái kiến vào năm 1633, là kiến trúc đồ sộ được xếp nhất nhì ở vùng Kyoto. Ngoài ra Tam Môn, Đường Môn, Kinh Tàng, Thế Chí Đường, Đại Phương Trượng, Tiểu Phương Trượng, v.v, là những quần thể được kiến trúc được xếp vào di sản văn hóa quốc gia. Hiện chùa vẫn còn lưu lại nhiều bảo vật quý giá như 48 quyển tranh vẽ về Pháp Nhiên Thượng Nhân, tranh vẽ 25 vị Bồ Tát Lai Nghênh, v.v.
tri điền
Monk's robe.
tri điện
Vị Tăng chăm sóc điện thờ Phật—The warden of a temple—Supervisor of the Buddha Hall.
tri đạo
Người biết đạo cứu độ chúng sanh—One who knows the path to salvation.
tri đạo giả
The one who knows the path to salvation, an epithet of the Buddha.
; Người biết con đường cứu độ chúng sanh, một danh hiệu của Đức Phật—The one who knows the path to salvation, an epithet of the Buddha.
Tri-song Ðet-sen
T: trhisong detsen [khri-sroṅ lde-btsan]; 742-798;|Một ông vua rất có công trong việc truyền bá Phật pháp sang Tây Tạng. Dưới sự cầm quyền của ông, Phật giáo được truyền bá sang Tây Tạng một cách có hệ thống. Ông được xem là hoá thân của Bồ Tát Văn-thù Sư-lị.|Ông sinh năm 742, lên ngôi năm 12 tuổi (754). Niềm tin nơi Phật pháp của ông vốn bắt nguồn từ bà mẹ sùng đạo – nguyên là một vị công chúa Trung Quốc với tên Kim Thành. Với sự giúp đỡ của bà mẹ, ông đã dẹp được phe chống Phật pháp được nhiều vị quan trong triều đình ủng hộ, mà cực đoan nhất là Ma-zhang (t: ma-žan). Sau đó, ông mời vị Ðại sư Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) sang Tây Tạng hoằng pháp.|Ôn dịch, thiên tai là những dấu hiệu tiếp đón Tịch Hộ tại Tây Tạng. Nghe lời khuyên trước khi về nước của Tịch Hộ, Tri-song Ðet-sen mời Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) sang trị những tai ương đang hoành hành. Vốn xuất thân từ Mật giáo, Liên Hoa Sinh tinh thông pháp thuật, cầu mưa, trừ tà… Chỉ một thời gian ngắn sau đó, các thiên tai đã được chinh phục, Tịch Hộ lại sang Tây Tạng tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp và dịch kinh sách.|Dưới sự hộ trì của Tri-song Ðet-sen, Phật pháp được truyền bá rộng rãi tại Tây tạng. Năm 787, với sự giúp đỡ của Liên Hoa Sinh và Tịch Hộ, ông cho xây dựng ngôi chùa Tang-duyên (t: sam-ye [bsam-yas]), cách thủ đô Lha-sa khoảng 60 km hướng Ðông nam. Vị trụ trì đầu tiên ở chùa này là Tịch Hộ và dưới sự quản lí của sư, chùa này trở thành trung tâm Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng, nhiều kinh sách được dịch sang Tạng ngữ.|Cũng trong thời gian này, nhiều vị Ðại sư Phật giáo người Trung Quốc đang giáo hoá tại Tây Tạng. Tri-song Ðet-sen ra lệnh triệu tập các vị Ðại sư của hai trường phái Phật giáo – Ấn Ðộ và Trung Quốc – để tổ chức một buổi tranh luận công khai về giáo lí. Trưởng đoàn người Ấn là Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla), một môn đệ của Tịch Hộ. Trong phái đoàn Trung Quốc thì Hoà Thượng Ðại Thừa dẫn đầu. Phái đoàn Ấn Ðộ toàn thắng trong cuộc tranh luận này và các vị Ðại sư Trung Quốc phải trở về nước.|Mặc dù rất có công với Hiển giáo, tận tình giúp đỡ Tịch Hộ và môn đệ nhưng Tri-song Ðet-sen vẫn chú tâm đến Mật giáo và những phép bùa chú của Liên Hoa Sinh hơn. Truyền thống của tông Ninh-mã xếp ông vào 25 vị đệ tử chân truyền cuả Liên Hoa Sinh và chính ông cũng tổ chức một buổi lễ long trọng để tiễn biệt Liên Hoa Sinh.|Ông mất vào năm 798 qua một mũi tên của một thích khách.
trinh
Chaste—Lucky.
trinh bạch
Chaste—Pure.
Trinh Khánh
(貞慶, Jōkei, 1155-1213): vị Tăng của Pháp Tướng Tông, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Trinh Khánh (貞慶), thường được gọi là Lạp Trí Thượng Nhân (笠置房上人), Thị Tùng Dĩ Giảng (侍從已講), hiệu là Giải Thoát Phòng (解脫房), húy là Giải Thoát Thượng Nhân (解脫上人); xuất thân vùng Kyoto, con của quan Quyền Hữu Trung Biện Đằng Nguyên Trinh Hiến (權右中辨藤原貞憲). Năm lên 8 tuổi, ông đến Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), theo học Pháp Tướng và Luật với người chú của mình là Giác Hiến (覺憲). Năm 1172, ông được Thật Phạm (實範) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) truyền thọ cho Hư Không Tạng Cầu Văn Trì Pháp (虛空藏求聞持法). Năm 1182, ông làm việc cho Hội Duy Ma, rồi đến năm 1186 thì làm Giảng Sư của hội này, từ đó về sau thỉnh thoảng ông có xuất hiện giảng diễn ở các Ngự Trai Hội hay Tối Thắng Giảng, v.v. Năm 1193, ông trở về ẩn cư ở Lạp Trí Tự (笠置寺) thuộc vùng Sơn Thành, rồi đến năm 1196 thì thiết lập Bát Nhã Đài để an trí bộ Đại Bát Nhã Kinh mà ông đã bỏ hết thời gian 11 năm trường biên chép nên, rồi đến năm 1204 thì lập ra Hoa Long Hội và tuyên dương tín ngưỡng Di Lặc. Năm sau, ông tâu thỉnh lên triều đình để đình chỉ việc Chuyên Tu Niệm Phật của Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên). Đến năm 1208, ông tái hưng Hải Trú Sơn Tự (海住山寺), rồi năm 1212 thì kiến lập Thường Hỷ Viện (常喜院) ở Hưng Phước Tự, bắt đầu giảng về Luật và tận lực phục hưng Giới Luật. Trước tác của ông có Ngu Mê Phát Tâm Tập (愚迷發心集) 3 quyển, Khuyến Dụ Đồng Pháp Ký (勸誘同法記) 1 quyển, Di Lặc Giảng Thức (彌勒講式) 1 quyển, Quan Âm Giảng Thức (觀音講式) 1 quyển, Hưng Phước Tự Tấu Trạng (興福寺奏狀) 1 tờ, Thành Duy Thức Luận Tầm Tư Sao (成唯識論尋思抄) 1 quyển, Tâm Yếu Sao (心要抄) 1 quyển, v.v.
Trinh Quán Tự
(貞觀寺, Jōgan-ji): ngôi chùa hoang phế, xưa kia tọa lạc tại vùng Fukakusa (深草), Fushimi-ku (伏見區), Kyoto-shi (京都市). Vào năm 862 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 4), Tây Viện của Gia Tường Tự (嘉祥寺, Kajō-ji) được đặt cho hiệu là Trinh Quán Tự. Đến năm 872 (năm thứ 14 cùng niên hiệu trên), Gia Tường Tự chính thức đổi thành Trinh Quán Tự; Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa, 804-972) cho xây dựng các ngôi đường tháp tại đây, cúng dường ruộng cho chùa, thiết lập Tọa Chủ, Tăng Cang, v.v., nhưng về sau chùa dần dần hoang phế. Hiện tại có phát quật một số di tích ngói liên quan đến chùa.
trinh thực
Pure and true.
Trinh tĩnh
(貞靜): có hai nghĩa. (1) Đoan trang nhàn tĩnh. Như trong bài Tế Quân Thôi Thị Ai Từ (細君推氏哀辭) của Vương Uẩn (王惲, 1227-1304) nhà Nguyên có đoạn: “Tánh tư trinh tĩnh Bá Cơ cung, tứ thập tam niên hiếu mộng không (性姿貞靜伯姬恭、四十三年好夢空, tánh tình nhàn tĩnh Bá Cơ thương, bốn mươi ba năm thích mộng không).” (2) Kiên trinh trầm tĩnh. Như trong bài thơ Bắc Quách Bần Cư (北郭貧居) của Mạnh Giao (孟郊, 751-814) nhà Đường có câu: “Dục thức trinh tĩnh tháo, thu thiền ẩm thanh hư (欲識貞靜操、秋蟬飲清虛, muốn biết trầm tĩnh rốt, ve thu uống hư không).”
triêu
Buổi sáng—Morning.
triêu lộ
Giọt sương mai dễ tan, dùng để ví với đời người chóng tàn—Morning dew, e.g. man's life as transient.
Triêu Thương Cao Cảnh
(朝倉高景, Asakura Takakage, 1314-1372): vị Võ Tướng từ thời đại Nam Bắc Triều cho đến thời đại Thất Đinh, Đương Chủ đời thứ 2 của dòng họ Triêu Thương ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen); thân phụ là Triêu Thương Quảng Cảnh (朝倉廣景, Asakura Hirokage); tên lúc nhỏ là Sảng Tam Lang (彦三郎), Chánh Cảnh (正景); biệt danh là Tôn Thứ Lang (孫次郎), Đàn Chánh Tả Vệ Môn Úy (彈正左衛門尉), Viễn Giang Thủ (遠江守), Hạ Dã Thủ (下野守); giới danh là Đức Nham Tông Hựu (德巖宗祐). Ông là người có công trong việc thiết lập cơ sở vững chắc cho dòng họ Triêu Thương ở địa phương Việt Tiền. Tương truyền do vì lập được nhiều chiến công nên Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) ban trên chiến y của ông dòng chữ “Triêu Thương Đàn Chánh Tả Vệ Môn Úy Cao Cảnh (朝倉彈正左衛門尉高景).” Tuy nhiên, theo Triêu Thương Thỉ Mạt Ký (朝倉始末記) cho biết, cũng từ lúc này ông lấy tên là “Viễn Giang Thủ Cao Cảnh (遠江守高景).”
Triêu Thương Mẫn Cảnh
(朝倉敏景, Asakura Toshikage, 1428-1481): vị Võ Tướng giữa thời đại Thất Đinh, còn gọi là Hiếu Cảnh (孝景); tên lúc nhỏ là Tiểu Thái Lang (小太郎); biệt danh là Tôn Hữu Vệ Môn Úy (孫右衛門尉), Đàn Chánh Tả Vệ Môn Úy (彈正左衛門尉); pháp danh là Anh Lâm Tông Hùng (英林宗雄); giới danh là Nhất Thừa Tự Điện Anh Lâm Tông Hùng Cư Sĩ (一乘寺殿英林宗雄居士); thân phụ là Triêu Thương Gia Cảnh (朝倉家景, Asakura Iekage). Trong vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂), ông đuổi theo chúa quân họ Tư Ba (斯波), rồi làm Thủ Hộ vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Là người tiên phong trong việc chế định ra gia pháp của Đại Danh Chiến Quốc, ông đã soạn ra bản 17 điều gọi là Triêu Thương Mẫn Cảnh Thập Thất Cá Điều (朝倉敏景十七個條, hay còn gọi là Triêu Thương Hiếu Cảnh Điều Điều [朝倉孝景條條]).
Triệu Châu Tùng Thẩm
(趙州從諗, Jōshū Jūshin, 778-897): môn hạ của Nam Nhạc, còn gọi là Toàn Thẩm (全諗), người vùng Hác Hương (郝郷), Tào Châu (曹州), Tỉnh Sơn Đông (山東省), họ là Hác (郝). Lúc còn nhỏ, ông xuất gia ở Hỗ Thông Viện (扈通院), rồi đến vùng Trì Dương (池陽), tham yết với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), và được khế ngộ. Về sau, ông còn đến tham bái một số danh tăng đương thời như Hoàng Bá (黃檗), Bảo Thọ (寳壽), Diêm Quan (鹽官), Giáp Sơn (夾山), v.v.; và cuối cùng thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng, ông đến trú tại Quan Âm Viện (觀音院), vùng Triệu Châu (趙州, thuộc Tỉnh Hà Bắc). Tại đây ông đã tuyên dương Thiền phong độc đáo của mình suốt trong vòng 40 năm. Phần lớn những văn vấn đáp cũng như dạy chúng của ông được lưu truyền như là công án. Đến ngày mồng 2 tháng 11 năm thứ 4 niên hiệu Càn Ninh (乾寧) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 120 tuổi, được ban tặng cho thụy hiệu là Chơn Tế Đại Sư (眞際大師). Tác phẩm của ông có Triệu Châu Lục (趙州錄), Chơn Tế Đại Sư Ngữ Lục (眞際大師語錄), 3 quyển.
Trích Thủy
(滴水, Tekisui): tức Do Lý Nghi Mục (由理宜牧, Yuri Giboku, 1822-1899), vị tăng của Tông Lâm Tế Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy Nghi Mục (宜牧), đạo hiệu Trích Thủy (滴水), hiệu Vô Dị Thất (無異室), Vân Mẫu (雲母), xuất thân vùng Đơn Ba (丹波, Tamba, thuộc Kyoto). Ông mất cha từ hồi còn nhỏ, đến năm 1831 thì xuất gia. Năm 1841, ông theo tu học với Nghi Sơn Thiện Lai (儀山善來) ở Tào Nguyên Tự (曹源寺) vùng Cương Sơn (岡山, Okayama), Bị Tiền (僃前, Bizen), nhưng đến năm 1853 ông theo hầu Xương Thạc (昌碩) ở Yếu Hành Viện (要行院) trên kinh đô. Năm 1863, ông đến trú tại Tây Đường (西堂) của Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji), rồi sau chuyển sang Từ Tế Viện (慈濟院), làm Quản Trưởng của Phái Thiên Long Tự, và về sau làm Quản Trưởng của ba phái Thiền Tông. Đến năm 1877, ông nổ lực tái kiến Thiên Long Tự trước bị tàn phá do binh hỏa. Vào năm 1891, ông từ chức Quản Trưởng, nhưng đến năm 1896 ông lại được tái bổ nhiệm làm Quản Trưởng với tư cách là vị tổ thời Trung Hưng của chùa.
triết gia
Philosopher—Sage.
triết học
Philosophy.
; Philosophy.
triết học tánh không
Philosophy of Voidness.
triết lý cao siêu
Transcendental doctrines.
triết thuyết
Doctrine.
Triết Ông Như Diễm
(浙翁如琰, Settō Nyoen, 1151-1225): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Triết Ông (浙翁), người Huyện Ninh Hải (寧海), Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ là Quốc (國). Ông đến xuất gia ở Tịnh Độ Viện (淨土院) trong làng và đến năm 18 tuổi thì thọ giới Cụ Túc, sau kế thừa dòng pháp của Chuyết Am Đức Quang (拙庵德光) ở Dục Vương Sơn (育王山, Tỉnh Triết Giang). Ông đã từng sống qua một số nơi như Hàm Thanh Tự (含清寺) ở Nam Kiếm Châu (南劍州, Tỉnh Phúc Kiến), Năng Nhân Tự (能仁寺) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), Quang Hiếu Tự (光孝寺) ở Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), Tương Sơn (蔣山) ở Kiến Khang (建康, Tỉnh Giang Tô), và Thiên Đồng Sơn (天童山). Đến năm thứ 11 (1218) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông được cử đến trú trì Kính Sơn (徑山) và được ban cho hiệu là Phật Tâm Thiền Sư (佛心禪師). Vào tháng 7 năm đầu niên hiệu Bảo Khánh (寳慶), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 57 hạ lạp. Chính Đạo Nguyên (道元, Dōgen) của Nhật cũng đã từng tham học với ông ở Kính Sơn.
triền
Xem Triền cái.
; Revolve, turn around, whirl.
; (A) Nghĩa của Triền—The meanings of Bonds or entanglements: 1) Triền dốc: Slope of a hill or mountain. 2) Cột trói: To bind with cords—Bonds. 3) Tên khác của phiền não: Dục vọng và phiền não trói buộc thân tâm người khiến cho người không được tự tại—Another name for afflictions; the passions and delusions which binds human body and minds. (B) Phân loại Triền—Categories of bonds or entanglements: 1) Bát Triền hay tám thứ trói buộc: Eight entanglements or bonds—See Bát Triền in Vietnamese-English Section. 2) Thập Triền hay mười thứ trói buộc: Ten entanglements or bonds.
triền báo
Quả báo của sự trói buộc trong luân hồi sanh tử—The retribution of transmigration-bondage.
triền cái
Payavasṭhāna (S), Nīvaraṇa (P), Hindrance Cái, Chướng, Ngăn, Che lấp, Phiền nãoPhiền não ngăn che thiện tâm. Có 5 thứ phiền não: tham dục, sân nhuế, hôn trầm, trạo cử, nghi. 1- Ngũ cái (5 cái nắp che đậy = 5 thứ phiền não che lấp tâm tính). Gồm: tham dâm,sân nhuế, thuỵ miên, trạo hối, nghi pháp. 2- Ngũ ác, gồm: sát sanh, du đạo, tà dâm, vọng ngữ.
Triền cấu 纏垢
[ja] デンク denku ||| Active, manifest defilements. 〔二障義HPC 1.799b〕 => Phiền não hiện hành.
triền hỏa luân
A whirling wheel of fire, a circle yet not a circle, a simile of the seeming but unreal, i.e. the unreality of phenoma.
triền miên
Continously—Ceaselessly—Incessantly.
triền phong
A whirl-wind, cyclone. Also Con trốt, gió xoáy, gió lốc.
triền phược
Trói buộc hay thập triền tứ phược—Bondage—Ten entanglements and four bonds. ** For more information, please see Thập Triền Tứ Phược.
triền vô minh
Sự trói buộc của vô minh—The bondage of unenlightenment.
triền đà la ni
A spell which endows with extensive powers of evolutiob; also varied involutions of magical terms.
triền đề
Xem nhất xiển đề..
Triền 纏
[ja] テン ten ||| (1) To catch, capture, seize. (paryā) (2) The afflictions in an active, manifest 現行 state, as contrasted to the condition of defilements in their Ina-active, or latent state 隨眠. Equivalent to 現行煩惱〔二障義HPC 1.793a〕 (3) In a looser interpretation, can be interpreted synonymously with the term "affliction" (煩惱) or as the condition of constraint that is resultant of the manifest activity of the defilements. (Pali pariyuṭṭhāna), or pollution, stain, etc. 垢. => 1. Bắt lấy, nắm lấy; bắt giữ, nắm giữ (s: paryā). 2. Phiền não đang hiện hành, trạng thái đang hoạt động (hiện hành 現行), ngược với tình trạng phiền não nhiễm ô đang trong trạng thái chưa biểu hiện hoặc Tuỳ miên 隨眠. Đồng nghĩa với Hiện hành phiền não 現行煩惱. 3. Giải thích rộng hơn, có thể hiểu thuật ngữ nầy có cùng nghĩa với 'phiền não' (煩惱) hoặc như là tình trạng bị vướng mắc, câu thúc do phiền não hiện hành (p: pariyuṭṭhāna), hoặc là sự nhiễm ô, v.v... (cấu 垢)
triều
1) Đi đến: Towards. 2) Thủy triều—Tide—Tidal. 3) See Triều Đại.
Triều ban
(朝班): tương đương với triều liệt (朝列), nghĩa là ngôi vị, thứ bậc trong triều đình.
triều cống
To pay tribute.
triều lên
Rising tide.
triều sơn
Tôn thờ tự viện, hay đặc biệt là vị Đạt Lai Lạt Ma—To worship towards the hills, pay court to a noted monastery, especially pay court to a Dalai Lama.
triều thự
Buổi sáng và buổi tối—Morning and evening.
triều tiên
Nước Đại Hàn—Korea.
triều xuống
Falling tide.
triều đại
Dynasty.
triều đại trung quốc
Chinese Dynasties - Châu (1027 - 221BC), - Xuân Thu (770 - 475BC), - Chiến quốc (475 - 221BC), - Tần (221 - 207) - Tiền Hán (206BC - 8AD) - Hán (9 - 23) - Hậu Hán (24 - 220) - Tam quốc (220 - 439) - Tùy (581 - 618) - Đường (618 - 906) - Tống (960 - 1279) - Nguyên (1215 - 1368) - Minh (1368 - 1662) - Thanh (1662 - 1911).
triển
1) Phát triển—To develop—To evolve. 2) Tiến triển---To progress. 3) Triển khai: To extend—To expand—To stretch.
triển chuyển
Xem Lưu chuyển. Sanh tử liên tục không gián đoạn.
triển chuyển lực
Khả năng phát triển hay mở rộng ra—Powers of extension or expansion.
Triển chuyển 展轉
[ja] テンデン tenden ||| (1) In order, in sequence. Mutually, reciprocally. (2) One after the other, continuously; to follow in sequence. (3) Indirectly. (4) To roll; go round and round. (5) Inheritance; conferring of priestly vows. (6) To roll; rolling. To turn something over in one's mind. => 1. Để, sau đó. Qua lại, lẫn nhau , hỗ tương. 2. Cái nầy sau cái kia , tương tục; theo nhau. 3. Gián tiếp. 4. Lăn, vần; đi vòng quanh. 5. Sự thừa kế; thọ ký cho lời phát nguyện của một tu sĩ. 6. Suy nghĩ, cân nhắc một vấn đề trong tâm.
triển hạn
To extend a time limit (dead line).
triển khai
To open out.
triển lãm
To show—To exhibit.
Triển sự đầu cơ 展事投機
[ja] テンジトウキ tenji tōki ||| To reveal the understanding of one's own phenomenal situation to that the true teacher can adapt to one's level and teach them appropriately. => Biểu lộ sự nhận thức về thực trạng của mình để một vị chân sư có thể theo đó mà có pháp giáo hoá thích ứng.
triển vọng
Outlook—Expectation—Prospect.
Triển 展
[ja] テン ten ||| (1) Expand, stretch out, open, unroll, extend. (2) To tell, relate, draw out, explain. (3) To link, join, put together. => 1. Mở rộng, trải ra, mở ra, thảo ra, duỗi ra. 2. Nói ra, thuật lại, bộc lộ ra, giảng giải. 3. Liên kết, nối liền, đặt cùng nhau.
triện
Seal (ấn triện).
triệt
1) Thấu triệt—To know thoroughly—Throughout—To penetrate. 2) Trước đây: Previous.
triệt hạ
To demolish—To destroy—To pull down.
triệt ngộ
Abhisaṃbodhati (S), Abhisaṃ-budhyati (S), Abhisaṃbodha (S), Abhisaṃ-bodhi (S), Abhisaṃbodhana (S), Abhisaṃbud-dhati (S), Perfectly enlightened.
Triệt tang
(徹桑): bóc, lột vỏ cây dâu. Từ này phát xuất từ trong Thi Kinh, phần Bân Phong (豳風), Si Hào (鴟鴞): “Đãi thiên vị âm vũ, triệt bỉ tang thổ, trù mâu dũ hộ (迨天之未陰雨、徹彼桑土、綢繆牖戶)”, có nghĩa là con chim nhân khi trời chưa đỗ mưa xuống, bóc vỏ cây dâu kia đem buộc chặt vào cửa thành tổ chim để phòng ngừa khi mưa to gió đến không làm cho tổ chim bị cuốn bay đi; tức nói lên tình thương yêu, lo lắng chăm sóc của người mẹ đối với con mình. Về sau, xuất hiện một số thành ngữ liên quan diễn tả sự lo âu khi sinh con, cũng như tình thương yêu đối với con như “triệt tang vị vũ (徹桑未雨, bóc vỏ cây dâu làm tổ khi trời chưa mưa)”, “vị vũ trù mâu (未雨綢繆, buộc chặt, sửa sang nhà cửa, tổ ấm trước khi trời chưa mưa lớn).”
triệt thoái
To withdraw—To evacuate—To fall back.
Triệt Thông Nghĩa Giới
(徹通義介, Tettō Gikai, 1219-1309): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời kỳ Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 3 của Vĩnh Bình Tự, húy là Nghĩa Giới (義介, 義价), Nghĩa Giám (義鑒), đạo hiệu Triệt Thông (徹通); xuất thân vùng Túc Vũ (足羽), Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]), họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Năm lên 13 tuổi, ông theo xuất gia với Hoài Giám (懷鑒) ở Ba Trước Tự (波著寺), Việt Tiền; rồi thọ giới trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Đến năm 1241, ông đến nhập môn làm đệ tử của Đạo Nguyên (道元, Dōgen) ở Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (興聖寶林寺) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); rồi sau đó theo thầy về Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji). Sau khi Đạo Nguyên qua đời, ông kế thừa dòng pháp của Hoài Trang (懷弉, Ejō). Vào năm 1259, ông sang nhà Tống, thị sát Thiền lâm Trung Quốc và thỉnh về bản Ngũ Sơn Thập Sát Đồ (五山十刹圖). Sau khi trở về nước, ông tựu nhiệm làm Trú Trì đời thứ 3 của Vĩnh Bình Tự. Đến năm 1293, thể theo lời thỉnh cầu của Trừng Hải (澄海) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga), ông đến cải trang Chơn Ngôn Viện thành Thiền Viện và lưu trú tại đây. Pháp từ của ông có Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾, Keizan Jōkin).
; 徹通義介; J: tettsū gikai; 1219-1309;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū). Sư là vị trụ trì thứ ba của Vĩnh Bình tự (eihei-ji). Dòng thiền kế thừa Sư là dòng chính của tông Tào Ðộng và được truyền cho đến ngày hôm nay tại Nhật.|Sư sinh tại tỉnh Echizen, xuất gia năm 1231 với Giác Thiền Hoài Giám (覺禪懷鑑; kakuzen ekan, ?-1251) một vị Thiền sư thuộc tông Nhật Bản Ðạt-ma (j: nihon darumashū). Một năm sau, Sư đến núi Tỉ Duệ và chú tâm vào việc nghiên cứu giáo lí của Thiên Thai, Mật và Tịnh độ tông. Cùng với một số vị thuộc tông Nhật Bản Ðạt-ma, Sư đến tham vấn Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền và lưu lại đây tu học. Ðạo Nguyên sớm nhận ra tài năng của Sư và trao cho những chức năng quan trọng như Ðiển toạ (j: tenzo), Tri sự. Trước khi tịch, Ðạo Nguyên phó chúc việc quản lí, chăm lo chùa Vĩnh Bình cho Sư và chính sự việc này đã gây ra sự chia rẽ trong tông Tào Ðộng sau thế hệ hứ hai.|Sau khi Ðạo Nguyên viên tịch, Sư tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (koun ejō). Theo lời khuyên của Cô Vân, Sư chu du viếng thăm rất nhiều thiền viện tại Nhật để trau dồi kinh nghiệm về kiến trúc để sau này mở rộng thiền viện Vĩnh Bình. Năm 1259, Sư đến Trung Quốc, thu thập rất nhiều tài liệu về kiến trúc của những thiền viện tại đây – đặc biệt là những thiền viện thuộc tông Lâm Tế.|Sau khi trở về Nhật, Sư bắt đầu việc trùng tu Vĩnh Bình tự và đưa vào đây những quy luật mới, những phong cách kiến trúc mới và cũng chính vì những sự việc này mà có những sự tranh chấp tại Vĩnh Bình tự. Nhiều vị tăng cho rằng, những điểm được cải cách này đối nghịch tư tưởng của Ðạo Nguyên và các tư liệu về Sư cũng làm sáng tỏ sự việc này. Xuất thân từ Nhật Bản Ðạt-ma tông, Sư rất chú trọng đến việc thực hành nghi lễ mang tính chất Mật giáo, một phong cách mà người ta không hề tìm thấy nơi Ðạo Nguyên. Thêm nữa, thay vì sống và tu tập hoàn toàn hướng nội, sống cơ hàn xa lìa đô thị như Ðạo Nguyên thì Sư lại chú trọng đến phong cách bề ngoài, cách trưng bày xa hoa, những ngôi chùa to lớn, việc thực hành những nghi lễ long trọng. Vì những lí do trên mà Sư rời Vĩnh Bình tự.|Sau, Sư đến trụ trì Ðại Thừa tự (daijō-ji), vốn là một ngôi chùa thuộc Chân ngôn tông nhưng được Sư sửa đổi thành một thiền viện. Nơi đây, Sư dốc lòng truyền bá Thiền tông theo quan niệm riêng của mình, thích hợp với thời gian. Cách tu tập tại đây bao gồm thiền theo Thiền tông nhưng cũng không ít nghi lễ của Chân ngôn tông được đưa vào đây. Mầm mống của sự truyền bá rộng rãi của tông Tào Ðộng tại Nhật sau này được đặt ngay tại ngôi chùa này. |Sư tịch năm 1309, thọ 91 tuổi.
triệt thông nghĩa giới
TettsŪ Gikai (J)Tên một vị sư.
triệt tiêu
To cancel—To annul.
triệt tâm
Thấu suốt tâm cang—To penetrate or reach the heart or mind.
Triệt Ông Nghĩa Ðình
徹翁義亭; J: tettō gikō; 1295-1369;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế hệ phái Ðại Ðức tự (j: daitokuji-ha), môn đệ của Thiền sư Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō).|Sư quê ở Izumo, ban đầu tu tập tại Kiến Nhân tự (kennin-ji). Sau, vì không hài lòng với phong cách của Ngũ Sơn (gozan) tại đây, Sư đến tham học với Thiền sư Tông Phong và được Ấn khả. Sư giáo hoá rất thành công tại chùa Ðại Ðức (daitoku-ji). Nối pháp của Sư và là người kế thừa trụ trì Ðại Ðức tự là Thiền sư Ngôn Ngoại Tông Trung (言外宗忠; gongai sōchū, 1315-1390) và một thế hệ sau đó là Thiền sư Hoa Tẩu Tông Ðàm (花叟宗曇; kesō sōdon, 1352-1428).
triệt đeå
Thoroughly—Entirely—Completely.
triệt để chống lại
To be vehement in contradicting.
Triệt để 徹底
[ja] テッテイ tettei ||| Thoroughness, completion. Completely. => Tính thấu đáo, sự thành tựu. Hoàn toàn.
Triệt 徹
[ja] テツ tetsu ||| (1) Penetrating, discerning, clear, intelligible. (2) To penetrate, to pierce, to go through, permeate. => 1. Thấu suốt, sâu sắc, rõ ràng, dễ hiểu. 2. Thâm nhập, xuyên thấu, vượt qua, thấm nhuần.
triệu
1) Triệu hồi: To beckon—To summon—To call back—To evoke. 2) Một triệu: Million. 3) Triệu thỉnh: To invite with respect—To invite, especially the Buddhas or Bodhisattvas to worship.
triệu biện
Chao pien (C).
triệu châu
Chao-chou (C).
; Chao-Chou. 1) See Triệu Châu Tòng Thẩm. 2) Tên một tự viện vào thời nhà Đường, nơi mà Triệu châu được danh hiệu nầy: A monastery during the T'ang dynasty, where Chou-Chou got his pseudonym.
Triệu Châu Chơn Tế Thiền Sư Ngữ Lục
(趙州眞際禪師語錄, Jōshūshinsaizenjigoroku): 3 quyển, do Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗) soạn, được san hành trong khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (紹興, 1131-1162), còn gọi là Triệu Châu Lục (趙州錄, Jōshūroku). Đầu quyển có phụ lục hành trạng được soạn vào năm thứ 11 (953) niên hiệu Bảo Đại (保大) nhà Nam Đường; quyển thượng, trung và hạ thâu lục những lời dạy thượng đường, thị chúng, vấn đáp, v.v.; cuối quyển hạ có thêm các đối cơ, tham biện, kệ tụng. Theo ký lục của Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) 11, chúng ta có thể suy đoán được rằng sau khi Triệu Châu qua đời chẳng bao lâu thì Ngữ Lục của ông được thâu lục; san bản hiện hành tối cổ là bản do Thê Hiền Trừng Thị (棲賢澄諟) san định, và được thâu tập vào trong bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) 1 do Tăng Đĩnh Thủ Trách (僧挺守賾) biên tập. Về sau, đến cuối thời nhà Minh, Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄) có thêm vào lời tựa và tái biên tập. Tại Nhật Bản, có san bản năm thứ 18 (1613) niên hiệu Khánh Trường (慶長), san bản năm thứ 2 (1649) niên hiệu Khánh An (慶安), v.v.
Triệu Châu Lục
(趙州錄, Jōshūroku): xem Triệu Châu Chơn Tế Thiền Sư Ngữ Lục (趙州眞際禪師語錄, Jōshūshinsaizenjigoroku) ở trên.
Triệu Châu Trà
(趙州茶): tách trà của Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗, 778-897). Ông xuất thân môn hạ của Nam Nhạc. Lúc còn nhỏ, ông xuất gia ở Hỗ Thông Viện (扈通院), rồi đến vùng Trì Dương (池陽), tham yết với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願), và được khế ngộ. Về sau, ông còn đến tham bái một số danh tăng đương thời như Hoàng Bá (黃檗), Bảo Thọ (寳壽), Diêm Quan (鹽官), Giáp Sơn (夾山), v.v.; và cuối cùng thể theo lời thỉnh cầu của đồ chúng, ông đến trú tại Quan Âm Viện (觀音院), vùng Triệu Châu (趙州, thuộc Tỉnh Hà Bắc). Tại đây ông đã tuyên dương Thiền phong độc đáo trong suốt 40 năm. Thuật ngữ triệu châu trà vốn phát xuất từ câu chuyện “Khiết trà khứ (喫茶去, uống trà đi)” được ký lục lại trong khá nhiều thư tịch Thiền Tông. Tỷ dụ như trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 20 ghi như sau: “Triệu Châu vấn tân đáo: 'Tằng đáo thử gian ma ?' Đáp: 'Tằng đáo.' Sư viết: 'Khiết trà khứ.' Hựu vấn tăng, tăng viết: 'Bất tằng đáo.' Sư viết: 'Khiết trà khứ.' Hậu Viện Chủ vấn viết: 'Vi thập ma, tằng đáo dã vân khiết trà khứ, bất tằng đáo khiết trà khứ. Sư chiêu Viện Chủ, Chủ ứng nặc, sư viết: 'Khiết trà khứ.' (趙州問新到、曾到此間麼、曰曾到、師曰、喫茶去、又問僧、僧曰、不曾到、師曰、喫茶去、後院主問曰、爲甚麼、曾到也云喫茶去、不曾到也云喫茶去、師召院主、主應喏、師曰、喫茶去, Triệu Châu hỏi người mới đến rằng: 'Đã từng đến đây chưa ?' Đáp: 'Đã từng đến.' Sư bảo: 'Uống trà đi !' Lại hỏi vị tăng khác, người ấy trả lời: 'Chưa từng đến.' Sư bảo: 'Uống trà đi !' Về sau, thầy Viện Chủ mới hỏi rằng: 'Người đã từng đến ngài cũng bảo là uống trà đi, người chưa từng đến ngài cũng bảo là uống trà đi, vậy là thế nào ?' [Khi ấy] sư gọi thầy Viện Chủ, thầy đáp: 'Dạ.' Sư bảo: 'Uống trà đi !').” “Khiết trà khứ” đã trở thành một công án Thiền đặc sắc, được tìm thấy trong khá nhiều ngữ lục Thiền; cũng như trong điển tịch trên, Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭, 947-1024) có làm bài tụng về công án đó là: “Triệu Châu hữu ngữ khiết trà khứ, thiên hạ nạp tăng tổng đáo lai, bất thị thạch kiều nguyên để hoạt, hoán tha đa thiểu nạp tăng hồi (趙州有語喫茶去、天下衲僧總到來、不是石橋元底滑、喚他多少衲僧回, Triệu Châu có câu uống trà đi, thiên hạ chúng tăng thảy đến đây, chẳng phải cầu đá nguyên bóng mượt, cuối cùng nhiều ít có kẻ về).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 97, phần Ích Châu Tung Sơn Dã Trúc Phước Tuệ Thiền Sư (益州嵩山野竹福慧禪師), có câu: “Trượng thượng vô tiền cô tự tửu, thả khuynh nhất oản Triệu Châu Trà (杖上無錢沽白酒、且傾一碗趙州茶, trên gậy không tiền mua tự uống, còn nốc một chén Triệu Châu Trà).” Cũng trong thư tịch trên, quyển 98 lại có câu: “Khiết tận Triệu Châu Trà, thiêu khước Huệ Lâm Phật (吃盡趙州茶、燒卻慧林佛, uống sạch Triệu Châu Trà, đốt tiêu Huệ Lâm Phật).” Trong nghi Cúng Chung Thất Trai Tuần cho chư vị cao tăng viên tịch, cũng có câu kệ liên quan đến Triệu Châu Trà: “Sơ hiến Triệu Châu Trà, phanh lai thật hinh hoa, tấn hiến giác linh tòa, tảo vãng pháp vương gia (初獻趙州茶、烹來寔馨花、進獻覺靈座、早往法王家, mới cúng Triệu Châu Trà, nấu sôi thật thơm tho, dâng cúng giác linh ngự, sớm lên pháp vương nhà).”
Triệu Châu Tòng Thẩm
趙州從諗; C: zhàozhōu cóngshěn; J: jōshū jū-shin; 778-897;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ thượng thủ của Nam Tuyền Phổ Nguyện. Thiền sư Nhật Bản Ðạo Nguyên Hi Huyền – nổi tiếng là khó tính trong việc đánh giá mức giác ngộ của các Thiền sư – cũng công nhận Triệu Châu là »Ðức Phật thân mến.« Sư có 13 truyền nhân nhưng không mấy ai được gần bằng Sư và dòng này thất truyền chỉ sau vài thế hệ.|Cuộc đời Triệu Châu cho thấy điều mà các Thiền sư hay nhấn mạnh rằng, Kiến tính chỉ là bước đầu của việc tu học Thiền. Triệu Châu đã kiến tính từ năm 18 tuổi nhưng sau đó còn học Thiền 40 năm với Nam Tuyền. Sau khi Nam Tuyền qua đời, Sư vân du đọ sức với các Thiền sư khác trong những Pháp chiến. Tương truyền rằng Sư đã tìm gặp khoảng 80 Thiền sư, phần lớn là những môn đệ đắc pháp của Mã Tổ (thầy của Nam Tuyền) để vấn đạo. Ðến năm 80 tuổi Sư mới chịu dừng chân tại viện Quan Âm, Triệu Châu. Nơi đây Sư tuỳ cơ dạy học trò và thọ đến 120 tuổi.|Sư họ Hác, quê ở làng Hác, thuộc Tào Châu. Sư theo thầy xuất gia khi còn nhỏ. Chưa thụ giới cụ túc, Sư đã đến tham vấn Thiền sư Nam Tuyền. Gặp lúc Nam Tuyền đang nằm nghỉ trong phương trượng, Nam Tuyền hỏi Sư: »Vừa rời chỗ nào đến?« Sư đáp: »Thuỵ Tượng.« Nam Tuyền hỏi: »Có thấy Thuỵ Tượng chăng?« Sư đáp: »Chẳng thấy Thuỵ Tượng, chỉ thấy Như Lai nằm.« Nam Tuyền liền ngồi dậy hỏi: »Ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ?« Sư đáp: »Sa-di có chủ.« Nam Tuyền hỏi: »Ai là chủ?« Sư khoanh tay đến trước mặt Nam Tuyền thưa: »Giữa mùa đông rất lạnh, kính chúc Hoà thượng tôn thể an lành.« Nam Tuyền thấy lạ, gật đầu thầm nhận.|Một hôm Sư hỏi Nam Tuyền: »Thế nào là đạo?« Nam Tuyền đáp: »Tâm bình thường là đạo« Sư hỏi: »Lại có thể nhằm tiến đến chăng?« Nam Tuyền đáp: »Nghĩ nhằm tiến đến tức trái.« Sư lại hỏi: »Chẳng nghĩ suy đâu biết là đạo?« Nam Tuyền đáp: »Ðạo chẳng thuộc về hiểu biết hay không hiểu biết. Biết là vọng giác, không biết là vô kí. Nếu thật đắc đạo thì chẳng còn nghi ngờ, ví như hư không thênh thang rộng rãi, đâu thể cưỡng nói phải quấy.« Sư nhân đây ngộ đạo, và sau đó đi thụ giới tại Tung Nhạc. Thụ giới xong, Sư lại đến Nam Tuyền và lưu lại đây 40 năm|Sau khi Nam Tuyền viên tịch, Sư mang bát gậy dạo khắp các tùng lâm và thường tự bảo: »Trẻ con bảy tuổi hơn ta thì ta hỏi nó, ông già trăm tuổi chẳng bằng ta thì ta dạy va.«|Sư đến thăm Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Hoàng Bá thấy Sư liền đóng cửa phương trượng. Sư cầm lửa đi vào pháp đường la: »Cứu lửa! Cứu lửa!« Hoàng Bá mở cửa nắm đứng Sư hỏi: »Nói! Nói!« Sư bảo: »Giặc qua rồi mới dương cung.«|Ðến Ðạo Ngô Viên Trí, Ðạo Ngô thấy Sư liền nói: »Mũi tên Nam Tuyền đến.« Sư bảo: »Xem tên!« Ðạo Ngô nói: »Trật rồi!« Sư nói: »Trúng!«|Sư thượng đường dạy chúng: »Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi ở trong. Bồ-đề, Niết-bàn, Chân như, Phật tính trọn là y phục đắp vào thân, cũng gọi là phiền não, thật tế lí địa để ở chỗ nào? Một tâm không sinh, muôn pháp không lỗi. Ngươi cứ nghiên cứu lí này, ngồi quán xét hai ba mươi năm, nếu chẳng hội thì chặt đầu Lão tăng đi! Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng khác thì muôn pháp nhất như. Ðã chẳng từ ngoài được thì câu chấp làm gì? Giống y như con dê gặp vật gì cũng liếm cũng nhai. Lão tăng thấy Hoà thượng Dược Sơn có người hỏi Ngài liền bảo ›Ngậm miệng chó.‹ Lão tăng cũng dạy ›Ngậm miệng chó.‹ Chấp Ngã thì nhơ, không chấp ngã thì sạch, giống như con chó săn tìm kiếm vật để ăn. Phật pháp chỗ nào? Ngàn người muôn người thảy là kẻ tìm Phật, mà ở trong đó tìm một đạo nhân không có. Nếu cùng vua Không làm đệ tử, chớ bảo tâm bệnh khó trị. Khi chưa có thế giới, trước đã có tính này, khi thế giới hoại, tính này chẳng hoại. Một phen được thấy Lão tăng, sau lại chẳng phải người khác, chỉ là chủ nhân này. Cái đó lại hướng ngoài tìm cái gì? Khi ấy chớ xoa đầu moi óc, xoa đầu moi óc liền mất vậy.« |Một vị tăng nghe vậy bước ra hỏi: »Theo lời thầy dạy ›Khi thế giới hoại, tính này chẳng hoại‹, thế nào là tính này?« Sư trả lời: »Tứ đại, Ngũ uẩn.« Tăng lại hỏi: »Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tính này?« Sư đáp: »Tứ đại, ngũ uẩn.«|Triệu Châu có một cách dạy học trò rất độc đáo. Thường Sư nói rất nhỏ, rất nhẹ nhàng, trả lời ngắn gọn và đơn giản các câu hỏi của thiền sinh. Tuy thế các câu trả lời đó lại có sức mạnh phi thường, cắt đứt vô minh và chấp trước của người hỏi như một lưỡi kiếm bén. Nhiều Công án Thiền nổi tiếng xuất phát từ những giai thoại của Sư với các đệ tử, như công án thứ nhất trong tập Vô môn quan: |Một vị tăng hỏi Sư: »Con chó có Phật tính chăng?« Sư đáp: »Không!« (無; vô)|Kể từ lúc công án trở thành một phương pháp dạy Thiền thì công án »Triệu Châu cẩu tử« nói trên đã giúp vô số thiền sinh kiến tính và vẫn được sử dụng đến ngày nay. Các Thiền sư sau này rất quý trọng những lời nói của Sư. Biểu hiện rõ của việc này là Sư được nhắc lại rất nhiều lần trong trong hai tập công án quan trọng nhất của Thiền tông là Bích nham lục (2, 9, 30, 41, 45, 52, 57, 58, 59, 60, 84, 96) và Vô môn quan (1, 7, 11, 14, 19, 31, 37).|Sư sống rất kham khổ, đơn giản. Tương truyền Sư có một cái giường gãy một chân được ràng ròt lại. Có người muốn thay giường mới nhưng Sư không cho phép. Hai vị vua nước Yên và Triệu đồng ra mắt Sư, Sư vẫn ngồi yên tiếp, không đứng dậy. Vua Yên hỏi: »Nhân vương đáng tôn trọng hay Pháp vương đáng tôn trọng hơn?« Sư đáp: »Nếu ở trong Nhân vương thì Nhân vương trọng, nếu ở trong Pháp vương thì Pháp vương trọng.« Hai vị nghe xong vui vẻ kính phục.|Niên hiệu Càng Ninh năm thứ tư đời Ðường, Sư nằm nghiêng bên mặt an nhiên viên tịch, thọ 120 tuổi. Vua ban hiệu là Chân Tế Ðại Sư.
triệu châu tòng thẩm
Zhaozhou Congshen (C), Chao-chou Ts'ung-shen (C), Joshu Jushin (J), Chao-chou (C) (778-897) Người truyền thừa giáo pháp của Nam Tuyền Phổ Nguyên.
; Zhao-Chou-T'sung-Shen—Triệu Châu Tòng Thẩm là môn đồ và người kế vị Pháp của Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện. Ông là một thiền sư nổi tiếng và quan trọng vào bậc nhất thời nhà Đường. Công án “Không” của ông là một công án nổi tiếng trong tất cả mọi công án. Người ta nói rằng Triệu Châu đạt kiến tánh lúc 18 tuổi và giác ngộ viên mãn lúc 54 tuổi. Đến năm 58 tuổi ông đã đi du phương khắp Trung Quốc, ở lại với nhiều sư xuất sắc và tham dự “pháp chiến” với họ cho đến năm 80 tuổi, ông mới chính thức mở một ngôi chùa và bắt đầu dạy chúng. Ông tiếp tục dạy môn đệ cho đến khi chết lúc 120 tuổi. Triệu Châu có 13 người kế vị Pháp, nhưng vì có ít người bằng được ông về chiều sâu kinh nghiệm, nên chỉ vài thế hệ sau là dòng Thiền của ông bị tàn lụi. Triệu Châu có một lối dạy học trò rất đặc biệt, mà người ta gọi là “Thiền trên miệng và trên môi Triệu Châu.” Giọng trầm trầm, gần như là thì thào. Ông thường đưa ra những câu trả lời ngắn và rõ ràng, nhưng những lời ông nói có một sức mạnh lớn. Người ta nói những lời ấy có thể chọc thủng những ý nghĩ và tình cảm mù quáng của học trò như một mũi gươm nhọn. Triệu Châu được nhắc tới trong những thí dụ 1, 7, 11, 14, 19, 31, và 37 trong Vô Môn Quan; cũng như những thí dụ 2, 9, 30, 41, 45, 52, 57, 58, 59, 64, 80, và 96 trong Bích Nham Lục—Zhao-Chou T'sung-Shen was a student and dharma successor of Nan-Chuan P'u-Yuan. He was a renowned and most important master of the T'ang dynasty. His “Sunnyata” is the bestknown of all koans. Chao-Chou is said to have attained “Beholding the Buddha-nature” at the age of eighteen and complete awakening at fifty-four. From fifty-four to eighty he made pilgrimages about China, staying with prominent masters and engaging in “Dharma dueling” with them. Not until he was eighty did he formally open a monastery and began to teach. He then continued to instruct students until his death, at one hundred and twenty. Zhao-Chou had thirteen dharma successors, but since there were few who equaled or surpassed him in profundity of experience, his lineage died out after a few generations. Zhao-Chou had a very special way of instructing his disciples that people called “Zhao-Chou's lip and mouth Ch'an.” In a soft voice, often almost whispering, he answered his students' questions with short, simple pronouncements. His words were, however, very powerful; it is said they were able to cut through the deluded feeling and thinking of his disciples like a sharp sword. His name appears in examples 1, 7, 11, 14, 19, 31 and 37 of the Wu-Men-Kuan; and in examples 2, 9, 30, 41, 45, 52, 57, 58, 64, 80, and 96 of the Pi-Yen-Lu. • Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với Nam Tuyền, lúc ấy Nam Tuyền đang nằm nghỉ mà vẫn hỏi: “Vừa rời chỗ nào?” Triệu Châu thưa: “Vừa rời Đoan Tượng.” Nam Tuyền hỏi: “Thấy Đoan Tượng chăng?” Triệu Châu thưa: “Chẳng thấy Đoan Tượng, chỉ thấy Như Lai nằm.” Nam Tuyền hỏi tiếp: “Ngươi là sa di có thầy hay không?” Triệu Châu thưa: “Có Thầy.” Nam Tuyền lại hỏi: “Thầy ở chỗ nào?” Triệu Châu bèn bước tới trước mặt Nam Tuyền nói: “Giữa mùa đông rất lạnh, ngưỡng mong tôn thể Hòa Thượng được muôn phước.” Nam Tuyền khen ngợi liền nhận vào chúng—Upon their first meeting, Nan-Chuan, who was lying down and resting, asked Zhao-Chou: “Where have you come from?” Zhao-Chou said: “I've come from Rui-Chuan (Omen Figure). Nan-Chuan said: “Did you see the standing omen's figure?” Zhao-Chou said: “No, but I've seen a reclining Tathagata.” Nan-Chuan got up and asked: “As a novice monk, do you have a teacher or not?” Zhao-Chou replied: “I have a teacher.” Nan-Chuan said: “Who is your teacher?” Zhao-Chou stepped in front of Nan-Chuan, bowed and said: “In the freezing winter-cold, a prostrate monk only asks for the master's blessings.” Nan-Chuan approved Zhao-Chou's answer and permitted him to enter the monk's hall. • Một ngày nọ Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Nam Tuyền đáp: “Tâm bình thường là đạo.” Triệu Châu lại hỏi: “Lại có thể nhằm tiến đến chăng?” Nam Tuyền đáp: “Nghĩ nhằm tiến đến đã là sai rồi.” Triệu Châu lại hỏi: “Nếu không nghĩ thì làm sao biết được là đạo?” Nam Tuyền nói: “Đạo chẳng thuộc biết, cũng chẳng thuộc chẳng biết; biết là vọng, chẳng biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy.” Ngay câu nói nầy Triệu Châu ngộ lý. Sau đó triệu Châu đi đến đàn Lưu Ly tại Tung Nhạc thọ giới, thọ giới xong, sư trở về tiếp tục tu tập với Thiền Sư Nam Tuyền—One day, Zhao-Chou asked Nan-Chuan: “What is the Way?” Nan-Chuan said: “Everyday mind is the Way.” Zhao-Chou said: “Does it have a disposition?” Nan-Chuan said: “If it has the slightest intention, then it is crooked.” Zhao-Chou said: “When a person has no disposition, then how can he know that this is the Way?” Nan-Chuan said: “The Way is not subject to knowledge, nor is it subject to no-knowledge. Knowledge is delusive. No-knowledge is nihilistic. When the uncontrived way is really attained, it is like great emptiness, vast and expansive. So how could there be baneful right and wrong?” At these words Zhao-Chou was awakened. Thereafter Zhao-Chou traveled to Mount Song where he received ordination. He then returned to continue his practice under Nan-Chuan. • Một ngày khác Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: “Như vậy những người có kiến thức khi chết họ sẽ đi về đâu không?” Nam Tuyền đáp: “Đến nhà Đàn Việt dưới núi mà làm con trâu đi.” Triệu Châu bèn nói: “Cảm ơn lời Thầy chỉ giáo.” Nam Tuyền nói: “Đêm qua canh ba trăng soi cửa.”—Another day Zhao-Chou asked Nan-Chuan: “Where do people with knowledge go when they die?” Nan-Chuan said: “They go to be bull water buffaloes down at the Tans' and Yues' houses at the base of the mountain.” Zhao-Chou said: “Thank you for your instruction.” Nan-Chuan said: “Last night during the third hour the moon reached the window.” • Triệu Châu đến gặp Hoàng Bá. Hoàng Bá thấy sư đến liền đóng cửa phương trượng. Sư lấy một que củi đang cháy, chạy vào Pháp đường la to: “Cháy! Cháy!” Hoàng Bá mở cửa, nắm sư đứng lại bảo: “Nói! Nói!” Triệu Châu bảo: “Cướp qua rồi mới trương cung.”—Zhao-Chou went to see Huang-Bo. When Huang-Bo saw him coming he closed the door to his room. Zhao-Chou picked up a piece of flaming firewood from the stove, and walking into the Dharma hall, he yelled: “Fire! Fire!” Huang-Bo threw open his door, and grabbing Zhao-Chou he said: “Speak! Speak!” Zhao-Chou said: “After the thief has run off you've drawn your bow.” • Một lần khác Triệu Châu đến Thiên Hoàng gặp Đạo Ngộ. Sư vừa đến nơi thì Đạo Ngộ đã la lớn: “Mũi tên Nam Tuyền đến.” Sư bảo: “Xem tên!” Đạo Ngộ nói: “Trật.” Sư bảo: “Trúng.”—Zhao also went to T'ian-Huang Tao-Wu's place. Just when Zhao-Chou entered the hall, Tao-Wu yelled: “Here comes an arrow from Nan-Chuan.” Zhao-Chou said: “See the arrow!” Tao-Wu said: “It already passed.” Zhao-Chou said: “Bulls-eye!” • Triệu Châu thượng đường dạy chúng: “Phật vàng không độ được lò đúc. Phật gỗ không độ được lửa. Phật đất không độ được nước. Phật thật ngồi ở trong. Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật tánh trọn chỉ là y phục đắp vào thân, cũng gọi là phiền não, thực tế lý địa để ở chỗ nào? Một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi. Ngươi cứ nghiên cứu lý nầy, ngồi quán xét hai mươi hay ba mươi năm, nếu chẳng hội thì chặt đầu lão Tăng đi! Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng khác thì muôn pháp nhất như. Đã chẳng từ ngoài được thì câu chấp làm gì? Giống in như con dê gặp vật gì cũng liếm cũng nhai. Lão Tăng thấy Hòa Thượng Dược Sơn có người hỏi, Ngài liền bảo “Ngậm lấy miệng chó.” Lão Tăng cũng dạy “Ngậm miệng chó.” Chấp ngã thì nhơ, không chấp ngã thì sạch, giống như con chó săn tìm kiếm vật gì để ăn. Phật pháp ở chỗ nào? Ngàn muôn người thảy đều tìm Phật, mà trong đó muốn tìm một đạo nhân không có. Nếu cùng vua KHÔNG làm đệ tử, chớ bảo tâm bệnh khó trị. Khi chưa có thế giới, trước đã có tánh nầy, khi thế giới hoại diệt, tánh này vẫn còn đó. Một phen được thấy Lão Tăng, sau lại chẳng phải người khác, chỉ là chủ nhơn nầy. Cái đó lại hướng ngoài tìm làm gì? Khi ấy chớ xoa đầu moi óc, nếu xoa đầu moi óc liền mất vậy—Zhao-Chou entered the hall and addressed the monks, saying: “A metal Buddha does not withstand the furnace. A wooden Buddha does not withstand the fire. A mud Buddha does not withstand water. The genuine Buddha sits within you. “Bodhi” and “Nirvana,” “True Thusness” and “Buddha-nature” these things are just clothes stuck to the body and they are known as “afflictions.” Where is the actual ground-truth revealed? “Big mind is unborn. The myriad dharmas are flawless. Try sitting for twenty or thirty years, and if you still don't understand then cut off my head! The empty flowers of delusion and dreams, disciples work so hard to grab them! When nothing deviates from mind, then the myriad dharmas are but one thusness. Since it can't be attained from outside, what will you try to grasp? You're like goats, haphazardly picking up just anything and keeping it in your mouth! I heard Yao-Shan said: “People ask me to reveal it, but when I teach, it is like something taken from a dog's mouth. What I teach is like something taken from a dog's mouth. Take what I say as dirty. Don't take what I say as clean. Don't be like a hound always looking for something to eat.” Where is the Buddhadharma? Thousands of fellows are seeking Buddha, but if you go looking among them for a person of the Way you can'r find one. If you are going to be a disciple of Buddha then don't let the mind's disease be so hard to cure. This nature existed before the appearance of the world. If the world ends, this will not end. From the time I saw my true self, there hasn't been anyone else. There's just the one in charge. So what is there to be sought elsewhere? At the moment you have this, don't turn your head or shuffle your brains! If you turn your head or shuffle your brains it will be lost!" • Một vị Tăng mới đến tự viện, nói: “Con mới đến xin thầy chỉ giáo.” Triệu Châu hỏi: “Ngươi ăn chưa?” Vị Tăng đáp: “Dạ rồi!” Triệu Châu nói: “Đi rửa chén bát đi.” Nghe xong những lời nầy Tăng liền giác ngộ. Thế ra cái ngộ thường tục biết chừng nào!—A new monk came to the monastery. He said to Zhao-Chou: “I've just arrived here. I asked the master to provide me instruction.” Zhao-Chou said: “Have you eaten?” The monk said: “Yes, I've eaten.” Zhao-Chou said: “Go wash your bowl.” Upon hearing these words the monk was enlightened. This is enough to show what a commonplace thing enlightenment is! • Triệu Châu thượng đường thuyết pháp: “Đạo chẳng khó, chỉ hiềm lựa chọn, vừa có nói năng là lựa chọn, là minh bạch. Lão Tăng chẳng ở trong minh bạch, các ngươi lại tiếc giữ chăng?” Có vị Tăng đứng ra hỏi: “Đã chẳng ở trong minh bạch thì tiếc giữ cái gì?” Triệu Châu bảo: “Ta cũng chẳng biết.” Vị Tăng nói: “Hòa Thượng đã chẳng biết, vì sao chẳng ở trong minh bạch?” Triệu Châu nói: “Hỏi thì được. Lễ bái xong lui ra.”—Zen master Zhao-Chou entered the hall to address the monks: “Attaining the Way is not difficult, just disdain choosing. As soon as words are present there is choosing, there is understanding. It's not to be found in understanding. Is understanding the thing you uphold and sustain?” A monk asked: “Since it is not found in understanding, what is to be upheld and sustained?” Zhao-Chou said: “I don't know.” The monk said: “Since the master doesn't know what it is, how can you say it isn't within understanding?” Zhao-Chou said: “Ask and you have an answer, then bow and withdraw.” • Có vị Tăng hỏi: “Cây có Phật tánh không?” Triệu Châu đáp: “Có.” Vị Tăng lại hỏi: “Như vậy thì bao giờ nó thành Phật?” Triệu Châu đáp: “Khi nào đại hư không rơi xuống địa cầu.” Vị Tăng lại hỏi: “Khi nào thì hư không rơi xuống địa cầu?” Triệu Châu đáp: “Khi nào cái cây thành Phật.”—A monk asked: “Does a tree in the garden have Buddha-nature?” Chao-Chou said: “Yes.” The monk asked: “When will it become a Buddha?” Zhao-Chou said: “When the great void falls to earth.” The monk asked: “When will the great void fall to earth?” Zhao-Chou said: “When a tree become a Buddha.” • Có một vị Tăng hỏi: “Thế nào là câu nói cùng tuyệt?” Thay cho lời đáp thỏa đáng, Triệu Châu chỉ nói: “Phải.” Vị Tăng không nhận ra ý nghĩa của chữ 'phải,' tưởng là sư chưa đáp, bèn hỏi lại. Sư hét to: “Bộ tôi điếc hay sao?”—A monk asked Zhao-Chou: “What is the one ultimate word of truth?” Instead of giving any specific answer he made a simple response saying “Yes.” The monk who naturally failed to see any sense in this kind of response asked for a second time, and to this the master roared back: “I am not deaf!” • Như trên chúng ta thấy cuộc đời của Triệu Châu là một bức minh họa đặc biệt thú vị cho một sự khẳng định không ngừng được các Thầy Thiền nhắc đi nhắc lại. Đại giác chỉ là khởi đầu cho bước tiến thật sự trên con đường hành thiền. Triệu Châu đã trải qua đại giác sâu từ năm ông 18 tuổi, nhưng ông vẫn tiếp tục tu học với Thầy Nam Tuyền trong suốt bốn mươi năm nữa. Sau khi thầy thị tịch, ông lên đường chu du để tìm hiểu sâu hơn ở những thầy khác. Theo truyền thuyết thì ông đã tham vấn với hơn 80 người kế vị Pháp của Mã Tổ Đạo Nhất (vai ông nội của ông trong Thiền). Đến năm 80 tuổi, ông mới trụ lại tại một ngôi chùa nhỏ ở làng Triệu Châu, nơi ông hướng dẫn những đệ tử tụ tập chung quanh ông để tu tập thiền định cho đến khi thị tịch là năm ông 120 tuổi—As we see above, the life story of Zhao-Chou is an especially good example of what Ch'an masters repeatedly stress, that enlightenment is only the beginning of real training on the path of Ch'an. Zhao-Chou had already experienced profound enlightenment at the age of 18; following that he trained himself for forty years under his master Nan-Chuan. After his master passed away, he set about wandering in order to deepen his experience further through “Zen” with other Ch'an masters. It is said that during this period he sought out as many as eighty of the dharma successors of Ma-Tsu-Tao-I (his grandfather in Ch'an). Finally, at the age of 80, he settled in a small Ch'an monastery in the town of Zhao-Chou. There at last students gathered around him and he led them on the path of Ch'an until his death at the age of 120. • Ngày mồng hai tháng mười một năm 897, sư nằm nghiêng bên phải mà thị tịch, thọ 120 tuổi. Sư được vua ban hiệu “Chơn Tế Đại Sư”—On the second day of the eleventh month in the year 897, Zhao-Chou lay down on his right side and passed away. He was 120 years old. He received the posthumous title “Great Teacher Truth's Limit.”
triệu chứng
Symptom.
Triệu công 肇公
[ja] チョウコウ Chōkō ||| Zhaokong; see Sengzhao 僧肇. => Chogong (k); Chōkō (j); Zhaokong (c); Xem Tăng Triệu (c: Sengzhao 僧肇).
triệu hồi
To recall.
triệu hồn
Triệu thỉnh vong hồn của người chết—To call back the spirit of the dead.
Triệu luận
肇論; C: zhàolùn;|Tăng Triệu
Triệu luận 肇論
[ja] チョウロン Chōron ||| The Zhaolun by 僧肇; T 1858.45.150c-161b. => Choron (k); Chōron (j); Zhaolun (c); Luận của Tăng triệu 僧肇
Triệu Mạnh Phủ
(趙孟頫, 1254-1322): thi nhân đầu thời nhà Nguyên, tự là Tử Ngang (子昂), hiệu Tùng Tuyết Đạo Nhân (松雪道人), bút hiệu Văn Mẫn (文敏). Ông còn có tài về thư, họa. Trước tác của ông có Tùng Tuyết Trai Tập (松雪齋集).
triệu nhập bồ tát
Xem Kim Cang Linh Bồ tát.
triệu thỉnh
See Triệu (3).
triệu thỉnh đồng tử
Vị đồng tử thứ năm bên trái của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, người có nhiệm vụ triệu thỉnh mọi chúng sanh đi đến giác ngộ—The inviter, possibly etymologically connected with achavaka; he is the youth fifth on the left of Manjusri in his group of the Garbhadhatu, and is supposed to invite all the living to enlightenment.
triệu tái vĩnh kiếp
Kiếp không ngừng kéo dài đến hàng triệu năm (Kiếp vượt ra ngoài số có thể đếm được)—The perpetual aeon of millions of years, the kalpa beyond numbers.
triệu tập
To convoke an assembly—To summon—To call together.
trong khoảng
Between.
trong kiếp luân hồi sanh tử trong vô lượng kiếp, chúng ta đã chịu quá nhiều khổ đau
In the cycle of births and deaths in immeasurable eons, we truly undergo immense pain and suffering.
trong kiếp luân hồi sanh tử, duyên lành khó gieo, việc ác dễ trồng
In the cycle of births and deaths, good deeds are difficult to perfprm (sow), while bad deeds are easy to commit.
trong kiếp luân hồi sanh tử, ác nghiệp dễ nhiễm, duyên lành khó tạo
In the cycle of births and deaths, evil deeds (transgressions) are easy to commit, wholesome deeds are difficult to perform.
trong kiếp nầy
In this present life.
trong lúc ấy
In the meantime—Meanwhile.
trong lịch sử
In history.
trong một niệm
In the space of one thought.
trong suốt
Clear—Transparent.
trong sáng
Clear—Bright.
trong sạch
Clean—Clear—Pure.
trong thời gian ấy
In that span of time.
trong thời phật còn tại thế
During the lifetime of Buddha Sakyamuni. Trong Thời Phật Còn Tại Thế (Chánh Pháp), Trăm Người Tu Có Tới Bảy Tám Chục Người Chứng; Trong Thời Tượng Pháp, Trăm Ngàn Người Tu May Mắn Còn Có Một Hai Người Chứng; Trong Thời Mạt Pháp, Trăm Ngàn Người Tu, Khó Có Lấy Một Người Chứng Đắc: During the lifetime of Buddha Sakyamuni, seventy or eighty out of hundred practitioners will attain the way; during the period of Semblance Dharma, out of hundreds of thousands of practitioners perhaps one or two will attain the way; During the period of Ending-Age Dharma, there would be none attaining the way out of hundreds of thousands of practitioners.
trong trắng
Chaste.
trong trẻo
1) Limpid—Clear (water). 2) Unclouded—Clear (sky).
trong vòng
Within.
trong vắt
Very clear—Transparent—Limpid.
trong ý nghĩa ấy
In a sense.
trong đời
During one's life.
troï
To board—To lodge.
troû
To point—To show with the forefinger.
tru di
To exterminate.
tru di tam tộc
To exterminate three generations.
trui
To harden
trung
Majjhimā (P), Middle Ở giữa.
; Madhya (S). Middle, central, medium, the mean, within.
; Madhya (skt). 1) Trung Tâm: Middle—Central—Medium. 2) Trung Bình: The mean. 3) Bên Trong: Within. 4) Trung Thành: Loyal.
trung a hàm
Majjhimā nikāya (S), Mādhyam-āgama (S), Middle Length Collection Trung bộ kinhMột trong 5 phẩm của Kinh Tạng, gồm 152 bài kinh.
; Majjhima-Nikaya—The Midle Length Discourses in the Pali Canon—The middle Agama.
Trung biên luận
中邊論; C: zhōngbiān lùn; J: chūbenron;|Trung biên phân biệt luận (中邊分別論).
trung biên luận
Tên đủ là Biện Trung Biên Luận, được Ngài Thiên Thân Bồ Tát biên soạn, ngài Huyền Trang dịch ra ba quyển, ngài Trần Chân Đế dịch ra hai quyển. Bộ luận giải thích về Trung Luận—A treatise by Vasubandhu, translated by Hsuan-Tsang in three books and by Chen-Chen-Ti in two books. It is an explanation of the Madhyanta-vibhaga-sastra, said to have ben given by Maitreya to Asanga.
Trung biên phân biệt luận
中邊分別論; C: zhōngbiān fēnbié lùn; J: chū-ben funbetsu ron;|Cũng được gọi tắt là Trung biên luận (中邊論), và còn được gọi là Biện trung biên luận (辯中邊論). Là luận văn tinh yếu của Du-già hành tông. Theo truyền thống, trứ tác này được xem của ngài Di-lặc với lời luận giải của Thế Thân, nhưng theo các học giả thì luận giải nầy có vẻ là tác phẩm biên soạn chung của Vô Trước và Thế Thân hơn. Đặc điểm chính của luận văn nầy là phân tích của Du-già hành tông về sự phân biệt sai lầm (Hư vọng phân biệt 虚妄分別) khi chối từ ý niệm về Không tính, với mục đích giải trừ sự chấp trước vào hai cực đoan Hữu và Vô. Có 2 bản dịch Hán văn về luận giải nầy: 1. Bản dịch của Huyền Trang, gồm 3 tập; 2. Bản dịch của Chân Đế (眞諦) gồm 2 tập.
trung biên phân biệt luận
Madhyānta-vibhaga śāstra (S), Benchubenron (J)Một trong 5 bộ luận mà Bồ tát Di Lặc từ cõi trời Đâu suất giáng xuống giảng cho ngài Bồ tát Vô Trước.
trung biên phân biệt luận sớ
Madhyāntavibhaga-tika (S).
trung bát
Một trong năm loại bất hoàn. Đây là thân trung hữu của các bậc Thánh đi thẳng vào Niết Bàn—One of the five kinds of those who never recede but go on to parinirvana.
trung bối
Theo Kinh Vô Lượng Thọ, thì đây là những người sẽ tái sanh vào trung phẩm Tịnh Độ—According to the Infinite Life Sutra, this is the middle class of those in the next life in the Pure Land—See Cửu Phẩm Liên Hoa and Cửu Phẩm An Dưỡng.
trung bối quán
Quán vãng sanh Trung Phẩm (thượng, trung, và hạ sanh)—The meditation on the middle class of the Pure Land—See Cửu Phẩm Liên Hoa and Cửu Phẩm An Dưỡng.
trung bối sanh
See Trung Bối.
trung bổn
Xem Trung quán luận.
trung bộ châu
Aṣṭadvipa (S)Mỗi bộ châu có hai châu nhỏ gọi là Trung bộ châu hợp thành 8 trung châu:.
Trung bộ kinh
中部經; S: madhyamāgama; P: majjhima-ni-kāya; |Là tuyển tập thứ hai trong Kinh tạng (p: sut-ta-piṭaka; Bộ kinh). Kinh này được viết bằng văn hệ Pā-li, bao gồm 152 kinh không dài lắm (trung). Trung A-hàm Hán ngữ bao gồm 222 bài kinh (được dịch từ một bản Phạn, nay đã thất truyền). Hai bộ có 97 kinh giống nhau. Theo truyền thuyết thì Trung bộ kinh được Xá-lị-phất (s: śāriputra) trình bày lại trong hội nghị Kết tập lần thứ nhất.
trung can
Loyal.
trung châu
Mỗi châu dưới chân núi Tu Di đều có hai châu phụ gọi là “trung châu”—Each of the four great continents at the foot of Mount Sumeru has two middling continents.
trung chính
Upright—Just.
trung căn
Medium capacity, neither clever nor dull, of each of the six organs. Lục căn; there are three powers of each organ Thượng, Trung and Hạ.
; Căn tính trung bình, không quá thông minh hay ngu đần—Medium (moderate) capacity—Neither clever nor dull—See Tam Căn.
trung dung
Chung-yung (C), Application of the Center Một phần trong học thuyết của Khổng Tử.
; Happy medium.
trung gian
Medium.
Trung Gian Đằng Thọ
(中江藤樹, Nakae Tōju, 1608-1648): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Nguyên (原, Hajime); tự Duy Mạng (惟命); thông xưng là Dữ Hữu Vệ Môn (與右衛門); biệt hiệu là Mặc Hiên (嘿軒), Cận Giang Thánh Nhân (近江聖人); xuất thân vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ban đầu, ông làm việc Phiên Đại Châu (大洲藩, Ōzu-han) ở Y Do (伊予, Iyo); lúc còn thanh niên, bị một Thiền tăng làm xúc phạm, ông lấy bộ Tứ Thư Đại Toàn (四書大全) và bắt đầu học tập về Chu Tử Học. Năm 1634 (Khoan Vĩnh [寛永] 11), ông xin thôi việc với lý do hiếu đạo nuôi dưỡng mẹ đang lâm bệnh, nhưng không được cho phép; nên ông rời khỏi Phiên và trở về cố hương. Sau đó, ông viết cuốn Trì Kính Đồ Thuyết (持敬圖說), Nguyên Nhân (原人); có quan niệm nghi ngờ rất sâu về Chu Tử Học và bắt đầu có khuynh hướng tôn giáo tín ngưỡng Thần Thái Ất (太乙神). Năm 1640 (Khoan Vĩnh 17), ông có dịp tiếp xúc với các tác phẩm Tánh Lý Hội Thông (性理會通), Vương Long Khê Ngữ Lục (王龍溪語錄) thuộc hệ Dương Minh Học, nên thật sự giã từ Chu Tử Học. Ông Vấn Đáp (翁問答), trước tác của ông vào thời kỳ này, thuyết về tư tưởng hiếu đạo với văn chương trong sáng, là một trong những tác phẩm tiểu biểu nhất. Đến cuối đời, ông chuyên tâm viết bộ Dương Minh Toàn Tập (陽明全集) và chuyển hướng về Dương Minh Học; nên ông được xem như là Tổ của Dương Minh Học Nhật Bản. đệ tử của ông có Hùng Trạch Phiên Sơn (熊澤藩山), Uyên Cương Sơn (淵岡山), v.v.
trung giá y
See Trung Y.
trung gián tam muội
See Trung Gián Định.
trung gián thiền
See Trung Gián Định.
trung gián tịnh lự
See Trung Gián Định.
trung gián định
Còn gọi là Trung Gián Tam Muội, Trung Gián Tịnh Lự hay Trung Gián Thiền—Trung gián tam muội là thiền định của Đại Phạm Thiên Vương chứng được giai đoạn thiền định giữa sắc giới và vô sắc giới—An intermediate dhyana stage between two dhyana-heavens (form and formlessness). **For more information, please see Tầm Tứ.
trung giới nhi (mà) phàm phu tán thán như lai
Theo Kinh Phạm Võng trong Trường Bộ Kinh, phàm phu thường tán thán Như Lai vì những thành tựu trung giới—According to the Brahmajala Sutta in the Long Discourses of the Buddha, ordinary people often praise the Tathagata for these average matters: 1) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối. Như các hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhành cây sanh, hạt giống từ đất sanh, hạt giống từ chiết cây sanh, và hạt giống từ hạt cây sanh. Còn Sa Môn Cồ Đàm thì không làm hại hột giống hay cây cối nào: Whereas, some ascetics and Brahmins, feeding on the food of the faithful, are addicted to the destruction of such seeds as are propagated from roots, from stems, from joints, from cuttings, from seeds, the ascetic Gotama refrains from such destruction. 2) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật, Như cất chứa các món ăn, đồ uống, vải, xe cộ, đồ nằm, hương liệu, và mỹ vị. Còn sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ không cất chứa các vật trên: Whereas some ascetics and Brahmins, feeding on the food of the faithful, remain addicted to the enjoyment of stored-up goods such as food, drink, clothing, carriage, beds, pefumes, meat, the acetic Gotama refrains from such enjoyment. 3) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hý không chân chánh như múa, hát, nhạc, kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ các loại du hý không chân chánh như trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to attending such shows as dancing, singing, music, displays, recitations, hand-music, cymbals and drums, fairy shows, acrobatic and conjuring tricks, combats of elephants, buffaloes, bulls, goats, rams, cocks and quail, fighting with staves, boxing, wrestling, sham-fights, parades, manoeuvers and military reviews, the ascetic Gotama refrains from such displays. 4) Trong khi một số Sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăn, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiếu trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to such games and idle pursuits as eight-or ten-row chess, chess in the air, hopscotch, spillikins, dicing, hitting sticks, hand-pictures, ball-games, blowing through toy pipes, playing with toy ploughs, turning someersaults, playing with toy windmills, measures, carriages and bows, guessing letters, guessing thoughts, mimicking deformities, the ascetic Gotama refrains from such idle pursuit. 5) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế dài, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm thảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, nệm voi, nệm ngựa, nệm xe, nệm bằng da sơn dương khâu lại với nhau, nệm bằng da sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, ghế dài có đồ gối chân màu đỏ. Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to high and wide beds and long chairs, couches adorned with animal figures, fleecy or variegated coverlets, coverlets with hair on both sides or one side, silk coverlets, embroidered with gems or without, elephant-rugs, horse-rugs, or chariot-rugs, choice spreads of antelope-hide, couches with awnings, or with red cushions at both ends, the ascetics Gotama refrains from such high and wide beds. 6) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món cúng dường của tín thí, cũng vẫn sống dùng các đồ mỹ phẩm. Như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương, kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt, sáp mặt, vòng đeo tay, tóc giả, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tu dài. Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain adicted to such forms of self-adornment and embellishment as rubbing the body with perfumes, massaging, bathing in scented water, shampooing, using mirrors, ointments, garlands, scents, unguents, cosmetics, bracelets, headbands, fancy sticks, bottles, swords, sunshades, decorated sandals, turbans, gems, yak-tail fans, long-fringed white robes, the ascetic Gotama refrains from such self-adornment. 7) Trong khi một số Sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món đồ ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống nói những câu chuyện vô ích, tầm thường như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, binh lính, câu chuyện hãi hùng, chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, đồ uống, vải mặc, giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, hương liệu, câu chuyện về bà con, xe cộ, làng xóm, thị tứ, thành phố, quốc độ, câu chuyện về đàn bà, đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ không nói những câu chuyện vô ích, tầm thường kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to such unedifying conversation as about kings, robbers, ministers, armies, dangers, wars, food, drink, clothes, beds, garlands, perfumes, relatives, carriages, villages, towns, and cities, countries, women, heroes, street gossip and well gossip, talk of the departed, desultory chat, speculations about land and sea, talk about being and non-being, the ascetic Gotama refrains from such conversation. 8) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp, như nói: 'Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật nầy.' 'Sao ngươi có thể biết pháp và luật nầy?' 'Ngươi đã phạm vào tà kiến, ta mới thật đúng chánh kiến; lời nói của ta mới tương ưng, lời nói của ngươi không tương ưng; những điều đáng nói trước ngươi lại nói sau; những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước;' 'chủ kiến của ngươi đã bị bài bác;' 'câu nói của ngươi đã bị thách đấu;' 'ngươi đã bị thuyết bại.' 'Hãy đến mà giải vây lời nói ấy; nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí.' Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ những cuộc biện luận tranh chấp đã kể trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to disputation such as: 'You don't understand this doctrine and discipline—I do!' 'How could you understand this doctrine and discipline?' 'Your way is all wrong—Mine is right!' 'I am consistent-- you aren't!' 'You said last what you have said first, and you said first what you should have said last!' 'What you took so long to think up has been refuted!' 'Your argument has been overthrown, you're defeated!' 'Go on, save your doctrine – get out of that if you can!' The ascetic Gotama refrains from such disputation. 9) Trong khi một số Sa Môn, Bà La Môn dầu đã dùng các đồ ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới, như cho các vua chúa, đại thần, các vị Sát Đế Lợi, Bà La Môn, gia chủ, cho các thanh niên và nói rằng: “Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia; mang cái nầy lại, đem cái nầy đến chỗ kia.” Còn Sa môn Cồ Đàm thì từ bỏ không cho đưa các tin tức và tự đứng làm môi giới: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to such things as running errands and messages, such as for kings, ministers, nobles, Brahmins, householders and young men who say: “Go here – go there! Take this there–bring that from there!' The acetic Gotama refrains from such errand-running. 10) Trong khi một số Sa môn, Bà La Môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh như trên: Whereas some ascetics and Brahmins remain addicted to deception, patter, hinting, belittling, and are always on the make for further gains, the ascetic Gotama refrains from such deception.
trung hiếu
Loyal and pious.
Trung Hoa truyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ
中華傳心地禪門師資承襲圖; C: zhōng-huā chuánxīndì chánménshī zīchéngxí tú; J: chū-ka denshinchi zenmonshi shishōshū zu;|Một tác phẩm của Thiền sư Khuê Phong Tông Mật (宗密), gồm 1 quyển, được biên soạn vào khoảng giữa năm 830 và 833 để trả lời những câu hỏi của tướng quốc Bùi Hưu (裴休) về giáo lí và sự truyền thừa của 4 tông phái Thiền chính yếu lưu hành sau đời Đường. Trong luận văn nầy, sư phê phán về truyền thống Thiền của Hồng Châu tông (Mã Tổ Đạo Nhất, 709-788).
trung hòa
Neutrality.
trung hưng
Restoration.
trung hối
Repenting or recanting midway (doubting and falling away).
Trung hữu
中有; C: zhongyǒu; J: chūu; T: bar ma do'i srid pa; S: antarābhava; nghĩa là »trạng thái tồn tại ở khoảng giữa«, cũng được gọi là Trung ấm;|Trong kinh sách Tiểu thừa và Ðại thừa ở thế kỉ thứ 2, người ta đã thấy nói về một giai đoạn nằm sau cái chết và trước sự tái sinh, được gọi là Trung hữu. Giai đoạn này được nhắc nhở nhiều trong Kim cương thừa (s: vajrayāna) và được Tử thư (t: bardo thodol) trình bày cặn kẻ.|Tử thư cho rằng có 6 giai đoạn Trung hữu (s: ṣaḍantarābhava): 1. Trung hữu của lúc sinh (jāti-antarābhava); 2. Trung hữu của giấc mộng (svapnāntarābhava); 3. Trung hữu của thiền định (samādhi-antarābhava); 4. Trung hữu lúc cận tử (mumūrṣāntarābhava); 5. Trung hữu của Pháp thân diệu dụng, của Pháp tính (dharmatāntarābhava), 6. Trung hữu của sự trưởng thành và tái sinh (bhavān-tarābhava). Tử thư cho rằng 3 giai đoạn của Trung hữu 4, 5, 6 nêu trên kéo dài 49 ngày. Theo nhiều luận sư Tây Tạng, giai đoạn Trung hữu diễn ra hàng ngày trong cuộc sống con người, nó có mối liên hệ chặt chẽ với Ba thân (s: trikāya). Trong giai đoạn Trung hữu ngay sau khi chết, thần thức tiếp cận với Pháp thân thanh tịnh; Trung hữu 5 tiếp cận với Báo thân và sự tái sinh, thần thức đi vào cõi của Ứng hoá thân.
trung hữu
One of the Tứ hữu, i.e. the antarà-bhava or intermediate state between death and reincarnation. Also Trung ấm.
; Antara-bhava—Một trong bốn thứ “hữu,” quả báo trong khoảng giữa đời hiện tại và vị lai (giữa lúc chết và lúc tái sanh)—One of the four kinds of bhava, the intermediate state of existence between death and reincarnation. ** For more information, please see Antara-bhava in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Thân Trung Ấm in Vietnamese-English Section.
trung hữu chi lữ
Một chúng hữu tình đang tìm nơi tái sanh—An unsettled being in search of a new habitat or reincarnation.
trung hỷ tỳ kheo
Xem Luận nghị.
Trung khu
中軀; S: cakra; P: cakka; T: rtsa 'khor; nguyên nghĩa là Bánh xe quay (luân, luân xa);|Có hai nghĩa chính:|1. Là hội của những người thờ cúng Phạm thiên trong Ấn Ðộ giáo (e: hinduism);|2. Là các nơi tập trung khí lực của con người (s: prāṇa). Ðó là những nơi tích tụ, chuyển đổi và phân bố khí lực. Các trung khu này có khi được xem như định vị được trên thân thể con người như gần trái tim, lông mày… nhưng thật chất của chúng thuộc về một bình diện khác của thế giới hiện tượng. Trung khu là những điểm, nơi đó thân thể và tâm thức giao hoà và chuyển hoá qua lại với nhau.||H 68: Các trung khu (cakra) và đạo quản (nāḍī) chính trong cơ thể. Dòng kênh chạy dọc xương sống được gọi là Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī), dòng kênh đôi xoắn là Ðạo quản thái âm (idā-nāḍī), dòng kênh xoắn là Ðạo quản thái dương (piṅgalā-nāḍī).|Theo quan điểm của Ấn Ðộ giáo thì có bảy trung khu nằm dọc xương sống. Các trung khu này là nơi mà khí lực con người đi từ thấp lên cao, chạy xuyên qua trong quá trình Giác ngộ. Sáu trung khu đầu tiên (s: ṣaṭcakranirūpaṇam) được xem là nằm trong thân thể, trung khu thứ bảy nằm trên đỉnh đầu. Một khi con rắn lửa (hoả xà; s: kuṇḍalinī) được đánh thức bằng các phép tu tập, khí lực đó sẽ rời trung khu thấp nhất để vươn lên. Qua mỗi trung khu, hành giả sẽ đạt những cảm giác hoan hỉ (s: ānanda), một số thần thông huyền bí (Tất-địa) và vì vậy, các trung khu cũng được xem là »chỗ trú« của tâm thức (s: caitanya). Từ mỗi trung khu xuất phát một số lượng đạo quản (導管; s: nāḍī, là những kênh năng lượng tinh vi) khác nhau.|Những người có biệt tài xem tướng, nhìn thần sắc hay mô tả các trung khu như những »hoa sen« nhiều cánh, mỗi cánh diễn tả một đạo quản. Các hoa sen này luôn luôn xoay chuyển và vì vậy chúng được gọi là »bánh xe quay« (luân xa), ý nghĩa thật sự của danh từ Cakra. Theo hệ thống Hoả xà du-già (s: kuṇḍalinīyoga) của Ấn Ðộ giáo, mỗi trung khu tương ưng với những đặc tính nhất định nào đó của thân, tâm, được diễn tả bằng những biểu tượng khác nhau (hình sắc, chủng tử man-tra [s: bījamantra], biểu tượng thú vật, Hộ Thần [iṣṭadevatā], …).||H 69: Các trung khu chính trong cơ thể theo hệ thống Hoả xà du-già (kuṇḍalinīyoga) I. Từ trên xuống: 7. Trung khu đỉnh đầu (sahasrāha-cakra), 6. Trung khu ở trán (ājñā-cakra), 5. Trung khu ở cổ (viśuddha-cakra), 4. Trung khu ở tim (anāhata-cakra).|Từ trên xuống:|7. Trung khu đỉnh đầu (s: sahasrāha-cakra; saha-srāha: một ngàn): Chủng tử man-tra (bījamantra): OṂ (ॐ), hoa sen ngàn cánh (sahasrāhapadma). Trung khu này nằm ngoài thân thể, có một »ngàn«, được hiểu là vô số đạo quản (nāḍī) bao quanh. Cơ quan tương ưng của cơ thể là bộ não. 50 mẫu tự của Phạn ngữ (sanskrit) chạy vòng quanh trung khu này trên những cánh hoa sen 20 lần và vì vậy, trung khu này chứa đựng, bao gồm tất cả Chủng tử man-tra và các trung khu khác. Trung khu này phát ra ánh sáng »như mười triệu mặt trời« và hệ thuộc vào một cấp chân lí, sự thật khác với sáu trung khu còn lại. Trung khu này được xem là trú xứ của Thấp-bà (śiva) và tương ưng với vạn vật, »thần thức của vũ trụ«, »Siêu thức.« »Nếu Hoả xà lên đến đỉnh đầu và hoà hợp với Thấp-bà, hành giả sẽ cảm nhận một sự an vui tuyệt đỉnh (paramā-nanda), nhận thức tuyệt đối sẽ đến với họ. Hành giả trở thành một trí giả toàn vẹn (brahmavid-variṣṭha).«;|6. Trung khu ở trán (ājñā-cakra; ājñā: lệnh): nằm giữa hai lông mày, Chủng tử man-tra: A ngắn (अ), hoa sen hai cánh, màu trắng sữa. Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ thần kinh phản xạ (l: edulla oblongata). Trung khu này nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68), được xem là nơi tàng ẩn của thần thức. »Ai tập trung vào trung khu này thì sẽ thiêu đốt tất cả nghiệp chướng của tiền kiếp. Tập trung vào trung khu này rất quan trọng vì nó giúp Du-già sư (yogin) trở thành một người được giải thoát trong đời này (jīvanmukti, người đạt giải thoát lúc còn sống, ngay trong đời này), đạt tất cả Tất-địa (siddhi) thượng hạng…«;|5. Trung khu ở cổ (viśuddha-cakra; viśuddha: thanh tịnh): thuộc về Hư không (ākāśa), Chủng tử man-tra: HAṂ (हं), hoa sen 16 cánh, màu trắng, hình tròn, biểu tượng thú vật là con voi với sáu ngà, nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ hô hấp (l: plexus cervicus). »Ai tập trung vào trung khu này thì dù thế giới sụp đổ cũng không tiêu hoại, đạt Nhất thiết trí của bốn Vệ-đà, trở thành một trí giả thông cả ba thời (trikālajñāni), quá khứ, hiện tại và vị lai.«|4. Trung khu ở tim (anāhata-cakra; anāhata: bất khởi động): thuộc về không khí hoặc gió (phong), Chủng tử man-tra (bījamantra): YAṂ (यं), hoa sen 15 cánh, màu xám-xanh, hình lục giác, biểu tượng thú vật là con nai (mṛga), nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ huyết quản (l: plexus cardiacus). »Ai quán tưởng về trung khu này thì đạt uy lực về gió (phong), hành giả có thể bay trong không gian và nhập vào thân thể của một người khác. Lòng từ của vũ trụ sẽ đến với họ …«.||H 70: Các trung khu chính trong cơ thể theo hệ thống Hoả xà du-già (kuṇḍalinīyoga) II. Từ trên xuống: 3. Trung khu ở rốn (maṇipūra-cakra), 2. Trung khu ở bụng dưới (svādhiṣṭhāna-cakra), 1. Trung khu gốc (mūlādhāra-cakra).|3. Trung khu ở rốn (maṇipūra-cakra): thuộc về lửa (hoả), Chủng tử man-tra: RAṂ (रं), hoa sen mười cánh, hình tam giác, màu đỏ, biểu tượng thú vật là con sơn dương, nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ dinh dưỡng, tiêu hoá (l: plexus epigastricus). »Ai tập trung vào trung khu này có thể tìm thấy những bảo vật chôn dấu kĩ, không bao giờ bệnh hoặc và không sợ lửa. Nếu bị quăng vào lửa họ cũng không sợ và cũng không bị hề hấn gì…«.|2. Trung khu ở bụng dưới (svādhiṣṭhāna-cakra; sva: sinh khí; adhiṣṭhāna: trú xứ): nằm dưới gốc bộ phân sinh dục, thuộc về nước (thuỷ), Chủng tử man-tra: VAṂ (वं), hoa sen sáu cánh, hình lưỡi liềm, màu trắng, biểu tượng thú vật là con cá sấu, nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là các cơ quan nội tiết và sinh sản (l: plexus hypogastricus). »Ai quán tưởng đến trung khu này và vị Hộ Thần quyến thuộc sẽ không còn sợ nước và chinh phục được đại chủng này. Du-già sư sẽ đạt nhiều loại thần thông, sự hiểu biết trực nhận, khống chế được các giác quan và thấy được các chúng sinh cõi khác. Các đặc tính bất thiện như tham, sân, si, mạn và những ô nhiễm khác đều được tận diệt. Hành giả chinh phục được tử thần (mṛtyuñjaya-siddhi).«|1. Trung khu gốc (mūlādhāra-cakra; mūla: gốc, căn; ādhāra: chỗ nương tựa, trú xứ): nằm ở đốt xương sống cuối cùng, thuộc về đất (địa), Chủng tử man-tra: LAṂ (लं), hoa sen bốn cánh, có dạng vuông, màu vàng, biểu tượng thú vật là con voi bảy vòi, điểm cuối cùng của Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là bộ phận sinh dục (l: plexus pelvis). Hoả xà (kuṇḍalinī) nằm trong dạng cuộn tròn nằm yên khi chưa được khởi động. »Ai quán tưởng đến trung khu này thì chinh phục được đất và không còn sợ xác thịt tiêu huỷ khi chết. Du-già sư đạt được trí cùng tột của Hoả xà (kuṇḍalinī) và những yếu tố để đánh thức nó. Nếu con rắn lửa được đánh thức, Du-già sư có thể nhất bổng người lên và điều khiển được chân khí (khả năng này được gọi là darduri-siddhi), các tội lỗi đều được xóa bỏ, tinh thông tam thời và đạt niềm an vui tự tại (sahajānanda).« (theo Sivananda trong Kuṇḍalinī-yoga, 1953).|Về quan niệm trung khu khí lực, Mật tông đạo Phật có nhiều yếu tố tương tự như Ấn Ðộ giáo, nhưng phép thiền quán các trung khu đó có nhiều điểm khác. Lạt-ma Gô-vin-đa có viết một quyển sách với tên Foundations of Tibetan Mysticism (bản Việt ngữ: Cơ sở Mật giáo Tây Tạng), nói rất rõ hệ thống tu luyện theo Mật tông Tây Tạng và trong đó hệ thống Hoả xà du-già (kuṇḍalinī-yoga) giữ một vai trò quan trọng.
trung khu
MŪlādhāra-cakra (S), MaṇipŪra-cakra (S), Ajā-cakra (S), Anāhata-cakra (S).
trung kiên
Loyal—Faithful.
trung kiếp
Middling kalpa, a period of 336,000,000 years.
; Một thời kỳ 336 triệu năm, bốn trung kiếp làm thành một đại kiếp—Middling kalpa—A period of 336.000.000 years (four middling kalpas make on great kalpa—Thành+Trụ+Hoại+Không= A great kalpa).
Trung Luận
(s: Madhyamaka-kārikā, j: Chūron, 中論): trước tác của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250). Với tựa đề luận thư bằng tiếng Sanskrit có nghĩa là “các bài tụng nói về Trung”, trong bài tụng Duyên Khởi thứ 18 của chương 24 nói về “Khảo Sát Thánh Đế” có đoạn rằng: “Cái có duyên khởi, ta thường gọi là Không Tánh.” Không Tánh (空性) này vốn phát xuất từ “sự thiết định trên bình diện nhận thức trên cơ sở của vật chất, là thật tiễn của Trung (Trung Đạo [中道]).” Nói tóm lại, Trung Luận làm sang tỏ hình thức tồn tại của Duyên Khởi (緣起), Không Tánh (空性) và Giả (假), là luận thư lấy thật tiễn của cái Trung làm khóa đề. Toàn thể luận thư này được cấu thành bởi 27 chương, khởi đầu bằng “sự khảo sát về điều kiện sanh khởi (Duyên [緣])” để giải thích về tư tưởng Bất Sanh (不生, hết thảy sự vật không sanh khởi một cách độc lập mà phải phụ thuộc vào các duyên). Từ quan điểm cho rằng ngôn ngữ, quan niệm chấp thủ sự vật một cách cố định, chính là căn nguyên của phiền não, phương pháp luận chỉ trích triệt để mâu thuẩn hàm chứa trong quan niệm và ngôn ngữ được dùng đến trong luận thư này. Chính vì “Không Tánh là xa lìa hẳn hết thảy lối tư duy cố định”, hình thức biểu hiện quy nạp luận chứng rất phổ biến trong tác phẩm này. Sách chú thích có Vô Úy Chú (無畏注), Hán dịch Trung Luận (中論) của Thanh Mục (s: Piṅgala, 青目, khoảng thế kỷ thứ 4), Phật Hộ Chú (佛護注) của Phật Hộ (s: Buddhapālita, 佛護, khoảng 470-540), Bát Nhã Đăng Luận (般若燈論) của Thanh Biện (s: Bhāvaviveka, 清辨, khoảng 490-570), Tịnh Minh Cú Luận (淨明句論) của Nguyệt Xưng (s: Candrakīrti, 月稱, khoảng 650), v.v. Về phương pháp chú thích cũng có nhiều dạng khác nhau.
Trung luận
中論; C: zhōnglùn; J: chūron; S: madhyamaka-śāstra.|4 quyển, được xem là một tác phẩm của Long Thụ. Trung quán luận tụng được nối tiếp bởi chú giải của Thanh Mục (青目; s: pingala), được Cưu-ma La-thập dịch vào năm 409 và có bổ sung thêm vào phần luận giải của riêng mình. Đây là luận văn căn bản cho việc nghiên cứu tư tưởng của trường phái Trung quán (中觀派). Luận giải nầy phản đối gay gắt phạm trù giả và không, đồng thời phủ nhận hai ý niệm cực đoan sinh và bất sinh.
trung luận
Mādhyamaka śāstra (S)Trung quán luậnMột trong ba bộ kinh chánh (Trung luận, Thập nhị môn luận, Bá luận) của phái Tam luận tông do Long Thọ Bồ tát soạnXem Trung quán luận.
; Madhyamika-Sastra (skt)—Tên đầy đủ là Trung Quán Luận, do Bồ tát Long Thọ biên soạn và Thanh Mục Bồ tát chú thích, Cưu Ma La Thập đời Tần dịch sang Hoa Ngữ. Đây là một trong ba bộ luận căn bản của tông Tam Luận. Luận nầy chủ trương trung đạo triệt để, chống lại luận cứ “hữu” “không” hoặc nhị biên “sanh” và “vô sanh.” Theo Ngài Long Thọ thì trung đạo là chân tánh của vạn hữu, không sanh không diệt, không hiện hữu, không phi hiện hữu—The Madhyamika-sastra, attributed to the Bodhisattva Nagarjuna as creator, and Nilakasus as compiler, translated into Chinese by Kumarajiva in 409 A.D. It is the principal work of the Madhyamika, or Middle School. The teaching of this school opposes the rigid categories of existence and non-existence, and denies the two extremes of production or creation and non-production and other antitheses, in the interests of a middle or superior way. According to Nagarjuna, the Middle Way is true nature of all things which neither is born nor dies, and cannot be defined by either the two extremes, existence or non-existence.
trung luận bản tụng
Mādhyamaka kārikā (S)Do ngài Long Thọ biên soạn.
trung luận thích
Mādhyamikavrtti (S), Mādhyamika doctrine.Do ngài Nguyệt Xứng biên soạn.
trung luận tính giáo
The Madhyamika school, which has been described as a system of sophistic nihilism, dissolving every proposition into a thesis and its antithesis, and refuting both.
Trung luận tông
中論宗; S: mādhyamika;|Trung quán tông.
trung luận tông
Madhyamika School. (I) Trung Luận tông Ấn Độ—The Madhyamika School in India: (A) Lịch sử thành lập Trung Luận Tông—The history of the formation of the Madhyamaka sect: Được gọi là Trung Quán Tông vì bộ phái nầy chú trọng đến quan điểm trung dung (madhyamika-pratipat). Trong bài thuyết pháp đầu tiên trong vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã giảng về Trung đạo, vốn là con đường tu tập không phải qua sự hành xác mà cũng không phải buông xuôi theo dục lạc. Trung đạo không chấp nhận cả hai quan điểm liên quan đến sự tồn tại và không tồn tại, trường cửu và không trường cửu, ngã và vô ngã, vân vân. Nói tóm lại, tông phái nầy không chấp nhận thuyết thực tại mà cũng không chấp nhận thuyết không có thực tại, phái nầy chỉ chấp nhận sự tương đối. Tuy nhiên, cần nên thấy rằng Trung Đạo được đề xướng ở Ba La Nại có một ý nghĩa về đạo đức sống, còn Trung Đạo của Trung Luận tông là một khái niệm siêu hình. Trường phái mà chủ thuyết dựa vào ba bộ luận chính của Ngài Long Thọ. Đặc điểm nổi bậc nhất của tông phái nầy là nhấn mạnh đến chữ 'Không' và 'Không Tánh' nhiều lần, cho nên nó cũng còn được gọi là tông phái có 'hệ thống triết học xác định rằng 'không' là đặc tánh của Thực Tại. Ngoài ra, đã có rất nhiều nhà tư tưởng Trung Luận đi theo ngài Long Thọ như Thánh Thiên (Aryadeva) vào thế kỷ thứ ba, Buddhapatila vào thế kỷ thứ năm, Chandrakirti vào thế kỷ thứ sáu, và Santideva vào thế kỷ thứ bảy—The Madhyamikas were so called on account of the emphasis they laid on the middle view (madhyamika-pratipat). In his first sermon at Banares, the Buddha preached the Middle Path, which is neither self-mortification nor a life devoted to the pleasures of the senses. However, the middle path, as advocated by the adherents of the Madhyamika system, is not quite the same. Here, the middle path stands for the non-acceptance of the two views concerning existence and non-existence, eternity and non-eternity, self and non-self, and so on. In short, it advocates neither the theory of reality nor that of the unreality of the world, but merely of relativity. It is, however, to be noted that the middle path propounded at Banares has an ethical meaning, while that of the Madhyamikas is a metaphysical concept. The Middle School of which doctrine was based on the three main works of Nagajuna. The most striking feature of Madhyamaka philosophy is its ever-recurring use of 'Sunya' and 'Sunyata.' So this system is also known as the school with the philosophy that asserts Sunya as the characterization of Reality. Besides, there was a galaxy of Madhyamika thinkers, such as Aryadeva in the third century A.D.), Buddhapalita in the fifth century, Bhavaviveka in the fifth century, Chandrakirti in the sixth century, and Santideva in the seventh century . (B) Những luận điểm quan trọng của Trung Luận tông—Important points of the Madhyamika school: 1) Ngài Long Thọ, sơ tổ Trung Luận tông đã viết rất nhiều sách, trong số đó Trung Quán Luận được xem là tác phẩm quan trọng của ông. Sách nầy trình bày triết lý Trung Luận tông một cách có hệ thống. Trong bài kệ mở đầu cuốn sách, ngài Long Thọ đã tóm lược các điều cơ bản của triết lý nầy. Ngài đã giảng giải luật Duyên Khởi bằng tám sự phủ định (see Bát Bất Trung Đạo): Nagarjuna, the first patriarch of the Madhyamika school, wrote a number of works, of which the Madhyamika-karika is regarded as his masterpiece. It presents in a systematic manner the philosophy of the Madhyamika school. In the invocation in verse at the beginning of the book, Nagarjuna gives the fundamentals of his philosohy in a nutshell. He describes Dependent Origination (Pratitya-samutpada) by means of eight negations. 2) Theo Trung Luận thì tánh không (sunyata) là tuyệt đối: According to the Madhyamika school, the indescribable absolute (sunyata) is the absolute. 3) Không có sự khác biệt giữa luân hồi (samsara) và Niết Bàn (nirvana) hay sự trống không (sunyata): There is no difference between phenomenal world (samsara) and nirvana or sunyata (reality). 4) Sự trống không hay tuyệt đối tương ứng với Phạm Thiên (Brahman) nirguna trong sách Upanisads: Sunyata or the absolute corresponds to the nirguna Brahman of the Upadesads. 5) Qua triết lý 'Tánh Không,' Trung Luận tông bàn về cái hiện hữu tương đối, chứ không phải là hiện hữu tuyệt đối: Through the philosophy of Sunyata, the Madhyamika school discussed about the relative existence of thing, not the absolute one. 6) Theo quan điểm của Trung Luận tông thì 'Tánh Không' là ý tưởng trung tâm trong triết lý của họ, do đó chủ thuyết nầy có tên là Sunyatavada. Trung Quán Luận còn bàn về hai loại chân lý: tục đế hay chân lý theo qui ước hay theo thường nghiệm (samvrti), và chân đế hay chân lý siêu nhiên (paramartha): According to the views of the Madhyamika school, sunyata is the central idea of its philosophy and is therefore designated the 'sunyatavada.' The Madhyamika-karika further deals with two kinds of truths: the conventional or empirical truth (samvrti), and the higher or transcendental truth (paramartha)—See Nhị Đế. (C) Sự phát triển của Trung Luận tông—The development of the Madhyamika school: Theo Giáo sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, tới đầu thế kỷ thứ 5, Trung Luận tông được chia làm hai trường phái tư tưởng là Prasanghika và Svatantra. Trường phái đầu do Buddhapalita và trường phái sau do Bhavaviveka thành lập. Prasanghika dùng phương pháp suy luận loại trừ để xây dựng luận thuyết, còn Svatantra thì dùng kiểu suy luận độc lập. Có thể nói rằng các trường phái Thiên Thai và Tam Luận ở Trung Hoa chủ trương thuyết 'Không Tánh,' do đó là một sự tiếp nối của Trung Luận tông ở Ấn Độ: According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, towards the beginning of the fifth century A.D., the Madhyamika school was divided into two schools of thought: the Prasanghika school and the Svatantra. The Prasanghika school uses the method of 'reason of reduction' to establish its thesis, while the Savtantra school employs independent reasoning. The former was founded by Buddhapalita and the latter by Bhavaviveka. It may bementioned that the T'ien-T'ai and San-Lun sects in China advocated the doctrine of 'sunyata' and were thus a continuation of the Indian Madhyamika sect. (II) Trung Luận Tông Trung Hoa—The Madhyamika School in China: (A) Lịch sử thành lập Trung Luận tông tại Trung Hoa—History of the formation of Madhyamika in China: Tại Trung Hoa, Trung Luận tông hay Tam Luận tông được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất đi theo truyền thống 'Cổ Tam Luận tông' từ thời ngài Long Thọ đến ngài Cưu Ma La Thập, còn nhóm thứ hai theo truyền thống 'Tân Tam Luận tông' từ thời Cát Tạng 549-623), một môn đệ của Cưu Ma La Thập đến thời kỳ suy thoái của truyền thống nầy vào khoảng thế kỷ thứ tám: In China, the Three Madhyamika Treatises is divided into two groups. The first tradition is called the 'old' follows the tradition from Nigarjuna to Kumarajiva; and the second is called the 'new' tradition from Chi-Tsang (549-623 A.D.), a disciple of Kumarajiva, to the time of its decline in the eighth century A.D. (B) Triết lý và kinh sách—Philosophy and works: a) Triết lý Tam Luận—Madhyamika philosophy: Tam Luận tông là một bộ phái Phật giáo diễn tả Trung Luận theo chân lý tuyệt đối. Các tông phái nầy nhấn mạnh ở thuyết chân lý qui ước hay tục đế (samvrti-satya) theo đó thì vạn vật đều do duyên sinh và chỉ có sự tương quan với nhau chứ không phải hiện hữu theo nghĩa tuyệt đối. Khía cạnh thực tế của triết lý Trung Luận được các trường phái nầy thể hiện trong cách sống gần gũi với con người bình thường. Mặc dù đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của nền văn hóa Trung Hoa trong tám thế kỷ, nhưng các tông phái nầy ngày nay chỉ còn là những đối tượng để nghiên cứu về lịch sử, kinh sách và triết học mà thôi. Các tông phái nầy không còn tồn tại dưới dạng thể chế tôn giáo ở Trung Hoa, ngoại trừ hình thức đã sửa đổi như là đạo Lạt Ma (Lamaism) ở Tây Tạng—The San-Lun-tsung was a Buddhist sect which expressed the Madhyamika doctrine according to absolute truth (paramartha-satya). These schools stress the doctrine of conventional truth (samvrti-satya), according to which all beings are conditioned and merely interrelated, but do not come into existence in the absolute sense. The practical aspect of the Madhyamika philosophy was expressed by these schools in their approach to human life. Although these schools contributed to the cultural development of ancient China for eight centuries, today they are only objects of historical, textural and philosophical study. They no longer exist as religious institutions in China, except in the modified form of Tibetan Lamaism. b) Kinh sách chính đã tạo nên hệ Tam Luận của Phật giáo Trung Hoa—Chief works: Các kinh sách chính của tông phái nầy gồm—Chief texts which constitute the San-Lun literature of Chinese Madhyamika Buddhism: • Đại Trí Độ Luận: The Mahaprajnaparamita-sastra. • Thập Địa Tỳ Bà Sa Luận: The Dasabhumivibhasa-sastra. • Trung Luận: The Madhyamika-sastra. • Bách Luận: Sata-sastra. • Thập Nhị Môn Luận: Dvadasanikaya-sastra. (C) Sự phát triển của Trung Luận tông ở Trung Hoa—The development of Chinese Madhyamika Buddhism: Tại Trung Quốc, các nhóm khác đi chung với Phật giáo Trung Luận gồm có Tứ Luận tông, Bát Nhã tông, Hưng tông, trong đó bao gồm cả Tam Luận tông và Hoa Nghiêm tông—In China, the groups which embrace Madhyaminka Buddhism are Si-Lun-Tsung, Prajna tsung, Hsing-tsung, in which the San-Lun-tsung and Hua-Yen-tsung are also included. (D) See Trung Quán Luận.
trung lưu
Giữa dòng sanh tử—In the midst of the stream of mortality or reincarnation.
trung lương
Loyal and honest.
trung lộ
Trung đạo—Middle Path.
trung nghĩa
Loyal.
Trung Nguyên
(中元): tức Trung Nguyên Tiết (中元節), đối với Thượng Nguyên (中元) nhằm ngày rằm tháng giêng âm lịch, Hạ Nguyên (下元) vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, Trung Nguyên nhằm vào ngày rằm tháng 7 âm lịch. Trung Nguyên Tiết là tên gọi của Đạo Giáo, Vu Lan Bồn Tiết (盂蘭盆節) là tên gọi của Phật Giáo, còn gọi là Trung Nguyên Phổ Độ (中元普渡), Hiếu Tử Tiết (孝子節).Thuyết Tam Nguyên này phát xuất từ Đạo Giáo, sau này lễ Trung Nguyên được hỗn hợp với truyền thống Vu Lan Bồn của Phật Giáo để cúng dường và cầu siêu độ cho các vong linh đã quá cố. Vì vậy khi nói đến Trung Nguyên cũng có nghĩa là Vu Lan Bồn. Bên cạnh đó, theo truyền thống Phật Giáo, rằm tháng 7 cũng là ngày xá tội vong nhân, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣) của chư tăng ni, như trong Tuế Thời Quảng Ký (歲時廣記) quyển 29, phần Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記) có đề cập rằng: “Tứ nguyệt thập ngũ nhật nãi Pháp Vương cấm túc chi thần, Thích tử hộ sanh chi nhật, tăng ni dĩ thử nhật tựu Thiền sát kết hạ lực, hựu vị chi Kết Chế; cái trưỡng dưỡng chi tiết tại ngoại hành, khủng thương thảo mộc trùng loại; cố cửu thập nhật An Cư, chí thất nguyệt thập ngũ nhật Giải Hạ, hựu vị chi Giải Chế (四月十五日乃法王禁足之辰、釋子護生之日、僧尼以此日就禪剎結夏力、又謂之結制、蓋長養之節在外行、恐傷草木蟲類、故九十日安居、至七月十五日解夏、又謂之解制, rằm tháng tư là ngày đấng Pháp Vương [đức Phật] cấm túc [giới hạn đi ra ngoài], là ngày người con Phật bảo vệ sinh mạng, tăng ni lấy ngày này đến các Thiền viện Kết Hạ An Cư, còn gọi là Kết Chế; lấy năng lực đó nuôi lớn, giới hạn việc đi ra ngoài, sợ làm tổn thương cây cỏ, côn trùng; cho nên sau 90 ngày An Cư, đến ngày rằm tháng 7 thì Giải Hạ [kết thúc kỳ Kết Hạ An Cư], còn gọi là Giải Chế).” Sau ngày Giải Hạ, từ ngày 16 tháng 7 âm lịch trở đi, cuộc sống mới bắt đầu; vì vậy ngày rằm tháng 7 cũng tượng trưng cho sự phục hoạt và sinh sống mới. Xưa kia, trong dân gian vẫn thường gọi lễ hội này là Quỷ Tiết (鬼節). Tương truyền có một hôm nọ, cửa địa ngục mở tung ra, các âm linh, quỷ sứ dưới âm ty được tự do thoát ra ngoài. Người nào có chủ thì về nhà mình, người không chủ thì đi lang thang, vất vưởng đây đó; cho nên, trong dân gian thường thiết lễ tụng kinh cầu nguyện vào dịp tháng 7 để cầu siêu độ các âm linh cô hồn, để họ không gây họa cho con người, và trở lại phò trợ cho tật bệnh tiêu trừ, gia trạch bình an. Về truyền thuyết của lễ hội này, bên cạnh thuyết đệ tử của đức Phật là Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連) cứu mẹ như được thuyết trong Vu Lan Bồn Kinh (s: Ulambanasūtra, 盂蘭盆經) của Phật Giáo, về phía dân gian cung như Đạo Giáo, có truyền thuyết khác đến tiền giấy. Theo thuyết của Thái Luân (蔡倫, khoảng 63-121) thời Đông Hán (東漢, 25-220) sau khi phát minh ra tiền giấy, cuộc sống hưng thịnh, khá giả, tiền của dư dật. Anh trai ông là Thái Mạc (蔡莫) cùng với chị Huệ Nương (慧娘) thấy vậy rất thèm muốn. Cả hai cùng đến gặp Thái Luân xin học cách chế tạo giấy. Tuy nhiên, tâm của Thái Mạc thì quá nôn nóng muốn làm giàu, nên công phu học tập tuy chưa thuần thục đã vội mở tiệm kinh doanh. Cuối cùng, kết quả cho thấy rằng giấy do ông làm ra có phẩm chất không tốt, bị mọi người chê trách; cả hai vợ chồng ngồi buồn rầu rĩ. Chợt Huệ Nương nảy ra một diệu kế, bàn nhỏ với chồng và thực hiện. Có một đêm nọ, người dân hàng xóm bỗng nhiên nghe tiếng khóc lóc thảm thiết vọng lại từ nhà của Thái Mạc. Mọi người chạy đến xem hư thực, mới biết là Huệ Nương đã chết tối hôm qua. Đến sáng hôm sau, trước mặt mọi người, Thái Mạc kêu gào bi thương bên quan tài vợ hiền, vừa khóc vừa đốt giấy. Bỗng nhiên, từ trong quan tài vọng ra tiếng nói rằng: “Mở cửa ra, mở cửa ra ! Ta sống lại đây !” Người tham dự kinh sợ, cuối cùng có người gan dạ mới dám bước đến mở nắp quan tài ra. Huệ Nương từ trong quan tài bước ra kể với mọi người rằng sau khi bà qua đời, sanh xuống cõi âm; khi ấy Diêm Vương xét tội trạng và ban cực hình, chịu cực khổ muôn vàn. Nhưng nhờ có Thái Mạc đốt giấy tiền, chúng tiểu quỷ thâu lấy đem dâng cho Diêm Vương; cho nên Diêm Vương mới tha cho trở về lại dương gian. Nghe vậy, Thái Mạc giả vờ hỏi: “Ta đâu có đốt tiền.” Huệ Nương lấy tay chỉ vào đống tro tàn bảo: “Dưới cõi âm đó chính là tiền.” Từ đó, người dân mới phát hiện ra công dụng và lợi ích của tiền giấy; họ đỗ xô đến tiệm của Thái Mạc mua giấy tiền về cúng. Ngày Huệ Nương sống lại cũng đúng vào rằm tháng bảy; cho nên cũng nhân ngày này, dân chúng mua giất tiền đốt dâng cúng tổ tiên cũng như những người đã qua đời. Theo Đạo Giáo, ngày Thượng Nguyên là ngày Thiên Quan (天官) ban phước; ngày Trung Nguyên là ngày Địa Quan (地官) xá tội; và ngày Hạ Nguyên là ngày Thủy Quan (水官) giải ách. Cho nên, vào ngày rằm tháng 7, dân gian thường chuẩn bị các mâm cỗ cúng rất phong phú để dâng cúng cho Địa Quan cũng như tổ tiên quá cố. Về tập tục cúng tế vào dịp Trung Nguyên này, có nhiều tài liệu ghi lại như tác phẩm Đường Lục Điển (唐六典, tức Đại Đường Lục Điển [唐六典]) ghi rằng: “Trung Thượng Thự thất nguyệt thập ngũ nhật tấn Vu Lan Bồn (中尚署七月十五日進盂蘭盆, vào ngày rằm tháng bảy, Trung Thượng Thự [cơ quan chuyên trách đồ ẩm thức hiến cúng] hiến cúng Vu Lan Bồn).” Như vậy, đương thời việc tiến cúng Vu Lan Bồn vào dịp Trung Nguyên là định lệ trong cung nội. Trong Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄) quyển 8 do (孟元老, ?-?) nhà Tống soạn có đoạn: “Tiên sổ nhật, thị tỉnh mại minh ngoa hài, kim tê giả đái, ngọc thải y phục, … cập ấn mại Tôn Thắng Mục Liên Kinh (先數日、市井賣冥器靴鞋、金犀假帶、五綵衣服、… 及印賣尊勝目蓮經, trước [Trung Nguyên] vài ngày, phố xá có bán các thứ giày dép, tê giác vàng, dây đai giả, y phục lụa năm màu đồ âm binh, … và mua Tôn Thắng Mục Liên Kinh).” Hay như trong Đế Kinh Cảnh Vật Lược (帝京景物略) quyển 2 do Lưu Đồng (劉侗, khoảng 1593-1636) và Vu Dịch Chánh (于奕正, ?-?) nhà Minh soạn, có kể rằng: “Thập ngũ nhật, chư tự kiến Vu Lan Hội, dạ ư thủy thứ phóng đăng, nhật phóng hà đăng (十五日、諸寺建盂蘭會、夜於水次放燈、日放河燈, vào ngày rằm, các chùa mở hội Vu Lan, đêm về thả đèn trên nước, ban ngày thả đèn trên sông).” Hoặc như trong Huyền Đô Đại Hiến Kinh (玄都大獻經) của Đạo Giáo có dạy rằng: “Thất nguyệt thập ngũ nhật, Trung Nguyên chi tiết dã; … thị nhật Địa Quan hiệu duyệt, sưu thuyết chúng nhân, phân biệt thiện ác, chư thiên Thánh chúng, phổ nghệ cung trung, giản định kiếp số nhân quỷ bộ lục, ngạ quỷ tù đồ, nhất thời câu tập, dĩ kỳ nhật tác Huyền Đô đại trai, địch ư Ngọc Kinh, cập thái hoa quả, thế gian sở hữu kỳ dị chi vật, ngoạn lộng phục sức, tràng phan bảo cái, trang nghiêm cúng dường chi cụ, thanh thiện ẩm thực, bách vị phân phương, hiến chư chúng Thánh, cập dữ đạo sĩ, dữ kỳ nhật nguyệt giảng tụng thị kinh, thập phương Đại Thánh, cao lục linh thiên, tù đồ ngạ quỷ, đương thời giải thoát, nhất câu bão mãn, miễn ư chúng khổ, đắc tuyển nhân trung; nhược phi như thử, nan khả bạt thoát (七月十五日、中元之節也、…是日地官校閱、搜說眾人、分別善惡、諸天聖眾、譜詣宮中、簡定劫數人鬼簿錄、餓鬼囚徒、一時俱集、以其日作玄都大齋、敵於玉京、及採諸花果、世間所有奇異之物、玩弄服飾、幢幡寶蓋、莊嚴供養之具、清膳飲食、百味芬芳、獻諸眾聖、及與道士、與其日月講誦是經、十方大聖、高錄靈篇、囚徒餓鬼、當時解脫、一俱飽滿、免於眾苦、得選人中、若非如此、難可拔脫, ngày rằm tháng bảy là Tiết Trung Nguyên; ngày này Địa Quan xét duyệt, sưu tra mọi người, phân biệt thiện ác; các Thánh trên trời, tập trung trong cung điện, định rõ sổ bộ kiếp số của quỷ và con người, chúng quỷ đói giam tù, cùng lúc tập họp, lấy ngày này làm ngày cúng chay Huyền Đô, tranh nhau cúng ở Ngọc Kinh; cùng chọn các thứ hoa quả, những vật kỳ dị hiếm có trên đời, áo quần trang phục vua đùa, tràng phan lọng báu, các vật cúng dường trang nghiêm, mâm cỗ ăn uống trong sạch, trăm vị thơm ngon, hiến cúng các bậc Thánh, cùng những đạo sĩ, vào ngày tháng này giảng tụng kinh này; các Đại Thánh trong mười phương, ghi rõ sổ linh; chúng quỷ đói bị giam cầm, lúc bấy giờ được giải thoát, hết thảy đều no đủ, xa lìa các khổ, được sanh làm người; nếu không làm như vậy, khó được giải thoát)”, v.v. Lễ hội này cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống tâm linh con người Á Châu, dầu bất cứ tôn giáo nào đi nữa; cho nên, văn chương, thi phú ca ngợi nhiều về nó. Như Linh Cô Sở (令孤楚, 766-837) có làm bài thơ Nhật Tặng Trương Tôn Sư (日贈張尊師) về Tiết Trung Nguyên rằng: “Ngẫu lai nhân thế trị Trung Nguyên, bất hiến Nguyên Đô vị nhật nhàn, tịch tịch phần hương tại tiên quán, tri sư diêu lễ Ngọc Kinh San (偶來人世值中元、不獻元都未日閒、寂寂焚香在仙觀、知師遙禮玉京山, tình cờ nhân thế gặp Trung Nguyên, chẳng cúng Nguyên Đô chưa an nhàn, lẳng lặng đốt hương nơi tiên quán, biết thầy xa lễ Ngọc Kinh San).” Thi sĩ Ân Nghiêu Phiên (殷堯藩, ?-?) nhà Đường có bài Trung Nguyên Quán Pháp Sự Bộ Hư (中元觀法事步虛) rằng: “Ngột đô khai bí lục, bạch thạch lễ tiên sanh, thượng giới thu quang tịnh, Trung Nguyên dạ khí thanh, tinh thần triều đế xứ, tư hạc bộ hư thanh, ngọc động hoa trường phát, châu cung nguyệt tối minh, tảo đàn thiên địa túc, đầu giản quỷ thần kinh, thảng tứ Đao Khuê Dược, hoàn lưu bất tử danh (兀都開秘籙、白石禮先生、上界秋光淨、中元夜氣清、星辰朝帝處、鷥鶴步虛聲、玉洞花長發、珠宮月最明、掃壇天地肅、投簡鬼神驚、儻賜刀圭藥、還留不死名, kinh đô bày bí điển, đá trắng lạy tiên sanh, cõi trên ánh thu lắng, Trung Nguyên đêm khí trong, sao trời chầu đế chúa, cò hạc bước thong dong, động ngọc hoa nở ngát, cung báu trăng sáng ngần, quét đàn trời đất dịu, gieo ống quỷ thần kinh, nếu ban Đao Khuê Thuốc [thuốc tán viên bột], lưu mãi bất tử danh).” Trong khi đó, Biên Cống (邊貢, 1476-1532) nhà Minh có làm bài Trung Nguyên Kiến Nguyệt (中元見月) như sau: “Tọa ái thanh quang hảo, cánh thâm bất hạ lâu, bất nhân phùng nhuận nguyệt, kim dạ thị trung thu (坐愛清光好、更深不下樓、不因逢閏月、今夜是中秋, ngồi ngắm ánh trăng sáng, hồi lâu chẳng xuống lầu, chẳng hay gặp tháng nhuận, đêm nay là giữa thu)”, v.v.
trung nguyên
The fifteenth of the seventh moon; the Thượng and Hạ are the fifteenth of the first and tenth moons respectively.
; Rằm tháng bảy—The fifteen of the seventh moon—See Tam Nguyên.
trung ngôn nghịch nhĩ
Nothing hurts like the truth—Not all truths are proper to be told.
Trung Nham Viên Nguyệt
(中巖圓月, Chūgan Engetsu, 1300-1375): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Đại Huệ (大慧), thuộc Lâm Tế Tông, người vùng Tương Mô (相模, Sagami, Kanagawa-ken [神奈川縣]), húy là Viên Nguyệt (圓月), đạo hiệu là Trung Nham (中巖, hay còn gọi là Trung Chánh Tử (中正子); thụy hiệu là Phật Chủng Huệ Tế Thiền Sư (佛種慧濟禪師); họ Thổ Ốc (土屋). Năm lên 8 tuổi, ông xuất gia ở Thọ Phước Tự (壽福寺), đến năm 13 tuổi thì thọ Cụ Túc Giới với Luật Sư Tử Sơn (梓山). Ban đầu, ông theo học Luật ở Tam Bảo Viện (三寶院), nhưng sau thì chuyển sang tu Thiền, và đã từng đến tham vấn những bậc cao túc như Khoan Thông Viên (寛通圓), Ước Ông Đức Kiệm (約翁德儉), Hiểm Nhai Xảo An (嶮崖巧安), Vân Ốc Huệ Luân (雲屋慧輪), Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日), v.v. Vào năm thứ 2 (1318) niên hiệu Văn Bảo (文保), ông đi dạo chơi ở miền Nam, đến vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), rồi đến tham bái Tuyệt Nhai Tông Trác (絕崖宗卓) ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺). Hơn nữa, ông còn đến bái yết những vị cao Tăng ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]) như Nghĩa Vân (義雲), Ngọc Sơn Đức Tuyền (玉山德璇), Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱), Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬), v.v. Vào năm thứ 2 (1325) niên hiệu Chánh Trung (正中), ông sang nhà Nguyên cầu pháp, rồi sau khi đến tham vấn những bậc lão túc như Linh Thạch Như Chi (靈石如芝), Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Long Sơn Đức Kiến (龍山德見), Tuyệt Tế Vĩnh Trung (絕際永中), v.v., ông đến học đạo với Đông Dương Đức Huy (東陽德輝), và làm Thư Ký cho vị này. Sau ông kế thừa dòng pháp của Đức Huy. Vào năm đầu (1332) niên hiệu Chánh Khánh (正慶), ông trở về nước, đến sống ở Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) để phụ giúp cho Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊). Đến năm thứ 2 (1339) niên hiệu Lịch Ứng (曆應), ông đến khai sơn Cát Tường Tự (吉祥寺) ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]). Tiếp theo ông đã từng sống qua ở một số chùa nổi tiếng như Vạn Thọ (萬壽), Kiến Nhân (建仁), Đẳng Trì (等持), Kiến Trường (建長), Long Trạch (龍澤), Sùng Phước (崇福). Đến cuối đời, ông lui về ẩn cư tại Long Hưng Tự (龍興寺) thuộc vùng Cận Giang (近江, Ōmi, Shiga-ken [滋賀縣]). Vào ngày mồng 8 tháng giêng năm đầu niên hiệu Vĩnh Hòa (永和), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Ông được ban thụy hiệu là Phật Chủng Huệ Tế Thiền Sư. Trước tác của ông ngoài bộ Ngữ Lục ra còn có Đông Hải Nhất Âu Tập (東海一漚集).
trung nham viên nguyệt
Chugan Engetsu (J)Tên một vị sư.
trung nhân
1) Trung gian: Intermediary—Mediator. 2) Một sự sắp xếp Ngũ Gia Phật của Mật giáo, với Phật Tỳ Lô Giá Na ở trung nhân—An arrangement by the esoteric sect of the Five Dhyani-Buddhas, Vairocana being the first in the central position—See Ngũ Phật Ngũ Đại.
Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục
(中峰和尚廣錄, Chūhōoshōkōroku): 30 quyển, do Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) nhà Tống soạn, Từ Tịch (慈寂) biên, san hành năm đầu (1325) niên hiệu Chí Nguyên (至元), trùng san vào năm thứ 20 (1387) niên hiệu Hồng Võ (洪武), là bộ Ngữ Lục của Trung Phong Minh Bổn, còn gọi là Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng Quảng Lục (天目中峰和尚廣錄, Temmokuchūhōoshōkōroku). Vào năm thứ 2 (1334) niên hiệu Nguyên Thống (元統), bộ này được dâng lên triều đình xin nhập vào Đại Tạng Kinh và nhận được sắc chỉ cho phép, đến năm sau cho khắc bản nhưng trong khi chưa được lưu bố rộng rãi thì cháy mất. Trải qua hơn 50 năm, Trương Tử Hoa (張子華) cùng với hai vị tăng là Trí Cảo (智暠), Huệ Trạch (慧澤) tìm cách cho san hành lại. Từ quyển 1 đến 10 gồm những bài thị chúng, tiểu tham, niêm cổ, tụng cổ, pháp ngữ, thư vấn, Phật sự, tán Phật tổ, tự tán, đề bạt; quyển 11 là Sơn Phòng Dạ Thoại (山房夜話); quyển 12 là Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải (信心銘闢義解); quyển 13 là Lăng Nghiêm Trưng Tâm Biện Kiến Hoặc Vấn (楞嚴徵心辯見或問); quyển 14 là Biệt Truyện Giác Tâm (別傳覺心); quyển 15 là Kim Cang Bát Nhã Lược Nghĩa (金剛般若略義); quyển 16 là Huyễn Trú Gia Huấn (玄住家訓); quyển 17 là Nghĩ Hàn Sơn Thi (擬寒山詩); quyển 18 là Đông Ngữ Tây Thoại (東語西話); quyển 19-20 là đồng tục tập; quyển 21-26 là các bài phú, ký, châm, minh, tựa, văn, sớ, tạp trước, v.v.; quyển 27-30 là kệ tụng. Cuối quyển có thêm các hành lục, tháp minh, bia đạo hạnh và bản Nhập Tạng Tinh Phong Hiệu Quốc Sư Biểu (入藏並封號國師表).
Trung Phong Minh Bản
中峰明本; C: zhōngfēng míngběn; J: chūhō myōhon; 1263-1323;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, dòng Viên Ngộ Khấc Cần. Sư nối pháp Thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu (高峰原妙; c: gāofēng yuánmiào; j: kōhō gemmyō). Cuộc đời hoằng hoá của Sư giữ một vai trò quan trọng cho tông Lâm Tế tại Nhật.|Sư được rất nhiều người đương thời tôn kính vì phong cách đơn giản, tu tập thiền thuần tuý của mình. Sư được hoàng đế thỉnh đến vương triều để thuyết pháp nhưng từ chối và sau được phong danh hiệu Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ Thiền sư. Nhiều vị Thiền sư Nhật đã đến nơi Sư tham học và trong số này trội hơn hết là Cổ Tiên Ấn Nguyên (古先印元; j: kosen ingen, 1295-1374) và Cô Phong Giác Minh (孤峰覺明; j: kohō kakumyō, 1271-1361).
trung phong minh bản
ChŪhō Myōhon (J)Tên một vị sư.
Trung Phong Minh Bổn
(中峰明本, Chūhō Myōhon, 1263-1323): vị tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Tiền Đường (錢塘), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ Tôn (孫), hiệu Trung Phong (中峰). Lúc còn nhỏ, ông đã đến tham học với Cao Phong Nguyên Diệu (高峰原妙) ở Sư Tử Nham (獅子巖) trên Tây Thiên Mục Sơn (西天目山), đọc Kinh Kim Cang, cảm nhận được sứ mạng Như Lai và đến năm 24 tuổi thì xuất gia với vị này. Sau đó, nhân nhìn thấy suối nước chảy mà khai ngộ rồi kế thừa dòng pháp của Cao Phong. Từ đó trở đi, ông không định cư, khi thì sống trên thuyền, có khi sống trong túp lều tranh đơn sơ và tự xưng là Huyễn Trú (幻住, sống tạm bợ). Chúng tăng tục tập trung đến chiêm lễ và gọi ông là Cổ Phật Giang Nam. Vào năm thứ 5 (1318) niên hiệu Diên Hựu (延祐), Nhân Tông Hoàng Đế có hạ chiếu chỉ mời, nhưng ông không nhận lời nên nhà vua ban cho ông y ca sa tơ vàng và hiệu là Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ Thiền Sư (佛慈圓照廣慧禪師). Đến thời vua Anh Tông cũng quy y theo ông. Vào ngày 14 tháng 8 năm thứ 3 niên hiệu Chí Trị (至治), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi. Sau khi qua đời được 7 năm, vua Văn Tông lại ban cho ông thụy hiệu là Trí Giác Thiền Sư (智覺禪師). Lại nữa, 5 năm sau vua Thuận Tông cho đưa vào Đại Tạng Kinh bản Trung Phong Quảng Lục (中峰廣錄) 3 quyển và ban thêm cho thụy hiệu là Phổ Ứng Quốc Sư (普應國師). Trước tác của ông có Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規) 1 quyển, Nhất Hoa Ngũ Diệp (一華五葉) 5 quyển, v.v. Tổ Thuận (祖順) soạn ra Hành Lục (行錄) và Ngu Tập (虞集) soạn văn bia tháp.
trung phong phái
ChŪhō-ha (J)Tên một tông phái.
trung phạm
Vùng trung tâm Bắc Ấn Độ—Central North India.
trung phẩm
Middle rank (class)—See Cửu Phẩm Liên Hoa and Cửu Phẩm An Dưỡng.
trung quán
Một trong ba phép quán. Tông Thiên Thai lấy việc quán chư pháp tuyệt đối làm Trung quán—Meditation on the Mean, one of the three kinds of meditation—T'ien-T'ai sect consider the meditation on the absolute which unites all opposites—Meditation of the mean to get rid of the illusion of phenomena.
trung quán cụ duyên phái
Mādhyamika-prasanghika (S)Tên một tông phái.
Trung quán luận
中觀論; C: zhōngguān lùn; J: chūkanron;|Trung luận.
trung quán luận
Mādhyamaka (S), u ma (T), Mādhyamika (S), Mādhyamika-śāstra (S)Trung luận, Trung bổnGồm 496 câu kệ, chia làm 27 phẩm: 25 phẩm đầu phá mê chấp của Đại thừa, 2 phẩm sau phá mê chấp của Tiểu thừa, do Ngài Long Thọ Bồ tát soạn, Ngài Thanh Mục Bồ tát và Cưu ma la thập dịch sang chữ Tàu Xem Trung luận.
; Madhyamaka-sàstra.
; Trung Luận—Madhyamika-Sastra (skt)—Bộ luận thứ nhất và cũng là bộ luận chính trong ba bộ luận chính của Tam Tông Luận. Bộ Trung Quán Luận do Ngài Long Thọ biên soạn, may mắn nguyên bản tiếng Phạn vẫn còn tồn tại. Bản Hán văn do Ngài Cưu Ma La Thập dịch. Tác phẩm nầy gồm 400 bài tụng, trong đó Ngài Long Thọ đã bác bỏ một số những kiến giải sai lầm của phái Tiểu Thừa hay của các triết gia thời bấy giờ, từ đó ông bác bỏ tất cả những quan niệm duy thức và đa nguyên để gián tiếp thiết lập học thuyết “Nhất Nguyên” của mình. Triết học Trung Quán không phải là chủ thuyết hoài nghi mà cũng không phải là một chủ thuyết bất khả tri luận. Nó là một lời mời gọi công khai đối với bất cứ ai muốn trực diện với thực tại. Theo Nghiên Cứu về Phật Giáo, ngài Tăng Hộ đã nói về lý tưởng Bồ Tát trong Trung Quán như sau: “Phật Giáo có thể ví như một cái cây. Sự giác ngộ siêu việt của Đức Phật là rễ của nó. Phật Giáo cơ bản là cái thân cây, các học thuyết Đại Thừa là nhánh của nó, còn các phái và chi của Đại Thừa là hoa của nó. Bây giờ, dù hoa có đẹp đến thế nào thì chức năng của nó là kết thành quả. Triết học, để trở thành điều gì cao hơn là sự suy luận vô bổ, phải tìm động cơ và sự thành tựu của nó trong một lối sống; tư tưởng cần phải dẫn tới hành động. Học thuyết nầy sinh ra phương pháp. Lý tưởng Bồ Tát là trái cây hoàn mỹ chín mùi trên cây đại thụ của Phật Giáo. Cũng như trái cây bao bọc hạt giống, vì vậy bên trong lý tưởng Bồ Tát là sự kết hợp của tất cả những thành tố khác nhau, và đôi khi dường như chia rẽ của Đại Thừa.” Theo Jaidev Singh trong Đại Cương Triết Học Trung Quán, chúng ta thấy rằng những nét chính yếu của triết học Trung Quán vừa là triết học vừa là thuyết thần bí. Bằng cách xử dụng biện chứng pháp và chiếu rọi sự phê bình vào tất cả những phạm trù tư tưởng , nó đã thẳng tay vạch trần những khoa trương hư trá của lý trí để nhận thức Chân Lý. Bây giờ người tầm đạo quay sang với thiền định theo những hình thức khác nhau của 'Không Tánh,” và thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nhờ thực hành tinh thần đức hạnh Du Già, người tầm đạo theo Trung Quán dọn đường để tiếp nhận Chân Lý. Tại giai đoạn sau cùng của Bát Nhã, những bánh xe tưởng tượng bị chận đứng, tâm trí vọng động lắng đọng tịch tịnh lại, và, trong sự tịch tịnh đó, Thực Tại cúi hôn lên đôi mắt của người tầm đạo; kẻ đó đón nhận sự tán dương của Bát Nhã và trở thành hiệp sĩ phiêu du của Chân Lý. Đây là kinh nghiệm thuộc về một chiều khác, một chiều vô không gian, vô thời gian, nó siêu việt lên trên lãnh vực của tư tưởng và ngôn ngữ. Cho nên nó không thể diễn đạt được bằng bất cứ ngôn ngữ nào của nhân loại—The first and principle work of the three main works of the Middle School, composed by Nagarjuna. Fortunately the Sanskrit text of it has been preserved. It was translated into Chinese by Kumarajiva. It is a treatise of 400 verses in which Nagarjuna refutes certain wrong views of Mahayana or of general philosophers, thereby rejecting all realistic and pluralistic ideas, and indirectly establishing his monistic doctrine. The Madhyamaka system is neither scepticism nor agnosticism. It is an open invitation to every one to see Reality face to face. According to the Survey of Buddhism, Sangharakshita's summary of the Madhyamaka system as follows: “Buddhism may be compared to a tree. Buddha's transcendental realization is the root. The basic Buddhism is the trunk, the distinctive Mahayana doctrines the branches, and the schools and subschools of the Mahayana the flowers. Now the function of flowers, however beautiful, is to produce fruit. Philosophy, to be more than barren speculation, must find its reason and its fulfilment in a way of life; thought should lead to action. Doctrine gives birth to method. The Bodhisattva ideal is the perfectly ripened fruit of the whole vast tree of Buddhism. Just as the fruit encloses the seeds, so within the Bodhisattva Ideal are recombined all the different and sometimes seemingly divergent elements of Mahayana.” According to Jaidev Singh in An Introduction To Madhyamaka Philosophy, we have seen the main features of Madhyamaka Philosophy. It is both philosophy and mysticism. By its dialectic, its critical probe into all the categories of thought, it relentlessly exposes the pretensions of Reason to know Truth. The hour of Reason's despair, however, becomes the hour of truth. The seeker now turns to meditation on the arious forms of 'Sunyata,' and the practice of 'Prajnaparamitas.' By moral and yogic practices, he is prepared to receive the Truth. In the final stage of Prajna, the wheels of imagination are stopped, the discursive mind is stilled, and in that silence Reality stoops to kiss the eye of the aspirant; he receives the accolade of prajna and becomes the knighterrant of Truth. It is an experience of a different dimension, spaceless, timeless, which is beyond the province of thought and speech. Hence it cannot be expressed in any human language.
Trung quán luận sớ
中觀論疏; C: zhōngguānlùn shū; J: chūkanron so;|Tác phẩm của Gia Tường Đại sư Cát Tạng đời Tuỳ, gồm 20 quyển.
trung quán luận tụng
Mulā-madhyamaka-śāstra (S), Mādhyamakākārikā (S)Do ngài Ling Thọ biên soạnXem Căn bản Trung quán luận tụng.
trung quán minh cú luận thích
Mādhyamakavṛtti-prasannapadā (S), Prasannapadā (S)Minh cú luậnDo ngài Nguyệt Xứng biên soạnXem Minh cú luận.
Trung quán phái
中觀派; C: zhōngguān pài; J: chūgan ha; S: mādhyamika.|Trung quán tông.
trung quán thích luận
Xem Đặi thừa Trung quán thích luận.
trung quán tâm luận tụng
Mādhyamaka-hṛdaya-kārikā (S)Tác phẩm của ngài Thanh Biện.
Trung quán tông
中觀宗; hay Trung luận tông (中論宗); S: mā-dhyamika;|Một trường phái Ðại thừa, được Long Thụ (s: nāgārjuna) và Thánh Thiên (āryadeva) thành lập. Tông này có ảnh hưởng lớn tại Ấn Ðộ, Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và Việt Nam. Ðại diện xuất sắc của phái này, bên cạnh hai vị sáng lập, là Phật Hộ (tk. 5), Thanh Biện (tk. 6), Nguyệt Xứng (tk. 8), Tịch Hộ (tk. 8) và Liên Hoa Giới (tk. 8). Những Ðại Luận sư này có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển đạo Phật tại Tây Tạng.|Tên gọi của tông này dựa trên quan điểm »trung quán«, quan điểm trung dung về việc sự vật có hay không có. Với quan điểm Bát bất (xem dưới Long Thụ), Long Thụ cho rằng mọi mô tả về sự vật đều không đúng và Sư nêu rõ tính chất ảo giác và tương đối của sự vật. Vì tất cả mọi sự đều dựa lên nhau mà thành (Mười hai nhân duyên), cho nên chúng không tồn tại độc lập, không có tự ngã (s: ātman), tự tính (s: svabhāva), trống rỗng. Cái trống rỗng, cái tính Không (s: śūnyatā) trong Trung quán tông có một ý nghĩa hai mặt: một mặt, tính Không không có một tự ngã nào; mặt khác, tính Không đồng nghĩa với sự giải thoát, vì tính Không chính là bản thể tuyệt đối. Chứng ngộ được tính Không tức là giải thoát. Muốn đạt được điều này, người ta phải thoát khỏi tâm thức thị phi. Ðối với Trung quán tông thì tính Không là thể tính cuối cùng, đồng nghĩa với Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Vì quan điểm Không toàn triệt nói trên mà Trung quán tông có khi được gọi là Không tông (śūnyavāda).|Muốn đạt được bản thể tuyệt đối, người ta phải vượt qua chân lí tương đối. Vì vậy phái này cũng có quan điểm riêng về »Chân lí hai mặt« (二諦; Nhị đế; s: satyadvaya), họ gọi chân lí thông thường là tục đế hay Chân lí quy ước (s: saṃṛvṛti-satya). Chân lí quy ước này dành cho hiện tượng và khái niệm thế gian, chúng vốn bị tính chất nhị nguyên quy định. Chân lí tuyệt đối, Chân đế (para-mārtha-satya) thì giản đơn, không còn các mặt đối lập. Lí luận thông thường có thể tiếp cận tục đế, tuy không phải là chân lí cuối cùng, nhưng chúng cũng có giá trị nhất định. Vì vậy, không phải cứ chấp nhận tính Không, Vô ngã (anātman) là phủ nhận kinh nghiệm của con người. Ðời sống của một hành giả Trung quán tông cũng phải phản ánh quan điểm đó, nghĩa là, đối với bên ngoài, người đó cũng xem Khổ như là có thật, cũng phải giữ Giới và cố gắng giúp tất cả mọi người giải thoát. Nhưng người đó thật tâm biết rằng, những hành động đó chỉ giả tạo mà thôi.|Các tác phẩm của Long Thụ còn giúp phát triển ngành Nhân minh học (因明學; s: hetuvidyā). Ngành này cũng chịu ảnh hưởng của trường phái lớn thứ hai của Ðại thừa Ấn Ðộ là Duy thức tông (vijñānavāda, yogācāra) và ngược lại ngành Nhân minh học cũng mài dũa cho Trung quán tông những lí luận sắc bén. Trong lĩnh vực Nhân minh, Duy thức tông cũng góp phần quan trọng, trả lời những câu hỏi mà Trung quán tông không có ý kiến, không đề cập đến như cách phát sinh của thế giới hiện tượng.|Sau Thánh Thiên (聖天; āryadeva) thì Phật Hộ (佛護; buddhapālita) là người đại diện xuất sắc của Trung quán tông. Sư có viết bài luận về (Căn bản) Trung quán luận tụng ([mūla-] madhyamaka-kāri-kā), tác phẩm chính của Long Thụ. Trong bộ này, với tên Phật Hộ căn bản trung quán luận thích (buddhapālita-mūlamadhyamaka-vṛtti), Sư đả phá quan điểm của những kẻ đối nghịch và những kết luận (prasaṅga) sai trái của họ, có thể gọi là »phá tà hiển chính,« nghĩa là không nêu quan điểm của chính mình, chỉ dựa vào những nhược điểm, những mâu thuẫn hiển hiện của đối thủ mà đả phá họ. Sư thành lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; cũng gọi là Trung quán-Ứng thành tông; 中觀應成宗; s: prāsaṅgika-mādhyamika) – tên gọi tông này dựa trên phương pháp đó.|Thanh Biện (清辯; bhāvaviveka) áp dụng luận lí học của Duy thức tông và Nhân minh học của Trần-na (陳那; dignāga) trong thuyết Trung luận của mình. Sư hay nhấn mạnh đến »tính hợp quy luật«, xây dựng luận thức độc đáo của chính mình và sau đó tiến tới bác bỏ lập luận đối phương. Vì thế nên hệ phái của Sư mang tên là Trung quán-Tự ý lập tông (中觀自意立宗) hay Trung quán-Y tự khởi tông (中觀依自起宗; svātantrika-mādhyamika). Sư cũng phân tích và phê bình các luận sư khác và công kích luôn cả Phật Hộ. Cho Trung quán tông thì việc Thanh Biện đưa những quan niệm trung tâm của Duy thức tông vào – tất nhiên là có biến đổi đôi chút – chỉ làm thêm phong phú và thúc đẩy sự phát triển. Tất nhiên qua đó Thanh Biện có nhiều sai biệt với các luận sư khác, như về thể tính của ý thức, sư xem nó chỉ là một phần của thế giới hiện tượng.|Nguyệt Xứng (月稱; candrakīrti) thì cố gắng trở về với giáo lí nguyên thuỷ của Long Thụ. Sư tự xem mình là người thừa kế Phật Hộ và từ chối quan điểm của Thanh Biện, từ chối đưa ra bất cứ một hệ luận nào vì cho rằng Trung quán tông đích thật không chủ trương một quan điểm nào cả. Sư soạn một bài luận giải tác phẩm Trung quán luận của Long Thụ và trong đây, sư chứng minh hệ thống của Phật Hộ là đúng. Với xác nhận này, sư phản ứng những quan điểm được Thanh Biện đề ra để bài xích một vài điểm trong hệ thống của Phật Hộ. Sư nêu rõ là một người có quan điểm trung dung không nên đề ra những luận tam đoạn (三段論法; Tam đoạn luận pháp; e: syllogism) độc lập mà trong đó, cả ba chi của một luận điểm tự lập, tự khởi.|Một luận sư khác quan trọng của Trung quán tông là Tịch Thiên (寂天; śāntideva, tk. 7/8), là người nổi danh với hai tác phẩm Nhập bồ-đề hành luận (入菩提行論; bodhicaryāvatāra), trình bày con đường tu tập của một Bồ Tát và Tập Bồ Tát học luận (集菩薩學論; śikṣāsamuccaya), trình bày các quy định tu học của một vị Bồ Tát.|Trung quán tông đóng một vai trò quan trọng trung tâm trong Phật giáo Tây Tạng, kể từ thế kỉ thứ 8. Ðiều đó có lẽ xuất phát từ hoạt động của luận sư Tịch Hộ (寂護; śāntarakṣita) và môn đệ là Liên Hoa Giới (蓮華戒; kamalaśīla). Thời đó, hai vị này đại diện cho tông Trung quán-Duy thức (yogā-cāra-svātantrika-mādhyamika), đưa những quan điểm Duy thức vào giáo lí của Long Thụ. Tương truyền Liên Hoa Giới tham dự một cuộc tranh luận với Thiền tông tổ chức tại Tây Tạng. Trong cuộc tranh luận đó Liên Hoa Giới thắng lợi và sau đó nhà vua Tây Tạng tuyên bố lấy Trung quán tông làm giáo pháp chính thống. |Trong thế kỉ thứ 11, với việc truyền bá giáo pháp lần thứ hai tại Tây Tạng, quan điểm Trung quán của Nguyệt Xứng lại thắng lợi. Cũng trong thời gian đó lại nẩy sinh một hệ phái Trung quán khác, một sự tổng hợp với giáo pháp của Vô Trước (無著; asaṅga). Giữa thế kỉ 11 và 14, Tây Tạng lại tổng hoà các tông phái khác nhau của Trung quán và tiếp tục phát triển. Giữa thế kỉ 14 và 16, tại Tây Tạng có 4 hệ phái của Trung quán. Trung quán tông phát triển đến mức tuyệt đỉnh và luôn luôn được luận giải mới mẻ, sinh động. Ðến thế kỉ thứ 19, phong trào Ri-mê của Tây Tạng lại tìm cách đổi mới cách sắp xếp thứ tự quan điểm của Trung quán tông. Các quan điểm triết học của Trung luận được trình bày trong các loại luận được gọi là Tất-đàn-đa (s: siddhānta) tại Tây Tạng. Ngoài ra người ta còn tìm thấy trong các loại sách phổ thông chú trọng về các phương pháp tu tập để chứng ngộ được trực tiếp giáo lí của Trung quán tông.
trung quán tông
Mādhyamika (S), dbu ma pa (T), School of the Middle.
; Madhyamaka (skt)—See Trung Luận Tông, and Trung Quán Luận.
Trung Quốc
(中國, Chūgoku): vùng địa phương phía Tây Nhật Bản gồm 5 huyện lớn là Okayama (岡山), Hiroshima (廣島), Yamaguchi (山口), Shimane (島根) và Tottori (鳥取).
trung quốc
Madhyadesa (S). The middle kingdom, i.e. Central North India.
; Madhyadesa (skt)—Vương quốc trung tâm hay vùng trung bắc Ấn bây giời—The middle kingdom—Central North India.
trung quốc sư
ChŪ Kokushi (C).
trung sĩ
Sravakas and Pratyeka-buddhas—Những bậc có thể đạt được giải thoát cho chính mình, chứ không giúp được người giải thoát—Disciples who profit self but not others—Those who can gain emancipation for themselves, but cannot confer it on others.
trung thai
See Trung Thai Tạng.
trung thai tạng
Phật Tỳ Lô Giá Na là hình ảnh trung tâm của Thai Tạng, xung quanh Ngài là 4 vị Phật và 4 vị Bồ tát—The central figure of the eight petalled group of the Garbhadhatu mandala—The phenomenal Vairocana who has around him four Buddhas and four bodhisattvas, each on a petal—See Trung Đài Bát Diệp Viện.
trung thiên
Trung Thiên Trúc—See Trung Quốc.
trung thiên thế giới
Dvīsahassilokadhātu (P), Majjhimalokadhātu (P).
; A middling chiliocosm. Xem Tam thiên đại thiên thế giới
; A middling chiliocosmos—See Đại Thiên Thế Giới.
trung thiên trúc tự
Một tự viện trên đỉnh Phi Lai thuộc Hàng Châu—A monastery on the Fei-Lai peak at Hangchow.
trung thành
Faithful—Loyal.
Trung Thôn Hữu Vệ Môn
(中村歌右衛門, Nakamura Utaemon, 1778-1838): diễn viên Ca Vũ Kỷ, thuộc đời thứ 3, con của người diễn viên đời đầu, hiệu của kịch trường là Gia Hạ Ốc (加賀屋), tên thường dùng khi xuất diễn là Chi Ngoạn (芝翫), Mai Ngọc (梅玉), Ca Thất (歌七); bổn danh là Đại Quan Thị Binh Vệ (大關市兵衛, Ōzeki Ichibei); nhã danh là Bách Hí Viên (百戲園), biệt danh là Kim Trạch Long Ngọc (金澤龍玉); xuất thân Ōsaka. Phong cách nghệ thuật là diễn xuất về thiện ác, già trẻ nam nữ, thời đại với cuộc đời; tất cả ông đều rất sành điệu.
trung thảo
1) Thảo mộc loại trung bình: Medium-sized herbs. 2) Ám chỉ người có khả năng trung bình: Implies those who have medium capacity.
Trung Thần Liêm Tử
(中臣鎌子, Nakatomi-no-Kamako, 614-669): tên gọi ban đầu của Đằng Nguyên Liêm Túc (藤原鎌足, Fujiwara-no-Kamatari), vị tổ của dòng họ Đằng Nguyên. Chính ông đã tiêu diệt nhà Đại Thần Tô Ngã (曽我) để cứu Hoàng Tử Trung Đại Huynh (中大兄). Ông đã lập công lớn trong cuộc Cách Tân Đại Hóa (大化). Cho đến thời Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671) ông làm Đại Chức Quan (大織冠), Nội Đại Thần (內大臣), được thờ phụng tại Đàm Sơn Thần Xã (談山神社). Dòng họ ngày xưa của ông chuyên đảm đương việc tế tự trong triều đình, ban đầu thì được gọi là Trung Thần Muraji (中臣連), rồi đến Trung Thần Triều Thần (中臣朝臣) và Đại Trung Thần Triều Thần (大中臣朝臣). Chính vì lẽ đó, Trung Thần Liêm Tử được ban cho họ là Đằng Nguyên, nên sau ông tách riêng dòng họ Trung Thần và lập nên dòng họ mới.
trung thọ
Age between fifty and seventy.
Trung thừa
中乘; S: madhyamā-yāna;|Danh từ chỉ cỗ xe giữa Tiểu thừa và Ðại thừa, đó là Ðộc giác thừa, Ba thừa.
trung thừa
Mādhyamayāna (S),Middle Vehicle.
; Madhyamika (skt)—Trung thừa là trường phái phối hợp giữa Tiểu và Đại thừa, phù hợp với tình trạng tu hành của Duyên Giác, chủ yếu là giải thoát cho mình, nhưng vẫn có một phần cứu độ chúng sanh. Trung Thừa là một từ ngữ chỉ cho giáo thuyết của Đức Phật, dạy về cách tránh thái quá bất cập hay cực đoan, như hưởng thụ hay khổ hạnh. Đặc biệt hơn, Trung Thừa chỉ cho phái Trung Đạo do ngài Long Thọ sáng lập, giáo lý nầy dạy chúng ta nên đi trên đường Trung Đạo và nên tránh hai đối vị như chủ trương tánh hiện hữu hay không hiện hữu của vạn vật—The middle vehicle to nirvana, includes all intermediate or medial systems between Hinayana and Mahayana. It also corresponds with the state of a pratyeka-buddha, who lives chiefly for his own salvation but partly for others. Middle Way Philosophy, a term for the way of Sakyamuni Buddha, which teaches avoidance of all extremes such as indulgence in the pleasures of the senses on one side and self-mortification and ascetisim on the other. More specifically, it refers to the Madhyamika (Middle Way) school founded by Nagarjuna, which refrains from choosing beween opposing positions, and in relation to the existence and non-existence of all things, treads a middle way.
trung thừa (thặng)
The middle vehicle to nirvàna, includes all intermediate or medial systems between Hìnayàna and Mahàyàna.
trung thực
1) Sau bữa ăn trưa, không thể ăn món chi—The midway meal, after which nothing whatever may be eaten. 2) See Trung Đạo Thực Tướng.
trung trinh
Loyal and pure.
trung tuyến
Suṣuṃṅā-nāḍī (S),Central channel, AvadhŪti (S), Suṣuṃṅā-nāḍī (S)Bắt nguồn từ đốt xương sống cuối chạy dọc theo xương sống xuyên qua năm trung khu lên đến đỉnh đầu.
trung tuần
Period between 11th and 20th of the lunar month.
trung tâm
1) Ngay chính giữa: Center. 2) Tâm trung tín: Sincerity—Loyal—Faithful—Honest. 3) Trung Tâm Tịnh Xá: See Tịnh Xá Trung Tâm.
trung tín
See Trung thành.
trung tính
Indifferent—Neutral
trung tôn
The central honoured one - in any group of Buddhas, e.g. Bất Động Tôn among the five Minh Vương.
; Vị ở chính giữa trong hàng chư tôn—The central honoured one (in any group of Buddhas).
trung tông
Chung-tsung (C).
; Pháp Tướng Tông—Dharmalaksana school, which divides the Buddha's teaching into three periods: 1) Hữu: The first period in which he preached existence (hữu). 2) Không: The second period in which he preached non-existence (Không). 3) Trung: The third period in which he preached something “Between” (a realm of pure spirit).
trung túc y
1) Áo mặc trong cho chư Tăng—A monk's inner garment. 2) An Đà Hội, tên khác của áo Cà-Sa năm mảnh: Another name for the five patch garment.
Trung Tầm
(忠尋, Chūjin, 1065-1138): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời đại Bình An, húy là Trung Tầm (忠尋), thông xưng là Đại Cốc Tọa Chủ (大谷座主), xuất thân vùng Tá Độ (佐渡, Sado, thuộc Niigata-ken [新潟縣]), con trai của Thủ Nguyên Trung Quý (守源忠季). Ông theo học Hiển Mật với Trường Hào (長豪, Chōgō) và Giác Tầm (覺尋, Kakujin) ở trên Tỷ Duệ Sơn, rồi thọ Quán Đảnh bí mật với Lương Hựu (良祐, Ryōyū). Vào năm 1118, ông làm Quyền Luật Sư, rồi năm 1121 thì làm Giảng Sư cho Tối Thắng Hội, và đến năm 1130 thì trở thành Thiên Thai Tọa Chủ và Đại Tăng Chánh. Ông đã hết mình phục hưng Thiên Thai giáo học của dòng Huệ Tâm (惠心, Eshin). Trước tác của ông có Hán Quang Loại Tụ (漢光類聚) 4 quyển, Thiên Thai Pháp Môn Danh Quyết Tập (天台法門名決集) 1 quyển, Pháp Hoa Lược Nghĩa Kiến Văn (法華略義見聞) 3 quyển, Tam Đại Bộ Kiến Văn (三大部見聞) 12 quyển, Pháp Hoa Ngũ Bộ Thư (法華五部書) 1 quyển, v.v.
trung tế
Madhyānta (S)Hiện tại.
Trung Tỉnh Lí Hiên
(中井履軒, Nakai Riken, 1732-1817): Nho gia sống vào khoảng giữa và cuối thời Giang Hộ; tên là Tích Đức (積德); thông xưng là Đức Nhị (德二); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka); phụ thân là Trứu Am (甃庵) và anh là Trung Tỉnh Trúc Sơn (中井竹山). Ông theo học về Tống học với Ngũ Tỉnh Lan Châu (五井蘭洲) ở Hoài Đức Đường, rất tinh thông các học thuyết và đưa ra thuyết độc lập về Kinh Học. Sau ông mở trường Tư Thục Thủy Tai Quán (水哉館); và sau khi anh Trúc Sơn qua đời, ông kế thế làm Học Chủ của Hoài Đức Đường. Trước tác chủ yếu của ông có Tuất Hình Mao Nghị (恤刑茅議), Thất Kinh Phùng Nguyên (七經逢原), Hoa Tế Quốc Vật Ngữ (華胥國物語), v.v.
Trung Tỉnh Trúc Sơn
(中井竹山, Nakai Chikuzan, 1730-1804): Nho gia sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Tích Thiện (積善); tự Tử Khánh (子慶); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka). Phụ thân là Trứu Am (甃庵), Học Chủ đời thứ 2 của Hoài Đức Đường (懷德堂); em trai là Trung Tỉnh Lí Hiên (中井履軒). Ông theo học với Ngũ Tỉnh Lan Châu (五井蘭洲) ở Hoài Đức Đường, đến năm 1782 (Thiên Minh [天明] 2) thì làm Học Chủ đời thứ 4 của cơ sở học vấn này. Chính ông đã làm cho Hoài Đức Đường hưng thịnh đến tột đỉnh và chiếm vị trí trung tâm trong xã hội văn nhân ở Đại Phản. Ông có học phong tự do trên cơ sở của Chu Tử Học, và công kích mãnh liệt Cổ Văn Từ Học. Theo lời tư vấn của vị quan Lão Trung Tùng Bình Định Tín (松平定信), ông viết cuốn Thảo Mao Nguy Ngôn (草茅危言); và các tác phẩm khác như Dật Sử (逸史), Phi Trưng (非徵).
trung tọa
A monk or a nun who has from ten to nineteen years of renunciation.
Trung uẩn
中蘊; C: zhōngyùn; J: chūun;|Như Trung ấm (中陰), Trung hữu (中有).
trung y
Trung giá y—The middle garment of the monks—Another name for the uttara sanghati—The middle garment of price or esteem.
trung đài
Tên của vị Phật ở trung tâm Liên Hoa (Tỳ Lô Giá Na)—The name of a Buddha in the center of a lotus (Vairocana).
trung đài bát diệp viện
Điện Sen tám Cánh—The court of the eight-petalled lotus in the middle of the Garbhadhatu, with Vairocana (Tỳ Lô Giá Na) in the center and four Buddhas and four Bodhisattvas on the eight petals: (A) Phật Tỳ Lô Giá Na ở giữa: Vairocana Buddha in the center. (B) Bốn vị Phật trên bốn cánh chính-- Four Buddhas on the four petals: 1) Đông phương A Súc Bệ Phật: Aksobya in the East. 2) Nam phương Nam Phật: Ratnasambhava in the South. 3) Tây Phương A Di Đà Phật: Amitabha in the West. 4) Bắc phương Bất Không Phật: Amoghasiddhi in the North. (C) Bốn vị Bồ Tát trên bốn cánh phụ—Four Bodhisattvas in the four petals: 1) Đông Nam Phổ Hiền Bồ Tát: Samantabhadra in the Southeast. 2) Tây Nam Văn Thù: Manjusri in the Southwest. 3) Tây Bắc Quán thế Âm: Avalokitesvara in the Northwest. 4) Đông Bắc Di Lặc: Maitreya in the Northeast.
Trung Đạo
(s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道): Trung không có nghĩa là ở giữa, trung gian, mà có nghĩa là vượt qua hai lập trường cực đoan tương hổ, đối lập mâu thuẩn lẫn nhau, không trú ở bên nào cả và cũng không trú ở giữa. Đạo chỉ cho phương pháp thực tiễn. Nó chỉ cho sự chứng ngộ của đức Thích Tôn nhờ Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇa-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道) với nội dung tập trung tinh thần, không thiên chấp một bên nào cả, chủ nghĩa khổ hạnh hay chủ nghĩa khoái lạc. Đó được gọi là Trung Đạo của Không Khổ Không Lạc. Trong Phật Giáo thời kỳ đầu, Trung Đạo của Không Khổ Không Lạc này đóng vai trò chủ chốt; nhưng Trung Đạo của Không Đoạn Không Thường hay Trung Đạo của Phi Hữu Phi Vô cũng được đề cập đến. Tác phẩm Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250) đặt Duyên Khởi (緣起), Không Tánh (空性), Giả (假) và Trung Đạo đồng hàng với nhau; cho nên, Trung Quán Phái lấy Trung Đạo làm tiêu chỉ. Theo Du Già Hành Phái (瑜伽行派) đối tượng nhận thức không phải là cái bên ngoài, mà chỉ là sự hiển hiện của Thức, nên nó không phải là có (phi hữu); nhưng vì sự hiển hiện của Thức vốn tồn tại trong hiện thực, nên nó là không phải không có (phi vô). Vì vậy, họ chủ trương Duy Thức Trung Đạo (唯識中道); có nghĩa rằng trong Nhất Thiết Duy Thức (一切唯識, tất cả đều là tác dụng của nhận thức), tìm ra Trung Đạo. Hơn nữa, tại Trung Quốc, trên cơ sở của Trung Luận, Tam Luận Tông (三論宗) thì chủ trương Bát Bất Trung Đạo (八不中道) trên cở sở của Bất Sanh Bất Diệt (不生不滅, không sanh không diệt), Bất Thường Bất Đoạn (不常不斷, không thường không đoạn), Bất Nhất Bất Dị (不一不異, không một không khác), Bát Lai Bất Khứ (不來不去, không đến không đi); Thiên Thai Tông (天台宗) thì thuyết về Trung Đạo theo Tam Quán (三觀) của Không, Giả, Trung.
Trung đạo
中道; C: zhōngdào; J: chūdō; S: madhyamā-pratipadā; P: majjhimā-paṭipadā;|Ðược dùng chỉ chung các phương pháp giảng dạy của Phật Thích-ca, là người tránh những cực đoan trong cách tu học – như buông thả theo dục lạc và sống khổ hạnh tuyệt đối. Trung đạo cũng dùng để chỉ giáo pháp Trung quán của Long Thụ, là môn phái không chấp nhận một đối cực nào của mọi phân cực. Ðặc biệt, giáo pháp này không chọn lựa có-không và đi con đường trung dung, »trung đạo«.|Trong Tiểu thừa, Bát chính đạo được xem là Trung đạo vì thực hành Bát chính đạo, hành giả vừa xa lánh đời sống dục lạc và đời sống khổ hạnh, thoát khỏi Khổ. Thái độ này được đức Phật mô tả như sau: »Này các tỉ-khâu, có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai? một là mê đắm dục lạc, hạ liệt, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Này các tỉ-khâu, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết-bàn.|Này các tỉ khâu, Trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định« (kinh Chuyển pháp luân, bản dịch của Thích Minh Châu).|Trung đạo cũng được xem là thái độ từ bỏ hai quan điểm cực đoan thế giới là trường tồn hay hoại diệt, thế giới là có (hữu) hay không có (vô). Trong Trung quán tông, Trung đạo được trình bày rõ nhất với quan điểm tám phủ nhận (bát bất) của Long Thụ:|不生亦不滅。不常亦不斷|不一亦不異。不來亦不出|Bất sinh diệc bất diệt|Bất thường diệc bất đoạn|Bất nhất diệc bất dị|Bất lai diệc bất xuất.|*Không phải sinh cũng không phải diệt,|Không phải một cũng không phải khác,|Không phải thường cũng không phải đoạn,|Không phải đi cũng không phải đến.|Trong Duy thức tông, Trung đạo được hiểu là vừa không xem sự vật tồn tại thật sự (vì sự vật thật tế không hề tồn tại), vừa cũng không cho rằng sự vật không hề có (vì sự vật tồn tại đối với ảo giác tâm lí). Theo Thiên Thai tông, Trung đạo là sự nhận thức rằng, mọi sự vật trống rỗng, chúng không có một thật thể độc lập, nhưng đồng thời chúng có giá trị nhất định, tạm thời – vì chúng là những trình hiện nên có một thọ mệnh nhất định. Sự tổng hợp giữa tính Không (s: śūnyatā) và thế giới hiện tượng chính là Trung đạo đích thật – theo tông này.
trung đạo
Mādhyamā-pradipadā (S), Majjhimāpaṭipadā (P), u ma (T), ChŪdō (J), The Middle, Middle Path, Middle-way.
; Chẳng lọt hai bên tương đối gọi là Trung đạo, cũng chẳng trụ nơi chính giữa.
; Madhya or Madhyama (skt). • Con đường giữa mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã tìm ra, khuyên người nên từ bỏ nhị biên, tránh làm các điều ác, làm các điều lành và giữ tâm thanh tịnh. Trung Đạo có nghĩa là “bất nhị (không hai)”. Trung Đạo vượt trên hữu vô, nhưng chứa đựng tất cả. Đức Phật dạy: “Khi phân biệt bị loại bỏ thì trung đạo được đạt đến, vì chân lý không nằm trong sự cực đoan mà là trong trung đạo.”—Middle way—The “mean” between two extremes (between realism and nihilism, or eternal substantial existence and annihilation or between), the idea of a realm of mind or spirit beyond the terminology of substance (hữu) or nothing (vô); however, it includes both existence and non-existence—Middle path—Sakyamuni Buddha discovered the Middle Path which advises people to give up extremes, to keep away from bad deeds, to do good and to purify the mind—The Eightfold Noble Path. The Buddha taught: “When discrimination is done away with, the middle way is reached, for the Truth does not lie in the extreme alternatives but in the middle position.” • Học thuyết về Trung Đạo khởi thủy có nghĩa là con đường giữa của hai thái cực lạc quan và bi quan. Địa vị chính giữa như vậy lại là thái cực thứ ba, không nghiêng theo bên đường nầy hay bên đường kia là ý chỉ của Phật. Chắc chắn như vậy, vì Đức Phật bắt đầu bằng con đường giữa nầy coi như một bước tiến duy nhất cao hơn những cực đoan thông thường kia. Tuy nhiên, từng cấp hướng thượng của nấc thang biện chứng sẽ nâng dần chúng ta lên cao mãi cho đến lúc đạt tới giai đoạn loại hẳn thiên kiến của phản đề về 'hữu' và 'vô,' và siêu việt chúng bằng một tổng đề về duy tâm luận. Trung Đạo cũng có ý vị như là Chân Lý Tối Cao—The doctrine of the Middle Path means in the first instance the middle path between the two extremes of optimism and pessimism. Such a middle position is a third extreme, tending neither one way nor the other is what the Buddha wanted to say. The Buddha certainly began with this middle as only one step higher than the ordinary extremes. A gradual ascent of the dialectical ladder, however, will bring us higher and higher until a stage is attained wherein the antithetic onesidedness of ens and non-ens is denied and transcended by an idealistic synthesis. In this case the Middle Path has a similar purport as the Highest Truth. • Theo Kinh Giáo Thọ Ca Chiên Diên, Đức Phật đã nói với tôn giả Ca Diếp: “Nầy ông Ca Diếp! 'Là' là một cực đoan, 'không là' cũng là một cực đoan. Cái được coi là trung đạo thì không thể sờ thấy, không thể so sánh, không nơi chốn, không hiển hiện, không thể giải thích. Ông Ca Diếp, đó chính là trung đạo. Trung đạo là sự cảm nhận Thực Tại.” Những sự cực đoan trở thành những con đường không có lối thoát của chủ thuyết vĩnh hằng và đoạn diệt. Có những người chỉ bám víu vào 'vô,' hoặc có những người chỉ bám víu vào 'hữu.' Đức Phật đã xử dụng thuyết Trung Đạo để vạch ra chân lý mọi sự vật trên thế giới nầy không phải là 'hữu' tuyệt đối, mà cũng không phải là 'vô' tuyệt đối. Kỳ thật, mọi vật đều có sanh có diệt, tạo nên sự chuyển hóa liên tục không ngừng. Trung Đạo có nghĩa là thực tại siêu việt đối với những cách lý luận nhị phân của lý trí và thực tại không thể bị hạn định hoặc đóng khung trong những lựa chọn 'là,' 'không là.'—In the Katyayanavavade sutra, the Buddha told Maha-Kasyapa: “Kasyapa! 'It is one extreme alternative, not is' is another extreme alternative. That which is the madhyama position is intangible, incomparable, without any position, non-appearing, incomprehensible. That is what is meant by madhyama position. Kasyapa! It is perception of Reality.” Extremes become the dead ends of eternalism and annihilism. There are those who cling exclusively to nonbeing and there are others who cling exclusively to being. By his doctrine of Middle Way (madhyama pratipat), the Buddha meant to show the truth that things are neither absolute being nor absolute nonbeing, but are arising and perishing, forming continuous becoming, and that Reality is transcendent to thought and cannot be caught up in the dichotomies of the mind.
Trung đạo giáo
中道教; C: zhōng dàojiào; J: chūdōkyō;|Là »thời kì thứ ba« trong giáo lí do đức Phật giảng dạy (theo Pháp tướng tông), giáo lí về tính Không trong thời kì thứ hai và giáo lí về Hữu của thời kì thứ nhất được chấm dứt, nhường lại cho sự xiển dương giáo lí »phi không phi hữu« (theo kinh Giải thâm mật 解深密經).
trung đạo giáo
See Trung Đạo Tông.
trung đạo không
Cái “không của cửa phương tiện. Đây là từ ngữ của trường phái Thông Giáo—The “void” of the means. This is the term of the Intermediate Schools. ** For more information, please see Bất Đản Không.
trung đạo quán
Một trong tam quán của tông Thiên Thai, quán lý trung đạo để đoạn hoặc vô minh—One of the T'ien-T'ai three kinds of meditation, on the doctrine of the mean to get rid of the illusion of phenomena.
trung đạo thực tướng
Thực tướng của chư pháp là phi hữu phi không (đây là trung đạo phi hữu phi không)—The reality of the “means” is neither substance (existent), nor void (non-existent), but is a reality which is neither, or a mean between the two extremes of materialism and nihilism.
Trung đạo tông
中道宗; C: zhōngdàozōng; J: chūdōshū;|1. Trường phái Trung Đạo của Đại thừa Phật giáo Ấn Độ, được thành lập căn cứ vào triết học Tính không do Long Thụ đề xướng, thường được gọi là Trung quán phái (中觀派) tại Trung Hoa; 2. Một trường phái xuất hiện trong thời Cao Li (k: koryǒ) ở Hàn Quốc, sau nầy được xem là chi phái mở rộng của Pháp tính tông (法性).
trung đạo tông
Theo Pháp Tướng Tông, thời kỳ giáo thuyết thứ ba của Đức Phật, vạch ra lối Trung Đạo giữa hai thái cực, chân lý tuyệt đối không bị đóng khung trong hai thái cực sự và lý—The third period of the Buddha's teaching, according to the Dharmalaksana, giving the via media between the two extremes, the absolute as not confined to the phenomenal or the noumenal.
trung đạo đệ nhứt nghĩa
Chư pháp chẳng qua đều ở trong trung đạo nên gọi là đệ nhứt nghĩa—The “mean” is the first and the chief of all principles, nothing is outside it.
trung đạo ấn pháp giới
The doctrine of the “mean” is the dharmadhatu or the spiritual universe.
trung đạo ứng bổn
Theo nghĩa của hai giáo Biệt Viên, lấy trung đạo viên thực làm căn bản của ứng hóa thân—The “mean” as the basic principle in the special and perfect teachings of the doctrine of the transformation body.
trung đẳng
Middle class.
trung đế
Đế thứ ba trong Tam Đế do trường phái Thiên Thai đặt ra. Trung Đế có nghĩa là trung chính tuyệt đối, bất ly nhị biên, bất tức nhị biên (không xa lìa hai bên, mà cũng chẳng phải là hai bên)—The third of the three postulates of the T'ien-T'ai school.
Trung ấm
中陰; C: zhōngyīn; J: chūin; T: bar-do; S: anta-rābhava; |1. Trạng thái trung gian sau khi chết và trước khi thụ nhận một hữu thể khác; 2. Bốn mươi chín ngày đầu tiên sau khi chết (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論). Trung hữu
trung ấm
Bardo (T), Antarābhava (S)Bạt đôThời kỳ chuyển tiếp của giai đoạn thoát ly thân xác giữa lúc chết và tái sinh.
; Bardo (Tib). Intermediate state. Xem trung hữu.
; Còn gọi là Trung Hữu là sự hiện hữu giữa lúc chết và lúc đầu thai, giai đoạn thay đổi từ bảy đến 49 ngày—The intermediate existence between death and reincarnation, a stage varying from seven to forty-nine days, when the karma-body will certainly be reborn. ** For more information, please see Antara-bhava in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
trung ấm pháp sự
Những phương cách được gia đình người chết áp dụng khoảng 49 ngày giữa lúc chết và lúc đầu thai, để bảo đảm cho người chết được tái sanh vào cõi tốt hơn---The means used by the deceased's family for ensuring a favorable reincarnation during the intermediate stage, between death and reincarnation.
trung ấn
Trung tâm Ấn Độ—Central India.
truy
1) Cái vồ: A hammer. 2) Truy đuổi: To follow after—To Pursue—To chase.
truy cứu
To search out—To investigate.
truy dịch quỷ
Đôi Dịch Quỷ—Phụ Trường Quỷ—Truy Dịch Quỷ là loại quỷ quấy phá gây trở ngại cho người hành thiền—A demon of the nerves who troubles those who sit in meditation.
truy hoan
To pursue (seek) pleasures.
truy nguyên
To trace back to its source.
truy niệm
To recall—To remember.
truy phúc
Tang lễ tiễn đưa người chết với những nghi thức cầu nguyện cúng dường phước đức cho người ấy—To pursue the departed with rites for their happiness.
Truy tiến
(追薦): còn viết là truy thiện (追善), truy phước (追福), truy tu (追修), truy nghiêm (追嚴), v.v. Truy tiến nghĩa là tiến cúng cầu phước cho người quá vãng. Truy thiện lại có nghĩa là vì người quá vãng mà tiến hành những việc thiện như tụng kinh, bái sám, cầu vong linh siêu độ. Cho nên, truy tiến là điển ngữ, còn truy thiện là từ thông tục. Như trong Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Sớ (佛說盂蘭盆經疏, Taishō Vol. 39, No. 1792) quyển Thượng, do Sa Môn Tông Mật (宗密, 780-841) thuật, có câu: “Toại sưu sách Thánh hiền chi giáo, kiền cầu truy tiến chi phương (逐搜索聖賢之敎、虔求追薦之方, bèn tìm tòi lời dạy Thánh hiền, khẩn cầu phương cách cầu siêu).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 60, có đoạn: “Trại nội dương khởi trường phan, thỉnh phụ cận tự viện tăng chúng thượng sơn tố công đức, truy tiến Triều Thiên Vương (寨內揚起長旛、請附近寺院僧眾上山做功德、追薦晁天王, trong làng dựng lên là phan dài, cung thỉnh tăng chúng ở tự viện lân cận lên núi làm công đức, cầu siêu độ cho Triều Thiên Vương).”
; (追薦): còn viết là truy thiện (追善), truy phước (追福), truy tu (追修), truy nghiêm (追嚴), v.v. Truy tiến nghĩa là tiến cúng cầu phước cho người quá vãng. Truy thiện lại có nghĩa là vì người quá vãng mà tiến hành những việc thiện như tụng kinh, bái sám, cầu vong linh siêu độ. Cho nên, truy tiến là điển ngữ, còn truy thiện là từ thông tục. Như trong Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Sớ (佛說盂蘭盆經疏, Taishō Vol. 39, No. 1792) quyển Thượng, do Sa Môn Tông Mật (宗密, 780-841) thuật, có câu: “Toại sưu sách Thánh hiền chi giáo, kiền cầu truy tiến chi phương (逐搜索聖賢之敎、虔求追薦之方, bèn tìm tòi lời dạy Thánh hiền, khẩn cầu phương cách cầu siêu).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 60, có đoạn: “Trại nội dương khởi trường phan, thỉnh phụ cận tự viện tăng chúng thượng sơn tố công đức, truy tiến Triều Thiên Vương (寨內揚起長旛、請附近寺院僧眾上山做功德、追薦晁天王, trong làng dựng lên là phan dài, cung thỉnh tăng chúng ở tự viện lân cận lên núi làm công đức, cầu siêu độ cho Triều Thiên Vương).”
truy tu
To follow the departed with observances.
truy tầm
To search for.
truy tố
To sue—To prosecute.
Truy viễn thận chung
(追遠愼終): hay thận chung truy viễn (愼終追遠), cẩn chung truy viễn (謹終追遠). Chung (終) nghĩa là tang lễ của cha mẹ, viễn (遠) là ý chỉ tổ tiên xa xưa trước kia. Thận chung (愼終) nghĩa là theo lễ nghi mà thận trọng xử lý việc tang lễ của cha mẹ. Truy viễn (追遠) là cung kính, thành tâm lo việc cúng tế ông bà tổ tiên. Đây là việc làm hiếu đạo mà làm người cần phải thực hiện trọn vẹn, chu toàn. Câu này vốn phát xuất từ trong Luận Ngữ (論語), chương Học Nhi (學而): “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hỉ (愼終追遠、民德歸厚矣, thận trọng lo tang lễ cho cha mẹ, kính thành lo cúng tế tổ tiên, tất phong tục dân tình sẽ quay về thiện lương).” Như trong bài Đường Cố Hạ Châu Đô Đốc Thái Nguyên Vương Công Thần Đạo Bia (唐故夏州都督太原王公神道碑) của Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường có câu: “Giai đốc hành thuần hiếu, thận chung truy viễn (皆篤行純孝、愼終追遠, đều dốc lòng làm việc hiếu, lo tang cha mẹ và thờ cúng tổ tiên).” Hay trong tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), phần Ấn Độ Tổng Thuật (印度總述) của Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường cũng có câu: “Xuất gia tăng chúng, chế vô hiệu khốc, phụ mẫu vong tang, tụng niệm thù ân, truy viễn thận chung, thật tư minh phước (出家僧眾、制無號哭、父母亡喪、誦念酬恩、追遠愼終、寔資冥福, tăng chúng xuất gia, Phật chế không được khóc lóc, khi có tang cha mẹ mất, nên tụng niệm để báo ơn, lo tang cha mẹ và cúng tế tổ tiên, vậy mới thật sự tích lũy phước đức).”
Truyền Quang Lục
(傳光錄, Denkōroku): tác phẩm ghi lại sự truyền thừa ánh sáng Phật pháp, do Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾, Keizan Jōkin) soạn, gồm 2 quyển; bản chép tay có loại 1 quyển, 2 quyển, 3 quyển, 4 quyển, và loại 5 quyển. Đây là thư tịch do các đệ tử của Thiệu Cẩn thâu tập và ghi lại những lần thuyết pháp khai thị của ông tại Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji) thuộc tiểu quốc Gia Hạ (加賀, Kaga), từ ngày 11 tháng giêng năm 1300 trở đi. Vào năm 1857, Phật Châu Tiên Anh (佛洲仙英) ở Thanh Lương Tự (清涼寺) thuộc vùng Sản Căn (産根) mới đem các bản ra đối chiếu và hiệu đính, rồi chỉnh lý và cho san hành bản đầu tiên. Nội dung của thư tịch này có nhiều chương ghi lại hệ thống truyền đăng của Tào Động Tông từ lúc khởi nguyên cho đến thời Thiệu Cẩn, tức là sự tương thừa của Trung Hoa, cho đến Đạo Nguyên (道元), Hoài Trang (懷奘) của Nhật Bản; tóm lại gồm 1 vị Phật và 52 Tổ sư. Mỗi chương đều nêu rõ nhân duyên chứng ngộ của chư vị Tổ sư, kèm theo lời giải thích của Thiệu Cẩn và kết hợp với kệ tụng.
truyết đậu trùng hiển
Setcho Juchen (J).
Truyền
傳; C: chuán; J: den;|Phát, chuyển giao, truyền trao.
truyền
To transmit, pass on, hand down, promulgate, propagate; tradition; summon.
; 1) Trao truyền: To transmit—To hand down—To pass on. 2) Truyền dạy: To superintend—To teach—To tutor.
truyền bá
To propagate; to spread abroad, to diffuse, to radiate.
; To spread abroad—To disseminate—To diffuse—To propagate.
truyền bá giáo pháp
Dissemination of the dharma.
truyền chân đạo
Chuan-chen tao (C), Ch'uan-chen tao (C)Tên một tông phái.
truyền giáo
To spread the teaching, or doctrine; to transmit and instruct.
; See Truyền Đạo.
Truyền Giáo Ðại sư
傳教大師; C: chuánjiāo dàshī; J: dengyō dai-shi; |Danh hiệu ban tặng cho sư Tối Trừng (最澄), người sáng lập tông Thiên Thai tại Nhật Bản.
truyền giáo đại sư
Saichō (J), Dengyō dai shi (J)Người sáng lập Thiên Thai Tông ở Nhật Tên một vị sư.
; Dengyô-Daishi (J). The founder of the Thiên Thai school in Japan.
Truyền Giáo Đại Sư 傳教大師
[ja] デンギョウダイシ Dengyō daishi ||| Dengyō daishi. The title conferred upon Saichō 最澄, the founder of the Japanese Tendai school 天台宗. (j: Dengyō daishi) Danh hiệu ban tặng cho Ngài Tối Trừng, người sáng lập Tông Thiên Thai Nhật Bản.
truyền giới
To transmit the precepts, to grant them as at ordination.
; Truyền giới trong “Giới Đàn” cho chư Tăng Ni mới vào tu ngũ giới hay bát quan trai giới —To transmit the commandments, to grant them as at ordination.
truyền huấn
Huấn lệnh của sư phụ—The instructions of a teacher—To instruct.
truyền khẩu
To transmit (hand over) orally—Transmitted by words of mouth.
truyền kinh
To hand down the tradition, the meaning of a sùtra.
truyền nhân giáo pháp
Dharma successor.
Truyền pháp
(傳法): về nghĩa rộng, chỉ cho việc truyền thọ Phật pháp; về nghĩa hẹp, đặc biệt chỉ sự truyền thừa pháp mạch, hoặc nghi thức truyền trao chánh pháp. Đối với Mật Giáo, phép Quán Đảnh truyền thọ bí pháp được gọi là Truyền Pháp Quán Đảnh (傳法灌頂). Người chỉ dạy cho bí pháp được gọi là Truyền Pháp A Xà Lê (傳法阿闍棃). Thiền Tông đặc biệt rất xem trọng việc truyền pháp, thông thường lấy việc truyền trao y Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟) làm tượng trưng cho việc truyền trao chánh pháp. Xưa nay, việc truyền y nghĩa là lấy y Kim Lan (金襴) làm Pháp Y (法衣), chủ yếu thể hiện tín vật truyền pháp. Đến sau này, các bậc tông tượng Thiền Tông chỉ lấy y Ca Sa bình thường để truyền cho đệ tử nối dòng pháp; cho nên từ Truyền Y (傳衣) được chuyển thành Truyền Pháp (傳法), Từ Pháp (嗣法). Tịnh Độ Giáo Nhật Bản lấy pháp Ngũ Trùng Tương Truyền (五重相傳) làm chứng minh cho việc truyền trao pháp mạch. Trong bài thơ Bà Dương Đại Vân Tự Nhất Công Phòng (鄱陽大雲寺一公房) của Cố Huống (顧況, khoảng 725-814) nhà Đường có câu: “Sắc giới liêu truyền pháp, Không môn bất dụng tình (色界聊傳法、空門不用情, cõi trần tạm truyền pháp, cửa Không chẳng nể tình).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍 tục tạng kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 29 có dẫn lời nói nổi tiếng của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma rằng: “Ngô bổn lai tư độ, truyền pháp cứu mê tình, nhất hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành (吾本來茲土、傳法救迷情、一花開五葉、結果自然成, ta vốn đến cõi này, truyền pháp cứu mê tình, một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành).”
truyền pháp
Shihō (J).
; To transmit, or spread abroad the Buddha truth.
; Từ Mật giáo dùng để chỉ pháp của đệ tử nối nghiệp thầy—To transmit or spread abroad the Buddha-truth. A term used by the esoteric sect, to succeed to the dharma, or methods, of the master.
Truyền Pháp Bảo Ký
(傳法寳記, Denhōbōki): 1 quyển, do Đỗ Chuyết (杜胐) ở Kinh Triệu (京兆) soạn, thành lập vào năm đầu (khoảng 713) niên hiệu Khai Nguyên (開元) nhà Đường, là loại sách Đăng Sử của Bắc Tông Thiền ghi rõ truyền ký của 7 vị tổ từ Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨[摩]) cho đến Huệ Khả (慧可), Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍), Pháp Như (法如) và Đại Thông Thần Tú (神秀). Bản Đôn Hoàng có 3 loại P2634, P3559, P3858; bản của Đại Chánh Đại Tạng Kinh (大正大藏經, 85) căn cứ vào bản P2634 để thâu lục vào, nhưng chỉ có lời tựa và mấy hàng văn chính mà thôi, sau đó bản hoàn chỉnh dựa trên bản Đôn Hoàng ký hiệu P3559 có đăng phần phụ lục của Tục Thiền Tông Biên Niên Sử (續禪宗編年史).
Truyền Pháp Bảo Ký 傳法寶紀
[ja] デンホウボウキ Denhō bouki ||| The Quan fabao ji; 1 fasc., By Du Fei. T 2838.85.1291. => (j: Denhō bouki ) Sách; 1 quyển ; của Du Fei.
Truyền pháp bảo kỉ
傳法寶紀; C: chuán fǎbăojì; J: denhō bou-ki;|Sách, 1 quyển, của Đỗ Phỉ (杜朏).
Truyền Pháp Chánh Tông Ký
(傳法正宗記, Denbōshōshūki): 12 quyển, trước tác của Phật Nhật Khế Tung (佛日契嵩) nhà Tống, san hành vào năm đầu (1064) niên hiệu Trị Bình (治平), là bộ sách sử truyện của Thiền Tông tiếp theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) và Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄). Tác phẩm này luận rõ ngọn đèn truyền thừa từ 7 vị Phật trong quá khứ cho đến 6 vị Tổ Đông Độ, lấy căn cứ từ Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集), Bảo Lâm Truyện (寳林傳), v.v., để phản bác lại các thuyết về lược truyện của chư vị Thiền sư từ sau thời Huệ Năng (慧能) trở đi trong Phú Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện (付法藏因緣傳), Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳), Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳), v.v. Vào năm thứ 6 (1061) niên hiệu Gia Hựu (嘉祐), khi tác phẩm này hoàn thành, Khế Tung đã trình thư dâng lên vua Nhân Tông; đến tháng 3 năm sau thì được cho nhập vào Đại Tạng Kinh cùng với Phụ Giáo Biên (輔敎編). Nhân đó, ông được nhà vua ban tặng cho Tử Y và hiệu là Minh Giáo Đại Sư (明敎大師).
Truyền pháp chính tông kí
傳法正宗記; C: chuánfǎ zhèngzōng jì; J: tenhō shoushū ki;|Sách; 9 quyển; của Khế Tung (契嵩).
Truyền Pháp Chính Tông Ký 傳法正宗記
[ja] デンホウショウシュウキ Tenhō shoushū ki ||| The Chuanfa zhengzong ji; 9 fasc. By Jisong T 2078.51.715-767. => Sách; 9 quyển; của Khế Tông契崇. .
Truyền Pháp Hội
(傳法會, Dempōe): pháp hội được thiết lập trên cơ sở yếu chỉ Tam Nghiệp Độ Nhân (三業度人) của Không Hải Đại Sư, với tư cách là chế độ làm cho hưng long giáo học, khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài trên thế gian. Có 3 Truyền Pháp Hội nổi tiếng trong Phật Giáo Nhật Bản. (1) Đông Tự Truyền Pháp Hội (東寺傳法會): trên cơ sở Không Hải Đại Sư lấy lý tưởng giáo dục, ban cho người dân bình thường cơ hội học tập bình đẳng, Tông Nghệ Chủng Trí Viện (綜藝種智院) được thiết lập vào năm 828 (niên hiệu Thiên Trường [天長] thứ 5). Vì gặp khó khăn về kinh tế, cơ sở này bị bán đi vào năm 845 (niên hiệu Thừa Hòa [承和] thứ 12), rồi mua lại khu vực sơn trang ở vùng Đơn Ba (丹波, Tamba) để làm chi phí cho Truyền Pháp Hội. Từ năm 847 trở đi, Đông Tự Truyền Pháp Hội được khởi đầu và mở ra hội diễn giảng các kinh sớ y cứ của Chơn Ngôn Tông vào mùa Xuân và Thu hằng năm. Thế nhưng sau đó, vào năm 1312 (niên hiệu Ứng Trường [應長] thứ 2), Hội này bị suy tàn; song nhờ sự khuyên nhủ của Ngã Bảo (我寶), Đạo Ngã (道我) lại phục hưng lần nữa. Hậu Vũ Đa Pháp Hoàng (後宇多法皇) cúng dường tiền phí tổn cho Hội để hồi hướng cầu nguyện cho lịch đại tiên đế quá cố. Năm sau, trong hội diễn giảng, chân dung của Hoằng Pháp Đại Sư do tự tay Pháp Hoàng vẽ được đưa vào Truyền Pháp Hội làm đề tài bàn luận xem thử có nên chọn làm tượng thờ chính hay không. Từ đó trở về sau, mỗi mùa có 30 ngày, Hội tiến hành đàm luận nghĩa học liên tục. (2) Cao Dã Sơn Truyền Pháp Hội (高野山傳法會): từ khi chế độ mỗi năm được phép xuất gia, được tiến hành trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) vào năm 835 (niên hiệu Thừa Hòa thứ 2), bắt chước theo trường hợp ở Đông Tự (東寺, Tō-ji), Chơn Nhiên (眞然, Shinzen) cũng khai sáng ra Truyền Pháp Hội ở đây, vào mùa Xuân từ ngày mồng 1 đến 21 tháng 3, mùa Thu từ ngày mồng 5 đến 18 tháng 10 với tên gọi là Luyện Học Hội (練學會). Kể từ đó trở đi, trong vòng 60 năm, sau vụ việc của Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子), Hội bị hoang phế, và trãi qua hơn 200 năm dài đăng đẳng, Giác Noan (覺鑁) mới phục hưng lại vào năm 1132 (niên hiệu Thiên Thừa [天承] nguyên niên). Thể theo hạnh nguyện của Điểu Vũ Pháp Hoàng (鳥羽法皇), lễ cúng dường lạc thành Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), Mật Nghiêm Viện (密嚴院) được tiến hành và Đại Hội Truyền Pháp bắt đầu hoạt động. Cứ mỗi mùa trong vòng 50 ngày, mùa Xuân là Tu Học Hội (修學會), mùa Thu là Luyện Hành Hội (錬行會), Hội tiến hành luận nghị về giáo nghĩa của tông phái. Về sau, do sự phân tranh xảy ra giữa hai phía Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺, Kongōbō-ji) và Truyền Pháp Viện (傳法院, Dempō-in), hoạt động của tổ chức này bị ngưng trệ vào năm 1175 (niên hiệu An Nguyên [安元] nguyên niên). Khi ấy, Tây Hành (西行) kiến lập Liên Hoa Thừa Viện (蓮華乘院) để làm nơi luận đàm học nghĩa, rồi đến năm sau thì dời về vùng Tăng Thượng (增上), và tiến hành Đại Hội Truyền Pháp. Về sau, Hội vẫn tiếp tục hoạt động mạnh mẽ và trở thành cơ sở để làm cho giáo học tông pháp hưng thịnh. (3) Truyền Pháp Hội của Phái Tân Nghĩa (新義派): từ khi Lại Du (賴瑜) làm chức Học Đầu (學頭) của Đại Truyền Pháp Viện vào năm 1266 (niên hiệu Văn Vĩnh [文永] thứ 3), ông tiến hành Truyền Pháp Hội tại Trượng Lục Đường (丈六堂) trên Cao Dã Sơn; nhưng sau vì nảy sinh cuộc cạnh tranh giữa các tự viện trên núi, Hội phải dời về Căn Lai Sơn (根來山) vào năm1288 (niên hiệu Chánh Ứng [正應] nguyên niên) và mỗi năm đều tu học nghiêm túc. Sau vụ binh lửa xảy ra trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Chánh (天正), Trí Sơn (智山) và Phong Sơn (豐山) phân chia làm hai; tại Phong Sơn thì lập Hội ở Trường Cốc Tự (長谷寺), tại Trí Sơn có Hội ở Trí Tích Viện (智積院). (4) Ngoài ra, tại Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji) ở vùng Ngự Thất (御室) cũng có Truyền Pháp Hội, nhưng sử liệu về Hội này rất hiếm hoi.
truyền phật tâm
The transmission of the Buddha Mind—See Truyền Phật Tâm Ấn, and Truyền Tâm.
truyền phật tâm ấn
Không có sự thật về chuyện truyền thừa nầy; tuy nhiên, một vị thầy có thể ấn chứng về sự thành tựu giác ngộ bằng chứng nghiệm khả năng của đệ tử mình—Transmission of the Heart-Seal of the Buddha Seal of mind)—There is no truth to transmit; however, a master can seal his pupil's achievement of enlightenment by testing and approving it as true.
Truyền quang lục
傳光錄; J: denkōroku; gọi đầy đủ là Oánh Sơn Hoà thượng truyền quang lục (瑩山和尚傳光錄; j: keizan ōshō denkōroku);|Một tác phẩm của Thiền sư Nhật Bản Oánh Sơn Thiệu Cẩn (keizan jōkin), nói về việc truyền thừa từ Phật Thích-ca đến vị Tổ thứ 52 của tông Tào Ðộng là Ðạo Nguyên Hi Huyền. Song song với Chính pháp nhãn tạng (j: shōbogenzō) của Ðạo Nguyên, Truyền quang lục là bộ sách quan trọng nhất của tông Tào Ðộng tại Nhật.
truyền quang lục
Denkō roku (J)Tên một bộ sưu tập.
truyền thuyết
Miraculous fable.
truyền thông
Sự truyền trao không trở ngại—Universal propagation—Unhindered transmission.
truyền thông bằng lời
Vacika-abhinaya (skt)—Communicated by speech.
Truyền Thông Viện
(傳通院, Denzū-in): một trong 18 ngôi tự viện Đàn Lâm của Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại số 3-14-6 Koishikawa (小石川), Bunkyō-ku (文京區), Tōkyō-to (東京都); hiệu núi là Vô Lượng Sơn (無量山); tên gọi chính thức là Vô Lượng Sơn Truyền Thông Viện Thọ Kinh Tự (無量山傳通院寿経寺); là nơi có quyền uy sau Khoan Vĩnh Tự (寛永寺, Kanei-ji). Ban đầu, vào năm 1415 (Ứng Vĩnh [應永] 22), vị Tổ thứ 7 của Tịnh Độ Tông là Thánh Quynh Thượng Nhân Liễu Dự (聖冏上人了譽) lập một ngôi thảo am ở vùng Tiểu Thạch Xuyên (小石川, Koishikawa), Giang Hộ (江戸, Edo). Thánh Quynh Thượng Nhân là người có dị tướng ba vùng nhật nguyệt trên lông mày, nên thường được gọi là Tam Nhật Nguyệt Thượng Nhân (三日月上人). Với tư cách là vị Tổ thời trung hưng của Tịnh Độ Tông, Thượng Nhân đã góp công to lớn và được Xưng Quang Thiên Hoàng (稱光天皇, Shōkō Tennō, tại vị 1412~1428) ban cho hiệu là Thánh Quynh Thiền Sư (聖冏禪師). Chính ông là người đã tận lực tiến hành nghiên cứu về Phật Giáo, trước tác hơn 300 đầu sách, nuôi dưỡng khá nhiều học Tăng. Vào năm 1602 (Khánh Trường [慶長] 7), khi thân mẫu của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) qua đời, để lại di ngôn rằng phải an táng bà tại chùa này; từ đó, lấy hiệu của bà là Truyền Thông Viện để đổi thành hiệu chùa (cũng có thuyết cho rằng từ buổi ban đầu khi mới khai sáng, chùa đã có hiệu này rồi). Năm sau, 1603, chùa được dời về vị trí hiện tại. chùa được sự hộ trì đắc lực của dòng họ Đức Xuyên; lúc hưng thịnh nhất thì chùa có rất nhiều ngôi đường vũ; nhưng kể từ khi xảy ra nạn Phế Phật dưới thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911), chùa suy thối dần, và cọng thêm binh lửa của Đệ Nhị Thế Chiến đã làm cho cảnh quan ngày xưa của chùa không còn nữa. Quần thể kiến trúc hiện tại của chùa chỉ còn có Chánh Điện, Nhà Kho, Khách Đường, Lầu Chuông, v.v.
truyền thống
Tradition.
truyền thống thần
Xem át nễ la thần.
truyền thừa
Dharma heir.
; Handed-down tradition—Việc thay thế vị Tổ trước làm Tổ đời sau trong Phật giáo, thường là được Tổ trước chính thức thừa nhận như người kế thừa, đặc biệt là Thiền Tông—To take over the Patriarch position by having the former Patriarch formally recognize the person as the successor, especially the Zen tradition. a) Sau khi Đức Phật nhập diệt, ngài Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ Thiền Phật Giáo đầu tiên tại Ấn Độ. Theo truyền thống Thiền Tông được truyền sang từ Ấn Độ sang Trung Quốc, để trở thành Tổ, vị nầy phải nhận y bát từ vị Tổ trước. Trong khoảng hơn 1.000 năm, có 28 vị Tổ ở Ấn Độ, mỗi vị có trách nhiêm tu tập và duy trì Chánh pháp của Phật. Cuối cùng, vị Tổ thứ 28 sang Trung Quốc và trở thành vị Sơ Tổ của dòng Thiền Trung Hoa. Tổng cộng Thiền Tông có 33 vị Tổ. Sau Lục Tổ Huệ Năng thì sự truyền thừa nầy chấm dứt. Vì thế Lục Tổ không truyền y bát cho những vị kế thừa nữa: After the Buddha entered Maha-Nirvana, the first Patriarch of Buddhism was one of the Buddha great disciples, Maha Kasyapa. According to this Zen tradition, in order to become a Patriarch, the highest virtuous Buddhist Master must receive the Buddha 'pat'a bowl,' the bowl which the Buddha used to receive food offering, and 'robe' from the Patriarch before him. Thus, for over 1,000 years, there were twenty-eight Indian Patriarchs, each having the responsibility to practice and to uphold the proper Dharma of Buddha. Eventually the twenty-eighth Patriarch named Bodhidharma came to China and also became the first of Six Patriarchs of Zen Buddhism in China. Overall, there were 33 official Patriarchs in Zen Buddhism. After the Sixth Patriarch, Hui-Neng, this tradition of formally passing on Patriarchy was discontinued. Thus Hui Neng did not pass down the Buddha's patra bowl and robe to his highest and most deserving disciples. b) Truyền Thừa theo Tịnh Độ—Handed-Down Tradition in the Pureland Buddhism—See Tứ Đức Truyền Thừa Tổ Tịnh Độ.
truyền thừa công đức
Eko (J).
truyền trì
To maintain what has been transmitted, to transmit and maintain.
; Trì giữ những giới luật đã được trao truyền—To maintain what has been transmitted; to transmit and maintain.
truyền tâm
To pass from mind to mind, to pass by narration or tradition; to transmit the mind of Buddha as in the Thiền tông, Intuitional school, mental transmission.
; The transmission of the mind—Tâm truyền tâm từ một vị Thầy Thiền qua sự tiếp xúc cá nhân, chứ không qua văn tự, như cách truyền Phật Tâm trong nhà Thiền—Mind-to-mind transmission, mental transmission, or to pass from mind to mind, from a Zen master to his disciples by personal contact without using the words. To transmit the mind of Buddha as in the Intuitional school.
Truyền Tâm Pháp Yếu
(傳心法要, Denshinhōyō): xem Hoàng Bá Sơn Đoạn Tế Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu (黃檗山斷際禪師傳心法要, Ōbakuzandansaizenjidenshinhōyō).
truyền tâm pháp yếu
Denshin hōyō (J)Tên một bộ luận kinh.
; Tổ sư Thiền tông đem yếu chỉ tham thiền đời đời tương truyền cho thiền giả, y theo pháp yếu tu tập thì được minh tâm kiến tánh, giải thoát tất cả khổ, đạt đến tự do tự tại vĩnh viễn.
truyền tâm ấn
The transmission of the mind seal—See Truyền Phật Tâm Ấn, and Truyền Tâm.
truyền tụng
Hearsay.
Truyền y
(傳衣): thuật ngữ của Thiền Tông. Tông phái này lấy đại y Kim Lan (金襴, y Ca Sa được dệt bằng tơ vàng) làm Pháp Y (法衣), truyền trao lại cho đệ tử như là tín vật truyền pháp. Từ thời đức Phật còn tại thế cho đến nay, chư Tổ sư đều vâng giữ truyền thống linh thiêng này. Trong Thiền lâm cũng tuân thủ cách thức này, vị thầy thường chọn ra trong hàng đồ chúng đệ tử xuất sắc, để lấy giáo pháp truyền trao cho người đó, đồng thời ban cho vị đó tăng y, và y Ca Sa này được gọi là tín y (信衣). Ngoài ra, truyền thọ giáo pháp cũng có tên là truyền y. Vì y Ca Sa (s: kaṣāya; p: kāsāya, 袈裟) và Bát (s: pātra, p: patta, 鉢) là hai pháp cụ thường xuyên được mang theo bên mình chư Tăng Ni, từ đó trở thành vật được truyền thừa giữa thầy với trò; vì vậy truyền pháp cũng được gọi là truyền y bát (傳衣鉢). Sau này, thậm chí truyền trao các nghệ năng, học thuật cũng gọi là truyền y bát. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 3 có đoạn rằng: “Tích Đạt Ma sơ chí, nhân vị tri tín, cố truyền y dĩ minh đắc pháp; kim tín tâm dĩ thục, y nãi tranh đoan, chỉ ư nhữ thân, bất phục truyền dã (昔達磨初至、人未知信、故傳衣以明得法、今信心已熟、衣乃爭端、止於汝身、不復傳也, xưa kia khi Đạt Ma mới đến, con người chưa biết tin, nên truyền trao y để cho biết đắc pháp; nay tín tâm đã chín muồi, y lại tranh giành, dừng nơi thân ngươi, không nên truyền nữa).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) còn cho biết thêm rằng: “Tây Thiên nhị thập bát tổ, Đường Độ lục tổ, quá khứ thánh nhân, tận đắc truyền y phó pháp, chí Đường đại Lục Tổ chi hậu, đắc đạo giả như đạo ma trúc vi, bất truyền kỳ y, chỉ truyền kỳ pháp, giai dĩ hương vi tín (西天二十八祖、唐土六祖、過去聖人、盡得傳衣付法、至唐代六祖之後、得道者如稻麻竹葦、不傳其衣、只傳其法、皆以香爲信, hai mươi tám vị Tổ Tây Thiên [Ấn Độ], sáu vị Tổ Đường Độ [Trung Hoa], thánh nhân trong quá khứ, đều được truyền y phú pháp, đến sau thời Lục Tổ Huệ Năng nhà Đường, người đắc đạo nhiều như lúa mè, tre lau, nên không truyền y ấy nữa, chỉ truyền pháp ấy, đều lấy hương làm tín vật).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 117, phần Tín Châu Bác Sơn Di Sanh Hoằng Hỷ Thiền Sư (信州博山怡生弘喜禪師), lại có câu: “Tích nhật Hoàng Mai dạ bán truyền y, kim triêu Bác Sơn đương đường thọ ký (昔日黃梅夜半傳衣、今朝博山當堂授記, ngày xửa Hoàng Mai nữa đêm truyền y, sáng nay Bác Sơn Thiền đường thọ ký).” Hoặc trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 19, bài Tổ Ý (祖意), có đoạn: “Lục Tổ bất truyền y, Đạt Ma lưu chích lí, dục phân dị dữ đồng, thấu đức tri huyền chỉ (六祖不傳衣、達摩留隻履、欲分異與同、透得知玄旨, Lục Tổ chẳng truyền y, Đạt Ma để chiếc dép, muốn biết khác với đồng, biết thấu rõ huyền chỉ).”
; 傳衣; C: chuányī; J: denne;|Trao truyền y; theo truyền thống Thiền tông, hàm ý truyền thừa mệnh mạch Phật pháp.
truyền y
To hand down the mantle, or garments.
; See Truyền Y Bát.
truyền y bát
Den'e (J).
; To hand down the robe (mantle or garments) and alms bowl.
Truyền y 傳衣
[ja] デンエ denne ||| The transmission of the robe, which in Chan, implies the transmission of the dharma lineage. => Trao truyền y; theo truyền thống Thièn tông, hàm ý truyền thừa mạng mạch Phật pháp.
Truyền đăng
(傳燈): có hai nghĩa chính:(1) Truyền trao ngọn đèn pháp. Như trong Kim Cang Kinh Chú Giải (金剛經注解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 503) có câu: “Phật chi truyền đăng, vi diệu bí mật, dư hà nhân tư (佛之傳燈、微妙祕密、予何人斯, chư Phật truyền đăng, mầu nhiệm bí mật, trao cho ai đây).” Hay trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) quyển 1 có đoạn: “Đạt Ma Tây lai, lịch đại thọ thọ, cổ đức truyền đăng, vô tận quang trung, đại viên kính lí, nhật vãng nguyệt lai, dĩ chí ư kim (達摩西來、歷代授受、古德傳燈、無盡光中、大圓鏡裏、日往月來、以至於今, Đạt Ma từ Ấn Độ đến, qua các đời trao nhận, cổ đức truyền đèn pháp, trong ánh sáng vô tận, nơi gương sáng tròn đầy, ngày qua tháng lại, cho đến ngày nay).” Trong Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca (永嘉證道歌, Taishō Vol. 48, No. 2014) cũng có đoạn: “Đệ nhất Ca Diếp thủ truyền đăng, nhị thập bát đại Tây Thiên ký, pháp Đông lưu nhập thử độ, Bồ Đề Đạt Ma vi sơ Tổ, lục đại truyền y thiên hạ văn (第一迦葉首傳燈、二十八代西天記、法東流入此土、菩提達磨爲初祖、六代傳衣天下聞, thứ nhất Ca Diếp đứng đầu truyền đăng, hai mươi tám đời Tây Thiên ghi lại, pháp chảy về Đông vào quốc độ này, Bồ Đề Đạt Ma là Tổ đầu tiên, sáu đời truyền y thiên hạ đều nghe).” (2) Từ gọi tắt của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄).
truyền đăng
To transmit the light, pass on the lamp of truth.
; Tổ Sư Thiền do Tổ sư từ đời từ đời truyền xuống, giống như đèn này truyền qua đèn kia, một đèn có thể truyền sang muôn ngàn đèn, mọi đèn đều sáng tỏ; cái ánh sáng của đèn số một (Sơ Tổ) cũng không giảm bớt một tí.
; Pháp có thể phá tan sự mờ tối nên được ví với cây đèn truyền ánh sáng—The transmission of the Lamp—To transmit the light—To pass on the lamp of truth—See Truyền Phật Tâm Ấn, and Truyền Tâm.
truyền đăng lục
Ch'uan-teng-lu (C), Chuandenglu (C)Tên một bộ sưu tậpTên một bộ sưu tập.
; Records of those who have passed on the lamp of Buddhist truth.
Truyền Đăng Ngọc Anh Tập
(傳燈玉英集, Dentōgyokueishū): 15 quyển, do Vương Tùy (王隨) nhà Tống biên soạn, san hành năm đầu (1034) niên hiệu Cảnh Hựu (景祐), là tác phẩm tóm lược sao chép lại thành 15 quyển của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄). Hiện tại bộ này được thâu tập vào trong Tống Tạng Di Trân (宋藏遺珍); các quyển 1, 4, 7, 9, 11, 13, v.v., có phần khuyết thất.
truyền đạo
To spread a doctrine; to preach a religion.
; Giảng dạy giáo thuyết nhà Phật—To preach religion—To spread the teaching or doctrine, or doctrine.
truyền đạt
To communicate.
Truyền 傳
[ja] デン den ||| To transmit. => Phát, chuyển giao.
truân na
Curna (skt)—Cát bụi—Dust—Sand.
truï
1) Sthiti (skt)—Ngụ tại—To stay—To abide—To dwell—To settle—To stop. 2) Cây cột: A post—A pillar.
truù
1) Ban ngày: Day—Daytime—Daylight. 2) Trú ngụ: Sthiti (skt)—To abide—To dwell—To stay—To settle.
trà
Tea.
trà am
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa Trà Am là nơi trụ cuối cùng của sư Viên Thành, tại chân núi Ngũ Phong, ấp Tứ Tây, làng An Cựu. Chùa được trùng tu và lợp ngói thay vì tranh vào năm 1937—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. Trà Am temple is the place where monk Viên Thành spent the end of his life. The temple was built in 1923 by Venerable Viên Thành. It is located at the foot of Mount Ngũ Phong, Tứ Tây hamlet, An Cựu village. In 1937, the temple was renovated, holding the same style but tile roof instead of thatched one.
trà cân
Cha-kin (J).
trà củ ma
Hoa thơm, ở các vùng Tây Á và Trung Á, dùng để làm rượu thơm và để gọi hồn các vong linh—Fragrant flowers from Western or Central Asia for scenting wine, and for calling down the spirits..
trà diệp
Lá trà—Tea-leaves.
trà dư tửu hậu
Idle conversation after tea and wine
trà hoa
Cha-bana (J).
trà lăng úc
Thiền sư Trà Lăng Úc là một đệ tử của Thiền sư Dương Kỳ Phương Hội. Ngài là tác giả của bài thơ sau đây mà theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, những bài thơ về 'ngộ' thì không bài nào giống bài nào, khó gợi cho ta một nhận định xác đáng về nội dung của ngộ bằng các so sánh hay phân tích, nhưng dầu sao thì qua những bài thơ nầy chúng ta cũng thấy biểu lộ một phát giác mới; còn phát giác ấy là gì thì ta cần tự có ít nhiều thân chứng riêng mới có thể nói rõ hơn được. Dầu ở trường hợp nào, tất cả các Thiền sư đều chứng chắc rằng trong Thiền có cái gọi là 'ngộ,' nhờ nó con người du nhập trong một thế giới giá trị mới. Kiến giải cũ vứt bỏ là thế gian mang một ý nghĩa mới—Zen master Ling-Yu was a disicple of Zen master Yang-Ch'i. He was the author of the below poem. According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, verses of enlightenment show how they vary from one another and how it is impossible to suggest any intelligible explanation of the content of enlightenment by merely comparing them or by analyzing them. Some of them are easily understood, we suppose, as expressive of the feeling of a new revelation; but as to that revelation itself is, it will require a certain amount of personal knowledge to be able to describe it more intelligently. In any event, all these masters testify to the fact that there is such a thing in Zen as enlightenment through which one is admitted into a new world of value. The old way of viewing things is abandoned and the world acquires a new signification Ta có ngọc quí minh châu Bụi đời vùi lấp bấy lâu Bụi hết hôm nay sáng lại Thế gian chiếu phá làu làu I have one jewel shining bright Long buried it was underneath worldly worries; This morning the dusty veil is off, And restored is its lustre, Illumining rivers and mountains and ten Thousand things.
trà nhân
Cha-jin (J).
trà nhập
Cha-ire (J).
trà thang
Trà và nước nóng, dùng trong các buổi lễ cúng vong ở các tự viện—Tea and hot water, used as offerings to the spirits.
trà thất
Cha-hitsu (J).
trà tiêu
Cha-shaku (J).
trà trộn
To mingle.
trà tì
Cremation. To cremate. Also Thiêu. Lò thiêu: crematorium.
trà tỳ
Jhāpita (S), Jhāpana (P), Ādahati (P), Jhāpeti (P), Dahati (P), Cremation Xà tỳ, hỏa táng.
; Burial or cremation.
Trà tỳ 茶毘
[ja] トビ tobi ||| Cremation of a corpse, especially of a Buddhist monk or nun. (2) The death of a Buddhist monk or nun. The reason that the first character has an unusual pronunciation is because this word was originally written with the characters 荼毘, which is a transliteration of the Pali => 1. Sự hoả táng thi hài, đặc biệt là của Tăng ni Phật giáo. 2. Sự viên tịch của Tăng sĩ Phật giáo. Nguyên nhân từ nầy khó phát âm là vì phát xuất từ ngữ căn tiếng Pāli là Jhāpeti.
trà uyển
Cha-wan (J).
trà đình
Cha-tei (J).
Trà đạo
茶道; J: chadō;|Một trong những đạo tu tập tại Nhật với những nghệ thuật, lễ nghi rất đặc sắc. Nhưng nghệ thuật chính của Trà đạo chính là cái làm quên đi những nghi lễ có tính nhị nguyên, không có trà và kĩ thuật uống trà mà chỉ có trà, một tâm thức bất phân. Tâm thức vô phân biệt này chính là mục đích của tất cả các »đạo« như Hoa đạo, Kiếm đạo, Cung đạo.|Sau đây là một bài dạy của Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm có liên quan đến trà. Sư thường hỏi các vị tăng mới đến tham vấn »Uống trà chưa?« Trả lời »Từng đến« hay »Chưa từng đến,« Sư cũng bảo »Uống trà đi!« Viện chủ thấy như vậy nuôi lòng thắc mắc, bèn hỏi Sư vì sao trong hai trường hợp Sư đều bảo »Uống trà đi.« Sư liền quát to: »Viện chủ!« Viện chủ ứng thanh: »Dạ!« Sư bảo: »Uống trà đi!« Viện chủ nhân đây có chút tỉnh ngộ.
trà đạo
Chado (J), Tea ceremony.
trà đồ tha
Jadata (skt). 1) Lạnh: Coldness. 2) Ngu si: Stupidity. 3) Tính không tình cảm: Apathy.
trà-tỳ
danh từ xuất phát từ Phạn ngữ là jhpita, cũng đọc là xà-duy (闍維), chỉ nghi thức hỏa thiêu nhục thân của một vị Phật hay cao tăng Phật giáo. Trong Hán ngữ dịch chữ này là phần thiêu (焚燒).
tràn
To overflow.
tràn lan
To spread (all over the place).
tràn trề
Full of (hope)—Intense.
tràn vào
To pour in.
tràng
Dhvaja, ketu (S). A pennant, streammer, flag, sign.
; (幢) Phạm: Dhvaja, Pàli: Dhaja. Dịch âm: Đà phọc nhã, Đà phạ nhã, Thoát đà. Còn gọi là Kế-đô (Phạm: Ketu). Cũng gọi Bảo chàng, Thiên chàng, Pháp chàng. Là một loại cờ, dùng để trang nghiêm Phật, Bồ tát và đạo tràng. Thông thường cùng với Phan (Phạm: Patàkà, Pàli: Paỉàkà) không phân biệt - tuy nhiên, về hình dáng thì có khác nhau, nghĩa là dáng tròn như cái thùng gỗ là Chàng, dáng dài nhỏ như mảnh vải là Phan. Phiên dịch danh nghĩa đại tập, dịch Ketu là Chàng, Patàkàlà Phan. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 673 thượng), nói: Tiếng Phạm Đà phạ nhã, Hán dịch là Chàng, tiếng Phạm Kế đô, Hán dịch là Kì (cờ), hình dáng hơi khác. Chàng chỉ dùng các loại tơ lụa nhiều màu làm vật trang nghiêm - Kế đô (kì) hình tướng đại khái cũng thế, nhưng còn thêm mật hiệu cờ, như các nhà quân sư vẽ các loại hình rùa rồng chim thú để làm biểu tượng của ba quân. Theo Đại nhật kinh sớ, thì hình dáng của Đà phọc nhã và Kế đô to nhỏ giống nhau, duy có điều là Kế đô nhấn mạnh sự quan hệ với cờ quân, nghĩa là như cờ vua hoặc tướng quân, trên đó có in các hình động vật, cờ của Phật và Bồ tát thì cũng in chữ để đại biểu Phật và Bồ tát. Lại kinh Bản sinh văn Pàlido Cao điền tu, người Nhật bản, dịch nói, chàng và phan đều hàm ý là cờ quân. Nghĩa là vua, tướng quan dùng cờ quân thống lãnh quân đội để đánh quân địch - còn đức Phật thì dùng cờ trí tuệ để dẹp bọn ma quân phiền não. Vì chàng tượng trưng nghĩa tồi phá, nên được coi là đồ trang nghiêm, dùng để tán thán Phật, Bồ tát và làm đẹp đạo tràng. Trong các đồ trang nghiêm của Mật giáo, có thuyết nói chàng và phan giống nhau, như phan được dùng trong giới tràng Tam muội da quán đính, gọi là chàng - dùng ba, bốn đoạn vải vuông, phía trên đầu hình ba góc và đính cái móc để treo, sau đó, dùng bốn hoặc năm đoạn vải khâu lại làm thân chàng, ở bốn góc vải hình vuông và ở giữa miếng vải hình ba góc trên đầu, đều đính một nẹp lụa treo rủ xuống, dưới cùng cũng đính bốn nẹp lụa rủ xuống, các ô vải hình vuông đều có thêu hình tam muội da của Phật và Bồ tát. Lại một thuyết bảo, chàng là cờ treo trên đầu một cây sào cao, tiêu biểu cho tâm đại Bồ đề trong Mật giáo. Nếu trên ngọn cán cờ có đính một viên ngọc như ý bảo châu thì gọi là Bảo chàng, Như ý chàng, Ma ni chàng. Còn gọi Dữ nguyện ấn, là hình tam muội da của đức Bảo sinh Như lai, bồ tát Kim cương chàng, bồ tát Trừ cái chướng và Địa tạng bồ tát. Tại Nhật bản, chàng và phan được coi như cùng một vật. [X. Phật sở hành tán Q.1 - kinh Hoa nghiêm (80 quyển) Q.26, kinh Vô lượng thọ Q.thượng - Đại nhật kinh sớ Q.6 - Tuệ lâm âm nghĩa Q.29 - Đại bi thai tạng tam muội da mạn đồ la đồ - Mật giáo pháp cụ tiện lãm].
tràng hoa
Wreath of flowers.
tràng huệ sơn vương
Xem Kế Độ Mạt Để Sơn vương.
tràng hạt
Malya (S), Akṣamālā (S), RosaryXem Chuỗi niệm Phật.
; Beads (string of)—Rosary.
tràng phan
Ketu (S, P), Dhvaja (S), Patākā (S, P), Dhaja (P)Phướn, Cờ, Phan.
; A flag, banner. Also Cờ phướn.
tràng phan bảo cái
Pennants and banners.
Tràng phan 幢幡
[ja] ドウバン dōban ||| A hanging banner--an ornament used in Buddhist temples. => Cờ phướn--dùng trang hoàng trong chùa.
tràng phan, bảo cái
Banner, jewelled canopy.
tràng đảng minh hộ kinh
Dhajagga sutta (P), Sutra on The Top of the Standard Tên một bộ kinh.
Tràng/trường 腸
[ja] チョウ chō ||| (1) The intestines. (2) Feelings, emotions. => 1. Ruột non. 2. Cảm xúc, sự cảm động.
trá
Giả trá—To feign—To deceive—To pretend—To impose on.
trá hàng
To feign submission.
trác
1) Cao vút—Lofty—Tall—Erect. 2) Đốn chặt: To chop.
trác ca la
See Chakra in sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
trác ca la sơn
Cakravala or Cakravada (skt)—Vòng núi Thiết Vi tạo thành ngoại biên của vũ trụ—The circle of iron mountains forming the pheriphery of the universe.
trác cú ca
Chakoka or Cugopa (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì Trác Cú Ca là một vương quốc cổ thuộc Tiểu Bukharia, có lẽ bây giờ là Yerkiang, hay Karghalik ở khu vực Khotan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Chakoka is an ancient kingdom and city in Little Bukharia, probably the modern Yerkiang, or perhaps Karghalik in the Khotan region.
trác tuyệt
Transcendent—Eminent.
trác táng
Debauched—Depraved.
Trác tích
(卓錫): trác (卓) nghĩa là dựng đứng, tích (錫) là Tích Trượng (s: khakkhara, khakharaka, 錫杖), một trong 18 vật thường dùng của chư tăng; trác tích nghĩa là chống cây Tích Trượng mà đứng; từ đó nó có chỉ cho vị tăng du hành dừng chân trú ở một nơi nào đó. Như trong bài thơ Lăng Già Cổ Mộc (楞伽古木) của Trương Bá Thuần (張伯淳, 1242-1302) nhà Nguyên có câu rằng: “Đạo Lâm trác tích cựu chủng thử, phảng phất ư kim bát bách niên (道林卓錫舊種此、髣髴於今八百年, Đạo Lâm dừng chân trồng cây ấy, mịt mờ nay đã tám trăm năm).” Hay trong chương Tây Tăng (西僧) của Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異) do Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh sáng tác có đoạn: “Tây tăng tự Tây Vức lai, nhất phó Ngũ Đài, nhất trác tích Thái Sơn (西僧自西域來,一赴五臺,一卓錫泰山, chư tăng từ Tây Vức đến, một vị lên Ngũ Đài Sơn, một vị dừng chân trú tại Thái Sơn).” Trong bài Lục Tổ Trác Tích Tuyền Minh (六祖卓錫泉銘) của thi hào Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) có ghi lại việc khi đang trú tại Tào Khê (曹溪), Lục Tổ Huệ Năng (慧能, 638-713) đã từng chống Tích Trượng trên mặt đất và xảy ra chuyện thần kỳ: “Lục Tổ sơ trú Tào Khê, trác tích tuyền dũng, thanh lương hoạt cam, thiệm túc đại chúng, đãi kim sổ bách niên hỉ (六祖初住曹溪、卓錫泉湧、清涼滑甘、贍足大眾、逮今數百年矣, Lục Tổ khi mới đến trú ở Tào Khê, chống Tích Trượng xuống đất làm cho suối phun nước lên, trong mát ngọt dịu, cấp đủ cho đại chúng dùng, cho đến nay đã mấy trăm năm rồi).” Từ đó, trác tích còn chỉ cho trú xứ của chư tăng. Trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 28 có câu: “Tổ khai pháp Vạn Phong, Tổ trác tích Tô Châu Đặng Úy Sơn, nạp tử bôn tập, toại thành tùng lâm (祖開法萬峰、祖卓錫蘇州鄧尉山、衲子奔集、遂成叢林, Tổ khai pháp ở Vạn Phong, Tổ trú tại Đặng Úy Sơn, Tô Châu, chúng tăng tập trung về rất đông, cuối cùng thành tòng lâm).”
trác tích
Nơi các vị sư trụ trì (chỉ nơi cao truyệt)—Tall, or erect staves, i.e. their place, a monastery.
trách mắng
To blame—To rebuke
trách nhiệm
Responsibility
trách nhiệm gia đình và xã hội
Trong Phật giáo, có hai loại trách nhiệm: xuất gia và tại gia—In Buddhism, there are two different kinds of duties: renunciation and family life (lay people): 1) Với Tăng sĩ: Với hàng Tăng sĩ, đời sống tôn giáo là xuất gia—For Buddhist monks, the religious life means renunciation of home and family life. 2) Với Phật tử tại gia: Với Phật tử tại gia, cuộc sống hãy còn ràng buộc với thế tục; tuy nhiên, một Phật tử thuần thành luôn sống theo lời Phật dạy—For laypeople whose life is still subject to worldly affairs; however, a devotee should always follow the Buddha's guidance in his daily life. a. Trách nhiệm đối với cha mẹ: Duties towards parents—Người Phật tử tại gia luôn thương yêu và chăm sóc hai đấng sanh thành, đặc biệt là trong lúc tuổi già. Lại nữa, làm con phải luôn giữ truyền thống tốt của gia đình, phải có tôn ti trật tự và phải luôn tỏ ra là một người con xứng đáng—A layperson should always love and take care of both parents, especially during their old age. Furthermore, children should always keep good traditions of the family, maintain family lineage, and make themselves worthy. b. Trách nhiệm đối với con cái: Duties towards children—Cha mẹ luôn chu toàn trách nhiệm, dạy dỗ con cái đúng đường. Lại nữa, cha mẹ phải luôn tìm cách ngăn ngừa không cho con cái đi vào đường xấu xa tội lỗi; hướng dẫn họ đi vào đường đạo đức, huấn nghệ và gã cưới đúng thời, và giao lại sản nghiệp đúng lúc—Parent should always fulfill their duties, teach and guide children in the right way. Furthermore, parents should always find ways to restrain them from vice, exhort them with virtue, train them for a career, guide them with suitable marriages, and hand over inheritance when time comes. c. Đối với Thầy Tổ: Towards teachers—Phật tử tại gia luôn kính trọng, lắng nghe và tán thán những lời dạy dỗ của Thầy Tổ—Laypeople should always show respect, listen (pay attention to their teachings), and praise their teachers for their efforts and teachings. d. Đối với chồng: Towards husbands—Phật tử tại gia phải luôn ân cần vui vẻ; khi chồng vắng nhà, phải chăm sóc nhà cửa, phải luôn chung thủy, phải xẻ chia; khi chồng nóng giận, phải luôn điềm tĩnh; khi chồng nói đúng, phải lắng nghe—A wife should always be cheerful to her husband; when husband is not home, she should take care of home; she should always be faithful and loyal, share all things; when the husband is angry, she should remain calm; when he is correct, she should listen. e. Đối với vợ: Towards wives—Làm chồng phải luôn tử tế; phải chào đón vợ; phải mua sắm đủ đầy áo quần và đồ trang sức đúng thời đúng lúc; phải luôn thủy chung một vợ một chồng—A Husband should always be kind to his wife; he should purchase clothes and jewelry at the right time; be faithful with just one wife. f. Đối với bằng hữu: Towards friends—Người Phật tử tại gia luôn giúp đở bằng hữu, phải giải thích cho bạn hiểu những lầm lỗi để cùng nhau xa lánh những việc xấu xa; phải luôn an ủi và khuyên lơn bằng hữu khi cần. Cùng chia ngọt xẻ bùi bên nhau, lúc giàu cũng như lúc nghèo; luôn bao dung tha thứ—Laypeople should always help friends; explain faults so that both can avoid wrongs; should comfort and give friends advice when they need; rich or poor, should share joys and sorrows; should always forgive. g. Đối với người làm: Towards workers—Người Phật tử tại gia phải luôn biết thương xót kẻ ăn người ở; trước khi sai phải biết sức; khi có tội, phải khuyên dạy, chớ không nên nặng tay phạt vạ; phải luôn lấy lẽ công bằng mà xét xử; khi đau ốm phải lo liệu thuốc men đầy đủ—Laypeople should always love their servants and workers; when command, must see if they can do it; when they do worngs, we should teach and guide them how to do things right; should always be impartial; when they are sick, we should always provide them medicine and help them cure. h. Đối với chủ nhân: Towards bosses—Người Phật tử tại gia khi làm công cho ai, phải luôn thức sớm; phải cố gắng chu toàn nhiệm vụ; không lãng phí thực vật của chủ; phải kính trọng, chào đón và tán thán chủ, chứ không bêu xấu—Laypeople should always rise early before bosses; try their best to complete tasks; try not to waste food and other materials; always respect, greet and praise boses. Should never degrade bosses.
trách nhiệm tinh thần
Moral responsibility.
trái
1) Bên trái—On the left. 2) Mặt trái—Wrong side. 3) Nợ: Debt. 4) Quả: Fruit. 5) Sai trái—Wrong. 6) Trái rạ: Chicken pox.
trái a-ma-la
Amalā (S)Dùng trị bệnh cảm.
trái có mùi thơm
Gandhaphala (S), Fragrant fruit.
trái luật
Contrary to the law.
trái lại
On the contrary—Converse.
trái lệnh
To disobey an order.
trái mùa
Untimely.
trái mắt
To offend the eyes.
trái nhau
Contradictory.
trái phép
Contrary to the law—Unlawful.
trái thời
At the wrong moment—Untimely.
trái với
Not in line with.
tráng kiện
Strong and healthy.
tráng lệ
Magnificient—Splendid.
tránh
To avoid—To keep out—To move aside.
tránh dơ chọn sạch
Avoiding the dirty and choosing the clean.
tránh khỏi
To avoid—To escape.
tránh nhàn đàm hý luận
To avoid idle talk or gossip.
tránh nói dối
To avoid lying.
tránh nói lưỡi hai chiều
To avoid back biting.
tránh nói lời độc ác
To avoid harsh speech.
tránh tà dâm
Avoid sexual misconduct.
tráp
Cắm vào—To insert—To stick in.
Trâm anh
(簪纓): cây trâm và giải mũ, chỉ cho đồ trang sức trên mũ quan thời xưa, về sau nó được mượn dùng để chỉ cho những cao quan hiển hách công trạng. Trong bài Thiếu Niên Hành (少年行) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Già mạc nhân thân liên đế thành, bất như đương thân tự trâm anh (遮莫姻親連帝城、不如當身自簪纓, giá tưởng thân thích với đế vương, chẳng bằng thân mình tự làm quan).” Hay như trong bài Tặng Bộc Xạ Trịnh Quốc Công Nghiêm Công Võ (贈左僕射鄭國公嚴公武) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường cũng có câu: “Không dư lão tân khách, thân thượng quý trâm anh (空余老賓客、身上愧簪纓, Rảnh rang lão khách quý, thân mình thẹn chức quan).” Thiền Sư Quảng Trí (廣智, ?-1091) của Việt Nam cũng có bài thơ liên quan đến trâm anh như sau: “Trú tích nguy phong bãi lục trần, mặc cư huyễn mộng vấn phù vân, ân cần vô kế tham Trừng Thập, sách bạn trâm anh tại lộ quần (拄錫危峰擺六塵、默居幻夢問浮雲、殷勤無計參澄什、索絆簪纓在鷺群, chống gậy non cao bỏ sáu trần, ở yên huyễn mộng hỏi phù vân, ân cần không cách tham Trừng Thập, trót vướng bầy cò lớp mũ cân).” Câu “phiệt duyệt trâm anh (閥閱簪纓)” có nghĩa là gia đình cao quan quyền quý, có công trạng hiển hách.
trâm anh
Noble family.
Trâm hoàn
(簪環): tức cây trâm cài trên tóc và vòng tròn đeo ở tai, chỉ cho đồ trang sức của phụ nữ. Như trong hồi thứ 33 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) có đoạn: “Vương phu nhân hoán thượng Kim Xuyến nhi đích mẫu thân lai, chưởng liễu kỉ kiện trâm hoàn, đương diện thưởng liễu (王夫人喚上金釧兒的母親來、拿了幾件簪環、當面賞了, Vương phu nhân cho gọi mẫu thân của bé Kim Xuyến đến, cầm sẵn mấy cây trâm và vòng đeo tai, giáp mặt thưởng cho bà ấy).”
trân
Quý báu—Precious—Rare.
trân bảo
A pearl—Jewel—Precious thing.
trân châu
pearl.
Trân Hải
(珍海, Chinkai, 1091-1152): vị Tăng của Tam Luận Tông, sống vào khoảng cuối thời Bình An, tự Trân Hải (珍海), húy là Lương Thâm (良深), hiệu là Lý Pháp Phòng (理法房), con của Đằng Nguyên Cơ Quang (藤原基光). Ông từng theo học Tam Luận với Giác Thọ (覺樹) ở Đông Nam Viện (東南院) của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), rồi Mật Giáo với Định Hải (定海) ở Tam Bảo Viện (三寶院) của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji). Sau đó ông đến sống ở tại Thiền Na Viện (禪那院) ở tại chùa này, và làm Giảng Sư cho ba học hội lớn trong đó có Duy Ma Hội (維摩會). Đối với Tịnh Độ Giáo, ông cũng rất thâm tín, nên đến làm trú trì Thiền Lâm Tự (禪林寺); và trong lịch sử thì ông trở thành nhân vật môi giới giữa Nguyên Tín (源信), Vĩnh Quán (永觀) và Nguyên Không (源空). Về mặt hội họa, ông cũng thể hiện tài năng xuất chúng, và được xưng tụng là Thiên Hạ Đệ Nhất Hội Sư (天下第一繪師). Năm 1148, ông có sáng tác bức tranh gọi là Thích Ca Linh Thứu Sơn Thuyết Pháp Đồ (釋迦靈鷲山說法圖). Trước tác của ông để lại có Quyết Định Vãng Sanh Tập (決定徃生集) 2 quyển, Bồ Đề Tâm Tập (菩提心集) 2 quyển, v.v.
trân quý những hành động thiện lành
Appreciate one's wholesome actions.
trân trân
To remain motionless.
trân trọng
Trân quý như của báu—To esteem and treat as precious—Respectfully.
trân vực
Khu Vực quý báu, hay cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—The precious region, or Pure Land of Amitabha.
trâng tráo
Shameless.
trâu diễn
Tsou-yen (C), Zou Yan (C)(Thế kỷ thứ 3 B.C.E.) người đại diện quan trọng nhất của Âm Dương phái.
trây lười
Laziness.
trèo
To climb—To climb over.
trèo đèo lặn suối
Up hills and down dales.
tréo
To cross.
trên
1) Bên trên: On (land)—Upon. 2) Trên tuổi: Over (years of age)—Above. 3) Tầng trên: Up (stairs).
trên trời
In the sky.
trên đường hành đạo
While treading the way.
trên đỉnh cô phong
Chỗ đỉnh núi cao tột, dụ cho kẻ kiến tánh mới có đủ tư cách cư trú tại đó.
trêu
To annoy—To provoke—To irritate—To tease.
trì
Dhr, dhara (S). Lay hold of, grasp, hold, maintain, keep; control.
; Dhara or Dhr (skt)—To pull—To lay hold of—To grasp—To keep—To control—To maintain.
trì anh lạc
Maladhari (skt)— 1) Đeo chuỗi Anh Lạc: Wearing a chaplet. 2) Tên của một loài nữ quỷ: Name of a raksasi, or demoness.
trì anh lạc la sát nữ
Mahā-dhari (S)Trì Hoa La sát nữTên một vị thiên.
Trì anh lạc 持瓔珞
[ja] ジヨウラク Jiyōraku ||| Mālādhāri (Necklace Holder). One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a24〕 => (s: Mālādhāri; e: Necklace Holder). Một trong 10 loại la-sát nữ hộ trì Phật pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập la-sát nữ十羅刹女.
trì biên
Ninimdhara (S)Ni dần đà laMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao1.200 do tuần.
trì biên sơn
Nemimdhara (skt)—Tiếng Phạn gọi là Ni Dân Đà La, tức bảy núi Kim Sơn Trì bao quanh núi Tu Di—The outermost of the seven mountain circles around Mount Meru.
trì biên sơn vương
Xem Ni Dân Đà La Sơn vương.
Trì Bát
持缽; 1049-1117|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 12. Sư kế thừa Thiền sư Sùng Phạm.|Sư họ Vạn, quê ở Luy Lâu. Sư thuở nhỏ đã hâm mộ Phật pháp và khi lên 20, Sư đến chùa Pháp Vân xin xuất gia với Thiền sư Sùng Phạm. Nơi đây, Sư ngộ đạo và được Sùng Phạm ban hiệu là Trì Bát.|Sau khi Sùng Phạm tịch, Sư dạo khắp tùng lâm, tham vấn các vị Cao tăng. Tướng quốc Lí Thường Kiệt là thí chủ của Sư. Những tài vật được cung cấp, Sư đều đề hết vào việc trùng tu các ngôi chùa như Pháp Vân, Thiền Cư, Thê Tâm, Quảng An.|Ngày 18 tháng 2 niên hiệu Hội Tường Ðại Khánh thứ 8 đời vua Lí Nhân Tông, Sư gọi chúng lại nói kệ:|有死必有生。有生必有死|死爲世所悲。生爲世所喜|悲喜兩無窮。忽然成彼此|於諸生死不關懷。唵囌嚕囌嚕悉哩|Hữu tử tất hữu sinh, hữu sinh tất hữu tử|Tử vi thế sở bi, sinh vi thế sở hỉ|Bi hỉ lưỡng vô cùng, hốt nhiên thành bỉ thử|Ư chư sinh tử bất quan hoài|Án tố rô tố rô tất rị.|*Có tử ắt có sinh|Có sinh ắt có tử|Tử làm người đời buồn|Sinh làm người đời vui|Buồn, vui đều vô cùng|Chợt vậy thành kia đây|Ðối sinh tử chẳng để lòng|Án tố rô tố rô tất rị.|Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch, thọ 69 tuổi.
trì bát thiền sư
Zen Master Trì Bát (1049-1117)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Luy Lâu. Ngài thích Phật giáo từ khi còn nhỏ. Lúc 20 tuổi, ngài xuất gia và trở thành đệ tử , và thọ giới cụ túc với Thiền sư Sùng Phạm tại chùa Pháp Vân. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ 12 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau khi Thầy thị tịch, ngài trở thành du Tăng khất sĩ để tầm cầu chân lý. Về sau, ngài trụ tại chùa Tổ Phong trên núi Thạch Thất. Lý Thường Kiệt là một trong những đệ tử tại gia nổi tiếng của ngài. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1117—A Vietnamese Zen master from Luy Lâu, North Vietnam. He favored Buddhism when he was very young. At the age of 20, he left home, became a disciple and received complete precepts with Zen Master Sùng Phạm at Pháp Vân Temple. He became the Dharma heir of the Vinitaruci Zen Sect. After the latter's death, he became a wandering monk in search of the truth. Later, he stayed at Tổ Phong Temple on Mount Thạch Thất. Lý Thường Kiệt was one of his most outstanding lay disciples. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1117.
trì bản
Holding to the root, or fundamental; ruler of the earth, which is the root and source of all things.
trì bổn
1) Gìn giữ căn bản: Holding to the root or fundamental. 2) Địa Thần, chuyên chở vạn sự vạn vật: Ruler of the earth, which is the root and source of all things.
trì chí
Patient.
trì chú
To chant Mantras or Dharanis, chanting of mantras.
trì chấp kim cang
Vajradhara or Vajrapani (skt). 1) Còn gọi là Trì Kim Cang, là vị Bồ Tát tỏ rõ trí lực không gì phá nổi của Kim Cang Bộ Bồ Tát. Ngài thường cầm cây chùy kim cương loại một chẻ, hoặc ba, hoặc năm chẻ—A Bodhisattva who holds a vajra or thunderbolt, of these there are several different kinds, based on numbers of prongs on their thunderbolt (one, three, or five). 2) Tên của vua Trời Đế Thích: Name for Indra.
trì cú
Dharaoi (S)Một câu trì, một câu đà la ni, một câu chơn ngôn, một câu chú Xem đà la ni.
; One who holds to or retains the words (of the dharani).
trì cú thần chú
Người trì chú Đà La Ni—One who holds or retains the words of the dharani.
Trì cú thần chú kinh 持句神呪經
[ja] ジクジンジュキョウ Jiku jinju kyō ||| The Chiju shenzhou jing (T 1351.21.864-865) ; see Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing 東方最勝燈王陀羅尼經 (c: Chiju shenzhou jing ) ; Xem Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (東方最勝燈王陀羅尼經c: Dongfang zuisheng dengwang tuoluoni jing )
trì danh
To hold to, i.e. rely on the name (ođ Amitàbha).
; Thụ trì và niệm tưởng danh hiệu của Đức Phật A Di Đà (người niệm Phật gọi là trì danh hành giả. Trì danh là nắm giữ danh hiệu Phật trong tâm trí mình)—Oral recitation method—“Holding the name” method—To hold on or rely on the name of Amitabha.
trì danh ký thập
Niệm Phật đếm từ một đến mười lần—Decimal recording recitation.
trì danh liên hoa
Vừa niệm vừa quán tưởng hoa sen—“Lotus blossom” recitation.
trì danh lễ bái
Vừa niệm vừa lạy—“Bowing to the Buddha” recitation.
trì danh phản văn
Vừa niệm vừa nghe—“Reflecting the name” recitation.
trì danh sổ châu
Vừa niệm vừa lần chuỗi—“Counting rosary beads” recitation.
trì danh tùy tức
Niệm Phật nương theo hơi thở—“Breath by breath” recitation.
trì giới
Giữ giới có hai loại---Morality—To uphold the precepts—To practice morality—To keep the commandments or rules—To observe commandments—There are two kinds: 1) Chỉ trì: Tránh làm các việc ác—Prohibitive or restraining from evils. 2) Tác trì: Làm các việc thiện—Constructive or constraining to goodness. **For more information, please see Lục Độ Ba La Mật (2) in Vietnamese-English Section.
trì giới ba la mật
Śīla-pāramitā (S), Perfection of Morality, Sīlapāramitā (P)Thi la Ba la mật, Giới hạnh ba la mật, Giới Ba la mật Bồ tátMột trong Thập Ba la mật. Giữ giới, không hại sanh mạng, không tiếc mình để giữ giới. Khuyên người phát tâm Vô thượng Bồ đề. Một trong sáu ba la mật tức là sáu phương pháp đạt giác ngộ, gồm: - dana-paramita: bố thí ba la mật - sila-paramita: giới hạnh ba la mật - ksanti-paramita: nhẫn nhục ba la mật - virya-paramita: tinh tấn ba la mật - dhyana-paramita: thiền định ba la mật - praja-paramita: bát nhã ba la mật.
; Sila-paramita (skt)—Giữ tròn giới luật, một trong lục Ba la mật—Trì giới Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta xa lìa thế giới nhiễm trược, và cũng nhờ đó mà chúng ta có thể hướng dẫn những chúng sanh hay buông lung phá giới—Precept paramita—Morality paramita—keeping the moral law—One of the six paramita—The Sila-paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we distantly depart from the hardships of evil worlds, and we teach and guide precept-breaking living beings. ** For more information, please see Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.
Trì giới ba-la-mật
xem Thi ba-la-mật.
trì giới phạm hạnh
Brahma-carya (skt)—To remain unmarried and to keep commandments.
Trì giới độ
xem bờ bên kia.
Trì giới 持戒
[ja] ジカイ jikai ||| (śīla). 'observing precepts', 'morality.' One of the 'six perfections' (六波羅蜜). => (s: śīla). Thực hành đúng theo giới luật. Một trong “Lục ba-la-mật”(六波羅蜜).
trì giới, phá giới
To keep the precepts or rules; to offense the law.
trì giữ thiện pháp
Observance of good law (good method—good ways) or the moral rule of the Universe.
trì hoa la sát nữ
Xem Trì Anh Lạc La sát nữ.
trì hoãn
To retard—To linger—To delay.
trì kim cang
See Trì Chấp Kim Cang.
trì kim cang cụ huệ giả bồ tát
Xem Kim Cang Tát Đỏa.
trì kim cương
Vajradara, Vajrapàni (S). A Bohisattva who holds the vajra or thunderbolt, of these there are several; a name for Indra. Also Chấp kim cương.
Trì kinh 持經
[ja] ジキョウ jikyō ||| (1) The practice of continuous chanting of sūtra text. (2) A sutra book that is used for the purpose of chanting. => 1. Pháp tu chuyên tụng kinh. 2. Kinh dùng để tụng niệm.
trì luật
A keeper or observer of the discipline.
; Giữ gìn giới luật—A keeper or observer of the discipline.
trì luật giả
Xem Luật sư.
Trì luật đệ nhất 持律第一
[ja]ジリツダイイチ jiritsu daiichi ||| Most eminent in terms of observance of the precepts. A name given to Śākyamuni's disciple Upāli 優波離. => Người xuất sắc trong việc giữ giới. Danh hiệu mà Đức Phật Thích-ca Mâu-ni dành cho đệ tử mình là Ưu-ba-ly (s: Upāli 優波離).
trì minh
Xem Minh Trì.
; The dhàrani illuminant, i.e. the effective "true word" or magical term.
; Tên khác của Đà La Ni, hay Chân Ngôn—The dharani-illuminant, i.e. the effective “true words” or magical term.
trì minh kim cang
Xem Diêm Mạn Uy nộ vương.
trì minh quán đảnh
Vidyādhara-abhiṣeka (S).
trì minh tiên
Vị Tiên tụng trì Đà La Ni để thành tựu thần thông—The magician who possesses the dharani-illuminant.
trì minh tạng
Vidyādhara-piṭāka (S)Đái trí tạng kinhTrong Đà la ni kinh.
; Vidyadhara-pitaka (skt)—Pháp Tạng Trì Minh hay tất cả kinh điển của Chân Ngôn Đà La Ni—The canon of the dharanis.
trì nghi
To doubt—To suspect.
trì ngưu giới
Những người trì giữ giới của loài trâu bò, có một loại ngoại đạo tin rằng để tạo nhân sinh vào cõi trời thì phải hành trì ngưu giới, phải khổ hạnh như loài trâu, phải nhắm mắt cúi đầu ăn cỏ và hành xử như trâu—Keepers of the law of oxen, an ascetic sect who ate and acted like oxen.
trì nhân
Upastambha (S)Một trong ngũ nhân.
trì niệm
To hold in memory.
; Trì giữ chánh pháp vào trong ký ức—To hold in memory.
trì pháp
Druma (S)Tên một vị thiên. Một vị vua loài Khẩn nala.
trì pháp giả
A keeper or protector of the Buddha-law.
; Người trì giữ và bảo hộ Phật pháp—A keeper or protector of the Buddha-law.
trì pháp phật
Dharmadara (S), Dharma Maintaining Buddha Tên một đức Phật Như Lai, quốc độ ở phương hạ so với cõi ta bà.
trì pháp túc sanh truyện
Dhammapala-Jātaka (P)Tên một bộ luận kinh.
trì phạm
Trì giữ và vi phạm giới luật—Maintaining and transgressing. 1) Trì giữ: Gìn giữ giới luật bằng hai cách—Keeping the commandments by two ways. a) Chỉ trì: Phép chỉ ác hay ngưng làm những việc ác, như trì giữ ngũ giới, cho đến cụ túc giới—Ceasing to do wrong, i.e. maintaining the five basic commandments, or 250 commandments. b) Tác trì: Các phép tác thiện, hay làm những điều đúng, như lễ bái, sám hối, và sống đời phạm hạnh, vân vân—Doing what is right, e.g. worship, the monastic life, etc. 2) Hủy phạm: Hủy phạm có hai loại—Transgression is also of two kinds. a) Tác phạm: Manh động tam nghiệp để xúc phạm phép chỉ trì, hay tích cực làm điều ác—Positive in doing evil. b) Chỉ phạm: Trễ nải tam nghiệp không tu thiện nghiệp tác trì, hay tiêu cực trong thiện nghiệp—Negative in not doing good.
Trì phạm 持犯
[ja] ジボン jibon ||| To keep the precepts and break the precepts. => Việc giữ giới và phạm giới.
trì quốc giả
Vị vua cai trị trong một vương quốc—A sovereign, ruler of a kingdom.
Trì Quốc Thiên
(s: Dhṛta-rāṣṭra, p: Dhata-raṭṭha, 持國天): còn gọi là Trị Quốc Thiên (治國天), An Dân Thiên (安民天), Thuận Oán Thiên (順怨天); âm dịch là Đề Đầu Lại Tra (提頭賴吒), Trì Lê Đá A Ra Đá (持梨哆阿囉哆), Đề Đa La Tra (提多羅吒). Vị trời này thường hộ trì quốc độ, đem lại an vui cho chúng sanh; nên có tên là Trì Quốc Thiên (vị trời hộ trì đất nước), hay Đông Phương Thiên (東方天); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 16 vị thiện thần. Vị này trú tại Càn Đà Sơn (乾陀山), nằm lưng chừng phía Đông Tu Di Sơn (s: Sumeru, 須彌山), giữ gìn quốc độ ở phương Đông. Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 cho biết rằng: “Phục hữu Đông phương Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương, lãnh Càn Đạp Hòa Thần, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, tận tự Nhân Đà La, giai hữu đại thần lực (復有東方提頭賴吒天王、領乾沓和神、有大威德、有九十一子、盡字因陀羅、皆有大神力, lại có Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương ở phương Đông, thống lãnh Càn Đạp Hòa Thần, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, tất cả tên là Nhân Đà La, đều có thần lực lớn).” Về hình tượng của vị trời này, có nhiều thuyết bất đồng, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng Đề Đầu Lại Tra Thiên Vương thân dài một khuỷu tay, mang các loại y trời, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái vươn ra cầm cây đao, tay phải đưa ra phía trước, trong lòng bàn tay cầm châu báu, trên vật báu đó tỏa hào quang. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: “Đông phương Trì Quốc Đại Thiên Vương, kỳ thân bạch sắc trì Tỳ Bà, thủ hộ bát Phật Đông phương môn (東方持國大天王、其身白色持琵琶、守護八佛東方門, Trì Quốc Đại Thiên Vương ở phương Đông, thân người màu trắng cầm Tỳ Bà, giữ gìn tám Phật cửa phía Đông).” Trong Kim Cang Bộ Viện (金剛部院) ngoài Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅) của Mật Giáo, vị trời này được liệt vào vị trí phía Nam của Đông môn.
trì quốc thiên
Dhrtarastra (skt)—See Trì Quốc Thiên Vương.
Trì Quốc Thiên Vương
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
trì quốc thiên vương
VirŪdhaka (S), Dhṛtarastra (S)Tỳ lưu ly, Lưu ly vương, Thích ca vương, Tỳ Lâu Lặc Xoa vương1- Một trong 4 cõi dục giới của Tứ thiên vương thiên: Trì quốc thiên vương (đông), Tăng trưởng thiên vương (nam), Quảng mục thiên vương (bắc), Đa văn thiên vương( bắc). 2-Tên một trong 4 vị Tứ thiên vương. 3-Vua Tỳ Lưu Ly, cùng cha khác mẹ với Kỳ Đà Thái tử, giết chết Kỳ Đà Thái tửMột trong 4 cõi dục giới của Tứ thiên vương thiên: Trì quốc thiên vương (đông), Tăng trưởng thiên vương (nam), Quảng mục thiên vương (bắc), Đa văn thiên vương( bắc).
; Dhrtaràstra, one of the four deva-guardians or mahàràjas, controlling the east, of white colour.
; Dhrtarastra (skt)—Tên của Đông Phương Thiên Vương, một trong tứ thiên vương, áo trắng, trấn giữ phía đông—One of the four deva-guardian or maharajas, controlling or guarding the eastern quarter, of white color.
Trì quốc thiên 持國天
[ja] ジコクテン Jikokuten ||| Dhṛtrāṣṭra, one of the four kings 四天王 who protect the four quarters of existence. He rules over the gandharvas and piśācas. => (s: Dhṛtrāṣṭra), một trong Tứ thiên vương, thủ hộ bốn cõi thế gian. Ông ta cai quản loài Càn-thát-bà (s: gandharvas) và loài Tỳ-xá-giá (s: piśācas).
trì song sơn
Yugamdhara (skt)—Dãy núi đầu tiên trong bảy dãy núi bao quanh núi Tu Di—The first of the seven concentric mountains around Mount Meru.
trì song sơn vương
Xem Do Càn Đà Sơn vương.
Trì thuyết 持説
[ja] ジセツ jisetsu ||| To embrace (for oneself) and teach (others). 〔法華經 T 262.9.36a5〕 => (Tự mình hành trì) và truyền dạy (cho người khác).
trì thế bồ tát
Bodhisattva Ruler of the World—Theo Kinh Duy Ma Cật, trong thời Phật còn tại thế, lúc cư sĩ Duy Ma Cật có bệnh, Đức Phật liền nhờ Trì Thế Bồ Tát đến thăm bệnh cư sĩ—According to the Vimalakirti Sutra, once Upasaka Vimalakirti was sick, the Buddha asked Bodhisattva Ruler of the World to call on Vimalakirti to enquire his health. • Phật bảo Bồ Tát Trì Thế: “Ông đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật dùm ta.”—The Buddha then said to the Bodhisattva Ruler of the World: “You call on Vimalakirti to enquire after his health on my behalf.” • Bồ Tát Trì Thế bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh đến thăm bệnh ông. Vì sao? Nhớ lại lúc trước, con ở nơi tịnh thất, bấy giờ Ma Ba Tuần đem một muôn hai ngàn Thiên nữ giống như trời Đế Thích, trổi nhạc đờn ca đi đến chỗ con ở, Ma cùng với quyến thuộc cúi đầu làm lễ dưới chân con, chấp tay cung kính đứng sang một bên. Trong ý con cho là trời Đế Thích nên bảo rằng: “Lành thay, mới đến Kiều Thi Ca! Dù là có phước chớ nên buông lung. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để cầu cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản mà tu Pháp bền chắc.”—Ruler of the Word replied: “World Honoured One, I am not qualified to call on him and enquire after his health. I still remember that once as I was staying in a vihara, a demon like Indra appeared followed by twelve thousand goddesses (devakanya) playing music and singing songs. After bowing their heads at my feet they brought their palms together and stood at my side. I mistook the demon for Sakra and said to him: 'Welcome, Sakra, although you have won merits, you should guard against passion (arising from music, song and sex). You should look into the five desires (for the objects of the five senses) in your practice of morality. You should look into the impermanence of body, life and wealth in your quest of indestructible Dharma (i.e. boundless body, endless life and inexhaustible spiritual wealth..' • Ma vương nói với con: “Thưa Chánh sĩ! Xin ngài nhận một muôn hai ngàn Thiên nữ nầy dùng để hầu hạ quét tước.” Con nói rằng: “Nầy Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp nầy, tôi là kẻ Sa Môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi.” Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với con: “Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!” Ông lại bảo ma rằng: “Các vị Thiên nữ nầy nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ.”—He said: 'Bodhisattva, please take these twelve thousand goddesses who will serve you.' I replied: 'Sakra, please do not make to a monk this unclean offering which does not suit me.' “Even before I had finished speaking, Vimalakirti came and said: 'He is not Sakra; he is a demon who comes to disturb you.' He then said to the demon: 'You can give me these girls and I will keep them.' • Ma sợ hãi nghĩ rằng: “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?” Ma muốn ẩn hình mà không thể ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: “Nầy Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưởng cho—The demon was frightened, and being afraid that Vimalakirti might give him trouble, he tried to make himself invisible but failed, and in spite of his use of supernatural powers he could not go away. Suddenly a voice was heard in the air, saying: 'Demon, give him the girls and then you can go.' Being scared, he gave the girls.' • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng: “Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói Pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng 'các ngươi đã phát ý đạo, có Pháp vui để tự vui chớ nên vui theo ngũ dục nữa.'” Thiên nữ hỏi: “Thế nào là Pháp vui?”—To Vimalakirti who said to them: 'The demon has given you to me. You can now develop a mind set on the quest of supreme enlightenment.' “Vimalakirti then expounded the Dharma to them urging them to seek the truth. He declared: 'You have now set your minds on the quest for the truth and can experience joy in the Dharma instead of in the five worldly pleasures (arising from the objects of the five senses).' “They asked him: 'What is this joy in the Dharma?' • Ông đáp: “Vui thường tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường Tăng; vui lìa ngũ dục; vui quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ đại như rắn độc; vui quán nội nhập (sáu căn) như không; vui gìn giữ đạo ý; vui lợi ích chúng sanh; vui cung kính cúng dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu hòa; vui siêng nhóm căn lành; vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm đặng trí tuệ sáng suốt; vui mở rộng tâm Bồ Đề; vui hàng phục các ma; vui đoạn phiền não; vui thanh tịnh cõi nước Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức; vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không sợ; vui ba môn giải thoát mà không vui phi thời; vui gần bạn đồng học; vui ở chung với người không phải đồng học mà lòng thương không chướng ngại; vui giúp đỡ ác tri thức; vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô lượng Pháp đạo phẩm. Đó là Pháp vui của Bồ Tát—“He replied: 'Joy in having faith in the Buddha, joy in listening to the Dharma, joy in making offerings to the Sangha, and joy in forsaking the five worldly pleasures; joy in finding out that the five aggregates are like deadly enemies, that the four elements (that make the body) are like poisonous snakes, and that the sense organs and their objects are empty like space; joy in following and upholding the truth; joy in being beneficial to living beings; joy in revering and making offerings to your masters; joy in spreading the practice of charity (dana); joy in firmly keeping the rules of discipline (sila); joy in forbearance (ksanti); joy in unflinching zeal (virya) to sow all excellent roots; joy in unperturbed serenity (dhyana); joy in wiping out all defilement that screens clear wisdom (prajna); joy in expanding the enlightened (bodhi) mind; joy in overcoming all demons; joy in eradicating all troubles (klesa); joy in purifying the Buddha land; joy in winning merits from excellent physical marks; joy in embellishing the bodhimandala (the holy site); joy in fearlessness to hear (and understand ) the profound Dharma; joy in the three perfect doors to nirvana (i.e. voidness, formlessness and inactivity) as contrasted with their incomplete counterparts (which still cling to the notion of objective realization); joy of being with those studying the same Dharma and joy in the freedom from hindrance when amongst those who do not study it; joy to guide and convert evil men and to be with men of good counsel; joy in thestat of purity and cleanness; joy in the practice of countless conditions contributory to enlightenment. All this is the Bodhisattva joy in the Dharma.' • Khi ấy Ma Ba Tuần bảo các Thiên nữ rằng: “Ta muốn cùng các ngươi trở về Thiên cung.”—At that time, the demon said to the girls: 'I want you all to return with me to our palace.' • Các Thiên nữ đáp: “Ông đã đem chúng tôi cho cư sĩ, chúng tôi có pháp vui, chúng tôi vui lắm, không còn muốn vui theo ngũ dục nữa.”—The girls replied: 'While we are here with the venerable upasaka, we delight in the joy of the Dharma; we no longer want the five kinds of worldly pleasures.' • Ma liền thưa với ông Duy Ma Cật rằng: “Xin ngài nên xả các Thiên nữ nầy; người đem tất cả vật của mình để bố thí cho kẻ khác, đó mới là Bồ Tát—The demon then said to Vimalakirti: 'Will the upasaka give away all these girls, as he who gives away everything to others is a Bodhisattva?' • Ông Duy Ma Cật nói: “Ta đã xả rồi, ngươi hãy đem đi. Như thế ta đã làm cho tất cả chúng sanh đặng phát nguyện đầy đủ.”—Vimalakirti said: 'I now give up all of them and you can take them away so that all living beings can fulfill their vows to realize the Dharma.' • Lúc ấy các Thiên nữ hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Chúng tôi làm thế nào ở nơi cung ma?”—The girls then asked Vimalakirti: 'What should we do while staying at the demon's palace?' • Ông Duy Ma Cật đáp: “Này các chị, có Pháp môn tên là Vô Tận Đăng, các chị nên học. Vô tận đăng là ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng, sáng mãi không cùng tận. Như thế đó các chị! Vả lại một vị Bồ Tát mở mang dẫn dắt trăm ngàn chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đạo tâm của mình cũng chẳng bị tiêu mất, tùy nói Pháp gì đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó gọi là Vô Tận Đăng. Các chị dầu ở cung ma mà dùng Pháp môn Vô Tận Đăng nầy làm cho vô số Thiên nữ phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác, đó là báo ơn Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.”—Vimalakirti replied: 'Sisters, there is a Dharma called the Inexhaustible Lamp which you should study and practice. For instance, a lamp can (be used to) light up hundreds and thousands of other lamps; darkness will thus be bright and this brightness will be inexhaustible. So, sisters, a Bodhisattva should guide and convert hundreds and thousands of living beings so that they all develop the mind set on supreme enlightenment; thus his deep thought (of enlightening others) is, likewise, inexhaustible. His expounding of the Dharma will then increase in all excellent Dharmas; this is called the Inexhaustible Lamp. Although you will be staying at the demon's palace you should use this Inexhaustible Lamp to guide countless sons and daughters of devas to develop their minds set on supreme enlightenment, in order to repay your debt of gratitude to the Buddha, and also for the benefit of all living beings.' • Bấy giờ các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật rồi theo Ma Ba Tuần trở về Thiên cung, bỗng nhiên biến mất không còn thấy nữa—The devas ' daughters bowed their heads at Vimalakirti's feet and followed the demon to return to his palace; and all of a sudden they vanished.” • Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật có thần lực tự tại và trí tuệ biện tài như thế, nên con không kham lãnh đến thăm bệnh ông—World Honoured One, since Vimalakirti possesses such supernatural power, wisdom and eloquence, I am not qualified to call on him to enquire after his health.”
trì thế đà la ni kinh
Vasudhāradhāraṇī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
Trì thế đà-la-ni kinh 持世陀羅尼經
[ja] ジセイダラニキョウ Jise darani kyō ||| The Chishi tuoluoni jing; Skt. Vasudhārā-dhāraṇī; Tib. 'phags pa nor gyi rgyun shes bya ba'i gzungs [To.662/1007, P.341/632]; (Dhāraṇī of the World Upholder). Devoted to the bodhisattva Vasudhārā 持世菩薩, who grants safety, longevity, etc. Chinese translations: (1) 1 fasc. (T 1162.20.666-667), Dhāraṇī of the Holder of Worlds 持世陀羅尼經, trans. Xuanzang 玄奘 (in 654). (2) 1 fasc. (T 1163.20.667-669), Dhāraṇī of the Rain Gem 雨寶陀羅尼經 trans. Amoghavajra 不空. (3) 1 fasc. (T 1164.20.669-672), Dhāraṇī of the Holy Holder of Worlds in the Mahāyāna 大乘聖吉祥持世陀羅尼經, trans. Fatian 法天. BGBT4/116. For a Sanskrit edition, see Masuda (1927). => (c: Chishi tuoluoni jing; s: Vasudhārā-dhāraṇī; t: phags pa nor gyi rgyun shes bya ba'i gzungs; e: Dhāraṇī of the World Upholder). Kinh nói đến sự chí thành của Bồ-tát Trì Thế (c: Vasudhārā 持世菩薩), vị ban cho sự bình an trường thọ, v.v... Các bản dịch tiếng Hán gồm: Trì Thế đà-la-ni kinh (持世陀羅尼經e: Dhāraṇī of the Holder of Worlds), 1 quyển; Huyền Trang (c: Xuanzang 玄奘) dịch năm 654. Vũ bảo đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Rain Gem 雨寶陀羅尼經) 1 quyển; Bất Không (s: Amoghavajra 不空) dịch. Đại thừa thánh kiết tường Trì Thế đà-la-ni kinh (e: Dhāraṇī of the Holy Holder of Worlds in the Mahāyāna 大乘聖吉祥持世陀羅尼經), 1 quyển. Pháp Thiên (c: Fatian 法天) dịch.Về bản tiếng Sanskrit , xem Masuda (1927).
trì thục
Isadhara (P)Y sa đà la, Tự tại trìMột trong 8 núi lớn bao quanh núi Tu di. Núi này cao 21.000 do tuần.
trì thủy
Jatimdhara (skt)—Một vị lương y đã điều chỉnh toa thuốc và thức ăn trong các mùa cho bệnh nhân, sau nầy tái sanh làm Tịnh Phạn Vương—A physician who adjusted prescriptions and diet to the seasons; reborn as Suddhodana.
trì trai
To keep the vegetarian diet; vegetarian. To keep the fast, i.e. not eat after noon.
; See Trì Tố.
trì trượng mẫu
Daṇḍa dhāraṇī (S)Tên một vị thiên.
trì trục sơn
Isadhara (skt)—Trì trục Sơn có tên tiếng Phạn là Y Sa Đà La Sơn, vòng núi thứ nhì trong bảy vòng bao quanh núi Tu Di, có hình như trục bánh xe—The second of the seven concentric mountains round Mount Meru, rounded like a hub.
trì tố
Trì trai hay ăn chay và không ăn sau giờ ngọ (từ 11 đến 1 giờ chiều)—To keep to vegetarian diet—Vegetarian—To keep the fast, i.e. not to eat after noon.
trì tức niệm
The contemplation in which the breathing
; Một trong ngũ đình tâm quán, quán hay kiểm soát hơi thở để định tâm—One of the five-fold procedures for quieting the mind, the contemplation in which the breathing is controlled—See Ngũ Đình Tâm Quán.
Trì vệ 持衞
[ja] ジエイ jiei ||| To guard and take care of. 〔持心梵天所問經 585.15.2b4〕 => Sự giữ gìn và chăm sóc. [持心梵天所問經Trì tâm Phạm thiên vương sở vấn kinh].
trì địa
Dharanimdhara (S). Holder or ruler of the earth, or land; name of a Bodhisattva, who predicted the future of Avalokitesvara.
; Dharanimdhara (skt)—Tên của một vị Bồ tát người được Phật thọ ký là tương lai của Ngài Quán Âm—Holder or ruler of the earth or land—Name of a bodhisattva, whom the Buddha predicted as the future of Avalokitesvara.
trì địa bồ tát
Dhāraṇīṁdhara (S)Tên một vị Bồ tát.
Trì Địa bồ-tát 持地菩薩
[ja] ジチボサツ jichi bosatsu ||| Earth-holding bodhisattva. 〔法華經 T 262.9.58b03〕
trì địa thần
Xem Kiên Lao địa thiên.
trì địa trụ
Trụ thứ nhì trong Thập Trụ—The second ground of the ten grounds—See Thập Trụ (2).
Trì Địa 持地
[ja] ジチ Jichi ||| Earth Holder. A bodhisattva who appears in a number of Mahāyāna scriptures. 〔法華經 T 262.9.58b3〕 => Một vị bồ-tát xuất hiện trong nhiều kinh Đại thừa.
trì độn
Slow and stupid—Dull.
Trì 持
[ja] ジ ji ||| (1) Verify, validate, confirm; judge, decide. (2) Memorize, remember. (3) Realm, world. (4) Keep, preserve, maintain. (5) To learn and retain exactly. (6) Basis. => 1. Thực hiện (lời hứa, lời phát nguyện), làm cho có hiệu lực, củng cố; phán đoán, xử lý. 2. Ghi nhớ, nhớ lại. 3. Cõi giới, thế giới. 4.Giữ, bảo quản, duy trì. 5. Học và ghi nhớ chính xác. 6. Căn bản.
trì, phạm
Maintaining and transgressing, i.e. keeping the precepts by Chỉ trì ceasing to do wrong and Tác trì doing ăhat is right, e.g. worship, the monastic life, etc.; transgression is also of two kinds, i.e. Tác phạm positive in doing evil and Chỉ phạm negative in not doing good.
trình
1) Đệ trình: To submit (proof or proposal). 2) Trình báo: To report. 3) Trình bày: To show—To produce.
trình diễn
To perform—To act.
trình diễn bề ngoài
Outward show.
trình diện
To present (report) oneself.
Trình Gi
(程頤, 1033-1107): học giả dưới thời Bắc Tống, người vùng Lạc Dương (洛陽), Tỉnh Hà Nam (河南省), tự là Chánh Thúc (正叔), bút hiệu Chánh Công (正公), em của Trình Hạo (程顥). Ông cùng anh mình theo học với Châu Liêm Khê (周濂溪) và người đời thường gọi là Y Xuyên Tiên Sinh (伊川先生). Trước tác của ông có Dịch Truyện (易傳), Kinh Thuyết (經説), Y Xuyên Văn Tập (伊川文集), v.v.
trình giải
Là trình kiến giải hoặc sở ngộ của mình để xin thầy ấn chứng.
Trình Hạo
(程顥, 1032-1085): học giả dưới thời Bắc Tống, người vùng Lạc Dương (洛陽), Tỉnh Hà Nam (河南省), tự là Bá Thuần (伯淳), bút hiệu Thuần Công (純公), người đời thường gọi là Minh Đạo Tiên Sinh (明道先生). Ông cùng với em Trình Gi (程頤) là môn nhân của Châu Liêm Khê (周濂溪), cả hai được gọi là Nhị Trình Tử (二程子). Di văn và ngữ lục của ông được gọi là Nhị Trình Toàn Thư (二程全書), Trình Tử Di Thư (程子遺書), v.v.
trình độ
Level—Standard—Degree.
trìu mến
Tender—Sympathetic.
Trí
智; C: zhì; J: chi; |Là trí hiểu biết; các Luận sư Phật giáo phân biệt rất nhiều loại trí nhưng nhìn chung, người ta phân ra các loại sau:|1. Trí tuệ, tác dụng của khả năng hiểu biết(s: dhī, buddhi, abhijñā, mati; t: shes pa). Sự hiểu biết; 2. Người hiểu biết; 3. Trí tuệ (s: jñāna); 4. Trí giác ngộ, trí trực giác, sự nhận biết qua trực giác; 5. Trí vô phân biệt theo Du-già hành tông. Nhận thức bằng trực giác rõ biết các pháp không có thật thể; 6. Cái thâm nhập và hiện năng như cả hai, trí căn bản và trí phân biệt.|Trong Ðại thừa, hiểu được tất cả các kinh điển được gọi là có »trí«, đó là cấp thứ 10 trong Thập địa (s: bhūmi). Tuy vậy, hai danh từ trí (jñāna) và trí huệ (prajñā) thường được sử dụng với ý nghĩa như nhau, tức là trí huệ siêu việt, đưa đến bờ giác (xem Năm trí, Ba trí, Phật gia).
trí
Xem Tỳ bà sa luận,Xem huệ.
; Jnàna (S) Knowledge, wisdom.
; Jnana or Buddhi (skt)—Nhã Na—Xà Na. (I) Nghĩa của “Trí”—The meanings of “Jnana” • Vidya (skt)—Kiến thức—Knowledge. • Vijnana (skt)—Trí Huệ—Wisdom arising from perception or knowing—Mind—Wit. • Jnana (skt)—Trí huệ Bát Nhã—Wisdom Paramita—Đối với đạo lý của hết thảy sự vật có khả năng đoán định phải trái chánh tà—Decision or judgment as to phenomena or affairs and their principles, of things and their fundamental laws. • Đến hay đạt đến: To reach—To arrive. • Ưu việt: Utmost—Perfect. • Đôi khi khó mà vạch ra một cách rõ ràng sự khác biệt giữa Buddhi và Jnana, vì cả hai đều chỉ cái trí tương đối của thế tục cũng như trí siêu việt. Trong khi Prajna rõ ràng là cái trí siêu việt: The difference between Buddhi and Jnana is sometimes difficult to point out definitively, for they both signify worldly relative knowledge as well as transcendental knowledge. While Prajna is distinctly pointing out the transcendental wisdom. (II) Những lời Phật dạy về “Trí” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Jnana” in the Dharmapada Sutra: 1) Ngu mà tự biết ngu, tức là trí, ngu mà tự xưng rằng trí, chính đó mới thật là ngu—A foolish man who knows that he is a fool, for that very reason a wise man; the fool who think himself wise, he is indeed a real fool (Dharmapada 63). 2) Người trí dù chỉ gần gủi người trí trong khoảnh khắc cũng hiểu ngay được Chánh pháp, chẳng khác gì cái lưỡi dù mới tiếp xúc với canh trong khoảnh khắc, đã biết ngay được mùi vị của canh—An intelligent person associates with a wise man, even for a moment, he will quickly understand the Dharma, as the tongue tastes the flavour of soup (Dharmapada 65). 3) Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng, ưa nghe Thánh nhơn thuyết pháp—Those who drink the Dharma, live in happiness with a pacified mind; the wise man ever rejoices in the Dharma expounded by the sages (Dharmapada 79). 4) Người tưới nước lo dẫn nước, thợ làm cung tên lo uốn cung tên, thợ mộc lo nẩy mực đo cây, còn người trí thì lo tự điều phục lấy mình—Irrigators guide the water to where they want, fletchers bend the arrows, carpenters control their timber, and the wise control or master themselves (Dharmapada 80). 5) Như ngọn núi kiên cố, chẳng bao giờ bị gió lay, cũng như thế, những lời hủy báng hoặc tán dương chẳng bao giời làm lay động người đại trí—As a solid rock is not shaken by the wind; likewise, the wise are not moved by praise or blame (Dharmapada 81). 6) Như nước hồ sâu, vừa yên lặng trong sạch, những người có trí tuệ sau khi nghe pháp, tâm họ cũng thanh tịnh và yên lặng—Water in a deep lake is clear and still; similarly, on hearing the Buddha teachings, the wise become extremely serene and peaceful (Dharmapada 82). 7) Người lành thường xa lìa mà không bàn đến những điều tham dục. Kẻ trí đã xa lìa niệm lự mừng lo, nên chẳng còn bị lay động vì khổ lạc—Good people give up all attachments, they don't talk about sensual craving. The wise show neither elation nor depression; therefore, they are not affected by happiness or sorrow (Dharmapada 83). 8) Không vị tình thiên hạ, cũng không vị tình một người nào, người trí không làm bất cứ điều gì sai quấy: không nên cầu con trai, sự giàu có, vương quốc bằng việc sai quấy; không nên cầu mong thành công của mình bằng những phương tiện bất chánh. Được vậy mới thật là người đạo đức, trí tuệ và ngay thẳng—Neither for the sake of oneself, nor for the sake of another, a wise man does nothing wrong; he desires not son, wealth, or kingdom by doing wrong; he seeks his own success not by unjust means, then he is good, wise and righteous (Dharmapada 84). 9) Con thiên nga chỉ bay được giữa không trung, người có thần thông chỉ bay được khỏi mặt đất, duy bậc đại trí, trừ hết ma quân mới bay được khỏi thế gian nầy—Swans can only fly in the sky, man who has supernatural powers can only go through air by their psychic powers. The wise rise beyond the world when they have conquered all kinds of Mara (Dharmapada 175).
trí ba la mật
Jānapāramitā (S)Một trong Thập Ba la mật. Hiểu rõ các pháp, giũ vững trung đạo: không chán sanh tử, không ham Niết bàn, có đại xả tâm, thương xót chúng sanh, nói pháp Nhứt thừa khiến chúng sanh đắc Phật đạo.
; Prajna-paramita (skt)—Paramita wisdom—See Trí Độ.
Trí ba-la-mật
智波羅蜜; C: zhìbōluómì; J: chiharamitsu;|Sự hoàn chỉnh của toàn trí toàn thức—có khả năng nhận rõ các hiện tượng trong pháp giới chân thật như thể tính của chúng (s: jñāna-pāramitā). Là một trong 10 ba-la-mật.
Trí ba-la-mật 智波羅蜜
[ja] チハラミツ chiharamitsu ||| The perfection of omniscience--to be able to understand the myriad phenomena of the universe exactly as they are (jñāna-pāramitā). One of the ten pāramitās 十波羅蜜. => Sự hoàn chỉnh của toàn trí toàn thức—có khả năng nhận rõ các hiện tượng trong pháp giới chân thật như thể tính của chúng (s: jñāna-pāramitā). Là một trong 10 ba-la-mật.
Trí ba-la-mật-đa
智波羅蜜多; C: zhìbōluómìduō; J: chihara-mitsuta;|Trí ba-la-mật (智波羅蜜).
Trí bi
智悲; C: zhìbēi; J: chihi;|Trí tuệ và từ bi của chư Phật (s: jñāna-karuṇā).
trí bi
All-knowing and all-pitying; these two with Định contemplative make up the Tam Đức three virtues or qualities of a Buddha.
; Trí Đức và Bi Đức, hai trong ba đức của Phật—All-knowing and all-pitying qualities of a Buddha, two of the three virtues or qualities of a Buddha. ** For more information, please see Tam Đức (D).
Trí bi 智悲
[ja] チヒ chihi ||| The wisdom and compassion of the Buddha (jñāna-karuṇā) => Trí tuệ và từ bi của chư Phật (s: jñāna-karuṇā).
trí biện
Wisdom and dialectic power; wise discrimination; argument from knowledge.
; 1) Trí tuệ và khả năng biện biệt: Wisdom and dialectic power. 2) Sự biện biệt khôn ngoan: A wise discrimination. 3) Sự biện biệt bằng trí tuệ: Argument from knowledge.
Trí Bảo
智寶; ?-1190|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Nguyễn, quê ở Ô Diên, Vĩnh Khương, là cậu ruột của Tô Hiến Thành, vị đại công thần đời vua Lí Anh Tông. Sư ban đầu xuất gia tu khổ hạnh, sau lại chuyên tạo phúc bằng cách sửa đường, cất chùa, xây tháp.|Một hôm, Sư gặp một vị tăng, vị này hỏi: »Sinh từ đâu lại, tử đi về đâu!« Sư suy nghĩ, vị này bảo: »Trong lúc ông suy nghĩ, mây trắng bay ngàn dặm.« Sư cũng không đáp được, tăng quát: »Chùa tốt mà không có Phật« và bỏ đi. Sư tự than: »Ta tuy có tâm xuất gia, nhưng chưa hiểu được yếu chỉ của người xuất gia. Ví như kẻ đào giếng, dù đào đến chín, mười thước mà không có nước vẫn phải bỏ đi, huống là tu thân mà chẳng ngộ đạo thì có chí gì?« Nghe Thiền sư Ðạo Huệ giáo hoá tại Tiên Du, Sư liền đến yết kiến. |Gặp Ðạo Huệ, Sư hỏi: »Sinh từ đâu lại, tử đi về đâu?« Ðạo Huệ bảo: »Sinh không từ đâu lại, tử chẳng đi về đâu?« Sư hỏi: »Thế ấy chẳng rơi vào chỗ không sao?« Ðạo Huệ bảo: »Chân tính diệu viên, thể tự không tịch, vận dụng tự tại, chẳng đồng với sinh tử.« Nhân câu này, Sư ngộ yếu chỉ, nói: »Chẳng nhân gió cuốn mây trôi hết, đâu thấy trời trong muôn dặm thu.« Ðạo Huệ hỏi: »Ngươi thấy cái gì?« Sư thưa: »Biết nhau khắp thiên hạ, tri âm có mấy người?« rồi từ tạ thầy trở về núi.|Từ đây, Sư nói năng ngang dọc tự do tự tại, tuỳ duyên giáo hoá học nhân.|Ngày 14 tháng 4, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 5 đời vua Lí Anh Tông, Sư có chút bệnh rồi viên tịch.
trí bảo thiền sư
Zen Master Trí Bảo (?-1190)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Ô Diên, Bắc Việt. Ngài xuất gia tại chùa Thanh Tước trên núi Du Hý ở Thường Lạc. Ngài là pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài chuyên tu phước bằng cách bắc cầu bồi lộ ở những vùng thôn dã. Ngài thị tịch năm 1190—A Vietnamese Zen master from Ô Diên, North Vietnam. He left home to become a monk at Thanh Tước Temple on Mount Du Hý in Thường Lạc. He was the Dharma heir of the tenth generation of Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he focused in cultivating merits by building bridges, fixing roads in rural areas. He passed away in 1190.
trí chiếu sáng
Illuminated or enlightened intellect.
trí chánh giác
Xem Thế gian giải.
; Buddha's mind.
trí chân
Toàn chân—Perfect truth.
Trí Châu
智周; C: zhìzhōu; J: chishū, 668-723 |Tăng sĩ thuộc Pháp tướng tông Trung Hoa. Sư được xem là tổ thứ 3 hoặc là thứ 4 của tông nầy tuỳ theo việc xem Huyền Trang là sơ tổ. Sư trứ tác Thành Duy thức luận diễn bí (成唯識論演秘). Tập Diễn bí (演秘) của sư, cùng với Thành Duy thức luận xu yếu (成唯識論樞要) của Khuy Cơ, Thành Duy thức luận thuật kí (成唯識論述記) và Thành Duy thức luận liễu nghĩa đăng (成唯識論了義燈) được xem là tài liệu học tập căn bản của môn đệ Duy thức tông.
Trí Châu 智周
[ja] チシュウ Chishū ||| Zhizhou (668-723) A teacher of the lineage of the Faxiang 法相 in China. He is considered as either the third or fourth patriarch of the sect depending upon whether Xuanzang 玄奘 is considered to be the first. He wrote the Cheng weishi lun yanmi (成唯識論演秘). His Yanmi (演秘), Kuiji's Shouyao (成唯識論樞要) and Shouji (成唯識論述記) and Chengweishīun liaoyi deng (成唯識論了義燈) are considered basic reading for the student of Consciousness-only. => Zhizhou (668-723) Tăng sĩ thuộc Pháp tướng tông Trung Hoa. Sư được xem là tổ thứ 3 hoặc là thứ 4 của tông nầy tuỳ theo việc xem Huyền Trang là sơ tổ. Sư trứ tác Thành Duy thức luận diễn bí (成唯識論演秘c: Cheng weishi lun yanmi ). Tập Diễn bí (c: Yanmi 演秘) của sư, cùng với Thành Duy thức luận khu yếu (c: 成唯識論樞要) của Khuy Cơ, Thành Duy thức luận thuật ký (成唯識論述記) và Thành Duy thức luận liễu nghĩa đăng ( c: Chengweishīun liaoyi deng 成唯識論了義燈) được xem là tài liệu học tập căn bản của môn đệ Duy thức tông.
Trí chướng
智障; C: zhìzhàng; |Còn gọi là Sở tri chướng (所知障) hoặc là Trí ngại (智礙, s: jñeya-āvaraṇa). Là một trong 2 thứ chướng ngại, món kia là phiền não chướng. Trí chướng được xem là rất sâu, ảnh hưởng đến công phu tu tập ở các quả vị cao, trong khi phiền não chướng ảnh hưởng đến công phu tu tập ở các giai vị thấp.
trí chướng (sở tri chướng)
Worldly wisdom is a hindrance to true wisdom.
Trí chướng 智障
[ja] チショウ chishō ||| The "hindrance of wisdom" also known as the suozhizhang 所知障 or "hindrance by what is known" (智礙jñeya-āvaraṇa). One of the two hindrances, the other being the hindrance of defilements 煩惱障. The hindrance to wisdom is considered to be much more profound, affecting religious practitioners of high attainment, whereas the hindrance of defilement affects lower-level practitioners. 〔二障義、 HPC 1.789c〕 => Còn gọi là Sở tri chướng (c: suozhizhang 所知障) hoặc là Trí ngại (智礙s: jñeya-āvaraṇa). Là một trong 2 thứ chướng ngại, món kia là phiền não chướng. Trí chướng được xem là rất sâu, ảnh hưởng đến công phu tu tập ở các quả vị cao, trong khi phiền não chướng ảnh hưởng đến công phu tu tập ở các giai vị thấp.
trí chứng
Wisdom assurance, the witness of knowledge, the wisdom which realizes nirvàna.
; Dùng thực trí mà chứng đắc niết bàn—Wisdom assurance—The wisdom which realizes nirvana.
trí chử
1) Búa hay chày trí tuệ: The wisdom hammer (búa). 2) Tên khác của Kim Cương chùy: Another name for the vajra or diamond club.
trí căn
Jānendriya (S), Ñāṇa-indriya.
Trí cảnh
(智境): trí và cảnh. Trí (chủ thể) là tâm quán sát, cảnh (khách thể) là pháp đối với tâm. Khi mê thì trí và cảnh còn là hai đối tượng khác nhau; nhưng khi giác ngộ thì cả hai là một, không khác, không hai. Cho nên “ngộ Không trung chi diệu lý, trí cảnh nhất như (悟空中之妙理、智境一如)” có nghĩa là khi đã ngộ được lý nhiệm mầu của Không thì hai đối tượng trí và cảnh là một, không hề khác nhau, tương quan tương duyên, tương tức tương nhập. Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Giải (妙法蓮華經解) quyển 1 có câu: “Lục chấn hám Vô Minh chi chướng duyên, nhất quang hiện trí cảnh chi thật tướng (六震撼無明之障緣、一光現智境之實相, sáu chấn rung chuyển chướng duyên Vô Minh, một ánh sáng hiện thật tướng trí cảnh).” Hay trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 9 cũng có đoạn: “Phàm phu sở chấp ngã tướng, thị mê thức cảnh; quyền thánh sở chấp ngã tướng, thị mê trí cảnh, tuy thô tế bất đồng, giai danh nhận vật vi kỷ (凡夫所執我相、是迷識境、權聖所執我相、是迷智境、雖麤細不同、皆名認物爲己, người phàm phu chấp vào ngã tướng, đó là mê thức cảnh; bậc thánh chấp vào ngã tướng, đó là mê trí cảnh; tuy thô tế chẳng giống nhau, nhưng đều gọi là nhận lầm vật cho là mình).”
trí cảnh
The objects of wisdom, or its state, conditions.
; Jnana-darpanna (skt)—Vật thể, hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài làm môi giới cho trí quán sát (trí là cái tâm năng quán, cảnh là pháp ở bên ngoài ta)—The objects ( or states, or conditions) of wisdom.
Trí Cự
(智炬, Chikyo, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, còn gọi là Huệ Cự (慧炬、惠炬), tác giả của Bảo Lâm Truyện (寳林傳). Căn cứ vào Cương Mục Chỉ Yếu Lục (綱目指要錄) quyển 8 của Đại Tạng Kinh, Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載) quyển 10, trong khoảng thời gian niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) nhà Đường, Sa Môn Huệ Cự ở Kim Lăng (金陵) cùng với Thắng Trì Tam Tạng (勝持三藏) của Tây Thiên đã soạn Bảo Lâm Truyện 1 quyển tại Bảo Lâm Sơn (寳林山), Tào Khê (曹溪), Thiều Châu (韶州). Trong bản Bảo Lâm Truyện hiện tồn có đề câu: “Châu Lăng Sa Môn Trí Cự Tập (朱陵沙門智炬集, Sa Môn Trí Cự ở Châu Lăng thâu tập)”. Ngoài ra, hành trạng cũng như năm sinh và mất của ông đều không rõ.
trí cự
Xem Huệ cự.
; The torch of knowledge.
; Ngọn đuốc trí tuệ (sự sáng suốt của trí tuệ giống như ngọn đuốc)—A torch of wisdom.
Trí cự đà-la-ni kinh
智炬陀羅尼經; C: zhìjù tuóluóníjīng; J: chiko daranikyō; S: jñānolkā-dhāraṇī; t: ye shes ta la la shes bya ba'i gzungs 'gro ba thams cad yongs su sbyong ba|1. Trí cự đà-la-ni kinh, 1 quyển; Đề-vân Bát-nhã (提雲般若, s: devaprajñā) và những người khác dịch.|2. Trí quang diệt nhất thiết nghiệp chướng đà-la-ni kinh (智光滅一切業障陀羅尼經, s: jñānolkādhāraṇī-sarvadurgatipariśo-dhanī), 1 quyển; Thí Hộ dịch. Nguyên bản tiếng Tân Cương (khotanese): Monumenta Serindica.
Trí cự đà-la-ni kinh 智炬陀羅尼經
[ja] チコダラニキョウ Chiko daranikyō ||| The Zhiju tuoluonijing; Skt. Jñānolkā-dhāraṇī; Tib. ye shes ta la la shes bya ba'i gzungs 'gro ba thams cad yongs su sbyong ba [To.522/848]; (Dhāraṇī of the Lamp of Knowledge). (1) 1 fasc. (T 1397.21.913-914), Dhāraṇī of the Lamp of Knowledge 智炬陀羅尼經, trans. Devapraj~nā 提雲般若 et al. (2) 1 fasc. (T 1398.21.914-915), Dhāraṇī of the Gnostic Lamp which Destroys All Karmic Hindrances (*Jñānolkādhāraṇī-sarvadurgatipariśodhanī) 智光滅一切業障陀羅尼經, trans. Dānapāla 施護. Khotanese text: Monumenta Serindica v.4, p.356 ff. BGBT4/70. The Zhiju tuoluonijing; Skt. Jñānolkā-dhāraṇī; Tib. ye shes ta la la shes bya ba'i gzungs 'gro ba thams cad yongs su sbyong ba [To.522/848]; (Dhāraṇī of the Lamp of Knowledge). (1) 1 fasc. (T 1397.21.913-914), Dhāraṇī of the Lamp of Knowledge 智炬陀羅尼經, trans. Devapraj~nā 提雲般若 et al. (2) 1 fasc. (T 1398.21.914-915), Dhāraṇī of the Gnostic Lamp which Destroys All Karmic Hindrances (*Jñānolkādhāraṇī-sarvadurgatipariśodhanī) 智光滅一切業障陀羅尼經, trans. Dānapāla 施護. Khotanese text: Monumenta Serindica v.4, p.356 ff. BGBT4/70. => (c: Zhiju tuoluonijing; Skt. Jñānolkā-dhāraṇī; t: ye shes ta la la shes bya ba'i gzungs 'gro ba thams cad yongs su sbyong ba ; e: Dhāraṇī of the Lamp of Knowledge). Trí cự đà-la-ni kinh (智炬陀羅尼經 e: Dhāraṇī of the Lamp of Knowledge); 1 quyển; Đề-vân Bát-nhã (s: Devapraj~nā 提雲般若) và những người khác dịch. Trí quang diệt nhất thiết nghiệp chướng đà-la-ni kinh ( 智光滅一切業障陀羅尼經; e: Dhāraṇī of the Gnostic Lamp which Destroys All Karmic Hindrances; s: *Jñānolkādhāraṇī-sarvadurgatipariśodhanī). 1 quyển; Thi Hộ dịch. Nguyên bản tiếng Tân Cương (Khotanese ): Monumenta Serindica.
trí di man sai phái
Xem Phệ Đàn Đa phái.
trí diệu
Mystic knowledge (which reveals spiritual realities).
; Mật trí giúp phơi bày chân lý—Mystic knowledge which reveals spiritual realities.
Trí duyên diệt
智縁滅; C: zhìyuànmiè; J: chienmetsu;|Chứng đắc Niết-bàn (tịch diệt) do nhận biết rõ ràng pháp duyên sinh. Đồng nghĩa với Trạch diệt (擇滅).
Trí duyên diệt 智縁滅
[ja] チエンメツ chienmetsu ||| Cessation (nirvāna) attained by the full understanding of dependent origination. Equivalent in meaning to zemie 擇滅. "Extinction by analysis." => Chứng đắc Niết-bàn (tịch diệt) do nhận biết rõ ràng pháp duyên sinh. Đồng nghĩa với Trạch diệt (c: zemie 擇滅).
trí dược
Chih yueh (C)Giới đàn Huệ Năng.
trí dục
Intellectual education (cultivation or culture).
Trí dụng
智用; C: zhìyòng; J: chiyō;|Tác dụng của trí huệ.
Trí dụng 智用
[ja] チヨウ chiyō ||| The function of wisdom. => Tác dụng của trí huệ.
trí giáo
Toàn Giáo—Complete or perfect teaching.
Trí giả
智者; C: zhìzhĕ; J: chisha;|Một bậc thông thái, một tăng sĩ đức hạnh, một học giả (s: paṇḍita).
trí giả
Chih Che (C), Chisha (J), Chih-I (C), Chih-che (C), Chigi (J)Người sáng lập Thiên Thai tông ở Trung quốc (538-598)Trí Khải.
; The knower, or wise man.
; (I) Nghĩa của Trí Giả—The meaning of Knower: 1) Người trí: Knower—Wise man. 2) Trí Giả hay Trí Khải: Trí Giả hay Trí Khải, người sáng lập tông phái Thiên Thai bên Trung Quốc—Chih-Che or Chih-K'ai, founder of the T'ien-T'ai sect in China—See Trí Khải, and Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. (II) Những lời Phật dạy về Trí Giả trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “the wise” in the Dharmapada Sutra: 1. Nếu gặp được người hiền trí thường chỉ bày lầm lỗi và khiển trách mình những chỗ bất toàn, hãy nên kết thân cùng họ và xem như bậâc trí thức đã chỉ kho tàng bảo vật. Kết thân với người trí thì lành mà không dữ—Should you see an intelligent man who points out faults and blames what is blame-worthy, you should associate with such a wise person. It should be better, not worse for you to associate such a person (Dharmapada 76). 2. Những người hay khuyên răn dạy dỗ, cản ngăn tội lỗi kẻ khác, được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu—Those who advise, teach or dissuade one from evil-doing, will be beloved and admired by the good, but they will be hated by the bad (Dharmapada 77). 3. Chớ nên làm bạn với người ác, chớ nên làm bạn với người kém hèn, hãy nên làm bạn với người lành, với người chí khí cao thượng—Do not associate or make friends with evil friends; do not associate with mean men. Associate with good friends; associate with noble men (Dharmapada 78). 4. Được uống nước Chánh pháp thì tâm thanh tịnh an lạc, nên người trí thường vui mừng, ưa nghe Thánh nhơn thuyết pháp—Those who drink the Dharma, live in happiness with a pacified mind; the wise man ever rejoices in the Dharma expounded by the sages (Dharmapada 79). 5. Người tưới nước lo dẫn nước, thợ làm cung tên lo uốn cung tên, thợ mộc lo nẩy mực đo cây, còn người trí thì lo tự điều phục lấy mình—Irrigators guide the water to where they want, fletchers bend the arrows, carpenters control their timber, and the wise control or master themselves (Dharmapada 80). 6. Như ngọn núi kiên cố, chẳng bao giờ bị gió lay, cũng như thế, những lời hủy báng hoặc tán dương chẳng bao giời làm lay động người đại trí—As a solid rock is not shaken by the wind; likewise, the wise are not moved by praise or blame (Dharmapada 81). 7. Như nước hồ sâu, vừa yên lặng trong sạch, những người có trí tuệ sau khi nghe pháp, tâm họ cũng thanh tịnh và yên lặng—Water in a deep lake is clear and still; similarly, on hearing the Buddha teachings, the wise become extremely serene and peaceful (Dharmapada 82). 8. Người lành thường xa lìa mà không bàn đến những điều tham dục. Kẻ trí đã xa lìa niệm lự mừng lo, nên chẳng còn bị lay động vì khổ lạc—Good people give up all attachments, they don't talk about sensual craving. The wise show neither elation nor depression; therefore, they are not affected by happiness or sorrow (Dharmapada 83). 9. Không vị tình thiên hạ, cũng không vị tình một người nào, người trí không làm bất cứ điều gì sai quấy: không nên cầu con trai, sự giàu có, vương quốc bằng việc sai quấy; không nên cầu mong thành công của mình bằng những phương tiện bất chánh. Được vậy mới thật là người đạo đức, trí tuệ và ngay thẳng—Neither for the sake of oneself, nor for the sake of another, a wise man does nothing wrong; he desires not son, wealth, or kingdom by doing wrong; he seeks his own success not by unjust means, then he is good, wise and righteous (Dharmapada 84). 10. Trong nhân loại chỉ có một ít người đạt đến bến bờ kia, còn bao nhiêu người khác thì đang bồi hồi vơ vẩn tại bờ nầy—Few are among men who crosses and reaches the other shore; the rest of mankind only run about the bank (Dharmapada 85). 11. Những người nào hay thuyết pháp, hay theo Chánh pháp tu hành, thì được đạt tới bờ kia, thoát khỏi cảnh giới tà ma khó thoát—Those who preach and act according to the teachings, are those who are crossing the realm of passions which is so hard to cross, and those who will reach the other shore (Dharmapada 86). 12. Người trí hãy nên rời bỏ hắc pháp (ác pháp) mà tu tập bạch pháp (thiện pháp), xa gia đình nhỏ hẹp, xuất gia sống độc thân theo pháp tắc Sa-môn—A wise man should abandon the way of woeful states and follows the bright way. He should go from his home to the homeless state and live in accordance with the rules for Sramanas (Dharmapada 87). 13. Người trí phải gột sạch những điều cấu uế trong tâm, hãy cầu cái vui Chánh pháp, xa lìa ngũ dục mà chứng Niết bàn—A wise man should purge himself from all the impurities of the mind, give up sensual pleasures, and seek great delight in Nirvana (Dharmapada 88). 14. Người nào thường chính tâm tu tập các phép giác chi, xa lìa tánh cố chấp, rời bỏ tâm nhiễm ái, diệt hết mọi phiền não để trở nên sáng suốt, thì sẽ giải thoát và chứng đắc Niết bàn ngay trong đời hiện tại—Those whose minds are well-trained and well-perfected in the seven factors of enlightenment, who give up of grasping, abandon defiled minds, and eradicate all afflictions. They are shinning ones and have completely liberated and attained Nirvana even in this world (Dharmapada 89).
trí giả đại sư
Chih che Taishi (C).
Trí giả 智者
[ja] チシャ chisha ||| A learned person, a worthy, a scholar (pandita). => Một bậc thông thái, một tăng sĩ đức hạnh, một học giả (s: pandita).
trí giới
The realm of knowledge in contrast with Lí giới that of fundamental principles of law.
; Trí giới là lý trí tương đối, đối lại với lý giới—The realm of knowledge, in contrast with that of fundamental principles of law (Lý giới).
trí hiền
Prajābhadrā (S)Tên một vị sư.Xem Sám.
trí hoàng
Chih huang (C)Tên một vị sư.
; Thiền sư Trí Hoàng—Zen master Chih-Huang—Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, Thiền sư Trí Hoàng, chuyên học ngồi thiền với Ngũ Tổ. Sau hai mươi năm ngồi tịnh trong am, ông tự coi như được chánh định. Học trò của Huệ Năng là Huyền Sách nghe tiếng đồn bèn tìm đến thảo am, hỏi: “Ông ngồi làm gì đây?” Trí Hoàng đáp: “Nhập định.” Huyền Sách hỏi: “Ông nói ông nhập định, vậy ông hữu tâm mà nhập? Hay vô tâm mà nhập? Nếu là vô tâm thì tất cả thế giới vô tình như cỏ cây ngói gạch đều có thể nhập định hết thảy. Bằng hữu tâm mà nhập thì mọi giống hữu tình, hàm linh có ý thức, đều cũng định được.” Trí Hoàng nói: “Trong khi tôi nhập định thì không biết là hữu tâm hoặc vô tâm.” Huyền Sách lại nói: “Nếu ông không biết là hữu tâm hoặc vô tâm thì lúc nào cũng là định, sao còn gọi là 'xuất nhập.' Nếu có xuất nhập thì chẳng phải là đại định.” Trí Hoàng không đáp, lát sau hỏi: “Thầy của ông là ai?” Huyền Sách nói: “Thầy tôi là Lục Tổ ở Tào Khê.” Trí Hoàng lại hỏi: “Lục Tổ dạy thế nào về Thiền định?” Huyền Sách thưa: “Thầy tôi nói rằng Thiền vốn lặng im mà huyền diệu (diệu trạm), vắng lặng mà tròn đầy (viên tịch), thể và dụng đều như như, chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định chẳng loạn. Thiền tánh không có chỗ trụ, chớ trụ ở chỗ vắng lặng của Thiền. Thiền tánh chẳng sanh, chớ đâm nghĩ về sự sanh diêt của Thiền. Tâm như hư không, nhưng đừng có suy lường về hư không.” Trí Hoàng nghe vậy bèn đến yết kiến Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Ông là ai?” Trí Hoàng trình hết mọi việc. Tổ nói: “Đúng như lời của Huyền Sách nói, ông cứ để tâm ông tự nhiên như hư không, mà vẫn không một kiến giải nào về cái không ấy, thì tâm sẽ ứng dụng tự do, không vướng mắc, dầu làm gì, động hay tịnh, vẫn là vô tâm, và đó là lúc phàm hay Thánh đều quên hết, năng (chủ) và sở (khách) đều dứt trọn, tánh và tướng đều như như, tức là không lúc nào chẳng là định vậy.”—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Buddhism, Book I, Chih-Huang was an adept in meditation, which he studied under the fifth patriarch. After twenty years of meditation he thought he well understood the purport of meditation or samadhi. Hsuan-Ts'e, learning his attainment, visited him, and said: “What are you doing there?” Chih-Huang said: “I am entering into a samadhi.” Hsuan-Ts'e said: “You speak of entering, but how do you enter into samadhi with a thoughtful mind or with a thoughtless mind? If you say with a thoughtless mind, all non-sentient beings such as plants or bricks could attain samadhi. If you say with a thoughtful mind, all sentient beings could attain it.” Chih-Huang said: “When I enter into samadhi, I am not conscious of either being thoughtful or being thoughtless.” Hsuan-Ts'e said: “If you are conscious of neither, you are right in samadhi all the time; why you then talk at all of entering into it or coming out of it? If, however, there is realy entering or coming out, it is not Great Samadhi.” Chih-Huang did not know how to answer. After a while he asked who was Hsuan-Ts'e's teacher and what was his understanding of samadhi. Hsuen-Ts'e said: “Hui-Neng is my teacher, and according to him, the ultimate truth lies mystically serene and perfectly quiet; substance and function are not to be separated, they are of one Suchness. The five skandhas are empty in their nature, and the six sense-objects have no reality. The truth knows of neither entering nor going out, neither being tranquil nor disturbed. Dhyana in essence has no fixed abode. Without ataching yourself to an abode, be serene in dhyana. Dhyana essence is birthless; without attaching yourself to the thought of birth and death, thinking in dhyana. Have your mind like unto space and yet have no thought of space.” Thus learning the sixth patriarch's view on samadhi or dhyana, Chih-Huang came to the master himself and asked to be further enlightened. The patriarch said: “What Hsuan-Ts'e told you is true. Have your mind like unto space and entertain in it no thought of emptiness. Then the truth will have its full activity unimpeded. Every movement of yours will come out of an innocent heart, and the ignorant and the wise will have an equal treatment in your hands. Subject and object will lose their distinction, and essence and appearance will be of one suchness. When a world of absolute oneness is thus realized, you have attained to eternal samadhi.”
trí hoặc
Wisdom and delusion.
; Trí tuệ và sự nghi hoặc—Wisdom and delusion.
Trí huệ
智慧; C: zhìhuì; J: chie; S: prajñā; P: paññā|Phương diện quan trọng về dụng của tâm giác ngộ nhận thức rõ chân tính của các pháp, từ đó có sự vận hành cắt đứt mọi phiền não và mọi hành vi tai hại. Là một trong Lục ba-la-mật (六波羅蜜). Trí Bát-nhã, Trí
trí huệ
Jnana (skt)—Wisdom—See Trí Tuệ.
trí huệ (thế gian)
Ñāṇa (P), Jāna (S, P), Buddhatā (P), Paa (P), Buddhi (J), Prajā (S), she rab (T) Wisdom, Intelligence Ban-na, Bát nhã, tuệBan-na: 1 trong 6 thể loại kinh điển của Kỳ Na giáoMột trong 10 đại địa pháp.Tác dụng chọn lựa pháp thiện, ác. Cái đức dụng sáng suốt, thông hiểu sự lý, dứt điều lầm lạc mê muội, có lòng quyết định, hết sở nghi. Phật có 9 thứ huệ khác nhau. Người tu học có 3 cách phát huệ: - Văn huệ: nhờ nghe kinh, nghe thầy bạn mà phát huệ. - Tư huệ: nhờ suy xét mà phát huệ - Tu huệ: nhờ thiền định mà phát huệ Xem xà na.
trí huệ ba la mật
Paāpāramitā (P), Perfection of Wisdom Bát nhã Ba la mật.
; Prajna-paramita (skt)—Wisdom-paramita. 1) See Bát Nhã. 2) Trí huệ Ba la mật là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta đoạn trừ tận gốc rễ bóng tối của si mê. Trong các phiền não căn bản thì si mê là thứ phiên não có gốc rễ mạnh nhất. Một khi gốc rễ của si mê bị bật tung thì các loại phiền não khác như tham, sân, chấp trước, mạn, nghi, tà kiến, đều dễ bị bật gốc. Nhờ có trí huệ Ba La Mật mà chúng ta có khả năng dạy dỗ và hướng dẫn những chúng sanh si mê. Để đạt được trí huệ Ba La Mật, hành giả phải nỗ lực quán chiếu về các sự thực vô thường, vô ngã, và nhân duyên của vạn hữu. Một phen đào được gốc vô minh, không những hành giả tự giải thoát tự thân, mà còn có thể giáo hóa và hướng dẫn cho những chúng sanh si mê khiến họ thoát ra khỏi vòng kềm tỏa của sanh tử—The prajna-paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we eradicate the darkness of ignorance. Among the basic desires and passions, ignorance has the deepest roots. When these roots are loosened, all other desires and passions, greed, anger, attachment, arrogance, doubt, and wrong views are also uprooted. In order to obtain wisdom-paramita, practitioner must make a great effort to meditate on the truths of impermanence, no-self, and the dependent origination of all things. Once the roots of ignorance are severed, we can not only liberate ourselves, but also teach and guide fooloish beings to break through the imprisonment of birth and death. 3) For more information, please see Lục Độ Ba La Mật, and Trí Tuệ in Vietnamese- English Section.
trí huệ bát nhã
All-knowing wisdom.
; Prajna-paramita (skt)—Transcendental knowledge—See Trí Huệ Ba La Mật.
trí huệ bồ tát
Tannadhika (S), Bodhisattva of Wisdom.
trí huệ hải
Trí tuệ của Như Lai sâu rộng giống như biển—Buddha-wisdom deep and wide as the ocean.
trí huệ không cấu chướng
Unfettered knowledge.
trí huệ kiếm
The sword of wisdom.
trí huệ kiện toàn
Perfect knowledge.
Trí huệ lực
智慧力; C: zhìhuìlì; J: chieryoku;|Năng lực trí huệ (của chư Phật).
trí huệ lực
Wisdom—Insight.
Trí huệ lực 智慧力
[ja] チエキョク chieryoku ||| The power of (the Buddha's) wisdom. 〔法華經 T 262.9.9b23 => Năng lực trí huệ (của chư Phật).
trí huệ môn
Cửa ngõ đi vào trí tuệ hay quyền trí là cửa vào thực trí—The gate of Buddha-wisdom which leads to all truth. ** For more information, please see Nhị Trí Viên Mãn.
trí huệ nhật
Jnana bhaskara (The sun of knowledge.
trí huệ nhị biên
Dualistic wisdom.
trí huệ phật
Tathata-jnanabuddha (skt)—Buddha-wisdom—Great wisdom.
trí huệ quang minh
Wisdom or mental light.
trí huệ quang phật
Tên gọi tắt của Đức Phật A Di Đà (vì Đức Phật nầy có đủ trí huệ quang minh)—Wisdom Light Buddha, an abbreviated name for Amitabha Buddha. ** For more information, Please see A Di Đà.
trí huệ qui ước
Conventional wisdom.
trí huệ quán
Một trong ngũ quán của Đức Quán Thế Âm, dùng trí tuệ chân thực để quán sát lý thực tướng—One of the five types of meditation of Kuan-Shi-Yin, insight into reality. ** For more information, please see Ngũ Quán (3).
trí huệ thành tựu pháp
Janana-siddhi (S)Do Indrabhuti soạn khoảng thế kỷ VIII.
trí huệ thù thắng
Parama-panna (p)—Parama-prajna (skt)—Transcendental wisdom—Highest wisdom.
trí huệ thủy
Trí huệ thủy có công năng gột rửa tất cả những uế trược của dục vọng—The water of wisdom, which washes away the filth of passion.
trí huệ tối hậu
Ultimate wisdom.
Trí huệ đệ nhất
智慧第一; C: zhìhuì dìyī; J: chie daiichi;|Người có trí huệ sâu rộng nhất – danh hiệu dành cho Xá-lợi-phất, một trong 10 để tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Trí huệ đệ nhất 智慧第一
[ja] チエダイイチ chie daiichi ||| The greatest in wisdom--an appellation given to Śāriputra 舎利弗子, one of Śākyamuni's ten most prominent disciples. [Dictionary References]DFB CBS0607 [Credit] cmuller(entry) => Người có trí huệ sâu rộng nhất – danh hiệu dành cho Xá-lợi-phất, một trong 10 để tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Trí huệ độ
xem bờ bên kia.
Trí huệ 智慧
[ja] チエ chie ||| (Skt. prajñā, Pali paññā): 'wisdom.' An important aspect of the correctly functioning (enlightened) mind that perceives things in their true nature, and therefore acts to sever delusion and harmful habituation. One of the 'six perfections' 六波羅蜜. => (s: prajñā; p: paññā) Phương diện quan trọng về dụng của tâm giác ngộ nhận thức rõ chân tính của các pháp, từ đó có sự vận hành cắt đứt mọi phiền não và mọi hành vi tai hại. Là một trong Lục ba-la-mật.
trí hy
Xem Bát nhã Lưu chi.
trí húc đại sư
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Trí Húc Đại Sư tự là Ngẫu Ích, người đời nhà Thanh, con của họ Chung, quê ở Ngô Huyện. Thân phụ ngài thọ trì chú Đại Bi và Bạch Y, mộng thấy Đức Quán Thế Âm trao cho một đứa bé, sau đó mới sanh ra ngài. Thuở niên thiếu ngài theo Nho học, đã từng viết sách bài báng đạo Phật. Sau nhân xem được bộ sách “Trúc Song Tùy Bút Lục” của Liên Trì Đại Sư (Tổ thứ 8 của Tịnh Độ Trung Hoa), liền tỉnh ngộ, đốt bỏ cuốn sách của mình đã viết đi. Năm hai mươi tuổi, ngài học Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, nhờ đó mà phát ý xuất trần, mỗi ngày hằng luôn niệm Phật. Niên hiệu Thiên Khải năm đầu, ngài được 24 tuổi, sau khi nghe một Pháp Sư giảng kinh bỗng phát nghi tình, dụng công tham cứu. Ít lâu sau, được tỏ ngộ, liền đóng cửa nhập thất ở Ngô Giang. Thời kỳ ấy ngài đau nặng, mới quyết chí niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Sau khi bệnh vừa dứt, ngài liền kiết đàn trì chú vãng sanh một thất, đốt ba liều hương nơi cánh tay, thệ nguyện phát lòng Bồ Đề, cầu sanh Cực Lạc để mau chứng tròn đạo quả, sớm độ chúng sanh. Về sau Đại sư từng trụ trì các nơi như Ôn Lăng, Chương Châu, Thạch Thành, Thánh Khê, Trường Thủy, Tân An, rộng truyền giáo pháp Thiên Thai và môn niệm Phật. Thời bấy giờ, những nhà tu thiền ở các nơi, phần đông đều cho rằng pháp môn Tịnh Độ là quyền giáo, cho nên mỗi khi gặp người niệm Phật thì dạy họ nên tham cứu quán tưởng. Riêng đại sư lại nhận định ra pháp “Trì Danh Niệm Phật” chính là môn “Tâm Tông Viên Đốn.” Có ông Trác Tả Xa là một cư sĩ tu Thiền, từng đem những huyền lý bên Thiền gạn hỏi Tịnh Độ, ngài đều trả lời một cách thích đáng cả. Sau đó đại sư về ẩn tu ở núi Linh Phong. Bình thường, đại sư thường khai thị rằng pháp môn Niệm Phật không có chi lạ kỳ đặc biệt cả, chỉ có một yếu điểm quan trọng duy nhất là Tín Hạnh Nguyện (see Tín Hạnh Nguyện,Nhị Trì, and Tam Tụ Tịnh Giới). Vào cuối mùa Đông năm Thuận Trị thứ 11, đại sư cảm chút bệnh nhẹ. Ngài di chúc lại mọi việc và dặn dò các đệ tử rằng: “Sau khi ta thị tịch, các ngươi làm lễ trà tỳ xong rồi phải tán xương cho nhuyễn, trộn chung với bột, hòa thành viên, đem chia thí cho các loài cá chim, để kết duyên Tịnh Độ với chúng. Sang đầu năm, vào ngày 21 tháng giêng, đại sư dậy sớm, sắc diện tươi khỏe như người không bệnh. Đến đúng ngọ, ngài ngồi thẳng trên giường mà thị tịch, thọ được 57 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Venerable Master Chu-Rut's self-given name was Ou-I. He was born to the Chung Family from Wu-Hsien region. He lived during the T'ang Dynasty. His father had often practiced reciting the Great Compassionate and Pure White Robe mantras. In a dream, his father saw Avalokitesvara Bodhisattva handing him a young child. Thereafter, the Great Master was born. During his youth, he was a student of Consucianism and wrote books derading Buddhism. After he read the series “Trúc Song Tùy Bút Lục” written by Great Master Liên-Ch'ih (Eighth Pureland Patriarch), he was awakened immediately and burned the books he had written before. When he was twenty years old, he began studying the “Great Vows of Ksitigarbha Sutra” and as a result he developed the intention of abandoning the secular life to join the order, and he practiced Buddha Recitation throughout each day. In the first year of T'ien-Ksi reign period, he was twenty-four years old. After he heard a Dharma Master teaching and explaining the Sutra, he suddenly began to have doubts and immediately investigated and researched more Buddhist teachings to find answers for his skepticism. Not long after, he was awakened, he immediately went into retreat in the Wu-Jiang region. During this period, he was quite ill and became determined to practice Buddha Recitation praying to gain rebirth in the Pureland. As soon as he was cured, he went into a retreat for one week to practice reciting the Gaining Rebirth Mantra. He then burned three incenses into his arm vowing to cultivate for the Bodhi Mind, praying to gain rebirth to the Ultimate Bliss World to attain quickly the Ultimate Enlightenment and be able to help save sentient beings as soon as possible. He became abbot of various temples including On-Lang, Shing-Chou, Su-Sheng, Hsing-Ksi, Ch'ang-Tsuy, and Hsing-An, as he taught widely the teachings of T'ien-T'ai Zen and Buddha Recitation or Pureland Buddhism. During this period, the majority of those cultivating Zen assumed the Pureland Dharma Door to be a dependent doctrine. Therefore, each time meeting cultivators who practiced Buddha Recitation, Zen practitioners would tell them to examine and investigate the word “Contemplation.” Only the Great Master accepted the Dharma practice of “Reciting the Buddha's Name” as the path of “Ultimate Perfection.” A lay Buddhist who practiced Zen during that time, named Trác-Tả-Xa. He often borrowed the marvelous and magnificent Zen theories to ask the Great Master about Pureland teachings; each time, the Great Master answered those questions most satisfactorily. Thereafter, the Great Master retired to the Ling-Feng Mountain. Regularly, he often taught: “There isn't anything extraordinary or unusual about Buddha Recitation, it has only these important points “Deep Faith, Sincere Vow, and Diligent Practice.” (see Tín Hạnh Nguyện, and Nhị Trì). At the end of the winter of the eleventh year of Thuận-Trị reign period, the Great Master had a minor illness. He resigned from all his positions and responsibilities and instructed his disciples: “After I pass away and following my cremation, mix my ashes with flour and roll them into little balls, and then divided them up to make donations to different kinds of birds and fish, in order to establish and form Pureland connections for them. In the beginning of the year of the 21th of January, the Great Master woke up early, appearing full of vitality like a healthy person. At noon time, he sat in the lotus position on his bed, facing the West, put his palms together, reciting Buddha's name to pass away. He was 57 years old. **For more information, please see Tín Hạnh Nguyện, Nhị Trì, and Tam Tụ Tịnh Giới.
Trí hạnh
智行; C: zhìxíng; J: chigyō; |Trí huệ và công hạnh tu tập kết hợp. Trong Lục độ Ba-la-mật, thuật ngữ nầy nói đến Trí huệ ba-la-mật và những ba-la-mật khác như Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định.
trí hạnh của bậc giác ngộ
The knowledge of the enlightened.
trí hạnh như lai
The knowledge of Tathagata.
Trí hạnh 智行
[ja] チギョウ chigyō ||| Wisdom and its associated practices. In the context of the six paramitas, this would be prajñāpāramitā and the other remaining paramitas of charity, moral discipline, forbearance, effort and concentration. 〔瑜伽論T 1579.30.624c28〕 => Trí huệ và công hạnh tu tập kết hợp. Trong Lục độ Ba-la-mật, thuật ngữ nầy nói đến Trí huệ ba-la-mật và những ba-la-mật khác như Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định.
Trí Hải
(智海, Chikai, ?-1306): vị Tăng chuyên học cả Luật và Chơn Ngôn Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, húy là Trí Hải (智海), tự Tâm Tuệ (心慧), hiệu là Đạo Chiếu Phòng (道照房). Ông học Mật Giáo của hai dòng Dã Trạch (野澤) từ Hựu Tường (宥祥), Viên Hựu (圓祐) và Nguyên Du (元瑜). Rồi sau đó ông lại học thêm cả Giới Luật với Nhẫn Tánh (忍性) cũng như Hiến Tĩnh (憲靜) ở Cực Lạc Tự (極樂寺) vùng Liêm Thương. Vào năm 1269, vị Tướng Quân chấp quyền đương thời là Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時, Hōjō Sadatoki), nhân để cầu nguyện cho quân nhà Nguyên bại trận rút lui, đã cải đổi Dược Sư Đường thành Giác Viên Tự (覺園寺), và thỉnh mời ông đến làm vị Tổ khai sơn chùa này. Kể từ khi đến sống tại chùa này, ông chuyên tâm giảng nghĩa về Giới Luật, nên các bậc anh tài của Hiển lẫn Mật Giáo đều vân tập về đây. Trước tác của ông có Lưỡng Bộ Đại Kinh Giáo Chủ Sự (兩部大經敎主事) 1 quyển.
trí hải
Tên của Hòa Thượng Trí Hải, người đã đôn đốc trùng tu chùa Quốc Ân vào năm 1805 với sự đóng góp 300 lạng bạc của Công Chúa Long Thành, chị vua Gia Long—Name of Most Venerable Trí Hải who supervised the reconstruction of Quốc Ân temple in 1805 through the contribution of Princess Long Thành, an elder sister of king Gia Long, who offered 300 ounces of silver.
trí hỏa
The fire of knowledge.
; Ngọn lửa trí tuệ có công năng đốt cháy khổ đau phiền não—The fire of wisdom which burns up misery.
trí hữu sư
Văn Tư Tu—Knowledge or wisdom that comes from listening to the dharma, reflection and cultivation.
Trí Khánh
(智慶, Chikei, ?-?): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Trí Khánh (智慶), hiệu là Nam Mô Phòng (南無房), xuất thân vùng Quan Đông (關東, Kantō). Ban đầu ông vốn là vị Tăng của Thiên Thai Tông, sau đó nhân lên Kyoto rồi làm đệ tử của Long Khoan (隆寛) thuộc Tịnh Độ Tông, và sống ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama), chuyên tâm nghiên cứu về Tông nghĩa. Về sau, ông trở xuống vùng Quan Đông, sáng lập ra Trường Lạc Tự khác ở vùng Liêm Thương. Ông kế thừa giáo nghĩa Đa Niệm Nghĩa (多念義) của Long Khoan, và nỗ lực làm cho Tịnh Độ Giáo được hưng thạnh ở vùng Quan Đông.
trí khôn
Intelligence.
Trí Khải
(智顗, Chigi, 538-597): vị Thiền tăng thống nhiếp Phật Giáo Trung Quốc trong khoảng 3 triều đại Lương, Trần và Tùy với Thiên Thai giáo nghĩa của ông, vị tổ sư khai sáng ra Thiên Thai Tông. Ông cũng được xem như là vị tổ sư thứ 3, kế thừa Huệ Văn (慧文) và Huệ Tư (慧思). Xuất thân từ Huyện Hoa Dung (華容), Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Nam ngày nay), ông là con của Trần Khởi Tổ (陳起祖), vị cao quan thời nhà Lương, tự là Đức An (德安). Lúc 15 tuổi, ông gặp phải nạn Hầu Cảnh (候景), đến năm 18 tuổi thì xuất gia ở Quả Nguyện Tự (果願寺) vùng Sương Châu (湘州, thuộc Trường Sa, tỉnh Hồ Nam). Sau một thời gian đi tham học tu tập ở các nơi, đến năm 23 tuổi, ông đến làm môn hạ của Huệ Tư (慧思) ở Đại Tô Sơn (大蘇山), Quang Châu (光州), tu học Pháp Hoa Tam Muội và được khai ngộ. Vâng theo lời thầy, ông cùng với nhóm Pháp Hỷ (法喜) gồm 27 người vào Kim Lăng (金陵, Nam Kinh), thuyết giảng Pháp Hoa Kinh ở Ngõa Quan Tự (瓦官寺). Từ đó Thỉ Hưng Vương (始興王) nhà Trần và một số vị cao quan khác ở Kim Lăng cũng quy y theo ông; hơn nữa các vị cao tăng như Pháp Tế (法濟), Đại Nhẫn (大忍), Huệ Biện (慧辨), Huệ Vinh (慧榮), v.v., ở đây cũng đến nghe pháp. Đến năm 34 tuổi, ông từ giã kinh thành trở về Thiên Thai Sơn và bắt đầu lập nên hệ thống Thiên Thai giáo học. Vào năm 584, nhận lời cung thỉnh của vua Trần, ông đến Linh Diệu Tự (靈曜寺) và Quảng Trạch Tự (廣擇寺) thuyết giảng. Đến năm 588, vì chiến loạn ông phải đến lánh nạn ở địa phương Kinh Châu (荆州) và Lô Sơn (廬山); nhưng sau khi nhà Tùy thống nhất thì Văn Đế và Tấn Vương Quảng quy y theo ông. Chính ông đã truyền trao Bồ Tát giới cho Tấn Vương, và được ban tặng hiệu là Trí Giả Đại Sư (智者大師). Sau đó ông sáng lập nên Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) ở cố hương của mình là Kinh Châu, rồi năm 593 thì giảng bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義), và năm sau thì bộ Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀). Sau ông đi xuống vùng Dương Châu, dâng hiến bộ Duy Ma Sớ (維摩疏) cho Tấn Vương, và lại trở về Thiên Thai Sơn, thành lập nên quy phạm của giáo đoàn và nỗ lực xác lập học thuyết Chỉ Quán. Vào năm 597, trên đường lên kinh đô theo lời thỉnh cầu của Tần Vương, ông thọ bệnh ở Thạch Thành Tự (石城寺) và thị tịch tại đây vào ngày 24 tháng 11 cùng năm. Các sách giảng thuật của ông ngoài Tam Đại Bộ là Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義), Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) và Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀) ra, còn có một số soạn thuật hơn 10 bộ dựa trên Duy Ma Kinh, Kim Quang Minh Kinh, Quán Âm Kinh để giải thích về Ngũ Trùng Huyền Nghĩa (五重玄義) như Thứ Đệ Thiền Môn (次第禪門), Lục Diệu Pháp Môn (六妙法門), Thiên Thai Tiểu Chỉ Quán (天台小止觀), v,v. Từ tư tưởng Pháp Hoa Tam Muội (法華三昧), Tam Quy Tam Quán (三歸三觀), Nhất Niệm Tam Thiên (一念三千), Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎), v.v., mang tính độc đáo riêng biệt của mình, ông được xưng tụng như là người thứ nhất hình thành nên Phật Giáo Trung Quốc. Ông là người đầu tiên thiết lập nên hồ phóng sanh rất nổi tiếng mà vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.
; 智顗; C: zhìkǎi; J: chishō; 538-597, còn được gọi là Trí Giả;|Cao tăng Trung Quốc, Tổ thứ tư của Thiên Thai tông, nhưng được xem là người thật sự sáng lập tông phái này. Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc tạo một hệ thống phân loại trọn vẹn để giải thích các sự ra đời của các trường phái Phật giáo với chủ trương khác nhau, đôi khi mâu thuẫn. Sư cũng là người đề xướng phép tu Chỉ-quán, một môn tu tập thiền định còn truyền bá rộng rãi ngày nay. Tác phẩm chính của Sư là Ma-ha chỉ-quán (s: mahā-śamatha-vipaś-yanā), Chỉ-quán nhập môn, Lục diệu pháp môn.|Từ nhỏ Sư đã có biệt tài: chỉ cần nghe qua một lần, Sư đã thuộc làu toàn thể một bộ kinh. Tương truyền Sư thể nghiệm tính vô thường của vạn sự khi thấy một thư viện đầy kinh sách quý báu bị quân lính phá huỷ. Sau thể nghiệm này, Sư gia nhập Tăng-già và trở thành đệ tử của Tổ thứ ba là Huệ Tư (515-577). Dưới sự chỉ dạy của Huệ Tư, Sư học các tác phẩm trong Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), tham cứu Diệu pháp liên hoa kinh cũng như các phương pháp tu Thiền (s: dhyāna) khác nhau. Năm 567, Sư đi Nam Kinh và bắt đầu giáo hoá. Năm 576, Sư lui về núi Thiên Thai và từ đó phát sinh danh hiệu Thiên Thai tông. Triều đình quý trọng Sư, cho phép thuế má vùng đó chỉ dành để nuôi sống thiền viện. Sư viên tịch tại núi Thiên Thai (Thiên Thai Ðức Thiều).
trí khải
Chigi (J), Tcheu-K'ai (C)Thiên Thai Trí giả(531-597) Tổ sư Thiên Thai Tông Trung quốc, thọ 67 tuổi, Ngài tu tại núi Thiên Thai, chuyên trì kinh Pháp Hoa. Xem Trí Giả.
; Founder of the Thiên Thai school. Also Trí giả Đại sư.
; Trí Khải , còn gọi là Trí Giả hay Thiên Thai Đại Sư. Tên thật của ông là Trần Đức An, sanh năm 538 và thị tịch năm 597 sau Tây Lịch. Quê ông ở Dĩnh Xuyên thuộc An Hội, làm tiểu năm 7 tuổi, và thọ cụ túc giới năm 20 tuổi. Thoạt tiên ông làm đệ tử ngài Huệ Tư, và được dạy riêng về pháp tu quán của Kinh Pháp Hoa. Đến năm 575, tức vào khoảng tuổi 38, ông cùng đệ tử đến núi Thiên Thai và sáng lập ra tông phái Thiên Thai nổi tiếng, giáo thuyết của tông phái nầy dựa trên Kinh Pháp Hoa. Tại đây ông gặp một kỳ túc, Định Quang, đã đến đây khoảng 40 năm về trước. Vị nầy tiếp nhận Trí Khải và dạy cho ông tất cả những ngành học thuật của Phật giáo. Trí Khải cư ngụ trên núi nầy suốt chín năm và thiết lập ở đây một đại Tăng viện gọi là Quốc Thanh Tự. Ông thường được tôn hiệu là Thiên Thai Đại Sư. Tùy Dạng Đế, bấy giờ làm Tổng Quản đất Dương Châu, phong cho đại sư tước hiệu là Trí Giả. Bởi sự nổi bật về nhân cách và sự thâm trầm về sở học của mình, ông đạt địa vị cao nhất trong tất cả những học giả Phật giáo Trung Hoa đương thời. Về khả năng tổ chức học thuyết Phật giáo và dạy dỗ những người học Phật, chưa ai sánh ngang bằng ông nổi. Sự kiện toàn của tông Thiên Thai là do ở ông, và vì vậy ông được xưng tụng như là tổ thứ nhất của tông nầy, dù thực sự ông chỉ là vị Tổ thứ tư trong thể hệ giáo học của học thuyết Thiên Thai. Về sau, Truyền Đăng Lục gán cho ngài Trí Khải dưới danh mục “Thiền môn đạt giả tuy bất xuất thế, hữu danh ư thời giả” nghĩa là những người đã đạt ngộ ở cửa Thiền tuy chẳng xuất thế nhưng có danh tiếng đương thời. Các môn đồ phái Thiên Thai phản đối việc nầy, nhưng theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, thì quan niệm của Truyền Đăng Lục là hợp lý, vì lẽ nếu bỏ phần huyền đàm luận diệu thì tông Thiên Thai là một dòng khác của đạo Thiền, một dòng phát triển độc lập với Thiền của Tổ Sư Đạt Ma, nhưng nếu khéo phát huy một cách thực tiễn hơn chắc chắn sẽ qui thúc ở Thiền như dưới hình thức hiện có. Rất tiếc, khía cạnh huyền học được khai thác một cách quá đáng, lấn qua phần thực tiễn nên các đạo sĩ Thiên Thai luôn luôn gây chiến với Thiền, nhất là với cánh Thiền cực tả thường cương quyết tố cáo cố tật của các ngài thích hý luận biện giải theo từ chương, hay khảo kinh điển. Tuy nhiên, dầu sao Thiên Thai cũng là một biến thể của Thiền, và chư Tổ khai sáng ra tông ấy có thể xứng đáng xếp vào hàng Thiền sư, mặc dầu các ngài không cùng pháp hệ với Thạch Đầu, Dược Sơn, Mã Tổ, và Lâm Tế, vân vân—Chih-I, founder of the T'ien-T'ai school. His real name was Ch'ên-Te-An. He was born around 538 A.D. and died around 597 A.D. at sixty years of age. He was a native of Ying-Ch'uan in An-Hui, became a neophyte at seven, was fully ordained at 20. At first, he was a follower of Hui-Su,and received special instruction in the meditation of the Lotus. In 575, at the age of 38, he and his pupils went to the T'ien-T'ai mountain in Chekiang, where he founded his famous school on the Lotus Sutra as containing the complete gospel of the Buddha. Here he found an old scholar, Ting-Kuang who had come there some forty years ago. He welcomed Chi-I and gave instructions in all branches of Buddhist learning. Chih-I lived on the mountain for nine years and built the great monastery called Kuo-Ch'ing. He was greatly honored by the name 'Great Master of T'ien-T'ai.' The Emperor Sui Yang-Ti, who was then the Governor-General of Yang-Chou, gave him the title of 'Chih-Chê,' a Man of Great Wisdom. As regard the superiority of his personal character and the depth of his learning, he stands high above all the rest of the Buddhist scholars of China. In his power of orgainzation of Buddhist doctrine of training of Buddhist students, no one will ever measure up to him. The final completion of the T'ien-T'ai School is due to him, and, therefore, he is honoredas the first patriarch of the school, though he was actually the fourth patriarch in the lineage of learning of the T'ien-T'ai doctrine. Later, the Transmissions of the Lamp mentioned him as “Adepts in Zen but not appearing in the world, though well-known at the time.” This applies to some monk who does not occupy any recognized position in an officially registered monastery. The T'ien-T'ai followers object to see their Father Chi-I mentioned in the Transmissions of the Lamp as “Adepts in Zen but not appearing in the world, though well-known at the time.” But according to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, the point of view from the Transmissions of the Lamp is justifiable for the reason that the T'ien-T'ai except its metaphysics, is another current of Zen started independently of the line of Bodhidharma, and if this were allowed to take a more practical course of development it should surely have resulted in Zen as we have it now. But its metaphysical side came to be emphasized at the expense of the practical, and for this reason the T'ien-T'ai philosophers were ever at war with the Zen, especially with the ultra-left wing, which was inflexible in denouncing an appeal to ratiocination and literary discoursing and sutra-learning. T'ien-T'ai is a variation of Zen and its first promulgators may justly be classed as Zen masters, though not of the pedigree to which belong Shih-T'ou, Yueh-Shan, Ma-Tsu, and Lin-Chi, etc.
Trí Khải 智顗
[ja] チギ chigi ||| Zhiyi (538-597). Technically considered as the fourth patriarch, but actually the de-facto founder of the Tiantai (天台) sect in China. Zhiyi is famous for being the first in the history of Chinese Buddhism to elaborate a complete, critical and systematic classification of the Buddhist teachings, in order to explain the seemingly contradictory doctrines of Buddhism. He is also regarded as the first major figure to make a significant break from the Indian tradition, to form an indigenous Chinese system. He received his most important influences from his first teacher, Nanyue Huisi 南嶽 慧思 (515-677), a meditation master who would later be listed as Zhiyi's predecessor in the Tiantai lineage. After a period of study with Huisi, he spend some time working in the southern capital of Jinling, after which he retired to Tiantai mountain for intensive study and practice with a group of disciples, adapting the Indian meditation practice of zhiguan (止觀) into his sytem. Among his many important works are the Mohe zhiguan 摩訶止觀 and the Liu miaofamen 六妙法門. Also known as 天台大師. Among the works attributed to him (although many may have been written by his disciples), about thirty are extant. => c: Zhiyi (538-597). Nói một cách nghiêm túc, được xem là tổ thứ tư, nhưng thực tế là người sáng lập tông Thiên Thai (Tiantai 天台) Trung Hoa. Trí Khải nổi tiếng là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa soạn thảo rất công phu, phân loại và hệ thống giáo lý Phật pháp, để giải thích những điều bên ngoài có vẻ như mâu thuẫn. Sư cũng được xem là nhân vật kiệt xuất phá vỡ ý nghĩa biểu tượng truyền thống Ấn Độ để lập nên một hệ thống tư tưởng bản xứ Trung Hoa. Tư tưởng Sư được ảnh hưởng mạnh nhất từ vị thầy đầu tiên là Nam Nhạc Huệ Tư (c: Nanyue Huisi 南嶽 慧思 ; 515-677), một Thiền sư mà sau nầy được xếp vào bậc tiền bối của Trí Khải trong tông Thiên Thai. Sau khi tham học với Huệ Tư, sư dành nhiều thời gian hoằng hoá ở phía Nam kinh đô Kim Lăng (c: Jinling), sau đó sư trở về ẩn cư ở núi Thiên Thai để nghiên cứu và tu tập sâu hơn cùng với một nhóm đệ tử, ứng dụng pháp thiền Ấn Độ vào pháp thiền Chỉ quán trong hệ thống của sư. Các tác phẩm quan trọng của sư gồm có Ma-ha Chỉ quán ( c: Mohe zhiguan 摩訶止觀 ) và Lục diệu pháp môn (c: Liu miaofamen 六妙法門). Sư còn được gọi là Thiên Thai Đại sư. Có chừng 30 tác phẩm được xem là của sư hiện đang còn (mặc dù trong đó có lẽ do đệ tử viết).
trí kiếm
Trí huệ Kiếm—Lưỡi kiếm trí huệ. Trí tuệ thanh tịnh, có khả năng cắt đứt dục vọng phiền não và dứt tuyệt sinh tử—The sword of wisdom, which cuts away passion and severs the link of transmigration.
trí kính
The mirror of wisdom.
; The mirror of wisdom.
Trí luận
智論; C: zhìlùn; J: chiron;|Viết tắt của Đại trí độ luận (大智度論)
trí luận
Xem Đại Trí độ luận.
trí lý
Nguyên tắc toàn hảo hay luật căn bản—The utmost principle, the fundamental law.
trí lực
Knowledge and supernatural power; power of knowledge; the efficient use of mystic knowledge.
; 1) Trí Tuệ và Thần Lực: Knowledge and supernatural power. 2) Năng lực của trí tuệ: Power of knowledge. 3) Hành giả (tu thiền) có đủ năng lực xử dụng mật trí: The efficient use of mystic knowledge.
Trí lực thứ tư
(đệ tứ lực): nằm trong Thập lực, tức Tri chúng sanh tâm tánh trí lực. Đạt được trí lực này, vị Bồ Tát có thể rõ biết tâm tánh của tất cả chúng sanh, nhờ đó mà dễ dàng tùy duyên hóa độ. Xem Mười sức.
trí môn
Chih men (C).
; Wisdom gate; Buddha-wisdom and Buddha-compassion are the two gates or ways through which Buddhism expresses itself; the way of enlightenment directed to the self, and the way of compassion directed to others.
; Trí huệ Phật hay con đường dẫn đến giác ngộ Bồ Đề (bao gồm tất cả các đức tự lợi)—Wisdom gate, or Buddha-wisdom, or the way of enlightenment. ** For more information, please see Nhị Môn (D).
Trí Môn Quang Tộ
(智門光祚, Chimon Kōso, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người Tỉnh Triết Giang. Ông đến tham yết Trừng Viễn (澄遠) ở Hương Lâm Viện (香林院), Thanh Thành Sơn (青城山), Ích Châu (益州), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Trí Môn Tự (智門寺), Tùy Châu (隨州), Tỉnh Hồ Bắc (湖北省), chuyên tâm cử xướng tông phong của mình. Ông đã dưỡng thành Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) cùng với hơn 30 môn đệ khác. Tác phẩm của ông có Trí Môn Tộ Thiền Sư Ngữ Lục (智門祚禪師語錄) 1 quyển.
; 智門光祚; C: zhìmén guāngzuò; J: chimon kō-so; ?-1031;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn. Sư nối pháp Hương Lâm Trừng Viễn. Trong 30 người đệ tử nối pháp của Sư thì Tuyết Ðậu Trọng Hiển là danh tiếng nhất.|Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên làm kệ tán tụng những lời dạy của các vị tiền nhân và trong lĩnh vực này thì Sư có một vị đệ tử xuất sắc là Tuyết Ðậu nối dõi, người trứ tác Bích nham lục sau này.
trí môn quang tộ
Chih-Men Kuang-Tsu (C), Zhimen Guangzi (C), Chimon Koso (J)Thuộc phái Vân môn, đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Hương Lâm Trừng Viễn.
trí môn quang tộ thiền sư
Zen master Kuang-Zuo-Zhi-Men—See Quang Tộ Trí Môn Thiền Sư.
trí mẫu
Giác Mẫu hay bà mẹ sanh ra trí tuệ—Wisdom-mother—The mother of knowledge.
trí mệnh
To risk (venture) one's life.
trí na
Cina (skt)—Trung Hoa—China.
trí na bộc để
Cinapati (skt). 1) Vị chúa từ Trung Hoa được nói đến trong Tây Vực Ký: Lord from China, said in the Record of Western Lands to have been appointed by the Han rulers. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Cinapati là một vương quốc nhỏ nằm về phía tây bắc của Ấn Độ (gần Lahore bây giờ) mà dân chúng của vương quốc nầy đoan chắc rằng những vị vua đầu tiên của họ đến từ Trung Quốc: According to Eitel in the Dictionary of Chinese Buddhist Terms: A small kingdom northwest of India (near Lahore) the inhabitants of which asserted that their first kings had come from China.
Trí Nghiêm
智嚴; C: zhìyán; J: chigon; K: chiŏm, 1464-1534|Thiền sư Hàn Quốc vào thời kì Chosŏn.
trí nghiêm
Fourth patriarch of Hoa Nghiêm school, also called Vân Hoa, A.D. 600-668.
Trí Nghiêm 智嚴
[ja] チゴン Chigon ||| Chiŏm (1464-1534) A Korean Sŏn monk of the Chosŏn. => k: Chiŏm (1464-1534).Thiền sư Cao Ly vào thời kỳ Chosŏn.
Trí Nghiễm
(智儼, Chigon, 602-668): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân vùng Thiên Thủy (天水, Tỉnh Cam Túc [甘肅]), họ Triệu (趙), tổ thứ 2 của Hoa Nghiêm Tông, hiệu Chí Tướng Đại Sư (至相大師), Vân Hoa Tôn Giả (雲華尊者). Lúc còn nhỏ ông đã có chí hướng với Phật đạo, khi đùa giỡn thường lấy đá xếp thành tháp, hay lấy chúng bạn làm thính chúng và bản thân mình là pháp sư. Năm 12 tuổi, ông theo Đỗ Thuận (杜順) đến Chí Tướng Tự (至相寺) ở Chung Nam Sơn (終南山), thọ học với đệ tử của Đỗ Thuận là Đạt Pháp Sư, ngày đêm tinh tấn, siêng năng tu tập. Đến năm 14 tuổi, ông xuống tóc xuất gia, thường nghe giảng Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論). Năm 20 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, học các kinh luận như Tứ Phần Luật (四分律), Tỳ Đàm (毘曇), Thành Thật (成實), Thập Địa (十地), Địa Trì (地持), Niết Bàn (涅槃). Sau ông theo Trí Chánh (智正) học Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), đọc qua Đại Tạng Kinh, nghiên cứu sâu vào huyền chỉ của Thập Địa Luận. Năm 27 tuổi, ông soạn Hoa Nghiêm Kinh Sưu Huyền Ký (華嚴經搜玄記) và nó trở thành quy mô của tông phái này. Ông thường giảng thuyết Hoa Nghiêm, hóa đạo không hề mệt mỏi. Vì ông đã từng trú trì Chí Tướng Tự (至相寺), nên người đời gọi ông là Chí Tướng Đại Sư. Đến cuối đời, ông đến trú tại Vân Hoa Tự (雲華寺), nên có tên gọi khác là Vân Hoa Tôn Giả. Vào tháng 10 năm đầu (668) niên hiệu Tổng Chương (總章) đời vua Cao Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi. Đệ tử ông có Hoài Tề (懷齊, hay Hoài Tế [懷濟]), Pháp Tạng (法藏), Nguyên Hiểu (元曉), Nghĩa Tương (義湘), Bạc Trần (薄塵), Huệ Hiểu (慧曉), Đạo Thành (道成), v.v. Trước tác của ông để lại có Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sưu Huyền Phân Tề Thông Trí Phương Quỹ (大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌) 1 quyển, Hoa Nghiêm Ngũ Thập Yếu Vấn Đáp (華嚴五十要問答) 2 quyển, Hoa Nghiêm Nhất Thừa Thập Huyền Môn (華嚴一乘十玄門) 1 quyển, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật La Lược Sớ (金剛般若波羅蜜羅略疏) 2 quyển, Vô Tánh Nhiếp Luận Sớ (無性攝論疏) 4 quyển, v.v.
; 智儼; C: zhìyăn; J: chigen, 602-668. |Vân Hoa Trí Nghiễm.
trí nghiễm
Chih-yen (C)(602-668) cùng Đỗ Thuấn, là hai vị tổ đầu tiên của Hoa nghiêm tông.
; Vị Tổ thứ tư của trường phái Hoa Nghiêm, vào khoảng từ năm 600 đến 668 sau Tây Lịch dưới đời nhà Đường—Fourth patriarch of the Hua-Yen school around 600-668 A.D. during the T'ang dynasty.
Trí Nghiễm 智儼
[ja] チゲン chigen ||| Zhiyan (602-668). A Tang dynasty Huayan scholar-monk who was later designated as second patriarch of the official Chinese Huayan lineage. He was the student of Dushun 杜順, and the teacher of Fazang 法藏 and Ŭisang 義湘. He was commonly known during his lifetime as the great master Zhixiang 至相大師 and "the Venerable from Yunhua雲華尊者. He began to study with Dushun from the age of 12 at Zhixiang temple 至相寺in Mt. Zhongnan 終南山, and over time become well versed in the spectrum of Mahāyāna theories. He received the full precepts at the age of twenty, after which he delved into such texts as the Four Part Vinaya 四分律、Abhidharma-kośa 倶舍論, Satyasiddhi-śāstra, 成實論, Dilun 十地論, Nirvana Sutra 涅槃經 and so forth. Later on, he focused his studies on the Huayanjing 華嚴經 and its theoretical issues, writing extensively. Among his works are the Dafangguang fo huayanjing souxuan fenqi tongzhi fanggui 大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌 (ten fasc.), the Huayanjing neizhangmen dengza kongmu 華嚴經内章門等雜孔目 (four fasc.), the Huayan wushiyao wenda 華嚴五十要問答 (two fasc.), the Huayan yisheng shixuanmen 華嚴一乘十玄門 (one fasc.), the Jingang panruo boluomijing lueshu 金剛般若波羅蜜經略疏 (two fasc.), the Wuxing shelun shu 無性攝論疏 (four fasc.), and so forth. His biography can be found in the twenty-fifth fascicle of the Continued Biographies of Eminent Monks 續高僧傳. For a full-length study, see Gimello (1976). => c: Zhiyan (602-668). Cao tăng kiêm học giả vào đời Đường, về sau được suy tôn như là tổ thứ hai của Hoa Nghiêm tông Trung Hoa. Sư là đệ tử của ngài Đỗ Thuận (c: Dushun 杜順), và là thầy của Pháp Tạng (c: Fazang 法藏) và Nghĩa Tương (c: Ŭisang 義湘). Đương thời, sư thường được gọi là Chí Tướng Đại sư (c: Zhixiang 至相大師) và Vân Hoa Tôn giả (c: Yunhua雲華尊者). Sư bắt đầu học Phật với ngài Đỗ Thuận vào năm 12 tuổi tại chùa Chí Tướng ở núi Chung Nam, sau một thời gian , sư trở nên thông thạo các giáo lý Đại thừa. Sư thọ giới cụ túc năm 20 tuổi, sau đó sư nghiên cứu sâu vào Tứ phần luật (e: Four Part Vinaya 四分律), A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, Thành thật luận (s: Satyasiddhi-śāstra 成實論), Địa luận (s: Dilun 十地論), kinh Niết-bàn, v.v... Sau đó, sư tập trung nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm và những lý thuyết xuất phát từ kinh nầy. Sư trứ tác khá nhiều. Các tác phẩm của sư gồm có: Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sưu huyền phân tể thông trí phương quỹ (c: Dafangguang fo huayanjing souxuan fenqi tongzhi fanggui 大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌); 10 quyển; Hoa Nghiêm kinh nội chương môn đẳng tạp khổng mục ( c: Huayanjing neizhangmen dengza kongmu 華嚴經内章門等雜孔目), 4 quyển; Hoa Nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp (c: Huayan wushiyao wenda 華嚴五十要問答), 2 quyển; Hoa Nghiêm nhất thừa thập huyền môn (c: Huayan yisheng shixuanmen 華嚴一乘十玄門 ), 1 quyển; Kim Cương Bát-nhã ba-la-mật kinh lược sớ (c: Jingang panruo boluomijing lueshu 金剛般若波羅蜜經略疏 ); Vô tịnh nhiếp luận sớ (c: Wuxing shelun shu 無性攝論疏 ) v.v... Tiểu sử của sư có thể đọc trong quyển thứ 25 của Tục cao tăng truyện ( e: Continued Biographies of Eminent Monks 續高僧傳). Để nghiên cứu sâu hơn, xin xem tác phẩm của Gimello (1976) .
trí nguyệt
Jānacandra (S)Huệ NguyệtNgài viết bộ Thang tông thập cú nghĩa luận. Một trong 10 Đại Luận sư chú thích bộ "Duy thức Tam Thập Luận" của ngài Thế Thân.
; Jnànacandra (S). Knowledge bright as the moon; name of a prince of Karashahr who became a monk A.D.625
; Jnanacandra (skt). 1) Trí tuệ sáng như ánh trăng: Knowledge bright as the moon. 2) Trí Nguyệt là tên của một vị thái tử người xuất gia trở thành một nhà sư vào khoảng năm 625 sau Tây Lịch: Jnanacandra, name of a prince of Karashahr who became a monk around 625 A.D.
Trí Ngân
智訔; C: zhìyín; J: chigin; K: chiŭn|Thiền sư Hàn Quốc trong thời kì Chosŏn. Không rõ chính xác ngày năn sinh. Sư là tác giả của Tịch diệt thị chúng luận (寂滅示衆論, k: chŏngmyŏl sijung non).
Trí Ngân 智訔
[ja] チギン Chigin ||| Chiŭn; a Korean Sŏn monk of the early Chosŏn period. Exact dates unknown. He is the author of the Chŏngmyŏl sijung non 寂滅示衆論 (HPC 7.280-286) => (k: Chiŭn) Thiền sư Cao Ly trong thời kỳ Chosŏn. Không rõ chính xác ngày năn sinh. Sư là tác giả của Tịch diệt thị chúng luận (k: Chŏngmyŏl sijung non 寂滅示衆論).
trí ngôn
Toàn ngữ hay những lời giải thích hoàn toàn—Perfect words, words of complete explanation.
Trí ngại
智礙 (碍); C: zhìài; J: chige; S: jñeya-āvaraṇa. |Sự chướng ngại của trí tuệ (trí chướng). Là điều vi tế nhất trong hai chướng ngại cho việc nhận ra Phật tính, thứ chướng ngại ít vi tế hơn là Phiền não chướng. Chữ »chướng« trong ngữ cảnh nầy thướng được viết là 障, Nhị chướng (二障).
trí ngại
Sở Tri Chướng hay phiền não làm trở ngại trong việc đạt thành trí huệ Phật (vô minh làm trở ngại giác ngộ Bồ Đề)—Obstacles to attaining Buddha-wisdom (Original ignorance—Căn bản vô minh).
Trí ngại 智礙
[ja] チゲ chige ||| The 'hindrance of wisdom' (jñeya-āvaraṇa). The more subtle of the Two Hindrances to Buddhahood, the less subtle being the hindrance of defilements-- 煩惱礙. "Hindrance" in this context is more commonly written with the ideograph 障. See 二障. => (s: jñeya-āvaraṇa). Sự chướng ngại của trí tuệ (Trí huệ chướng). Là điều vi tế nhất trong hai chướng ngại cho việc nhận ra Phật tính, thứ chướng ngại ít vi tế hơn là Phiền não chướng. Chữ 'chướng' trong ngữ cảnh nầy thướng được viết là 障.
Trí Nham
(智巖, Chigan, 577-654): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Khúc A (曲阿), Giang Tô (江蘇), họ là Hoa (華), người trí dũng, thân hình có sức hấp dẫn. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 606-616) nhà Tùy, ông làm tướng quân, từng lập chiến công hiển hách. Năm 40 tuổi, ông vào Hoàn Công Sơn (皖公山, An Huy), theo xuất gia với Thiền Sư Bảo Nguyệt (寳月). Vào năm thứ 17 (643) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông lên Ngưu Đầu Sơn (牛頭山), tham yết Thiền Sư Pháp Dung (法融), được khai ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó ông đã từng sống qua các chùa như Bạch Mã Tự (白馬寺), Thê Huyền Tự (棲玄寺), rồi sau chuyển đến Thạch Đầu Thành (白頭城). Đến năm thứ 2 niên hiệu Nghi Phụng (儀鳳) đời vua Cao Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 39 hạ lạp.
trí nhàn hương nghiêm thiền sư
Zen Master Zhi-Xian—See Hương Nghiêm Thiền Sư.
trí nhân
1) Người có trí hay người hoàn toàn: A perfect man. 2) Phật Thích Ca Mâu Ni: Sakyamuni Buddha.
Trí nhãn
智眼; C: zhìyăn; J: chigen; S: buddha-caksus |Con mắt trí tuệ của chư Phật, khác với nhục nhãn của chúng sinh chưa giác ngộ.
trí nhãn
The eye of wisdom; wisdom as an eye.
; 1) Mắt trí tuệ (không phải mắt thịt): The eye of wisdom, not the flesh eye. 2) Trí là mắt nhìn để đạt tới chân lý: Wisdom as an eye to attain the truth.
Trí nhãn 智眼
[ja] チゲン chigen ||| The eye of wisdom possessed by the buddhas, as contrasted with the physical eye 肉眼 of unenlightened sentient beings. (buddha-caksus) 〔寶性論T 1611.31.823b〕(s: buddha-caksus) => Con mắt trí tuệ của chư Phật, khác với nhục nhãn của chúng sinh chưa giác ngộ.
trí nhơn trí quả
Wisdom now produces wisdom fruit hereafter.
trí nhận
The sword of knowledge; knowledge like a sword. (Nhận là mũi gươm)
trí nhớ
Mind—Memory.
trí nhớ không linh mẫn
Failing memory.
trí não
Brain.
trí năng
Jeya (S), Knowledge capacity.
; Intellect.
trí năng sâu sắc
Intellectual discernment.
trí pháp thân
Ye shes chos sku (T), Jānadharamakāya (S).
; Cái trí như như rốt ráo của thủy giác—The Dharmakaya as wisdom, kinetic or active. ** For more information, please see Nhị Pháp Thân.
trí phân biệt
Jnana (skt)—Analytical knowledge.
Trí phần
智分; C: zhìfēn; J: chibun; |Trí tuệ, tri thức, hiểu biết.
Trí phần 智分
[ja] チブン chibun ||| Wisdom, knowledge, intelligence. 〔法華經、T 262.9.15b19〕 => Trí tuệ, tri thức, hiểu biết.
Trí Phụng
智鳳; C: zhìfèng; J: chihō; |Người thứ 3 truyền bá Pháp tướng tông vào Nhật Bản. Sư đến Trung Hoa 51 năm sau Doshiyo, cùng với 2 vị tăng khác. Khi Huyền Trang và Khuy Cơ dã viên tịch, sư tham học với Trí Châu. Sau khi trở về Nhật Bản, sư truyền bá giáo lí Duy thức.
Trí Phụng 智鳳
[ja] チホウ Chihō ||| Chihō The third transmitter of the Faxiang 法相 sect to Japan. He went to China fifty-one years after Doshiyo, together with two other monks. Since Xuanzang 玄奘 and Kuiji had already passed away, he studied with the patriarch Jizhou (智周). After returning to Japan, he taught the doctrines of Consciousness-only to Giin. => (j: Chihō) Người thứ 3 truyền bá Pháp tướng tông vào Nhật Bản. Sư đến Trung Hoa 51 năm sau Doshiyo, cùng với 2 vị tăng khác. Khi Huyền Trang và Khuy Cơ dã viên tịch, sư tham học với Trí Châu. Sau khi trở về Nhật Bản, sư truyền bá giáo lý Duy thức.
trí quan
Chih-Kuan (P), Samatha-vipasyana (S), Shikan (J)Phương pháp thiền định cũa phái Thiên thai.
Trí Quang
(智光, Chikō, 709-770~80): vị tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống dười thời đại Nại Lương, húy là Trí Quang (智光), xuất thân vùng An Túc (安宿), Hà Nội (河內, Kawachi, thuộc Ōsaka). Năm lên 9 tuổi, ông xuất gia, theo Trí Tạng (智藏, Chizō) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) học về Tam Luận. Ông đến trú tại Sừ Điền Tự (鋤田寺) vùng Hà Nội, kế đến làm trú trì Nguyên Hưng Tự, cùng với bạn đồng môn là Lễ Quang (禮光, Raikō) tận lực xiển dương giáo học Tam Luận; nhưng cuối cùng ông lại quay về với Tịnh Độ Giáo. Là vị học tăng xuất chúng đương thời, ông đã để lại khá nhiều trước tác. Sau khi Lễ Quang qua đời, ông mộng thấy vị này được vãng sanh, bèn mời người đến vẽ bức đồ hình biến tướng của Tịnh Độ (thường gọi là Trí Quang Mạn Trà La [智光曼茶羅]) và tự mình cũng cho là đã vãng sanh. Tương truyền rằng ông tự xem là trí tuệ đệ nhất, sanh tâm ganh tỵ khi Hành Cơ (行基, Gyōki) được bổ nhiệm làm Đại Tăng Chánh, nên bị đọa xuống Địa Ngục, sau biết được vị này là bậc cao đức, bèn hối hận vì thế được sống lại. Trước tác của ông có Tịnh Danh Huyền Luận Lược Thuật (淨名玄論略述) 10 quyển (hiện tồn 7 quyển), Bát Nhã Tâm Kinh Thuật Nghĩa (般若心經述義) 1 quyển, v.v.
; 智光; C: zhìguāng; J: chikō; S: jñānaprabhā;|1. Ánh sáng trí tuệ; 2. Một luận sư của Trung quán tông (s: mādhyamika), cùng thời với Nguyệt Xứng (s: candrakīrti), Phật Hộ (s: buddhapālita), Thanh Biện (s: bhāvaviveka), chủ trương theo lập trường của Thanh Biện, đả phá Nguyệt Xứng.
trí quang
Jānapada (S), Jānaprabhā (S), Śamatha-vipasyāna (S)Sư Ấn độ vào thế kỷ 14, soạn Hoà lỗ ca Thành tựu pháp.
; Jnànaprabha (S). Having the light of knowledge; name of a disciple of Silabhadra.
; Jnanaprabha (skt). 1) Ánh sáng trí tuệ (trí tuệ có thể phá tan hôn ám): Having the light of knowledge. 2) Tên của một đệ tử của Luật Sư Giới Hiền. Theo Giáo sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, vào giữa thế kỷ thứ chín, hoàng tử Tây Tạng là Ni Ma Gon đi về phía tây và xây dựng một vương quốc mới, một trong những người con trai của ông đã trở thành tu sĩ Phật giáo và mang tên là Trí Quang. Vào thời của Trí Quang, Mật tông đã thôn tính hết mọi tôn giáo ở Ấn Độ. Mặc dù thế, bản thân Trí Quang không bị Mật tông thu hút. Trái lại, ông còn viết một cuốn sách chống lại phái nầy. Các tu sĩ Mật tông Tây Tạng cho rằng vị hoàng thân nầy phải xuống địa ngục vì tội viết cuốn sách phỉ báng nầy. Trí Quang là con trai cả của vua Guge (Shenshung) và đã trở thành một Tỳ Kheo. Ông đọc nhiều bộ kinh, theo chủ nghĩa duy lý và thừa kế của ông cha một sự sùng mộ sâu xa đối với đạo Phật. Tuy nhiên, ông nhận thấy rằng chống lại cái xấu là một nhiệm vụ rất lớn lao, những nỗ lực đơn độc của ông sẽ không kham nổi. Do đó, ông chọn lấy 21 thanh niên Tây Tạng thông minh, cho học ở trong nước mười năm, rồi gửi đến Kashmir để học lên cao hơn. Thế nhưng không một người nào trong bọn họ chịu nổi khí hậu khắc nghiệt của Kashmir và tất cả đều đã bỏ mạng, ngoại trừ Ratnabhadra (Rin-Chhen-Zang-Po) và Suprajna (Legs-Pahi-Shes-Rab). Ratnabhadra được xem là một dịch giả vĩ đại nhất của Tây Tạng. Khi ông kết thúc việc học trở về thì Trí Quang rất vui mừng, nhưng công việc mà ông đang làm quả là vượt quá sức của một người. Ông đi đến kết luận là do các du học sinh từ Tây Tạng gửi đi không chịu nổi khí hậu khắc nghiệt của Ấn Độ, nên có một số học giả từ Ấn Độ đến Tây Tạng làm việc thì có hiệu quả hơn. Ông bèn cử một phái đoàn sang Ấn Độ để mời A Để Sa qua Tây Tạng. Nhưng phái đoàn nầy đã thất bại vì họ không thuyết phục nổi vị luận sư nầy đến Tây Tạng. Trí Quang không phải là người dễ nản lòng. Ông quyết định cử một phái đoàn khác nhưng tiền đã hết, nên ông đến tỉnh Gartog để thu góp vàng. Đây có lẽ là một nơi có mỏ vàng, nằm ở vùng phía bắc hồ Manasarovar. Theo lời kể lại thì vua xứ nầy đã bắt giữ ông và đòi một số tiền chuộc lớn. Khi con trai ông là Bodhiprabha (Byang-Chub-Od) hay tin cha mình bị bắt, ông đã gom được một số tiền tưởng là đủ để giải thoát cho cha, song số tiền đó bị xem là chưa đủ. Trước khi quay trở về lấy thêm tiền, ông đến thăm cha trong tù, và Trí Quang đã bảo con: “Con đã biết là ta đã già yếu rồi. Nếu không chết bây giờ thì có lẽ cũng chỉ trong mươi năm nữa thôi. Vậy nếu con phung phí tiền bạc vì ta thì chúng ta không thể nào mời được một học giả từ Ấn Độ qua đây. Thật đẹp đẽ biết bao nếu ta được chết vì một mục đích cao cả và con dùng toàn bộ số vàng kia để cử người đi Ấn Độ rước một học giả về! Hơn thế nữa, không chắc gì vị vua nầy sẽ thả ta về sau khi nhận đủ số tiền đòi hỏi. Vì thế, con ơi, thay vì lo lắng cho ta, con hãy cử một sứ giả đến gặp ngài A Để Sa. Ta đảm bảo rằng ông ta sẽ đồng ý đến Tây Tạng, nhất là khi được biết về hoàn cảnh hiện nay của ta, vì ông ấy sẽ đoái thương chúng ta. Nếu vì một lý do gì mà ông ấy không đến được thì hãy mời một học giả khác đã từng làm việc dưới ông ta.” Thế rồi Trí Quang đặt tay lên vai con mình, cầu chúc khi hai cha con chia tay nhau lần cuối. Sau lần ấy, Bodhiprabha lo tìm một sứ giả là ưu bà tắc Gun-Than-Pa đi Ấn Độ, đảm đang trách nhiệm mà cha đã giao phó. Sau khi nghe kể lại về cái chết bi thảm của Trí Quang, vị tu sĩ hoàng gia, ngài rất cảm động và nói: “Chắc chắn là ngài Trí Quang sẽ trở thành một Bồ Tát, một Đức Phật sẽ thành, vì ông ấy đã hy sinh bản thân cho Chánh Pháp. Ta sẽ đáp lại nguyện vọng của ông ấy, nhưng các ngươi phải thấy là ta đang gánh trên vai ta trách nhiệm đối với 108 đền chùa. Hơn nữa, ta còn có nhiều việc khác phải lo. Phải mất 18 tháng ta mới rời bỏ được công việc nầy. Chỉ đến khi đó ta mới có thể đi Tây Tạng được. Còn bây giờ thì các ngươi cứ giữ lấy số vàng nầy.” Ratnakarasanti, tu viện trưởng, bất đắc dĩ phải để cho A Để Sa ra đi. Trong thời gian ở lại Tây Tạng, trên 30 năm, A Để Sa đã dịch nhiều sách và viết một tác phẩm nổi tiếng của ông tựa đề “Bồ Đề Đạo Đăng Luận.” Bản dịch ra tiếng Tây Tạng của cuốn sách nầy hiện vẫn còn. Sau nầy, Ratnabhadra, được Trí Quang đưa đi Ấn du học ngày trước, trở thành một đệ tử trung thành và giúp ngài A Để Sa dịch nhiều bộ sách quan trọng: Name of a disciple of Silabhadra. According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, in the middle of the ninth century A.D., the Tibetan Prince Ni-Ma-Gon moved to the west and founded a new kingdom. One of his son became a monk named Trí Quang (Jnanaprabha). By Jnanaprabha's time, Tantrism had devoured all the religions of India. In spite of this, Jnanprabha himself was not attracted to Trantism. On the contrary, he wrote a book against it. The Tantrics of Tibet believed that the royal ascetic went to hell for writing this book. Jnanaprabha was the eldest son of the king of Guge (Shenshung) and had become a monk. He had read the scriptures, was a rationalist, and had inherited from his forefathers a great faith in Buddhism. He realized, however, that the task of combating the evils of Tantrism was so stupendous that his single-handed efforts would not suffice. He therefore selected 21 intelligent Tibetan youths, educated them for for ten years in the country, and then sent them to Kashmir for higher studies. None of these, however, could stand the rigours of the climate in Kashmir, and all of them died except Ratnabhadra (Rin-Chhen-Zang-Po) and Suprajna (Legs-Pahi-Shes-Rab). Ratnabhadra is considered to be the greatest translator in Tibet. When he returned at the end of his studies, Jnanaprabha was very delighted, but the work of reform for which he had striven so hard was too difficult for just one individual. He came to a conclusion that since the students from Tibet found it very difficult to stand the climate of India, it would be better if some scholars were to come from India and work in Tibet. He decided to send a mission to go to India to invite Dipanakara to Tibet. The mission failed, however, for the party could not prevail upon the master to undertake a journey to Tibet. Jnanaprabha was not one to be daunted by failure. He decided to send another party, but funds were lacking, so he went to the Gartog Province to collect gold. This probably refers to a place named Gartog, which was situated to the north of the Manasarovar lake and had a gold mine. It is recorded that the king of Gartog put him under arrest and held him up for a big ransom. When the news of Jnanaprabha's arrest reached his son, Bodhiprabha (Byang-Chub-Od), he thought that he had collected enough money to effect his release. The amount, however, proved inadequate, but before he could go back to obtain more money, he went to see his father in prison. Jnanaprabha said to his son: “My son! You know I am grown old. Even if I do not die immediately, I am likely to do so within the next ten years. So if you squander money on me, we shall not be able to send for a scholar from India. How splendid it would be if I were to die for the sake of the great cause and you could send all the gold to India to fetch the scholar! Moreover, it is not certain that the king will release me even after he has received the stipulated amount of gold. So, my son, instead of worrying about me, you had better send an emissary to Atisa. I am sure he will agree to come to Tibet, especially when he hears about my present plight, for he will take pity on us. If for some reason he cannot come, then you should send for some other scholar who has worked under him.” Thus Jnanaprabha put his hand on his son and blessed him as he took leave of him for the last time. After the last meeting with his father, Bodhiprabha sent Upasaka Gun-Than-Po who had lived in India for two years to go to India to invite Atisa Dipankara. After Dipankara was told about Jnanaprabha's tragic story (the death of the royal ascetic), he was very moved and said: “There is no doubt that Jnanaprabha was a Bodhisattva, the Buddha to be, because he had sacrificed himself for the Dharma. I will fulfill his desire, but you must realize that the heavy responsibility for 108 temples rests on my shoulders. I have to be relieved of these duties. Then only shall I be able to go to Tibet. In the meantime, you must keep this gold.” Dipankara informed Ratnakarasanti, the Chief Abbot of the Mahavihara, about his intentions. Ratnakarasanti was first reluctant to let him go, but eventually he allowed Dipankara to go to Tibet. When he stayed in Tibet, more than thirty years, Atisa translated many books and wrote his famous work titled “Bodhipatha-pradipa.” The Tibetan translation of this book is still extant. Later, the great master Ratnabhadra, who had been sent by Jnanaprabha to Kashmir, became Atisa's staunchest devotees and assisted him in translating many important books.
Trí quang diệt nhất thiết nghiệp chướng đà-la-ni kinh
智光滅一切業障陀羅尼經; C: zhìguāng miè yīqiē yèzhàng tuóluóní jīng; J: chikō metsu issai gyōshō tarani kyō;|1 quyển. Tên gọi khác của bản dịch Trí cự đà-la-ni kinh (智炬陀羅尼經).
Trí quang diệt nhất thiết nghiệp chướng đà-la-ni kinh 智光滅一切業障陀羅尼經
[ja] チコウメツイッサイギョウショウダラニキョウ Chikō metsu issai gyōshō tarani kyō ||| The Zhiguang mie yiqie yezhang tuoluoni jing 1 fasc. (T 1398.21.914-915); alternative translation of the Zhiju tuoluonijing 智炬陀羅尼經. => (c: Zhiguang mie yiqie yezhang tuoluoni jing), 1 quyển. Tên gọi khác của bản dịch Trí cự đà-la-ni kinh (c: Zhiju tuoluonijing 智炬陀羅尼經).
trí quang minh
See Trí Huệ Quang minh.
Trí quang 智光
[ja] チコウ chikō ||| The light of wisdom. => Ánh sáng trí tuệ.
trí quả
The fruit of knowledge, enlightenment.
; Trí quả hay giác ngộ Bồ Đề (loại diệu quả sinh ra do tu hành ở nhân địa)—The fruit of knowledge, or enlightenment.
trí sa
Tisya (skt)—Đế Sa. 1) Một vị cổ Phật: An ancient Buddha. 2) Cha của ngài Xá Lợi Phất: The father of Sariputra.
trí siêu việt
Prajan (skt)—Transcendental knowledge.
trí sơn
The mountain of knowledge; knowledge exalted as a mountain.
; Trí tuệ cao tuyệt như núi—The mountain of knowledge—Knowledge exalted as a mountain.
trí tam muội
Samaya wisdom—The characteristic of a Buddha's or Bodhisattva's wisdom.
trí tha tâm thông
The Intuitive knowledge of the minds of all other beings. ** For more information, please see Tha Tâm Trí, Lục Thông, Ten Kinds of Wisdom, and Tứ Thập Bát nguyện.
Trí Thiền
智禪; ~ tk. 11/12|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 16, nối pháp Thiền sư Giới Không.|Sư tên Lê Thước, xuất thân từ một gia đình quan tước. Thuở nhỏ, Sư theo nghiệp nhà Nho, thi đậu tiến sĩ và được sung chức Cung Hậu Thư gia.|Năm lên 27, Sư theo ông anh đến Thiền sư Giới Không nghe giảng kinh Kim cương. Nhân nghe giảng đến bài kệ cuối của kinh »Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng, như sương cũng như điện, phải quán sát như thế«, Sư bỗng giật mình cảm ngộ, cho rằng ngoài đạo Phật không có giáo lí nào dẫn dắt qua biển sinh tử và xin cạo đầu xuất gia với Thiền sư Giới Không.|Sau khi được Ấn khả, Sư đến núi Từ Sơn chuyên tu khổ hạnh. Ðạo hạnh của Sư cảm hoá được cả thú dữ và giặc cướp. Vua Lí Cao Tông và Anh Tông nhiều lần thỉnh Sư về triều nhưng Sư một mực từ chối. Hai vị quan Tô Hiến Thành và Ngô Hoà Nghĩa đều xin làm đệ tử của Sư nhưng suốt 10 năm chưa được biết mặt thầy. Khi được gặp mặt nhau, thầy trò đều hoan hỉ và vừa hỏi thăm xong, Sư dặn dò:|既懷出素養胸中。聞說微言意悅從|貪欲黜除天里外。希夷之里日包容|淡然自守。惟德是務|善言卷卷一句|心無彼我。既絕昏霾|日夜陟降。無形可住|如影如響。無跡可趣|Kí hoài xuất tố dưỡng hung trung|Văn thuyết vi ngôn ý duyệt tòng|Tham dục truất trừ thiên lí ngoại|Hi di chi lí nhật bao dung.|Ðạm nhiên tự thủ, duy đức thị vụ.|Thiện ngôn quyền quyền nhất cú|Tâm vô bỉ ngã, kí tuyệt hôn mai|Nhật dạ trắc giáng, vô hình khả trụ|Như ảnh như hưởng, vô tích khả thú.|*Ðã mang giống Phật dưỡng trong lòng|Nghe nói lời mầu ý thích mong|Vất ngoài ngàn dặm niềm tham muốn|Lí nhiệm càng ngày càng bao dung.|Ðạm bạc tự giữ, chỉ đức là vụ|Lời thành tha thiết một câu:|Lòng không bỉ ngã, đã dứt bụi mù|Ngày đêm lên xuống, không hình khá trụ|Như bóng như vang, không vết khá đến.|Nói xong, Sư chắp tay ngồi ngay thẳng vui vẻ thị tịch. Các quan và đệ tử xúc động kêu khóc vang núi.
trí thiền sư
Zen Master Trí—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phong Châu, Bắc Việt. Ngài là dòng dõi của vua Lê Đại Hành. Ông nội ngài là Lê Thuận Tông, là một quan chức lớn của triều Lý. Ngài thi đậu Tiến Sĩ và được bổ làm Cung Hầu Thư Gia trong triều. Năm 27 tuổi, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Giới Không. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 16 của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ngài đi đến núi Từ Sơn và trụ trong rừng sâu để tu tập khổ hạnh và thiền định trong sáu năm liền. Sau đó ngài xuống chân núi cất am Phù Môn giảng pháp cho đến khi ngài thị tịch. Cả hai ông Tô Hiến Thành và Ngô Hòa Nghĩa dều là đệ tử tại gia của ngài—A Vietnamese zen master from Phong Châu, North Vietnam. He was a descendant of King Lê Đại Hành. His grandfather named Lê Thuận Tông, a high official in the royal court during the Lý Dynasty. He passed the Doctorate Degree in Philosophy and was assigned as a royal official with the rank of “Cung Hầu Thư Gia.” At the age of 27, he left home and became a disciple of Zen master Giới Không. After becoming the dharma heir of the sixteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect, he went to Mount Từ Sơn and stayed in the deep jungle to practice ascetics and meditation for six years. Then he went to the mountain foot to build a small temple named Phù Môn and stayed there to preach Buddha Dharma until he passed away. It should be noted that both Tô Hiến Thành and Ngô Hòa Nghĩa were his lay disciples.
trí thành
The city of mystic wisdom, Buddhahood.
; Thành lũy của mật trí hay Phật quả—The city of mystic wisdom, Buddhahood.
trí thân
Prajnakaya (skt)—Trí tuệ viên minh được coi như là pháp thân của Phật, đây là một trong mười thân Phật—Wisdom-body, the Tathagata, one of the ten bodies of a Thus Come One. ** For more information, please see Thập Thân Phật.
Trí Thông
智通; C: zhìtōng; J: chitsū; |Tăng sĩ Pháp tướng tông Nhật Bản. Năm 657, theo sắc lệnh của Hoàng đế, sư cùng với Trí Đạt, đáp thuyền Hàn Quốc sang Trung Hoa. Sư tham học với Huyền Trang, nghiên cứu Pháp tướng tông. Khi trở về Nhật Bản, sư truyền bá dòng pháp thứ 2 của Pháp tướng tông Nhật Bản. Sau đó, sư sáng lập chùa Quan Âm (j: kannonji) ở Izumi (Osaka).
trí thông minh
Intelligence.
Trí Thông 智通
[ja] チツウ Chitsū ||| Chitsū A Japanese monk of the Hossō sect. In 657, in accord with an imperial decree, he went together with Chidatsu (智達), taking a Korean boat to China. He studied with Xuanzang 玄奘, learning the Faxiang 法相 doctrine. Upon returning to Japan, he taught as the second line of transmission of the Hossō sect in Japan. Subsequently, he founded Kannonji in Izumi (Osaka). => (j: Chitsū); Tăng sĩ Pháp tướng tông Nhật Bản. Năm 657, theo sắc lệnh của Hoàng đế, sư cùng với Trí Đạt, đáp thuyền Cao Ly sang Trung Hoa. Sư tham học với Huyền Trang, nghiên cứu Pháp tướng tông. Khi trở về Nhật Bản, sư truyền bá dòng pháp thứ 2 của Pháp tướng tông Nhật Bản. Sau đó, sư sáng lập chùa Kannonji ở Izumi (Osaka).
Trí Thăng
智昇; C: zhìshēng; J: chishō;|Tăng sĩ học giả đời Đường, người đã sưu tập một trong những mục lục quan trọng nhất của kinh luận chữ Hán, nhan đề Khai Nguyên Thích giáo lục (開元釋教録), hoàn thành năm 730.
Trí Thăng 智昇
[ja] チショウ Chishō ||| a Tang scholar who compiled one of the most important catalogs of the Chinese Buddhist canon, entitled Kaiyuan shijiao lu 開元釋教録, which he completed in 730. => Tăng sĩ học giả đời Đường, người đã sưu tập một trong những mục lục quan trọng nhất của kinh luận chữ Hán, nhan đề Khai nguyên Thích giáo lục (c: Kaiyuan shijiao lu 開元釋教), hoàn thành năm 730.
trí thường qui tông thiền sư
Thiền sư Trí Thường Qui Tông quê ở Giang Linh (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc), là đệ tử của Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất—Zen master Zhi-Chang-Kui-Zong was from Jiang-Ling (now in Hu-bei Province), was a disciple of Zen master Ma-Tsu-T'ao-Yi. • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Các bậc cổ đức từ trước không phải chẳng hiểu biết, các ngài là bậc cao thượng chẳng đồng hạng thường. Người thời nay không thể tự thành tự lập, để tháng ngày qua suông. Các ngươi chớ lầm dụng tâm, không ai thế được ngươi, cũng không có chỗ ngươi dụng tâm. Chớ đến người khác tìm, từ trước chỉ nương người khác mà tìm hiểu, nói ra đều kẹt, ánh sáng không thấy suốt, chỉ vì trước mắt có vật.”—Master Zhi-Chang Kui-Shan entered the hall and addressed the monks, saying: “The virtuous of former times were not without knowledge and understanding. Those great adepts were not of the common stream. People these days are unable to be self-empowered, nor can they stand alone. They just idly pass the time. All of you here, don't make the error of employing your mind. No one can do it for you. Moreover, there is no place where mind can be used. Don't be seeking it somewhere else. Up to now you have been acting in accordance with someone else's understanding. Your own speech is completely obstructed. The light does not shine through. There are obstructions blocking your vision.” • Có vị Tăng hỏi sư: “Thế nào là huyền chỉ?” Sư đáp: “Không người hay hội.” Vị Tăng lại hỏi: “Người hướng về thì sao?” Sư nói: “Có hướng tức trái.” Vị Tăng lại hỏi: “Người chẳng hướng thì sao?”Sư đáp: “Đi! Không có chỗ cho ngươi dụng tâm.” Vị Tăng hỏi: “Đâu không có cửa phương tiện khiến học nhơn được vào?” Sư đáp: “Quan Âm sức diệu trí hay cứu khổ thế gian.” Vị Tăng lại hỏi: “Thế nào là sức diệu trí Quan Âm?” Sư gõ cái đỉnh ba tiếng, hỏi: “Ngươi nghe chăng?” Vị Tăng đáp: “Nghe.” Sư nói: “Sao ta chẳng nghe?” Vị Tăng không đáp được. Sư cầm gậy đuổi ra—A monk asked Zen master Zhi-Chang: “What is the essential mystery?” Zhi-Chang said: “No one can understand it.” The monk said: “How about those who seek it?” Zhi-Chang said: “Those who seek it miss it completely.” The monk asked: “How about those who don't seek it?” Zhi-Chang said: “Go! There's no place for you to use your mind.” The monk said: “Then, is there no expedient gate through which you can help me to enter?” Zhi-Chang said: “Kuan-Yin's sublime wisdom can save the world from suffering.” The monk said: “What is Kuan-Yin's sublime wisdom?” The master struck the top of the incense urn three times with his staff and said: “Did you hear that or not?” The monk said: “I heard it.” Zhi-Chang said: “Why didn't I hear it?” The monk was silent. The master then took his staff and got down from the seat. • Sư thượng đường dạy chúng: “Nay tôi muốn nói thiền, các ngươi tất cả lại gần đây.” Đại chúng tiến đến gần. Sư bảo: “Các ngươi nghe, hạnh Quan Âm khéo hiện các nơi chốn.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là hạnh Quan Âm?” Sư khảy móng tay, hỏi: “”Các ngươi có nghe chăng?” Đại chúng đáp: “Nghe.” Sư nói: “Một bọn hướng trong ấy tìm cái gì?” Sư cầm gậy đuổi ra, rồi cười lớn, đoạn đi vào phương trượng—Zhi-Chang entered the hall and addressed the monks, saying: “I want to speak about Zen. All of you gather around.” The monks gathered closely around Zhi-Chang. Zhi-Chang said: “Listen to Bodhisattva Kuan-Yin's practice. Its goodness extends everywhere.” Someone asked: “What is Kuan-Yin's practice?” Zhi-Chang pointed with his finger and said: “Do you still hear it?” The monk said: “We hear it.” Zhi-Chang said: “What is this pack of fools looking for?” He took his staff and chased the monks out of the hall. With a big laugh he went back to the abbot's quarters. • Một vị Tăng đến từ biệt sư. Sư hỏi: “Đi đâu?” Vị Tăng đáp: “Đi các nơi học ngũ vị thiền.” Sư nói: “Các nơi có ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có nhất vị thiền.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là nhất vị thiền?” Sư liền đánh. Vị Tăng bỗng nhiên đại ngộ, thưa: “Ngưng, con biết rồi.” Sư nói: “Nói! Nói!” Vị Tăng ngập ngừng trả lời. Sư lại đánh đuổi ra—A monk was leaving the monastery. Zhi-Chang asked him: “Where are you going?” The monk said: “I'm going everywhere to study the five flavors of Zen.” Zhi-Chang said: “Everywhere else has five Zen flavors. Here I only have one-flavored Zen.” The monk said: “What is one-flavored Zen?” Zhi-Chang hit him. The monk said: “I understand! I understand!” Zhi-Chang said: “Speak! Speak!” The monk hesitated. Zhi-Chang hit him again. The monk later went to Huang-Bo and told him about this previous exchange with Zhi-Chang. Huang-Bo entered the hall and addressed the monks, saying: “Great Teacher Ma brought forth eighty-four people. But if some worthy asks them a question every one of them just wets his pants. Only Zhi-Chang is up to snuff!” • Thích sử Giang Châu là Lý Bột đến hỏi sư: “trong kinh nói: 'Hạt cải để trong núi Tu Di,' Bột không nghi. Lại nói: 'Núi Tu Di để trong hạt cải,' phải là dối chăng?” Sư gạn lại: “Người ta đồn Sử quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng?” Thích Sử đáp: “Đúng vậy.” Sư nói: “Rờ từ đầu đến chân bằng cây dừa lớn, muôn quyển sách để chỗ nào?” Lý Bột cúi đầu lặng thinh—Governor Li-Bo of Jiang-Chou said to Zhi-Chang: “In the scripture it says that a mustard seed fits inside Mount Sumeru. This I don't doubt. But it also says that Mount Sumeru fits inside a mustard seed. I'm afraid this is just foolish talk.” Zhe-Chang said: “I've heard that Your Excellency has read thousands of scriptures. Is this so or not?” The governor said: “Yes, it is true.” Zhe-Chang said: “From top to bottom your head is about the size of a coconut. Where did all those scriptures go?” The governor could only bow his head in deference. • Sau khi sư thị tịch, sư được vua ban hiệu “Chí Chơn Thiền Sư”—After his death, he received the posthumous title “Zen Master Arrive at Truth.”
Trí thể
智體; C: zhìtĭ; J: chitai;|Bản chất của trí huệ. Thể tính của trí huệ.
Trí thể 智體
[ja] チタイ chitai ||| The essence of wisdom. Wisdom as such; wisdom in itself. => Bản chất của trí huệ. Thể tính của trí huệ.
trí thủ
The knowing hand, the right hand.
; Tay biết việc hay tay phải—The knowing hand or the right hand.
trí thức
• Trí thức: Intellectual—Knowledge—Learning—Acquaintance. • Trí và Thức: Jnana and Vijnana (skt)—Trí là sự vô chấp, còn thức là bị ràng buộc vào một thế giới bên ngoài của các đặc thù—Jnana is non-attachment, whereas vijnana is attached to an external world of particulars.
Trí Tiển
(智銑, Chisen, 539-618): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Từ Châu (徐州), Giang Tô (江蘇), họ Từ (徐), tự Huệ Thành (慧成). Ông sang xứ Thục học Luật, nhân gặp phải nạn hủy Phật dưới thời nhà Chu nên phải ẩn cư ở Nam Lãnh (南嶺). Khi vua Tùy Văn Đế tức vị (581), ông bắt đầu tuyên giảng giáo pháp, chiêu tập các bậc thạc đức về với mình, và đến Trường An (長安) xiển dương Luật Tạng. Sau đáp ứng lời thỉnh cầu của vua Thục, ông trở về Thục, trú tại Pháp Tụ Tự (法聚寺), được chúng đạo tục quy ngưỡng theo rất đông. Về sau, ông ẩn cư ở Long Cư Sơn Tự (龍居山寺), nhưng rồi lại được vua Thục triệu thỉnh nên ông phải quay trở về Thục. Vào năm đầu niên hiệu Võ Đức (武德), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi (có thuyết cho là 83 tuổi).
trí tràng bồ tát
Jānaketu (S)Thường hành giả, Tánh Tịnh Bồ tátTên một vị Bồ tát.
trí trí
Nhất Thiết Trí của Đức Phật—Wisdom of wisdom. ** For more information, please see Ngũ Trí.
trí tuệ
Jnàna as Trí knowledge and Prajnà as Tuệ discernment, i.e. knowledge of things and realization of truth; in general knowledge and wisdom.
; Jnana and Prajna (skt). (A) Nghĩa của Trí Tuệ—The meanings of wisdom: 1) Sự hiểu biết về vạn hữu và thực chứng chân lý—Knowledge of things and realization of truth. a) Trí: Jnana (skt)—Sự hiểu biết về vạn hữu—Knowledge of things. b) Tuệ: Prajna (skt)—Thực chứng chân lý—The realization of truth—Trí tuệ dựa vào chánh kiến và chánh tư duy: Wisdom is based on right understanding and right thought. (B) Phân loại Trí—Categories of wisdom: a) Hai loại trí tuệ—There are two kinds: 1) Quyền đạo trí: Partial, temporary, or relative knowledge of reality. 2) Bát Nhã trí: Prajna wisdom—The absolute truth or reality instead of the seeming. ** For more information, please see Nhị Trí. b) Nhị Trí Viên Mãn: Two kinds of Perfect and Complete Tathagata-wisdom—See Nhị Trí Viên Mãn. c) Tam Trí: Three kinds of wisdom—See Tam Trí. d) Tứ Trí: Four kinds of wisdom—See Tứ Trí. e) Ngũ Trí: Five kinds of wisdom—See Ngũ Trí.
trí tuệ (phật)
Jāna (S), Wisdom (of Buddha), Ṇāṇa (P), ye she (T)Có: Thế gian trí, Xuất thế gian trí, Xuất thế gian thượng thượng trí.
Trí tuệ ba-la-mật
xem Bát-nhã ba-la-mật.
trí tuệ biện tài
Wisdom and eloquent power.
trí tuệ bát nhã
Prajna-paramita (skt)—Transcendental knowledge—See Trí Huệ Ba La Mật.
trí tuệ hải
Buddha-wisdom deep and wide as the ocean.
trí tuệ kim cang bồ tát
Prajna-bodhisattva (skt)—See Bát Nhã Bồ Tát.
trí tuệ kiếm
The sword of wisdom which cuts away passions and severs the link of transmigration.
trí tuệ lực
Wisdom, insight.
; Wisdom—Insight.
trí tuệ môn
The gate of Buddha-wisdom which leads into all truths.
trí tuệ nông cạn
The two-finger (narrow) wisdom.
trí tuệ phương tiện
Prajnopaya (skt)—Knowledge and means.
trí tuệ quang phật
Wisdom-light Buddha, Amitàbha.
; See Trí Huệ Quang Phật.
trí tuệ quán
One of the meditations of Quán thế Âm, insight into reality.
trí tuệ sáng suốt
Pannaveyyattiyam (P).
trí tuệ thế gian
Temporal wisdom.
trí tuệ thủy
The water of wisdom which washes away the filth of passion.
trí tuệ tâm linh
Spiritual wisdom (insight).
trí tuệ tối thượng
The supreme wisdom—To be full of wisdom.
trí tuệ xuất thế gian
Supernatural wisdom.
Trí Tàng
(智藏, Chizō, 458-522): vị tăng sống dưới thời nhà Lương thuộc Nam Triều, cùng với Tăng Mân (僧旻) và Pháp Vân (法雲) được gọi là Ba Vị Pháp Sư Lớn của nhà Lương, xuất thân Quận Ngô (呉郡, thuộc Huyện Ngô [呉縣], Giang Tô [江]), họ Cố (顧). Ban đầu ông tên Tịnh Tạng (淨藏), lúc nhỏ thông minh, khiêm tốn. Theo Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) quyển 5 cho biết rằng ông xuất gia năm 16 tuổi, đến năm thứ 6 (470) niên hiệu Thái Thỉ (泰始), đến trú tại Hưng Hoàng Tự (興皇寺), theo hầu Tăng Viễn (僧遠) và Tăng Hựu (僧祐) ở Định Lâm Tự (定林寺) cũng như Hoằng Tông (弘宗) ở Thiên An Tự (天安寺). Bên cạnh đó, ông còn theo học với Tăng Nhu (僧柔), Huệ Thứ (慧次), tinh thông kinh luận và giới luật. Dưới thời Văn Tuyên Vương (文宣王), khi Phật pháp thịnh hành, nhà vua cho thuyết giảng Tịnh Danh Kinh (淨名經), triệu tập hơn 20 vị tăng để tinh giải kinh luận, khi ấy ông là người nhỏ tuổi nhất ngồi bên dưới, nhưng đến khi thuyết giảng về nghĩa lý thì chẳng có ai bì kịp. Đến thời Lương Võ Đế (梁武帝), ông lại được sùng tín hơn, sắc phong trú trì Khai Thiện Tự (開善寺). Năm 29 tuổi, nghe thầy tướng số bảo ông chỉ sống đến 31 tuổi, vì vậy ông không thuyết giảng nữa, chỉ chuyên tâm tu tập, phát nguyện lớn không ra khỏi cửa chùa, ngày đêm thọ trì Kinh Kim Cang Bát Nhã (金剛般若經). Đến cuối năm 31 tuổi, ông lấy hương tắm rửa sạch sẽ, tụng kinh đợi chết, nhưng lại nghe trên không trung có âm thanh, nhờ thần lực của Kinh Bát Nhã mà được tăng tuổi thọ. Từ đó trở đi, chúng đạo tục vùng Giang Tả đều trì tụng Kinh Bát Nhã. Về sau, ông từng thuyết giảng Thành Thật Luận (成實論) ở Bành Thành Tự (彭城寺), rồi giảng Kinh Pháp Hoa (法華經) ở Huệ Luân Điện (惠輪殿). Khi vua Võ Đế thọ Bồ Tát giới, ông làm giới sư. Hoàng Thái Tử cũng kính trọng ông và thường đến pháp tịch nghe giảng kinh. Vào tháng 9 năm thứ 3 (522) niên hiệu Phổ Thông (普通), ông thị tịch, hưởng thọ 65 tuổi.
trí tác vi
Trí tác vi là trí làm chướng ngại cho sự thành tựu giác ngộ trong nhà Thiền—Intellection is knowledge that obstructs enlightenment in Zen.
trí tâm
The mind of knowledge; a wise mind.
; Tâm có trí tuệ hay một người khôn ngoan với một cái tâm toàn hảo—The mind of knowledge; a wise man, with the utmost or a perfect mind.
trí tâm sai biệt trí tác chứng thông
Xem Tha tâm thông.
Trí Tích
智積; C: zhìjī; J: chishaku; |1. Tích chứa trí huệ; 2. Tên một người con của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng; 3. Tăng sĩ thời Đông Tấn.
trí tích
Jnànàkara (S). Accumulation of knowledge. Eldest son of Mahàbhijna; also said to be Aksobhya. Prajnàkuta. A Bodhisattva in the retenue of Prabhùtratna, v. Lotus sùtra.
; Jnanakara (skt). 1) Sự tích tụ trí huệ: Accumulation of knowledge. 2) Một vị Bồ Tát được nói đến trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Là con trưởng của Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Trí Tích là quyến thuộc của Đức Đa Bảo Như Lai: A Bodhisattva mentioned in the Wonder Lotus Sutra (Aksobhya Prajnakuta). The eldest son of Mahabhijna. He is in the retinue of Prabhutratna.
trí tích bồ tát
Prajākuta Bodhisattva (S)Huệ Tích Bồ tátMột vị Bồ tát theo hầu Phật Đa Bảo. Xem Huệ Tích Bồ tátXem Biện tích Bồ tát.
Trí Tích 智積
[ja] チシャク chishaku ||| (1) To accumulate wisdom. (2) The name of one of the sons of the buddha Greatest in Penetrating Wisdom 大通知勝佛. 〔法華經 T 262.9.22c04〕 (3) A monk of the Eastern Qin. See FKS. => 1. Tích chứa trí huệ. 2. Tên một người con của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng. 3. Tăng sĩ thời Đông Tấn.
trí túc
Một trong nhị túc, trí túc là Ba La Mật thứ sáu trong lục Ba La Mật—One of the two feet, the foot of wisdom consisting of the sixth paramita in the six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật (6).
trí tương đối
Paratantra (skt)—Y tha khởi tính, duyên khởi tướng—The knowledge of relativity.
Trí tướng
智相; C: zhìxiāng; J: chisō;|Thể chất trong sáng của Phật tính. Theo luận Đại thừa khởi tín thì đây là một trong Lục thô. Là tác dụng của trí dẫn đến nhận thức rõ sự thanh tịnh và nhiễm ô, khiến sinh khởi sự thích và ghét.
trí tướng
Wise mien or apparence, the wisdom-light shining from the Buddha's face; also human intelligence.
; Hào quang hay ánh sáng trí tuệ chiếu tỏa từ mặt Phật (tướng mạo trí tuệ của Phật hiển hiện ra bên ngoài)—Human intelligence—Wise appearance—The wisdom-light shining from the Buddha's face.
trí tướng tôn giả
Nhị Tổ của tông Hoa Nghiêm—The second patriarch of the Hua-Yen sect.
Trí tướng 智相
[ja] チソウ chisō ||| (1) The luminosity of Buddhahood. (2) In the Awakening of Faith 大乘起信論, one of the "six coarse marks," the "Mark of Awareness." The function of awareness which leads to discernment of purity and impurity, giving rise to like and dislike. => 1. Thể chất trong sáng của Phật tính. 2. Theo luận Đại thừa khởi tín, đó là 1 trong Lục thô. Là tác dụng của trí dẫn đến nhận thức rõ sự thanh tịnh và nhiễm ô, khiến sinh khởi sự thích và ghét.
trí tượng
1) Trí Tuệ hay Bát Nhã giống như một con voi: Prajna or wisdom likened to an elephant. 2) Danh hiệu của Phật: A title of Budha. 3) Tên của một vị sư Ấn Độ: Name of an Indian monk. 4) Tên khác của Kinh Niết Bàn: Another name for Nirvana Sutra. 5) Tên khác của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa: Another name for the Prajna-Paramita Sutra.
Trí Tạng
(智藏, Chizō, ?-?): vị tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Phi Điểu, xuất thân đất Ngô, Trung Quốc, họ Hùng Ngưng (熊凝). Ông là con của Phước Lượng (福亮) lúc chưa xuất gia, cùng với cha sang Nhật dưới thời đại Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō), sống tại Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), Pháp Hưng Tự (法興寺, Hōkō-ji) và theo Huệ Quán (慧灌, Ekan) học về Tam Luận. Sau đó, ông sang nhà Đường cầu pháp, thọ nhận áo nghĩa của Tam Luận từ Cát Tạng (吉藏) của Gia Tường Tự (吉祥寺) và sau đó trở về nước. Từ đó, ông trú tại Pháp Long Tự để truyền bá Tam Luận Tông, đến năm 673, nhờ công lao quản lý sao chép Đại Tạng Kinh, ông được bổ nhiệm làm chức Tăng Chánh.
; 智藏; C: zhìzàng; J: chizō; |Có ít nhất 3 nhân vật được đề cập đến:|1. Là một trong 3 pháp sư lỗi lạc vào đời Lương (梁). Sư xuất gia vào năm 16 tuổi tại chùa Hưng Hoàng (興皇寺) năm 470, sau khi được học với Hoằng Tông (弘宗) cùng với Tăng Viễn (僧遠) và Tăng Hựu (僧祐) tại chùa Định Lâm (定林寺), sư nổi tiếng thành tựu sở học uyên thâm, sau đó du hành đến nhiều nơi trong nước Trung Hoa để giảng dạy Phật pháp, cùng lúc duy trì chế độ tu tập rất nghiêm túc cho chính mình. Lương Vũ Đế phát tâm quy y với sư và trải qua thời gian dài giảng pháp tại Bành Thành tự (彭城寺). Sau đó, sư ẩn cư tại Khai Thiện tự (開善寺) và viên tịch năm 522, lúc 65 tuổi. Mặc dù được biết Sư viết rất nhiều chuyên luận và luận giải về kinh luật Phật pháp, nhưng không còn tác phẩm nào lưu hành đến ngày nay.|2. Tây Đường Trí Tạng, Thiền sư Trung Hoa đời Đường.|3. Tăng sĩ thế kỉ thứ 7, đời nhà Ngô, thuộc Tam luận tông. Sư bắt đầu học Phật vào lúc niên thiếu với sự hướng dẫn của Huệ Quán (慧灌) tại Nguyên Hưng tự (元興寺). Sau đó sư nhập Đường để học với Cát Tạng (吉蔵), sư trở nên nổi danh là chuyên gia của triết học Tam luận. Sau sư nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp Long tự. Không rõ ngày sinh và viên tịch của sư. Môn đệ của sư gồm có Đạo Từ (道慈), Trí Quang (智光) và Lễ Quang (禮光).
trí tạng
Chih tsang (C), Jānakaragarbha (S), Chi-tsang (C)539-623, một htiền sư phái Tam Luận, đệ từ ngài Pháp Lãng.
; The treasury of Buddha-wisdom; posthumous title of Amogha.
; 1) Trí tuệ quảng đại của Phật, bao hàm hết thảy chư pháp—The treasury of Buddha-wisdom. 2) Tên húy của Ngài Bất Không Tam Tạng: The posthumous title of Amogha—See Bất Không Tam Tạng.
trí tạng tân đường
Hsi-tang Chih-tsang (C), Xidang Zhizang (C), Seido Chizo (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.
trí tạng tây đường thiền sư
Zen master Zhi-T'sang-Hsi-T'ang—Thiền sư Trí Tạng Tây Đường sanh năm 735 tại Kiền Hóa, là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất—Zen master Zhi-T'sang-Hsi-T'ang was born in 735 in Qian-Hua, was a disciple of Ma-Tsu-T'ao-Yi. • Một hôm Mã Tổ sai sư đến Trường An dâng thơ cho Quốc Sư Huệ Trung. Quốc Sư hỏi: “Thầy ngươi nói pháp gì?” Sư từ bên Đông sang bên Tây đứng. Quốc sư hỏi: “Chỉ cái ấy hay còn cái gì khác?” Sư trở lại bên Đông đứng. Quốc sư bảo: “Cái đó là của Mã Sư, còn ngươi thế nào?” Sư thưa: “Đã trình tương tợ với Hòa Thượng.”—One day Ma-Tsu dispatched Zhi-T'sang to Chang-An to deliver a letter to the National Teacher Nan-Yang-Hui-Zhong. The national Teacher asked him: “What Dharma does your teacher convey to people?” Zhi-T'sang walked from the east side to the west side and stood there. The National teacher said: “Is that all?” Zhi-T'sang then walked from the west side to the east side. The National Teacher said: “This is Ma-Tsu's way. What do you do?” Zhi-T'sang said: “I showed it to you already.” • Một lần, Mã Tổ hỏi sư: “Sao con chẳng xem kinh?” Sư thưa: “Kinh đâu có khác.” Mã Tổ nói: “Tuy nhiên như thế, con về sau vì người cần phải xem.” Sư thưa: “Con bệnh cần phải trị dưỡng, đâu dám nói vì người.” Mã Tổ bảo: “Con lúc lớn tuổi sẽ làm Phật pháp hưng thạnh ở đời.”—One day Ma-Tsu asked Zhe-T'sang: “Why don't you read sutras?” Zhi-T'sang said: “Aren't they all the same?” Ma-Tsu said: “Although that's true, still you should do so for the sake of people whom you will teach later on.” Zhi-T'sang said: “I think Zhi-T'sang must cure his own illness. Then he can talk to others.” Ma-Tsu said: “Late in your life, you'll be known throughout the world.” Zhi-T'sang bowed. • Khi sư đã trụ trì Tây Đường, một cư sĩ hỏi sư: “Có thiên đường, địa ngục chăng?” Sư đáp: “Có.” Vị cư sĩ lại hỏi: “Có Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo chăng?” Sư đáp: “Có.” Người ấy hỏi nhiều vấn đề nữa, sư đều đáp 'có.' Người ấy thưa: “Hòa Thượng nói thế e lầm chăng?” Trí Tạng hỏi: “Khi ông hỏi các vị tôn túc khác thì họ nói gì?” Vị cư sĩ đáp: “Con đã hỏi Hòa Thượng Cảnh Sơn.” Sư hỏi: “Hòa Thượng Cảnh Sơn nói với ông thế nào?” Vị cư sĩ đáp: “Ngài nói tất cả đều không.” Sư hỏi vị cư sĩ: “Ông có vợ con gì không?” Vị ấy đáp: “Có.” Sư hỏi tiếp: “Hòa Thượng Cảnh Sơn có vợ chăng?” Vị ấy đáp: “Không.” Sư nói: “Như vậy Hòa Thượng Cảnh Sơn nói không là phải.” Người ấy lễ tạ lui ra—After Zhi-T'sang became an abbot of the Western Hall (in Chinese, Hsi-T'ang), a lay person asked him: “Is there a heaven and hell?” Zhi-T'sang said: “There is.” The lay person then asked: “Is there really a Buddha, Dharma, and Sangha, the three Jewels?” Zhi-T'sang said: “There are.” The lay person then asked several other questions, and to each Zhi-T'sang answered, “There are.” The lay person said: “Is the Master sure there's no mistake about this?” Zhi-T'sang said: “When you visited other teachers, what did they say?” The lay person said: “I once visited Master Jing-Shan.” Zhi-T'sang said: “What did Jing-Shan say to you?” The lay person said: “He said that there wasn't a single thing.” Zhi-T'sang said: “Do you have a wife and children?” The lay person said: “Yes.” Zhi-T'sang said: “Does Master Jing-Shan have a wife and children?” The lay person said: “No.” Zhi-T'sang said: “Then it's okay for Jing-Shan to say there isn't a single thing.” The lay person bowed, thanked Zhi-T'sang, and then went away. • Thiền sư Trí Tạng thị tịch năm 814, được vua ban hiệu “Đại Tuyên Giáo Thiền Sư.”—Zen master Zhi-T'sang died in 814. He received the posthumous title “Zen Master Great Expounder of the Teaching.”
Trí Tạng 智藏
[ja] チゾウ Chizō ||| Zhizang, at least three of whom are mentioned in reference sources. (1) One of the three great dharma-masters of the Liang 梁. He is said to have left home at the age of 16, entering Xinghuang si 興皇寺 in 470. After studying together with SengYuan 僧遠 and Sengyou 僧祐 under Hongzong 弘宗 at Dinglin si 定林寺, he became known for his scholarly accomplishments, and subsequently traveled to many regions of China, lecturing on the buddhadharma, whīe at the same time maintaining a strict regimen of religious training for himself. He received the vow of faith from Emperor Wu 武帝 of Liang, and then spent a period of time lecturing at Pengchengsi 彭城寺. After this, he retired to a life of seclusion at Kaishan si 開善寺, and passed away in 522 at the age of 65. Although he is said to have written numerous treatises and commentaries on Buddhist canonical works, these have not survived to the present. (2) Chinese Chan teacher of the Tang period, originally from Qianhua 虔化. He entered the Buddhist order at a young age, and soon traveled to Jianyang 建陽, where he became the student of Mazu Daoyi 馬祖道一, receiving the mind-seal together with Baizhang Huaihai 百丈懷海. He subsequently taught Chan at 西堂寺 in 虔州. He is known for having taught students from various foreign countries, including such important later masters as Toŭi 道義, Hongch'ŏk 洪陟 and Hyech'ŏl 慧徹from the Silla dynasty in Korea. He passed away in 814 at the age of eighty. (3) (7th century) Member of the Sanlun 三論 school from the Wu 呉 dynasty. Began his Buddhist studies as a youth under the tutelage of Huiguan 慧灌 from Yuanxing si 元興寺. Later entered the Tang to study under Jizang 吉蔵, where he become known as an expert of Sanlun phīosophy. Later on studied and taught at Falong si 法隆寺. His dates of birth and death are not known. He was the teacher of Daoci 道慈, Zhiguang 智光 and Liguang 禮光. => (c: Zhizang); có ít nhất 3 nhân vật được đề cập đến: 1. Là một trong 3 pháp sư lỗi lạc vào đời Lương (Liang 梁). Sư xuất gia vào năm 16 tuổi tại chùa Hưng Hoàng (c: Xinghuang si 興皇寺) năm 470, sau khi được học với Hoằng Tông (c: Hongzong 弘宗) cùng với Tăng Viễn (c: SengYuan 僧遠 ) và Tăng Hựu (c: Sengyou 僧祐) tại chùa Định Lâm (c: Dinglin si 定林寺), sư nổi tiếng thành tựu sở học uyên thâm, sau đó du hành đến nhiều nơi trong nước Trung Hoa để giảng dạy Phật pháp, cùng lúc duy trì chế độ tu tập rất nghiêm túc cho chính mình. Lương Võ Đế phát tâm quy y với sư và trải qua thời gian dài giảng pháp tại Bành Thành tự (c: Pengchengsi 彭城寺). Sau đó, sư sống ẩn cư tại Khai Thiện tự (c: Kaishan si 開善寺) và viên tịch năm 522, lúc 65 tuổi. Mặc dù được biết Sư viết rất nhiều chuyên luận và luận giải về kinh luật Phật pháp, nhưng không còn tác phẩm nào lưu hành đến ngày nay. 2. Thiền sư Trung Hoa đời Đường, xuất thân từ Kiền Hoa (c: Qianhua 虔化). Sư xuất gia vào thời niên thiếu, chẳng bao lâu sau hành cước đến Kiến Dương, làm môn đệ của Mã Tổ Đạo Nhất, cùng được ấn chứng với Bách Trượng Hoài Hải (c: Baizhang Huaihai 百丈懷海). Sau đó sư dạy thiền tại Tây Đường tự ở Kiền Châu. Sư nổi tiéng đã dạy nhiều môn đệ từ nhiều nước khác nhau, bao gồm những cao tăng sau nầy như Đạo Nghĩa (k: Toŭi 道義) Hồng Trắc (k:Hongch'ŏk 洪陟) và Huệ Triệt (k: Hyech'ŏl 慧徹) vào triều đại Tân La, Cao Ly. Sư viên tịch năm 814 lúc 80 tuổi. 3. Tăng sĩ thế kỷ thứ 7, đời nhà Ngô, thuộc Tam luận tông. Sư bắt đầu học Phật vào lúc niên thiếu với sự hướng dẫn của Huệ Quán (c: Huiguan 慧灌 ) tại Nguyên Hưng tự (c: Yuanxing si 元興寺). Sau đó sư nhập Đường để học với Cát Tạng (c: Jizang 吉蔵), sư trở nên nổi danh là chuyên gia của triết học Tam luận. Sau sư nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp Long tự. Không rõ ngày sinh và viên tịch của sư. Môn đệ của sư gồm có Đạo Từ, Trí Quang và Lễ Quang.
trí tập
Mái chèo trí tuệ, có công năng đưa chúng sanh vượt qua biển sanh tử để đến niết bàn—Oar of wisdom, that rows across to nirvana.
trí tịnh
Jnana-pavana (skt)—Purifying knowledge.
trí tịnh tướng
Pure wisdom aspect; pure wisdom; wisdom and purity.
; 1) Trí Tuệ và sự thanh tịnh: Wisdom and purity. 2) Trí thanh tịnh: Pure-wisdom aspect—Pure wisdom.
Trí Uy
(智威, Chii, 646-722): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Giang Ninh (江寧), Giang Tô (江蘇), họ Trần (陳). Lúc nhỏ ông đã khác người, theo xuất gia với Thống Pháp Sư (統法師) ở Thiên Bảo Tự (天寳寺) và năm 20 tuổi thọ Cụ Túc giới. Sau đó, ông đến tham yết Pháp Trì (法持) của Ngưu Đầu Tông, được trao truyền tâm ấn cho. Từ đó ông đến trú tại Ngưu Đầu Sơn (牛頭山) vùng Kim Lăng (金陵), chuyên tâm tuyên dương tông phong. Ông phó chúc lại cho Huệ Trung (慧忠). Vào năm thứ 10 (có thuyết cho là năm thứ 17) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi.
trí uyển chuyển
Flexible wisdom.
trí uẩn
Paakkhanda (S), Group of wisdom.
trí vô ngôn
Nonverbal knowledge.
trí vô sư
Giới Định Huệ—Teacherless knowledge—Knowledge that comes from practicing the precepts, concentration and wisdom.
trí xảo
Cunning—Clever.
Trí Xứng
智稱; C: zhìchēng; J: chishō; K: chich'ing, 1113-1192; |Tăng sĩ kiêm học giả lớn của Hoa Nghiêm tông thuộc triều đại Cao Li (k: koryŏ).
Trí Xứng 智稱
[ja] チショウ Chishō ||| Chich'ing (1113-1192); a major Hwaŏm scholar of the Koryŏ dynasty. => k: Chich'ing (1113-1192); Tăng sĩ kiêm học giả lớn của Hoa Nghiêm tông thuộc triều đại Koryŏ.
Trí yết-ma
(置羯磨), cũng gọi là bất ngữ yết-ma, y chỉ yết-ma, vị tỳ-kheo có tội chịu sự khu biệt và giám sát, không ai trong tăng chúng được trò chuyện với vị ấy, và trong thời gian ấy phải chuyên tâm học luật, suy gẫm tự hối.
trí đao
1) Lưỡi kiếm trí tuệ: The sword of knowledge. 2) Trí tuệ của người tu sắc bén như lưỡi kiếm (có khả năng chặt đứt khổ đau phiền não): Knowledge like a sword.
trí đoạn
Mystic wisdom which attains absolute truth, and cuts off misery.
; Trí đức và đoạn đức làm sáng tỏ chân lý và đoạn diệt phiền não—Mystic wisdom which attains absolute truth and cuts off misery.
Trí đáo bỉ ngạn
智到彼岸; C: zhìdàobĭàn; J: chitōhigan; |Sự hoàn chỉnh của toàn trí toàn thức. Trí ba-la-mật (智波羅蜜).
Trí đáo bỉ ngạn 智到彼岸
[ja] チトウヒガン chitōhigan ||| The perfection of omniscience. See 智波羅蜜. Sự hoàn chỉnh của toàn trí toàn thức. Xem Trí ba-la-mật 智波羅蜜.
trí đáp
(置答): cách đáp lại một câu hỏi bằng cách phớt lờ đi, không cần quan tâm đến, vì nội dung câu hỏi rơi vào một vấn đề không cần giải đáp. Các bản trước đây đều dịch chữ này là “đáp bằng cách yên lặng”, không đúng với ý nghĩa ở đây. Có rất nhiều trường hợp đức Phật dùng cách yên lặng mà đáp (默然而答mặc nhiên nhi đáp), nhưng sự yên lặng ấy có thể biểu lộ sự đồng ý, tán thành, khác với nghĩa dùng ở đây. Chữ置(trí) hoàn toàn không mang nghĩa “yên lặng”, mà có nghĩa là phớt lờ, gạt sang một bên, không quan tâm đến, xem như không có... Và đây mới chính là ý nghĩa của cách đáp này, vì vấn đề nêu lên có thể là không cần thiết phải giải đáp, chỉ nằm trong phạm trù hí luận mà không giúp ích gì cho sự giải thoát. Như vậy, tuy cũng là yên lặng không nói, nhưng ý nghĩa không nằm ở sự yên lặng, mà ở chỗ là không lưu tâm đến sự việc nêu ra, vì biết đó là việc vô bổ.
trí đôn
Chih-Tun (C), Chih Tao-lin (C)Một trong những nhà sư nổi tiếng vào thế kỷ thứ 9 ở Trung quốc.
; Chih Tao-lin (C).
; Chih-Tun 314-366—Một trong những thiền sư chính của Phật giáo Trung Quốc vào thế kỷ thứ tư. Ông sáng lập ra phái Bát Nhã của Phật Giáo Nguyên Thủy Trung Quốc. Trí Đôn là người đầu tiên đã đưa ra lý giải mới về một trong những khái niệm trung tâm triết học của Trung Quốc là “Lý.” Theo truyền thống, lý chỉ trật tự vũ trụ, nhưng Trí Đôn lý giải ngược lại, như là chân lý cao nhất, hay nguyên lý cuối cùng, hay chân tính. Định nghĩa nầy về sau được các trường phái Phật giáo thừa nhận. Trí Đôn còn rất nổi tiếng là đệ tử am hiểu sâu sắc về Trang Tử và Đạo giáo—One of the most important monks of the fourth century and founder of the so-called Prajna school of early Chinese Buddhism, the school of Appearance As Such. Chih-Tun was the first to interpret “li,” a central notion in Chinese philosophy. According to the classical view, “li” means the cosmic order; however, Chih-Tun, saw “li” the supreme truth, the ultimate principle, or “suchness” (tathata). This meaning for “li” was adopted by other schools in the course of the development of Buddhism in China. Chih-Tun was also known as a student of Chuang-Tzu and enjoyed great popularity in Taoist circles.
Trí Đạt
智達; C: zhìdá; J: chidatsu;|Cao tăng Nhật Bản thuộc Pháp tướng tông. Không rõ danh tính, nơi sinh và ngày tháng viên tịch. Sư đến Trung Hoa cùng với Trí Thông, theo ngài Huyền Trang nghiên cứu Duy thức. Sau khi trở về Nhật Bản, sư trú tại chùa Gangoji và truyền bá giáo lí Pháp tướng tông.
Trí Đạt 智達
[ja] チダツ Chidatsu ||| ChidatsuA Japanese monk of the Hossō sect. His dates of birth and death, family name and residence are uncertain. He went to China, together with Chitsū (智通) and studied Consciousness-only with Xuanzang. After returning to Japan, he lived at Gangoji and taught the doctrine of the Hossō school. => (j: Chidatsu) Cao tăng Nhật Bản thuộc Pháp tướng tông. Không rõ danh tính, nơi sinh và ngày tháng viên tịch. Sư đến Trung Hoa cùng với Trí Thông智通, theo ngài Huyền Trang nghiên cứu Duy thức. Sau khi trở về Nhật Bản, sư trú tại chùa Gangoji và truyền bá giáo lý Pháp tướng tông.
Trí đế hiện quán
智諦現觀; C: zhìdì xiànguān; J: chitai genkan;|Hiện quán trí đế hiện quán (現觀智諦現觀).
Trí độ
智度; S: prajñāpāramitā; dịch âm theo Hán Việt là Bát-nhã ba-la-mật-đa;|Trí huệ độ người sang bờ bên kia (Giác ngộ), có thể hiểu là Trí huệ siêu việt.
trí độ
Prajnà pàramità (S). The sixth ođ the six pàramitàs, wisdom which brings men to nirvàna.
; Prajna paramita (skt)—Độ thứ sáu trong lục độ Ba La Mật, trí huệ Ba La Mật có công năng đưa hành giả đến Niết Bàn—Wisdom which brings men to nirvana, the sixth of the six paramitas.
Trí độ luận
智度論; C: zhìdùlùn; J: chidoron; S: mahāpra-jñāpāramitā-śāstra|Đại trí độ luận (大智度論).
trí độ luận
Prajāpāramitā śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; The sàstra, or commentary on the Prajnà pàramità sùtra. It is a famous philosophical Mahàyàna work.
; Maha-Prajnaparamita Sastra (skt)—Đại Trí Độ Luận—Luận về Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Đây là một tác phẩm triết học nổi tiếng của Phật Giáo Đại Thừa—Sastra (Commentary) on the Prajna paramita sutra. It is a famous philosophical Mahayana work. ** For more information, please see Đại Trí Độ Luận.
Trí độ luận 智度論
[ja] チトロン Chidoron ||| The Mahāprajñāpāramitā-śāstra; see Dazhidulun 大智度論 (T 1509.25.57c-756b). => (s: Mahāprajñāpāramitā-śāstra); xem Đại trí độ luận (c: Dazhidulun 大智度論).
Trí Động
(智洞, Chidō, 1736-1805): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời Giang Hộ; húy là Trí Động (智洞), thụy hiệu là Ứng Hiện Viện (應現院); hiệu Đào Hoa Phường (桃花坊); xuất thân vùng Kyoto; con của Tịnh Khiêm (淨謙) ở Thắng Mãn Tự (勝滿寺), Kyoto. Trong vụ pháp luận Minh Hòa (明和), ông đã từng luận tranh với Trí Xiêm (智暹) của Chơn Tịnh Tự (眞淨寺), vùng Bá Ma (播磨, Harima) và trở nên nổi tiếng. Sau ông đến trú tại Tịnh Giáo Tự (淨敎寺) ở kinh đô Kyoto, và vào năm 1797 thì tựu nhiệm chức Năng Hóa (能化, Nōke) đời thứ 8 ở Học Lâm của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji). Chính ông đã kế thừa tư tưởng Nguyện Sanh Quy Mạng Biện (願生歸命辨) của Công Tồn (功存), chủ trương thuyết Dục Sanh Quy Mạng (欲生歸命); bị nhóm của Đại Doanh (大瀛) phản luận, và dẫn đến cuộc luận tranh gọi là Tam Nghiệp Hoặc Loạn (三業惑亂). Ông là người có công lớn trong việc sao chép những điển tịch của các ngôi tự viện lớn, cũng như tạo mục lục lưu trữ thư tịch của Học Lâm. Trước tác của ông có Long Cốc Học Huỳnh Hiện Tồn Thư Tịch Mục Lục (龍谷學黌現存書籍目錄) 5 quyển, Cao Tăng Hòa Tán Giảng Lâm (高僧和讚講林) 6 quyển, Ban Chu Tán Giảng Lâm (般舟讚講林) 10 quyển, Chánh Tín Kệ Giảng Lâm Trợ Lãm (正信偈講林助覽) 4 quyển.
trí đức
Trí và đức—Intellectual and virtue—Merit (potency) of perfect knowledge.
trí ấn
Djānamudrā (S), Jāna-mŪdra (S)Huệ ấn.
; The seal of the knowledge; the meditation of Diệu Âm Bồ tát Gadgadasvara.
trí ấn tam muội
Djānamudrā samādhi (S), Jānamudrā samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
Trí 智
[ja] チ chi ||| (1) Wisdom; the function of the intellect. (dhī, buddhi, abhijñā, mati; Tib. shes pa) Intelligence. (2) A wise person. (3) Understanding, knowledge (jñāna). (4) Satori, intuitive wisdom, intuitive knowledge. The non-discriminating knowledge of the Yogācāra school. The intuitive knowledge that recognizes that all things have no real substantiality. (5) That which permeates and functions both as original knowing and discriminated knowing. => 1. Trí tuệ, tác dụng của khả năng hiểu biết(s: dhī, buddhi, abhijñā, mati; t: shes pa). Sự hiểu biết. 2. Người hiểu biết3. Trí (s: jñāna). 4. Trí giác ngộ, trí trực giác, sự nhận biết qua trực giác. Trí vô phân biệt theo Du-già hành tông. Nhận thức bằng trực giác rõ biết các pháp không có thật thể. 5. Huân tập và hiện hành cả trí căn bản lẫn trí phân biệt.
trích
To copy out—To extract—To excerpt.
trích dịch
To extract a passage from a book and translate it.
trích giảng
To extract and explain.
trích yếu
Subject.
trích đăng
To extract a passage from a book and insert it in a newspaper.
trò chuyện
To talk---To chat—To converse.
trò cười
Joke—Jest.
trò quỷ thuật
Magic tricks.
trò vui
Merry-making feasts.
trò đời
Ways of the world.
tròn
Xem Tỉnh thức.
tròn trèm
About.
tròng
Noose—Trap.
tròng trành
To rock.
tróc
To peel (scale—come) off.
trói
To fasten—To tie—To bind.
Trói buộc
S, P: saṃyojana; Hán Việt: Kết sử (結使);|Một khái niệm quan trọng của đạo Phật, chỉ chướng ngại trên đường giải thoát. Trong Tiểu thừa, người ta chia làm mười thứ trói buộc, làm con người cứ bị buộc chặt trong Luân hồi:|1. Thân kiến (身見; s: satkāya-dṛṣṭi; p: sak-kāyadiṭṭhi), nghĩ rằng có một cái tôi được lập trên cơ sở thân thể; 2. Nghi (疑; s: vici-kitsā; p: vicikiccā); 3. Chấp đắm vào giới luật (戒禁取; giới cấm thủ; s: śīlavrata-parāmarśa; p: sīlabbata-parāmāsa); 4. Dục tham (欲貪; s, p: kāma-rāga);|5. Sân hận (慎恚; thận khuể; s, p: vyāpāda); 6. Sắc tham (色貪; s, p: rūpa-rāga); 7. Vô sắc tham (無色貪; s, p: arūpa-rāga); 8. Kiêu mạn (慢; s, p: māna); 9. Hồi hộp không yên (掉舉; trạo cử; s: auddhatya; p: uddha-cca); 10. Vô minh (無明; s: avidyā; p: avijjā).|Thoát được ba trói buộc đầu tiên, hành giả trở thành Dự lưu (s: śrotāpanna). Thoát được trói buộc thứ 4, 5 là bậc Nhất lai (s: sa-kṛḍāgāmin). Thoát được hoàn toàn năm trói buộc đầu tiên, hành giả đạt quả Bất hoàn (s: anāgāma). Hành giả thoát được mười trói buộc thì trở thành A-la-hán (s: arhat).
trói buộc
Ganthas (P), Bonds.
; Chaining or bondage—Mọi sự trói buộc là do tâm sinh ra, tức là, thế giới của những hình tướng hư ngụy nầy là cấu trúc của tâm—All kinds bondage are mind-made, that is, this world of faulty appearances is the construction of the mind.
trót
To have done something by mistake.
trôi
To drift.
trôi chảy
Flowing—Fluent.
trôi giạt vào bờ
To drift on shore.
trôi lình bình
To drift slowly.
trôi nổi
Moving about without guided—Adrift.
trôi qua
To go by—To pass.
trôi xuôi dòng
To drift down stream.
trông
To look at—To see.
trông chờ
To await—To wait for—To expect.
trông chừng
To keep watching over (someone or something).
trông coi
To watch over—To look after.
trông cậy
To rely on—To depend on.
trông nhờ
See Trông Cậy.
trông nom
To superintend—To oversee—To supervise.
trông đợi
See Trông Chờ.
trông ơn
To count on a favour. Trồng Dưa Được Dưa, Trồng Đậu Được Đậu Là Lẽ Đương Nhiên; Đã Gieo Chông Gai, Đừng Mong Đến Mùa Gặt Lúa Nếp: If you plant melons, you reap melons; if you plant beans you reap beans. This is the natural course of events. Having sown thorns, do not expect to harvest wheat and rice.
trù
1) Nhà bếp: A kitchen. 2) Trù mật: Đông đặc—Dense—Thick-set. 3) Trù tính—To calculate—To devise—To plan.
trù lâm
Rừng dầy—Dục vọng của chúng sanh được ví như khu rừng dầy, một khi đã lạc vào thì khó lòng mà thoát ra được—A thick or dense forest, e.g. the passions, etc.
trù lượng
Reckoning—To reckon and measure.
trù rủa
To curse.
trù định
To plan.
trùm khắp
Vibhu (skt)—Being everywhere—Far-extending—All-pervading—Omnipresent.
trùng
1) Côn trùng hay loài bò sát—Insect, reptile; any creeping thing. 2) Vương quốc côn trùng bao gồm sâu bọ, sên ốc, và côn trùng, vân vân—The animal kingdom, generally applied to worms, snails, insects, etc.
trùng các giảng đường
The double-storeyed hall at Vaisali where the Buddha stayed.
trùng các đường
Xem Đại Lâm tinh xá.
Trùng Dự
(重譽, Chōyo, ?-?): vị Tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An, húy là Trùng Dự (重譽), hay Triều Dự (朝譽), tự là Lý Giáo (理敎). Ông theo học Tam Luận với Giác Thọ (覺樹) ở Đông Nam Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), rồi thọ nhận Mật Giáo của Dòng Tiểu Dã (小野流) nơi Tĩnh Dự (靜譽). Ông ít thích xã giao, đến sống ở Quang Minh Sơn Tự (光明山寺) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và chuyên tâm tu Tịnh Độ Giáo. Trước tác của ông có Thập Trụ Tâm Luận Sao (十住心論鈔) 3 quyển, Tất Đàm Tự Ký Sao (悉曇字記鈔) 2 quyển, Bí Tông Giáo Tướng Sao (秘宗敎相鈔) 10 quyển, Bí Tông Thâm Mật Sao (秘宗深密鈔) 3 quyển, v.v.
trùng hiển tuyết đậu thiền sư
Zen master Zhong-Hsian-Xue-Tou (980-1052)—Thiền sư Trùng Hiển Tuyết Đậu sanh năm 980 tại Toại Ninh (bây giờ thuộc tỉnh Tứ Xuyên), là đệ tử của Thiền sư Quang Tộ Trí Môn. Ngài là một bậc thầy cõ lớn của dòng Thiền Vân Môn và hoằng hóa khoảng đầu đời nhà Tống. Sư nổi danh nhờ tài năng văn học. Sư cũng là tác giả Bích Nham Lục. Khi bộ sách nầy ra mắt công chúng, tức thì được tán thưởng khắp nơi trong giới văn học đương thời—Zen master Zhong-Hsian-Xue-Tou was born in 980 in Sui-Ning (now in Si-Chuan Province), was a disciple of Kuang-Zuo-Zhi-Men. Xue-Tou was a great master of the Yun-Men School and flourished early in the Sung Dynasty. He was noted for his literary ability. He was also the author of Pi-Yen-Lu, and when this book was made public, it at once created universal applause in the literary circles of the time. • Một hôm sư hỏi Trí Môn: “Chẳng khởi một niệm, tại sao có lỗi?” Trí Môn gọi sư lại gần. Trí Môn cầm phất tử nhằm vào miệng sư mà đánh. Sư toan mở miệng, Trí Môn lại đánh. Sư hoát nhiên khai ngộ. Sư ở lại đây năm năm, nhận tột chỗ u huyền, mới đi tham vấn khắp nơi—One day he asked Zhi-Men: “Before a single thought arises, can what is said be wrong?” Zhi-Men summoned Xue-Tou to come forward. Xue-Tou did so. Zhi-Men suddenly struck Xue-Tou in the mouth with his whisk. Xue-Tou began to speak but Zhi-Men hit him again. Xue-Tou suddenly experienced enlightenment. • Sư thượng đường dạy chúng. Thượng thủ bạch chùy xong. Có vị Tăng mới bước ra. Sư nắm đứng lại, bảo: “Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai ủy thác tại ngày hôm nay. Buông đi thì ngói gạch sanh quang, nắm đứng thì chơn kim mất sắc. Quyền bính ở trong tay, giết tha tại lúc nầy. Ai là tác giả thì cùng nhau chứng cứ?”—The head monk struck the gavel. A monk came forward to speak. Xue-Tou told him to stop and go back, and then said: “The Treasury of the True Dharma Eye of the Tathagatas is manifested before us today. In its illumination even a piece of tile is radiant. When it is obscured, even pure gold loses its luster. In my hand is the scepter of authority. It will now kill and give life. If you are an accomplished adept in the practice of our school, then come forward and gain authentication!” • Có vị Tăng bước ra hỏi: “Xa lìa Tổ tịch Thúy Phong đến đạo tràng Tuyết Đậu, chưa biết là một là hai?” Sư đáp: “Ngựa không ngàn dậm dối đuổi gió.” Vị Tăng hỏi: “Thế ấy mây tan nhà trăng?” Sư đáp: “Đầu rồng đuôi rắn.”—A monk came forward and said: “Far from the ancestral seat at Shui-Feng, now expounding at Xue-Tou, do you still not know if it's one or if it's two?” Xue-Tou said: “A horse cannot beat the wind for a thousand miles.” The monk said: “In that case, the clouds disperse and the clear moon is above the households.” Xue-Tou said: “A dragon-headed, snake-tailed fellow.” • Sư thị tịch năm 1058, được vua ban hiệu “Minh Giác Đại Sư.”—He died in 1058. Upon his death, Xue-T'ou received the posthumous title “Great Teacher Clear Awakening.”
trùng hợp
Coincidence.
trùng không
The double space, i.e. the space beyond space, the void beyond the void.
Trùng Nguyên
(重源, Chōgen, 1121-1206): hiệu là Tuấn Thừa Phòng (俊乘房) và Nam Mô A Di Đà Phật (南無阿彌陀佛). Ban đầu ông vốn là võ sĩ, sau đó xuất gia, học Chơn Ngôn Mật Giáo ở Đề Hộ Tự (醍醐寺, Daigo-ji) và thực hành pháp môn Chơn Ngôn Niệm Phật. Kể từ sau năm 1181 khi được bổ nhiệm làm chức Khuyến Tấn của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), ông theo những vị khuyến tấn này đi khắp các nơi và chuyên tâm bố giáo khuyên nhủ mọi người kết duyên xây dựng trùng tu ngôi đại già lam này. Với kết quả đó, vào năm 1185 thì lễ cúng dường khai nhãn tượng Đại Phật của chùa được tiến hành và đến năm 1195 thì ngôi chùa này được hoàn thành viên mãn. Tác phẩm tự ghi của ông Nam Mô A Di Đà Phật Tác Thiện Tập (南無阿彌陀佛作善集) là di văn để lại có liên quan đến sự nghiệp xây dựng chùa này.
trùng phùng
To meet again.
trùng quan
The grave barriers (to meditation and enlightenment).
Trùng quang
(重光): còn gọi là trùng hy (重熙) hay trùng minh (重明), nghĩa là với sự kế thừa liên tiếp như vậy làm rạng rỡ đức độ của chư vị truyền thừa.
Trùng Tang
(重喪): chỉ cho ngày tháng năm sinh của người mất trùng khớp với Can Chi giờ ra đi của người mất, được gọi là “nhật bất thanh (日不清, ngày không sạch, ngày không tốt).” Theo quan niệm từ ngàn xưa của Trung Quốc cũng như Việt Nam, khi có Trùng Tang thì sẽ bị “liên táng (連葬)”, tức người chết xảy ra liên tục, đặc biệt là những thân nhân của người quá cố. Các ngày được xem như là “Trùng Tang nhật (重喪日, ngày Trùng Tang)” tối kỵ gồm: ngày Giáp tháng giêng, ngày Ất tháng 2, ngày Mậu tháng 3, ngày Bính tháng 4, ngày Đinh tháng 5, ngày Kỷ tháng 6, ngày Canh tháng 7, ngày Tân tháng 8, ngày Mậu tháng 9, ngày Nhâm tháng 10, ngày Quý tháng 11 và ngày Kỷ tháng 12. Cho nên, để cầu cho người sống được bình an, tốt đẹp, ngày nhập liệm, an táng cần phải chọn thật kỹ lưỡng. Theo tác phẩm Nghi Lễ của tác giả Thích Hoàn Thông cho biết rằng các giờ Trùng Tang liên táng rất xấu, nên tránh, gồm: tuổi Thân, Tý, Thìn chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Tỵ; tuổi Dần, Ngọ, Tuất chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Hợi; tuổi Tỵ, Dậu, Sửu chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Dần; tuổi Hợi, Mão, Mùi chết nhằm năm, tháng, ngày, giờ Thân. Khi nhập liệm, an táng cũng như cải táng cần phải tránh các giờ nêu trên. Bên cạnh đó, có các giờ tốt nên chọn để nhập liệm như ngày Tý nên dùng giờ Giáp, Canh; ngày Sửu là giờ Ất, Tân; ngày Dần là giờ Đinh, Quý; ngày Mão là giờ Bính, Nhâm; ngày Thìn là giờ Giáp, Đinh; ngày Tỵ là giờ Ất, Canh; ngày Ngọ là giờ Đinh, Quý; ngày Mùi là giờ Ất, Tân; ngày Thân là giờ Giáp, Quý; ngày Dậu là giờ Đinh, Nhâm; ngày Tuất là giờ Canh, Nhâm; Ngày Hợi nên dùng giờ Ất, Tân.
trùng thực
Ăn côn trùng—To eat as do grubs, moth-eat, etc.
trùng trùng
Repeated, again and again, manifold etc.
trùng trùng điệp điệp
Inumerable—Numberless.
trùng trùng đế võng
The multi-meshed net of Indra.
trùng tu
To rebuild—To restore—To repair—To reconstruct.
trùng tu chùa chiền
To restore temples.
trùng tuyền
Hell.
Trùng tụng
重頌; S, P: geya; dịch âm Hán Việt là Kì-dạ (祇夜), cũng được dịch nghĩa là Ứng tụng (應頌);|Một dạng thơ, kệ tụng, trong đó nhiều câu được lặp đi lặp lại, khác với một Kệ-đà (s, p: gāthā), một dạng kệ không bị ảnh hưởng bởi các câu thơ đi trước. Trùng tụng được sử dụng trong Tập bộ kinh.
trùng tụng
Xem Ứng tụng.
; Geya (S). Repetition in verse of a prose section.
trùy
Cây búa tròn—Round hammer.
Trú (trụ)
住; C: zhù; J: jū; S: layana; sthiti.|Có các nghĩa sau: 1. Ở lại, lưu lại (s: vihara-ti); tồn tại lâu dài (s: upasthita, tisthati); định cư; 2. Ở, trú ngụ, cư trú; 3. Hiện hữu, tồn tại, sống (s: pravrtti); 4. Sống một cách an nhiên; 5. Trụ vào một đối tượng nào đó, dính mắc vào, trụ vào; 6. Sự chấp trước, ảo tưởng; 7. Sự tiếp tục; 8. Ở trong bào thai (s: sthiti); 9. Giai đoạn, thời kì tồn tại (của vũ trụ); 10. Một trong 3 (hoặc 4) hình thái tồn tại của vũ trụ (tứ tướng 四相); 11. Thập trú (十住), 10 trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát; 12. Một trong 24 loại Tâm bất tương ưng hành pháp; 13. Thường trú, tồn tại vĩnh viễn, hiện hữu đời đời; 14. Trong thuật ngữ Thiền, nó thường được kết hợp với một động từ để nhấn mạnh nghĩa của động từ ấy.
trú chân
To stay.
trú dạ lục thời
The six periods of the day and night.
Trú Liên
(住蓮, Jūren, ?-1207): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Trú Liên (住蓮), con của vị Duy Na của Đông Đại Tự là Thật Biến (實遍). Ông quy y theo Nguyên Không (源空) mà học Tịnh Độ Giáo, và ông rất giỏi về Thanh Minh nên có nhiều tín đồ theo ông. Năm 1206, ông cùng với Tuân Tây (遵西) tu hành pháp môn Sáu Thời Lễ Sám Niệm Phật. Khi ấy người vợ của Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇) mới phát tâm xuất gia theo ông, vì thế Thượng Hoàng mới tố cáo lên triều đình và ra lệnh đình chỉ pháp tu niệm Phật. Năm sau thì ông bị xử hình ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi).
trú manh
Day-blindness.
Trú phiền não
住煩惱; C: zhù fánnăo; J: jūbonnō;|Bốn loại Trú phiền não được đề cập trong kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra): 1. Kiến nhất xứ trú trì (見一處住持); 2. Dục ái trú trì (欲愛住持); 3. Sắc ái trú trì (色愛住持), 4. Hữu ái trú trì (有愛住持). Những phiền não nầy là nền tảng của vô số Khởi phiền não (起煩惱).
Trú phiền não 住煩惱
[ja] ジュウボンノウ jūbonnō ||| The (four) abiding defilements taught in the Śrīmālā-sūtra: (1) the abiding defilement of arbitrariness (jianyichuzhuchi 見一處住持); (2) the abiding defilement of attachment to desire (yuaizhuchi 欲愛住持); (3) the abiding defilement of attachment to form (seaizhuchi 色愛住持); (4) the abiding defilement of attachment to existence (youaizhuchi 有愛住持). These defilements are the basis for the countless "arisen defilements" (qifannao 起煩惱). See T vol. 12, p. 220a. => Bốn thứ trú phiền não đề cập trong Kinh Thắng Man (s: Śrīmālā-sūtra): 1. Kiến nhất xứ trú trì (c: jianyichuzhuchi 見一處住持); 2. Dục ái trú trì (c: yuaizhuchi 欲愛住持); 3. Sắc ái trú trì (c: seaizhuchi 色愛住持), 4. Hữu ái trú trì(c: youaizhuchi 有愛住持). Những món phiền não nầy là nền tảng của vô số "khởi phiền não "(c: qifannao 起煩惱).
Trú trì
住持; C: zhùchí; J: jūji; S: tisthati.|Có các nghĩa: 1. Duy trì, nắm giữ. Đặc biệt trong nghĩa »hộ trì Phật pháp«; 2. Nơi cư trú, sự lưu trú. Lập trường, quan điểm, cơ sở, Phật tính (s: adhisthāna); 3. Đồng nghĩa với Gia trì (加持); 4. Thường an nhiên, thanh thản; 5. Vị tăng đứng đầu tu viện, hộ trì và truyền bá Phật pháp; 6. Trong câu »Như hà trú trì« (如何住持) thì nó có nghĩa là »Điều kiện (phương pháp)… như thế nào?«; 7. Lệ thuộc vào, cơ sở, quy chế. Được định nghĩa là sự hệ thuộc vào đức Phật, người truyền năng lực của mình đến mọi chúng sinh cũng như hỗ trợ chúng.
Trú trì 住持
[ja] ジュウジ jūji ||| (tisthati). (1) To maintain, hold firmly to. Especially "preserve the teachings." (2) Dwelling, abode. Position, standpoint, viewpoint, basis. Buddhahood (adhisthāna). (3) Same as jiachi 加持. (4) To maintain equanimity unfailingly. (5) One who dwells in a monastery and cleaves to the Buddha-dharma. A superintendent monk. To act as supervisor and teacher of a monastery. (6) In the phrase ruhezhuchi 如何住持 it means "What is the conditions (method)... (7) To depend on; a base, a rule. It is defined as dependence on the Buddha, who confers his strength on all and upholds them. => (s: tisthati) Có các nghĩa: 1. Duy trì, nắm giữ. Đặc biệt trong nghĩa "hộ trì Phật pháp" 2. Nơi cư trú , sự lưu trú. Lập trường, quan điểm, cơ sở. Phật tính (s: adhisthāna: gia trì). 3. Đồng nghĩa với Gia trì (c: jiachi ). 4. Thường an nhiên, thanh thản. 5. Vị tăng đứng đầu tu viện, hộ trì và truyền bá Phật pháp.
Trú Trì, Trụ Trì
(住持, jūji): nguyên ban đầu có ý nghĩa là sống lâu, hộ trì Phật pháp; nhưng sau này chuyển sang nghĩa chỉ cho vị tăng chưởng quản một ngôi chùa; còn gọi là Trú Trì Chức (住持職), gọi tắt là Trú Chức (住職, jūshoku); hay gọi là Duy Na (維那), Tự Chủ (寺主). Từ sau thời nhà Tống (宋, hay Lưu Tống [劉宋], 420-479) trở đi, chức danh Trú Trì được dùng rộng rãi trong Thiền Lâm. Khi Phật Giáo đầu tiên mới du nhập vào Trung Quốc, những người tu Thiền lấy đạo truyền trao cho nhau, hoặc là sống trong hang động núi rừng, hoặc nương nơi các ngôi chùa Luật; và thưở ấy chưa có tên gọi Trú Trì. Mãi đến thời nhà Đường (唐, 618-907), Thiền phong dần dần hưng thịnh, đồ chúng mỗi ngày một tăng, Thiền Sư Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) mới bắt đầu chế ra chức Trú Trì; sau này được tôn xưng là Trưởng Lão (長老), hay Phương Trượng (方丈). Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 5 có ghi rằng: “Thiền Tông Trú Trì, nhi xưng chi viết Trưởng Lão, dĩ xỉ đức cụ tôn dã (禪宗住持、而稱之曰長老、以齒德俱尊也, vị Trú Trì trong Thiền Tông được gọi là Trưởng Lão, vì coi trọng đức của vị ấy đủ tôn kính).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 2, phần Trú Trì Nhật Dụng (住持日用) có giải thích chi tiết 16 pháp vị Trú Trì phải hành trì bao quát hằng ngày, gồm: (1) Thượng đường (上堂, thuyết pháp cho đại chúng tại Pháp Đường), (2) Vãn tham (晚參, buổi chiều thuyết pháp, giáo huấn cho đại chúng tại Pháp Đường), (3) Tiểu tham (小參, thuyết pháp không phải theo thời gian quy định), (4) Cáo hương (告香, thuyết pháp khai thị cho vị tăng mới đến), (5) Phổ thuyết (普說, thuyết pháp), (6) Nhập thất (入室), (7) Niệm tụng (念誦), (8) Tuần liêu (巡寮, tuần tra các liêu phòng của chúng tăng), (9) Túc chúng (肅眾, giám sát và đốc thúc đại chúng), (10) Huấn đồng hành (訓童行, dạy cho chúng điệu nhỏ mới vào tu), (11) Vị hành giả phổ thuyết (爲行者普說, thuyết pháp cho hành giả), (12) Thọ Pháp Y (受法衣, nhận Pháp Y), (13) Nghênh thị tôn túc (迎侍尊宿, nghinh tiếp chư tôn túc đến thăm), (14) Thí chủ thỉnh thăng tòa Trai Tăng (施主請陞座齋僧, thí chủ cung thỉnh lên tòa chứng minh, thọ nhận lễ Trai Tăng), (15) Thọ từ pháp nhân tiên điểm (受嗣法人煎點, châm trà tiếp đãi những vị đến thọ nhận từ pháp), (16) Từ pháp sư di thư chí (嗣法師遺書至, vị thầy truyền pháp mang từ thư đến). Trú Trì là người phải đầy đủ đức hạnh kiêm toàn, nên trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 30 có câu: “Tương dục Trú Trì Tam Bảo, tất tu đức hạnh nội sung (將欲住持三寶、必須德行內充, nếu muốn Trú Trì Tam Bảo, tất phải có đầy đủ đức hạnh bên trong).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Hợp Chú (禪林寶訓合註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1263) quyển 4 có nêu ra 4 yếu tố cần thiết cho vị Trú Trì: “Trú Trì chi thể hữu tứ yên, nhất đạo đức, nhị ngôn hạnh, tam nhân nghĩa, tứ lễ pháp; đạo đức ngôn hạnh, nãi giáo chi bổn, nhân nghĩa lễ pháp, nãi giáo chi mạt dã; vô bổn bất năng lập, vô mạt bất năng thành (住持之體有四焉、一道德、二言行、三仁義、四禮法、道德言行、乃敎之本也、仁義禮法、乃敎之末也、無本不能立、無末不能成, thể của Trú Trì có bốn điều, một là đạo đức, hai là ngôn hạnh, ba là nhân nghĩa, bốn là lễ pháp; đạo đức ngôn hạnh là gốc của giáo pháp; nhân nghĩa lễ pháp là rễ của giáo pháp; không gốc thì không đứng vững được, không rễ thì không hình thành được).” Cho nên, Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Khả kiến vi tăng giả, toàn lại tu hành vi bổn, sở vị trú trì giả hữu đạo đức, tắc tùng lâm nhật an, vô tắc tùng lâm nhật nguy (可見爲僧者、全賴修行爲本、所謂住持有道德、則叢林日安、無則叢林日危, có thể thấy rằng làm tăng sĩ toàn bộ đều lấy việc tu hành làm gốc, gọi là vị Trú Trì có đạo đức thì tùng lâm ngày một yên ổn, nếu không thì tùng lâm ngày một nguy khốn).” Quyển 5 của tác phẩm trên còn cho biết rằng: “Linh Sơn trú trì, Đại Ca Diếp thống chi; Trúc Lâm trú trì, Xá Lợi Phất chủ chi (靈山住持、大迦葉統之、竹林住持、舍利弗主之, trù trì Linh Sơn do Đại Ca Diếp thống quản, trú trì Trúc Lâm Tinh Xá do Xá Lợi Phất làm chủ).” Hay trong Niệm Phật Tam Muội (念佛三昧, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1190) cũng nêu rõ rằng: “Ta Bà thế giới, Thích Tôn trú trì, Hoa Tạng Thế Giới, Lô Xá Na Thế Tôn trú trì (娑婆世界、釋尊住持、華藏世界、盧舍那世尊住持, thế giới Ta Bà do đức Thích Tôn trú trì, thế giới Hoa Tạng do đức Thế Tôn Lô Xá Na trú trì).”
trú ám lâm
1) Khu rừng mà ban ngày cũng tối ám như ban đêm: The grove of daylight darkness. 2) Tên gọi nghĩa địa: A cemetery.
Trú địa
住地; C: zhùdì; J: jūji;|Có các nghĩa sau: 1. Yếu tính căn bản của sự sinh khởi các pháp (theo kinh Thắng Man 勝鬘經): »言地者本為末依名之為住本能生末目之為地。Ngôn địa giả bản vi mạt y, danh chi vi trú, bản năng sinh mạt, mục chi vi địa.« Dịch: »Địa là do gốc nương nơi ngọn mà có; gọi là trú, vì gốc có thể sinh ngọn; nên gọi là địa vậy; 2. Nơi phiền não được xác định, vây bọc; 3. Trú địa phiền não (住地煩惱), nghĩa là phiền não ở trạng thái bất động (e: static), đối nghĩa với Khởi phiền não (起煩惱), loại phiền não khởi động (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Trú địa 住地
[ja] ジュウジ jūji ||| (1) The essential basis of the arising of dharmas.〔勝鬘經、 T 353.12.220c〕 "言地者 本為末依 名之為住 本能生末 目之為地。"(2) A place where defilements are confined. (3) Static defilements 住地煩惱, in contrast to "arisen" defilements 起煩惱. 〔二障義、 HPC 1.801a〕 => Có các nghĩa sau: 1. Yếu tính căn bản của sự sinh khởi các pháp ( Theo Kinh Thắng Man): "Ngôn địa giả bổn vi mạt y, danh chi vi trú, bổn năng sinh mạt, mục chi vi địa. Dịch: 'Địa là do gốc nương nơi ngọn mà có; gọi là trú, vì gốc có thể sinh ngọn; nên gọi là địa vậy - 言地者 本為末依 名之為住 本能生末 目之為地".
trú ấn
To find shelter—To take refuge—To shelter oneslef.
Trú 住
[ja] ジュウ jū ||| (layana; sthiti); 'abiding.' (1) To stay, stop (viharati); abide (upasthita, tisthati); settle. (2) Live, reside, inhabit. (3) Exist (pravrtti). (4) Live peaceably. (5) To dwell on some object; to attach to, abide in. (6) Attachment, delusion. (7) Continuation. (8) To stay in a womb (sthiti). (9) Continued existence (of the universe). (10) One of the three (or four) marks of conditioned existence 四相. The principle of continuance. (11) The ten abodes 十住 of the 52 stage path of the bodhisattva. (12) One of the conditioned elements not concomitant with mind in the theory of Consciousness-only. (13) Eternal abiding. (14) In Chan language, it is often combined with a verb to strengthen the verb's meaning. => Có các nghĩa sau: 1. Ở lại, lưu lại (s: viharati); tồn tại lâu dài(s: upasthita, tisthati); định cư. 2. Ở, trú ngụ, cư trú. 3. Hiện hữu, tồn tại, sống (s: pravrtti). 4. Sống một cách an nhiên. 5. Trụ vào một đối tượng nào đó, dính mắc vào, trụ vào. 6. Sự chấp trước, ảo tưởng. 7. Sự tiếp tục. 8. Ở trong bào thai (s: sthiti). 9. Giai đoạn, thời kỳ tồn tại(của vũ trụ). 10. Một trong 3 (hoặc 4) hình thái tồn tại của vũ trụ (tứ tướng). 11. Giai vị Thập trú, 10 trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ-tát. 12. Một trong 24 món Tâm bất tương ưng hành pháp. 13. Thường trú, tồn tại vĩnh viễn, hiện hữu đời đời. 14. Trong thuật ngữ Thiền, nó thường được kết hợp với một động từ để nhấn mạnh nghĩa của động từ ấy.
trúc
Veṇu (S), Bamboo (S, P), Veḷu (P).
; 1) Thiên Trúc (Trúc Độ): Ấn Độ—India. 2) Venu (skt)—Bamboo.
Trúc Am Khả Quán
(竹庵可觀, Chikuan Kakan, 1092-1182): vị tăng dưới thời nhà Tống, xuất thân Hoa Đình (華亭), Giang Tô (江蘇), họ Thích (戚, có thuyết cho là họ Phó [傅]), tự là Nghi Ông (宜翁), hiệu Giải Không (解空), Trúc Am (竹庵). Năm 16 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới và học giáo lý Thiên Thai. Ban đầu ông theo hầu Nam Bình Tinh Vi (南屛精微), sau nghe tiếng tăm Thiền Sư Xa Khê Trạch Khanh (車溪擇卿) vang khắp hai miền Giang Triết, ông theo thọ học và đắc pháp với vị này. Vào đầu niên hiệu Kiến Viêm (建炎) nhà Nam Tống, ông làm trú trì Thọ Thánh Tự (壽聖寺) vùng Gia Hòa (嘉禾). Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiệu Hưng (紹興, 1131-1162), ông chuyển đến Đức Tàng Tự (德藏寺), chuyên tâm giảng kinh và bổ chú Kinh Lăng Già (楞伽經). Sau đó, ông chuyển đến sống tại Tường Phù Tự (祥符寺). Vào năm thứ 7 (1171) niên hiệu Càn Đạo (乾道), thể theo lời thỉnh cầu của Thừa Tướng Ngụy Bả (魏把), ông đến trú trì Bắc Thiền Thiên Thai Tự (北禪天台寺). Đến năm thứ 7 (1180) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), nhận lời cung thỉnh của Ngụy Hiến Vương (魏憲王), ông lại đến trú trì Diên Khánh Tự (延慶寺) ở Nam Hồ (南湖), nhưng không bao lâu sau ông trở về ẩn cư ở vùng Trúc Am (竹庵), Đương Hồ (當湖). Vào năm thứ 9 niên hiệu Thuần Hy, ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Lúc sanh tiền, ông đã từng cùng đàm đạo suốt ngày với Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲). Pháp từ của ông có Bắc Phong Tông Ấn (北峯宗印), Trí Hành Thủ Mân (智行守旻), Thần Biện Thanh Nhất (神辯清一), v.v. Các trước tác quan trọng của ông có Lăng Già Thuyết Đề Tập Giải Bổ Chú (楞伽說題集解補注) 4 quyển, Lan Bồn Bổ Chú (蘭盆補注) 2 quyển, Sơn Gia Nghĩa Uyển (山家義苑) 2 quyển, và Kim Cang Thông Luận (金剛通論), Kim Cang Sự Thuyết (金剛事說, hay Kim Cang Sự Uyển [金剛事苑]), Viên Giác Thủ Giám (圓覺手鑑), Trúc Am Thảo Lục (竹庵草錄), mỗi thứ 1 quyển.
Trúc bề
竹篦; J: shippei, chikuhei;|Một que trúc dài khoảng 50 cm, hình khom cánh cung, sơn son. Các vị Thiền sư thời xưa thường sử dụng trúc bề để khuyến khích, tiếp dẫn đệ tử. Trong nhiều Công án được lưu lại, trúc bề đóng một vai trò như cây Phất tử.
trúc kinh
Kinh điển Phật Giáo Ấn Độ—Indian, i.e. Buddhist, sutras.
Trúc Lâm
cũng gọi là Trúc Viên, vì nơi ấy có rất nhiều tre, trúc, nằm gần thành Vương-xá nước Ma-kiệt-đà của vua Tần-bà-sa-la. Vua Tần-bà-sa-la sau khi quy y Phật đã xây dựng một tinh xá tại đây, gọi là Tinh xá Trúc lâm, dâng cúng cho đức Phật và chư tăng để làm chỗ tu tập và truyền bá Phật pháp.
trúc lâm
Bamboo Grove, Veḷuvana (P), Veṇuvana (S).
; Venuvana (S). Bamboo grove.
; Một nơi nổi tiếng gần thành Vương Xá, được vua Bình Sa Vương của xứ Ma Kiệt Đà cúng dường cho Phật, bây giờ là Rajdir, thuộc bang Bihar Ấn Độ—Bamboo Grove—Bamboo Forest—A famous place of retreat near Rajagriha given to the Buddha by King Bimbisara of Magadha, now Rajgir, Bihar, India.
trúc lâm thất hiền
Chu-lin Ch'i-Hsien (C), Seven Sages of Bamboo Grove Nhóm học giả và nghệ sĩ thế kỷ thứ 3, họ tìm đến nhau để thanh đàm và tìm kiếm sự hài hòa với thế giới cũng như sự hợp nhất với Đạo trong men rượu.
trúc lâm tinh xá
Xem Trúc Lâm Tịnh Xá, Xem Ca lan đà viên.
Trúc Lâm tinh xá 竹林精舎
[ja] チクリンショウジャ Chikurinshōja ||| Veṇuvana-vihāra. The first Buddhist temple, erected in Rājagraha in the state of Magadha under the auspices of the king Bimbisāra 頻婆沙羅. One of the five major temples of early Indian Buddhism. => Veṇuvana-vihāra (s); ngôi chùa Phật giáo đầu tiên, được xây dựng ở thành Vương Xá (Rājagraha), xứ Ma-kiệt-đà (Magadha) dưới sự bảo trợ của vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra 頻婆沙羅). Là một trong năm tịnh xá chính của Phật giáo Ấn Độ thời xưa.
trúc lâm tịnh xá
Veḷuvanarama (P), Veṇuvana (S), Veṇuvana-vihāra (S), Bamboo grove, Veḷuvana (P); Ca lan đà viên, Thước phong lâmVườn tre bắc thành Vương xá, do vua Tần bà sa la cúng dườngMột trong 6 tịnh xá nổi tiếng thời đức Phật.
; Venuvana (skt)—Trúc Lâm Tự—Trúc Viên—Trúc Uyển—See Bamboo-Grove Vihara. 1) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Giáo Từ Điển, Trúc Lâm Tịnh Xá được vua Bình Sa Vương xây lên cho các Sa môn, về sau ông dâng cho Phật—Bamboo Forest Monastery or “Bamboo-grove,” a park called Karanda-venuvana, near Rajagrha, made by Bimbisara for a group of ascetics, later given by him to Sakyamuni. 2) Lại có thuyết khác cho rằng Trúc Lâm Tịnh Xá được trưởng giả Ca-Lan-Đà xây lên và hiến cho Phật—Another version says that the park was built by Karanda and later was given to Sakyamuni Buddha.
trúc lâm tự
Tên của một chùa nổi tiếng ở Huế, Trung Việt. Chùa do Tỳ Kheo Ni Diệu Trường xây dựng năm 1903. Chùa được trùng tu toàn diện năm 1931. Trong sự nghiệp chấn hưng Phật giáo, chùa Trúc Lâm đã góp vai trò phát khởi Phật giáo Việt Nam. Nhiều danh Tăng và Ni đã xuất thân từ chùa Trúc Lâm như Hòa Thượng Mật Khế, là giảng sư đầu tiên của Hội An Nam Phật Học, Hòa Thượng Mật Thể, tác giả của quyển Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, và Sư Bà Diệu Không, người có công trong việc chấn hưng Ni Bộ—Name of a famous temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in 1903 by Nun Diệu Trường. In 1931, the temple was rebuilt on a large scale. In the cause of reinforcing Vietnamese Buddhism, Trúc Lâm temple played a starting role. Many famous monks and nuns were from Trúc Lâm, i.e., Most Venerable Mật Khế, the first lecturer of An Nam Buddhist Association, Most Venerable Mật Thể, the author of Vietnam Buddhist History, Nun Diệu Không, who helped organizing the Nun Order in Vietnam.
Trúc Lâm Yên Tử
竹林安子|Một dòng thiền Việt Nam đời nhà Trần, do Trần Nhân Tông sáng lập. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Ðạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Ðường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa Lưu-chi.|Thiền phái Trúc Lâm được một vị vua nhà Trần sáng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Ðại Việt thời đó nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn. Vì vậy, sau ba vị Tổ nói trên, hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ không bị gián đoạn bởi vì đến thời kì Trịnh-Nguyễn phân tranh (1600-1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị Thiền sư của Trúc Lâm Yên Tử như Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Ðại Thâm và nổi bật nhất là Thiền sư Minh Châu Hương Hải (theo Nguyễn Hiền Ðức).|Sau một thời gian ẩn dật, dòng thiền này sản sinh ra một vị Thiền sư xuất sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm. Trong thế kỉ thứ 17-18, thiền phái này được hoà nhập vào tông Lâm Tế và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Ðăng.|Sau đây là hệ thống truyền thừa sau ba vị Tổ sư Trần Nhân Tông (1.), Pháp Loa (2.), Huyền Quang (3.) trong Ðại nam thiền uyển truyền đăng lục (大南禪苑傳燈錄), được Thiền sư Phúc Ðiền (福田) đính bản: 4. An Tâm (安心); 5. Phù Vân Tĩnh Lự (浮雲靜慮); 6. Vô Trước (無著); 7. Quốc Nhất (國一); 8. Viên Minh (圓明); 9. Ðạo Huệ (道惠); 10. Viên Ngộ (圓遇); 11. Tổng Trì (總持); 12. Khuê Sâm (珪琛); 13. Sơn Ðăng (山燈); 14. Hương Sơn (香山); 15. Trí Dung (智容); 16. Huệ Quang (慧光); 17. Chân Trụ (真住); 18. Vô Phiền (無煩).
Trúc Lâm Ðầu Ðà
竹林頭陀|Trần Nhân Tông.
trúc pháp hộ
Dharmarakṣa (P)Đôn Hoàng Bồ tát, Đàm ma la sát, Nguyệt Chi Bồ tát, Pháp Chánh, Đàm vô Lan, Đàm ma La sát, Đàm vô Sấm, Pháp Phong Sa môn.Trúc Pháp Hộ (A.D. 223 - 300) người Hoa, gốc Ba tư định cư ở Tây Trung quốc nhiều thế hệ. Ngài dịch kinh Pháp Hoa vào năm 286.
Trúc Pháp Hộ 竺法護
[ja] ジクホウゴ Jiku hōgo ||| (239-316) Dharmarakṣa. The most significant Chinese-scripture translator prior to Kumārajīva 鳩摩羅什. His name is also transliterated into Chinese as 曇摩羅察. He worked at various sites in China, among them Chang-an and Loyang. He translated over 150 seminal Hīnayāna 小乘 and Mahāyāna 大乘 works, among which are the early translations of the Lotus Sutra 法華經 and Daśabhūmika-sūtra 十地經. => (239-316) Dharmarakṣa (s); Jiku hōgo (j); Là nhân vật lỗi lạc dịch kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Hán trước thời Cưu-ma-la-thập. Tên ngài còn được phiên âm sang tiếng Hán là Đàm-ma-la-sát. Ngài sống tại nhiều nơi ở Trung Hoa, trong đó có Trường An và Lạc Dương. Ngài dịch hơn 150 bộ kinh quan trọng thuộc Tiểu thừa và Đại thừa, trong có có bản dịch kinh Pháp Hoa và Thập địa kinh (Daśabhūmika-sūtra 十地經) sớm nhất.
Trúc Pháp Lan
(竺法蘭, Jikuhōran, ?-?): vị tăng xuất thân miền trung Ấn Độ, tên tiếng Phạn là Dharmaratna (?), từng đọc tụng kinh luận cả vạn chương và nổi tiếng là học giả Thiên Trúc (天竺). Theo Lương Cao Tăng Truyện (梁高僧傳) quyển 1, dưới thời vua Minh Đế nhà Hậu Hán, khi nhóm Thái Âm (蔡愔) được phái sang Tây Vức (西域) thỉnh kinh Phật, ông cùng với vị tăng người Đại Nguyệt Thị (大月氏) là Ca Diếp Ma Đằng (s: Kāśyapamātaṅga, 迦葉摩騰) kết bạn và hứa hẹn với nhau sang Trung Quốc. Họ tháp tùng theo Thái Âm định xuất phát lên đường, nhưng không đi được vì bị chúng đệ tử ngăn cản. Cuối cùng vào năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Bình (永平), ông cũng đến Lạc Dương (洛陽), trú tại Bạch Mã Tự (白馬寺), cùng với Ca Diếp Ma Đằng dịch Tứ Thập Nhị Chương Kinh (四十二經). Các kinh điển ông dịch có Thập Địa Đoạn Kết Kinh (十地斷結經), Phật Bản Sanh Kinh (佛本生經), Phật Bản Hạnh Kinh (佛本行經), Pháp Hải Tạng Kinh (法海藏經), v.v. Sau ông qua đời tại Lạc Dương, hưởng thọ 60 tuổi. Tuy nhiên, trong Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) có độ tin cậy cao nhất về việc dịch kinh xưa lại không có ký lục về Trúc Pháp Lan; vì vậy cần phải xét lại về sự thật lịch sử. Có thể đây là nhân vật truyền thuyết.
trúc pháp lan
Dharmaraksa or Indu-dharmaranya (skt)—Họ Trúc tên Pháp Lan, người đã dịch 5 bộ kinh vào khoảng những năm 68-70 sau Tây Lịch, và cũng là người mà người ta lầm tưởng đã cùng Ngài Ca Diếp Ma Đằng vào Trung Quốc dịch Kinh Tứ Thập Nhị Chương—Indu-Dharmaranya, who translated five works in 68-70 A.D., and to whom with Kasyapa Matanga the translation of the sutra of 42 sections is wrongly attributed.
Trúc Pháp Lực
(竺法力, Jikuhōriki, ?-?): vị tăng dịch kinh dưới thời Đông Tấn, hay còn gọi là Thích Pháp Lực (釋法力), người Tây Vức, có đạo hạnh thanh cao, khéo biết các phương ngôn. Vào tháng 2 năm đầu (419) niên hiệu Nguyên Hy (元熙) đời vua Cung Đế (恭帝), ông dịch Vô Lượng Thọ Chí Chơn Đẳng Chánh Giác Kinh (無量壽至眞等正覺經) 1 quyển, còn gọi là Cực Lạc Phật Độ Kinh (極樂佛土經), tức bản dịch khác của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), nhưng hiện bản này bị thất truyền.
trúc pháp lực
Dharmabala (skt)—Người đã dịch bộ Kinh Trường Thiên A Di Đà vào khoảng năm 419 sau Tây Lịch, bây giờ đã thất lạc—Translator of the larger Sukhavati-vyuha in around 419 A.D., now lost.
Trúc Phật Niệm
(竺佛念, Jikubutsunen, ?-?): vị tăng sống dười thời Đông Tấn, xuất thân Lương Châu (涼州, Võ Uy, Cam Túc). Ông xuất gia từ lúc còn nhỏ, chí nghiệp kiên cố, ngoài việc tụng kinh ra, ông còn siêng năng học tập ngoại điển. Trong khoảng thời gian niên hiệu Kiến Nguyên (建元, 365-384) nhà Tiền Tần, có Tăng Già Bạt Trừng (僧伽跋澄) và Đàm Ma Nan Đề (曇摩難提), v.v., đến Trường An. Nhận lời thỉnh cầu của Triệu Chính (趙政), Bạt Trừng dịch Bà Tu Mật Sở Tập Luận (婆須蜜所集論), còn Nan Đề dịch Vương Tử Pháp Ích Hoại Mục Nhân Duyên Kinh (王子法益壞目因緣經), Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經), Trung A Hàm Kinh (中阿含經), v.v., lúc bấy giờ ông đảm nhiệm chức vụ truyền ngữ. Căn cứ theo Lương Cao Tăng Truyện (梁高僧傳) quyển 1 cho biết rằng trong khoảng thời gian niên hiệu Hoằng Thỉ (弘始) đời Diêu Tần (姚秦), ông có dịch Bồ Tát Anh Lạc Kinh (菩薩瓔珞經), Thập Trụ Đoạn Kết Kinh (十住斷結經), Xuất Diệu Kinh (出曜經), Bồ Tát Xử Thai Kinh (菩薩處胎經), Trung Ấm Kinh (中陰經), v.v. Cho nên ông rất nổi tiếng là bậc tông sư dịch kinh thời kỳ Diêu Tần. Còn theo Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) quyển 2 cho biết rằng ngoài 5 bộ kinh nêu trên còn có thêm bản Vương Tử Pháp Ích Hoại Mục Nhân Duyên Kinh (王子法益壞目因緣經). Theo Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄) quyển 4 có ghi thêm bản Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Kinh (菩薩瓔珞本業經), Trì Nhân Bồ Tát Kinh (持人菩薩經), Đại Phương Đẳng Vô Tưởng Kinh (大方等無想經), Bồ Tát Phổ Xứ Kinh (菩薩普處經), Thập Tụng Tỳ Kheo Ni Giới Sở Xuất Bản Mạt (十誦比丘尼戒所出本末), v.v. Như vậy tổng cọng dịch phẩm của ông có 12 bộ 74 quyển. Về sau ông thị tịch tại Trường An, nhưng không rõ năm tháng.
Trúc Phật Sóc
(竺佛朔, Jikubussaku, ?-?): vị tăng dịch kinh thời Đông Hán, còn gọi là Trúc Sóc Phật (竺朔佛), không rõ năm sanh và mất, người Thiên Trúc (天竺), bẩm tánh thông minh, học rộng tài nhiều. Vào thời vua Hoàn Đế (桓帝, có thuyết cho là Linh Đế), ông mang bản Đạo Hạnh Kinh (道行經) tiếng Phạn đến Lạc Dương, đến năm đầu (172) niên hiệu Hy Bình (熹平) ông dịch được 1 quyển, nhưng tiếc thay hiện nay dịch bản ấy đã bị thất truyền. Ông đã cùng với Chi Lâu Ca Sấm (支婁迦讖, khoảng giữa thế kỷ thứ 2) dịch Ban Chu Tam Muội Kinh (般舟三昧經) 2 quyển tại Lạc Dương. Về sau không biết ông qua đời như thế nào.
Trúc Phật Điều
(竺佛調, Jikubucchō, ?-?): vị tăng sống dười thời nhà Tấn, không rõ nguyên quán và năm sinh cũng như mất, có thuyết cho rằng ông xuất thân Thiên Trúc, theo hầu hạ Phật Đồ Trừng (佛圖澄), đã từng sống nhiều năm tại ngôi chùa ở Thường Sơn (常山, vùng Chánh Định, Hà Bắc), tánh tình chân chất, không thích lời nói giả dối, thường làm những việc thần dị. Theo truyền ký cho biết, sau khi thị tịch khoảng vài năm, ông thường hiện hình trước mặt người đệ tử mặc áo trắng, khiến cho mọi người hoảng sợ, bèn mở quan tài ra xem thử thì thấy chỉ còn lại áo quần và dép mà thôi. Có thuyết cho rằng ông dịch Pháp Kính Kinh (法鏡經), Thập Huệ (十慧), v.v. Tuy nhiên, e rằng thuyết này ngộ nhận với nhân vật Nghiêm Phật Điều (嚴佛調) là người dịch 2 thư tịch này dưới thời Hán Linh Đế.
Trúc Thúc Lan
(竺叔蘭, Jikushukuran, ?-?): người Thiên Trúc, nhân vật đồng thời đại với Trúc Pháp Hộ (竺法護) nhà Tây Tấn. Tổ tiên của ông nhân bị loạn lạc trong nước nên chạy sang nhà Tấn lánh nạn, sống ở Hà Nam (河南). Thúc Lan cùng với hai người anh họ học kinh pháp, tinh thông cả tiếng Phạn và Hán, học luôn cả văn sử. Ảnh hưởng phong khí thanh cao đương thời, ông thường giao du với hàng danh sĩ, tánh thích uống rượu và cứ mỗi lần uống đến 5, 6 hộc vuông mà vẫn không say. Truyền ký cho biết rằng ông đã từng chết đi rồi sống lại, tự bảo rằng ông thấy nghiệp quả của mình dưới âm phủ, nhờ đó mà sửa đổi, tu tâm dưỡng tánh. Vào năm đầu (291) niên hiệu Nguyên Khang (元康) đời vua Huệ Đế (惠帝) nhà Tây Tấn, ông dịch Thủ Lăng Nghiêm Kinh (首楞嚴經) 2 quyển, Dị Duy Ma Cật Kinh (異維摩詰經) 3 quyển. Bên cạnh đó, ông cùng với Vô La Xoa (無羅叉) dịch Phóng Quang Bát Nhã Kinh (放光般若經) 20 quyển tại Thương Viên Thủy Nam Tự (倉垣水南寺). Sau vì gặp vụ loạn Thạch Lặc (石勒), ông bôn tẩu đến Kinh Châu (荆州), cuối cùng qua đời tại đây. Tuy nhiên, năm thị tịch và tuổi thọ của ông vẫn không được rõ. Đại Đường Nội Điển Lục (大唐內典錄) quyển 2 lại nhầm Thúc Lan là vị sa môn.
Trúc thổ 竺土
[ja] チクト chikuto ||| The land of India. India was written as 天竺 in classical times. => Vùng đất Ấn Độ. Ấn Độ được gọi là Thiên Trúc vào thời cổ đại.
Trúc Tiên Phạn Tiên
(竺仙梵僊, Jikusen Bonsen, 1292-1348): vị tăng của phái Dương Kì (楊岐) và Tùng Nguyên (松源) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Trúc Tiên (竹仙), tự xưng là Lai Lai Thiền Tử (來來禪子), hiệu Tịch Thắng Tràng (寂勝幢), Tư Quy Tẩu (思歸叟), sinh ngày 15 tháng 11 năm thứ 29 niên hiệu Chí Nguyên (至元), xuất thân Huyện Tượng Sơn (象山縣), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Từ (徐). Năm lên 10 tuổi, ông làm thị đồng cho Biệt Lưu Nguyên (別流源) ở Tư Phước Tự (資福寺), Ngô Hưng (呉興, Tỉnh Triết Giang), đến năm 18 tuổi, ông lên Linh Sơn (靈山) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), tham yết Thoại Vân Ẩn (瑞雲庵), lễ bái tháp của thầy là Hổ Nham Tịnh Phục (虎巖淨伏) và xuất gia. Sau đó, ông đi dạo khắp các ngôi danh lam, đến tham yết các bậc lão túc như Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫), Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端), Đông Dư Đức Hải (東璵德海), Chỉ Nham Phổ Thành (止巖普成), Trung Phong Minh Bổn (中峰明本), v.v., bên cạnh đó, ông còn đến tham vấn Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào mùa hè năm thứ 2 (1329) niên hiệu Thiên Lịch (天曆), ông lên Kính Sơn (徑山), may gặp lúc Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊) sang Nhật nên ông tháp tùng đi theo, đến tháng 6 năm đầu (1329) niên hiệu Nguyên Đức (元德) ông đến Thái Tể Phủ (太宰府) và tháng 2 năm sau mới đến được vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Khi Bắc Điều Cao Thời (北條高時) nghênh đón Minh Cực đến làm trú trì Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), ông được cử làm Thủ Tòa nơi đây. Đến năm đầu (1332) niên hiệu Chánh Khánh (正慶), vâng mệnh Cao Thời, ông chuyển đến Tịnh Diệu Tự (淨妙寺, Jōmyō-ji), được Tôn Thị (尊氏), Trực Nghĩa (直義) sùng kính và mời đến thuyết pháp tại tư gia của họ. Vào năm đầu (1334) niên hiệu Kiến Võ (建武), vâng mệnh của chính quyền Mạc Phủ, ông làm trú trì Tịnh Trí Tự (淨智寺, Jōchi-ji), rồi năm sau Đằng Nguyên Cao Cảnh (藤原高景) thỉnh ông đến làm tổ khai sơn Vô Lượng Tự (無量寺, Muryō-ji) ở Tam Phố (三浦, Miura). Đến năm đầu (1338) niên hiệu Lịch Ứng (曆應), ông lui về ẩn cư ở Tịnh Trí Tự. Vào mùa xuân năm thứ 4 cùng niên hiệu trên, vâng sắc mệnh của thiên triều, ông đến trú tại Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Vào năm thứ 3 (1344) niên hiệu Khang Vĩnh (康永), ông sáng lập ra Lăng Già Viện (楞伽院) và lui về ẩn cư nơi đây, đến năm thứ 2 (1346) niên hiệu Trinh Hòa (貞和), ông chuyển về Chơn Như Tự (眞如寺) và năm sau thì trở về Kiến Trường Tự. Vào ngày 16 tháng 7 năm thứ 4 cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 39 hạ lạp. Ông có một số trước tác như Trúc Tiên Hòa Thượng Ngữ Lục (竺仙和尚語錄), Pháp Ngữ (法語), Viên Giác Kinh Chú (圓覺經注), v.v. Liễu Am Thanh Dục (了庵清欲) soạn bản Kiến Trường Thiền Tự Trúc Tiên Hòa Thượng Hành Đạo Ký (建長禪寺竺仙和尚行道記).
trúc viên
The monastery in the Bmboo grove near Rajagriha in Magadha,
Trúc điển
(竺典): kinh điển Phật Giáo. Trong bài Tống Giáp Sơn Mẫu Cữu Chi Nhiệm Thái Nguyên Tự (送夾山母舅之任太原序) của Viên Tông Đạo (袁宗道, 1560-1600) nhà Minh có đoạn: “Đạo Đức, Nam Hoa dĩ cập trúc điển diệc đa thiệp liệp, huy trần viện hào, vãng vãng hữu hiệu (道德、南華以及竺典亦多涉獵、揮麈援毫、往往有效, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh cho đến kinh điển Phật Giáo có nhiều liên quan với nhau, chấp bút đàm luận, thường có hiệu quả).” Hay trong bài thơ Tiểu Trừ Dạ Thị Học Nhân (小除夜示學人) của Tịch Đăng (寂燈, ?-?) nhà Minh lại có câu: “Trúc điển đương tôn trọng, phàm tình mạc lãng phàn (竺典當尊重、凡情莫浪攀, kinh Phật nên tôn trọng, phàm phu chớ buông lung).” Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 81, phần Kì Châu Tam Giác Thiên Phong Tánh Thiền Sư (蘄州三角天峰性禪師), cũng có câu rằng: “Mỗi độc trúc điển, triệt nhật vong quyện (每讀竺典、徹日忘倦, [Thiền Sư] mỗi khi đọc kinh Phật, suốt ngày quên mệt mỏi).” Hoặc trong Tiếu Ẩn Đại Hân Thiền Sư Ngữ Lục (笑隱大訢禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1367) quyển 2 lại có đoạn rằng: “Viên tác liên cung, khai bát hoang chi thọ vức; tải dương trúc điển, tráng vạn thế chi phi đồ (爰作蓮宮、開八荒之壽域、載揚竺典、壯萬世之丕圖, bèn dựng chùa chiền, mở tám phương ấy cõi thọ; xiển dương kinh Phật, sáng muôn thưở ấy cơ đồ).”
trúc đàm ma la
Dharmaraksa (skt)—Indu-Dharmaraksa (skt)—Trúc Pháp Hộ hay Trúc Đàm Ma La sát (họ Trúc, tên Đàm Ma La Sát)—Người nước Nguyệt Chi, biết 36 thứ tiếng, đã dịch 175 tác phẩm vào khoảng 266-317 sau Tây Lịch—A native of Tukhara, who knew thirty-six languages and translated some 175 works around 266-317 A.D.
trúc đàm ma la sát
See Trúc Đàm Ma La.
Trúc Đạo Sanh
(竺道生, ?-434): họ Ngụy (魏), xuất thân Cự Lộc (鉅鹿), tư chất đỉnh ngộ khác thường. Lúc nhỏ, ông theo xuất gia với Trúc Pháp Thái (竺法汰), đối với kinh điển, chỉ một lần nhìn qua đã tụng thông suốt hết thảy. Khi trưởng thành, ông đăng pháp tòa, thuyết giảng thông suốt sự lý. Tuy vậy, ông vẫn không hề dám tự hào, thường lấy đạo tâm ban đầu làm căn bản. Ông vào Lô Sơn (廬山) ẩn cư suốt bảy năm trường, hằng ngày chuyên tụng Pháp Hoa Kinh (法華經). Sau ông cùng với Tăng Duệ (僧叡), Huệ Nghiêm (慧嚴), Huệ Quán (慧觀), v.v., lên Trường An (長安) tham học, theo thọ giáo với La Thập (羅什). Tăng chúng ai cũng ngưỡng mộ sự thần ngộ của ông. Hoàng Hậu Cung Tư (恭思) nhà Tấn kiến lập Thanh Viên Tự (青園寺) và cung thỉnh ông về làm trú trì nơi đây. Vào tháng mùa hè, sấm sét chấn động điện Phật Thanh Viên Tự, rồng bay lên trời, hào quang rực rỡ. Nhân đó chùa được đổi tên là Long Quang Tự (龍光寺). Người đương thời bảo rằng: “Long ký dĩ khứ, Sanh tất hành hỉ (龍既已去、生必行矣, rồng đã đi rồi, Sanh ắt đi luôn).” Chính tại chùa này, ông đã từng thỉnh luật sư vùng Kế Tân (罽賓) dịch bộ Sa Di Tắc Luật (沙彌塞律) và lưu truyền cho hậu thế. Về sau ông lên ngao du Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc đất Ngô, sắp đá làm thành thính chúng, giảng Niết Bàn Kinh (涅槃經), đến Phẩm Xiển Đề (闡提品), đoạn có Phật tánh, bèn bảo rằng: “Như ngã sở thuyết, nghĩa khế Phật tâm phủ (如我所說、義契佛心否, như lời ta thuyết giảng, nghĩa có khế hợp với tâm chư Phật không ?).” Các tảng đá vô tri nghe vậy gật đầu. Chỉ nội trong tuần đó, học đồ tập trung đến cả trăm người. Vua Văn Đế (文帝, tại vị 424~453) nhà Tống nghe vậy lại càng kính mộ thêm. Vào tháng 11 năm thứ 11 (434) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Tống, sau khi thuyết giảng xong tại Lô Sơn, cát bui rơi rụng, ông ngồi ngay ngắn, thâu thần thị tịch như nhập vào Thiền định.
trúng ý
Conforming to one's thought.
trút
To pour—To dump—To empty out—To unload.
trút gánh
To ease oneself of a burden—To empty the burden.
trút gánh lo âu
To empty the burden of anxiety.
trút sạch
To get rid of completely.
trăm
Hundred.
trăm họ
The people.
trăm mối tà đạo
Hundreds of heterodox (evil) teachings.
trăm mối ưu lo
Hundreds of worries and apprehensions.
trăm việc không lo, chỉ lo niệm phật
Ignore all distractions and spend all time for reciting the Budha's name.
trăm điều phiền lụy
Hundreds of vexations.
Trăn 臻
[ja] シン shin ||| (1) The utmost, the highest. To reach to (至). (2) To collect; many. => 1. Tốt đẹp, tốt nhất. Đến được (chí 至). 2. Thu thập; nhiều.
trăng
Moon.
trăng hoa
Moon and flower (love affair).
trăng rằm
PŪrṇacandra (S), Full moon.
trĩ
Chim trĩ (gà rừng)—A pheasant—A parapet.
trĩ cứu lâm hỏa
Chim trĩ đang bận rộn dập tắt lửa rừng, nên được thần lửa thương xót và cứu độ (ý nói muốn được chư Phật thương xót cứu độ, thì trước hết tự mình phải cứu lấy mình, phải tự mình dập tắt những ngọn lửa dục độc hại nơi chính mình trước đã)—The pheasant which busied itself in putting out the forest on fire and was pitied and saved by the fire-god.
Trĩ nhiễm
(薙染): trĩ (薙) nghĩa là cắt tóc trên đầu, nhiễm (染) là nhuộm áo thành y hoại sắc; tức chỉ việc xuất gia làm tăng sĩ. Như trong bài Thảo Hà Lục (草河錄) thuộc Dương Châu Họa Phang Lục (揚州畫舫錄) của Lý Đẩu (李斗, ?-?) nhà Thanh có câu: “Tăng Đạo Tồn, tự Thạch Trang, Thượng Nguyên nhân, trĩ nhiễm Giang Ninh Thừa Ân Tự (僧道存、字石莊、上元人、薙染江寧承恩寺, vị tăng Đạo Tồn, tự là Thạch Trang, người vùng Thượng Nguyên, xuất gia ở Thừa Ân Tự, Giang Ninh).” Hay như trong Kính Thạch Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 4, phần Hàng Châu Kính Sơn Vô Huyễn Tánh Xung Thiền Sư (杭州徑山無幻性沖禪師, Thiền Sư Vô Huyễn Tánh Xung ở Kính Sơn, Hàng Châu), có đoạn: “Văn Vô Thú nãi bản sắc đạo nhân, hân nhiên vãng tham, Thú hối dĩ giáo ngoại biệt truyền chi chỉ, hữu sở khế nhập, toại trĩ nhiễm kết am Kính Sơn (聞無趣乃本色道人、欣然往參、趣誨以敎外別傳之旨、有所契入、遂薙染結菴徑山, Thiền Sư nghe Vô Thú là bậc đạo nhân có bản sắc, nên vui mừng đến tham bái, Vô Thú dạy cho yếu chỉ giáo ngoại biệt truyền, Thiền Sư có chỗ khế ngộ, bèn xuất gia và dựng am tu hành ở Kính Sơn).” Lại trong Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 41 cũng có đoạn rằng: “Phạn Kỳ tự Sở Thạch, thất tuế năng thư đại tự, thi thư quá mục bất vong, viễn cận xưng vi kỳ đồng, cửu tuế khí tục trĩ nhiễm, thập lục thọ cụ (梵琦字楚石、七歲能書大字、詩書過目不忘、遠近稱爲奇童、九歲棄俗薙染、十六受具, Phạn Kỳ tự là Sở Thạch, năm bảy tuổi có thể viết chữ đại tự, thơ sách chỉ đọc qua là nhớ rõ, xa gần gọi Thiền Sư là kỳ đồng, năm chín tuổi từ bỏ thế tục xuất gia, đến năm lên mười sáu tuổi thì thọ Cụ Túc giới).”
trĩu nặng
Very heavy.
trũng
Smasana (skt)—Mồ mả—A tomb—A mound—Cemetery.
trơ như đá
Indifferent—Insensible.
trơ trơ
Unmoved—Motionless—Still.
trơ trẽn
Shameless—Impudent.
trơ trọi
Alone.
trơï
1) Trợ Giúp: Help—Assist—Aid. 2) Đồ Phụ Trợ: Auxiliary.
trư
Con heo—A pig—A hog.
trư đầu hòa thượng
Vị Hòa Thượng đầu heo, vì trông ngài có vẻ như lúc nào cũng ngủ (theo Thích Môn Chính Thống, Hòa Thượng Trư Đầu xuất hiện để giáo hóa dân trong hai quận Cù và Vụ vào năm Cảnh Đức thứ 3 thời vua Tống Chân Tông)—Pig-head monk, because of his meditative or dormant appearance.
trư đầu thiên
Xem Kim Cang Câu Bồ tát.
Trưng 徴
[ja] チョウ chō ||| (1) Sign, symptom, omen. (2) Collect, solicit, seek, judge by, question, refer to, demand. (3) To clarify. => 1. Dấu hiệu, triệu chứng, điềm. 2. Đến thu, cố đạt cho được, cố tìm cho được, phán đoán, điều nói đến, quy vào, yêu cầu. 3. Chứng minh, làm cho rõ ràng.
trương
To expand—To spread—To extend.
trương bá đoàn
Chang Po-Tuan (C), Zhang Boduan Một Đạo gia nổi tiếng đã có công trong việc tổng hợp Đạo giáo với Phật giáo và Khổng giáo.
trương chuyết
Chang cho (C)Tên một vị sư.
Trương Chuyết Tú Tài
張拙秀才; C: zhāngzhuō xiùcái; J: chōsetsu yūsai; tk. 9/10;|Một Cư sĩ học và đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư.
trương chuyết tú tài
Chōsetsu YŪsai (J).
trương giác
Chang Chue (C), Zhang Jue (C)Tên một vị sư.
trương hạng
Chang Heng (C)Một trong những người kế vị thủ lãnh của Ngũ cốc mễ đạo.
trương la
To spread a net.
trương lão quả
Chung Li-chuan (C)Một đệ tử đạo gia vào thế kỷ 12, phái Truyền Chân đạo.
trương lương
Zhang Xiong (C), Chang Liang (C), Zhang Xiong (C), Choyu (J).
trương lỗ
Chang Lu (C)Một trong những người kế vị thủ lãnh của Ngũ cốc mễ đạo.
trương minh viễn
Chang Minh yuan (C).
Trương quai 張乖
[ja] チョウカイ chōkai ||| To go against; rebel, be discordant. 〔碧巖録、四十二〕 => Đi ngược lại; chống đối, trái ngược nhau.
trương quốc lão
Chang Kuo-lao (C), Zhang Guolao (C)Một trong bát tiên.
Trương Thuyết
(張説, 667-730): thi nhân thời Thịnh Đường, tự là Đạo Tế (道濟). Dưới thời vua Huyền Tông, ông làm chức Trung Thư Lệnh (中書令, tức Tể Tướng) và được phong làm Yến Quốc Công (燕國公). Trước tác của ông có Trương Yến Công Tập (張燕公集).
Trương Thương Anh
(張商英, Chōshōei, 1043-1121): xuất thân Tân Tân (新津), Thục Châu (蜀州, Sùng Khánh, Tứ Xuyên) nhà Bắc Tống, tự Thiên Giác (天覺), hiệu Vô Tận Cư Sĩ (無盡居士). Hồi nhỏ ông đã có nhuệ khí, mỗi ngày tụng vạn biến kinh. Ban đầu khi đến nhậm chức Chủ Bộ Thông Châu (通州主簿), có hôm nọ ông đến chùa thấy những quyển sách Đại Tạng Kinh ngay hàng tề chỉnh, bèn thốt lên rằng: “Sách Khổng thánh của ta không bằng như vậy được”, cho nên ông muốn viết cuốn Vô Phật Luận (無佛論); nhưng sau nhân đọc Kinh Duy Ma chợt cảm nhận được huyền lý, cuối cùng ông quay đầu quy y theo Phật Giáo. Dưới thời vua Thần Tông, ông được Vương An Thạch (王安石) suy cử cho vào triều nội, và trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Quán (大觀), ông làm Thượng Thư Hữu Bộc Xạ (尚書右僕射). Không bao lâu sau, vì có chuyện, ông bị đày đi phương xa; từng lên Ngũ Đài Sơn (五台山) cầu nguyện tượng Văn Thù và có linh nghiệm. Cho nên ông cho tạc tượng Văn Thù cúng cho ngôi chùa trên núi ấy và soạn ra bài văn phát nguyện. Chẳng bao lâu, gặp lúc trời hạn hán, ông lại vào núi cầu mưa, cả ba lần đều linh ứng, cho nên tiếng tăm của ông vang tận triều đình. Sau ông đến tham lễ Thiền Sư Thường Thông (常通禪師) ở Đông Lâm Tự (東林寺) và được vị này ấn khả cho. Sau đó, ông theo học với Thiền Sư Tùng Duyệt (從悅禪師) ở Đâu Suất Tự (兜率寺). Vào tháng 6 năm thứ 4 (1110) niên hiệu Đại Quán, trời hạn hán kéo dài, ông lại vâng mệnh cầu mưa, đến chiều tối trời chợt đỗ mưa, vì vậy vua Huy Tông rất vui mừng, ban cho tự là Thương Lâm (商霖). Vào năm thứ 4 niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), ông từ trần, hưởng thọ 79 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Văn Trung (文忠). Trước tác của ông có Hộ Pháp Luận (護法論) 1 quyển.
trương thắng ôn
Chang Sheng-wen (C).
Trương Tiên
(張仙): tức Tống Tử Trương Tiên (送子張仙), Trương Tiên Đại Đế (張仙大帝), vị nam thần của Đạo Giáo, thường bảo vệ các em nhỏ và ban phù hộ cho thai nhi; cũng giống như Tống Tử Nương Nương (送子娘娘) hay Quỷ Tử Mẫu Thần (鬼子母神). Về truyền thuyết của vị thần này, có nhiều thuyết khác nhau. Như tác phẩm Kim Đài Kỷ Văn (金台紀聞) của Lục Thâm (陸深, 1477-1544) nhà Minh cho rằng Trương Tiên là Mạnh Sưởng (孟昶, trị vì 934-965), quân vương của Hậu Thục (後蜀, 934-965). Vợ của Mạnh Sưởng là Hoa Nhị Phu Nhân (花蕊夫人) vào trong cung nhà Tống, tưởng nhớ đến đức vua xưa, tình cờ cầm theo tấm hình vẽ Mạnh Sưởng cầm cung, đem treo trên tường để tôn thờ. Vua thái tổ tình cờ thấy được, bèn hỏi nguyên do vì sao; Hoa Nhị Phu Nhân quỷ quyệt trả lời rằng đây là Thần Trương Tiên của nhà Thục, nếu thờ phụng thì có thể sanh quý tử. Bên cạnh đó, theo thuyết của Tục Văn Hiến Thông Khảo (續文獻通考) do Vương Kỳ (王圻, 1530-1615) nhà Minh soạn, lại cho rằng Trương Tiên là tiên nhân Trương Viễn Tiêu (張遠霄). Ông người Mi Sơn (眉山), một hôm nọ nhân lên ngao du Thanh Thành Sơn (青城山), tình cờ gặp một lão già cầm cây cung tre, ba viên đạn sắt, muốn mua mấy viên đạn ấy; ông lão trả lời rằng: “Đạn của ta có thể làm cho tiêu trừ dịch bệnh, phải trân quý mà dùng nó.” Khi nhìn kỹ thì thấy mắt ông ấy có hai tròng. Vài năm sau, Trương Viễn Tiêu đi qua Bạch Hạc Sơn (白鶴山), trên núi có tượng bằng đá; khi ấy lại có một lão già bảo rằng: “Tượng này là lão già bốn mắt, là thầy của ông, bộ ông không nhớ cây cung tre và mấy viên đạn sắt sao ?” Ông Trương chợt tỉnh ngộ, lấy việc đó để tu thân. Ông thường hay lui tới Hiệp Tiên Lâu (挾仙樓), dùng mấy viên đạn để cứu tai nạn cho người, vô cùng linh nghiệm. Từ đó, mọi người thường gọi ông là Trương Tiên (ông tiên họ Trương), hay Trương Tứ Lang (張四郎) và kính phục như thần. Về sau, dân gian vẽ hình tượng ông, đem treo để thờ, và ai cũng tin rằng ông có thể trừ tà, giúp sanh con. Cứ hằng năm vào ngày 23 tháng 11 Âm Lịch, người ta long trọng tổ chức ngày Thánh Đản của vị thần này. Trương Tiên được xem như là vị thần phụ thuộc, hộ vệ cho Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君). Như trong Đào Viên Minh Thánh Kinh (桃園明聖經) của Đạo Giáo có giải thích rằng: “Ngô nãi Tử Vi Cung lí Chu Y Thần, hiệp quản Văn Xương Võ Khúc Tinh, kỳ nhân Trương Tiên vô chủ hạt, sắc lịnh tùy ngô vi tùng thần (吾乃紫微宮裡朱衣神、協管文昌武曲星、祇因張仙無主轄、敕令隨吾爲從神, ta [Quan Thánh Đế Quân] là Chu Y Thần của Tử Vi Cung, cùng quản chưởng Sao Văn Xương Võ Khúc, nhân Trương Tiên có chủ quản hạt, sắc lịnh làm thần theo ta).” Cũng trong kinh này có đoạn xưng tán Trương Tiên như sau: “Chí tâm quy mạng lễ: Quế Hương thượng điện, Văn Xương Tả Quan, thất thập nhị hóa chi Pháp Thân, bách thiên vạn kiếp chi vận số, dục từ thiên hạ, diễn giáo nhân gian, kim đạn trúc cung tùy thân đới, Cô Thần Quả Tú diệt hành tung, phù tiểu tử nhi vệ thông quan, ấm khuê phòng nhi hộ nan sản, thông minh nhật ích, đậu chẩn giảm tiêu, nan dũ giả kỳ chi tiện dũ, nan thuyên giả đảo chi tất thuyên, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa, Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế, Thất Khúc Dục Thánh Thiên Tôn (志心皈命禮、桂香上殿、文昌左宮、七十二化之法身、百千萬劫之運數、育嗣天下、演敎人間、金彈竹弓隨身帶、孤辰寡宿滅行蹤、扶小子而衛通關、蔭閨房而護難產、聰明日益、痘疹減消、難癒者祈之便癒、難痊者禱之必痊、大悲大願、大聖大慈、九天輔元開化、靈應張仙大帝、七曲毓聖天尊, Một lòng quy mạng lễ: Quế Hương trên điện, Văn Xương Tả Quan, hai mươi bảy hóa hiện Pháp Thân, trăm ngàn vạn kiếp ấy vận số, nuôi nấng thiên hạ, dạy dỗ nhân gian, đạn vàng cung tre mang bên thân, Cô Thần Quả Tú diệt hành tung, phò hộ tiểu tử qua cửa nạn, ngầm trợ khuê phòng hộ người khó sinh, thông minh lợi ích, đậu sởi giảm tiêu, khó bớt cầu ngài liền bớt, khó lành xin ngài tất lành, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Cửu Thiên Phụ Nguyên Khai Hóa, Linh Ứng Trương Tiên Đại Đế, Thất Khúc Thánh Nuôi Con Thiên Tôn).”
trương tiên
Chang Hsien (C), Zhang Xien (C)Tên một vị sư.
trương trung nguyên
Chang Chuang-yuan (C)Tên một vị sư.
trương tú
Chang Hsiu (C), Zhang Xiu Tên một vị sư.
Trương Tải
(張載, 1020-1077): học giả dưới thời Bắc Tống, một trong những nhân vật tiên phong của Tống học, tự là Tử Hậu (子厚), thường được gọi là Hoành Lương Tiên Sinh (横渠). Ông làm đến chức quan Sùng Văn Viện Hiệu Thư (崇文院校書), nhưng vì không hợp với Vương An Thạch (王安石) nên ông trở về cố hương của mình ở Huyện Tỉnh Mi (省郿縣), Thiểm Tây (陝西). Học vấn của ông thiên về Dịch và Trung Dung. Các trước tác của ông như Tây Minh (西明), Chánh Mông (正蒙), Dịch Thuyết (易説), v.v.
trương tống yên
Chang Tsung-yen (C), Zhang Zongyen (C).
trương đạo lăng
Zhang Daoling (C), Chang Ling (C), Chang Tao-Ling (C), Zhang Daoling (C), Chang Ling (C)Một trong những Đạo gia nổi tiếng.
trước
1) Có nghĩa là “chấp trước” theo đạo Phật, như ái chấp, dục chấp, tham chấp, vân vân: In a Buddhist sense it is used for attachment to anything, e.g. the attachment of love, desire, greed, etc. 2) Trước: Before.
trước công nguyên
B.C.E. Trước công nguyên, trước Thiên chúa giáng sinh. Thường viết là B.C. Xem thêm C.E.
trước cảnh
To be attached to the outside objects.
trước lạc
Còn gọi là Chấp Lạc, cho rằng lạc thú trên đời là có thật và thường hằng—Attachment to bliss, or pleasure regarded as real and permanent
trước mắt
Before one's eyes.
trước mặt
In the presence of—In front of.
trước ngã
To be attached to the self.
; Còn gọi là Chấp Ngã, là việc cho rằng trong thân ngũ uẩn nầy có cái thực ngã—Attachment to the ego, or idea of permanent self.
Trước Ngữ
(著語, Jakugo): còn gọi là Hạ Ngữ (下語, Agyo) hay Giản Ngữ (揀語, Kengo), là lời bình ngắn gọn thêm vào phía dưới câu các tắc công án hay bài tụng của những Ngữ Lục Thiền. Nó là phần bình xướng rất đơn giản, lấy cái nhìn tông môn của mình mà giải thích hành động cũng như lời nói của người xưa, rồi xướng hòa theo, và xưng tán lời dạy của họ. Hay tự mình sáng lập ra tông chỉ riêng cho mình rồi đùa giỡn cơ duyên ấy một cách tự do. Đây là một thành phần chủ yếu mà các Ngữ Lục Thiền đặc biệt thường dùng đến như Bích Nham Lục (碧巖錄), Tùng Dung Lục (從容錄), v.v.
Trước ngữ
著語; J: jakugo; có thể hiểu là »đưa xen vào«;|Chỉ một câu nói hùng dũng, một lời thốt lên hồn nhiên biểu hiện sự ngộ nhập thâm sâu yếu chỉ của một Công án hoặc các thành phần của nó.Trong những tập công án như Bích nham lục, người ta có thể tìm thấy những trước ngữ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển và Viên Ngộ Khắc Cần. Những trước ngữ này chính là những lời bình xen vào giữa các công án.|Ví dụ sau được trích từ Bích nham lục, công án 4 với tên »Ðức Sơn mắc áo vấn đáp«: »Ðức Sơn (Tuyên Giám) đến Quy Sơn (Linh Hựu), mắc áo trên pháp đường, từ phía Ðông đi qua phía Tây, từ phía Tây đi qua phía Ðông, nhìn xem, nói: Không! Không! Liền đi ra Tuyết Ðậu trước ngữ: Khám phá xong. Viên Ngộ: Lầm! Quả nhiên! Ðiểm!]…«.|Từ thời Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc đến bây giờ, các thiền sinh Nhật Bản thường phải trình bày thêm một hoặc vài trước ngữ song song với câu »Giải đáp« cho công án để minh bạch thêm sự thấu rõ xuyên suốt của mình. Các trước ngữ này thường được trình dưới dạng văn vần (thi hoá) và thiền sinh không nhất thiết là phải tự làm mà có thể trích từ các nguồn tài liệu khác, ngay cả những nguồn tài liệu văn hoá thế tục.
trước ngữ
Jakugo (J).
Trước ngữ 著語
[ja] ジャクゴ jakugo ||| In Chan Buddhism, a criticism or critique, especially of a kongan, ancient teaching, or verse, wherein one adds one's own comment. Also called xiayu 下語. => Theo thiền tông Phật giáo, đó là một lời bình hoặc nhận định, đặc biệt là về một công án, một lời dạy của bậc cổ đức, hoặc một bài kệ, theo đó người ta có chú giải riêng của mình. Còn gọi là Hạ ngữ (xiayu 下語).
trước pháp
Còn gọi là Chấp Pháp, cho rằng các ý niệm về sự vật là có thực, hay chấp trước vào giáo thuyết trong kinh điển—Attachment to things; attachment and its object; attachment to teaching or doctrine in a sutra.
trước sau như vậy
Constant—Consistent.
trước tiên
First of all.
trước tâm
Tâm chấp trước—The mind of attachment.
trước tưởng
Tư tưởng chấp thật.
; Dính mắc vào tư tưởng—The attachment of thought, or desire.
trước y
To don clothes
Trước 着
[ja] ジャク、チャク jaku, chaku ||| (1) To wear, to put on. (2) To attach, to arrive to (at). Synonymous with 著 and often used interchangeably in the construction of compound words. (3) Attachment; to be ensnared. => 1. Mặc vào, mang vào. 2. Trói buộc, đi đến. Đồng nghĩa với với 著, và thường dùng thay thế cho nhau trong cấu trúc từ ghép. 3. Chấp trước; bị mắc vào.
Trước 著
[ja] チョ jaku ||| (1) To make known, to express, clarify; especially in writing. Conspicuous, salient, pronounced, notable. (2) Attachment. (3) The attainment of an objective. => 1, Làm cho dễ hiểu, làm cho sáng sủa, dễ hiẻu; đặc biệt trong việc viết văn. Rõ ràng, đáng chú ý, rất dễ thấy, đáng kể. 2. Dính mắc. 3. Sự đạt được một mục đích.
trước, trứ
To be attached to; to adhere to; to be bound.
trường
Dīgha-, Dirgha (S)Dài.
; Long, always.
; 1) Dài: Long. 2) Đạo Trường: Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Phật thành đạo—The bodhi-plot, or place of enlightenment. 3) Đấu trường: Arena—Area—Field. 4) Luôn luôn: Always. 5) Tăng trưởng: To grow—To rise. 6) Trường Học: School. 7) Thâm niên: Senior.
trường a hàm
Dīrghāgama (S), Dīghāgama (P), Long Collections Kinh A hàm có 4 bộ: - Dighagama: Trường A hàm - Madhyamagama: Trung A hàm - Ekottaragama: Tạp A hàm - Samyuktagama: Tăng nhứt A hàm. Một trong 5 phẩm của Kinh Tạng, gồm 34 bài kinh dài.
trường a hàm kinh
Dirghagama (skt)—The Long Agamas—See Agama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
trường a hàm thập báo pháp kinh
See Agama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Trường A-hàm kinh 長阿含經
[ja] ジョウアゴンキョウ Jō agonkyō ||| Chang Ahan jing (the Longer Āgama-sutra) T 1.1.1a-149c. Dīrghāgama; 'dus pa chen po'i mdo. 22 fasc. tr. Buddhayaśas 佛陀耶舍 and Zhu fonian 竺佛念 in 412-13 CE. It is one of the four āgamas in Chinese, written in four vargas 品. It deals with the life of the Buddha in its first varga, teaching and practice in the second, refutation of other teachings in the third, and Buddhist cosmology in the fourth. It is considered to be similar to the Pali Dīgha-nikāya => (k: Chang aham kyŏng; j: Jō agonkyō; c: Chang Ahan jing; e: the Longer Āgama-sūtra; s: Dīrghāgama; t: 'dus pa chen po'i mdo). 22 quyển. Ngài Phật-đà Da-xá (s: Buddhayaśas 佛陀耶舍) và Trúc Phật Niệm (c: Zhu fonian 竺佛念 ) dịch năm vào năm 412-413. Đó là một trong bốn bộ Kinh Kinh A-hàm tiếng Hán, gồm bốn phẩm. Đề cập đến cuộc đời Đức Phật trong phẩm thứ nhất, phần giáo lý và tu tập trong phẩm thứ nhì, bác bỏ các luận thuyết ngoại đạo trong phẩm thứ ba, vũ trụ quan Phật giáo trong phẩm thứ tư. Được xem là tương tự như kinh Dīgha-nikāya bằng tiếng Pali.
trường an
Ch'ang an (C), Tch'ang-nan (C)Kinh đô xưa của Trung quốc.
Trường bộ kinh
長部經; S: dīrghāgama; P: dīgha-nikāya;|Là bộ đầu tiên của năm Bộ kinh trong Kinh tạng (p: sutta-piṭaka). Trường bộ kinh văn hệ Pā-li bao gồm 34 bài kinh. Trường bộ kinh của Ðại thừa được viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), được dịch ra chữ Hán với tên gọi Trường A-hàm (s: dīrghāgama) với 30 bài kinh. Trường bộ kinh của hai văn hệ này không giống nhau hoàn toàn, có 27 kinh là giống nhau. Các kinh này tương đối dài nên được mang tên này.|Các kinh quan trọng nhất của kinh Trường bộ văn hệ Pā-li là: Phạm võng (s, p: brahma-jāla), nói về các quan điểm triết học và siêu hình thời Phật giáo sơ khai; Sa-môn quả (p: sāmaññaphala), nói về giáo lí của sáu đạo sư ngoại đạo thời Phật giáo sơ khai và về kết quả của đời sống Sa-môn; Ma-ha bát-đà-na (p: mahāpadāna), tích truyện về sáu vị Phật đã ra đời trước vị Phật lịch sử; Ðại nhân duyên (mahānidāna), luận giảng về Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda); Ðại bát-niết-bàn kinh (p: mahāparinibbāna), kể lại những ngày tháng cuối cùng trước khi Phật Thích-ca nhập diệt; Giáo thụ thi-ca-la-việt (p: singālovāda), đặc biệt quan trọng cho giới Cư sĩ, nhắc nhở bản phận của cha mẹ, thầy dạy, học trò v.v…
trường bộ kinh chú
Xem Luận Kiết Tường duyệt ý.
Trường Châu
(長州, Chōshū): tên gọi khác của tiểu quốc Trường Môn (長門, Nagato) ngày xưa, chỉ cho lãnh địa của dòng họ Mao Lợi (毛利, Mōri) quản trị hai tiểu quốc Trường Môn và Châu Phòng (周防, Suō); nay thuộc về một nữa phía Tây của Yamaguchi-ken (山口縣).
Trường Cốc Tự
(長谷寺, Hase-dera): còn gọi là Phong Sơn Thần Lạc Viện (豐山神樂院), Phong Sơn Tự (豐山寺), Trường Cốc Sơn Tự (長谷山寺), ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Phong Sơn (豐山派) thuộc Chơn Ngôn Tông, là nơi tuần lễ chiêm bái thứ 8 trong số 33 ngôi chùa nổi tiếng ở vùng Tây Quốc; hiện tọa lạc tại Hasse (初瀬), Sakurai-shi (櫻井市), Nara-ken (奈良縣). Năm 686, Đạo Minh Thượng Nhân (道明上人) kiến lập một ngôi chùa ở trên ngọn đồi phía Tây Sơ Lại Sơn (初瀨山) với tên là Bổn Trường Cốc Tự (本長谷寺); đến năm 733, nhờ sự hỗ trợ của Đằng Nguyên Phòng Tiền (藤原房前, Fujiwara-no-Fusasaki), Đức Đạo Thượng Nhân (德道上人) sáng lập Trường Cốc Tự ở vị trí hiện tại, an trí tượng đứng Thập Nhất Diện Quan Âm. Trãi qua các thời đại Nại Lương, Bình An, Liêm Thương, chùa luôn là nơi đến tham bái của các tầng lớp Hoàng tộc, quan lại, quý tộc cũng như thứ dân. Sự linh nghiệm của chùa đã được ghi lại qua những tác phẩm văn học nổi tiếng như Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記), Nguyên Thị Vật Ngữ (源氏物語), Chẩm Thảo Tử (枕草子), Kim Tích Vật Ngữ Tập (今昔物語集), v.v. Năm 1588, Chuyên Dự (專譽) của Căn Lai Tự (根來寺, Negoro-ji) đến đây trú trì và biến nơi đây thành đạo tràng của Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông, và sau này chùa trở thành ngôi chùa trung tâm của Phái Phong Sơn thuộc Chơn Ngôn Tông. Dưới thời đại Giang Hộ, rất nhiều học đồ tập trung đến đây, từ đó xuất hiện không ít học Tăng nổi tiếng. Chùa cũng đã trãi qua bao phen bị hỏa tai, cháy tan tành, nhưng rồi lại được phục hưng nguyên vẹn. Đến cuối thời đại Thất Đinh, chùa bị hoang phế. Hiện tại trong khuôn viên chùa có một số kiến trúc như Lầu Chuông, Nhân Vương Môn, Hoan Hỷ Viện, Thanh Tịnh Viện, Nguyệt Luân Viện, Mai Tâm Viện, Từ Nhãn Viện, Kim Liên Viện, Bản Nguyện Viện, Năng Mãn Luật Viện, v.v. Chùa hiện lưu giữ khá nhiều bảo vật như Trang Sức Pháp Hoa Kinh 32 quyển, Pháp Hoa Thuyết Tướng Đồ bằng bản đồng, A Di Đà Lai Nghênh Đồ, Tịnh Độ Mạn Trà La Đồ, tượng gỗ Địa Tạng, Bất Động, v.v.
Trường Cốc Xuyên Đẳng Bá
(長谷川等伯, Hasegawa Tōbaku, 1539-1610): nhà danh họa dưới thời đại Đào Sơn, Tổ của Phái Trường Cốc Xuyên (長谷川派), người vùng Năng Đăng (能登, Noto); cùng với Thú Dã Vĩnh Đức (狩野永德, Kanō Eitoku), Hải Bắc Hữu Tùng (海北友松, Kaihō Yūshō), Vân Cốc Đẳng Nhan (雲谷等顔, Unkoku Tōgan) được xem như là những nhà danh họa đại biểu đương thời. Đầu tiên ông tự xưng là là Tín Tình (信晴), chuyên vẽ tranh tượng Phật; sau đó, ông lên kinh đô, sáng tạo ra phong cách vẽ độc đáo riêng của mình và đối lập với Phái Thú Dã (狩野派). Ông rất sở trường về tranh Thủy Mặc; và thể hiện tài năng xuất chúng về tranh chim hoa cũng như tranh tiêu tượng. Tác phẩm của ông có một số bức tranh nổi tiếng như Tùng Lâm Đồ Bình Phong (松林圖屛風), Trí Tích Viện Chướng Bích Họa (智積院障壁畫), Hoa Điểu Đồ Bình Phong (花鳥圖屛風), Lợi Hưu Cư Sĩ Tượng (利休居士像), Trúc Lâm Viên Hầu Đồ Bình Phong (竹林猿猴圖屛風), Đại Niết Bàn Đồ (大涅槃圖), Diệu Liên Tự Chướng Bích Họa (妙蓮寺障壁畫), v.v.
trường cửu
Durable, lasting; long lived.
; Everlasting—Lasting-- Giá trị trường cửu: Everlasting value.
trường dạ
The whole night, the long night of mortality or transmigration.
; Đêm dài sanh tử hay luân hồi—The long night (of mortality or transmigration).
Trường dạ 長夜
[ja] ジョウヤ jōya ||| A long time (of abiding in ignorance). => Thời gian lâu dài (ở trong vô minh).
Trường Giác
(長覺, Chōkaku, 1340-1416): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ của Thọ Môn Học Phái (壽門學派) thuộc Cao Dã Sơn, húy là Trường Giác (長覺), tên lúc nhỏ là Phạm Thiên Hoàn (梵天丸), tự là Bổn Trí Phòng (本智房); xuất thân vùng Xuất Vũ (出羽, Dewa), con của An Đạt Thời Trọng (安達時重). Năm 1352, ông theo xuất gia với Trường Tuyên (長宣) ở vùng Xuất Vũ, rồi đến năm 1356 thì theo nhập chúng ở Đông Thiền Viện (東禪院) trên Cao Dã Sơn; học Tất Đàm với Nghĩa Tuyên (義宣), cũng như giáo nghĩa của các dòng phái khác như Dòng Trung Viện với Lại Viên (賴圓), Dòng Quảng Trạch với Tuyên Hựu (賴祐), v.v. Sau đó, ông còn học cả Thiền, thần đạo và kế thừa Dòng Tây Viện từ Tuấn Dự (俊譽) ở Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院) của vùng Liêm Thương. Vào năm 1403, ông làm Thủ Tòa của Vô Lượng Thọ Viện, hình thành nên Thọ Môn Học Phái (tức Bất Nhị Môn Phái [不二門派]), cùng sánh đôi với Bảo Môn Học Phái (寶門學派, tức Nhi Nhị Môn Phái [而二門派]) của Hựu Khoái (宥快) ở Bảo Tánh Viện (寶性院). Như vậy, lúc bấy giờ tăng lữ trong sơn môn phân chia thành hai phái rõ rệt, và chính ông đã tạo nên một thời kỳ hưng thịnh tột độ cho Cao Dã Sơn. Tương truyền ông là phân thân của Không Hải Đại Sư. Đệ tử phú pháp của ông có Trường Dự (長譽), Trường Nhiệm (長任), Thắng Nghĩa (勝義), v.v. Trước tác của ông lưu lại cho hậu thế có Đại Sớ Chỉ Nam Sao (大疏指南鈔) 9 quyển, Thích Luận Thập Nhị Sao Tư Ký (釋論十二鈔私記) 10 quyển, Tất Đàm Quyết Trạch Sao (悉曇決擇鈔) 5 quyển, Tất Đàm Tự Ký Sao (悉曇字記鈔) 5 quyển, Phàm Thánh Lục Đại Nguyên Sự (凡聖六大元事), v.v.
Trường hà 長河
[ja] チョウガ chōga ||| A long river such as the Ganges or Yangtze. => Sông dài như sông Hằng hoặc sông Dương Tử (c: Yangtze).
Trường hàng
[ja] ジョウゴウ jōgō ||| (cūrnika). The prose sentences of the treatises and sutras of Buddhism. In contrast to the verse (偈頌). => (j: jōgō; s: cūrnika). Kinh luận Phật giáo trong thể văn xuôi. Khác với thể văn vần (kệ tụng 偈頌).
trường hàng
Xem Kinh.
; Sùtra (S). Scripture, sùtra.
trường hợp
Case—Circumstance—Instance.
trường khánh hoài huệ
Zhangjing-huaihui (C), Shōkyō Eki (J), Chang-Ching Huai-Hui (C), Zhangjing-huaihui (J), Shokyo Eki (J)(756/59-815/18) Đệ tử và là người truyền thừa của ngài Mã Tổ Đạo NhấtChương Kính Hoài Huy.
trường khánh huệ lãng
Chang Ching Hui leng (J) Chōkei Eryō (J) (854/64-932) Đệ tử và là người truyền thừa của ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn.
Trường Khánh Huệ Lăng
(長慶慧稜, Chōkei Eryō, 854-932): người vùng Diêm Quan (塩官), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ là Tôn (孫). Năm lên 13 tuổi, ông xuất gia thọ giới ở Thông Huyền Tự (通玄寺) vùng Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), rồi tham bái qua các vị Thiền sư như Linh Vân Chí Cần (靈雲志勤), Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Linh Vân. Vào năm thứ 3 niên hiệu Thiên Hựu (天祐), thể theo lời thỉnh cầu của vị Sắc Sứ Tuyền Châu (泉州, Tỉnh Phúc Kiến) là Vương Diên Bân (王延彬), ông đến trú tại Chiêu Khánh Viện (招慶院), rồi sau chuyển đến Trường Khánh Viện (長慶院) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến). Vào ngày 17 tháng 5 năm thứ 3 niên hiệu Trường Hưng (長興) nhà Đường, ông thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi đời và 60 hạ lạp.
; 長慶慧稜; C: chángqìng huìléng; J: chōkei e-ryō; 854-932;|Thiền sư Trung Quốc, nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư có 26 đệ tử được ấn khả.|Sư họ Tôn, quê ở Diêm Quan Hàn Châu. Năm 13 tuổi, Sư xuất gia thụ giới tại chùa Thông Huyền, Tô Châu và sau đó đi tham vấn nhiều Thiền sư. Sau Sư đến Tuyết Phong và ở lại đây. Mặc dù nhiều lần đến Tuyết Phong Ðộc tham nhưng Sư vẫn không ngộ nhập. Tương truyền Sư ngồi rách bảy cái bồ đoàn mà vẫn không hội. Tuyết Phong bảo sẽ giao cho Sư một »thang thuốc dành cho một con ngựa chết« nếu Sư chấp nhận và khuyên Sư từ nay không nên đến độc tham nữa, cứ toạ thiền im lặng »như một cột trụ trong lửa« nhiều năm, sau sẽ tự ngộ. Một đêm, sau đó khoảng hơn hai năm thực hiện lời dạy này bỗng nhiên tâm Sư náo động. Sư không ngồi yên được và đứng dậy đi dạo trong vườn. Khi trở về, Sư cuốn rèm tre lên thấy ngọn đèn leo lét bỗng nhiên đại ngộ. Sư liền làm bài kệ:|也大差矣也大差矣。捲起簾來見天下|有人問我解何宗。拈起拂子劈口打|Dã đại sai hĩ dã đại sai hĩ|Quyện khởi liêm lai kiến thiên hạ|Hữu nhân vấn ngã thị hà tông|Niêm khởi phất tử phách khẩu đả.|*Rất sai cũng rất sai|Vừa cuốn rèm lên thấy thiên hạ|Có người hỏi ta là tông gì|Cầm cây phất tử nhằm miệng đánh.|Thiền sư Huyền Sa không tin, cho rằng bài kệ này do thần thức làm và muốn thử lại. Sư bèn trình bài kệ thứ hai rất nổi tiếng:|萬象之中獨露身。唯人自肯乃爲親|昔時謬向塗中覓。今日看如火裏冰|Vạn tượng chi trung độc lộ thân|Duy nhân tự khẳng nãi vi thân|Tích thời mậu hướng đồ trung mịch|Kim nhật khán như hoả lí băng.|*Chính trong vạn tượng hiện toàn thân|Chỉ người tự nhận mới là gần|Thuở xưa lầm nhắm ngoài đường kiếm|Ngày nay xem lại: Băng trong lò!|Tuyết Phong nghe kệ nhìn Huyền Sa bảo: »Không thể do ý thức làm ra.«|Sau, Sư hỏi Tuyết Phong: »Một đường từ trước chư Thánh truyền trao thỉnh thầy chỉ dạy.« Tuyết Phong lặng thinh. Sư lễ bái rồi lui. Tuyết Phong mỉm cười thầm Ấn khả.|Sư ở Tuyết Phong 29 năm, sau đó nhận lời mời của Thích sử Huyền Châu là Vương Diên Bân đến trụ trì tại Chiêu Khánh. Chẳng bao lâu, Sư lại nhận lời đến Tây Viện, phủ Trường Lạc, để hiệu là Trường Khánh.|Sư dạy chúng: »Nếu ta thuần nêu xướng tông thừa thì nên đóng kín cửa pháp đường bởi do ›Tột pháp thì không dân.‹« Một vị tăng hỏi: »Chẳng sợ không dân, thỉnh thầy tột pháp.« Sư bảo: »Lại bỏ rơi chỗ nào?«|Sư hoằng hoá 27 năm, môn đệ có đến 1500 người, môn phong của Tuyết Phong cao vút. Ðến đời Hậu Ðường niên hiệu Trường Hưng năm thứ ba (932), ngày 17 tháng năm, Sư viên tịch, thọ 79 tuổi, 60 tuổi hạ.
trường khánh huệ lăng thiền sư
Zen Master Chang-Qing-Hui-Leng—See Huệ Lăng Trường Khánh Thiền Sư.
Trường Khánh Ðại An
長慶大安; C: chángqìng dàān; J: chōkei daian; tk 8/9;|Thiền sư Trung Quốc đắc pháp nơi Bách Trượng Hoài Hải. Hai vị đệ tử của Sư thường được nhắc đến là Ðại Tuỳ Pháp Chân và Linh Thụ Như Mẫn (靈樹如敏).|Lúc đầu Sư siêng năng học Luật, sau đó tự nghĩ rằng »Lí cùng tột của Phật pháp vẫn chưa được nghe.« Vì vậy Sư đến Bách Trượng hỏi: »Học nhân muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?« Bách Trượng bảo: »Giống hệt cỡi trâu tìm trâu.« Sư hỏi: »Khi biết được về sau thế nào?« Bách Trượng đáp: »Như người cỡi trâu về đến nhà.« Sư hỏi: »Chẳng biết trước sau gìn giữ như thế nào?« Bách Trượng trả lời: »Như chú mục đồng cầm roi trông chừng, chẳng cho nó vào lúa mạ của người.« Sư nhân đây ngộ được ý chỉ.|Khi Thiền sư Linh Hựu đến Quy Sơn khai sáng, Sư đích thân đến phụ tá và khi Linh Hựu tịch, Sư được chúng thỉnh ở lại trụ trì. Vì thế mà Sư cũng thường được gọi là Quy Sơn Ðại An.|Có vị tăng hỏi: »Khi ấm này đã mất, ấm kia chưa sinh thì thế nào (Trung hữu) ?« Sư hỏi vặn lại: »Khi ấm này chưa mất, cái gì là Ðại Ðức?« Tăng thưa: »Chẳng rõ.« Sư bảo: »Nếu hội ấm này liền rõ ấm kia.«|Sư dạy chúng: »… Tất cả các ngươi, mỗi người đều có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa (Lục căn) ngày đêm thường phóng quang sáng, các ngươi tự chẳng biết lại nhận bóng trong thân Tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chênh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, không dám để sẩy chân. Hãy nói vật gì không thể gìn giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ, một sợi tóc có thể thấy. Ðâu chẳng nghe Hoà thượng Chí Công nói: ›Trong ngoài tìm kiếm trọn không ra, trên cảnh thi vi gồm tất cả‹ – trân trọng!«|Sau, Sư rời Quy Sơn đến Trường Khánh, tỉnh Phúc Kiến giáo hoá. Ðời Ðường, niên hiệu Trung Hoà năm thứ ba (883), ngày 22 tháng mười, Sư có chút bệnh rồi tịch. Vua sắc phong là Viên Trí Thiền sư, Tháp hiệu Chứng Chân.
trường khánh đại an
Ch'ang-ch'ing Ta-an (C), Chokei Daian (J)Vào thế kỷ thứ 8 - 9.
trường khất thực
Always to ask food as alms, one of the twelve duties of a monk.
; Suốt đời khất thực, một trong 12 hạnh tu của một vị Tăng—Always ask for food as alms, one of the twelve duties of a monk.
trường kiếp
A long kalpa.
trường kiếp sự
A matter in long kalpa.
trường kì
Long, protracted; long term; long range. Trường kì chiến đấu, protracted struggle. Trường kì gian khổ, to endure no end ođ tribulations.
trường kỳ
Long period.
Trường Lô Tông Trách
(長蘆宗賾, Chōro Sōsaku, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, họ là Tôn (孫), người vùng Vĩnh Niên (永年), Lạc Châu (樂州, Tỉnh Hà Nam). Lúc còn trẻ ông có học Nho Giáo, rồi theo xuất gia với Từ Vân Pháp Tú (法雲法秀), sau đó kế thừa dòng pháp của Trường Lô Ứng Phu (長蘆應夫). Trong khoảng niên hiệu Sùng Ninh (崇寧, 1102-1105), ông đến sống tại Hồng Tế Thiền Viện (洪濟禪院) ở Phủ Chơn Định (眞定府, Tỉnh Hà Bắc), viết bộ Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 3 quyển), sau đó chuyển đến Trường Lô Tự (長蘆寺) ở Chơn Châu (眞州, tỉnh Giang Tô). Ông cũng nổi tiếng là nhà tư tưởng Tịnh Độ, và có viết một số tác phẩm như Quán Niệm Phật Tụng (觀念佛頌), Lạc Bang Văn Loại 1 (樂邦文類), Khuyến Tham Thiền Nhân Kiêm Tu Tịnh Độ (勸參禪人兼修淨土), Long Thư Tịnh Độ Văn 2 (龍舒淨土文). Ông được ban cho thụy hiệu là Từ Giác Đại Sư (慈覺大師).
Trường Lô Tổ Chiếu
(長蘆祖照, Chōro Soshō): xem Trường Lô Đạo Hòa (長蘆道和, Chōro Dōwa, 1057-1124) bên trên.
Trường Lô Đạo Hòa
(長蘆道和, Chōro Dōwa, 1057-1124): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, còn gọi là Trường Lô Tổ Chiếu (長蘆祖照, Chōro Soshō), được ban tặng hiệu là Tổ Chiếu Thiền Sư (祖照禪師), xuất thân Tiên Du (仙游), Hưng Hóa (興化), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), họ Phan (潘). Ông theo hầu Đức Chương (德璋) ở Thích Ca Viện (釋迦院), Thiên Thanh (天清), rồi xuất gia và thọ Cụ Túc giới với vị này. Sau đó, ông đến tham yết Tịnh Nhân Đạo Trăn (淨因道臻) và Viên Thông Pháp Tú (圓通法秀). Sau khi Pháp Tú qua đời, Thiện Bổn (善本) kế thế Pháp Vân Tự (法雲寺); nhân đó ông tham học với vị này và được ấn khả. Từ đó, ông đến trú trì Trường Lô Tự (長蘆寺) ở Chơn Châu (眞州), Tỉnh Giang Tô (江蘇省) và xiển dương Thiền phong của mình. Vào ngày mồng 7 tháng 8 năm thứ 6 (1124) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời và 45 hạ lạp. Tuy nhiên, theo Kiếp Ngoại Lục (刼外錄) thì cho ông tịch và năm thứ 5 (1123) cùng niên hiệu trên.
Trường Lạc Tự
(長樂寺, Chōraku-ji): ngôi tự viện của Thiên Thai Tông, là nơi phát xuất của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa); hiện tọa lạc tại Serada-chō (世良田町), Ōta-shi (太田市), Gunma-ken (群馬縣); hiệu núi là (世良田山). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai. Vào năm thứ 3 (1221) niên hiệu Thừa Cửu (承久), thể theo sắc nguyện của Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇), con của Tân Điền Nghĩa Trọng (新田義重, Nitta Yoshishige) là Đức Xuyên Nghĩa Quý (德川義季, Tokugawa Yoshisue, hay Thế Lương Điền Nghĩa Quý [世良田義季, Serada Yoshisue]) kiến lập chùa này tại vùng đất Thế Lương Điền (世良田, Serada), rồi cung thỉnh Vinh Triêu (榮朝, Eichō), cao đệ của Vinh Tây (榮西, Eisai) đến làm Tổ khai sơn chùa. Ban đầu, đây là đạo tràng kiêm tu cả Thiền Lâm Tế và Mật Giáo; là ngôi chùa rất hưng thịnh của dòng họ Thế Lương Điền. Dưới thời đại Liêm Thương, trong phạm vi 250 mét vuông, ở bốn phương có một số ngôi tháp miếu như Đại Quang Am (大光庵) của Vinh Triêu, Chánh Truyền Am (正傳庵), Phổ Quang Am (普光庵), Vạn Tượng Am (萬象庵), v.v. Trong khoảng thời gian niên hiệu Chánh Hòa (正和, 1312-1317), chùa bị hỏa tai nên cháy rụi hoàn toàn; nhưng nhờ sự trợ duyên của Đại Cốc Đạo Hải (大谷道海) cũng như hai người con gái, chùa được kiến lập lại như cũ. Đến năm thứ 17 (1612) niên hiệu Khánh Trường (慶長), chùa được đổi thành cơ sở của Thiên Thai Tông. Về sau, thể theo lời phát nguyện của Thiên Hải (天海, Tenkai), vị tăng của Thiên Thai Tông, dưới thời tướng quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu), Đông Chiếu Cung (東照宮, Tōshōgū) được dời về phía Tây Nam trong khuôn viên chùa, tại vị trí của Phổ Quang Am.
trường lạc tự
Chōraku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
trường mộng
A long dream (of mortality or transmigration).
Trường Nguyên
長源; 1110-1165|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư kế thừa Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư người gốc Trung Quốc, họ Phan, quê ở Trường Nguyên. Sư xuất gia tu học với Thiền sư Ðạo Huệ.|Sau khi được Ðạo Huệ Ấn khả, Sư đi thẳng đến Từ Sơn tu khổ hạnh. Vua Lí Anh Tông hâm kính trọng đạo hạnh của Sư, muốn gặp mặt mà không thể được bèn nhờ bạn cũ của Sư dụ dẫn về triều. Người bạn dụ đến nhà trọ tại chùa Hương Sát thì Sư hối hận, quay trở về núi. Sư bảo đồ đệ: »Hạng người thân khô tâm nguội như ta, không phải những vật phù nguỵ thế gian có thể cám dỗ được. Bởi vì chí, hạnh của ta chưa thuần nên bị các thứ bẫy lồng vây khốn. Nghe ta nói kệ đây:|猿猴抱子歸青嶂。自古聖賢沒可量|春來鶯轉百花深。秋至菊開沒模樣|Viên hầu bão tử quy thanh chướng|Tự cổ thánh hiền một khả lượng|Xuân lai oanh chuyển bách hoa thâm|Thu chí cúc khai một mô dạng.|*Khỉ vượn bồng con lại núi xanh|Từ xưa hiền thánh không mối manh|Xuân về oanh hót trong vườn uyển|Thu đến cúc cười mất dōng hình«|Ngày mồng 7 tháng 6 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 3, Sư có chút bệnh bèn gọi chúng lại nói kệ:|在光在塵。常離光塵。心腑證徹。與物無親|體於自然。應物無垠。宗匠二儀。淘汰人倫|亭毒萬物。與物爲春。作舞鐵女。打鼓木人|Tại quang tại trần, thường li quang trần|Tâm phủ trừng triệt, dữ vật vô thân|Thể ư tự nhiên, ứng vật vô ngân|Tông tượng nhị nghi, đào thải nhân luân|Ðình độc vạn vật, dữ vật vi xuân|Tác vũ thiết nữ, đả cổ mộc nhân.|*Ở chỗ bóng trần thường lìa bóng trần|Tâm phủ lóng tột, cùng vật không thân|Thế vốn tự nhiên, hiện vật không thiên|Tài bằng trời đất, vượt cả nhân luân|Ngăn độc muôn vật, cùng vật làm xuân|Người gỗ đánh trống, gái sắt múa may.|Nói xong, Sư viên tịch.
trường nguyên thiền sư
Zen Master Trường Nguyên (1110-1165)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Tiên Du, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Đạo Huệ. Ngài là pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau ngài đi vào rừng sâu tu thiền. Ngài thị tịch năm 1165, thọ 56 tuổi—A Vietnamese Zen master from Tiên Du, North Vietnam. He was a disciple of Zen master Đạo Huệ. He was the Dharma heir of the tenth generation of Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to deep forests to practice meditation. He passed away in 1165, at the age of 56.
trường nhựt
Ngày dài hay chuỗi ngày kế tiếp nhau kéo dài—A long day, or succeeding days prolonged.
trường phái sakyapa
Xem Sakyapa.
trường quỵ
Quỳ cao, hai đầu gối và các ngón chân chạm đất, đùi và thân thẳng đứng—Kneeling with knees and toes touching the ground and thighs and body erect; tall kneeling.
Trường quỵ 長跪
[ja] ジョウキ jōki ||| To kneel down for a long time. To kneel supported by the toes of both feet--a proper position for approaching the Buddha. => Quỳ một lúc lâu. Quỳ với tư thế được nâng đỡ bởi các ngón chân của cả hai chân– vị trí thích hợp để được tiếp kiến Đức Phật.
Trường Sa Cảnh Sầm
(長沙景岑, Chōsha Keishin, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường. Ông xuất gia lúc còn nhỏ, đến tham vấn Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu ông sống tại Lộc Uyển Tự (鹿苑寺) ở Trường Sa (長沙, Tỉnh Hồ Nam). Sau ông ngao du khắp nơi, giao du với các bậc hào kiệt đương thời. Do vì ông lấy vùng Trường Sa làm trung tâm giáo hóa, nên được mọi người gọi là Hòa Thượng Trường Sa. Ông là người có cơ phong rất mẫn tiệp, nhân hôm nọ cùng ngồi hàn huyên với Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), chợt đạp té Ngưỡng Sơn, nên bị vị này cho là dữ như con cọp (con trùng lớn), và từ đó ông có biệt danh là Con Cọp Sầm. Ông được ban cho thụy hiệu là Chiêu Hiền Đại Sư (招賢大師).
; 長沙景岑; C: chángshā jǐngcén; J: chōsha keijin; ?-868;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ được Ấn khả của Nam Tuyền Phổ Nguyện và là bạn đồng học với hai vị Triệu Châu Tòng Thẩm và Tử Hồ Lợi Tung. Tương truyền Sư có hai đệ tử đắc pháp.|Thiền sư Viên Ngộ thuật lại câu chuyện sau giữa Sư và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch trong Bích nham lục: Một hôm Sư cùng Ngưỡng Sơn ngắm trăng, Ngưỡng Sơn chỉ mặt trăng nói: »Mỗi người trọn có cái này, chỉ vì dùng chẳng được.« Sư liền nói: »Chính là lúc mời ông dùng?« Ngưỡng Sơn nói: »Sư thúc dùng xem?« Sư liền đạp Ngưỡng Sơn một cái té nhào. Ngưỡng Sơn lồm cồm đứng dậy nói: »Sư thúc giống như con cọp (đại trùng).« Vì tích này mà Sư sau mang danh là »Con cọp Sầm.«|Sư có để lại bài kệ nổi danh, được nhiều Thiền sư sau này nhắc đến: |學道之人不識真。只為從來認識神|無始劫來生死本。癡人喚作本來身|Học đạo chi nhân bất thức chân|Chỉ vị tòng tiền nhận thức thần|Vô thuỷ kiếp lai sinh tử bản|Si nhân hoán tác bản lai nhân.|*Học đạo mà không hiểu lí chân|Bởi tại lâu rồi nhận thức thần|Gốc nguồn sinh tử vô thuỷ kiếp|Người ngu lại gọi là chủ nhân.
trường sa cảnh sầm
Chang sha Ching chen (C), Ch'ang-Sha Ching-Ts'en (C), Chang sha Ching tsin (C), Changsha Jingcen (C), Chosha (J), Chosha Keijin (J), Chosa Shin (J)Mất năm 868, người truyền thừa giáo pháp của Nam Tuyền Phổ Nguyên.
trường sanh
Kiếp sống vĩnh cửu nơi cõi Cực Lạc—To live long—Long life—Long or eternal life in the paradise.
trường sanh bất lão
Cuộc sống kéo dài không già, không chết—Long life without growing old, immortality.
trường sanh bất tử
Long life without death.
trường sanh phù
Phép trường sanh bất tử, ý nói Phật Giáo—The charm for immortality, i.e. Buddhism.
trường sinh
Xem đạo quả Vô sanh bất diệt.
; Long or eternal life (in Paradise). Trường sinh bất tử, long life without death.
trường thuận
Ch'ang-shun (C)Tên một vị sư.
trường thắng tự
Chōshō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
trường thọ
Long life.
; 1) See Trường Sanh. 2) Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào thế kỷ thứ 19. Kiến trúc hiện tại của chùa là mô hình trùng tu vào cuối thế kỷ thứ 19. Chùa hiện còn giữ được nhiều di vật cổ như “Sắc Tứ Pháp Vũ Tự” của vua Gia Long ban, “Sắc Tứ Trường Thọ Tự” của vua Tự Đức ban, cùng các tượng cổ và chuông cổ. Trong Chánh điện có tượng Phật A Di Đà, làm bằng gỗ mít, cao một mét tám không kể đế. Hai bên Chánh điện có tượng của 18 vị La Hán và tượng của Thập Điện Diêm Vương. Đại hồng chung của chùa cao một thước mốt, đường kính 62 phân, có khắc chữ “thành Gia Định, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tổng Bình Trị, thôn Hòa Mỹ, truy phong chùa Vĩnh Tường” và “năm Mậu Thìn, ngày 26 tháng chín”—Name of an ancient pagoda located in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in the eighteenth century. Its present structure results from the rebuilding in the late nineteenth century. The pagoda has conserved a lot of treasures like the Boards entitled “Royal Recognized Pháp Vũ Pagoda” in the Gia Long reign and “Royal Recognized Trường Thọ Pagoda” in the Tự Đức reign. There are a lot of ancient statues and bells. The ancient statue of Amitabha Buddha, made of jacktree wood, 1.8 meters high without the base, is worshipped in the Main Hall. There are also statues of eighteen Arhats, and the statue of the Ten-King of Hells on both sides of the Main Hall. The grat bell is 1.1 meters in height, 0.62 meter in diameter, on which are carved the words “Gia Định Citadel, Tân Bình subprovince, Bình Dương district, Bình Trị village, Hòa Mỹ hamlet, Vĩnh Tường Pagoda posthumously conferred” and “Mậu Thìn year, the ninth month, the twenty sixth.
trường thọ thiên
Devas of long life, in the fourth dhyàna heaven.
; Cõi trời trường thọ, nơi mà đời sống bằng 500 đại kiếp hay kéo dài đến 80.000 kiếp trong cõi Trời vô sắc thứ tư—Devas of long life (in the fourth dhyana heaven where life is equivalent to 500 great kalpas, and in the fourth arupaloka where life extends over 80.000 kalpas.
Trường Thủy Tử Tuyền
(長水子璿, Chōsui Shisen, ?-1038): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Trung Quốc, sống dưới thời Bắc Tống, xuất thân Tiền Đường (錢塘) Hàng Châu (杭州, có thuyết cho là Gia Hưng, Tú Châu), họ Trịnh (鄭), hiệu Đông Bình (東平) hay Trường Thủy Đại Sư (長水大師). Năm lên 9 tuổi, ông theo hầu hạ Khế Tông (契宗) ở Phổ Tuệ Tự (普慧寺), chuyên tụng Kinh Lăng Nghiêm. Năm 13 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, ban đầu theo Hồng Mẫn (洪敏) ở Tú Châu (秀州) học về giáo lý Hoa Nghiêm, sau tham vấn Lang Da Huệ Giác (瑯琊慧覺) và có chỗ sở ngộ. Huệ Giác bèn khuyên ông nên trở về quê cũ, truyền bá Hoa Nghiêm Tông, vì vậy ông đến sống ở Trường Thủy Tự (長水寺), thiết lập đạo tràng chuyên lấy giáo học Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm để dạy cho học đồ của mình với số lượng lên đến cả ngàn người. Ông có công lao rất lớn trong việc chấn hưng Hoa Nghiêm Tông dưới thời nhà Tống. Vào năm thứ 6 (1013) niên hiệu Tường Phù (祥符), Hàn Lâm Học Sĩ Tiền Công Dị (錢公易) tâu xin nhà vua ban cho ông Tử Y và hiệu là Trường Thủy Sớ Chủ Lăng Nghiêm Đại Sư (長水疏主楞嚴大師). Trước tác của ông có Thủ Lăng Nghiêm Nghĩa Sớ Chú Kinh (首楞嚴義疏注經) 20 quyển, Thủ Lăng Nghiêm Kinh Khoa (首楞嚴經科) 2 quyển, Kim Cang Bát Nhã Kinh Toản Yếu Khoa (金剛般若經纂要科) 1 quyển, Đại Thừa Khởi Tín Luận Bút Tước Ký (大乘起信論筆削記) 20 quyển, v.v. Vào năm đầu niên hiệu Bảo Nguyên (寳元), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi.
trường thực
Nguồn cung cấp thực phẩm dài hạn—Ample supplies of food, i.e. for a long time.
trường trai
Life-long vegetarian.
Trường Tây
(長西, Chōsai, 1184-1266): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, húy là Trường Tây (長西), hiệu Giác Minh Phòng (覺明房); xuất thân vùng Tây Tam Cốc (西三谷), Tán Kì (讚岐, Sanuki, thuộc Kagawa-ken [香川縣]); con trai của vị Trưởng Quan Kami vùng Y Do (伊予, Iyo) là Đằng Nguyên Quốc Minh (藤原國明). Hồi nhỏ ông đã từng học các thư tịch của Nho Giáo, đến năm 1202, ông ký tên vào bản Bảy Điều Răn Dạy để đối phó với sự đàn áp của đồ chúng Thiên Thai Tông, rồi năm 1207 ông đi theo hầu Nguyên Không khi bị dày tội đến vùng Tứ Quốc (四國, Shikoku). Sau khi thầy qua đời, ông theo học Ma Ha Chỉ Quán với Tuấn Nhưng (俊芿, Shunjō), rồi Thiền với Đạo Nguyên (道元, Dōgen), cũng như giáo nghĩa của Phái Tây Sơn với Chứng Không (証空, Shoku). Ông có cùng lý tưởng về giáo lý của Giác Du (覺瑜) thuộc Thiên Thai Tông và chủ trương nghĩa của Chư Hạnh Bổn Nguyện. Ông chuyển đến sống ở Cửu Phẩm Tự (九品寺) tại vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), chuyên tâm giảng thuyết và hoằng truyền giáo nghĩa của mình. Dòng pháp của ông gọi là Dòng Cửu Phẩm Tự (九品寺流). Trước tác của ông để lại có Tịnh Độ Y Bằng Kinh Luận Chương Sớ Mục Lục (淨土依憑經論章疏目錄, tức Trường Tây Lục [長西錄]) 1 quyển, Tuyển Trạch Tập Danh Thể Quyết (選擇集名体決) 1 quyển, Niệm Phật Bổn Nguyện Nghĩa (念佛本願義) 1 quyển, Quán Kinh Sớ Quang Minh Sao (觀經疏光明抄) 18 quyển, v.v.
trường tồn
Durable
trường tồn nhứt
The most durable
trường viên tự
Chōen-ji (J).
trường y, vật, bát
Quần áo, vật dụng và bát khất thực vượt quá giới hạn Phật cho phép—Clothes, things or almsbowls in excess of the permitted number.
trường đoản
Long and short.
trường đời
School of experience.
trưởng giả
người thuộc giai cấp phệ-xá (phiên âm từ Phạn ngữ vaisya), tức là những thương gia giàu có, những người có thế lực, là giai cấp thứ ba trong xã hội Ấn Độ thời cổ.
; Dṛha-pati (S)Xem vaisya.
; Elder, senior.
; Người ngay thẳng, thành thật, khi về già thì giàu có—A householder—One who is just, straightforward, honest, advanced in aged, and wealthy and edler.
trưởng làng
Gamani-samyutta (P), Village headmen Tên một bộ kinh.
trưởng lão
Chōrō (J).
; Senior; old folk, the aged, old man.
; (I) Nghĩa của “Trưởng Lão”—The meanings of “Trưởng Lão.” 1) Người lớn tuổi: Aged man—Old man. 2) Vị Tăng cao hạ: Senior—Venerable—A title for virtuous and aged monk. 3) Vị Tăng trụ trì: An abbot. (II) Những lời Phật dạy về “Trưởng Lão” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Trưởng Lão” in the Dharmapada Sutra: 1) Trưởng lão, chẳng phải vì bạc đầu. Nếu chỉ vì tuổi tác cao mà xưng trưởng lão, thì đó chỉ là xưng xuông—A man is not called an elder because his hair is gray. Ripe and wise is he in age (Dharmapada 260). 2) Đủ kiến giải chân thật, giữ trọn các pháp hành, không sát hại sinh linh, lo tiết chế điều phục, đó mới là có trí: trừ hết các cấu nhơ, mới đáng danh trưởng lão—A man in whom are truth, virtue, harmlessness, restraint and control, that wise man who is steadfast and free from impurity, is indeed called an elder (Dharmapada 261).
Trưởng lão bộ
長老部; S: sthaviravāda; P: theravāda; cũng có nghĩa là Thượng toạ bộ nhưng được dịch như trên để phân biệt với Thượng toạ bộ (p: theravā-da), trường phái Tích Lan tuyệt đối theo kinh sách văn hệ Pā-li sau này;|Một trong hai trường phái Tiểu thừa phát sinh trong lần Kết tập thứ ba tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Sự phân chia này bắt nguồn chỉ từ định nghĩa thể tính của A-la-hán. Trong lần kết tập đó, một vi tăng tên là Ðại Thiên (s, p: mahādeva) cho rằng A-la-hán còn có những giới hạn như sau:|1. A-la-hán còn có thể bị quyến rũ, xuất tinh trong khi ngủ; 2. A-la-hán vẫn còn một số Vô minh (s: avidyā); 3. A-la-hán còn nghi ngờ về pháp; 4. A-la-hán có thể cần hỗ trợ bên ngoài để giác ngộ; 5. A-la-hán cần những thanh âm đặc biệt mới đạt giải thoát.|Các vị trong nhóm trưởng lão phản đối ý kiến này và ngược lại các vị trong Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) đồng ý như thế. Từ đó sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Sau đó Trưởng lão bộ lại tiếp tục bị chia chẻ trong năm 240 sau Công nguyên ra các nhóm Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya), Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda), Phân biệt bộ (s: vibhajya-vāda).
trưởng lão bộ
Sthāvirā (S), Thera (P)Tha tì lị, Thể tì lí, Thượng tọa, Trụ vịBậc Tỳ kheo xuất gia tu hành lâu năm, đức hạnh đầy đủ (thọ cụ túc giới từ 10 năm trở lên)Xem Thượng tọa.
; Theravada (p)—Way of the Elders—See Theravada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
trưởng lão ni
Therī (P).
trưởng lão ni (tăng) kệ
Therigāthā (P), Verses of the arahat nuns Một trong 15 tập của Tiểu bộ kinh, do các Tỳ kheo ni cảm tác từ đời sống tu hành của mình, nói về các phương pháp đạt đến giác ngộ.
trưởng lão ni kệ
Theo Phật Giáo Nhìn Toàn Diện của Tỳ Khưu Bồ Đề: “Ngày kia Tỳ Khưu Ni Subha vào vườn xoài của Jivaka để nghỉ ngơi vào buổi trưa. Cùng lúc ấy có tên du đãng ở thành Vương Xá đang trong lức tuổi thanh xuân đầy tham dục, thấy ni cô vào rừng thì đâm ra say đắm sắc đẹp diễm kiều của ni cô. Tên du đãng đứng chặn ngang đường không cho ni cô đi tới. Ni cô Subha cố làm cho anh ta hiểu rằng cô là người xuất gia, đã từ khước thế gian, và cảnh cáo anh về những tai hại cũng như nguy cơ của dục lạc, nhưng vô hiệu quả. Lời khuyên của ni cô đã lọt vào tai của người điếc và được ghi lại thành Trưởng Lão Ni Kệ.”—According to The Spectrum of Buddhism written by Bhikkhu Bodhi: “One day Subha, the bhikkhuni, was entering Jivaka's mango grove to relax during moon-time. At that time a certain libertine of Rajagaha, in the lustful prime of youth, seeing her entering the forest, was infatuated by her. He barred the way making it impossible for her to go any further. Subha sought to make him understand that she was one who had renounced and warned him of the bane and curse of sense pleasures, but it was of no avail. Her counsel fell on deaf ears and the dialogue is recorded as Verses in the Therigatha.” 1) Tỳ Khưu Ni Subha đang vào khu vườn xoài xinh đẹp. Một tên du đãng chận ngang giữa đường. Sư Cô nói với hắn như sau—Subha the bhikkhuni was entering the delightful mango grove. A rake barred her way. To him thus spoke Subha: 2) Lỗi gì, tội gì, bần ni đã xúc phạm đến ông mà ông chận đường? Này ông bạn, tôi là một ni cô, đã xuất gia mà chạm đến người nam là phạm giới—What offence, what crime, have I done to you that you bar my way? O friend, it ill beseems an ordained nun to touch a man. 3) Phật Giáo đối với tôi thật vô cùng quý báu và tôi rất mến chuộng. Giới tu tập nào mà Đức Bổn Sư đã ban hành cho Tỳ Kheo Ni, tôi nghiêm túc thọ trì. Không mảy may ô nhiễm, tôi hoàn toàn trong sạch. Tại sao ông lại chận đường tôi?—“The Dispensation of the Buddha is dear and precious to me. What training precepts the Master has ordained for nuns, that I have strictly followed. Free from defilements, purified am I. Why do you stand blocking my way? 4) Tâm của ông đầy những tư tưởng tham dục; tôi thì tâm thanh ý tịnh. Quả tim của ông bị những khát vọng đê hèn khuấy động, tôi không còn dục vọng và dầu đi đâu cũng không ham muốn gì cho cái xác thân phàm tục này. Tại sao ông mãi đứng đó chận đường tôi?—Your mind is all upset with thoughts of lust; I am of pure heart. Your heart all discomposed with vile passions, I passionless and free everywhere from lustful yearnings for this carnal body. Why do you stand thus obstructing my way? ** Tên du đãng trả lời—The libertine thereupon answered: 5) Sư cô đang còn son trẻ, sắc đẹp của sư cô trong trẻo, thân hình đẹp đẽ diễm kiều. Gia nhập Giáo Hội (sống đời thánh thiện) thì có lợi ích gì; hãy lột bỏ đi bộ y vàng. Đến đây, chúng ta hãy thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy bông hoa đang đua nở, hãy tìm thú vui của nhục dục—You are so young, so spotless in beauty, in physique and form so pretty. What profits you to be in the Order (in the Holy Life); doff that saffron-hued robe. Come, let us take delight in the blossoming woodland, seeking our sensual pleasures. 6) Xem kìa, hương thơm ngào ngạt của ngàn hoa đang phảng phất trong gió. Hãy thưởng ngoạn mùa xuân đang tung nở, hớn hở trong niềm vui. Hãy đến đây thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy bông hoa đang đua nở, hãy tìm thú vui trong nhục dục—Look, the fragrance of the flowers is being wafted through the air. Behold the spring (Vasanta tide) is in full bloom, blossoming with joy. Come, let us take delight in flowering woodland, seeking our carnal pleasures. 7) Những ngọn cây đầy bông hoa nghiêng ngả, lả lơi uốn mình trước gió, hình như đang ca hát để đón mừng chúng ta. Nhưng sư cô thì thui thủi vào rừng một mình, làm sao tìm được hạnh phúc trong đó?—The blossoming crests of the trees swayed by the wind are as if they were chanting welcome song. But you who enter the forest alone, how will you find happiness there? 8) Vào trong khu rừng hoang dại, nơi mà thú dữ hằng lui tới, nơi bị khuấy động và luôn luôn phải run sợ trước những thớt voi đi tìm mồi, bốc lên mùi rừng rú dã man, hôi thúi nồng nặc, nơi vắng bóng người và đầy kinh sợ hãi hùng, sư cô muốn vào trong ấy một mình, không ai tháp tùng hay sao?—Into this wild forest, the haunt of ferocious animals, agitated and trembling with marauding elephants reeking with fierce savagery, devoid of all human beings, and emanating terror and fear, do you wish to go there all unaccompanied and alone? 9) Ôi nầy người thiếu nữ đẹp đẽ tuyệt trần! Như pho tượng đúc bằng vàng ròng lộng lẫy sáng chói, như tiên nữ nhảy múa hát ca trong một hoa viên trên cảnh trời, trong bộ y phục làm bằng tơ lụa của thành Ba La Nại cô sẽ đẹp đẽ xinh tươi—Oh, you chanting maiden of matchless beauty! Like a statue wroughtout of shining gold, like a rapturous nymph that frisks and dances about in the celestial garden you would shine radiant draped in elegant clothes of Benares silk. 10) Ôi, thiếu nữ với cặp mắt mơ mộng đẹp như tiên! Tôi sẽ hàng phục dưới quyền uy của cô nếu chúng ta có thể chung sống và cùng nhau trải qua cuộc đời trong khu rừng hoang dại nầy và thọ hưởng dục lạc. Cùng khắp thế gian không có ai dịu hiền và dễ mến như cô (đối với tôi cô còn quí hơn là mạng sống của tôi)—Oh you with half open eyes of an elf! I will go under your sway, if we can live and spend our time together taking delight in the forest and relishing in sensual pleasures. There is no other being in all this world dearer and sweeter to me than you (you are more precious to me than life itself). 11) Nếu cô lưu ý đến những lời của tôi, từ bỏ và lánh xa đời sống độc thân của cô, cùng nhau sống đời tại gia cư sĩ và hưởng thụ nhục dục ngũ trần. Những kiều nữ thướt tha dễ mến sống trong những tòa nhà đẹp đẽ sẽ chăm sóc và cung phụng cô về mọi nhu cầu—If you pay heed to my words, abandon and discard your celibate life, come live and lay life gratifying the appetites of the senses. Lovely maidens dwelling in sheltered mansions will attend on you and minister your every need. 12) Hãy mặc những y phục may bằng hàng lụa ở Ba La nại. Hãy trang điểm với những tràng hoa, và ướp tẩm nước thơm hương bay ngào ngạt. Tôi sẽ thân tặng cô nhiều đồ trang sức đủ loại, với những hạt kim cương lóng lánh sáng ngời—Drape yourself with soft silk clothes of Benares. Adorn yourself with garlands, perfume yourself with aromatics and scents. Ornaments, many and diverse, glittering with precious stones will I bestow on you. 13) Cô sẽ nằm trải mình trên một cái giường ấm cúng tiện nghi và sang trọng, có mùi thơm của gỗ trầm phảng phất, và bao phủ trong một tấm trải giường mới mịn bằng lông trừu êm ấm và gối đầu trên những cái gối dồn bằng lông thiên nga mềm mại, màn trướng mới mẻ tinh anh—You shall lie on a couch, cosy and luxurious, redolent with scented sandalwood, padded with fleecy new coverlets and soft pillows made of swans' feathers and decked with spotless canopies. 14) Dường như hoa sen xinh đẹp và nở tung trong một ao đầm hoang dại (và lặng lẽ tàn tạ không ai màn muốn), cùng thế ấy, cô là một sư cô thanh khiết; thân hình trong trắng, trinh bạch và giữ vẹn tiết tháo, cô sẽ già nua và suy nhược rồi tàn tạ hoại diệt với tuổi già—Like a lotus that springs into bloom in a spirit-haunted lake (and fades away unwanted by any) so do you, a chaste nun; your body pure, virgin and untouched, grows decrepit and feeble and withers away with old age. ** Sư cô Subha hỏi—Then asked Subha the bhikkhuni: 15) Nhìn vào phần trong cơ thể phù du yếu ớt đang suy tàn nầy, ông thấy thích thú? Có gì mà ông xem là dễ mến trong cái thân nhơ bẩn ngạt mùi hôi thúi nầy?—Seeing what part of this fragile, grave-filling body, do you take delight in? What is it that you take as sweet essence in this body, reeking with filth? ** Tên du đãng trả lời—The libertine made answer: 16) Mắt cô giống như mắt của những con hươu rụt rè e sợ; nó tựa như cặp mắt xinh đẹp của bà tiên nữ sống nơi thâm sơn cùng cốc. Nhìn vào đó lòng tôi tê tái tràn đầy khát vọng không thể kềm chế được—Your eyes are like those of the timid gazelle; they are like those of the elf dwelling in the recesses of the mountain. Beholding those eyes of yours, my passions are roused beyond control. 17) Gương mặt sáng ngời của cô chói lọi xinh tươi như một pho tượng vàng rực rỡ. Mắt cô lóng lánh như những tai sen màu đỏ. Nhìn vào lòng tôi run cảm không thể nào kềm chế được—Like the lust of a golden image is your radiant face. Your eyes are like the petals of a red lotus. The sight of them excites my emotions beyond control. 18) Với lông nheo dài của cô! Với cặp mắt trong trẻo và lóng lánh sáng ngời của cô! Dầu cách xa ngàn dậm tôi vẫn chỉ mơ cặp mắt chói dịu ấy. Ôi người có cặp mắt xinh đẹp như các vì tiên nữ trong câu chuyện thần thoại! Trong thế gian nầy không có chi mà tôi yêu quí bằng đôi mắt ngọc của cô—You of the long-drawn eye lashes! You of the eyes so pure, and vivacious! Though you be far from me, I do dream only of your sparkling eyes. O you elf-eyed fairy! There is naught dearer to me than those glittering orbs of yours. ** Sư cô Subha trả lời—Subha thereupon replied: 19) Ông chận đường một người con gái của Đức Phật. Ước vọng của ông cũng điên rồ và vô ích như dấn bước trên con đường nguy hại. Lòng khao khát của ông muốn được tôi cũng dại khờ và vô nghĩa như muốn nhảy vọt lên đỉnh núi Tu Di, hay mong muốn lấy mặt trăng làm món đồ chơi của con người. (Là một ước muốn không bao giờ được thỏa mãn)—You bar the way of a daughter of the Buddha. Your yearning for me is as foolish and futile as treading a dangerous road. Your pinning for me is as stupid and senseless as leaping over Mount Meru or making the moona plaything of man. (It is a desire that can never be fulfilled). 20) Không nơi nào trên thế gian nầy có bất luận cái chi (dầu vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri) mà có thể gợi được lòng tham dục của tôi. Tôi không biết tham dục là gì. Lòng tham dục ấy tôi đã phá tan từ gốc rễ bằng cách vững chắc tiến hành trên con đường cao thượng—Nowhere in this wide world is there any object (animate or inanimate) that could provoke lust in me. I know not what sort of a thing lust is. That lust did I tear up by the roots by following the Noble Path. 21) Ví như vật mình đã vứt bỏ trong đống lửa đang phừng cháy, như chay thuốc độc đã bị hủy diệt, dường thế ấy ngọn lửa tham dục của tôi đã bị dập tắt vĩnh viễn. Tôi không biết (thấy) tham dục là gì—As something discarded to a pit of burning coal, as a pot of poison that is destroyed, so have the fires of my lust been quenched forever. I do not know (see) what lust is. 22) Nếu có thể được hãy đi cám dỗ người đàn bà nào khác mà chưa từng có đủ sáng suốt để trông thấy ngũ uẩn, hoặc người chưa từng liên hệ với Đức Phật. Nơi đây ông chỉ khuấy rầy người nữ tu, một sư cô đã chứng ngộ Tứ Diệu Đế—Tempt you, if possible, some woman who has not seen clearly with insight the five aggrevates, or one who has not associated with the Buddha. You only harass this nun, a nun who has realized the Four Noble Truths. 23) Trước những lời khiển trách và tán dương, trong đau khổ và hạnh phúc, tôi luôn luôn giữ chánh niệm. Như vậy không lúc nào tâm tôi bám víu hay thèm khát điều chi. Tất cả các pháp hữu vi, hiện hữu do duyên sanh, đều giả tạm. Tôi đã hoàn toàn thông suốt điều nầy—My mindfulness do I properly apply in blame and praise, pain and pleasure. Therefore at no time does my mind cling to or hanker after anything. Foul are all conditioned and component things. This I have completely comprehended. 24) Tôi là đệ tử của Đức Phật, người đã vượt thoát ra khỏi mọi thúc dục ô nhiễm, đã tận diệt mọi ái dục bẩn thỉu đê hèn. Lái chiếc xe Bát Chánh Đạo, tôi thẳng tiến đến Niết Bàn. Những mũi tên của tham dục đã được nhổ ra. Tôi tìm những cảnh quạnh hiu cô tịch, đơn độc và thanh khiết để thích thú sống một mình (an hưởng thú vui của rừng núi)—I am a disciple of the Buddha, one who is free from all defiling impulses, bereft of all sordid cravings. Riding the chariot of the Noble Eightfold Path do I go to Nirvana. Pulled out are the arrows of lust. Proceeding to haunts that are lonely and serene. I live there in solitude taking delight in them (enjoying their sylvan serenity). 25) Ôi ta đã thấy những đồ chơi hình giả, tay chân sơn phết với màu mè rực rỡ và những thằng hình bằng gỗ để làm trò chơi múa rối, được nối ráp và khéo léo cột với nhau bằng chỉ và có thể thong thả nhảy múa theo mọi chiều hướng—Oh, I have seen dolls with limbs gaudily painted, pupets made of wood, all cleverly fastened with strings or spindles and made to dance in diverse directions. 26) Nhưng một khi gỗ, chỉ và trục quay đều được tháo gỡ hay nới lỏng và bỏ tung tóe, món ở đây, món ở kia, thì còn đâu là đồ chơi hình giả, đâu là thằng hình múa rối. Có nơi nào trong đó mà ông có thể chú tâm đến?—But once the wood, strings and spindles are all drawn out, loosened and scattered here and there, no dolls and puppets exist any more. When will you in which part fix your mind? 27) Cơ thể nầy của ta cũng dường như thằng hình gỗ đồ chơi. Nó không còn nữa khi các bộ phận vật lý và những phụ tùng của nó không còn. Ngoài những bộ phận và phụ thuộc không còn người sống nữa. Ông sẽ chú tâm vào phần nào?—The body of mine, too, is like a doll. It ceases to exist without its physical organs and attendant attributes. Independence of the organs and attributes no body survives. Where will you in which part fix your mind? 28) Hãy nhìn bức hình vẽ một thiếu nữ trên tường, với cái nhìn sai lạc ông sẽ thấy đó là một người sống. Sự nhận thấy ấy là một ảo ảnh—Beholding a painting of a woman in a fresco you perceive it as a living woman in your perverted vision. That perception of yours is an illusion. 29) Này ông, con người thiển trí! Con người đui mù. Ông cố bám vào thân nầy như vật gì thường còn và thuộc về của ông chăng, trong khi nó vốn chỉ là bọt bèo và bong bóng? Tấm thân phù du tạm bợ nầy tựa hồ như trò chơi của nhà ảo thuật, như một cội cây bằng vàng mà ông thấy trong mộng, một pho tượng bằng bạc mà nhà ảo thuật khéo léo trình bày giữa đám đông, ông có luyến ái nó không?—Oh you simpleton! You are blind. Do you cling to this body which is just froth and bubble, as something permanently belonging to you? This transitory body which is like a conjuror's trick, a golden tree seen in your dream, a silver image shown by a juggler in the midst of a crowd? 30) Mắt nầy chỉ là một hòn bi nhỏ nằm trên một nạng cây, một cái bong bóng đầy nước mắt và tiết ra chất nhờn, một sự pha trộn những màu trắng, đen, và xanh, vân vân, đó là tất cả những gì tạo nên hình dáng của mắt—What is this eye but a little ball lodged in the fork of a tree, a bubble full of tears, excluding slime, a blend of colours, white, black, and blue, etc., all giving the shape and image of an eye. 31) Sư cô Subha không còn luyến ái bất cứ thứ gì; cô không luyến ái cặp mắt. Do đó trong một cảnh tượng rất cảm động, sư cô thình lình hồn nhiên móc tròng mắt ra đưa cho tên du đãng và nói: “Đây là con mắt, con mắt mà ông đắm đuối say mê. Hãy lấy đi!”—Subha was attached to nothing, she had no clinging for her eyes. So she, so lovely to those who beheld her, gouged out her eye in one sudden spontaneous movement, and gave it to him saying: “Here then is this eye, for which you hanker. Take it away!” 32) Tức khắc, lòng tham dục của tên du đãng tan biến. Xin sám hối với sư cô, chàng ta nói: “Ôi, nầy sư cô, bậc thánh thiện và vô nhiễm! Ngưỡng nguyện sư cô được an lành! Ngưỡng nguyện mắt sư cô được hồi phục! Tôi không bao giờ còn dám tái phạm tội ác ghê gớm như vậy nữa—At once the lust in the rake completely vanished. Begging her pardon, he declared: “O you, holy and immaculate one! May you be well! May you recover your sight! Never again will I dare to commit such a heinous crime. 33) Cũng dường như tôi đang đi vào một ngọn lửa đang cháy đỏ. Cũng giống như tôi đang ôm một con rắn độc. Phá khuấy một người hiền lành thánh thiện như sư cô thì ích lợi gì? Cúi xin sư cô khoan dung tha lỗi cho tôi—It is as if I have walked into a blazing flame. It is as ifI have embraced a venomous snake. What good can accrue by molesting a holy one like you? Please do forgive me. 34) Được thoát ra khỏi tay tên du đãõng, sư cô Subha về hầu Phật, bậc Toàn Giác Tối Thượng. Nơi đây, ngưỡng nhìn lên dung nhan lộng lẫy của Đức Thế Tôn, nhãn quang của sư cô liền được hồi phục trong tất cả tình trạng rực rỡ vinh quang của nó—Delivered from the libertine, the bhikkhuni Subha went her way to the Buddha, the Supremely Enlightened One. There, gazing on the divine resplendent features of the Master, her sight was restored to her in all its glory.
trưởng lão tăng kệ
Theragāthā (P), Verses of the arahat monks Một trong 15 tập của Tiểu bộ kinh, gồm 1360 bài kệ do các Tỳ kheo cảm tác từ đời sống tu hành của mình, nói về các phương pháp đạt đến giác ngộ.
trưởng lão vangisa
Vangisa-samyutta (P), Ven. Vangisa Tên một bộ kinh.
trưởng lão xá lợi phất
Elder Sariputra.
Trưởng lão 長老
[ja] チョウロウ chōrō ||| 'Venerable,' as for instance, a term of respect for an elder monk. Tùy trường hợp, là thuật ngữ tỏ lòng kính trọng các vị tăng lớn tuổi.
Trưởng Lại
(長吏, Chōri): vị tăng đứng đầu của một chùa, tương đương với chức Tọa Chủ (座主), Kiểm Hiệu (檢校) hay Biệt Đương (別當). Đặc biệt chức này thường thấy ở Khuyến Tu Tự (勸修寺), Viên Thành Tự (園城寺), Lăng Nghiêm Viện (楞嚴院) vùng Hoành Xuyên (橫川, Yokokawa), v.v.
Trưởng Quan Kami
(長官・守): theo quy chế của Luật Lịnh, đây là chức quan cao nhất trong Tứ Đẳng Quan (四等官) của Nhật ngày xưa. Tuy theo nơi làm việc mà tên gọi của nó khác nhau. Tại Thái Chính Quan (太政官) thì gọi là Đại Thần (大臣), tại Thần Thị Quan (神祇官) là Bá (伯), tại Tỉnh (省) là Khanh (卿), tại Đàn Chánh Đài (彈正台) là Duẫn (尹), tại Phường (坊), Chức (職) là Đại Phu (大夫), ở Liêu (寮) là Đầu (頭), ở Ty (司) là Chánh (正), ở Cận Vệ Phủ (近衛府) là Đại Tướng (大將), ở Binh Vệ Phủ (兵衛府) cũng như Vệ Môn Phủ (衛門府) là Đốc (督), ở tiểu quốc thì được gọi là Thú (守). Từ năm 826 trở đi, những vị được bổ nhiệm làm Trưởng Quan các tiểu quốc Thượng Tổng (上總, Kazusa), Thường Lục (常陸, Hitachi) và Thượng Dã (上野, Ueno) thì được gọi là Thái Thú (太守).
trưởng thành
Adult—To attain (grow into) manhood.
trưởng thượng
Buḍḍhatā (P), Buḍḍhatara (P), Senior, Seniority.
trưởng tôn
Eldest grandson.
trưởng tử
Eldest child.
; Eldest son.
trược
Đục—Turbid—Muddy—Impure. ** For more information, please see Ngũ Trược.
trược kiếp
Thời kỳ ác trược, thời kỳ của bệnh hoạn, nghèo đói và giặc giã—An impure kalpa, the kalpa of impurity, degenerate, corrupt; and age of disease, famine, and war.
trược loạn
Cõi ma quỷ, bất tịnh và không có luật lệ—Impure and lawless, the reign of evil.
trược nghiệp
Nghiệp uế trược sản sanh bởi dục vọng—Contaminated karma, that produced by desire.
trược thế
Cõi đời ngũ trược ác thế—An impure world in its five stages. ** For more information, please see Ngũ Trược.
trược ác thế
Thế giới ta bà ngũ trược—A world of impurity or degeneration. ** For more information, please see Ngũ trược.
trược ác xứ
Cõi Ta Bà thế giới, nơi hoành hành của ngũ trược và thập ác—The present contaminated evil world, which is dominated by the five turbidities and the ten evil deeds.
trược, trọc
Turbid, impure.
trượng
Daṇḍaka (S), Statff Gậy.
trượng lâm
Yaṣṭivana (S)Thân sắt tri (lâm), Già việt lâm, Từ tự lâm, Duệ sắt tri lâmRừng gậy.
; See Thân Nộ Ba Lâm.
Trượng lục
丈六; C: zhàngliù; J: jōroku;|Viết tắc của »Mười sáu bộ«. Hoá thân Phật, với chiều cao khoảng gấp đôi người thường.
trượng phu
Husband. Hero. Man ođ spirit. Hành động của kẻ trượng phu, manly action.
; Purusha (skt). • Một Phật tử nhiệt thành, không ngừng trì giới—A zealous disciple—A man who presses forward unceasingly in observance of Buddhist morality. • Người có tánh linh thượng đẳng: A person who has a supreme spirit.
trượt
To slide—To slip.
Trạc trạc
(濯濯): sáng sủa, chói lọi, vui vẻ.
trạch
Xem Tứ.
; 1) Chọn Lựa—To pick—To select—To choose. 2) Trạch Pháp Giác Phần: Pravicara (skt)—Phần thứ nhì của Thất Bồ Đề Phần, giác phần hay sự phân biệt đúng sai—The second of the seven bodhyanga or dharmapravicara—Discrimination—The faculty of discerning the true from the false—See Thất Bồ Đề Phần. 3) Nhà: Residential part of a palace, or mansion, or residence.
Trạch Am Tông Bành
澤庵宗彭; J: takuan sōhō; 1573-1645;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo jō-myō). Sư không những là một vị Thiền sư lỗi lạc, tinh thông kinh điển mà còn là một nghệ sĩ trứ danh, một thi hào với những tác phẩm còn được nhắc đến ngày nay.|Sư sinh ra trong một gia đình mộ đạo, sớm xuất gia tu học với nhiều vị Thiền sư nổi danh lúc bấy giờ như Hi Tiên Tây Ðường (希先西堂; kisen seidō), Ðổng Phủ Tông Trọng (董甫宗仲; tōho sōchū). Sau, Sư đến học với Thiền sư Nhất Ðống Thiệu Ðích (一凍紹滴; ittō shōteki; 1539-1612) và ngộ đạo nơi đây.|Song song với việc tu tập Thiền, Sư cũng chú tâm đến việc nghiên cứu các môn học thuộc ngoại điển như Nho giáo, Thư đạo (shōdō), thi pháp… Ðặc biệt là những bài dạy cho những vị kiếm sĩ theo Kiếm đạo (kendō) đương thời của Sư thường được nhắc nhở đến, nổi danh nhất là tác phẩm Bất động trí thần diệu lục (不動智神妙錄). Trong những bài khuyên này, Sư phân tích tư tưởng, tâm trạng của một kiếm sĩ theo quan niệm của Thiền tông.
trạch am tông bành
Takuan sōhō (J)Tên một vị sư.
Trạch diệt
擇滅; S: pratisaṃkhyā-nirodha;|Nghĩa là diệt độ bằng trí huệ phân tích, phân biệt đúng sai (trạch); Chấm dứt Ô nhiễm (s: kleśa), đồng nghĩa với Niết-bàn. Trạch diệt là một trong những Pháp Vô vi (s: asaṃskṛta) của Nhất thiết hữu bộ (s: sar-vāstivāda) và Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra). Một loại diệt thứ hai được nhắc đến, đối nghĩa với Trạch diệt là Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha).
trạch diệt
Pratisamkhyanirodha (skt)—Một trong tam vô vi pháp—One of the three Asamskritas: • Niết bàn là diệt pháp do sức lựa chọn của chân trí: Nirvana as a result of the ability to discriminate the true from the false and elimination of desire by means of mind and will. • Niết Bàn là sự đoạn diệt các tham dục xấu nhờ vào trí tuệ và ý chí: Nirvana is the annihilation of evil desires by means of the intellect and will. • For more information, please see Tam Vô Vi Pháp.
Trạch diệt vô vi
xem Ba pháp vô vi.
trạch diệt vô vi
so sor brtags 'gog (T), Pratisaṃkhyā-nirodhasaṁkṛta (S), Prati-saṃkhyā-nirodha (S), Analytical cessation, so sor brtags 'gog (T)Pháp tịch diệt có được do năng lực chọn lựa của chánh trí.
Trạch diệt vô vi 擇滅無爲
[ja] チャクメツム chakumetsu mui ||| In Consciousness-only theory, one of the unconditioned elements (dharmas). The destruction of defilements through the wisdom of awakening. Zemie 擇滅 refers to the proper discrimination of all dharmas through untainted wisdom. When the defilements are cut off by the wisdom of awakening, they never re-arise. "Nirvāna." => Theo giáo lý Duy thức, là một trong 6 vô vi pháp. Là sự diệt trừ nhiễm ô phiền não thông qua trí tuệ giác ngộ. Trạch diệt là nói đến sự phân biệt các pháp thông qua trí tuệ vô lậu. Một khi các phiền não nhiễm ô đã được gạn lọc sạch nhờ trí tuệ giác ngộ, thì chúng không còn sinh khởi nữa. Là “Niết-bàn”.
Trạch diệt 擇滅
[ja] チャクメツ chakumetsu ||| (pratisaṃkhyā-nirodha). The annihīation of defilements through the power of analysis, by the practice of analytical meditation (pratisaṃkhyā, prajñā-viśesa). => (s: pratisaṃkhyā-nirodha). Sự tiêu diệt mọi nhiễm ô phiền não thông qua năng lực phân tích, bằng thực hành pháp thiền định phân tích (s: pratisaṃkhyā, prajñā-viśesa).
trạch lực
Khả năng phân biệt—The power of discrimination.
trạch nhũ nhãn
Sữa trộn lẫn trong nước, mà chỉ uống sữa còn chừa nước lại như nga vương vậy—The power to choose the milk out of watered milk, leaving the water, as Hansaraja, the king of geese, is said to do.
trạch pháp
Dharma-vicaya (S), Dhamma-vicaya (P),Investigation, Distinguishment phân biệt Phân biệt pháp lý nơi mình Một trong thất bồ đề phần: ý, phân biệt, tinh tấn, khả, y, định, hộ.
trạch pháp giác chi
Dharma-pravicayaṅga (S), Dharma factor Một trong Thất giác chi.
; The bodhyanga of discrimination—See Trạch (2).
trạch pháp giác phần tam muội
Dharma-saptabodhyaṅga-samādhi (S)Một trong Thất giác phần Tam muội.
trạch pháp nhãn
The bodhyanga of discrimination—See Trạch (2).
Trạch pháp như ý túc
xem Bốn như ý túc.
trạch thức
Xem A lại da thức.
; Tên khác của A Lại Da Thức—Another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da Thức.
trạch địa
Chọn địa điểm—To select a site.
Trạch 宅
[ja] タク taku ||| (1) Home, house, abode. (2) ālayavijñāna 阿頼耶識. (3) To decide. => 1. Nhà, chỗ ở, trú xứ. 2. A-lại-da thức (s: ālayavijñāna 阿頼耶識). 3.Quyết định.
Trạch 擇
[ja] タク、チャク、ジャク taku, chaku, jaku ||| (1) To select (the good part); to choose; to pick out [選]. (2) To differentiate, to discriminate [差]. (3) Insight, discernment, analytical power. (4) The power of discrimination. => 1. Lựa chọn (cái tốt); tuyển chọn; lựa ra [tuyển 選] 2. Phân biệt, khu biệt. 3. Sự nhận thức sâu xa bên trong sự việc, sự sáng suốt, năng lực phân tích. 4. Năng lực của sự phân biệt.
Trạm
湛; C: zhàn; J: tan;|1. Rót đầy, đầy (ngang miệng); 2. Sự yên tĩnh, lắng dịu; 3. Ấm áp, thân mật; 4. Sâu.
Trạm Không
(湛空, Tankū, 1176-1253): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng đầu thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 3 của Kim Giới Quang Minh Tự (金剛戒光明寺), vị Tổ của Môn Đồ Tha Nga (嵯峨門徒), húy là Trạm Không (湛空), Công Toàn (公全), hiệu là Chánh Tín Phòng (正信房) hay Thánh Tín Phòng (聖信房), xuất thân vùng Kyoto, con của Viên Thật (圓實). Ông theo hầu Thật Toàn (實全) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山) và tu cả Hiển lẫn Mật Giáo, sau đó ông lại quy y theo Nguyên Không (源空) và học Tịnh Độ Giáo. Ông đã từng thọ Viên Đốn Giới với Nguyên Không, Tín Không (信空), và được tương truyền huyết mạch của Kim Giới Quang Minh Tự. Ông có đến sống ở Tha Nga Nhị Tôn Viện (嵯峨二尊院), rồi hoằng truyền pháp môn niệm Phật, và môn lưu của ông thì gọi là Tha Nga Môn Đồ. Vào năm 1212, khi Nguyên Không qua đời, ông đã làm lễ cúng dường trong suốt 21 ngày, đến năm 1233 ông lấy ít hài cốt thầy, dựng bảo tháp ở Nhị Tôn Viện để an trí hài cốt ấy.
Trạm nhiên
湛然; C: zhànrán; J: tanzen;|1. Như thể là đổ đầy nước ngang miệng; 2. Yên tĩnh, lặng lẽ; 3. Sâu; 4. Trạm Nhiên (711-782), Tổ thứ 6 của tông Thiên Thai Trung Hoa.
trạm nhiên
Vị tổ thứ chín của tông Thiên Thai—The ninth patriarch of the T'ien-T'ai School—Trạm Nhiên (717-782) là một đại học giả và là người phục hưng tông phái nầy, bấy giờ đang hồi suy yếu. Một trong những đồ đệ của ông, Đạo Toại là vị tổ kế tiếp và là thầy của Tối Trừng, tức Truyền Giáo Đại Sư, sáng tổ của tông Thiên Thai tại Nhật Bản—Chan-Jan (717-782), was a great scholar and the riviver of the school which was somewhat declining in later years. One of his pupils, Tao-Sui, was the next patriarch and the teacher of Saicho, or Dengyô Daishi, founder of the school in Japan.
Trạm Nhiên Viên Trừng
(湛然圓澄, Tannen Enchō, 1561-1626): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Trạm Nhiên (湛然), biệt hiệu Tán Mộc Đạo Nhân (散木道人), xuất thân Cối Kê (會稽, Tỉnh Triết Giang), sinh ngày mồng 5 tháng 8 năm thứ 40 niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), họ Hạ (夏). Ban đầu, ông làm người đưa thư, sau đến tham học với Ngọc Phong (玉峰), làm người quét nhà xí. Đến năm 24 tuổi, ông theo xuất gia với Diệu Phong (妙峰) ở Tuế Thiên Hoang Sơn (歳天荒山). Sau ông đến tham vấn Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏) và thọ giới Cụ Túc, rồi lại tham yết Nam Tông (南宗). Sau ông lại đến cầu học với Vân Thê lần nữa, vào năm thứ 19 (1591) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đến tham vấn Từ Chu Phương Niệm (慈舟方念) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông khai đường thuyết giáo tại Thọ Hưng Tự (壽興寺), và sau đó từng sống qua các nơi như Vân Môn Truyền Trung Quảng Hiếu Tự (雲門傳忠廣孝寺), Kính Sơn Vạn Thọ Tự (徑山萬壽寺), Đông Tháp Tự (東塔寺) ở Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), Vân Môn Hiển Thánh Tự (雲門顯聖寺), Thiên Hoa Tự (天華寺) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang), Minh Tâm Tự (明心寺), Thọ Thánh Tự (壽聖寺) ở Sơn Âm (山陰, Tỉnh Triết Giang), Mai Dã Di Đà Am (梅野彌陀寺), Bảo Lâm Tự (寳林寺), Thạch Phật Tự (石佛寺) ở Tú Thủy (秀水, Tỉnh Triết Giang), Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Hải Diêm (海塩, Tỉnh Triết Giang), Đại Thiện Tự (大善寺) ở Phủ Thiệu Hưng, Viên Giác Thiền Viện (圓覺禪院) ở Nam Kinh (南京), Diên Thọ Tự (延壽寺), Nhất Túc Am (一宿菴) ở Côn Sơn (崑山, Tỉnh Giang Tô), Đạo Tràng Vạn Thọ Tự (道塲萬壽寺) ở Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), Hoa Nghiêm Tự (華嚴寺) ở Phủ Thiệu Hưng, v.v. Đến ngày mồng 4 tháng 12 năm thứ 6 niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi dời và 43 hạ lạp. Ông có để lại bộ Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục (湛然圓澄禪師語錄) 8 quyển. Đào Thích Linh (陶奭令) soạn bài Cối Kê Vân Môn Trạm Nhiên Trừng Thiền Sư Tháp Minh (會稽雲門湛然澄禪師塔銘).
Trạm nhiên 湛然
[ja] タンゼン tanzen ||| (1) As if filled to the brim with water. (2) Still, quiet. (3) Deep. (4) (pn) Zhanran (711-782). The sixth patriarch of the Tiantai sect in China. => 1. Như thể là đổ đầy nước ngang miệng. 2. Yên tĩnh, lặng lẽ. 3. Sâu. 4. Trạm Nhiên (c: Zhanran ; 711-782), Tổ thứ sáu của tông Thiên Thai Trung Hoa.
Trạm Đường Văn Chuẩn
(湛堂文準, Tandō Monjun, 1061-1115): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Trạm Đường (湛堂), còn gọi là Lặc Đàm Văn Chuẩn (泐潭文準, Rokutan Monjun); xuất thân Phủ Hưng Nguyên (興元府, Tỉnh Thiểm Tây), họ là Lương (梁). Năm lên 8 tuổi, ông theo hầu Hư Phổ (虛普) ở Kim Tiên Tự (金僊寺); rồi sau xuống tóc xuất gia, ông nương theo Lương Sơn Thừa (梁山乘) và thọ Cụ Túc giới tại Thành Đô (城都, Tỉnh Tứ Xuyên). Ông từng đến tham vấn Chơn Như Mộ Triết (眞如慕喆) trên Quy Sơn (潙山), nhưng chẳng khế ngộ; sau đó theo học với Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文) ở Cửu Phong (九峰) và Lặc Đàm (泐潭), cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Thể theo lời thỉnh cầu của Thái Thú Dự Chương (豫章, thuộc Tỉnh Giang Tây) là Lý Cảnh Trực (李景直), ông đến khai pháp tại Linh Nham Tự (靈巖寺); rồi không bao lâu sau thì chuyển đến Lặc Đàm Bảo Phong Tự (泐潭寶峰寺) ở Phủ Long Hưng (粒興府, Tỉnh Giang Tây). Vào ngày 22 tháng 10 năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông thị tịch, hưởng thọ 55 tuổi. Trước tác của ông có Trạm Đường Chuẩn Hòa Thượng Ngữ Yếu (湛堂準和尚語要) 1 quyển, được thâu lục vào trong Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (續古尊宿語要) 1.
Trạm 湛
[ja] タン tan ||| (1) To fill, be filled (to the brim). (2) Peacefulness, settledness. (3) Warmly, cordially. (4) Deep. => 1. Rót đầy, đầy (ngang miệng). 2. Sự yên tĩnh, lắng dịu. 3. Ấm áp, thân mật. 4. Sâu.
Trạng
(狀): là bản văn giải bày sự thật trình lên chư vị Thần, Thánh; theo tục lệ của Đạo Giáo Trung hoa, chỉ dùng để đốt đi, không dùng tuyên đọc. Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam, các bức Trạng vẫn được dùng để tuyên đọc rồi mới đem đốt. Bản văn dùng để trần tình những oan khuất của người mất lên Thiên Đình hay Địa Phủ được gọi là Cáo Âm Trạng (告陰狀). Như trong Hà Điển (何典), hồi thứ 2 có câu: “Thôi Mạng Quỷ cản đáo đương phương Thổ Địa na lí, cáo liễu Âm Trạng (催命鬼趕到當方土地那里、告了陰狀, Thôi Mạng Quỷ đuổi theo đến Thổ Địa phương này vài dặm, đọc xong bản Âm Trạng).” Trong Đạo Giáo, tùy theo đẳng cấp của chư vị thần linh cao thấp mà phân thành 3 loại Trạng: Tấu Trạng (奏狀), Thân Trạng (申狀) và Điệp Trạng (牒狀). (1) Tấu Trạng được dùng cho chư Thần như Tam Thanh (三清), Ngọc Hoàng (玉皇), Câu Trần Tinh Quân (勾陳星官), Tử Vi Đại Đế (紫微大帝), Đông Cực Thái Ất (東極太乙), Nam Cực Trường Sanh Đại Đế (南極長生大帝), Hậu Thổ Hoàng Địa Kỳ (后土皇地祇), Cửu U Bạt Tội Thiên Tôn (九幽拔罪天尊), Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn (朱陵度命天尊), Thập Phương Linh Bảo Thiên Tôn (十方靈寶天尊), Động Uyên Tam Muội Tam Động Thiên Tôn (洞淵三昧三洞天尊), Cửu Thiên Thái Phỏng Quân (九天採訪君), Linh Bảo Tự Nhiên Cửu Thiên Sanh Thần Thượng Đế (靈寶自然九天生神上帝), Tam Thập Nhị Thiên Đế Quân (三十二天帝君), Ngũ Linh Ngũ Lão Ngũ Đế Thiên Quân (五靈五老五帝天君), Mộc Công Tôn Thần (木公尊神), Kim Mẫu Nguyên Quân (金母元君), v.v. (2) Thân Trạng được dùng cho chư vị đẳng cấp thấp hơn như Linh Bảo Tam Sư (靈寶三師), Tam Quan (三官), Nhật Cung Thái Dương Đế Quân (日宮太陽帝君), Nguyệt Cung Thái Âm Đế Quân (月宮太陰帝君), Ngũ Tinh Tứ Diệu Ngũ Đẩu (五星四曜五斗), Nam Đẩu Lục Ty Tinh Quân (南斗六司星君), Bắc Đẩu Cửu Thiên Tinh Hoàng Quân (北斗九天星皇君), Hoàng Lục Viện Tri Viện Chơn Quân (黃籙院知院眞君), Chánh Nhất Tam Sư (正一三師), Tứ Tướng (四相), Tứ Thánh (四聖), Linh Bảo Giám Trai Đại Pháp Sư Chơn Quân (靈寶監齋大法師眞君), Cửu Thiên (九天), Thiên Tào Thái Hoàng Vạn Phuớc Chơn Quân (天曹太皇萬福眞君), Tam Động Kinh Lục Phù Mạng Thượng Thánh Cao Chơn Tiên Linh Tướng Lại (三洞經籙符命上聖高眞仙靈將吏), Tam Thanh Thượng Cảnh Chơn Quân Hoàng Nhân (三清上境眞君皇人), Tam Nguyên Chơn Quân (三元眞君), Thập Chơn Nhân (十眞人), Ngũ Phủ Chơn Tể (五府眞宰), Nam Xương Thượng Cung Thọ Luyện Ty Phủ Chơn Tể (南昌上宮受煉司府眞宰), Ngọc Phủ Ngọc Xu Ngũ Lôi Viện Sứ Chơn Quân (玉府玉樞五雷院使眞君), Thập Phương Vô Cực Phi Thiên Chơn Vương (十方無極飛天眞王), Bắc Âm Huyền Thiên Phong Đô Đại Đế (北陰玄天酆都大帝), Thập Cung Đông Hà Phù Tang Đơn Lâm Đại Đế (十宮東霞扶桑丹林大帝), Tam Nguyên Thủy Phủ Chơn Tể (三元水府眞宰), Bồng Lai Đô Thủy Giám Chơn Nhân (蓬萊都水監眞人), Ngũ Nhạc Thượng Chơn Ty Mạng Tá Mạng Trữ Phó Chơn Quân (五嶽上眞司命佐命儲副眞君), Thanh Hư Động Thiên Tiên Quan (清虛洞天仙官), Địa Phủ Cửu Lũy Thổ Hoàng Quân (地府九壘土皇君), Long Hổ Quân Công Tào Kim Đồng Ngọc Nữ Hương Quan Sứ Giả (龍虎君功曹金童玉女香官使者), Thái Tuế Tôn Thần (太歲尊神), v.v. (3) Điệp Trạng được dùng cho chư vị Thần cấp dưới hơn nữa như Châu Thành Hoàng (州城隍), Huyện Thành Hoàng (縣城隍), Cửu Châu Xã Lịnh (九州社令), các ngục chúa, Thập Phương Đạo Đô Đại Chủ Giả (十方道都大主者), Minh Quan U Lộ Chủ Giả (冥關幽路主者), Ngũ Nhạc Hao Lí Tướng Công (五嶽蒿里相公), Thổ Địa Lí Thành Chơn Quan (土地里域眞官), Phong Đô Lục Đạo Đô Án (酆都六道都案), Tam Giới Chơn Phù Thần Hổ Sứ Giả (三界眞符神虎使者), v.v. Một số Trạng được dùng trong Công Văn Đàn Tràng của Phật Giáo Việt Nam là Trạng Cúng Đảo Bệnh, Trạng Cúng Phù Sứ, Trạng Lục Cung Cúng Khẩm Tháng, Trạng Cúng Quan Sát, Trạng Tống Mộc, Trạng Cúng Tạ Thổ, v.v.
trạng huống
Circumstance—Situation—Condition.
trạng huống thay đổi
Changing circumstances.
trạng huống tâm linh
Mental stage.
trạng thái
State—Condition.
trạng thái căng thẳng
Stressful situation.
trạng thái siêu việt
A supramundane state.
trạng thái tâm thần
A state of mind.
trạo
See Trạo Cử.
trạo cử
Anuddatya (S), Uddhacca (P), Agitation, Haughtiness, Restlessness Xao động Một trong 6 Đại tuỳ phiền não địa pháp có tác dụng khiến tâm xao động.
; Anuddhatya-kukrtya (S). Restlessness, Turmoil. Also Xao động, chao động.
; Những phiền não khiến cho tâm xao xuyến không an tĩnh—Restlessness—Ambitious—Unsettled.
Trạo cử 掉擧
[ja] トウコ tōko ||| (auddhatya). 'restlessness', 'unsettledness, frivolity.' One of the great defilement dharmas listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論 and one of the twenty secondary defilement elements (隨煩惱) in the doctrine of the Yogācāra 瑜伽行派 school. The lack of stillness of the mind due to projection into the past or future. The flightiness of the mind. The Ina-Zbility to focus the mind in stabilization meditation. 〔成唯識論T 1585.31.33b〕 => (s: auddhatya). Tâm hiếu động, tâm trạng không ổn định, tính bông lông. Một trong các đại phiền não địa pháp theo gj A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, và là một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Duy thức. Là tình trạng tâm bất an do phóng vọt suy nghĩ về quá khứ hoặc tương lai. Tính bông lông của tâm. Sự bất lực trong việc tập trung tâm ý qua thiền định.
trạo hối
Anuddatya-kukṛtya (S), Uddhacca-kukkucca (P), Restlessness and worry Xao động, buồn rầu.
; Cái tâm bất mãn hay trạo cử và ăn năn hối hận, cùng với những phiền não khiến cho tâm không an tĩnh—Discontent and regret, ambition and ripening.
trạo hối cái
Uddhacca-kukkucca-āvaraṇa (S)Một trong ngũ cái.
trạo kết
Uddhachcha (S)Lòng bối rối, xao động. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết.
trạo tán
Một trong năm triền cái. Ba nghiệp thân khẩu ý không trong sạch, thường thích lăng xăng huyên náo (Thân trạo là thích du chơi các trò hài hước, không ngồi yên tĩnh được lúc nào; khẩu trạo là thích ngâm nga ca hát, tranh cãi thị phi, làm những cuộc hý luận vô ích bằng những ngôn ngữ thế gian; ý trạo là tâm tính phóng dật, buông thả cho bám vào chư duyên)—One of the five hindrances, unsteady in act, word, and thought; unreliable.
trả
To give back—To return—To refund.
trả công
To pay someone for his services.
trả lời
To respond—To reply.
trả miếng
To return like for like.
trả quả
Karmic transgressions.
trả thù
To revenge—To retaliate
trả ơn
To render thanks to someone.
trải
1) Trải rộng ra: To spread (lay) out. 2) Từng trải: Experienced.
trải lòng từ
To practice loving-kindness.
trải qua
To experience—To spend.
trải qua hằng sa kiếp
Spent untold eons.
trải qua thời gian lâu
Long time elapsed.
Trảm đinh tiệt sắt 斬釘截鐵
[ja] ザンテイセッテツ zantei settetsu ||| Lit. "To cut through nails and steel." The sharp words, wisdom or attitude that cuts away delusion and affliction. => 'Chém đinh chặt sắt'. Lời nói sắt bén, là trí tuệ hay phong thái nhạy bén cắt đứt ngay phiền não mê mờ.
trảo
Móng vuốt—Claws.
trảo tháp
Tháp thờ móng tay móng chân và tóc của Đức Phật do trưởng giả Cấp Cô Độc dựng lên. Đây là khởi thủy của việc dựng tháp trong đạo Phật—A stupa or reliquary, for preserving and honouring the nails and hair of the Buddha, said to be the first Buddhist stupa raised.
trảo thượng
Trảo Độ—Theo Kinh Niết Bàn, số lượng đất mà mình có thể nhét vào đầu móng chân so với số lượng đất trên toàn thế giới, nó ít ỏi ví như sự hiếm hoi được tái sanh làm người hay được nhập Niết Bàn—According to the Nirvana Sutra, the quantity of earth one can put on a toe-nail, i.e. in proportion to the whole earth in the world, such is the rareness of being reborn as a human being, or according to the Nirvana Sutra, of attaining Nirvana.
trảo tịnh
Trái cây, một trong năm loại “tịnh thực”—Nail “cleaned,” i.e. fruit, etc, that can be peeled with the nails, one of the five kinds of clean food.
trảo độ
See Trảo Thượng.
trảo độc
Trường Trảo Phạm Chí (của Độc Tử Bộ); người ta nói rằng những móng tay của ông ta là văn bản và tóc của ông ta là lời thuyết (trảo chương phát luận)—The long-nailed ascetic Brahmacari of the Vatsiputriyah; it is said that his nails were a treatise and his hair a discourse.
trấn
1) Thị trấn: A market town—A town. 2) Trấn giữ: To guard—To protect—To watch over.
Trấn Châu Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền Sư Ngữ Lục
(鎭州臨濟慧照禪師語錄, Chinshūrinzaieshōzenjigoroku): xem Lâm Tế Lục (臨濟錄, Rinzairoku).
Trấn Hộ Quốc Gia
(鎭護國家, chingokokka): cầu nguyện Thần, Phật để tiêu diệt các tại hại và đuổi lui ngoại xâm. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6, Thánh Minh Vương (聖明王) của triều Bách Tế (百濟, Kudara) đem dâng hiến tượng Phật cũng như kinh luận; Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō) lấy thái độ trung lập, khi ấy Tô Ngã Đạo Mục (蘇我稻目, Soga-no-iname) bèn thọ nhận các tượng Phật, v.v (Thị Tộc Phật Giáo). Vào tháng 5 năm thứ 6 (660) đời vua Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō), để đối phó với tình thế quân sự ở bán đảo Triều Tiên, nhà vua đã tiến hành cầu nguyện cho quân ngoại xâm (quân Tân La Triều Tiên và nhà Đường Trung Quốc) rút lui; cho nên Phật Giáo đóng vai trò trấn hộ quốc gia (Quốc Gia Phật Giáo). Người ta tin rằng nếu đọc tụng Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (仁王般若波羅蜜經) thì các quỷ thần sẽ bảo vệ đất nước và đuổi lui ngoại địch. Vào năm thứ 5 (676) đời vua Thiên Võ Thiên Hoàng (天武天皇, Temmu Tennō), để cầu nguyện cho hạn hán tiêu trừ, tại các tiểu quốc tiến hành dâng lụa cho thần, thuyết giảng Kim Quang Minh Kinh (金光明經, thuyết rằng Tứ Thiên Vương ủng hộ quốc gia khỏi bị tại hại và ngoại xâm) cũng như Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經); cho nên Thiên Hoàng nắm quyền chủ đạo làm cho Phật pháp hưng long và quyền thống chế giới Phật Giáo. Tại 4 ngôi chùa lớn (Đại Quan Đại Tự [大官大寺], Dược Sư Tự [藥師寺], Pháp Hưng Tự [法興寺] và Xuyên Nguyên Tự [川原寺]) dưới thời đại kinh đô Đằng Nguyên, các pháp hội cầu nguyện cho Thiên Hoàng hay tai hại tiêu diệt, v.v., được tiến hành thường xuyên. Vào năm thứ 9 (737) niên hiệu Thiên Bình (天平), làn sóng dao động bệnh ghẻ lở và nạn đói cũng như nỗi sợ hãi quân Tân La sang xâm chiếm tràn lan khắp nơi; tại các tiểu quốc lệnh vẽ tượng Thích Ca Tam Tôn và chép Đại Bát Nhã Kinh (大般若經, có lợi ích trừ tai nạn và được phước đức) được ban bố. Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise Jingu) cũng như những đền thờ thần xã ở vùng Trú Cát (住吉) và Vũ Tá (宇佐) lệnh cho các sứ tiết cầu nguyện trấn phục quân Tân La. Trong khi đó, Đạo Từ (道慈) thì giảng Tối Thắng Vương Kinh (最勝王經) ở Đại Cực Điện (大極殿) trong hoàng cung. Vào năm thứ 12 (740) niên hiệu Thiên Bình, Đằng Nguyên Quảng Từ (藤原廣嗣, ) bắt đầu cử binh ở Đại Tể Phủ (大宰府, Dazaifu) và cuộc nỗi loạn ở Cửu Châu (九州, Kyūshū) có khả năng kết hợp với thế lực của quân Tân La. Thấy vậy, Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō) bị sốc nặng, bèn bỏ Bình Thành Kinh (平城京), dời đô về Cung Nhân Kinh (恭仁京); năm sau Thiên Hoàng cho xây dựng tại các tiểu quốc những ngôi Kim Quang Minh Tứ Thiên Vương Hộ Quốc Chi Tự (金光明四天王護國之寺, tức Quốc Phận Tăng Tự) cũng như Pháp Hoa Diệt Tội Chi Tự (法華滅罪之寺, tức Quốc Phận Ni Tự) và cho an trí Kinh Thắng Man (勝鬘經) bằng giấy tím viết chữ vàng vào trong tháp của những ngôi Quốc Phận Tăng Tự. Đến năm đầu (767) niên hiệu Thần Hộ Cảnh Vân (神護景雲), tại các Quốc Phận Tăng Tự có tu pháp sám hối Cát Tường Thiên (吉祥天) để cầu nguyện cho thóc lúa được mùa, triệu dân an lạc và việc này đã được thông lệ hóa, hình thành nên Cát Tường Hội (吉祥會). Như ta đã thấy ở trên, Phật Giáo đóng vai trò cầu nguyện trấn hộ quốc gia đã phát triển tột đỉnh dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara). Trong quá trình các kinh đô như Trường Cương Kinh (長岡京), Bình An Kinh (平安京) được dời chuyển đến nơi khác, những ngôi chùa ở kinh đô cũ cũng di chuyển về kinh đô mới; tuy nhiên, chỉ có trường hợp dời đô của Bình Thành Kinh thì ngoại lệ. Điều này cho thấy rằng từ thời Bình An (平安, Heian) trở về sau, mối quan hệ giữa Phật Giáo và quốc gia càng lạt lẽo dần. Tối Trừng (最澄, Saichō) lấy việc an trí 100 bộ Hiển Giới Luận (顯戒論) và 100 vị tăng Bồ Tát trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) để khẳng định rằng ngôi chùa là thành quách của quốc gia và tuyên xướng tư tưởng Trấn Hộ Quốc Gia, nhưng quy mô của nó không thể sánh với Phật Giáo Trấn Hộ Quốc Gia dưới thời đại Nại Lương. Tuy nhiên, Nhân Vương Hội (仁王會) là một lễ hội rất thịnh hành trong triều đình thời Bình An, cũng thể hiện rõ nét bóng dáng của Phật Giáo Trấn Hộ Quốc Gia.
Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh 鎮護國家三部經
[ja] チンゴコクケサンブキョウ Chingo kokka sanbukyō ||| [Japan] The three state protecting scriptures: The Lotus Sutra 法華經, the Suvarna-prabhāsa-sūtra 金光明經, and the Sutra for Benevolent Kings 仁王經. => (k: Chinho kukka sambu kyŏng, k: Chingo kokka sanbukyō). Ba bộ kinh hộ trì quốc gia: Kinh Pháp Hoa (e: The Lotus Sutra 法華經), Kinh Kim Quang Minh (s: Suvarna-prabhāsa-sūtra 金光明經), và Nhân Vương Kinh (e: Sutra for Benevolent Kings 仁王經).
trấn quốc
Tên của ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, chùa tọa lạc trong thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Tương truyền chùa được xây từ thời vua Lý Nam Đế (544-548), lúc ấy chùa có tên là Khai Quốc Tự. Đến đời vua Lê Thái Tông (1440-1442), chùa được đổi là chùa An Quốc. Đến đời vua Lê Kính Tông (1600-1618), chùa được dời vào hòn đảo Cá Vàng ở giữa Hồ Tây, tức địa điểm hiện nay. Đời vua Lê Hy Tông (1680-1705), chùa được đổi tên là chùa Trấn Quốc. Chùa hiện còn giữ được 14 tấm bia, đáng kể là hai tấm bia, một của Trạng Nguyên Nguyễn Xuân Chính dựng năm 1639, và một của Tiến Sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1815. Trong chùa có nhiều pho tượng đẹp, đặc biệt là tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng—Name of the most ancient temples in Vietnam, located in Hanoi City, North Vietnam. Trấn Quốc is one of the oldest temples in Vietnam. It was said that the temple was built during the period of Emperor Lý Nam Đế from 544 to 548, and previously called Khai Quốc Tự. During the period of Emperor Lê Thái Tông (1440-1442), it was named An Quốc Temple. During the period of Emperor Lê Kính Tông (1600-1618), it was moved to Cá Vàng islet (the Gold Fish Islet) in the middle of Tây Lake (West Lake), its present place. During the period of Emperor Lê Hy Tông (1680-1705), it was renamed again as Trấn Quốc Tự. The temple has still conserved fourteen stelae of which are Expert Nguyễn Xuân Chính's stele built in 1639, and Doctor Phạm Quý Thích in 1815.
trấn thủ
1) See Trấn (2). 2) Vị Thần giữ chùa: A deity who guards or watchs over a monastery.
trấn tĩnh
To control oneself—To settle—To calm.
trấn đầu
xem ca-lưu-ca.
trấn đầu ca
Tinduka (skt)—Cây Hồng—The persimmon.
trấn đầu ca la
Hai loại trái cây—Two kinds of fruits. 1) Trấn Đầu: Thiện quả—Good fruit. 2) Ca La: Độc quả—Poisoned fruit.
trấn định loạn tâm
To calm one's agitated mind.
trấn-đầu-ca
xem ca-lưu-ca.
Trầm
沈; C: shěn; J: jin;|1. Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ; 2. Trở nên yên tĩnh, lặng lẽ; 3. Nặng nề.
trầm
To immerse, sink; heavy.
; 1) Lặn: To sink. 2) Nặng nề: Heavy.
trầm hương
Tàgara (S) Fragant shrub. Aguru (S), the sandal incense. Eagle wood, aloes wood.
; Agaru (skt)—Aloe wood.
trầm không
To sink into emptiness, or uselessness.
; Rơi vào chấp không (Bồ Tát Đại Thừa ở thất địa vào cuối a tăng kỳ thứ hai chuyên tu tập vô tướng quán, trên không có Bồ Đề để mà cầu, dưới không có chúng sanh để mà tế độ. Các Bồ Tát độn căn khiếp nhược chấp trước vào “không tướng” nầy mà bỏ đại hạnh lợi mình lợi người, nên gọi là thất địa trầm không nạn)—To sink into emptiness, or uselessness.
Trầm luân
(沉淪): chìm đắm, đắm chìm. Như trong Đoạn Trường Tân Thanh có câu: “Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.” Hay trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), Ôn Thất Kinh Giảng Xướng Áp Tọa Văn (溫室經講唱押座文), có đoạn: “Sanh tử hải trung cửu trầm luân, bất giác bất tri nghiệp lực dẫn, cấu chướng tiêu trừ kim đỗ Phật, quang chiếu tam thiên thế giới trung (生死海中久沉淪、不覺不知業力引、垢障消除今睹佛、光照三千世界中, trong biển sanh tử mãi đắm chìm, chẳng biết chẳng hay nghiệp lực kéo, tội chuớng tiêu trừ nay thấy Phật, ba ngàn thế giới tỏa hào quang).” Hay trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 29 lại có câu: “Thiết phương tiện dĩ cứu trầm luân, tri pháp giới chi khôi hoành, hành tinh tấn nhi nhiếp giải đãi (設方便以救沉淪、知法界之恢宏、行精進而攝懈怠, bày phương tiện để cứu đắm chìm, biết pháp giới là rộng lớn, hành tinh tấn mà trị lười biếng).” Hoặc trong Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (瑜伽集要焰口施食儀, Taishō Vol. 21, No. 1320) cũng có câu: “Minh quan lộ diểu, khổ hải ba thâm, nhược phi mật chú chi công, hạt tiến trầm luân chi phách (冥關路渺、苦海波深、若非密咒之功、曷薦沉淪之魄, cõi âm nẻo tối, biển khổ sóng sâu, nếu không mật chú công năng, sao cứu đắm chìm hồn phách).”
trầm luân
Asava (S),Effluent
; To sink; to be engulfed, to go down; to immerse oneself in; to be lost in. Trầm luân trong bể khổ, to immerse oneself in the sea of pains and sorrows.
; Universal suffering—To be overload with misfortune.
trầm lặng
Calm—Quiet.
trầm minh
Sunk in the gloom of reincarnation and ignorance.
; Chìm trong biển sanh tử, tối tăm trong cõi vô minh—Sunk in the gloom of reincarnations and ignorance.
trầm miên
Deep in sleep.
trầm một
To sink; to be immersed, lost, in water.
trầm ngâm
Pensive.
trầm nịch
To be infatuated with, to have an infatuation for; to be addicted to. Trầm nịch tửu sắc, to be addicted to drink and women; to indulge in dissipation.
trầm thủy
cũng gọi là trầm hương, Phạn ngữ là agaru. Theo Bổn thảo chú (本草註) thì trầm hương là một loại gỗ quý thơm, thả vào nước thì chìm nên gọi là “trầm thủy”. Trầm hương là một phần đặc biệt trong lõi cây, loại có màu đen rất thơm, rất quý, gọi là “hắc trầm thủy”.
; Aguru (S). Xem trầm hương.
trầm thủy hương
Aguru (skt)—A Già Lư, một loại cây mà gỗ của nó được dùng làm nhang thơm để đốt (lõi chìm gọi là trầm hương, phần chìm một nửa là sạn hương, phần nổi trên mặt nước thì gọi là hoàng thục hương)—Lignum aloe tree the wood of which is used as incense.
trầm trọng
Severe—Serious—Grave.
trầm trồ
To praise.
trầm tĩnh
Calm—Cool.
trầm tư mặc tưởng
Anupassana (P), Contemplation.
; Meditation—To be very thoughtful—Thoughtful—Meditative—To be absorbed in meditation—See Quán Tưởng, and Thiền.
trầm đàn
Agaru or Aguru (skt)—Cây trầm hương và chiên đàn hương—Sandal incense.
Trầm 沈
[ja] ジン jin ||| (1) Sink, be submerged, to disappear, be lost, destroyed, weaken, decline. (2) To become quiet, still. (3) Heavy. => 1. Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ. 2. Trở nên yên tĩnh, lặng lẽ. 3. Nặng nề.
Trần
塵; C: chén; J: jin;|Có các nghĩa sau: 1. Đối tượng của các giác quan. Đồng nghĩa với Cảnh (境, s: artha, visaya, gocara); 2. Vật chất. Thế gian nầy; 3. Bất tịnh, ô nhiễm (s: rajas, pāmsu); 4. Sự nhiễm ô, phiền não (upakleśa); 5. Dơ bẩn, vết dơ, bẩn thỉu, sự rỉ thoát, sự thiếu sót; 6. Vật rất nhỏ, thời phần, vi trần.
trần
Xem dục.
; Dust, small particles; molecules, atoms, exhalation. Atom, matter.
; Guna (skt). (I) Nghĩa của Trần—The meanings of “Guna” 1) Theo Phạn ngữ, guna có nghĩa là một yếu tố phụ, một phần phụ thuộc của ngũ đại, thí dụ như âm thanh là trần và lổ tai là căn: In sanskrit, guna means a secondary element, a quality, an attribute of the five elements, e.g. ether has sabda or sound for its guna and the ear for its organ. 2) Theo Hoa ngữ, trần có nghĩa là một nguyên tố thật nhỏ: In Chinese it means dust, small particles, molecules, atoms, exhalations. It may be interpreted as an atom, or as an active, conditioned principle in nature, minute, subtle. 3) Nói chung “trần” chỉ tất cả sự vật trong thế gian làm nhơ bẩn chân tính: Generally speaking defiling to pure mind; worldly; earthly, the world. 4) Trần có nghĩa là một đối tượng của giác quan hay đối tượng của tâm: Arammana (p)—Alambana (skt)—Also means an object of sense or object of the mind—See Lục Trần. 5) Trần còn có nghĩa là phạm vi, lãnh vực, sự thích thú của giác quan hay đối tượng giác quan: Visayo (p)—Vishaya (skt)—The realm, domain, or indulgence of the senses or an object of senses—See (II) Phân loại “trần”—Categories of “guna” 1) Ngũ Trần: The objects of the five senses. 2) Lục Trần: The six objects—See Lục Trần.
trần ai
Dust.
trần biểu
Bên ngoài của thế giới trần tục hay giáo thuyết nhà Phật—Outside of the secular, i.e. the doctrine of Buddha.
trần châu
Các thế giới nhiều như những nguyên tử hay cát bụi—Worlds as numerous as atoms.
Trần cảnh
(s: artha, 塵境): chỉ đối tượng của tâm là Lục Trần (六塵), gồm sắc (色), thanh (聲), hương (香), vị (味), xúc (觸) và pháp (法); do đó, thế giới hiện thực được gọi là trần cảnh. Trong bài thơ Ký Vệ Minh Phủ (寄衛明府) của Tư Không Thự (司空曙, khoảng 720-790) nhà Đường có câu: “Thúy trúc hoàng hoa giai Phật tánh, mạc giáo trần cảnh ngộ tương xâm (翠竹黃花皆佛性、莫敎塵境誤相侵, trúc biếc hoa vàng đều Phật tánh, chớ bảo trần cảnh mê lầm nhau).” Hay trong Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48, No. 2016) quyển 29 lại có đoạn: “Nhược minh Phật tri kiến, khai ngộ bản tâm, cánh hữu hà trần cảnh nhi năng chướng ngại hồ (若明佛知見、開悟本心、更有何塵境而能障礙乎, nếu rõ tri kiến Phật, khai ngộ bản tâm, lại có trần cảnh nào có thể làm chướng ngại được chứ ?).” Hoặc trong Cao Lệ Quốc Phổ Chiếu Thiền Sư Tu Tâm Quyết (高麗國普照禪師修心訣, Taishō Vol. 48, No. 2020) cũng có đoạn: “Chư pháp như mộng, diệc như huyễn hóa, cố vọng niệm bổn tịch, trần cảnh bổn không (諸法如夢、亦如幻化、故妄念本寂、塵境本空, các pháp như mộng, cũng như huyễn hóa, nên vọng niệm vốn vắng lặng, trần cảnh vốn không).”
trần cảnh
Āyatana (S), Sense-fields, kye che (T)Thập nhị xứGồm: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.
; The environment of the six gunas or qualities of sight, sound, smell, taste, touch and thought.
; 1) Bụi trần: Worldly dust. 2) Hoàn cảnh xung quanh: World—Environment. 3) Cái đối lại với tâm sở của lục trần như sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp (do trần cảnh tác động vào sáu căn mà làm cho mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân thể đụng chạm, và ý suy xét): The environment of the six gunas or qualities of sight, sound, smell, taste, touch, and thought.
Trần cấu
塵垢; C: chéngòu; J: jin'ku; |Các đối tượng của giác quan không lành mạnh; Tuỳ phiền não (s: upakleśa).
trần cấu
Material, or phenomenal defilement; the defilement of the passions.
; Tên gọi chung của phiền não (cảnh trần nhơ bẩn nhập vào căn làm cho thân tâm nhơ bẩn mà gây nên phiền não)—Material, or phenomenal defilement; the defilement of the passions.
Trần cấu 塵垢
[ja] ジンク jin'ku ||| Objective filth; defilement (upakleśa). => Các đối tượng của giác quan không lành mạnh; nhiễm ô (s: upakleśa).
trần duyên
The circumstances or condition environing the mind created by the six gunas.
; Cảnh của lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là những sở duyên làm nhơ bẩn tâm tính; hay sự phối hợp giữa lục căn và lục trần, mà lục trần là yếu tố chính—The circumstances or conditions environing the mind created by the six gunas. Conditioning environment and natural powers in which environment plays a main role.
trần dục
The desires connected to the six gunas.
; Dục vọng liên hệ tới lục trần—The desires connected with the six gunas.
Trần giới
塵芥; C: chénjiè; J: jinke; |Bụi, bẩn, bả rác; vật vô giá trị.
Trần giới 塵芥
[ja] ジンケ jinke ||| Dust, dirt, trash; insignificant rubbish. => Bụi, bẩn, bả rác; vật vô giá trị.
Trần hoàn
(塵寰): trần thế, thế gian, cõi đời. Trong bài thơ Tống Lý Thành Môn Bãi Quan Quy Tung Dương (送李城門罷官歸嵩陽) của Quyền Đức Dư (權德輿, 759-818) nhà Đường có câu: “Quy khứ trần hoàn ngoại, xuân sơn quế thọ tùng (歸去塵寰外、春山桂樹叢, Đi về ngoài cõi thế, xuân núi quế xanh um).” Hay như trong bài từ Vĩnh Ngộ Lạc (永遇樂), Túc Âu Minh Hiên (宿鷗盟軒) của Trương Nguyên Cán (張元幹, 1091-1170) nhà Tống có đoạn rằng: “Thùy nhân trước nhãn, phóng thần bát cực, dật tưởng ký trần hoàn ngoại (誰人著眼、放神八極、逸想寄塵寰外, ai người có mắt, hãy phóng thần ra tám hướng, nhàn tưởng mình đang ở ngoài trần thế [đã chết]).” Từ đó có cụm từ “tản thủ trần hoàn (撒手塵寰)” có nghĩa là buông tay, thỏng tay lìa xa khỏi trần thế, tức là qua đời, chết.
; 塵寰; C: chénhuán; J: jinkan; |Cõi nhiễm ô, thế giới khách quan. Đồng nghĩa với Trần cảnh (塵境).
Trần hoàn 塵寰
[ja] ジンカン jinkan ||| The defiled realm, or objective realm. Synonymous with . => Cõi giới nhiễm ô, thế giới khách quan. Đồng nghĩa với Trần cảnh塵境.
trần hương
The native place or home of the six gunas, i.e. that of transmigration.
; Quê hương của lục trần hay cõi luân hồi sanh tử—The native place or home of the six gunas, i.e. that of transmigration.
trần khí dược
Còn gọi là Hủ Lạn Dược, hay loại thuốc thối rữa (Các nhà cựu luật Nam Sơn dựa vào Tăng Kỳ Luật mà cho rằng đây là nước tiểu và phân)—Purgative medicines.
Trần lao
(塵勞): tên gọi khác của phiền não, tức phiền não của Ngũ Dục (五欲, gồm sắc dục, thanh dục, hương dục, vị dục và xúc dục) và Lục Trần (六塵, gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp). Như trong Ảnh Hưởng Tập (影響集, CBETA No. 1209) có đoạn: “Nhất cú Di Đà tuệ nguyệt lâm, Như Lai hộ niệm thiện căn thâm, kính đăng bất thối xu An Dưỡng, cấu tập trần lao tổng bất xâm, nhất cú Di Đà tín khả trân, kim dung Phật ảnh hiện ngô tâm, thử sanh mỗi yếm Ta Bà khổ, diêu tưởng hoa trì bảo thọ lâm (一句彌陀慧月臨、如來護念善根深、徑登不退趨安養、垢習塵勞總不侵、一句彌陀信可珍、金容佛影現吾心、此生每厭娑婆苦、遙想花池寶樹林, một câu Di Đà trời tuệ quang, Như Lai hộ niệm căn lành sâu, đường đi chẳng thối về An Dưỡng, dơ bẩn bụi trần thảy không xâm, một câu Di Đà tin tận cùng, thân vàng bóng Phật hiện trong tâm, đời này thường chán Ta Bà khổ, xa nhớ hồ sen cây báu rừng).” Hay như trong bài Thỉnh Phật Văn (請佛文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 3 cũng có câu: “Bát vạn trần lao câu nhất tảo, bách thiên công đức hiện Tam Thừa, như Cam Lồ nhi ốc tâm, tợ Đề Hồ nhi quán đảnh (八萬塵勞俱一掃、百千功德現三乘、如甘露而沃心、似醍醐而灌頂, tám vạn trần lao đều quét sạch, trăm ngàn công đức hiện Ba Thừa, như Cam Lồ rót vào tâm, tợ Đề Hồ rưới đỉnh đầu).”
; (塵勞): tên gọi khác của phiền não (s: kleśa, p: kilesa, 煩惱); các phiền não như Tham, Sân, Si, v.v., làm nhơ nhớp chơn tánh, lầm cho thân tâm mệt mỏi, điên loạn; nên gọi là trần lao. Như trong Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (慈悲道塲懺法, Taishō Vol. 45, No. 1909) quyển 5, phần Giải Oán Thích Kết (解怨釋結) thứ 3, có đoạn: “Nhất niệm chi gian, khai bát vạn tứ thiên trần lao môn, huống phục nhất nhật, sở khởi chúng tội, nhất nguyệt nhất niên, chung thân lịch kiếp, sở khởi chúng tội (一念之間、開八萬四千塵勞門、況復一日、所起眾罪、一月一年、終身歷劫、所起眾罪, chỉ trong một niệm, mở tám vạn bốn ngàn cửa trần lao, huống trong một ngày, sanh khởi các tội, một tháng một năm, suốt đời muôn kiếp, sanh khởi các tội).” Hay trong Kỳ Viên Chánh Nghi (祇園正儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1233) cũng có đoạn: “Phù xuất gia giả, vi yếm trần lao, cầu thoát sanh tử, hưu tâm tức niệm, đoạn tuyệt phàn duyên, cố danh xuất gia (夫出家者、爲厭塵勞、求脫生死、休心息念、斷絕攀緣、故名出家, phàm xuất gia là, chán ghét trần lao, cầu thoát sanh tử, dừng tâm dứt niệm, chặt đứt các duyên, nên gọi xuất gia).” Hoặc trong Ngự Tuyển Ngữ Lục (御選語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1319) lại có đoạn: “Đương dụng đại trí tuệ đả phá Ngũ Uẩn phiền não trần lao, như thử tu hành, định thành Phật đạo (當用大智慧打破五蘊煩惱塵勞、如此修行、定成佛道, phải dùng trí tuệ lớn phá tan phiền não trần lao của Năm Uẩn, tu hành như vậy, quyết thành Phật đạo).”
; 塵勞; C: chénláo; J: jinrō; |1. Phiền não làm hao tổn tâm trí. »Nhiễm ô«. Sự nhiễm ô tâm thức khiến liên tục luân hồi sinh tử; 2. Bị nhiễm ô bởi phiền não.
trần lao
The trouble of the world, the passions.
; 1) Làm việc vất vả mệt nhọc: Worldly toil—Dusty toil—Secular work. 2) Tên khác của phiền não: Another name for illusion, the trouble of the world, the passions.
Trần lao 塵勞
[ja] ジンロウ jinrō ||| Affliction that fatigues the mind. 'Defilement.' The pollution of the mind that causes it to continue transmigrating through life and death. (2) To be defiled by affliction. => 1. Phiền não làm hao tổn tâm trí. 'Nhiễm ô'. Sự nhiễm ô tâm thức khiến liên tục luân hồi sinh tử. 2. Bị nhiễm ô bởi phiền não.
Trần lung
(塵籠): lồng trần, tức ám chỉ sự trói buộc của trần thế. Như trong bài thơ Túc Chung Nam Sơn Hạ Bách Tháp Viện (宿終南山下百塔院) của Tô Thuấn Khâm (蘇舜欽, 1008-1048) nhà Tống có câu: “Khu mã sơn tiền phỏng cổ tung, tăng cư tiêu sái cách trần lung (驅馬山前訪古蹤、僧居蕭灑隔塵籠, giục ngựa lên núi thăm dấu xưa, tăng sống thoát tục xa trần gian).” Hay trong bài thơ Trương Công Động (張公洞) của Lý Thê Quân (李栖筠, 719-776) nhà Đường cũng có câu: “Ngã bổn Đạo môn tử, nguyện ngôn xuất trần lung (我本道門子、願言出塵籠, ta vốn Đạo môn kẻ, nguyện ra khỏi lồng trần).” Hoặc trong Phổ Am Ấn Túc Thiền Sư Ngữ Lục (普菴印肅禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1356) quyển 1, bài Dữ Lễ Lăng Chân Như Cư Sĩ (與醴陵眞如居士), lại có đoạn: “Thông nhất vạn sự tất, chung bất bị trần lung, phi trần thể bất động (通一萬事畢、終不被塵籠、非塵體不動, thông một muôn sự hết, rốt chẳng bị lồng trần, không thể trần chẳng động).”
trần lụy
The passion karma, which entangles the mind.
; 1) Những khổ lụy của cuộc đời: Pains of life. 2) Nghiệp của dục vọng làm rối loạn tâm trí: The passion-karma which entangles the mind.
trần na
Dignāga (S), Māha-dignāga (S), Diṅnāga (S)Đồng Thụ, Vực Long 1- Trần Na phái: Từ phái Du già tách ra. 2- Ngài Trần Na, khai tổ Trần Na phái, hoàn thành môn hôc Nhân Minh Lý luận và tuyên dương A lại da duyên khởi luận.
; Dignaga, or Dinnaga (skt). 1) Tên một vị Bồ Tát, còn gọi là Đồng Thọ hay Vực Long, người miền nam Ấn Độ, sanh ra trong một gia đình Bà La Môn. Lúc đầu ngài tu theo Độc Tử Bộ (Vatsiputriya), rồi sau tự mình ngã theo giáo lý Đại Thừa. Lúc ngài lưu lại đại tu viện Na Lan Đà, ngài đã đánh bại lý luận của một nhà luận lý nổi tiếng Bà La Môn tên là Sudurjaya trong một cuộc tranh luận tôn giáo. Ngài cũng chu du đến Odivisa (Orissa) và Maharattha và có các cuộc tranh luận với các học giả ở đây. Ngài là một đại luận sư về Nhân Minh Chính Lý, vào khoảng từ năm 500 đến 550 sau Tây Lịch. Ngài là sơ tổ của tông Nhân Minh. Trong lịch sử luận lý học của Phật giáo, tên tuổi của Trần Na chiếm một vị trí nổi bật. Ngài là người sáng lập ra lý luận Phật giáo, được gọi là cha đẻ của luận lý học Trung cổ. Ngài được xem là tác giả của khoảng trên 100 bộ luận về luận lý học. Hầu hết các bộ luận nầy hiện còn được lưu lại qua các bản dịch chữ Hán. Theo Nghĩa Tịnh thì những bộ luận của Trần Na được dùng làm sách giáo khoa về lý luận vào thời của ông. Trong số các tác phẩm quan trọng của Trần Na có cuốn Tập Lượng Luận (Pramanana-samuccaya), tác phẩm vĩ đại nhất của ngài, Nhân Minh Nhập Chính Lý Luận (Nyaya-pravesa), và nhiều bộ khác: A native southern India, in a Brahmin family. He was the great Buddhist logician, around 500-550 A.D., founder of the new logic. In the history of Buddhist logic, the name of Dinnaga occupies a pre-eminent place. He is the founder of Buddhist logic and has been called the Father of Medieval Nyaya as a whole. He was first a Hinayanist Buddhist of the Vatsiputriya sect and later devoted himself to the teachings of Mahayanism. When he stayed at the Nalanda Mahavihara, he defeated a Brahmin logician named Sudurjaya in a religious discussion. He also toured the provinces of Odivisa (Orissa) and Maharattha, holding religious contests with scholars. Dinnaga is credited with the authorship of about a hundred treatises on logic. Most of these are still preserved in Chinese translations. I-Ch'ing says that Dinnaga's treatises on logic were read as text-books at the time of his visit to India. Among the most important works of Dinnaga are the Pramanana-samucaya, his greatest work, theNyaya-pravesa, the Hetucakra-damaru, the Pramana-sastra-nyayapravesa, the Alambana-pariksa and several others. 2) Còn được biết như là bậc lướt thắng tất cả, đây cũng là danh hiệu của Đức Phật: He is also known as Jina, the victorious, the overcomer, a title of a Buddha.
trần na la
Dinara (skt)—Đồng tiền Đi Na của các xứ Trung Đông—A coin—A gold coin (used in the Middle-East countries).
Trần Nhân Tông
陳仁宗; 1258-1308; cũng được gọi là Trúc Lâm Ðầu Ðà (竹林頭陀), Ðiều Ngự Giác Hoàng (調御覺皇);|Thiền sư Việt Nam uyên thâm, đạt đạo và cũng là một nhà vua xuất sắc, từng đánh bại quân Nguyên. Sư khai sáng phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, được tôn là Ðệ nhất tổ của phái này.|Ông là vua thứ ba nhà Trần, tên huý là Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông.|Năm 16 tuổi, ông được lập Hoàng Thái tử. Cố nhường lại chức này cho em nhưng không được, ông trốn triều đình vào núi Yên Tử tu học. Ðến chùa Tháp ở núi Ðông Cứu thì trời vừa sáng, ông bèn vào trong nghỉ. Thấy dung mạo của ông khác thường, vị trụ trì chùa này ân cần làm cơm thiết đãi. Hay tin, vua cha liền sai quan thỉnh ông trở về cung điện.|Năm lên 21, ông lên ngôi Hoàng Ðế. Mặc dù ở địa vị cùng tột nhưng ông vẫn giữ mình thanh tịnh, thường ăn chay. Vì bẩm chất thông minh nên ông sớm tinh thông nội (kinh luận) lẫn ngoại điển. Lúc rỗi, ông thường hay mời các bậc hiền triết đến luận đạo, tôn Huệ Trung Thượng sĩ làm thầy và cũng ngộ huyền chỉ của thầy mình.|Năm 1293, ông truyền ngôi lại cho con là vua Anh Tông và chỉ sáu năm sau đó, vào năm 1299, ông chính thức xuất gia và sau được xem là người thừa kế chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu.|Sư trở thành Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm, là một dòng Thiền mạnh mẽ thời bấy giờ, có tính nhập thế. Tổ thứ hai của dòng Trúc lâm là Thiền sư Pháp Loa, là truyền nhân chính của Sư.|Nhân một buổi pháp hội tại chùa Sùng Nghiêm tại núi Chí Linh, Sư thượng đường bảo: »Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện trong đời, 49 năm mấp máy đôi môi mà chưa nói lời nào. Ta nay vì các ông lên toà, sẽ nói cái gì đây?« Rồi Sư sang ngồi bên giường thiền, đánh một tiếng chuông và ngâm kệ:|Thân như hô hấp tĩ trung khí|Thế tự phong hành lãnh ngoại vân|Ðỗ Quyên đề đoạn nguyệt như trú|Bất thị tầm thường không quá xuân|*Thân như hơi thở ra vào mũi|Ðời giống mây trôi đỉnh núi xa|Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng|Ðâu được ngày xuân để luống qua!|Một vị tăng hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư đáp: »Chấp nhận như xưa là không đúng.« Tăng hỏi: »Thế nào là pháp?« Sư đáp: »Chấp nhận như xưa là không đúng.« Tăng hỏi: »Thế nào là tăng?« Sư đáp: »Chấp nhận như xưa là không đúng.« Tăng hỏi: »Rốt cuộc như thế nào?« Sư đáp:|»Bát tự đả khai phân phó liễu|Cánh vô dư sự khả trình quân.«|»Tất cả mở toang trao hết sạch|Ðâu còn việc chi nói cùng người.«|Một vị khác bước ra hỏi: »Thế nào là Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp?« Sư dùng bài kệ trong kinh Kim cương đáp:|»Bằng dùng sắc gọi ta|Âm điệu nhận ra ta|Người ấy hành tà đạo|Ắt chẳng thấy được ta«|Hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư đáp: »Tấm cám dưới cối.« Hỏi: »Thế nào là ý của Tổ sư từ Tây sang?« Sư đáp: »Bánh vẽ.« Hỏi: »Thế nào là Ðại ý Phật pháp?« Sư đáp: »Cùng hầm, đất không khác.« Hỏi: »Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu ›Con chó có Phật tính không.‹ Triệu Châu nói ›Không‹, là thế nào?« Sư đáp: »Nước biển hoà muối mặn, màu lá rặt sơn xanh.« Hỏi: »› Câu hữu câu vô như dây leo‹, là thế nào?« Sư đáp bằng kệ Hữu cú vô cú (Băng Thanh dịch):|有句無句。藤枯樹倒。幾個衲僧。撞頭磕腦|有句無句。體露金風。殑伽沙數。犯刃傷鋒|有句無句。立宗立旨。打瓦鑽龜。登山涉水|有句無句。非有非無。刻舟求劍。索驥按圖|有句無句。互不回互。笠雪鞋花。守株待兔|有句無句。自古自今。執指忘月。平地陸沉|有句無句。如是如是。八字打開。全無巴鼻|有句無句。顧左顧右。阿刺刺地。鬧聒聒地|有句無句。忉忉怛怛。截斷葛藤。彼此快活|Hữu cú vô cú, đằng khô thụ đảo|Kỉ cá nạp tăng, chàng đầu hạp não|Hữu cú vô cú, thể lộ kim phong|Căng già sa số, phạm nhẫn thương phong|Hữu cú vô cú, lập tông lập chỉ|Ðả ngỏa toản quy, đăng sơn thiệp thuỷ|Hữu cú vô cú, phi hữu phi vô|Khắc chu cầu kiếm,* sách kí án đồ|Hữu cú vô cú, hỗ bất hồi hỗ|Lạp tuyết hài hoa, thủ chu đãi thố|Hữu cú vô cú, tự cổ tự kim|Chấp chỉ vong nguyệt, bình địa lục trầm|Hữu cú vô cú, như thị như thị|Bát tự đả khai, toàn vô ba tĩ|Hữu cú vô cú, cố tả cố hữu|A thích thích địa, náo quát quát địa|Hữu cú vô cú, đao đao đát đát|Tiệt đoạn cát đằng, bỉ thử khoái hoạt.|*Câu hữu câu vô, dây khô cây đổ|Mấy gã thầy tu, dập đầu trán vỡ|Câu hữu câu vô, gió vàng thể lộ|Vô số cát sông, kiếm đâm dao bổ|Câu hữu câu vô, lập chỉ lập tông|Dùi rùa đập ngói, trèo núi lội sông|Câu hữu câu vô, chẳng vô chẳng hữu|Khắc thuyền tìm gươm,* so tranh tìm ngựa|Câu hữu câu vô, tác động lại qua|Nón tuyết hài hoa, ôm cây đợi thỏ|Câu hữu câu vô, dù xưa dù nay|Quên trăng nắm ngón, chết đuối bên bờ|Câu hữu câu vô, là thế là thế|Tám chữ mở ra, không còn khó nghĩ|Câu hữu câu vô, ngó phải ngó trái|Thuyết lí ồn ào, liến láu tranh cãi|Câu hữu câu vô, rầu rầu rĩ rĩ|Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui vẻ.|*Khắc chu cầu kiếm (刻舟求劍): Sách Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋) nhắc đến một người nước Sở qua đò. Anh ta giữa sông đánh mất cây kiếm, bèn đánh dấu vào mạn thuyền. Khi thuyền đến bờ, anh ta nhảy xuống, theo dấu đã khắc ở mạn thuyền mà tìm kiếm. Chữ »Kiếm khách« trong bài kệ ngộ giải của sư Linh Vân Chí Cần có lẽ cũng chỉ vị kiếm khách qua sông này.|Ngày mồng một tháng 11 năm 1308, lúc nửa đêm, Sư hỏi thị giả Bảo Sát: »Bây giờ là giờ gì?« Bảo Sát thưa: »Giờ Tí.« Sư giô tay mở cửa sổ ngắm trời nói: »Ðây là lúc ta đi.« Bảo Sát hỏi: »Tôn đức đi đâu?« Sư đáp:|一切法不生。一切法不滅|若能如是解。諸佛常現前|何去來之了也|»Nhất thiết pháp bất sinh|Nhất thiết pháp bất diệt|Nhược năng như thị giải|Chư phật thường hiện tiền|Hà khứ lai chi liễu dã«|*»Tất cả pháp không sinh|Tất cả pháp không diệt|Nếu hiểu được như thế|Chư Phật thường hiện tiền|Có chi là đi lại!«|Bảo Sát lại hỏi: »Nếu như không sinh không diệt thì sao?« Sư đưa tay bụm miệng Bảo Sát nói: »Chớ nói mê!« rồi nằm theo thế sư tử an nhiên thị tịch. Vua Trần Anh Tông tôn hiệu Ðại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Ðầu-đà Tịnh Huệ Giác Hoàng Ðiều Ngự Tổ Phật, chia Xá-lị thành hai phần, một phần cất thờ tại bảo tháp ở khu đất Ðức Lăng ở Hưng Long, một phần cất vào Huệ Quang Kim tháp tại chùa Vân Yên (nay là Hoa Yên) trên núi Yên Tử.|Trần Nhân Tông đã để lại các tác phẩm quan trọng như Thiền lâm thiết chuỷ ngữ lục, Trúc lâm hậu lục, Thạch thất mị ngữ, Ðại hương hải ấn thi tập, Tăng-già toái sự. Sư chẳng những là một vị Thiền sư uyên bác mà còn là một thi sĩ tuyệt vời với những bài thơ mang đậm thiền vị, gợi cho người đọc một cảm giác xuất trần. Sau đây là hai bài thơ của Sư nói về xuân, có thể hiểu là mùa »Xuân trong cửa Thiền«:|Xuân cảnh 春景|楊柳花深鳥語遲。畫堂簷影暮雲飛|客來不問人間事。共倚欄杆看翠微|Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì|Hoạ đường thiềm ảnh mộ vân phi|Khách lai bất vấn nhân gian sự|Cộng ỷ lan can khán thuý vi.|*Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày,|Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.|Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,|Cùng tựa lan can nhìn núi mây.|(Huệ Chi dịch)|Xuân vãn 春晚|年少何曾了色空。一春心在百花中|如今勘破東皇面。禪板蒲團看墜紅|Niên thiếu hà tằng liễu sắc không|Nhất xuân tâm tại bách hoa trung|Như kim khám phá Ðông hoàng diện|Thiền bản, bồ đoàn khán truỵ hồng.|*Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,|Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng.|Chúa xuân nay đã thành quen mặt,|Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng.|(Ngô Tất Tố dịch)
trần nhân tông (1258-1308)
Theo Thiền Sư Việt Nam của Thiền sư Thích Thanh Từ, Ngài sanh năm 1258, con Vua Trần Thái Tông. Lúc thiếu thời Ngài được vua cha cho theo học thiền với Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngày nọ Ngài hỏi Thầy về bổn phận của một người tu thiền. Tuệ Trung đáp: “Phản quang tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” Có nghĩa là hãy soi lại chính mình là phận sự gốc, chứ không từ bên ngoài mà được. Từ đó Ngài thông suốt và tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy. Năm hai mươi mốt tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng Đế, hiệu là Trần Nhân Tông. Khi quân Mông Cổ xâm lăng nước ta, ngài đích thân cầm quân diệt giặc, đến khi thái bình Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, rồi lui về thực tập thiền với Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuy nhiên, lúc ấy Ngài vẫn còn làm cố vấn cho con là vua Trần Anh Tông. Đến năm 1299, Ngài rời bỏ cung điện để đi vào ẩn tu như một nhà tu khổ hạnh trong núi Yên Tử. Nơi đây Ngài thành lập Tăng đoàn và khuyên họ nên lấy câu dạy của Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ mà tu hành. Ngài được tôn làm Sơ Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử—According to the Vietnamese Zen Masters written by Zen Master Thích Thanh Từ, he was born in 1258 A.D., son of King Trần Thánh Tông. When he was young, his father sent him to practice Zen with Zen Master Tuệ Trung Thượng Sĩ. One day he asked his Master about the obligation of a Zen practitioner. Tuệ Trung responded: “Looking inward to shine up oneself is the main duty, not following anything outward.” Since then, he thoroughly understood his duty as a Zen practitioner and honored Tuệ Trung as his master. He became King when he was twenty-years of age. When the Mongolian invaded Vietnam in 1283 and 1287, he led his armed forces to bravely defeat the Mongolian aggressors. When the peace restored, he relinquished the throne to his son in 1293, and spent more time to practice Zen with Tuệ Trung Thượng Sĩ. However, he still tutored his son, the young king Trần Anh Tông. In 1299 he left the royal palace to go to Yên Tử Mountain, living and practicing as an ascetic monk. Here he organized the Sangha and advised them to follow the advice of Tuệ Trung Thượng Sĩ to lead their life of cultivation. He was honored as the First Patriarch of Trúc Lâm Yên Tử Zen Sect.
Trần phân
(塵氛): hơi khí ô nhiễm, hơi khí nhớp, tục khí. Từ đó nó có nghĩa là sự vướng bận của trần tục, tục niệm. Như trong Từ Bi Địa Tạng Bồ Tát Sám Pháp (慈悲地藏菩薩懺法, CBETA No. 1487) quyển Trung có câu: “Thường văn Ngũ Phận chi hương, xả sanh thọ sanh, vĩnh ly sanh tử xú uế chi khí, đốn tuyệt trần phân (常聞五分法身之香、捨生受生、永離生死臭穢之氣、頓絕塵氛, thường nghe Năm Món hương thơm, xả sống thọ sống, mãi lìa sanh tử nhơ nhớp tà khí, dứt hẳn bụi trần).”
Trần sa
塵沙; C: chén shā; J: jinja; |»Bụi và cát«, nghĩa là »nhiều như cát bụi«. Theo giáo lí tông Thiên Thai, thuật ngữ nầy nói đền sự thử thách mà Bồ Tát phải đương đầu với vô số tri thức cũng như sự vận dụng rất chi tiết trong hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.
trần sa
Dust and sand, i.e. numberless.
; Nhiều vô số kể như bụi trần và cát. Một trong ba mê hoặc mà Tông Thiên Thai lập ra gọi là trần sa, hay những chướng ngại mà Bồ Tát gặp phải trên đường giáo hóa chúng sanh nhiều vô số kể; còn có nghĩa là pháp môn mà Bồ Tát dùng để giáo hóa chúng sanh thông đạt có nhiều như cát bụi (nhưng chúng sanh tâm trí mê muội không thể thông đạt mà cứ tiếp tục lăn trôi trong luân hồi sanh tử)—Dust and sand, i.e. numberless as the atoms. T'ien-T'ai uses the term as one of the three illusions, i.e. the trial of the Bodhisattva in facing the vast amount of detail in knowledge and operation required for his task of saving the world—See Tam Hoặc.
Trần sa hoặc
塵沙惑; C: chénshā huò; J: jinjawaku; |Thiếu khả năng nhận thức chính xác chân tính của vô số hiện tượng trong thế gian. Từ này được Trí Khải sử dụng.
trần sa hoặc
The illusion, numberless as dust and sand; the trial of the Bodhisattva in facing the vast amount of detail in knowledge and operation required for his task of saving the world.
; Delusion of “dust and sand.”
Trần sa hoặc 塵沙惑
[ja] ジンジャワク jinjawaku ||| The lack of ability to correctly discern the true nature of the numberless phenomena of the world. A term coined by Zhiyi. => Không nhận thức được chính xác chân tính của vô số hiện tượng trong thế gian.
Trần sa 塵沙
[ja] ジンジャ jinja ||| 'Dust and sand,' i.e., 'numberless as atoms.' In Tiantai doctrine this term can refer to the trial of the bodhisattva as he faces the vast amount of detail in knowledge and operation required => “Bụi và cát”, nghĩa là 'nhiều như cát bụi'. Theo giáo lý tông Thiên Thai, thuật ngữ nầy nói đền sự thử thách mà Bồ-tát phải đương đầu với vô số tri thức cũng như sự vận dụng rất chi tiết trong hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.
Trần sát
(塵剎): trần (塵) có nghĩa là bụi bặm, sát (s: kṣetra, 剎) chỉ cho quốc độ; như vậy trần sát có nghĩa là các quốc độ nhiều vô lượng vô biên, không thể tính đếm được như cát bụi. Trong thời công phu khuya của Thiền môn, có bài kệ tụng của Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú (大佛頂首楞嚴神咒) với câu: “Tương thử thâm tâm phụng trần sát, thị tắc danh vi báo Phật ân (將此深心奉塵剎、是則名爲報佛恩, lấy thâm tâm này phụng sự khắp mọi nơi, đó mới đúng là báo ơn Phật).” Hay như trong Tục Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận (續淨土生無生論) của Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈, 1615-1702) ở Mân Cổ Sơn (閩鼓山) có đoạn: “Ngã kim hiện tiền niệm Phật, nguyện sanh Tịnh Độ, mông Phật thọ ký, phân thân trần sát, nhiếp hóa chúng sanh, thị bồ tát pháp giới (我今現前念佛、願生淨土、蒙佛授記、分身塵剎、攝化眾生、是菩薩法界, ta nay trước mặt niệm Phật, nguyện sanh Tịnh Độ, mong Phật thọ ký, phân thân khắp chốn, nhiếp hóa chúng sanh, đó là pháp giới của Bồ Tát).” Lại nữa, trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集) quyển 22 cũng có đoạn: “Thiền sư kỳ ư tịch diệt định trung, chấn thanh nhất hát, trực sử đại địa nhĩ lung, chư hữu văn nhi bất kinh bố giả, tư tức khả vị tương thử thâm tâm phụng trần sát, thị tắc danh vi báo Phật ân hỉ (禪師其於寂滅定中、振聲一喝、直使大地耳聾、諸有聞而不驚怖者、斯卽可謂將此深心奉塵剎、是則名爲報佛恩矣, trong khi nhập định tịch diệt, Thiền sư thét lên một tiếng chấn động, trực tiếp khiến cho đại địa điếc tai; nếu có ai nghe mà không sợ hãi, người đó có thể gọi là lấy thâm tâm này phụng sự khắp tất cả, đó mới gọi là báo ơn Phật vậy).” Ngoài ra, trong bài xưng tán Quán Thế Âm Bồ Tát có câu: “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, thanh tịnh trang nghiêm lũy kiếp tu, Tam Thập Nhị Ứng biến trần sát, bách thiên vạn kiếp hóa Diêm Phù, bình trung Cam Lồ thường thời sái, thủ nội dương liễu bất kế thu, thiên xứ kỳ cầu thiên xứ hiện, khổ hải thường tác độ nhân chu (觀音菩薩妙難酬、清淨莊嚴累劫修、三十二應遍塵剎、百千萬劫化閻浮、瓶中甘露常時洒、手內楊柳不計秋、千處祈求千處現、苦海常作度人舟, Quan Âm Bồ Tát mầu khó bì, thanh tịnh trang nghiêm bao kiếp tu, ba mươi hai ứng khắp tất cả, trăm ngàn vạn kiếp hóa Diêm Phù, trong bình Cam Lồ thường lúc rưới, trong tay dương liễu chẳng kể thu, ngàn xứ có cầu ngàn xứ hiện, bể khổ thuyền từ độ người qua).”
trần sát
Gunaksetra (S). "Field of qualities", certain sins.
; Gunaksetra (skt). 1) Vô số thế giới như vô số nguyên tử hay bụi trần: Innumerable worlds as innumerable atoms (dust). 2) Cõi nước: Field of qualities—Countries. 3) Tội lỗi: Certain sins.
Trần Thái Tông
陳太宗; 1218-1277|Vua nhà Trần Việt Nam lỗi lạc kiêm Thiền sư.|Ông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa. Nhờ có công dẹp loạn nên họ Trần được triều đình nhà Lí rất coi trọng. Năm lên tám, Trần Cảnh được Lí Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, tự hiệu là Thái Tông.|Năm lên 20 tuổi, Trần Thái Tông bị Trần Thủ Ðộ buộc phải giáng Lí Chiêu Hoàng – lúc ấy 19 tuổi – xuống làm Công chúa và tôn Chiêu Thánh – vợ của anh ruột Thái Tông là Trần Liễu – lên làm Hoàng hậu. Do nhiều nỗi khổ tâm nên ông trốn vào núi Yên Tử, quyết tâm xuất gia tu hành. Thấy ông đến, vị trụ trì trên núi này ung dung chào hỏi: »Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như đám mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, ắt hẳn là muốn tìm cầu gì mới đến đây phải không?« Ông liền đáp: »Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, bơ vơ đứng trên sĩ dân không nơi nào nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật chứ chẳng muốn tìm cầu gì khác.« Nghe vậy, vị Thiền sư liền khuyên: »Trong núi vốn không có Phật, Phật ở tại tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí huệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài.«|Ông nghe lời khuyên theo Trần Thủ Ðộ về vương cung và từ đây quyết chí tu tập Phật đạo trong những lúc nhàn rỗi, trách nhiệm vì dân đã vơi phần nào. Ông rất chăm học, như ông đã tự viết trong bài tựa của kinh Kim cương tam-muội: »Trẫm lo việc cai trị dân, mỗi lúc gian nan thường quên cả sớm tối. Việc tuy có hàng vạn, giờ rảnh không có là bao. Siêng việc quý giờ, học càng tăng tiến. Chữ nghĩa còn ngại chưa rành, đêm đến canh khuya vẫn còn chăm học. Ðã đọc sách Nho, lại ngẫm kinh Phật…« Nhân lúc đọc kinh Kim cương đến câu »Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm« (應無所住而生其心), ông hoát nhiên tự ngộ.|Năm 1258, ông truyền ngôi lại cho con. Ðến lúc Trần Thánh Tông đủ sức đảm đang việc nước, ông lui về lập am Thái Vi ở rừng núi Vĩ Lâm tại cố đô Hoa Lư để an dân và tu hành. |Ông là một nhà vua lỗi lạc, uyên thâm Thiền học, viết cuốn Thiền tông chỉ nam lúc còn rất trẻ, khoảng ngoài ba mươi. Có thể kể thêm tác phẩm của Thái Tông là Chú giải kinh Kim cương tam-muội, Khóa hư lục… và nhiều bài thơ đậm mùi vị thiền.|Bóng trúc quét thềm bụi chẳng động|Vầng trăng qua biển nước không xao…|Thắp đuốc huệ trên đường mê tăm tối|Dong thuyền từ nơi bể khổ trầm luân|và:|Hoa vàng rực rỡ, |không đâu không là tâm Bát-nhã|Trúc biếc xanh xanh,|hết thảy đều là lí chân như.|(Thiền học đời Trần)|Nghe danh ông, một vị tăng người Tống tên Ðức Thành đến hỏi: »Thế Tôn chưa rời Ðâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ đã độ hết chúng sinh là thế nào?« Ông đáp: »Ngàn sông có nước ngàn sông nguyệt, muôn dặm không mây muôn dặm trời.« Một tăng khác hỏi: »Ðược phần trên của học nhân có tu chứng chăng?« Ông đáp: »Nước chảy xuống non nào có ý, mây ra khỏi núi vốn không tâm.«|Năm 1277, niên hiệu Bảo Phù, ông quy tịch, thọ 60 tuổi.|Các tác phẩm của ông: 1. Thiền tông chỉ nam; 2. Kim cương tam-muội kinh chú giải; 3. Lục thời sám hối khoa nghi; 4. Bình đẳng lẽ sám văn; 5. Khóa hư lục; 6. Thi tập.
trần thái tông (1218-1277)
Ông sanh năm 1218, là vị vua đầu đời nhà Trần. Ông lớn lên trong truyền thống văn hóa Phật Giáo. Lúc còn là ấu chúa, tâm ông vô cùng sầu thảm vì đã từng chứng kiến cảnh Quân Sư Trần Thủ Độ, để củng cố chế độ mới, đã thẳng tay tàn sát không gớm tay những đối thủ chính trị, kể cả những người bà con bên phía vợ của vua (nhà họ Lý). Vào năm hai mươi tuổi, một lần nữa Trần Thủ Độ bắt ép ông phế bỏ Lý Chiêu Hoàng vì bà nầy không sanh đẻ được, rồi bắt ông lấy chị dâu (vợ của Trần Liễu). Một ngày năm 1238, ông rời bỏ cung điện để đến chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử xin tu. Thiền Sư Viên Chứng, đang trụ trì tại đây bèn nói: “Lão Tăng ở lâu nơi sơn dã, chỉ còn da bọc xương, cuộc sống giản đơn và tâm hồn tự tại như chòm mây nổi. Còn Bệ Hạ là một đấng quân vương, chẳng hay Ngài bỏ ngôi nhân chủ, đến tệ am nơi hoang dã nầy để làm gì?” Vua đáp: “Trẫm còn thơ ấu đã vội mất song thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên Trẫm đến núi nầy chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác.” Vì lòng từ bi mà Thầy nói: “Nếu tâm mình tỉnh lặng, không bị dính mắc, thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài. Ngày hôm sau, Thủ Độ và đoàn tùy tùng đến thỉnh nhà vua hồi cung. Vua lại quay sang Thiền Sư Viên Chứng khẩn khoản khuyên lơn. Sư đáp: “Phàm làm đấng quân vương, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình; lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ Hạ trở về, bệ hạ không về sao được? Ta chỉ mong sao Bệ hạ đừng quên lãng việc nghiên cứu kinh điển.” Vua không còn cách nào khác hơn là quay về tiếp tục trị dân. Năm 1257, khi quân Mông Cổ xâm lăng nước ta lần thứ nhất, đích thân nhà vua thân chinh dẹp giặc. Tuy nhiên, sau khi đuổi xong quân Mông Cổ, ông nhận thấy hàng vạn người đã bị sát hại, ông bèn tu tập sám hối lục thời (mỗi ngày sáu thời sám hối). Ông cũng viết nên quyển “Nghi Thức Lục Thời Sám Hối” cho người tu tập. Đến năm 1258, ông nhường ngôi lại cho con là vua Thánh Tông. Trong Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông đã dạy rằng mọi người đều phải nên hành trì ngũ giới và sám hối tội chướng. Trong Khóa Hư Lục, ông đã viết: “Muốn di chuyển thoải mái trên đường bộ hay đường sông, người ta phải dùng toa xe hay thuyền đò. Muốn rửa sạch thân tâm, người ta phải luôn tu hành sám hối như Kinh đã dạy, dù mặc áo dơ đến cả trăm năm, mà chỉ cần giặt một ngày là áo sạch. Cũng như vậy, dù người ta chịu khổ vì ác nghiệp chồng chất hàng trăm ngàn kiếp, chỉ với một lần thực dạ sám hối, tội chướng có thể được rửa sạch trong một giờ hay một ngày.” Ông mất năm 1277—He was born in 1218, was enthroned as the first king of the Trần Dynasty. He grew up in the Buddhist culture. As the child-king, he was deeply sorrow when he witnessed his uncle as well as his chief political advisor, Trần Thủ Độ, conducted a total massacre towards all political opponents, including the king's in-law, in order to consolidate the new dynasty. When he was twenty years old, his uncle, Thủ Độ, once again ordered him to degrade Lý Chiêu Hoàng because she could not conceive, to remarry his sister-in-law Thuận Thiên who was marrying and pregnant with his elder brother Trần Liễu. He was so disappointed. On night in 1238, he fled the palace to the Hoa Yên temple on Mount Yên Tử. Zen Master Viên Chứng, the abbot of the temple, asked the king of what he was loking for by saying: “As an old monk living too long in this wild mountain, I am bony and skinny, my life is simple and my mind is peaceful as a piece of cloud floating with the wind. And Your Majesty, as a king deserting the throne and coming to this poor temple in the wilderness, what is your expectation?” The king replied: “As young age, my both parents were passed away. I'm now so lonely of being above of the people, without places for refuge. Also thinking of the past that no kingdom remains as long as expected. I'd like to come here and practice to become a Buddha rather than anything else.” With compassion, the master advised: “There is no Buddha in this mountain. Buddha is only existed in one's mind.” If the mind is calm and free of bondage, wisdom will display, and that is the true Buddha. Whe Your Majesty realizes it, you're a Buddha immediately. Don't waste your time and energy of looking for it from the outside world.” The next day, Thủ Độ and his entourage came up and requested that the Majesty return to the throne. The king again turned to the master for advise. The master replied: “Generally, being a sovereign, one must consider people's wishes as his, as well people's mind as his. Now the people request Your Majesty return, you can't repsonde negatively. My only wish that Your Majesty continue to study the Buddha teaching.” The King had no choice but returned to his throne. In 1257, the king led his armed forces to fight against and defeated the invasive Mongolian. After the war, he realized that tens of thousands of lives of the enemy had been annihilated, thus he consistently practiced “Repentance six times a day.” He also wrote a “Guide to Six Times of Repentance” with all rituals for everyone to practice. In 1258, the king stepped down and reliquished the throne to his son Thánh Tông. In the Book of Emptiness, the king explained why one should observe five precepts and cultivation of repentance. He emphasized the importance of repentance in His Book of Emptiness as follows: “To move conveniently on the road or along the river, one needs utilize a wagon or a boat. To effectively cleanse the body and mind, one must exercise repentance. As said the sutra, 'Though a dress be dirty for hundreds of years, if cleansed, it would be clean within one day. Similarly, if one suffers a bad karma accumulated over a hundred or thousand lifetimes, with earnest repentance one could clear up within an hour or a day.” He passed away in 1277.
trần thánh tông (1240-1290)
Ngài sanh năm 1240, con vua Thái Tổ nhà Trần là Trần Thái Tông. Lên ngôi vua năm 1258. Ngài theo học Thiền với Đại Đăng, vị Quốc Sư dưới thời vua cha của ngài. Vua Thánh Tông là người đã thông đạt và giác ngộ lý thiền ngay từ khi ngài còn là quân vương, chứ ngài không tìm nơi non cao rừng vắng, mà ngự tại triều đình vẫn ngộ đạo. Trong Thánh Đăng Lục, ngài đã nói: “Sau ba mươi năm đập ngói, dùi rùa, đổ mồ hôi xót con mắt để tập thiền; một khi thấu vỡ gương mặt thật, mới biết lỗ mũi xưa nay mất hết một bên.” Qua đó chúng ta thấy Vua Thánh Tông cũng như nhiều vị Thiền sư khác, sau ba mươi năm với đủ cách tu tập, kể cả việc đập ngói hay vùi mai rùa để cố tìm ra Phật tánh, nhưng khi chứng ngộ, ngài mới thấy mình đã mất đi một bên mũi. Vua Thánh Tông nói về Thiền như sau: “Thiền là dụng của chân tâm tỉnh tỉnh lặng lặng, không đi không đến, không thêm không bớt, dù lớn hay dù nhỏ, nó thích hợp với mọi nơi, mọi người, dù bạn hay dù thù. Thiền có thể động như mây, tĩnh như tường bích; nó có thể nhẹ như lông, hay nặng như đá; nó có thể phơi bày lồ lộ hay ẩn kín không dấu vết. Quả thật, theo vua Thánh Tông, thì tu thiền không trở ngại mọi công tác ở thế gian, như vậy có ai mà không tu được. Đây là một bằng chứng Thiền Học đời Trần rất tích cực—He was born in 1240 A.D., son of the first King of the Tran Dynasty, King Trần Thái Tông. He studied Zen with Zen Master Đại Đăng, who was the National Teacher under his father. King Thánh Tông penetrated the essence of Zen doctrine and enlightened while he was still a king. He needed not travel to a remote area on a mountain or in the jungle to practice Zen. In the King's Book of Records, he said: “After thirty years of breaking tiles and drilling tortoise, being perspired for many instance of Zen practicing; once penetrated and realized the original face, the two nostrils in the past suddenly lost one.” Through this, we see that the king as well as some other Zen practitioners in the past, had tried all possible ways including breaking tiles and drilling turtle shells in order to seek the Buddha nature. However, after the penetration of the Way, only one nostril was left. Regarding the meditation, King Thánh Tông said in his King's Book of Records: “The manifestation of the true mind is always calm and quiet. It is not going or coming; not increasing or diminsihing. It fits everywhere no matter how large or small. It satisfies everyone, friend or foe. It might move on as fast as a piece of cloud, or stand still as solid as a wall. It can be as light as a feather, or as heavy as a chunk of rock. It may display itself completely, or conceal itself without leaving a trace. To the king, apparently, the practice of meditation does not interfere with any activities in daily life. To the contrary, it helps people accomplish their duties and fulfill their lives in a much better way.
Trần thế
塵世; C: chénshì; J: jinse;|1. Thế gian ô trược; thế gới trần tục; 2. Thế giới khách quan.
trần thế
Worldly—Worldliness.
Trần thế 塵世
[ja] ジンセイ jinse ||| (1) The defiled realm; secular world. (2) Objective realm. => 1. Thế gian ô trược; thế gới trần tục. 2. Thế giới khách quan.
Trần trung cách ngoại
塵中格外; C: chénzhōng géwài; J: jinchū kakugai; |Thế gian và xuất thế gian.
Trần trung cách ngoại 塵中格外
[ja] ジンチュウカクガイ jinchū kakugai ||| Mundane and transmundane. => Thế gian và xuất thế gian.
trần trần sát độ
Numberless lands; also in every grain, or atom, there is a whole realm.
; 1) Vô số quốc độ: Numberless lands. 2) Trong mỗi hạt vi trần, chứa cả một thế giới: In every grain, or atom, there is a whole realm.
trần trần tam muội
Trong một vi trần nhập vào nhất thiết tam muội gọi là trần trần tam muội (theo Kinh Pháp Hoa, trong một vi trần nhập vào tam muội, thành tựu nhất thiết vi trần định, mà vi trần đó cũng không tăng lên, đối với từng phổ hiện khó suy tính hết)—According to the Lotus Sutra, the samadhi in which, in a moment of time, entry is made into all samadhis.
trần tình
To make known of one's feelings.
Trần Tôn Túc
陳尊宿|Mục Châu Trần Tôn Túc
trần tôn túc đạo minh thiền sư
Zen Master Chen-Tzun-Tsu—Thiền Sư Đạo Minh sanh năm 780, đệ tử của Hoàng Bá—Zen master T'ao-Ming was born in 780, was a disciple of Huang-Bo. • Một hôm tham vấn buổi chiều, sư bảo chúng: “Các ngươi lại được chỗ bước vào chưa? Nếu chưa được chỗ bước vào, cần được chỗ bước vào, nếu đã được chỗ bước vào, về sau chớ cô phụ lão Tăng.” Có một vị Tăng bước ra lễ bái thưa: “Con trọn chẳng dám cô phụ Hòa Thượng.” Sư bảo: “Ngươi trước đã cô phụ ta rồi.”—One day, Zen master T'ao-Ming said to his congregation: “Has any one of you gained an entrance? If you haven't gained an entrance then that's what you must do. If you gain an entrance then you won't show ingratitude toward me.” A monk bowed and said: “I don't dare have ingratitude toward you.” T'ao-Ming said: “You've already shown ingratitude.” • Sư lại bảo: “Lão Tăng trụ trì ở đây chẳng từng thấy một người vô sự đi đến. Các ngươi sao chẳng lại gần?” Có một vị Tăng mới bước lại gần. Sư bảo: “Duy Na chẳng có ở đây, ngươi tự lãnh hai mươi gậy đi ra ngoài ba cửa.” Vị Tăng thưa: “Con lỗi ở chỗ nào?” Sư bảo: “Đã đeo còng lại mang gông.”—T'ao-Ming said: “Since I've been abbot, I've never seen someone without an issue come before me. Why can't one of you come forward?” A monk then came forward. T'ao-Ming said: “The Temple director isn't here. So take yourself out the front gate of the monastery and get twenty hits with the staff.” The monk said: “What did I do wrong?” T'ao-Ming said: “Your head's already in a cangue and now you've put on manacles.” • Một hôm sư đang đứng ngoài hành lang, có vị Tăng đến hỏi: “Phòng Trần Tôn Túc ở chỗ nào?” Sư liền cởi giày, đè đầu vị Tăng ấy đập. Vị Tăng ấy chạy. Sư gọi: “Đại Đức! Tăng xoay đầu nhìn lại. Sư chỉ bảo: “Đi bên này.”—One day T'ao-Ming was standing on a corridor path in the monastery. A monk came up to him and asked: “Where is abbot T'ao-Ming's room?” T'ao-Ming took off a sandal and hit the monk on top of the head. The monk walked off. T'ao-Ming yelled: “Worthy!” The monk turned his head. T'ao-Ming pointed and said: “It's that way!” • Có vị sứ thần đến viếng. Sứ thần hỏi: “Ba cửa đều mở, từ cửa nào vào?” Sư gọi: “Thượng Thơ.” Sứ thần lên tiếng: “Dạ!” Sư bảo: “Từ cửa tín vào.” Sứ thần nhìn lên vách thấy tượng vẽ, hỏi: “Hai tôn giả đối mặt luận việc gì?” Sư gõ cây cột nói: “Trong ba thân cái nào chẳng nói pháp?”—A 'purple robed' worthy came to visit T'ao-Ming. When he bowed, Ta'o-Ming grabbed the string that hung from his hat and said: “What is this called?” The monk said: “It's called a facing heaven hat.” T'ao-Ming said: “Oh, in that case I won't pull it off.” Ta'o-Ming also said: “What doctrine do you expound?” The monk said: “The consciousness-only doctrine.” • Sư lại hỏi: “Nói thế nào?” Đại Đức đáp: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.” Sư chỉ cánh cửa hỏi: “Cái ấy là gì?” Đại Đức đáp: “Sắc pháp.” Sư bảo: “Trước rèm ban tử y, đối vua thuyết pháp, tại sao không giữ năm giới? Đại Đức không đáp được—T'ao-Ming said: “What do you say of it?” The monk said: “The three worlds are only mind. The myriad dharmas are only consciousness.” T'ao-Ming pointed to the door screen and said: “What's that?” The monk said: “A form dharma.” T'ao-Ming said: “In front of the screen you received the purple robe and expounded scripture to the emperor. Why can't you uphold the five precepts?” The monk couldn't answer. • Vào năm 877, lúc sư sắp tịch gọi môn đồ lại nói: “Nơi đây hết duyên, ta sẽ đi vậy, rồi ngồi kiết già thị tịch, thọ 98 tuổi được 76 tuổi hạ—In 877 A.D. when T'ao-Ming was near death, he summoned the monks and said: “My karma is exhausted. I'm dying.” He then sat in a cross-legged position and passed away. The master was ninety-eight years old and had been a monk for seventy-six years.
trần tục
Human life—World.
trần vai áo phải
Theo phong tục Ấn Độ, khi một người tự vạch áo để trần vai bên phải lộ ra có ý nghĩa là tự hạ mình hết sức, để tỏ lòng tôn kính với người đối diện.
trần võng
Lưới lục trần làm vướng mắc lục căn—The net of the six gunas, i.e. those connected with the six senses.
trần vọng
Impure and false, as are all temporal things.
; Không sạch là trần, không thực là vọng; trần vọng ám chỉ tất cả cảnh giới sinh tử—Impure and false, as are all temporal things.
trần điểm kiếp
Còn gọi là Kiếp Giọt Bụi—Một kiếp vô tận không thể tính đếm được (có hai loại: 3.000 trần điểm kiếp và 5.000 trần điểm kiếp)—A period of time as impossible of calculation as the atoms of a ground-up world, an attempt to define the indefinite.
trần đoàn
Ch'en T'uan (C), Chen Tuan Một Đạo giáo nho sĩ nổi tiếng sống ẩn dật trên núi Hoa sơn (906-989).
trần đạo
Cõi uế độ (theo tông Hoa Nghiêm, trong từng hạt bụi của thập phương hư không đều có thế giới gọi là thế giới trần đạo, tức là ở mỗi đầu sợi lông đều có thế giới, có Phật)—The dusty path, the phenomenal world, or worlds.
Trần 塵
[ja] ジン jin ||| (1) Object. synonymous with 境 (artha, visaya, gocara). (2) Material object(s). This world. (3) Impurity, pollution (rajas, pāmsu). (4) Defilement, affliction (upakleśa). (5) Stain, blot, dirt, flow, shortcoming. (6) Atom; minute particle; dust mote. => Có các nghĩa sau: 1. Đối tượng của các giác quan. Đồng nghĩa với Cảnh (境s: artha, visaya, gocara). 2. Vật chất. Thế gian nầy. 3. Bất tịnh, ô nhiễm (s: rajas, pāmsu). 4. Sự nhiễm ô, phiền não (upakleśa). 5. Dơ bẩn, vết dơ, bẩn thỉu, sự rỉ thoát, sự thiếu sót. 6. Vật rất nhỏ, thời phần, vi trần.
Trần-na
陳那; S: (mahā-) dignāga, (mahā-) diṅnāga; ~ 480-540; dịch nghĩa là (Ðại) Vực Long; |Một Luận sư nổi tiếng của Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra), cũng là người cải cách và phát triển Nhân minh học (s: hetuvidyā), một môn lí luận học độc đáo cho tông này và Ấn Ðộ nói chung. Phần lớn tác phẩm của Sư nhấn mạnh đến tính lí luận và chỉ còn trong bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư là Tập lượng luận (s: pramāṇasamuccaya). Ngoài ra Sư cũng soạn một bài luận quan trọng về A-tì-đạt-ma câu-xá luận.|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Kiến-chí (kāñcī). Lúc đầu Sư thụ giới và tham học với Na-già Ðạt-đa (nāgadatta), một tỉ-khâu theo Ðộc Tử bộ. Giáo lí của bộ này không làm Sư hài lòng nên chẳng bao lâu, Sư đến học với Thế Thân giáo lí Tiểu thừa và Duy thức. Sau khi học xong, Sư đến một khu rừng tại Oḍiviśa và dừng bước tại đây. Một cuộc tranh luận giáo lí của các tôn giáo được tổ chức tại viện Na-lan-đà và Sư được mời đến để đại diện cho Phật giáo. Tại đây, Sư chứng minh được tài hùng biện và luận lí sắc bén của mình, thắng các vị Bà-la-môn nhiều lần. Trong thời gian sau, Sư dành nhiều thời gian để viết ra những quy luật của nhân minh học và hệ thống hoá những quy luật này nhằm đả phá các tư tưởng ngoại đạo trong các cuộc tranh luận. Sư viết rất nhiều luận giải, và danh tiếng của Sư là một Luận sư uyên thâm lan truyền khắp nơi nhưng tương truyền rằng, Sư không giữ một chức vụ giảng dạy nào. Sư thừa nhận có hai »hòn đá thử vàng« của nhân minh học: chứng minh trực tiếp và nhận thức từ suy luận (Lượng; s: pramāṇa: e: valid cognition). Sư phân tích cặn kẽ tính chất của nhận thức suy luận cũng như mối liên hệ của chúng. Nhân minh học này của Sư được Pháp Xứng (s: dharmakīrti) thừa kế và phát triển.|Sư chỉ lưu lại Na-lan-đà một thời gian. Phần lớn, Sư trú tại một am nhỏ ở Oḍiviśa. Chỉ một lần Sư đến miền Nam Ấn Ðộ và lần đó để thực hiện ba việc: tranh luận, truyền bá Phật pháp và phục hưng những ngôi chùa đang trên đường suy tàn. Sư sống rất cơ hàn, không đòi hỏi gì và mất tại am ở Oḍiviśa.|Các tác phẩm của Sư còn được lưu lại (trích): 1. Phật mẫu bát-nhã ba-la-mật-đa viên tập yếu nghĩa luận (buddhamatṛkā-prajñāpāramitāmahārthasaṅ-gītiśāstra, có người xem là tác phẩm của Tam Bảo Tôn, s: triratnadāsa), Thí Hộ dịch; 2. Vô tướng tư trần luận (ālambanaparīkṣā), 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch; 3. Chưởng trung luận (tālāntaraka-śāstra hoặc hastavālaprakaraṇa), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 4. Thủ nhân giả thuyết luận (prajñaptihetu-saṃgraha), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 5. Quán tổng tướng luận tụng (sarvalakṣaṇa-dhyāna-śāstra-kārikā), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 6. Quán sở duyên duyên luận (ā-lambanaparīkṣā, ālambanaparīkṣā-vṛtti), chú giải Vô tướng tư trần luận; 7. A-tì-đạt-ma câu-xá luận chú yếu nghĩa đăng (abhidharmakośa-marmapra-dīpa[-nāma]), còn bản Tạng ngữ; 8. Nhập du-già luận (yogāvatāra), còn bản Tạng ngữ; 9. Nhân minh chính lí môn luận bản (nyāyamukha, nyāyadvāra, nyāyadvāratarka-śāstra), 1 quyển, Huyền Trang dịch; 10. Nhân minh chính lí môn luận (nyāyadvā-ratarka-śāstra), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 11. Tập lượng luận (pramāṇasamuccaya [-nāma-praka-raṇa]), tác phẩm Nhân minh quan trọng nhất của Sư; 12. Tập lượng luận thích (pramāṇasamuccaya-vṛtti), chú giải Tập lượng luận, chỉ có bản Tạng ngữ.
trật tự
Order.
trật tự của nghiệp quả
Kamma niyama (P), Karmic order Một trong 5 loại trật tự.
trật tự của tâm thức
Citta niyama (P), Mental order Một trong 5 loại trật tự.
trật tự của vạn pháp
Dhamma niyama (P), Dharmic order Một trong 5 loại trật tự.
trật tự vật thể hữu cơ
Bīja niyama (P), Physical organic order Một trong 5 loại trật tự.
trật tự vật thể vô cơ
Utu-niyama (P), Physical inorganic order Một trong 5 loại trật tự.
Trắc
測; C: cè; J: soku;|Biết bằng sự tính toán. Đo lường, đánh giá, thăm dò.
Trắc lượng
測量; C: cèliáng; J: sokuryō;|Thăm dò, đo lường, đánh giá.
Trắc lượng 測量
[ja] ソクリョウ sokuryō ||| To fathom, to measure, to estimate. => Thâm dò, đo lường, đánh giá.
trắc trở
Difficulty—Obstacle.
Trắc đạc
測度; C: cèdù; J: sokudo;|Sự phỏng đoán, ước đoán, suy luận, ước chừng, giả định, suy xét, thăm dò.
Trắc độ 測度
[ja] ソクド sokudo ||| To conjecture, to surmise, infer, guess, suppose, speculate, fathom. => Sự phỏng đoán, ước đoán, suy luận, ước chừng, giả định, suy xét, thăm dò.
trắc ẩn
Pity—Compassion.
Trắc 測
[ja] ソク soku ||| To know by calculation. To measure, gauge, fathom. => Biết bằng sự tính toán. Đo lường, phương tiện đánh giá, thăm dò.
trắng
White.
trắng mắt ra
To be disillusioned.
trắng trợn
Bluntly—Plainly.
trằn trọc
To toss (in one's sleep).
trặc
To be dislocated (joints).
trẹo cổ
Trặc cổ—To crick (wrick) one's neck.
trẻ
Bāla (S), Young.
trễ
1) Trễ giờ: Tardy—Late. 2) Trễ xe: To miss (the bus, train or boat).
trệ
Đình trệ—In suspense.
Trệ ngại
滯礙; C: zhìài; J: taige;|Sự trở ngại, trở lực.
Trệ ngại 滯礙
[ja] タイゲ taige ||| Obstruction, hindrance. => Sự trở ngại, trở lực.
Trệ phách
(滞魄): xưa kia chỉ cho những hồn phách sống lang thang không nơi nương tựa. Như trong Thái Thượng Vô Cực Tổng Chơn Văn Xương Đại Động Tiên Kinh (太上無極總眞文昌大洞仙經) quyển 1 có đoạn: “Hoặc hữu trầm hồn trệ phách, bất đắc vãng sanh giả, thác mộng phụ hình lai cầu (或有沉魂滞魄、不得徃生者、託夢附形來求, Hoặc có trầm hồn trệ phách, không được vãng sanh, báo mộng hiện hình đến cầu xin).” Hay trong Cát Tiên Công Truyện (葛仙公傳) của Lịch Thế Chơn Tiên Thể Đạo Thông Giám (歷世眞仙體道通鑒) quyển 23 có ghi rằng: “Tam Quốc tranh lạo hung hoang, binh thương biểu tử, cùng hồn trệ phách, trầm luân ác thú, nan xuất luân hồi (三國爭潦凶荒、兵傷殍死、窮魂滞魄、沉淪惡趣、難出輪廻, Tam Quốc tranh giành, mưa lụt hung dữ làm tan hoang, binh lính bị thương chết đói, hồn cùng đường, phách lang thang, trôi lăn trong đường ác, khó ra khỏi vòng luân hồi).” Ngay trong bài văn thỉnh 12 loại cô hồn thường được dùng trong nghi thức Chẩn Tế Cô Hồn của Phật Giáo, tương truyền do thi hào Tô Đông Pha (蘇東坡, 1036-1101) soạn, câu thỉnh thứ 7 cũng có đề cập đến loại trệ phách này: “Nhất tâm triệu thỉnh: Giang hồ cơ lữ, nam bắc kinh thương, đồ tài vạn lí du hành, tích hóa thiên kim mậu dịch; phong sương bất trắc, thân cao ngư phục chi trung, đồ lộ nan phòng, mạng táng dương trường chi hiểm; ô hô, trệ phách bắc tùy vân ám ám, khách hồn đông trục thủy du du; như thị tha hương khách lữ chi lưu, nhất loại cô hồn đẳng chúng (一心召請、江湖羁旅。江湖羈旅、南北经商。南北經商、图财万里游行。圖財萬里遊行、积货千金贸易。積貨千金貿易、风霜不测。風霜不測、身膏鱼腹之中。身膏魚腹之中、途路难防。途路難防、命丧羊肠之险。命喪羊腸之險、嗚呼、滯魄北隨雲黯黯、客魂东逐水悠悠。客魂東逐水悠悠、如是他乡客旅之流。如是他鄉客旅之流、一类孤魂等众。一類孤魂等眾, Một lòng triệu thỉnh: Sông hồ hành lữ, nam bắc bán buôn, cầu tài vạn dặm du hành, tích của ngàn vàng mậu dịch; gió sương bất trắc, thân vào bụng cá ở trong, đường sá khó phòng, mạng táng ruột dê nạn hiểm; than ôi, trệ phách Bắc theo mây u ám, khách hồn Đông chảy nước lững lờ; như vậy tha hương khách lữ hạng người, một loại cô hồn các chúng).”
Trị
治; C: zhì; J: chi; |1. Lĩnh đạo, cai trị, quản lí, điều khiển, chỉ đạo, điều hành, điều phối; 2. Chế ngự, hàng phục, trừng trị; 3. Xử phạt một tăng sĩ khi họ phạm giới (p: kāretabba); 4. Điều phục phiền não qua công phu tu tập (s: vipakṣa, pratipakṣa). Trong cách dùng chuyên môn này, thuật ngữ này khác với Đoạn (斷), có nghĩa là trừ diệt hoàn toàn. Trị (治) có nghĩa là là điều phục, là khả năng chuyển hoá phiền não, dù là nó không hoàn toàn được trừ diệt.
trị
1) Giá trị: Valued at—Worth. 2) Trị Bệnh: To cure—To treat—To heal a disease. 3) Cai Trị: To rule—To govern. 4) Trị Tội: To punish. 5) Trị vì: To rule or to govern.
Trị (trực)
値; C: zhí; J: chi;|Có hai nghĩa: 1. Được gặp và tôn kính Đức Phật; 2. Giá trị.
trị an
To maintain order.
trị gia
To manage one's home.
trị liệu
Therapeutic—Therapies.
trị quốc
To rule (govern) a country.
trị thiền bệnh bí yếu kinh
Chih-ch'an ping pu-pi yuo-fa (C)Tên một bộ kinh.
Trị đoạn
治斷; C: zhìduàn; J: jidan; |Chế ngự, trừ tiệt, cắt đứt, hàng phục (tập khí xấu, phiền não v.v…).
Trị đoạn 治斷
[ja] ジダン jidan ||| To quell, extirpate, sever, subdue (negative habits, defilement, etc.). 〔二障義、 HPC 1.802b〕 => Chế ngự, trừ tiệt, cắt đứt, hàng phục (tập khí xấu, phiền não v.v...).
Trị đạo
治道; C: zhìdào; J: jidō; |Con đường chiến thắng phiền não.
Trị đạo 治道
[ja] ジドウ jidō ||| The path of overcoming of afflictions. 〔二障義HPC 1.806c23〕 => Con đường chiến thắng phiền não.
Trị địa trú
治地住; C: zhìdìzhù; J: jijichū; |Giai vị thứ 2 của Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát. Trị địa trú là giai vị thường tu tập Tính không để thanh tịnh và trưởng dưỡng tâm.
Trị địa trú 治地住
[ja] ジチジュウ jijichū ||| The second of the "ten abidings" in the fifty-two stage path of the bodhisattva. The "abiding of nurturing." The stage of always practicing the view of emptiness, and clearing and nurturing the mind-ground. => Giai vị thứ hai của Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ-tát. Trị địa trú là giai vị thường tu tập Tính không để thanh tịnh và trưởng dưỡng tâm.
Trị 値
[ja] チ chi ||| (1) To meet. To meet and revere the Buddha. (2) To value. => Có hai nghĩa : 1. Được gặp và tôn kính Đức Phật. 2. Giá trị.
Trị 治
[ja] ジ chi ||| (1) To govern, to rule, to manage, to control, to direct, to regulate, to put in order. (2) To quell, subdue, punish. (3) To punish a monk who has broken the precepts. (Pali kāretabba) (4) To quell afflictions through religious practice. (vipakṣa, pratipakṣa). In this specific technical usage, it is distinguished from the term 斷, which means to totally eradicate 滅. 治 is in this sense synonymous to 伏, which refers to the ability to subdue afflictions, even though they are not completely eradicated. 〔四教儀註, 二障義HPC 1.802b〕 (5) To chase away demons. => 1. Lãnh đạo, cai trị, quản lý, điều khiển, chỉ đạo, điều hành, điều phối. 2. Chế ngự, hàng phục, trừng trị. 3. Xử phạt một tăng sĩ khi họ phạm giới (p: kāretabba). 4. Điều phục phiền não qua công phu tu tập (s: vipakṣa, pratipakṣa). Trong cách dùng chuyên môn, thuật ngữ nầy khác với Đoạn 斷, có nghĩa là trừ diệt hoàn toàn. Trị 治 có nghĩa là là điều phục, là khả năng chuyển hoá phiền não, dù là nó không hoàn toàn được trừ diệt. 5. Trừ tà.
trịch
1) Ném liệng hay loại bỏ: To throw away—To reject—To cast away. 2) Rất nặng: Very heavy.
trịch chỉ đa
Chikdha (skt)—Vùng đất mà bây giờ là Chitor hay Chittore, thuộc miền Trung Ấn—The modern Chitor, or Chittore, in Central India.
trịch thượng
Lofty tone.
trịch ác nhân
Loại bỏ kẻ ác—To cast away, or reject, wicked man.
trịnh trọng
Ceremonious—Formal.
trọc
Turbid, muddy, impure, opposit of Thanh
; 1) Shaven. 2) Bald.
Trọc (trược)
濁; C: zhuó; J: joku;|1. Đục, hỗn độn, dơ bẩn, không rõ ràng. Đồ dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn, sự vẩn đục (ô 汚; s: kaṣāya). Bị bẩn, làm nhơ nhuốc, bẩn thỉu; 2. Đần độn, hư hỏng.
trọc kiếp
An impure kalpa, the kalpa of impurity, degenerate, corrupt; an age of disease, famine and war.
trọc nghiệp
Contaminated karma, that produced by Dục desire.
trọc ác thế
A world of impurity or degeneration, i.e. ot the Ngũ trọc and Thập ác.
trọc ác xứ
The present contaminated evil world.
Trọc, trược 濁
[ja] ジョク joku ||| (1) Muddy, turbid, impure, unclear. Dirt, pollution, filth, defilement = 汚 (kaṣāya). Soiled, stained, dirty. (2) Stupid, corrupt. => 1. Đục, hỗn độn, dơ bẩn, không rõ ràng. Đồ dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn, sự vẩn đục ( ô汚 ; s: kaṣāya). Bị bẩn, làm nhơ nhuốc, bẩn thỉu. 2. Đần độn, hư hỏng.
trọn
Whole—Entire—All.
trọn lời
To keep one's promise (words).
trọn quyền
Full power.
trọn vẹn
Complete—Whole—Entire.
trọn đạo
To fulfill one's duty. 1) Làm một tín đồ: one's Buddhist duty toward the Triratna (Tam Bảo). 2) Làm cha: One's parternal duty. 3) Làm cha mẹ: One's parental duty. 4) Làm mẹ: One's maternal duty.
trọn đời
Entire life—Whole life.
trọn đời làm lành, lành còn chưa đủ; một ngày làm ác, ác tự có dư
Good deeds performed during our whole life are not enough; bad deeds performed in just one day are already too many.
trọng
Heavy, weighty, grave, serious; to lay stress upon, regard respectfully.
; 1) Kính trọng: To venerate—To honour-To respect. 2) Nặng: Heavy—Weighty. 3) Nghiêm trọng: Serious—Grave. 4) Xem trọng: To regard respectfully—To lay stress upon.
trọng chướng
Serious hindrances (to enlightenment).
; Những chướng ngại nghiêm trọng trong việc giác ngộ, như vô minh, phiền não, tội nghiệp, quả báo, hay hậu quả của những tiền khiên—Serous hindrances to enlightenment, e.g. ignorance, delusion, sin, retribution, or the results of one's previous lives—See Tam Chướng.
trọng các giảng đường
Khu giảng đường hai tầng ở Tỳ Xá Ly, nơi Đức Phật thường trú ngụ—The double-storeyed hall at Vaisali where the Buddha stayed.
trọng cấm
xem ba-la-di.
; Strictly forbidden.
; Strictly forbidden.
trọng giới thứ hai
tức Đại đạo giới, là giới không trộm cắp. Xem ba-la-di.
trọng giới thứ nhất
tức Đại sát giới, là giới không giết hại. Xem ba-la-di.
trọng giới thứ tư
tức Đại vọng ngữ giới, nghĩa là chưa chứng thánh quả mà nói dối rằng mình đã chứng quả. Xem ba-la-di.
trọng hình
Heavy penalty.
trọng hậu
generous.
trọng hỏa
Những kẻ theo đạo thờ Thần lửa—Those who pay respect to the god of fire.
trọng không
Hư không ngoài hư không, chỉ khoảng không bao la vô tận—The double space, i.e. the space beyond space, the void beyond the void.
Trọng Lữ
(仲呂): còn gọi là Trung Lữ (中呂), Tiểu Lữ (小呂); có hai nghĩa chính. (1) Tên gọi âm thứ 3 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Song Điệu (雙調, sōjō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. (2) Chỉ tháng Tư Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Tứ nguyệt kiến Tỵ, viết Đại Hoang Lạc, hựu viết Trọng Lữ, diệc danh Mạch Thu, hựu xưng Thanh Hòa, diệc danh Quỳ Nguyệt, hựu xưng Mạnh Hạ Sơ Hạ đẳng (四月建巳、曰大荒落、又曰仲呂、亦名麥秋、又稱清和、亦名葵月、又稱孟夏初夏等, tháng Tư kiến Tỵ, gọi là Đại Hoang Lạc, lại gọi là Trọng Lữ, cũng có tên là Mạch Thu, hay là Thanh Hòa, cũng được gọi là Quỳ Nguyệt, lại có tên Mạnh Hạ, Sơ Hạ, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết thêm rằng: “Tỵ vi Trung Lữ, tứ nguyệt chi thần danh Tỵ; Tỵ giả, khởi dã; vật chí thử thời giai trưởng nhi khởi dã, cố vị chi Tỵ (巳爲中呂、四月之辰名巳、巳者、起也、物至此時皆長而起也、故謂之巳, Tỵ là Trung Lữ, chi của tháng Tư là Tỵ; Tỵ là khởi [vươn dậy]; muôn vật đến lúc này sinh trưởng mà vươn dậy, nên gọi nó là Tỵ).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Chỉ Chưởng Sớ Khoa Văn (法華經指掌疏科文, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 33, No. 629) có câu: “Thời Càn Long tuế tại Nhu Triệu Nhiếp Đề Cách Trọng Lữ Phật Đản nhật, Hiền Tông hậu học Thông Lý cẩn thức (時乾隆歲在柔兆攝提格仲呂佛誕日、賢宗後學通理謹識, lúc bấy giờ nhằm ngày Phật Đản tháng Trọng Lữ [mồng 8 tháng Tư] năm Bính Dần [1746] đời vua Càn Long, Hiền Tông hậu học Thông Lý kính ghi).”
trọng nghiệp
Garuka kamma (P), Serious kamma.
; Garuka (p)—Weighty karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), trọng nghiệp có nghĩa là hành động hay nghiệp nặng, nghiệp nghiêm trọng, có thể thiện hay bất thiện, không thể thay thế được trong yếu tố tái sanh. Được gọi là trọng nghiệp vì nó chắc chắn sanh quả trong kiếp hiện tại hay ngay kiếp kế tiếp. Nếu không có một trọng nghiệp nào làm điều kiện cho sự tái sanh trong kiếp liền đó, thì “Cận Nghiệp là nghiệp dẫn dắt thọ sanh—According to the Abhidharma, weighty karma, wholesome or unwholesome, is a weighty or serious action, or karma of such powerful moral weight that it cannot be replaced by any other karma as the determinant of rebirth. It is so called because it produces its effect for certain in this life or in the next life. When there is no weighty karma to condition the future birth a death-proximate (asanna) karma might operate. a) Nếu là thiện thì đây là loại nghiệp có tính cách tinh thần như trường hợp các tầng thiền, ngoài khẩu và thân nghiệp. Người đắc tứ thiền sắc giới chẳng hạn thì hưởng quả vị của thiền ấy trong kiếp hiện tại, hay trong kiếp kế tiếp—On the wholesome side, this karma is the attainment of the jhanas, other than speech and body karmas. b) Nếu là bất thiện nghiệp có năm loại trọng nghiệp đi cùng với tà kiến chối bỏ đạo đức luân lý—On the unwholesome side, it is the five heinous crimes together with a fixed wrong view that denies the basis for morality: • Gây thương tích cho một vị Phật: Như Đề Bà Đạt Đa phải mất hết thần lực và tái sanh vào ác đạo vì tội đã làm chảy máu thân Phật—Causing the wounding of a Buddha, i.e. Devadatta lost his psychic powers and was born in a woeful state because he wounded the Buddha. • Chia rẽ Tăng Già: Như Đề Bà Đạt Đa phải đọa vào ác đạo vì đã gây chia rẽ trong Tăng đoàn—Maliciously creating a schism in the Sangha, i.e Devadatta who was reborn in a woeful state because he caused a schism in the Sangha. • Sát hại một vị A La Hán: Murdering an Arahant. • Giết Cha: Đức Phật đã lưu ý các đệ tử rằng nếu không phạm tội giết cha thì vua A Xà Thế đã đắc quả Tu Đà Hườn. Trong trường hợp nầy trọng nghiệp bất thiện được gây ra trước, và ngăn cản sự tiến bộ tinh thần về sau nầy—Parricide (killing one's own father). As the Buddha remarked, King Ajatasatru would have attained the first state of sainthood if he had not committed parricide. In this case, the powerful evil karma obstructed his spiritual attainment. • Giết Mẹ: Matricide (killing one's own mother). c) Nếu một người hành và đắc thiền, sau đó phạm nhằm một trong những trọng tội thì nghiệp đã tạo trước đó sẽ bị nghiệp bất thiện có năng lực hùng mạnh nầy ngăn trở. Kiếp sống kế đó sẽ do nghiệp xấu tạo duyên. Thí dụ như em họ của Phật là Đề Bà Đạt Đa, vì tham vọng mà tạo nên trọng tội làm đả thương Phật và chia rẽ Tăng Già, nên phải mất hết thần thông và tái sanh vào cõi địa ngục—If someone were to develop the jhanas and later were to commit one of the heinous crimes, his good karma would be obliterated by the evil deed, and the latter would generate rebirth into a state of misery. For example, the Buddha's ambitious cousin Devadatta lost his psychic powers and was reborn in hell for wounding the Buddha and causing a schism in the Sangha. d) Nếu một người trước đã phạm trọng tội, sau đó dù tinh tấn tu hành vẫn khó đắc quả vì nghiệp xấu cản trở. Vua A Xà Thế sau khi nghe Phật nói Kinh Samannaphala, có thể đã chứng đắc quả Tu Đà Hườn nếu không phạm trọng tội giết cha, là vua Bình Sa Vương, nên ông không thể thành tựu đạo quả—If someone were first to commit one of the heinous crimes, he could not later reach a sublime or supermundane attainment, because the evil karma would create an insurmountable obstruction. Thus King Ajatasattu, while listening to the Buddha's speak the Samannaphala Sutra, the Discourse on the Fruits of Recluseship, had all the other conditions for reaching stream-entry, but because he had killed his father, King Bimbisara, he could not attain the path and fruit.
trọng nguyên
Chōgen (J).
trọng quan
Những trở ngại nghiêm trọng trong thiền định và giác ngộ—The grave barriers to meditation and enlightenment.
Trọng Quốc
(仲國, Naka-no-Kuni, ?-?): tức Trọng Quốc Pháp Sư (仲國法師, Nakanokuni Hōshi), người theo truyền thuyết đã từng xin Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō) cho người vợ của Cao Thương Đế (高倉帝, Takakuratei) được hợp âm đàn cầm thổi với sáo trúc và gõ vào cửa. Ông là con của Nguyên Quang Viễn (源光遠), sau đó xuất gia và sống trong khoảng thời gian niên hiệu Thừa Cửu (承久, 1170-1178).
trọng sơn
Phiền não chất chồng như núi nặng—The heavy mountain of delusion.
trọng tam tam muội
Không không tam muội—Vô tướng tam muội—Vô nguyện vô nguyện tam muội---Double Three Samadhi—A more advanced meditation—All three samadhis are the same with doublepractice—See Tam Tam Muội.
trọng thương
Severe wound.
trọng thưởng
To reward generously.
trọng thấn
Xem Đạt thấn.
trọng thể
Solemnly.
trọng toán
Chùzan (J). A learned Japanese monk in the 10th century.
trọng trách
Heavy responsibility.
trọng trọng
Lập đi lập lại, như nhiều màn Đế Võng—Repeated—Again and again, manifold, e.g. the multi-meshed net of Indra.
trọng tuổi
Aged.
trọng tài
referee—Arbitrator—Umpire.
trọng tánh
Xem Bạc câu La.
trọng tâm
Center of gravity.
trọng tội
Xem Đại tội.
; Grave offence.
trọng tụng
Geya (skt)—Còn gọi là Trọng Chỉ Dạ, phần vần tụng đi tụng lại trong bài kinh—Repetition in verse of a prose section.
trọng vọng
Reverencing.
trọng yếu
Important—Crucial importance of something.
Trọng Ôn Hiểu Oánh
(仲溫曉瑩, Chūon Gyōei, ?-1116?): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Trọng Ôn (仲溫). Ông đi tham vấn khắp chốn Thiền lâm và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲). Đến cuối đời ông đến sống bên La Hồ (羅湖), viết cuốn La Hồ Dã Lục (羅湖野錄) và bộ Cảm Sơn Vân Ngọa Kỷ Đàm (感山雲臥紀談) ở Vân Ngọa Am (雲臥庵) thuộc Cảm Sơn (感山).
trọng đãi
To treat kindly (very well).
Trọng Đông
(仲冬): giữa Đông, tên gọi khác của tháng 11 Âm Lịch. Như trong bài Đại Từ Ân Tự Đại Pháp Sư Cơ Công Tháp Minh (大慈恩寺大法師基公塔銘) của Huyền Trang Tam Tạng Sư Tư Truyện Tùng Thư (玄奘三藏師資傳叢書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 88, No. 1651) quyển Hạ có câu: “Hoàng Đường Vĩnh Thuần nguyên niên Trọng Đông Nhâm Dần nhật, tốt ư Từ Ân Tự Phiên Dịch Viện, hữu sinh ngũ thập nhất tuế dã (皇唐永淳元年仲冬壬寅日、卒於慈恩寺翻譯院、有生五十一歲也, vào ngày Nhâm Dần tháng 11 năm đầu [682] niên hiệu Vĩnh Thuần nhà Đường, Cơ Công qua đời tại Viện Phiên Dịch của Từ Ân Tự, sống được 51 tuổi).” Hay trong Hàng Châu Thiên Mục Bảo Phương Tấn Thiền Sư (杭州天目寶芳進禪師) của Kính Thạch Trích Nhũ Tập (徑石滴乳集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1308) quyển 3 lại có câu: “Chánh Đức thập tứ niên Trọng Đông trấp tứ nhật, thuyết kệ biệt chúng, Trà Tỳ đắc ngũ sắc Xá Lợi vô số, tháp ư bản sơn (正德十四年仲冬廿四日、說偈別眾、茶毗得五色舍利無數、塔於本山, vào ngày 24 tháng 11 năm thứ 14 [1519] niên hiệu Chánh Đức nhà Minh, Thiền Sư nói kệ từ giã mọi người, sau khi Trà Tỳ xong có được Xá Lợi năm sắc vô số, tháp dựng tại chùa).” Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295), quyển 8, Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲, 1089-1163) có bài tụng rằng: “Mã sư Trọng Đông nghiêm hàn, Khâm sư Mạnh Hạ tiệm nhiệt, tuy nhiên hàn nhiệt bất đồng, bỉ thử bất thất thời tiết (馬師仲冬嚴寒、欽師孟夏漸熱、雖然寒熱不同、彼此不失時節, Mã Tổ giữa Đông lạnh buốt, Đạo Khâm đầu Hạ dần nóng, tuy nhiên lạnh nóng chẳng đồng, kia đây không mất thời tiết).”
trọng đại
Important.
trố mắt
To look with wide-open eyes.
trốc gốc
Uprooted.
trối
To make the last recommendations (words).
trốn
To run away—To flee—To escape—To hide.
trốn thoát
To get away—To escape successfully.
trốn trách nhiệm
To avoid (escape) responsibility.
trốn tránh
To elude—To evade.
trống trời
Khi nào những vị trời bị đắm nhiễm ngũ dục thì trống liền trổi dậy để cảnh cáo họ rằng mọi việc chóng phai, vui sướng luôn mang lại những hạt giống khổ đau—Celestial drum—Drum of the teaching—Heavenly drum—Whenever the gods become deluded and caught in the quagmire of the five desires, a celestial drum suddenly sounds to warn them that all things are evanescent; pleasure brings with it the seed of suffering.
trồi
To rise—To emerge.
trổ
To make an opening (hole) with a chisel.
trổ bông
To blossom—To bloom—To flower—To burst into flower.
trổ nghiệp
Theo Phật giáo, nghiệp thiện hay bất thiện, chẳng bao giờ biến mất cho đến khi nào kết quả chín mùi; tuy nhiên, thanh tịnh nghiệp có thể xãy ra bằng cách nhận lỗi, sửa lỗi và cố gắng làm những chuyện thiện lành—Karma ripens—According to the Buddhist theory, karma, wholesome or unwholesome, never disappears until its result ripens; however, the purification of accumulated negative karma is possible by declaring, confessing and stopping committing of non-virtuous actions.
trổ tài
To show off (display) one's talent.
trổi
To surpass—To prevail over.
trội
To surpass—To excel.
trộm cắp
Xem Thâu đạo. Xem Thâu.
; To steal. Trộm “Đầu Hói” (Tặc Trụ) Tăng Ni nhận của cúng dường mà không chịu tu hành là phản bội đàn na tín thí. Phật gọi những kẻ nầy là những tên trộm “Đầu hói.” Những kẻ tội phạm nầy phải chịu vô vàn khổ đau để đền tội—Bald-headed thief—A monk or nun who does not cultivate while receiving offerings from the laity, has betrayed the latter's trust and, in fact, stolen the offerings. The Buddha referred to such monks or nuns as “Bald-headed thieves.” They have to be reborn in lower paths to repay what they owe now.
trộm cắp (giới)
Adattādāna (S), Adinnadana (P)Thâu đạo Xem Trộm cắp.
trộm nghĩ
To think discreetly (in secret).
trộn
To mingle—To mix—To compound.
trớ trêu
Irony.
trời
Nơi chư thiên cư ngụ, trên cõi người, nhưng còn phải chịu luân hồi sanh tử—Heaven—The realm of the gods—Gods—Devas—Celestial—Heavenly beings—Heavenly beings are believed to inhabit the heavens above the human realm, but are still unenlightened and still bound to Samsara (luân hồi) and subject to birth and death.
trời biến tịnh
Heaven of Universal Purity.
trời cực sắc
Ultimate Form Heaven.
trời hóa lạc
Nimmanarati (p)—Cõi trời Dục giới nơi mà chư Thiên có khả năng tạo ra những thú vui bằng tư tưởng, tùy theo sở thích của họ—The realm of Heaven of Desire where the gods have the power to create objects of sensual enjoyment by thought, in accordance with their desires.
trời ma vương
Devaputta (P), Demon king Một trong 5 loại Ma vương.
trời phi tưởng
No-Thought Heaven.
trời phước sanh
Birth of Blessing Heaven.
trời phạm chúng
Heaven of Multitudes of Brahma.
trời phạm phụ
Heaven of Ministers of Brahma.
trời phạm thiên
The World of Brahmas.
trời quang âm
Heaven of Light Sound.
trời sắc cứu cánh
Ultimate Form Heaven.
trời tha hóa
Paranimmitavasavatti (p)—Cõi Trời Tha Hóa Tự Tại, những vị trời đó có khả năng đem những vật mà người khác tạo nên đặt dưới quyền điều khiển của mình—Heaven of Comfort Gained Through Others' Transformation, who do not create objects of sensual enjoyment themselves, but they control the objects of enjoyment for their use by their attendants.
trời thiên đế
Heaven King.
trời thiểu quang
Heaven of Lesser Light.
trời thiểu tịnh
Heaven of Lesser Purity.
trời thiện kiến
Good-View Heaven.
trời trường thọ
Long-Life Heaven.
trời tu ma diệm
Suyama Heaven.
trời Tịnh Cư
gồm năm cõi trời là Vô tưởng thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên và Sắc cứu cánh thiên. Những vị đắc quả thứ ba, quả A-na-hàm, sau khi xả bỏ thân mạng thì thần thức sanh lên cảnh trời Tịnh-cư, ở đó cho đến khi nhập Niết-bàn.
trời vô lượng quang
Heaven of Limitless Light.
trời vô lượng tịnh
Heaven of Limitless Purity.
trời vô nhiệt
Nơi không còn sức nóng của lo âu phiền não nữa---Heatless Heaven—No-Heat Heaven—No heat from worries and affliction.
trời vô não
No-Affliction Heaven.
trời vô sắc
Akanista.
trời vô sắc thiên
ArŪpa-brahma plane, Immaterial realm ArŪpadhātu (S).
trời đao lợi
Trayastrimsa (skt)—Tavatimsa (p). 1) Thiên xứ thứ hai trong sáu cõi trời dục giới, còn gọi là Ba Mươi Ba Tầng Trời. Một trong những cổ thần Ấn Độ, thần trời là vị thần đã chiến đấu với ma quân bằng kim cang chùy. Trời Đao Lợi dưới trời Trimurti, trời Phạm thiên, trời Visnu và Siva. Phật giáo nhận trời Đao Lợi như vị thần hộ pháp, tuy nhiên, vị trời nầy vẫn kém hơn Phật hay bất cứ ai đã đạt được giác ngộ—The second level heaven of six heavens of desire, also called Heaven of Thirty-Three—The palace of Trayastrimsa Heaven—One of the ancient gods of India, the god of the sky who fights the demons with his vijra, or thunderbolt. He is inferior to the Trimurti, Brahma, Visnu, and Siva, having taken the place of Varuna, or sky. Buddhism adopted him as its defender, though, like all the gods, he is considered inferior to a Buddha or any who have attained bodhi. His wife is Indrani. 2) Theo Tỳ Kheo Bồ Đề trong Vi Diệu Pháp, vì truyền thuyết có ba mươi ba vị do Sakka lãnh đạo, tự hiến đời mình cho lợi ích của người khác, nên cả ba mươi ba vị đều được sanh vào cõi nầy và ngự trị trong cung Vejayanta tại kinh đô Sudassana—According to Bhikkhu Bodhi in Abhidhamma, Tavatimsa is so named because, according to legend, a group of thirty-three noble-minded men who dedicated their lives to the welfare of others were reborn here as the presiding deity and this thirty-two assistants. The chief of this realm is Sakka, also known as Indra, who resides in the Vejayanta Palace in the realm's capital city, Sudassana.
trời đâu suất
Nơi xuất hiện Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật—Tushita Heaven—The Heaven-World in which the Buddha-to-be, Maitreya, waits for his coming—See Đâu Suất Thiên.
trời đại phạm
Heaven of Great Brahma Lord.
Trời Đế Thích
(s: Indra, p: Inda, 帝釋天, Taishakuten): còn được gọi là Thích Đề Hoàn Nhân (釋提桓因), Năng Thiên Chủ (能天主), Thiên Chủ Đế Thích (天主帝釋), Thiên Đế Thích (天帝釋), Thiên Đế (天帝). Vì được thần cách hóa như là ánh sáng chớp của sấm sét, dưới thời đại Veda, vị này được xem như là có sức mạnh nhất trong các vị thần, thường hay đánh nhau với ác thần A Tu La; đến thời đại Phật Giáo vị này được đổi thành Đế Thích, và Phạm Thiên được xem như là vị thần tối cao cai trị thế giới. Trời Đế Thích thì trú tại Thành Thiện Kiến (善見城), cung điện tối cao của cõi Trời Ba Mươi Ba (Trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利]), nơi có ngọn Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山) cao nhất trên mặt đất, và cai trị địa giới. Cùng với Phạm Thiên, vị trời này được xem như là vị thần bảo vệ của Phật Giáo.
trời đế thích
Thiên Đế Thích—Sakra-devanam-indra (skt)—God Indra—Thỉnh thoảng trời Đế Thích cũng là những người hộ pháp trong Phật giáo—He or she sometimes was incorporated into Buddhism as a guardian of Buddhist teachings.
trở chứng
To change one's conduct.
trở cờ
To reverse one's opinion.
trở giọng
To change one's tune.
trở hướng
To change in direction.
trở lại
To come (go—get) back—To return.
trở lực
Impediment—Hindrance---Obstacle.
trở mặt
To change (turn) about.
trở nên an định
Become stable and calm.
trở nên cao quý
To enoble.
trở nên cởi mở
To become open.
trở nên gầy gò
To grow thin.
trở nên rộng lượng
To become kind and full of pity.
trở nên sáng tạo
To become creative.
trở nên thanh tịnh
To become serene.
trở nên thoải mái
To become comfortable
trở nên thuần tính nhân ái
To become benevolent.
trở nên toàn bích
To become perfect.
trở nên tẻ nhạt
To become very dull.
trở nên xanh xao
To turn pale
trở nên điên loạn
To become crazy.
trở nên điên đảo mộng tưởng
To have nightmare and to become confused.
trở thành
To transform—To grow—to become.
trở thành nô lệ cho lạc thú thế gian
Become slaves to sensual pleasures.
trở thành phật tử tại gia thuần thành
Để trở thành một Phật tử thuần thành, ngoài việc giữ ngũ giới hay thập thiện, chúng ta cần phải có những tiêu chuẩn sau đây—To become a devoted (good) Buddhist, beside keeping five or ten basic precepts, one must meet the following criteria: 1) Thọ tam quy trì ngũ giới hay bất cứ giới luật nào dành cho Phật tử tại gia: To take refuge in the Triratna and to keep the basic five precepts or any other precepts for laypeople. 2) Luôn tín tâm nghe chánh pháp: Always hear the truth with a faith mind. 3) Làm lành: To do good deeds. 4) Lánh dữ: Not to do evil deeds. 5) Tôn kính người già: To venerate (respect) the elderly. 6) Thương mến người trẻ: Love and care for the young. 7) An ủi vổ về người lâm hoạn nạn: Comfort those who encounter calamities. 8) Thanh tịnh thân tâm: Purify the body and mind.
trở về
To come (go) back—To return.
trở về cực lạc nơi quê cũ; thoát kiếp trần gian luống đọa đày
Return to the Land of Ultimate Bliss where the home was; liberate from the earthly life, the suffering world.
Trợ
助; C: zhù; J: jo;|Sự giúp đỡ. Giúp đỡ, trợ giúp, tiền trợ cấp, giúp cho may mắn.
trợ
Help, aid, assist; auxiliary.
Trợ bạn
助伴; C: zhùbàn; J: joban;|1. Sự giúp đỡ, sự hỗ trợ (theo Câu-xá luận 倶舎論); 2. Vật gắn bó nhau, phụ thuộc nhau, tương ưng nhau (s: saṃyukta, theo Du-già luận 瑜伽論).
Trợ bạn 助伴
[ja] ジョバン joban ||| (1) Help, aid, assistance. 〔倶舎論〕(2) Something which is attached, subordinate, secondary. (saṃyukta)〔瑜伽論T 1579.30.363c〕 => 1. Sự giúp đỡ, sự hỗ trợ. Theo Câu Xá Luận. 2. Vật gắn bó nhau, phụ thuộc nhau, tương ưng nhau (s: saṃyukta).
trợ bần
Chẩn bần—To relieve the poor.
trợ cấp
To subsidize.
trợ duyên
Auxiliary condition.
trợ giáo
Assistant teacher.
trợ lý
To assist—To aid.
trợ lực
To assist (help) someone.
trợ nghiệp
Auxiliary karma, i.e. deeds or works, e.g. reciting the sùtras about the Pure Land, worship, praise, and offering, as additional to direct karma Chính nghiệp, i.e. faith in Amitàbha, expressed by constant thought of him and calling on his name.
; Auxiliary karma. 1) Tụng kinh hộ niệm giúp người quá cố vãng sanh Tịnh Độ: reciting a sutra to help a death person to reach the Pure Land. 2) Thờ phượng, tán thán và cúng dường trợ giúp chánh nghiệp, như tin nơi Phật A Di Đà, thường tưởng niệm đến Ngài, và thường niệm hồng danh của Ngài: Worship, praise, and offering, as additional to direct karma, i.e. faith in Amitabha, expressed by constant thought of him and calling on his name.
trợ niệm
Suportive Recitation—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, người bệnh từ khi đau nặng cho đến lúc sắp tắt hơi, thân bằng quyến thuộc phải bình tĩnh đừng khóc lóc. Có kẻ tuy không khóc nhưng lại lộ nét bi thương sầu thảm, đó cũng là điều không nên. Bởi lúc bấy giờ bệnh nhân đã đi đến ngã rẽ phân chia giữa quỷ, người, phàm, Thánh; sự khẩn yếu nguy hiểm khác thường, như ngàn cân treo dưới sợi tóc. Khi ấy duy chỉ có nhất tâm trợ niệm Phật là điều thiết yếu. Người dù có chí nguyện vãng sanh, mà bị quyến thuộc thương khóc làm cho khơi động niệm tình ái, tất phải bị đọa lạc luân hồi, công tu cũng đành luống uổng! Lại khi bệnh nhân gần qua đời, tự họ muốn tắm gội, thay y phục hay đổi chỗ nằm, thì có thể thuận theo, song phải nhẹ nhàng cẩn thận mà làm. Như họ không chịu, hoặc á khẩu không nói được, không nên miễn cưỡng mà làm. Bởi người sắp chết thân thể thường đau nhức, nếu ép di động, đổi chỗ nằm hoặc tắm rửa, thay y phục thì bệnh nhân càng đau đớn thêm. Nhiều người tu hành phát nguyện cầu về Cực Lạc, nhưng khi lâm chung vì bị quyến thuộc di động nhiễu loạn, phá mất chánh niệm, nên không được vãng sanh, việc nầy xảy ra rất thường. Hoặc kẻ mạng chung có thể sanh về cõi lành, nhưng bị người khác không biết, xúc chạm thân thể, sửa đổi tay chân làm cho đau đớn, nên sanh lòng giận tức. Do một niệm đó, liền đọa vào ác đạo, làm rồng, rắn, cọp, beo, hoặc các loài độc khác. Như vua A Xà Thế tu nhiều phước lành, khi lâm chung bị người hầu cận ngủ gục làm rớt cây quạt trên mặt, nên giận rồi chết bị đọa làm rắn mãng xà. Gương nầy không phải là đáng sợ lắm sao? Người bệnh khi lâm chung hoặc ngồi, hoặc nằm, đều tùy tiện, chớ nên gắng gượng. Nếu cảm thấy suy nhược chỉ có thể nằm, mà muốn xem cho ra vẻ, gắng gượng ngồi dậy, là điều nguy hại không nên làm. Hoặc theo lẽ, phải nằm nghiêng bên mặt hướng về tây, nhưng vì thân thể đau nhức phải nằm ngửa, hay nằm nghiêng bên trái hướng về đông, cũng cứ để tự nhiên chớ nên gắng gượng. Đây chính bệnh nhân phải hiểu như vậy mà tự xử. Còn người thân thuộc cũng phải hiểu lẽ nầy, chẳng nên cầu danh, bắt người bệnh nằm nghiêng bên mặt hướng về tây, hay đỡ dậy mặc áo tràng sửa thế ngồi kiết già. Đâu biết rằng chỉ vì cầu chút hư danh, mà khiến cho người chết phải đọa tam đồ, chịu vô lượng sự khổ! Lúc bệnh nhân sắp sửa mãn phần, sự trợ niệm là điều rất cần thiết. Bởi khi ấy, người bệnh từ tinh thần đến thể chất đều yếu kém mê mờ, khó bề tự chủ. Đừng nói kẻ bình nhựt chưa tu không giữ nổi câu niệm Phật được lâu bền; mà ngay cả người bình nhựt lấy câu niệm Phật làm thường khóa, nếu không nhờ sức trợ niệm cũng khó mong đắc lực. Cách thức trợ niệm phải theo những điều kiện dưới đây—Family members and relatives of a dying person shold always remain calm, without weeping or lamenting, from the time that person becomes gravely ill until his last moments. Some people, while not crying, still show sorrow and emotion on their faces. This, too, should be avoided, the crossroads which separate the living from the dead, and the mundane from the transcendental. The critical importance and danger of this moment can be compared to a mass of thousand pounds hanging under a hair, his fate is determined by a hair's breadth! At this time, the most important thing is to practice supportive recitation. Even though a person may have set his mind on rebirth in the Pure Land, if family members weep and lament, thus arousing deep-seated feeling of love-attachment, he will certainly sink into the cycle of Birth and Death, wasting all his efforts in cultivation! When a patient on the verge of death wishes to bathe, dress in different garments, or change his position or sleep quarters, we may comply, while exercising caution and acting in gentle, careful manner at all times. If the patient refuses, or cannot give his consent because he has become mute, we certainly should not go against his wishes. This is because the patient on the verge of death is generally in great physical pain. If he is forced to move, bathe or change clothing, he may experience even greater pain. There are numerous cases of cultivators who had sought rebirth in the Pure Land but failed to achieve this goal because their relatives moved them around, disturbing them and destroying their right thought. This unfortunate development occurs very often. There are also cases of individuals who might have achieved rebirth in the higher realms. However, out of ignorance, others made them suffer physically, by rearranging the positions of their hands and feet, for instance, making them irritated and angry. Because of this one thought of anger, they immediately sank into the evil realms. As an extreme example, King Ajatasatru had earned numerous merits and blessings through cultivation. However, at the time of death, one of his attendants dozed off and inadvertently dropped a paper fan onto the king's face. He became so furious that he expired on the spot, to be reborn, it is said, as a pathon. This example should serve as a warning to all of us. At the time of death, the cultivator himself should either lie down or sit up, according to what comes naturally, without forcing himself. If he feels weak and can only lie down, forcing himself to sit up for appearances' sake, is dangerous and should be discouraged. Likewise, even though, according to Pure Land tradition, he should lie on his right side facing west; if, because of pain, he can only lie on his back or on his left side facing east, he should act naturally and not force himself. The patient and his family should understand all this and act accordingly. Supportive recitation by family members or Dharma friends is most necessary when a patient is on the verge of death. This is because, at that time, he is weak in body and mind and no longer master of himself. In such trying circumstances, not only is it difficult for those who have not cultivated in daily life to focus on Amitabha Buddha, even individuals who have regularly recited the Buddha's name may find it difficult to do so in all earnestness, unless there is supportive recitation. Such recitation should closely follow the guidelines set out below: 1) Thỉnh tượng Phật A Di Đà tiếp dẫn để trước bệnh nhân, khiến cho họ trông thấy. Cắm một bình hoa tươi và đốt lò hương nhẹ, khói thơm vừa thoang thoảng để giúp dẫn khởi chánh niệm cho bệnh nhân. Nên nhớ khói chỉ nhẹ thôi, đừng để nhiều vì e ngột ngạt khó thở cho cả bệnh nhân lẫn người xung quanh—Respectfully place a standing Amitabha Buddha statue in front of the patient, so that he can Iee it clearly. Place some fresh flowers in a vase and burn light incense with a soft fragrance. This will help the patient develop right thought. A reminder: the incense should not be overpowering, to avoid choking the patient and everyone around. 2) Người trợ niệm tùy theo nhiều ít nên luân phiên mà niệm. Ít thì mỗi lần một hoặc hai người, chia thành ba phiên. Nhiều thì mỗi phiên có thể độ sáu hay tám người. Nên nhớ lúc ấy bệnh nhân sức yếu, rất cần không khí thanh sạch, nếu để cho người ta vào đông, hoặc kẻ trợ niệm quá nhiều, tất sẽ làm cho người bệnh ngột ngạt xao động, có hại hơn là có lợi. Lại nữa, các phiên phải canh theo đồng hồ mà im lặng luân chuyển nhau hộ niệm, để cho câu niệm Phật tiếp tục không gián đoạn, đừng kêu gọi nhau lớn tiếng. Mỗi phiên niệm lâu chừng một giờ—Those who come to practice supportive recitation should take turns. It should be remembered that the patient, in his weakened state, requires a lot of fresh air to breathe. If too many persons come and go or participate in the recitation session, the patient may have difficulty breathing and become agitated, resulting in more harm than benefit. Therefore, participants should consult their watches and silently take turns reciting, so that recitation can continue uninterrupted. They should not call to one another aloud. Each session should last about an hour. 3) Theo ngài Ấn Quang, nên niệm bốn chữ A Di Đà Phật để cho bệnh nhân dễ thâu nhận trong khi tinh thần thể chất quá suy yếu. Nhưng ý kiến của Hoằng Nhất đại sư, thì muốn niệm bốn chữ hay sáu chữ, tốt hơn nên hỏi bệnh nhân, để thuận với thói quen ưa thích thuở bình nhật của người bệnh, khiến cho họ có thể niệm thầm theo. Nếu trái với thói quen ưa thích, tức là phá mất chánh niệm của người bệnh, tất mình cũng có tội. Lại cách trợ niệm, không nên niệm to tiếng quá, vì mình sẽ tổn hơi khó bền; không nên niệm nhỏ quá, vì e người bệnh tinh thần lờ lạc khó thâu nhận. Cũng chẳng nên niệm quá mau, bởi làm cho bệnh nhơn đã không nghe nhận được rõ ràng, lại không thể theo kịp; chẳng nên niệm quá chậm, bởi có lỗi tiếng niệm rời rạc khiến người bệnh khó liên tục nhiếp tâm. Đại khái tiếng niệm phải không cao không thấp, chẳng chậm chẳng mau, mỗi chữ mỗi câu đều rành rẽ rõ ràng, khiến cho câu niệm trải qua tai đi sâu vào tâm thức của người bệnh, như thế mới đắc lực. Lại có điều nên chú ý, khi bệnh nhân tâm thức quá hôn trầm, niệm ở ngoài tất họ nghe không rõ. Trong trường hợp ấy, phải kê sát miệng vào tai họ mà niệm, mới có thể khiến cho người bệnh được minh tâm—According to Elder Master Yin-Kuang, the short recitation from Amitabh Buddha should be used, so that the patient can easily register the name in his Alaya consciousness, at a time when both his mind and body are very weak. However, according to Elder Master Hung-I, we should ask the patient and use the form he prefers, either short or long, to conform to his everyday practice. In this way, the patient can silently recite along with the supportive recitation party. To go counter to his like and habits may destroy his right thought and create an offense on our part. Furthermore, we should not practice supportive recitation in too loud a voice, as we will expend too much energy and be unable to keep on for very long. On the other hand, neither should we recite in too low a voice, lest the patient, in his weakened state, be unable to register the words. Generally speaking, recitation should not be too loud or too low, too slow or too fast. Each utterance should be clear and distinct so that it can pass through the ear and penetrate deep into the patient's Alaya consciousness. One caveat: if the patient is too weak or is in a coma, he will not be able to hear external recitation. In such a case, w should recite into the patient's ear. This helps the patient keep his mind clear and steady. 4) Về pháp khí để dùng trong khi trợ niệm, thông thường nên dùng khánh nhỏ, bởi tiếng mõ âm thanh đục, không bằng tiếng khánh trong trẻo, dễ khiến cho bệnh nhân tâm thần thanh tịnh. Nhưng việc nầy cũng tùy, vì theo kinh nghiệm riêng, Hoằng Nhứt đại sư đã dạy: “Những kẻ suy yếu thần kinh rất sợ nghe tiếng khánh và mõ nhỏ. Bởi âm thanh của mấy thứ nầy chát chúa đinh tai, kích thích thần kinh, khiến cho người bệnh tâm thần không an. Theo thiển ý, chỉ nên niệm suông là thỏa đáng hơn hết. Hoặc nếu có, thì chỉ nên đánh thứ chuông mõ lớn. Những món nầy âm thanh hùng tráng, khiến cho người bệnh sanh niệm nghiêm kính, hơn là đánh khánh và mõ nhỏ. Thứ mõ âm thanh đục cũng không nên đánh, vì làm cho bệnh nhân tâm thần hôn trược. Tuy nhiên, sở thích của mỗi người không đồng, tốt nhứt là nên hỏi trước bệnh nhân. Nếu có chỗ nào không hợp, phải tùy cơ ứng biến, chớ nên cố chấp—With regard to percussion instruments, it is generally better to use the small hand bell, instead of the wooden fish gong with its bass tone. The hand bell, with its clear, limpid sound, can help the patient develop a pure and calm mind. However, this may not apply in all cases. For instance, an Elder Master once taught, “It is best to recite the Buddha's name by itself without musical accompaniment, but since each person's preferences are different, it is best to ask the patient in advance. If some details do not suit him, we should adapt to the circumstances and not be inflexible.
Trợ phát
助發; C: zhùfā; J: johotsu;|Có hai nghĩa: 1. Giảng giải giáo pháp, giúp đỡ và khuyến khích cho mọi người tu tập; 2. Nói chung là hỗ trợ và khích lệ.
Trợ phát 助發
[ja] ジョホツ johotsu ||| (1) To explain the teachings, aiding and uplifting peoples practice. (2) In general, aiding and uplifting. => Có hai nghĩa: 1. Giảng giải giáo pháp, giúp đỡ và khuyến khích cho mọi người tu tập. 2. Nói chung, là hỗ trợ và khích lệ.
trợ âm
To assist in signing or intoning.
trợ đạo
Auxiliary means, e.g. of meditation; auxiliary discipline; any aid to faith and virtue.
; Đạo phẩm có thể giúp cho thiền quán, luật nghi và quả đức—Auxiliary means which help meditation, auxiliary discipline, and aid to faith or virtue.
Trợ 助
[ja] ジョ jo ||| An aid. To aid, help, assist, benefit, bless. => Sự giúp đỡ. Giúp đỡ, trợ giúp, tiền trợ cấp, giúp cho may mắn.
trợn mắt
To roll one's eyes.
trợt
To slip.
Trụ
住; C: zhù; J: jū; S: layana; sthiti.|Trú.
trụ
Sthiti (S)Thật pháp khiến các pháp không dời đổi.
; Sthiti (S). To abide, dwell, stay, stop, settle. Sinh trụ diệt, birth, existence, death.
trụ chỗ vô ngại
To dwell in the abode of nonattachment and nonobstruction.
trụ kiếp
Tretā-yuga (S).
; Vivarta siddha kalpa (S). The abiding or existing kalpa; the kalpa of human existence.
; Vivarta siddha kalpa (skt)—Thời kỳ mà các loài hữu tình yên ổn tồn trụ (một trong bốn trung kiếp, thành, trụ, hoại, không)—The abiding or existing kalpa; the kalpa of human existence. ** For more information, please see Tứ Kiếp.
trụ nơi chánh định
To dwell in Correct Samadhi.
trụ pháp vị
To abide in place in the Dharma.
trụ quả
Abiding in the fruit; e.g. sràvakas and pratyeka-buddhas who rest satisfied in their attainments and do not strive for Buddhahood; they are known as Trụ quả Duyên giác or Trụ quả La hán.
; Trụ nơi quả vị đạt được, như việc Thánh giả Thanh Văn và Duyên Giác an trụ quả đã chứng được mà không cầu tiến lên quả vị Phật—Abiding in the fruit, i.e. sravakas and pratyeka-buddhas who rest satisfied in their attainments and do not strive for Buddhahood.
trụ quả duyên giác
Những vị Duyên Giác sau khi chứng quả thì an trụ chứ không cầu tiến lên quả vị Phật—Pratyeka-buddhas who rest satisfied in their attainments and do not strive for Buddhahood.
trụ quả la hán
Những vị A La Hán sau khi chứng quả thì an trụ chứ không cầu tiến lên quả vị Phật—Arahants who rest satisfied in their arahanthood and do not strive for Buddhahood.
trụ quả thanh văn
Những vị Thanh Văn sau khi chứng quả thì an trụ chứ không cầu tiến lên quả vị Phật—Sravakas who rest satisfied in their attainments and do not strive for Buddhahood.
trụ sơn
Trụ trì chùa—To dwell on a mountain—To be in residence on a mountain—To be a temple master.
trụ tháp
Tháp trong tự viện—A pogoda.
trụ trì
Abbot.
; To dwell and control; the abbot of a monastery; resident superintendent; to maintain, or firmly hold to (faith in the Buddha etc.)
; 1) To dwell and control. 2) An trụ ở đời mà hộ trì Phật pháp: Resident superintendent; to maintain, or firmly hold to faith in the Buddha. 3) Vị Tăng hay Ni trụ trì một tự viện: Abbot—Abbess—A monk or nun who is head of a monastery (convent).
trụ trượng tử
Cây gậy—A staff—A crutch.
trụ tướng
Sthiti (S). Abiding, being, the state of existence, one of the four characteristics of all beings and things, i.e. sinh birth, trụ existence, dị change (ordecay), diệt death (or cessation).
; Sthiti (skt)—Một trong bốn tướng sanh, trụ, hoại, diệt—Abiding, being the state of existence, one of the four characteristics of all beings and things, i.e. birth, existence, change or decay, and death or cessation.
trụ tử bộ
Puggalavāda (P), Vātsīputrīya (S)Độc tử bộTên một tông phái.
trụ vô hý luận bồ tát
Xem Ly Hý luận Bồ tát.
trụ vị
Abiding place, one of the ten stages, resting and developing places or abodes of the Bodhisattva, which is entered after the stage of Belief Tín has been passed.
; 1) Nơi trụ: Trụ vị, một trong thập trụ Bồ Tát, sau khi qua “tín vị” thì trụ lại để phát triển tu tập—Abiding place, one of the ten stages, resting and developing places or abodes of the Bodhisattva, which is entered after the stage of belief has been passed. 2) Trụ lại một nơi: To abide in a place.
trụ xứ bất tịnh
Dirty place of residence.
trụ xứ tịnh
Avasakappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
trụ địa
Dwelling place; abiding place in the Truth, i.e. the acquirement by faith of a self believing in the dharma and producing its fruit.
; Nơi trụ vào chân lý, thí dụ như bằng niềm tin tự tin nơi giáo pháp và những quả vị—Dwelling place; abiding place in the Truth, i.e. the acquirement by faith of a self believing in the dharma and producing its fruits.
trụ định
Fixed, certain, firmly, settled.
; Fixed, certain, firmly settled—See Lục Chủng Quyết Định.
trụ định bồ tát
A Bodhisattva firmly fixed, or abiding in certainty. After a Bodhisattva has completed three great asamkhyeya kalpas he has still one hundred great kalpas to complete. This period is called abiding in fixity or firmness divided into six kinds: certainty of being born in a good gati, in a noble family, with a good body, a man, knowing the abiding character of his good works.
; Bồ Tát sau khi tu lục độ hành trong ba a tăng kỳ kiếp, thì còn phải tu trong 100 đại kiếp nữa mới có thể thành tựu viên mãn. Các giai đoạn tu hành trong 100 đại kiếp nầy được gọi là “Trụ Định.” Trụ định là an trụ ở sáu loại quyết định—A Bodhisattva firmly fixed, or abiding in certainty. After a Bodhisattva has completed three great asamkhyeya kalpas he has still one hundred great kalpas to complete. This period is called abiding in fixity or firmness, divided into sixth kinds: 1) Thiện Thú Định: Quyết định sanh ở thiện đạo trời, người—Certainty of being born in a good gati such as in the deva realms or in the realms of human beings. 2) Quyết định sanh vào nơi quý tộc: Certainty of being born in a noble family. 3) Quyết định sanh ra có đầy đủ lục căn không tàn khuyết: Certainty of being born with a good body. 4) Quyết định sanh làm người nam: Certainty of being born as a man. 5) Quyết định có được túc mệnh thông: Certainty of being born knowing the abiding places of his transmigrations. 6) Quyết định tạo tác thiện nghiệp bền vững không thoái chuyển: Certainty of being born knowing the abiding character of his good work. ** For more information, please Lục Chủng Quyết Định.
trục
Xua đuổi—To expel—To exorcise—To drive away.
trục trặc
To go (work—run) wrong or badly.
trục xe
Axle.
trụy
Rơi xuống, trượt xuống—To fall—To sink—To settle—To slide.
trụy giới
Liệng một hạt cải từ cõi trời Đâu Suất cho nó rơi ngay vào đầu kim trên cõi Diêm Phù Đề, quả là khó khăn và hiếm hoi (dùng hình ảnh nầy để ví với việc được thân người và gặp Phật quả là thiên nan vạn nan)—To drop a mustard seed from the Tusita heaven on to the point of a needle on the earth, most difficult, rare.
trụy lạc
Live in vice (debauched—dissolute).
trứ
1) Chấp trước (theo nghĩa của đạo Phật): In a Buddhist sense it is used for attachment to anything. 2) Che đậy: To cover—To put on. 3) Trứ danh: Famous—See Trứ Danh. 4) Trứ Tác: To compose—To publish.
trứ danh
Celebrity—Renowned—Famed—Famous.
trứng nước
An infant.
trừ
Get rid of.
; Prasrabdhi (skt)—Passaddhi (p). 1) Ngoại trừ: Except—But—Besides. 2) Trừ bỏ: To get rid of—To eliminate—To remove—To be rid of—To clear away—To exclude. 3) Trừ ra: To subtract—To minus. 4) Trừ tịch: Calmness—Tranquility—Serenity—Repose.
trừ chướng phật đảnh
Uṣnīṣavikirna (S)Xả Trừ Phật ĐảnhTên một vị Bồ tát.
trừ cái chướng
To dispose of hindrances.
; Đoạn bỏ những chướng ngại—To dispose of hindrances.
trừ cái chướng bồ tát
Sarvapayajaha (S)Tên một vị Bồ tát.
; Disposing of Hindrances Bodhisattva.
trừ căn
To eradicate—To root out.
trừ cấu chướng
Riddance of unclean hindrances.
trừ cẩn
Vị đắc được quả đáng được cúng dường, ám chỉ Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni—He or she who puts away want by receiving alms, an interpretation of Bhiksu or bhiksuni.
trừ cận
He (or she) who puts away want (by receicing alms), an int. of bhiksu cận sự nam, tỉ khưu and bhisuni cận sự nữ, tỉ khưu ni.
trừ diệt
To exterminate.
trừ giác chi
To get rid of mental effort and produce mental and physiacal buoyancy.
; Một trong bảy phần giác chi, loại bỏ những chướng ngại để được khinh an—One of the seven bodhi shares, to get rid of mental effort and produce mental and physical buoyance—See Thất Giác Chi (4).
trừ giác phần tam muội
Praśrabdhi-saptabodhyaṅga-samādhi (S)Một trong Thất giác phần Tam muội. (Xem Saptabodhyanga-Samadhi).
trừ hoạn đại thần
Bhiru (S).
trừ hại
See Trừ Ác.
trừ khử
To eradicate—To exterminate—To destroy.
trừ miễn
Miễn trừ—To remove—To discharge—To dismiss.
trừ nghi
Eliminate doubt.
; Đoạn trừ nghi hoặc—To eliminate doubt.
trừ nghi ý
Vimatisamudghatin (S).
trừ nhất thiết ác
To get rid of all evil.
trừ nhứt thiết ác
Trừ bỏ tất cả những điều ác—To get rid of all evil.
trừ phi
Unless—Except.
trừ phiền não
To sever afflictions.
trừ quân
(儲君): người được chọn sẵn để nối ngôi vua nhưng chưa chính thức lên ngôi. Trừ quân thường là vị thái tử, nhưng cũng có khi là một hoàng tử hay hoàng thân.
trừ ra
Barring—Except.
trừ tai
Get rid of calamity.
; Đoạn trừ tai ương—To get rid of calamity.
trừ tà
To exorcise (cast out) demon.
trừ tán
Loại bỏ và trải tung ra—To get rid of and scatter away.
trừ tâm thị phi
To get rid of the habits of fault-findings.
trừ tận gốc
To destroy completely—To extirpate.
trừ ác
To suppress evil.
trừ đoạn
To get rid of completely, to cut off.
; Đoạn trừ hoàn toàn—To get rid completely, cut off.
trừ độc
To disinfect.
trừ ưu ám bồ tát
Sarvasokatamo-nirghatana (S)Tên một vị Bồ tát.
Trừng
澄; C: chéng; J: chō;|Trong sạch. Trở nên lắng trong. Gạn lọc. Lắng trong.
trừng
Gạn lọc—Clear—Limpid.
trừng giới
To punish—To correct.
trừng mắt
To stare at.
trừng phạt
Discipline—Punishment.
trừng quán
Ch'eng-kuan (C)Thầy của Tông Mật, thế kỷ 8 - 9, phái Hoa Nghiêm.
; Vị Tăng nổi tiếng vào thời nhà Đường, tác giả của nhiều bộ luận, đệ tử của ngài Hiền Thủ, hoằng dương tông Hoa Nghiêm, ông tịch năm 806 sau Tây Lịch—Ch'êng-Kuan, a famous T'ang monk and author, a follower of Hsien-Shou and supporter of Hua-Yen school, died 806 AD.
trừng thủy giác nhiên
Tên của một vị Tăng nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại. Ngài là đệ tử của Hòa Thượng Tâm Tịnh. Năm 1937, khi đang giữ chức tăng cang chùa Thánh Duyên, đã được kiêm trụ trì chùa Thuyền Tôn. Ngài đã ra sức trùng tu và kiến thiết chùa Thuyền Tôn như qui mô ngày nay. Hơn 40 năm trú trì tại chùa Thuyền Tôn, ngài đã tiếp độ Tăng chúng, chấn chỉnh thanh quy, trùng tu tự viện, và góp phần chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Từ năm 1973, ngài giữ chức Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Đến năm 1979, ngài thị tịch, thọ 102 tuổi. Tháp mộ của ngài được kiến lập trong khuôn viên chùa Thuyền Tôn—Name of a famous monk in recent Vietnamese Buddhist history. He was a disicple of Most Venerable Tâm Tịnh. In 1937, he was a royal-recognized monk at Thánh Duyên temple, at the same time, he was appointed as headmonk of Thuyền Tôn temple. He tried his best to reconstruct the temple, giving it the shape it has today. For more than 40 years at Thuyền Tôn, Most Venerable Trừng Thủy Giác Nhiên had made a lot of contributions, i.e., enlightening a lot of members of the staff monks, restoring discipline and order in the temple, reconstructing the temple, and contributing to the development of Buddhism. In 1973, he took over the position of Supreme Monk of The United Buddhist Organization of Vietnam. He passed away in 1979, at the age of 102. His stupa was erected in the garden of the temple.
trừng trị
See Trừng Phạt.
trừng trừng
See Trừng Mắt.
Trừng tịnh
澄淨; C: chéngjìng; J: chōjō;|1. Làm cho trong sáng, làm thanh khiết; 2. »Niềm tin«, trong ý nghĩa phong thái thanh thản đối với hoàn cảnh chung quanh.
Trừng tịnh 澄淨
[ja] チョウジョウ chōjō ||| (1) To clarify, purify. (2) 'faith', in the sense of an attitude of serenity towards the environment. => Làm cho trong sáng, làm thanh khiết. 'Niềm tin', trong ý nghĩa phong thái thanh thản đối với hoàn cảnh chung quanh.
trừng viễn thiền sư
Thiền sư Trừng Viễn Hương Lâm sanh năm 908, quê ở Hàn Châu nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, là đệ tử của Thiền Sư Vân Môn Văn Yến—Zen master Cheng-Yuan-Xiang-Lin was born in 908, from Han-Chou (now is a location of Si-Chuan Province), was a disciple of Zen master Yun-men-Wen-Yan. • Có một vị Tăng hỏi: “Vị ngon đề hồ vì sao biến thành độc dược?” Sư đáp: “Giấy Đạo Giang mắc mỏ.” Vị Tăng lại hỏi: “Khi thấy sắc là thấy tâm là sao?” Sư đáp: “Vừa rồi ở đâu đi đến?” Vị Tăng lại hỏi: “Khi tâm cảnh đều quên thì thế nào?” Sư đáp: “mở mắt ngồi ngủ.” Vị Tăng lại hỏi: “Trong Bắc Đẩu ẩn thân, ý thế nào?” Sư đáp: “Trăng giống cung loan, mưa ít gió nhiều.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là tâm chư Phật?” Sư đáp: “Trong tức trước sau trong.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là diệu dược của Hòa Thượng?” Sư đáp: “Chẳng lìa các vị.” Vị Tăng hỏi: “Người ăn thì sao?” Sư đáp: “Cắn ăn xem.”—A monk asked Zen master Cheng-Yuan-Xiang-Lin: “Why does sweet-tasting cream turn into poison?” Cheng-Yuan said: “Paper from T'ao-Jiang is expensive.” A monk asked: “How is it that when one observes form, one thus observes mind?” Cheng-Yuan said: “Just when it comes, where does it return to.” A monk asked: “What is it when mind and environment are both gone?” Cheng-Yuan said: “Eyes open, sitting asleep.” A monk asked: “What is the meaning of the phrase 'concealing the body in a Big Dipper'?” Cheng-Yuan said: “The moon like a curved bow. A light rain and big wind.” A monk asked: “What is the mind of all Buddhas?” Cheng-Yuan said: “Clarity! From beginning to end, clarity!” A monk asked: “How can I understand this?” Cheng-Yuan said: “Don't be deceived by others.” A monk asked: “What is the master's special medicine?” Cheng-Yuan said: “It's not other than a common taste.” The monk asked: “How about those that eat it?” Cheng-Yuan said: “Why not taste it and see?” • Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là một mạch suối Hương Lâm?” Sư đáp: “Niệm không gián đoạn.”—A monk asked: “What is the monk's true eye?” Cheng-Yuan said: “No separation.” • Năm 987, sư sắp thị tịch, đến từ biệt Tri Phủ Tống Công Đang, nói: “Lão Tăng đi hành khất.” Nhưng một viên quan khác nói: 'Tăng nầy bị cuồng phong tám mươi tám năm đi hành khất trong ấy.'” Đang thưa: “Đại thiện tri thức đi ở tự do.” Trở về, sư bảo chúng: “Lão Tăng 40 năm mới dập thành một mảnh.” Nói xong sư thị tịch—When Zen master Cheng-Yuan-Xiang-Lin was about to die, he bade farewell to an official named Song-Kong-Tang, saying: “I'm going on a pilgrimage.” But a different official said: “That monk is crazy. Where's he going on a pilgrimage when he's eighty years old?” But Song replied: “When a venerable master goes on a pilgrimage, he goes or abides freely.” Cheng-Yuan addressed the monks: “For forty years I've hammered out a single piece.” When he finished speaking these words he passed away.
Trừng 澄
[ja] チョウ chō ||| Clear. To become clear, to clarify. To settle. => Trong sạch. Trở nên lắng trong. Gạn lọc. Lắng trong.
trừu thoát
Chỉ việc đi tiểu tiện của chư Tăng Ni (khi vào nhà xí thì phải cởi áo cà sa)—To go to the latrine (restroom).
trừu tượng
Abstract--Discrete.
trửu
1) Phần khuỷu tay: Forearm. 2) Một phần mười sáu ngàn Na Do Tha, thay đổi từ 1 bộ 4 tấc đến 1 bộ 8 tấc Anh: The 16,000th part of a yojana. It varies from 1ft. 4 in. to 1 ft. 8 in. in length.
trữ
To store up
trững giỡn
To jest—To joke.
trực
Straight, upright, direct; to arrange.
; Straight—Direct—Upright.
trực chuyết
Áo của chư Tăng chấp vá hay nối liền áo lót và quần, trên dưới thành một—A monk's garment, upper and lower in one.
trực chỉ nhân tâm
Pointing-out instruction, ngo troe chi dama pa (T)Chỉ thẳng.
trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành phật
Point directly to the mind to see your own nature and reach Buddhahood.
trực giác
Buddhehparatah (J), Intuition.
; Intuition, immediate perception. Trực giác chủ nghĩa. Intuitionism.
; Biết mà không biết tại sao mình biết—Intuition—Immediate knowing or understanding—The direct knowing or learning of something without the conscious use of reasoning—Knowing without knowing how you know.
trực hành
Arya-marga (skt)—Straight walk.
Trực hạ 直下
[ja] ジキゲ jikige ||| Directly, immediately, right here, just like that. => Ngay lập tức, tức thì, ngay đây, đúng như thế.
trực nhận
Sandiṭṭhika (S).
trực quan
See Trực giác.
trực thuyết
Lời thuyết pháp thẳng từ trong Kinh điển—Direct or straight speech, the sutras.
Trực thuyết 直説
[ja] ジキセツ jikisetsu ||| (1) To explain directly. The Buddha's direct explanation of the truth. (2) To explain [too] quickly, without fully inquiry into the matter. 〔二障義 HPC 1.790b〕 => 1. Giảng giải trực tiếp. Cách Đức Phật giải thích chân lý. 2. Giải thích nhanh chóng, hoàn toàn không có sự hỏi han về chủ đề.
trực truyền
Direct information, or transmission (by word of mouth).
; Truyền khẩu chứ không qua sách vở—Direct transmission by word of mouth.
Trực Tuế
(直歲, Shissui): tên gọi một chức vụ trong Lục Tri Sự (六知事, sáu vị Tri Sự). Trong tòng lâm, vị này chịu trách nhiệm trông lo việc tu sửa các liêu xá, phòng ốc, chỉnh trang các đồ vật của sơn môn và giám sát nhân công , công sự, v.v.. Nguyên gốc, vị này quản chưởng công việc trực tiếp trong một năm cho nên có tên gọi như vậy. Phần Đông Tự Tri Sự (東序知事) của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 4 có đoạn rằng: “Trực Tuế, chức chưởng nhất thiết tác vụ, phàm điện đường liêu xá chi tổn lậu giả, thường gia chỉnh tập, động dụng thập vật, thường duyệt kỳ số, dịch tác nhân lực, khể kỳ công trình, truất kỳ ứ đọa, vô túng phù thực, đố tài hại công, điền viên trang xá, đầu tráp chu xa, hỏa chúc đạo tặc, tuần hộ phòng cảnh, soa bát sứ mạng, thưởng phạt duy đương, như đại tu tạo, tắc thiêm nhân đồng chưởng chi (直歲、職掌一切作務、凡殿堂寮舍之損漏者、常加整葺、動用什物、常閲其數、役作人力、稽其工程、黜其淤墮、毋縱浮食、蠧財害公、田園莊舍、頭匹舟車、火燭盗賊、巡護防警、差撥使命、賞罰惟當、如大修造、側添人同掌之, Trực Tuế là người quản chưởng hết thảy các việc làm; hễ các ngôi nhà, phòng liêu bị hư hại, dột nát, vị này thường lo sửa sang, lợp mái lại; khi dùng đến các đồ vật, thường xem kỹ số lượng của chúng; đốc suất nhân lực để làm các công trình ấy, bỏ đi những phần hư hỏng, chớ có tùy tiện ăn gian lận, làm tổn hại tài sản của công; ruộng vườn nhà cửa, xe cộ thuyền bè, đèn treo bị trộm cắp, phải nên tuần tra bảo vệ và đề phòng; nếu làm sai sứ mạng, tự mình lãnh chịu thưởng phạt; nếu như tu sửa lớn thì thêm người cùng nhau quản lý công việc)”.
trực tuế
Gánh vác công việc của Thiền Lâm trong một năm—Plans or duties in a monstery in a straight year, or a year's plans and duties.
trực tâm
Straightforward, sincere, blunt.
; Tấm lòng ngay thẳng không xiểm nịnh (lòng ngay thẳng là đạo tràng—mười phương chư Phật chỉ dùng trực tâm để vượt ra khỏi vòng sanh tử)—Straightforward—Sincere.
Trực vãng 直往
[ja] ジキオウ jikiō ||| Directly proceeding, which describes the nature of the bodhisattva 菩薩 practices, which do not rely on the attainment of purity in the way of the practitioners of the two vehicles 二乘. 〔涅槃經 T 374.12〕. => Tiến trình trực tiếp, diễn tả tính chất tu tập của hàng Bồ-tát, không dựa vào cách đạt được thể tính thanh tịnh theo pháp tu của hàng Nhị thừa.
Trực Ông Đức Cử
(直翁德擧, Jikiō Tokkyo, ?-?): vị tăng của Phái Hoằng Trí thuộc Tào Động Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Nguyên, còn gọi là Nhất Cử (一擧), hiệu Trực Ông (直翁). Ông kế thừa dòng pháp của Đông Cốc Minh Quang (東谷明光) và làm trú trì Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang). Đệ tử xuất chúng của ông có Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫), v.v.
trực đường
Vị Tăng trông coi công việc trong nhà Tăng của tự viện—The servant who attends in the hall.
trực đạo
The direct way (to Nirvàna or Buddha land).
; Con đường thẳng đến Niết Bàn hay đất Phật—Direct way to nirvana or Buddha land.
Tu
修; C: xiū; J: shu, shū; S, P: bhāvanā; nguyên nghĩa là »Quán chiếu«;|Có các nghĩa sau: 1. Trau dồi, nuôi dưỡng, phát triển, điều chỉnh, sửa chữa, tu sửa, điều hoà, cải thiện. Sửa, bỏ bớt; 2. Cụ thể hơn là tu dưỡng đạo đức hoặc đạo giác ngộ; 3. Lâu dài.|Theo ý nghĩa trong đạo Phật: 1. Tu (đạo). Tu tập. Thường có nghĩa tu tập thiện pháp, và đặc biệt là tu tập thiền định (s: bhāvanā). Tập định, để tạo mối tương quan với bản tính, Tu có nghĩa là đưa bản tính ấy đến nơi viên mãn. Thực hành tập trung tâm ý đều đặn làm cho đức hạnh tròn đầy. Còn gọi là Tu hành. Các Luận sư phái Nhất thiết hữu bộ công nhận có 4 pháp tu (Tứ tu 四修); 2. Thực hành pháp môn riêng của mình (s: pratinisevana); 3. Nỗ lực, tinh tiến; 4. Viết tắt của Tu đạo (修道); 5. Thiện pháp tương ưng với công phu thiền định (s: bhāvanā). Đồng nghĩa vời Thiền định (禪定); 6. Nghiên cứu, hoàn chỉnh, tu dưỡng, thông thạo; đưa (sự việc) vào trật tự, hồi phục lại.
tu
To enter into religion, to take the vows, to enter the order, to be a monk. Đi tu, to enter the priesthood. Tu thành chính quả, to attain Buddhahood.To put in order, mend, cultivate, observe.
; Abhyasa (p & skt). 1) Gia nhập vào giáo đoàn để trở thành Tăng sĩ Phật giáo: To enter into religion—To become a Buddhist monk. 2) Phát triển: Bhaveti (p)—To contemplate—To develop. 3) Sự phát triển: Bhavana (p)—Development. 4) Tu Bổ: To maintain. 5) Tu Chỉnh: To put in order. 6) Tu Hành: To cultivate—To observe or keep commandments—To practice. 7) Tu Sửa: To mend. 8) To drink at a draught (tu một hơi). 9) Tu có nghĩa là tu tập hay thực tập những lời giáo huấn của Đức Phật, bằng cách tụng kinh sáng chiều, bằng ăn chay học kinh và giữ giới; tuy nhiên những yếu tố quan trọng nhất trong “thực tu” là sửa tánh, là loại trừ những thói hư tật xấu, là từ bi hỷ xả, là xây dựng đạo hạnh. Trong khi tụng kinh ta phải hiểu lý kinh. Hơn thế nữa, chúng ta nên thực tập thiền quán mỗi ngày để có được tuệ giác Phật. Với Phật tử tại gia, tu là sửa đổi tâm tánh, làm lành lành dữ—“Tu” means correct our characters and obey the Buddha's teachings. “Tu” means to study the law by reciting sutras in the morning and evening, being on strict vegetarian diet and studying all the scriptures of the Buddha, keep all the precepts; however, the most important factors in real “Tu” are to correct your character, to eliminate bad habits, to be joyful and compassionate, to build virtue. In reciting sutras, one must thoroughly understand the meaning. Furthermore, one should also practise meditation on a daily basis to get insight. For laypeople, “Tu” means to mend your ways, from evil to wholesome (ceasing transgressions and performing good deeds).
tu bà hầu
Xem Diệu Tý Bồ tát.
tu bạt
Tên của phái “Khổ Hạnh Ngoại Đạo”—Name of an externally ascetic sect.
tu bạt đà
Xem Thiện Hiền.
tu bạt đà la
Subhadda (P) Xem Thiện Hiền.
; Subhadra (skt)—Còn gọi là Tô Bạt Đà La, tên của vị Tỳ Kheo đệ tử cuối cùng được quy-y với Phật. Ông là một người Bà La Môn, lúc đó đã 120 tuổi (ông tới thành Câu Thi Na gặp lúc Đức Phật sắp nhập diệt, bèn xuất gia và đắc đạo)—Name of the last convert of the Buddha, a Brahmin, 120 years old at the time of convert.
tu bồ tát hạnh
To cultivate the Bodhisattva's virtues.
Tu Bồ Đề
(s, p: Subhūti, 須菩提): ý dịch là Thiện Nghiệp, Thiện Hiện, Không Sanh, là một trong 10 đệ tử xuất sắc của đức Phật có danh hiệu là “giải không đệ nhất.”
tu bồ đề
SubhŪti (S, P)Tu phù đế, Tu phù đề, Thiện hiện, thiện cát, thiện nghiệp.Một trong thập đại đại đệ tử. Ngài được Phật khen là đệ nhất về sự ở vào cảnh trí Tĩnh lạc, không tịch. Được Phật thọ ký về đời sau sẽ thành Phật hiệu là Danh Tướng Phật, cõi giới của Ngài tên là Bảo Sanh giới, kỳ kiếp của Ngài tên là Hữu Bảo Kỳ kiếp.
; Subhùti (S). One of the ten great discoples of the Buddha, said to have been the best exponent of Sùnya, or the Void Giải không đệ nhất. he is the principal interlocuter in the Prajnàpàramità-sùtra.
; Subhuti (skt)—Còn gọi là Tu Phù Đê, Tu Phu Đê, Tu Bổ Đề, Tu Bổ Để, Tàu dịch là Không Sinh, Thiện Hiện, Thiện Cát, hay Thiện Nghiệp. Ông là một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật. Ông là đệ tử đầu tiên liễu ngộ “tánh không.” Ông được nổi bậc về lòng bi mẫn và chẳng bao giờ gây chuyện với bất cứ ai. Ông cũng là người đương thời chuyên thuyết giảng kinh Ma Ha Bát Nhã—One of the ten great disciples of the Buddha. He is thought to have been first in his understanding of Sunyata, or the void. He was pre-eminent in compassion and that he never quarreled with anyone. He is the principal interlocutor in the Mahaprajnaparamita sutra.
tu bổ
To maintain—Maintenance.
tu chân
Sucinta, Sucinti, or Sucitti (skt)—Tên của một loại Trời—Name of a deva.
Tu chí
(須至): có 2 nghĩa. (1) Cần phải, nhất định. Như trong bài Nhân Vật Ngâm (人物吟) của Thiệu Ung (邵雍, 1011-1077) nhà Tống có câu: “Nhân phá tu chí hộ, vật phá tu chí bổ (人破須至護、物破須至補, người phá cần phải giúp đõ, vật phá cần phải tu bổ).” (2) Thời xưa, đây là từ được dùng theo tập quán ở câu kết của các công văn cũng như chấp chiếu. Như trong bài Giảm Mộc Thán Tiền Hiểu Dụ (減木炭錢曉諭) của Chu Hy (朱熹, 1130-1200) nhà Tống có câu: “Thiết khủng hương thôn nhân hộ vị năng thông tri, tu chí tán bảng hiểu thị giả (竊恐鄉村人戶未能通知、須至散榜曉示者, e rằng người trong thôn làng chưa được thông báo, cho nên dán bảng khắp nơi thông báo rõ).” Trong tác phẩm Thông Tục Biên (通俗編), phần Chính Trị (政治), Trạch Hạo (翟灝, ?-?) nhà Thanh giải thích rõ rằng: “Tu chí, kim công văn trung tập vi định thức, vấn kỳ nghĩa, tắc vô năng ngôn chi (須至、今公文中習爲定式、問其義、則無能言之, từ 'tu chí', nay trong công văn đã quen thành thể thức nhất định, nếu hỏi nghĩa của nó, thì không thể nói được).” Như vậy, trong công văn, thuật ngữ “tu chí” này đôi khi được dùng như thói quen và không có nghĩa gì cả.
tu chính
To amend—To rectify--Amendment.
tu chính án
Amendment.
Tu chứng
修證; C: xiū zhèng; J: shūshō; S: samudā-gama.|1. Nhận ra được kết quả của việc tu đạo; 2. Tu tập và chứng ngộ.
tu chứng
Bhāvana (S).
; To cultivate the Way and attain the Realization.
; To practice and experience.
Tu chứng 修證
[ja] シュショウ shūshō ||| (samudāgama). (1) The realization resultant of practice. (2) Practice and realization. => (s: samudāgama) 1. Nhận ra được kết quả của việc tu đạo. 2. Tu tập và chứng ngộ.
tu công đức
To cultivate meritorious virtues.
tu di
Sumeru (S), Meru (P)Núi Tu di, Diệu Cao, Diệu quang, An minh, Thiện tích, Tu mê lư, Tu di lâuMột toà núi đứng giữa bốn bộ châu và do bốn chất báu tạo thành, mỗi hướng là một cõi giới, trên đỉnh là cảnh tiên của đức Đế Thích: - Phía đông: màu bạc, đông bắc vàng lợt. Phía đông có cõi Đông thắng thần châu, có Trí quốc Thiên vương cai quản. - Phía tây: san hô đỏ. Phía Tây có cõi Tây ngưu hoá châu, có Quãng mục thiên vương cai quản. - Phía nam: màu xanh, Tây nam màu xanh dợt. Phía Nam có cõi Nam thiệm Bộ châu tức cõi giới chúng ta đang sống, có Tăng trưởng thiên vương cai quản. - Phía bắc: vàng, Tây bắc vàng sậm. Phía Bắc có cảnh tiên Bắc Cu lư châu, có Đa văn Thiên vương cai quản.
; See Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section and Meru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tu di lâu
Xem Tu di.
tu di quang phật
Meruprabhāsa-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Quốc độ Ngài ở phương đông cõi ta bà.
; Meru-prabhàsa-Buddha (S). Sumeru light Buddha.
Tu Di Sơn
(s, p: Sumeru, 須彌山): âm dịch là Tô Mê Lô (蘇迷盧), Tu Di Lâu (須彌樓), ý dịch là Diệu Cao Sơn (妙高山). Theo như thuyết về vũ trụ của Ấn Độ cổ đại, ngay trong tâm của một thế giới có núi Tu Di, dưới núi ấy có các lớp chồng chất lên nhau theo thứ tự là Địa Luân, Thủy Luân, Phong Luân, Chung quanh núi ấy có bao bọc giao nhau bởi 9 ngọn núi và 8 biển, ở 4 phương trong biển phía bên ngoài có quần đảo, trong hòn đảo phía Nam (Nam Diêm Phù Đề) có con người cư trú. Trên Tu Di sơn cây Hương rất sum sê và ở 4 phương có 4 vị thiên vương, phía trên đỉnh núi có trời Đế Thích với 33 cung điện của cõi trời, mặt trời và mặt trăng thường xuyên chiếu sáng ngay trong lòng núi này.
tu di sơn
Mount Sumeru.
; Sumeru (S). The central mountain of every world. Also Tu di lâu sơn,
tu di sơn phật
Sumerukalpa-Buddha (S)Một đức Phật Như Lai, quốc độ ở phương thượng đối với cõi ta bà.
; Sumerukalpa-Buddha (S).
tu di sơn vương
Sumeru(-girirāja) (S)Diệu Cao Sơn vương.
tu di trong hạt cải—hạt cải trong tu di
Mount Sumeru contained in a Mustard Seed, and a Mustard Seed contained in Mount Sumeru—See Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section.
tu di tòa
A kind of throne for a Buddha. Also Tu di đài.
tu di tướng
Merudhvaja (skt)—Tên của vũ trụ của Tu Di Đăng Vương Phật, ở về phương tây bắc, con trai thứ 12 của Phật Đại Thông Trí Thắng—Name of the universe of Merukalpa Buddha, in the northwest, twelfth son of Mahabhijna.
tu di tướng phật
Merudvaja-Buddha (S) Sumeru Appearance Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai. Cõi giới của Ngài ở phương đông cõi ta bà.
; Merudvaja-Buddha (S). Sumeru appearance Buddha.
tu di tọa
See Tu Di Đàn.
tu di đàn
Tu Di Tọa—Phật tọa—A kind of throne for a Buddha.
tu di đăng
Sumeru lamp Buddha.
tu di đăng phật
Merupradīpa-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Quốc độ Ngài ở hướng Nam cõi Ta bà.
tu di đảnh
Merukuta (skt)—Con trai thứ hai của Phật Đại Thông Trí Thắng có tên là Tu Mật La Thiên hay A Súc Bệ Phật—Second son of Mahabhijna Buddha, whose name is Abhirati—See Abhirati in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tu diễm ma thiên
Yama (S). The third of the six heavens in the Karmaloka.
tu du
Instant.
tu dưỡng
To cultivate, improve (one's mind, etc.). Tu dưỡng tinh thần, to fortify oneself spiritually; to cultivate sereneness.
; To cultivate.
tu dạ ma
Suyàma (S). The ruler of the Yama heaven
; Suyama or Yama (skt)—Còn gọi là Tu Diệm Ma, Tu Viêm, Tu Viêm Ma, Tàu dịch là Diệu Thiện hay Diệu Thời Phân, tên của Tu Ma Thiên Vương, vị cai quản cung trời Dạ Ma—The ruler of the Yama Heaven.
tu dạ ma thiên
Xem Viêm ma thiên.
tu dạ ma thiên vương
Suyāmadevarāja (S)Vị Dạ Ma vương cai quản cõi trời Dạ Ma.
tu già đa
Sujata (skt & p)—Người con gái của một điền chủ trong vùng Senani gần thị trấn Ưu Lâu Tần Loa trong thời Đức Phật còn tại thế, nay là làng Urel cách thị trấn Gaya 6 dậm trong quận Gaya thuộc tiểu bang Bihar trong vùng đông bắc Ấn Độ. Nàng Tu Già Đa phát tâm hứa sẽ dâng cúng cho vị thần cây đa cạnh nhà một bữa ăn cháo sữa nếu như nàng sanh được con trai. Lòng mong ước của nàng được mãn nguyện sau khi nàng hạ sanh một cháu trai. Nàng sai người hầu gái sửa soạn nơi cho cô đến lễ bái tạ ơn. Khi ra đến nơi, người gái thấy thái tử Sĩ Đạt Đa ngồi dưới gốc cây đa, tưởng Ngài là vị thần cây hiện ra để thọ nhận lễ vật, bèn chạy về thông báo cho Tu Già Đa. Tu Già Đa rất vui mừng, mang thức ăn đựng trong bát vàng đến cúng dường cho Ngài. Đây là bữa ăn duy nhất của Đức Phật trước khi Ngài chứng đạo giác ngộ sau 49 ngày ngồi thiền định dưới cội cây Bồ Đề tại làng Bồ Đề Đạo Tràng (Phật Đà Ca Da) trong tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Độ—Daughter of a land owner in the vilage of Senani near the small city of Uruvela during the Buddha's time, present-day Urel village which is situated six miles from the city of Gaya in the Gaya district of the Bihar state in northeast India. Sujata made a promise to the God of the banyan tree near by that she would offer a meal of milk-rice to the God if she gave birth to a son. Her wish was fulfilled, the son was born, and she sent her maid to prepare the place for the offering. Her maid, finding Siddhartha sitting under the banyan, thought that he was the tree-God present in person to receive the offering. She brought the news to Sujata, who in great joy, brought the food in a golden bowl and offered it to him. This was the only meal of the Buddha previous to the night of his enlightenment after 49 days of his sitting meditation under the Bodhi-Tree which is located in the Budha-Gaya village in the Bihar state of northeast India.
tu già đà
Sugata (skt)—Tu Già Đa—Tu Già Độ—Sa Già Đà—Tô Yết Đa—Sa Bà Yết Đa. 1) Hảo Khứ: Người đi đúng đường—One who has gone the right way. 2) Thiện Thệ: Một trong những danh hiệu của Đức Phật—One of the Buddha's titles. 3) Hoan Nghênh: Svagata (skt)—Welcome.
Tu Hoa Nghiêm áo chỉ vọng tận hoàn nguyên quán
修華嚴奥旨妄盡還源觀; C: xiū huāyán àozhǐ wàngjìn huányuán guān; J: shū kegon ou-shi moujin kangen kan; |Luận của Pháp Tạng (法藏).
Tu Hoa Nghiêm áo chỉ vọng tận hoàn nguyên quán 修華嚴奥旨妄盡還源觀
[ja] シュケゴンオウシモウジンゲンゲンカン Shū kegon oushi moujin kangen kan ||| Xiu huayan aozhi wangjin huanyuan guan; By Fazang 法藏. T 1876.45.637a-641a. => Sách. Của Pháp Tạng
Tu hoặc
修惑; C: xiūhuò; J: shuwaku;|Phiền não có trong chúng sinh từ khi sinh ra, chỉ giải trừ được bằng cách tu đạo. Còn gọi là Tư hoặc (思惑, theo Câu-xá luận 倶舎論).
tu hoặc
Illusion, such as desire, hate, etc., in practice or performance, i.e. in the process of attaining enlightenment.
; Tư Hoặc—Khi tu đạo dứt bỏ mọi nghi hoặc, mê muội tham, sân, si—Illusion, such as desire, hate, etc., in practice or performance, i.e. in the process of attaining enlightenment. ** For more information, please see Tư Hoặc.
Tu hoặc 修惑
[ja] シュワク shuwaku ||| Defilements that contained within sentient beings at birth but that are removable by engaging in religious cultivation. Also written 思惑. 〔倶舎論、 T 1558.29.122b13〕 => Phiền não có trong chúng sinh từ khi sinh ra, chỉ giải trừ được bằng cách tu đạo. Còn gọi là Tư hoặc. Theo Câu-xá luận.
Tu huệ
修慧 (惠); C: xiūhuì; J: shue;|Có các nghĩa sau: 1. Trí huệ chân chính đạt được thông qua tu đạo (s: bhāvanā-mayi-prajñā; t: bsgom pa las byun baḥi śes). Một trong 3 loại huệ (Tam huệ 三慧); 2. Tu tập tùy thuận theo trí huệ.
tu huệ
Bhāvana māyāpana (P), Bhāvanamayi-prajā (S)Một trong Tam huệ.
Tu huệ 修慧
[ja] シュエ shue ||| (1) The correct wisdom that is attained through practice (Skt. bhāvanā-mayi-prajñā, Tib. bsgom pa las byun baḥi śes). One of the three kinds of wisdom 三慧. (2) To practice according to wisdom. => Có các nghĩa sau: 1. Trí huệ chân chính đạt được thông qua tu đạo(s:bhāvanā-mayi-prajñā; t: bsgom pa las byun baḥi śes ). Một trong 3 món huệ (Tam huệ). 2. Tu tập tùy thuận theo trí huệ.
Tu huệ 修慧, 修惠
[ja] シュエ shue ||| (1) The correct wisdom that is attained through practice (Skt. bhāvanā-mayi-prajñā, Tib. bsgom pa las byun baḥi śes). One of the three kinds of wisdom 三慧. (2) To practice according to wisdom. => Có các nghĩa sau: 1. Trí huệ chân chính đạt được thông qua tu đạo(s:bhāvanā-mayi-prajñā; t: bsgom pa las byun baḥi śes ). Một trong 3 món huệ (Tam huệ). 2. Tu tập tùy thuận theo trí huệ.
Tu hành
修行; C: xiūxíng; J: shugyō;|Có các nghĩa sau: 1. Tập luyện, thực hành, thực hiện (s: pratipatti, prapatti, adhyācāra, adhigama, prayoga); 2. Cố gắng, nỗ lực; 3. Sự sám hối, sự khổ hạnh; 4. Tự mình tinh tấn tu tập pháp Du-già (s: yoga); 5. Hành trì giới luật.
tu hành
Caryà (S). Conduct; to observe and do; to mend one's way; to cultivate oneself in right practice; be religious, or pious. Tu hành khổ hạnh, to practice ascetism. Nếp sống tu hành, religious life.
; Carya (skt). (I) Nghĩa của Tu Hành—The meanings of “Cultivation”—Tu tập chánh pháp—Conduct—To observe and do—To cultivate—To practice—To mend one's ways—To cultivate oneself in right practice—To lead a religious life. (II) Tầm quan trọng của việc Tu Hành trong Phật Giáo—The importance of Practice in Buddhism: 1) Phật tử thường có truyền thống tôn Phật kính Tăng, và bày tỏ lòng tôn kính với xá lợi Phật, những biểu tượng tôn giáo như hình ảnh, tịnh xá hay tự viện. Tuy nhiên, Phật tử chẳng bao giờ thờ ngẩu tượng—It is traditional for Buddhists to honour the Buddha, to respect the Sangha and to pay homage the religious objects of veneration such as the relics of the Buddha, Buddha images, monastery, pagoda, and personal articles used by the Buddha. However, Buddhists never pray to idols. 2) Thờ cúng Phật, tổ tiên, và cha mẹ quá vãng đáng được khuyến khích. Tuy nhiên, chữ “thờ cúng” tự nó đã không thích đáng theo quan điểm của đạo Phật. Từ “Bày tỏ lòng tôn kính” có lẽ thích hợp hơn. Phật tử không nên mù quáng thờ phụng những thứ nầy đến nỗi quên đi mục tiêu chính của chúng ta là tu hành. Người Phật tử quỳ trước tượng Phật để tỏ lòng tôn kính đấng mà hình tượng ấy tượng trưng, và hứa sẽ cố gắng đạt được những gì Ngài đã đạt 25 thế kỷ trước, chứ không phải sợ Phật, cũng không tìm cầu ân huệ thế tục từ hình tượng ấy—The worship of the Buddha, ancestors, and deceased parents, are encouraged. However, the word “worship” itself is not appropriate from the Buddhist point of view. The term “Pay homage” should be more appropriate. Buddhists do not blindly worship these objects and forget their main goal is to practice. Buddhists kneel before the image of the Buddha to pay respect to what the image represents, and promise to try to achieve what the Buddha already achieved 25 centuries ago, not to seek worldly favours from the image. Buddhists pay homage to the image not because they are fear of the Buddha, nor do they supplicate for worldly gain. 3) Thực hành là khía cạnh quan trọng nhất trong đạo Phật. Đem những lời Phật khuyên dạy ra thực hành trong đời sống hằng ngày mới thực sự gọi là “tu hành.” Đức Phật thường nhắc nhở tứ chúng rằng Phật tử không nên tùy thuộc vào người khác, ngay cả đến chính Đức Phật, để được cứu độ. Trong thời Đức Phật còn tại thế, có nhiều đệ tử hay ngắm nghía vẻ đẹp của Phật, nên Ngài nhắc nhở tứ chúng rằng: “Các ông không thể nhìn thấy Đức Phật thật sự bằng cách ngắm nhìn vẻ đẹp nơi thân Phật. Những ai nhìn thấy giáo lý của ta mới thật sự nhìn thấy ta.”—The most important aspect in Buddhism is to put into practice the teaching given by the Buddha. The Buddha always reminded his disciples that Buddhists should not depend on others, not even on the Buddha himself, for their salvation. During the Buddha's time, so many disciples admired the beauty of the Buddha, so the Buddha also reminded his disciples saying: “You cannot see the Buddha by watching the physical body. Those who see my teaching see me.” (III) Lời Phật dạy về Tu Hành trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Cultivation in the Dharmapada Sutra: • Chuyên làm những việc không đáng làm, nhác tu những điều cần tu, bỏ việc lành mà chạy theo dục lạc, người như thế dù có hâm mộ kẻ khác đã cố gắng thành công, cũng chỉ là hâm mộ suông—He who applies himself to that which should be avoided, not cultivate what should be cultivated; forgets the good, but goes after pleasure. It's only an empty admiration when he says he admires people who exert themselves in meditation (Dharmapada 209).
tu hành chân chánh không thể nào tự khinh mà không cố gắng hết mình
To cultivate earnestly we cannot look down on ourselves and not to exert enough efforts.
tu hành giáo pháp và thiền định
To practise the Dharma and meditation.
tu hành khổ hạnh
Ascetic practices—Tu hành giới luật thanh tịnh thân tâm, có mười hai điều khổ hạnh—Practices of precepts to purify one's body and mind. There are twelve ascetic rules: 1) Đầu chẳng đội mủ: Never wear a hat. 2) Chân không mang giày: Never wear shoes. 3) Không giữ tiền bạc; nếu có ai cho thì giải thích rồi trả lại: Never keep money; if people offer money because they don't know, explain and return to them. 4) Mặc áo vá: Wearing patched robes. 5) Chỉ ăn đồ khất thực: Eating only begged food. 6) Ngày chỉ ăn một ngọ: Eating only a meal a day at noon time. 7) Không ăn thêm hay ăn sái giờ: Not to eat further food or eating in the afternoon. 8) Sống nơi yên tỉnh cô liêu: Living in secluded, solitary place. 9) Sống nơi trống trải: Living in the open. 10) Tham thiền dưới gốc cây: Meditating under a tree. 11) Sống bất cứ nơi nào: Living in whatever place. 12) Chỉ ngồi chứ không nằm: Sitting only, never lying down.
tu hành kiên cố
Firmness in observing Buddhist morality.
tu hành lơ là
To cultivate perfunctorily.
tu hành thối chuyển
Regressive cultivation—Nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật tại Tây Thiên, tam niên vấn Phật yếu tiền—In the first year of cultivation, the Buddha stands right before our eyes; the second year he has already returned to the West; third year if someone inquires about the Buddha or request recitations, payment is required before a few words are spoken or a few verses recited.
tu hành tinh tấn
To practice diligently.
Tu hành trú
修行住; C: xiū xíng zhù; J: shugyōjū;|Một giai vị trong Thập trú.
Tu hành trú 修行住
[ja] シュギョウジュウ shugyōjū ||| One of the stages of the ten abidings 十住. => Một giai vị trong Thập trú.
tu hành trụ
A bodhisattva's stage of conduct, the third of his ten stages.
; Trụ thứ ba trong thập trụ—Bodhisattva's stage of conduct, the third of his ten stages. ** For more information, please see Thập Trụ.
tu hành đạo địa kinh
Xem Đạt Ma Đa la thiền kinh.
tu hành địa bất tịnh quán kinh
Xem Đạt Ma Đa la thiền kinh.
Tu hành 修行
[ja] シュギョウ shugyō ||| (1) To practice; to carry out or perform (pratipatti, prapatti, adhyācāra, adhigama, prayoga). (2) To endeavor. (3) Penance, austerities. (4) To apply oneself diligently to yoga practice. (5) To keep the precepts. => Có các nghĩa sau: 1. Tập luyện, thực hành, thực hiện (s:pratipatti, prapatti, adhyācāra, adhigama, prayoga) 2. Cố gắng, nỗ lực. 3. Sự sám hối, sự khổ hạnh. 4.Tự mình tinh tấn tu tập pháp Du già (s:yoga ). 5. Hành trì giới luật.
tu hạnh phổ hiền
To practice the deeds of Samantabhadra—See Mười Đại Nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.
Tu học
修學; C: xiūxué; J: shūgaku; |Nghiên cứu và thực hành đạo giác ngộ.
tu học
To bend one's mind to study; to study and practice
Tu học 修學
[ja] シュガク shūgaku ||| The study and cultivation of enlightenment. => Nghiên cứu và thực hành đạo giác ngộ.
tu khổ hạnh
Recluse—Ascetic practices—See Tu Hành khổ hạnh.
tu kiên
Firmness in observing, or maintaining; established conviction, e.g. of the biệt giáo bodhisattva that all phenomena in essence are identical.
; Tu hành kiên định—Firmness in observing or maintaining; established conviction, i.e. of the bodhisattva of the Differentiated Teaching, that all phenomena in essence are identical.
tu la
Asura (S). Demons who wars with Indra; a tu la is also Sura, which means a god, or deity; a tu la quân the army of asura, fighting on the tu la trường asura battlefield against Indra.
; Asura (skt)—A Tu La, loại quỷ thần thường đánh nhau với trời Đế Thích—Demons who war with Indra.
tu la quân
Quân binh của A Tu La, đánh nhau với trời Đế Thích—The army of Asuras, fighting on the asura battlefield against Indra.
tu la tửu
Sura (skt)—Rượu Tu La, cũng được diễn dịch như là A Tu La Tửu nghĩa là “không có rượu.” Ý nói cái gì không hiện hữu—Wine, spirits, but it is also interpreted as asura wine, i.e. the non-existent.
tu la đạo
A Tu La đạo (thường là kẻ hay kiếm chuyện gây gỗ), một trong lục đạo—Asura way, or destiny, one of the six paths.
tu luyện
To cultivate and to train.
tu luyện và điều phục căn tánh
Vivṛddhi (S).
tu là chuyển nghiệp
Dù mục đích tối thượng của đạo Phật là giác ngộ và giải thoát, Đức Phật cũng dạy rằng tu là cội nguồn hạnh phúc, hết phiền não, hết khổ đau. Phật cũng là một con người như bao nhiêu con người khác, nhưng tại sao Ngài trở thành một bậc giác ngộ vĩ đại? Đức Phật chưa từng tuyên bố Ngài là thần thành gì cả. Ngài chỉ nói rằng chúng sanh mọi loài đều có Phật tính hay hạt giống giác ngộ và sự giác ngộ ở trong tầm tay của mọi người, rồi nhờ rời bỏ ngai vị Thái Tử, của cải, và quyền lực để tu tập và tầm cầu chân lý mà Ngài đạt được giác ngộ. Phật tử chúng ta tu không phải mong cầu xin ân huệ, mà phải tu tập theo gương hạnh của Đức Phật, phải chuyển nghiệp xấu thành nghiệp lành hay không còn nghiệp nào nữa. Con người ở đời giàu có và thông minh, nghèo hèn và ngu dốt. Mỗi người mỗi khác, mỗi người một hoàn cảnh riêng biệt sai khác nhau. Phật tử tin rằng nguyên nhân chỉ vì mỗi người tạo nghiệp riêng biệt. Đây chính là luật nhân duyên hay nghiệp quả, và chính nghiệp tác động và chi phối tất cả. Chính nghiệp nơi thân khẩu ý tạo ra kết quả, hạnh phúc hay khổ đau, giàu hay nghèo. Nghiệp không có nghĩa là số phận hay định mệnh. Nếu tin vào số phận hay định mệnh thì sự tu tập đâu còn cần thiết và lợi ích gì? Nghiệp không cố định cũng không phải là không thay đổi được. Con người không thể để bị giam hãm trong bốn bức tường kiên cố của nghiệp. Ngược lại, con người có khả năng và nghị lực có thể làm thay đổi được nghiệp. Vận mệnh của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào hành động của chính chúng ta; nói cách khác, chúng ta chính là những nhà kiến trúc ngôi nhà nghiệp của chính chúng ta. Tu theo Phật là tự mình chuyển nghiệp. Chuyển nghiệp là chẳng những phải bỏ mọi tật xấu của chính mình, mà cũng đừng quan tâm đến những hành động xấu của người khác. Chúng ta không thể nào đổ lỗi cho ai khác về những khổ đau và bất hạnh của chính mình. Chúng ta phải đối diện với cuộc sống chứ không bỏ chạy, vì có chỗ nào trên quả đất nầy là chỗ cho chúng ta chạy trốn nghiệp của mình đâu. Vì thế chúng ta phải chuyển nghiệp bằng cách tu tập các hạnh lành để mang lại hạnh phúc cho chính mình, hơn là cầu xin hoặc sám hối. Chuyển nghiệp là thường nhớ tới nghiệp, phải dùng trí tuệ để phân biệt thiện ác, lành dữ, tự do và trói buộc để tránh nghiệp ác, làm nghiệp lành, hay không tạo nghiệp nào cả. Chuyển nghiệp còn là thanh lọc tự tâm hơn là cầu nguyện, nghi lễ cúng kiến hay tự hành xác. Ngoài ra, chuyển nghiệp còn là chuyển cái tâm hẹp hòi ích kỷ thành cái tâm mến thương rộng lớn và thành tựu tâm từ bi bằng cách thương xót chúng sanh mọi loài. Nói cách khác, chuyển nghiệp là thành tựu tứ vô lượng tâm, đặc biệt là hai tâm từ và bi. Phật tử chân thuần nên luôn nhớ rằng trong đời nầy ai cũng phải một lần chết, hoặc sớm hoặc muộn; khi chết, không ai mang theo được bất cứ thứ gì của trần tục, chỉ có nghiệp lành hay nghiệp dữ do mình tạo ra sẽ phải theo mình như hình với bóng mà thôi—Although the supreme goal of Buddhism is the supreme Enlightenment and liberation, the Buddha also taught that Buddhist practice is the source of happiness. It can lead to the end of human suffering and miseries. The Buddha was also a man like all other men, but why could he become a Great Enlightened One? The Buddha never declared that He was a Deity. He only said that all living beings have a Buddha-Nature that is the seed of Enlightenment. He attained it by renouncing his princely position, wealth, prestige and power for the search of Truth that no one had found before. As Buddhist followers, we practice Buddhist tenets, not for entreating favors but for for following the Buddha's example by changing bad karmas to good ones or no karma at all. Since people are different from one another, some are rich and intelligent, some are poor and stupid. It can be said that this is due to their individual karma, each person has his own circumstances. Buddhists believe that we reap what we have sown. This is called the law of causality or karma, which is a process, action, energy or force. Karmas of deeds, words and thoughts all produce an effect, either happiness or miseries, wealth or poverty. Karma does not mean “determinism,” because if everything is predetermined, then there would be no free will and no moral or spiritual advancement. Karma is not fixed, but can be changed. It cannot shut us in its surroundings indefinitely. On the contrary, we all have the ability and energy to change it. Our fate depends entirely on our deeds; in other words, we are the architects of our karma. Cultivating in accordance with the Buddha's Teachings means we change the karma of ourselves; changing our karmas by not only giving up our bad actions or misdeeds, but also forgiving offences directed against us by others. We cannot blame anyone else for our miseries and misfortunes. We have to face life as it is and not run away from it, because there is no place on earth to hide from karma. Performing good deeds is indispensable for our own happiness; there is no need of imploring favors from deities or simply showing repentance. Changing karma also means remembrance of karma and using wisdom to distinguish virtue from evil and freedom from constraint so that we are able to avoid evil deeds, to do meritorious deeds, or not to create any deeds at all. Changing karma also means to purify our minds rather than praying, performing rites, or torturing our bodies. Changing karma also means to change your narrow-minded heart into a heart full of love and compassion and accomplish the four boundless hearts, especially the hearts of loving-kindness and compassion. True Buddhists should always remember that sooner or later everyone has to die once. After death, what can we bring with us? We cannot bring with us any worldly possessions; only our bad or good karma will follow us like a shadow of our own.
tu lị da
Sùrya (S). The sun.
tu lợi
Surya (skt)—Tu Lợi Da. 1) Mặt Trời: The sun. 2) Tên của một loài Dạ Xoa, nguời cai quản mặt trời: Name of a yaksa, the ruler of the sun.
tu lợi da
See Tu Lợi (1).
tu ma na
Sumana (skt)—Còn gọi là Tu Mạn Na, là tên một loài hoa như hoa lài lớn rất thơm, cây cao từ 4 đến 5 bộ Anh, xòe ra xung quanh như cái lọng, bông màu vàng lợt—A plant 4 or 5 feet high with light yellow flowers, the “great flowered jasmine.”
tu ma đề
Sukhavati (S). The Western Paradise of Amitàbha.
; Sumati (skt)—Còn gọi là Tu Ma Đầu, Tàu dịch là Diệu Ý, Hảo Ý, biệt danh của cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—Of wonderful meaning, or wisdom, the abode of Amitabha, his Pure Land.
tu ma đề bồ tát
Xem Thiện ý.
tu ma đề trưởng giả kinh
Kinh Đức Phật giảng về vô thường sau cái chết của con trai gia đình trưởng giả Tu Ma Đề (sau khi con trai Tu Ma Đề trưởng giả trong thành Vương Xá chết, hai ông bà trưởng giả buồn rầu khôn xiết, nhân đó Phật thuyết Kinh Tu Ma Đề, nói về tất cả các pháp đều vô thường để khuyến dụ họ tu)—A sutra about the impermanence of life, preached by the Buddha after the death of Sumati's son in Rajagaha.
tu mi
Beard and eyebrows (man).
tu mi nam tử
A man—To be a man.
tu mê lư
Xem Tu di.
tu mê lư sơn
Diệu cao sơn, Diệu quang sơn
tu mạn na
See Tu Ma Na.
tu mạt na
Dīghasumāna (P)Tên một vị sưXem Hỷ.
tu nghiệm đạo phái
Shugendo (S).
tu nhân tích đức
To do good and cultivate virtue.
tu nhẫn
Bồ Tát tu tập thập hồi hướng và Trung Quán thấy rằng chư pháp, sự lý đều dung hòa nên sanh tu nhẫn—Bodhisattvas who practice the ten kinds of dedication and meditation of the mean, have patience in all things for they see that all things, phenomena and noumena, harmonize.
tu niết mật đà
Xem Hoá lạc thiên.
; Nirmànarati (S) Also Hóa lạc thiên.
; Sunirmita or Nirmanarati (skt)—Tên của cõi trời hay chư Thiên Lạc Hóa—Heavens or devas of joyful transformation.
tu phiến đa phật
Susanta (S)Tu phiến đầu PhậtXem Tu phiến đa Phật.
; Susanta (skt)—Tên của Tu Phiến Đa Phật, một vị Phật cực kỳ thanh tịnh—A Buddha who is entirely pure, or very placid.
tu phù đề
Xem Tu bồ đề.
tu phước
Những cách thực hành khác nhau cho Phật tử, như thực hành bố thí, in kinh ấn tống, xây chùa dựng tháp, trì trai giữ giới, vân vân. Tuy nhiên, tâm không định tĩnh, không chuyên chú thực tập một pháp môn nhứt định thì khó mà đạt được nhất tâm. Do đó khó mà vãng sanh Cực Lạc—Sundry practices—Practices of blessing—Various practices for a Buddhist such as practicing charity, distributing free sutras, building temples and stupas, keeping vegeterian diet and precepts, etc. However, the mind is not able to focus on a single individual practice and it is difficult to achieve one-pointedness of mind. Thus, it is difficult to be reborn in the Pure Land.
tu phạm ma
Subramāna (S), Great-Compassion Brahmin, Tsang rab (T), Tramze Tsang rab (T)Cha của Bồ tát Di Lac trong vị lai.
tu phật
To practise Buddha's truth—Theo Thiền sư Dogen thì tu Phật là học lấy chính mình, học lấy chính mình là tự quên chính mình, tự quên chính mình là kinh qua vạn pháp, kinh qua vạn pháp là buông bỏ thân tâm mình và thân tâm của ngoại trần—According to Zen Master Dogen, to learn the Buddha's truth is to learn ourselves, to learn ourselves is to forget ourselves, to forget ourselves is to be experienced by the myriad dharmas, to be experienced by the myriad dharmas is to let our body-and-mind, and the body-and-mind of external world fall away (Shobogenzo—Book 1 p. 34).
tu sinh
Do tu hành mà có được (tu chứng), khác với được nhờ tự nhiên pháp—That which is produced by cultivation, or observance.
tu sám
To undergo the discipline of penitence.
; Phép tu sám hối (phát nguyện trì tụng sám hối mỗi ngày, hoặc trước tượng Phật làm lễ ăn năn sám hối. Trì tụng sám hối rồi phải ăn ở cho chân chính, không phạm ba nghiệp thân, khẩu, ý)—To undergo the discipline of penitence.
tu sĩ
Religious, monk, priest. Giới tu sĩ, the priesthood, the monkdom.
; Monk—Priest.
tu sĩ khổ hạnh tóc rối
Jatiya (P), Jaṭila (P).
tu sở đoạn
Bhāvana-heya (S)Người ở giai vị tu đạo đoạn 81 phẩm tư hoặc và các pháp câu hữu.
; Qua thực tập cắt đứt mọi ảo ảnh—To cut off illusion in practice or performance.
tu sở đoạn nghiệp
Bhāvana-heya-karma (S)Thiện nghiệp, bất thiện nghiệp, vô ký nghiệp chiêu cảm đường lành.
tu thiền
To practice Zen, meditation.
tu thiền lục diệu môn
The six mysterious gates or way of practising meditation, consisting mostly of breathing exercises.
; Sáu cửa huyền diệu trong tu tập thiền định, đa phần là thực tập thở—The six mysterious gates or ways of practicing meditation, consisting mostly of breathing exercises. ** For more information, please see Lục Diệu Môn.
tu thiện
To cultivate goodness; the goodness that is cultivated, in contrast with natural goodness.
; Tu tập thiện pháp, đối lại với bẩm tánh thiện—To cultivate goodness—The goodness that is cultivated, in contrast with natural goodness.
Tu Thiện Tự
(修善寺 hay 修禪寺, Shūzen-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông, hiện tọa lạc tại Tagata-gun (田方郡), Shizuoka-ken (靜岡懸), hiệu núi là Tiêu Lô Sơn (肖盧山), là chốn linh địa của Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師, Kōbō Daishi), do cao đệ của Đại Sư là Tăng Chánh Cảo Lân (杲隣) khai sơn. Trước kia nơi đây vốn là ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông, nhưng khoảng thời gian niên hiệu Kiến Trường (建長, 1249-1256), vị tăng nhà Tống là Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) từ vùng Liêm Thương đến đây, rồi chuyển chùa thành đạo tràng tu tập của Lâm Tế Tông. Đến năm 1489 (Diên Đức [延德] nguyên niên), Long Khê Phồn Thiệu (隆溪繁紹) lại chùa thành trung tâm của Tào Động Tông. Tuy nhiên, tượng thờ chính của chùa vẫn là Đại Nhật Như Lai, do chính tay đại sư điêu khắc. Vào năm 1193 (Kiến Cửu [建久] 9), Tướng Quân Nguyên Phạm Lại (源範賴, Minamoto-no-Noriyori) đến đây ẩn cư, rồi năm sau thì bị võ tướng Cối Nguyên Cảnh Thời (梶原景時, Kajiwara Kagetoki) tấn công, nên ông đã tự vẫn tại chùa này. Vào năm 1204 (Nguyên Cửu [元久] nguyên niên), một lần nữa Tướng Quân Nguyên Lại Gia (源賴家, Minamoto-no-Yoriie) đến đây ẩn cư, và cũng bị Tướng Quân Bắc Điều Thời Chính (北條時政, Hōjō Tokimasa) giết chết tại chùa. mặt nạ của Lại Gia vẫn còn lưu giữ tại đây. Hiện tại, chùa là đạo tràng chuyên tu cho nhưng du tăng Vân Thủy đến tham học, và trong khuôn viên chùa có suối nước nóng rất nổi tiếng.
tu thiện đề
Subhuti (skt)—See Tu Bồ Đề in Vietnamese-English Section.
tu thân
To self-improve.
; To improve oneself.
tu thân, giới, tâm, tuệ
To cultivate the self-improvement, the moral discipline, the mind and the perfect wisdom.
tu thư
To write books.
tu thập thiện
To cultivate the ten good deeds.
tu tiên
Tu theo Lão giáo, nghĩa là luyện “Trường sanh.” Tuy nhiên, Phật tử chơn thuần chúng ta ai cũng biết rằng chư Tiên trên cõi trời đều có thọ mạng, khi hết phước báo vẫn phải trầm luân—To practice Taoism means to regard the preservation of the body and mind as an ideal, to be reborn in the Celestial realm with a definite life-span, once one's blessings end one may be fallen down into the evil paths.
Tu trai
(修齋): tập trung tu sĩ Phật Giáo hay đạo sĩ của Đạo Giáo để cúng dường cơm chay. Như trong bài thơ Đăng Linh Sơn Thủy Các Di Điếu Giả (登靈山水閣貽釣者) của thi nhân Đỗ Tuần Hạc (杜荀鶴, 846-904) nhà Đường có câu: “Giang thượng kiến tăng thùy thị liễu, tu trai bổ nạp nhật lao thân (江上見僧誰是了、修齋補衲日勞身, trên sông gặp tăng là ai nhỉ, cúng chay lão nạp bớt nhọc thân).” Hay trong kịch bản Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh có đoạn: “Quảng diên đạo chúng, đại kiến kinh đàn, yếu dữ tiên đế tu trai truy tiến (廣延道眾、大建經壇、要與先帝修齋追薦, rước khắp các đạo sĩ, kiến lập đàn tràng lớn, chủ yếu dâng cúng cỗ chay để cầu siêu độ cho tiên đế).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ (法界聖凡水陸勝會修齋儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1497) quyển 1 cũng có đoạn: “Giác Hoàng mẫn Diệm Khẩu chi đồ, sơ linh phụng hộc; Lương Đế cảm thần tăng chi mộng, toại khải tu trai (覺皇憫燄口之徒、初令奉斛、梁帝感神僧之夢、遂啟修齋, Giác Hoàng thương Diệm Khẩu [miệng bốc lửa] muôn loài, mới bày hộc thực; Lương Đế cảm thần tăng ứng mộng, bèn cúng cỗ chay).” Hoặc như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 21) lại có đoạn: “Nhất thân Lục Đạo khổ mang mang, Thập Ác Tam Đồ bất dị đương, nỗ lực tu trai công đức cụ, hằng sa chư tội tự tiêu vong (一身六道苦茫茫、十惡三塗不易當、努力修齋功德具、恆沙諸罪自銷亡, một thân sáu nẻo khổ mênh mang, mười ác ba đường khó thoát nàn, tận lực cúng chay công đức đủ, hằng sa tội chướng tự tiêu vong).”
Tu trì
修持; C: xiūchí; J: shuji;|Công phu tu tập theo một tinh thần một kinh văn và chuyên tâm, trung thành với kinh ấy. Thường là phẩm khuyến khích sự hành trì vào cuối bản kinh (theo Pháp Hoa kinh 法華經).
Tu trì 修持
[ja] シュジ shuji ||| To practice according to, and cleave to a certain scripture. Usually part of the exhortation near the end of a scripture. 〔法華經 T 262.9.8a12〕 => Công phu tu tập theo một tinh thần một kinh văn và chuyên tâm, trung thành vớI kinh ấy. Thường là phẩm khuyển khích sự hành trì vào cuốI bản kinh.
tu trệ thiên
Xem Tu đới thiên.
Tu trị
修治; C: xiūzhì; J: shuji, shuchi;|Chuyển hoá thanh tịnh bằng công phu tu tập (s: pariśodhana). Sự thanh trừng (theo Du-già luận 瑜伽論).
tu trị
Xem Đầu đà.
Tu trị 修治
[ja] シュジ シュチ shuji shuchi ||| To be purified by practice (pariśodhana); purification. 〔瑜伽論 T 1579.30.393b8〕 => Chuyển hóa thanh tịnh bằng công phu tu tập (s: pariśodhana). Sự thanh tịnh.
tu tánh
To cultivate the nature.
tu tâm
To cultivate the heart; to self-improve morally. Tu tâm dưỡng tính, to cultivate one's heart and improve one's character.
tu tính
To cultivate the nature, the natural proclivities.
; Tu chỉnh rèn luyện thân tâm để trở về cái bản tánh thanh tịnh của chúng sanh (Phật tánh)—To cultivate the nature; the natural proclivity.
tu tính bất nhị môn
The identity of cultivation and the cultivated.
; Tu tính chẳng phải hai môn (tu là tu chỉnh rèn luyện thân tâm, tính là cái bản tính vốn thanh tịnh hay Phật tánh của chúng sanh, hai lẽ ấy chẳng khác nhau nên gọi là tu tính bất nhị môn)—The identity of cultivation and the cultivated.
Tu tập
修習; C: xiūxí; J: shūjū;|Có các nghĩa sau: 1. Thực hành, công phu, tu đạo (s: panicarya, bhāvanā, abhyāsa, aseva-na); 2. Thực hành pháp Du-già (yoga). Tu tập pháp thiền Chỉ quán.
tu tập
To practice—To practice the path —To practice the Dharma—To cultivate—Cultivation.
tu tập bát thánh đạo
To develop the Noble Eightfold Path—Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, Đức Phật đã dạy rằng để tu tập Bát Thánh Đạo, các Tỳ Kheo phải tu tập phát triển những pháp sau đây—In the Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), the Buddha taught that in order to develop the Noble Eightfold Path the Bhikkhus should develop the followings: (A) Tam Cầu—Three searches: • Thắng Tri Tam Tầm Cầu: Direct knowledge of the three searches—See Tam Chủng Tầm Cầu. • Liễu Tri Tam Tầm Cầu: Parinna (p)—Full understanding of the three searches. • Đoạn Diệt Tam Tầm Cầu: Parikkaya (p)—The utter destruction of the three searches. • Đoạn Tận Tam Tầm Cầu: Pahana (p)—The abandoning of the three searches. (B) Tam Kiêu Mạn—Three kinds of arrogance: • Thắng Tri Tam Kiêu Mạn: The direct knowledge of all three kinds of arrogance—See Tam Kiêu Mạn. • Liễu Tri Tam Kiêu Mạn: The full understanding of all three kinds of arrogance. • Đoạn Diệt Tam Kiêu Mạn: The utter destruction of all three kinds of arrogance. • Đoạn Tận Tam Kiêu Mạn: The abandoning of all three kinds of arrogance. (C) Tam Lậu Hoặc—Three taints: • Thắng tri Tam Lậu Hoặc: The direct knowledge of all three taints—See Tam Lậu Hoặc. • Liễu Tri Tam Lậu Hoặc: The full understanding of all three taints. • Đoạn Diệt Tam Lậu Hoặc: The utter destruction of all three taints. • Đoạn Tận Tam Lậu Hoặc: The abandoning of all three taints. (D) Tam Hữu—Three kinds of existence: • Thắng Tri Tam Hữu: The direct knowledge of all three kinds of existence—See Tam Hữu (B). • Liễu Tri Tam Hữu: The full understanding of all three kinds of existence. • Đoạn Diệt Tam Hữu: The utter destruction of all three kinds of existence. • Đoạn Tận Tam Hữu: The abandoning of all three kinds of existence. (E) Tam Khổ—Three kinds of suffering: • Thắng Tri Tam Khổ: The direct knowledge of all three kinds of suffering—See Tam Khổ. • Liễu Tri Tam Khổ: The full understanding of all three kinds of suffering. • Đoạn Diệt Tam Khổ: The utter destruction of all three kinds of suffering. • Đoạn Tận Tam Khổ: The abandoning of all three kinds of suffering. (F) Tam Hoang Vu—Three kinds of barrenness: • Thắng Tri Tam Hoang Vu: The direct knowledge of all three kinds of barrenness—See Tam Hoang Vu. • Liễu Tri Tam Hoang Vu: The full understanding of all three kinds of barrenness. • Đoạn Diệt Tam Hoang Vu: The utter destruction of all three kinds of barrenness. • Đoạn Tận Tam Hoang Vu: The abandoning of all three kinds of barrenness. (G) Tam Cấu Nhiễm—Three stains: • Thắng Tri Tam Cấu Nhiễm: The direct knowledge of all three stains—See Tam Cấu Nhiễm. • Liễu Tri Tam Cấu Nhiễm: The full understanding of all three stains. • Đoạn Diệt Tam Cấu Nhiễm: The utter destruction of all three stains. • Đoạn Tận Tam Cấu Nhiễm: The abandoning of all three stains. (H) Tam Dao Động—Three kinds of troubles: • Thắng Tri Tam Dao Động: The direct knowledge of three kinds of troubles—See Tam Dao Động. • Liễu Tri Tam Dao Động: The full understanding of three kinds of troubles. • Đoạn Diệt Tam Dao Động: The utter destruction of three kinds of troubles. • Đoạn Tận Tam Dao Động: The abandoning of three kinds of troubles. (I) Tam Thọ—Three Feelings: • Thắng Tri Tam Thọ: The direct knowledge of three feelings—See Tam Thọ. • Liễu Tri Tam Thọ: The full understanding of three feelings. • Đoạn Diệt Tam Thọ: The utter destruction of three feelings. • Đoạn Tận Tam Thọ: The abandoning of three feelings. (J) Tam Khát Ái—Three Cravings: • Thắng Tri Tam Khát Ái: The direct knowledge of three kinds of craving—See Tam Khát Ái. • Liễu Tri Tam Khát Ái: The full understanding of three kinds of craving. • Đoạn Diệt Tam Khát Ái: The utter destruction of three kinds of craving. • Đoạn Tận Tam Khát Ái: The abandoning of three kinds of craving. (K) Tứ Bộc Lưu—Four floods: • Thắng tri Tứ Bộc Lưu: The direct knowledge of four floods—See Tứ Bộc Lưu. • Liễu Tri Tứ Bộc Lưu: The full understanding of four floods. • Đoạn Diệt Tứ Bộc Lưu: The utter destruction of four floods. • Đoạn Tận Tứ Bộc Lưu: The abandoning of four floods. (L) Tứ Ách Phược—Four bonds: • Thắng Tri Tứ Ách Phược: The direct knowledge of four bonds—See Tứ Ách Phược. • Liễu Tri Tứ Ách Phược: The full understanding of four bonds. • Đoạn Diệt Tứ Ách Phược: The utter destruction of four bonds. • Đoạn Tận Tứ Ách Phược: The abandoning of four bonds. (M) Tứ Chấp Thủ—Four kinds of clinging: • Thắng Tri Tứ Chấp Thủ: The direct knowledge of four kinds of clinging—See Tứ Chấp Thủ. • Liễu Tri Tứ Chấp Thủ: The full understanding of four kinds of clinging. • Đoạn Diệt Tứ Chấp Thủ: The utter destruction of four kinds of clinging. • Đoạn Tận Tứ Chấp Thủ: The abandoning of four kinds of clinging. (N) Tứ Hệ Phược—Four knots: • Thắng Tri Tứ Hệ Phược: The direct knowledge of four knots—See Tứ Hệ Phược. • Liễu Tri Tứ Hệ Phược: The full understanding of four knots. • Đoạn Diệt Tứ Hệ Phược: The utter destruction of four knots. • Đoạn Tận Tứ Hệ Phược: The abandoning of four knots. (O) Ngũ Dục—Five cords of sensual pleasure: • Thắng Tri Ngũ Dục: The direct knowledge of five cords of sensual pleasure—See Ngũ Dục. • Liễu Tri Ngũ Dục: The full understanding of five cords of sensual pleasure. • Đoạn Diệt Ngũ Dục: The utter destruction of five cords of sensual pleasure. • Đoạn Tận Ngũ Dục: The abandoning of five cords of sensual pleasure. (P) Ngũ Triền Cái—Five hindrances: • Thắng Tri Ngũ Triền Cái: The direct knowledge of five hindrances—See Ngũ triền Cái. • Liễu Tri Ngũ Triền Cái: The full understanding of five hindrances. • Đoạn Diệt Ngũ Dục: The utter destruction of five hindrances. • Đoạn Tận Ngũ Dục: The abandoning of five hindrances. (Q) Ngũ Thủ Uẩn—Five aggregates subject to clinging: • Thắng Tri Ngũ Thủ Uẩn: The direct knowledge of five aggregates subject to clinging—See Ngũ Thủ Uẩn. • Liễu Tri Ngũ Thủ Uẩn: The full understanding of five aggregates subject to clinging. • Đoạn Diệt Ngũ Thủ Uẩn: The utter destruction of five aggregates subject to clinging. • Đoạn Tận Ngũ Thủ Uẩn: The abandoning of five aggregates subject to clinging. (R) Ngũ Hạ Phần Kết—Five lower fetters: • Thắng Tri Ngũ Hạ Phần Kết: The direct knowledge of five lower fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết. • Liễu Tri Ngũ Hạ Phần Kết: The full understanding of five lower fetters. • Đoạn Diệt Ngũ Hạ Phần Kết: The utter destruction of five lower fetters. • Đoạn Tận Ngũ Hạ Phần Kết: The abandoning of five lower fetters. (S) Ngũ Thượng Phần Kết—Five higher fetters: • Thắng Tri Ngũ Thượng Phần Kết: The direct knowledge of five higher fetters—See Ngũ Thượng Phần Kết. • Liễu Tri Ngũ Thượng Phần Kết: The full understanding of five higher fetters. • Đoạn Diêt Ngũ Thượng Phần Kết: The utter destruction of five higher fetters. • Đoạn Tận Ngũ Thượng Phần Kết: The abandoning of five higher fetters. (T) Thất Tùy Miên—Seven underlying tendencies: • Thắng Tri Thất Tùy Miên: The direct knowledge of seven underlying tendencies—See Thất Tùy Miên. • Liễu Tri Thất Tùy Miên: The full understanding of seven underlying tendencies. • Đoạn Diệt Thất Tùy Miên: The utter destruction of seven underlying tendencies. • Đoạn Tận Thất Tùy Miên: The abandoning of seven underlying tendencies.
tu tập căn lành
To cultivate good roots.
tu tập lực
The power acquired by the practice of all (good) conduct; the power of habit.
; Lực đạt được qua quá trình tu tập—The power acquired by the practice of all good conduct—The power of habit.
tu tập một mình
To ordain oneself
tu tập thiền
Tu tập Thiền gồm có ba cấp và mỗi cấp có bốn cách—To practice meditation consists of three grades and each grade has four kinds, to make the total of twelve ways. 1-4) Tứ Thiền Sắc Giới: Rupadhatu (skt)—Four form-realm-meditations—Sắc Giới Thiền lấy Sắc Giới Thiên làm đối tượng—The four form-realm-meditations have the form-heaven as their objective—See Tứ Thiền Thiên. 5-8) Tứ Thiền Vô Sắc Giới: Arupadhatu (skt)—Four formless-realm-meditations—Vô Sắc Giới Thiền lấy Vô sắc Giới Thiên làm đối tượng. Theo truyền thuyết, Đức Phật tu tập Vô sắc thiền với Arada Kalama, một nhà tu khổ hạnh đã đạt được trạng thái Thức Vô Biên; và với Udraka Ramaputra, một nhà tu khổ hạnh khác đã đạt được trạng thái cao nhất là Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Cuối cùng Đức Phật đã vượt qua các thầy mình, và, không còn gì để học hỏi nữa, Ngài tự dấn bước trên con đường của mình, mặc cho những lời yêu cầu nồng hậu của hai nhà tu khổ hạnh kia, mời Ngài ở lại để dạy cho các đố đệ của họ—Four formless-realm-meditations have the formless heaven as their objective. It is a well-known fact that in the Buddha's career he practiced the formless dhyana with Arada Kalama, and ascetic who attained the mental state of boundless consciousness, and Udraka Ramaputra, another ascetic who reached the highest stage of being neither conscious nor unconscious. Finally, the would-be Buddha surpassed his teachers and, having found no more to learn from them, went his own way in spite of their eager requests to stay and train their respective pupils—See Tứ Không Xứ. 9-12) Tứ Vô Lượng Thiền: Apramana-dhyana (skt)—Vô lượng thiền hoàn toàn giống như thiền của hệ thống Du Già. Vấn đề bên nào vay mượn bên nào, chúng ta không thể nói được. Cả hai đều mang chất Phật giáo—The measureless-meditations are exactly identical with those of the Yoga system. Which one is indebted to the other we cannot say. Both look quite Buddhistic—See Tứ Vô Lượng Tâm. • Từ: Matri (skt)— Benevolence—Ban vui cho người—To give joy to others. • Bi: Karuna (skt)—Mercy—Cứu khổ—To remove the suffering of others. • Hỷ: Mudita (skt)—Cheerfulness—Vui sướng hạnh phúc—To keep oneself happy. • Xả: Upeksa (skt)—Indifference.
tu tập thiện tâm
To cultivate a good heart—To plant a good heart.
Tu tập vị
修習位; C: xiūxí wèi; J: shūjūi; |Giai vị Tu đạo. Giai vị thứ tư trong 5 bậc theo pháp tu của Duy thức tông do Thế Thân giải thích trong Duy thức tam thập tụng. Bài tụng nầy giải thích nhờ tu tập thường xuyên trở về với lí Duy thức mà chứng ngộ được qua »kiến đạo«, thâm chứng được trí vô phân biệt và cắt đứt được mọi phiền não. Giai vị nầy tương quan với công hạnh của hàng Bồ Tát từ Đệ nhất địa đến Thập địa.
Tu tập vị 修習位
[ja] シュシュウ shūjūi ||| The 'stage of practice.' The fourth among the five stages of Consciousness-only practice as explained by Vasubandhu 世親 in his Thirty Verses on Consciousness-only. This is explained as practice by repeatedly returning to the principle of Consciousness-only that has been realized through the 'path of seeing', deepening the experience of non-discriminating knowledge and cutting off delusion. This stage is correlated to the ranks of bodhisattva practice from the first bhūmi to the tenth bhūmi. => Giai vị Tu đạo. Giai vị thứ tư trong 5 bậc theo pháp tu của Duy thức tông do Thế Thân giải thích trong Duy thức Tam Thập Tụng. Bài tụng nầy giải thích nhờ tu tập thường xuyên trở về với lý Duy thức mà chứng ngộ được qua "kiến đạo", thâm chứng được trí vô phân biệt và cắt đứt được mọi phiền não . Giai vị nầy tương quan với công hạnh của hàng Bồ-tát từ Đệ nhất địa đến Thập địa.
tu tập đạo đức
Cultivation of morality.
tu tập đạo đức và tinh thần
To cultivate moral and spiritual growths.
Tu tập 修習
[ja] シュシュウ shūjū ||| (1) Practice, cultivation; religious practice (panicarya, bhāvanā, abhyāsa, asevana). (2) Yoga practice. The practice of stabilizing and analytical meditation. => Có các nghĩa sau: 1. Thực hành, công phu, tu đạo (s: panicarya, bhāvanā, abhyāsa, asevana). 2.Thực hành pháp Du-già(Yoga). Tu tập pháp thiền Chỉ quán.
tu tắt
Con đường dễ—Pháp môn Tịnh Độ dựa vào cả tự lực lẫn tha lực từ chư Phật và chư Bồ tát—Easy path of practice—The Pure Land method which relies on both self-power and other-power, the power and assistance of the Buddhas or Boddhisattvas.
tu tỉnh
To improve—To mend one's ways.
tu tịnh độ ít bị ma cảnh nhờ có thần lực của chư phật; trái lại, người tu thiền gặp nhiều ma cảnh vì chỉ nương vào tự lực
Those who practice Reciting Amitabha Buddha's name seldom encounter demonic occurrences owing to the Buddhas' powers; Zen practitioners, on the contrary, face many demonic occurrences because they rely only on their strength (self-power).
tu viện
Monastery.
; Nunnery—Convent—Monastery.
tu xuất
To abandon the Buddhist order.
tu xà đa
Sujata (S)Thiện Sanh, Tù xà Đa, Thi ca la việt.Thôn nữ dâng thức ăn cứu Phật khi ngài kiệt sức, trước khi ngài chứng đắc. Cô thôn nữ làng Nan đà (Nanda) xứ Ưu lâu tần loa (Uruvilva) cúng thức ăn làm bằng sữa, bột và mật ong cho đức Phật. Sau đó Ngài tham thiền một ngày một đêm và đắc đạo. Phật có bảo ngài A nan rằng trong đời Ngài, có hai người cúng dường thức ăn được phước báu nhiều hơn hết là cô gái Tu xà Đa dâng thức ăn trước khi Phật đắc đạo và anh thợ rèn Thuần Đà dâng cơm lần cuối trước khi Phật nhập diệt.
; Sujàta (S). Also Thiện Sinh.
tu ác
Huân tập những điều ác, ngược lại với bản tánh ác—To cultivate evil—Cultivated evil in contrast with evil by nature.
tu đa la
Sùtra (S). Sùtras or addresses attributed to the Buddha, usually introduced by Như thị ngã văn Thus I have heard.
; Dịch là khế kinh, tức là kinh điển khế hợp căn cơ trình độ của chúng sanh, cũng là đúng theo ý Phật.
; Sutra (skt)—Còn gọi là Tô Đát Lãm, Tố Đát Lãm, Tu Đa La, Tu Đan La—Tu Đố Lộ—Tu Đa Lan-Tu Đan Lan Đa. 1) Xâu lại thành dây cho khỏi sút ra: To sew—To thread—To string together. 2) Sợi chỉ hay sợi dây: A thread, or a string. 3) Xâu lại thành tràng hoa: Strung together as a garland of flowers. 4) Kinh điển Phật Giáo, thường giới thiệu bằng “Như Thị Ngã Văn”: Buddhist sutras, usually introduced by “Thus Have I Heard.” 5) Phần thứ nhất trong Tam tạng, nhưng lắm khi ám chỉ tất cả kinh Phật: The Sutra-pitaka, or the first portion of the Tripitaka, but sometimes applied to the whole Buddhist Canon.
tu đa la luận
Xem Kinh lượng bộ.
Tu đoạn
修斷; C: xiūduàn; J: shudan;|Có các nghĩa sau: 1. Tu các thiện pháp, thực hành theo chính kiến… và giải trừ, làm tiêu tan mọi tập khí xấu ác (phiền não 煩惱); 2. Điểm then chốt của Tam học (s: bhāvana-ppdadhāna). Cũng thường viết là Tu đoạn (脩斷). Loại thứ tư trong Tứ chính đoạn (四正斷); 3. Những phiền não được diệt trừ trong giai vị Tu đạo (修道).
Tu đoạn 修斷
[ja] シュダン shudan ||| (1) To cultivate (修) goodness, the correct view, etc. and to sever (斷 extinguish, quell, eliminate) harmful habits (煩惱). (2)The crux of the three practices 三學. (bhāvana-ppdadhāna) Also commonly written 脩斷. The fourth of the four correct severances 四正斷. (3) Those afflictions that are severed in the Path of Cultivation . => Có các nghĩa sau: 1. Tu các thiện pháp, thực hành theo chính kiến... và giải trừ, làm tiêu tan mọi tập khí xấu ác (phiền não ). 2. Điểm then chốt của Tam học (s: bhāvana-ppdadhāna). Cũng thường viết là Tu đoạn 脩斷. Món thứ tư trong Tứ chính đoạn. 3. Những phiền não rất mãnh liệt trong giai vị Tu đạo 修道.
tu đà
Sùdra (S). The fourth caste.
; Sudra (skt)—Còn gọi là Thủ Đà La, giai cấp thấp nhất trong bốn giai cấp ở Ấn Độ vào thời Đức Phật còn tại thế—The fourth and the lowest caste in India at the time of the Buddha—See Tứ Giai Cấp Ấn Độ (4).
tu đà ban na
See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tu đà già
Xem Tu đà hoàn.
tu đà hoàn
Sotapatti (P), Stream-entry. Xem Tu đà hườn.
; Srota-àpanna (S). One who has entered the stream of holy living. Also Nhập lưu. Dự lưu.
; Srotapanna (skt)—Thánh quả đầu tiên trong Tứ Thánh Quả. Trong quả vị nầy, dù chưa vượt thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, hành giả không còn bị thối chuyển và chắc chắn sẽ đạt quả vị A La Hán sau bảy lần tái sanh giữa cõi nhân Thiên—This is the first step of the four before attaining Arhat Enlightenment. Although in this stage, the person is not yet free from the cycle of births and deaths, he will never again regress in his cultivated path and is guaranteed to reach Arhathood after seven more times of rebirths among Heaven and Humans—See Tứ Thánh Quả in Vietnamese-English Section, and Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tu đà hoàn (người)
Sotāpaa (P), Stream-enterer, Śrotāpanna (S.) Quả Nhập lưu, Quả Ngịch lưu, Sơ quảNgười đắc quả Tu đà hoàn. Trong 4 quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán thì quả Nhập lưu là quả vị đầu tiên của người bước chân lần đầu vào dòng suối chảy Niết bàn.(Xem thêm Sotapanna) Xem Thiện Lai.
tu đà hoàn quả
Sotapattiphala (P).
tu đà hoàn đạo
Sotapatti-magga (P)
tu đà hườn
Śrotāpaa (S), Sotapanna (P), Rgyn Zhugs (T)Quả dự lưuNgười đắc quả Tu đà hườn, bậc đã vào dòng Thánh.
tu đà hườn quả vị
Śrotāpai (S), Sotapatti (P)Quả Nhập lưu, quả Ngịch lưu, Sơ quả.
tu đà lý sá na
Sudarsana (skt). 1) Thiện Kiến—Beautiful. 2) Tên của một loài Dạ Xoa: Name of a yaksa.
tu đà tu ma
Sudhaman (skt)—Một vị vua được đề cập tới trong Đại Trí Độ Luận (theo Đại Trí Độ Luận, xưa có vua Tu Đà Tu Ma, trì giới tinh tấn, thường theo hạnh nói thật. Một sớm cỡi xe vào vườn chơi thì gặp một vị Bà La Môn đi tới xin bố thí. Vua nhận lời và bảo đợi đó khi vua trở lại sẽ bố thí. Khi vua vào vườn lại gặp vua quỷ hai cánh là Lộc Túc, từ không trung bay tới bắt vua bay đi. Đến núi quỷ ở, nó đặt vua trong 99 vị vua khác. Vua Tu Đà Tu Ma nước mắt như mưa. Lộc Túc hỏi vua Tu Đà Tu Ma vì cớ gì mà khóc như trẻ nít, vua Tu Đà Tu Ma nói: Ta không sợ chết, chỉ sợ thất tín với vị Bà La Môn, và nói rõ lý do cho Lộc Túc nghe. Lộc Túc bèn cho về và hẹn bảy ngày sau phải trở lại. Vua về nước bố thí cho vị Bà La Môn và lập thái tử lên làm vua. Qua bảy ngày vua đến gặp thái tử bảo là đến kỳ hẹn gặp Lộc Túc, thái tử khuyên vua nên bỏ ý định nầy, nhưng vua đọc ngay bài kệ về hạnh nói thật như sau: “Hạnh nói thật là điều răn thứ nhất. Hạnh nói thật đi lên thang trời. Nói thật là bậc người lớn lao. Hạnh nói sai trái đi vào địa ngục. Ta nay giữ lời nói thật thà bỏ tuổi thọ đời mình, lòng không hối hận.” Thế rồi vua đến nơi gặp Lộc Túc, Lộc Túc nghe vua khởi lên niềm tịnh tín, thả ngay vua cùng 99 vua khác trở về)—A king mentioned in the Maha-Prajna-Paramita sastra.
tu đính
To amend—To rectify.
Tu đạo
giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn Kiến đạo trong quá trình tu tập.
; 修道; C: xiūdào; J: shudō;|Có các nghĩa sau: 1. Tu tập đạo pháp; thực hành đạo lí (s: mārga-bhāvana); 2. Giai vị Tu đạo (Tu đạo vị), giai vị thứ tư trong Ngũ vị (五位) theo pháp tu của A-tì-đạt-ma và Du-già hành tông, là loại thứ hai trong Tam đạo (三道). Sau khi trải qua giai vị Kiến đạo (見道). Hành giả lập lại nỗ lực mới căn cứ trên nội quán mới có được nầy, quán sát sâu hơn để hoà nhập với Thật tại. Phiền não được chuyển hoá trong giai đoạn nầy là những thứ đeo bám rất sâu, như Câu sinh phiền não, Tư hoặc (倶生、思惑); trong khi giai đoạn trước của Kiến đạo, hành giả có thể giải trừ những phiền não ít thô trọng hơn (như Phân biệt khởi phiền não, Kiến hoặc 分別起、見惑). Theo luận Câu-xá, thể nhập vào giai vị này tương đương với quả vị Dự lưu (預流; theo Du-già luận 瑜伽論).
tu đạo
một trong các nghĩa của từ sa-môn. Xem sa-môn.
; To cultivate the way of religion; be religious; the way of self cultivation.
; 1) Tu hành theo pháp môn của tôn giáo: To practice the way—To cultivate the way of religion—To be religious. 2) Tự tu tập: The way of self-cultivation. 3) Con đường tu tập: The way of practice. 4) Ngôi vị Thanh Văn Thừa từ Nhất Lai đến A La Hán: In the Hinayana, the stage from Anagama to arhat. 5) Một trong thập địa Bồ Tát: In Mahayana, one of the bodhisattva stages.
Tu đạo vị
修道位; C: xiūdàowèi; J: shudōi;|Tu đạo.
Tu đạo vị 修道位
[ja] シュドウイ shudōi ||| See 修道. => Xem Tu đạo 修道.
Tu đạo 修道
[ja] シュドウ shudō ||| (1) To cultivate the Way; to practice the Tao. (mārga-bhāvana) (2) The path of cultivation (bhāvanā-mārga), the fourth of the five stages 五位 of Abhidharma and Yogācāra practice, the second of the three sagely paths 三道. After the experience of the path of seeing 見道, the practitioner renews his efforts based on this new insight, seeking further accordance with reality. The afflictions that are eliminated in this path are those that are more deeply embedded, such as the innately arisen afflictions (倶生、思惑), whereas the prior path of seeing is able to eliminate the less deeply embedded afflictions (). In the Abhidharmakośa, the entry into this stage is equivalent to that of stream winner . 〔瑜伽論 T 1579.30.313b2〕 => Có các nghĩa sau: 1. Tu tập đạo pháp; thực hành đạo lý (s:mārga-bhāvana). 2. Giai vị Tu đạo (Tu đạo vị), giai vị thứ tư trong Ngũ vị theo pháp tu của A-tì-đạt-ma và Du-già hành tông là món thứ hai trong Tam đạo. Sau khi trải qua giai vị Kiến đạo. Hành giả lập lại nỗ lực mới căn cứ trên nội quán mới có được nầy, quán sát sâu hơn để hòa nhập với Thực tại. Phiền não được chuyển hóa trong giai đoạn nầy là những thứ đeo bám rất sâu, như Câu sinh phiền não , Tư hoặc; trong khi giai đoạn trước của Kiến đạo, hành giả có thể giải trừ những phiền não ít thô trọng hơn (như Phân biệt khởi phiền não分別起, Kiến hoặc 見惑). Theo Luận Câu-xá, thể nhập vào giai vị này tương đương với quả vị Dự lưu 預流(e: stream winner).
tu đạt
1) Sudana (skt)—Tiền thân của Đức Thích Ca Mâu Ni, khi ngài bỏ cả quyền hành ngôi báu để tu hạnh bố thí—Sakyamuni as a prince in a former life (previous incarnation), when he forfeited the throne by his generosity (almsgiving). 2) Sudatta (skt)—Tên của trưởng giả Cấp Cô Độc, người nước Xá Vệ, đã dâng cúng ngôi tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên lên Đức Phật—Well-given, interpreted as a good giver, beneficient, known as benefactor of orphans, etc. Name of Anathapindaka, who bestowed the Jetavana vihara on the Buddha.
tu đạt lê xá na
Sudarsana (skt)—Còn gọi là Thiện Kiến Thiên hay Thiện Quán Thiên, cõi Phạm Thiên thứ 16, và cõi Tứ Thiền Thiên thứ sáu—The heaven of beautiful appearance, the sixteenth Brahmaloka, and sixth of the fourth Dhyana—See Phạm Thiên, and Tứ Thiền Thiên (4).
tu đạt nã
Sudana (skt)—See Tu Đạt (1).
tu đạt thiên
Sudrsas (skt)—See Thiện Hiện Thiên in Vietnamese-English Section.
tu đạt đa
Sudatta (S), Sudatta Anatha-pindika (S)Thiện Thí.
; Sudatta or Sudana (skt)—See Tu Đạt (2).
tu đạt đa a na bân đàn
Sudatta Anathapindika (S).
tu đạt, tu đạt đa
Sudatta (S). Also Thiện Tài.
tu đắc thiên nhĩ
Một lối giải thích tương đương cho thiên nhĩ thông—Another equivalent interpretation for deva-ear—See Thiên Nhĩ Thông.
tu đới thiên
Sudassana (P)Tu trệ thiên, Thiện kiến thiên, Thiện quán thiên, Thiện kiến thiên.
tu đức
To cultivate virtue; to improve oneself morally.
; Tu đức qua công phu, ngược lại với bản tánh tốt—Power of goodness attained by practice, in contrast with natural capacity for goodness (Tánh đức).
Tu 修
[ja] シュ shu shū ||| (1) To cultivate, to nurture, to develop, to adjust, to correct, to repair, to regulate, to reform. To prune. (2) More specifically, to cultivate morality, virtue or enlightenment. (3) Long. [Buddhism] (1) (Religious) practice. To practice. Refers generally to cultivation of goodness, and specifically to meditation practice (bhāvanā). Contemplation. In relation to the original nature, 修 refers to the bringing of that nature to its completion. To practice repeatedly at mental contemplation, bringing virtue to fruition. Also written 修行. The Sarvāstivādin sect recognized four kinds of practice 四修. (2) To carry out individual religious practice (). (3) To endeavor, to make effort. (4) An abbreviation for xiudao 修道. (5) The goodness that is coincident with meditation practice (bhāvanā). Synonymous with chanding 禪定. (6) To study, complete, cultivate, master; to put into order, repair. => Có các nghĩa sau: 1.Trau dồi, nuôi dưỡng, phát triển, điều chỉnh, sửa chữa, tu sửa, điều hòa, cải thiện. Sửa, bỏ bớt. 2. Cụ thể hơn là tu dưỡng đạo đức hoặc đạo giác ngộ . 3. Lâu dài. [Thuật ngữ Phật học] 1. Tu (đạo). Tu tập. Thường có nghĩa tu tập thiện pháp, và đặc biệt là tu tập thiền định (s:bhāvanā). Tập định, để tạo mối tương quan với bản tánh, Tu có nghĩa là đưa bản tánh ấy đến nơi viên mãn. Thực hành tập trung tâm ý đều đặn làm cho đức hạnh tròn đầy. Còn gọi là Tu hành. Các Luận sư phái Nhất thiết hữu bộ công nhận có 4 pháp tu (Tứ tu). 2. Thực hành pháp môn riêng của mình (s: pratinisevana). 3. Nỗ lực, tinh tấn. 4. Viết tắt của Tu đạo (c: xiudao). 5. Thiện pháp tương ưng với công phu thiền định(s:bhāvanā). Đồng nghĩa vời Thiền định (c: chanding 禪定). 6. Nghiên cứu, hoàn chỉnh, tu dưỡng, thông thạo; đưa (sự việc)vào trật tự, hồi phục lại.
Tu 脩
[ja] シュ shū ||| (1) To handle, deal with, practice, enact, do. (2) To learn; to adjust. Warn, admonish. (3) Long, a long time. Often used interchangeably with the homonym 修. => 1. Điều khiển hành xử, thực hành, đóng vai, làm. 2. Học; điều chỉnh. Cảnh báo, răn bảo. 3. Lâu, thời gian lâu. Thường được dùng thay thế cho từ đồng âm Tu 修.
Tu-bạt-đà
phiên âm từ Phạn ngữ Subhadra, cũng đọc là Tu-bạt-đà-la, dịch nghĩa là Thiện Hiền, là vị Phạm chí ngoại đạo được Phật thu nhận làm đệ tử cuối cùng trước khi ngài nhập Niết-bàn. Ông là vị đệ tử xuất gia cuối cùng của Phật, xuất gia vào lúc đã 120 tuổi, ngay vào lúc đức Phật đã sắp nhập Niết-bàn. Sau khi thọ giới pháp tỳ-kheo ông lập tức chứng đắc quả A-la-hán và nhập Niết-bàn trước Phật.
Tu-bạt-đà-la
xem Tu-bạt-đà.
Tu-bồ-đề
須菩提; S, P: subhūti; tên dịch nghĩa là Thiện Hiện, Thiện Cát, Thiện Nghiệp;|Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Tôn giả là người nổi tiếng về phép thiền quán về lòng Từ (s: maitrī; kinh Từ bi). Trong bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, Tôn giả là người giải thích tính Không (s: śūnyatā) ưu việt nhất.
Tu-di sơn
須彌山; S: meru, sumeru;|Theo vũ trụ quan của Ấn Ðộ cổ thì Tu-di là trung tâm của vũ trụ và là trú xứ của chư Thiên. Về núi Tu-di thì hai quan niệm vũ trụ của Bà-la-môn và Phật giáo giống nhau, ngoài ra chúng lại có nhiều chỗ khác nhau về các hệ phụ thuộc.|Theo quan niệm Phật giáo thì xung quanh núi Tu-di là biển cả và lục địa bao bọc; dưới núi Tu-di là cõi của loài Ngạ quỷ (s: preta), phía trên là từng của các Thiên giới (s: deva) cao cấp, các tầng Sắc giới (s: rūpaloka) cũng như các tầng Vô sắc giới (Ba thế giới) và Tịnh độ.
Tu-la
修羅; C: xiūluó; J: shura;|Cách viết ngắn của từ A-tu-la (阿修羅).
Tu-tha-la
修他羅; C: xiūtāluó; J: shūtara;|Phiên âm chữ sūtra trong tiếng Phạn. Giáo pháp của đức Phật được truyền qua kinh điển. Một trong 12 thể loại của Kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Tiếng Hán dịch ý là Kinh (經).
Tu-tha-la 修他羅
[ja] シュタラ shūtara ||| A transcription of the Sanskrit sūtra. The transmission of the Buddha's teachings in written works. One of the twelve classifications of Buddhist literature 十二部經. Translated into Chinese with the ideograph jing 經. => Phiên âm chữ sūtra trong tiếng Sanskrit. Giáo pháp của Đức Phật được truyền qua kinh điển. Một trong 12 thể loại của Kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh). Tiếng Hán dịch bằng chữ hội ý là Kinh (c: 經).
Tu-đa-la
(修多羅): phiên âm từ Phạn ngữ là Stra, dịch nghĩa là Khế kinh, Pháp bổn, cũng gọi là Khế phạm, Khế tuyến, chỉ chung những kinh điển do Phật thuyết dạy, vì khế hợp với căn cơ chúng sanh nên gọi là Khế kinh. Cũng hiểu theo hai nghĩa là khế lý (phù hợp về lý lẽ) và khế cơ (phù hợp về căn cơ). Xem thêm Mười hai bộ kinh.
; 修多羅; C: xiūduōluó; J: shūtara;|Cũng như Tu-tha-la (修他羅).
Tu-đa-la 修多羅
[ja] シュタラ shūtara ||| Same as 修他羅. => Cũng như Tu-tha-la 修他羅.
Tu-đà-hoàn
phiên âm từ Phạn ngữ là Srota-panna, là quả vị đầu tiên trong Bốn thánh quả của hàng Thanh văn, dịch nghĩa là Nhập lưu (入流), Chí lưu (至流) hay Nghịch lưu (逆流); các nhà Tân dịch về sau dịch là Dự lưu (預流). Xem bốn quả thánh.
; 須陀洹; S: śrotāpanna; P: sotāpanna; |Dự lưu
Tu-đạt
xem Tu-đạt-đa A-na-bân-đàn.
Tu-đạt-đa A-na-bân-đàn
phiên âm từ Phạn ngữ là Sudatta Anthapiṇḍada, cũng đọc là Tu-đạt-đa A-na-bân-để, là tên và hiệu của một vị trưởng giả giàu có, hiền thiện ở thành Xá-vệ (Śrvastỵ), cũng là đại thần của vua Ba-tư-nặc. Tên ông là Tu-đạt-đa (cũng đọc là Tu-đạt), nhưng vì thường làm việc cấp thí cho những người cô độc, đói thiếu, nên được dân chúng xưng hiệu là A-na-bân-đàn, Hán dịch là Cấp Cô Độc, nghĩa là người thường chu cấp, bố thí cho những kẻ cô độc. Ông thường làm nhiều việc thiện và cúng dường Tam bảo. Chính ông đã mua khu vườn của Trưởng giả Kỳ-đà rồi xây dựng Tinh xá Kỳ Viên để dâng cúng cho Phật và Giáo hội.
Tu-đạt-đa A-na-bân-để
xem Tu-đạt-đa A-na-bân-đàn.
Tu-đạt-đa rất nghèo
người này trùng tên với trưởng giả Tu-đạt-đa, nhưng lại rất nghèo khó. Một hôm bới trong đống phân hôi được khúc gỗ chiên đàn quý, mang bán lấy tiền mua được 4 đấu gạo, vui mừng bảo vợ nấu ngay một đấu để cùng ăn. Đức Phật quán xét nhân duyên biết đã đến lúc cứu độ được người này, liền bảo ngài Xá-lợi-phất ngay khi ấy đến khất thực. Người vợ Tu-đạt-đa hoan hỷ cúng dường trọn số cơm ấy cho ngài. Lại nấu một đấu gạo nữa, Phật bảo ngài Mục-kiền-liên đến khất thực. Người vợ cũng vui vẻ cúng dường. Nấu lần thứ ba, Phật lại bảo ngài Ca-diếp đến khất thực, người vợ lại cũng vui vẻ cúng dường. Đến khi nấu chín đấu gạo cuối cùng, đức Phật tự đến khất thực, vợ chồng Tu-đạt-đa cũng hoan hỷ cúng dường cả phần cơm cuối cùng này. Phật thọ nhận, chú nguyện cho hai người, ngay trong ngày đó liền diệt hết mọi tội chướng trước đây, sanh đại phước đức, các thứ trân bảo quý giá tự nhiên sanh ra đầy nhà, trở nên giàu có. Họ lại thường xuyên thỉnh Phật và chư tăng đến thọ cúng dường. Phật vì họ mà thuyết pháp, khiến cho đều được hiểu đạo. Câu chuyện này có ghi chép trong kinh Tạp thí dụ, quyển hạ; kinh Tạp bảo tạng, quyển 2 và Kinh luật dị tướng, quyển 35.
tum húm
Narrow.
tung
To throw—To fling—To cast—To toss up.
tung hoành
Vertical or horizontal—Free in all directions.
tung hô
To cheer.
Tung sơn
嵩山; C: sōngshān; J: sūsan, sūzan;|Một rặng núi thiêng ở Hồ Nam, Trung Quốc. Trên dãy núi này có rất nhiều chùa và nổi tiếng nhất là Thiếu Lâm tự trên ngọn Thiếu Thất, nơi Bồ-đề Ðạt-ma đã dừng chân.
tung sơn
SŪsan (J), SŪzan (J), Songshan (C), Suzan (J)Ngọn núi thuộc tỉnh Hà nam, nam Trung quốc, nơi có chùa Thiếu Lâm và Bồ Đề Đạt Ma, Tổ thứ nhất dòng thiền trung quốc, đã trú ngụ tại đó.
tung tích
Trail—Trace.
tung tăng
To run here and there.
tuy
Though—In spite of—Although.
tuy hai mà một
Although two, they are really one.
tuy nhiên
However.
tuy thế
Nevertheless.
tuyên bố
To announce publicly or officially—To proclaim.
tuyên dương
To commend—To cite—To praise.
Tuyên dương 宣揚
[ja] センヨウ senyō ||| To enhance, exalt, increase, spread, propagate. To make clear to (the world) (upadeśya). => Đề cao, tán dương, tăng thêm, trải rộng ra, truyền bá. Làm cho sáng sủa dẽ hiểu (s: upadeśya).
Tuyên Giám
宣鑒|Ðức Sơn Tuyên Giám.
tuyên giám
Senkan (J)Tên một vị sư.
tuyên giám đức sơn
See Đức Sơn Tuyên Giám.
Tuyên Giáo Sứ
(宣敎使, Senkyōshi): tên một chức quan dưới thời đại Minh Trị. Với mục đích truyền bá, bố giáo giáo pháp tối thượng, vào ngày mồng 8 tháng 7 năm 1869 (Minh Trị [明治] 2), một số chức viên được quy định như Trưởng Quan (長官), Thứ Quan (次官), Giảng Nghĩa Sinh (講義生), Sử Sinh (史生), Phán Quan (判官), Chủ Điển (主典), Tuyên Giáo Sứ (宣敎使), v.v. Đến ngày mồng 9 tháng 10 cùng năm ấy, các chức Chánh Đại Tuyên Giáo (正大宣敎), Chánh Trung Tuyên Giáo (正中宣敎), Chánh Thiếu Tuyên Giáo (正少宣敎), Quyền Đại Tuyên Giáo (權大宣敎), Quyền Trung Tuyên Giáo (權中宣敎), Quyền Thiếu Tuyên Giáo (權少宣敎) được đổi thành Chánh Đại Bác Sĩ (正大博士), Chánh Trung Bác Sĩ (正中博士), Chánh Thiếu Bác Sĩ (正少博士), Quyền Đại Bác Sĩ (權大博士), Quyền Trung Bác Sĩ (權中博士), Quyền Thiếu Bác Sĩ (權少博士). Cuối cùng vào ngày 14 tháng 3 năm 1872 (Minh Trị 5), cơ quan này bị phế bỏ hoàn toàn.
tuyên huấn
Information and training.
tuyên hóa
Hsuan-Hua (1918-1995)—Một Pháp Sư Trung Hoa nổi tiếng tại Mỹ, ông là viện chủ Thiền Viện Kim Sơn tại California, chủ tịch hội Phật Giáo Á Mỹ. Năm 19 tuổi, khi mẹ ông qua đời, ông xuất gia và thọ giới Sa Di. Sau Thế Chiến thứ hai, ông du hành đến Nam Hoa tự viện thuộc tỉnh Quảng Đông để thăm viến Hòa Thượng Hư Vân. Trong chuyến du hành nầy ông đã thọ cụ túc giới tại núi Phổ Đà. Vào năm 1962, ông đến định cư tại Mỹ. Mùa hè năm 1968, ông thuyết giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm cho chúng hội trong 96 ngày. Ông cũng giảng những kinh khác như kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Hoa Nghiêm, Tứ Thập Nhị Chương, vân vân. Ông cũng xây dựng ngôi Vạn Phật Thánh Thành tại Cựu Kim Sơn trước khi ông thị tịch vào năm 1995—Hsuan-Hua (1918-1995), a famous Chinese Dharma Master, Abbot of Gold Mountain Dhyana Monastery in California and Chairman of Sino-American Buddhist Association. At age 19 after his mother died, he took Sramanera ordination. After World War II, he traveled to Nan-Hua monastery in Canton province to visit Most Venerable Hsu-Yun. He received Bhikshu ordination at Mount P'u-T'o during this journey. He settled in the United States in 1962. In summer 1968, he conducted a Surangama Sutra Assembly lasting 96 days. He also delivered lectures on other sutras as the Lotus Sutra, the Diamond Sutra, the Hua-Yen Sutra, the Sutra of the Forty-Two Sections, etc. He established the City of Ten Thousand Buddhas Monastery before he passed away in 1995.
tuyên linh
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong ấp Tân Quới Đông B, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng vào năm 1861 với tên Tiên Linh Tự. Năm 1907, Hòa Thượng Như Trí (tục danh Lê Khánh Hòa) về trụ trì và đổi tên chùa thành Tuyên Linh Tự vào năm 1924. Hòa Thượng Như Trí là người đầu tiên chủ xướng “Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo” từ thập niên 1920, ngài cho xuất bản tạp chí Pháp Âm, lập các trường Phật học để đào tạo Tăng Ni, trong đó chùa Tuyên Linh ra đời trước nhất. Trong chùa có hai tấm bảng gỗ khắc tên bằng chữ Hán những thí chủ đã cúng đất và địa đồ lập chùa trong đợt trùng tu do Tổ Khánh Hòa tổ chức năm 1941—Name of a famous ancient pagoda located in Tân Quới Đông B hamlet, Minh Đức village, Mỏ cày district, Bến Tre province, South Vietnam. The pagoda was built in 1861 with the name of Tiên Linh Tự. In 1907, Head of the pagoda, Most Venerable Như Trí (his worldly name was Lê Khánh Hòa) renamed it Tuyên Linh Tự. He was the founder of the “Movement of Improving Buddhism” in the 1920s. He also had Pháp Âm Magazine published and established the Buddhist schools for Monks and Nuns' Training of which the Buddhist School of Tuyên Linh Pagoda was first opened. There are two wooden boards on which one can read the name of the Buddhist laymen written in Chinese characters. These contributors donated lands and maps on the occasion of rebuilding the pagoda organized by Patriarch Khánh Hòa in 1941.
tuyên lưu
Hoằng hóa giáo pháp—To spread abroad—Widespread.
tuyên ngôn
To proclaim—To declare.
tuyên phán
To pronounce (pass—deliver) a sentence.
tuyên thuyết
Diễn thuyết giáo pháp—To preach all over the place.
Tuyên thuyết 宣説
[ja] センゼツ senzetsu ||| To explain or transmit the teachings. => Giảng giải và truyền bá giáo lý.
Tuyên Thập
(宣什, Senjū, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Quả Lãng (果閬, Tứ Xuyên), người đề xướng Nam Sơn Niệm Phật Môn Thiền Tông. Căn cứ vào Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ (中華傳心地禪門師資承襲圖) của Tông Mật (宗密) cho biết rằng ông là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng, tuy nhiên phần hạ của Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao (圓覺經大疏鈔) quyển 3 lại cho ông thuộc môn hạ của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn.
tuyên thệ
To be sworn in before someone—To take an oath.
tuyên án
To deliver (pronounce) a sentence.
Tuyên 宣
[ja] セン sen ||| (1) To tell, to express one's ideas. To explain, to clarify. To inform people broadly. To proclaim, to display. (2) Wide, broad, comprehensive. => 1. Nói ra, bày tỏ ý tưởng của mình. Giảng giải, làm cho dể hiểu. Báo tin cho công chúng. Công bố, trưng bày. 2. Rộng rãi, khoáng đạt, bao hàm toàn diện.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn
雪峰義存, Seppō Gison, 822-908): người Huyện Nam An (南安縣), Tuyền Châu (泉州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Tằng (曾), sinh năm thứ 2 niên hiệu Trường Khánh (長慶). Năm lên 12 tuổi, ông cùng với cha mình đến tham yết Khánh Huyền Luật Sư (慶玄律師) ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) thuộc Huyện Bồ Điền (莆田縣, thuộc Tỉnh Phúc Kiến) và làm Sa Di tại đây. Năm lên 17 tuổi, ông được đặt cho pháp húy là Nghĩa Tồn. Đến năm lên 24 tuổi, gặp phải nạn phế Phật Hội Xương, ông mặc đồ thế tục đến tham bái Phù Dung Linh Huấn (芙蓉靈訓). Về sau, ông đến làm môn hạ của Động Sơn Lương Giới (洞山良价), chuyên chịu trách nhiệm nấu cơm cho chúng ăn; nhưng vì cơ duyên chưa khế ngộ nên ông theo lời chỉ thị đến tham học với Đức Sơn Tuyên Giám (德山宣鑑). Có hôm nọ, ông cùng với Nham Đầu Toàn Khoát (巖頭全奯) và Khâm Sơn Văn Thúy (欽山文邃) đi hành cước đến Ngao Sơn (鰲山) vùng Lễ Châu (澧州, thuộc Tỉnh Hồ Nam) thì bị tuyết rơi mắc kẹt không đi được, nên cả ba đều chuyên tâm ngồi Thiền. Sau ông đại ngộ và kế thừa dòng pháp của Đức Sơn. Vào năm thứ 9 (868) niên hiệu Hàm Thông (咸通), ông đến trú ở Linh Động Nham (靈洞巖), rồi sau đó vào ẩn cư trong Tượng Cốt Phong (象骨峰) ở Phúc Châu (福州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến). Đến năm đầu niên hiệu Càn Phù (乾符), chùa của ông được ban cho hiệu là Ứng Thiên Tuyết Phong Tự (應天雪峰寺). Chính nơi đây ông đã quy y cho rất nhiều quan lại của triều đình. Vào năm thứ 2 (882) niên hiệu Trung Hòa (中和), ông được Hy Tông Hoàng Đế (禧宗皇帝) ban cho Tử Y và hiệu là Chơn Giác Đại Sư (眞覺大師). Môn hạ của ông có những nhân vật xuất chúng như Huyền Sa Sư Bị (玄沙師僃), Trường Khánh Huệ Lăng (長慶慧稜), Cổ Sơn Thần Yến (鼓山神晏), Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), Bảo Phước Tùng Triển (保福從展), v.v., đã lấy vùng đất Giang Nam làm trung tâm để cổ xướng tông phong độc đáo của ông. Vào ngày mồng 2 tháng 5 năm thứ 2 (908) niên hiệu Khai Bình (開平), ông thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi đời và 59 hạ lạp. Ông còn lưu lại bộ Tuyết Phong Chơn Giác Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰眞覺禪師語錄) 2 quyển.
Tuyết Đàm Thiệu Phác
(雪潭紹璞, Settan Shōboku, 1812-1873): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Giang Hộ, húy Thiệu Phác (紹璞), đạo hiệu Tuyết Đàm (雪潭), thụy hiệu Chơn Như Minh Giác Thiền Sư (眞如明覺禪師), xuất thân vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]), dòng họ Cổ Điền (古田). Năm lên 10 tuổi, ông theo xuất gia với Đồng Nhạc (桐岳) ở Đại Thái Tự (大泰寺) vùng Kỷ Y, và sau được ấn chứng của Tông Thọ (宗壽) ở Từ Ân Tự (慈恩寺, Jion-ji) vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino). Trong khoảng niên hiệu Thiên Bảo (天保, 1830-1844), ông đến sống ở Đại Thái Tự, và đến năm 1841 thì chuyển đến Thiên Trạch Am (天澤庵) vùng Mỹ Nùng. Năm 1847, ông đến trú tại ở Chánh Nhãn Tự (正眼寺). Thiền phong của ông rất tráng liệt, được gọi là Lôi Tuyết Đàm (雷雪潭). Đến năm sau, ông được Thiên Hoàng ban cho Tử Y.
tuyến
1) Đường: Line. 2) Sợi chỉ: A thread. 3) Sợi dây: A wire.
tuyến hương
Ốp nhang, loại cháy chậm và lâu tàn—Thread or string incense, slow-burning and prolonged.
tuyết
Snow.
; Snow.
Tuyết Am Tùng Cẩn
(雪庵從瑾, Settan Jūkin, 1117-1200): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tuyết Am (雪庵), họ là Trịnh (鄭), người vùng Nam Khê (楠溪), Vĩnh Gia (永嘉, Tỉnh Triết Giang). Ban đầu ông đến lễ bái Tử Hồi (子回) ở Phổ An Viện (普安院) làm thầy và được xuống tóc xuất gia. Sau ông đến Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang) tham yết Tâm Văn Đàm Bí (心聞曇賁), kế tiếp ông đến Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), gặp được Phật Trí (佛智). Khi nghe Tâm Văn Đàm Bí chuyển đến vùng Giang Tâm (江心) thuộc vùng Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), ông lại đến tham vấn lần nữa. Chính tại đây ông được kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông đến sống tại Linh Nham Tự (靈巖寺) vùng Nghi Chơn (儀眞, Tỉnh Triết Giang), tiếp theo là Thiên Đồng Sơn (天童山) ở Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 23 tháng 7 năm thứ 6 niên hiệu Khánh Nguyên (慶元), ông thị tịch, hưởng thọ 84 tuổi đời và 70 hạ lạp. Ông có để lại cuốn Tuyết Am Tùng Cẩn Thiền Sư Tụng Cổ Tập (雪庵從瑾禪師頌古集) 1 quyển.
Tuyết Lãnh
(雪嶺): có 3 nghĩa chính. (1) Đỉnh núi đầy tuyết. Như trong bài Tùng Quân Hành (從軍行) của Lô Luân (盧綸, 739-799) nhà Đường có câu: “Tuyết lãnh vô nhân tích, băng hà túc nhạn thanh (雪嶺無人跡、冰河足雁聲, núi tuyết chẳng bóng người, sông băng tiếng nhạn vang).” (2) Chỉ cho thánh địa Phật Giáo hay chỗ ở của chư tăng, đồng nghĩa với Tuyết Sơn (雪山). Như trong bài thơ Hoài Huệ Minh Thiền Sư (懷惠明禪師) của Bào Dong (鮑溶, ?-?) nhà Đường có câu: “Tuyết lãnh vô nhân hựu vấn lai, thập niên Hạ lạp bình an phủ (雪嶺無人又問來、十年夏臘平安否, núi tuyết chẳng người đến thăm hỏi, mười năm Hạ lạp bình yên không ?).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 89, phần Lâm Tế Tông (臨濟宗), Kinh Môn Khuê Sơn Ngũ Nhãn Dục Thiền Sư (荊門圭山五眼毓禪師), có đoạn: “Kinh hàn tuyết lãnh dĩ đa niên, đổ trước minh tinh tợ nhãn xuyên, Đông Độ Tây Thiên kim cổ hoán, giai đề trụ trượng hiện gia truyền (經寒雪嶺已多年、睹著明星似眼穿、東土西天今古煥、皆提拄杖現家傳, chịu hàn núi tuyết đã nhiều năm, thấy rõ trước mắt sao sáng quang, Đông Độ Tây Thiên xưa nay tỏ, thảy đều chống gậy hiện gia truyền).” Hoặc trong Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trai Kỵ Lễ Tán Văn (天台智者大師齋忌禮讚文, Taishō Vol. 46, No. 1948) lại có câu rằng: “Hà duyên kim nhật ngẫu đắc nhân thân, hiệu Tuyết Lãnh xuất gia, trị Thiên Thai di giáo (何緣今日偶得人身、效雪嶺出家、値天台遺敎, duyên gì hôm nay may được thân người, bắt chước Núi Tuyết [đức Phật Thích Ca] xuất gia, gặp được Thiên Thai [Trí Khải Đại Sư] giáo pháp).” (3) Chỉ cho Dân Sơn (岷山) ở Tứ Xuyên (四川). Như trong bài thơ Đỗ Công Bộ Thục Trung Ly Tịch (杜工部蜀中離席) có câu: “Tuyết lãnh vị quy thiên ngoại sứ, Tùng Châu do trú điện tiền quân (雪嶺未歸天外使、松州猶駐殿前軍, núi Dân chửa về ngàm dặm sứ, Tùng Châu còn đóng bao cấm quân).”
tuyết lãnh
Xem Ma la da.
tuyết lĩnh
The snow mountains, the Himàlayas.
tuyết nham
Hsueh yen (C)Tên một vị sư.
Tuyết Nham Tổ Khâm
(雪巖祖欽, Seggan Sokin, ?-1287): vị tăng thuộc Phái Dương Kì và Phái Phá Am của Lâm Tế Tông Trung Quốc, còn gọi là Pháp Khâm (法欽), hiệu là Tuyết Nham (雪巖), người vùng Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang). Năm lên 5 tuổi, ông xuất gia làm Sa Di, đến 18 bắt đầu đi hành cước khắp nơi. Ông đã từng tham vấn một số vị tôn túc như Trí Bồng Viễn (智篷遠) ở Song Lâm Tự (雙林寺), Diệu Phong Chi Thiện (妙峰之善), Diệt Ông Văn Lễ (滅翁文禮) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺). Sau ông đến Kính Sơn (徑山), tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào tháng 8 năm đầu (1253) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết giảng tại Long Hưng Tự (龍興寺) thuộc Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam). Kế đến ông đã sống qua một số nơi như Đạo Lâm Tự (道林寺) ở Tương Tây (湘西, Tỉnh Hồ Nam), Nam Minh Phật Nhật Thiền Tự (南明佛日禪寺) ở Xử Châu (處州, Tỉnh Triết Giang), Tiên Cư Hộ Thánh Thiền Tự (仙居護聖禪寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Quang Hiếu Thiền Tự (光孝禪寺) ở Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), Ngưỡng Sơn Thiền Tự (仰山禪寺) ở Viên Châu (袁州, Tỉnh Giang Tây). Vào năm 1287 niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông thị tịch, hưởng thọ hơn 70 tuổi. Trước tác của ông để lại có Tuyết Nham Hòa Thượng Ngữ Lục (雪巖和尚語錄) 4 quyển.
tuyết phong
Hsueh-feng (C), Seppo Gison (J), Hsueh-feng (C)Tên một vị sư. Có đến 56 đời truyền thừa giáo pháp.Tên một vị sư.
Tuyết Phong Chơn Giác Thiền Sư Ngữ Lục
(雪峰眞覺禪師語錄, Seppōshinkakuzenjigoroku): 2 quyển, do Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) nhà Đường soạn, Lâm Hoằng Diễn (林弘衍) biên tập, san hành vào năm thứ 12 (1639) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), còn được gọi là Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰義存禪師語錄, Seppōgisonzenjigoroku), Tuyết Phong Quảng Lục (雪峰廣錄, Seppōkōroku). Qua lời tựa của Vương Tùy (王隨) vào năm thứ 10 (1032) niên hiệu Thiên Thánh (天聖) và lời tựa của Tôn Giác (孫覺) vào năm thứ 3 (1080) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), chúng ta biết rằng tác phẩm này đã được san hành dưới thời nhà Tống. Người ta cho thêm vào phần Niên Phổ do Tuyết Phong Ngộ Dật (雪峰悟逸) biên vào năm đầu (1321) niên hiệu Chí Trị (至治) cùng với bản Tuyết Phong Sùng Thánh Thiền Tự Bi Ký Văn (雪峰崇聖禪寺碑記文) của Hồ Huỳnh (胡濙) soạn vào năm thứ 8 (1433) niên hiệu Tuyên Đức (宣德) và san hành bản này. Đại bộ phận nội dung của nó gồm các ngữ yếu thượng đường thị chúng, những vấn đáp thương lượng với chư vị tiên đức khắp nơi, đồng bối, môn hạ, v.v.; ngoài ra còn có một số ít kệ tụng, quy tắc, lời răn dạy, v.v. Cuối quyển hai có thêm phần Niên Phổ. Sau đó, vào năm thứ 15 (1702) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), Vạn Sơn Đạo Bạch (卍山道白) có thêm vào phần phụ lục Tuyết Phong Thiền Sư Nhị Thập Tứ Cảnh Thi (雪峰禪師二十四景詩) và cho san hành tác phẩm này.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn
雪峰義存; C: xuéfēng yìcún; J: seppō gison; 822-908;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðức Sơn Tuyên Giám. Từ dòng thiền của Sư xuất sinh ra hai tông lớn của Thiền tông, đó là tông Vân Môn và Pháp Nhãn. Sư Ấn khả cho 56 môn đệ, trong đó các vị Vân Môn Văn Yển, Huyền Sa Sư Bị và Trường Khánh Huệ Lăng là ba vị danh tiếng nhất.|Sư sinh trong một gia đình mộ đạo. Thuở nhỏ Sư không ăn thịt cá, muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho. Năm 12 tuổi, Sư theo cha đến chùa. Gặp một Luật sư, Sư làm lễ nói »Thầy con« và sau đó xin ở lại học luôn. Sau khi thụ giới cụ túc tại chùa Bảo Sát, U Khê, Sư tham học với nhiều Thiền sư. Ban đầu Sư đến Thiền sư Lương Giới ở Ðộng Sơn làm Ðiển toạ, tại đây có tỉnh, sau đến Ðức Sơn được thầm nhận.|Mặc dù chưa triệt ngộ, Sư cùng Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát từ giã Ðức Sơn đi du phương. Nham Ðầu ngày ngày chỉ lo ngủ, Sư chỉ chăm Toạ thiền. Một hôm Sư đánh thức Nham Ðầu: »Sư huynh! Sư huynh! hãy dậy!« Nham Ðầu hỏi: »Cái gì?« Sư nói: »Ðời nay chẳng giải quyết xong, lão Văn Thuý (tức là Thiền sư Khâm Sơn) đi Hành cước đến chỗ nơi, sẽ bị y chê cười. Từ hôm đến nay sao cứ lo ngủ!« Nham Ðầu nạt: »Ngủ đi! Mỗi ngày ngồi trên giường giống như Thổ địa trong thôn xóm hẻo lánh, sau này làm mê hoặc người trong thiên hạ« Sư tự chỉ hông ngực thưa: »Tôi trong ấy thật chưa ổn, chẳng dám tự dối« Nham Ðầu bảo: »Ta bảo Huynh ngày kia sẽ nhằm trên đỉnh chót vót cất am tranh xiển dương đại giáo, vẫn còn nói câu ấy?« Nham Ðầu bảo Sư nói sở đắc, được thì chứng minh, không được thì phá bỏ. Sư trình sở đắc nơi Ðộng Sơn (Lương Giới) và Ðức Sơn, Nham Ðầu đều gạt bỏ, hét bảo: »Huynh chẳng nghe nói, từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà!« Sư bèn hỏi: »Về sau thế nào là phải?« Nham Ðầu nói: »Về sau muốn xiển dương đại giáo, mỗi mỗi phải từ hông ngực mình ra, sau này cùng ta che trời che đất đi.« Nhân câu này Sư đại ngộ, lễ bái và nói: »Sư huynh, ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn.«|Sau Sư đến núi Tuyết Phong dựng một am nhỏ ngụ tại đây. Không bao lâu thiền giả mọi nơi đến tham vấn và nơi này trở thành một thiền viện với 1500 người tham thiền. Môn đệ của Sư nổi danh về kỉ luật, trật tự nề nếp tu hành và rất nhiều người ngộ đạo tại đây.|Ðời Lương, niên hiệu Thái Bình (908) ngày mùng hai tháng năm, Sư để kệ truyền pháp xong nửa đêm nhập diệt, thọ 87 tuổi, 59 tuổi hạ.
tuyết phong nghĩa tồn
Seppō Gison (J), Hsueh-feng I-ts'un (C), Xuefeng Yicun (C)(822-908) Đệ tử và là người truyền thừa của ngài Đức Sơn Tuyên GiámTên một vị sư.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền Sư Ngữ Lục
(雪峰義存禪師語錄, Seppōgisonzenjigoroku): xem Tuyết Phong Chơn Giác Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰眞覺禪師語錄, Seppōshinkakuzenjigoroku) ở trên.
Tuyết Phong Quảng Lục
(雪峰廣錄, Seppōkōroku): xem Tuyết Phong Chơn Giác Thiền Sư Ngữ Lục (雪峰眞覺禪師語錄, Seppōshinkakuzenjigoroku) ở trên.
tuyết phong thiền sư
Zen Master Xue-Feng Yi-Cun—See Nghĩa Tồn Tuyết Phong Thiền Sư.
Tuyết Song Phổ Minh
(雪窻普明, Sessō Fumin, khoảng thế kỷ 13-14): vị tăng sống dưới thời nhà Nguyên, không rõ xuất thân, năm sinh và mất, tự là Tuyết Song (雪窻), đệ tử của Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙), đồng môn với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢), chuyên về vẽ hoa lan. Vào năm thứ 2 (1322) niên hiệu Chí Trị (至治) đời vua Anh Tông, tất cả tu sĩ của Phật Giáo và Nho Giáo có năng khiếu về hội họa của vùng Giang Nam (江南) đều tập trung về Bắc Kinh (北京), khi nhà vua hạ lệnh cho ông viết kinh bằng chữ vàng, cũng có vị danh tăng Sở Thạch Phạm Kỳ (楚石梵琦) tham dự. Vào năm thứ 4 (1338) niên hiệu Chí Nguyên (至元) đời vua Thuận Đế, ông làm trú trì Vân Nham Tự (雲巖寺), rồi đến năm thứ 4 (1344) niên hiệu Chí Chánh (至正) làm trú trì Thừa Thiên Tự (承天寺).
Tuyết Sơn
(s, p: Himālaya, Himavat, Himavān, t: Gaṅs-can, 雪山): còn gọi là Tuyết Lãnh (雪嶺), Đông Sơn Vương (冬山王), là rặng núi nằm phía tây bắc Ấn Độ. Xưa nay, người ta ám chỉ Tuyết Sơn không thống nhất với nhau, có khi nó là rặng Hy Mã Lạp Sơn, hoặc là rặng núi phía tây nam Thông Lãnh (葱嶺). Các quốc gia giáp giới khu vực này được lưu truyền Phật Giáo dưới thời đại của A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王). Trong Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙) quyển 2 có ghi lại rằng Đại Đức Mạt Thị Ma (p: Majjhima, 末示摩), v.v., đã từng đến vùng ven Tuyết Sơn để tuyên thuyết Sơ Chuyển Pháp Luân Kinh (初轉法輪經), làm cho người đắc đạo lên đến 8 ức, xuất gia cho 5.000 người. Vào năm thứ 15 (641) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), khi Công Chúa Văn Thành (文成) vào Tây Tạng, đã từng đi qua rặng núi này. Theo Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) quyển 14, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品), khi còn đang tu hạnh Bồ Tát trong núi Tuyết Sơn, đức Phật được gọi là Tuyết Sơn Đại Sĩ (雪山大士), Tuyết Sơn Đồng Tử (雪山童子), Tuyết Sơn Bà La Môn (雪山婆羅門), hay gọi tắt là Tuyết Đồng (雪童). Trong bài Tống Huệ Tắc Pháp Sư Quy Thượng Đô Nhân Trình Quảng Tuyên Thượng Nhân Tinh Dẫn (送慧則法師歸上都因呈廣宣上人並引) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Tuyết Sơn Đồng Tử ứng tiền thế, Kim Túc Như Lai thị bổn sư (雪山童子應前世、金粟如來是本師, Tuyết Sơn Đồng Tử ứng đời trước, Kim Túc Như Lai là bổn sư).” Hay như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Nghiệp quả điêu linh, tội hoa vẫn tạ, tiện đăng hải ngạn lễ Quan Âm Bồ Tát chi dung, trường hướng Tuyết Sơn thị Ma Da Phu Nhân chi trắc (業果凋零、罪花殞謝、便登海岸禮觀音菩薩之容、長向雪山侍摩耶夫人之側, nghiệp quả điêu linh, tội hoa tạ hết, bèn lên bờ biển lễ Quan Âm Bồ Tát hình dung, mãi hướng Tuyết Sơn hầu Ma Da Phu Nhân bên cạnh).”
Tuyết sơn
tức là dãy núi Hy-mã-lạp (Himalaya) ở phía bắc Ấn Độ, dịch nghĩa là Tuyết sơn. Gọi như vậy là vì trên đỉnh núi quanh năm bốn mùa đều có tuyết phủ.
tuyết sơn
Himadri (S)Núi Tuyết sơn. Xem Ma la da.
; Xem Tuyết lĩnh.
; Ngọn Hy Mã Lạp Sơn, nằm về phía bắc Ấn Độ—The snow mountains, the Himalayas, northern India.
tuyết sơn bộ
Haimavatāḥ (P)Một trong 20 bộ phái Tiều thừa. Còn gọi là Tuyết sơn bộ (Sthvira) hay Thượng tọa bộ.
; Haimavatàh (S). The Himàlaya school, one of the five divisions of the Mahàsanghihah.
; Haimavatah (skt)—Trường phái Tuyết Sơn, một trong năm phân chi của Đại Chúng Bộ. Qua tên gọi chúng ta có thể biết bộ phái nầy ban đầu hoạt động tại vùng Tuyết Sơn. Trong cuốn sách nói về mười tám bộ phái, Vasumitra đã gọi Tuyết Sơn Bộ là thừa kế của Thượng Tọa Bộ, nhưng một số học giả khác thì lại cho rằng phái nầy là một nhánh của Đại Chúng Bộ. Cũng giống như Nhất Thiết Hữu Bộ, phái nầy cho rằng Bồ Tát không có địa vị gì cao trọng đặc biệt, nhưng khác với Hữu Bộ ở chỗ họ cho rằng chư Thiên và quỷ thần không thể có cuộc sống phạm hạnh (brahmacharya), và những người ngoại đạo không thể có được quyền lực siêu nhiên—The Himalaya School, one of the five divisions of the Mahasanghikah. The very name suggests that the Haimavatah school was originally located in the Himalayan regions. Vasumitra, in his book on the Eighteen Sects, calls the Haimavatas the inheritors of the Sthaviravadins, but other scholars consider this school as a branch of the Mahasanghikas. Like the Sarvasivadins, the Haimavatas believed that the Bodhisattvas had no special eminence, but unlike them, they said that the gods could not live the holy life of brahmacharya and that heretics could not have miraculous powers—See Mahasamghika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tuyết sơn hạ
Himatala (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tuyết Sơn Hạ là một vương quốc cổ được một người thuộc dòng dõi Thích Ca cai trị vào khoảng năm 43 sau Tây Lịch. Vùng nầy có lẽ nằm về phía nam Kundoot and Issar, phía bắc của Hindukush, nơi phát nguyên của sông Oxus—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is an ancient kingdom ruled in 43 A.D. by a descendant of the Sakya family. Probably the region south of Kundoot and Issar, north of Hindukush near the principal source of the Oxus.
tuyết sơn quỳnh
Tien shan Chiung (C)Tên một vị sư.
tuyết sơn vương
Himālaya-girirāja (S)Tên một vị thiên.
tuyết sơn đại sĩ
The great man of the Himàlayas, the Buddha in a former incarnation. Also Tuyết sơn đồng tử, the youth of the Himàlayas.
; See Tuyết Sơn Đồng Tử.
tuyết sơn đồng tử
Còn gọi là Tuyết Sơn Đại Sĩ. Theo Kinh Bản Sanh, đây là vị Đại Sĩ trẻ tuổi trên núi Tuyết, tiền thân của Đức Phật Thích Ca—According to the Sutra of the former lives of the Buddha, this is the great man, or youth of the Himalayas, the Buddha in a former incarnation.
tuyết sương
Snow and dew.
Tuyết Thôn Hữu Mai
雪村有梅; J: sesson yūbai; 1288-1346;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế. |Ban đầu, Sư thụ giáo nơi Thiền sư Nhất Sơn Nhất Ninh tại thiền viện Kiến Trường (kenchō-ji) ở Liêm Thương (kamakura). Năm 1307, Sư cất bước sang Trung Quốc tu học nhưng không may, bị nghi là gián điệp và phải ngồi tù 10 năm liền. Sau khi được thả, Sư chu du đây đó, tham vấn nhiều vị Thiền sư danh tiếng bấy giờ. Năm 1328, Sư trở về Nhật và theo lời thỉnh cầu của vị Tướng quân (shōgun) Túc Lợi Tôn Thị (j: ashikaga takauji) trụ trì chùa Vạn Thọ (manju-ji). Năm 1345, Sư được cử trụ trì chùa Kiến Nhân (kennin-ji). Cùng với Nhất Sơn Nhất Ninh, Sư được xem là người khai sáng phong trào Ngũ Sơn văn học (gosan bungaku) tại Nhật.
tuyết thôn hữu mai
Sesson YŪbai (J)Tên một vị sư.
Tuyết Ðậu Trọng Hiển
雪竇重顯; C: xuědòu chóngxiǎn; J: setchō jū-ken; 980-1052; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ của Trí Môn Quang Tộ. Sư là một trong những Ðại Thiền sư của tông Vân Môn.|Sư nổi danh một phần là nhờ việc sưu tầm biên soạn 100 Công án, sau này được Thiền sư Viên Ngộ bổ sung thêm thành bộ Bích nham lục. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Thảo Ðường đem qua Việt Nam trong thế kỉ 11. Nối Pháp của Sư có rất nhiều vị (tương truyền 84) nhưng nổi danh nhất có lẽ là Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài.|Sư họ Lí, quê ở phủ Toại Ninh, theo sư Nhân Săn ở viện Phổ Am xuất gia. Sau khi thụ giới cụ túc, Sư đến những nơi giảng kinh luận, nghiên cứu cặn kẽ giáo lí. Sư lúc này đã nổi danh là biện luận lanh lẹ, là pháp khí Ðại thừa. Sau khi trải qua nhiều tùng lâm, Sư gõ cửa nơi Thiền sư Quang Tộ ở chùa Trí Môn.|Sư hỏi Trí Môn: »Chẳng khởi một niệm, tại sao có lỗi?« Trí Môn gọi Sư lại gần. Sư bước đến gần, Trí Môn vung cây Phất tử nhằm miệng Sư đánh. Sư toan mở miệng, Trí Môn lại đánh. Sư nhân đây đại ngộ, ở lại hầu Trí Môn thêm năm năm.|Rời Trí Môn, Sư tiếp tục Hành cước và nhân đây gặp lại người bạn cũ là Tu Tuyển Tằng Hội, đang giữ chức Thái thú. Một câu chuyện thú vị được lưu lại về cuộc gặp gỡ này và nó cũng cho thấy phong cách giản dị, không câu nệ của Sư. Tằng Hội khuyên Sư đến chùa Linh Ẩn xem việc ra sao và để giúp Sư, ông viết một bức thư nhờ vị Thiền sư trụ trì chùa này tìm giúp một thiền viện nào đó để Sư có thể hoằng hoá. Sư nghe lời đến, nhưng không trình thư của Tằng Hội gửi mà chỉ âm thầm sinh hoạt, lao động cùng với tăng chúng. Sau hai năm, Tằng Hội đến viếng chùa và hỏi vị trụ trì về Sư. Vị này ngạc nhiên vì không biết Tằng Hội muốn nói gì và kêu chúng gọi Sư. Gặp mặt, Tằng Hội hỏi có đưa thư không thì Sư rút lá thư từ ngực ra và trả lời một cách đơn giản là »rất cảm ơn vì lá thư này và gìn giữ nó thận trọng« nhưng Sư nói kèm rằng mình đến đây »với phong cách tu tập của một Vân thuỷ (thiền sinh đi hành cước, làm bạn với mây nước) mà vân thuỷ thì không được phép làm sứ giả trình thư.« Nỗi ngạc nhiên của mọi người nhân đây biến thành nụ cười vui vẻ hồn nhiên. Vị trụ trì chùa này giúp Sư đến trụ trì một ngôi chùa ở Ðộng Ðình – một hòn đảo rất đẹp và Sư cũng có làm một bài tụng về cảm xúc khi dời đến nơi này trong công án thứ 20 của Bích nham lục.|Sau, Tằng Hội lại mời Sư đến Tứ Minh sơn, một rặng núi mà nhiều vị Cao tăng đã trụ trì hoằng hoá. Sư nghe theo lời khuyên của người bạn và đến trụ trì tại Tứ Minh sơn, trên ngọn Tuyết Ðậu. Ngày khai đường tại Tuyết Ðậu, Sư bước đến trước pháp toà nhìn chúng rồi bảo: »Nếu luận bản phận thấy nhau thì chẳng cần lên pháp toà.«|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là Duy-ma-cật một phen làm thinh?« Sư trả lời: »Hàn Sơn hỏi Thập Ðắc.« Tăng lại hỏi: »Thế ấy là vào cửa Bất nhị?« Sư bèn »Hư!« một tiếng và nói kệ:|維摩大士去何從,千古令人望莫窮|不二法門休更問,夜來明月上孤峰|Duy-ma Ðại sĩ khứ hà tòng|Thiên cổ linh nhân vọng mạc cùng|Bất nhị pháp môn hưu cánh vấn|Dạ lai minh nguyệt thướng cô phong.|*Ðại sĩ Duy-ma đi không nơi|Ngàn xưa khiến kẻ trông vời vời|Pháp môn bất nhị thôi chớ hỏi|Ðêm về trăng sáng trên cảnh đồi.|Một hôm, Sư dạo núi nhìn xem bốn phía rồi bảo thị giả: »Ngày nào lại đến ở đây.« Thị giả biết Sư sắp tịch, cầu xin kệ di chúc. Sư bảo: »Bình sinh chỉ lo nói quá nhiều.« Hôm sau, Sư đem giày dép, y hậu phân chia và bảo chúng: »Ngày bảy tháng bảy lại gặp nhau.« Ðúng ngày mồng bảy tháng bảy năm Hoàng Hựu thứ tư (1058) đời nhà Tống, Sư tắm gội xong nằm xoay đầu về hướng Bắc an nhiên thị tịch. Vua sắc thuỵ là Minh Giác Ðại sư.
Tuyết Đình Phước Dụ
(雪庭福裕, Setsutei Fukuyū, 1203-1275): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Thái Nguyên (太原, Tỉnh Sơn Tây), họ Trương (張), hiệu là Tuyết Đình (雪庭), tự Hảo Vấn (好問). Ban đầu ông theo xuất gia và thọ Cụ Túc giới với Hưu Lâm (休林) ở Tiên Nham (仙巖), hầu thầy được 7 năm, đến khi biết được Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) đang sống ở Báo Ân Tự (報恩寺), ông một mình đến tham kiến và được ấn khả từ vị này. Sau khi theo hầu thầy được 10 năm, ông bắt đầu hoạt động giáo hóa ở Thiếu Lâm Tự (少林寺) trên Tung Sơn (嵩山), tu sửa lại những hoang phế của chùa và được xem như là tổ khai sơn ở đây. Đạo phong của ông càng ngày càng cao rộng nên người đến tham học rất đông. Vào năm thứ 8 (1248), ông nhận chiếu chỉ trú trì Hòa Lâm Hưng Quốc Tự (和林興國寺), rồi được vua Hiến Tông mời vào cung nội cùng nhau đàm đạo và cho thống lãnh cả Phật Giáo lẫn Đạo Giáo. Đến năm đầu (1260) niên hiệu Trung Thống (中統), ông vâng mệnh vua Thế Tổ nhà Nguyên thiêu hủy sách của Đạo Giáo, cải tà quy chánh cho các Đạo Sĩ và được ban cho hiệu là Quang Tông Chánh Pháp Thiền Sư (光宗正法禪師). Ngoài ra, ông còn xây dựng Báo Ân Tinh Xá (報恩精舍) ở cố hương mình, thường sống ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺) và dưỡng thành rất nhiều đệ tử xuất chúng. Vào ngày 20 tháng 7 năm thứ 12 niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi. Đến năm đầu (1312) niên hiệu Hoàng Khánh (皇慶), ông được tặng cho hiệu là Đại Tư Không Khai Phủ Nghi Đồng Tam Tư Truy Phong Tấn Quốc Công (大司空開府儀同三司追封晉國公). Trình Cự Phu (程鉅夫) soạn văn Đại Nguyên Tặng Đại Tư Không Phủ Nghi Đồng Tam Tư Truy Phong Tấn Quốc Công Thiếu Lâm Khai Sơn Quang Tông Chánh Pháp Đại Thiền Sư Dụ Chi Bi (大元贈大司空開府儀同三司追封晉國公少林開山光宗正法大禪師裕之碑).
Tuyết Đường Đạo Hạnh
(雪堂道行, Setsudō Dōgyō, 1089-1151): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự xưng là Tuyết Đường (雪堂), người vùng Kiền Châu (虔州, Tỉnh Giang Tây), họ là Diệp (葉). Lúc còn nhỏ ông đã quyết chí xuất gia, mãi đến năm 19 tuổi ông mới theo xuất gia với Giác Ấn Tử Anh (覺印子英) ở Phổ Chiếu Tự (普照寺). Ban đầu ông tham học với Chỉ Nguyên Nhuận (指源潤), nhưng cơ duyên không khế hợp, sau ông đến tham yết Phật Nhãn Thanh Viễn (佛眼清遠) ở Long Môn (龍門) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 2 (1128) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), thể theo lời thỉnh cầu của Từ Khang Quốc (徐康國), ông đến khai pháp ở Thọ Ninh (壽寧), rồi sau đó sống qua các chùa như Pháp Hải (法海), Thiên Ninh (天寧), Ô Cự (烏巨). Vào ngày mồng 9 tháng 2 năm 21 niên hiệu Thiệu Hưng (天興), ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi đời và 45 hạ lạp. Ông có lưu lại Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Ngữ Yếu (雪堂行和尚語要) 1 quyển, Tuyết Đường Hạnh Hòa Thượng Thập Di Lục (雪堂行和尚拾遺錄) 1 quyển.
tuyết đậu thiền sư
Zen master Xue-T'ou—See Trùng Hiển Tuyết Đậu Thiền Sư.
Tuyết Đậu Trùng Hiển
(雪竇重顯, Secchō Jūken, 980-1052): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Toại Châu (遂州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Lý (李), tự là Ẩn Chi (隱之). Lúc còn nhỏ, ông đã theo xuất gia với Nhân Tiển (仁銑) ở Phổ An Viện (普安院). Sau khi thọ Cụ Túc giới, ông theo học giáo tướng với Nguyên Oánh (元瑩) ở Đại Từ Tự (大慈寺), cũng như Uẩn Thông (蘊聰) ở Thạch Môn (石門). Sau ông du hành lên phương Nam, đến tham yết Trí Môn Quang Tộ (智門光祚) ở Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc), được khai ngộ và kế thừa môn phong của vị này. Ông đã từng đến trú tại Thúy Vi Phong (翠微峰) ở Động Đình (洞庭), rồi chuyển đến Tư Thánh Tự (資聖寺) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang). Chính nơi đây ông đã cổ xướng môn phong rất hưng thịnh, được xem như là vị tổ thời Trung Hưng của Vân Môn. Ông sống nơi đây hơn 30 năm, nuôi dưỡng hơn 70 đồ đệ. Ngoài ra, ông còn soạn ra bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) với 100 cổ tắc công án. Rồi ông làm tụng cổ về bộ này với tên là Tuyết Đậu Tụng Cổ (雪竇頌古). Sau này, Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) đã bình xướng, trước ngữ cho bộ này và đặt tên cho nó là Bích Nham Tập (碧巖集). Ông đã soạn ra Động Đình Ngữ Lục (洞庭語錄), Tuyết Đậu Khai Đường Lục (雪竇開堂錄), Bộc Tuyền Tập (瀑泉集), Tổ Anh Tập (祖英集), Tụng Cổ Tập (頌古集), Niêm Cổ Tập (拈古集), Tuyết Đậu Hậu Lục (雪竇後錄). Vào ngày mồng 10 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Hoàng Hựu (皇祐), ông thị tịch, hưởng thọ 73 tuổi đời và 50 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Minh Giác Đại Sư (明覺大師).
tuyết đậu trùng hiển
Seccho (J), Xuedou Chongxian (C), Setchō JŪken (J), Hsueh-tou Ch'ung-hsien (C)(980-1052) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Trí Môn Quang Tộ.
Tuyết Đậu Trùng Hiển Niêm Cổ Viên Ngộ Khắc Cần Kích Tiết
(雪竇重顯拈古圜悟克勤節錄, Secchōjūkennenkoengokokugongekisetsu): xem Kích Tiết Lục (擊節錄, Gekisetsuroku) ở trên.
tuyền
1) Con suối: Spring. 2) Quay tròn: To revolve—To turn around—To whirl.
Tuyền hoả luân 旋火輪
[ja] センカリン senkarin ||| When one holds a burning piece of rope or stick and spins it, it looks like a ring of fire. Used in the Yuanjue jing 圓覺經 as a metaphor to indicate the illusory nature of existence. Khi cầm một sợi dây hay cây gậy bằng lửa quay quanh, trông giống như có một vòng lửa. Trong kinh Viên Giác dùng để ẩn dụ cho tính vọng tưởng của chúng sinh.
tuyền hỏa luân
Vòng lửa xoay tròn, ám chỉ sự không thật của vạn hữu—A whirling wheel of fire, a circle yet not a circle, a simile of the seeming but unreal, i.e. the unreality of phenomena.
tuyền lâm
Spring and forest.
tuyền đài
Hell—Hades.
Tuyền 旋
[ja] セン sen ||| (1) Go around, turn, spin, revolve, move in an orbit. (2) A whirlpool. (3) Return, come back. (4) Soon, thereupon. => 1. Đi quanh, quay trở lại, quay tròn, quay xung quanh, di chuyển quanh một quỹ đạo. 2. Xoáy nước. 3. Sự trở về, trở lại. 4. Chẳng bao lâu, ngay sau đó.
tuyển
Tuyển chọn—To select—To choose.
tuyển hữu
Visvamitra or Kausila (skt)—Tên vị Bà La Môn mà thái tử Tất Đạt Đa dã học chữ hồi còn nhỏ—Name of Siddhartha's schoolmaster.
tuyển lựa
See Tuyển.
Tuyển Phật Trường
(選佛塲): nơi tuyển chọn làm Phật; thường có nghĩa là Thiền Đường (禪堂), nơi chư Tăng hành Thiền. Có nghĩa rằng tại Thiền Đường ấy, hành giả có thể minh tâm kiến tánh, tức là thành Phật, nên được gọi là “tuyển Phật”. Ngay như tại các giới đàn thọ giới cũng tìm thấy thuật ngữ này, vì các giới tử sau khi thọ giới xong, nếu tinh chuyên tâm hành trì giới luật mình đã lãnh thọ, thì đó cũng là yếu nhân để làm Phật. Trong Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1559) quyển 27, có dẫn câu của Cư Sĩ Bàng Uẩn (龐蘊) nhà Đường rằng: “Thử thị Tuyển Phật Trường, tâm không cập đệ quy (此是選佛塲、心空及第歸, đây là Chọn Phật Trường, tâm không thi đỗ về).”
tuyển trạch
See Tuyển.
Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập
(選擇本願念佛集, Senchakuhongannembutsushū): tông điển căn bản của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, thuật về yếu chỉ sâu xa của bổn nguyện do đức Phật A Di Đà tuyển chọn, và thuyết về việc pháp môn Niệm Phật là giáo lý tương ứng với thời mạt pháp; do Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên [法然, Hōnen, 1133-1212]) soạn, 1 quyển; được soạn thuật vào năm 1198 (Kiến Cửu [建久] thứ 9) thể theo lời thỉnh cầu của Cửu Điều Kiêm Thật (九條兼實, Kujō Kanezane). Thông thường, tác phẩm này được gọi tắt là Tuyển Trạch Tập (選擇集, Senchakushū). Cơ sở soạn thuật Tuyển Trạch Tập được xem như có trong tác phẩm Nghịch Tu Thuyết Pháp (逆修說法) cũng như Tam Bộ Kinh Thích (三部經釋); cho nên nó được hình thành trước khi đem ra giảng thuyết ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) vào năm đầu (1190) niên hiệu Kiến Cửu. Bản thảo hiện tồn ở Lô Sơn Tự (盧山寺), Kyoto; đầu đề hàng chữ “Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集)”, “Nam Mô A Di Đà Phật, Vãng Sanh Chi Nghiệp Niệm Phật Vi Tiên (南無阿彌陀佛、徃生之業念佛爲先)” tương truyền do chính tay Nguyên Không viết. Nội dung của thư tịch này được chia làm 16 chương: (1) Nhị Môn Chương (二門章), (2) Nhị Hạnh Chương (二行章), (3) Bổn Nguyện Chương (本願章), (4) Tam Bối Chương (三輩章), (5) Niệm Phật Lợi Ích Chương (念佛利益章), (6) Đặc Lưu Chương (特留章), (7) Nhiếp Thủ Chương (攝取章), (8) Tam Tâm Chương (三心章), (9) Tứ Tu Chương (四修章), (10) Hóa Tán Chương (和讚章), (11) Ước Đối Chương (約對章), (12) Phó Chúc Chương (付囑章), (13) Đa Thiện Chương (多善章), (14) Chứng Thành Chương (証誠章), (15) Hộ Niệm Chương (護念章), (16) Ân Cần Chương (慇懃章). Hầu hết các chương đều có trích dẫn văn trong 3 bộ kinh của Tịnh Độ, thuật rõ ý kinh theo giải thích của Đại Sư Thiện Đạo (善導), nêu rõ yếu chỉ đức Phật A Di Đà tuyển chọn chỉ một hạnh Niệm Phật trong muôn vàn pháp môn của Phật đạo, và chính đó là pháp môn duy nhất có thể giúp chúng sanh vãng sanh về thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Căn cứ của chủ trương này thông qua quá trình chọn lựa ba tầng, được thể hiện mang tính lý luận; tức làm sáng tỏ vấn đề chính một hạnh Xưng Danh (xưng tán danh hiệu) là Chánh Định Nghiệp. Nhờ chuyên tu Chánh Định Nghiệp này mà được an tâm, như trong đoạn văn khai tông của Quán Kinh Sớ (觀經疏) có giải thích lập trường căn bản là: “Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Di Đà, chẳng kể xa gần thời gian khi đi đứng nằm ngồi, người không xả từng niệm, đây gọi là Nghiệp Chánh Định; vì lẽ thuận theo nguyện của đức Phật kia.” Tuyển Trạch Tập có thể được xem như là thư tịch làm sáng tỏ một cách có hệ thống nội dung khai tông của Tịnh Độ Tông. Sau khi Nguyên Không qua đời, sách này được khai bản, nhưng gặp phải khá nhiều phản hưởng mạnh, như Cao Biện (高辨) ở Mẫu Vĩ (栂尾, Tsugao), Định Chiếu (定照) ở Tinh Hạ (幷榎, Namie), v.v., bị phía Thánh Đạo Môn công kích mãnh liệt. Tuy nhiên, chính tác phẩm này đã mang lại ảnh hương vô cùng to lớn cho Phật Giáo Liêm Thương. Tuyển Trạch Tập được truyền thừa như là điển tịch trọng yếu của chư Tổ; nhưng chung quanh việc giải thích của môn hạ Nguyên Không về thư tịch, lại nảy sinh đối lập, và cuối cùng phát triển thành nhiều dòng phái khác nhau. Chính sự đối lập này càng tăng lên thì nhiều sách chú thích về thư tịch này càng xuất hiện, thậm chí lên đến 521 bộ. Riêng trong Chơn Tông đã có 266 bộ. Nguyên bản hiện được bảo tồn tại Lô Sơn Tự. Tuyển Trạch Tập được thâu tập vào trong Pháp Nhiên Thượng Nhân Toàn Tập (法然上人全集) của Thạch Tỉnh Giáo Đạo (石井敎道, Ishi Kyōdō), Tịnh Độ Tông Toàn Thư (淨土宗全書) 7.
tuyển đức
To choose a virtuous man.
tuyệt
Xem diệt.
; 1) Cắt đứt: Chấm dứt—To cut off—To terminate—To end—To sunder. 2) Tuyệt đối: Không còn so sánh được nữa—Superlatively.
tuyệt chủng
Extinct race.
tuyệt cảnh
Very lovely landscape.
tuyệt diệt
To annihilate—To exterminate.
tuyệt diệu
Admirable—Supreme excellent.
tuyệt duyên
Non-conducting—Non-conductive.
tuyệt giao
To cut off all relations with.
tuyệt hảo
Excellent—Perfect---Very good—Extremely good.
tuyệt học
Ngừng học, vượt ra ngoài chuyện học—To cease study—Beyond the need of study.
tuyệt không
Not at all—By no means.
tuyệt luân
Excellent—Unequalled.
tuyệt lộ
To encounter cul-de-sac.
tuyệt mạng
To die.
tuyệt mục
As far as the eyes can see.
tuyệt mỹ
Excellent.
tuyệt nhiên
Never.
tuyệt sắc
Peerless beauty.
tuyệt thực
Ngưng không ăn—To cut off food—To cease to eat.
tuyệt trần
To surpass everybody.
tuyệt tài
Unequalled talent.
tuyệt tác
Masterpiece.
tuyệt tình
To break off friendship or love relationship with someone.
tuyệt tộc
Extinct family.
tuyệt tự
Heirless.
tuyệt vô âm tín
Without news.
tuyệt vọng
Hopeless—Desperate—In despair—To look in the dark side of things.
tuyệt vời
See Tuyệt Trần.
tuyệt xảo
Very skilful.
tuyệt đãi
Siêu việt, không thể đối đãi được nữa—Final—Supreme—Special.
tuyệt đãi chân như
Chân như là siêu việt tuyệt đối, lìa mọi giới hạn của hiện tượng—Bhutatathata as absolute, apart from all phenomena and limiting terms; or as being, in contrast to the bhutatathata as becoming.
tuyệt đích
Beyond compare—Absolute—Perfect.
tuyệt đại
Superlatively great.
tuyệt đẳng
Beyond compare.
tuyệt đẹp
Extremely beautiful.
tuyệt đỉnh
The highest point.
tuyệt đối
Vượt ra ngoài sự so sánh—Absolute—Absolutely—Beyond compare—Supreme—Special—Outstanding—Tuyệt đối là thực tại của những hiện tượng. Tuyệt đối luôn luôn có bản chất đồng nhất. Niết bàn hoặc thực tại tuyệt đối không phải là thứ gì được tạo sanh hoặc thành tựu. Theo triết học Trung Quán, Nguyệt Xứng cho rằng với các bậc Thánh giả thì Tuyệt Đối chỉ là sự im lặng, vì nó là cái gì bất khả thuyết hay bất khả diễn đạt bằng lời. Có rất nhiều chữ để mô tã về Tuyệt Đối—The Absolute is the Reality of the appearances. The Absolute is always of uniform nature. Nirvana or the Absolute Reality is not something produced or achieved. According to the Madhyamaka philosophy, Candrakirti, to the saints, the Absolute is just silence, for it is inexpressible by speech. There are many words used for the Absolute: • Chân Như: Tathata (skt)—Như thị—Suchness. • Không tánh: Sunyata (skt)—Emptiness—Void. • Niết Bàn: Nibbana (p)—Nirvana (skt)—Nirvana. • Bất nhị: Adraya (skt)—Non-dual. • Bất sanh: Anutpanna (skt)—Unproduced. • Cõi vô phân biệt: Nirvikalpa (skt)—The realm of non-discrimination. • Bản thể của pháp: Dharmadhatu or Dhamrata (skt)—Bản chất của vật tồn hữu—The true nature of dharma or the essence of being. • Bất khả diễn đạt: Anabhilapya (skt)—The inexpressible. • Đích thực như nó đang là: Tattva (skt)—Thatness. • Không thể diễn tả bằng ngôn từ hay hý luận: Nisprapanca (skt)—Free of verbalization and plurality. • Như thực: Yathabhuta (skt)—Cái thực sự đang là—That which really is. • Chân đế: Bhutata or Bhutatathata (skt)—The true reality. • Chân lý: Satya (skt)—Truth. • Như Lai Tạng: Tathagata-garbha (skt)—The womb of Tathagatas. • Thực tại mà ta phải tự thể nghiệm trong nội tâm: Aparapratyaya (skt)—Reality which one must realize within oneself.
tuân
Tuân theo: To obey—To follow—To observe—To comply with—To accord with.
tuân hành
To carry out—To execute—To perform.
tuân lệnh
To obey an order.
tuân mạng
To obey a command.
tuân theo
See Tuân.
tuân thủ
To follow—To observe—To obey and keep, e.g. the rules.
Tuân Tây
(俊譽, Shunyo, ?-1301): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Tuấn Dự (俊譽), thông xưng là Trúc Nội Pháp Ấn (竹內法印), con của Tri Túc Viện Công Tuấn (知足院公俊). Vào năm 1254, được sự chấp thuận của Hiến Thâm (憲深), ông thọ pháp Quán Đảnh; đến năm 1256, ông lại thọ pháp Đình Nghi Quán Đảnh (庭儀灌頂) của Dòng Tùng Kiều (松橋流) từ Chơn Thân (眞敒) tại Biến Trí Viện (遍智院) và trở thành Tổ đời thứ 5 của Vô Lượng Thọ Viện (無量壽院). Đến năm 1265 thì ông làm chức Thiếu Tăng Đô (少僧都).
tuân tử
Hsun-tzu (C).
Tuấn Dự
(俊芿, Shunjō, 1166-1227): học Tăng phục hưng Giới Luật, sống vào đầu thời Liêm Thương, vị Tổ khai sơn Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Sennyū-ji), húy là Tuấn Nhưng (俊芿), tự Bất Khả Khí (不可棄), hiệu là Ngã Thiền Phòng (我禪房), thụy hiệu Đại Hưng Chánh Pháp Quốc Sư (大興正法國師), Đại Viên Giác Tâm Chiếu Quốc Sư (大圓覺心照國師), Nguyệt Luân Đại Sư (月輪大師); xuất thân vùng Vị Mộc (味木, Miki), Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本懸]). Sau khi thọ giới ở Quan Thế Âm Tự (觀世音寺) của Thái Tể Phủ (太宰府), ông tu học giới luật ở Kinh Đô, Nam Đô; rồi kiến lập ở Đổng Nhạc (筒岳), Phì Hậu ngôi Chánh Pháp Tự (正法寺) và tận lực lưu bố pháp môn của ông. Đến năm 1199, ông sang nhà Tống, học về Thiên Thai, Thiền cũng như Mật Giáo; đặc biệt ông có học về giới luật với Như Am Liễu Hoằng (如庵了宏) ở Cảnh Phước Tự (景福寺) thuộc Tứ Minh Sơn (四明山). Vào năm 1211, ông trở về nước, đem theo rất nhiều điển tịch, Xá Lợi Phật, được Minh Am Vinh Tây (明菴榮西) nghênh đón vào Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Năm 1218, Trung Nguyên Tín Phòng (中原信房) dâng cúng cho ông ngôi Tiên Du Tự (仙遊寺) ở vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama). Ông đổi tên chùa thành Tuyền Dũng Tự, chỉnh trang cảnh quan chùa và trở thành đạo tràng phát triển giới luật, kiêm tu cả Thiên Thai, Mật Giáo, Thiền và Tịnh Độ. Từ tầng lớp quyền môn như Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇), Bắc Điều Thái Thời (北條泰時), v.v., cho đến hàng thứ dân, đều tập trung quy y về chùa. Phong trào vận dộng phục hưng giới luật của ông đã tạo ảnh hưởng rất lớn đối với giới Phật Giáo đương thời. Hậu thế gọi giới luật của ông là Bắc Kinh Luật (北京律). Đệ tử của ông có Định Thuấn (定舜), Trạm Hải (湛海), Tâm Hải (心海), Liễu Chơn (了眞), v.v. Trước tác của ông để lại có Tam Thiên Nghĩa Bị Kiểm (三千義僃檢) 2 quyển, Phật Pháp Tông Chỉ Luận (佛法宗旨論) 1 quyển, Niệm Phật Tam Muội Phương Pháp (念佛三昧方法) 1 quyển, Tọa Thiền Sự Nghi (坐禪事儀) 1 quyển.
tuấn kiệt
Talented man.
Tuấn Nhưng
(巡撫): tên gọi một chức quan được đặt ra từ thời nhà Minh (明, 1368~1662) trở về sau. Dưới thời nhà Thanh (清, 1616~1911) thì nó tương đương với chức kế Tổng Đốc, chuyên theo sát tình hình dân chính và quân chính.
tuấn pháp
Severe laws.
tuấn tú
Refined—Elegant.
tuất
Giờ Tuất từ 7 đến 9 giờ tối—The “Su” hour from 7 to 9 P.M.
tuần
Wander about, patrol, inspect.
; 1) Theo hay tháp tùng: To follow—To accord with. 2) Thời gian 10 ngày hay 10 năm: A period of ten days and/or ten years—A decade. 3) Thời gian 7 ngày: A period of seven days—Week. 4) Một vòng—Round. 5) Tuân theo: To accord with—According to—To follow. 6) Tuần hành—Patrol—To go on patrol—To wander about—To inspect.
tuần binh
Soldier on patrol.
tuần canh
Người canh tuần hỏa hoạn về đêm—To patrol as night-watchman, or guarding against fire.
tuần dương hạm
Cruiser.
tuần giáo
See Tuần Tích.
tuần hoàn
Pradaksina (skt)—Đi vòng vai phải hướng về đấng tôn quý—Moving around so that the right shoulder is towards the object of reverence—To circulate.
Tuần hoàn 循環
[ja] ジュンカン junkan ||| (1) Circulation, rotation, cycle. Revolve, come around. (2) "What goes around comes around;" the connection between cause and effect. => 1. Sự lưu thông, sự luân phiên, chu kỳ. Làm quay tròn, trở lại 2. “Đi quanh trở lại”; quan hệ nguyên nhân và kết quả.
tuần hỏa
See Tuần Canh.
tuần kiểm
Patrol and control.
tuần liêu
To inspect all the buildings of a monastery.
; Tuần hành phòng ốc trong tự viện—To inspect all the buildings of a monastery.
tuần lễ
A week.
tuần nhật
Ten days.
tuần phòng
Patrol.
tuần phục
Submissive.
Tuần Phủ
(夙障): chướng ngại, nghiệp chướng của đời trước. Như trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Ước Luận (觀無量壽佛經約論) có câu: “Năng tu Thập Thiện, đối trị Thập Ác, tắc túc chướng tiệm trừ, túc chướng ký trừ, cố vãn sanh vô ngại (能修十善、對治十惡、則夙障漸除、夙障旣除、故徃生無礙, có thể tu Mười Thiện, đối trị Mười Ác, tất nghiệp chướng đời trước dần tiêu trừ, khi nghiệp chướng đời trước đã tiêu trừ, vì vậy vãng sanh không trở ngại nữa).” Hay như trong Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh (楞伽阿跋多羅寶經, Taishō No. 670) có đoạn: “Khánh Lịch trung thường vi trừ châu, chí nhất tăng xá, ngẫu kiến thử kinh, nhập thủ hoảng nhiên như hoạch cựu vật, khai quyển mạt chung, túc chướng băng giải (慶曆中嘗爲滁州、至一僧舍、偶見此經、入手恍然如獲舊物、開卷未終、夙障冰解, trong thời gian niên hiệu Khánh Lịch [慶曆, 1041-1048], tôi thường làm việc ở Trừ Châu, đến một tăng xá nọ, tình cờ gặp kinh này, cầm trên tay mà hoảng nhiên như gặp lại vật cũ, bèn mở phần cuối quyển kinh, thì nghiệp chướng đời trước tiêu tan).” Hoặc trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) lại có câu: “Túc chướng thâm trọng, bệnh ma tương triền, tùng thử vi Cửu Hoa chi ẩn, dĩ vi khả chung thân hỉ (夙障深重、病魔相纏、從此爲九華之隱、以爲可終身矣, nghiệp chướng đời trước sâu nặng, ma bệnh trói buộc nhau, từ đây bèn lên ẩn cư trên cửu hoa sơn, lấy nơi đó làm nơi chung thân vậy).”
tuần san
Weekly newspaper.
tuần sau
Next week.
tuần thám
Reconnaisance.
tuần thân quán
Thân Niệm Xứ Quán—Thiền quán chi tiết về sự bất tịnh của thân (quán thân bất tịnh từ đầu tới chân, 36 bộ phận đều là bất tịnh), một trong tứ niệm xứ—The meditation which observes the body in detail and considers its filthiness, one of the four foundations of mindfulness.
tuần thế kỳ
Saṃnyasin (S)Dứt bỏ thế gian, đi du hành khắp nơi. Một một trong bốn giai đoạn trong đời một người Bà la môn: Phạm hạnh kỳ, Gia trụ kỳ, Lâm thê kỳ, Tuần thế kỳ.
tuần tiểu
See Tuần Hành.
tuần trăng sáng
xem tuần trăng tối.
tuần trăng tối
(hắc nguyệt): Từ ngày mười sáu đến cuối tháng, trăng ngày càng tối hơn. Ngược lại, tuần trăng sáng (bạch nguyệt) là từ mồng một đến ngày rằm, trăng ngày càng sáng hơn.
tuần tích
To walk about with a metal stick, i.e. to teach.
; Tuần Giáo—Cầm gậy đi du hóa hay đi giảng đạo các nơi—To walk about with a metal staff, i.e. to teach.
tuần tự
Theo thứ tự—To follow in order.
tuần án
Tuần hành và ghi nhận những than phiền trong tự viện—To patrol and receive any complaints.
tuần đơn
The ten days' account in a monastery.
tuần đường
1) Canh tuần tự viện—To patrol, or circumambulate the hall. 2) Nhà Tăng—A monk's halls: a) Nhà Trụ Trì: Nơi uống trà và ngồi thiền—The tea hall. b) Nhà Đại Chúng: Nơi họp chúng tụng niệm—The assembly hall. c) Nhà Thủ Tọa: Nơi ngồi thiền—The meditating hall. d) Nhà Duy Na: Nơi dùng vào các ngày Thánh Tiết—Room for supervisor of monks. e) Nhà Tham Đầu: Nơi dùng cho khách Tăng—Room for guest monks. f) Nhà Đô Tự: Nhà kho—The storage. g) Nhà Thỉnh Khách Thiêu Hương: Nơi uống trà của khách Tăng—Tea Room for guest monks. h) Nhà Sa Di: Nơi để các vị Sa Di tham vấn về thiền—Room for Sramanera or novice monks to ask and practice meditation.
tuế
Vatsara (skt)—Năm—A year.
tuế dạ
See Phân Tuế.
Tuệ
慧,惠|và những chữ bắt đầu bằng chữ Tuệ xem dưới chữ Huệ
tuệ
Prajna or Jnana (skt). 1) Tác dụng phân biệt sự lý: Wisdom, discernent or understanding—The power to discern things and their underlying principles. 2) Quyết đoán nghi ngờ: The power to decide the doubtful. 3) Tuệ là sự cấu tạo của Chánh Kiến và Chánh Tư Duy: Right Understanding and Right Thought constitute wisdom. 4) Trí và tuệ thường có chung nghĩa; tuy nhiên thông đạt sự tướng hữu vi thì gọi là “trí.” Thông đạt không lý vô vi thì gọi là “tuệ.”—Prajna is often interchanged with wisdom. Wisdom means knowledge, the science of the phenomenal, while prajna more generally to principles or morals. ** For more information, please see Tam Huệ.
tuệ (huệ)
Prajnà, jnàna (S) Wisdom, insight, discernment, understanding; the power to discern thing, and their underlying principles and to decide the doubtful.
tuệ ba la mật
Prajnà-pàramità (S). Perfection of wisdom.
tuệ chiếu
The light of wisdom.
Tuệ căn
xem năm căn lành.
tuệ căn
The root, i.e. the organ, of wisdom.
; Một trong ngũ căn, căn có thể quán đạt chúng sanh để nẩy sinh ra đạo lý—The root or organ of wisdom, one of the five organs.
tuệ cự
Djànolka (S). The torch of wisdom.
; Ngọn đuốc trí tuệ—The torch of wisdom.
tuệ giác
Amoha (S). Wisdom.
; Panna (p)—Prajna (skt)—Huệ hay trí huệ Bát Nhã—Wisdom—See Bát Nhã, and Tuệ in Vietnamese-English Section.
tuệ giải
The function of wisdom - to explain all things.
; Trí tuệ có thể giải thích tất cả vạn hữu—The function of wisdom—To explain all things.
tuệ giải thoát
Paa-vimutti (P), Prajā-vimukti (S), Prajā-vimukti (S).
; Panna-vimutti (P). Deliverance through the wisdom.
; Các vị A La Hán chỉ đắc được tuệ chứng giải thoát, chỉ thích giác ngộ đạo lý, chứ không thích tác dụng công đức của sự việc, nên chỉ đoạn được kiến tư phiền não hay chướng ngại của trí tuệ vô lậu, chứ không lìa bỏ được chướng ngại của thiền định, ví như người thích truy cầu tìm hiểu chứ không thích hành trì—The escape by or into wisdom, i.e. of the arhat who overcomes the hindrances to wisdom or insight, but not the practical side of abstraction, better able to understand than to do.
Tuệ giải thoát 慧解脱
[ja] エゲダツ egedatsu ||| (1) Liberation attained through wisdom. To be liberated completely from the hindrances of affliction due to wisdom (Skt. prajñā-vimukti; Pali pañña-vimutti; Tib. śes rab kyis rnam). 〔瑜伽論 T 1579.30.425c〕 (2) The person who is liberated through the use of wisdom. (3) The excelling liberation of the mind consciousness that is bound with unimpeded roots of goodness. (4) One of the 二十七賢聖 and one of the nine no-more-learnings 九無學. Relying on undefiled wisdom, one eliminates the two delusions of views and thought (見惑、思惑), becoming liberated from afflictions. (5) Attainment of arhatship. The complement of 倶解脱. 〔瑜伽論 T 1579.30.427a16〕 => 1. Đạt được giải thoát nhờ trí tuệ. Được giải thoát hoàn toàn khỏi phiền não chướng nhờ vào trí tuệ (s: prajñā-vimukti; p: pañña-vimutti; t: śes rab kyis rnam). 2. Người được giải thoát thông qua vận dụng trí tuệ. 3. Sự giải thoát tối thượng của tâm thức đang ràng buộc với thiện căn vô chướng ngại. 4. Một trong 27 bậc Hiền thánh, và là một trong 9 quả vị Vô học. Dựa vào trí tuệ vô lậu, giải trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, nên được tự tại với phiền não. 5. Chứng đắc quả vị A-la-hán. Là phần bổ sung của Câu giải thoát.
tuệ huyễn
Trí tuệ và sự huyễn ảo—Wisdom-illusion—Wisdom conjuring, the kaleidoscope of wisdom.
tuệ hải
Wisdom ocean.
tuệ học
Adhiprajā-śikṣa (S), Formation of Wisdom Adhipaā-sikkhā.
; Adhiprajnà-siksa (S). Formation of the wisdom.
; Một trong tam học, quán chiếu chân lý để cắt đứt phiền não—One of the three studies, the study of wisdom—See Tam Học.
tuệ khả
Hui-k'o (C). The successor of Bodhidharma.
; Hui-K'o—See Huệ Khả.
tuệ khải
See Huệ Khải.
tuệ kiếm
The sword of wisdom which cuts away illusion.
; Trí tuệ có thể cắt đứt mọi phiền não nên gọi là kiếm huệ—The sword of wisdom which cuts away illusion.
tuệ kiến
Wise-views, or insight into wisdom, the views of wisdom.
; Sự thấy biết bằng trí tuệ—Wise view, or insight into wisdom, the views of wisdom.
tuệ kính
The mirror of wisdom.
; Trí tuệ có thể thấy mọi sự việc nên gọi là tuệ kính—The mirror of wisdom.
tuệ lâm
Hui-Lin—See Huệ Lâm.
tuệ lưu
The living stream of wisdom able to cleanse all impurity.
; Dòng trí tuệ có khả năng tẩy sạch mọi cấu uế—The living stream of wisdom able to cleanse all impurity.
tuệ lực
Prajā-bala (S), Force of wisdom.
; Prajnàbala (S). Force of wisdom.
; See Huệ Lực.
tuệ minh
Hsuan-Lang—See Huyền Lang.
tuệ môn
The gate of wisdom.
Tuệ mạng 慧命
[ja] エミョウ emyō ||| (1) Life power as a metaphor for wisdom. The physical body lives nourished by food, while the dharma-body live nourished by wisdom. (2) A name for a practicing monk or nun. => 1. Năng lực cuộc sống như là ẩn dụ của trí tuệ. Thân xác vật chất sống nhờ thực phẩm, trong khi pháp thân sống bằng trí tuệ. 2. Tên của một hành giả tăng, ni.
tuệ mạng, mệnh
Wisdom-life, or wisdom as life, wisdom being the basis of spiritual character.
tuệ mệnh
Wisdom-life—See Huệ Mệnh.
Tuệ mục
[ja] エモク emoku ||| The wisdom eye. The mind's eye that sees reality as it is. => Con mắt trí tuệ. Mắt tâm thấy thực tại như chúng đang là.
tuệ mục
The eye of wisdom.
; Con mắt trí tuệ—The eye of wisdom.
tuệ nghiệp
Undertaking and doing; practical goodness resulting from wisdom.
; Thực hành thiện nghiệp bằng trí tuệ—Practical goodness resulting from wisdom—Undertaking and doing.
tuệ nghĩa
The apprehension of the meaning of reality through wisdom.
; Hiểu biết thực nghĩa của chân lý bằng trí tuệ—The apprehension of the meaning of reality through wisdom.
tuệ nguyệt
See Huệ Nguyệt.
tuệ nhãn
The wisdom-eye that sees all things as unreal.
; Prajnacakshus or Jnanacakshus (skt)—Con mắt trí tuệ thấy vạn hữu giai không. Với con mắt nầy, Bồ Tát ném cái nhìn vào tất cả những cái kỳ diệu và bất khả tư nghì của cảnh giới tâm linh, thấy tận hố thẳm sâu xa nhất của nó—The wisdom eye that sees all things as unreal. With the wisdom-eye, a Bodhisattva takes in at a glance all the wonders and inconceivabilities of the spiritual realm to its deepest abyss.
Tuệ nhãn 慧眼
[ja] エゲン egen ||| The "wisdom eye." (prajñā-cakṣus) The vision power that correctly analyzes things. Practitioners of the two vehicles can use this to overcome discriminations. The third of the five levels of vision (五眼). => 'Mắt trí tuệ'(s: prajñā-cakṣus). Năng lực nhìn thấy phân tích chính xác các pháp. Hành giả nhị thừa có thể dùng Tuệ nhãn để vượt qua sự phân biệt. Món thứ ba trong Ngũ nhãn.
tuệ nhẫn
Wisdom-patience, one of the thập nhẫn.
; Tuệ nhẫn là một trong thập nhẫn—One of the ten kinds of patience, wisdom-patience.
tuệ nhật
Wisdom-sun, Buddha-wisdom
; See Huệ Nhật.
Tuệ Nhật tự 慧日寺
[ja] エニチジ Enichi ji ||| The Huiri si ; a temple in Changan 長安 of the Sanjie jiao 三階教 movement. => (j: Enichi ji; c: Huiri si); một ngôi chùa ở Trường An của phong trào Tam giai giáo.
tuệ năng
Hui-Neng—See Huệ Năng.
tuệ năng, huệ năng
The power of wisdom; name of the sixth patriarch of Thiền tông the Intuitional or Meditation sect.
tuệ phược
Sự trói buộc của ngu si mê muội làm vẩn đục gương sáng trí tuệ—The bond of ignorance and stupidity which fetters the wisdom mirror.
tuệ quang
Wusdom-light.
tuệ quán
Hui-kuan (C). One of Kumàrajiva's chief assistant in translation, died 424.
; Hui-Kuan—See Huệ Quán.
tuệ siêu
Hui-Ch'ao—See Huệ Siêu.
tuệ số
Mental conditions in contrast to mind itself.
; Trạng thái tâm, đối lại với tâm—Mental conditions in contrast to mind itself.
Tuệ số 慧數
[ja] エシュ eshū ||| The mental function of wisdom, or knowing, which, functioning in the 7th consciousness, discriminates an ego 我. 數 is an old translation for 心所. See Wŏnhyo's discussion of the 六麁相 in his 大乘起信論疏. => Chỉ cho tâm sở huệ, hoặc là sự nhận biết, đó là chức năng trong thức thứ 7, phân biệt có một bản ngã. Số là từ cựu dịch của Tâm sở. Xem luận giải của Nguyên Hiểu về Lục thô tướng trong Đại thừa khởi tín luận sớ 大乘起信論疏.
tuệ thân
Wisdom-body, one of the five divisions of the Dharmakàya, which is the embodiment inter alia of inherent wisdom.
; Một trong ngũ phần pháp thân, là thân đã được thành tựu từ vô lậu trí tuệ—Wisdom body, one of the five divisions of the Dharmakaya, which is the embodiment of inherent wisdom. ** For more information, please see Ngũ Phần Pháp Thân.
tuệ thọ
Tiếng các vị tỳ kheo lớn gọi các tỳ kheo nhỏ—A term to address to a monk by his superior.
tuệ tri
Pajānāti (S), knowledge.
tuệ triền
The bond of ignorance and stupidity which fetters wisdom.
Tuệ Trung Thượng Sĩ
慧忠上士|Huệ Trung Thượng Sĩ
tuệ trung thượng sĩ trần tung (1230-1297)
Ông tên thật là Trần Tung, sanh năm 1230, là con cả của Trần Liễu. Ông là cháu kêu vua Trần Thái Tông bằng chú—Thuở thiếu thời ông bẩm chất thông minh thuần hậu. Trong thời chiến đấu với quân Mông Cổ, ông đã hai lần làm tướng cầm quân dẹp giặc. Khi thái bình, ông lui về ẩn tu tại Phong ấp Vạn Niên. Tại đây ông tu thiền với Thiền sư Tiêu Dao. Ông sống đời đơn giản, không chạy theo thế lực chánh trị. Ông sống an nhàn tự tại trong thế giới nhiễu nhương và không bị dính mắc vào bất cứ thứ gì. Theo ông thì nếu không tham thì không làm tội. Chính vì thế mà cả Tăng lẫn tục đều đến học Thiền với ông. Vua Trần Thánh Tông tôn ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ và gửi Thái Tử Trần Khâm (sau nầy là vua Trần Nhân Tông) đến học Thiền với ông—His real name was Trần Tung, he was born in 1230, the eldest son of Trần Liễu. He was a nephew of King Trần Thái Tông. He was intelligent and well-behaved when he was very young. During the war time with the Mongolian, he had been a general twice, leading his troops against the invasive Mongolian army to the victory. During the peace time, he retired to Van Nien hamlet, the land rewarded by the king. He practiced meditation under the instruction of Zen Master Tiêu Dao and was enlightened. He led a simple life, not engaging in any competition for political power. He lived freely in his world and did not have any idea of clinging to anything. To him, no greed involved, no sins committed. Thus, laity and monks from all over came to study Zen with him. King Trần Thánh Tông honored him with the respected title “Tuệ Trung Thượng Sĩ” (a highest intellect who always lives within his wisdom). The king also sent his young prince Trần Khâm (later became King Trần Nhân Tông) to come to study Zen with him.
tuệ trí
Pajànàti (P). Clearly knowledge.
tuệ túc
Chân tuệ, một trong hai chân mà Đức Phật lấy để du hành khắp tam giới. Chân còn lại là “Phước Túc.”—The leg of wisdom, one of the two legs that the Buddha used to travel in the three worlds. The other is the leg of blessing or happiness.
tuệ tư
The second patriarch of the Thiên Thai school, Nam Nhạc Đại Sư.
; See Huệ Tư.
tuệ tạng
Wisdom-store, the Abhidharma pitaka which embodies the science of ascertaining the meaning of the sùtras. Also the whole of the Tripitaka.
; 1) Luận Tạng ghi chép và giải thích về Tuệ Học—Wisdom-store, the Abhidharma Pitaka, which embodies the science of ascertaining the meaning of the sutras. 2) Tam Tạng Kinh Điển: The whole of the Tripitaka.
tuệ tịnh
Hui-Ching—See Huệ Tịnh.
tuệ uyển
Hui-Yuan—See Huệ Uyển.
tuệ uyển âm nghĩa
See Huệ Uyển Âm Nghĩa.
tuệ viên mãn
Anna (p)—Ajnata (skt)—Trí tuệ cao nhất—Trí tuệ kiện toàn—Tuệ tâm linh—Highest knowledge—Perfect knowledge—Spiritual knowledge.
tuệ viễn
See Viễn Sư.
tuệ vân
The clouds of wisdom with which the Tathàgata covers all beings.
; Mây trí tuệ mà Như Lai dùng để bảo hộ hay che chở chúng sanh—The clouds of wisdom with which the Tathagata covers all beings.
tuệ vô lậu
Jānam-anāsravam (S).
; Jnànam-anàsravam (S). Wisdom non-outflowings., capability, or opportunity. or tùy duyên chân như phenomenal relativity ; and considered as immutable, the bất biến chân như which is likened to the water as opposed to the waves.
tuệ văn
Một vị sư Trung Hoa, nhị tổ tông Thiên Thai—A Chinese monk, second patriarch of the T'ien-T'ai sect. ** For more information, please see Thiên Thai Cửu Tổ.
tuệ đăng
The lamp of wisdom.
; Ngọn đèn sáng trí tuệ phá tan tối tăm hắc ám—The lamp of wisdom.
tuệ đăng vương
Vị vua đã bố thí máu thịt mình để cứu người—A king who gave his flesh and blood to save the lives of others.
Tuệ độ
xem Bát-nhã ba-la-mật.
tuệ độ
Prajnàpàramità (S), The supreme wisdom, the wisdom leading to the shore of enlightenment.
tuệ ảo
Wisdom-illusion, wisdom-conjuring; the kaleidoscope of wisdom.
tuệ ấn
Wisdom-sign, or seal.
; Trí Ấn—Trí tuệ của Như Lai khế hợp với thực tướng của các pháp, đó là quyết định không thay đổi—Wisdom sign or seal which never changes.
Tuệ 慧
[ja] エ e ||| (1) Clever, intellectual, quick-witted. (2) Wisdom, as opposed to phenomenal knowledge. [Buddhism] (prajñā). 'wisdom.' One of the 'Great ground elements' (大地法) elements in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舍論. One of the five "specialized function" 別境 mental action elements in the doctrine of the Yogācāra school 瑜伽行派. The mental function of discriminating the relative and the absolute, cutting off doubt. The mental function of penetrating the relative and the absolute. In the Yogācāra school, it has the special meaning of 'analysis.' Also commonly written with the variant form 惠 (hui). => Lanh lợi, thông minh, nhanh trí. Thông tuệ, ngược với sự hiểu biết trên mặt hiện tượng. [Phật học] Trí tuệ (Bát-nhã; prajñā). Là một trong các Đại địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, là một trong Ngũ biệt cảnh theo giáo lý Duy thức. Là tâm sở biện biệt sự tương đối và tuyệt đối, giải trừ mê mờ. Là tâm sở siêu việt tương đối và tuyệt đối. Theo giáo lý Du-già hành tông, nó có nghĩa đặc biệt là 'phân biện'. Cũng thường viết là Huệ (惠 c: hui).
tuổi
Āyu (P), Age.
; Age—Years of age.
tuổi già
The decline of life—Old age.
tuổi già cứ chạy theo thời gian
Old age comes swiftly with the passage of months and years.
tuổi già sức yếu
Old age and declining strength.
tuổi hạc
Very old.
tuổi thanh xuân
Youth.
tuổi thơ
Childhood.
tuổi trẻ
Youth.
tuổi xanh
Tender youth.
tuổi đạo
Vassagga (S), Seniority.
tuỳ chuyển phương tiện
Xem Đồng sự nhiếp.
tuỳ cầu tức đắc chân ngôn
Xem Đại Tuỳ Cầu Đà la ni.
Tuỳ miên
隨眠; S: anuśaya; P: anusaya;|Ðược hiểu là »khuynh hướng« con người dễ sa vào. Có bảy thứ: 1. Dục (欲; s, p: kāma); 2. Sân (瞋; pratigha); 3. Kiến (見; s: dṛṣṭi); 4. Nghi (疑; s: vicikitsā); 5. Mạn (慢; s: māna); 6. Hữu (有; s: bhava) muốn hiện hữu, có xác thịt; 7. Si (癡; moha) hoặc Vô minh (無明; avidyā). Các khuynh hướng đó nằm trong tiềm thức, là Tập khí (習氣; s: vāsanā), luôn luôn muốn trỗi dậy và tạo Ái. |Theo quan niệm của Thượng toạ bộ (p: theravāda) và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) thì các khuynh hướng này có gốc tại tư tưởng và liên hệ với sự suy tư. Chúng có một đối tượng, một nguồn gốc tốt xấu và là »xấu«. Theo quan niệm của Ðại chúng bộ, Ðộc tử bộ và Pháp Tạng bộ thì các khuynh hướng này không liên quan gì đến suy tư, không có đối tượng, không có nguồn gốc tốt xấu, là trung tính – không tốt không xấu.
tuỳ miên
Anusaya (P), Proclivity Anuśaya (S)Khuynh hướng.
Tuỳ niệm
隨念; P: anussati; nghĩa là kiến giải, quán tưởng; |Trong các kinh Tiểu thừa, đây là các phép tu quán nhằm giải thoát ba gốc Bất thiện (p: akusala) Tham, Sân, Si, nhằm đạt các niềm vui giác ngộ. Các phép quán tưởng đó gồm có sáu: Quán Phật, quán Pháp (p: dhamma), quán Tăng-già (saṅgha), quán Giới (p: sīla), quán Bố thí (dāna), quán chư Thiên (deva). Có lúc hành giả còn quán thêm bốn thứ khác là: quán cái chết, quán thân, quán hơi thở ra vào và quán sự bình an.
Tuỳ pháp hành
隨法行; S: dharmānussarin; P: dhammānus-sarin; |Một trong bảy hạng thánh môn đệ. Một trong hai hạng người trên đường đạt quả Dự lưu, lấy trí lí phân tích lí thuyết Phật pháp mà đạt. Hạng người thứ hai lấy Tín tâm mà đắc quả, được gọi là Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin; p: saddhānusārin).
tuỳ triều
Sui Dynasty Triều đại nhà Tùy.
Tuỳ tín hành
隨信行; S: śraddhānusārin; P: saddhānu-sārin;|Chỉ người dựa vào lòng tin (Tín; s: śraddhā; p: saddhā), lấy lòng tin làm căn bản để tu tập Phật pháp. Một trong hai hạng người đang chuẩn bị đắc quả Dự lưu. Hạng người thứ hai là Tuỳ pháp hành (s: dharmānussarin; p: dhammānussarin).
Ty hào
(絲毫): mảy lông, mảy may, chút xiu, cỏn con. Một phần trong mười vạn phần là một ty, 10 ty là một hào, tức chỉ đơn vị nhỏ nhất. Trong Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓) của Nhan Chi Suy (顏之推, 531-595?) đời Bắc Tề có câu: “Cổ thành dĩ cầu vị, dục ngôn dĩ càn lộc, hoặc vô ty hào chi ích, nhi hữu bất tỉnh chi khốn (賈誠以求位、鬻言以乾祿、或無絲毫之益、而有不省之困, lòn cúi để cầu địa vị, bán lời để được bổng lộc, hoặc chẳng có chút ích lợi gì, mà còn gặp rắc rối không phản tỉnh).” Câu “vị minh ty hào ôn thanh (未明絲毫溫清)” có nghĩa là chưa biết rõ có được chút ấm mát nào không.
Ty mạn 卑慢
[ja] ヒマン himan ||| Pride in regarding oneself as only a little inferior to those who far surpass one (avamāna, ūna-māna); one of the seven kinds of pride 七慢. 〔倶舎論 1559.29.254b28〕 => Tính cao ngạo cho rằng mình chỉ thua kém người khác chút ít trong khi họ vượt xa hơn mình. Một trong bảy thứ ngã mạn.
Ty mạng
(司命): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Theo Thiên Văn cổ đại, từ này chỉ cho ngôi sao thứ tư Văn Xương (文昌). (2) Chỉ cho hai ngôi sao phía bắc của Hư Tú (虛宿). (3) Tên của vị thần quản lý sinh mạng của con người. Như trong Sở Từ (楚辭), phần Đại Ty Mạng (大司命) có giải thích rằng: “Ty Mạng chủ tri sanh tử (司命主知生死, thần Ty Mạng chủ yếu quản lý việc sống chết).” (4) Người có quyền lực sinh sát trong tay. (5) Tên khác của Táo Thần (灶神), thường được gọi là Đông Trù Ty Mạng Táo Quân (東厨司命灶[竈]君).
Tỳ Lô Giá Na Phật
(s: Vairocana-buddha, 毘盧遮那佛): tên gọi tắt của Tỳ Lô Xá Na (毘盧舍那), hay Lô Xá Na (盧舍那), âm dịch là Tỳ Lâu Giá Na (毘樓遮那), Tỳ Lô Chiết Na (毘盧折那), Phệ Lô Giá Na (吠嚧遮那); ý dịch là Biến Nhất Thiết Xứ (遍一切處), Biến Chiếu (遍照), Quang Minh Biến Chiếu (光明遍照), Đại Nhật Biến Chiếu (大日遍照), Tịnh Mãn (淨滿), Quảng Bác Nghiêm Tịnh (廣博嚴淨). Các kinh điển giải thích về đức Phật nầy như Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), Phạm Võng Kinh (梵綱經), Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (觀普賢菩薩行法經), Đại Nhật Kinh (大日經), v.v., đều khác nhau, và thậm chí các tông phái ở Trung Quốc giải thích về đức Phật nầy cũng có sự khác biệt lẫn nhau. Kinh Hoa Nghiêm thì cho rằng đức Tỳ Lô Giá Na Phật đã từng tu công đức trong vô lượng kiếp, chứng quả chánh giác, trú nơi thế giới Liên Hoa Tạng, phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp mười phương, phóng đám mây hóa thân từ nơi lỗ chân lông để diễn xuất biển vô lượng khế kinh. Theo Phạm Võng Kinh thì cho rằng đức Phật nầy đã tu hành tâm địa trong hàng trăm a tăng kỳ kiếp để thành đẳng chánh giác, trú nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng, chung quanh đài liên hoa ấy có ngàn cánh (ngàn thế giới); đức Tỳ Lô Giá Na Phật biến thành ngàn hóa thân của đức Thích Ca Mâu Ni Phật và trú trong ngàn thế giới nầy. Hơn nữa, trong mỗi thế giới cánh sen ấy có hàng trăm ức núi Tu Di, trăm ức mặt trăng và mặt trời, hàng trăm ức cõi thiên hạ, hàng trăm ức Bồ Tát, Thích Ca đang diễn thuyết pháp môn tâm địa của Bồ Tát. Theo Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh thì cho rằng đức Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ và trú nơi Thường Tịch Quang Độ, cảnh giới được hình thành từ Bốn Ba La Mật là Thường Lạc Ngã Tịnh. Trong đó, Hoa Nghiêm Kinh và Phạm Võng Kinh thì cho rằng Tỳ Lô Giá Na Phật là Báo Thân Phật; còn Quán Phổ Hiền Kinh thì cho là Pháp Thân Phật. Về phía Thiên Thai Tông và Pháp Tướng Tông thì lập nên Tam Tôn là Tỳ Lô Xá Na, Lô Xá Na và Thích Ca, trong đó họ xem Tỳ Lô Xá Na là Pháp Thân (Tự Tánh Thân), Lô Xá Na là Báo Thân (Thọ Dụng Thân) và Thích Ca là Ứng Thân (Biến Hóa Thân). Trong 10 danh hiệu đức Phật có câu “Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Xá Na Phật, Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật, Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật”, cũng phát xuất từ giải thích nói trên. Riêng Chơn Ngôn Tông thì lấy thuyết của Đại Nhật Kinh mà chủ trương Tỳ Lô Giá Na Phật là Đại Nhật Pháp Thân với Lý Trí Bất Nhị. Trong bài Phật Tâm Ca (佛心歌) của Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) có câu “A thùy ư thử tín đắc cập, cao bộ Tỳ Lô đảnh thượng hành (阿誰於此信得及、高歩毘盧頂上行, Ai người theo đây tin được đến, cao bước Tỳ Lô đảnh thượng đi).”
tà
Miccha (P), Mithyā (S), Micchā (P)Thiên lệch, không đúng đường chánh.
; Deflected, erroneous, heterodox, depraved; the opposite of chính right.
; Deviant—Improper—Evil—Deflected—Erroneous—Heterodox—Depraved—Opposite.
tà chánh
(邪正) Tà và chính. Tà là xiên lệch, sai trái; Chính là ngay thẳng, thích đáng. Hết thảy pháp thuận theo tự tính thanh tịnh tạng, gọi là Nội, là Chính; nếu các pháp trái ngược với lí này thì gọi là Ngoại, là Tà. Tà và chính đối nhau nên có các nghĩa đối nhau, như Bát tà đạo bát chính đạo, Tà pháp chính pháp, Tà giáo chính giáo, Phá tà hiển chính, Xả tà qui chính, tất cả đều cho tà là nhân ô nhiễm, chính là nhân thanh tịnh. Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính (Đại 31, 813 thượng) nói: Kẻ ngu si vô trí thì chính pháp cho là phi pháp, lẫn lộn tà chính; còn người có đầy đủ trí tuệ thì khéo phân biệt tà chính. [X. kinh Phật tạng Q.thượng; luận Phật tính Q.4; Tam luận huyền nghĩa Q.thượng; Quán Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.trung; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu].
tà chính
Slanting and straight.
tà chấp
Heterodox tenets and attachment to them.
; Cố chấp vào kiến giải bất chính—Heterodox tenets and attachment to them.
; (邪執) Cũng gọi Tha, Đa sa. Chỉ cho chữ (tsa), 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 409 thượng) nói: Nếu nghe chữ Ta thì biết tất cả pháp không có tướng bỏn sẻn, không có tướng bố thí; mạt ta la, Trung quốc dịch là bỏn sẻn. Vì tiếng PhạmMàtsarya(Hán âm: Mạt ta la), nghĩa là bỏn sẻn, ghen ghét, trong đó bao hàm chữTa(tsa), cho nên có thuyết này.Ngoài ra, về chữTa, các kinh còn nêu ra nhiều nghĩa. Như kinh Quang tán bát nhã quyển 7 nêu nghĩa Tận diệt, kinh Phóng quang bát nhã quyển 4 nêu nghĩa Tử vong, kinh Đại bát nhã quyển 53 và kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 3 thì nêu nghĩa Mạnh mẽ, còn kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản dịch mới) thì nêu nghĩa: Tu hành tiến vào tất cả biển công đức.[X. phần Tứ thập nhị tự quán môn trong phẩmNhập pháp giới, kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; Tuệ lâm âm nghĩa Q.2]. Cũng gọi Dật sa, Dã sa, Duệ sa, Di sa, Xà, Sa. Chỉ cho chữ (ysa), 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Luận Đại trí độ quyển 48 cho rằng: Khi nghe chữ Ta này thì biết ngay chữ Ta là không, biết các pháp cũng là không. Kinh Đại bát nhã quyển 415 cho rằng vào cửa chữ Dật sa thì ngộ tính tướng già suy của tất cả pháp là bất khả đắc. [X. phần Tứ thập nhị tự quán môn, phẩm Nhập pháp giới, kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.3; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.89]. (xt. Tất Đàm). Giữ vững kiến giải bất chính. Tà chấp phần nhiều chỉ cho ác kiến của ngoại đạo, cái thấy biết của họ đều sinh khởi từ ngã, nếu lìa ngã kiến thì không có tất cả tà chấp. Trong Phật pháp, vọng chấp các pháp là thực có hoặc là đoạn diệt, hoặc không nương vào thánh giáo, hoặc cứ theo ý riêng của mình mà hiểu lầm Phật pháp... cũng gọi là Tà chấp. Vì như thế là không thấu suốt nghĩa của chính pháp, do chính pháp mà khởi tà chấp, ngã kiến, cho nên không khác với ngoại đạo. Luận Phật tính quyển 2 (Đại 31, 797 trung) nói: Có kẻ tăng thượng mạn, khởi kiến chấp không, (...) cho rằng tất cả hữu vô thảy đều là không, chấp không như thế thì chẳng có gì cả, mà đã chẳng có gì cả thì đạo lí nhân quả nhị đế cũng không; vì lỗi chấp không này nên rơi vào tà vô. Kẻ chấp như vậy, do không mà sinh khởi, cho nên trở thành tà chấp. Luận Du già sư địa quyển 57 nêu ra 6 thứ tà chấp, đó là: 1. Y chỉ tà chấp. 2. Tự tính tự tại đẳng bất bình đẳng nhân tà chấp. 3. Năng trì y chỉ ngã tà chấp. 4. Bỉ tử sinh chuyển tà chấp. 5. Bỉ tịnh bất tịnh phương tiện tà chấp. 6. Bỉ ái phi ái cảnh giới thụ dụng chủ tể tà chấp. Còn luận Hiển dương thánh giáo quyển 16 thì nêu 5 thứ tà chấp là: Chúng sinh tà chấp, Pháp tà chấp, Tổn giảm tà chấp, Sai biệt tà chấp và Biến dị tà chấp. [X. kinh Diệu pháp thánh niệm xứ Q.3; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.5; Thập địa kinh luận Q.1; luận Tam vô tính Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.hạ].
tà dâm
Adultery, Kamesu-micchacara (P), Kāma-mithyacara (S), Kāmamithyācāra (S), Kāma-micchācāra (P), Kāmamicchācāra (P)Tà hạnh.
; Kàmamithyàcàra (S). Unlawful sexual intercourse.
; Kamesu-micchacara (p). (I) Nghĩa của tà dâm—The meaning of Kamesu-micchacara: 1) Sexual misconduct—Obscene—Adultery. 2) See Dâm in Vietnamese-English Section. (II) Bốn điều kiện cần thiết để tạo nghiệp tà dâm—Four conditions that are necessary to complete the evil of sexual misconduct: 1) Ý nghĩ muốn thỏa mãn nhục dục: The thought to enjoy. 2) Cố gắng thỏa mãn nhục dục: Consequent effort. 3) Tìm phương tiện để đạt được mục tiêu: Means to gratify. 4) Sự thỏa mãn: Gratification. (III) Theo Đức Phật và Phật Pháp của Hòa Thượng Narada, đây là những quả báo không tránh khỏi của tà dâm—According to The Buddha and His Teachings, written by Most Venerable Narada, these are the inevitable consequences of Kamesu-micchacara. 1) Có nhiều kẻ thù: Having many enemies. 2) Đời sống vợ chồng không hạnh phúc: Union with undesirable wives and husbands (spouses). 3) Sanh ra làm đàn bà hay làm người bán nam bán nữ: Birth as a woman or as a eunuch (thái giám). (IV) Những lời Phật dạy về “Tà Dâm” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Sexual misconduct” in the Dharmapada Sutra: 1) Buông lung theo tà dục, sẽ chịu bốn việc bất an: mắc tội vô phước, ngủ không yên, bị chê là vô luân, đọa địa ngục—Four misfortunes occur to a careless man who commits adultery: acquisition of demerit, restlessness, moral blame and downward path (Dharmapada 309). 2) Vô phước đọa ác thú bị khủng bố, ít vui, quốc vương kết trọng tội: đó là kết quả của tà dâm. Vậy chớ nên phạm đến—There is acquisition of demerit as well as evil destiny. No joy of the frightened man. The king imposes a heavy punishment. Therefore, man should never commit adultery (Dharmapada 310).
; (邪淫) Phạm: Kàma-mithyàcàra. Pàli:Kàmesu micchàcàra. Cũng gọi Dục tà hạnh. Hành vi dâm dục bất chính, 1 trong 10 điều ác. Chỉ cho việc hành dâm với những người không phải là vợ hay chồng mình, hoặc vợ chồng hành dâm mà không đúng lúc, đúng chỗ, cũng là tà dâm. Theo kinh Bô lợi đa trong Trung a hàm quyển 50, kẻ tà dâm nhất định phải chịu ác báo ở đời này và đời sau. (xt. Tà Dâm Giới).
tà dâm giới
(邪淫戒) Giới răn cấm hành vi dâm dục bất chính, là 1 trong 5 giới mà người cư sĩ tại gia phải giữ gìn. Tức là cấm chỉ không được xâm phạm tiết hạnh của người phụ nữ đã được người (cha, mẹ, anh em trai, chị em gái, chồng, con, luân lí và luật pháp thế gian...) và pháp (chỉ cho giới của người xuất gia đã thụ và giới 1 ngày của người tại gia đã thụ) bảo vệ, hoặc cấm chỉ nam nữ hành dâm trong những trường hợp: Phi chi, phi thời, phi xứ, phi lượng, phi lí. Phi chi tức là hành dâm ở những chỗ trên thân không phải là âm đạo, phi thời là hành dâm khi vợ mang thai sắp sinh, ngày trai giới, hoặc lúc vợ bị bịnh... Phi xứ là hành dâm trong linh miếu, trước chỗ đông người. Phi lượng là hành dâm quá độ. Phi lí là hành dâm không tuân theo lễ pháp thế gian, như tự hành dục, môi giới cho người khác hành dâm... [X. kinh Ưu bà tắc trong Trung a hàm Q.30; kinh Chuyển luân vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; kinh Ưu bà tắc giới Q.3; luận Đại tì bà sa Q.113; luận Du già sư địa Q.59, 60; luận Đại trí độ Q.13;luận Thuận chính lí Q.42; luận Câu xá Q.16].
tà dục
To follow wrong desires or emotions.
tà giáo
Heterodox teachings.
; Heresy—Tà giáo nguyên thủy là một từ ngữ của khái niệm tôn giáo của Tây Phương; không có từ tương đương trong Phật giáo. Phạn ngữ “Drsti” có nghĩa là “tà kiến,” không phải vì lý luận mà vì khát vọng hay ao ước. Theo truyền thống Phật giáo, hình thức tà giáo tệ hại nhất là nhóm chủ trương có một cái ngã hằng hữu—Heresy is primary a Western religious concept; there is no exact Buddhist equivalent. The Sanskrit word “Drsti” literally means a wrong view, that is due not to reason but to craving or desire. According to Buddhist tration, the most serious form of heresy is to assert the reality and permanence of the individual human ego, i.e., the assertion of atta or atman.
tà giải
Paramasa (p)—Misapprehension—Một từ để chỉ “tà kiến” vì nó sanh khởi dưới hình thức không thấy được tự tính của một pháp, lại thấy cách khác không thực—A term for “wrong view,” because it occurs in the aspect of missing the individual essence of a given dharma and apprehending an unactual individual-essence.
tà giới
Heretical rules (precepts).
tà hành
erroneous ways.
tà hạnh
Duṣkṛta (S), Wrong doing.
; Erronous ways, the ninety-six heretical ways; the disciplines of non-Buddhist sects. Tà hạnh chân như, the phenomenal bhùtatathatà, from which arises the accumulation of misery.
; 1) Tà Dâm: Adulterous conduct. 2) Chín mươi sáu cách tà hạnh: The ninety-six heretical ways. 3) Giới hạnh ngoại đạo: The diciplines of non-Buddhist sects. 4) Theo Thanh Tịnh Đạo, tà hạnh là làm những điều đáng lý không nên làm, và không làm cái nên làm, do tham sân si và sợ. Chúng được gọi là đường xấu vì đó là những con đường mà bậc Thánh không đi—According to The Path of Purification, “Bad Ways” is a term for doing what ought not to be done and not doing what ought to be done, out of desire, hate, delusion, and fear. They are called “bad ways” because they are ways not to be travel by Noble Ones.
; (邪行) I. Tà Hạnh. Cũng gọi Tà dâm. Gọi đủ: Dục tà hạnh. Một trong 10 điều ác. (xt. Thập Thiện Thập Ác, Tà Dâm, Tà Dâm Giới). II. Tà Hạnh. Từ ngữ chỉ chung cho tà ngữ, tà nghiệp, tà mệnh hoặc thân tà hạnh, khẩu tà hạnh, ý tà hạnh, gọi là Tam tà hạnh. Ba thứ trước là 1 phần trong 8 chi tà, thuộc về sắc nghiệp (tức thân nghiệp, ngữ nghiệp) nhưng lập riêng. Còn 3 thứ sau là những hành vi của 3 nghiệp trái với chính đạo, bao gồm: Giết hại, trộm cắp, tà dâm, đánh đập, trói buộc, lừa gạt người, tham, giận, tà kiến... (xt. Tam Tà Hạnh). III. Tà Hạnh. Từ ngữ gọi chung tất cả hành pháp của 96 thứ ngoại đạo ở Ấn độ. (xt. Cửu Thập Lục Chủng Ngoại Đạo).
tà hạnh chân như
Mithyāpraptipatti-tathatā (S)Tà hạnh nhưTức Tập Thánh đế.
; Hiện tượng chân như, từ đó khởi lên khổ đau chồng chất—The phenomenal bhutatathata, from which arises the accumulation of misery.
tà hạnh chướng
Common unenlightened conduct.
tà hạnh như
Xem Tà hạnh chân như.
tà khí
Bad air.
; (邪氣) Cũng gọi Ác khí. Khí tà. Tức là yêu quái tà ác làm não hại người. Mật giáo và Tu nghiệm đạo ở Nhật bản có thực hành tà khí gia trì để xua tan loại tà khí này. Tương tự như loại tà khí này có dịch khí hoặc lệ khí, là loại ác linh gieo rắc tật bệnh. [X. kinh Thất Phật bát Bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú; kinh Quán đính Q.9; kinh Vô lượng thọ Q.thượng].
tà kiến
(hay chư kiến): chỉ chung các ý kiến, các sở kiến lầm lạc, thiên lệch của kẻ phàm phu, ngoại đạo.
; Micchā-diṭṭhi (S), Wrong view, Mithyā-dṛṣṭi (S)Không tin nhân quả, tội phúc, báo ứng. Một trong Thập sửCho rằng tất cả đều không có nhân quả, kiến giải này gọi là tà kiến.
; Drsti (S). Heterical views, not recognizing the doctrine of moral karma, one of the five heterodox opinions and ten evils ngũ kiến thập ác.
; Cho rằng tất cả đều không có nhân quả, kiến giải này gọi là tà kiến.
; Drishti (skt)—False views—Heretical views—Không thừa nhận nhân quả, không theo Phật pháp, một trong ngũ kiến và thập ác. Trong thời Đức Phật còn tại thế, có ít nhất là 62 tà kiến ngoại đạo—Improper views—Wrong views—Heterodox views—Not recognizing the doctrine of normal karma—To follow wrong views—Perverted (wrong) views or opinions, not consistent with the dharma, one of the five heterodox opinions and ten evils. There were at least sixty-two heretical views (views of the externalist or non-Buddhist views) in the Buddha's time. (I) Tà kiến theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa—Wrong views according to the point of views of Mahayana Buddhism: Theo Phật Giáo Đại Thừa, có ít nhất hai loại tà kiến—According to Mahayana, there are at least two kinds of wrong views: 1) Đoạn kiến: Annihilation-View. 2) Thường kiến: Eternity-View. (II) Tà Kiến theo quan điểm Phật Giáo Nguyên Thủy—Wrong views according to Hinayana Buddhism: (A) Theo Phật Giáo nguyên Thủy được ghi lại trong A Tỳ Đạt Ma Luận, tà kiến là ba quan kiến sai lầm sau đây được ghi lại trong Kinh Tạng—According to Theravada Buddhism in Abhidharma, wrong views are the following three wrong views which mentioned in the Sutra Pitaka: 1) Ahetuka-ditthi (p): Tin rằng mọi sự vật từ nhiễm đến tịnh đều phát sanh không có nguyên nhân, nhiễm tịnh chỉ là tình cờ mà thôi—The acausality view, which states that there is no cause or condition for the defilement and purification of beings, that beings are defiled and purified by chance, or necessity. 2) Akiriya-ditthi (p): Tin rằng hành động dầu tốt hay xấu đều không tạo quả, do đó chối bỏ luân lý đạo đức—The inefficacy of action view, which claims that deeds have no efficacy in producing results and thus invalidates moral distinctions. 3) Natthika-ditthi (p): Đoạn kiến—Tin rằng không có kiếp sống nào sau kiếp nầy, do đó chối bỏ mọi ý nghĩa đạo lý của nghiệp—Nihilism, which denies the survival of the personality in any form after death, thus negating the moral significance of deed. (B) Cũng theo Phật Giáo Nguyên Thủy, có mười loại tà kiến khác—Also according to the Hinayana Buddhism, there are another ten kinds of wrong views: 1) Tin rằng không có cái gì gọi là “để bát,” nghĩa là để bát cho chư Tăng Ni không đem lại lợi ích gì: There is no such virtue and generosity. This means that there is no good effect in giving alms. 2) Tin rằng không có gì gọi là “cúng dường,” nghĩa là cúng dường cho chư Tăng Ni không đem lại lợi ích gì: There is no such virtue as liberal alms-giving. 3) Tin rằng không có gì gọi là “dâng tặng,” hay dâng tặng vật dụng đến chư Tăng Ni không đem lại lợi ích gì: There is no such virtue as offering gifts to guests. This means there is no effetc in such charitable actions. 4) Tin rằng không có nhân quả, nghĩa là hành động thiện ác đều không gây hậu quả nào: There is neither fruit, nor result of good or evil deeds. 5) Tin rằng không có gì gọi là “thế gian nầy”: There is no such belief as “this world.” 6) Tin rằng không có gì gọi là “thế giới tới,” nghĩa là người sanh ở đây không chấp nhận có tiền kiếp và kiếp vị lai: There is no such belief as “a world beyond,” i.e. those born here do not accept a past existence, and those living here do not accept future life. 7) Tin rằng không có “mẹ”: There is no “mother.” 8) Tin rằng không có “cha,” nghĩa là đối xử với cha mẹ thế nào cũng không có hậu quả: There is no father, i.e. there is no effect in anything done to them. 9) Tin rằng không có chúng sanh chết và tái sanh: There are no beings that died and are reborn. 10) Tin rằng không có những bậc tu sĩ xa lánh chốn phồn hoa đô hội để tìm nơi vắng vẻ tham thiền nhập định, cũng như những bậc thiện tri thức, đức độ cao thượng, đạo hạnh trang nghiêm đã chứng đạt đạo quả (chư Phật và A La Hán): There are no righteous and well-disciplined recluses and brahmins who, having realized by their own super-intellect this world and the world beyond, make known the same (Buddhas and Arahants). (III) Theo Kinh Ví Dụ Con Rắn trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy về người có tà kiến như sau: “Đây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển. Tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi.”—According to the Simile of the Snake in the Middle length Discourses of the Buddha, the Buddha taught about someone who has the wrong views as follows: “This is self, this is the world; after death I shall be permanent, everlasting, eternal, not subject to change; I shall endure as long as eternity.” (IV) Hai điều kiện cần thiết để thành lập nghiệp tà kiến—Two things that are necessary to complete the evil of wrong views: 1) Tánh cách sai lầm trong lối nhìn sự vật: Perverted manner in which the object is viewed. 2) Cố chấp theo quan niệm sai lầm ấy: The understanding of it according to that misconception. (V) Những hậu quả không thể tránh được của nghiệp tà kiến—The inevitable consequences of false views: 1) Những ham muốn thấp hèn: Base desire. 2) Kém trí tuệ: Lack of wisdom. 3) Thiếu thông minh: Dull wit. 4) Bệnh hoạn kinh niên: Chronic diseases. 5) Tư tưởng xấu xa đáng chê trách: Blameworthy ideas. (VI)Không tà kiến—Having no wrong views: Theo Kinh Ví Dụ Con Rắn trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy: “Người nào nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chỉ mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết Bàn. Vĩ ấy nghĩ rằng chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại. Vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh.”—According to the Simile of the Snake in the Middle Length Discourses of the Buddha, the Buddha taught about someone who does not have wrong views as follows: “Here Bhikkhus! Someone who hears the Tathagata or a disciple of the Tathagata teaching the Dharma for the elimination of all standpoints, decisions, obsessions, adherences, and underlying tendencies, for the stilling of all formations, for the relinquishing of all attachments, for the destruction of craving, for dispassion, for cessation, for Nirvana. He thinks that he will be annihilated, he will be perished; he will have no more sorrow, grieve, and lament; he does not weep beating his breast and become distraught.” ***For more information, please see Ngũ Kiến Vi Tế and Thập Ác. (VII) Những lời Phật dạy về “Tà Kiến” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Wrong views” in the Dharmapada Sutra: 1) Không đáng hổ lại hổ, việc đáng hổ lại không, cứ ôm tà kiến ấy, địa ngục khó lánh xa—Those who embrace the wrong views, are ashamed of what is not shameful, and are not ashamed of what is shameful, will not be able to avoid the hell (Dharmapada 316). 2) Không đáng sợ lại sợ, việc đáng sợ lại không, cứ ôm tà kiến ấy, địa ngục khó lánh xa—Those who fear when they should not fear, and don't fear in the fearsome, embrace these false views, will not be able to avoid the hell (Dharmapada 317). 3) Không lỗi tưởng là lỗi, có lỗi lại tưởng không, cứ ôm tà kiến ấy, địa ngục khó lánh xa—Those who perceive faults in the faultless, and see no wrong in what is wrong; such men, embracing false doctrines, will not be able to avoid the hell (Dharmapada 318).
; (邪見) Phạm:Mithyà-dfwỉi. Pàli: Micchà-diỉỉhi. Thấy biết sai lầm, chủ yếu chỉ cho hạng người phủ nhận đạo lí nhân quả Tứ đế, là 1 trong 8 hạnh tà, 1 trong 10 điều ác, 1 trong 10 tùy miên, 1 trong 5 kiến chấp. Tức tà kiến cho rằng ở đời không có bất cứ nguyên nhân nào đưa đến kết quả, cũng chẳng có kết quả nào do nguyên nhân sinh ra, tất cả chỉ là tình cờ, vì thế ác chẳng đáng sợ mà thiện cũng chẳng đáng ham... Các nhà Câu xá cho rằng bác không nhân quả là tà kiến; còn các nhà Duy thức thì chủ trương phủ định nhân quả và tất cả tà chấp ngoài 4 kiến đều gọi là Tà kiến cả. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 49 thì 5 kiến tuy cũng suy lường sai lầm, nhưng vì lỗi vô hành tướng của tà kiến trầm trọng hơn nên đặc biệt gọi là Tà kiến. Lại vì Tà kiến phá hoại mọi việc, bác bỏ nhân quả, phỉ báng Tam bảo, hủy hoại pháp ân, sinh ân, tạo ra pháp oán, sinh oán, tiêu diệt hiện lượng, là cái thấy bạo ác, cho nên lập riêng tên Tà kiến. [X. luận Câu xá Q.19; luận Thành duy thức Q.6; luận Pháp uẩn túc Q.1, 10; luận Thành thực Q.10; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.46; luận Du già sư địa Q.8]. (xt. Bát Tà Hạnh, Thập Thiện Thập Ác, Ngũ Kiến).
tà kiến lưu
Ditthasava (P), The taint of wrong views.
tà kiến thừa
Cỗ xe tà kiến—The Vehicle of perverted views.
tà kiến trù lâm
Tà kiến có muôn hình vạn trạng như cây rừng chằng chịt um tùm—The thickets of heterodoxy.
; (邪見稠林) Rừng tà kiến. Vì tà kiến có rất nhiều chủng loại, giống như khu rừng rậm rạp um tùm, cây cối mọc chen chúc nhau, nên gọi là Tà kiến trù lâm. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 trung) nói: Vào rừng tà kiến(tà kiến trù lâm), hoặc chấp Có chấp Không... nương vào các kiến này, tất cả là 62.
tà kiến võng
See Tà Võng.
tà kế
Dishonest (wicked) plan.
tà lộ
Evil way.
tà ma
Màra (S). The Evil One, the Death personified, the Tempter.
; Maras—Evil spirit—Evil demons and spirits.
; (邪魔) Chỉ cho các tà pháp, ác ma làm trở ngại đạo Bồ đề, như Ma la(chỉ chung các loại ác quỉ thần) hóa làm hình Phật, não loạn chính định của hành giả, hoặc bọn tà sư ngoại đạo ở thế gian, đoán mò về họa phúc gây nhiễu loạn chính kiến của người tu hành, cho nên trong kinh điển thường gọi họ là Tà ma ngoại đạo. Kinh Vu lan bồn (Đại 16, 779 trung), nói: Thiên thần, địa thần, tà ma ngoại đạo. Nếu người tu hành Phật đạo mà khởi các vọng kiến, nói dối để mê hoặc chúng sinh thì cũng gọi là tà ma. Như kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 10 (Đại 19, 154 trung) nói: Tự cho mình đã đầy đủvô thượng bồ đề, tức là kẻ đại vọng ngữ, nghiệp chiêu cảm cuối cùng rơi vào địa ngục Vô gián. Do nghĩa trên mà người đời cho rằng hễ sự vật gì có phương hại đều là tà ma cả. [X. kinh Dược sư lưu lí quang Như Lai bản nguyện công đức; luận Đại thừa khởi tín; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng; Pháp hoa tán Q.hạ].
tà ma ngoại đạo
Maras and heretics.
tà mạn
Mithyā-māna (S)Không có đức mà tự cho là là mình tài cao đức trọng.
; Mithyàmana (S). Perverse or evil pride, doing evil for self-advancement; to hold to heterodox views and and not to reverence the Triratna.
; Mithyamana (skt)—Không tôn kính Tam Bảo, làm những việc quấy ác để được lợi mình. Ngã mạn trong tà kiến và những việc làm xằng bậy—To hold to heterodox views and not to reverence Triratna—Perverse or evil pride—Doing evil for self-advancement—Vaunting lack of virtue for virtue—Pride in false views or doings.
; (邪慢) Phạm: Mithyà-màna. Tự mình không đức mà nói bậy là có đức. Tức là thành tựu hạnh xấu ác, rồi cậy vào cái xấu ác đó mà kiêu mạn. Là 1 trong 7 mạn. (xt. Mạn)
tà mạng
trái với chánh mạng, nghĩa là sanh sống bằng những hành vi, nghề nghiệp tà vạy, không chân chánh. Tà mạng của người cư sĩ là những nghề nghiệp gây tổn hại đến người khác, nhưng đối với vị tỳ-kheo thì chánh mạng là phải dùng việc khất thực đúng pháp để nuôi sống, nên nếu làm bất cứ việc gì không đúng Chánh pháp để kiếm sống đều gọi là tà mạng, chẳng hạn như tất cả các nghề nghiệp của thế gian...
; Ajirika (S), Mithyā-jiva (S), Micchā-jiva (P)Nuôi sống thân mạng bằng những hành vi không đúng chánh pháp. Cách sống không ngay chánh
tà mạng giáo
Ajivivaka (S)Một đạo giáo thời Phật tại thế (Ngài Ca Diếp và 500 đệ tử đến thị trấn Câu thi Na gặp một đạo sĩ nhóm Tà Mạng cho hay Phật đã Niết bàn).
tà mệnh
Heterodox or improper ways of obtaining a living on the part of a monk, e.g by doing work with his hands, by astrology, his wits, flattery, magics, etc. Begging, or seeking alms, was the orthodox way of obtaining a living.
; Tỳ Kheo không khất thực để tự sống như giới luật đã quy định mà sinh sống bằng phương cách tà vạy, làm những nghề bị giới luật cấm. Một vị sư đi làm kiếm tiền, xem quẻ, dùng tài để sinh sống, nịnh bợ, làm ảo thuật, xin ăn hay cầu được bố thí cúng dường, vân vân—Heterodox or improper way to obtain a living on the part of a monk by doing work by his hands, by astrology, his wits, flattery, magic, etc. ** For more information, please see Tứ Chủng Tà Mệnh.
; (邪命) Phạm: Mithyà-jìva. Pàli: Micchà-jìva. Gọi đủ: Tà hoạt mệnh. Mưu sinh bằng những cách trái với chính pháp, 1 trong 8 hạnh tà. Luận Đại trí độ quyển 19 nêu ra 5 tà mệnh; tức muốn được tiền của mà làm 5 việc:1. Dối trá hiện ra những tướng kì lạ để gạt gẫm người. 2. Khoe khoang tài đức của mình để lòe đời. 3. Bói toán lành dữ. 4. Lớn tiếng ra uy. 5. Tâng bốc người cúng dường. Về vấn đề ăn mặc thì luận Đại trí độ quyển 3 nêu 4 Tà mệnh thực: 1. Hạ khẩu thực: Cày cấy ruộng vườn, pha chế thuốc thang để cầu được cơm áo. 2. Ngưỡng khẩu thực: Xem tinh tú, gió mưa, dùng thuật số để cầu được cơm áo.3. Phương khẩu thực: Dùng lời nói khéo tâng bốc, nịnh nọt những người có quyền thế và giàu sang để cầu được cơm áo. 4. Duy khẩu thực: Nghiên cứu chú thuật, xem tướng số, bói lành dữ để cầu được cơm áo. Nếu tỉ khưu nói pháp để cầu được cơm áo thì gọi là Tà mệnh thuyết pháp. Luật Ma ha tăng kì quyển 7 cũng liệt kê 3 loại tà mệnh là: Thân tà mệnh, khẩu tà mệnh và Thân khẩu tà mệnh. Trong số các ngoại đạo ở Ấn độ, có ngoại đạo tên là Tà mệnh, tức là ngoại đạo Ni kiền tử ở thời đức Phật còn tại thế. Nhưng, từ Tà mệnh ngoại đạo cũng có thể được dùng để chỉ chung cho những người tu hành ngoại đạo đương thời. [X. kinh Trường a hàm Q.14; kinh Phật bản hạnh tập Q.45; luận Xá lợi phất a tì đàm Q.14; luận Đại trí độ Q.73; luận Thành thực Q.12; luận Câu xá Q.8; Câu xá thích luận Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.10; Ma ha chỉ quán Q.7]. (xt. A Thời Phược Ca Phái).
tà mệnh thuyết pháp
The heterodox way of preaching or teaching, for the purpose of making a living.
; Thuyết pháp lấy tiền kiếm sống là tà mệnh thuyết pháp—The heterodox way of preaching or teaching, for the purpose of making a living.
tà mệnh thực
See Tà Mệnh.
tà nghiệp
(邪業) Đối lại: Chính nghiệp. Chỉ cho thân nghiệp bất chính dấy lên từ tham, sân, si, như giết hại, trộm cắp, gian dâm... đều là tà nghiệp. Là 1 trong 3 hạnh tà, 1 trong 8 hạnh tà. [X. kinh Trung a hàm Q.48; luận Câu xá Q.17]. (xt. Bát Tà Hạnh, Tam Tà Hạnh).
tà nghĩa
(邪義) Học thuyết, chủ trương khác với chính nghĩa. Trong tông môn, những dị thuyết được sáng lập ra làm hoặc loạn pháp môn, trái với những giáo pháp truyền thừa của các Tổ xưa nay, đều gọi là Tà nghĩa. Chẳng hạn như trong giáo pháp của tông Thiên thai đời Tống, thuyết của phái Sơn gia được coi là Chính nghĩa, còn chủ trương của phái Sơn ngoại thì được gọi là Dị nghĩa, Tà nghĩa. Cũng như trong Tịnh độ Chân tông của Nhật bản, thuyết Chính ý an tâm là chính nghĩa, còn thuyết Dị an tâm là tà nghĩa...
tà ngụy
Dishonest—False.
tà ngữ
Dubbhasita (S), Wrong speech.
; (邪語) Đối lại: Chính ngữ. Chỉ cho những lời nói bất chính phát sinh từ tham, sân, si, như nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói ác... đều là tà ngữ. Là 1 trong 3 hạnh tà, 1 trong 8 hạnh tà. [X. kinh Thuyết trí trong Trung a hàm Q.49; luận Câu xá Q.17]. (xt. Bát Tà Hạnh).
tà nhân tà quả
(邪因邪果) Thuyết nhân quả sai trái do ngoại đạo Ấn độ đề xướng, 1 trong 4 tà chấpcủa ngoại đạo.Ngoại đạo cho rằng sự sinh khởi của vạn vật đều do trời Đại tự tại; sự khổ vui của hữu tình tùy thuộc sự mừng giận của trời Đại tự tại, nếu trời này mừng thì chúng sinh đều vui; nếu trời này giận thì 6 đường đều chịu khổ. Nhưng, nói theo lập trường của Phật giáo thì trời chẳng phải là nhân của vạn vật, mà vạn vật cũng chẳng là quả của trời. Nhân quả này chẳng phải dính dáng, chỉ do tà tâm mà ra, cho nên gọi là Tà nhân tà quả. [X. Tam luận huyền nghĩa Q.thượng].
tà nhãn
Wicked eyes.
tà nịnh
Dishonest and flattering.
tà phiến
Heterodox fanning, i.e. to influence people by false doctrines.
; Quạt tà, dùng tà đạo để kích động nhân tâm—Heterodox fanning, i.e. to influence people by flase doctrine.
tà pháp
Heterodoxy, false doctrines or methods.
; Heterodoxy—False doctrine or methods.
tà quán
Heterodox contemplation.
; (邪觀) Đối lại: Chính quán. Pháp quán không đúng như lời dạy trong kinh. Kinh Quán Vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Lúc thấy mặt trời gần lặn, hình dáng giống như quả trống treo; thấy như thế rồi thì lúc nhắm mắt, mở mắt đều nhận rõ, đó là Nhật tưởng, là Sơ quán. Quán đúng như thế gọi là Chính quán, nếu quán khác đi thì gọi là Tà quán. Trong Quán kinh sớ diệu tông sao quyển 4, ngài Tri lễ đời Tống giải thích nghĩa tà quán cho rằng: Quán mặt trời thấy mặt trời, phù hợp với lời dạy trong kinh, tâm và cảnh ứng nhau, đó là chính quán. Trái lại, quán mặt trời mà thấy cảnh khác, tâm và cảnh không ứng hợp nhau, thì đó là tà quán. [X. kinh Di lặc thướng sinh; kinh Quán Phật tam muội hải Q.1, 2; kinh Văn thù sư lợi bát niết bàn; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; Quán kinh sớ định thiện nghĩa]. (xt. Chính Quán).
tà sơn
A mountain of error or heterodox ideas; such ideas as great as a mountain.
; 1) Một núi tà kiến: A mountain of error or heterodox ideas. 2) Tà kiến lớn như một ngọn núi: Heterodox ideas are as great as a mountain.
tà thuyết
False doctrine.
tà thuyết pháp
Thuyết những giáo pháp tà ngụy hoặc thuyết giảng Phật pháp kiếm tiền sinh sống—To preach false doctrine—To preach or teach the Dharma for the purpose of making a living.
tà thủ
Śīlabbatādāna (S).
tà trí
Evil wisdom.
tà tuần
Jhapita (skt)—Dùng lầm lẫn cho từ “Trà Tỳ”—Being erroneously used to represent “Burial or cremation.”
tà tà
1) Slanting—Oblique—Inclined. 2) To be slow.
tà tâm
Evil mind.
tà tính định
Tà Định—Tà Định Tụ, một trong tam tụ—The accumulation of suffering to be endured in purgatory by one of heterodox nature, one of the three accumulation.
tà tính định (tụ)
The accumulation (of suffering) to be endured in purgatory by one of heterodox nature. One of the three accumulations tam tụ.
tà tư
Depraved and selfish desires, lust.
; Ham muốn hay dục vọng vị kỷ—Depraved and selfish desires, lust.
tà tư duy
Ditṭṭhi-carita (P), Tendency of thinking.
; Heterodox reflection, or thought.
; Sự tư duy tà vạy—Heterodox reflection or thought.
tà tụ
The accumulation of misery, produced bt false views, one of the tam tụ.
; Khổ đau chồng chất vì tà kiến, một trong tam tụ—The accumulation of misery produced by false views, one of the three accumulations.
tà vân
Clouds of falsity or heterodoxy, which cover over the Buddha-nature in the heart.
; Đám mây tà kiến phủ trùm Phật tánh trong tâm—Clouds of falsity or heterodoxy, which cover over the Buddha-nature in the heart.
tà võng
The net of heterodoxy, or falsity.
; Lưới tà hay tà kiến đan bện vào nhau như như cái lưới—The net of heterodoxy, or falsity.
tà vạy
Crooked—Dishonest
tà đạo
Mithyā-marga (S), Wrong path, Micchā-magga (P).
; Mithya màrga (S). Heterodox ways, or doctrines. Wrong path.
; Paganism—Heterodox way or doctrine.
tà đảo kiến
Heterodoxy; perverted views or opinions.
; Perverted views.
tà định
Miccha-samādhi (S).
; Miccha-samadhi—Wrong concentration—Evil samadhi—The accummulation of suffering to be endured in purgatory by one of heterodox nature.
; (邪定) I. Tà Định. Cũng gọi Tà thiền. Thiền định sai lầm. Theo phẩm Phân biệt định trong luận Giải thoát đạo quyển 2 thì định có 2 loại: Tà định và Chính định. Tà định là thiền định sai lầm, không thể nào đạtđến trạng thái nhất định. II. Tà Định. Gọi đủ: Tà định tụ. (xt. Tà Định Tụ).
tà định tụ
(邪定聚) Phạm:Mithyàtva-niyata-ràzi. Pàli: Micchatta-niyata-ràzi. Cũng gọi Tà tính định tụ, Tất tà tụ, Tà kiến tế. Gọi tắt: Tà định. Chỉ cho loại chúng sinh nhất định sẽ rơi vào đường tà, là 1 trong 3 định tụ. Loại chúng sinh này tạo tác 5 nghiệp vô gián (giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm cho thân Phật chảy máu, phá hòa hợp tăng), nhất định phải đọa địa ngục, chắc chắn rơi vào đường tà, vì thế gọi là Tà định tụ. Theo luận Thành thực quyển 2 thì chúng sinh thuộc loại tà định tụ nhất định không vào Niết bàn vì không có cơ duyên chứng ngộ thành Phật. (xt. Tam Định Tụ).
tài
Vasu, artha (S). Wealth, riches.
; 1) Tài giỏi: Talent. 2) Tài lợi: Vasu (skt)—Wealth—Riches.
tài chủ
A wealthy man, rich.
; A wealthy (rich) man.
tài cung dưỡng
(財供養) Một trong hai thứ cúng dường. Dâng các thứ tài bảo ở thế gian như hoa thơm, vật báu... cúng dường chư Phật, Bồ tát, hoặc đem các thức ăn uống, y phục, thuốc thang... bố thí cho người. [X. luận Tập dị môn túc Q.2].
tài cúng dường
Một trong ba phép cúng dường một vị Phật, lấy của cải châu báu thế gian mà cúng dường lên chư Phật—One of the three modes of serving a Buddha, offerings or gifts of material goods—See Tam Cúng Dường.
tài danh
Talent and fame.
tài dục
Một trong năm tà dục—One of the five wrong desires, the desire for wealth—See Ngũ Dục.
tài hoa
Genius.
tài huệ
Xem Địa Huệ đồng tử.
tài khan
Tham xan bỏn xẻn—Meanness—Stinginess.
tài liệu
Document.
tài lợi
Rich and interest.
tài lực
Talent and strength.
tài năng
Ability—Capability.
tài sản
dhāna (S, P)Của cải.
tài sắc
Tiền tài và sắc đẹp của đàn bà—Wealthy and beauty (beauty of a woman).
tài thí
Dana (skt)—Lấy của cải, quần áo, thức ăn, ruộng nương, nhà cửa, châu báu mà bố thí—Almsgiving—Offering of goods—See Tài Cúng Dường, Tam Cúng Dường, and Tam Bố Thí.
; (財施) Đối lại: Pháp thí. Ban phát các thứ vật chất như thức ăn uống, quần áo, nhà cửa, ruộng vườn, vật báu... cho người. (xt. Tam Thí, Bố Thí).
tài thí cúng dường
See Tài Thí.
tài thí, tài cúng dường
Offerings or gifts of material goods.
tài thần
Kuvera (skt)—The god of wealth.
tài tuệ
(財慧) Phạm: Vasumati. Hán âm: Phược tô ma để. Cũng gọi Địa tuệ. Sứ giả của bồ tát Văn thù sư lợi, là 1 trong 5 sứ giả của Ngài. (xt. Địa Tuệ Đồng Tử).
tài tình
Skilful—Clever.
tài vật bố thí
Dakṣinā (S), Dakkhina (P).
tài ăn nói
Talent for speaking.
tài đức
Talent and virtue.
tàm
Hrī (S), Hriḥ (S), ShameTự biết hỗ thẹn những lỗi mình đã tạo ra. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp. Tâm Tàm - quý (Hri - Apatrapya).
tàm kiển tự phọc
(蠶繭自縛) Cũng gọi Tác kiển tự phược. Con tằm làm kén để tự buộc mình. Ví dụ chúng sinh tự khởi phiền não, tự tạo ác nghiệp đểphảichìm đắm trong 3 cõi, giống như con tằm tự làm lấy kén và nhả tơ ra để tự buộc mình. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 27 (Đại 12, 524 thượng) nói: Như tằm làm kén, tự sống tự chết; tất cả chúng sinh cũng tự làm như thế, chẳng thấy Phật tính, cho nên tự tạo kết nghiệp, sống chết trôi lăn. [X. kinh Phật thuyết vô thường; luận Đại trí độ Q.31, 90; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. (xt. Tác Kiển Tự Phược).
tàm quý
xem hổ thẹn.
; (慚愧) Cũng gọi Hữu tàm hữu quí. Đối lại: Vô tàm vô quí Tàm (Phạm: Hrì), Quí (Phạm: Apatràpya). Từ gọi chung tàm và quí(hổ và thẹn), tên tâm sở, nghĩa là tác dụng của tâm biết hổ thẹn khi phạmtộilỗi, là 1 trong các Đại thiện địa pháp của Thuyết nhất thiết hữu bộ, 1 trong các Thiện pháp của tông Pháp tướng. Luận Câu xá quyển 4 nêu ra 2 cách giải thích về Tàm và Quí như sau: Cách thứ nhất: Tàm là lòng tôn kính các công đức và người có đức, Quí là lòng sợ tội lỗi. Cách thứ hai: Tàm là khi mình phạm tội mặc dầu không có ai biết nhưng tự cảm thấy hổ thẹn, còn Quí là khi mình tạo tội mọi người đều biết mà mình xấu hổ. Theo thuyết trên thì Tàm và Quí đều là tâm hổ thẹn, nhưng vì đối với chính mình và đối với người khác mà chia làm hai.Kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Bắc) thì cho rằng Tàm là tự mình không tạo tội, Quí là không bảo người khác tạo tội; Tàm là tự trong lòng mình cảm thấy hổ thẹn, Quí là cảm thấy hổ thẹn khi bày tỏ tội lỗi của mình với người khác; Tàm là lòng hổ thẹn đối với người, Quí là lòng hổ thẹn đối với trời. Thuyết này tương đương với cách giải thích thứ 2trongluận Câu xá. Luận Thành duy thức quyển 6 thì thu dụng cả 2 cách giải thích của luận Câu xá, cho rằng Tàm là trước tôn trọng chính mình, sau tôn kính các bậc hiền thánh và tôn trọng Pháp; Quí là chống lại sự bạo ác do áp lực của thế gian(tức do sự chê cười của người đời, hoặc sự chế tài của luật pháp). Tức chủ trương hổ thẹn là tướng chung của Tàm và Quí, còn tôn sùng điều thiện, chống lại cái ác thì theo thứ tự là tướng riêng của Tàm và Quí. Trái lại với Tàm và Quí, không tôn kính các công đức và những bậc hiền thánh, hoặc không tự thấy hổ thẹn trước tội ác do chính mình gây ra, thì gọi là Vô tàm (Phạm:Àhrìkya). Còn đối với người khác đã biết rõ tội ác của mình mà mình không cảm thấy xấu hổ thì gọi là Vô quí (Phạm: Anapatràpya). Tàm và Quí có công năng làm cho tất cả hành vi trở nên trong sáng, nên được gọi là Nhị chủng bạch pháp(Hai thứ pháp trong trắng sáng sạch). [X. kinh Phật di giáo; kinh Bản sự Q.4; luận Đại tì bà sa Q.35; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Du già sư địa Q.55; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.1; luận Thuận chính lí Q.11; Câu xá luận quang kí Q.20].
Tàm 慚
[ja] ザン zan ||| (hrī). 'conscience,' or 'shame for one's faults.' The name for a mental function, which in the Abhidharmakośa-bhāsya is one of the 'ten virtuous mental function' elements, and in the doctrine of the Yogācāra school, is one of the 'eleven good mental function' elements. It refers to the shame resulting from reflecting on one's self-centered evil actions. => Xấu hổ vì lỗi lầm của mình. Tên một tâm sở, theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận là một trong Thập thiện địa pháp, theo gj của Duy thức là một trong nhóm gồm 11 tâm sở thiện. Nó có nghĩa là sự xấu hổ do kết quả của việc suy gẫm về sai lầm ích kỷ của mình.
tàn bà sa la
Xem Bình sa vương.
Tàn khí 殘氣
[ja] ザンゲ zange ||| Habit energies that remain after the afflictions proper have been removed; see 餘習. 〔二障義 HPC 1.794a11〕 => Tập khí còn lại sau khi các phiền não chính đã được chuyển hóa; Xem Dư khí 餘習.
Tàn tập 殘習
[ja] ザンシュウ zanshū ||| Habit energies that remain after the afflictions proper have been removed; see 餘習. => Tập khí còn lại sau khi các phiền não chính đã được chuyển hoá; Xem Dư khí 餘習.
tàng thức
Xem A lại da thức.
Tàng, tạng thức 藏識
[ja] ゾウシキ zōshiki ||| 'storehouse consciousness' 'container consciousness;' the eighth, or ālayavijñāna as taught by the school of Consciousnessonly. See 阿頼耶識. => Thức thứ tám hay A-lại-da thức được đề cập trong giáo lý Duy thức. Xem A-lại-da thức 阿頼耶識.
Tàng, tạng 藏
[ja] ゾウ zō ||| (1) To cover, to conceal. (2) To hold, embrace, cherish, nurture. (3) To keep, to store, put, place. (4) To accumulate. (5) A storage place, a hold, a bank, a container. => 1. Bao phủ, che đậy. 2. Giữ, bao gồm, nuôi dưỡng. 3. Giữ gìn, cất chứa, để, đặt. 4. Tích luỹ. 5. Kho chứa, vật chứa đựng, kho tàng, kho hàng.
tào củ trá quốc
(漕矩咤國) Cũng gọi Tào củ quốc, Tào lợi quốc, Ha đạt la chi quốc, Tạ duật quốc, Xã hộla tát tha na quốc. Tên một nước xưa ở A phú hãn (Afghanistan). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 12 thì nước Tào củ tra chu vi hơn 7 nghìn dặm, đô thành là Hạc tất na. Nước này khí hậu rất lạnh, có nhiều sương tuyết, hoa quả tốt tươi. Tính tình người dân nóng nảy, thích học nghề, nhiều kĩ thuật. Tuy thờ các thần và nhiều đạo khác, nhưng phần lớn dân chúng đều kính tin Tam bảo, trong nước có vài trăm ngôi già lam với hơn một vạn vị tăng, tất cả đều tu học theo giáo pháp Đại thừa. Vị trí này tương đương với vùng đất ở đông nam A phú hãn hiện nay và đô thành Hạc tất na tương đương với vùng Gia từ ni (Ghazni) ở phía nam Khách bố nhĩ (Kabul). Đời Tùy gọi là Tào quốc, lãnh thổ bao gồm cả nước Ca tất thí; nhưng Tùy thư tây vực liệt truyện 48 thì cho rằng Tào quốc tức là nước Kế tân vào đời Hán. Còn điều Kế tân quốc trong Đường thư tây vực liệt truyện 146 thượng cũng ghi rằng Kế tân là chỉ cho Tào quốc vào đời Tùy. Học giả Ấn độ học người Nhật bản là ông Bạch điểu Khố cát căn cứ vào Phạm ngữ tạp danh mà cho rằng Kế tân nói trong Đường thư chính là Ca tất thí, lí do vì Tào quốc ở đời Tùy bao gồm cả nước Ca tất thí. Đến đầu đời Đường, vùng Đông bắc của Tào quốc được độc lập gọi là Ca tất thí quốc, Tào củ tra quốc chỉ còn giữ được vùng Tây nam, về sau lại thần phục và lệ thuộc nước Ca tất thí. Tào quốc cũng nhiều lần đến triều cống nhà Đường. Ngoài ra, tên nước Tào củ tra bắt nguồn từ cuối thế kỉ thứ V khi người Áp thát diệt Đại nguyệt chi, chiếm lãnh thổ nước này ở lưu vực sông Kabul và vùng đất Kandahar, rồi gọi chung là Jabula. Marquart căn cứ vào sự kiện này mà suy đoán rằng tên gọi Tào quốc và Tào lợi quốc là phiên âm của từ Jabula (Jawuda); Củ tra làphiên âm của chữ PhạmKùỉa, nghĩa là đính (chỗ cao nhất). Nhưng Watters thì nói Tào củ tra là dịch âm từ tiếng Phạmjàguđa, có nghĩa là hương uất kim, học giả Bạch điểu Khố cát tán đồng ý kiếnnàyvà nói thêm rằng jabula vàjàguđa là giống nhau. Lại điều Tạ duật trong Đường thư tây vực liệt truyện 146 hạ và Tuệ lâm âm nghĩa quyển 100 cho rằng Tạ duật, tên khác là Tạviệt, đều là phiên âm từ chữjawada mà ra. Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện cho biết, người nước Tạ duật tự gọi là Xã hộ la tát tha na (Jabulistan). [X. Tuệ siêu Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện tiên thích; Giảithuyết tây vực kí; Kế tân quốc khảo (Bạch điểu Khố cát, Đông dương học báo 7); Ancient Geography of India by A. Cunningham; Erànzahr by J. Marquart; On Yuan Chwang, Vol. I by T. Watters]. (xt. CaTất Thí Quốc).
Tào khang
(糟糠): bã rượu và cám gạo. Đây là hai loại thức ăn rất nghèo nàn, thô mạt dùng cho heo ăn; nhưng đối với nhà bần hàn, cùng cực thì cũng dùng hai loại thức ăn này để sống, vậy mà vẫn không ăn đủ no; cho nên có câu “tào khang bất bão (糟糠不飽, bã rượu và cám gạo nghèo hèn mà vẫn không ăn no đủ).” Ngạn ngữ của Trung Quốc vẫn thường có câu “tào khang chi thê bất hạ đường (糟糠之妻不下堂)”, nghĩa là đối với người vợ đã cùng với mình trãi qua thời gian sống cơ hàn, ăn thức ăn thô hèn như bã rượu và cám gạo, thì lúc khá giả, sung túc không nên bạc đãi cho xuống nhà dưới ở, mà phải biết quý trọng hơn nữa. Câu này phát xuất từ trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 26, Truyện Tống Hoằng (宋弘傳): “Thần văn bần tiện chi tri bất khả vong, tào khang chi thê bất hạ đường (臣聞貧賤之知不可忘、糟糠之妻不下堂, thần nghe rằng quen biết lúc nghèo cùng thì không thể quên, người vợ cùng chung cực khổ thì không thể bạc đãi cho xuống nhà dưới).”
Tào Khê
(曹溪[谿]): tên địa danh và cũng là thánh địa của Thiền Tông Trung Quốc, tọa lạc tại Huyện Khúc Giang (曲江縣), Thiều Châu (韶州, thuộc Tỉnh Quảng Đông [廣東省]). Trong Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑), phần Vân Môn Lục (雲門錄), Tào Khê (曹溪) có giải thích rằng: “Đường Nghi Phụng trung, cư nhân Tào Thục lương thí địa, Lục Tổ Đại Sư cư chi địa, hữu Song Phong đại khê, nhân Tào Hầu chi tánh, vị Tào Khê (唐儀鳳中、居人曹淑良施地、六祖大師居之地、有雙峰大溪、因曹候之姓、謂曹溪, trong khoảng niên hiệu Nghi Phụng [676-678] nhà Đường, có người tên Tào Thục dâng cúng đất, là vùng đất Lục Tổ Đại Sư cư trú, có khe nước lớn Song Phong, nhân vì quan họ Tào, nên gọi là Tào Khê [khe họ Tào]).” Vào năm đầu (502) niên hiệu Thiên Giám (天監) nhà Lương, có vị tăng người Bà La Môn ở Thiên Trúc tên Tam Tạng Trí Dược (三藏智藥) đến ngay tại cửa khẩu Tào Khê, uống ngụm nước dòng suối này, biết đây là thánh địa đầu nguồn, bèn khuyên dân chúng trong vùng kiến lập một ngôi chùa, giống với Bảo Lâm Sơn (寶林山) ở phương Tây, lấy tên là Bảo Lâm Tự (寶林寺); rồi vị quan Châu Mục vùng Thiều Châu là Kính Trung (敬中) dâng sớ lên triều đình; và vào năm thứ 3 (504) cùng niên hiệu trên thì chùa được ban sắc ngạch. Sau đó, Trí Dược đăng đàn thuyết pháp tại đây và tiên đoán rằng người tu tập đắc đạo sẽ đông như cây cối trong rừng. Sau 173 năm, vào năm thứ 2 (677) niên hiệu Thiên Giám, sau khi đắc pháp với Hoằng Nhẫn (弘忍), Lục Tổ Huệ Năng (六祖慧能) xuống tóc, thọ Cụ Túc giới với Pháp Sư Ấn Tông (印宗); rồi trở về Bảo Lâm Tự, được Trần Á Tiên (陳亞仙) dâng cúng thêm đất, nên xây dựng thành một ngôi già lam với 13 khu vực rộng lớn. Đó chính là Hoa Quả Viện (花果院), hay Nam Hoa Tự (南華寺). Ngoài ra, Tào Khê còn là tên gọi khác của Lục Tổ Huệ Năng; cho nên Đại Sư được tôn xưng là Tào Khê Cổ Phật (曹溪古佛), Tào Khê Cao Tổ (曹溪高祖). Trong Thiền Tông thường có thuật ngữ Tào Khê Nhất Trích (曹溪一滴, một giọi nước Tào Khê). Đây là tên tác phẩm do Nhất Triệt Châu Lý (一徹周理) nhà Minh biên, 9 quyển, bản san hành đầu tiên vào năm thứ 9 (1636) niên hiệu Sùng Trinh (崇貞). Trong quyển 1 Tào Khê Nhất Trích có lời tựa của Vô Học Cư Sĩ Đào Hồng (無學居士陶珙) ở phần mạo đầu, lời dẫn của Qua Duẫn Lễ (戈允禮), có thâu lục cơ ngữ của 24 Thiền giả và cơ ngữ ứng hóa của 19 bậc Thánh. Căn cứ vào bài kệ “Bồ Đề bổn vô thọ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai (菩提本無樹、明鏡亦非、本來無一物、何處惹塵埃, Bồ Đề vốn không gốc, kính sáng cũng chẳng đài, xưa nay chẳng một vật, chỗ nào nhuốm trần ai)” của Lục Tổ Huệ Năng, xuất hiện thuật ngữ “Tào Khê kính lí tuyệt trần ai (曹溪鏡裏絕塵埃, trong gương Tào Khê sạch bụi trần).” Như trong Bích Nham Lục (碧巖錄) 5 có câu: “Ngưu Đầu một Mã Đầu hồi, Tào Khê kính lí tuyệt trần ai (牛頭沒、馬頭回、曹溪鏡裏絕塵埃, Ngưu Đầu mất, Mã Đầu còn, trong gương Tào Khê sạch bụi trần).” Trong Thiền môn thường có bài tán Tào Khê như sau: “Tào Khê thủy, nhất phái hướng Đông lưu, Quan Âm bình nội trừ tai cữu, Đề Hồ quán đảnh địch trần cấu, dương chi sái xứ nhuận tiêu khô, yếu hầu trung Cam Lồ, tự hữu quỳnh tương thấu. Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (曹溪水、一派向東流、觀音瓶內除災咎、醍醐灌頂滌塵垢、楊枝洒處潤消枯、咽喉中甘露、自有瓊漿透。南無香雲蓋菩薩, Tào Khê nước, một dòng hướng Đông trôi, trong bình Quan Âm trừ tai tội, Đề Hồ rưới đầu sạch trần cấu, nhành dương rưới khắp sống cây khô, trong cổ nhuần Cam Lồ, tự tuôn trào thấm. Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát).”
; 曹溪; C: caó xī; J: sōkei; |Dòng suối nằm về phía Đông Nam Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông, trở thành tên gọi của Lục tổ Huệ Năng.
tào khê
Tsao-chi (C), Ts'ao-ch'i (C).
; Tên địa phương. Đạo tràng củc Lục tổ Huệ Năng sáng lập tại địa phương đó, nên xưng Lục Tổ là Tào Khê.
; (曹溪) I. Tào khê Một dòng sông ở Thiều châu (phía đông nam huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông hiện nay), Trung quốc, bắt nguồn từ đỉnh núi Cẩu nhĩ, chảy về phía tây hợp với sông Trăn. Vì chảy qua ngôi mộ của Tào hầu nên cũng gọi là Tào hầu khê. Vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời Lương, ngài Trí dược người Thiên trúc, đến cửa sông Tào, uống nước sông này, biết nơi đây là thắng địa, ngài bèn khuyến khích dân làng xây chùa, lại vì vùng đất này giống như núi Bảo lâm bên nước Thiên trúc nên đặt tên chùa là Bảo lâm. Ngài Trí dược dự đoán rằng 170 năm sau sẽ có một vị nhục thân Bồ tát khai diễn pháp môn ở đây, người đắc đạo rất đông. Đến mùa Xuân năm Nghi phụng thứ 2 (677) đời Đường, sau khi đắc pháp từ tổ Hoằng nhẫn, Lục tổ Tuệ năng đến ngài Ấn tông xin cạo tóc và thụ giới Cụ túc, rồi về chùa Bảo lâm mở mang Phật pháp, người đời gọi là Tào khê pháp môn. II. Tào khê. Chỉ cho Lục tổ Tuệ năng. Ngài Tuệ năng lấy chùa Bảo lâm ở Tào khê làm trung tâm triển khai Phật pháp, người đời Tôn xưng ngài là Tào khê cổ Phật, Tào khê cao tổ.
tào khê bảo lâm truyện
(曹溪寶林傳) Gọi đủ: Đại đường Thiều châu, Song phong sơn Tào khê bảo lâm truyện. Sử truyện, 10 quyển (thiếu các quyển 7, 9, 10), do ngài Trí cự soạn vào khoảng năm 801 đời Đường(cũng có thuyết cho rằng sách này do 2 ngài Huệ cự và Thắng trì biên soạn), được thu vào Tống tạng di trân. Nội dung tác phẩm này thu chép truyền thuyết và nhân duyên phó pháp của các tổ Thiền tông, chủ trương thuyết Thiền tông nhị thập bát tổ. Trong đó: -Quyển 1 thiếu 3 tờ đầu, phần còn lại thu chép 3 phẩm: Phẩm Niết bàn, chương Độ chúng sinh phó pháp; phẩm Kết tập, chương Đệ nhất tổ Đại ca diếp; phẩm Trưng thuật, chương Bà kì đức chính. -Quyển 2 thu chép 7 phẩm: Phẩm Trung lưu tịch diệt, chương Đệ nhị tổ A nan, phẩm Hàng hỏa long, chương Đệ tam tổ Thương hòa tu, phẩm Hóa tam thi, chương Đệ tứ tổ Ưu bà cúc đa, phẩm Tiên thụ hóa, chương Đệ ngũ tổ Đề đa ca, phẩm Trừ xúc khí, chương Đệ lục tổ Di già, phẩm Phạm vương vấn, chương Đệ thất tổ Bà tu mật, phẩm Bạch quang thông quán, chương Đệ bát tổ Phật đà nan đề. -Quyển 3 thu chép 9 phẩm: Phẩm Đệ cửu tổ Phục đà mật đa, phẩm Dự cảm kim địa, chương Đệ thập tổ Hiếp tôn giả, phẩm Sát mã minh, chương Đệ thập nhất tổ Phú na dạ xa, phẩm Hiện nhật luân, chương Đệ thập nhị tổ Mã minh bồ tát, phẩm Tha tâm tri nghi, chương Đệ thập tam tổ Tì la tôn giả, phẩm Biện thiên chiến, chương Đệ thập tứ tổ Long thụ bồ tát... ghi chép truyện kí các Tổ sư. -Quyển 4 thu chép 5 phẩm từ chương Đệ thập bát tổ Già da xá đa đến chương Đệ nhị thập nhị tổ Ma noa la. -Quyển 5 thu chép 8 phẩm Sư tử đệ tử...-Quyển 6 thu chép 4 phẩm: Phẩm Thị hóa dị hương, chương Tamtạng biện tông, phẩmPhần y cảm ứng, chương Đệ thập ngũ tổ Bà xá tư đa, phẩm Biện thụy nhật nguyệt, chương Bà xá tư đa tế trừ kiến nhũ, phẩm Biện độc long địa, chương Đệ nhị thậplục tổ Bất như mật đa. -Quyển 8 thu chép phẩm Bố lục diệp, chương Đạt ma hành giáo du Hán độ, phẩm Đoạn tí cầu pháp, chương Đệ nhị thập cửu tổ Khả đại sư, phẩm Khước qui hóa thị hóa, chương Đệ tam thập tổ Tăng xán đại sư, ghi chép truyện kí từ Tổ Đạt ma đến tổ Tăng xán. Ngoài 23 vị Tổ được ghi chép trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện, sách này ghi thêm ngài Bà tu mật thành 24 Tổ, cuối cùng, ở sau ngài Sư tử tỉ khưu, lại thêm các ngài: Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và Bồ đề đạt ma nữa mà tổng cộng thành 28 vị Tổ. Đây là bộ Sử truyện Thiền tông xưa nhất hiện còn.
tào khê chánh tông nguyên lưu tụng
(曹溪正宗源流頌) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thạch nguyên Cơ vân thuộc tông Lâm tế soạn và ấn hành vào đời Thanh, ngài Hành tố hiệu định. Nội dung ghi chép tỉ mỉ, rõ ràng việc nối pháp truyền thừa, cùng với cơ duyên ngữ yếu và lược truyện của các Thiền sư từ Lục tổ Tuệ năng đến ngài Thạch nguyên Cơ vân.
Tào Khê Chân Giác Quốc sư ngữ lục
曹溪眞覺國師語録; C: caóqī zhēnjué guóshī yŭlù; J: sōkei shinkaku kokushi goroku; k: chogye chin'gak kuksa ŏrok;|Ghi chép những bài thuyết pháp và bài viết ngắn của Huệ Kham (慧諶).
Tào Khê Chân Giác Quốc sư Ngữ lục 曹溪眞覺國師語録
[ja] ソウケイシンカクコクシゴロク Sōkei shinkaku kokushi goroku ||| The Chogye Chin'gak kuksa ŏrok (The Teaching Record of the National Teacher Chin'gak). The records of the sermons and shorter writings by Hyesim 慧諶; HPC 6.1-49. => (j: Sōkei shinkaku kokushi goroku; k: Chogye Chin'gak kuksa ŏrok; e: Teaching Record of the National Teacher Chin'gak) Ghi chép những bài thuyết pháp và bài viết ngắn của Huệ Kham (k: Hyesim 慧諶).
tào khê nhất trích
(曹溪一滴) Tác phẩm, 9 quyển, do ngài Nhất triệt Chu lí biên soạn vào đời Minh, được ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 9 (1636). Đầu quyển 1 có bài tựa của Vô học cư sĩ Đào củng, lời dẫn của Qua doãn lễ, nội dung chia làm 2 hạng mục Thiền tông và Ứng hóa, thu chép các cơ duyên ngữ yếu của hơn 40 vị Thiền sư, Lão túc... Quyển 2 đến quyển 5 là Sơn vân thủy thạch tập do Cổ đình Thiện kiên soạn; Quyển 6 là Trúc thất tập do Đại nguy Tịnh luân soạn; Quyển 7 là Phù sơn pháp cú do Lãng mục Bản trí soạn; Quyển 8 là Cốc hưởng tập do Hưởng cốc Triệt dung soạn; Quyển 9 đề là Vân sơn mộng ngữ trích yếu, nội dung chia làm 4 chương như Nguyên khởi chương, Duy thức chương... cuối quyển có phụ lục bài Kỉ nghiệp do tác giả soạn. Thứ tự nội dung của toàn sách và thứ tự mục lục khác nhau.
Tào Khê tông
曹溪宗; C: caóxī zōng; J: sōkei-shū; k: chogye chong.|Tông phái thiền quan trọng nhất trong Phật giáo Hàn Quốc. Được thành lập vào thời kì Koryŏ, nó đã được qua sự thử thách, dưới sự ảnh hưởng chủ yếu của Tri Nột (k: chinul), để hoà nhập hai dòng thiền (sŏn) và giáo (kyo). Tông nầy đã trải qua nhiều thay đổi theo nhiều thế kỉ, Tào Khê tông vẫn còn lưu truyền ở Hàn Quốc đến ngày nay như là một tông phái nổi bật nhất, với vô số tu viện và trung tâm thiền học sinh động khắp Hàn Quốc.
tào khê tông
(曹溪宗) Thiền tông Hàn quốc do Quốc sư Phổ chiếu Trí nột (1158-1210) người Cao li tập đại thành từ các tông phái trong Cửu sơn thiền môn của Triều tiên, lấy Thiền giáo kiêm tu làm tông phong. Từ khi được thành lập, tông này vốn gọi là Thiền tông, hoặc Thiền tịch tông, đến thời kì giữa triều đại Cao li mới gọi là Tào khê tông. Tên gọi Tào khê tông có xuất xứ từ câu Mượn tên núi, lập Tào khê, bắt đầu hưng khởi hai tông trong tấm bia nói về sự tích truyền nối chùa Tùng quảng ở núi Tào khê tại Toàn la nam đạo thăng bình do Triệu tông trứ soạn vào năm Túc tông thứ 5 (1679) triều Lí, biểu thị sự kế thừa dòng pháp của Lục tổ Tuệ năng, dùng núi Tào khê–trụ xứ của Lục tổ– làm tên tông, cho nên gọi là tông Tào khê. Thiền pháp được truyền vào Triều tiên lần đầu là vào thời đại Tân la, lúc đó là Thiền phái của Tứ tổ Đạo tín. Về sau, chủ yếu là Thiền thuộc hệ thống Nam tông của Lục tổ Tuệ năng. Từ đó dòng Thiền này phát triển thành Cửu sơn thiền môn (9 phái Thiền) là: -Ca trí sơn phái của ngài Đạo nghĩa. -Thực tướng sơn phái của ngài Hồng trắc.-Đồng lí sơn phái của ngài Huệ triết. -Thánh trụ sơn phái của ngài Vô nhiễm. -Sư tử sơn phái của ngài Đạo doãn. -Xà quật sơn phái của ngài Phạm nhật. -Phụng lâm sơn phái của ngài Huyền dục.-Nghĩa dương sơn phái của ngài Trí tân.-Tu di sơn phái của ngài Lợi nghiêm. Lúc đầu không có tông đoàn Thiền tông. Sau khi Vương triều Cao li (918-1329) được thành lập thì Phật giáo Triều tiên bước vào thời kì toàn thịnh. Đến thời Vương tử của vua Văn tông là Quốc sư Đại giác Nghĩa thiên (1055-1101), vì không thích Thiền nên ngài Nghĩa thiên đã sáp nhập Thiền tông vào tông Thiên thai. Bởi thế, chư tăng của Cửu sơn Thiền môn đứng lên chống lại chính sách áp đặt này, đồng thời, ý thức tự giác về tông phái cũng nảy nở và cuối cùng đã đoàn kết Cửu sơn thiền môn thành một tông đoàn, đổi tên gọi là Tào sách đề xướng Đốn ngộ tiệm tu, Thiền giáo nhất trí, đặc biệt hấp thu giáonghĩa Hoa nghiêm, Tịnh độ, có ảnh hưởng rất lớn, được tôn là Tông tổ. Vào thời nhà Lí (1392-1910), Tào khê tông, Thiên thai tông và Tổng nam tông được kết hợp lại và gọi chung là Thiền tông. Năm 1910, sau khi Nhật bản thôn tính Triều tiên, Phật giáo Triều tiên nói chung, Thiền tông nói riêng, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Nhật bản nên lễ nghi, giới luật đều có thay đổi. Năm 1926, nhà cầm quyền thực dân Nhật bản thậm chí đổi cả phép tắc của các Bản sơn, hợp pháp hóa chế độ tăng lữ có vợ con. Năm 1941, Thiền tông dùng chùa Thái cổ làm Tổng bản sơn và lấy lại tên cũ mà gọi là Tào khê tông.
Tào Khê tông 曹溪宗
[ja] ソウケイシュウ Sōkei shū ||| Chogye chong; the Chogye, the most important sect of the Korean Sŏn tradition. Founded during the Koryŏ period, it attempted, under the primary influence of Chinul, to harmonize the Sŏn (meditational) and Kyo (scholarly) approaches. Passing through various changes during subsequent centuries, the Chogye school survives in Korea today as the most prominent school, with numerous active monastic training centers around Korea. => (j: Sōkei shū ; k: Chogye chong). Tông phái thiền quan trọng nhất trong Phật giáo Triều Tiên. Được thành lập vào thời kỳ Koryŏ, nó đã được qua sự thử thách, dưới sự ảnh hưởng chủ yếu của Trí Nột (k: Chinul), để hoà nhập hai dòng thiền (Sŏn) và giáo (Kyo). Tông nầy đã trải qua nhiều thay đổi theo nhiều thế kỷ, Tào Khê tông vẫn còn lưu truyền ở Cao Ly đến ngày nay như là một tông phái nổi bật nhất, với vô số tu viện và trung tâm thiền học sinh động khắp đất nước Cao Ly.
tào khê tự
(曹溪寺) Chùa ở khu Chung lộ, Hán thành, Hàn quốc, là Tổng bản sơn của tông Tào khê trong Phật giáo Đại hàn, được sáng lập vào năm 1395. Vì chùa này ở ngay thủ đô Hán thành, có ưu thế về mặt địa lí; vả lại, tông Tào khê cũng chiếm địa vị quan trọng trong Phật giáo Hàn quốc nên trở thành ngôi chùa nổi tiếng hiện nay. Những hoạt động quan trọng của giới Phật giáo Hàn quốc, các nghi lễ lớn đều được cử hành ở ngôi chùa này.
Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện
(曹溪大師別傳, Sōkeidaishibetsuden): xem Tào Khê Đại Sư Truyện (曹溪大師傳, Sōkeidaishiden) ở trên.
tào khê đại sư biệt truyện
(曹溪大師別傳) Truyện kí, 1 quyển, không rõ soạn giả, ngài Hán hưng Tổ phương (1722-1806) thuộc tông Lâm tế, Nhật bản, hiệu đính, ấn hành năm 1762, được thu vào Vạn tục tạng tập 146. Nội dung bao gồm truyện kí và tông chỉ truyền pháp của Lục tổ Tuệ năng, sắc thư của các Hoàng đế nhà Đường như Cao tông..., người gốc chùa Bảo lâm núi Tào khê, 6 điềm linh dị về Lục tổ... Ngài Tối trừng người Nhật tìm được bản chép tay của sách này vào năm Trinh nguyên 19 (803) đời vua Đức tông và cất giữ ở núi Tỉ duệ, đã một thời gian bị thất lạc, sau lại tìm được và được thừa nhận là quốc bảo của Nhật bản. Trong Đàn kinh khảo chi nhất, ông Hồ thích có nêu ra 8 điểm sai lầm trong bộ truyện này.
Tào Khê Đại Sư Truyện
(曹溪大師傳, Sōkeidaishiden): 1 quyển, còn gọi là Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện (曹溪大師別傳), được san hành vào năm thứ 2 (1752) niên hiệu Bảo Lịch (寳曆). Với trung tâm là truyền ký của Lục Tổ Huệ Năng (慧能), đây là tập thâu lục về nguồn gốc của Bảo Lâm Tự (寳林寺) ở Tào Khê Sơn (曹溪山), những thư sắc phong của lịch đại chư vị đế vương như Cao Tông (高宗), v.v., truyền ký của các đệ tử Huệ Năng như Hành Thao (行滔), Huệ Tượng (惠象), Vi Lợi Kiến (韋利見) và những kiến văn kỳ lạ sau khi Huệ Năng qua đời. Tác phẩm này cũng bao hàm các thuyết khác với Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經) và những truyền thuyết chung về Huệ Năng, là tư liệu hữu ích bổ sung cho thuyết lịch sử Thiền Tông thời kỳ đầu. Không rõ ai là người trước tác, nhưng được xem như thành lập vào khoảng năm thứ 2 (781) niên hiệu Kiến Trung (建中) nhà Đường. Tả bản năm thứ 19 (803) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元) được Tối Trừng (最澄, Saichō) mang về Nhật và truyền thừa trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan); thế nhưng sau đó bản này bị lưu lạc đó đây và được xuất bản vào năm thứ 2 niên hiệu Bảo Lịch, trong đó có thêm lời tựa của Kim Long Đạo Nhân Kính Hùng (金龍道人敬雄) ở Giang Hộ (江戸, Edo) cũng như lời bạt của Thảo Sơn Tổ Phương (草山祖芳). Nguyên bản cuối cùng cũng trở về lại sở hữu của Duệ Sơn và được xem như là quốc bảo. Về tên tác phẩm, trong nguyên bản có ghi là “Đường Thiều Châu Tào Khê Bảo Lâm Sơn Quốc Ninh Tự Lục Tổ Huệ Năng Đại Sư Truyền Pháp Tông Chỉ, Tinh Cao Tông Đại Đế Sắc Thư, Kiêm Tứ Vật Cải Tự Ngạch, Cập Đại Sư Ấn Khả Môn Nhân, Tinh Diệt Độ Thời Lục Chủng Thoại Tướng, Cập Trí Dược Tam Tạng Huyền Ký Đẳng Truyện (唐韶州曹溪寳林山國寧寺六祖惠能大師傳法宗旨、幷高宗大帝勅書、兼賜物改寺額、及大師印可門人、幷滅度時六種瑞相、及智藥三藏懸記等傳)”; bản Truyền Giáo Đại Sư Tương Lai Việt Châu Lục (傳敎大師將來越州錄) ghi là “Tào Khê Đại Sư Truyện (曹溪大師傳)” và bản thư tả của Vô Trước Đạo Trung (無著道忠) hiện đang tàng trữ tại thư viện Trường Đại Học Kyoto thì ghi là “Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện (曹溪大師別傳)”. Tên gọi Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện được dùng kể từ khi bản san hành năm thứ 2 niên hiệu Bảo Lịch ra đời cho đến nay. Trong Đàn Kinh Khảo Chi Nhất (壇經考之一, phần Bạt Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện [跋曹溪大師別傳]), học giả Hồ Thích (胡適) có nêu ra 8 điều sai lầm khi phê phán về tác phẩm này.
Tào Khê 曹溪
[ja] ソウケイ Sōkei ||| A stream southeast of Shao-chou, Kwangtung, which became a name for the Chan Sixth Patriarch Huineng 慧能. => Dòng suối nằm về phía Đông Nam Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông, trở thành danh xưng của Lục tổ Huệ Năng.
tào nguyên đạo sanh thiền sư ngữ lục
(曹源道生禪師語錄) Gọi đủ: Tào nguyên hòa thượng trụ Nhiên châu Diệu quả thiền tự ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Tàonguyên Đạosinhsoạn vào đời Tống, đệ tử nối pháp là Si tuyệt Đạo xung biên chép, được thu vào Vạn tục tạng tập 121. Nội dung thu chép các pháp ngữ thướng đường của Thiền sư Tào nguyên Đạo sinh ở chùa Diệu quả tại Nhiêu châu, pháp ngữ thướng đường ở chùa Qui phong tại Tín châu (phía tây bắc huyện Thượng nhiêu, tỉnh Giang tây, Trung quốc), Tiểu tham và 10 bài Tán tụng.
tào ngụy triều
Ts'ao-Wei dynasty Ngụy triều do Tào Tháo khai sáng.
tào quốc cửu
Ts'ao Kuo-chiu (C), Cao Guojiu (C)Một trong bát tiên.
tào sơn
(曹山) I. Tào Sơn. Núi ở cách huyện Nghi hoàng, tỉnh Giang tây, Trung quốc khoảng 20km về phía bắc, là đạo tràng hoằng dương Thiền pháp của Thiền sư Bản tịch. Núi này vốn có tên là Cát thủy, hoặc gọi là núi Hà ngọc, Mai sơn. Nhưng vào cuối đời Đường, Thiền sư Bản tịch đến đây lập đạo tràng, vì ngưỡng mộ đức của Lục tổ Tuệ năng nên lấy chỗ ở của Lục tổ là Tào khê mà đổi tên núi cũ là Tào sơn. II. Tào Sơn. Tức chỉ Thiền sư Bản tịch vì sư trụ ở Tào sơn nên dùng tên núi làm hiệu. (xt. Bản Tịch).
Tào Sơn Bản Tịch
曹山本寂; C: cáoshān běnjì; J: sōzan honjaku; 840-901;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới và cùng với thầy, Sư thành lập tông Tào Ðộng. Tông Tào Ðộng là một trong hai tông phái Thiền mà ngày nay còn đầy sức sống tại Nhật Bản. Tắc thứ 10 của Vô môn quan có nhắc đến Sư. Ngoài ra sử sách còn lưu truyền các giai thoại của Sư trong Phủ Châu Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư ngữ lục.|Sư họ Huỳnh, ban đầu chuyên học Nho giáo, Năm 19 tuổi, Sư lên núi Linh Thạch xuất gia và thụ giới cụ túc. Sư thường đến Ðộng Sơn nghe Thiền sư Lương Giới giảng pháp. Một ngày kia, trong một cuộc Vấn đáp, Ðộng Sơn nhận ra căn cơ của Sư và nhận làm đệ tử. Sư tham thiền với Ðộng Sơn và ngộ yếu chỉ nơi đây.|Sau đó, Sư từ biệt Ðộng Sơn ra đi. Cảnh Ðức truyền đăng lục thuật lại câu chuyện sau: »Ðộng Sơn hỏi: ›Ngươi đi đến chỗ nào?‹ Sư đáp: ›Ði đến chỗ không biến dị.‹ Ðộng sơn lại hỏi: ›Chỗ không biến dị lại có đến sao?‹ Sư đáp: ›Cái đến cũng chẳng biến dị.‹«|Sau khi rời Ðộng Sơn, Sư vân du hoằng hoá. Cuối cùng Sư được mời về Cát Thuỷ và vì ngưỡng mộ Lục Tổ tại Tào Khê, Sư đổi tên núi là Tào Sơn. Về sau Sư cũng trụ trì tại núi Hà Ngọc, học trò cả hai chỗ rất đông. Tắc thứ 10 trong Vô môn quan nhắc lại pháp thoại của Sư với đệ tử là Thanh Thoát: »Tăng thưa: ›Thanh Thoát nghèo nàn đơn chiếc, xin Sư phụ cứu giúp.‹ Sư gọi: ›Thầy Thoát!‹ Tăng ứng đáp: ›Dạ.‹ Sư đáp: ›Ðã uống ba chén rượu Thanh Nguyên và dám nói môi không hề ướt!‹«|Sư là người được Thiền sư Lương Giới truyền dạy Ðộng sơn ngũ vị và cũng là người khai thác và phát triển công thức này triệt để. Mặc dù môn đệ dưới trướng rất đông và tông phong Ðộng Sơn rất thịnh hành – Sư được xem là Nhị tổ – dòng thiền của Sư tàn lụi chỉ sau vài thế hệ. Tào Ðộng chính mạch sau này được Thiền sư Vân Cư Ðạo Ưng và môn đệ thủ trì.|Ðời Ðường niên hiệu Thiên Phục (901), một đêm mùa hạ, Sư hỏi Tri sự: »Hôm nay là ngày tháng mấy?« Tri sự thưa: »Ngày rằm tháng sáu.« Sư bảo: »Tào Sơn bình sinh hành cước chỉ biết 90 ngày là một hạ, sáng mai giờ thìn ta hành cước.« Hôm sau, đúng giờ thìn, Sư thắp hương ngồi yên viên tịch, thọ 62 tuổi, 37 tuổi hạ. Vua sắc phong là Nguyên Chứng Thiền sư, tháp hiệu Phúc Viên.
tào sơn bản tịch
Sozan Honjaku (J), Caoshan Benji (C), Ts'ao-shan Pen-chi (C), Sozan Honaku (J)(840-901) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Động Sơn Lương GiớiXem Tào Sơn Bổn Tịch.
Tào Sơn Bổn Tịch
(曹山本寂, Sōzan Honjaku, 840-901): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, còn gọi là Đam Chương (耽章), người Huyện Bồ Điền (莆田, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), Tuyền Châu (泉州), họ là Hoàng (黃). Ban đầu ông theo học về Nho học, đến năm 19 tuổi xuất gia, rồi vào tu trong Linh Thạch Sơn (靈石山) thuộc Huyện Phước Đường (福唐縣), Phúc Châu (福州), và năm 25 tuổi thọ Cụ Túc giới. Khoảng đầu niên hiệu Hàm Thông (咸通, 860-873) nhà Đường, ông đến tham bái Động Sơn Lương Giới (洞山良价), đắc được tông chỉ của vị này, rồi giã từ thầy đi ngao du đây đó theo sở thích của mình. Sau thể theo lời thỉnh cầu, ông đến trú tại Tào Sơn, Phủ Châu (撫州, thuộc Huyện Lâm Xuyên, Tỉnh Giang Tây) và bắt đầu cử xướng tông phong của mình. Tên gọi ngày xưa của ông là Hà Ngọc Sơn (荷玉山), nhưng sau đổi thành Tào Sơn vì để tưởng nhớ đến Lục Tổ Huệ Năng (慧能) của Tào Khê (曹溪). Tương truyền rằng sau này cái tên gọi Tào Động Tông (曹洞宗) cũng vốn lấy từ hai chữ "Động" (洞) của Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và chữ "Tào" (曹) của Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂) ghép lại mà thành. Bổn Tịch truyền thừa tông chỉ Ngũ Vị Hiển Quyết (五位顯訣) của Động Sơn, và hình thành nên một hệ thống rõ ràng về tông chỉ này. Ông thị tịch vào ngày 16 tháng 6 năm đầu nhuận niên hiệu Thiên Phục (天復), hưởng thọ 62 tuổi đời và 37 hạ lạp. Ông được ban cho thụy là Nguyên Chứng Đại Sư (元証大師). Môn đệ của ông có một số nhân vật nổi tiếng như Trung Tào Sơn Huệ Hà (中曹山慧霞), Kim Phong Tùng Chí (金峰從志), Lộc Môn Xử Chơn (鹿門處眞), Hà Ngọc Quang Tuệ (荷玉光慧), Dục Vương Hoằng Thông (育王弘通), v.v. Pháp hệ của ông kéo dài được mấy đời thì bị dứt tuyệt. Ông có lưu lại bản Phủ Châu Tào Sơn Bổn Tịch Thiền Sư Ngữ Lục (撫州曹山本寂禪師語錄) 2 quyển.
tào sơn bổn tịch
Tsao shan Pen Chi (C), Sozan Honjaku (J), Sozan Honaku (J)Tên một vị sư.
tào sơn hiếu mãn
(曹山孝滿) Tên công án trong Thiền tông. Tào sơn mãn tang. Tức Thiền sư Tào sơn Bản tịch dùng sự mãn tang để ví dụ cảnh giới tự tại khi đã ngộ đạo, để trả lời câu hỏi của một vị tăng. Thung dung lục tắc 73 (Đại 48, 273 thượng) ghi: Vị tăng hỏi ngài Tào sơn: -Lúc không mặc linh y thì như thế nào?Tào sơn trả lời: -Hôm nay Tào sơn hiếu mãn (mãn tang). Vị tăng hỏi: -Sau khi hiếu mãn thì như thế nào? Tào sơn đáp: -Tào sơn thích say rượu. Linh y nói ở đây tức chỉ cho tang phục.
Tào Sơn Huệ Hà
(曹山慧霞, Sōzan Eka, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, vị tăng thuộc Tào Động Tông Trung Quốc, người Huyện Phủ Điền (莆田縣), Tuyền Châu (泉州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Hoàng (黃), pháp từ của Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂) ở Phủ Châu (撫州, thuộc Tỉnh Giang Tây). Ông đã từng sống ở Tào Sơn (曹山), và được gọi là Trung Tào Sơn (中曹山). Chính ông đã biên tập cuốn Ngũ Vị Hiển Quyết (五位顯訣) của Động Sơn và Tào Sơn. Ông được ban cho thụy là Liễu Ngộ Đại Sư (了悟大師).
tào sơn lục
(曹山錄) I. Tào Sơn Lục. Cũng gọi Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục.Gọi đủ: Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do Thiền sư Tào sơn Bản tịch soạn vào đời Đường, các ngài Quách ngưng chi và Tuyết kiệu Viên tín biên tập vào đời Minh, nội dung thu chép lược truyện, thị chúng, vấn đáp... Cuối đời Minh được biên tập lại thành một bộ phận của Ngũ gia ngữ lục. II. Tào Sơn Lục. Ngữ lục, 2 quyển, do Thiền sư Tào sơn Bản tịch soạn, ngài Nghi mặc Huyền khế người Nhật bản hiệu đính, biên tập lại, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung quyển thượng là bộ phận được thu chép trong Ngũ gia ngữ lục; quyển hạ là những di lục của Thiền sư Tào sơn do ngài Nghi mặc sưu tập từ các sách.III. Tào Sơn Lục. Ngữ lục, 1 quyển, do Thiền sư Tào sơn Bản tịch soạn, ngài Chỉ nguyệt Tuệ ấn người Nhật bản hiệu đính, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Sách này là ngài Chỉ nguyệt tham chiếu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục do ngài Nghi mặc Huyền khế biên tập, lược bớt đi mà thành. Bên ngoài đề là Tào sơn Đại sư ngữ lục; còn bên trong thì đề là Phủ châu Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục. (xt. Phủ Châu Tào Sơn Nguyên Chứng Thiền Sư Ngữ lục). IV. Tào Sơn Lục. Gọi đủ: Phủ châu Tào sơn Nguyên chứng đại sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do Thiền sư Tào sơn Bản tịch soạn, ngài Kim phong Tòng chí người Nhật bản biên tập. Nội dung gồm 59 thiên: Thướng đường, Thị chúng, Vấn đáp...
tào sơn mi mục bất thức
(曹山眉目不識) Tên công án trong Thiền tông. Tào sơn mi và mắt không biết nhau. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Tào sơn Bản tịch với một vị tăng. Tào sơn Nguyên chứng Thiền sư ngữ lục (Đại 47, 528 thượng) ghi: Có vị tăng hỏi: Lông mi và mắt có biết nhau không? Sư đáp: Không biết nhau. Vị tăng hỏi: Tại sao không biết nhau? Sư trả lời: Vì ở cùng một chỗ. Vị tăng nói: Như vậy là không phân biệt.Sư nói: Lông mi không phải là mắt, mắt chẳng phải là lông mi. Vị tăng hỏi: Thế nào là mắt. Sư nói: Đích thực rõ ràng rồi. Vị tăng lại hỏi: Thế nào là lông mi? Sư trả lời: Tào sơn còn nghi. Vịtăng hỏi: Tại sao Hòa thượng lại nghi? Sư nói: Nếu không nghi thì tức là đích thực rồi.
tào sơn ngũ vị quân thần đồ tụng tinh tự
(曹山五位君臣圖頌幷序) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tào sơn Bản tịch soạn vào đời Đường. Quân thần ngũ vị là ngài Tào sơn căn cứ vào Chính thiên ngũ vị tụng của thầy mình là Thiền sư Động sơn Lương giới, đem phối hợp với quân thần(vua, tôi) mà thành. Tức là 5 vị: Quân, thần, thần hướng quân, quân hướng thần và quân thần hợp đạo. Đồng thời, dùng hình vẽ và kệ tụng để hiển bày tông thú của mỗi vị. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.3; Ngũ đăng hội nguyên Q.13].
tào sơn pháp thân
(曹山法身) Cũng gọi Tào sơn như tỉnh thứ lư. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cụôc vấn đáp giữa Thiền sư Tào sơn Bản tịch và Thượng tọa Đức về sự diệu dụng của pháp thân.Thung dung lục tắc 52 (Đại 48, 259 hạ) ghi:Ngài Tào sơn hỏi Thượng tọa Đức: Chân pháp thân của Phật giống như hư không, ứng vật hiện hình, như trăng trong nước. Vậy phải nói cái đạo lí ứng hiện ấy như thế nào? Thượng tọa Đức đáp: Như con lừa nhòm xuống giếng(như lư thứ tỉnh). Ngài Tào sơn nói: Thượng tọa nói thế mới chỉ được 8 phần thôi! Thượng tọa Đức hỏi: Còn Hòa thượng thì thế nào? Ngài Tào sơn đáp: Như giếng nhòm lừa(như tỉnh thứ lư)! [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Thiền tông chính mạch Q.13].
tào sơn tam chủng đoạ
(曹山三種墮) Chỉ cho 3 phương pháp của Thiền sư Tào sơn Bản tịch đời Đường dùng để khai thị người học. Đọa nghĩa là tự do vô ngại. Ba phương pháp ấy như sau: 1. Sa môn đọa(cũng gọi Loại đọa): Dù có mang thân súc vật cũng dấn thân vào cõi mê để cứu độ chúng sinh, không nề địa vị Thánh giáo, cũng không để bị hình thức sa môn ràng buộc, vượt lên tất cả, tùy thuộc cảnh ngộ. 2. Tùy loại đọa(gọi tắt: Tùy đọa): Chẳng đoạn thanh sắc, tức không cố chấp 6 trần, không tìm cầu, không xa lánh bất cứ sự vật có tính cách tuyệt đối nào ngoài sinh hoạt tri giác, thấu suốt tính tuyệt đối của tri giác, đồng thời, siêu việt tri giác để đạt đến cảnh giới tự do vô ngại. 3. Tôn quí đọa: Không nhận thức ăn. Ăn là việc phần gốc; phần gốc là mặt mũi thật xưa nay, là cái đương thể thành Phật; biết có việc phần gốc này nên không lấy không cầu, quên đi việc tôn quí, việc phần gốc ấy để đạt được cảnh giới tự do vô ngại. [X. Tào sơn lục Q.thượng].
tào sơn tam nhiên đăng
(曹山三然燈) Cũng gọi Tam nhiên đăng. Ba cảnh giới tu hành mà Thiền sư Tào sơn Bản tịch thuộc tông Tào động cuối đời Đường nêu ra. Nhiên đăng là chỉ cho đức Phật Nhiên đăng thời quá khứ. Khi còn là Bồ tát ở Nhân vị(địa vị tu nhân), đức Thích tôn đã được Phật Nhiên đăng thụ kí cho thành Phật, bởi vậy, từ ngữ Nhiên đăng Phật cũng thường bao hàm ý nghĩa thụ kí thành Phật, hoặc chỉ cho Phật tính sẵn có của mỗi người. Ba cảnh giới là: 1. Khi chưa thấy Phật Nhiên đăng: Có 2 trường hợp: a. Đối với Phật tính vốn có của mình vẫn chưa có tác dụng xoay ánh sáng vào trong, cho nên không biết có việc phần gốc (tức bản lai diện mục–Phật tính). b. Tuy đã xoay ánh sáng chiếu vào trong, biết rõ việc phần gốc của mình, nhưng vẫn chưa tiến bước tu hành. 2. Khi đã thấy Phật Nhiên đăng: Tuy đã biết Phật tính sẵn có của mình, nhưng lại bị sa vào vòng trói buộc của 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và các kiến giải phân biệt đúng, sai, có, không..., như vậy cũng không được thụ kí. 3. Chính Nhiên đăng: Tức chính lúc thể ngộ được Phật tính vốn có thì ắt quên đi tác dụng của vọng niệm về thân, tâm, thức, tình... và trong tất cả thời quá khứ, hiện tại, vị lai, đều không có gián đoạn, có như thế mới được thụ kí mà an trụ trong cảnh giới bản lai diện mục. [X. Phủ châu Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục; Nhân thiên nhãn mục Q.4].
tào sơn tứ cấm
(曹山四禁) Bài kệ tụng Tứ cấm do Thiền sư Tào sơn Bản tịch đời Đường sáng tác để khai thị người học. Theo Ngũ đăng hội nguyên quyển 13 (Vạn tục 138, 237 hạ), Tứ cấm kệ là: Mạc hành tâm xứ lộ, Bất quải bản lai y; Hà tu chính nhẫm mạ, Thiết kị vị sinh thời (Chớ đi đường tâm xứ, Đừng khoác áo bản lai; Sao cần phải như thế, Rất kị lúc chưa sinh). 1. Chớ đi đường tâm xứ: Đường tâm xứ là ý thức; truy cầu ý thức là thường tình, nhưng buông bỏ ý thức chính là chỗ tu đạo của người tu. 2. Đừng khoác áo bản lai: Áo xưa nay vốn có không cần phải đặc biệt thu giữ, ví dụ người tuđạo đừng truy tìm bản lai diện mục, vì bản lai diện mục ở ngay đó rồi, không cần tìm kiếm. 3. Sao cần phải như thế: Vật đặc thù hoàn toàn chẳng phải chân thực. 4. Rất kị lúc chưa sinh: Nếu có chưa sinh thì ắt có hiện sinh và đã sinh; nếu chỉ có hiện tại mới là tuyệt đối thì không cần phân biệt nữa, nên nói là rất kị. [X. Động thượng cổ triệt Q.thượng].
tào thực
(曹植) Văn nhân Trung quốc, người nước Ngụy thời Tam quốc, con thứ 3 của Ngụyvũ đế, em của Văn đế, tự là Tử kiến, thụy hiệu là Tư, vì thế gọi là Trần tư vương. Năm lên 10 tuổi ông đã làm văn, nhờ văn tài trác tuyệt nên ông rất được Vũ đế yêu quí. Nhưng khi Văn đế lên ngôi thì vì ghen tài nên định hại ông, từng ra lệnh cho ông đi 7 bước phải làm được bài thơ. Mới đầu, ông được vua phong làm Đông a vương, sau đổi lại là Trần vương. Có lần ông du ngoạn Ngư sơn, nghe tiếng Phạm thiên trong hư không, bèn phối hợp với các Hán khúc mà chế thành Phạm bái; ông còn sửa bớt bản Hán dịch kinh Thái tử thụy ứng bản khởi, soạn Thanh minh gồm 42 khế(tứcmôn học về phúng tụng, ngâm vịnh, các kệ tụng), được lưu truyền ở các đời Lưu Tống, Nam Tề, do đó, ông được tôn làm Tổ của môn Thanh minh Phật giáo Trung quốc. Về sau, vì bất hòa với vua Minh đế(tức cháu gọi ông bằng chú ruột)nên ông phẩn uất mà chết. Ông để lại các tác phẩm: Thanh minh, Biện đạo luận. (xt. Phạm Bái).
tào tư văn
(曹思文) Học giả Trung quốc, người Đông cung xá đời Lương thuộc Nam triều. Nhân việc Phạm chẩn soạn Thần diệt luận chủ trương hình thể và tinh thần là một, khi hình thể hoại diệt thì tinh thần cũng diệt theo, ông bèn soạn Nạn Phạm trung thư thần diệt luận và Trùng nạn Phạm trung thư thần diệt luận, chủ trương hình thể và tinh thần đều lập và có chia có hợp; hợp nhau thì cùng là một thể, khi chia nhau thì hình thể tiêu mất, tinh thần tách lìa hình thể mà tồn tại độc lập.[X. Hoằng minh tập Q.9, 10; Quảng hoằng minh tập Q.18].
Tào Ðộng tông
曹洞宗; C: cáo-dòng-zōng; J: sōtō-shū;|Tông phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc được hai vị Thiền sư sáng lập là Ðộng Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch. Người ta ghép hai chữ đầu của tên hai vị này và gọi là Tào Ðộng. |Mặc dù mục đích tu tập trong hai trường phái Lâm Tế và Tào Ðộng như nhau nhưng phương pháp tu tập cụ thể thì có khác biệt. Tào Ðộng tông chú trọng đến phương pháp Mặc chiếu thiền (j: mokushō-zen), tức là Chỉ quản đả toạ (j: shikan-taza), Lâm Tế tông chủ trương phương pháp Khán thoại thiền (kanna-zen), là quán Công án.|Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) đưa tông này qua Nhật và Tào Ðộng trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Trong tông Tào Ðộng tại Nhật, phương pháp Ðộc tham (dokusan) – một trong những thành phần tối trọng của Thiền tông – đã thất truyền từ thời Minh Trị (meiji).|Thiền Tào Ðộng được Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (1636-1704) truyền sang Việt Nam giữa thế kỉ thứ 17. Sư rời Ðại Việt năm 1664, cùng với hai đệ tử sang Trung Quốc, đến Hồ Châu học đạo với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và ở đó ba năm sau mới về. Thông Giác truyền giáo cho Chân Dung Tông Diễn và phái này hoạt động ở Ðàng ngoài (miền Bắc), rất thịnh hành cuối thế kỉ 17 và đầu 18. Ðàng trong (miền Trung), thiền Tào Ðộng do một Thiền sư Trung Quốc là Thạch Liêm (1633-1704), hiệu Ðại Sán Hán Ông truyền dạy. Năm 1695, theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu, Sư đến Thuận Hoá. Sư là người tổ chức giới đàn Thiền Lâm với hàng ngàn người tham dự.
tào động
Ts'ao Tung (C), Soto (J)Trưo-òng phái này lđặt tên theo tên của người khai sáng: ngài Động Sơn Lương Giới và truyền nhân của ngài là Tào Sơn Bãn Tịch. Tào Động và Lâm Tế là hai dòng thiền hiện còn hoạt động ở Nhật.
Tào Động Tông
(曹洞宗, Sōtō-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc, một trong ba tông phái lớn của Thiền Tông Nhật Bản. Về nguồn gốc của tên gọi tông phái có hai thuyết. Thuyết thứ nhất là lấy chữ Động (洞) của Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và chữ Tào (曹) của Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂), rồi đảo ngược vị trí để gọi là Tào Động Tông (曹洞宗). Thuyết thứ hai là kết hợp chữ Tào (曹) của Tào Khê Huệ Năng (曹溪慧能) với chữ Động (洞) của Động Sơn Lương Giới (洞山良价) để hình thành nên tên gọi như vậy. Thuyết đầu phát xuất từ Trung Quốc và thuyết sau được hình thành ở Nhật Bản. Tào Động Tông Trung Quốc kế thừa Nam Tông Thiền của Lục Tổ Huệ Năng (六祖慧能), từ thời vị này trở đi có xuất hiện Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷), Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼), Vân Nham Đàm Thịnh (雲巖曇晟), lấy Động Sơn Lương Giới (洞山良价)—đệ tử của Vân Nham—và Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂)—đệ tử của Động Sơn—làm vị tổ của tông phái. Như được đánh giá là “Tào Động tế mật (曹洞細密)”, tông phong của họ có đặc sắc là tông phong chặt chẽ, lấy tư tưởng Ngũ Vị (五位) do Động Sơn và Tào Sơn đề xướng làm trung tâm để triển khai. Tuy nhiên, pháp hệ của Tào Sơn không được lưu truyền lâu dài; sau đó hệ thống của Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺)—pháp từ của Động Sơn—trở thành đại biểu cho Tào Động Tông. Đến thời nhà Tống, môn hạ thuộc dòng phái của Vân Cư xuất hiện Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳); kế đến pháp từ của ông có Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了) và Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺), từ đó Tào Động Tông phân chia thành Phái Chơn Hiết (眞歇派) và Phái Hoằng Trí (宏智派). Đối lập với Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) của Lâm Tế Tông (臨濟宗) vốn cổ xúy Khán Thoại Thiền (看話禪), Chơn Hiết cũng như Hoằng Trí rất nổi tiếng là những người tuyên xướng Thiền phong của Mặc Chiếu Thiền (默照禪). Cả hai Phái Chơn Hiết và Phái Hoằng Trí này đều được truyền vào Nhật Bản. Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨) là pháp tôn đời thứ 4 của Chơn Hiết. Chính Đạo Nguyên (道元) là người kế thừa dòng pháp của vị này. Nhờ Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日) sang Nhật vào năm thứ 2 (1309) niên hiệu Diên Khánh (延慶) và Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵) đến Nhật vào năm thứ 2 (1351) niên hiệu Quán Ứng (觀應), Tào Động Tông thuộc Phái Hoằng Trí được truyền vào nước này. Sau khi sang Nhật, Đông Minh đến trú tại Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở Liêm Thương (鎌倉, Kamakura); Đông Lăng thì trú một số chùa tại Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji), Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji), v.v. Cả hai đều nương gá vào các tự viện của Lâm Tế Tông để cử xướng Thiền phong Phái Hoằng Trí thuộc Tào Động Tông; thế nhưng pháp hệ của họ không được truyền thừa lâu dài. Tuy nhiên, khi thời đại thay đổi, là một dòng phái của Tào Động Tông, Phái Thọ Xương (壽昌派) vốn tôn thờ Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) nhà Minh làm vị khai tổ được Tâm Việt Hưng Trù (心越興儔) đời thứ 5 truyền vào Nhật Bản vào năm thứ 5 (1677) niên hiệu Diên Bảo (延寶); song không bao lâu sau phái này cũng tuyệt dứt. Chính vì lẽ đó, Phái Đạo Nguyên trở thành đại biểu cho Tào Động Tông Nhật Bản. Tại Trung Quốc, pháp hệ của Như Tịnh về sau cũng lụi tàn, đến thời nhà Minh và Nguyên thì Tào Động Tông của phái Phù Dung Đạo Giai (芙蓉道楷) cố gắng phô trương tàn lực cuối cùng, cho đến khi Lâm Tế Tông hưng thịnh thì tông phái này không còn nữa. Đạo Nguyên kế thừa dòng pháp của Thiên Đồng Như Tịnh, sau khi trở về nước ông tạm thời lưu trú tại Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), đến năm đầu (1233) niên hiệu Thiên Phước (天福) thì khai sáng Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji) ở vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), có sự tham gia của một số người xuất thân Đạt Ma Tông như Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷奘) và hình thành nên giáo đoàn Hưng Thánh Tự. Tuy nhiên, 10 năm sau, vào tháng 7 năm đầu (1243) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), Đạo Nguyên chuyển lên sống ở địa phương Việt Tiền (越前, Echizen), sáng lập Đại Phật Tự (大佛寺, Daibutsu-ji), sau đổi tên thành Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) và hình thành giáo đoàn Vĩnh Bình Tự. Song vì Đạo Nguyên rất kiêng kỵ trong việc gọi tông chỉ của mình là Tào Động Tông hay Thiền Tông; cho nên giáo đoàn này được gọi là Chánh Pháp Tông (正法宗) hay Đạo Nguyên Tông (道元宗). Trải qua vị tổ đời thứ 2 của Vĩnh Bình Tự là Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷奘), thứ 3 Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介), cho đến pháp từ của Nghĩa Giới là Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾), để tiếp nối mạng mạch của Tào Động Tông Trung Quốc, Đạo Nguyên đã được tôn xưng với vị trí là tổ khai sáng Tào Động Tông Nhật Bản. Cùng lúc đó, chủ nghĩa xuất gia của Đạo Nguyên được Oánh Sơn đề cao với kỳ vọng đưa vào cuộc đời. Lúc còn trẻ, Oánh Sơn đã theo xuất gia với Nghĩa Giới (義介) trên Vĩnh Bình Tự, rồi kế thừa trú trì Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga), tiếp theo ông khai sáng Vĩnh Quang Tự (永光寺, Eikō-ji), Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), v.v., ở Năng Đăng (能登, Noto) và nỗ lực cử xướng tông phong của mình. Dưới trướng của Oánh Sơn xuất hiện hai nhân vật xuất chúng là Minh Phong Tố Triết (明峯素哲) và Nga Sơn Thiều Thạc (峨山韶碩). Minh Phong thì kế thừa Vĩnh Quang Tự, còn Nga Sơn thì kế thế Tổng Trì Tự. Bên cạnh đó, môn hạ của Nga Sơn còn có 25 nhân vật tuấn tú, làm cho uy thế của Tào Động Tông được lan rộng khắp toàn quốc. Mặt khác, sau vị tổ đời thứ 3 là Nghĩa Giới, Vĩnh Bình Tự có Nghĩa Diễn (義演)—đệ tử của Hoài Trang lên kế thừa và sau đó thì bị hoang phế; nhưng nhờ có Nghĩa Vân (義雲)—vị tăng nhà Tống sang Nhật vì mến mộ đạo phong của Đạo Nguyên và là đệ tử của Tịch Viên (寂圓), tổ khai sơn Bảo Khánh Tự (寶慶寺, Hōkei-ji)—xuất hiện, tiến hành phục hưng ngôi già lam và làm cho tông phong thịnh vượng. Vì thế, Nghĩa Vân được gọi là vị tổ trung hưng của Vĩnh Bình Tự. Từ đó về sau, ngôi tổ đình này được hộ trì bởi Phái Tịch Viên (寂圓派) cho đến vị tổ đời thứ 37 là Thạch Ngưu Thiên Lương (石牛天梁). Tào Động Tông thời Trung Đại phát triển với trung tâm của giáo đoàn Tổng Trì Tự. Ngoài ra, Vĩnh Bình Tự, Đại Từ Tự (大慈寺, Daiji-ji) ở vùng Phì Hậu (肥後, Higo) do Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) khai sơn, Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga) do Nghĩa Giới (義介) khai sáng, Vĩnh Quang Tự (永光寺, Eikō-ji) ở Năng Đăng (能登, Noto) do Oánh Sơn sáng lập, Chánh Pháp Tự (正法寺, Shōbō-ji) ở Lục Áo (陸奥, Mutsu) do Vô Để Lương Thiều (無底良韶)—đệ tử của Nga Sơn—khai sơn, v.v., đã trở thành những ngôi chùa Bản Sơn (chùa tổ) của mỗi dòng phái, mở rộng giáo tuyến của họ khắp toàn quốc. Theo điều tra trong khoảng niên hiệu Diên Hưởng (延享, 1744-1748), cho biết rằng tổng số tự viện Tào Động Tông trên toàn quốc là 17.549 ngôi. Tào Động Tông thời Cận Đại phối hợp các tự viện trên toàn quốc trực thuộc vào Vĩnh Bình Tự và Tổng Trì Tự dưới chế độ quản lý tự viện của chính quyền Mạc Phủ để xác lập mối quan hệ chùa tổ chùa con mang tính phục tùng. Các tự viện của Tào Động Tông trên toàn quốc được chia đều theo từng tiểu quốc, mỗi nơi đều có cơ sở quản lý chung như ba ngôi danh sát Tổng Ninh Tự (總寧寺, Sōnei-ji) ở vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa), Long Ổn Tự (龍穩寺, Ryūon-ji) ở Võ Tàng (武藏, Musashi), Đại Trung Tự (大中寺, Daichū-ji) ở Hạ Dã (下野, Shimotsuke). Tào Động Tông đã trải qua một lịch sử đấu tranh cam go làm thế nào để thoát xác khỏi thể chế phong kiến dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo) và làm sao để đưa ra một thể chế giáo cho phù hợp với thời đại mới. Việc biên soạn bộ Tu Chứng Nghĩa (修証義) được công bố vào năm thứ 23 (1890) niên hiệu Minh Trị (明治, Meiji) như là tiêu chuẩn để làm an tâm cho tăng lẫn tục, đã nói lên cuộc tranh đấu này. Tào Động Tông ngày nay kính ngưỡng hai vị tổ: Đạo Nguyên là Cao Tổ và Oánh Sơn là Thái Tổ, tôn sùng cả Vĩnh Bình Tự lẫn Tổng Trì Tự như là hai ngôi Đại Bản Sơn (大本山, Daihonzan, ngôi chùa tổ lớn) và hình thành nên tông phái lớn nhất của Phật Giáo Nhật Bản với số lượng tự viện trên 14.000 ngôi. Theo thống kê của Bộ Văn Hóa (1998), hiện tại Tào Động Tông có 14.699 ngôi chùa và 1.579.301 tín đồ. Một số dòng phái khác (theo thứ tự tên dòng phái, ngôi chùa trung tâm) của Tông này là: (1) Phái Oánh Sơn (瑩山派, Keizan-ha), Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji) và Vĩnh Quang Tự (永光寺, Yōkō-ji); (2) Phái Minh Phong (明峯派, Meihō-ha), Vĩnh Quang Tự (永光寺, Yōkō-ji); (3) Phái Nga Sơn (峨山派, Gasan-ha), Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji); (4) Phái Thái Nguyên (太源派, Taigen-ha), Phật Đà Tự (佛陀寺, Budda-ji); (5) Phái Thông Huyễn (通幻派, Tsūgen-ha), Vĩnh Trạch Tự (永澤寺, Yōtaku-ji); (6) Phái Hàn Nham (寒巖派, Kangan-ha), Đại Từ Tự (大慈寺, Daiji-ji); và (7) Phái Tâm Việt (心越派, Shinetsu-ha), Kỳ Viên Tự (祇園寺, Gion-ji). Ngoài Vĩnh Bình Tự và Tổng Trì Tự là hai ngôi chùa bản sơn trung tâm của tông phái cũng như các ngôi chùa đã nêu trên, còn có nhiều ngôi tự viện nổi tiếng khác được xem như Chuyên Môn Tăng Đường như: Chánh Pháp Tự (正法寺, Shōhō-ji, Iwate-ken [岩手縣]); Trường Cốc Tự (長谷寺, Chōkoku-ji, Tōkyō-to [東京都]); Tối Thừa Tự (最乘寺, Saijō-ji, Kanagawa-ken [神奈川縣]), Trường Quốc Tự (長國寺, Chōkoku-ji, Nagano-ken [長野縣]), Diệu Nham Tự (妙巖寺, Myōgon-ji, Aichi-ken [愛知縣]), Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji, Ishikawa-ken [石川縣]), Ngự Đản Sanh Tự (御誕生寺, Gotanjō-ji, Fukui-ken [福井縣]), Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji, Kyōto-fu [京都府]), Động Tùng Tự (洞松寺, Tōshō-ji, Okayama-ken [岡山縣]), Tuyền Nhạc Tự (泉岳寺, Sengaku-ji, Tōkyō-to), Cao Nham Tự (高岩寺, Kōgan-ji, Tōkyō-to), Thanh Tùng Tự (青松寺, Seishō-ji, Tōkyō-to), Tu Thiền Tự (修禪寺, Shuzen-ji, [靜岡縣]), Đại Thuyền Quán Âm Tự (大船觀音寺, Ōfunakannon-ji, Kanagawa-ken), v.v.
tào động tông
Soto shŪ (J), Ts'ao-tung tsung (C), Caodongzong (C).
; Soto school.
; (曹洞宗) Gọi tắt: Động gia. Phái Thiền lớn của Thiền tông Trung quốc, do ngài Lương giới ở Động sơn khai sáng và đệ tử nối pháp là ngài Bản tịch ở Tào sơn tiếp nối hoàn thành, 1 trong Ngũ gia thất tông ở Trung quốc, 1 trong 13 tông ở Nhật bản. Về tên gọi của tông này có 2 thuyết: 1. Thuyết thứ nhất cho rằng Động chỉ cho núi Động, trụ xứ của ngàiLương giới; Tào chỉ cho núi Tào, nơi ở của ngài Bản tịch, hợp tên 2 trụ xứ của thầy và trò mà thành là Tào động. Đáng lẽraphải gọi là Động tào tông, nhưng vì thói quen nên gọi là Tào động. 2. Thuyết thứ hai cho rằng Tào là từ Tào khê, trụ xứ của đức Lục tổ Tuệ năng, hợp chung với Động là Động sơn, nơi ở của Thiền sư Lương giới–pháp tôn của Lục tổ– mà gọi là Tào động tông, để minh định rằng tông này thuộc dòng phái chính thống của Tào khê. Thiền sư Lương giới ban đầu lễ ngài Linh mặc ở núi Ngũ duệ xuất gia, không bao lâu lên Tung sơn thụ giới Cụ túc, về sau, được ngài Vân nham Đàm thạnh truyền tâm ấn. Khoảng năm Đại trung (847- 859) đời vua Tuyên đông nhà Đường, sư tiếp hóa người học ở núi Tân phong, sau đến Động sơn tại Quân châu để mở rộng sự giáo hóa. Sư soạn Bảo kính tam muội ca, đề xướng gia phong kín nhiệm của tông mình, lập nên Ngũ vị cương bách, nêu rõ sự sâu thẳm của Thiên chính hồi hỗ, chỉ ra rằng công phu tu hành chính là sự diệu dụng của bản lai diện mục. Đệ tử của sư có các vị Vân cư Đạo ưng, Tào sơn Bản tịch. Trong đó, ngài Tào sơn được truyền pháp, có năng lực hơn người, thấu suốt được ý chỉ sâu xa của Ngũ vị, mở mang tông phong ở viện Sùngthọ núi Tào sơn và núi Hà ngọc tại Phủ châu. Về sau, pháp hệ Tào sơn bị dứt hẳn, tông Tào động chỉ còn nương nhờ dòng Vân cư Đạo ưng mà được tiếp nối. Dòng Đạo ưng truyền được 6 đời đến ngài Phù dung Đạo khải, ngài Phù dungkết am tiếp hóa người học bên bờ hồ Phù dung, đệ tử có ngài Đơn hà Tử thuần, học trò ngài Tử thuần có các vị Chân yết Thanh liễu và Thiên đồng Chính giác. Ngài Thanh liễu soạn Tịnh độ thuyết để khuyến tiến người tu Tịnh độ; ngài Chính giác ở núi Thiên đồng tiếp hóa người học hơn 30 năm, đề xướng thiền Mặc chiếu để đối lại với thiền Khán thoại đầu của ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc tông Lâm tế. Ngài còn soạn 100 tắc tụng cổ mà người đời gọi là Hoằng trí tụng cổ; Thiền sư Vạn tùng Hành tú bình xướng 100 tắc tụng cổ này lưu truyền ở đời, đó chính là bộ Thung dung lục rất được tông Tào động quí trọng. Dưới ngài Thanh liễu, có các vị Thiên đồng Tông giác, Tuyết đậu Trí giám; ngài Trí giám lại truyền cho ngài Thiên đồng Như tịnh, mở rộng tông phong Tào động. Nói về suy thì tông này không đến nỗi như các tông Qui ngưỡng, Pháp nhãn, còn thịnh thì cũng không bằng được các tông Vân môn, Lâm tế. Từ đời Tống về sau, tông này chiathành3 phái hoằng truyền ở phương bắc: Phái ngài Phúc dụ ở Thiếu thất Tuyết đình, ngài Viên trừng ở Vân môn và ngàiTuệ kinh ở Thọ xương. Còn ngài Phù dung Đạo khải thì truyền được 19 đời đến ngài Vô minh Tuệ kinh, khoảng năm Vạn lịch đời Minh, ngài Tuệ kinh trùng hưng pháp tịch, học trò có các vị: Bác sơn Nguyên lai, Giác lãng Đạo thành, Cổ sơn Nguyên hiền... Ngài Nguyên hiền truyền cho đệ tử Vi lâm Đạo bái; còn ngài Đạo thành thì truyền cho đệ tử Khoát đường Đại văn, ngài Đại văn truyền cho học trò là Hưng trù Tâm việt, ngài Tâm việt, vào năm Khang hi 16 (1677) từng du hóa Nhật bản.Ngài Hihuyền Đạo nguyên người Nhật bản đến núi Thiên đồng ở Trung quốc thụ pháp nơi ngài Như tịnh, rồi truyền tông Tào động về Nhật bản, lấy chùa Vĩnh bình làm bản sơn của tông này, người theo học thường tới hơn 1000 vị, nổi tiếng nhất có các vị: Cô vân Hoài trang, Vĩnh hưng Thuyên tuệ, Liễu nhiên Pháp minh... Ngài Nghĩa doãn của tông này từng được Thiên hoàng Qui sơn (1259-1274) ban cho áo đỏ. Pháp hệ của ngài Nghĩa doãn hưng thịnh, người đời gọi là Hàn nghiêm phái. Ngoài ra còn có ngài Mai nham Nghĩa đông làm chùa Phổ tế, đệ tử có 13 vị tài giỏi, đó là 13 phái Phổ tế. Từ năm 1296 về sau, lại có ngài Oánh sơn Thiệu cẩn du hóa các nơi trong 30 năm, về già, ngài trụ ở chùa Chư nhạc tại Năng đăng, đổiLuật viện thành Thiền viện, lấy tên Chư nhạc sơn Tổng trì tự. Tông Tào động ở Nhật bản đến thời ngài Thiệu cẩn thì phong cách Thiền được thay đổi, chủ trương Chỉ quản đả tọa(chỉ cần tọa thiền), tiếp thu nghi thức cầu nguyện lưu hành trongdân gian và tích cực truyền giáo cho quần chúng phổ thông. Năm Minh trị 31 (1898), chùa Tổng trì bị thiêu hủy, Đại bản sơn được dời về Hạc kiến tại Vũ tạng, còn vùng Năng đăng cũ thì chỉ đặt Biệt viện. Tông phong của tông Tào động là tọa thiền hành đạo, mở ra con đường hướng thượng, lấy việc dò tìm tâm địa người học làm phương pháp tiếp cơ, phương pháp này được gọi là Tào động dụng xao xướng, tức bậc thầy ứng theo nhịp gõ (xao) của người học mà xướng, trong đó không xen tạp hay gián đoạn mảy may. Về phương diện giáo nghĩa, tông này kế thừa yếu chỉ tức sự nhi chân của ngài Hi thiên, nghĩa là ở ngay nơi sự tượng(Sự) cá biệt mà hiển hiện bản thể(chân, tức Lí, chỉ cho Phật tính) của thế giới; Lí và Sự hồi hỗ(tương ứng dung hợp lẫn nhau), từ đó mở rộng thành Quân thần ngũ vị, trên phương diện quan hệ sự lí, thể dụng thuyết minh Sự và Lí bất nhị, Thể và Dụng vô ngại. Tại Nhật bản, các tác phẩm như Chính pháp nhãn tạng của Cao tổ Thiền sư Đạo nguyên, Truyền quang lục của Thái tổ Thiền sư Thiệu cẩn, Tọa thiền dụng tâm kí... đều nhằm mở rộng tông phong của tông Tào động. Thiền chỉ của tông này là tìm cầu sự im lặng bất động, bởi thế đã mất đi phần nào thiền cơ linh hoạt. Do đó, trong lúc tông Lâm tế trở thành chỗ qui hướng của giới quyền quí, thì tông này truyền giáo ở vùng biên thùy trong các tầng lớp thứ dân. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.13; luận Tông môn thập qui; Nhân thiên nhãn mục Q.3; Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.trung].
Tào Động tông 曹洞宗
[ja] ソウトウシュウ Sōtō shū ||| Caodong zong; one of the five major schools of Chan Buddhism in Tang China. The school was founded by the Chinese Chan master Dongshan Liangjie 洞山良价 and his student Caoshan Benji 曹山本寂. Along with the Linji school, this line of transmission became one of the most popular in East Asia, enjoying great success in Japan where its teachings were spread by Dōgen 道元, as the Sōtō shū school. => (c: Caodong zong ; j: Sōtō shū ); 1 trong 5 tông phái thiền Phật giáo chính vào đời Đường Trung Hoa. Tông nầy do Thiền sư Trung Hoa Động Sơn Lương Giới (c: Dongshan Liangjie 洞山良价) và đệ tử của ngài là Tào Sơn Bản Tịch (c: Caoshan Benji 曹山本寂) sáng lập. Cùng với tông Lâm Tế, dòng truyền thừa của tông nầy trở nên rất thông dụng ở Á Đông, có được sự thành công ở Nhật Bản, nơi được ngài Đạo Nguyên truyền bá pháp môn nầy.
tá
Giả tá (mượn)—To borrow—To lend.
tá biệt danh thông
(借別名通) Đồng nghĩa: Danh biệt nghĩa thông. Mượn tên của Biệt giáo để hiển bày nghĩa của Thông giáo, là từ ngữ dùng để phán Tứ giáo trong tông Thiên thai. (xt. Danh Biệt Nghĩa Thông).
tá ha
Xem Ta bà ha.
; Xem ta bà ha.
tá hoa hiến phật
Mượn Hoa cúng Phật (ý nói lấy đồ của người khác để cúng Phật)—To borrow a flower to offer to Buddha, i.e. to serve him with another's gift.
; (借花獻佛) Mượn hoa dâng Phật. Dụng ngữ này có xuất xứ từ các chuyện bản sinh của đức Phật ghi trong: Phẩm Thụ quyết định kí trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 3, 4, phẩm Hiện biến trong kinh Tu hành bản khởi quyển thượng và kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng. Theo các kinh trên, thủa xưa, có đệ tử của 1 người Bà la môn tên là Thiện tuệ đi tham học các nơi, khi đến thành Liên hoa, nghe tin đức Phật Nhiên đăng sắp đến đó thuyết pháp, Thiện tuệ muốn dâng hoa tươi cúng Ngài, nhưng nhà vua đã thu mua hết để cúng dường Phật. Thiện tuệ tìm khắp trong thành nhưng không được bông nào. Sau, Thiện tuệ gặp 1 tì nữ trẻ tuổi bên cạnh giếng, tay cầm 1 bình hoa có 7 cọng ưu bát la, Thiện tuệ liền khẩn thiết xin hoa, người tì nữ cảm động trước lòng chí thành của Thiện tuệ nên cho 5 cọng, còn 2 cọng thì gửi Thiện tuệ dâng cúng Phật để tích góp công đức cho mình, nhưng với điều kiện Thiện tuệ phải hứa: Khi chưa chứng được Thánh đạo thì đời đời kiếp kiếp kết làm vợ chồng. Vì lòng xin hoa tha thiết nên Thiện tuệ chấp nhận điều kiện đó. Sau khi được hoa, Thiện tuệ đến cửa thành dâng hoa cúng Phật Nhiên đăng, Ngài thụ kí cho Thiện tuệ trong vô lượng kiếp sau, sẽ được thành Phật hiệu là Thích ca mâu ni. Thiện tuệ tức là tiền thân của Phật Thích ca mâu ni, còn người tì nữ là tiền thân của Da du đà la. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 (Đại 3, 622 thượng) nói: Nay, tôi là con gái yếu đuối không thể đến đó được, vậy xin gửi 2 bông hoa dâng cúng Phật. Trong nguyên văn không có từ ngữ Tá hoa hiến Phật. Có chỗ nói có lẽ chữ Tá (mượn) đã viết lầm từ chữ Kí (.. ) (gửi), vì nội dung câu chuyện không có nghĩa mượn mà là nghĩa gửi. [X. kinh Dị xuất Bồ tát bản khởi; kinh Nho đồng thụ quyết trong Lục độ tập kinh Q.8; Sinh kinh Q.5; phẩm Phá tà kiến trong kinh Bồ tát xử thai Q.7].
tá hát
Xem Ta bà ha.
tá hương
(借香) Một trong các hình thức đốt hương trong Thiền môn. Tức Đông tự và Tây tự đều ra khỏi chỗ đứng của mình, dâng hương vấn an vị Trụ trì. Khi dâng hương, trước hết vị Duy na vấn an Trụ trì, gọi là Tá hương vấn tấn. Khi dâng hương xong, lại thăm hỏi vị Trụ trì, gọi là Tạ hương vấn tấn.Điều Lưỡng tự xuất ban thướng hương trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1136 trung) nói: Đông tự, Tây tự hướng vào nhau bước ra khỏi vị trí của mình, rồi xoay thân đối diện vị Trụ trì để vấn an (gọi là Tá hương) sau đó mới dâng hương (nếu là ngày sinh, ngày nối pháp, ngày giỗ thầy, thì không có tá hương).
Tá mạc
(佐幕, sabaku): là từ thường được dùng trong thời kỳ loạn động cuối thời Mạc Phủ, có nghĩa là “bổ tá cho chính quyền Mạc Phủ”; thỉnh thoảng người ta dùng từ Phái Tá Mạc (佐幕派, phái ủng hộ chính quyền Mạc Phủ) để đối đầu với Phái Đảo Mạc (倒幕派, phái âm mưu lật đỗ chính quyền Mạc Phủ). Tá mạc đối kháng với triều đình với ý kiến phản đối. Trường hợp chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ, đó là phái Tôn Vương Nhương Di (尊王攘夷), mà Phiên Hội Tân (會津藩, Aizu-han) là tiêu biểu nhất.
Tá Trúc
(佐竹, Satake): tên gọi của một dòng họ, nhà Đại Danh Chiến Quốc vùng Thường Lục (常陸). Dòng họ này được xem như là hậu duệ của Thanh Hòa Nguyên Thị (清和源氏, Seiwa Genji) và Tam Lang Nghĩa Quang (三郎義光, tức Nguyên Nghĩa Quang [源義光, Minamoto-no-Yoshimitsu]) ở Tân La (新羅, tức Triều Tiên), họ đến sinh sống ở Làng Tá Trúc (佐竹郷), Thường Lục (常陸, Hitachi) và lấy tên vùng này làm họ của mình. Sau dòng họ này theo Lại Triều (賴朝, Yoritomo) chinh thảo vùng Áo Châu (奥州, Ōshū), rồi trong cuộc nội loạn Nam Bắc Triều thì ủng hộ cho Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), và làm Thủ Hộ vùng Thường Lục. Đến thời đại Chiến Quốc, Nghĩa Trùng (義重), Nghĩa Tuyên (義宣) đã đối kháng với dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō) ở Tiểu Điền Nguyên (小田原, Odawara), và đứng về phe Tú Cát (秀吉, Hideyoshi). Trong cuộc hợp chiến ở Sekigahara (關ヶ原), dòng họ này đã đứng về phe phía Tây, rồi sau khi bị bại trận thì dời về sống ở vùng Thu Điền (秋田, Akita), Xuất Vũ (出羽, Dewa).
Tá Trúc Nghĩa Đốc
(佐竹義篤, Satake Yoshiatsu, 1507-1545): vị Võ Tướng dưới thời đại Chiến Quốc, nhà Đại Danh của tiểu quốc Thường Lục (常陸, Hitachi); thân phụ là Tá Trúc Nghĩa Thuấn (佐竹義舜, Satake Yoshikiyo); cha của Tá Trúc Nghĩa Chiêu (佐竹義昭, Satake Yoshiaki), tăng Hựu Hiền (宥賢) của Quang Minh Viện (光明院), tăng Sùng Triết (崇哲) của Chánh Tông Tự (正宗寺); làm quan chức Đại Thiện Đại Phu (大膳大夫). Vào năm 1517 (Vĩnh Chánh [永正] 14), lúc 11 tuổi, ông đã kế thừa gia nghiệp của dòng họ Tá Trúc. Ông là người đã thành công trong việc thống nhất miền Bắc bộ Thường Lục và Chiến Quốc Đại Danh hóa dòng họ Tá Trúc.
Tá trợ
佐助; C: zuǒzhù; J: sajo;|Người phụ tá; giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ (p: sāhāyya; theo kinh Niết-bàn 涅槃經)
Tá trợ 佐助
[ja] サジョ sajo ||| Assistant; to assist, to aid, to support (Pali sāhāyya). 〔涅槃經 T 374.12.〕 => Người phụ tá; giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ (p: sāhāyya). Theo Kinh Niết-bàn.
Tá Tá Mộc Định Cương
(佐々木定綱, Sasaki Sadatsuna, 1142-1205): vị võ tướng cuối thời Bình An cho đến đầu thời Liêm Thương, trưởng nam của Tá Tá Mộc Tú Nghĩa (佐々木秀義). Ông theo Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), lập nhiều chiến công hiển hách, đặc biệt là trận chiến tiêu diệt dòng họ Bình (平, Taira) vào năm 1185 (niên hiệu Văn Trị [文治] nguyên niên). Sau đó, ông được bổ nhiệm là quan Thủ Hộ (守護) các vùng Cận Giang (近江, Ōmi), Trường Môn (長門, Nagato), Thạch Kiến (石見, Iwami), Ẩn Kì (隱岐, Oki). Trong cuộc kháng tranh với Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) về vấn đề cống nạp hằng năm, nhóm Tăng Binh của chùa này loạn nhập vào tư dinh của ông, chém chết con trai đầu ông, và ông bị lưu tội đến tiểu quốc Tát Ma (薩摩, Satsuma). Đến năm 1193 (niên hiệu Kiến Cửu [延久] thứ 4), ông được tha tội và phục chức như cũ. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm chức Kiểm Phi Vi Sứ Tả Vệ Môn Thiếu Úy (檢非違使左衛門少慰). Đến cuối đời, do bị bệnh nên ông phát tâm xuất gia, nhưng chỉ 2 ngày sau thì qua đời ở độ tuổi 64.
tá túc
To stay overnight at someone's house.
tá y
(卸衣) Cởi áo ca sa. Tức cởi áo cà sa từ trên vai xuống, trước gấp làm 8 theo chiều ngang, kế đến gấp làm 2 theo chiều dọc, mặt có khoen vào phía trong, vắt lên cánh tay trái. Vì cởi áo từ trên vai rồi vắt lên cánh tay nên gọi là Tá y. [X. môn Phục chương loại 26 trong Thiền lâm tượng khí tiên]. TẠ GIỚI Sau khi nhận lãnh giới pháp, sa di đến lễ tạ các vị Giới sư, gọi là Tạ giới. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 trung) ghi: Chúng con pháp danh là... được bước lên giới phẩm, được lạm dự vào hàng tăng, đó là nhờ sự xót thương, che chở của Hòa thượng, chúng con xin chí thành bái tạ. TẠ LINH VẬN (385-433) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Lưu Tống, người Dương hạ. Ông là người hiếu học, xem rộng hiểu nhiều, giỏi thư họa, thi văn, một mình ngang dọc ở đất Giang đông. Ông làm quan đến các chức Thái úy tham quân, Thái thú Vĩnh gia. Ông bẩm tính giản dị, hào phóng, tự cao và bạo nói, đến nỗi bị ghen ghét và đày đi Quảng châu, lại có kẻ vu cáo ông mưu phản để hãm hại, vua Văn đế cũng đố kị tài danh của ông nên viện cớ mưu phản mà giết ông vào tháng 11 năm Nguyên gia thứ 10 (433) tại Quảng châu, lúc đó ông mới 49 tuổi. Tạ linh vận qui y Tam bảo từ thủa nhỏ, hiểu sâu kinh tạng, từng giao du với ngài Trúc đạo sinh ở chùa Long quang, rất tín phụng nghĩa đốn ngộ của ngài Đạo sinh và soạn luận Biện tông giải thích rõ nghĩa này.Khoảng năm Nghĩa hi đời Đông Tấn, ông đến Lô sơn tham lễ ngài Tuệ viễn. Sau, ngài Tuệ viễn thành lập Bạch liên xã, ông có soạn Tịnh độ vịnh tán thán. Ông cũng từng đến chùa Ô y thưa hỏi ngài Tuệ duệ về nghĩa các chữ Phạm trong kinh. Bấy giờ, gặp lúc kinh Đại niết bàn mới đến Trung quốc, vì số phẩm sơ lược, văn nghĩa không dễ, người mới học khó hiểu được, nên ông cùng với các ngài Đông an Tuệ nghiêm, Đạo tràng Tuệ quán đối chiếu, tham khảo kinh Đại bát nê hoàn 6 quyển, thêm số phẩm, bớt số quyển, sửa lại văn từ, giải rõ yếu nghĩa, thành kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) lưu hành cho đến nay. Học thuyết Niết bàn và Đốn ngộ được truyền bá ở đương thời, cũng nhờ có công lao của ông. Ông để lại các tác phẩm: Kim cương Bát nhã kinh chú, Niết bàn kinh sớ, luận Biện tông. [X. truyện Trúc đạo sinh trong Lương cao tăng truyện; Phật tổ thống kỉ Q.26; Tống thư Q.67; Nam sử Q.19].
Tá Đằng Trực Phương
(佐藤直方, Satō Naokata, 1650-1719): Nho gia sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; một trong ba nhân vật kiệt xuất của Khi Môn Học Phái (崎門學派); xuất thân vùng Bị Hậu (僃後, Bingo). Ông theo học với Sơn Khi Ám Trai (山崎闇齋, Yamazaki Ansai), rất thông hiểu về Chu Tử Học; nhưng lại phản đối học thuyết của thầy và trở thành kẻ phá môn. Ông chủ trương nghiêm khắc việc thể nhận đạo đức của tâm trong sự “kính trọng” và đã từng luận tranh với Xích Tuệ Lãng Sĩ (赤穗浪士, Akō Rōshi). Trước tác chủ yếu của ông có Uẩn Tàng Lục (韞藏錄).
Tác
作; C: zuò; J: sa.|Có các nghĩa: 1. Tạo ra, sáng tạo, làm, kiến lập. Viết văn, soạn nhạc, sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật. Thuật ngữ Sanskrit là īhate, karoti; 2. Sự hoạt động, sự tạo tác (s: karman, kriyā); 3. Sự việc được tạo tác, được làm ra, đặc biệt là từ nhân duyên (s: krtā-katva, kṛtā). Là thứ (đặc biệt là phiền não) được tạo ra do tâm phân biệt, khác với những gì xảy ra một cách ngẫu nhiên (nhậm vận) hoặc bẩm sinh (câu sinh); 4. Hành vi, công hạnh; 5. Nghề nghiệp, thiên hướng; 6. Người tạo tác; 7. Hành động chỉ nhắm đến bề ngoài; 8. Một trong Mười như thị đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).
tác
Kriya (S).
; To make, do, act, be; arise.
; 1) Dây gai: Cord. 2) Làm: To make—To do—To act. 3) Sợ dây mà Kim Cang Vương dùng để trói cột những kẻ ác: The cord or snoose of the Vajra-King by which he binds the evil. 4) Sợi dây mà Đức Quán Thế Âm dùng để nối kết những người thiện lại với nhau: The cord or snoose of Kuan-Yin by which he binds the good.
tác bình thiên tử
Śuddhāvāsa (S)Vô nhiệt thiênMột vị trời hiện xuống dùng nhiều phương thiện khuyến khích thái tử Tất đạt đa xuất gia.
; See Táo Bình Thiên Tử.
tác bạch
Jnàpti (S). Announciation, declaration.
tác bạch ñ
atti (P), Japti (S), Announcement Ñatti (P)Tác cử.
Tác bệnh
作病; C: zuòbìng; J: sabyō.|Bệnh do tin rằng mình có thể dụng công trù liệu mà được giác ngộ. Một trong 4 bệnh (Tứ bệnh 四病, được hiểu là vọng kiến) được mô tả trong kinh Viên Giác.
Tác bệnh 作病
[ja] サビョウ sabyō ||| The sickness of the belief that one can contrive to gain enlightenment. One of the four mistaken views 四病 described in the tenth chapter of the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經. => Bệnh do tin rằng mình có thể dụng công trù liệu mà được giác ngộ. Một trong 4 vọng kiến mô tả trong Kinh Viên Giác.
Tác chứng
作證; C: zuòzhèng; J: sashō.|Kinh nghiệm chứng ngộ rốt ráo riêng của một người. Thành tựu công phu tu đạo. Sự ấn chứng trạng thái giác ngộ cho một người (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
tác chứng
Sacchikatabbo or Sacchikatori (p)—Ngộ hay nhận rõ như thực—To realize—To be realized (Zen).
Tác chứng 作證
[ja] サショウ sashō ||| To personally experience final enlightenment; to consummate the path of practice. The witness the enlightened state for oneself. (sākṣāt-kṛta) 〔二障義HPC 1.809a5〕 => (s: sākṣāt-kṛta) Kinh nghiệm chứng ngộ rốt ráo riêng của một người. Thành tựu công phu tu đạo. Sự ấn chứng trạng thái giác ngộ cho một người.
tác cử
Xem Tác bạch.
; The accusation of sin made against particular monks by the virtuous monk who presides at the pravàrana gathering on the last day of the summer's rest.
; Trong ngày tự tứ, mời vị sư có đức độ trong Tăng chúng chủ trì, nêu rõ các tội mà vị Tỳ Kheo nào đó phạm phải cho Tăng chúng biết—The accusation of sin made against particular monk by the virtuous monk who presides at the pravarana gathering on the last day of the summer's rest.
; (作舉) Nêu các tội đã phạm, 1 trong các tác pháp tự tứ. Ngày cuối cùng của hạ an cư là ngày Tự tứ. Vào ngày này, đặc biệt thỉnh 1 vị tôn túc nêu danh các tội mà các tỉ khưu đã phạm trong thời gian an cư trước chúng tăng, gọi là Tác cử. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1]. (xt. Tự Tứ).
Tác dụng
作用; C: zuòyòng; J: sayū.|Có các nghĩa sau: 1. Chức năng, sự hoạt dụng (s: vyāpāra, kāritra, pravartate); 2. Căn nguyên chủ yếu của các pháp, sự khích lệ, lực thúc đẩy, nguyên nhân; 3. Sự sinh khởi và tịch diệt của thật thể; 4. Công phu tu tập thật tế.
tác dụng
Function, activity, act.
; Function—Activity.
; (作用) Gọi tắt: Dụng. Động tác hay sự hoạt động khởi dụng. Trong các pháp hữu vi 3 đời, chỉ có pháp hiện tại là có tác dụng, các pháp quá khứ và vị lai thì không. Trong 4 tướng thì tác dụng của tướng Sinh khởi lên ở vị lai, còn tác dụng của 3 tướng Trụ, Dị, Diệt thì khởi lên ở hiện tại khi các pháp đã sinh. Riêng các pháp vô vi thì vì lìa các tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt, không bị thế gian làm dời đổi, nên đều không có tác dụng. Ngoài ra, Thiền tông chủ trương tác dụng hiện tiền là tác dụng ngay nơi thể, thấy suốt được tác dụng ấy tức là thấy tính.Cứ theo điều Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 thì cuộc vấn đáp giữa ngài Ba la đề và vua Dị kiến cũng cho rằng cốt tủy của đạo Phật là ở chỗ thấy suốt tính Phật, mà tính Phật thì ở ngay trong tám tác dụng hiện tiền: Thân, người, thấy, nghe, ngửi mùi, bàn nói, cầm bắt và chạy nhảy (ở trong thai là thân, ở đời là người, ở mắt là thấy, ở tai là nghe, ở mũi là ngửi mùi, ở miệng là bàn nói, ở tay là cầm bắt, ở chân là chạy nhảy), nghĩa là bao gồm cả pháp giới. [X. luận Đại tì bà sa quyển 39; luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.1, 2; luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần đầu].
Tác dụng 作用
[ja] サクヨウ sayū ||| (1) Function, activity (vyāpāra, kāritra, pravartate). (2) The essential cause of something. Inducement, incentive, motive, cause. (3) The arising and cessation of existence. (4) Actual religious practice. => Có các nghĩa sau: 1. Chức năng, sự hoạt dụng (s: vyāpāra, kāritra, pravartate). 2.Căn nguyên chủ yếu của các pháp, sự khích lệ, lực thúc đẩy, nguyên nhân. 3. Sự sinh khởi và tịch diệt của thực thể. 4. Công phu tu tập thực tế.
tác gia
Leader, founder, head of a sect, a term used by Thiền tông.
; Vị tổ khai sáng, một từ được dùng trong Thiền tông—Leader, founder, head of sect, a term used by the Ch'an (Zen) or Intuitive school.
; (作家) Vốn chỉ cho người giỏi làm thơ, làm văn. Thiền sư cũng dùng thơ văn để xiển dương ý thiền. Là bậc thầy, nếu thể hội được nghĩa chân thật, có khả năng độ chúng khéo léo, cũng gọi là Tác gia. Thung dung lục tắc 9 (Đại 48, 232 hạ) nói: Vương sư biện biệt rõ chính tà Một nhát dao đưa đều dứt bặt Nghìn xưa còn mãi kính Tác gia. Đạo này chưa mất, Chúc mừng tri âm. Ngoài ra, vị Thiền khách có bản sắc đại trượng phu, gọi là Tác gia thiền khách. Bích nham lục tắc 10 (Đại 48, 150 thượng) nói: Ngài Mục châu hỏi vị tăng: Ông vừa rời chỗ nào? Vị tăng liền hét. (Tác gia thiền khách, đừng gạt người mắt sáng). Lại nữa, bậc sư gia phát huy cơ pháp linh hoạt để dắt dẫn người học hoặc vị tông sư có năng lực, gọi là Tác gia tri thức.
tác giả
Kartr (S). A doer, he who does things, hence the àtman, ego, or person within; the active element or principle; one of the sixteen non-Buddhist definitions of the soul. Also kàranà, a cause, maker, creator, deity.
; 1) Người viết hay người biên soạn: Author—Writer. 2) Tác nhân của hành động: A doer, he who does things—Maker—Creator.
; (作者) Phạm:Kàraka. Chỉ cho ngoại đạo cho Ngã là người sáng tạo ra muôn vật trong trời đất, là 1 trong 16 thần ngã. Luận Đại tì bà sa quyển 129 (Đại 27, 670 hạ) ghi: Phạm vương chẳng hiểu nói loạn bậy rằng: Các bậc sô nên biết, ta là Đại phạm, là Tự tại giả, Tác giả, Hóa giả, Sinh giả, Dưỡng giả, là cha của tất cả.Ở Ấn độ có rất nhiều ngoại đạo chủ trương có 1 đấng tạo ra muôn vật, như ngoại đạo Đại tự tại thiên cho rằng trời Đại tự tại là tác giả, ngoại đạo Phạm thiên thì cho Phạm thiên là tác giả, còn ngoại đạo Số luận thì cho Tự tính là tác giả... [X. kinh Nhập lăng già Q.2; luận Đại trí độ Q.41; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.3].
tác giới
Obedience to the commandments, external fulfilment of them; also called biểu sắc, in contrast with vô tác giới, vô biểu sắc the inner grace; moral action in contrast with inner moral character.
; Tên gọi khác của “biểu sắc.” Tuân theo những giới luật để thành tựu thân khẩu bên ngoài (những tác nghiệp của thân và khẩu khi thụ giới thì gọi là “tác giới.” Những nghiệp thể thâu nhận vào bên trong thân thể thì gọi là “vô tác giới”), đối lại với vô tác giới hay vô biểu sắc bên trong—Obedience to the commandments, external fulfillment of them, in contrast with the inner grace.
; (作戒) Cũng gọi Biểu sắc. Tác nghiệp biểu hiện ra thân, khẩu khi lãnh nhận giới pháp, gọi là Tác giới. Trái lại, nghiệp thể lãnh nạp ở trong thân, thì gọi là Vô tác giới, hoặc gọi là Vô giáo. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1]. (xt. Biểu Sắc).
tác hại
To harm—To hurt—To damage.
tác họa
To cause misfortunes.
tác hợp
To combine.
tác kiển tự phọc
(作繭自縛) Làm kén buộc mình, ví dụ người cố chấp thành kiến tự làm khổ mình, giống như con tằm tự làm ra kén để trói buộc mình. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 29 (Đại 51, 451 thượng) nói: Hàng Thanh văn chấp pháp ngồi thiền, giống như con tằm tự nhả tơ để trói buộc mình.
tác lễ
To pay one's respect by worship; to make an obeisance.
; To pay one's respect by worship—To make an obeisance.
tác lễ phương tiện
(作禮方便) Cũng gọi Qui mệnh phương tiện. Tức là qui mệnh cung kính lễ bái Tam bảo trong 3 đời ở khắp 10 phương, là 1 trong 9 pháp sám hối lễ Phật(cửu phương tiện) của pháp Thai tạng giới Mật giáo. Những văn kệ, chân ngôn và thủ ấn được kết tụng khi tu pháp sám lễ này có ghi rõ trong kinh Đại nhật và các nghi quĩ hữu quan khác. [X. kinh Đại nhật Q.7; Cúng dường pháp sớ Q.thượng].
tác ma sanh
(作麽生) Cũng gọi Chẩm ma sinh, Tự ma sinh, Tác ma, Tác sinh. Đồng nghĩa: Như hà liễu, Chẩm ma dạng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tác ma nghĩa là Thế nào? Sao? Còn Sinh là tiếp vĩ ngữ. Vốn là tục ngữ ở đời Tống; Thiền tông thường dùng làm lời cảm thán hoặc nghi vấn trong công án. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục khám biện (Đại 55, 503 thượng) ghi: Sau, Qui sơn hỏi Ngưỡng sơn: Ý hai vị tôn túc này thế nào (tác ma sinh)? Ngoài ra còn có từ Tác ma hội, nghĩa là Thể hội như thế nào?.
tác nghiệp
Sameitanikakarman (S)Cố tư sớ tạo nghiệpNghiệp do thân miệng cố ý tạo ra.
; Karma produced,i.e. by the action of body, words, and thought, which educe the kernel of the next rebirth.
; Nghiệp được làm ra bởi thân, khẩu, ý đều được rút ra trong kiếp tới—Karma produced (by action of body, words, and thought, which educe the kernel of the next rebirth).
; (作業) Phạm: Karman. I. Tác Nghiệp. Gọi đủ: Cố tác nghiệp. Cũng gọi: Cố tư nghiệp. Chỉ cho Tư nghiệp hoặc thân nghiệp, ngữ nghiệp do Tư khởi lên. Luận Du già sư địa quyển 9 (Đại 30, 319 trung) nói: Tác nghiệp tức là Tư nghiệp, hoặc thân nghiệp, ngữ nghiệp do Tư sinh khởi. Bất tác nghiệp là Bất tư nghiệp, hoặc thân nghiệp, ngữ nghiệp không do Tư sinh khởi. Du già luận kí quyển 3 thượng, giải thích rằng Tác nghiệp chỉ cho nghiệp do tâm phân biệt tạo ra, hoặc do tâm tỉnh ngộ tạo ra. [X. Lược thuật pháp tướng nghĩa Q.trung]. (xt. Cố Tư Nghiệp). II. Tác Nghiệp. Gọi đủ: Tạo tác nghiệp. Chỉ cho Bất tăng trưởng nghiệp trong Cố tác nghiệp. Có 10 Bất tăng trưởng nghiệp: Nghiệp được tạo ra trong giấc mộng, vì không biết mà tạo nghiệp(vô tâm), không cố ý tạo nghiệp, tạo nghiệp không vì lợi, tạo nghiệp lúc tâm trí cuồng loạn, tạo nghiệp khi mất ý niệm, tạo không phải vì ham muốn, bản chất nghiệp được tạo là vô kí, nghiệp vì ăn năn đã bị tổn và nghiệp vì đối trị đã bị tổn. Trừ 10 thứ nghiệp này(nghiệp không thêm lớn), còn các nghiệp khác gọi là Tăng trưởng nghiệp (nghiệp thêm lớn). [X. kinh Đại bát niết bàn Q.36 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.119; luận Du già sư địa Q.9, 60; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; luận Câu xá Q.18; Câu xá luận quang kí Q.18]. (xt. Tăng Trưởng Nghiệp). III. Tác Nghiệp. Chỉ cho hành nghiệp tạo tác là phương pháp tu hành để đạt đến an tâm, khởi hành trong tông Tịnh độ, tức là phương pháp Tứ tu: Cung kính tu, Vô dư tu, Vô gián tu, và Trường thời tu. Bởi vì an tâm dễ trở lui, mà khởi hành cũng khó tiếp tục, cho nên thực hành pháp Tứ tu để khích lệ tâm hạnh; mong chóng được vãng sinh. [X. Vãng sinh lễ tán]. (xt. Tứ Tu).
tác nghiệp căn
Karmīndriya (S).
; Karmìndriya (S). Sense organs which produce karma.
tác nguyện
(作願) Cũng gọi Tác nguyện môn. Một lòng chuyên niệm, cầu nguyện vãng sinh Tịnh độ, tu tập Xa ma tha (Chỉ), không để xen lẫn các ý tưởng tạp nhạp khác, là 1 trong 5 niệm môn. [X. luận Vãng sinh]. (xt. Ngũ Niệm Môn).
tác nguyện môn
To make a vow to benefit self and others, and to fulfl the vow so as to be born in the Pure Land of Amitàbha. The third of the five doors or ways of entering the Pure Land.
; Thệ nguyện cứu độ chúng sanh và hoàn thành bổn nguyện như là được sanh vào cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà. Đây là đệ tam môn trong Ngũ Môn Tịnh Độ—To make a vow to benefit self and others, and to fulfill the vow so as to be born in the Pure Land of Amitabha. This is the third of the five doors or ways of entering the Pure Land.
tác ngữ
See Tác Thoại.
tác nhân
Kartri (skt)—Nhân tố tạo ra sự tác động—Agent.
tác náo
To cause a stir.
tác pháp
Karma, which results from action, i.e. the "deeds" of body or mouth; to perform ceremonies.
; Karma, which results from action (the deeds of the body, mouth and mind)—To perform ceremony.
; (作法) Pháp tắc mà người xuất gia tu hành phải tuân thủ trong mọi hành vi đi, đứng, ngồi, nằm hằng ngày. Như phép đi qui định: Không đi trên con đường có người say đang đi; khi đi phải nhìn thẳng về phía trước. Đến các việc ngồi, nằm, ăn uống... cũng có phép tắc nhất định. Tác pháp còn chỉ cho phương pháp, qui tắc ấn định trong những nghi thức như thụ giới, xả giới, sám hối, cầu nguyện... Nhờ có tác pháp đặc biệt này mà nghi thức được tiến hành thuận lợi. Đây tức là tác pháp yết ma trong cách làm việc của tăng đoàn. Chương Kết tịnh địa pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 217 thượng) nói: Đến chỗ cũ đã ở thì được coi là tịnh (sạch), nhưng cũng không được qua đêm mà phải tác pháp ngay. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ quyển 27 (Đại 35, 706 trung) nói: Nếu phạm tội giá thì trước phải y theo lời dạy mà tác pháp sám hối. [X. kinh Tì ni mẫu Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.10; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3]. (xt. Yết Ma).
tác pháp giới
The place of assembly for ceremonial purposes.
; The place of assembly for ceremonial purpose.
tác pháp quán đỉnh
(作法灌頂) Đối lại: Vô tác pháp quán đính. Trong các pháp tu của Mật giáo, pháp Quán đính có đầy đủ các tác pháp cụ thể như dẫn đệ tử vào đàn, tung hoa, trao mũ báu, gương, tản cái hành đạo(Đệ tử được che lọng để đi vòng quanh Mạn đồ la của chư tôn), 6 thứ cúng dường... gọi là Tác pháp quán đính. Trái lại, Quán đính chỉ có thầy và đệ tử, không có các chức chúng và A xà lê, tóm lại, không đầy đủ các nghi thức cụ thể như trên thì gọi là Vô tác pháp quán đính. Nhưng Vô tác pháp quán đính chỉ được áp dụng cho những người thụ Quán đính lần thứ 2, hoặc người đã đạt đến chỗ cùng tột; còn đối với nhữngngười mới thụ Quán đính thì nhất định không áp dụng được. Tác pháp Quán đính có 4 trường hợp là Đình nghi, Đường thượng, Bình tòa và Vô chức chúng, 3 trường hợp trước dùng cho ngoại nghi, 1 trường hợp sau thì dùng cho nội nghi. Khi có chức chúng thì dùng pháp Tam muội da giới, xướng tụng lễ tán của ngoại nghi, đồng thời tu hộ ma, thần cúng...; khi không có chức chúng thì do Giáo thụ sư hoặc Đại a xà lê tu hộ ma và thần cúng.
tác pháp sám
One of the three kinds of monastic confession and repentance.
tác pháp sám hối
Một trong ba loại sám hối (thân lễ bái, miệng xưng lời, ý suy nghĩ)—One of the three kinds of monastic confession and repentance.
; (作法懺悔) Pháp sám hối y cứ vào giới luật do đức Phật chế định và tự nói ra những tội lỗi của mình, không dám che giấu. Tức là thân lễ bái cung kính, miệng xướng tụng tán thán, tâm ý quán tưởng tướng hảo của Phật, 3 nghiệp ân cần, nhất nhất theo pháp tắc mà sám hối các tội nghiệp đã tạo ra trong quá khứ và hiện tại. [X. Ma ha chỉ quán Q.2, phần đầu; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Sám Hối).
tác pháp tiến cụ
Xem Cụ túc giới.
tác pháp đắc
To receive ceremonial ordination as a monk.
; Thọ giới Yết Ma phải có đầy đủ tam sư thất chứng (một hội đồng gồm ba vị Tăng cao tuổi hạ, và bảy người khác có thể là chư Tăng hay những vị hộ trì Phật pháp lâu năm)—To receive ceremonial ordination as a monk, with the witness of an assembly of three senior monks, and seven other people, either monks or senior lay people.
; To receive ceremonial ordination as a monk.
; (作法得) Cũng gọi Yết ma đắc. Được giới sau khi làm phép yết ma. Nghĩa là khi thụ giới Cụ túc, tỉ khưu, tỉ khưu ni phải nương tựa vào Tam sư (Giới Hòa thượng, Yết ma sư, Giáo thụ sư), Thất chứng (7 vị tăng chứng minh) làm pháp yết ma mới có thể được giới. Đối lại Thiện lai đắc, Tự thệ đắc, Định cộng đắc, Đạo cộng đắc... gọi là Tâm tác pháp đắc.
Tác phạm
作犯; C: zuòfàn; J: sabon.|Làm các việc ác, vi phạm giới luật.
tác phạm
Transgression, sin by action, active sin.
; Phạm tội bằng hành động (hay phạm những giới mà mình đã thụ) như sát sanh, trộm cắp, vân vân thì gọi là “tác phạm.”—Transgression sin by action, active sin, or positive in doing evil such as killing, stealing, etc.
; (作犯) Làm(tác) các việc ác như giết hại, trộm cắp... mà trái phạm(phạm)giới đã thụ. Kích động thân, khẩu đến cảnh trái lí, gọi là Tác; ô nhiễm giới đã thụ, gọi là Phạm. Phạm do tác mà sinh nên gọi là Tác phạm, lấy việc tạo tác pháp ác làm gốc. Trái lại, không làm các việc thiện thì gọi là Chỉ phạm. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung]. Xứng tụng Phạm bái, tức đọc canh, tán tụng.Cứ theo điều Khán tạng kinh trong Thiền uyển thanh qui quyển 6, trước khi giảng nói đọc tụng tạng Kinh thì vị Niệm Phật xà lê tác Phạm, khiến cho mọi người ngưng dứt sự huyên náo, thu nhiếp tâm thần. Niệm Phật xà lê là vị tăng xướng tụng danh hiệu Phật sau khi vị Duy na tuyên đọc văn sớ. Còn vị tăng xướng tụng Phạm bái, cũng gọi là Tác phạm xà lê, là 1 trong 3 vị sư trong nghi thức Sa di thụ giới. Hai vị sư kia là Giới sư và Dẫn thỉnh xà lê. [X. Sa di thụ giới văn trong Thiền uyển thanh qui Q.9].
Tác phạm 作犯
[ja] サクボン sabon ||| To "create evil." To carry out evil actions, breaking the precepts. => Làm các việc ác, vi phạm giới luật.
tác phẩm
Work (of a writer or painter).
Tác Phật
作佛; C: zuòfó; J: sabutsu.|»Làm Phật«, có nghĩa là trở thành một vị Phật, đạt được sự giác ngộ rốt ráo. Như biểu thị »Thành Phật« (成佛; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
tác phật
To become or be a Buddha; to cut off illusion. attain complete enlightenment, and end the stage of bodhisattva discipline.
; Thành Phật, cắt đứt mọi phiền não, hoàn thành giác ngộ và chấm dứt giai đoạn cuối cùng của Bồ Tát—To become or be a Buddha (to cut off illusion, attain complete enlightenment, and end the stage of Bodhisattva discipline).
; (作佛) Làm Phật, tức thành Phật. Nghĩa là Bồ tát trừ diệt tận gốc các vô minh phiền não, mở ra trí giác ngộ chân thực. Phổ thông cho rằng Thanh văn, Duyên giác không thể thành Phật, nhưng kinh Pháp hoa thì đã nói rõ Nhị thừa và Bồ tát, về bản chất, không khác gì nhau, cho nên chủ trươngThanh văn, Duyên giác cũng được thành Phật, gọi là Nhị thừa tác Phật. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa]. (xt. Thành Phật).
tác phật sự
To do the works ofBuddha; perform Buddhist ceremonies.
; Làm việc Phật sự hay hành lễ theo nghi thức Phật giáo—To do the work of Buddha—To perform Buddhist ceremony.
Tác Phật 作佛
[ja] サブツ sabutsu ||| Lit. to "make a buddha," which means, to become a buddha--to achieve final enlightenment. Same as 成佛. 〔二障義HPC 1.805c; 瑜伽論T 1579.30.744b27〕 => "Làm Phật", có nghĩa là trở thành một vị Phật -- đạt được sự giác ngộ rốt ráo. Như Thành Phật.
tác quyền
Copyright.
tác quán
(作觀) Quán xét 5 điều (Ngũ quán) trước khi thụ trai xem mình ăn có xứng đáng không. (xt. Ngũ Quán II).
tác sự trí
Xem Thành sở tác trí.
tác thiện
Làm việc thiện như tu hành, bố thí, vân vân—To do good (Worship, bestow alms, etc).
tác thiện to do good, e.g
worship, bestow alms, etc.
tác thoại
Express, expression in words; forced statements, a demand or request, e.g. for information.
tác thành
To accomplish—To combine.
tác thị tư duy thời, thập phương phật giai hiện tiền
Một khi đã có chánh tư duy thì mười phương chư Phật đều hiện tiền—When establish the right thinking, the Buddhas of the ten directions all appear.
Tác trì
作持; C: zuòchí; J: saji.|Làm các việc thiện; thực hành các thiện pháp, tương phản với hạnh »chỉ trì,« (止持), không làm các việc ác.
tác trì
Doing what is right (worship, monastic life, etc).
tác trì giới
Active keeping of the commandments, active law, in contrast with chỉ trì giới passive, such as not killing, not stealing, etc.
; Tích cực trì giới (việc thiện vâng làm), đối lại với thụ động hay tiêu cực trì giới (chỉ trì giới hay việc ác không làm) như không sát sanh, không trộm cắp, vân vân—Active keeping of the commandments, active law in contrast with passive, such as not killing, not stealing, etc.
tác trì môn
(作持門) Cũng gọi Tác trì giới, Tác thiện môn, Tu thiện môn. Đối lại: Chỉ trì môn. Giữ gìn(trì)giới pháp để tu tập(tác) các việc thiện. Tức xa lìa các điều ác, tích cực làm những việc thiện, khích lệ 3 nghiệp duy trì điều thiện. Đây là Tác trì môn, là giới dạy người vâng làm các việc thiện, như 20 Kiền độ trong luật Tứ phần, bao gồm thuyết giới, an cư, tự tứ... Tác trì môn và Chỉ trì môn hợp lại gọi chung là Chỉ tác nhị trì, Chỉ tác. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 4; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ tự]. (xt. Nhị Trì).
Tác trì 作持
[ja] サジ saji ||| To do good actions; positive religious practice, as contrasted to the practice of "stopping evil (zhichi )." => Làm các việc thiện; thực hành các thiện pháp, đối lại là "chỉ trì 止持", không làm các việc ác.
Tác tập pháp
作集法; C: zuòjífǎ; J: sashūhō.|Hội nghị các tăng sĩ Phật giáo để minh định chính pháp. Kết tập (結集).
Tác tập pháp 作集法
[ja] サシュウホウ sashūhō ||| A Buddhist council held to determine orthodoxy. See => Hội nghị các tăng sĩ Phật giáo để minh định chính pháp. Xem Kết tập 結集.
Tác tứ đế
作四諦; C: zuòsìdì; J: sashitai.|Thuật ngữ trong kinh Thắng Man (s: śrī-mālā-sūtra), nghĩa là »Tứ đế được tạo tác«, đối nghịch lại là Vô tác tứ đế.
Tác tứ đế 作四諦
[ja] サシタイ sashitai ||| The Four Created Noble Truths as opposed to the four uncreated noble truths. See the Śrīmālā-sūtra, T vol. 12, p. 221b. => Thuật ngữ trong Kinh Thắng Man (s: Śrīmālā-sūtra), đối nghịch lại là Vô tác Tứ đế.
tác văn
To write an essay.
tác ác
To do evil.
; Làm việc ác—To do evil.
Tác ý
作意; C: zuòyì; J: sakui. |1. Để ý đến, chú ý, nhận biết, chú tâm (s: manasi-karoti); 2. Tập trung tâm ý, ngăn ngừa tâm tán loạn, tập trung vào một đối tượng(s: manas-kāra); Một trong 10 Đại địa pháp (十大地法) trong luận A-tì-đạt-ma, tương đương với Tư (s: cetanā); 3. Một trong 5 loại biến hành (五遍行) trong Tâm sở pháp (心所) của Du-già hành tông (theo Du-già luận).
tác ý
Manasikara (P,) Attention, Manaskara (S), Cetani (S)ý muốnĐộng cơ phát xuất hành động. Tác dụng khiến tâm, tâm sở nhận biết đối tượng. Một trong 10 đại địa pháp.
; Cittotpàda, Cetàna (S). To have the thought arise, be aroused, beget the resolve. Intentional action, wilful action.
; Manasikara (p)—Cittotpada or Manaskara (skt). 1) Sự chú ý của tâm: Attention-Attention of the mind. 2) Có những tư tưởng dấy lên nơi tâm, có tác dụng mách cho tâm nương theo cái cảnh sở duyên—To have the thought arise—Be aroused, beget the resolve.
; (作意) Phạm: Manaskàra, Manasi-Kàra hoặc Mana#-kàra. Tên của tâm sở(tác dụng của tâm). Tức tâm ý đột nhiên cảnh giác, chuyên chú vào 1 chỗ nào đó để sinh khởi hoạt động, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức, 1 trong các Đại địa pháp của Hữu bộ, 1 trong 5 Biến hành của tông Pháp tướng. Luận Câu xá quyển 7 chia Tác ý làm 3 thứ: Tự tướng tác ý, Cộng tướng tác ý và Thắng giải tác ý. 1. Tự tướng tác ý: Khi quán xét 1 vật nào đó thì chỉ thấy tướng riêng của vật ấy thôi. Như quán sắc thì thấy tướng biến đổi và chất ngại. 2. Cộng tướng tác ý: Khi quán pháp Tứ đế thì thấy 16 hành tướng là tướng chung của các pháp. 3. Thắng giải tác ý: Tức khi quán tưởng các pháp bất tịnh, sinh khởi tác ý thù thắng. Ở cõi Dục có 3 thứ tác ý là Văn sở thành, Tư sở thành và Sinh sở đắc; cõi Sắc có 3 thứ tác ý là Văn sở thành, Tu sở Thành và Sinh sở đắc; còn cõi Vô sắc thì chỉ có 2 thứ tác ý là Tu sở thành và Sinh sở đắc. Theo luận Du già sư địa quyển 33, nếu các vị Du già sư muốn lìa dục ở cõi Dục mà siêng tu quán hạnh thì phải qua 7 thứ tác ý mới có thể lìa được dục, đó là: Liễu tướng, thắng giải, viễn li, nhiếp lạc, quán sát, gia hạnh cứu cánh và gia hạnh cứu cánh quả. Ngoài ra, Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 7 cho rằng sau khi sinh khởi 6 tâm căn bản... thì kế đó sinh khởi 11 thứ tác ý như hữu giác hữu quán, vô giác hữu quán, vô giác vô quán... Luận Lục môn giáo thụ tập định thì nêu 4 thứ tác ý như Lệ lực hà phụ tác ý, Hữu gián hà phụ tác ý... Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 cho rằng tu vô lượng Tam ma địa môn sẽ sinh khởi 5 thứ tác ý như Hữu tình vô lượng tác ý, Thế giới vô lượng tác ý... Ngoài ra, duyên theo 7 thứ Biến mãn chân như thì sẽ sinh khởi 7 thứ tác ý như Lưu chuyển chân như tác ý, Thực tướng chân như tác ý... [X. luận Thành duy thức Q.3; luận Đại tì bà sa Q.13, 16; luận Du già sư địa Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1]. (xt. Tam Chủng Tác Ý).
Tác ý 作意
[ja] サクイ sakui ||| (1) To pay attention (to); be attentive, aware, mindful (manasi-karoti). (2) The gathering of the attention, preventing it from scattering, focusing on a single object (manas-kāra). One of the ten great ground dharmas 十大地法 in the Abhidharmakośa, equivalent to (cetanā). (3) One of the five pervasively functioning 五遍行 mental functions 心所 in Yogācāra. 〔瑜伽論T 1579.30.279b〕 => 1. Để ý đến, chú ý, nhận biết, chú tâm (s: manasi-karoti). 2. Tập trung tâm ý, ngăn ngừa tâm tán loạn, tập trung vào một đối tượng(s: manas-kāra).. Một trong 10 Đại thiện địa pháp (thập đại địa pháp 十大地法) trong Luận A-tì-đạt-ma, tương đương với Tư (s: cetanā) 3. Một trong năm thứ biến hành (ngũ biến hành 五遍行) trong Tâm sở pháp của Du-già hành tông .( Theo Du Già Luận).
tác đàn pháp
(作壇法) Phép tắc kiến lập đàn tu pháp trong Mật giáo. Có Nhất nhật tác đàn và Thất nhật tác đàn khác nhau: a) Thất nhật tác đàn(làm đàn trong 7 ngày): Theo Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ thì (Đại 18, 929 thượng): Ngày đầu tiên, gia trì Như lai tính vào tự thân, cúng dường thần đất, lựa bỏ những vật không thanh tịnh trong đất, rồi đắp đàn vững chắc. Ngày thứ 2, đào 1 lỗ trong đàn sâu 1 khủyu tay, gia trì chân ngôn Bất động minh vương vào 5 thứ báu, định các tôn vị như Ngũ Phật, Tứ bồ tát... Ngày thứ 3, đặt bình, gia trì 108 biến chân ngôn Bất động. Ngày thứ 4, buổi chiều, gia trì 108 biến chân ngôn Hương thủy, sau đó, sái tịnh. Ngày thứ 5, cúng dường hộ thân, gia trì 108 biến chân ngôn Bất động hoặc Hàng tam thế minh vương, kế đến chân ngôn Trì địa. Đêm thứ 6, thầy và đệ tử tắm gội, mặc áo sạch, đến đàn cúng dường đúng như pháp, tương ứng với ấn, tay ấn vào Trung đài, trì 1 biến chân ngôn tay ấn 1 cái, cho đến 7 biến, các tôn vị cũng lấy đó làm chuẩn. Ngày thứ 7, dạy đệ tử tam qui, sám hối, phát tâm bồ đề. b) Nhất nhật tác đàn(làm đàn trong 1 ngày): Phép lập đàn này phần nhiều dùng quán tưởng để lập. Tức trước hết đến chỗ lập đàn, tụng chân ngôn Địa thiên, quán tưởng trừ bỏ những vật ô uế trong đất; kế đến, kết ấn cái mai đào đất, gia trì cái mai, kết ấn làm đàn, gia trì vào đất bùn; sau đó, dùng cái bình nhỏ đựng 5 vật báu, 5 thứ hương, 5 thứ thuốc, 5 thứ hạt, rồi chôn ở giữa đàn; lại lấy phân bò chưa rơi xuống đất, hoặc các vật khác để trét đàn, dùng phấn 5 màu để tô đàn, kế là giăn Tóm lại, hễ đào đất... là phép làm đàn 7 ngày, gọi là Thổ đàn; còn không đào đất... thì phần nhiều là phép làm đàn 1 ngày, gọi là Thủy đàn. Vì thủy đàn lấy quán tưởng làm chính, chỉ rảy nước(thủy) làm sạch đất để lập đàn, nên có tên là Thủy đàn. Ngoài ra, còn có phép làm đàn đơn giản nhất là kết tụng 3 ấn chú: Thu, Mã đầu và Đại kim cương luân. [X. kinh Đà la ni tập 12; kinh Nhuy hi da Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.4; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].
Tác đại chướng thiện đạo
xem Du-lan-già.
Tác đắc
作得; C: zuòdé; J: sakutoku.|Có được do dụng công, sáng tạo ra. Đối lại là »sinh đắc« (生得), nghĩa là có do bẩm sinh.
Tác đắc 作得
[ja] サクトク sakutoku ||| Obtained through effort, work, creation. The opposite of 生得 which means "inborn." 〔二障義HPC 1.801a => Có được do dụng công, sáng tạo ra. Đối lại là "sinh đắc", nghĩa là có do "bẩm sinh".
tác động
To manifest.
Tác 作
[ja] サ sa ||| (1) To make, to create, to do, to establish. To write literature, compose music, create works of art, etc. To establish, to put forth, to finish. In Sanskrit, īhate, karoti. (2) Function, activity (karman, kriyā). (3) That which has been made, formed or created, especially from conditions (krtā-katva, krtā). That (esp. afflictions) which is created from discrimination, as opposed to that which is spontaneously or innately arisen . 〔二障義 HPC 1.801c22〕(4) Act, deed, conduct (karman). (5) Occupation, vocation. (6) The person who makes (something). (7) Outwardly expressed activity. (8) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. => Có các nghĩa: 1. Tạo ra, sáng tạo, làm, kiến lập. Viết văn, soạn nhạc, sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật. Thuật ngữ Sanskrit là īhate, karoti. 2. Sự hoạt động, sự tạo tác (s: karman, kriyā). 3. Sự việc được tạo tác, được làm ra, đặc biệt là từ nhân duyên (s: krtā-katva, krtā). Là thứ (đặc biệt là phiền não) được tạo ra do tâm phân biệt, khác với những gì xảy ra một cách ngẫu nhiên (nhậm vận 任運) hoặc bẩm sinh (câu sinh 倶生). 4. Hành vi, công hạnh. 5. Nghề nghiệp , thiên hướng. 6. Người tạo tác. 7. Hành động chỉ nhắm đến bề ngoài.. 8. Một trong Mười như thị đề cập trong Kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị 十如是
tách
To split—To separate.
tái
1) Repeat—Again—The second time. 2) Pale—White.
tái diễn
To happen again.
tái hồi
To see again.
tái lập
To set-up again—To re-establish.
tái phạm
To repeat an offence—To replase into a crime.
tái sanh
Paṭisandhi (S), Rebirth, Pratisaṃdhi (S), Re-birth.
; Rebirth—To be born again—To come to life again—Reincarnation: Sự tái sanh là do hậu quả của nghiệp. Theo niềm tin Phật giáo, không có sự đầu thai của một linh hồn hay một chất nào từ một thân xác nầy đến một thân xác khác. Cái thực sự xãy ra tiến trình tư tưởng chủ động của người sắp chết (Javana) phóng ra một số lực thay đổi tùy theo sự thanh tịnh của năm chập tư tưởng trong loạt nầy. Những lực nầy gọi là “năng lượng nghiệp” (Karma vega) tự nó lôi cuốn vào lớp vật chất tạo ra bởi cha mẹ trong dạ con người mẹ. Uẩn vật chất trong hợp chất phôi thai phải có những đặc tính khả dĩ có thể tiếp nhận loại năng lượng nghiệp đặc biệt nầy. Sự lôi cuốn theo cách thức này của những loại uẩn vật chất khác nhau tạo ra bởi cha mẹ xuất hiện do hoạt động của cái chết và đem lại sự tái sinh thuận lợi cho người sắp chết. Một tư tưởng bất thiện sẽ đưa đến một sự tái sanh không thuận lợi. Khi đầu thai, mỗi mỗi chúng sanh đều có hình dáng xấu đẹp, sang hèn khác nhau, đó đều là do các nghiệp nhân đã tạo ra khi còn mang thân tiền hữu cảm thành—Rebirth is the result of karma. In Buddhist belief, there is no transmigration of soul or any substance from one body to another. What really happens is that the last active thought (Javana) process of dying man releases certain forces which vary in accordance with the purity of the five thought moments in that series. These forces are called karma vega or karmic energy which attracts itself to a material layer produced by parents in the mother's'womb. The material aggregates in this germinal compound must possess such characteristics as are suitable for the reception of that particular type of karmic energy. Attraction in this manner of various types of physical aggregates produced by parents occurs through the operation of death and gives a favourable rebirth to the dying man. An unwholesome thought gives an unfavourable rebirth. Each and every type of sentient being will have different appearance whether it be beautiful or ugly, superior or inferior. This is determined and is manifested based solely on the various karma sentient beings created while alive with their antecedent bodies.
; (再生) Cũng gọi Trùng sinh. Chết rồi mà sống lại, hoặc bắt đầu 1 cuộc sống mới sau khi đón nhận 1 thứ tín ngưỡng nào đó; hoặc chỉ cho việc sinh ra lại ở thế gian. Phật giáo dùng tư tưởng luân hồi vốn có của Ấn độ cùng thuyết Nghiệp làm nền tảng mà thiết lập thuyết Luân hồi với sắc thái đặc biệt của mình. Thuyết này cho rằng do nghiệp thiện ác ở quá khứ mà mà sinh ra quả báo thiện ác ở hiện tại và rằng nghiệp thiện ác ở hiện tại sẽ mang lại quả báo thiện ác ở vị lai. Kẻ tạo nghiệp ác nhất định sẽ sinh trong đường ác địa ngục, ngã quỉ, súc sinh...; người gây nghiệp thiện như giữ gìn 5 giới thì quả báo là họ được sinh trở lại ở nhân gian hay trong cõi trời. Nếu người lắng nghe lời dạy của đức Phật và gắng sức thực hành những lời dạy ấy thì dứt trừ được nghiệp chướng, chắc chắn ra khỏi 6 đường luân hồi mà đạt đến cảnh giới giác ngộ giải thoát. Đến thời đại Phật giáo Đại thừa thì đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng lợi người, cho rằng Bồ tát đã hoàn toàn lợi mình lợi người, vì mục đích cứu độ chúng sinh mà thị hiện các thứ hình tướng, tái sinh vào thế gian để dẫn dắt loài người mê tối, giúp họ đạt đến cảnh giới giác ngộ sáng suốt, cho nên đề xướng hạnh Bồ tát lợi mình lợi người. Ngoài ra, tái sinh cũng chỉ cho tỉ khưu, vì khi tỉ khưu sinh vào cõi người, đó là sinh lần đầu, sau khi thụ đại giới là sinh lần thứ 2, cho nên gọi là Tái sinh.
tái sanh nghiệp
Janaka-kamma (P), Regenerative karma.
tái sanh tâm
Patisandhicitta (P), Rebirth consciousness Tâm luân hồi sanh tử.
tái sanh tộc
(再生族) Phạm:Dvija. Chủng tộc được quyền tái sinh theo chủ trương của Bà la môn giáo ở Ấn độ. Bà la môn giáo cho rằng trong 4 chủng tính lớn, chỉ có 3 chủng tính là Bà la môn, Sát đế lợi và Phệ xá có quyền lễ thần và đọc tụng kinh Phệ đà, vì thế đặc biệt được ban cho sinh mệnh lần thứ 2, gọi là Tái sinh tộc; còn chủng tính Thủ đa la, vì không có quyền lễ thần, tụng kinh và không được sinh ra lần thứ 2, nên gọi là Nhất sinh tộc.
tái sinh
Pratisamdhi (S). Rebirth.
tái thế
To come to life again—To be reborn.
tái thỉnh
(再請) Cũng gọi Tái tiến. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là mời ăn 1 lần nữa. Về sau Tái thỉnh được chuyển dụng thành nghĩa Thêm một chén nữa. Nhưng theo môn Ẩm đạm loại 25 trong Thiền lâm tượng khí tiên thì Tái tiến là do viết lầm từ Tái thỉnh mà ra.
tái thỉnh thiền
(再請禪) Sau khi hết giờ tọa thiền theo qui định, lại tiếp tục ngồi thiền nữa, gọi là Tái thỉnh thiền. Cũng tức là sau khi đánh chuông thông báo kết thúc giờ tọa thiền, lại ngồi thiền nữa, cho nên gọi là Định chung tọa thiền. Định chung, cũng gọi là Tọa chung, nghĩa là khi đến giờ chấm dứt ngồi thiền thì đánh chuông lớn để báo hiệu cho đại chúng biết. Cứ theo môn Tùng quĩ loại thứ 9 trong Thiền lâm tượng khí tiên thì qui tắc tọa thiền hễ đến giờ đánh Định chung thì chấm dứt việc ngồi thiền. Sau đó, nếu tọa thiền trở lại thì gọi là Tái thỉnh thiền. [X. điều Đại tọa tham chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.6; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.2].
tái vãng
The second time (reincarnation).
Tám báu vật
S: aṣṭamaṅgala; Hán Việt: Bát cát tường (八吉祥);|Tám vật tượng trưng cúng dường »Chúa tể thế gian« (ám chỉ Phật). Tám vật này hay được trưng bày trước tượng Phật trong các chùa Trung Quốc. Ðó là:|1. Dù trắng (s: sitāpatra): tượng trưng cao quý, trừ tà; 2. Hai con cá (s: matsyayugma): biểu tượng của chúa tể thế gian, sự giàu sang, thịnh vượng; 3. Tù-và (s: śaṅkha): sự toàn thắng; 4. Hoa Sen (s: padma): sự tinh khiết; 5. Bình Cam lộ (s: amṛta-kalaśa): chứa nước bất tử; 6. Ngọn cờ cuốn lại (s: dhvaja): sự chiến thắng; 7. Gút thắt vô tận (s: granthi): chỉ đời sống vô tận); 8. Pháp luân (s: dharmacakra).
Tám bộ nhân thiên
Tám loài chúng sanh thường dự nghe mỗi khi Phật giảng kinh Đại thừa. Cũng gọi là Tám bộ chúng: 1. Thiên (chư thiên, các vị cư trú từ các cõi trời Dục giới trở lên) 2. Long (loài rồng) 3. Dạ-xoa (loài quỷ Dạ-xoa biết tu hành, hộ pháp) 4. Càn-thát-bà (thần âm nhạc) 5. A-tu-la (loài có thần lực như chư thiên nhưng oai nghi, hình sắc thua kém hơn nhiều, cũng gọi là loài phi thiên) 6. Ca-lâu-la (thần chim cánh vàng) 7. Khẩn-na-la (loài đầu người mà có sừng) 8. Ma-hầu-la-già (loài rắn lớn).
tám công đức
Gồm: lắngsạch, trong mát, ngon ngọt, nhẹ dịu, nhuần trơn, an hoà, uống thì trừ được đói khát, uống rồi bổ khoẻ các căn- trừng tịnh: lặng, sạch - Thanh lãnh: trong mát - Cam mỹ: ngon ngọt - Khinh nguyến: dịu dàng - Nhận trạch: thấm nhuần - An hoà - Khi uống khỏi đói khát - Uống rồi thì nuôi lớn các căn và thân tứ đại thêm lợi ích.
Tám giải thoát
(Bát giải thoát): còn gọi là tám sự buông xả (bát bội xả), là tám phép thiền định giải thoát, bao gồm: 1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát: Ở trong sắc giới, quán nội sắc và ngoại sắc, nhằm trừ bỏ tâm ham thích sắc thể; 2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát: Không quán nội sắc, quán ngoại sắc, nhận ngoại sắc là ô nhiễm; 3. Tịnh thân tác chứng cụ túc tác giải thoát: Quán tưởng về thanh tịnh nhưng không chấp giữ; 4. Không vô biên xứ giải thoát: Vượt qua sắc thể, quán tưởng rằng hư không là vô biên; 5. Thức vô biên xứ giải thoát: Đạt đến ý niệm thức là vô biên; 6. Vô sở hữu xứ giải thoát: Đạt địa vị trong tâm không còn có vật gì; 7. Phi tưởng Phi phi tưởng xứ giải thoát: Đạt đến mức định Phi tưởng phi phi tưởng xứ; 8. Diệt tận định giải thoát: Đạt mức định Diệt thọ tưởng xứ.
; S: aṣṭavimokṣa;|Phép thiền định giúp hành giả vượt tám cấp thiền và giải thoát các vướng mắc về sắc và vô sắc. Tám giải thoát là: 1. Ở trong sắc giới, quán nội sắc và ngoại sắc, nhằm bỏ tâm ham thích sắc thể (nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát 内有色想觀外色解脱); 2. Không quán nội sắc, quán ngoại sắc, nhận ngoại sắc là ô nhiễm (nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát 内無色想觀外色解脱); 3. Quán tưởng về thanh tịnh nhưng không bám giữ (tịnh thân tác chứng cụ túc tác giải thoát 淨身作證具足作解脱); 4. Vượt qua sắc thể, nghĩ »hư không là vô biên« (Không vô biên xứ giải thoát 空無邊處解脱); 5. Ðạt »thức là vô biên« (thức vô biên xứ giải thoát 識無邊處解脱); 6. Ðạt tâm »không có vật gì« (vô sở hữu xứ giải thoát 無所有處解脱); 7. Ðạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ (phi tưởng Phi phi tưởng xứ giải thoát 非想非非想處解脱); 8. Ðạt cấp Diệt thụ tưởng xứ (diệt tận định giải thoát 滅盡定解脱). Cấp 1 của Tám giải thoát liên hệ với cấp 1, 2 của Tám thắng xứ, cấp 2 liên hệ với cấp 3, 4. Cấp 4-7 của Tám giải thoát đồng nghĩa với Bốn xứ.
Tám giới trai
(Bát quan trai), cũng gọi là Bát trai giới, Bát quan trai giới, tức là tám điều giới bao gồm: 1. Không giết hại sanh mạng. 2. Không trộm cướp, lường gạt, chiếm đoạt những thứ thuộc về người khác không tự ý đưa cho mình. 3. Giữ theo Phạm hạnh thanh tịnh, không phạm vào việc dâm dục. 4. Không nói dối, không nói lời không chân thật. 5. Không uống các thứ rượu. 6. Không thoa phết các loại dầu thơm, phấn sáp lên thân thể. 7. Không đi xem, nghe các trò ca múa, đàn hát. 8. Không ngồi nằm trên giường ghế cao rộng. Ngoài ra, người thọ giới còn phải giữ không ăn quá giờ ngọ, nghĩa là chỉ ăn một lần trong ngày vào trước giờ ngọ (giữa trưa). Người thọ Bát quan trai thường là trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn như một ngày, từ lúc được truyền giới cho đến lúc xả giới. Rất nhiều chùa hiện nay có tổ chức việc tu tập Bát quan trai giới mỗi tháng một hoặc hai ngày, nhưng thường không trọn một ngày một đêm mà chỉ giới hạn trong một ngày thôi.
tám hoàn cảnh buồn
Eight sad conditions Bát nạnTức là hoàn cảnh khó gặp Phật hay nghe pháp: - làm loài quỷ đói - làm thú vật - sanh ở Bắc Cu lư châu (Uttarakuru, một nơi cực lạc mà chúng sanh không có cơ hội nghe pháp) - sanh nơi cỏi trời (nơi thọ mạng lâu dài, nhàn cảnh nhưng chúng sanh không hề nghĩ đến giáo pháp) - bị điếc, đui, câm - làm triết gia khinh mạn Phật pháp - sanh giữa thời đức Phật hiện tại và đức Phật vị lai.
tám loại chúng sanh
Eight classes of beings Có tám hạng chúng sanh nghe Phật thuyết pháp: Chư thiên (devas), rồng (nagas),Dạ xoa (yaksas), Càn thát bà (gandarvas), A tu la (asuras), Ma hầu la dà (mahoragas), Khẩn na la (kinnaras).
tám loại chư thiên và thiên long
Eight divisions of Gods and Dragons.
tám mươi tùy hình hảo
Eighty secondary marks Bát thập hảo tướng.
Tám nan xứ
xem Tám nạn.
Tám ngọn gió
xem Tám pháp.
Tám nạn
(Bát nạn hay Bát nạn xứ): cũng gọi là Tám nạn xứ, Phạn ngữ: avakan, là tám điều kiện bất lợi, tám trường hợp không may có thể xảy ra trên con đường tu học, gây sự khó khăn trở ngại cho việc tu tiến. Tám nạn bao gồm: 1. Địa ngục (地 獄; Phạn ngữ: naraka); 2. Súc sanh(畜生; Phạn ngữ: tiryađc); 3. Ngạ quỉ (餓鬼; Phạn ngữ: preta); 4. Trường thọ thiên (長壽天; Phạn ngữ: dỵrghyurdeva), là cõi trời thuộc Sắc giới với thọ mạng cao. Thọ mạng cao cũng là một chướng ngại vì nó làm mê hoặc người tu, làm cho dễ quên những nỗi khổ của sanh lão bệnh tử trong luân hồi; 5. Biên địa (邊地; Phạn ngữ: pratyantajanapda), là những vùng không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học Chánh pháp; 6. Căn khuyết (根缺; Phạn ngữ: indriyavaikalya), không có đủ giác quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, câm, điếc... 7. Tà kiến (雅見; Phạn ngữ: mithydarśana), những kiến giải sai lệch, bất thiện; 8. Như Lai bất xuất sanh (如來不出生; Phạn ngữ: tathgatnm anutpda), nghĩa là sanh sống trong thời gian không có Phật hoặc giáo pháp của Phật xuất hiện. Trong một số kinh luận giải thích khác biệt về hai nạn xứ thứ 5 và thứ 7: biên địa được thay bằng châu Uất-đan-việt, vì cho rằng chúng sanh ở châu này hưởng nhiều sự sung sướng nên khó tu tập; tà kiến được thay bằng “thế trí biện thông”, vì cho rằng người học nhiều biết rộng sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp nhận Chánh pháp.
Tám nỗi khổ
(Bát khổ): 1. Sanh là khổ; 2. Già là khổ; 3. Bệnh là khổ; 4. Chết là khổ; 5. Mong cầu không được là khổ; 6. Năm ấm phát triển bất thường là khổ; 7. Xa lìa người thương yêu là khổ; 8. Gặp gỡ, gần gũi kẻ oán ghét là khổ.
Tám pháp
(Bát pháp), cũng gọi là Bát phong (Tám ngọn gió), chỉ tám điều làm ô nhiễm tâm thức của người thế gian, xúi giục người ta rơi vào con đường bất thiện. Tám pháp đó là: 1. lợi (những điều có lợi), 2. suy (những sự bất lợi, suy kém), 3. hủy (những sự mạ nhục, xúc phạm), 4. dự (những danh thơm, tiếng tốt), 5. xưng (những sự khen ngợi, tán tụng), 6. cơ (những sự chê trách, ghét bỏ), 7. khổ (những sự đau đớn, khổ sở), 8. lạc (những sự mừng vui, thích thú).
tám pháp
Gồm: giáo (=giáo lý), lý (=chân lý), trí (=quán giải), đoạn (=đoạn phiền não), hành (=hành pháp), vị (=vị thứ), nhân (=nhân thể của quả chứng đắc), quả, thánh quả.
tám pháp về cỏi cực lạc
Eight Dharmas for Pure Land Tám phương pháp để tái sanh vào cỏi Cực lạc: - thi ân bất cầu báo - nhẫn chịu đau khổ thay tất cả chúng sanh và hồi hướng công đức cho họ - công bằng đối với tất cả chúng sanh mà không kiêu ngạo hay ngã mạn - kính ngưỡng Bồ tát như chư Phật, không phân biệt Bồ tát với Phật - không lòng nghi ngờ khi mới nghe kinh - không nghịch với các tông phái khác (cùng trong Phật giáo) - tự răn không phân biệt việc nhận cúng dường và tặng vật nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân - tự nghiêm xét mà không cần biện giải nhằm đạt nhất tâm để hồi hướng công đức.
tám phép quán tưởng
xem tám thắng xứ.
tám phần xá-lợi
theo Du hành kinh trong Trường A-hàm, quyển 4 (Đại chánh tạng quyển 1, kinh số 01) thì các nước đến phân chia xá-lợi Phật gồm có: 1. Nước Già-la-ba (Amalakapa), dân tộc Bạt-la (Bulaya); 2. Nước La-ma-ca (Rmagrma), dân tộc Câu-lợi (Kaulya); 3. Nước Tỳ-lưu-đề (Veṭhadipa), người dòng Bà-la-môn; 4. Nước Ca-duy-la-vệ (Kapilavastu), dòng họ Thích-ca (kya); 5. Nước Tỳ-xá-lợi (Vaili), dòng họ Ly-xa (Licchavỵ); 6. Nước Ma-kiệt-đà (Magadha) của vua A-xà-thế (Ajtaśatru). 7. Nước Tỳ-ly (Vṛji) hay Tỳ-ly-tử; phần xá-lợi thứ tám thuộc về người dân thành Câu-thi-na (Kuśinagara).
tám sự buông xả
xem tám giải thoát.
Tám Thánh đạo
(Bát Thánh đạo hay Bát Chánh đạo): Tám pháp chân chánh mà người tu tập phải noi theo để trừ dứt mọi nguyên nhân của khổ não. Bát Chánh đạo bao gồm: 1. Chánh kiến (thấy biết chân chánh), 2. Chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh), 3. Chánh ngữ (lời nói chân chánh), 4. Chánh nghiệp (hành động, việc làm chân chánh), 5. Chánh mạng (nuôi sống bằng nghề nghiệp chân chánh), 6. Chánh tinh tấn (tinh tấn, chuyên cần đúng Chánh pháp), 7. Chánh niệm (niệm tưởng chân chánh, duy trì sự tỉnh thức không vọng niệm), 8. Chánh định (thiền định chân chánh). Bát Chánh đạo cũng chính là Đạo đế trong Tứ đế.
Tám thánh đạo
S: ārya-aṣṭāṅgika-mārga; P: ariya-aṭṭhāṅgika-magga;|Bát chính đạo
Tám thắng xứ
Thắng xứ: S, P: abhibhāvāyatana;|Tám phép thiền định để vượt dục giới bằng cách làm chủ các thụ tưởng. Các phép thiền định này được trình bày rất sớm trong các kinh sách đạo Phật. Tám thắng xứ là: 1. Quán nội sắc, quán ngoại sắc có hạn lượng. 2. Quán nội sắc, quán ngoại sắc vô hạn lượng. Hai giai đọạn này giúp hành giả từ bỏ lòng ham muốn các sắc và tương ưng cấp 1 của Tám giải thoát (s: aṣṭavimokṣa). 3. Quán vô sắc ở nội tâm, quán ngoại sắc có hạn lượng. 4. Quán vô sắc ở nội tâm, quán ngoại sắc vô hạn lượng. Hai giai đoạn này giúp hành giả kiên cố chính định và tương ưng với cấp 2 của Tám giải thoát. Trong giai đoạn 5 đến 8, hành giả quán vô sắc ở nội tâm, thấy ngoại sắc màu xanh, vàng, đỏ, nhằm ngăn chận lòng ham muốn sắc thể đẹp xấu. Các giai đoạn 5-8 tương với cấp thứ ba của Tám giải thoát và cấp 5-8 của phép quán biến xứ (p: kasiṇa).|»Quán nội sắc« có nghĩa là lựa một chỗ lớn (vô hạn) hay chỗ bé (có hạn) trên thân và tập trung quán sát nó, sau nhiều lần thấy nó chỉ là phản ánh của tâm. Trong giai đoạn 3. và 4., hành giả lựa một ngoại sắc (thí dụ một cánh hoa). Lựa ngoại sắc thì nên lấy một ngoại sắc nhỏ dành cho người có tâm bất định, ngoại sắc lớn dành cho người có tâm si mê, ngoại sắc đẹp dành cho người hay từ chối, ngoại sắc xấu dành cho người còn tham dục.
tám thắng xứ
hay tám phép quán tưởng, được kể ra như sau: 1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc thiểu thắng xứ, 2. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc đa thắng xứ, 3. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc thiểu thắng xứ, 4. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc đa thắng xứ, 5. Thanh thắng xứ, 6. Hoàng thắng xứ, 7. Xích thắng xứ, 8. Bạch thắng xứ. Theo Trí độ luận thì bốn pháp sau (quán bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng) được thay bằng bốn đại (đất, nước, gió, lửa), nhưng nội dung không khác.
tám thứ bệnh nhiệt
chỉ tám nỗi khổ của chúng sanh (Bát khổ). Xem tám nỗi khổ.
tám thứ ma
(bát chủng ma, hay bát ma), gồm có: ma phiền não, ma năm ấm, ma chết, ma trời Tha hóa tự tại (là những yếu tố não hại tất cả phàm phu) và vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh (là những yếu tố não hại những người tu tập thuộc hàng Nhị thừa).
Tám trí
(Bát trí): hành giả do sự quán sát Bốn chân đế và chứng đắc Bốn chân đế trong phạm vi Dục giới nên đạt được Tứ pháp trí (四法智), sau đó tiếp tục chứng đắc Bốn chân đế ở hai cõi trên là Sắc giới và Vô sắc giới, đạt được Tứ loại trí (四類智). Tứ pháp trí và Tứ loại trí hợp thành Bát trí, là những phần ban sơ của Vô lậu trí.
tám tài năng tối thượng của thành tựu giả
- Trí làm cho cái hữu sắc tan biến vào trong cái vô sắc - Trí thấy biết cảnh tượng khách quan không có thực tại - Trí thâm nhập tất cả, biến đổi nghiệp thành sự giải thoát đối với thề giới hiện hữu - Trí thông suốt cái chân thật hay Niết bàn - Trí thành tựu trí giác cho tha nhân - Trí thành tựu cái vĩnh cữu hay thể hiện Tâm - Trí làm chủ sự vật - Trí thành tựu sự biến dổi.
tám vật bất tịnh
(bát bất tịnh vật): chỉ chung tất cả những vật dụng, tài sản mà đức Phật không cho phép các vị tỳ-kheo chứa giữ. Theo sách Án Luật (案律) thì bao gồm: 1. ruộng vườn, đất đai (điền viên), 2. các loại giống cây trồng (chủng thực) 3. lúa thóc, tơ lụa (cốc bạch) 4. tôi tớ, người giúp việc (nhân bộc), 5. các loại chim thú, gia súc (cầm thú) 6. tiền bạc, của cải (tiền bảo) 7. chăn đệm, nồi chảo (nhục phủ) 8. vàng bạc, đồ trang sức và hết thảy các vật có giá trị (tượng kim sức sàng cập chư trọng vật). Theo giới luật thì vị tỳ-kheo không được sở hữu các vật bất tịnh này, vì gây trở ngại cho việc tu tập và làm mất oai nghi, đạo hạnh. Cách hiểu về Bát bất tịnh đôi khi có khác nhau ở một số người, nhưng nói chung tất cả đều đồng ý rằng đây là những thứ “có giá trị đối với thế gian nhưng không giúp ích gì cho việc tu tập”. Ngoài ra, ngay cả với những thứ nhu yếu cần cho đời sống thường ngày, nếu vị tỳ-kheo nhận lãnh vừa đủ, đúng pháp thì là thanh tịnh, nếu tham giữ nhiều hơn, không đúng pháp thì là bất tịnh.
Tám điều giác ngộ
tám sự rõ biết của bậc đại nhân được giảng rõ trong kinh Bát đại nhân giác: 一世間無常覺,二多欲為苦覺,三心無厭足覺,四懈怠墮落覺,五愚痴生死 覺,六貧苦多怨覺,七五欲過患覺,八生死熾然苦惱無量覺。 Một là biết rõ thế gian vô thường; hai là biết rõ nhiều tham dục là khổ; ba là biết rõ tâm không nhàm chán, không biết đủ, nên phải lưu ý mà phòng hộ, xa lìa năm món dục; bốn là biết rõ sự lười nhác dẫn đến trụy lạc, sa đọa; năm là biết rõ sự ngu si là cội gốc dẫn đến phải trầm luân trong sanh tử, cho nên cần phải tinh tấn học hỏi Chánh pháp để thoát ra; sáu là biết rõ sự nghèo khổ bần cùng sanh nhiều oán hại, dễ sa vào tội lỗi, vì thế phải mở rộng lòng bố thí, cứu giúp những kẻ bần cùng; bảy là biết rõ chỗ xấu ác, gây ra lỗi lầm của năm món dục; tám là biết rõ sanh tử như ngọn lửa thiêu đốt khổ não vô lượng.
tám đưồng giải thoát
tel wa gye (T), Eight freedoms, Aṣṭakśana (S), tel wa gye (T).
tám đường địa ngục
Eight hells.
Tám đức tự tại
chỉ tám sự tùy biến thị hiện của bậc giác ngộ, được giảng rõ trong quyển 23, bắt đầu từ trang 498 của Tập 4 kinh Đại Bát Niết-bàn (bản Việt dịch 2009). Tám đức ấy là: 1. Có thể hiện một thân thành nhiều thân, không có ngăn ngại; 2. Có thể thị hiện một thân nhỏ như hạt bụi trùm khắp đại thiên thế giới, không có ngăn ngại; 3. Có thể thị hiện thân lớn lao mà nhẹ nhàng bay đến bất cứ nơi xa xôi nào, không có ngăn ngại; 4. Có thể thị hiện thành vô số loài chúng sanh khác nhau thường sống trong cùng một thế giới, không có ngăn ngại; 5. Có thể sử dụng các căn hỗ trợ, thay thế cho nhau, như mắt có thể nghe, tai có thể thấy... một căn có thể nhận biết cả sáu trần, không có ngăn ngại; 6. Có thể chứng đắc tất cả các pháp không ngăn ngại nhưng không hề khởi lên ý tưởng có sự chứng đắc; 7. Có thể giảng thuyết ý nghĩa của một bài kệ trải qua vô số kiếp, không có ngăn ngại; 8. Có thể biến hiện một thân trùm khắp mọi nơi như hư không, không có ngăn ngại, khiến cho tất cả chúng sanh đều được trông thấy; dù trông thấy được, nhưng thân ấy thật cũng như hư không, không có hình tướng.
tán
Stotra (S), Stava (S), Sataka (P), Stava (S), Sataka (P)Bài kệ tụng khen ngợi kinh điểnTụng, KệBài tán.
; Viprakrì (S). Scatter, disperse, dismiss.
; (酂) Cũng gọi Xã, Thiền, Thiện, Xà, Tiêu, Nặc, Sa, Ta. Chỉ cho chữ (Jha), 1 trong 50 chữ cái Tất đàm, là tiếng hàng phục các quân ma, có năng lực chế phục các ngôn ngữ xấu ác, là tiếng tất cả pháp chiến địch bất khả đắc. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì Xã ma la nghĩa là chiến địch, nếu thấy chữ Xã thì biết tất cả pháp đều có chiến địch, như các pháp thiện và bất thiện, ngược dòng sinh tử và xuôi dòng sinh tử, bố thí và xan tham, trì giới và phá giới, cho đến trí tuệ và vô minh... ở thế gian đều đối đãi nhau, được thua vô thường. Cho đến việc đức Như lai ứng hóa ở đời, tất cả trí lực được sử dụng để phá trừ các quân ma đều gọi là chiến. Nhưng tất cả pháp vốn chẳng sinh, cho đến chẳng có bóng dáng, thực không có sự chiến đấu giữa Phật giới và ma giới, cho nên lúc Phật ngồi ở đạo tràng, chỉ thấy rõ các pháp không có tướng đối lập, cái gọi là chiến thắng chỉ là do người đời khi bàn về nghĩa lí mà tự lập ra. Chữ Tán hiện nay không có tiếng Phạm tương đương, hoặc là thuộc tục ngữ. Ngoài ra, kinh Phương quảng đại trang nghiêm bằng tiếng Phạm có câu jhawadhvaja-bala-nigrahaịa-zabda, là âm thanh có năng lực hàng phục thần cá tràng; trong câu này có chữjhawa cũng có nghĩa là rừng rậm. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 8 (Đại 12, 413 hạ) nói: Thiện nghĩa là phiền não xanh tốt, ví như rừng rậm rất có thểđãcăn cứ vào nghĩa của chữ Tán này. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; kinh Phật bản hạnh tập Q.10; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; phẩm Thích tự mẫu kinh Du già kim cương đính].
tán a di đà phật kệ
(讚阿彌陀佛偈) Cũng gọi Đại kinh phụng tán, Vô lượng thọ kinh phụng tán, Tán A di đà kệ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm loan soạn vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này, tác giả dựa vào kinh Vô lượng thọ, dùng phương thức kệ tụng tán thán công đức trang nghiêm của Phật A di đà, mỗi câu 7 chữ, tất cả có 195 hàng, 390 câu. Trong đó, 28 hàng đầu khen ngợi 12 tôn hiệu Phật A di đà, 167 hàng còn lại khen ngợi chúng Thánh ở Tịnh độ và sự trang nghiêm của quốc độ y báo, đồng thời trình bày ý quy y Phật A di đà của chính tác giả. Mỗi tiết của các câu kệ đều có phụ thêm văn lễ bái Nam mô Chí tâm quy mệnh lễ Tây phương A di đà Phật, Nguyện cộng chư chúng sinh, Vãng sinh An lạc quốc.
tán bàn
(散盤) Cũng gọi Như ý tọa. Tư thế ngồi xếp bằng, tức là chẳng phải kết già, cũng chẳng phải bán già mà là 2 bắp chân tréo vào nhau, đặt ở dưới 2 bắp đùi.
tán ca
(讚歌) Phạm:Stava, Stotra, Stuti, Saôgìti. Cũng gọi Tán, Tán tụng. Những câu văn vần khen ngợi công đức cao cả của chư Phật, Bồ tát, Tổ sư. Nội dung của tán ca ngoài ý nghĩa khen ngợi, có khi cũng bao hàm tính chất thí dụ, sự tích. Ở Ấn độ từ xưa đã có tán ca, như các bài tán ca về thần Tì thấp nô (Phạm:Viwịu) và Thấp bà (Phạm:Ziva), từ trong văn học Phú lan na (Phạm: Puràịa) mà về chỉ thú rất giống với tán ca của Phật giáo. Tán ca về đức Phật được thấy sớm nhất trong Đại sự (Phạm: Mahàvastu), rồi trong các kinh cũng có rất nhiều kệ tụng khen ngợi công đức của Phật.Những tán ca trở thành tác phẩm độc lập thì có Trưởng lão kệ và Trưởng lão ni kệ trong kinh điển tiếngPàli. Trong kinh điển tiếng Phạm được dịch ra chữ Hán thì thấy có Phật sở hành tán của ngài Mã minh, Kiền trùng Phạm tán, Phật tam thân tán, Phổ hiền bồ tát hành nguyện tán, Thất Phật tán bái già đà, Tán hương Đa la bồ tát nhất bách bát danh tán... Trong Lễ tán bộ của Đại tạng kinh Tây tạng thì thấy có Pháp giới tán (Phạm: Dharmadhàtustava), Vô thí tán (Phạm: Nirupamastava), Siêu thế gian tán (Phạm:Lokàtìtastava) do ngài Long thụ soạn, Pháp thân vị công đức tán do ngài Vô trước soạn, Như lai danh ca hiền kiếp trang nghiêm man do ngài Tát ca tư lợi ba đắc lạp soạn... Ngoài ra, còn có luận Kim cương châm (Phạm:Vajrasùcì) cũng suy đoán là do ngài Mã minh soạn; các tác phẩm của ngài Ma hí lí chế tra (Phạm:Màtfceỉa)–1 thi nhân về tán Phật kế sau ngài Mã minh –như Nhất bách ngũ thập tán Phật tụng (Phạm: Zatapaĩcàsatkastotra), Tứ bách tán (Phạm:Catu#zataka). Vào thế kỉ thứ VII, vua Giới nhật cũng có các tác phẩm về tán Phật, như Long vương chi hỉ (Phạm: Nàgànanda), Bảo hành vương chính luận (Phạm:Ratnàvalì), Thanh dung phụ nhân (Phạm:Priyadarzikà), Bát đại linh tháp phạm tán (Phạm: Awỉama hàzrìcaityastotra). Vào thế kỉ thứ XI, thi nhân người nước Ca thấp di la là Khắc tuyết mạn đức lạp (Phạm: Kwemendra), tuy là nhà thơthuộc pháiTì thấp nô, nhưng cũng rất kính mến Phật giáo, đã soạn Thí dụtập (Phạm: Avadàna-kalpalatà) khen ngợi đức của Phật. Tán ca của Phật giáo Trung quốc bắt đầu với các tác phẩm: Thích ca văn Phật tượng tán, A di đà Phật tượng tán và Chư Bồ tát tượng tán dongài Chi đạo lâm soạn vào thời Đông Tấn. Từ đó về sau lần lượt có: Tán A di đà Phật kệ của ngài Đàm loan đời Bắc Ngụy, Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo đời Đường, Vĩnh gia chứng đạo ca của ngài Huyền giác đời Đường, Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch đời Tống và Thích ca Như lai giáng sinh lễ tán văn của ngài Nhân nhạc đời Tống... Lại trongkhốisách vở đào được ở Đôn hoàng thì có: Tịnh độ lễ tán, Đại thừa tịnh độ tán, Niệm Phật tán, Ma ni giáo hạ bộ tán... Tại Nhật bản thì Hòa tán là 1 hình thức độc đáo, lưu hành rất rộng rãi trongdân gian.[X. Lương cao tăng truyện Q.13; Xuất tam tạng kí tập Q.12; Quảng hoằng minh tập Q.15].
tán chi ca
Xem Bán chi ca.
tán chi đại tướng
(散脂大將) Tán chi, Phạm: Saôjĩeya. Hán âm: Tăng thận nhĩ da. Cũng gọi Tán chi ca đại tướng, Tán chi đại tướng, Tăng thận nhĩ da đại dược xoa đại tướng (Phạm: Saôjĩeya-mahàyakwa), Tán chi quỉ thần. Hán dịch: Chính liễu tri. Là 1 trong 8 Đại tướng của Tì sa môn thiên vương ở phương Bắc, cai quản 28 bộ chúng; con thứ của Quỉ tử mẫu, cha tên là Đức xoa ca. Có thuyết cho rằng Tán chi Đại tướng là chồng của Quỉ tử mẫu. Vị Đại tướng này tận lực hộ trì Phật pháp, cầm đầu 28 bộ các thần Dược xoa, ẩn hình ở mọi nơi ủng hộ các vị Pháp sư nói pháp và cứu giúp thiện nam, tín nữ trong cơn hoạn nạn, khiến lìa khổ được vui.Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 7 thì hình dáng của vị Đại tướng này rất xấu xí, có 3 mặt ở ngực, 2 mặt ở rốn, 2 mặt ở 2 đầu gối, mặt như mặt voi, răng giống răng chó, mắt tuôn ra lửa, chảy xuống như dòng nước. [X. phẩm Tăng thận nhĩ da dược xoa đại tướng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.8; Đại dược xoa nữ hoan hỉ mẫu tinh ái tử thành tựu pháp; Đại nhật kinh sớ Q.5].
tán chúng
(讚衆) Tăng chúng xướng kệ khen ngợi trong pháp hội và lễ Quán đính. Trong đó, người cất tiếng xướng các chữ đầu của bài kệ gọi là Tán đầu, tăng chúng còn lại tán tụng họa theo gọi là Tán chúng.
tán cung
(散供) Tung rải các vật cúng để cúng dường Phật, như tung hoa, rải hoa gọi là Tán hoa; tung rải gạo gọi là Tán mễ; tung rải giấy, tiền gọi là Tán chỉ, Tán tiền,... Tung rải tiền bạc, tài vật để cúng người chết cũng được xếp vào Tán cúng. [X. phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại phương đẳng đại vân Q.64; kinh Bất không quyên sách đà la ni tự tại vương chú Q.thượng].
tán cơ
(散機) Chỉ cho căn cơ(người)có tâm thần tán loạn không thể tu định thiện. Cũng chỉ người thực hành bỏ ác tu thiện(tán thiện) trong cuộc sống ngày thường. (xt. Định Tán).
tán dương
To praise, laud, commend.
tán dương thánh đức đa la bồ tát nhất bách bát danh kinh
Ārya-tārābhattarikāyā-nāmastot-tārā-satakā (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
tán dương đa la bồ tát nhất tách bát danh tán
Ārya-tārā-nāmastottarasataka-stotra (S)Tên một bộ luận kinh.
tán hoa
To scatter flowers in honour of a Buddha, etc.
; (散華) I. Tán Hoa. Rải hoa cúng Phật. Kinh Đại bát nhã ba la mật quyển 554, kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển hạ, kinh Hoa thủ quyển 4... đều có 1 phẩm nói về tán hoa. Ngoài ra còn có nhiều kinh khác nói về cách tán hoa và công đức của việc tán hoa. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 272 trung) nói: Treo phan đốt đèn, tán hoa thắp hương, hồi hướng công đức này nguyện sinh về cõi nước kia. Khi cử hành pháp hội, có nghi thức tán hoa trước Phật, tức trong khi tiến hành nghi thức, đặt hoa tươi và những cánh sen bằng giấy vào trong lẵng hoa, rồi vừa ngâm, tụng già đà (Phạm:Gàthà), vừa đi (hoặc nhiễu Phật) vừa tán hoa. Như Pháp sự tán hoa của ngài Thiện đạo và Ngũ hội pháp sự tán của ngài Pháp chiếu đời Đường... đều có nói về nghi thức tán hoa này. Trong các pháp sự của Phật giáo Nhật bản, Tán hoa là 1 trong 4 pháp yếu của Hiển giáo, 1 trong 2 pháp yếu của Mật giáo, vị tăng coi về Tán hoa được gọi là Tán hoa tăng. Tán hoa tăng cùng với các chức vị: Giảng sư, Độc sư, Chú nguyện sư, Tam lễ sư, Bái sư và Đường đạt được gọi chung là Thất tăng. [X. kinh Quán đính Q.12; luận Đại trí độ Q.55; phẩm Tán hoa trong luận Thuyết pháp minh nhãn Q.thượng]. II. Tán Hoa. Chỉ cho văn tán tụng trong kinh điển. Văn kệ tụng được xướng đọc trong pháp hội để trang nghiêm đạo tràng, cúng dường chư Phật, gọi là Tán hoa văn.
tán hương
(散香) Chỉ cho hương bột. Tức loại hương được nghiền nát như phấn, không vê thành viên, được dùng làm 1 trong những vật cúng khi tu pháp Hộ ma của Mật giáo. Tán hương có ý nghĩa tượng trưng cho những phiền não nhỏ nhiệm; khi tu pháp, tán hương được bỏ vào lò, đốt lên để cúng dường. Trong các vật cúng này, hoa cắt và hương viên biểu thị tham và sân trong 3 độc, còn tán hương thì biểu thị si. Ngoài ra, tán hương cũng biểu thị ý nghĩa tinh tiến.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.7 (bản Bắc); Huyền ứng âm nghĩa Q.2; Nhũ vị sao Q.7]. (xt. Hoàn Hương).
tán không
Anavakara-śŪnyatā (S)Bất xả không, Bất xả ly khôngCác pháp giả hoà hợp, cuối cùng đều là tướng tan diệt.
tán loạn
Viksepta (S).
; Scattered, dispersed, unsettled, disturbed, restless.
; (散亂) Phạm: Vikwepa. Cũng gọi Tán động, Tâm loạn. Khi duyên cảnh, tâm loạn động, không chuyên nhất, là 1 trong 100 pháp của tông Duy thức, 1 trong các Tùy phiền não. Luận Đại thừa quảng ngũ uẩn (Đại 31, 853 hạ) nói: Thế nào là tán loạn? Nghĩa là tham, sân, si khiến tâm, tâm sở tán loạn làm tính, thường gây chướng ngại cho việc lìa dục làm nghiệp. Về vấn đề thể tính của tâm tán loạn thật hay giả thì trong các luận có nhiều thuyết khác nhau. Theo thuyết trong luận Du già sư địa quyển 55 thì Tán loạn chỉ thuộc về si; còn theo thuyết trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì cho rằng Tán loạn thuộc cả 3 thứ tham, sân, si và 2 thuyết đều chủ trương Tán loạn không có thể riêng biệt. Nhưng ngài Hộ pháp thì cho Tán loạn có tự thể riêng của nó. Cứ theo Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 9 thì sự tán loạn của tâm khởi lên do 4 chướng: Khí xả chướng,Viễn li chướng, An thụ chướng và Sác trị chướng. Về chủng loại tán loạn thì các kinh luận nói cũng đều khác nhau: 1. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 8nói có 2 thứ tán loạn: a. Hạ ý tán loạn: Sự tán loạn thích cầu Tiểu thừa và mê muội Đại thừa. b. Phân biệt tán loạn: Sự tán loạn sinh khởi khi phân biệt tư duy về Tam luân 2. Luận Nhiếp đại thừa quyển 9 (bản dịch đời Lương) nêu 5 thứ tán loạn: a. Tự tính tán loạn: Sự tán loạn do 5 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi và thân không giữ tự tính, đuổi theo ngoại cảnh, niệm niệm đổi khác. b. Ngoại tán loạn: Ý thức rong ruổi, chạy theocáctrần cảnh bên ngoài, khởi lên các thứ phân biệt. c. Nội tán loạn: Tâm sinh cao thấp, niệm niệm biến hóa không định. d. Thô trọng tán loạn: Do chấp trước cái ta, cái của ta(như thân ta, tiền tài, ruộng vườn, nhà cửa, quyến thuộc của ta...) mà khởi lên tán loạn. e. Tư duy tán loạn: Bồ tát lìa bỏ Đại thừa, tư duy về Tiểu thừa mà khởi tâm động tác, không được tĩnh lặng. Trong luận Lục môn giáo thụ tập định cũng nêu 5 thứ tán loạn là Ngoại tâm tán loạn, Nội tâm tán loạn, Tà duyên tâm tán loạn, Thô trọng tâm tán loạn và Tác ý tâm tán loạn, ý nghĩa đại khái cũng giống với 5 thứ tán loạn vừa trình bày ở trên. 3. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 18, luận Biện trung biên quyển hạ và luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 nêu 6 thứ tán loạn: a. Tác ý tâm tán loạn, cũng gọi Tư duy tán loạn. b. Ngoại tâm tán loạn, cũng gọi Ngoại duyên tán loạn. c. Nội tâm tán loạn, cũng gọi Nội tán độngd. Tướng tâm tán loạn, cũng gọi Tướng tán động. Nghĩa là giả dối làm thiện nên trong tâm không an ổn. e. Thô trọng tâm tán loạn, cũng gọi Thô hoặc tán loạn. f. Tự tính tâm tán loạn, cũng gọi Tự tính tán động. 4. Nhiếp đại thừa luận bản quyển trungnêu 10 thứ tán động: a.Vô tướng tán động, cũng gọi Vô hữu tướng tán động. Nghĩa là chấp trước Vô tướng. b. Hữu tướng tán động: Chấp trước hữu tướng. c. Tăng ích tán động: Chấp trước có tăng ích vô sở hữu. d. Tổn giảm tán động: Chấp trước vô tổn giảm thực hữu. e. Nhất tính tán động, cũng gọi Nhất chấp tán động. Chấp trước y tha phân biệt là không. f. Dị tính tán động, cũng gọi Dị chấp tán động. Chấp trước sắc, không khác nhau. g. Tự tính tán động, cũng gọi Thông tán động. Chấp trước sắc có chất ngại. h. Sai biệt tán động, cũng gọi Biệt tán động. Chấp trước sắc có sinh, diệt, nhiễm, tịnh... i. Như danh thủ nghĩa tán động, cũng gọi Như danh khởi nghĩa tán động. Chấp trước danh như nghĩa. k. Như nghĩa thủ danh tán động, cũng gọi Như nghĩa khởi danh tán động. Y cứ theo nghĩa mà khởi chấp trước về danh. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (Vô tính); luận Đại thừa bách pháp minh môn; luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].
Tán loạn 散亂
[ja] サンラン sanran ||| (Skt. vikṣepa; Tib. rnam par gyeṅ ba) 'distraction,' 'scattering.' One of the twenty secondary defilement elements (隨煩惱) in the doctrine of the Yogācāra school. A condition of the mind of wandering through the fields of the six senses and not stopping for an instant. Equivalent in meaning to 掉擧. 〔成唯識論T 1585.31.33b〕 => (s: vikṣepa; t: rnam par gyeṅ ba) Một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Duy thức. Tình trạng tâm rong ruỗi theo cảnh giới của 6 căn không một chút dừng nghỉ, Tương đương với Trạo cử 掉擧.
tán lâm kỷ tang
(贊林紀桑) Tục gọi: Lâm ca tiết. Lễ tế thần của Phật giáo Tây tạng, được cử hành từngày15 đến ngày 24 tháng 5 hằng năm theo lịch Tây tạng, ở trong rừng liễu, vùng ngoại ô thủ đô Lạp tát (Lhasa). Tán lâm kỉ tang vốn là 1 trong 4 lễ cúng dường lớn(tức chùa Đại chiêu cúng dường tạng Luật, chùa Xương châu cúng dường tạng Luận, chùa Tang da cúng dường tạng Kinh và bồ đề) được sáng lập vào thời vua Mâu ni Tán phổ (ở ngôi 797-798) thuộc vương triều Thổ phồn. Theo truyền thuyết ngày 15 tháng 5 Tạng lịch là ngày các thần ở thế gian nhóm họp, dân chúng ở khắp nơi thắp hương ở các cành cây để cúng dường, Tán lâm kỉ tang bắt nguồn từ ngày này.
tán nghi tam muội
A samàdhi free from all doubt.
tán nghiệp
The good karma acquired in a life of activity.
; (散業) Đối lại: Định nghiệp. Chỉ cho nghiệp thiện được tạo tác bằng tâm tán loạn. Vãng sinh yếu tập quyển hạ, phần cuối, chia sự niệm Phật làm 4 thứ: 1. Định nghiệp: Vào thiền định mà quán tưởng Phật. 2. Tán nghiệp: Trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, dùng tán tâm niệm Phật. 3. Hữu tướng nghiệp: Hoặc quán tướng hảo, hoặc niệm danh hiệu, nhàm chán Uế độ, chuyên cầu Tịnh độ. 4. Vô tướng nghiệp: Tuy xưng niệm danh hiệu Phật, thích cầu Tịnh độ, nhưng quán xét thân Phật, và cõi Phật rốt ráo là không. (xt. Định Nghiệp Bất Định Nghiệp).
tán nghiệp niệm phật
To repeat the name of Buddha generally and habitually.
tán ngưỡng
(讚仰) Miệng khen ngợi và tâm kính ngưỡng công đức cao dày của Phật. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 422 hạ) nói: Được nghe đức hiệu A di đà, tâm vui mừng tán ngưỡng qui y. Thắng man bảo quật quyển thượng cho rằng kính mến bậc trên là ngưỡng, tương đương với nghĩa tán ngưỡng.Có chỗ nói Tán là lời khen ngợi thuộc khẩu nghiệp, còn ngưỡng là sự lễ bái thuộc thân nghiệp.
tán nhật
The dispersing day, the last of an assembly.
tán ninh
(贊寧) (919-1001) Cao tăng kiêm học giả Trung quốc sống vào đời Tống, người ở Đức thanh, tỉnh Chiết giang, họ Cao. Sư xuất gia ở chùa Tường phù tại Hàng châu. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư học thông 3 tạng, đặc biệt giỏi về luật Nam sơn, trong khi đàm luận, lời lẽ của sư rất phóng khoáng, hùng hồn, khuất phục mọi biện bác của người khác. Người đương thời khen tặng sư danh hiệu Luật hổ. Sư còn tinh thông cả sách vở của Nho học và Đạo giáo, rất giỏi về văn chương, tiếng tăm ngày càng lừng lẫy, được giới vương hầu, danh sĩ đương thời kính ngưỡng. Vua Tiền hoằng thục nước Ngô Việt kính mến đức của sư, bổ nhiệm sư làm Tăng thống Lưỡng chiết, lại ban cho danh hiệu Minh Nghĩa Tông Văn Đại Sư. Về sau, vua Thái tông nhà Tống đối đãi với sư càng trọng hậu hơn. Năm Thái bình hưng quốc thứ 3 (978), vua ban cho sư danh hiệu Thông Tuệ Đại Sư, đồng thời bổ nhiệm sư giữ các chức vụ như: Hàn lâm sử quán biên tu, Tả nhai giảng kinh thủ tọa, Tây kinh giáo sự, Hữu nhai tăng lục... Năm Hàm bình thứ 4 (1001), sư nhập tịch, thọ 83 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tống cao tăng tuyện, Thứu lãnh thánh hiền lục, Đại tống tăng sử lược, Nội điển tập, Sự sao âm nghĩa chỉ qui, Ngoại học tập... [X. Phật tổ thống kỉ Q.44; Thích thị kê cổ lược Q.4; Luật uyển tăng bảo truyện Q.8].
tán niệm tụng
(散念誦) Cũng gọi Tùy ý niệm tụng, Chư tạp niệm tụng, Gia dụng niệm tụng. Đối lại: Chính niệm tụng. Chỉ cho sự tụng niệm xen lẫn. Nghĩa là khi tu pháp Mật giáo, hành giả không chỉ giới hạn tụng niệm châm ngôn của vị Bản tôn mà còn tụng niệm xen lẫn chân ngôn của chư tôn khác. Hành giả tụng niệm chân ngôn của các vị tôn có duyên với Bản tôn và tụng niệm chân ngôn của các vị tôn có duyên với hành giả, có thể làm cho uy lực của vị Bản tôn tăng lên gấp bội, nhờ đó sở nguyện của hành giả cũng được đầy đủ. [X. Đại dược xoa nữ hoan hỉ mẫu tinh ái thành tựu pháp; Bí tạng kí; Kim cương đính kinh du già thập bát hội chỉ qui; Nhũ vị sao Q.2]. (xt. Niệm Tụng).
tán noa lý minh phi
Caṇḍalī (S)Nội hỏa tam muộiMột trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở tây bắc cung.
tán pháp giới tụng
Dharmadhātu stotra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Dharmadhàtustotra (S).
tán phật
(讚佛) Cũng gọi Thán Phật. Khen ngợi xưng dương công đức của Phật.Theo Thích thị yếu lãm quyển trung, nếu có người khen ngợi Như lai bằng bài kệ 4 câu với tâm vui mừng thì công đức mà người ấy đạt được còn nhiều hơn cả công đức của người dâng các thứ như y phục, đồ trải để nằm, ngồi, thuốc thang, thức ăn uống... cúng dường vị Bích chiphật trong 100 năm.
tán phật kệ
(讚佛偈) Cũng gọi Thán Phậtkệ. Kệ tụng khen ngợi công đức, tướng hảo của Phật. Theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 4 thì vào thời quá khứ, đức Thích tôn đã từng khen ngợi Phật Phất sa bằng bài kệ 4 câu như sau (Đại 3, 670 thượng): Tất cả trời, người không bằng Phật, Thế giới mười phương chẳng ai bì; Tất cả thế gian con đã thấy Hết thảy không ai được như Phật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng cũng nói, thủa quá khứ, lúc đức Phật A di đà còn là tỉ khưu Pháp tạng cũng đã tán thán đức Phật Thế tự tại vương bằng bài kệ như sau (Đại 12, 267 thượng): Tôn nhan vòi vọi Uy lực vô cùng Ánh sáng như thế Không ai sánh bằng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 1 (Đại 9, 397 hạ) ghi bài kệ: Hết thảy cảnh giới Phật, Sâu xa khó nghĩ bàn; Các loài chúng sinh khác, Không thể suy lường được,Như lai khéo dẫn đường, Vô lượng các quần sinh, Khiến đều được mãn nguyện, Chí cầu đạo Vô thượng. Ngoài ra, các kệ tán như: Phật tam thân tán, Nhất bách ngũ thập tán Phật tụng, Phật cát tường đức tán, Thất Phật tán bái già đà, Tán A di đà Phật kệ... đều đã trở thành những thiên kệ tụng được chép riêng biệt. [X. phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa Q.4; chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; kinh Ma ha ma da Q.thượng; Lạc bang văn loại Q.5; Quảng hoằng minh tập Q.15].
tán phật siêu cửu kiếp
(讚佛超九劫) Do tán thán công đức Phật mà được thành Phật sớm hơn 9 kiếp. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 4, thủa xưa, khi còn ở nhân vị(địa vị tu nhân), đức Thich ca và bồ tát Di lặc cùng tu hạnh Bồ tát, thấy Phật Phất sa vào Hỏa định phóng ra ánh sáng, đức Thích ca liền vui mừng kính tin, đứng kiễng 1 chân, chắp tay hướng về Phật suốt 7 ngày đêm và nói kệ khen ngợi Phật (Đại 25, 87 hạ): Tất cả trời, người không bằng Phật, Thế giới mười phương chẳng ai bì, Tất cả thế gian con đã thấy. Hết thảy không ai được như Phật. Nhờ đó mà đức Thích ca thành Phật sớm hơn Bồ tát Di lặc 9 kiếp.
tán phật thừa
(讚佛乘) Khen ngợi pháp Duy nhất Phật thừa để giáo hóa người. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 hạ) nói: Ta liền tự suy nghĩ nếu chỉ khen ngợi một Phật thừa thì chúng sinh chìm trong biển khổ không thể tin pháp này. Trong các tác phẩm văn học của Nhật bản xưa nay thường trích dẫn từ ngữ này. Ngoài ra, kết được nhân duyên do khen ngợi giáo pháp của Phật gọi là Tán Phật thừa duyên.
tán phục
To admire. Also thán phục, khâm phục.
tán sinh trai
Almsgiving in petition for restoration from illness.
tán thiện
(散善) Đối lại: Định thiện. Thiện nghiệp được tạo tác với tâm tán loạn. Đối với vấn đề 3 phúc, 16 quán phối hợp với Định thiện và Tán thiện nói trong kinh Quán vô lượng thọ, các vị Luận sư có đưa ra nhiều ý kiến khác nhau. Ngài Tuệ viễn chùa Tịnh ảnh cho rằng tu tập 3 phúc gọi là Tán thiện vãng sinh, tu tập 16 chính quán gọi là Định thiện vãng sinh, theo thuyết này thì 16 quán đều thuộc Định thiện; còn ngài Thiện đạo thì lại chủ trương 3 phúc và 9 phẩm đều là những hạnh tu thiện Tán thiện, chỉ có 13 quán đầu là thuộc Định thiện. Quán kinh huyền nghĩa phần (Đại 37, 246 trung) nói: Yếu môn tức là Định môn và Tán môn trong Quán kinh này. Định là dứt nghĩ để lắng tâm, Tán là bỏ ác để tu thiện. Ngoài ra, đối lại với Tam ma địa môn của Mật giáo, tất cả Hiển giáo được gọi là Tán thiện môn, vì Mật giáo ngay từ lúc sơ tâm đã tu quán hạnh Sinh Phật bất nhị (chúng sinh và Phật không hai); còn Hiển giáo thì chỉ mới ngăn dứt mê tình, chứ chưa quyết định được lí chính mình tức là Phật, vì thế nên gọi là Tán thiện môn. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Tịnh ảnh); Quán vô lượng thọ sớ Q.hạ (Trí khải); Quán kinh sớ tán thiện nghĩa; Biện hoặc chỉ nam Q.3]. (xt. Định Thiện, Định Tán Nhị Thiện).
tán thán
To eulogize, to overpraise.
; (讚嘆) I. Tán Thán. Phạm: Varịa. Cũng gọi Tán, Thán. Khen ngợi, tán dương. Tức dùng các bài kệ tụng để ca ngợi, tán thán uy đức và thần lực của Phật và Bồ tát. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 3 hạ, dùng ngôn ngữ để biểu hiện sự khen ngợi, gọi là Kí ngôn thán; còn không thể nói ra bằng lời mà chỉ tán thán ở trong lòng thì gọi là Tuyệt ngôn thán. Tán thán môn trong luận Tịnh độ của ngài Thế thân là 1 trong Ngũ niệm môn; còn trong Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo thì Tán thán cúng dường cũng được coi là 1 trong 5 Chính hạnh vãng sinh Tịnh độ. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương, xưng niệm danh hiệu Phật A di đà có được tín tâm tha lực mới là sự tán thán chân chính. [X. luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú].II. Tán Thán. Một trong các loại tán ca của Phật giáo Nhật bản, sớm nhất là các bài Bách thạch tán thán, Xá lợi tán thán, Pháp hoa tán thán...thịnh hành vào đầu thời đại Bình an.
tán thán cung dưỡng chánh hạnh
(讚嘆供養正行) Đối lại: Tán Thán cúng dường tạp hạnh. Tức một lòng tán thán cúng dường đức Phật A di đà, là 1 trong 5 chính hạnh vãng sinh Tịnh độ. Trái lại, ngoài Phật A di đà., nếu còn tán thán, cúng dường Phật, Bồ tát khác để cầu vãng sinh, thì gọilàTán thán cúng dường tạp hạnh. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Ngũ Chính Hạnh).
tán thán môn
(讚嘆門) Dùng khẩu nghiệp thanh tịnh khen ngợi danh hiệu của đức Phật A di đà, gọi làTán thán môn, là 1 trong 5 niệm môn nói trong luận Tịnh độ của ngài Thế thân. Tức là miệng xưng niệm danh hiệu Tận thập phương vô ngại quang Như lai; danh hiệu này biểu trưng ánh sáng của đức Phật A di đà, có nghĩa phá trừ si ám. Tức người tu Tịnh độ tự thân tu hành đúng như thật, tương ứng với ý nghĩa danh hiệu ấy của đức Phật A di đà để mong phá trừ vô minh si ám. (xt. Ngũ Niệm Môn).
tán thánh
(散聖) Chỉ cho các bậc Thánh đã được tự tại, không còn bị bất cứ cái gì bó buộc. Tức các vị cao tăng tuy đã ngộ đạo sâu sắc nhưng đương thời ít ai biết đến, như Hòa thượng Bố đại, Hòa thượngHiện tử, Hàn sơn, Thập đắc...; hoặc chỉ cho hóa thâncủaBồ tát, Phạm thiên, Đế thích... dạo chơi nơi phố chợ, trà trộn, làm bạn với những người hành khất, hay như hóa thân của bồ tát Quán âm là cô gái nghèo nói trong Trì nghiệm kí...
tán thỉnh văn
(贊請文) Bài văn khuyến thỉnh chư tôn khi tác pháp Ngũ hội niệm Phật. Cứ theo Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán của ngài Pháp chiếu đời Đường, những vị tôn mà Tán thỉnh văn phụng thỉnh gồm có: Thích ca mâu ni Phật, Thập phương tam thế chư Phật, A di đà Phật, Quán thế âm bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thập phương chưđại bồ tát ma ha tát, Thập phương Thanh văn Duyên giác nhất thiết hiền thánh tăng... Trong 7 lần thỉnh, từ Nhất tâm phụng thỉnh bản sư Thích ca mâu ni Phật trở về sau, mỗi lần thỉnh đều do vị Đạo sư xướng trước 4 chữ Nhất tâm phụng thỉnh kế đó chúng tăng cùng xướng theo.
tán tiền
(散錢) Tiền được dâng cúng thần Phật để tạ ơn các Ngài khi ý nguyện của mình được viên mãn. Vốn chỉ cho số tiền được dâng cúng vào chùa miếu để chi dùng vào việc cử hành nghi thức tế lễ. Người Nhật bản gọi là Tái tiền, tái đồng nghĩa với báo. Trong các văn hiến ghi chép ở khoảng thế kỉ VIII tại Trung quốc, như Luận Phật cốt biểu của Hàn dũ có nói đến việc Tán tiền.
tán trượng
(散杖) Cũng gọi Sái thủy trượng. Chỉ cho cây gậy nhỏ đã được gia trì dùng để rảy nước thơm lên đàn và các vật cúng khi tu pháp trong Mật giáo. Gậy được làm bằng cành mai, bách hoặc liễu, dài khoảng 40 đến 45cm, đài có khắc hoa sen 8 cánh. Phép rảy nước thơm vốn không dùng Tán trượng mà dùng nắm cỏ tranh hoặc thủ ấn để rảy, như trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển thượng và Thanh long tự nghi quĩ quyển thượng có ghi chép. [X. kinh Đà la ni tập Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.20].
tán tâm
A distracted or unsettled mind; inattentive.
; (散心) Phạm:Vikwipta-citta. Đối lại: Định tâm. Chỉ cho tâm tán loạn, tức tâm rong ruổi theo 6 trần, loạn động không thể dừng trụ ở một chỗ. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 57 trung) nói: Tán tâm là một điều ác trong các điều ác. Như voi say không bị xích, dẫm nát ao sen; lạc đà sút dây,hất đổ vật chở. Nhanhnhư tia chớp, độc hơn nọc rắn.Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 135 hạ) ghi:Các luận sư Tì bà sa nói rằng: Tụ tâm thuộc về tâm thiện, tâm này không rong ruổi theo cảnh; Tán tâm thuộc về tâm nhiễm ô, tâm này tương ứng với sự loạn động mà dấy lên. Các luận sư miền Tây cho rằng: Tâm tương ứng với Miên gọi là Tụ tâm, còn các tâm nhiễm ô khác thì gọi là Tán tâm. Ngoài ra, dùng tâm không trụ ở định để niệm Phật tụng kinh, gọi là tán tâm niệm Phật, Tán tâm xưng danh, Tán tâm tụng Pháp hoa. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.20, 21; luận Đại tì bà sa Q.190; luận Thành duy thức Q.3, 4 ]. (xt. Tâm Định Tán).
tán tâm niệm phật
(散心念佛) Cũng gọi Tán tâm xưng danh, Vô quán xưng danh. Đối lại: Định tâm niệm Phật. Niệm danh hiệu Phật với tâm tán loạn. Tức không định kì hạn, không theo tác pháp, không quán tưởng thân tướng tốt đẹp của Phật, không phân biệt thời gian, nơi chốn, cảnh duyên... mà chỉ xưng niệm danh hiệu với tâm tán loạn. Ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh đời Tùy cho rằng năng lực của tán thiện yếu ớt, không trừ diệt được trọng tội ngũ nghịch, cho nên không được vãng sinh. Nhưng ngài Thiện đạo đời Đường thì chủ trương niệm Phật theo bản nguyện, tuy chỉ xưng niệm danh hiệu Phật với tâm tán loạn, nhưng nhờ nguyện lực của Phật Di đà nên cũng được vãng sinh. Lại Thai tông nhị bách đề quyển 10 cũng cho rằng năng lực của tán tâm niệm Phật diệt trừ được trọng tội mà vãng sinh Cực lạc. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Tuệ viễn); Vãng sinh yếu tập Q.hạ, phần cuối]. (xt. Niệm Phật).
tán tụng
Stotra (S). Songs in praise of the Buddhas. To laud s.o.; to sing s.o's praises.
tán vô biểu
(散無表) Đối lại: Định vô biểu. Tán là trạng thái tâm rong ruổi theo 6 trần, không thể chuyên chú vào một cảnh. Vô biểu gọi đủ là Vô biểu sắc, là một loại sắc pháp vô hình nương vào 2 nghiệp thiện ác do thân, miệng phát động mà sinh ra ở trong thân; Thuyết nhất thiết hữu bộ cho Vô biểu sắc này là do 4 đại đất, nước, lửa, gió, ở trong thân tạo ra, cho nên xếp vào Sắc pháp và vì nó không thể biểu hiện ra ngoài cho người khác nhận biết được, cho nên gọi là Vô biểu sắc. Vô biểu sắc thuộc tính chất tán có 2 loại thiện và ác, nếu nương vào thiện giới mà được thì gọi là Thiện vô biểu sắc; còn nương vào việc ác mà có thì gọi là Ác vô biểu sắc, cả 2 loại được gọi chung là Tán vô biểu. (xt. Định Vô Biểu).
tán đề
(贊題) Khi thuyết pháp, trước hết trích dẫn một, hai câu trong kinh luận để làm đề mục giảng tán, gọi là Tán đề. Không chỉ giới hạn trong kinh luận mà các tác phẩm của Tổ sư cũng có thể dẫn dụng làm tán đề.
tán địa
The stage of distraction.
; (散地) Đối lại: Định địa. Chỉ cho cõi Dục. Trái lại với cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc gọi chung là Định địa. Vì quả báo ở cõi Dục không có định tâm nên 6 trời cõi Dục, 4 đại châu, địa ngục... đều gọi là Tán địa. Còn người ở cõi Dục nếu vào được thiền định thì đó là nhờ sự nổ lực tu tập định tâm của cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được vậy. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6].
Tán 散
[ja] サン san ||| (1) To scatter, spread out, disperse; be scattered, be dispersed. (2) Disorganized, in disarray. (3) Dispersion. [Buddhism] "Scattering." The opposite of concentration. (1) The mind scattered, not stopping in one place. Mental disturbance or confusion (viprakīrna). (2) Loose, disconnected, scattered, disordered (vyasta). => 1. Rải, giăng ra, phân tán; rải rác, tan tác. 2. Làm rối loạn, làm xáo trộn. 3. Sự phân tán. [Phật học] “Tán loạn” ngược với “định”. 1. Tâm tán loạn, không an trú một điểm. Tâm ý lo âu, bối rối (s: viprakīrna). 2. Buông thả, rời rạc, thất tán, rối loạn.
tán-nhã-di tỳ-la-phê-phất
Sanjaya Belathiputta (P).
táng chi đại tướng
Puṣparaha (S)Phất La Bà, Phất Bà La Ha, Thực XoaMột trong 8 vị Dược xoa đại tướng.
táng phục
(喪服) Tức hiếu phục, là y phục mà hiếu đồ trong lễ tang hay trong thời kì cư tang. Về tang phục của người xuất gia thì trong các kinh luật, kể cả kinh Niết bàn, đềukhông thấy đề cập đến. Nhưng điều Tống chung phục chế trong Thích thị yếu lãm quyển hạ thì ghi (Đại 54, 307 hạ): Bạch hổ thông nói: Đệ tử đối với thầy có đủ đạo vua tôi, cha con, bằng hữu, cho nên lúc thầy còn sống thì tôn kính, gần gũi, khi thầy qua đời thì thương tiếc, đau xót. Vì ơn sâu nghĩa nặng nên phải phục tang. Còn Thích thị tang nghi thì nói: Nếu là Hòa thượng nghiệp sư thì giống như cha mẹ, vì ơn sâu nuôi dạy nên theo lệ đều phải để tang 3 năm; nếu là Y chỉ sư thì công ơn dạy dỗ kế sau Hòa thượng, nên theo đó mà tang phục. Tang phục của người xuất gia giống như pháp phục, nhưng chất vải thô hơn và nhuộm màu vàng sẫm. Điều Thiên hóa hiếu phục, chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 2 nói: Khi vị Trụ trì viên tịch, Thị giả, Tiểu sư mặc tang phục vải gai, Lưỡng tự cũng dùng vải gai; vị Chủ tang và các vị tôn trưởng trong pháp quyến mặc tang phục bằng lụa sống; Cần cựu, Biện sự, những người đồng hương trong pháp quyến và các sơn môn đến phúng điếu đều dùng khăn bằng lụa trắng thắt ở lưng, thí chủ dùng khăn lụa trắng chít trên đầu, Phương trượng hành giả mặc áo và chít khăn bằng vải gai, các hành giả nói chung đều chít khăn vải gai. [X. môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hiếu Phục).
táng sấn
(喪嚫) Phạm:Dakwiịà. Cũng gọi Dã bố thí. Vật bố thí cấp phát cho chúng tăng khi cử hành lễ tống táng ở ngoài đồng trống, gọi là Tang sấn. Điều Xuất tang quải chân điện trà thang, chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1128 hạ) nói: Đô tự lo việc tống táng, Tang ti, Duy na, Tri khách, Thị giả của Thánhtăng thì phân chia tang sấn.
táng táng nghi quy
(喪葬儀規) Nghi thức xử lí có tính tông giáo đối với người chết, bao gồm: An táng(chôn cất), tấn nghi(bỏ xác vào quan tài), cử ai(cất tiếng khóc)... Chôn cất thi hài là hànhviđặc biệt chỉ loài người mới có, những ngôi mộ đã chôn cất cách nay đã 2, 3 vạn năm là chứng minh cụ thể, điều này là bắt nguồn từ ý thức tông giáo của nhân loại. Như những vật trang sức được chôn theo người chết đào được trong các ngôi mộ xưa, cho thấy đời đó người ta đã có quan niệm về linh hồn và sự sống sau khi chết. Căn cứ vào sự khảo chứng các di vật của các xã hội nguyên thủy, thì bất luận là táng treo trên không, thiêu, thả xuống nước, chôn xuống đất, thậm chí đục cây gỗ đưa xác vào... phần nhiều đều có quan hệ đến quan niệm tôn giáo, hoặc mong cho linh hồn lên trời, hoặc đi vào trong đất, hoặcgiúp linh hồn chuyển sinh, hoặc đợi ngày sống lại..., cho nên quá trình an táng và trước sau, thường cử hành một nghi thứ nhập quan nhất định có tính cách tông giáo. Về sau, xã hội tiến hóa đến chế độ tăng lữ, giáo sĩ và giáo nghĩa được hệ thống hóa, thần học được phát triển thì nghi thức nhập quan do giáo sĩ, tăng lữ làm chủ lễ lại càng trở nên phức tạp, ngoài các mục đích như đã nói ở trên, còn có phần phủ dụ quỉ hồn không nhiễu hại dương gian, hoặc mang ý nghĩa dẫn đường vong linh đến cõi Tịnh độ yên vui... như sự dẫn đưa linh hồn của dân tộc Cảnh phả và việc tụng kinh mở đường của dân tộc Di ở Trung quốc. Trong pháp tắc chôn cất của một số giáo phái ông giáo còn có nghi thức và tập tục cử ai, chế độ tang phục và thời kì cư tang nhất định, màu áo tang như đen, trắng, vàng, lam... đều có qui định rõ ràng. Trong Phật giáo, pháp tang táng chủ yếu là trà tì(hỏa táng), nhưng vì hỏa táng chưa được lưu hành rộng rãi tại Trung quốc nên từ xưa đến naycác vị cao tăng nhập tịch thường dùng pháp Toàn thân nhập tháp(thổ táng). Trong Thiền lâm đời xưa, những đồ vật được dùng trong lễ tang táng, thứ tự nghi thức, phục sức của những người tham dự, pháp tụng niệm, di quan, động quan, tống vong... đều có phép tắc nhất định. Pháp táng trong Thiền lâm nói chung được chia làm 3 loại, trong đó pháp dùng cho vị Trụ trì, gọi là Tôn túc tang nghi pháp; dùng cho tăng ni, gọi là Vong tăng tang nghi pháp; dùng cho tín đồ tại gia, gọi là Tại gia táng nghi pháp. [X. Thích thị yếu lãm Q.hạ; điều Thiên hóa, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Táng).
Táng 喪
[ja] ソウ sō ||| (1) Funeral rites; a funeral. Proper rituals of respect for the dead. (2) To die, to disappear, to be destroyed; to lose. => Có 2 nghĩa: 1. Lễ tang, đám tang. Lễ nghi tỏ lòng kính trọng người chết. 2. Chết, tan hoại, hoại diệt, mất. Tắng 憎 [ja] ゾウ zō ||| (1) To hate, detest, loathe (vidvesa, virodha). The opposite of attachment 愛. One of the fundamental defilements. (2) Hateful, horrible, abominable. (3) Hatred, envy. => 1. Ghét (s: vidvesa, virodha). Đối nghĩa với Ái . Là một trong các căn bản phiền não. 2. Căm thù, kinh khiếp, kinh tởm. 3. Sự căm ghét, sự ganh tỵ.
táng-môn
xem sa-môn.
tánh
Pakati (P), Nature Xem Định tánh
Tánh Duy thức 性唯識
[ja] ショウユイシキ shōyuishiki ||| The "True Principle of Consciousness-only." The known world is an expression of mind and the original nature of the known world and the mind are the same. This mind nature is called true reality. Conversely, this true reality is the nature of mind. Here, the ideograph 性 (xing) refers to principle 理, which is true thusness. This condition of reality is perceived in fifth level of apprehension of the principle of Consciousness-only. In contrast to the manifest consciousness (which is the eight consciousnesses) which arises, change and ceases, this is the eternal unmanifest true thusness. The apprehension of perfectly accomplished reality. => “Chân tánh của Duy thức”. Thế giới được nhận biết là một biểu hiện của tâm và tự tính của thế giới ấy và tự tính của tâm là như nhau. Tự tính của tâm được gọi là Thực tế. Ngược lại, Thực tế nầy là bản tính của tâm. ở đây chữ Tính (c: xing性) được xem là Lý 理. Là Chân như. Điều kiện của Thực tế nầy được nhận thức qua tầng bực lĩnh hội thứ 5 trong nguyên lý Duy thức. Tương phản với sự biểu hiện của thức (tám thức) khi sinh khởi, biến chuyển và dừng nghỉ, thì Tính Duy thức là chân như vĩnh hằng bất động, là thể hội thực tế thành tựu viên mãn.
Tánh Già
(性遮): tức Tánh Tội (性罪) và Già Tội (遮罪); hay Tánh Giới (性戒) và Già Giới (遮戒). Tánh Giới là một trong hai giới, là cấm giới được lập ra để đối với Tánh Tội; còn gọi là Tánh Tội Giới (性罪戒), Tánh Trọng Giới (性重戒), Chủ Giới (主戒), Cựu Giới (舊戒); đối lập với Già Giới. Từ quả báo phạm tội mà nói, loại giới luật này thuộc vào hành vi tội ác mang tánh bản chất, như 4 tội Ba La Di (波羅夷) sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối trong Năm Giới; không đợi đến khi đức Phật chế giới, cũng chẳng luận tại gia, xuất gia, thọ giới hay không thọ giới, nếu phạm phải các điều trên, tương lai nhất định chịu quả báo. Vì tội tánh của nó là tội hành, là nhân chính của nghiệp báo, được xã hội công nhận là tội ác, lại có pháp luật quy chế để ngăn chận, nên gọi là Tánh Giới. Đối lại, Già Giới là nương vào sự chế định của đức Phật mà thiết lập. Trừ 4 tội Ba La Di như đã nêu trên, các giới khác đều thuộc vào Già Giới. Như vậy 4 giới trọng 42 giới khinh trong Bồ Tát Giới Bổn (菩薩戒本, Taishō Vol. 24, No. 1500) do Đàm Vô Sấm (s: Dharmarakṣa, 曇無讖) dịch, 6 giới trọng 28 giới khinh trong Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (佛說仁王般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 245) quyển Hạ, 10 giới trọng 48 giới khinh trong Phạm Võng Kinh (梵網經, Taishō Vol. 24, No. 1484) quyển Hạ, v.v., đều nương vào Tánh Giới, Già Giới mà chia ra nặng nhẹ. Trong Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Sơ Tân (梵網經菩薩戒初津, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 700) quyển 3 có đoạn: “Vị tín giả linh sanh tín, vị do cấm giới uy lực, năng linh Tánh Già chi nghiệp thanh tịnh, phát khởi nhất thiết chúng sanh chánh tín chi tâm cố (未信者令生信、謂繇禁戒威力、能令性遮之業清淨、發起一切眾生正信之心故, người chưa tin khiến sanh niềm tin, nghĩa là do oai lực của cấm giới, có thể khiến cho nghiệp của Tánh Già thanh tịnh, vì phát khởi tâm chánh tín của hết thảy chúng sanh).”
Tánh hải, tính hải
(性海): chỉ cho biển của bản tánh (thật tánh), và lấy đây để tỷ dụ cho lý tánh của chân như sâu rộng như biển cả. Đây cũng là cảnh của Pháp Thân Như Lai. Như trong bài tựa của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 1 có đoạn: “Văn bất văn ư sanh diệt chi tế, quách quần nghi ư tánh hải, khải diệu giác ư mê tân (聞不聞於生滅之際、廓群疑於性海、啟妙覺於迷津, nghe không nghe nơi sanh diệt ngằn mé, mở nghi ngờ nơi biển tánh, bày giác ngộ nơi bến mê).” Hay trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Duy Ma Cật Kinh Giảng Kinh Văn (維摩詰經講經文), cũng có đoạn: “Vấn ngã tâm, quy tánh hải, tánh hải trực ưng phi nội ngoại (問我心、歸性海、性海直應非內外, hỏi tâm ta, về biển tánh, biển tánh trực tiếp chẳng trong ngoài).” Trong bài Quảng Châu Đông Hoàn Huyện Tư Phước Tự Xá Lợi Tháp Minh (廣州東莞縣資福寺舍利塔銘) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Thử thân tánh hải nhất phù âu, ủy thuế như di bất tự thâu (此身性海一浮漚、委蛻如遺不自收, thân này biển tánh bọt nước trôi, lột xác đi rồi lấy được đâu).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) có ghi lại bài kệ của Thiền Sư Nam Nhạc Huệ Tư (南嶽慧思, 515-577) khi thị tịch rằng: “Đạo nguyên bất viễn, tánh hải phi dao, đản hướng kỷ cầu, mạc tùng tha mích, mích tức bất đắc, đắc diệc bất chân, khấu băng cổ Phật (道源不遠、性海非遙、但向己求、莫從他覓、覓卽不得、得亦不眞、扣冰古佛, nguồn đạo chẳng xa, biển tánh rất gần, chỉ hướng mình tìm, chớ theo người khác, tìm thì không được, được cũng chẳng thật, Phật cổ gõ băng).”
Tánh Không
(性空, Shōkū, ?-?): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), sống tại Thạch Sương Sơn (石霜山), Đàm Châu (潭州, thuộc Tỉnh Hồ Nam) và cử xướng Thiền phong của mình tại đây.
tánh không
Tongpanyi (T), Prakṛti-śŪnyatā (S), Voidness Tự tánh các pháp là không.
; Chẳng chấp thật có, chẳng chấp thật không, chẳng chấp thật chân, chẳng chấp thật giả, được như thế thì các pháp tự không, chẳng phải tiêu diệt thể tướng rồi mới thành không, nên gọi là Tánh không.
Tánh khởi 性起
[ja] ショウキ shōki ||| 'Arising from the original nature.' In the Huayan school, the absolute condition of conditioned arising. The original nature of things manifest just as it is. The appearance of the reality-nature. => 'Sinh khởi từ bản tính'. Theo tông Hoa Nghiêm, đó là điều kiện tuyệt đối của nhân duyên sinh. Bản tính của các pháp biểu hiện như chúng đang là. Tướng trạng của thực tính.
Tánh Linh Tập
(性靈集, Shōryōshū): tập thi văn do Không Hải soạn, 10 quyển, đệ tử Chơn Tế (眞濟, Shinzei) biên, không rõ niên đại thành lập, gọi đủ là Biến Chiếu Phát Huy Tánh Linh Tập (遍照發揮性靈集, Henshōhakkishōryōshū). Đây là soạn tập thâu lục những áng thi văn, nguyện văn, bia minh, thư giản của Không Hải. Ba quyển sau bị tán thất; nhưng vào năm thứ 2 (1078) niên hiệu Thừa Lịch (承曆), Tế Xiêm (濟暹) của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji) biên tập bản di cảo Tục Tánh Linh Tập Bổ Quan Sao 3 quyển, và hình thành nên bản Tánh Linh Tập hiện tồn.
tánh lực phái
Sakṛtah (S)Tánh lực phái, một tông phái Bà la môn khoảng 400 BCXem Sa khả đế.
Tánh Quân
(性均, Shōkin, 1681-1757): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; húy là Tánh Quân (性均); tự là Duy A (唯阿); hiệu Bạch Liên Thất (白蓮室), Dự Tử Liễu Nhân (預死了人); là con của Hựu Tây (祐西). Ông từng làm Trú Trì An Dưỡng Tự (安養寺) ở Giang Hộ. Nhờ kiến thức uyên thâm, ông đã từng luận tranh với Linh Không (靈空) của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) cũng như Phụng Đàm (鳳譚) của Hoa Nghiêm Tông và tiếng tăm vang khắp tòng lâm đương thời. Vào năm 1752, khi giảng bộ Tuyển Trạch Tập (選擇集) ở Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự, ông thuyết sai với giáo nghĩa của Tông môn, nên bị phản đối kịch liệt và gặp bất hạnh cho đến cuối đời. Trước tác của ông có rất nhiều như Thai Tịnh Niệm Phật Phục Tông Quyết (台淨念佛復宗訣) 1 quyển, Tịnh Độ Chiết Xung Thiên Lôi Phủ Biện Ngoa (淨土折衝篇雷斧辨訛) 1 quyển, Vô Lượng Thọ Kinh Hân Yếm Sao (無量壽經欣厭鈔) 4 quyển, A Di Đà Kinh Hân Yếm Sao (阿彌陀經欣厭鈔) 3 quyển, v.v.
tánh thấy
Cakkhukarani (P), Leading to vision.
Tánh Tín
(性信, Shōshin, 1187-1275): vị tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và đầu thời đại Liêm Thương, đệ tử đầu của Thân Loan (親鸞, Shinran), húy là Tánh Tín (性信), tên tục là Ác Ngũ Lang (惡五郎), Dữ Ngũ Lang (與五郎), thông xưng là Tánh Tín Phạn Chiểu (性信飯沼), xuất thân vùng Ibaraki-ken (茨城縣). Năm 1204, trên đường đi thăm bái ở Hùng Dã (熊野, Kumano) trở về, ông đến nghe Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) thuyết pháp rồi quy y với vị này luôn, nhưng tương truyền rằng Nguyên Không tuổi già nên mới gởi Tánh Tín cho Thân Loan dạy dỗ tu tập. Sau ông đến sống ở vùng Hoành Tằng Căn (横曾根) thuộc Hạ Tổng (下總, Shimōsa) sáng lập nên Báo Ân Tự (報恩寺) và chỉ đạo môn đồ của Chơn Tông. Vào năm 1256, ông nhận được tin Thân Loan đoạn tuyệt nghĩa tình với con mình là Thiện Loan (善鸞), ông chịu nhận trách nhiệm truyền thừa bản thảo của Bộ Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証).
; (性信, Shōshin, 1005-1085): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ thứ 2 của Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), húy là Tánh Tín (性信), tục danh là Sư Minh (師明), thông xưng là Đại Ngự Thất (大御室), thụy hiệu Quang Minh Thọ Viện (光明壽院), Hoàng Tử thứ 4 của Tam Điều Thiên Hoàng (三條天皇, Sanjō Tennō, tại vị 1011-1016). Năm 1011, ông nhậm chức Thân Vương, đến năm 1018 thì xuất gia với Tế Tín (濟信) ở Nhân Hòa Tự; sau đó ông thọ giới ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và năm sau thì thọ lễ Quán Đảnh tại Quan Âm Viện của chùa này. Vào năm 1059, ông lên tham bái Cao Dã Sơn, đến năm 1068 thì làm lễ cầu nguyện cho Hậu Lãnh Tuyền Thiên Hoàng (後冷泉天皇, Goreizei Tennō, tại vị 1045-1068) tật bệnh tiêu trừ, và tương truyền khi ông hành trì Khổng Tước Kinh Pháp (孔雀經法) trong cung nội thì có hiệu nghiệm. Năm 1077, ông làm Kiểm Hiệu cho Pháp Thắng Tự (法勝寺). Thỉnh thoảng ông có làm những điều linh nghiệm, nên được gọi là Không Hải tái thế. Trước tác của ông có Hộ Ma Tư Ký (護摩私記) 1 quyển, Quán Đảnh Sở Dụng Mục Lục (灌頂所用目錄) 1 quyển.
tánh tướng
Phật thiết lập phương tiện đem bản thể của Tâm địa mệnh danh là “tánh”, như Phật tánh, Tự tánh, Thật tánh, Không tánh… mà đem những tư tưởng chấp thật gọi là Tướng, nói: “Phàm sở hữu tướng đều là hư vọng”, rồi chia làm bốn cấp để sáng tỏ nghĩa tướng: Ngã tướng, Nhân tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng. Nhưng sau khi kiến tánh rồi thì chẳng phân biệt tánh với tướng, mà gọi bản thể của Phật tánh là Thực tướng.
tánh tịnh bồ tát
Xem Trí Tràng Bồ tát.
tánh tự tánh
Bhāva-svabhāva (S)Tánh tự nhậm trì các pháp.
Tánh Yên
tên người, dịch từ Phạn ngữ là Dhma, các bản trước đây đều dịch là “bà-la-môn họ Yên”. Tham khảo Trường A-hàm quyển 4 (Đại chánh tạng quyển 1, kinh số 01), Du hành kinh, trong đoạn kể lại sự việc giống như ở đây thì vị này là Bà-la-môn Hương Tánh, đã vâng sắc chỉ của vua A-xà-thế đến thành Câu-thi-na để chia xá-lợi Phật, nhưng người trong thành không chịu nghe theo. Sau đó cũng chính vị này đứng ra giảng hòa sự xung đột này. Tánh Yên và Hương Tánh đều là dịch từ Phạn ngữ, vì Dhma có nghĩa là hương, khói...
tánh địa
Gotra-bhŪmi (S)Chủng tánh địa, Chủng địaMột trong Tam thừa cộng Thập địa ghi trong kinh Đại Bát nhã.
táo bình thiên tử
(澡瓶天子) Cũng gọi Tác bình thiên tử. Chỉ cho vị trời dùng thần lực khiến Thái tử Tất đạt đa nhàm chán 5 món dục lạc ở đời mà cầu đạo xuất thế. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 14 đến quyển 16, lúc đức Phật còn là Thái tử, 10 năm sống trong cung thụ hưởng 5 món dục lạc. Tác bình thiên tử trông thấy, bèn dùng thần lực làm cho lời ca, khúc nhạc của các thể nữ, ca nhi trong cung tự nhiên biến thành những âm thanh truyền đạt sự xuất li ngũ dục, hướng tới Niết bàn; Thái tử nghe được, dần dần sinh tâm nhàm chán, xa lìa. Về sau, Tác bình thiên tử lại dùng sức thần thông, lúc Thái tử dạo chơi 4 cửa thành, theo thứ tự biến hóa làm người già, người bệnh, xác chết, người xuất gia, giúp Thái tử thấy rõ tướng già, bệnh, chết mà vui cầu xuất li. Tác bình thiên tử, trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả gọi là Tịnh cư thiên.
Táo Quân
(灶君・竈君): vị thần của nhà bếp, chuyên giám sát mọi việc trong nhà và báo cáo lên Thiên Đình. Trong truyền thuyết thần thoại cổ đại Trung Quốc, Táo Quân hay Táo Thần (灶神) là vị thần trông coi việc ăn uống, sau thời nhà Tấn thì được liệt vào vị thần chuyên giám sát việc thiện ác của con người. Từ khi nhân loại thoát ly khỏi thời kỳ ăn lông, uống máu, phát minh ra lửa để nấu ăn, tùy theo sự phát triển sinh sản của xã hội, Táo Quân có mối quan hệ rất mật thiết với sinh hoạt của nhân loại. Vào thời cổ đại, Trung Quốc đã có việc tế tự Táo Thần rồi; từ thời nhà Ngụy, Tấn về sau, Táo Thần đã có tên họ. Trong Ngọc Chúc Bảo Điển (玉燭寶典) của Đỗ Vương Khanh (杜王卿) nhà Tùy, có nêu phần Táo Thư (灶書) và cho biết rằng: “Táo Thần, tánh Tô, danh Cát Lợi, phụ danh Bác Giáp (灶神、姓蘇、名吉利、婦名搏頰, Tháo Thần, họ Tô, tên Cát Lợi; vợ tên Bác Giáp).” Theo Tạp Ngũ Hành Thư (雜五行書) do Lý Hiền (李賢, 654-684) nhà Đường chú dẫn, có giải thích rằng: “Táo Thần danh Thiền, tự Tử Quách, y hoàng y, phi phát, tùng táo trung xuất (灶神名禪、字子郭、衣黃衣、披髮、從灶中出, Táo Thần tên Thiền, tự là Tử Quách, mặc áo vàng, đội tóc, từ trong bếp ra).” Ban đầu, Táo Quân là nữ thần, nên được gọi là lão bà, có khi là mỹ nữ, v.v., có nhiều thuyết khác nhau. Sau này, trong Kính Táo Toàn Thư (警灶全書), thư tịch xuất hiện khoảng thời nhà Thanh, có giải thích là Táo Thần được gọi là Táo Quân (灶君), họ Trương (張), tên Đơn (單), tự là Tử Quách, thuộc nam thần. Hiện tại trong dân gian vẫn thờ phụng Đông Trù Ty Mạng Định Phước Táo Quân (東廚司命定福灶君), là hình vẽ hai lão già phu phụ, hay hình một nam hai nữ, tức là Táo Quân và phu nhân. Táo Thần gọi cho đủ là Đông Trù Ty Mạng Cửu Linh Nguyên Vương Định Phước Thần Quân (東廚司命九靈元王定福神君); thế gian thường gọi là Táo Quân, Táo Quân Công (灶君公), Táo Vương Gia (灶王爺), Ty Mạng Chơn Quân (司命眞君), Ty Mạng Đế Quân (司命帝君), Cửu Thiên Đông Trù Yên Chủ (九天東廚煙主), Hộ Trạch Tôn Thiên (護宅尊天), Táo Vương (灶王). Đặc biệt, phái nữ tôn kính ông như là vị thần của nhà bếp. Nguồn gốc về Táo Quân có từ rất sớm, từ khi nhà Thương khai sáng cơ đồ, người dân đã bắt đầu thờ phụng vị thần này rồi; trước thời nhà Tần, Hán, ông được liệt vào 5 vị thần thờ phụng chủ yếu, cùng với Thần Cửa, Thần Giếng, Thần Nhà Xí, Thần Phòng Ốc, chịu trách nhiệm trông coi trong gia đình; cho nên, ông thường được mọi người ái kính và biết ơn. Ngoại trừ chưởng quản việc ẩm thực, đem lại mọi sự tiện lợi về mặt sinh hoạt, chức trách của Táo Quân còn được Ngọc Hoàng Thượng Đế phái xuống giám sát việc thiện ác trong gia đình. Về hình tượng của Táo Quân, hai bên ông có hai vị thần đứng hầu, một vị cầm cái “lọ thiện” và vị kia “lọ ác”; tất cả hành vi của gia đình trong năm đều được ghi vào trong hai lọ này, đến cuối năm thì tổng kết lại và đem báo cáo cho Ngọc Hoàng Thượng Đế. Hằng năm vào ngày 23 tháng 12 âm lịch là ngày Táo Quân rời dương gian về chầu Trời, cho nên mới có tục Đưa Ông Táo Về Trời. Có khá nhiều truyền thuyết khác nhau về vị thần nhà bếp này. Trước hết, có thuyết cho rằng ông là đế vương hay hậu duệ nhà vua thời Thượng Cổ. Tác phẩm Sự Vật Nguyên Hội (事物原會) cho rằng Hoàng Đế làm ra bếp, chết đi thành Thần Bếp. Hoài Nam Tử (淮男子), phần Phiếm Vật Luận (氾物論) có đoạn: “Viêm Đế tác hỏa nhi tử vi Táo (炎帝作火而死爲灶, Viêm Đế chế ra lửa, nên khi chết làm Táo)”; nhân đây Cao Dụ (高誘) chú giải rằng vua Viêm Đế lấy đức của lửa để quản lý thiên hạ, nên sau khi chết thì lấy thân phận Táo Thần để được tế tự. Chu Lễ Thuyết (周禮說) lại cho rằng dòng họ Chuyên Húc (顓頊) có người con tên Lê (黎), tức Chúc Dung (祝融) được thờ làm Táo Thần. Trong Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋), phần Mạnh Thu (孟秋) có câu: “Kỳ thần Chúc Dung (其神祝融, Thần đó là Chúc Dung)”; Cao Dụ chú giải rằng “Chúc Dung là hậu duệ của dòng họ Chuyên Húc, con của Lão Đồng, sau khi chết làm Thần Hỏa Quan.” Hơn nữa, lại có thuyết cho rằng Táo Quân là quỷ thần. Lễ Ký (禮記) có đoạn: “Áo giả, lão phụ chi tế dã (奧者、老婦之祭也, Bên trong thờ bà lão).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) chú rằng: “Lão phụ, Tiên Xuy giả dã (老婦、先炊者也, Lão bà chính là Tiên Xuy)”; Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) lại giải thích thêm rằng “Ở đây cúng Tiên Xuy, không phải cúng Thần Lửa”. Theo đó, Táo Quân cũng chẳng phải là Thần Lửa, cũng không phải là người phát minh ra nhà bếp. Trong Văn Hiến Thông Khảo (文献通考), phần Giao Xã (郊社) 19 có nêu danh hiệu của Táo Thần là Ty Mạng (司命); từ đó có tên là Đông Trù Ty Mạng Định Phước Táo Quân. Cũng có thuyết cho rằng ông là Sao Táo Thần; vì người dân cho việc ăn uống là Trời, muốn có ăn thì nhà bếp phải đầy khói; cho nên cúng tế Thần Bếp là nhằm ngày 23 tháng chạp, ngưỡng vọng ông lên trời cáo trình những việc tốt, rồi xuống trần gian ban cho điều tốt lành, khiến cho gia đình mỗi năm được bình an. Thời gian cúng tế vị thần này cũng có khác nhau, đa số các nơi đều cúng vào ngày 24 tháng chạp, nhưng cũng có nơi thuộc thiểu số lại cúng vào ngày 23; do vì có thuyết là “quan tam dân tứ (官三民四)”, tức là đối với quan thần thì cúng vào ngày 23, còn dân thường là ngày 24. Ngoài ra, Táo Quân còn được xem như là Bồ Tát giữ gìn cho bá tánh được “ngũ cốc phong nhiêu, tài nguyên vượng tấn (五穀豐饒、財源旺進, ngũ cốc phong phú, tài nguyên thịnh vượng).” Ngày sinh nhật của ông là mồng 3 tháng 8. Tuy nhiên, hiện tại ở Trung Hoa người ta thường cúng ông vào ngày ông đi báo cáo hơn là ngày sinh nhật. Về nội dung báo cáo, từ thế kỷ thứ 3 đến thứ 9, nội dung ấy chỉ tập trung vào những việc làm không tốt, xấu ác của gia đình. Thế nhưng, gần đây nội dung ấy không phải nhắm vào các thành viên trong gia đình, mà chủ yếu là những lời nói việc làm của bà chủ nhà. Có điều, đối với tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo Quân có nguồn gốc từ 3 vị thần: Thổ Công (土公), Thổ Địa (土地) và Địa Kỳ (地祇), nhưng được Việt hóa thành huyền tích “hai ông một bà”, gồm Thần Đất, Thần Nhà và Thần Bếp. Trên cơ sở của thuyết Tam Vị Nhất Thể (三位一體, ba ngôi vị cùng một thể), dân gian vẫn gọi chung là Táo Quân hay Ông Táo. Theo Wikipedia Tiếng Việt, trang Táo Quân có tóm tắt về nội dung chính sự tích của vị Thần Bếp này là: “Trọng Cao có vợ là Thị Nhi, ăn ở với nhau đã lâu mà không có con, nên sinh ra buồn phiền, hai người hay cãi cọ với nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi, sau đó gặp và bằng lòng làm vợ người thợ săn tên Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Trong lúc đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin. Khi đến xin nhà Thị Nhi, hai bên nhận ra nhau. Hai bên hàn huyên chuyện cũ và Thị Nhi tỏ ra ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng. Khi Phạm Lang trở về, Thị Nhi giấu chồng cũ mình vào trong đống rơm ngoài vườn để tránh hiểu nhầm. Vừa về đến nhà, anh thợ săn liền ra đốt rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra, nên bị chết thiêu trong đống rơm. Người vợ chạy ra thấy người chồng cũ đã chết thui thê thảm, nên liều mình nhảy vào để chết theo. Phạm Lang thấy vậy cũng nhảy vào cứu vợ, cuối cùng cả ba đều tử mạng. Quá thương tâm trước tình cảnh như vậy, Thượng Đế sắc phong cho làm Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc; Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc nhà bếp, hiệu là Đông Trù Ty Mạng Táo Phủ Thần Quân (東廚司命灶府神君); Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa, hiệu là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần (土地龍脉尊神); Thị Nhi làm Thổ Kì, trông coi việc chợ búa, hiệu là Ngũ Thổ Phước Đức Chánh Thần (五土福德正神).” Ở Việt Nam, phong tục thờ Táo Quân cũng rất thịnh hành từ xưa cho đến nay với cùng ý nghĩa như trên. Hơn thế nữa, người ta còn cho rằng vị thần này có trách nhiệm chăm sóc những em bé sơ sinh, vì vậy khi đứa bé bị cảm mạo, đau bụng, v.v., gia đình thường cầu Táo Quân gia hộ cho chóng lành bệnh. Đó là lý do vì sao ngay nơi nhà bếp người ta thường thiết bàn thờ Táo Quân, bất kể tín đồ Phật Giáo hay không. Tại Trung Quốc, người ta thờ Táo Quân bằng hình vẽ, nhưng ở Việt Nam thì thờ bằng thỏi đất nung, có hình 3 trụ đứng. Sau khi cúng tiễn đưa Ông Táo về Trời xong vào ngày 23, người dân thường đem Ông Táo ra bỏ ở các gốc cây đa đầu làng, và thay vào Ông Táo mới. Tương truyền ngày mồng 3 tháng Giêng đầu năm là ngày Ông Táo từ Thiên Đình trở về, nên vào ngày này người ta cũng tổ chức lễ rước Ông Táo.
Táp
匝; C: zā; J: sō; |Đi quanh, xoay quanh, đi vòng quanh, đi chung quanh.
táp mạt kiến quốc
(颯秣建國) Cũng gọi là Tát mạt kiện quốc. Tên một nước thời xưa ở Tây vực, tức là tên cũ của vùng đất phụ cận đô thị Samarkand bên bờ chi lưu của sông Oxus, ở phía nam Turkestan và phía bắc Bokhara hiện nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 1 thì nước này chu vi từ 1600 đến 1700 dặm, chiều đông tây rộng, chiều nam bắc hẹp, đô thành chu vi hơn 20 dặm; địa thế hiểm trở, dân cư đông đúc, hàng hóa quí từ các nơi phần nhiều đổ về đây; đất đai mầu mỡ, lúc mạ xanh tốt, cây rừng um tùm, hoa quả sumsuê, sản nhiều ngựa tốt, công nghệ tinh xảo hơn các nước, khí hậu ôn hòa, phong tục cương mạnh. Còn theo Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 2, từ triều đình đến dân dã đều theo đạo thờ lửa, không tin Phật pháp, tuy có vài ngôi chùa viện nhưng không có tăng ở, nếu có khách tăng đến nghỉ nhờ thì đốt lửa đuổi đi. Khi ngài Huyền trang đến đây giảng nói về nhân duyên quả báo trời, người, tán thán công đức của Phật thì vua vui mừng kính tin, xin thụ trai giới. Về sau, mở Đại hội Vô già, độ người ở chùa. Về tên gọi của nước này có nhiều thuyết khác nhau,xưa gọi là Mã lạp kham đạt (Maracanda); vào thời Đông Hán nước này lệ thuộc nước Khang cư (theo Sử kí, Hán thư), Ngụy thư gọi là Tất vạn thăng, Tùy thư và Tân đường thư đều gọi là Khang quốc, đời Đường về sau mới gọi là Tát mạt kiện. Sách sử đời Nguyên thì giải thích tên nước này nghĩa là Phồn hoa và ghi các tên như Tầm tư can, Tiết mê tư can (Semeg-kand), Tán ma nhĩ can... đều thuộc thổ ngữ, tức chỉ cho Khang quốc. Sử nhà Minh thì gọi là Tán mã nhi hãn. [X. Ngụy thư liệt truyện 90; Cưu đường thư liệt truyện 148; Đường thư tây vực liệt truyện 146].
Táp 匝
[ja] ソウ sō ||| To go around, to circle, encircle, circumambulate. => Đi quanh, xoay quanh, đi vòng quanh, đi chung quanh.
tát bà ha
Xem Ta bà ha.
tát bà nhã
= nhứt thiết trí Cái trí biết tất cả mọi sự, hữu vi, vô vi, quá khứ, hiện tại, vị lai; trí huệ của Phật. Xem Toàn tri.
; Xem Nhất thiết trí.
tát bà tát đỏa
Xem Nhứt thiết hữu tình.
tát bà đa bộ
Xem Hữu bộ tông.
; Sarvastivàda, Sarvastivàdin (S). Nhất thiết hữu bộ.
tát bà đa bộ ký
(薩婆多部記) Cũng gọi Tát bà đa sư tư truyện. Truyện kí, 5 quyển, do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương thuộc Nam triều. Nội dung sách này ghi chép sự tích truyền thừa luật Thập tụng của hơn 90 vị thuộc bộ phái Tát bà đa. Đây là bộ sử truyện quí giá, nhưng rất tiếc đã sớm bị thất lạc, chỉ còn mục lục và bài tựa được ghi trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
tát bà đa bộ luật nhiếp
(薩婆多部律攝) Cũng gọi Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp, Hữu bộ luật nhiếp. Tác phẩm, 14 quyển, do ngài Thắng hữu người Ấn độ soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung sách này giải thích Giới bản và phân tích rộng phần tinh yếu của Hữu bộ luật, đồng thời trình bày một cách ngắn gọn và rõ ràng những học xứ như: Trì, Phạm, Khai, Giá... Trước hết giải thích kinh Ba la đề mộc xoa, kế đến nêu các giới phẩm từ 4 pháp Ba la thị ca cho đến 100 pháp Chúng học, 7 pháp diệt tránh, sau cùng là phụ thêm phần giáo pháp vắn tắt của 7 đức Phật.
tát bà đa sa bộ
Xem Hữu bộ tông.
tát bát la
(Thụ). Pippala (S).
tát bát la da na
Pippalayāna (S)Tên khác của ngài Ca Diếp. Ngài có tên này vì sinh ra dưới cội cây mang tên này.
tát bát nhã
(薩般若) Phạm: Sarvajĩa. Cũng gọi Tát vân nhiêu, Tát bà nhã, Tát bà nhã đa (Phạm:Sarvajĩatà). Hán dịch: Nhất thiết trí. Chỉ cho trí Phật, là trí biết rõ tất cả pháp tướng trong ngoài. Văn sa di thụ giới trong Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 463 hạ) nói: Qui y pháp được Đại tổng trì môn Tát bát nhã. Sự rộng lớn của Nhất thiết trí được ví dụ như biển cả nên cũng gọi là Tát bát nhã hải (Biển tát bà nhã). Thiền giới sao (Đại 82, 655 hạ) ghi: Hiện thân nói pháp, làm cây cầu cho thế gian, đức trở về biển Tát bà nhã, không thể tính lường được, cung kính vâng theo. [X. phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển); kinh Phóng quang bát nhã Q.11; Viên giác kinh đại sớ sao Q.1, Tuệ lâm âm nghĩa Q.7]. (xt. Nhất Thiết Trí).
tát ca da kiến
Xem Hữu thân kiến.
; (薩迦耶見) Phạm:Satkàya-dfwỉi. Hán âm: Tát ca da đạt lợi sắt trí. Hán dịch: Hữu thân kiến, Hư ngụy thân kiến, Di chuyển thân kiến. Tát ca da (Phạm:Satkàya), cũng gọi Tát ca tà, Táp ca da. Ca da (Phạm:Kàya), nghĩa là tụ tập, hàm ý là thân. Tát nghĩa là hữu(có), cũng có nghĩa là hư ngụy, di chuyển. Kiến (Phạm:Dfwỉi, đạt lợi sắt trí), nghĩa là thấy. Do đó, Tát ca da kiến mới được dịch là Hữu thân kiến, hoặc dịch là Hư ngụy thân kiến, Di chuyển thân kiến, là 1 trong 5 kiến, cũng là 1 trong 10 Tùy miên, tức vọng chấp trước ngã và ngã sở. Vì các bộ phái có những ý kiến khác nhau về chữ Tát trong Tát ca da, nên cũng phát sinh nhiều thuyết bất đồng đối với danh nghĩa của Kiến. Nay trình bày sơ lược như sau: 1. Thuyết nhất thiết hữu bộ lập Hữu thân kiến(thấy có thân). Bộ này chủ trương Tát nghĩa là Hữu, tức thân là sự tập hợp của 5 uẩn, pháp thể của 5 uẩn này là có thật, cho nên gọi là Hữu thân; còn cái thấy duyên theo thân có thật này mà chấp trước ngã(ta) và ngã sở(của ta), gọi là Kiến, hợp chung lại gọi là Hữu thân kiến. 2. Kinh lượng bộ lập Hư ngụy thân kiến(cũng gọi Hoại thân kiến, Ngụy thân kiến). Bộ này chủ trương Tát nghĩa là hoại, vô thường; tức thân là sự giả hợp của 5 uẩn, sinh diệt vô thường, không có thực thể, vì thế gọi là Hoại thân, Hư ngụy thân; còn cái thấy duyên theo thân hư ngụy này mà sinh ra chấp trước ngã, ngã sở thì gọi là Kiến, hợp chung lại gọi là Hư ngụy thân kiến, Hoại thân kiến. 3. Tông duy thức Đại thừa lập Di chuyển thân kiến. Tông này chủ trương Tát nghĩa là dời chuyển, cũng tức là nghĩa có hay không đều không quyết định được, hoặc chẳng phải có mà tựa hồ như có. Vì thân là do nhân duyên hòa hợp, cho nên thân là phi hữu phi vô, gọi là Di chuyển thân; còn cái thấy duyên theo thân di chuyển này mà sinh khởi ngã và ngã sở thì gọi là Kiến, hợp chung lại gọi là Di chuyển thân kiến. Ngoài ra, nếu nói về việc Tát cada kiến lần lượt duyên theo 5 uẩn thì có thể dùng 20 câu(mỗi uẩn 4 câu) sau đây để hiển bày. Trước hết là 4 câu về Sắc uẩn: Câu thứ nhất: Sắc tức là ngã, như chủ; câu thứ 2: Ngã có sắc, như chuỗi anh lạc; câu thứ 3: Sắc tức là ngã sở, như người giúp việc; câu thứ 4: Ngã ở trong sắc, như vật chứa đựng; Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều có 4 câu như trên, tổng cộng là 20 câu. Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) có ghi tên Phạm của 20 câu Tát cada kiến này. Lại theo luận Đại tì bà sa quyển 8, nếu Tát ca da kiến lần lượt duyên theo 2 kiến(ngã, ngã sở), 3 cõi, 5 uẩn, 9 địa, 12 xứ, 18 giới... thì có thểcótừ 1 câu cho đến 936 câu Tát ca da kiến. Nhưng nếu dùng các pháp tướng tương tục, thế, sát na... để phân biệt thì có vô lượng Tát ca da kiến. [X. luận Đại tì bà sa Q.46, 49; luận Thuận chính lí Q.47; luận Câu xá Q.19; luận Du già sư địa Q.58, 87; luận Đại thừa ngũ uẩn, Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối, 9, phần cuối; Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí Q.3; Câu xá luận quang kí Q.19; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Ngũ Kiến, Tùy Miên).
tát ca tư lợi ba đắc lạp
(薩迦斯利巴得拉) Phạm: Zàkyazrìbhadra. Tạng: Kha-che paị-chen (Bậc thạc học người Ca thấp di la). Danh tăng kiêm học giả người Ca thấp di la (Ấn độ) sống vào khoảng thế kỉ XIII.Ban đầu, sư trụ trì chùa Siêu giới (Phạm: Vikramazìla) ở Ấn độ, nhưng chùa này và chùa Âu đan đa phú lê (Phạm: Udaịđapura) đều bị người Hồi giáo cướp bóc phá hoại, cho nên, vào năm 1202, sư cùng 9 vị tăng học giả khác đến Tây tạng, hoằng pháp ở Gia lỗ cưu da tang (Tạng: Dpyal-chos-bzaí). Sư từng truyền giới cho ngài Văn thù tát ca ban thiền (Tạng: Saskya paị-chen), là cháu của vị Tổ khai sáng phái Tát ca, đồng thời, sư còn truyền dạy Lượng thích (Phạm: Pramàịavarttika) của ngài Pháp xứng cho người học. Sau, sư lại biện luận để đả phá những người không giữ đúng chính pháp, sửa chữa những sai lầm trong những bộ kinh Phật đã được dịch sang tiếng Tây tạng, đồng thời, sư tự mình dịch được 12 bộ kinh điển như: Thánh đa la mẫu thành tựu pháp, Thánh đa la tôn ưu ba đề xá lâm chung thời quán pháp... [X. Mông cổ lạt ma giáo sử; Nhật bản Đông bắc Đại học Tây tạng Đại tạng kinh mục lục; History of Buddhism by Bu-ston, Part II (E. Obermiller)].
tát cát đạt ngoã
(薩噶達瓦) Hán dịch: Đê tú nguyệt(Tháng sao Đê). Ngày lễ kỉ niệm đức Phật Thích ca mâu ni giáng sinh của Phật giáo Tây tạng. Hàng năm, từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 theo lịch Tây tạng thì sao Đê xuất hiện, cho nên gọi là Tát cát đạt ngõa. Phật giáo Tây tạng cho rằng các ngày đức Phật Thích ca mâu ni giáng sinh, xuất gia, viên tịch đều vào tháng 4 theo lịch Tây tạng. Trong thời gian này, chúng tăng tổ chức các hoạt động tông giáo, tín đồ lễ Phật tụng kinh, còn dân chúng thì đi quanh con đườngChuyển kinh ở Lha-sa, bơi thuyền du ngoạn trong đầm Long vương phía sau núi Bố đạt lạp. Trên khắp nước Tây tạng, vào dịp này, cũng có các sinh hoạt tương tự như thế.
tát la nan ca la
(薩羅難迦羅) (1698-1778) Pàli: Saraịaôkara. Cao tăng Tích lan sống vào thế kỉ XVIII, người ở thôn Valivita, huyện Tumpane; là lãnh tụ của phong trào vận động phục hưng Phật giáo Tích lan, cũng là Thủy tổ của phái Phật giáo Xiêm la tại Tích lan. Thủa nhỏ, sư nương vào ngài Tu lợi da câu đà (Pàli:Suriyakoda) xuất gia làm sa di. Vì cảm thương cho hành vi đọa lạc của giới tăng sĩ, sư lập chí khắc khổ siêng năng tu học. Sư rất giỏi tiếngPàli, tiếng Tích lan và tinh thông cả tiếng Phạm. Sư từng vâng sắc chỉ của vua tạo khám thờ xá lợi Phật, thếp vàng ròng, khảm 700 hạt ma ni châu, được vua ban cho kinh điển, dụng cụ, pháp phục... Đến thời vua Thất lợi tì xá da vương sư tử (Pàli:Sirivijayaràjasìha), sư trụ ở vườn Bố tát (Pàli:Uposathàràma) được nhà vua cúng dường. Sau, sư lại được sự giúp đỡ của vua Cát tường xưng vương sư tử (Pàli:Kittisiriràjasìha), thanh lọc giáo đoàn, sa thải các vị tăng phá giới để hộ trì chính pháp. Sư khuyên vua cung thỉnh các vị tỉ khưu Thái lan đã được truyền thừa Thượng tọa bộ Tích lan chính thống, bấy giờ đang sống ở thành Sàminda tại Thái lan, đến Tích lan truyền giới; việc này được vua Ba long khoa tư (Borom Kos) của Vương triều Đại thành nước Thái lan rất vui vẻ chấp nhận. Năm 1753, phái đoàn Tỉ khưu Thái lan do Thượng tọa Ưu ba li (Pàli:Upàli) lãnh đạo đến Tích lan truyền trao giới pháp theo nghi thức Thái lan cho mấytrăm giới tử trong đó có bản thân sư. Vì các vị tham dự đàn giới này được truyền trao bởi hệ phái chư tăng Thái lan nên được gọi là Xiêm la tông (Sỳama-vaôsa). Từ thế kỉ XVI trở đi, Phật giáo Tích lan gần như bị dứt hẳn, nhưng nhờ sự lãnh đạo của sư nên được phục hưng, chẳng bao lâu lại trở thành quốc giáo, nền giáo dục Phật giáo lại được coi trọng, nhân dân nhiệt tâm ủng hộ, chùa Phật, tháp Phật ở các nơi đều được sửa chữa, hoặc xây dựng lại. Vua Cát tường xưng vương sư tử triệu tập hội nghị Tăng già ở chùa Hoa viên, sắc phong sư Tát la nan ca la làm Tăng vương (Pàli:Saígharàja, vua sư), đây là vị Tăng vương duy nhất trong lịch sử Phật giáo Tích lan. Năm 1778, sư tịch, thọ 81 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Chân nghĩa tập (Pàli:Sàrattha saôgaha), Đại bồ đề thụ sử (Pàli: Mahàbodhi-vaôsa), Dược khuông cú (Pàli: Bhessajjamaĩjùsà), Tứ đế thích nghĩa (Pàli: Catubhàịavàra). [X. Tiểu vương thống sử; Hinduism and Buddhism by Ch.Eliot; Dictionary of Pàli Proper Names by G.P. Malalasekera].
tát la phọc xa
(薩羅縛奢) Phạm:Sarvàsà. Hán dịch: Yếu nguyện. Tâm nguyện cầu. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 5 (Vạn tục 37, 56 hạ) nói: Yếu nguyện, Phạm: Tát la phược xa; Dữ nguyện, Phạm: Phạ lô. Yếu là tâm mình cầu mong; Dữ là thỏa mãn ước nguyện của người khác.
tát la tát phạt để
Xem Biện Tài thiên.
tát la tư phạt đề
Sarasvti (S)Thần sông ngòi.
tát lý pha mật đát ra
Xem Đạo sư.
tát mãn giáo
(薩滿教) Một hình thức tông giáo nguyên thủy ở vào thời kì cuối, bao gồm cả hình thái sùng bái tinh linh theo nghĩa rộng. Ngữ nghĩa của Tát mãn (Shaman, ông đồng) bắt nguồn từ chữSmàn (tế tư) tiếng Thông cổ tư (Tungus); trong tiếng Phạm là chữ Zramaịa (Pàli:Samaịa, nghĩa là là siêng năng ngăn dứt), từ chữ gốc là Sam nghĩa là nhảy múa, quay cuồng trong trạng thái hưng phấn. Trong văn học thần thoại Phệ đà của Cổ Ấn độ, tất cả hiện tượng tự nhiên đều được thần cách hóa, cho rằng sự vận hành của thế giới tự nhiên và sự sợ hãi của loài người đều có nguồn gốc từ sự chi phối của thần linh, bởi vậy, việc thờ cúng thần linh trở thành qui chế tối cao trong sinh hoạt hiện thực. Do đó mà có thể biết tông giáo của Cổ Ấn độ là thuộc hình thái Tát mãn giáo. Một trong các ý nghĩa ra đời của đức Phật là đả phá quan niệm thần linh nguyên thủy của người Aryan thời cổ. Song, dù được đức Phật giáo hóa, dân chúng Ấn độ vẫn chưa từ bỏ được tư tưởng Tát mãn giáo cố hữu vốn đã bám sâu gốc rễ, cho nên sau khi Phật nhập diệt, tư tưởng Tát mãn giáo lại đã dần dần thấm vào giáo nghĩa Phật giáo, đặc biệt rõ nét nhất trong danh nghĩa Mạn đát la (Phạm: Mantra, chân ngôn) và sự xuất hiện các phái Mật giáo.Tại Trung quốc, vào đời Tống, trong tác phẩm Tam triều bắc minh hội biên của ông Từ mộng tân, lần đầu tiên, người ta thấy xuất hiện từ San Loan, tức thông thường gọi là Tát Mãn, chỉ cho những người đồng bóng. Bổng giáo ở Tây tạng trước khi Phật giáo truyền đến, cho rằng trong vũ trụ có sự tồn tại của các tinh linh (quỉ thần, yêu quái) thiện ác chi phối sự cát hung họa phúc của thế giới loài người. Chủ trương này cũng là một hình thái tín ngưỡng Tát mãn giáo. Trong văn hóa của Nhật bản thời cổ, người ta cũng thấy rõ dấu vết ảnh hưởng Tát mãn giáo. Trong các kí lục về Thần đại(thời đại thần thoại đời thượng cổ) bằng cổ ngữ, người ta thấy rải rác các danh từ phiến vu , quăng vu , nghĩa là đồng bóng. Như vậy đủ biết, bắt đầu từ thời Thần đại, ở Nhật bản đã có tín ngưỡng Tát mãn giáo. Dưới chế độ giai cấp ở Ấn độ đời xưa, Bà la môn được xem là Tát mãn tồn tại (làm môi giới) giữa thần linh và loài người. Sau khi đức Thế tôn Thích ca giác ngộ thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, Ngài phủ định việc cầu đảo cúng tế để mong cầu hạnh phúc cho loài người, từ đó, Ngài tuyên thuyết Thiền định và Giác tỉnh để đối lại với sự Hưng phấn và Thất thần (trạng thái ngây ngất, mê hồn của các ông đồng bà bóng khi tinh linh nhập vào) của Tát mãn giáo. Bởi thế, giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy đã nghiêm cấm chú thuật và phủ định nghi thức cầu cúng tinh linh của Bà la môn giáo. Sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi, nhưng kinh điển cúng tế trong đó có thần chú và chân ngôn đãđược thành lập, trở thành tính chất đặc biệt quan trọng của Mật giáo, khiến cho Phật giáo có khuynh hướng Tát mãn giáo rõ rệt. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung quốc vàNhật bản, vì phải phương tiệnthích ứng mà kết hợp với tín ngưỡng dân gian thì sắc thái Tát mãn giáo lại càng trở nên hiển nhiên hơn.
tát tha nê thấp phạt la quốc
(薩他泥濕伐羅國) Tát tha nê thấp phạt la, Phạm: Sthànezvara. Một vương quốc thời xưa ở Trung Ấn độ, nằm về phía đông bắc nước Mạt thố la, tức vùng đồng bằng ở thượng du sông Jumna hiện nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 4, nước này chu vi hơn 7 nghìn dặm, đô thành rộng hơn 20 dặm, đất đai mầu mỡ, cây cối xanh tốt, khí hậu nóng ấm, phong tục cởi mở, dân cư giàu có, thi nhau ăn tiêu. Cả nước có 3 ngôi già lam với hơn 700 vị tăng, đều học giáo pháp Tiểu thừa.Có nhiều tông giáo khác nhau và hơn 100 ngôi đền thờ trời.[X. Thích ca phương chí Q.thượng; Đại từ ân tự pháp sư truyện Q.2; Ancient Geography of India by A. Cunningham].
tát đoá
(薩埵) Phạm:Sattva. Pàli:Satta. Cũng gọi Tát đa bà, Tát hòa tát, Tát bà tát đỏa, Tát đát phạ, Tát đỏa. Tát đỏa gồm có các nghĩa: Tồn tại, sinh, thực, chân, thiện, mĩ, hiền... Trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 1, phần đầu, Tát đỏa được gọi là hữu tình, nghĩa là có tình ý; Phật địa kinh luận quyển 2 thì cho Tát đỏa nghĩa là dũng mãnh. Ngoài ra, còn có các nghĩa: Tâm lực, hữu, hữu tướng, hàm thức,chúng sinh... Tát đỏa cũng chỉ cho Bồ tát, tức gọi đủ là Bồ đềtát đỏa. Trong Mật giáo, Tát đỏa là chỉ cho Kim cương tát đỏa.Ngoài ra, học phái Số luận ở Ấn độ cho rằng Tát đỏa là một trong bađức mà Tự tính (Phạm: Prakfti) phải có. (xt. Bồ Tát).
tát đoá lạt xà đáp ma
(薩埵剌闍答摩) Chỉ cho 3 đức: Hỉ (mừng), Ưu(lo) và Ám(tối) của Tự tính đế trong 24 đế do học phái Số luận thành lập. Tát đỏa (Phạm: Sattva): nghĩa là dũng kiện, thể của nó là Hỉ. Lạt xà (Phạm:Rajas), cũng gọi La xà, nghĩa là bụi bặm, thể của nó là Ưu. Đáp ma (Phạm: Tamas), cũng gọi Đa ma, nghĩa là ám độn, thể của nó là Si ám. Trong 3 đức này, Tát đỏa có năng lực phát ra ánh sáng, Lạt xà có năng lực sinh khởi, Đáp ma có năng lực trói buộc. Tự tính có đủ 3 đức này thì sinh ra hết thảy muôn vật sai biệt. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Phật địa kinh luận Q.2]. (xt. Tam Đức).
Tát đoả 薩埵
[ja] サッタ satta ||| A transliteration of the Sanskrit sattva, meaning "(sentient) being." Also, an abbreviation of bodhisattva (菩提薩埵). => Còn là từ viết tắt của Bồ-đề tát-đoả (s: bodhisattva 菩提薩埵).
tát đạt mã đề ba la
(薩達馬提波羅) Pàli: Saddhammajotipàla. Danh tăng kiêm học giả Miến điện, sống vào thế kỉ XII, vốn tên là Chapaỉa, Tổ khai sáng của phái Bồ cam (Pàli:Pagan). Sư thờ vị Trưởng lão ở Bồ cam là ngài Uất đa la kì bà (Pàli:Uttarajìva) làm thầy. Năm 1154, sư theo thầy du học ở Tích lan, y vào Trưởng lão Xá lợi phất (Pàli: Sàriputta) ở chùa Đại tự thụ giới, đổi tên là Tát đạt mã đề ba la. Sư lưu học ở Tích lan trong 10 năm. Khi về nước, sư thỉnh được một số lượng lớn các kinh điển và 4 vị tăng Tích lan là Tăng thi bà lợi (Pàli: Sìvali), Đa ma lăng đà (Pàli:Tàmalinda), A nan đà (Pàli:Ànanda) và La hầu la (Pàli:Ràhula) cùng về. Sau đó, nhờ sự giúp sức của 4 vị tăng này và của vua Bồ cam là Na la ba đế tất đô (Pàli: Narapatisithu), cùng với sự ủng hộ của học tăng địa phương, sư sáng lập phái Bồ cam: Chấp sư tử tăng già, truyền thụ giới pháp của chùa Đại tự. Sau bị Cựu giáo đoàn Miến điện ở Đức lăng (Talaing) phản đối, vì phái Bồ cam cho rằng giáo đoàn Đắc lăng là dị đoan, từ đó đưa đến đối lập với giáo đoàn Miến điện. Sư có các tác phẩm: Luật hưng khởi giải thích, Giới bản minh giải, Luật ẩn nghĩa thích, Pháp mẫu nghĩa giải thích, Phát thú số thú, Danh hành đăng, Thánh điển tinh yếu. [X. Hinduism and Buddhism vol.III by Sir Ch.Eliot; Dictionary of Pàli Proper Names by G.P.Malalasekera].
tát đế tất lợi đa pháp hội
(薩帝畢利多法會) Một pháp hội lớn của tín đồ Phật giáo Tích lan. Pháp hội này thường được tổ chức liên tiếp trong 7 ngày, chủ yếu cầu cho mùa màng được bội thu, vì thế cũng gọi là Thất thiên kì phúc pháp hội(Pháp hội cầu phúc 7 ngày). Khi cử hành Pháp hội, có thỉnh vài mươi vị tỉ khưu tụng kinh. Cách bố trí và nghi thức đàn tràng cũng tương tự như pháp hội Tất lợi đa mạn đà ba. (xt. Tất Lợi Đa Mạn Đà Ba Pháp Hội).
tát đỏa
Sattva (S), Being, Satta (P)Hữu tình, hữu thức, hàm sanh, chúng sanh;Vật có sanh mạng, chúng sanh trong thập đạo, trong lục giới.
; Sattva (S). Creature, living being.
Tát-bà 薩婆
[ja] サツバ satsuba ||| A transliteration of the Sanskrit sarva, which means "all" or "completely." Usually translated into Chinese as yiqie 一切. => Phiên âm chữ sarva từ tiếng Sanskrit, Có nghĩa là 'tất cả', 'hết thảy'. Thường được dịch sang tiếng Hán là Nhất thiết 一切.
Tát-bà-nhã
phiên âm từ Phạn ngữ là Sarvajđa, dịch nghĩa là Nhất thiết trí, chỉ trí tuệ của bậc giác ngộ viên mãn, vì có thể thấu suốt tất cả mọi sự vật, thấu suốt cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tát-bà-đa bộ 薩婆多部
[ja] サツバタブ Satsubatabu ||| The Sarvāstivāda school, more commonly designated by the abbreviated name youbu 有部 "existence school" which held to the position that all existences (dharmas 法) are real. => (j: Satsubatabu; s:Sarvāstivāda) Nhất thiết hữu bộ, thường được gọi tắt là Hữu bộ 有部 , chủ trương rằng các pháp đều có thật.
Tát-bàn-nhã 薩般若
[ja] サツバンニャ satsubanya ||| A transcription of sarvajñā, which means "omniscience." Translated into Chinese as 一切智. => Phiên âm chữ sarvajñā từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'toàn trí'. Hán dịch là Nhất thiết trí 一切智.
Tát-bàn-nhã-đa 薩般若多
[ja] サツバンニャタ satsubanyata ||| A transliteration of sarvajñatā, which means "omniscience." See 一切智. => Phiên âm chữ sarvajñatā từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'toàn trí'. Xem Nhất thiết trí 一切智.
Tát-bạt 薩薄
[ja] サツバ satsuba ||| A transliteration of the Pali sabhā, which means commerce, trade, etc. A trading cartel. => Phiên âm chữ sabhā từ tiếng Pāli, có nghĩa là buôn bán, mậu dịch... Việc trao đổi hàng hoá.
Tát-ca phái
薩迦派; T: sakyapa [sa-skya-pa];|Một trường phái của Phật giáo Tây Tạng, mang tên ngôi chùa Tát-ca – Tát-ca nghĩa là »Ðất xám«. Theo lời khải thị của A-đề-sa, chùa Tát-ca được xây dựng năm 1073 và các cao tăng chùa này tập trung truyền pháp Kim cương thừa với tên Tây Tạng là Lam-dre.|Trường phái này tập trung công sức tu tập và tổ chức lại các kinh sách của giáo pháp Tan-tra, nhưng cũng có nhiều đóng góp cho Nhân minh học Phật giáo và có ảnh hưởng lên nền chính trị Tây Tạng giữa thế kỉ 13 và 14.|Phái này được trở thành độc lập là nhờ công của năm vị Lạt-ma sống từ 1092 đến 1280. Ðó là: Sa-chen Kun-ga Nying-po (1092-1158), hai người con trai là So-nam Tse-mo (1142-1182) và Drak-pa Gyalt-sen (1147-1216), người cháu Sa-kya Paṇ-ḍi-ta (1182-1251) và Chog-yal Phag-pa (1235-1280). Tất cả năm vị này đều được xem là hoá thân của Văn-thù (s: mañjuśrī) và thuộc gia đình Khon. Trong năm vị thì Sa-kya Paṇ-ḍi-ta là có ảnh hưởng lớn nhất, giáo pháp của ông bao trùm nhiều ngành khoa học khác nhau. Khả năng về Phạn ngữ (sans-krit) vang đến Ấn Ðộ và Mông Cổ và sau đó ông được mời đi Mông Cổ thuyết pháp và trường phái Tát-ca lan rộng tại Trung Tây Tạng năm 1249. Trong các thế kỉ sau, phái Tát-ca đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo Tây Tạng và gây cả ảnh hưởng đến Tông-khách-ba và tông của Sư là Cách-lỗ (t: gelugpa).|Mười tám bộ kinh, luận quan trọng được giảng dạy trong trường phái này (s: aṣṭadaśa-mahākīrtigran-tha):|1. Ba-la-đề mộc-xoa kinh (s: prātimokṣa-sūtra); 2. Tì-nại-da kinh (vinaya-sūtra); 3. Hiện quán trang nghiêm luận (abhisamayālaṅkāra-śāstra), được xem là của Di-lặc; 4. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), Di-lặc; 5. Ðại thừa tối thượng tan-tra luận (mahāyānottara-tantra-śāstra), Di-lặc; 6. Biện trung biên luận tụng (madhyānta-vibhāga-kārikā), Di-lặc; 7. Pháp pháp tính phân biệt luận (dharma-dharmatā-vibhāga), Di-lặc; 8. Nhập bồ-đề hành luận (bodhicār-yāvatāra), Tịch Thiên (śāntideva); 9. Căn bản trung quán luận tụng (mūlamadhyamaka-śāstra), Long Thụ (nāgārjuna) tạo; 10. Tứ bách luận (catuḥśataka), Thánh Thiên (āryadeva) tạo; 11. Nhập trung luận (mādhyamāvatāra), Nguyệt Xứng (candrakīrti) tạo; 12. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharma-samuccaya), Vô Trước (asaṅga) tạo; 13. A-tì-đạt-ma câu-xá luận (abhidharmakośa), Thế Thân (vasubandhu) tạo; 14. Tập lượng luận (pra-māṇasamuccaya), Trần-na (dignāga) tạo; 15. Lượng thích luận (pramāṇavarttika-kārikā), Pháp Xứng (dharmakīrti) tạo; 16. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), Pháp Xứng tạo; 17. Pramāṇa-yuktinīti; 18. Trisaṃvarapravedha.
Tát-ca-da kiến 薩迦耶見
[ja] サッカヤケン sakkaya ken ||| A transliteration of the Sanskrit satdṛṣṭi. Sat means "real" or "existent," and kāya means "body." Thus, the term refers to the view of the (real) existence of the body (translated into Chinese as youshenjian 有身見 and shenjian 身見). A view which includes attachment to self 我 and elemental constructs 法; also called 五取蘊, or "attachment to the five skandhas." The condition of nonrecognition of the fact of the provisionality of the combination of the five skandhas, resulting in the belief in a true body centered around an eternal ātman. One of the four views 四見 associated with the manas consciousness 末那識, and one "five views" 五見. => Phiên âm chữ satkāyadṛṣṭi từ tiếng Sanskrit, Sat có nghĩa là 'thực' hoặc là 'tồn tại'; kāya có nghĩa là 'thân thể'. Như vậy từ nầy có nghĩa là quan niệm về sự tồn tại thân thể là có thực ( Hán dịch là Hữu thân kiến và Thân kiến). Đó là quan niệm chấp trước vào cả ngã lẫn pháp, còn gọi là Ngũ thủ uẩn, hoặc 'chấp trước vào năm uẩn'. Không nhận thức được sự thực giả tạm của hợp thể ngũ uẩn là do kết quả của quan niệm có một thân thật là trung tâm của cái ngã thường hằng (ātman). Đây là một trong bốn quan niệm (Tứ kiến 四見) liên quan với Mạt-na thức (manas consciousness 末那識) và là một trong Ngũ kiến 五見.
Tát-ca-da 薩迦耶
[ja] サッカヤ sakkaya ||| See 薩迦耶見. => Xem Tát-ca-da kiến 薩迦耶見.
Tâm
心; C: xīn; J: shin; S: citta, hṛdaya, vijñāna; |Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật, có nhiều nghĩa:|1. Tâm được xem đồng nghĩa với Mạt-na (s: manas, thức suy nghĩ phân biệt) và Thức (s: vijñāna). Tâm chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm trí.|2. Trong luận A-tì-đạt-ma câu-xá, tâm được xem như một thể riêng biệt, trên thể đó thế giới hiện tượng xuất hiện.|3. Trong Duy thức tông, tâm được xem là A-lại-da thức (s: ālayavijñāna; còn được gọi là Tạng thức), gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm trí. Theo quan điểm này, thì toàn bộ vũ trụ này chính là »tâm thanh tịnh.« Nhiều quan điểm cho rằng tâm này chính là »vô thuỷ vô minh«, vô minh nguyên thuỷ của Phật tính và là thật tại tối thượng của mọi hiện tượng nhị nguyên.|Tổng quát lại, người ta có thể phân biệt sáu loại tâm: 1. Nhục đoàn tâm (肉團心), trái tim thịt; 2. Tinh yếu tâm (精要心), chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ; 3. Kiên thật tâm (堅實心), chỉ cái tuyệt đối, cái Chân như của các Pháp – ba loại tâm trên được dịch từ danh từ Hṛdaya của Phạn ngữ (sanskrit); 4. Tập khởi tâm (集起心; citta), là thức thứ 8 – A-lại-da thức (ālayavijñāna); 5. Tư lượng tâm (思量心), là thức thứ 7, Mạt-na (manas); 6. Duyên lự tâm (緣慮心), là thức thứ sáu, Ý thức (s: manovijñāna).
tâm
Hṛdaya (S), Hadaya (S)Lật đà, Nhục đoàn tâm, Nhục tâm1- Thực thể cũa chân như. 2- Chỗ nương của ý căn.
; Hrd, Hrdeya (S). Heart; mind; intention; will; sense; desire; centre; middle.
; (心) I. Tâm. Phạm: Citta. Hán âm: Chất đa. Cũng gọi Tâm pháp, Tâm sự. Tức là pháp tuy xa lìa đối tượng nhưng vẫn có tác dụng tư duy(duyên lự). 1. Chỉ chung Tâm vương và Tâm sở pháp, đối lại vớisắc(vật chất), thân(nhục thể); tương đương với 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức trong 5 uẩn. 2. Chỉ riêng cho Tâm vương, thuộc 1 trong 5 vị, tương đương với Thức uẩn trong 5 uẩn, là chủ thể của tâm thống nhất, tức thức thứ 6, hoặc thức thứ 8. 3. Chỉ cho thức A lại da thứ 8 theo tông Duy thức. Vì thức này bao hàm nghĩa tích tập, là thể căn bản sinh ra các pháp, cho nên cũng gọi là Tập khởi tâm, nghĩa là thức A lại da tích chứa các chủng tử mà sinh ra hiện hành. Sáu thức trước gọi là thức, tức tác dụng liễu biệt, nhận thức; thức Mạt na thứ 7 gọi là ý, tức tác dụng tư duy. Chủ thể của tâm gọi là Tâm vương, những tác dụng của Tâm vương thìgọi là Tâm sở. (xt. Tâm Ý Thức). II. Tâm. Phạm: Hfd hoặc Hfdaya. Hán âm: Hãn lật đà, Can lật đại, Can lật đa, Càn lạt đà đa, Ngật lợi đà da, Hột lí đà da, Hột lí na da, Hột phạt da. Hán dịch: Tâm, Nhục đoàn tâm, Chân thực tâm, Kiên thực tâm. Cứ theo kinh Lăng già quyển 1, (bản 4 quyển), tâm này là chỉ cho tâm tự tính Đệ nhất nghĩa; còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì chỉ cho Nhục đoàn tâm (quả tim). Trong Mật giáo, hành giả quán tưởng Nhục đoàn tâm(Hãn lật đà)là hoa sen 8 cánh(tức tâm liên) để hiển bày thân Phật của chính mình, vì thế, tâm tự tính chân thực của chúng sinh được gọi là Hãn lật đà. (xt. Hãn Lật Đà). III. Tâm. Tùy theo tác dụng mà tâm được chia ra các loại như sau: -Hai tâm: Chân tâm và Vọng tâm (tâm thanh tịnh và tâm phiền não); Tươngứngtâm và Bất tương ứng tâm(tâm tương ứng với phiền não và tâm không tương ứng với phiền não); Định tâm và Tán tâm(tâm tĩnh lặng và tâm loạn động). -Ba tâm: Tham tâm, sân tâm và si tâm. -Bốn tâm: Tham tâm, sân tâm, si tâm và đẳng tâm(3 độc cùng dấy lênmột lượt). -Bốn tâm: Nhục đoàn tâm(trái tim), Duyên lự tâm(tâm suy tư theo đối tượng), Tập khởi tâm(thức A lại da) và Kiên thực tâm(tâm chắc thực). -Năm tâm: Suất nhĩ tâm (tâm khởi lên lúc bắt đầu tiếp xúc với ngoại cảnh), Tầm cầu tâm(tâm muốn biết), Quyết định tâm (tâm quyết đoán), Nhiễm tịnh tâm(tâm sinh ý niệm nhiễm ô, thanh tịnh) và Đẳng lưu tâm(tâm niệm niệm nối nhau nhưng trước sau không khác). Tức khi ý thức tiếp xúc với đối tượng bên ngoài thì lần lượt khởi lên 5 tâm. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 1 có nêu 8 tâm là: Chủng tử tâm, Nha chủng tâm, Bào chủng tâm, Diệp chủng tâm, Phu hoa tâm, Thành quả tâm, Thụ dụng tâm và Anh đồng tâm. Tám tâm này là hiển bày thứ tự trong quá trình thành thục của tâm thiện, tức bắt đầu từ hạt giống(chủng tử tâm) đến nứt mầm, nảy lá, nở hoa, kết quả... Còn kinh Đại nhật thì phân loạitâm của hành giả Du già làm 60 tâm... [X. kinh Nhập lăng già Q.9; kinh Giải thâm mật Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch cũ); luận Hiển dương thánh giáo Q.17; luận Thành duy thức Q.2; luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng]. (xt. Ngũ Tâm).
tâm an trụ
Ekaggati (S).
tâm ba
Wave of thoughts; uninterrupted sequence of thoughts.
; (心波) Sóng tâm, nghĩa là tâm niệm của phàm phu khởi diệt nối tiếp không ngừng, giống như những đợt sóng dậy hết đợt này đến dợt khác, nên gọi là Tâm ba. Nếu vượt được những niệm lự bất tuyệt này mà vào cảnh giới vô niệm thì đó là cảnh giới Phật. (xt. Nhất Niệm Bất Sinh).
tâm bi
Karuṇā (S), Compassion (S, P), nying je (T)Lòng thương xót của chư Phật, chư Bồ tát đối với sự khổ của chúng sanh và muốn giúp họ hết khổ. Trong Tứ vô lượng tâm. Gồm: từ (maitri), bi (karuna), hỉ (mudita), xả (upeksa).
tâm bình
Serenity, calmness (of the mind).
tâm băng
The heart chaste as ice; the mind congealed as ice.
; (心冰) Trong tâm có mối ngờ mà không gỡ ra được, giống như khối băng đóng cứng, cho nên gọi là Tâm băng. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 91 trung) nói: Ôi! Cách Phật càng xa, thương cho tâm băng chưa tan.
tâm bảo
Precious mind.
Tâm bất khả đắc
心不可得; J: shin fuka toku; nghĩa là »không thể nào nắm bắt được tâm«;|Một cách trình bày của Thiền tông để chỉ những biến chuyển vô cùng của các Pháp trong Tâm; nghĩa là chúng luôn luôn biến đổi như một dòng nước chảy, không có thật theo ý nghĩa dài lâu và cũng vì vậy, người ta cũng không thể nào nắm giữ được »Tâm« hay hiểu một cách khác, »Tâm« vượt qua mọi định nghĩa thông thường, vượt qua mọi ngôn ngữ diễn bày (Bất khả tư nghị, Bất khả thuyết).
tâm bất thiện
Akuśala citta (S), Unwholesome consciousness.
tâm bất tương ưng hành
(心不相應行) Phạm: Citta-viprayukta-saôskàra. Pàli: Citta-vippayutta-dhamma. Cũng gọi Tâm bất tương ứng hành uẩn, Phi sắc phi tâm bất tương ứng hành pháp, Phi sắc bất tương ứng hành uẩn, Tâm bất tương ứng pháp, Bất tương ứng hành pháp, Bất tương ứng hành, Bất tương ứng. Chỉ cho nhóm pháp hữu vi không thuộc về sắc pháp, tâm pháp, cũng không tương ứng với tâm, là vị thứ 4 trong 5 vị do tông Câu xá và tông Duy thức lập ra. Theo Thuyết Nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa, ngoài Sắc, Tâm và Tâm sở còn có thực pháp không tương ứng với tâm, thể của nó là pháp hữu vi, thuộc về Hành uẩn trong 5 uẩn, vì thế nên gọi là Tâm bất tương ứng hành. Nhưng kinh Bộ và tông Duy thức thì cho rằng Bất tương ứng hành được giả lập từ phần vị của Sắc và Tâm chứ không phải là pháp thật. Về con số của pháp Bất tương ứng hành thì giữa Đại thừa và Tiểu thừa có thuyết khác nhau. Tông Câu xá Tiểu thừa nêu 14 pháp Bất tương ứng hành: Đắc, Phi đắc, Đồng phận, Vô tưởng quả, Vô tưởng định, Diệt tận định, Mệnh căn, Sinh, Trụ, Dị, Diệt, Danh thân, Cú thân và Văn thân. Luận Thuận chính lí quyển 12 thêm Hòa hợp tính nữa mà lập thuyết 15 pháp Bất tương ứng hành. Luận Phẩm loại túc quyển 1 thì nêu 16 pháp: Đắc, Vô tưởng định, Diệt định, Vô tưởng sự, Mệnh căn, Chúng đồng phận, Y đắc, Sự đắc, Xứ đắc, Sinh, Lão, Trụ, Vô thường tính, Danh thân, Cú thân và Văn thân. Ngoài ra, Phân biệt bộ và Độc tử bộ cũng xếp Tùy miên vào pháp Bất tương ứng hành. Về phía các nhà Duy thức Đại thừa thì trong luận Du già sư địa quyển 3, nêu 24 pháp Bất tương ứng hành: Đắc, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng di thục, Mệnh căn, Chúng đồng phận, Sinh, Lão, Trụ, Vô thường, Danh thân, Cú thân, Văn thân, Dị sinh tính, Lưu chuyển, Định dị, Tương ứng, Thế tốc, Thứ đệ, Thời, Phương, Số, Hòa hợp và Bất hòa hợp. Luận Đại thừa a tì đạt ma tập quyển 1 thì lược bỏ Bất hòa hợp mà còn 23 pháp Bất tương ứng hành. Còn luận Đại thừa ngũ uẩn thì nêu 14 pháp là: Đắc, Vô tưởng đẳng chí, Diệt tận đẳng chí, Vô tưởng sở hữu, Mệnh căn, Chúng đồng phận, Sinh, Lão, Trụ, Vô thường, Danh thân, Cú thân, Văn thân và Dị sinh tính.[X. luận Câu xá Q.4, 19; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Câu xá luận quang kí Q.4; Thành duy thức luận diễn bí Q.2, phần cuối; luận Đại tì bà sa Q.22, 45; luận Thành duy thức Q.1, 2; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Ngũ Vị Thất Thập Ngũ Pháp, Ngũ Vị Bách Pháp).
Tâm bất tương ưng hành pháp 心不相應行法
[ja] シンフソウオウギョウホウ shinfusō-ōgyōhō ||| (viprayyuktas saṃskārāh, citta-viprayukta-dharma); "elements not concomitant with mind (or matter)." Within the fourth of the five skandhas (impulse 行) there are forces not associated with mental functions as well as forces that are. Forces that are associated with mental functions are included in the group of elements with that characteristic. Concerning these 'mental function' elements, the two skandhas of feeling and perception are included as separate mental functions, while the remaining mental functions are included in the skandha of impulse. However, within the skandha of impulse, elements that are not mental functions, such as physiological energies are present. Since these do not operate in direct association with the mind, they are named as such. In the theory of the Abhidharmakośa school 倶舎宗, there are fourteen of these kinds of elements and they are considered to be real, while in Consciousness-only theory, there are twenty-four, and they are considered to be unreal. In Yogācāra, these are: acquisition 得, life force 命根, human commonality 衆同分, nature of unenlightened sentient being 異生性, the concentration of no conceptualization 無想定, the concentration of extinction 滅盡定, 無想報, body of name 名身, body of phrases 句身, 文身, birth 生, old age 老, abiding 住, impermanence 無常, transmigration 流轉, 定異, concomitance 相應, activity 勢速, sequence 次第, direction 方, time 時, number 數, combining nature 和合性, non-combining nature 不和合性〔大乘百法明門論T 1614.31.855b-c〕 => (s: viprayyuktas saṃskārāh, citta-viprayukta-dharma; e: elements not concomitant with mind (or matter). Là vị thứ tư (hành, 行 e: impulse) trong Ngũ uẩn có tác dụng không tương ưng với tâm cũng như tác dụng của nó. Tác dụng tương ưng với tâm sở pháp bao gồm những pháp có đặc tính ấy. Về những 'tâm sở' pháp, hai vị thọ uẩn và tưởng uẩn chỉ bao gồm những tâm sở riêng biệt, trong khi những tâm sở còn lại đều bao gồm trong hành uẩn. Tuy nhiên, trong hành uẩn, những pháp không phải là tâm sở, như những năng lực sinh lý đang hiện hữu; do vì nó không tác dụng trực tiếp với tâm, nên nó được mệnh danh như vậy. Trong giáo lý của Câu-xá tông, có 14 pháp tâm bất tương ưng hành, được xem là thực pháp; trong khi đó theo giáo lý Duy thức tông, có 24 pháp, được xem là pháp giả lập. Trong Du-già hành tông, 24 pháp ấy là: 1. Đắc; 2. Mạng căn; 3. Chúng đồng phận; 4. Dị sinh tính; 5. Vô tưởng định; 6. Diệt tận định; 7. Vô tưởng báo; 8. Danh thân; 9. Cú thân; 10. Văn thân; 11. Sinh; 12. Lão; 13. Trú; 14. Vô thường, 15. Lưu chuyển; 16. Định dị; 17. Tương ứng; 18. Thế tốc; 19. Thứ đệ; 20. Phương; 21. Thời; 22. Số; 23. Hoà hợp tính; 24. Bất hoà hợp tính.
tâm bất tương ứng hành pháp
Cittaviprayukta-saṁskāra (S)Một trong 4 pháp của hữu vi pháp: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp và Tâm bất tương ứng hành pháp.
tâm bất tại
Absent minded, inattentive; uneasy mind.
tâm can
Heart and liver; will and courage.
tâm chân
Our mind is by nature that of the bhùta-tathatà. True-mind.
; (心真) Chỉ cho chân tính của tâm tự tính thanh tịnh mà ai ai cũng sẵn có. Bởi vì tâm tính của chúng ta vốn thanh tịnh, xa lìa phiền não, không có nhiễm ô, cho nên trong các kinh điển phần nhiều gọi đó là Tự tính thanh tịnh, Bản tính thanh tịnh tâm, hoặc Tính tịnh tâm, cũng gọi Như lai tạng tâm, hoặc Phật tính. (xt. Tự Tính Thanh Tịnh Tâm).
tâm chân như môn
(心真如門) Cũng gọi Chân như môn. Đối lại: Tâm sinh diệt môn. Chỉ cho thể của tâm Như lai tạng, là 1 trong 2 môn của Nhất tâm được nói trong luận Đại thừa khởi tín. Nếu đứng về phương diện Tâm chân như môn mà nói thì bản thể của Nhất tâm là lí thể tuyệt đối bình đẳng, vượt ra ngoài tất cả sự sai biệt như mê, ngộ... tức là Chân như bất biến; còn nếu đứng về phương diện Tâm sinh diệt môn mà bàn, thì Chân như (tâm Như lai tạng bất sinh bất diệt) nương theo tâm sinh diệt, do sựkhởi động của vô minh vọng duyên mà sinh ra vô số hiện tượng sai biệt, tức là Chân như tùy duyên. Tâm Như lai tạng bất sinh bất diệt này khởi động, gọi là A lại da thức; thức này chẳng phải một cũng chẳng phải khác với tâm không sinh diệt và tâm sinh diệt, mà chính là sự hòa hợp của 2 tâm này. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng].
tâm châu
The gem of mind. The mind stuff of all the living, being of the pure Buddha-nature is likened a translucent gem.
; (心珠) Chỉ cho tâm tính của chúng sinh. Vì tâm tính của chúng sinh xưa nay vốn thanh tịnh, ví như hạt minh châu trong sáng, nên gọi là Tâm châu.
tâm chí
Will, determination.
tâm chú
Mind-spell, true-mantra.
; (心咒) I. Tâm Chú. Chỉ cho Nhất tự chú(thần chú một chữ) trong 3 loại thần chú(Đại chú, Tiểu chú và Nhất tự chú) của chư Phật. Nhất tự chú cũng gọi là Tâm chú. Tâm nghĩa là tinh yếu chân thực, đồng nghĩa với chữ Tâm trong Tâm kinh. II. Tâm Chú. Từ gọi chung các Đà la ni. Đà la ni là pháp tối thắng trong tâm Như lai, cho nên gọi là Tâm chú. Kinh Lăng nghiêm quyển 7 (Đại 19, 133 thượng) ghi: Đức Phật phóng hào quang từ trên đỉnh đầu, ngồi tòa sen báu mà nói tâm chú.
tâm chưa ổn
Kẻ chưa triệt ngộ thì tâm chưa yên ổn, cũng là gốc nghi chưa được dứt sạch.
tâm chứng
The inner witness, or assurance, mind and Buddha witnessing together.
; (心證) Chỉ cho tâm và Phật ấn chứng nhau. Thơ của ngài Thích kiểu nhiên có câu: Hoa rơi rõ giác tính, Trăng tàn biết tâm chứng.
tâm căn
Hadaya-vatthu (P), Physical base of mind.
tâm cơ
Cunningness of mind; sagacity, shrewdness; contrivances.
tâm cảnh
Mood; state of mind.
tâm cảnh lục
(心境錄) Cũng gọi Tông kính lục, Tông giám lục.Tác phẩm, 100 quyển, do ngài Vĩnh minh Diên thọ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung nói rộng về các kinh, luận, sớ để nêu rõ ý chỉ lấy Nhất tâm làm tông của Thiền gia. (xt. Tông Kính Lục).
Tâm cảnh lục 心鏡録
[ja] シンキョウロク Shinkyōroku ||| The Xinjing lu. See 宗鏡録. => (c: Xinjing lu). Xem Tông cảnh lục 宗鏡録.
tâm cấu
The impurities of the mind.
tâm cấu nhiễm
Afflicted consciousness nyn yid (T).
tâm cụ tam thiên sắc cụ tam thiên
(心具三千色具三千) Tâm đủ 3 nghìn, sắc đủ 3 nghìn, là từ ngữ ám chỉ quan điểm bất đồng về vấn đề Vọng tâm quán và Chân tâm quán giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Tống. Vào thời Tống, giữa các nhà Thiên thai đã phát sinh tranh luận về vấn đề chân vọng của một niệm tâm, phái Sơn gia chủ trương Vọng tâm quán, còn phái Sơn ngoại thì chủ trương Chân tâm quán. Các học giả phái Sơn ngoại như Nguyên thanh, Khánh chiêu, Trí viên..., đứng trên quan điểm Duy tâm luận, chủ trương Tâm pháp là năngtạo, chúng sinh và Phật là sở tạo, lập ra thuyết Tâm cụ tam thiên, tức cho rằng trong một niệm tâm tính có đầy đủ 3 nghìn các pháp, vì thế, không đồng ý trong Sắc pháp cũng đầy đủ 3 nghìn. Trong đó, ngài Trí viên chủ trương Tâm, Phật và Chúng sinh xưa nay vốn không ngoài Nhất tâm, không thừa nhận chỉ có Sắc vốn đầy đủ 3 nghìn các pháp mà phảinói Sắc tức Tâm, qui về gốc tâm thì mới đồng ý là Sắc pháp cũng đầy đủ 3 nghìn các pháp. Các học giả phái Sơn gia như ngài Tri lễ... thì quyết giữ vững lập trường Thực tướng luận của các nhà Thiên thai là Sắc tâm bất nhị nên chủ trương Sắc đầy đủ 3 nghìn. Tức cho rằng Tâm pháp và Sắc pháp đều có đầy đủ 3 nghìn các pháp, nghĩa là nếu Tâm pháp có năng lực tạo tác và nhiếp trì tất cả thì Sắc pháp cũng thế. Đến đời sau, vì thuyết Sắc cụ tam thiên của phái Sơn gia có khả năng hiển bày lí viên mãn chân thực nên lấy đó làm chính nghĩa của tông Thiên thai. [X. luận Kim cương ti; Kim cương ti hiển chính lục Q.1; Biệt hành huyền kí Q.2; Thập nghĩa thư Q.thượng; Chỉ quán đại ý; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.5, phần 3].
tâm cực
The pole or extreme of the mind; the mental reach; the Buddha.
tâm diệt
Mind-extinction
tâm diệt bất diệt luận
(心滅不滅論) Luận về tâm diệt hay không diệt. Tức sự tranh luận giữa tín đồ Phật giáo và tín đồ các tông giáo khác về vấn đề sau khi chết, tâm thần(linh hồn) còn hay mất, diễn ra vào thời Nam Bắc triều của Trung quốc. Trong luận Sa môn bất kính vương giả của ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn, có nêu lên thuyết Hình tận thần bất diệt (Thể xác chết nhưng tinh thần không mất). Luận Lí hoặc của Mâu tử cũng chủ trương Tinh thần không diệt. Đến đầu thời Lưu Tống, học trò của ngài Tuệ viễn là cư sĩ Tông bỉnh (375-443) soạn Luận Minh Phật, trong đó, nói rõ về tinh thần bất diệt, nhưng Tuệ lâm ở Trị thành lại soạn Luận Bạch hắc để bài bác thuyết này, từ đó đã dẫn đến cuộc tranh luận kéo dài suốt thời Nam Tề, trong đó, nổi tiếng nhất là Phạm chẩn với tác phẩm Thần diệt luận đã gây ra cuộc luận chiến rất kịch liệt. [X. Hoằng minh tập Q.2,3,4,5; Quảng hoằng minh tập Q.22; Chi na Nho Phật Đạo tam giáo sử luận (Cửu bảo điền lượng viễn); Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng)]. (xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).
tâm duyên
Mental cognition of the environment; to lay hold of external things by means of the mind.
; (心緣) Khởi tâm vin theo ngoại cảnh, nghĩa là tâm nhận biết sự vật bên ngoài. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng) nói: Tất cả pháp từ xưa đến nay vốn lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên.
tâm dược
Mind-medicament.
; (心藥) Thuốc tâm. Chỉ cho Phật pháp, vì Phật pháp là phương thuốc hiệu nghiệm chữa trị tâm bệnh của chúng sinh, cho nên gọi là Tâm dược.
tâm dục
Desire.
Tâm Giác
(心覺, Shingaku, 1117-1180/1182): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ của Dòng Thường Hỷ Viện (常喜院流), húy là Tâm Giác (心覺), tự là Phật Chủng Phòng (佛種房), thông xưng là Tể Tướng A Xà Lê (宰相阿闍梨), Thường Hỷ Viện A Xà Lê (常喜院阿闍梨), xuất thân vùng Kyoto, con trai của Tham Nghị Bình Thật Thân (參議平實親). Ông xuất gia ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi), rồi đến trú tại Thường Hỷ Viện (常喜院) của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji). Sau khi bị bại trong cuộc luận nghị với Trân Hải (珍海) trong cung nội, ông chuyển sang Chơn Ngôn Tông, rồi thọ pháp của Dòng Tiểu Dã (小野流) từ Hiền Giác (賢覺) cũng như Thật Vận (實運) của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), và thọ phép Quán Đảnh từ Kiêm Ý (兼意) ở Thành Liên Viện (成蓮院) của Cao Dã Sơn. Ông lại kiến lập Thường Hỷ Viện trên Cao Dã Sơn, sau đó đến trú tại Vãng Sanh Viện (徃生院, tức Biến Chiếu Quang Viện [遍照光院]). Ông chuyên tu về Đông Mật lẫn Thai Mật, nghiên cứu về sự tướng và viết tập đồ tượng Biệt Tôn Tạp Ký (別尊雜記). Trước tác của ông có Biệt Tôn Tạp Ký 57 quyển, Chư Tôn Đồ Tượng (諸尊圖像) 2 quyển, Đa La Diệp Ký (多羅葉記) 3 quyển, Bối Diệp Tập (貝葉集) 50 quyển, Tâm Mật Sao (心密抄) 16 quyển, v.v.
tâm giác
(心覺) (1117-1180) Danh tăng Nhật bản thuộc tông Chân ngôn, sư được người đời gọi là Tể tướng A xà lê, Thường hỉ viện A xà lê. Sư xuất gia thụ giới ở chùa Viên thành, tu học pháp môn Thiên thai chỉ quán. Sau vì tranh luận với ngài Trân hải tông Tam luận về tông nghĩa bị thua, nên sư mới chuyển sang tu tập giáo nghĩa tông Chân ngôn, thụ pháp ở chùa Đề hồ và núi Cao dã. Sau, sư sáng lập viện Thường hỉ và ẩn cư tại đây. Sư tịch năm 1180, hưởng thọ 64 tuổi. Đệ tử phó pháp là ngài Hiển giác. Đời sau gọi dòng phái của sư là Vãng sinh viện, Thường hỉ viện. Sư có các tác phẩm: Biệt tôn tạp chí 50 quyển, Tâm mục sao 3 quyển. [X. Huyết mạch loại tụ kí Q.5, 6; Kim cương đính vô thượng chính tông truyền đăng quảng lục chính biên Q.6].
tâm giải thoát
Vimokṣatraya (S), Vomokkhattaya (P), Citta-vimukti (S), Là tâm: Không, Vô tướng, Vô nguyện Nhờ thiền định mà giải thoát được định chướng.
; Ceto-vimutti (P). Emancipation of Heart (Mind).
; (心解脫) Phạm: Citta-vimukti. Đối lại: Tuệ giải thoát. Nhờ năng lực thiền định mà thoát khỏi định chướng. Nghĩa gốc của từ này là tâm đã giải thoát khỏi tất cả sự ràng buộc; vì cái đương thể của sự giải thoát chính là tâm nên gọi là Tâm giải thoát; còn nhờ trí tuệ mà được giải thoát thì gọi là Tuệ giải thoát. Nhưng đời sau, từ này đã được thuật ngữ hóa mà gọi trạng thái diệt hết vô minh là Tuệ giải thoát, trạng thái diệt hết khát ái là Tâm giải thoát. Lại đem Tâm giải thoát liên kết với thiền định mà giải thích là nương vào định mà giải thoát khỏi định chướng, tương ứng với Vô tham gọi là Tâm giải thoát; nương vào tuệ mà giải thoát khỏi phiền não chướng, tương ứng với Vô si gọi là Tuệ giải thoát, cùng lúc giải thoát cả hai thì gọi là Câu giải thoát. Tông Câu xá thì chia A la hán làm 2 loại giải thoát là Tuệ giải thoát và Câu giải thoát(được định Diệt tận). Ngoài ra còn có các thuyết về Tâm giải thoát như: Vô lượng tâm giải thoát, Vô sở hữu tâm giải thoát... [X. kinh Thuyết xứ trong Trung a hàm Q.29; luận Đại tì bà sa Q.101; phẩm Chỉ quán trong luận Thành thực Q.15; luận Tập dị môn túc Q.3; luận Câu xá Q.25].
tâm giới
The world of the mind.
; (心戒) I. Tâm Giới. Nghĩa chung của giới Đại thừa, tức là giới ngăn chặn tâm niệm tà ác, bất chính. Tông Tứ phần luật của ngài Nam sơn, về chế giới có lập ra 2 loại là Thâm phòng và Phần hạn, trong đó, Phần hạn chính là Tâm giới.II. Tâm Giới. Cũng gọi Nhất tâm giới, Đạt ma nhất tâm giới. Giới đem tất cả giới pháp qui kết về một tâm của chính mình để quán tưởng, thực hành. (xt. Thiền Giới).
tâm giới, đại thừa giới
The commandments of Mahayàna.
tâm hoa
Heart-flower. Good spirits; cheerful disposition.
; (心華) Hoa tâm, ví dụ bản tâm của chúng ta. Vì bản tâm thanh tịnh như hoa nên gọi là Tâm hoa. Trong kinh thường dùng từ ngữ Tâm hoa khai phu(Hoa tâm nở rộ) để biểu thị ý nghĩa hoát nhiên đại ngộ. [X. kinh Hoa nghiêm Q.66 (bản 80 quyển)].
tâm hành
(心行) Phạm: Citta-carya. I. Tâm Hành. Tức là những tác dụng, hoạt động, trạng thái, biến hóa trong tâm, như vui, buồn, mừng, lo...; những hoạt động tâm lí của người ta không ai giống ai. II. Tâm Hành. Đối tượng của tâm, tức phạm vi tác dụng của tâm. III. Tâm Hành. Chí hướng, tâm nguyện, quyết tâm... của tâm.[X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. IV. Tâm Hành. Ý thức phân biệt, vọng tưởng, sự tính toán so đotừ tâm dấy động lên. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.19; Bích nham lục tắc 46]. V. Tâm Hành. Tâm và Hành gộp chung lại. Trong Tịnh độ giáo, an tâm và khởi hành, gọi là Tâm hành tha lực; còn Bồ đề tâm và các loại thiện hạnh (phát tâm tu hành) thì gọi là Tự lực tâm hành. [X. An lạc tập Q.thượng].
tâm hành bất li
(心行不離) Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng Nam mô A di đà Phật là Hành của bản nguyện; nguyên do của sự tin sâu danh hiệu là Tín của hành giả. Trong Tín tâm của người tu hành tự có đầy đủ nguyện hành của Như lai, cho nên, nếu lìa hành Nam mô A di đà Phật thì không có tín, lìa tín thì không có hành, vì vậy gọi là Tâm hành bất li.
tâm hành xứ diệt
(心行處滅) Chỗ tâm hành dứt bặt, nghĩa là cảnh giới vắng lặng, không còn suy tư phân biệt. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần đầu (Đại 44, 252 thượng) nói: Lìa tâm duyên, vì chẳng phải ý và lời có thể phân biệt; chỗ tâm hành diệt, vì chẳng phải cảnh của Tư tuệ. Đây chính là chân như pháp tính, không thể dùng lời nói để giảng giải, cũng chẳng phải chỗ Tư tuệ phân biệt mà biết được. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, hạ; Đại nhật kinh sớ Q.19; Tông kính lục Q.92].
Tâm hành 心行
[ja] シンギョウ shingyō ||| (1) The function of the mind; the operation of the mind; mental functions (caitasika). 〔瑜伽論 T 1579.30.432b10-14〕 (2) Mental objects; the realm of the mind's operation (citta-gocara). (3) One's intention, wish, vow (Tib. bsam pa). (4) Religious practice (caryā). => 1. Tác dụng của tâm; sự hoạt động của tâm; tâm sở pháp (s:caitasika). 2. Đối tượng của tâm; lĩnh vực hoạt động của tâm (s:citta-gocara). 3. Dự tính, ước nguyện của một người (Tib. bsam pa). 4. Công phu, công hạnh tu tập (s:caryā).
Tâm hương
(心香): chỉ cho hương thơm ngát trong tâm, hương lòng. Hành giả Phật Giáo cần phải bày tỏ lòng chí thành chí kinh, vậy mới có thể cảm ứng lên chư Phật; việc dâng hương cúng Phật cũng giống như vậy, nên được gọi là tâm hương. Từ đó, có từ “nhất biện tâm hương (一瓣心香, một nén hương lòng).” Như trong bài Tướng Cung Tự Bi Minh (相宮寺碑銘) của Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Song thư ý nhụy, thất độ tâm hương (窗舒意蕊、室度心香, cửa bày ý nhụy, thất ngát hương lòng).” Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 40, bài Ngũ Đài Sơn Tạo Trầm Hương Văn Thù Bồ Tát Tượng Sớ (五臺山造沉香文殊菩薩像疏), có đoạn: “Xả tâm hương nhất thốn nhi giá trọng tam thiên, nghiêm Pháp Thân nhất mao nhi phước diên vạn kiếp (捨心香一寸而價重三千、嚴法身一毛而福延萬劫, bỏ hương lòng một tấc mà giá nặng ba ngàn, nghiêm Pháp Thân mảy lông mà phước dài muôn kiếp).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 4 cũng có đoạn: “Sơ trừng tánh thủy, sạ nhiệt tâm hương, nhiên quang minh trí tuệ chi đăng, phụng Thiền duyệt Tô Đà chi vị, diệu hoa tề phóng, chơn quả thường viên, tu pháp cúng dĩ biểu thuần thành, vọng tôn thần chi thùy hâm hưởng (初澄性水、乍爇心香、然光明智慧之燈、奉禪悅酥酡之味、妙華齊放、眞果常圓、修法供以表肫誠、望尊神之垂歆饗, vừa trong nước tánh, mới ngút hương lòng, đốt tỏa sáng trí tuệ ngọn đèn, dâng Thiền duyệt Tô Đà hương vị, hoa mầu cùng thả, chánh quả thường tròn, bày pháp cúng thể hiện tâm thành, ngưỡng tôn thần xót thương hưởng thọ).”
tâm hương
The incense of the mind. Fervour.
; (心香) Hương tâm. Người học Phật với tấm lòng chân thành cung kính thì tự cảm đến Phật, không khác gì đốt hương cúng dường Phật, cho nên gọi là Tâm hương. Người thế tục căn cứ vào ý nghĩa này, phần nhiều dùng từ ngữ một nén tâm hương để bày tỏ lòng sùng bái đối tượng mà mình tín ngưỡng. Trong bài minh của vua Giản văn đế nhà Lương khắc trên bia ở chùa Cung tướng cũng có câu Bên song bày ý nhụy, trong thất thắp tâm hương.
tâm hạnh (hành)
The activities of the mind; also working on the mind for its control; mind and actions.
Tâm Hải
(心海, Shinkai, ?-?): vị tăng chuyên học về Chơn Ngôn lẫn Luật Tông, sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Liêm Thương, húy là Tâm Hải (心海), hiệu Không Nguyệt (空月). Ông theo học về giới luật cũng như hai tông Hiển Mật với Tuấn Nhưng (俊芿) ở Tuyền Dũng Tự (泉涌寺), vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Năm 1277, khi Tuấn Nhưng qua đời, ông nhờ một danh họa người Tống tên Chu Viên Sĩ (周圓士) vẽ tượng thầy mình. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Hỷ (寛喜, 1229-1232), ông đến sống ở Thắng Man Viện (勝鬘院) trong Tứ Thiên Vương Tự (四天王寺, Shitennō-ji), vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu) và chuyên tâm truyền bá giới luật.
tâm hải
Mind as a sea or ocean.
; (心海) Biển tâm. Ví dụ tâm thể của chúng sinh rộng lớn như biển. Kinh Lăng già quyển 1 (Đại 16, 484 thượng) nói: Gió cảnh giới bên ngoài thổi vào biển tâm, làm cho sóng thức nổi lên không ngớt. Đây ví dụ cảnh vật bên ngoài là gió, tâm thể của chúng sinh như biển, còn sự xao động của 8 thức là sóng. Cho nên những từ ngữ như Cảnh phong, Tâm hải, Thức lãng chính là từ ví dụ trên mà ra.
Tâm hải 心海
[ja] シンカイ shinkai ||| 'Mind-sea.' A metaphor for the mind, likening it to a vast sea. => 'Biển tâm'. Ẩn dụ tâm rộng lớn mênh mông như biển.
tâm hỉ
Muditā (S), Sympathetic joy, boundless joy. Trong Tứ vô lượng tâm Gồm: từ (maitri), bi (karuna), hỉ (mudita), xả (upeksa).
tâm học
Shingaku (J).
tâm hồn
Soul; spirit; heart, feeling; nature; essence, inspiration, life.
tâm hỷ
Anumodāna (P), Thanksgiving Anumodana (P).
tâm khí
Mind as receptacle of all phenomina.
; (心器) Chỉ cho tâm thức hữu tình, vì tâm thức có năng lực tích góp, chứa đựng tất cả các pháp giống như vật (khí) dùng để chứa đựng, nên gọi là Tâm khí. Tâm thức bao nhiếp hết thảy hiện tượng tinh thần của con người, có công năng duyên lự, dung nạp, chứa góp các pháp, tự tính của nó vốn thanh tịnh, mà trong kinh điển Phật phần nhiều gọi là Như lai tạng, Chân như, còn tông Pháp tướng thì gọi nó là A lại da thức.
tâm không
Mind space, or mind spaciousness; also the emptied mind.
; (心空) I. Tâm Không. Tâm tính rộng lớn, có khả năng dung nạp muôn tượng, giống như hư không, nên gọi là Tâm không. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 thượng) nói: Từ vô thủy đến nay vốn trụ nơi Tâm không. II. Tâm Không. Tâm xa lìa tất cả phiền não chướng ngại, vắng lặng vô tướng. Kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 827 hạ) nói: Không tuệ tịch lặng quán vô duyên, lại quán tâm không vô lượng báo.
tâm không quán
Contemplation of emptiness heart.
tâm không tạp loạn
Unconfused heart.
tâm khổ
Mental anguish, sorrow.
Tâm khổ 心苦
[ja] シンク shinku ||| Mental suffering (mānasaṃ duḥkham). => Tâm ý sầu khổ (s: mānasaṃ duḥkham)
Tâm kinh
心經|Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh
tâm kinh
Heart sŪtra, Prajaparamita Hridaya SŪtra (S)Xem Ma ha Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh.
; Heart sùtra.
Tâm kinh 心經
[ja] シンギョウ Shingyō ||| The Heart Sutra. See 般若波羅蜜多心經. => (j:Shingyō ;e: The Heart Sutra). Xem Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâmkinh 般若波羅蜜多心經.
tâm kiên định
Steadfast mind.
tâm kính
The mirror of the mind.
tâm kýnh
(心鏡) Gương tâm, chỉ cho tâm của chúng sinh. Vì tâm của chúng sinh giống như tấm gương sáng, có khả năng chiếu soi muôn tượng, cho nên gọi là Tâm kính. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 hạ) nói: Tâm chúng sinh giống như tấm gương. Nếu gương bị bụi phủ thì các sắc tượng không hiện. Tâm chúng sinh cũng vậy, nếu bị ô nhiễm thì pháp thân không hiện.
tâm linh
The mind spirit or genius; intellect, intelligence; psyche.
tâm liên
The lotus of the mind.
; (心蓮) Đóa sen tâm. 1. Trong Hiển giáo, Tâm liên ví dụ chotâmtự tính thanh tịnh của chúng sinh. 2. Trong Mật giáo, Tâm liên là chỉ cho Nhục đoàn tâm(Hãn lật đà, quả tim) của phàm phu, vì Nhục đoàn tâm (quả tim) có hình dáng như đóa sen 8 cánh chưa nở. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4].
tâm luyến ái sắc giới
RŪpavacara-citta (P).
tâm luận
Xem A tỳ đàm tâm luận.
tâm lý
(心理) Bộ sách nói về Nhân minh (luận lí học) của Phật giáo Tây tạng, có nhiều bản của các tác giả khác nhau. Nội dung sách trình bày lí luận về các hoạt động tư duy. Chia tâm làm Lượng và Phi lượng; trong nhận thức thuộc về Lượng thì bao gồm Hiện lượng, Tỉ lượng..., trong nhận thức thuộc về Phi lượng thì bao gồm Dĩ quyết trí, Phân biệt ý, Hiện nhi vị định, Điên đảo thức, Nghi... Ngoài ra, sách còn chia tâm một cách khái quát làm 2 loại lớn là Tâm vương và Tâm sở, Tâm vương gồm 6 thức, Tâm sở gồm 51 thứ. Đây là bộ sách giáo khoa bắt buộc trong học chế của 3 chùa lớn thuộc phái Cách lỗ ở Tây tạng.
tâm lượng
Mind measure; the ordinary man's calculating mind; also capacity of mind.
; (心量) Sự suy lường của tâm. Nghĩa là tâm dấy lên vọng tưởng rồi suy lường, phân biệt những cảnh vật bên ngoài, đó là tâm lượng của phàm phu. Còn tâm lượng chân thực mà Như lai chứng được thì xa lìa tất cả sở duyên(đối tượng), năng duyên(chủ thể) mà an trụ nơi vô tâm. [X. kinh Lăng già Q.3].
tâm lạc
Xem Lạc.
tâm lộ
(心路) Đường tâm. Chỉ cho tâm, vì tâm của người ta là con đường tu hành đưa đến quả vị Phật. Vô môn quan tắc 1 (Đại 48, 292 hạ) nói: Tham thiền cần phải thấu suốt cửa Tổ sư, diệu ngộ phải đến tận cùng tâm lộ; nếu không thấu suốt cửa Tổ sư, chẳng đến tận cùng tâm lộ thì đều chỉ là loài tinh linh sống bám vào cây cỏ mà thôi.
tâm lực
Mental vigour; strenght of mind; mental power; psychical energy.
tâm ma
Mind-mara.
; (心魔) Chỉ cho các ma phiền não như tham dục, dâm dục... có sức dẫn dắt con người đivào đường tà ác. Kinh Lăng nghiêm nói: Chớ để tâm ma dấy lên những ý nghĩ xấu ác. Ác ma phiền não này có năng lực phá hại thiện pháp thế gian và xuất thế gian, vì thế cũng gọi là Tâm ma tặc.[X. Tịnh tâm giới quán Q.thượng].
tâm minh
(心銘) Gọi đủ: Ngưu đầu sơn Sơ tổ Pháp dung thiền sư tâm minh. Tác phẩm, 1 thiên, do ngài Ngưu đầu Pháp dung soạn vào đầu đời Đường, được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 trong Đại chính tạng tập 51. Nội dung bài minh này lấy tư tưởng Bát nhã làm trung tâm. Phần vấn đáp của ngài Nam dương Tuệ trung trong Tổ đường tập quyển 2 và phần Thị chúng của ngài Long nha trong Tông kính lục quyển 98... đều có trích dẫn bài minh này.
tâm mã
Restless mind.
tâm nbiệm
To think of; to reflect upon; to mediatate upon; to ponder over sth.
tâm nghiệp công đức
(心業功德) Chỉ cho công đức của trí bình đẳng vô phân biệt mà Phật A di đà dùng để trang nghiêm tâm nghiệp của Ngài, là 1 trong 8 thứ trang nghiêm của Phật thuộc 29 loại trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc. [X. kinh Hoa nghiêm Q.17; (bản dịch mới); luận Đại thừa trang nghiêm Q.3; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. (xt. Nhị Thập Cửu Chủng Trang Nghiêm).
tâm nguyên
(心源) I. Tâm Nguyên. Nguồn tâm. Chỉ cho tâm tính, cũng chính là Chân như. Vì tâm là nguồn gốc của hết thảy muôn vật, nên gọi là Tâm nguyên. II. Tâm Nguyên (1881-1970). Cao tăng Trung quốc người ở Đài bắc, Đài loan, họ Tôn. Năm 1910, sư y vào Pháp sư Đại thạch xuất gia, sau đó, từng 2 lần đến các danh sơn trong nước như Nam phổ đà... ở Hạ môn tham học pháp Thiền. Năm Dân quốc thứ 4 (1915), sư sáng lập Thiền tự Đông hòa ở đường Nhân ái, thành phố Đài bắc. Năm Dân quốc thứ 5 (1916), sư sáng lập trường Trung học Phật giáo Đài loan (nay là trường Trung học Thái bắc), rồi xây tháp Linh quang ở Thiền tự Trung hòa tại Bắc đầu. Sư từng giữ các chức Ủy viên thường vụ hội Phật giáo Trung quốc, Hội trưởng chi hội Phật giáo thành phố Đài bắc, Giám đốc trường Trung học Thái bắc, Trụ trì Thiền tự Đông hòa, Chủ nhiệm tháp Linh quang... Sư có tác phẩm: Chỉ nguyệt tập.
tâm nguyện
Wish, desire, intention, vow, resolve; will of the mind.
tâm nguyệt
Mind (as the) moon; heart pure and bright as the moon.
; (心月) Tâm tính trong sáng ví như mặt trăng nên gọi là Tâm nguyệt. Luận Kim cương đính du già trung phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm (Đại 32, 573 hạ) nói: Do quán xét như thế, soi thấy bản tâm, vắng lặng trong sáng, giống như trăng tròn, chiếu khắp hư không, chẳng hề phân biệt.
tâm nguyệt luân
(心月輪) Tâm bồ đề tròn đầy trong sáng ví như vầng trăng. Pháp Kim cương giới của Mật giáo quán tưởng nhục đoàn tâm (quả tim) của chúng sinh là vầng trăng, vì trăng có tròn, khuyết mà phân biệt phàm, thánh khác nhau. Kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng Đại giáo vương quyển thượng (Đại 18, 314 thượng) nói kệ rằng: Ta đã thấy tâm mình Trong sáng như vầng trăng Lìa phiền não nhơ nhớp Năng chấp và sở chấp. Chư Phật đều dạy rằng: Tâm ngươi vốn như thế Bị khách trần che lấp Tâmbồ đề là tịnh Ngươi quán vầng trăng sáng Chứng được tâm bồ đề (...) Khiến cho tâm nguyệt luân Tròn đầy càng sáng rỡ. [X. Tâm nguyệt luân bí thích; luận Bồ đề tâm, Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].
tâm nhãn
The mind's eye; mental vision; acumen; perspicacity; clairvoyance.
; (心眼) Mắt tâm. Nhờ năng lực thiền định mà thấy rõ suốt các pháp, không bị ngăn che. Tức chẳng do mắt thịt, cũng không nhờ mắt trời, chỉ do năng lực thiền định mà soi thấy các cõi Phật trang nghiêm ở các phương khác, hoặc thấy rõ những thứ bất tịnh trong thân mình. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì khi vua Tần bà sa la bị con mình là Thái tử A xà thế giam cầm trong ngục tối, đã từng dùng tâm nhãn trông thấy đức Phật từ đàng xa. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.3; kinh Bát chu tam muội; kinh Quán phổ hiền bồ tát hành pháp; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 thượng; Quán vô lượng thọ Phật diệu tông sao Q.4].
Tâm như ý túc
xem Bốn như ý túc.
tâm nhất cảnh tánh
Cittekaggata (S), Cittaikagrata (S), One-pointedness of mind Chất đa ế ca yết; Cittekaggata (S)Một loại định, trong đó tâm nhiếp vào một cảnh duy cảnh.
; (心一境性) Phạm:Cittaikàgratà. Hán âm: Chất đa ế ca a yết đa la. Trạng thái chuyên chú tâm vào một cảnh, là tự tính của định, giống với thể của Đẳng trì. [X. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.5, phần đầu]. (xt. Định).
tâm nhất cảnh tính
Città-ekàgrata (S). Concentration, "One pointedness of mind"
tâm niệm
(心念) Ý niệm khởi lên trong tâm thức liên tục từng sát na. Luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài nói rằng: Thông thường, pháp niệm Phật có 2 loại, 1 trong 2 loại ấy là Tâm niệm. Tâm niệm niệm Phật lại được chia làm 2 pháp: 1. Niệm sắc thân Phật: Quán niệm thân Phật A di đà có 8 vạn 4 nghìn tướng, mỗi tướng có 8 vạn 4 nghìn vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp có 8 vạn 4 nghìn tia sáng. 2. Niệm trí thân Phật: Quán niệm Phật A di đà có 5 phần pháp thân, có sức đại từ bi vô úy... [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.34; luận Tì ni mẫu Q.8; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng, phần 1; Vãng sinh yếu tập Q.trung phần cuối].
tâm niệm bất không quá
Pondering on (Buddha) and not passing (the time) in vain.
tâm niệm thuyết giới
Adhiṭṭhāna-Uposatha (P), Observance of determination.
; Aditthàna Uposatha (P). Observance with determination.
tâm niệm xứ
Cittanupassana (SP), Contemplation of states of mind, Citta-smṛty-upasṭhāna (S)Một trong Tứ niệm xứ.
; (心念處) Phạm: Citta-smfty-upasthàna. Cũng gọi Tâm niệm trụ. Quán xét tâm là vô thường, 1 trong 4 niệm xứ. Tâm là tâm thức của mắt tai mũi lưỡi thân ý, niệm niệm sinh diệt, không lúc nào dừng nghỉ, cho nên quán tâm là vô thường để phá trừ ý tưởng điên đảo cho nó là thường trụ. [X. luận Du già sư địa Q.36; Đại thừa nghĩa chương Q.11]. (xt. Tứ Niệm Trụ).
tâm năng biến
Di thục năng biến thuộc thức thứ tám, Tư lượng năng biến thuộc thứ bảy, Liễu biệt năng biến thuộc thức thứ sáu. Vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều do ba thức này hợp tác biến hiện, nên gọi là Tâm năng biến.
Tâm pháp
心法; S: cittadharma; |Tâm sở
tâm pháp
Citta-dharmas (S) Mental-dharmas. Eight mental-dharmas: (1) nhãn thức caksur-vijnàna, eye-consciousness; (2) nhĩ thức srotra- vijnàna, ear-consciousness; (3) tỉ thức ghràna-vijnàna, nose-consciousness; (4) thiệt thức jihvà-vijnàna, tongue-consciousness; (5) thân thức kàya-vijnàna, body-consciousness; (6) ý thức mano-vijnàna, conscious mind; (7) mạt na thức manana-vijnàna, subsconcious mind; (8) a lại da thức àlaya-vijnàna, ideation store.
; (心法) Phạm: Citta-dharma. Pàli: Citta-dhamma. Chỉ cho Tâm vương. Trong thuyết 5 vị 75 pháp của luận Câu xá thuộc Tiểu thừa thì Tâm pháp chỉ có 1 thứ, tức là 6 thức tâm vương; còn trong thuyết 5 vị 100 pháp của luận Bách pháp minh môn thuộc Đại thừa thìTâm pháp có 8 thứ, tức là 8 thức. Nhưng, nếu khi dùng 2 pháp Sắc và Tâm để phân loại vạn hữu thì tâm vương và tâm sở được hợp chung làm Tâm pháp, đối lại với Sắc pháp. [X. luận Du già sư địa Q.100; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8].
Tâm pháp 心法
[ja] シンボウ shinbō ||| (1) The dharma of mind--the mind, consciousness (Skt. citta, vijñāna, Pali citta). The mind itself 心王, as contrasted with the objects of mind 心所有法. (vijñāna). This is the first of the five classes 五法 of elements enumerated in the Yogācāra scheme of 100 elements. {II} Mental objects = 心所. 〔二障義HPC 1.805c〕 => 1. Tâm, thức (Skt. citta, vijñāna, Pali citta). Tâm vương, ngược với Tâm sở hữu pháp 心所有法. Thức (s:vijñāna). Đây là nhóm thứ nhất của Ngũ pháp 五法 trong bảng sắp xếp 100 pháp của Duy thức tông 2. Tâm sở 心所.
tâm phân biệt tướng
Città-vikalpa-laksana (S). Discriminated appearance by the mind.
tâm phược
(心縛) Sự trói buộc tâm, chỉ cho vọng tưởng. Vì những ý tưởng mê vọng trói buộc tâm con người nên gọi là Tâm phược. Kinh Lăng già quyển 2 (Đại 16, 496 hạ) nói: Tướng kia chính là lỗi, đều do tâm phược sinh.
tâm phật
The Buddha within the heart; from mind is Buddhahood; the Buddha revealed in or to the mind; Mind is Buddha.
; (心佛) I. Tâm Phật. Nương vào tâm mà thành Phật, 1 trong Hành cảnh thập Phật do tông Hoa nghiêm lập ra. Kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm quyển 52 (Đại 10, 375 trung) nói: Niệm niệm trong tự tâm thường có Phật thành chính giác. Tại sao vậy? Vì chư Phật Như lai không lìa tâm này mà thành chính giác. II. Tâm Phật. Phật hiện ra nơi tâm. III. Tâm Phật. Tâm tức Phật. [X. kinh Lăng nghiêm Q.7]. IV. Tâm Phật. Tâm và Phật. V. Tâm Phật. Bản tính của tự tâm chúng sinh là Phật thể, tức là ngoài chân tâm sẵn có nơi tự thân ra không có Phật thể nào khác.
tâm phỉ
Xem Hỷ.
tâm quang
The light from (a Buddha's) mind; merciful heart.
; (心光) Cũng gọi Trí quang, Nội quang. Chỉ cho tâm trí sáng suốt, hoặc ánh sáng trí tuệ chiếu soi. Ánh sáng trí tuệ lại có 2 nghĩa: Chiếu soi chân, tục; ứng hợp khắp các căn cơ. [X. luận Đại trí độ Q.47; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3]. (xt. Quang Minh).
tâm quang nhiếp hộ
(心光攝護) Ánh sáng từ tâm đức Phật A di đà phát ra chiếu soi và hộ trì hành giả niệm Phật. Quán niệm Pháp môn (Đại 47, 25 trung) nói: Tâm quang của đức Phật kia thường chiếu soi người ấy, nhiếp hộ không bỏ, lại chiếu soi nhiếp hộ cả các hành giả tu những tạp nghiệp khác, đây cũng là duyên tăng thượng hộ niệm đời hiện tại. [X. Tuyển trạch hoằng nguyện quyết nghi sao Q.3; Lục yếu sao Q.5].
tâm quán
Contemplation of the mind and its thoughts.
; (心觀) Quán xét tâm. Chỉ cho pháp quán Nhất tâm tam quán của Viên giáo Thiên thai. Tức pháp quán không theo thứ tự Không, Giả, Trung, mà dung hợp cả 3 trong 1 tâm, khi đề khởi 1 quán thì đầy đủ 3 quán. Pháp quán này lấy tâm niệm bình thường của người ta làm đối tượng để quán xét, do đó, có khác với Pháp giới quán của tông Hoa nghiêm và Duy thức quán của tông Pháp tướng.
tâm quỷ
(心鬼) Tức ác quỉ trong tà tâm xui khiến con người tạo các nghiệp ác trong đời hiện tại,nhưng sau khi chết tự biết sám hối. Cũng có thuyết cho tâm con người hiểm độc rất đáng sợ, giống như ác quỉ, nên cũng gọi là Tâm quỉ. Nhưng tục ngữ thông thường cho Nghi tâm sinh ám quỉ là Tâm quỉ, nghĩa là vì trong tâm sợ hãi; nghi ngờ mà sinh ra các thứ ảo giác.
tâm sanh diệt môn
(心生滅門) Cũng gọi Sinh diệt môn. Chỉ cho tướng của tâm Như lai tạng, là 1 trong 2 môn Nhất tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín. Tâm sinh diệt môn và Tâm chân như môn được gọi chung là Khởi tín nhị môn, Chân sinh nhị môn, là Thể (tâm Chân như môn) và Tướng(tâm Sinh diệt môn) của tâm Như lai tạng. Đứng về phương diện Tướng mà nói thì tâm Như lai tạng theo sự huân tập mà khởi động, trở thành nhiễm, tịnh khác nhau. Nhưng dù có trở thành nhiễm, tịnh, nhưng thể tính của tâm ấy vẫn thường hằng bất động. Luận Đại thừa khởi tín cũng nói: Nhiếp vọng về chân, chân vọng hợp nhau, duyên tập khởi hết, gọi là Tâm sinh diệt.[X. Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu]. (xt. Tâm Chân Như Môn).
tâm sinh khởi
Pravrtti-vijnàna (S). Evolving of mind. Also Chuyển thức.
tâm sát
Xem Tứ.
tâm sư
The mind as master.
tâm số
Older term for tâm sở.
Tâm số pháp 心數法
[ja] シンジュホウ shinjuhō ||| Mental functions; an earlier way of translating the Sanskrit caitta, the later term being 心所有法. A term which refers generally to the function of the mind as it cognizes various objects. 〔瑜伽論T 1579.30.410a〕 => Tâm sở pháp, cách dịch thời xưa chữ caitta trong tiếng Sanskrit. Thuật ngữ ngày nay là Tâm sở. Thuật ngữ thường đề cập đến tác dụng của tâm khi nhận thức các cảnh khác nhau.
Tâm số 心數
[ja] シンジュ shinju ||| Mental functions; an earlier way of translating the Sanskrit caitta, the later term being 心所. A term which refers generally to the function of the mind as it cognizes various objects. 〔瑜伽論T 1579.30.410a〕 => Các tác dụng của tâm: cách dịch thời xưa chữ caitta trong tiếng Sanskrit. Thuật ngữ ngày nay là Tâm sở. Thuật ngữ thường đề cập đến tác dụng của tâm khi nhận thức các cảnh khác nhau.
tâm sổ
(心數), dịch từ Phạn ngữ là caitasik, cách dịch mới (tân dịch) về sau là tâm sở (心所) chỉ các trạng thái khác nhau của tâm. Vì tâm có rất nhiều trạng thái nên gọi là tâm sổ. Các thuật ngữ tâm vương, tâm sở... hiện quen thuộc với nhiều người hơn nên khi chuyển dịch chúng tôi chọn dùng tâm sở thay cho tâm sổ. Xem tâm sở.
Tâm sở
心所; S, P: cetasika; hoặc Tâm sở hữu pháp (s: caitta-dharma);|Là những yếu tố phụ thuộc vào tâm, gắn liền với một nhận thức (s: vijñāna) – nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương (s: citta-rāja), là hoạt động tâm thức chủ yếu – đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó. Việc phân tích và hệ thống hoá các tâm sở là một kì công của các Ðại luận sư Ấn Ðộ. Chúng mô tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, tìm được nơi chính mình – có thể gọi là bản đồ tâm lí của con người.|Trong khi Kinh tạng tóm thâu mọi hiện tượng của sự sống dưới Ngũ uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ đề cập 3 khía cạnh triết lí, phân tích tâm lí khi bàn đến những gì hiện Hữu (s: bhava): Tâm (citta), Tâm sở và Sắc (rūpa). Tâm sở bao gồm Thụ (vedanā), Tưởng (saṃjñā) và 50 Hành (saṃskāra), tổng cộng là 52 tâm sở. Trong số này, 25 có tính chất cao cả (thiện và trung tính về phương diện nghiệp), 14 là Bất thiện (akuśala) còn 13 bất định, nghĩa là có thể thiện, bất thiện hay trung tính tuỳ thuộc vào tâm (thức) mà chúng tương ưng.|Nhất thiết hữu bộ (sarvāstivāda) chia các tâm sở thành sáu loại theo luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa) của Thế Thân (vasubandhu) và A-tì-đạt-ma phát trí luận (abhidharmajñānaprasthāna-śāstra) của Già-đa-diễn-ni tử (kātyāyanīputra), tổng cộng là 46 tâm sở:|I. 10 Ðại địa pháp (大地法; s: mahābhūmikā-dharma); chỉ mười tác dụng tâm lí tương ưng và đồng sinh khởi với tất cả Tâm vương: 1. Thụ (受; vedanā), thụ, lĩnh nạp. Có ba loại thụ, đó là: khổ thụ, lạc thụ, phi khổ phi lạc thụ; 2. Tưởng (想; saṃjñā), tưởng, tưởng tượng, đối cảnh mà chấp tướng sai biệt; 3. Tư (思; cetanā), ý định, ý muốn, tâm tạo tác; 4. Xúc (觸; sparśa): xúc, sự xúc đối do căn, cảnh và thức sinh ra; 5. Dục (欲; chanda), mong cầu vì đối ngoại cảnh; 6. Huệ (慧; prajñā, mati), trí huệ phân tích, đối với các pháp có sự phân biệt, chọn lựa; 7. Niệm (念; smṛti), tâm niệm, ghi nhớ không quên; 8. Tác ý (作意; mānaskāra), tỉnh táo cảnh giác hay khiến cho tâm cảnh giác; 9. Thắng giải (勝解; adhimokṣa), sự hiểu biết thù thắng, đối cảnh sinh ra tác dụng ấn khả, thẩm định; 10. Tam-ma-địa (三摩地) hoặc Ðịnh (定; sa-mādhi), chính định, đẳng trì, tức là định tâm chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng.|II. 10 Ðại thiện địa pháp (大善地法; kuśalama-hābhūmikādharma): 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; apramāda).|III. 6 Ðại phiền não địa pháp (大煩惱地法; kle-śamahābhūmikā-dharma) là các pháp gây phiền não, gây khổ, bao gồm sáu loại: 1. Si (癡) hoặc Vô minh (無明; moha, avidyā); 2. Phóng dật (放逸; pramāda); 3. Giải đãi (懈怠; kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; 4. Bất tín (不信; āśraddya); 5. Hôn trầm (昏沉; styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 6. Trạo cử (掉舉; auddhatya), hồi hộp không yên.|IV. 2 Ðại bất thiện địa pháp (大不善地; akuśa-lamahābhūmikā-dharma): 1. Vô tàm (無慚; ā-hrīkya), không tôn kính, không biết tự hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 2. Vô quý (無愧; anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội.|V. 10 Tiểu phiền não địa pháp (小煩惱地法; parīttabhūmikā-upakleśa): 1. Phẫn (忿; krodha); 2. Phú (覆; mrakṣa), thái độ đạo đức giả, che dấu cái xấu của mình; 3. Xan (慳; mātsarya), xan tham, ích kỉ; 4. Tật (嫉; īrṣyā), ganh ghét; 5. Não (惱; prādaśa), cứng đầu, ngoan cố, làm bực bội; 6. Hại (害; vihiṃsā), tâm trạng muốn hành động ác hại; 7. Hận (恨; upanāha), lòng hận thù; 8. Xiểm (諂; mā-yā), nói xạo, loè người; 9. Cuống (誑; śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; 10. Kiêu (憍; mada), tự phụ.|VI. 8 Bất định địa pháp (不定地法; anityatābhū-mikādharma), gọi là »bất định« vì chúng có thể thuộc về dạng thiện hoặc bất thiện, tuỳ theo căn cơ của Tâm vương. Ví dụ như Tầm, là tâm sở suy nghĩ phân tích. Nó là tâm sở tốt nếu Tâm vương có gốc thiện – ví dụ như suy nghĩ, chú tâm về giáo pháp của đức Phật, diệt khổ – hoặc xấu, nếu Tâm vương là một pháp bất thiện, như suy nghĩ phân tích cách lừa gạt người… Bất định địa pháp bao gồm tám loại: 1. Hối (悔; kaukṛtya), ăn năn, hối hận; 2. Miên (眠; middha), giấc ngủ; 3. Tầm (尋; vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ (伺; vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế; 5. Tham (貪; rāga), tham mê, đắm mê; 6. Sân (瞋; pratigha), tức giận; 7. Mạn (慢; māna), kiêu mạn; 8. Nghi (疑; vicikitsā).|Trong Duy thức tông, người ta phân biệt 51 loại tâm sở. Ðại sư Vô Trước (asaṅga) phân chia 51 tâm sở này thành sáu loại trong Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharmasamu-ccaya):|I. 5 Biến hành tâm sở (遍行; sarvatraga), năm loại tâm pháp lúc nào cũng hiện hành xuất phát cùng với một tâm vương, gồm có: 1. Xúc (sparśa); 2. Tác ý (manaskāra); 3. Thụ (vedanā); 4. Tưởng (saṃjñā); 5. Tư (cetanā), tương ưng với tất cả tâm và tâm sở; |II. 5 Biệt cảnh tâm sở (別境; viniyata) năm loại tâm pháp xác định ngoại cảnh: 1. Dục (chanda); 2. Thắng giải (adhimokṣa); 3. Niệm (smṛti); |4. Ðịnh (samādhi); 5. Huệ (prajñā), chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi.|III. 11 Thiện tâm sở (善; kuśala): 1. Tín (śraddhā); 2. Tàm (hrī); 3. Quý (apatrāpya); 4. Vô tham (a-lobha); 5. Vô sân (adveṣa); 6. Vô si (amoha); 7. Tinh tiến (vīrya); 8. Khinh an (praśrabdhi); 9. Bất phóng dật (apramāda); 10. Xả (upekśā); 11. Bất hại (avihiṃsā).|IV. 6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱; mū-lakleśa): 1. Tham (rāga); 2. Hận (pratigha); 3. Mạn (māna); 4. Vô minh (avidyā); 5. Nghi (vicikit-sā); 6. Kiến (dṛṣṭi) cũng được gọi là Ác kiến.|Ðiểm thứ sáu là Kiến cũng thường được chia ra làm năm loại: 1. Thân kiến (身見; satkāyadṛṣṭi): một kiến giải cho rằng thân thể được tạo bằng ngũ uẩn là một cái »ta« (我), là »cái của ta« (我所); 2. Biên kiến (邊見; tagrāhadṛṣṭi): một kiến giải liên hệ đến phiền não, cho rằng cái »ta« được tạo bằng ngũ uẩn là một cái gì đó thường còn, vĩnh viễn [thường kiến] hoặc ngược lại, là một cái gì đó bị đoạn diệt, không có gì tiếp nối giữa hai cuộc sống con người [đoạn kiến]; 3. Kiến thủ kiến (見取見; dṛṣṭiparā-marśa): kiến giải cho rằng một kiến giải bất thiện hoặc ngũ uẩn, cơ sở xuất phát của kiến giải bất thiện này là những điều tuyệt hảo. Kiến giải bất thiện trong trường hợp này là Thân kiến, Biên kiến; 4. Giới cấm thủ kiến (戒禁取見; śīlavrata-pa-rāmarśa): là một kiến giải cho rằng, những quy tắc xử sự sai hoặc những lời hướng dẫn tu tập sai – như tự xem mình như con thú và bắt chước thái độ của nó –, hoặc ngũ uẩn, cơ sở của những việc sai trái trên là điều hay nhất; 5. Tà kiến (邪見; mith-yādṛṣṭi): kiến phủ nhận cái gì thật sự tồn tại, thêu dệt thêm vào những gì thật sự không có.|V. 20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱; upakleśa): |1. Phẫn (krodha); 2. Hận (upanāha), uất ức, tâm thù oán; 3. Phú (mrakṣa), che dấu tội lỗi, đạo đức giả; 4. Não (pradāśa), làm bực bội phiền nhiễu; 5. Tật (īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; 6. Xan (mātsarya), xan tham, ích kỉ; 7. Xiểm (māyā), giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có; 8. Cuống (śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; 9. Kiêu (mada), tự phụ; 10. Ác (vihiṃsā); 11. Vô tàm (āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 12. Vô quý (anapa-trāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; 13. Hôn trầm (styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 14. Trạo cử (auddhatya), hồi hộp không yên; 15. Bất tín (āśraddhyā); 16. Giải đãi (kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; 17. Phóng dật (pramāda); 18. Thất niệm (失念; muṣitasmṛtitā), chóng quên, không chú tâm; 19. Tán loạn (散亂; vikṣepa); 20. Bất chính tri (不正知; asaṃ-prajanya), hiểu biết sai.|VI. 4 Bất định tâm sở (aniyata), bất định bởi vì các tâm sở này thay đổi giá trị tuỳ theo các tâm vương. Chúng bao gồm: 1. Hối (kaukṛtya), hối hận; 2. Miên (middha), giấc ngủ; 3. Tầm (vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ (vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế.|Cách phân chia như trên của Duy thức tông được xem là bước tiến triển cuối cùng trong việc phân tích, phân loại các tâm sở và cũng là bản phân loại tiêu chuẩn cho tất cả những trường phái Ðại thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng.
tâm sở
(心所): dịch từ Phạn ngữ là caitasik, bao gồm hết thảy những tình ý, nghĩ tưởng do trong tâm cảm xúc, suy tính; nói chung là các trạng thái khác nhau của tâm.
; Cetasika (S, P), Mental conducts, Caitasika (S), Caitta (S), Mental state Có đến 52 tâm sở = trạng thái tâm, còn gọi chung là hành.
; Caitasika (S). Mental factors. Mental conditions; the attributes of the mind.
; (心所) Phạm: Caitta, Caitasika. Pàli:Cetasika. Cũng gọi Tâm số, Tâm sở hữu pháp, Tâm sở pháp, Tâm số pháp. Những tác dụng của tâm, tương ứng và tồn tại cùng lúc với tâm, 1 trong 5 vị. Về mối quan hệ tương ứng giữa Tâm vương(tâm) và Tâm sở thì có 5 nghĩa bình đẳng(sở y bình đẳng, sở duyên bình đẳng, hành tướng bình đẳng, thời bình đẳng và sự bình đẳng), vì thế nên Tâm sở cũng gọi là Tương ứng pháp, Tâm tương ứng pháp. Về vấn đề lìa Tâm vương thì Tâm sở có tự thể riêng hay không thì Hữu bộ chủ trương là có và lập ra thuyết Biệt thể, còn các bộ phái khác thì có nhiều dị thuyết. Về số lượng của Tâm sở và cách phân loại cũng có nhiều thuyết. Luận Câu xá thuộc Tiểu thừa, lập 6 vị, 46 Tâm sở: 1. MườiĐại địa pháp(những Tâm sở tương ứng với tất cả tâm): Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải và tam ma địa.2. Mười Đại thiện địa pháp (những Tâm sở tương ứng với tất cả tâm thiện): Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại và cần. 3. Sáu Đại phiền não địa pháp(những Tâm sở ô nhiễm tương ứng với tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí): Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm và trạo cử. 4. Hai Đại bất thiện địa pháp(là Tâm sở chỉ tương ứng với tất cả tâm bất thiện): Vô tàm vàvô quí. 5. Mười Tiểu phiền não địa pháp (những Tâm sở tương ứng với vô minh, nhưng không khởi 2 thứ trở lên cùng 1 lúc): Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu.6. TámBấtđịnhđịa pháp(những Tâm sở ngoài 5 loại trên): Ác tác, thụy miên, tầm, tứ, tham, sân, mạn và nghi. Ngoài ra, kinh Chính pháp niệm xứ quyển 33, trong các Đại thiện địa pháp nói trên, đem vô si thay cho vô sân; luận Đại tì bà sa quyển 42 thì nêu 7 loại Tâm sở là: Đại địa pháp, Đại thiện địa pháp, Đại phiền não địa pháp, Đại bất thiện địa pháp, Tiểu phiềnnão địa pháp, Đại hữu phú vô kí địa pháp và Đại vô phú vô kí địa pháp, đồng thời liệt kê 49 Tâm sở. Luận Thành duy thức thuộc Đại thừa thì chia Tâm sở làm 6 vị: Biến hành, Biệt cảnh, Thiện, Phiền não, Tùy phiền não và Bất định. Đối lại với 6 vị này mà lập ra 4 thứ Nhất thiết nghĩa: Nhất thiết tính (cùng chung với cả 3 tính thiện, ác và vô kí mà khởi), Nhất thiết địa(cùng chung với 3 địa: Hữu tầm hữu tứ, vô tầm duy tứ và vô tầm vô tứ mà khởi), Nhất thiết thời(từ vô thủy đến nay thường hằng tương tục), Nhất thiết câu(tất cả Tâm sở sinh khởi cùng lúc). Trong đó, nói một cách đại thể Tâm sở biến hành có đủ 4 nhất thiết nghĩa; Tâm sở biệt cảnh có 2 nhất thiết nghĩa là Nhất thiết tính và Nhất thiết địa; Tâm sở Thiện chỉ có 1 nhất thiết nghĩa là Nhất thiết địa; Tâm sở bất định chỉ có 1 nhất thiết nghĩa là Nhất thiết tính; còn Tâm sở phiền não và Tâm sở tùy phiền não thì không có Nhất thiết nghĩa nào. Biến hành gồm 5 thứ: Tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư. Biệt cảnh cũng có 5 thứ: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ; cộng chung cả 2 thì tương đương với 10 Đại địa pháp. Thiện có 11 thứ: Tín, tàm, qui, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại. Phiền não có 6 thứ: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Tùy phiền não gồm 20 thứ: Phẫn, hận, phú, não, tật, khan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn và bất chính tri. Bất định gồm có 4 thứ: Hối(ác tác), thụy miên, tầm, tứ. Trong đó, Tùy phiền não lại được chia làm 3 loại: 10 tùy phiền não đầu tiên(từ phẫn đến kiêu) khởi lên riêng biệt, nên gọi là Tiểu tùy phiền não(Tiểu tùy hoặc). Hai tùy phiền não kế tiếp (vô tàm, vô quí) khởi lên với tất cả tâm bất thiện, vì thế gọi là Trung tùy phiền não(Trung tùy hoặc). Tám tùy phiền não sau cùng(từ trạo cử đến bất chính tri)khởi lên với tất cả tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí, cho nên gọi là Đại tùy phiền não(Đại tùy hoặc). Luận Du già sư địa quyển 1, ngoài 20 Tùy phiền não nêu trên, còn lập tà dục và tà thắng giải, tổng cộng thành 53 pháp Tâm sở. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì chia ác kiến trong 6 phiền não căn bản thành 5 thứ như thân kiến... nên tổng cộng là 55 pháp Tâm sở. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.10; luận Giới thân túc Q.thượng; luận Thành thực Q.5, 7; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối; Đại thừa pháp tướng tông danh mục Q.3, hạ]. (xt. Tam Tâm Sở, Tâm Vương).
tâm sở hữu pháp
Aitta (S)Một trong 4 pháp của hữu vi pháp: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp và Tâm bất tương ứng hành pháp.
; Caitasikadharma (S). Mental functions. Fifty one mental functions are: (A) 5 Tâm sở biến hành panca sarvatragà, 5 general mental functions: (1) xúc sparsa, touch; (2) tác ý manaskàra, volition; (3) thụ vedana, sensation; (4) tưởng samjnà, idea; (5) tư cetanà, thought. (B) 5 Tâm sở biệt cảnh panca viniyatà, 5 special mental functions: (1) dục chanda, desire; (2) thắng giải adhimoksa, resolve; (3) niệm smrti, remembrance; (4) định samàdhi, concentration; (5) tuệ prajnà, wisdom. (C) 11 Tâm sở thiện ekàdasa kusalà, 11 good mental functions: (1) tín sraddhà, belief; (2) tàm hrì, shame; (3) quí apatrapà, bashfulness; (4) vô tham alobha, absence of covetousness; (5) vô sân advesa, absence of hatred; (6) vô si amoha, absence of ignorance; (7) cần vìrye energy; (8) khinh an prasrabhdi, repose of mind; (9) bất phóng dật apramada, vigilance; (10) hành xả upeksa, equanimity; (11) bất hại ahimsà, non-injury. (D) 6 Căn bản phiền não sad klesà, 6 evil mental functions: (1) tham raga, greed, covetousness; (2) sân pratigha, hatred; (3) si moha, ignorance; (4) mạn màna, arrogance; (5) nghi vicikitsà, doubt; (6) ác kiến mithyàdrsti, false view. (E) 20 Tùy phiền não vimsatirùpaklesà, 20 minor evil mental functions: (1) phẫn krodha, anger; (2) hận upanàha, enmity; (3) phú mraksa, concealment; (4) não pradàsa, affliction; (5) tật ìrsyà, envy; (6) san màtsarya, parsimony; (7) cuống sàthya, fraudulance; (8) siểm màyà, deception; (9) hại vihimsà, injury; (10) kiêu mada, pride; (11) vô tàm àhrìkya, shamelessness; (12) vô quí anapatràkya, non bashfulness; (13) trạo cử auddhatya, restlessness; (14) hôn trầm styàna, low-spiritedness; (15) bất tín àsraddhya, unbelief; (16) giải đãi kausidya, sloth; (17) phóng dật pramàda, negligence; (18) thất niệm musitasmrti, forgetfulness; (19) tán loạn viksepah, distraction; (20) bất chính tri asamprajnà, non-discernment. (F) 4 Bất định tâm sở catvàro aniatà, 4 indeterminate mental functions: (1) hối kaukrtya, repentance; (2) miên middha, drowsiness; (3) tầm vitarka, reflection; (4) từ vicàra, investigation.
Tâm sở hữu pháp 心所有法
[ja] シンショウホウ shinsho-u-hō ||| (caitta) 'mental functions.' Things that are related to the mind. Mental functions, workings, phenomena. Spiritual functions. The mental function that fully recognizes the separate aspects of the external environment at the time that the mental consciousness is aware of it. It arises depending upon the "mind-king" (心王) which discerns all the characteristics of the environment. According to the Faxiang 法相 school. There are 51 of these, which are divided into six groups: (1) The five pervasive functions 五遍行; (2) The five separate realms 五別境; (3) The eleven goodnesses 十一善; (4) The six primary afflictions 六煩惱; (5) The twenty secondary afflictions 隨煩惱, and (6) the four indeterminate dharmas 四不定. => ( s: caitta; e: 'mental functions). Những pháp liên quan đến tâm. Tác dụng của tâm, cách hoạt động và các hitướng trạng của tâm. Tác dụng của tinh thần. Tác dụng của tâm nhận biết toàn bộ các khía cạnh riêng biệt của môi trường bên ngoài ngay lúc mà ý thức nhận biết về nó. Tâm sở sinh khởi nhờ vào Tâm vương (e: mind-king 心王), nó phân biệt rõ mọi đặc tính của ngoại cảnh. Theo Pháp tướng tông, có 51 tâm sở pháp, chia thành 6 nhóm: 1. Năm pháp biến hành 五遍行. 2. Năm pháp biệt cảnh 五別境. 3. Mười một đại thiện địa pháp 十一善. 4. Sáu pháp phiền não chính 六煩惱. 5. Hai mươi pháp tuỳ phiền não 隨煩惱. 6. Bốn pháp bất định 四不定.
Tâm sở 心所
[ja] シンショ shinsho ||| An abbreviation of xinsuoyou fa 心所有法 (caitta). See next. => Viết tắt của Tâm sở hữu pháp (心所有法 s: caitta).
tâm thanh tịnh
Clarity, selwa (T).
; (心清淨) Tâm trong sạch, sáng suốt do xa lìa những ý niệm tà vạy, nhơ nhớp. Theo phẩm Thân chuyển thanh tịnh thành bồ đề trong luận Cứu cánh nhất thừa bảo tích quyển 4, tâm thanh tịnh được chia làm 2 loại: 1. Tự tính thanh tịnh: Tâm tính của người ta vốn thanh tịnh, không nhiễm ô. 2. Li cấu thanh tịnh: Tức xa lìa tất cả khách trần phiền não mà được thanh tịnh.(xt. Thanh Tịnh).
tâm thanh tịnh bản nhiên
Cittapakrti-parabhasvara (P).
Tâm thanh tịnh 心清淨
[ja] シンショウジョウ shinshōjō ||| (citta-pariśuddhi). (1) The mind's (original) purity. (2) The mind becoming pure as the result of religious practice. => (s: citta-pariśuddhi). 1. Sự thanh tịnh cuả bản tâm 2. Tâm trở nên thanh tịnh nhờ kết quả công phu tu tập.
tâm thuỷ
(心水) Dòng nước tâm, chỉ cho tâm. Vì từ trong tâm xuất hiện muôn tượng, lăng xăng xao động, nhơ sạch khác nhau, ví như dòng nước, nên gọi Tâm thủy. [X. kinh Đại nhật Q.3].
tâm thành
The citadel of the mind, i.e. as guardian over action.
; (心城) I. Tâm Thành. Thành lũy của tâm, ví dụ thiền định, vì thiền định phòng vệ tâm có tác dụng ức chế vọng động, giống như thành lũy có công năng phòng ngự kẻ địch, nên gọi là Tâm thành. Thí dụ này đồng nghĩa với thí dụ bờ đê nói trong kinh Di giáo. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1]. II. Tâm Thành. Chỉ cho tâm. Vì thân được ví dụ như lớp tường bên ngoài (quách) bảo vệ thành bên trong, cho nên tâm được ví như thành. [X. phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm].
tâm thành thật
Sincere mind.
tâm tháp
(心塔) I. Tâm Tháp. Ngôi tháp tâm, ví dụ nhất tâm của chúng sinh. Ý chỉ sâu xa của Mật giáo cho rằng Nhất tâm của chúng sinh chính là ngôi tháp pháp tính của Đại nhật Như lai, cho nên gọi là Tâm pháp. II. Tâm Tháp. Chỉ cho ấn Vị phu liên hoa (ấn hoa sen chưa nở), 1 trong 3 loại Tháp ấn của Mật giáo.[X. Ấn quyết sao Q.3]. (xt. Tháp Ấn).
tâm thú
The bent or direction of mind, or moral nature.
tâm thần
The spirit of the mind; mind, mental intelligence; state of mind.
tâm thần túc
Citta-samādhi (S, P).
; Città-samàdhi (S). Concentration on consciousness.
tâm thế gian
Lokiya citta (P)Phàm tâm.
tâm thụ
Mind to mind impartation or impartment (of truth); intuitive handing down (of the Buddha's teachings).
; (心樹) Cây tâm. Ví dụ tâm tư, ý niệm của con người; vì sự sinh khởi của ý niệm cũng giống như sự sinh trưởng của cây cỏ, nên gọi là Tâm thụ.
; (心受) Đối lại: Thân thụ. Sự cảm nhận vui sướng hay buồn khổ do ý thức thứ 6, là 1 trong 2 thụ. (xt. Nhị Thụ, Cảm Tình).
tâm thủy
The mind as reflecting surface; the mind as water, clear or turbid.
tâm thức
Mental perception; mental cognition; intuitive cognition.
; (心識) Từ gọi chung tâm và thức. Tông Câu xá cho rằng tâm và thức là cùng thể mà khác tên, còn tông Duy thức Đại thừa thì chủ trương tâm và thức là 2 thứ có thể tính riêng biệt và có một thức, 2 thức cho đến vô lượng thức. (xt. Tâm).
tâm thừa
Mind-vehicle, i.e. meditation, insight.
; (心乘) Chỉ cho giáo pháp của Phật, vì giáo pháp của Phật có năng lực chuyên chở chúng sinh đến nơi giải thoát yên vui, giống như chiếc xe(thừa) chuyên chở người và đồ vật đến đích.Giáo pháp này dùng tâm quán chiếu, tỉnh xét, thể ngộ bản tính thanh tịnh của chúng sinh làm chủ yếu. Vì lấy tâm này làm pháp môn rốt ráo cứu độ chúng sinh nên gọi là Tâm thừa.
tâm truyền
Mind to mind transmission. Xem Tâm thụ.
tâm trí
Mind and knowledge, or the wisdom of the mind; mind being the organ, knowing the function.
; (心智) Từ gọi chung Tâm và Trí. Tâm là thể, trí là dụng, thể và dụng cùng nêu nên gọi là Tâm trí. Kinh Nhân vương bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 828 thượng) nói: Miệng thường thuyết pháp nghĩa chẳng không, tâm trí vắng lặng vô duyên chiếu.
tâm trần
Mind-dust or dirt.
tâm tuệ
(心慧) Đối lại với thân giới mà gọi là Tâm tuệ. Nghĩa là thân giữ gìn giới pháp, tâm tìm cầu trí tuệ. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 28 (Đại 12, 534 thượng) nói: Thân giới tâm tuệ, bất động như núi.
tâm tán loạn
Viksepta-citta (S).
tâm tánh
(心性) Phạm:Citta-prakfti. Pàli:Citta-pakati. Cũng gọi Tự tính. Bản tính của tâm. Có nhiều thuyết về bản tính của tâm, hoặc cho bản tính của tâm là thanh tịnh, hoặc cho là nhiễm ô, hoặc chủ trương chẳng phải thanh tịnh, cũng chẳng phải nhiễm ô... Nhưng về mặt lịch sử tư tưởng của Phật giáo thì xưa nay thường lấy thuyết tâm tính vốn thanh tịnh làm chính. Thời Phật giáo nguyên thủy, khi bàn về bản tính của tâm cũng chủ trương thuyết Tâm tính thanh tịnh là chính. Đến thời Phật giáo bộ phái thì Đại chúng bộ, Phân biệt luận giả... chủ trương tâm tính vốn thanh tịnh; Hữu bộ... bác bỏ thuyết này, lập ra thuyết Tâm tính tịnh bất tịnh khác nhau. Cứ theo Dị bộ tông luân luận thì Đại chúng bộ chủ trương tâm tính vốn thanh tịnh, tuy bị khách trần tùy phiền não làm ô nhiễm, nhưng đó không phải là bản thể của tâm. Trong Phật giáo Đại thừa, thuyết Tâm tính được phát triển từ thuyết tâm tính vốn thanh tịnh của Phật giáo nguyên thủy, đó là đặc sắc của Đại thừa Phật giáo, đồng thời có thể từ thuyết Tâm tính bản tịnh này mà tìm ngược về nguồn gốc của tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Có điều, thuyết Tâm tính bản tịnh trong các kinh luận Đại thừa sơ kì, trung kì, hậu kì đều có đề cập đến, nhưng phần nhiều bàn về hình thái tư tưởng Tâm tính bản tịnh khách trần phiền não; ngoài ra, còn xen lẫn các tư tưởng như: Như lai tạng, Phật tính, Bồ đề tâm, Tâm chân như, Pháp tính tâm, Không tính, Tịnh thức, A ma la thức, Duy thức thực tính, Viên thành thực tính, Tâm thể... mà hình thành sự phát triển tư tưởng Đại thừa. Bởi thế, đặc sắc của Thuyết tâm tính trong các kinh luận Đại thừa khác với lí Bản thể của tâm là tịnh, là nhiễm nói trong các bộ luận của Phật giáo bộ phái và thuyết này của Đại thừa cũng đã trở thành căn cứ tư tưởng để giải thích rõ các vấn đề như khả năng tính thành Phật, tâm khai ngộ, đặc chất tinh thần đức Phật... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.22; luận Tùy tưởng; luận Đại tì bà sa Q.27; luận Thuận chính lí Q.72; luận Đại trí độ Q.19; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.6; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.3; luận Thành duy thức Q.2].
tâm tánh bản tịnh
(心性本淨) Tâm tính vốn thanh tịnh. Chỉ cho tâm thể xưa nay vốn trong sạch, không thay đổi. Đây là lập trường tư tưởng của Đại chúng bộ trong Phật giáo bộ phái. Bộ này cho rằng tuy phiền não có khả năng che lấp tâm tính, nhưng đó chỉ là khách trần phiền não sinh khởi về sau, chứ không phải là bản thể của tâm. Thuyết Như lai tạng và thuyết Phật tính của Đại thừa cũng y cứ vào đây mà được thành lập. [X. phẩm Tự phần giả tâm trong luận Xá lợi phất a tì đàm Q.27; luận Dị bộ tông luân]. (xt. Tâm Tính).
tâm tánh tam thiên
(心性三千) Tâm tính ba nghìn. Nghĩa là trong một niệm của tâm tính có đầy đủ 3 nghìn các pháp của 10 cõi. Đây là giáo nghĩa cơ bản của tông Thiên thai. Tông Thiên thai cho rằng trong tâm người ta có đủ 10 cõi như: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh..., trong mỗi một cõi lại có 10 cõi, cộng thành 100 cõi; mỗi một cõi lại có 30 loại thế gian, cho nên thành 3 nghìn loại thế gian; ngay trong một niệm tâm phàm phu có đầy đủ các pháp tính tướng của ba nghìn thế gian, cho nên gọi là Tâm tính tam thiên. (xt. Nhất Niệm Tam Thiên, Tam Thiên Chư Pháp).
tâm tâm
Every mind; mind and mental conditions.
tâm tâm sở
(心心所) Dịch cũ: Tâm số. Chỉ cho Tâm vương và Tâm sở. Tâm vương(vua tâm)tức là các thức chủ thể như thức mắt, thức tai... Tâm sở tùy thuộc Tâm vương, là những tác dụng tinh thần tương ứng với Tâm vương. Tâm vương chỉ thu lấy toàn thể(tức tướng chung) của đối tượng, còn Tâm sở thì thu lấy cả toàn thể và bộ phận(tức tướng riêng) của đối tượng. Về các vấn đề như sự quan hệ tương ứng, tính chất đặc biệt... giữa Tâm vương và Tâm sở là một hay là khác thì Đại thừa và Tiểu thừa có các thuyết khác nhau. Về phía Tiểu thừa, các nhà Câu xá nêu ra thuyết 5 nghĩa bình đẳng, tức cùng nương vào một căn, gọi là Sở y bình đẳng; cùng duyên theo một cảnh, gọi là Sở duyên bình đẳng; đối với cảnh sở duyên có tướng hành giải bằng nhau, gọi là Hành tướng bình đẳng; hiện hành trong cùng một sát na, gọi là Thời bình đẳng; thể và sự đồng nhất, gọi là Sự bình đẳng. Một vị Tâm pháp tuy gồm 6 thức: Thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân và thức ý, nhưng chỉ lập có một Tâm vương, mà lại lập 6 vị 46 Tâm sở. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì Tâm vương và mỗi một Tâm sở đều có thể tính riêng, nhưng ngài Giác thiên trong 4 vị Đại luận sư thì cho rằng Tâm sở chỉ là giả danh được lập ra từ phần vị của tâm, chứ không có thể tính riêng. Tông Duy thức Đại thừa thì nói 4 nghĩa bình đẳng(Sở y, Sở duyên, Thời, Sự), lập 8 thức(ngoài 6 thức còn có thêm thức Mạt na và thức A lại da) làm Tâm vương mà nêu ra thuyết 6 vị 51 Tâm sở, chủ trương sự quan hệ giữa Tâm vương và Tâm sở là phi tức phi li. [X. luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.3, 5, 7]. (xt. Tâm, Tâm Sở).
tâm tâm tương ấn
(心心相印) Tâm và tâm in vào nhau, là từ ngữ biểu thị ý nghĩa tâm ngộ của đệ tử đã khế hợp với tâm ngộ của thầy, nên thầy dùng tâm của thầy truyền cho tâm của đệ tử. Từ Tâm ấn trong Phật giáo vốn chỉ cho tâm ấn của Phật, tức là tâm địa tự nội chứng của Phật mà ngôn ngữ văn tự không cách nào biểu đạt được. Thủa xưa, trên hội Linh sơn, đức Phật cầm một cành hoa đưa lên, trong 8 vạn đại chúng chỉ có một mình ngài Ma ha ca diếp hiểu được ý Phật nên mỉm cười. Sự tích Niêm hoa vi tiếu này đã trở thành tiêu biểu điển hình cho sự khế hợp giữa thầy và đệ tử. Trong Thiền tông, sự truyền thừa của Tổ sư các đời phần nhiều cũng chủ trương truyền riêng ngoài giáo, vượt ngoài ngôn ngữ văn tự, dùng tâm truyền tâm gọi là Truyền tâm ấn, hoặc Tâm ấn, đến đời sau cũng gọi là Tâm tâm tương ấn.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.2 (bản Bắc); Truyền pháp chính tông kí Q.1; Liên đăng hội yếu Q.1].
tâm tích
Footprints or indications of mind, i.e. mind revealed by deeds.
Tâm tích 心跡 , 心迹
[ja] シンセキ shinseki ||| The marks of the mind; traces of the mind; indications of the inner mind in external appearances. => Tướng trạng của tâm; dấu vết của tâm; biểu thị nội tâm qua hình tướng bên ngoài.
tâm tính
Immutable mind-corpus, mind-nature; the self-existing fundamental pure mind; the all, the tathàgata-garbha
Tâm tính 心性
[ja] シンショウ shinshō ||| The originally pure mind of sentient beings, usually characterized as being immutable. In East Asian Mahāyāna Buddhism, the mind-nature is usually interpreted as being equivalent to the Buddha-nature (citta-dharmatā). This term can is used extensively in a number of major Mahāyāna scriptures such as the Nirvana Sutra 涅槃經, Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經, and Huayan jing 華嚴經, but appears with even more frequency in the works of commentators such as Wŏnhyo 元曉, Fazang 法藏, Zhiyi 智顗, etc. [Dictionary References]Naka767a ZGD614b FKS1402 DFB BCS0462 bski350 MZ<巻9-10>462b Oda872-2 [Credit] cmuller(entry) => Bản tâm thanh tịnh của chúng sinh, thường có đặc tính là không biến đổi. Theo Đại thừa Phật giáo ở Đông Nam Á, tâm tính (e: mind-nature) thường được hiểu tương đương như Phật tính (e: Buddha-nature; s:citta-dharmatā). Thuật ngữ nầy được dùng rộng rãi trong một số kinh Đại thừa chủ yếu như kinh Niết-bàn, kinh Viên Giác, và kinh Hoa Nghiêm, nhưng xuất hiện thường xuyên hơn trong các luận giải như của Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉), Pháp Tạng (c: Fazang 法藏), Trí Khải (c: Zhiyi 智顗), v.v...
tâm tông
The intuitive sect. Zen sect.
tâm tương ưng hành
(心相應行) Chỉ cho tất cả Tâm sở pháp. Tâm sở pháp và Tâm vương cùng khởi lên tác dụng một lúc, cho nên gọi là Tâm tương ứng(tâm cùng ứng với nhau); vì chúng là pháp hữu vi nên gọi là Hành. [X. luận Tôn bà tu mật tập].
tâm tương ưng tâm bất tương ưng
(心相應心不相應) Sự tranh luận về vấn đề tâm tương ứng hay không tương ứng giữa Nam phương Thượng tọa bộ và Nam phương Đại chúng bộ.Sau thời đại Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo bộ phái có khuynh hướng A tì đạt ma muốn chỉnh lí và tổ chức lại giáo thuyết trong kinh A hàm. Bấy giờ, đối với tác dụng của tâm cũng có nhiều cách khảo sát. Trong Thượng tọa bộ, tâm thức được chia làm chủ thể và thuộc tính, như chủ thể tâm, ý, thức... được gọi là Tâm pháp hoặc Tâm vương; còn những thuộc tính như tác dụng, trạng thái, tính chất... của các bộ phận thụ, tưởng, tư... thì gọi là Tâm sở pháp, hoặc gọi là Tâm tương ứng pháp. Theo đó, tâm cụ thể thường phải sinh khởi đồng thời với một tâm vương hay vài tâm sở như thụ, tưởng, tư... Như vậy, khi tâm, tâm sở và sở y, sở duyên... cùng khởi lên một lượt thì gọi là Tương ứng. Tư tưởng tương ứng này tuy bắt đầu vào thời đại bộ phái, nhưng hoàn toàn không phải các Bộ phái coi trọng kinh điển nguyên thủy đều thừa nhận Tâm sở pháp và tư tưởng tương ứng. Trong kinh điển nguyên thủy, thụ, tưởng, tư... không được xem là bộ phận của tâm, mà đó là tác dụng của tâm duy nhất, cho nên chủ trương ngoài tác dụng của tâm duy nhất này thì không có tâm nào khác. Thuyết nhất thiết hữu bộ, Phật giáoPàli (Thượng tọa bộ phương Nam), luận Xá lợi a tì đàm (hệ thống Độc tử bộ)... đều lập thuyết Tâm tương ứng. Trái lại, Thí dụ giả, Kinh bộ sư, luận Thành thực (hệ thống Kinh bộ)... cho đến Vương sơn bộ, Nghĩa thành bộ (hệ thống Đại chúng bộ phương Nam)... đều chủ trương thuyết Tâm bất tương ứng. Sự tranh luận giữa 2 hệ thống này tức gọi là Tâm tương ứng tâm bất tương ứng thuyết. [X. luận Thành thực Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42, 90; luậnThuận chính lí Q.11; luận Thành duy thức Q.7; luận Câu xá Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.2].
tâm tướng
Heart shape; manifestation of mind in action.
; (心相) I. Tâm Tướng. Chỉ cho tướng trạng của tâm, có 2 thứ: 1. Tâm nội tướng: Bản tính thanh tịnh của tâm. 2. Tâm ngoại tướng: Tâm tùy theo duyên mà sinh ra các đối cảnh. [X. kinh Duy ma Q.trung]. II. Tâm Tướng. Bản lai diện mục của tâm. [X. kinh Duy ma Q.trung]. III. Tâm Tướng. Hành tướng của tâm, tức chỉ cho kiến phần. [X. kinh Viên giác]. IV. Tâm Tướng. Hình dáng của trái tim.
Tâm tướng 心相
[ja] シンソウ shinsō ||| (1) The mind as it is. The appearance or aspect of the mind. (2) The mind's original aspect. The mind's functional aspect of subjective cognition. (3) The contents of the mind, the thoughts within the mind. => 1. Tướng của tâm. Tướng trạng hay diện mạo của tâm. 2. Khía cạnh bản thể của tâm. Phương diện tác dụng nhận thức khách quan của tâm 3. Yếu tính của tâm, tư tưởng trong tâm.
tâm tưởng
(心想) I. Tâm Tưởng. Chỉ cho tác dụng của tâm, tưởng niệm. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Vãng sinh yếu tập Q.trung]. II. Tâm Tưởng. Chỉ cho tâm và niệm tác dụng của tâm. Năng lực làm cho tâm tưởng vắng lặng là Thiền. [X. Tùy văn kí Q.2].
tâm tầm
Santirana-citta (P), Investigating-consciousness.
tâm tịch tịnh
Santacitta (S)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
tâm từ
Avyāpada samkappa (S).
tâm tự tại giả
(心自在者) Những bậc tâm đã được tự tại, tức chỉ Phật và A la hán. Phật là bậcđãtự giác, giác tha và giác hành viên mãn; A la hán là bậc đã dứt sạch các phiền não kiến, tư trong 3 cõi; những điều cần phải tu học đều đã tu học xong, xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của thế gian. Hai bậc Thánh này đều đã dứt hết tất cả sự trói buộc, chướng ngại, tự tại trong thiền định, tâm không vướng mắc mà tự do vận dụng, cho nên gọi là Tâm tự tại giả. Kinh Diệu pháp liên hoa quyển 4 (Đại 9, 28 trung) nói: Lúc bấy giờ, 1200 A la hán, là những bậc tâm đã được tự tại (tâm tự tại giả) nghĩ như thế này... .
tâm tự tại địa
(心自在地) Chỉ cho địa thứ 9 trong 10 địa Bồ tát. Bồ tát đạt đến giai vị này thì được tự tại đối với tâm người khác, mà tâm mình cũng được trí vô ngại và xa lìa được Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm trong 6 nhiễm tâm.[X. luận Đại thừa khởi tín].
Tâm tự tại địa 心自在地
[ja] シンジザイチ shinjizaiji ||| The ninth of the ten bhūmis in the bodhisattva's advancement. The stage of unimpeded mental function. => Giai vị thứ chín của Thập địa trong tiến trình tu tập của hàng Bồ-tát. Giai vị bản tâm đạt hoạt dụng vô ngại.
Tâm tự tại 心自在
[ja] シンジザイ shinjizai ||| Unobstructed mind; unfettered mind; able to think for oneself. 〔法華經 T 262.9.28b23〕 => Tâm vô ngại; tâm không vướng mắt; tự do suy tưởng.
tâm viên (ý mã)
The mind as a restless monkey; to be irresolute; wavering.
tâm viên ý mã
(心猿意馬) Tâm như vượn leo trèo, ý như ngựa chạy rong.Nhóm từ này thường được dùng để ví dụ cho vọng tâm của người ta luôn luôn biến động bất định, gần giống với ý nghĩa của từ ngữ Tam tâm nhị ý.
Tâm Việt Hưng Trù
(心越興儔, Shinotsu Kōchū, 1639-1696): vị tổ của Phái Thọ Xương (壽昌派) thuộc Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Tâm Việt (心越), thường gọi là Đông Cao (東皐), xuất thân Phủ Kim Hoa (金華府), Hàng Châu (杭州) nhà Kim, họ Tương (蔣), mẹ họ Trần (陳), sinh ngày 21 tháng 8 năm thứ 12 niên hiệu Sùng Trinh (崇禎) nhà Minh. Lúc nhỏ, ông đã đến Báo Ân Tự (報恩寺) ở Ngô Môn (呉門), lễ bái người chú là Liễm Thạch (斂石) làm thầy, và xuất gia thọ Cụ Túc giới với vị này. Sau đó, ông theo hầu Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛); vào năm thứ 7 (1668) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông đến tham yết Khoát Đường Đại Văn (濶堂大文), chuyên tham cứu câu chuyện con chó, trãi qua 2 năm trường hầu thầy và cuối cùng được thầy ấn khả. Về sau, khi nhà Minh diệt vong và nhà Thanh cầm quyền, ông lui về ẩn cư ở Vĩnh Phước Tự (永福寺) bên Tây Hồ (西湖). Lúc bấy giờ, Trừng Nhất (澄一)—vị trú trì của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở Trường Khi (長崎, Nagasaki), Nhật Bản—nghe cao danh của ông, viết di thư cung thỉnh ông. Đáp ứng lời thỉnh cầu đó, vào năm thứ 5 (1677) niên hiệu Diên Bảo (延寶), ông sang Trường Khi. Tuy nhiên, do lời sàm ngôn của kẻ xấu, ông bị bắt giam; nhưng nhờ lời tấu thỉnh của Thủy Hộ Quang Quốc (水戸光圀), nên ông thoát nạn. Đến năm thứ 3 (1683) niên hiệu Thiên Hòa (天和), ông đi xuống vùng Thủy Hộ (水戸, Mito), dừng chân trú tại Thiên Đức Tự (天德寺) và sau đổi tên chùa này thành Kỳ Viên Tự (祇園寺, Gion-ji). Ngoài ra, ông còn trợ giúp chư tăng giáo hóa Phật sự như Đơn Tâm (丹心) ở Tổng Ninh Tự (總寧寺), Liên Sơn (連山) ở Đại Trung Tự (大中寺), Như Thật (如實) ở Thanh Tùng Tự (青松寺), Độc Am (獨庵) ở Kinh Sơn Tự (經山寺), Ngao Sơn (鰲山) ở Long Thái Tự (龍泰寺). Đến mùa đông năm thứ 5 (1692) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), ông khai đường thuyết giáo tại Kỳ Viên Tự, có khoảng 1.700 vị tăng Vân Thủy đến tham học. Vào ngày 29 tháng 9 năm thứ 9 (1696, có thuyết cho là năm thứ 8) cùng niên hiệu trên, ông nhuốm bệnh nhẹ, cho mời Ngô Vân Pháp Đàm (呉雲法曇) đến, truyền trao y bát; đến hôm sau ông tựa giường bệnh nhìn đại chúng đọc bài di kệ và thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 49 hạ lạp. Trước tác của ông có Đông Cao Toàn Tập (東皐全集), 2 quyển.
tâm vô ngại bồ tát
Suvinita (S)Tên một vị Bồ tát.
tâm vô nhiễm trước
Undefiled and unattached heart.
tâm vô sở trú
The mind without resting place.
tâm vô tông
(心無宗) Tông phái chủ trương Tâm không, 1 trong 6 nhà 7 tông thuộc học phái Bát nhã đời Đông Tấn. Trong Trung luận sớ, ngài Cát tạng cho rằng nhân vật tiêu biểu của tông này là Ôn pháp sư, chủ trương Tâm không (không chấp trước ngoại vật) nhưng sắc cảnh chẳng không. Tuy nhiên, theo Thế thuyết tân ngữ giả quyệt thiên thì Tâm vô nghĩa là do ngài Chi mẫn độ lập ra. Ông Lưu hiếu tiêu giải thích Tâm vô là Nhất thiết chủng trí của Phật rỗng lặng mà biết tất cả, chú trọng về Tâm hư chứ không nhấn mạnh việc phủ định ngoại cảnh. Luận Bất chân không trong Triệu luận (Đại 45, 152 thượng) nói: Tâm vô nghĩa là vô tâm đối với muôn vật, chứ muôn vật không hề vô. Đó là được tâm tĩnh, chứ chẳng được vật không.
tâm vô tướng
Cittàniràbhàva (S). Mental state of non-semblance.
tâm vô vi
Unconditioned heart.
tâm vương
Citta (S). The mind; the will, the directive or controlling mind; the functioning mind as a whole distinct from its conditions.
; (心王) Đối lại: Tâm sở. Vua tâm, tức chỉ cho chủ thểcủa6 thức hoặc 8 thức, là Tâm pháp trong 5 vị theo cách phân loại và sắp xếp của Hữu bộ và tông Pháp tướng. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho thể tính của 6 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là một, cho nên chủ trương Tâm vương chỉ có một; còn tôngPháp tướng thì cho 8 thức (ngoài 6 thức còn thêm thức Mạt na, thức A lại da), mỗi thức đều có thể tính riêng, cho nên chủ trương Tâm vương là 8. [X. Bách pháp minh môn luận trung sớ Q.thượng; Bách pháp minh môn luận sớ Q.thượng]. (xt. Tâm Tâm Sở, Tâm Sở).
tâm vương minh
(心王銘) Cũng gọi Phó đại sĩ tâm vương minh, Tâm vương luận. Tác phẩm, 1 thiên, do cư sĩ Phó hấp soạn vào đời Lương thuộc Nam triều, được thu vào Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 và Ngũ đăng hội nguyên quyển 2. Toàn thiên được viết theo thể văn vần, gồm 86 câu, mỗi câu 4 chữ, tổng cộng có 344 chữ. Nội dung nói về huyền lí Tức tâm tức Phật cho rằng không thể tìm Phật ngoài tâm. Đây là tác phẩm đầu tiên của Thiền tông bằng văn vần. Về tác giả, theo truyền thuyết là do cư sĩ Phó hấp soạn, nhưng chưa có sử liệu để chứng minh điều này. Tuy nhiên, xét về phương diện tư tưởng của sách thì có thể xác định đây là một tác phẩm đời Lương. Trong đó, câu Vị mặn trong nước, chất keo trong sắc đã trở thành dụng ngữ của Thiền gia đời sau. Về sách chú thích thì có: Tâm vương minh kí của Trí kiến, Song lâm Phó đại sĩ Tâm vương minh huyền đàm của Nghi nhiên (trong Nhĩ để kí), Tâm vương minh tham chú của Bản quang Hạt đạo. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.3; Tiên giác tông thừa Q.1; Cư sĩ truyện Q.7; Cư sĩ phần đăng lục Q.thượng; Thiền học tư tưởng sử thượng (Hốt hoạt Cốc khoái thiên); Chi na Phật giáo tinh sử (Cảnh dã Hoàng dương); Thiền tư tưởng sử nghiên cứu 3 (Linh mộc Đại chuyết)].
tâm vương như lai
(心王如來) Cũng gọi Tâm vương Đại nhật. Chỉ cho đức Đại Nhật Như lai biểu thị tổng đức Phổ môn của Mật giáo. Phân biệt theo Tâm vương và Tâm sở thì Đại nhật Như lai thuộc vị Tâm vương, còn các vị tôn khác là Tâm sở, vì thế nên gọi Tâm vương Như lai. [X. Hồng tự nghĩa; Đại nhật kinh khai đề].
Tâm vương 心王
[ja] シンオウ shin'ō ||| 'Mind-king.' The overall cognitive function of one's consciousness, as opposed to the distinctive mental functions which belong to it (called 心所). In the Abhidharmakośa- bhāsya 倶舎論, only one mind-king is conceived, but the Faxiang 法相 sect establishes eight, one for each of the eight consciousnesses. There is no such term as 'mind-king' in Indian Buddhism. => Chức năng nhận thức toàn thể của tâm thức, khác với tác dụng phân biệt của tâm vốn tuỳ thuộc vào tâm vương ( gọi là Tâm sở). Theo Câu-xá luận, chỉ có 1 Tâm vương nhận biết các pháp, nhưng Pháp tướng tông lập đến tám thức Tâm vương, mỗi Tâm vương gồm 8 thức. Không có thuật ngữ Tâm vương trong Phật giáo Ấn Độ.
tâm xà
Imposture, deceit.
tâm yếu
The very core, or essence.
; Vạn pháp duy tâm chẳng thể kể xiết chỉ nói yếu chỉ, gọi là tâm yếu.
; (心要) I. Tâm Yếu Cốt tủy, chỉ cho nghĩa cùng tột của pháp môn. Hoặc chỉ cho pháp nghĩa tinh yếu về mặt tâm tính. II. Tâm Yếu. Gọi đủ: Kim cương đính Du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bất không soạn vào đời Đường. Nội dung y cứ vào nghĩa Đại nhật Thích ca nhất thể để nói về sự xuất hiện và tam muội của 37 vị tôn trong Kim cương giới.
Tâm Ðịa Giác Tâm
心地覺心; J: shinchi kakushin; 1207-1298;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, đắc pháp nơi Thiền sư Vô Môn Huệ Khai. Sư là người mang tập Công án quan trọng Vô môn quan sang Nhật và phổ biến phương pháp quán công án tại đây.|Sư sinh trưởng tại Nagano, xuất gia năm 14 tuổi và thụ giới cụ túc năm 28 tuổi. Ban đầu Sư tu tập theo Chân ngôn tông trên núi Cao Dã (kōya) và cũng nơi đây, Sư tiếp xúc với Thiền tông lần đầu qua một vị đệ tử của sư Minh Am Vinh Tây (myōan eisai) là Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇; j: taikō gyōyū). Sau đó, Sư tham học với nhiều vị Thiền sư đương thời, trong đó có cả Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen). Năm 1249, Sư cất bước sang Trung Quốc du học, một cuộc hành trình kéo dài gần sáu năm (1249-1254).|Ðến Trung Quốc, Sư có nguyện vọng tham học nơi Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm nhưng vị Thiền sư danh tiếng này đã qua đời và vì thế, Sư cất bước chu du khắp nơi. Trong cuộc hành trình này, Sư cũng có dịp tiếp xúc với các Thiền sư thuộc Phổ Hoá tông và học cách thổi sáo Xích bát (尺八; j: shakuhachi) của họ – một cách nhiếp tâm khác thay vì tụng kinh Niệm Phật. Ðược một bạn đạo đồng hương khuyên, Sư đến Thiền sư Vô Môn Huệ Khai – vị Thiền sư danh tiếng nhất đương thời – cầu học yếu chỉ Thiền. Cuộc gặp gỡ này xảy ra một cách rất thân mật. Khi thấy vị khách hiếu học từ Nhật đến, sư Huệ Khai hỏi ngay: »Chẳng có cửa nào để vào đây, ngươi vào thế nào được?« Sư đáp: »Con đến từ nơi không cửa (vô môn).« Huệ Khai hỏi tiếp: »Ngươi tên gì?« Sư thưa: »Giác Tâm.« Sư Huệ Khai liền làm ngay bài kệ:|Tâm chính là Phật|Phật chính là Tâm|Quá khứ, hiện tại|Phật Tâm như nhau|Chỉ sau sáu tháng tu tập, Sư được Huệ Khai Ấn khả. Trước khi rời thầy, Sư được Huệ Khai chính tay trao cho ca-sa, một bức chân dung và một bản của Vô môn quan.|Sau khi trở về Nhật, Sư lưu lại một thời gian tại núi Cao Dã và không bao lâu, Sư sáng lập một thiền viện tại Wakayama với tên Tây Phương tự (saihō-ji) – sau được đổi tên là Hưng Quốc tự (kōkoku-ji) – nơi Sư trụ trì 40 năm sau đó. Sư được các vị Nhật hoàng mời đến Kinh Ðô (kyōto) nhiều lần thuyết pháp và được phong danh hiệu Pháp Ðăng Viên Minh Quốc sư (hottō emmyō kokushi).|Sư truyền dòng Thiền Lâm Tế hệ phái Dương Kì (yōgi-ha) tại Nhật và được xem là một trong những Ðại Thiền sư nơi đây. Sư sử dụng phương pháp quán công án để hướng dẫn các đệ tử trên đường Giác ngộ và công án thường được Sư sử dụng nhất là công án thứ nhất, »Vô« của Vô môn quan. Ngoài phương pháp quán công án, Sư cũng chú trọng đến việc thực hành các nghi lễ theo Chân ngôn tông. Ngoài các việc nói trên, Sư cũng được xem là người truyền tông Phổ Hoá sang Nhật, một tông phái tồn tại đến thời cận đại.|Sư và các môn đệ sau vài thế hệ thành lập một hệ phái trong tông Lâm Tế tại Nhật Bản, được gọi là Pháp Ðăng phái (hottō-ha). Thành tựu lớn của Sư được xem là việc đem tập Vô môn quan sang Nhật. Không bao lâu sau đó, tập công án quan trọng thứ hai của tông Lâm Tế là Bích nham lục (j: hekigan-roku) cũng được truyền sang đây và như vậy, hai tác phẩm căn bản của tông này đã có mặt, việc truyền bá Thiền đã đứng vững.
tâm ý thức
Mind, thougt and perception.
; (心意識) Chỉ cho tâm, ý và thức. Tâm, Phạm: Citta, Hán âm: Chất đa, nghĩa là tập khởi. Ý, Phạm: Manas, Hán âm: Mạt na, nghĩa là nghĩ lường. Thức, Phạm:Vijĩàna, Hán âm: Tì nhã nam, nghĩa là phân biệt. Nói một cách đại lược thì Tâm là chủ thể, cònÝvàThức là 2 mặt tác dụng của tâm. Về ngữ nghĩa của các danh từ này, trong các bộ Luận của Đại thừa và Tiểu thừa có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo tông Câu xá thì tâm, ý, thức là tên khác của 6 thức, thực thể của chúng là đồng nhất. Tâm có công năng chứa nhóm và dấy lên các tác dụng (nghiệp) tinh thần nên gọi là Tâm; Tâm có khả năng suy nghĩ, tính lường, nên gọi là Ý; Tâm có năng lực phân biệt biết rõ, nên gọi là Thức. Có thuyết cho rằng Tâm nghĩa là nhiều thứ sai biệt; Ý nghĩa là chỗ nương(sở y chỉ) cho thức sinh khởi; Thức nghĩa là nương gá vào ý(năng y chỉ) mà dấy lên. Còn theo sự giải thích của Đại thừa thì Tâm, Ý, Thức đều khác nhau. Tông Duy thức chủ trương thức A lại da thứ 8 chứa nhóm các chủng tử(hạt giống), nên gọi là Tâm; thức Mạt na thứ 7 có công năng nghĩ lường khởi lên ngã chấp, nên gọi là Ý; 6 thức trước có khả năng nhận thức các đối tượng, nên gọi là Thức. Theo luận Đại thừa khởi tín thì thức A lại da là Tâm, 5 ý là Ý, 6 thức là Thức; điểm khác với thuyết của Duy thức ở đây là Ý có 5 tên. Ngoài ra, luận Phật tính quyển 3 lần lượt phối 6 thức với Tâm, thức A đà na phối với Ý, thức A lại da phối với Thức, điều này cũng khác với các thuyết ở trước. [X. kinh Nhập lăng già Q.7; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Đại tì bà sa Q.72; luận Câu xá Q.4; luận Du già sư địa Q.62; luận Thành duy thức Q.5; luận Thành thực Q.5].
Tâm ý 心意
[ja] シンイ shin'i ||| (1) Mind (manas, cetas). (2) Mental perceptory function. (3) To conceptualize. => 1. Ý (s: manas, cetas). 2. Tác dụng nhận thức của tâm. 3. Nhận thức.
tâm điền
The field of the mind, or heart.
; (心田) Ruộng tâm. Tâm ví như thửa ruộng có khả năng chứa đựng các hạt giống thiện, ác, rồi tùy theo điều kiện bón tưới mà phát triển thành mầm thiện, mầm ác, cho nên gọi làTâm đìền.
Tâm điền 心田
[ja] シンデン shinden ||| "Mind-field." The mind is the source of the production of all phenomena, and is the place where the seeds of Buddhahood are planted and cultivated. Same as 心地. => “Đất tâm”. Tâm là cội nguồn xuất sinh mọi hiện tượng, và là nơi hạt giống Phật tính được gieo trồng và chăm bón. Đồng nghĩa với Tâm địa.
tâm đình
The pavilion of the mind, i.e.the body.
tâm đăng
The lamp of the mind. Penetration of mind; perspicacity, insight, acumen.
; (心燈) Đèn tâm. Tâm linh có công năng chiếu soi phá tan tất cả ngu muội, như ngọn đèn xua tan bóng tối nên gọi là Tâm đăng. Pháp uyển châu lâm nói: Chẳng sinh cây ý, chưa thắp đèn tâm. Lại trong bức thư vua Lương giản văn đế viết cho Quảng tín hầu cũng có câu: Há chỉ là đèn tâm soi đêm tối, cũng là nhụy ý tỏa ban mai.
tâm đại lạc
Mind of Great Joy.
tâm đảo
xem ba sự điên đảo.
tâm đắc
To have an insight into, to see through, to penetrate the essence of (things)
Tâm Địa
(心地): có ba nghĩa chính:(1) Chỉ cho Giới (s: śīla, p: sīla, 戒). Giới lấy tâm làm gốc, giống như thế gian lấy đại địa làm cơ sở; nên mới gọi Giới là Tâm Địa (đất tâm). Vì vậy có Pháp Môn Tâm Địa, tức là pháp môn chuyên hình trì Giới Luật tinh nghiêm. (2) Chỉ cho tâm của 50 vị của Bồ Tát, gồm Thập Tín (十信), Thập Trụ (十住), Thập Hạnh (十行), Thập Hồi Hướng (十回向), Thập Địa (十地). Vị Bồ Tát căn cứ vào tâm mà tu hành, nên thí dụ tâm như đất, mới có tên là Tâm Địa. (3) Trong Thiền Tông, Bồ Đề do Tổ Sư Đạt Ma (達摩) truyền cũng được gọi là Tâm Địa. Trong Phạm Võng Bồ Tát Giới Kinh Nghĩa Sớ Phát Ẩn (梵網菩薩戒經義疏發隱, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 679) có đoạn: “Thử Tâm Địa giới, phi thiện phi ác, nhi thật dĩ hành thiện chỉ ác vi dụng, y trì thử giới, nhiên hậu hành thiện hữu phương, chỉ ác hữu đạo (此心地戒、非善非惡、而實以行善止惡爲用、依持此戒、然後行善有方、止惡有道, giới Tâm Địa này, chẳng thiện chẳng ác, mà thật ra lấy công dụng của việc làm điều thiện dừng việc ác, nương vào việc giữ giới này, sau đó làm điều thiện mới có hướng, dừng việc ác mới có đường).” Hay trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1419) có câu: “Tham Thiền chỉ yếu liễu Tâm Địa, Tâm Địa liễu thời chư pháp không (參禪只要了心地、心地了時諸法空, Tham Thiền chỉ cần rõ Tâm Địa, Tâm Địa rõ rồi các pháp không).” Hoặc trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, q.1, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) có đoạn rằng: “Nguyên giả thị chúng sanh bản giác chơn tánh, diệc danh Phật tánh, diệc danh Tâm Địa; ngộ chi danh Tuệ, tu chi danh Định, Định Tuệ thông danh vi Thiền, cố vân Thiền nguyên, diệc danh Thiền Na (源者是一切眾生本覺眞性、亦名佛性、亦名心地、悟之名慧、修之名定、定慧通名爲禪、此性是禪之本源、故云禪源、亦名禪那, đầu nguồn là chơn tánh bản giác của chúng sanh, cũng gọi là Phật pháp, cũng gọi là Tâm Địa; ngộ thì gọi là Tuệ, tu tập thì gọi là Định, tên chung của Định Tuệ là Thiền, tánh này là nguồn gốc của Thiền, nên gọi là nguồn Thiền, cũng gọi là Thiền Na).”
tâm địa
The bottom of the heart; the mental ground or condition; mind, nature.
; (心地) Đất tâm. Có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho giới: Giới lấy tâm làm gốc, hệt như thế gian lấy đất làm nền, cho nên gọi Giới là Tâm địa. 2. Chỉ cho tâm của 50 giai vị Bồ tát: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa. Vì Bồ tát nương vào tâm mà tu hành nên tâm được ví dụ là đất. 3. Chỉ cho Bồ đềdo Tổ Đạt ma truyền được gọi là Tâm địa. [X. kinh Phạm võng].
Tâm Địa Giác Tâm
(心地覺心, Shinchi Kakushin): tức Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心, Muhon Kakushin, 1207-1298), vị Tổ của Phái Pháp Đăng (法燈派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản; húy là Giác Tâm (覺心), đạo hiệu Vô Bổn (無本), hiệu là Tâm Địa Phòng (心地房); thụy hiệu Pháp Đăng Thiền Sư (法燈禪師), Pháp Đăng Viên Minh Quốc Sư (法燈圓明國師); xuất thân vùng Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]), họ là Hằng (恆, có thuyết cho là Thường Trừng [常澄]). Vào năm thứ 3 (1221) niên hiệu Thừa Cửu (承久), ông vào Thần Cung Viện ở quê mình mà học kinh sử, rồi đến năm 29 tuổi thì đến Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) đăng đàn thọ Cụ Túc Giới. Tiếp đến, ông theo hầu Giác Phật (覺佛) ở Truyền Pháp Viện (傳法院) trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) mà tu học về Mật Giáo, rồi kế đến ông đến tham bái Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) ở Kim Cang Tam Muội Viện (金剛三昧院). Sau đó, ông lại đến bái yết Đạo Nguyên (道元) ở Cực Lạc Tự (極樂寺, Gokuraku-ji) thuộc vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa) và thọ Bồ Tát Giới với vị này. Tiếp theo ông còn đến tham vấn nhiều nơi như Vinh Triêu (榮朝) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), Sanh Liên (生蓮) ở Tâm Hành Tự (心行寺) vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]), Tạng Tẩu Lãng Dự (藏叟朗譽) ở Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji), và Thiên Hựu Tư Thuận (天祐思順) ở Thắng Lâm Tự (勝林寺, Shōrin-ji). Đến năm thứ 3 (1249) niên hiệu Bảo Trị (寶治), ông khởi chí muốn sang nhà Tống cầu pháp, rồi lênh đênh trải qua hai tháng trường mới đến được vùng Cửu Châu. Đến năm thứ 10 (1250) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến được Dục Vương Sơn (育王山), rồi tham yết Vô Môn Huệ Khai (無門慧開) và đắc pháp của vị này. Sau đó, ông trở về nước, lên Cao Dã Sơn, nương theo Long Thiền (隆禪) ở Thiền Định Viện (禪定院) làm Thủ Tòa ở đây, nhưng sau ông lại từ giã nơi ấy mà đến ở tại Thứu Phong Sơn (鷲峰山) thuộc vùng Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山懸]). Vào năm thứ 4 (1264) niên hiệu Hoằng Trường (弘長), Nguyện Chủ Nguyện Tánh (願主願性) của Tây Phương Tự (西方寺, Saihō-ji, sau là Hưng Quốc Tự [興國寺]) nhường chùa này lại cho Giác Tâm. Năm thứ 4 (1281) niên hiệu Hoằng An (弘安), Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō) cho mời ông đến ở tại Thắng Lâm Tự (勝林寺, Shōrin-ji) trong Kinh Đô để thường xuyên vấn pháp, rồi Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō) cũng biến ly cung của mình thành Thiền lâm, rồi thỉnh ông làm sơ Tổ nơi ấy, nhưng ông đã cố từ mà không nhận. Vào ngày 13 tháng 10 năm thứ 6 niên hiệu Vĩnh Nhân (永仁), ông thị tịch tại Tây Phương Tự, hưởng thọ 92 tuổi. Quy Sơn Thiên Hoàng ban thụy hiệu cho ông là Pháp Đăng Thiền Sư; sau đó Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) còn ban tặng thêm cho ông thụy hiệu khác là Pháp Đăng Viên Minh Quốc Sư. Tương truyền tâm ông mến mộ vùng Phổ Hóa (普化), Trấn Châu (鎭州), thường hay thổi sáo hát ca, nên được kính ngưỡng như là vị Tổ của Tông Phổ Hóa (普化宗).
tâm địa giác tâm
Shinchi kakushin (J).
tâm địa hàm chủng
(心地含種) Đất tâm ngậm chứa hạt giống. Nghĩa là trong tâm phàm phu chứa đựng chủng tử mà có khả năng phát triển thành quả Phật bồ đề.
tâm định
Saṃdhikkhanda (S).
; (心定) Loại thiền định tập chú tâm để được nhất cảnh tính, là 1 trong 4 loại định(dục, tinh tiến, tâm, tuệ) 1 trong 4 Thần túc. Luận Giải thoát đạo quyển 2 (Đại 32, 407 hạ) nói: Nương vào tâm mà tu tập được, gọi là Tâm định. (xt. Tứ Thần Túc).
tâm ảnh
Nimitta (S), Mental image Thụy, Tướng1-Tướng (dùng trong Kinh Lăng già) 2- Điềm tốt lành.
Tâm ấn
心印; J: shin-in;|Là dấu hiệu của tâm. Truyền tâm ấn có nghĩa là sự truyền yếu chỉ Phật pháp của thầy cho đệ tử. Ai được truyền tâm ấn là người đó được Ấn khả, được phép hoằng hoá nối pháp của thầy.
tâm ấn
Busshin-in (J), Shin-in (J).
; Mental impression, intuitive certainty; the mind is the Buddha-mind in all, which can seal or assure the truth.
; Thầy dùng cái tâm ngộ của mình ấn chứng cái tâm đệ tử đã ngộ, nói là lấy tâm ấn tâm.
; (心印) I. Tâm ấn. Cũng gọi Phật tâm ấn. Thiền tông chủ trương ngôn ngữ văn tự không thể biểu đạt được pháp tự nội chứng của Phật, tức gọi là Phật tâm. Chân lí do đức Phật chứng ngộ như dấu ấn của thế gian quyết định không thay đổi, nên gọi Tâm ấn. Không nương vào văn tự liền thấy được bản tính của mình, gọi là Truyền tâm ấn. [X. Hoàng bá truyền tâm pháp yếu Q.thượng; Truyền pháp chính tông kí Q.2; Tổ đình sự uyển Q.8]. II. Tâm Ấn. Mật giáo lấy pháp của kinh Đại nhật làm tâm ấn. Tâm là tinh yếu, ấn là quyết định. Tức thực hiện tất cả tác dụng của tâm Phật trên tự thân, hoặc chỉ cho tất cả hoạt động của tâm Phật. III. Tâm Ấn. Chỉ cho tâm ấn của Thánh quán âm.
Tâm 心
[ja] シン shin ||| Heart, mind, spirit, motive, sense, mentality, idea, thought, feeling. Wholeheartedness, sincerity, attention, interest, care, intention, will, mood. Essence, core, marrow.(1) The organ of conceptualization; thinking. One of the six faculties, often written in Chinese as 意 (yi). (2) The mind as the principle of the universe. In this understanding the three worlds are only mind, and outside of mind there is no separate existence (唯心). (3) The enlightened mind-essence which is the basis for the manifestation of various buddha-bodies. => Tấm lòng, tâm trí, tinh thần, động cơ của một hành động, tâm tính, tư tưởng, tư duy, cảm tưởng. Toàn tâm toàn ý, lòng thành, sự ân cần, sự quan tâm, sự thận trọng, ý định, ý chí, tâm trạng. Cốt lõi, thâm tâm, phần cốt tuỷ. 1. Cơ quan để nhận thức; suy tưởng. Một trong 6 giác quan, tiếng Hán thường gọi là ý 意. 2. Tâm là nguyên lý của toàn vũ trụ. Ở đây được hiểu là ba cõi chỉ xuất phát từ tâm, ngoài tâm không có một pháp nào tồn tại riêng biệt (Duy tâm 唯心). 3. Tâm giác ngộ - tâm là bản thể, là nền tảng cho mọi biểu hiện của các thân Phật.
tâm, phật, chúng sinh
Mind, Buddha, and the living.
tâm, tâm số
Tâm là tám thứ thức nơi Tâm vương. Tâm số cũng gọi là Tâm sở, là hiện tượng biểu hiện do Tâm vương hoạt động, gồm 51 Tâm sở, do tông Duy Thức kiến lập.
tân
New, newly, just, opposite of cựu old.
tân biên chư tông giáo tạng tổng lục
(新編諸宗教藏總錄) Cũng gọi Nghĩa thiên mục lục, Nghĩa thiên lục, Hải đông hữu bản hiện hành lục.Mục lục, 3 quyển, do ngài Nghĩa thiên (1055-1101) người Cao li soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Nội dung bộ lục này gồm 1082 bộ chương sớ về kinh luật luậncủa Cao li, Tống, Liêu, Nhật bản... Trong đó, quyển 1 thu chép 615 bộ kinh sớ, quyển 2 thu chép 145 bộ luật sớ và chương sớ của Luật tông, quyển 3 thu chép 322 bộ luận sớ và chương sớ của các tông.
Tân biên chư tông giáo tạng tổng mục 新編諸宗教藏總録
[ja] シンヘンショシュウキョウゾウソウロク Shinhen shoshūkyōzō sōroku ||| Sinp'yŏn chejong kyojang ch'ongnok 3 fasc., by Ŭich'ŏn 義天. T 2184.55.1166a-1178c. => (k: Sinp'yŏn chejong kyojang ch'ongnok); ba quyển; của Nghĩa Thiên (k: Ŭich'ŏn 義天).
tân biên cổ kim vãng sanh tịnh độ bảo châu tập
(新編古今往生淨土寶珠集) Cũng gọi Cổ kim vãng sinh Tịnh độ bảo châu tập, Bảo châu tập. Truyện kí, 8 quyển, do cư sĩ Lục sư thọ soạn vào đời Nam Tống. Nội dung tường thuật sự tích những người ở Trung quốc được vãng sinh Tịnh độ. Hiện nay chỉ còn quyển 1, do ông Đức phú trư nhất lang, người Nhật cất giữ, giấy để viết là những chiếc lá gai được dán lại và viết theo lối chữ hành thư, mỗi trang 7 dòng, mỗi dòng 16 chữ, hoặc 18, 19 chữ, trong đó thu chép sự tích của 38 người như: Ngài Tuệ viễn(phụ thêm Phật đà da xá, Tuệ trì, Đàm thuận), Tăng hiển, Tuệ vĩnh, Tuệ kiền(phụ thêm ni Tịnh nghiêm)và phụ lục sự tích 16 người khác. Trong số này, chính truyện 23 người, phụ lục 13 người và truyện kí các vị như Pháp chiếu... Về tác giả của sách này, theo Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục của Trường tây và Tịnh độ thánh hiền lục quyển 7 của Bách tế thanh, đều cho rằng Vương cổ soạn vào đời Tống. Nhưng, vào năm Nguyên phong thứ 7 (1084), Vương cổ đã soạn tập Tân tu Tịnh độ vãng sinh truyện 3 quyển thì đáng lẽ không biên tập lại sách này, vì tên tuy khác nhưng nội dung phần nhiều giống nhau. Nếu cứ theo điều Nam Tống Thiệu hưng nhị thập ngũ niên (1155) trong Phật tổ thống kỉ quyển 47, thì sách này là do cư sĩ Lục sư thọ ở Tiền đường biên tập vào năm Thiệu hưng 25 (1155) đời Nam Tống. [X. Phật tổ thống kỉ Q.27, 29; Tịnh độ chân tông giáo điểnchí Q.3]. (xt. Tân Tu Tịnh Độ Vãng Sinh Truyện).
tân biên phật pháp đại minh lục
(新編佛法大明錄) Tác phẩm, 20 quyển, do cư sĩ Khuê đường soạn vào đời Nam Tống. Nội dung lấy lời Tổ sư làm gốc, lấy kinh Phật làm nguồn, từ cạn đến sâu, để nói rõ về sự huyền bí không lời trong 700 của các bậc Thánh xưa. Về lời tựa thì có 3 bài: 1. Bài thứ nhất, do Không ẩn đạo nhân viết vào năm Thiệu định thứ 2 (1229). 2. Bài thứ 2, do chính tác giả viết. 3. Bài thứ 3, do cư sĩ Lí ở Giang châu viết vào năm Đoan bình thứ 2 (1235). Về lời Bạt thì có 2 bài: 1. Do ngài Đạo lâm ở Báo ân quang hiếu thiền tự soạn vào năm Bảo khánh thứ 2 (1226). 2. Do ngài Chân chiếu ở am Xuân trừng soạn vào năm Bảo khánh thứ 2 (1226). [X. Bắc tế tập Q.17; Nguyên hanh thích thư Q.7].
Tân Cổ Kim Hòa Ca Tập
(新古今和歌集, Shinkokinwakashū): một trong những bộ Sắc Soạn Hòa Ca Tập (勅撰和歌集), một trong Bát Đại Tập (八代集), 20 quyển với khoảng 1980 bài. Vào năm 1201 (niên hiệu Kiến Nhân [建仁] nguyên niên), nhận sắc chỉ của Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽天皇, Gotoba Jōkō), nhóm Nguyên Thông Cụ (源通具, Minamoto-no-Michitomo), Đằng Nguyên Hữu Gia (藤原有家, Fujiwara-no-Ariie), Đằng Nguyên Định Gia (藤原定家, Fujiwara-no-Sadaie), Đằng Nguyên Gia Long (藤原家隆, Fujiwara-no-Ietaka), Đằng Nguyên Nhã Kinh (藤原雅經, Fujiwara-no-Masatsune) thiết lập Hòa Ca Sở (和歌所), tiến hành thâu tập những bài Hòa Ca, đến năm 1205 (niên hiệu Nguyên Cửu [元久] thứ 2) thì hoàn thành và trình lên triều đình. Đặc sắc của bộ này được gọi là Tân Cổ Kim Điệu (新古今調); cùng với Vạn Diệp Tập (萬葉集, Manyōshū), Cổ Kim Hòa Ca Tập (古今和歌集, Kokinwakashū), nó được xem như là một trong 3 tập Hòa Ca điển hình lớn nhất.
Tân cựu lưỡng dịch 新舊兩譯
[ja] シングリョウヤク shingu ryōyaku ||| The new 新譯 and old 舊譯 translations of the Buddhist canon into Chinese. Those works translated prior to Xuanzang 玄奘 are considered old, and the those from the time of Xuanzang are new. Xuanzang established many new standard terms for translation. For example, prior to Xuanzang, the term for "sentient being" (sattva) was translated as 衆生, and afterwards as 有情. => Lối dịch mới (Tân dịch) và cũ (cựu dịch) Tam tạng kinh Phật giáo sang tiếng Hán. Những tác phẩm được dịch trước thời Huyền Trang đều được gọi là Cựu dịch, và những tác phẩm từ thời Huyền Trang trở đi được gọi là Tân dịch. Huyền Trang đã đặt ra nhiều thuật ngữ tiêu chuẩn mới cho việc dịch thuật. Chẳng hạn, trước thời Huyền Trang, thuật ngữ (s: sattva) được dịch là 'chúng sinh 衆生', về sau được dịch là “hữu tình 有情”.
tân duy thức luận
(新唯識論) Tác phẩm, do ông Hùng thập lực soạn vào thời TrunghoaDân quốc. Toàn sách chia làm 6 thiên: Minh tông, Duy thức, Chuyển biến, Công năng, Thành vật và Minh tâm. Nội dung tổng hợp các học thuyết của Nho, Thích, Đạo và Triết học Tây phương, rồi phân tích phê bình, chọn lựa; cuối cùng qui về Dịch lí của Nho giáo mà bác bỏ lí Duy thức của Phật giáo. Sách này rất được giới Nho gia đương thời hoan nghinh. Sau khi sách được xuất bản, ngài Ấn thuận có soạn bài Bình Hùng thập lực đích tân duy thức luận để phê bình và đính chính những kiến giải sai lầm về Phật học trong sách này.
tân dịch
(新譯) Chỉ cho những bản kinh được phiên dịch từ thời ngài Huyền trang đời Đường trở về sau. Đại sư Huyền trang thường phàn nàn về cách phiên dịch lấy đạt ý làm nguyên tắc của các nhà dịch kinh đời xưa như ngài Cưu ma la thập... Cho nên ngài đề ra phương pháp và qui tắc mới về dịch kinh là trung thành với bản gốc mà dịch theo từng chữ một. Chẳng hạn như chữ Phạm sattva, dịch cũ là chúng sinh, ngài Huyền trang dịch là hữu tình; chữ Phạm vitarka-vicàra, dịch cũ là giác quán, ngài Huyền trang dịch là tầm tứ. Đến đời sau, các nhà dịch kinh thường dùng qui định do ngài Huyền trang đặt ra làm pháp tắc và gọi các kinh được dịch trước ngài Huyền trang là Cựu dịch (dịch cũ), gọi các kinh được dịch sau ngài Huyền trang là Tân dịch(dịch mới). (xt. Cựu Dịch).
tân dịch hoa nghiêm
(新譯華嚴) Cũng gọi Bát thập Hoa nghiêm, Tân Hoa nghiêm. Gọi đủ: Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh. Kinh, 80 quyển, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường, là bản dịch khác của kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm (60 quyển) do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 10. Toàn kinh có 39 phẩm, thu chép những lời nói pháp của đức Phật ở 7 nơi 9 hội mà thành. Vì kinh này gồm 4 vạn 5 nghìn bài kệ(kinh Hoa nghiêm cũ chỉ có 3 vạn 6 nghìn kệ), nên cũng gọi là Tứ vạn ngũ thiên kệ. (xt. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh).
Tân dịch Hoa Nghiêm kinh sớ 新譯華嚴經疏
[ja] シンヤクケゴンキョウソ Shinyaku kegonkyō so ||| The Chinyŏk Hwaŏmgyŏng-so, by Wŏnhyo 元曉; T 2757.85.234c-236a. => (c: Chinyŏk Hwaŏmgyŏng-so), của Nguyên Hiểu (c: Wŏnhyo 元曉).
tân dịch đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh âm nghĩa
(新譯大方廣佛華嚴經音義) Cũng gọi Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh âm nghĩa, Tân dịch Hoa nghiêm âm nghĩa, Hoa nghiêm kinh âm nghĩa, Tuệ uyển âm nghĩa. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tuệ uyển soạn vào đời Đường, được thu vào Trung hoa tạng tập 1, quyển 30. Đây là sách chú âm và giải nghĩa những chữ trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm 80 quyển (bản dịch mới). Trong sách có phụ thêm phần chính phiên và lược giải các chữ Phạm, đồng thời viện dẫn các nội, ngoại điển để thuyết minh tự âm, tự nghĩa của các dịch ngữ. Có rất nhiều sách được trích dẫn, ngoài nội điển còn có hơn 100 loại ngoại điển như Luận ngữ, Mạnh tử, Dịch kinh, Mao thi, Thượng thư, Lễ kí, Trang tử, Quốc ngữ, Sử kí, Hán thư, Lão tử, Thuyết văn, Thục chí, Tấn thư, Mặc tử, Hoài nam tử, Quản tử, Sơn hải kinh... các bản chú thích của các nhà và các loại từ điển hình âm nghĩa xưa nay. Sách này được soạn tiếp theo sau Tục Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí. Trong các bản Đại tạng Cao li, Tống, Nguyên, Minh sách này có nhiều chỗ rất khác nhau, vả lại, trong 3 bản Cao li, Tống, Nguyên đều là 2 quyển, còn trong bản Minh lại là 4 quyển, trong Tuệ lâm âm nghĩa từ quyển 21 đến quyển 23 thì sách này là 3 quyển. Bản do ông Mục chi phụ ở Kyoto, Nhật bản, cất giữ là bản chép tay của sách này, đề là Tân dịch Hoa nghiêm kinh tư kí âm nghĩa, hiện nay là 1 trong các quốc bảo của Nhật bản. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Tống cao tăng truyện Q.6, Chư tông chương sớ lục Q.1].
Tân dịch 新譯
[ja] シンヤク shinyaku ||| The "new standard" for the translation of Sanskrit terms into Chinese, established primarily by Xuanzang 玄奘. Thus, a term for works translated during or after his career. See 新舊兩譯. => Lối dịch mới kinh điển từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán. Chính do Huyền Trang đề xướng. Theo đó, là một thuật ngữ đề cập đến các tác phẩm được phiên dịch trong hoặc sau thời của Huyền Trang.
tân gia ba phật giáo
(新加坡佛教) Tân gia ba: Singapore. Cũng gọi Tinh gia pha, Tinh châu. Phật giáo ở Tân gia ba. Tân gia ba là hòn đảo nhỏ nằm ở cực nam bán đảo Mã lai, về mặt địa lí, là cây cầu nối liền châu Á với châu Úc, cũng là con đường thông nhau giữa Ấn độ dương và Thái bình dương. Về tình hình phát triển của Phật giáo ở Tân gia ba thời xưa, đến nay tuy không có tư liệu để nghiên cứu, khảo sát, nhưng sự truyền nhập Phật giáo vào Tân gia ba thì chắc chắn không phải là việc gần đây. Bởi vì tên Singapore (Tân gia ba) trong tiếng Phạm có nghĩa là tòa Sư tử, thành Sư tử mà trong kinh điển Phật giáo thường ví dụ đức Phật là sư tử trong loài người, cho nên tên Singapore là thành Sư tử, là có hàm ý đất Phật, điều này không phải không dính dáng gì với việc Phật giáo đã từng có mặt tại Tân gia ba thời xưa. Vả lại, vì Tân gia ba đất hẹp người thưa, cho nên từ xưa ít được người ta chú ý, nhưng theo sự khảo chứng của các nhà sử học thì 400-500 năm trước Tây lịch, bán đảo Mã lai đã du nhập văn hóa Ấn độ như: Bà la môn giáo, Phật giáo, Indonesia thì được ngài Pháp hiển truyền nhập Phật giáo vào thế kỉ V, Tân gia ba nằm giữa Mã lai á và Indonesia, vậy trên con đường giao lưu văn hóa tự nhiên, không có lí do nào Nam Bắc qua lại mà không truyền vào Tân gia ba, chỉ tiếc là hòn đảo quá nhỏ nên văn hiến sử sách đã không ghi chép đầy đủ tình hình Phật giáo ở thời bấy giờ. Ngày nay, Phật giáo tại Tân gia ba có hai hệ thống lớn là Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền, cho nên có đủ cả chùa viện và tăng chúng theo các hệ phái Thái lan, Tích lan và Trung quốc. Chùa viện lớn nhỏ ở Tân gia ba có khoảng vài trăm ngôi, tương đối cổ kính và qui mô là các chùa: Song lâm, Phổ giác, Phổ đà... trong đó, chùa Phổ giác là Tùng lâm thập phương đầu tiên tại Tân gia ba; mới mẻ và nguy nga thì có các chùa Tì lô, Phúc hải thiền viện...; đẹp đẽ, tinh tế thì có Diệu âm giác uyển, Khổ lạc am... Tăng ni ở Tân gia ba có khoảng vài trăm vị. Trong số các vị tăng ni Trung quốc nổi tiếng từng đến Tân gia ba hoằng pháp thì có: Đại sư Viên anh, Đại sư Thái hư..., ngoài ra còn có các vị: Chuyển đạo, Chuyển ngạn, Chuyển phùng, Đạt minh, Đạo giai, Bản đạo, Từ hàng, Pháp phảng, Quảng hiệp, Hoành thuyền, Tuệ tăng, Diễn bản, Diễn bồi, Tục minh, Quảng nghĩa, Thường khải, Trí hoa, Diệu đăng, Tùng niên, Chí hàng, Ấn thực... Còn tín đồ tại gia thì có khoảng trên 100.000 người, trong đó có rất nhiều người tuy chưa xuống tóc nhưng sống cuộc đời người xuất gia. Tổng hội Phật giáo Tân gia ba là hội Phật giáo tương đối có tổ chức, có sức mạnh tại Tân gia ba hiện nay, do cư sĩ Lí tuấn thừa triệu tập 4 chúng tăng tục tổ chức thành, là cơ quan cao nhất thi hành các giáo vụ Phật giáo tại Tân gia ba, lập được nhiều thành tích cải tiến và phúc lợi trong đạo, ngoài đời. Hội Phật giáo Trung hoa do Đại sư Thái hư sáng lập, người phụ trách công việc của Hội phần nhiều là cư sĩ tại gia, hiện nay hằng năm có định kì cử hành pháp hội Niệm Phật. Hội Phật giáo Anh văn là đạo tràng của những tín đồ Phật giáo hấp thu nền giáo dục Anh ngữ nghe pháp và tu tập, do ngài Pháp lạc, vị tăng Trung quốc, sáng lập. Phật giáo cư sĩ lâm, gồm hơn 1.000 thành viên, hằng năm có định kì cử hành các khóa tu niệm và hoằng pháp, thực hiện rất nhiều công tác từ thiện xã hội.Ngoài ra còn có Đại học Nam dương, Đại học Tân gia ba đều có tổ chức Hội Phật học, cho đến Hội Trung Anh văn Phật giáo thanh niên... đều có hoạt động diễn giảng, nghiên cứu Phật học. Hội Phật giáo thế giới (World Fellowship of Buddhists) cũng thiết lập phân hội tại Tân gia ba; hội Liên hiệp Tăng già Phật giáo Tân gia ba, hiệp hội Phật giáo phúc lợi Tân gia ba cũng là các cơ cấu Phật giáo quan trọng. Về phương diện giáo dục thì có Phật học viện Nữ tử Tân gia ba, Trường tiểu học Bồ đề, Trường tiểu học Di đà, nhà in và phát hành kinh sách... đều có công năng phát triển văn hóa giáo dục Phật giáo. [X. Tân gia ba đích Phật giáo (Diễn bồi, Bồ đề thụ tạp chí 38– kì5)].
tân giới
(新戒) Giới mới. Tức chỉ cho vị tăng mới thụ giới, cũng chỉ cho vị tăng nhỏ tuổi mới được thụ giới Sa di. Điều Tân giới tham đường trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1138 trung) nói: Người được độ thụ giới Sa di rồi, phải bạch vịTrụ trì định ngày tham đường, kế đó, thưa các vị Thủ tọa, Duy na. Đến ngày, sau tiếng chùy dùng cháo sáng, người đứng đầu của Tân giới dẫn chúng nhập đường. [X. Bách trượng thanh qui chứng nghĩa kí Q.7, thượng; môn Xưng hô Thiền lâm tượng khí tiên].
tân hoa nghiêm kinh luận
(新華嚴經論) Tác phẩm, 40 quyển, do cư sĩ Lí thông huyền soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 36. Nội dung sách này nói rõ ý chỉ sâu xa và giải thích văn nghĩa của kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới). Trước hết, lập 10 môn: Y giáo phân tông, Y tông giáo biệt, Giáo nghĩa sai biệt, Thành Phật đồng biệt, Kiến Phật sai biệt, Thuyết giáo thời phần, Tịnh độ quyền thực, Nhiếp hóa cảnh giới, Nhân quả diên xúc và Hội giáo thủy chung. Kế đến, giải thích văn kinh, chia làm 5 phần: 1. Bàn tổng quát về ý kinh. 2. Nói rõ tông thú của kinh. 3. Thuyết minh giáo thể của kinh. 4. Trình bày chung về số hội. 5. Giải thích văn nghĩa. Luận này có rất nhiều chỗ khác biệt với các luận khác. Như luận của ngài Pháp tạng cho rằng kinh Hoa nghiêm có 7 nơi 9 hội 39 phẩm, luận này thì cho là 10 nơi 10 hội 40 phẩm. Ý chỉ chủ yếu của ngài Pháp tạng là thành tựu Sự sự vô ngại, còn luận này thì nói rõ phàm phu trong 1 đời cảm được Phật trong nội tâm, lí trí không hai.Sau khi soạn giả mất, vào tháng 2 năm Đại lịch thứ 9 (774) đời Đường, ngài Quảng siêu ở chùa Thệ đa chép chung luận này với luận Thập nhị duyên sinh giải mê hiển trí thành luận Bi thập minh, lưu thông ở vùng Tinh phần. Khoảng năm Đại trung, ngài Chí ninh chùa Khai nguyên hợp chung kinh và luận, đề là: Đại phương quảng Phật tân Hoa nghiêm kinh hợp luận, gồm 120 quyển. Năm Càn đức thứ 5 (967) đời Tống, vì nghĩa loại của kinh này còn rườm rà nên ngài Tuệ nghiên vâng mệnh vua hiệu đính rồi khắc bản ấn hành. [X. bài Tựa Tân hoa nghiêm kinh hợp luận; Phúc châu Ôn châu Thai châu cầu đắc kinh luật luận sớ kí ngoại thư đẳng mục lục; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].
Tân Hoa Nghiêm kinh luận 新華嚴經論
[ja] シンケゴンキョウロン Shin Kegonkyō ron ||| Xin huayan jing lun. Treatise on the New Translation of the Flower Ornament Scripture; 40 chüan; by Li Tongxuan 李通玄. T 1739.36.721-1007. An extremely influential commentary on the Huayan jing which was studied widely in Korea, where it was popularized by Chinul 知訥. => (c: Xin huayan jing lun; e: Treatise on the New Translation of the Flower Ornament Scripture); gồm 40 quyển; của Lý Thông Huyền (c: Li Tongxuan 李通玄). Một chuyên luận về kinh Hoa Nghiêm rất có tác tác dụng, được nghiên cứu sâu rộng ở Cao Ly, do sư Trí Nột (k: Chinul 知訥) truyền bá.
tân huân gia
(新熏家) Cũng gọi Duy tân huân gia. Một học phái Duy thức ở Ấn độ chủ trương tất cả chủng tử(hạt giống) đều do 7 chuyển thức hiện hành huân tập (xông ướp) mà sinh ra, chứ không phải đã có sẵn từ trước(tiên thiên). Đại biểu cho phái này là 2 Luận sư Nan đà và Thắng quân. Học thuyết của phái này có thể được gọi là Duy tân huân thuyết, Tân huân thuyết, Duy tân chủng thuyết. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.4].
Tân huân gia 新熏家
[ja] シングンケ shingunke ||| A Buddhist philosopher who advocates the theory of newly perfumated seeds 新熏説. => Nhà tư tưởng Phật giáo tán thành thuyết Tân huân chủng tử.
Tân huân thuyết 新熏説
[ja] シングンセツ shingunsetsu ||| The theory of newly perfumated seeds, as opposed to the theory of "originally existent seeds (本有説)." The Consciousness-only 唯識 theory which maintains that the seeds 種子 in the ālaya-vijñāna 阿頼耶識 are not originally existent, but are newly perfumated. This theory was posited by Nanda (難陀) and Jayasena (勝軍). The Faxiang school 法相宗 in China proposed that the ālaya-vijñāna 藏識 had both "newly perfumated" and "originally existent" aspects. => Lý thuyết tân huân chủng tử, khác với lý thuyết bản hữu (bản hữu thuyết). Là lý thuyết do Duy thức chủ trương, cho rằng các chủng tử trong A-lại-da không phải là vốn có sẵn, mà do mới được huân tập. Lý thuyết nầy được Nan-đà (s: Nanda 難陀) và Thắng Quân (s: Jayasena 勝軍) đưa ra. Pháp tướng tông Trung Hoa đề xướng rằng trong A-lại-da (tàng thức) có cả Tân huân chủng tử lẫn Bản hữu chủng tử.
Tân huân 新熏
[ja] シングン shingun ||| New perfumation of seeds in the ālayavijñāna. See 新熏説. => Hạt giống mới huân tập trong A-lại-da thức. Xem Tân huân thuyết 新熏説.
tân học bồ tát
(新學菩薩) Bồ tát mới học, tức là người mới phát tâm học Phật tu đạo. Phạm võng kinh bồ tát giới quyển 10 hạ (Đại 24, 1004 thượng) nói: Các ông là những Bồ tát tân học, phải tôn kính thụ trì giới pháp. (xt. Tân Phát Ý).
tân học tứ thư
(新學四書) Chỉ cho 4 bộ sách mà những người mới học giáo pháp tông Thiên thai cần phải đọc, đó là: 1. Pháp giới thứ đệ sơ môn(cũng gọi Pháp giới thứ đệ), 6 quyển, giải thích các danh mục pháp số mà tông Thiên thai thường dùng. 2. Tứ giáo nghĩa(cũng gọi Đại bản tứ giáo nghĩa), 12 quyển, nói rõ các giáo tướng của giáo lí do tông Thiên thai thành lập.3. Bồ tát giới nghĩa sớ(cũng gọi Bồ tát giới sớ, Giới sớ), 2 quyển, trình bày rõ giới tướng của các giới Bồ tát Phạm võng. 4. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu (cũng gọi Tiểu chỉ quán, Đồng mông chỉ quán), 1 quyển, trình bày sơ lược về cương yếu quán tâm. Trong 4 bộ sách trên đây, bộ Tứ giáo nghĩa nói rõ về thứ tự 5 thời giáo hóa trong 1 đời của đức Như lai, cho nên là bộ sách rất quan trọng đối với những người mới học.[X. Sơn gia chính thống học tắc Q.thượng, hạ; Túc sơn gia học tắc].
Tân học 新學
[ja] シンガク shingaku ||| Someone newly learning. Someone who has recently aroused their mind to study the Buddhist path. Beginner's mind. A beginning practitioner. => Người mới bắt đầu học. Người mới phát tâm tu học Phật pháp. Sơ tâm. Hành giả sơ cơ.
Tân La
(新羅, Shiragi): tên gọi ngày xưa của Triều Tiên cổ đại. Khoảng năm 47 trước CN, Hách Cư Thế (赫居世) lập nên Tư Lô Quốc (斯盧國) ở Khánh Châu (慶州), đến thế kỷ thứ 4 sau CN, nước này thống nhất các tiểu quốc Thần Hàn (辰韓) và lấy tên là Tân La. Từ thế kỷ thứ 6 trở đi, Tân La tiêu diệt các nước Gia La (加羅), bắt tay với nhà Đường của Trung Hoa để chinh phục hai nước Bách Tế (百濟, Kudara) cũng như Cao Cú Lệ (高句麗, Kōkuri), và đến năm 668 thì thống nhất toàn bộ lãnh thổ Triều Tiên. Sau đó, họ đã dẹp tan thế lực của nhà Đường ra khỏi bán đảo. Năm 935, nước này bị Vương Kiến (王建) của Cao Lệ (高麗) tiêu diệt. Dầu du nhập từ Trung Quốc vào, Tân La đã làm cho phát triển với đặc thù riêng Nho Giáo, Phật Giáo, Chế Độ Luật Lịnh, v.v., và đã đem lại ảnh hưởng rất to lớn cho Nhật Bản về mặt văn hóa, xã hội.
tân luật gia
(新律家) Đối lại: Cựu luật gia. Chỉ cho những nhà Luật học mới. Các luật Tứ phần, Ngũ phần là những luật dịch cũ, còn luật Hữu bộ do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường là luật dịch mới. Bởi vậy, những nhà lấy luật Hữu bộ làm chỗ y cứ để soạn thuật, gọi là Tân luật gia. Nhưng xưa nay phần nhiều thường căn cứ vào những sách chú giải mà bàn về mới, cũ. Như Hành sự sao của ngài Nam sơn đời Đường, Tư trì kí của ngài Nguyên chiếu đời Tống... thuộc về luật cũ nên được gọi là Cựu luật gia. Còn Nam hải kí qui nội pháp truyện của ngài Nghĩa tịnh đời Đường, Khai tông kí của ngài Hoài tố, Sức tông kí của ngài Định tân... thì thuộc về luật mới nên gọi là Tân luật gia.
tân lương
(津梁) Bến đò và cây cầu, là những phương tiện cần thiết khi qua sông, được dùng để ví dụ cho Đạo đế. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 140 trung)nói: Đàn na ba la mật (...) là tân lương để được đạo Niết bàn. [X. văn Qui kính trong Thiền uyển thanh qui Q.8].
tân mệnh
(新命) Cũng gọi Tân mệnh trụ trì, Tân mệnh hòa thượng, Tân trụ trì. Chỉ cho vị tăng mới nhậm chức Trụ trì một chùa. Điều Trụ trì tiến thoái,chươngTrụ trì trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 768 hạ) nói: Nếu thỉnh Tân mệnh thì vị trụ trì tiền nhiệm phải báo trước cho đại chúng biết, sau đó trình với công phủ(chính quyền địa phương), đợi công phủ ban lệnh, rồi mới viết sớ trân trọng thỉnh mời. Nếu vị Tân mệnh nhận lời thì vị Trụ trì tiền nhiệm sẽ thiết trai ở phương trượng. [X. điều Tôn túc nhập viện trong Thiền uyển thanh qui Q.7; điều Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông
(新義眞言宗, Shingishingonshū): tên gọi một phái của chơn Ngôn Tông, còn gọi là Chơn Ngôn Tông Tân Nghĩa Phái (眞言宗新義派), đối với Cổ Nghĩa Chơn Ngôn Tông (古義眞言宗). Sự việc phát xuất từ chuyện Giác Noan (覺鑁, Kakuban), người sáng lập Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院) trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan), kháng tranh với Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺, Kongōbō-ji), nên mới dời về Căn Lai Tự (根來寺, Negoro-ji) vào cuối thời Bình An. Chơn Ngôn Tông thời Trung Đại thì bị chia thành ba cực lớn là các ngôi chùa ơ kinh đô Kyoto như Đông Tự (東寺, Tō-ji), Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), với Cao Dã Sơn và Căn Lai Tự. Trường hợp Cao Dã Sơn và Căn Lai Tự thì rất hưng thạnh nhờ sự hưng khởi giáo học độc đáo của họ. Phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông lấy Căn Lai Tự làm trung tâm để tạo thành giáo đoàn có thế lực rất lớn. Sự khác nhau giữa Tân Nghĩa với Cổ Nghĩa ở chỗ xoay quanh sự thuyết pháp của vị giáo chủ Tông phái là Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來); phái Tân Nghĩa thì chủ trương đó là Gia Trì Thân Thuyết Pháp, còn phái Cổ Nghĩa thì cho là Bản Địa Thân Thuyết Pháp; tuy nhiên về mặt pháp hệ tương thừa thì không có gì khác biệt cả. Việc quyết định tên gọi Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông vốn phát xuất từ thời Cận Đại, với mục đích nhằm phân biệt với phái Cổ Nghĩa Chơn Ngôn Tông ngày xưa mà thôi. Giác Noan thì được xem như là vị Tổ khai sáng phái Tân Nghĩa này; bên cạnh đó, ông còn là Tổ khai sơn của Đại Truyền Pháp Viện cũng như Căn Lai Tự; cho nên nếu đứng về mặt giáo học mà xét thì phái này được chuyển từ Đại Truyền Pháp Viện về Căn Lai Tự. Về sau giáo học của phái này được Thánh Hiến (聖憲, Shōken) hoàn chỉnh thành hệ thống rõ ràng. Dưới thời đại Chiến Quốc, Căn Lai Tự rất nổi tiếng với tập đoàn Tăng binh có đội quân thiết pháo, và có tính cách như là lãnh chúa phong kiến, giống như trường hợp của Cao Dã Sơn với Tỷ Duệ Sơn. Tuy nhiên, do vì Căn Lai Tự đối kháng với Tướng Quân Vũ Sài Tú Cát (羽柴秀吉, Hashiba Hideyoshi, tức Phong Thần Tú Cát [豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi]); nên vào năm 1585, chùa bị đốt cháy tan tành. Về sau, hai học giả Chuyên Dự (專譽, Senyō) thì dựng pháp tràng ở Trường Cốc Tự (長谷寺, Hase-dera) vùng Đại Hòa (大和, Yamato); còn Huyền Hựu (玄宥, Genyū) thì ở Trí Tích Viện (智積院) thuộc kinh đô Kyoto, và đến thời kỳ giang hộ thì hai nơi này trở thành chùa trung tâm của phái Tân Nghĩa. Từ cuối thời Minh Trị trở đi, có xuất hiện những tên gọi khác nhau Chơn Ngôn Tông Tân Nghĩa Phái (眞言宗新義派), Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Phong Sơn Phái (新義眞言宗豐山派) và Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông Trí Sơn Phái (新義眞言宗智山派); nhưng hiện tại chỉ còn lại danh xưng Chơn Ngôn Tông Phong Sơn Phái (眞言宗豐山派), Chơn Ngôn Tông Trí Sơn Phái (眞言宗智山派), và chữ Tân Nghĩa không còn nữa.
tân nhật vương
Bālāditya (P)Ấu Nhật vươngVua nước A du xà, thống trị Ấn độ thời ngài Thế Thân.
; (新日王) Tân nhật, Phạm:Bàlàditya. Hán âm: Bà la dật để dã, Bà la a dật đa. Hán dịch: Tân nhật, Huyễn nhật. Vua nước A du xà thống trị Ấn độ vào thời đại ngài Thế thân. Cứ theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì vị vua này là con của Chính cần nhật vương (Phạm: Vikramàditya, cũng gọi Siêu nhật vương). Lúc còn là Thái tử, vua Tân nhật đã thỉnh cầu ngài Thế thân truyền trao giới pháp, mẹ vua cũng xuất gia làm đệ tử ngài Thế thân. Sau khi lên ngôi vua, hai mẹ con cùng thỉnh ngài Thế thân ở lại nước A du xà để cúng dường ngài.Cứ theo Đạiđường tây vực kí quyển 2, 4, 9 và các học giả người Anh như V. A. Smith, M. A. Stein... thì niên đại và sự tích về vị vua này còn có nhiều thuyết khác. [X. Thích ca phương chí Q.hạ; Chỉ quất dịch thổ tập Q.19;Kalhaịa’s Chronicle of the Kings of Kazmìr by M. A. Stein; The Early History of India by V. A. Smith].
tân phát ý
One who has newly resoved on becoming a Buddhist, or on any new line of conduct.
; (新發意) I. Tân Phát Ý. Phạm: Nava-yàna-samprasthita. Cũng gọi Sơ phát ý, Sơ phát tâm, Tân phát tâm. Gọi tắt: Tân phát, Sơ tâm. Mới phát tâm bồ đề tu học Phật đạo. Bồ tát Tân phát ý tương đương với Thập tín vị trong 52 giai vị. Vì thời gian tu học của vị Bồ tát này chỉ mới bắt đầu nên cũng được gọi là Tân học bồ tát. Kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 546 trung) nói: Vị Bồ tát ấy đã được thần thông liền tự biến thân hình cao 4 vạn 2 nghìn do tuần, ngồi trên tòa sư tử mà các Bồ tát Tân phát ý và đại đệ tử đều không lên được. Luận Đại trí độ quyển 61 (Đại 25, 489 hạ) nói: Nghĩa tùy hỉ của Bát nhã ba la mật không nên nói trước cho các Bồ tát tân học nghe. Vì sao? Vì nếu những người ít phúc đức thiện căn nghe pháp rốt ráo là không này, liền chấp không mà nghĩ rằng: Nếu tất cả pháp đều rốt ráo là không, không có gì cả, thì mình tạo phúc đức để làm gì? Rồi bỏ mất thiện nghiệp. Bởi thế, đối với các Bồ tát Tân phát ý trước nên dạythủtướng tùy hỉ, dần dần được sức phương tiện mới có thể thực hành vô tướng tùy hỉ. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Tập ứng trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; phẩm Trợ niệm Phật tam muội luận trongluậnThập trụ tì bà sa Q.12; luận Tịnh độ thập nghi]. II. Tân Phát Ý. Chỉ cho các đồng nam mới được độ trong Tịnh độ chân tông ở Nhật bản.
tân thập huyền
(新十玄) Mười huyền môn mới trong giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm do ngài Pháp tạng, Tổ thứ 3 của tông này lập ra. Đó là: 1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn. 2. Quảng hiệp tự tại vô ngại môn. 3. Nhất đa tương dung bất đồng môn. 4. Chư pháp tương tức tự tại môn. 5. Ẩn mật hiển liễu câu thành môn. 6. Vi tế tương dung an lập môn. 7. Nhân đà la võng pháp giới môn. 8. Thác sự hiển pháp sinh giải môn. 9. Thập thế cách pháp dị thành môn. 10. Chủ bạn viên minh cụ đức môn. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm kinh văn nghĩa cương mục].(xt. Thập Huyền Môn).
tân tu tịnh độ vãng sanh truyện
(新修淨土往生傳) Cũng gọi Tân tu vãng sinh truyện. Truyện kí, 3 quyển, do cư sĩ Vương cổ soạn vào đời Tống. Nội dung ghi chép sự tích những người ở Trung quốc được vãng sinh Tịnh độ. Đây là tác phẩm bổ túc cho Tịnh độ vãng sinh truyện của soạn giả Phi sơn Giới châu, được ấn hành vào năm Nguyên phong thứ 7 (1084) đời Tống. Gần đây 2 quyển thượng và hạ được phát hiện, trong đó, quyển thượng ghi thuật sự tích của 25 vị chính truyện, phụ lục 13 vị; quyển hạ ghi thuật sự tích của 31 vị chính truyện, phụ lục 9 vị. Quyển trung nay đã thất truyền. [X. Phật tổ thống kỉ Q.27, 47; Tịnh độ y bằng chương sớ mục lục].
tân tuế
The new year of the monks, beginning on the day after the summer retreat.
; (新歲) Cũng gọi Thụ tuế. Chỉ cho ngày tết nguyên đán(năm mới) của tỉ khưu, tức là ngày 16 tháng 7 âm lịch (theoluậtcũ), là ngày đầu tiên sau khi kết thúc hạ an cư. Vào ngày này, các vị tỉ khưu được tính thêm một tuổi, nên gọi là Tân tuế(tuổi mới), Thụ tuế(nhận tuổi). [X. kinh Thụ tuế (do ngài Trúc pháp hộ dịch); kinh Tân tuế (do ngài Đàm vô lan dịch)]. (xt. Tự Tứ).
tân tận hoả diệt
(薪盡火滅) Củi cháy hết thì lửa tắt, ví dụ cho việc đức Phật vào Niết bàn. Từ ngữ này có xuất xứ từ phẩm Tựa kinh Pháp hoa. Về vấn đề này, sự giải thích giữa Tiểu thừa và Đại thừa có khác nhau: Tiểu thừa cho rằng, Bồ tát tu nhân, chiết phục phiền não hoặc nghiệp, cho nên thân sau cùng thành quả Phật là do thực nghiệp sinh ra, gọi là Thân tề nghiệp; tức chủ trương Phật nhập diệt là do tự nghiệp đã hết. Do đó, lấy năng lực của Phật ví dụ củi, trí tuệ của Phật ví dụ lửa, vì thế nghiệp hoại, báo tận, gọi là củi hết; thân quả báo hết thì trí tuệ cũng diệt theo, gọi là lửa tắt. Còn Đại thừa Phật giáo thì cho rằng Bồ tát nhờ tu nhân mà đoạn được hoặc, cho nên thân của quả Phật chẳng phải do thực nghiệp sinh ra mà chỉ sinh diệt tùy theo cơ duyên, gọi là Thân tề duyên. Tức chủ trương Ứng thân của Phật nhập diệt là do cơ duyên đã hết, dùng cơ duyên ví dụ củi, Ứng thân Phật ví dụ lửa; cho nên cơ duyên của chúng sinh đã cùng tận, gọi là củi hết, theo đó mà Ứng thân của Phật nhập diệt, gọi là lửa tắt. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung].
tân tận nhật
(薪盡日) Ngày củi hết, tức chỉ cho ngày đức Thích tôn vào Niết bàn, gồm có 3 thuyết: 1.Ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch. 2. Ngày 15 tháng 2. 3. Ngày mồng 8 tháng 8. (xt. Thích Ca Mâu Ni).
tân tập tạng kinh âm nghĩa tùy hàm lục
(新集藏經音義隨函錄) Cũng gọi Khả hồng âm nghĩa. Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Khả hồng soạn vào đời Hậu Tấn thời Ngũ đại. Nội dung căn cứ vào thứ tự số hòm của Nhập tạng lục trong Khai nguyên thích giáo lục mà thu tập các chữ khó trong Tạng kinh, phụ thêm âm nghĩa, đồng thời sửa chữa những chữ sai, tổng cộng có 12.022 chữ. Xưa nay tuy đã có các bộ âm nghĩa như: Huyền ứng, Tuệ uyển, Tuệ lâm, Hi lân... nhưng đối với hình dáng chữ và cách viết những cổ tự, tục tự... thì tương đối bộ âm nghĩa này giải thích tường tận hơn.[X. Phật tổ thống kỉ Q.42].
Tân Tỉnh Bạch Thạch
(新井白石, Arai Hakuseki, 1657-1725): Nho gia, chính trị gia, sống vào khoảng giữa thời Giang Hộ; tên là Quân Mỹ (君美); thông xưng là Khám Giải Do (勘解由), Truyền Tạng (傳藏); hiệu Bạch Thạch (白石); tự Tế Mỹ (濟美); Trưởng Quan Kami vùng Trúc Hậu (筑後, Chikugo); xuất thân Giang Hộ (江戸, Edo); thân phụ là Phiên Sĩ Cửu Lưu Lí (久留理, Kururi). Sau khi phục vụ cho quan Đại Lão Quật Điền Chánh Tuấn (堀田正俊), ông sống lưu lãng đó đây. Tự một mình mày mò học về Nho giáo, khi khoảng 30 tuổi, ông mới đến nhập môn làm đồ đệ của Nho gia Mộc Hạ Thuận Am (木下順庵). Nhờ vị này suy cử, ông phục vụ cho Đức Xuyên Cương Phong (德川綱豐) ở Giáp Phủ (甲府) với tư cách là Nho thần. Khi Cương Phong trở thành Tướng Quân Gia Tuyên (家宣, Ienobu) đời thứ 6, ông cùng với Gian Bộ Thuyên Phòng (間部詮房) trở thành hạt nhân trung tâm của chính quyền Mạc Phủ, đã từng mở ra những cuộc cải cách lớn về mậu dịch với ngoại quốc. Sau ông làm Trưởng Quan Kami vùng Trúc Hậu. Từ năm 1716 (Hưởng Bảo [享保] nguyên niên) trở đi, khi Cát Tông (吉宗, Yoshimune) trở thành Tướng Quân đời thứ 8, ông chuyên tâm vào việc trước tác. Các tác phẩm lịch sử của ông như Độc Sử Dư Luận (讀史余論), Phiên Hàn Phổ (藩翰譜), Cổ Sử Thông (古史通) là những trước tác quan trọng trong lịch sử sử học trên cơ sở quan điểm lịch sử độc đáo của ông. Một số tác phẩm khác của ông là Tân Tỉnh Bạch Thạch Nhật Ký (新井白石日記), Thái Lãm Dị Ngôn (采覽異言), Tây Dương Kỷ Văn (西洋紀聞), Đồng Văn Thông Khảo (同文通考), Đông Nhã (東雅), v.v.
tân tống
(津送) Tân nghĩa là bến đò, nhà Thiền gọi việc tống táng(đưa người chết đi chôn) là Tân tống.Tân tống vốn có nghĩa tiễn đưa người đi xa đến bến đò, sau được dùng với nghĩa tiễn đưa người chết. Vì theo tập tục của Ấn độ, người chết được đưa đến bến sông, ngâm 2 chân xuống nước, sau đó đốt xác ở bên sông, xong rồi thả di cốt (tro) xuống sông cho trôi theo dòng nước, tức là hàm ý người chết giống như con thuyền rời bến được người tiễn đưa. Điều Vong tăng trong Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn tục 111, 456 hạ) nói: Nhóm họp chư tăng tụng niệm. Đêm ấy, cử hành các pháp sự như tụng giới, hồi hướng... để sáng sớm mai hoặc sau bữa trai ngọ thì tân tống.
tân tục cao tăng truyện tứ tập
(新續高僧傳四集) Sử truyện, 65 quyển, do các soạn giả như Dụ khiêm biên tập vào thời Trung hoa Dân quốc. Sách này được biên soạn tiếp theo bộ Tống cao tăng truyện của ngài Tán ninh... thu chép sự tích của các vị cao tăng trong khoảng hơn 900 năm từ thời Bắc Tống đến đầu thời Dân quốc. Toàn sách gồm 10 thiên, theo thứ tự là: Thiên Dịch kinh, thiên Nghĩa giải, thiên Tập thiền, thiên Minh luật, thiên Hộ pháp, thiên Linh cảm, thiên Di thân, thiên Tịnh độc, thiên Phúc hưng và thiên Tạp thức. Trong đó, chính truyện 788 vị, phụ truyện 624 vị, tổng cộng 1412 vị(Tổng mục có sai sót lầm lẫn, ở đây ghi theo nội văn). Có riêng 1 quyển đầu ghi chép thư mục, chức lục, tựa, thuật từ, khải, nghĩa lệ và tổng mục. Sự sắp xếp trong sách này có nhiều truyện trùng lặp và lộn xộn, nhiều chỗ truyện chính đưa xuống, truyện phụ lại để ở trên, hơn nữa, có rất nhiều vị tăng nổi tiếng hay quan trọng không thấy được nói đến. Tóm lại, về mặt bố cục, sách này tuy có một vài khuyết điểm, nhưng tương đối vẫn có giá trị tham khảo. [X. Phật học thư mục biểu].
tân vãng bồ tát
(新往菩薩) Đối lại: Cựu trụ Bồ tát. Bồ tát mới đến. Tức Bồ tát mới sinh về Tịnh độ, gọi là Tân vãng bồ tát; trái lại, Bồ tát đã trụ ở Tịnh độ, gọi là Cựu trụ bồ tát.
tân đà la na đà thi
Saṃdrarananda (S)Phật truyện bằng tiếng Phạn.
tân đáo
(新到) Mới đến. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho những vị tăng mới đến tùng lâm tham học hoặc đến tạm trú tại một chùa nào đó. Nghỉ qua đêm, sáng hôm sau, Tân đáo đến Tăng đường làm lễ chính thức nhập chúng, gọi là Tân đáo quải đáp thức. Thông thường, tùy theo tùng lâm lớn nhỏ khác nhau màcóĐại quải đáp pháp hay Tiểu quải đáp pháp. [X. điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1].
tân đô la
Pundra (S)tên một ngọn núi ở Bắc Ấn.
tân đạt
(賓達) Bendall, Cecil (1856-1907) Học giả Đông phương học, Ấn độ học người Anh. Ông từng học tiếng Phạm ở Đại học Oxford. Sau, ông đến Ấn độ nghiên cứu tại thư viện Durbar. Năm 1880, ông xuất bản kinhMegha-sùtra(Đại vân thỉnh vũ), năm 1888 xuất bản Tantrakyàna (Bí mật nghi quĩ thuyết thoại), năm 1897 xuất bản Zikwà-samuccaya(Đại thừa tập bồ tát học luận). Ông có công rất lớn đối với việc suy định về niên đại Phật giáo và nghiên cứu tiếng Phạm, đồng thời, đối với các ngành Khảo cổ học, Cổ tiền học, Bi minh... ông cũng có những thành tích nổi bật. Năm 1898, ông lại đến Nepal, thỉnh được 90 bản viết tay cổ, cộng chung với hơn 500 bộ tư liệu trước đều được cất giữ tại thư viện trường Đại học Cambridge. Ông có các tác phẩm: Journey of Literary and Archaeological Researches in Nepal and Northern India, 1886; History of Nepal and Surrounding Countries; Catalogue of Buddhist Sanskrit Manuscripts in the University Library, Cambridge.
tân đầu lô
(賓頭盧) Phạm,Pàli:Piịđola. Gọi đủ: Tân đầu lô bạt la đọa xà (Phạm, Pàli:Piịđola-bhàradvàja). Cũng gọi Tân đầu lô phả la đọa thệ, Tân độ la bạt ra đọa xá, Tân đầu lô đột la xà. Vị A la hán, đệ tử đức Phật, người nước Kiêu thướng di (Phạm: Kauzàmbì, thuộc dòng Bà la môn. Vì ngài thường trụ ở thếgian nên cũng có tên làTrụ thế A la hán. Tân đầu lô là tên, Hán dịch là Bất động; Bạt la đọa xà là họ, Hán dịch là Lợi căn(căn tính bén nhạy = thông minh); Tiệp tật(nhanh nhẹn), Trùng đồng(mắt có 2 con ngươi), là 1 trong 18 dòng họ Bà la môn. Cứ theo kinh Tân đầu lô đột la xà vị Ưu đà diên vương thuyết pháp và luật Thập tụng quyển 37, sư vốn là con một vị phụ tướng của vua Ưu điền, xuất gia học đạo từ thủa niên thiếu, chứng được quả A la hán và đắc thần thông. Có lần, sư hiện thần thông trước người thế tục, bị đức Phật quở trách, không cho trụ ở cõi Diêm phù đề mà phải đến hóa độ chúng sinh ở châu Tây cù da ni, sau tuy được phép trở về, nhưng không được phép vào Niết bàn mà phải trụ mãi ở núi Ma lê tại Nam thiên để hóa độ chúng sinh. Lại theo kinh Thỉnh tân đầu lô thì sư được đức Phật chỉ dạy làm phúc điền(ruộng phúc) cho người ở thời Mạt pháp, nên các quốc vương, trưởng giả ở Thiên trúc, mỗi khi thiết lập hội Trai thường thỉnh sư để cúng dường. Đến đời sau, trong các chùa viện của Tiểu thừa ở Ấn độ có an trí tượng ngài Tân đầu lô làm Thượng tọa. Tại Trung quốc, Đại sư Đạo an đời Đông Tấn là người đầu tiên tín ngưỡng ngài Tân đầu lô. Từ đời Đường về sau, có phong tục tôn trí tượng ngài Tân đầu lô ở Trai đường, gọi là Thánh tăng. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường vẽ tượng ngài ngồi xoạc chân trên mỏm đá, tay trái cầm gậy, tay phải duỗi ra chống vào đá, trên đầu gối đặt quyển kinh, mắt nhìn về phía trước. [X. kinh Tạp a hàm Q.23, 43; kinh A la hán cụ đức; kinh Hiền ngu Q.6; luật Tứ phần Q.51; luận Đại trí độ Q.26; luận Nhập đại thừa Q.hạ; A dục vương truyện Q.3; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.3; truyện Đạo an trong Lương cao tăng truyện Q.5; Phiên phạm ngữ Q.2; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1].
Tân Đầu Lô Phả La Đọa
(s, p: Piṇḍola-bharadvāja, 賓頭盧頗羅墮): gọi đủ là Tân Đầu Lô Phả La Đọa Thệ (賓頭盧頗羅墮誓), gọi tắt là Phả La Đọa (s: Bharadvāja, 頗羅墮), Tân Đầu Lô (賓頭盧) hay Tân Đầu (賓頭); là người đứng đầu trong 16 vị La Hán. Tôn giả Tân Đầu Lô trụ thế lâu dài, hiện tướng tóc bạc mày dài, nên có tên gọi là Trường Mi Tăng (長眉僧) hay Trường Mi Sa Môn (長眉沙門). Tên Tân Đầu Lô ý dịch là Bất Động (不動), họ Phả La Đọa nghĩa là Lợi Căn (利根). Ông vâng lời đức Phật sống lâu trên cõi đời mạt pháp để thọ nhận cúng dường của chúng sanh, giúp cho họ tạo phước điền; nên ông có tên là Phước Điền Đệ Nhất (福田第一). Nguyên lai ông là vị đại thần của vua Ưu Điền (s, p: Udayana, 優填). Đức vua thấy ông siêng năng tinh tấn, nên khuyên ông xuất gia với Phật. Sau khi chứng quả A La Hán, ông trở về nước, thuyết pháp cho nhà vua nghe. Do đó, vua rất kính trọng ông, sớm tối đều đến hỏi han học đạo. đương thời có một vị Đại Thần Bà La Môn ngoại đạo không tin Phật pháp, khi thấy vua Ưu Điền đến tham vấn, Tân Đầu Lô chỉ ngồi một bên mà không đứng dậy chào nghinh đón vua, nhân đó người này dùng kế ly gián xúi giục nhà vua. Vua bèn bảo rằng: “Ngày mai khi ta đến tham vấn, nếu ông ấy không đứng dậy nghinh tiếp, ta sẽ giết ngay.” Hôm sau, khi Tân Đầu Lô thấy đức vua từ xa đến, bèn đứng dậy đón tiếp và mở lời chào hỏi trước. Thấy vậy, nhà vua ngạc nhiên hỏi duyên cớ vì sao. Tôn Giả đáp: “Tôi làm vậy vì nhà vua đó !” Vua hỏi: “Sao lại vì ta ?” Đáp: “Trước đây đức vua đến với thiện tâm, hôm nay Ngài đến với ác tâm; nếu tôi không đứng dậy đón tiếp thì Ngài sẽ giết tôi. Ai giết vị La Hán thì sẽ đọa vào Địa Ngục. Vậy nếu tôi đứng dậy đón Ngài thì Ngài sẽ mất vương vị; nhưng thà rằng để Ngài mất vương vị còn hơn là đọa vào Địa Ngục. Đó là lý do vì sao hôm nay tôi đứng dậy đón Ngài.” Nghe vậy, đức vua hỏi: “Khi nào ta mất vương vị ?” Đáp: “Trong 7 ngày sau.” Quả nhiên 7 ngày sau nhà vua bị nước bên cạnh bắt đi làm tù nhân. Lúc bấy giờ có một vị Trưởng Giả Thọ Đề (樹提), dùng loại gỗ Chiên Đàn (旃檀), làm thành một bình bát, đem đặt trên đầu cây sào cao và lớn tiếng bảo rằng: “Bất luận người nào, nếu có thể lấy được bát này mà chẳng dùng gậy thang, bát này thuộc về người ấy.” Khi ấy Tân Đầu Lô hiện thần thông lấy bình bát đi. Biết được chuyện này, đức Thế Tôn liền quở trách ông rằng: “Tỳ Kheo có thể lạm dụng thần thông để lấy bình bát ngoại đạo được sao ?” Và hạ lệnh cho ông suốt đời không được trú tại cõi Diêm Phù Đề (s: Jambudvīpa, p: Jambudīpa, 閻浮提), cho nên ông đến trú tại Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲). Về sau, chúng đệ tử thương nhớ Tôn Giả, khẩn cầu đức Phật cho phép ông trở lại cõi Diêm Phù Đề. Nhưng đức Phật lại không cho phép ông nhập Niết Bàn, mà phải thường trụ trên thế gian, hộ trì chánh pháp, thọ nhận sự cúng dường của chúng sanh thời mạt pháp. Vì vậy, tại Trai Đường của các tự viện, thường có một chỗ ngồi ở hàng đầu phía Tây, tức là chỗ của Hòa Thượng Thủ Tòa (首座, trong Thiền Tông, là tên gọi của vị đứng đầu trong chúng), nhưng lại không có ai ngồi. Tuy nhiên tại chỗ đó vẫn thường xuyên có thiết dọn thức ăn, vật uống, chén đũa, v.v., để cúng dường Tôn Giả. Khi cúng dường Trai Tăng, Tôn Giả sẽ hiện thân Tỳ Kheo đến thọ nhận cúng dường. Cho nên khi chú nguyện cúng dường thường có câu: “Nam Mô Tân Đầu Lô Phả La Đọa Xà Tôn Giả tác đại chứng minh.” Tương truyền có một phú ông nọ phát tâm cúng dường Trai Tăng cho 1000 vị tăng với mục đích cầu phước và mong được La Hán đến thọ nhận. Ông thiết lễ trai đàn trong 3 ngày, đến tối thứ 3 ông nằm mộng thấy một lão Tỳ Kheo mặc áo quần lam lũ, trên trán nỗi 3 cục u ghê sợ hiện đến bảo phú ông rằng: “Tôi là Tân Đầu Lô đây !” “Ồ, ngài là Tân Đầu Lô sao ? Ngài có đến dự cúng dường không ?” Tôn Giả đáp: “Có chứ ! Ngày thứ nhất, tôi đến thì người giữ cửa không cho vào. Tôi bảo là tôi đến để ban phước cho chủ nhà này. Người canh cổng không tin, bảo rằng áo quần tôi lam lũ thế này, lấy gì có phước mà ban cho người khác. Nói xong người ấy dùng gậy đánh tôi, làm cho trán tôi u lên một cục. Đến ngày thứ hai, tôi lại bị đánh u thêm một cục nữa. Qua ngày thứ ba, tôi tưởng là ngày cuối cùng có thể vào được, nhưng cũng bị đánh thêm lần nữa.” Phú ông tỉnh dậy, biết được sự thật, vô cùng tiếc nuối không có phước duyên để đón tiếp Thánh tăng. Lại có một ông quan huyện, nghe đồn cúng dường Trai Tăng nhất định sẽ có Thánh tăng Tân Đầu Lô quang lâm thọ cúng dường. Ông bèn thiết trai cúng dường tại Thiên Đồng Tự (天童寺) ở Ninh Ba (寧波). Đến thời thọ trai buổi trưa, ông chợt thấy một vị Tỳ Kheo mặc áo quần lam lũ, già khụm, nước miệng nước mũi chảy nhễ nhại, chẳng chút oai nghi nào, bước đi ngã nghiêng, tiến về phía chỗ ngồi của vị Thủ Tòa. Thông thường vị trí này luôn dành để cúng dường cho Thánh tăng. Ông quan huyện đến gần xem, nhìn kỹ thấy toàn thân từ trên xuống dưới của vị Tỳ Kheo ấy nhơ nhớp không thể chịu được. Ông bèn dùng tay xách lỗ tai vị kia kéo xuống ngồi hàng ghế cuối cùng. Sau khi thọ trai xong, quan huyện hỏi Thiên Đồng Thiền Sư xem thử hôm nay Thánh tăng có đến tham dự không ? Thiền Sư trả lời có. Nghe vậy, quan huyện mừng rỡ hỏi xem đó là ai ? Đáp: “Đó chính là vị Tỳ Kheo mà ông xách lỗ tai.” Lão quan huyện kinh ngạc, run bắn người thốt lên rằng: “Quả là có mắt mà không tròng. Ta đã làm nhục Thánh tăng rồi ! Tội lỗi tày trời !” Theo Đại Tống Tăng Sử Lược (大宋僧史略) quyển 3, phần Phương Đẳng Giới Đàn (方等戒壇) cho biết rằng khi Luật Sư Đạo Tuyên (道宣, 596-667) ở Chung Nam Sơn (終南山) kiến lập Linh Cảm Giới Đàn tại Tinh Xá Thanh Quan Thôn (清官村), có vị tăng lông mày dài đến trước Giới Đàn tán thán. Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) quyển 3 có đoạn: “Hàng phục ngoại đạo, lý hành chánh pháp, sở vị Tân Đầu Lô Tỳ Kheo thị (降伏外道、履行正法、所謂賓頭盧比丘是, hàng phục ngoại đạo, thực hành chánh pháp, đó gọi là Tỳ Kheo Tâm Đầu Lô).” Cũng lại trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) quyển 44, đức Phật thọ ký cho 4 vị Thanh Văn, trong đó có Tân Đầu Lô rằng: “Ngô kim niên dĩ suy hao, niên hướng bát thập dư, nhiên kim Như Lai hữu tứ đại Thanh Văn, kham nhiệm du hóa, trí tuệ vô tận, chúng đức cụ túc. Hà đẳng vi tứ ? Sở vị Đại Ca Diếp Tỳ Kheo, Quân Đồ Bát Tỳ Kheo, Tân Đầu Lô Tỳ Kheo, La Vân Tỳ Kheo. Nhữ đẳng tứ đại Thanh Văn yếu bất bát Niết Bàn, tu ngô pháp một tận, nhiên hậu nãi đương bát Niết Bàn (吾今年已衰耗、年向八十餘、然今如來有四大聲聞、堪任遊化、智慧無盡、眾德具足、云何爲四、所謂大迦葉比丘、君屠缽漢比丘、賓頭盧比丘、羅云比丘、汝等四大聲聞要不般涅槃、須吾法沒盡、然後乃當般涅槃, năm nay ta đã suy yếu, tuổi đã hơn tám mươi, tuy nhiên nay Như Lai có bốn vị đại Thanh Văn, có thể đảm nhiệm việc du hóa, trí tuệ vô tận, các đức đầy đủ. Thế nào là bốn ? Đó là Tỳ Kheo Đại Ca Diếp, Tỳ Kheo Quân Đồ Bát, Tỳ Kheo Tân Đầu Lô, Tỳ Kheo La Vân. Các người, bốn đại Thanh Văn này chủ yếu không nhập Niết Bàn, đến khi pháp của ta diệt hết, sau đó mới nhập Niết Bàn).”
tân đầu lô trụ thế nhân duyên
(賓頭盧住世因緣) Nhân duyên tôn giả Tân đầu lô trụ mãi ở thế gian. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 42, có lần tôn giả Tân đầu lô vào thiền định lấy bát chiên đàn(là vật tỉ khưu không nên giữ) của trưởng giả Thụ đề già đang treo trên cao, đức Phật biết việc ấy nên quở trách tôn giả phạm 2 lỗi: 1. Dùng bát của ngoại đạo. 2. Hiện thần thông trước mặt người chưa thụ giới. Vì thế, đức Phật không cho tôn giả ở cõi Diêm phù đề mà sai tôn giả đến châu Tây cù da ni để giáo hóa chúng sinh, tuyên dương Phật pháp. Sau, tuy được phép trở về, nhưng vì tôn giả hiện thần túc, nên không được vào Niết bàn mà mãi mãi phải trụ ở thế gian làm phúc điền cho 4 chúng. Còn theo kinh Tạp a hàm quyển 23, con gái trưởng giả Cấp cô độc thỉnh Phật và tỉ khưu tăng đến nước Phú lâu na bạt đà na, các tỉ khưu đều đi trong hư không mà đến, tôn giả Tân đầu la thì dùng sức thần hợp các núi lớn lại đến trước thụ thỉnh, do đó, bị đức Thế tôn quở phạt, không cho vào Niết bàn mà phải ở mãi nơi thế gian để hộ trì chính pháp. [X. kinh Thỉnh Tân đầu lô; luận Phân biệt công đức Q.4].
tân đầu lư
Piṇḍola (S), Piṇḍola-bhāradvāja ( P, S)Tân đầu lư Phả la đọa, Bất động tôn giảMột trong 16 đại A la hán đệ tử của Phật, được Phật phái ra nước ngoài truyền đạo. Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
tân đầu lư phả la đọa
Xem Tân đầu lư.
; Pindola-Bhàradvàja (S). Name of an arhat.
tây
Pascima (S). West.
tây bản long sơn
(西本龍山) (1888- ) Học giả Phật giáo Nhật bản. Ông tốt nghiệp khoa Nghiên cứu trường Đại học Đại cốc, làm Giảng sưHọc viện Chuyên tu Đại cốc. Ông có các tác phẩm: Đôn hoàng xuất thổ Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản tịnh giải thuyết, Quốc dịch nhất thiết kinh luật bộ chi Nhật dịch, Tứ phần luật tỉ khưu giới bản giảng tán.
Tây Cung Vương Mẫu
(西宮王母): có nhiều nghĩa khác nhau:(1) Tức Tây Vương Mẫu (西王母), tục xưng là Vương Mẫu Nương Nương (王母娘娘), Tây Mụ (西姥), Vương Mẫu (王母), Kim Mẫu (金母), Kim Mẫu Nguyên Quân (金母元君), Diêu Trì Kim Mẫu (瑤池金母); gọi đủ là Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Linh Thái Chơn Kim Mẫu Nguyên Quân (白玉龜台九靈太眞金母元君), Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Phụng Thái Chơn Tây Vương Mẫu (白玉龜台九鳳太真西王母), Thái Linh Cửu Quang Quy Đài Kim Mẫu Nguyên Quân (太靈九光龜台金母元君). Tục tánh của Tây Vương Mẫu là Hầu (侯), hay Dương (楊); tên Hồi (回), tự là Uyển Linh (婉姈), hay Thái Hư (太虛); là vị nữ thần, tiên nữ trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc, xưa kia dùng làm tượng trưng cho trường sanh bất lão. Tên gọi Tây Vương Mẫu lần đầu tiên xuất hiện trong Sơn Hải Kinh (山海經), phần Tây Thứ Tam Kinh (西次三經): “Tây Vương Mẫu cư trú tại Ngọc Sơn chi sơn, kỳ trạng như nhân, báo vĩ hổ xỉ nhi thiện khiếu, bồng phát đái thắng (西王母居住在玉山之山、其狀如人、豹尾虎齒而善嘯、蓬髮戴勝, Tây Vương Mẫu cư trú tại núi Ngọc Sơn, hình trạng như người, đuôi báo, răng cọp mà khéo gầm thét, tóc bềnh bồng có cài hoa).” Chữ “Tây (西)” chỉ cho phương hướng, “Vương Mẫu (王母)” là thần danh. Tây Vương Mẫu được kết thành từ khí Tây Hoa Chí Diệu (西華至妙) trong nguyên khí hỗn độn của đất trời tự nhiên. Trong Hán Võ Đế Nội Truyện (漢武帝內傳) có diễn tả khi Tây Vương Mẫu đăng điện như sau: “Trước hoàng kim đáp thuộc, văn thái tiên minh, quang nghi thục mục, đái Linh Phi đại thụ, yêu bội Phân Cảnh chi kiếm, đầu thượng Thái Hoa kế, đái Thái Chơn Thần Anh chi quan, lý Huyền Quyết Phụng Văn chi tích; thị chi kahr niên tam thập hứa, tu đoản đắc trung, thiên tư yểm ái, dung nhan tuyệt thế (著黃金褡孎、文采鮮明、光儀淑穆、帶靈飛大綬、腰佩分景之劍、頭上太華髻、戴太眞晨嬰之冠、履玄鐍鳳文之舄、視之可年三十許、修短得中、天姿掩藹、容顏絕世, Bà mặc áo bào vàng ròng, văn hoa sáng ngời, dáng nghi hiền thục, mang dây đai lớn Linh Phi, lưng đeo cây kiếm Phân Cảnh, trên đầu búi tóc Thái Hoa, đầu đội mão Thái Chơn Thần Anh, chân mang hài Huyền Quyết Phụng Văn, mới nhìn khoảng chừng ba mươi tuổi, song có thể trẻ hơn, dáng trời thư thái, dung nhan tuyệt thế).” Hán Võ Đế (漢武帝, tại vị 141-87 ttl.) lạy nhận mệnh của Tây Vương Mẫu. Bà là tông tổ của các tiên nữ, cư trú tại núi Côn Lôn (崑崙), có thành quách cả vạn dặm, lầu ngọc 12 ngôi, cửa khuyết Quỳnh Hoa (瓊華), nhà bằng ngọc Quang Bích (光碧), phòng bằng hạt Tử Thúy (紫翠); bên trái giáp giới với Diêu Trì (瑤池), bên phải bao vòng cả Thúy Sơn (翠山). Trong Bác Vật Chí (博物志) cho rằng nơi Diêu Trì ấy có cây đào tên Bàn Đào (蟠桃), ba ngàn năm mới sanh trái một lần. Từ đó, Tây Vương Mẫu còn có tên gọi là Diêu Trì Kim Mẫu, Diêu Trì Thánh Mẫu, chủ nhân của Hội Bàn Đào. Trên trời dưới đất, Ba Cõi Mười Phương, bất cứ người nữ nào đắc đạo thành tiên, đều phải lệ thuộc vào sự quản lý của Tây Vương Mẫu. Nguyên Thỉ Thiên Tôn (元始天尊) ban cho Tây Vương Mẫu hồ sơ Phương Thiên Nguyên Thống Quy Sơn Cửu Quang (方天元統龜山九光) để tổng quản vạn linh, chư thánh hiền. Tương truyền Chu Mục Vương (周穆王) đã từng xa giá đến vùng Tây Bào (西跑), cách kinh đô mấy vạn dặm, gặp Tây Vương Mẫu bên hồ Diêu Trì, cùng nhau uống rượu thù tạc, thậm chí quên đường về. Như trong Mục Thiên Tử Truyện (穆天子傳) quyển 3 có đoạn rằng: “Thiên tử thương Tây Vương Mẫu vu Diêu Trì chi thượng, Tây Vương Mẫu vi Thiên tử dao (天子觴西王母于瑤池之上,西王母爲天子謠, Thiên tử uống rượu với Tây Vương Mẫu trên hồ Diêu Trì, Tây Vương Mẫu ca hát cho Thiên tử nghe).” Sau này Hán Võ Đế đi tìm thuốc trường sanh bất tử, được Tây Vương Mẫu từ trên trời giáng xuống và ban cho bảy hạt Đào Tiên. Đến thời nhà Hán, hình tượng của Vương Mẫu được tiên nhân hóa, như trong Hoài Nam Tử Lãm Minh Huấn (淮南子覽冥訓) có đoạn: “Nghệ thỉnh bất tử chi dược ư Tây Vương Mẫu, Hằng Nga thiết dĩ bôn nguyệt (羿請不死之藥於西王母、姮娥竊以奔月, Hậu Nghệ xin thuốc bất tử nơi Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm lấy thuốc ấy đùa với trăng).” Cho nên, Tây Vương Mẫu được xem như là kho báu bí mật của thuốc trường sanh bất tử, là người đào tạo ra các tiên nhân. Đạo Giáo và dân gian đều kính ngưỡng Vương Mẫu như là tượng trưng cho sự trường thọ, xem Bà như là vị chủ thần của Kim Lục Diên Thọ Đạo Tràng (籙延壽道塲), ban bố sự sống lâu. Về ngày đản sanh của Vương Mẫu, có thuyets cho là mồng 3 tháng 3, và có thuyết cho là 18 tháng 7. Vào ngày này, tín đồ Đạo Giáo, đặc biệt là người nữ, thường tập trung tại các Đạo Quán, để dâng hương, chúc mừng Thánh đản và cầu nguyện sức khỏe, sống lâu. (2) Tây Vương Mẫu còn là tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa. Như trong Nhĩ Nhã (爾雅), phần Thích Địa (釋地) cho biết rằng: “Cô Trúc, Bắc Hộ, Tây Vương Mẫu, Nhật Hạ, vị chi tứ hoang (觚竹、北戶、西王母、日下、謂之四荒, Cô Trúc, Bắc Hộ, Tây Vương Mẫu, Nhật Hạ là bốn vùng hoang sơ).” Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Đông Tấn chú thích rõ rằng: “Tây Vương Mẫu tại Tây, giai tứ phương hôn hoang chi quốc (西王母在西、皆四方昏荒之國, Tây Vương Mẫu ở phía Tây, là nước bốn phương đều hoang sơ).” (3) Ngoài ra, Tây Vương Mẫu còn là tên gọi khác của con hươu; như trong Bão Phác Tử (抱樸子), phần Đăng Trắc (登陟) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có câu: “Xưng Đông Vương Phụ giả, mi dã; Tây Vương Mẫu giả, lộc dã (稱東王父者、麋也、西王母者、鹿也, gọi Đông Vương Phụ là nai, Tây Vương Mẫu là hươu).” Lý Thương Ẩn (李商隱, 812/813-858), đại thi hào nhà Đường, có để lại bài thơ Diêu Trì (瑤池) như sau: “Diêu Trì A Mẫu ỷ song khai, hoàng trúc ca thanh động địa ai, bát tuấn nhật hành tam vạn lí, Mục Vương hà sự bất trùng lai (瑤池阿母綺窗開、黃竹歌聲動地哀、八駿日行三萬里、穆王何事不重來, Diêu Trì A Mẫu dõi trông ai, trúc vàng lời hát động ngân dài, tám ngựa một ngày ba vạn dặm, Mục Vương cơ sự chẳng về đây).”
tây du kí
Journey to the West.
tây du ký
Hsi-yu chi (C), The Journey to the West Do Ngô thừa Ân sáng tác.
; (西游記) Bộ tiểu thuyết nổi tiếng của Trung quốc, do ông Ngô thừa ân soạn vào đời Minh. Đây là bộ tiểu thuyết truyền kì lấy việc ngài Huyền trang đời Đường sang Thiên trúc thỉnh kinh làm chính, rồi phát triển rộng thêm qua nhiều tình tiết mà thành. Sách này vốn bắt nguồn từ người thực việc thực trong lịch sử, nhưng về sau dần dần nhuốm sắc thái biến ảo thần kì, như đời Tống có bộ Đại Đường tam tạng thủ kinh thi thoại, đời Nguyên dần dần trở thành các hình thái tạp kịch, thoại bản, đời Minh có Thế đức đường bản 100 hồi, Dương chí hòa bản, Chu đỉnh thần bản... lần lượt xuất hiện. Đến lượt ông Ngô thừa ân lại tập đại thành những bản đã có, tổ chức, mở rộng và sáng tạo thêm mà thành bộ tiểu thuyết li kì thần quái này với các huyễn cảnh yêu ma quỉ mị. Bút pháp miêu tả các truyện tích cực kì linh hoạt, điêu luyện; trong suốt cuộc hành trình thỉnh kinh đi và về, lồng vào 81 nạn và 41 truyện cổ. Nhân vật tạo hình được miêu tả đặc biệt lâm li hết mức. Các nhân vật chủ chốt như Đường tam tạng thì hiền từ phúc hậu, Tôn ngộ không thì thông minh lanh lẹ, Trư bát giới thì ngu độn thô lỗ, Sa tăng thì điềm tĩnh vụng về, nhân vật nào cũng lột hết được cái tinh thần của nhân vật ấy. Sang đời Thanh, vào những năm đầu đời vua Khang hi, có ấn hành bộ Tây du chứng đạo thư; năm Khang hi 33 (1694), ấn hành bộ Tây du chân thuyên, thường được gọi là Tây du kí. Năm Càn long 14 (1749) lại ấn hành bộ Tân thuyết tây du kí. Tóm lại, trải qua mấy trăm năm, cho đến tận ngày nay, bộ truyện vẫn còn gây nhiều ấn tượng li kì cho người đọc. Và đứng trên lập trường nghiên cứu văn học Trung quốc chịu ảnh hưởng của văn học Ấn độ mà nói thì Hầu vương Cáp nô mạn (Phạm: Hanumat) trong bộ Sử thi La ma da na (Phạm:Ràmàyaịa) của Ấn độ chính là nguyên hình của Tôn ngộ không trong Tây du kí.
Tây giai
(西階): có hai nghĩa. (1) Chỉ cho bệ đài thềm phía Tây của căn nhà, thể hiện vị trí tôn kính. Như trong Lễ Ký (禮記), phần Khúc Lễ Thượng (曲禮上), có câu: “Chủ nhân tựu Đông giai, khách tựu Tây giai (主人就東階、客就西階, chủ nhân đến thềm Đông, khách tập trung thềm Tây).” Hay trong Tấn Thư (晉書), phần Khang Đế Kỷ (康帝紀), có đoạn: “Đế thân phụng điện ư Tây giai, ký phát dẫn, đồ bộ hành chí Xương Lư Môn, thăng tố dư, chí ư lăng sở (帝親奉奠於西階、旣發引、徒步行至閶閭門、升素輿、至於陵所, nhà vua đích thân đến dâng cúng nơi thềm Tây, khi phát dẫn [di quan], đều đi bộ đến Cổng Xương Lư, mới lên kiệu tang, đến nơi lăng tẩm).” (2) Chỉ thế giới Cực Lạc ở phương Tây.
tây giang
Hsi ch'iang (C).
Tây Giản Tử Đàm
(西礀子曇, Seikan Shidon, 1249-1306): vị Thiền tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Tùng Nguyên (松源) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, trú trì đời thứ 6 của Viên Giác Tự (圓覺寺皎, Enkaku-ji), Tổ của Phái Tây Giản (西礀派, tức Phái Đại Thông [大通派]); húy là Tử Đàm (子曇), đạo hiệu Tây Giản (西礀), thụy hiệu Đại Thông Thiền Sư (大通禪師); xuất thân vùng Tiên Cư (仙居), Đài Châu (台州, thuộc Tỉnh Triết Giang) Trung Quốc, họ Hoàng (黃). Vào năm đầu (1265) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), lúc 17 tuổi, ông xuất gia và thọ giới tại Quảng Độ Tự (廣度寺). Sau đó, ông đến tham vấn Thạch Lâu Minh (石樓明) ở Thừa Thiên Tự (承天寺), rồi đến tháng 8 cùng năm này thì theo học pháp với Thạch Phàm Duy Diễn (石帆惟衍) và thọ nhận tông chỉ của vị này. Vào tháng 2 năm thứ 6 (1270) niên hiệu Hàm Thuần, ông theo Thạch Phàm đến trú tại Thiên Đồng (天童). Đến tháng 7 năm sau, đáp lời cung thỉnh của Tướng Quân Thời Tông (時宗, Tokimune), ông sang Nhật Bản. Tại đây, ông từng theo hầu Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓) ở Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) cũng như Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura); nhưng rồi đến năm đầu (1278) niên hiệu Hoằng An (弘安) thì trở về nuớc. Từ đó, ông lên núi Thiên Đồng, tham yết Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一), làm chức Tạng Chủ (藏主) ở đây; rồi giã từ nơi này, đến trú tại Tử Nham (紫岩) thuộc Đài Châu, và chuyên tâm trao truyền pháp nhũ của Thạch Phàm. Bên cạnh đó, ông còn đến tham bái Vân Phong Diệu Cao (雲峰妙高) ở Kính Sơn (徑山). Vào năm thứ 27 (1290) niên hiệu Chí Nguyên (至元) nhà Nguyên, ông đến sống tại Thiên Trụ (天柱), rồi đến năm đầu (1299) niên hiệu Chánh An (正安) của Nhật Bản, vâng mệnh vua Thế Tổ (世祖, tại vị 1260~1294), ông tháp tùng Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧) sang Nhật lần thứ hai. Vị Tướng Quân chấp quyền đương thời là Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時, Hōjō Sadatoki) lấy lễ tôn ông làm thầy. Ông được cử đến trú trì Viên Giác Tự ở vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), rồi chuyển sang Kiến Trường Tự. Đặc biệt, ông được Hậu Vũ Đa Thượng Hoàng (後宇多上皇) thỉnh đến để hỏi pháp, học đạo. Vào tháng 10 năm đầu (1306) niên hiệu Đức Trị (德治), ông lui về ẩn cư ở Chánh Quán Tự (正觀寺), và đến ngày 28 thì thị tịch, hưởng thọ 58 tuổi. Tháp của ông được kiến lập tại Truyền Đăng Am (傳燈庵) của Kiến Trường Tự. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Thông Thiền Sư.
Tây Hành
(西行, Saigyō, 1118-1190): vị cao tăng sống vào cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), húy Viên Vị (圓位), tục danh Tá Đằng Nghĩa Thanh (佐藤義清), Tá Đằng Hiến Thanh (佐藤憲清), hiệu Tây Hành (西行), Đại Bảo Phòng (大寶房), con trai đầu của vị Kiểm Phi Di Sứ Tá Đằng Khang Thanh (佐藤康清). Năm 1135, ông làm võ sĩ cận vệ cho Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇, Toba Jōkō), và chuyên học về ca đạo. Đến năm 1140, ông xuất gia, một mặt tinh chuyên tu hành theo Phật đạo, một mặt đi lưu lãng khắp các tiểu quốc mà ca vịnh một cách tha thiết về cuộc sống cô độc của con người. Vào năm 1186, ông đến vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku) để quyên góp tiền xây dựng tượng Đại Phật ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và sau đó dừng lại lưu trú tại Hoằng Xuyên Tự (弘川寺) ở vùng Hà Nội (河內, Kawachi). Những bài Hòa Ca của ông đã thể hiện một cách triệt để thế giới quan Phật Giáo và được thâu tập vào Tân Cổ Kim Tập (新古今集). Trước tác của ông có Sơn Gia Tập (山家集) 2 quyển, Cung Hà Ca Hợp (宮河歌合) 1 quyển, Tây Hành Thượng Nhân Đàm Sao (西行上人談抄) 1 quyển, v.v.
tây hành
Saigo (J).
tây hạ
(西夏) Gọi tắt: Hạ. Tên một nước thời xưa ở vùng tây bắc Trung quốc, do bộ tộc Đảng hạng (Tangut) kiến lập, tự gọi là Đại hạ. Vào những năm cuối đời Đường, thủ lãnh của bộ tộc Đảng hạng là Thác bạt Tư cung, nhờ có công trong việc giúp nhà Đường đánh dẹp giặc Hoàng sào, nên được phong tước Hạ quốc công, cho lấy theo họ Lí, con cháu đời đời sinh sống ở Hạ châu (nay là Ngạc nhĩ đa tư). Thời vua Thái tổ nhà Tống, Quốc chủ nước này là Lí kế phủng vào triều cống. Năm Ung hi thứ 3 (986), em ông là Kế thiên phản Tống theo Liêu. Sau, con của Kế thiên là Triệu đức minh nối lại bang giao với nhà Tống. Con của Đức minh là Nguyên hạo, tính khí cương nghị, có tài thao lược, vào niên hiệu Bảo nguyên năm đầu (1038), tự xưng Đại Hạ Hoàng Đế, thường cướpphá nhà Tống. Đến năm Bảo khánh thứ 3 (1227) đời Nam Tống, Tây hạbị Thành cát tư hãn tiêu diệt, tồn tại được 190 năm. Nước này vốn tin thờ Phật giáo, Đức minh, Nguyên hạo đều hiểu kinh Phật, riêng Nguyên hạo còn giỏi cả chữ Hán và Thổ phồn. Niên hiệu Cảnh hựu năm đầu (1034) Nguyên hạo thỉnh được Đại tạng kinh từ nhà Tống. Năm Cảnh hựu thứ 4 (1037) đặt ra chữ Tây hạ, thỉnh các vị tăng người Hồi cốt dịch kinh, đồng thời xây dựng chùa Cao đài tại Thủ đô và xây tháp Phật cao mấy mươi trượng, nhiều đời về sau đều kính tin Phật giáo; lại thườngsưu tầm kinh sách Nho, Phật, phiên dịch Tam tạng Phật giáo ra tiếng Tây hạ. Những di phẩm tiếng Tây hạ được người đời chú ý sớm nhất là kinh Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập Phổ môn quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni và kinh Phật đính tôn thắng đà la ni, được khắc bằng 6 thứ chữ là: Phạm, Hán, Mông cổ, Hồi cốt, Tây tạng và Tây hạ hiện còn trên mặt vách của tháp Quá nhai tại cửa ải Cư dung, cách thành phố Bắc bình khoảng 64 km về phìa bắc. Ngoài ra, trừ một số kinh điển sử sách Phật giáo chép bằng chữ Tây hạ do ông Bá hi hòa (P.Pelliot) người Pháp tìm thấy ở Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc,năm 1914, ông Sử thản nhân (A.Stein) người Anh, còn đào được một số lượng lớn các bản kinh sách chép tay và in ấn bằng chữ Tây hạ tại thành Hắc thủy ở Tây hạ. Những tư liệu này, qua sự nghiên cứu của các học giả Trung quốc, Nhật bản, Mĩ, Nga... đã được xác nhận là các kinh: Quán Di lặc bồ tát thướng sinh Đâu suất đà thiên, Đại bảo tích kinh Pháp giới thể tính vô phân biệt hội, Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh Phổ hiền hành nguyện phẩm, Phật mẫu xuất sinh tam tạng bát nhã ba la mật đa... [X. luận Chương sở tri Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tống sử liệt truyện thứ 244, 245; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 79-82; Tây hạ học nghiên cứu (Vương tĩnh như); P.Pelliot: Les documents chinois par la mission Kozlov (Journal asia-tique, 1914); A. Stein: Innermost Asia, vol.I].
tây hạ văn đại tạng kinh
(西夏文大藏經) Cũng gọi Tây hạ Đại tạng kinh, Tây hạ ngữ Đại tạng kinh. Đại tạng kinh tiếng Tây hạ được phiên dịch từ các bản dịch Hán và Tây tạng. Sau khi vị vua đầu tiên của Tây hạ là Nguyên hạo thỉnh được Đại tạng kinh từ Trung quốc (nhà Tống) liền chế ra chữ Tây hạ và thỉnh các vị tăng người Hồi cốt phiên dịch. Nhưng mãi đến hơn 70 năm sau khi nước Tây hạ diệt vong thì Đại tạng kinh mới được khắc bản và in ấn xong. Quản chủ bát đời Nguyên bắt đầu khắc bản Đại tạng kinh tiếng Tây hạ hơn 3620 quyển ở chùa Đại vạn thọ, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, hoàn thành vào năm Đại đức thứ 6 (1302) đời vua Thành tông. Năm Đại đức thứ 11 (1307), vâng theo chiếu chỉ của vua Thành tông, 50 bộ Đại tạng kinh này được ấn hành. Đại tạng kinh tiếng Tây hạ hiện còn không được đầy đủ. Đời sau, những bản khắc bằng văn tự Tây hạ được tìm thấy chỉ còn vài trăm bộ. [X. Trung quốc đại tạng kinh điêu khắc sử thoại (Đạo an)].
tây hạnh
Going west; practices of the Amitàbha cult, leading to salvation in the Western Paradise.
tây lai tự
(西來寺) Chùa ở Hacienda Heights thành phố Los Angeles, Hoa kì do Đại sư Tinh vân sáng lập và hoàn thành vào năm 1988. Chùa được xây dựng trên một diện tích 15 mẫu Anh, gồm có các kiến trúc: Điện Đại hùng, điện Ngũ thánh, lầu chứa kinh, nhà kỉ niệm, Thiền đường, phòng Hội nghị quốc tế, viện Bảo tàng Phật giáo, trường học Trung hoa... Chùa được kiến trúc theo kiểu cung điện của Trung quốc, bằng xi măng cốt thép, qui mô rất lớn. Ngoài việc, hoằng dương Phật pháp, chùa này còn có nhiệm vụ trọng yếu là phát triển công cuộc giao lưu văn hóa Đông Tây.Trụ trì đời thứ nhất chùa Tây lai là Ni sư Từ trang. Chùa có thành lập Tổng hội thanh niên Mĩ quốc, thường xuyên tổ chức các buổi diễn giảng Phật pháp, xuất bản kinh sách Phật giáo. Đối với mấy mươi vạn người Hoa sống ở Los Angeles, chùa Tây lai có cống hiến rất lớn.
Tây lai ý
西來意|Dạng viết ngắn của câu hỏi »Thế nào là ý nghĩa của việc Bồ-đề Ðạt-ma từ bên Tây (Ấn Ðộ) sang« (如何是祖師西來意; »Như hà thị Tổ sư tây lai ý?«). Câu hỏi rất cô đọng này tương đương với những câu như Ðệ nhất nghĩa, Yếu chỉ Phật pháp, Ðại ý Phật pháp, Nghĩa tột cùng, Chí đạo… và được rất nhiều thiền sinh nêu lên trong những cuộc Vấn đáp. Những câu trả lời của các Thiền sư cho câu hỏi này cũng rất »khác biệt« rất thú vị.|Triệu Châu trả lời: »Cây tùng trước ngõ« (庭前柏樹子; »Ðình tiền bách thụ tử«; Vô môn quan 37).|Hương Lâm trả lời: »Ngồi lâu sinh nhọc« (坐久成勞; »Toạ cửu thành lao«; Bích nham lục 17).
tây lai ý
Seirai-no-i (J).
tây minh các
(西明閣) Gác Tây minh, là nơi ngài Cưu ma la thập dịch kinh. Năm Hoằng thủy thứ 3 (401) đời Hậu Tần, Diêu hưng chinh phạt Hậu Lương, thỉnh được ngài Cưu ma la thập về Trường an, suy tôn làm Quốc sư, cung thỉnh ngài trụ ở Tây minh các và vườn Tiêu dao, phiên dịch kinh luận.
tây minh tự
(西明寺) Chùa ở huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, do vua Cao tông ban sắc sáng lập và được khánh thành vào tháng 6 năm Hiển khánh thứ 3 (658) đời Đường. Chùa rộng 350 bộ, chu vi mấy dặm; đất chùa vốn là nhà cũ của Hán vương ở phường Diên khang. Theo truyền thuyết, chùa này được kiến trúc phỏng theo qui mô của tinh xá Kì hoàn ở Ấn độ, kết cấu hùng vĩ, xưa nay ít có chùa nào sánh được. Bên ngoài có hàng cây hòe xanh rờn với dòng nước biếc uốn quanh; điện đường rộng lớn, lầu đài cao ngất, mái vàng chói lọi, rực rỡ. Chùa gồm 10 đại viện, hơn 4.000 gian phòng. Nếu theo qui mô tinh xá Kì hoàn ghi trong Giới đàn đồ kinh của ngài Đạo tuyên thì tổng cộng có 64 viện, chùa này cũng gồm 64 viện đúng như thế. Sau khi chùa Tây minh được hoàn thành, vua Cao tông ban sắc thỉnh ngài Đạo tuyên làm Thượng tọa, ngài Thần thái làmTọa chủ, ngài Hoài tố làm Duy na, thiết trai, độ tăng. Vua cũng thỉnh ngài Huyền trang trụ chùa này. Tháng 2 năm Lân đức thứ 2 (665) đúc hồng chung, nặng khoảng 10.000 cân và khắc bài minh để ghi nhớ. Tháng 9 niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời vua Đại tông, chùa này và chùa Tư thánh thiết lập 100 tòa Nhân vương đạo tràng, thỉnh 100 vị Pháp sư giảng kinh Nhân vương, 100 vị Đại đức tụng kinh Mật nghiêm. Vua Đức tông cũng mở Đại hội Vô già ở chùa này, thắp một vạn ngọn đèn, chuyển đọc kinh Nhân vương bát nhã... Xưa nay chùa này là nơi qui tụcủa rất nhiều vị danh tăng, thạc học, như các ngài Đạo thế, Viên trắc, Tuệ lâm, Tĩnh nguyên, Huệ an... Đồng thời, các vị tăng Nhật bản đến Trung quốc du học như các ngài Không hải, Viên trân, Viên tải, Viên nhân... cũng đã từng trụ tại chùa này. [X. Kì viên tự đồ kinh; Tập cổ kim Phật đạo luận hành Q.4; Tục cao tăng truyện Q.4, 20; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 505].
tây mạn đồ la
(西曼荼羅) Cũng gọi Trí mạn đồ la, Quả mạn đồ la. Tức là Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, vì Mạn đồ la này tương đương với quả vị phương tây, nên gọi là Tây mạn đồ la. Hình vẽ của Mạn đồ la này lấy mé tây làm phương trên, nếu lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm thì bên phải của Đại nhật Như lai là phương nam, bên trái là phương bắc, vì thế hình vẽ cho thấy đi từ hướng tây sang hướng đông. Cho nên, khi treo hình vẽ của Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới đối nhau thì treo Mạn đồ la Kim cương giới ở phía tây. Lại vì Mạn đồ la này lấy kinh Kim cương đính làm cơ sở, được cấu thành bởi 9 hội: Hội Nhất ấn, hội Lí thú, hội Hàng tam thế... (xem đồ biểu) nên Đại nhật Như lai an tọa trong hội Nhất ấn. Chín hội Mạn đồ la: (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La).
tây nguyên đặc phương hoà thượng ngữ lục
(西源特芳和尚語錄) Cũng gọi Tây nguyên hòa thượng ngữ lục, Đặc phương hòa thượng ngữ lục, Tây nguyên lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Đặc phương Thiền kiệt (1419-1506) người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này thu chép các ngữ lục, thùy ngữ, minh, tượng tán, kệ tụng, đạo hiệu, sớ, thập di, sắc thư, truyện, tế văn và các pháp ngữ của ngài Tây nguyên đặc phương thuyết giảng ở các chùa Đại đức, chùa Thụy tuyền...
Tây Ngâm
(西吟, Saigin, 1605-1663): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; húy là Tây Ngâm (西吟); thụy hiệu Thành Quy Viện (成規院); hiệu là Chiếu Mặc (照默); xuất thân vùng Tiểu Thương (小倉, Ogura), Phong Tiền (豐前, Buzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]); con của Tây Tú (西秀) ở Vĩnh Chiếu Tự (永照), Phong Tiền. Vào năm 1647, ông làm chức Năng Hóa đời thứ 2 của Học Liêu ở Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji). Đến năm 1653, ông luận tranh với Nguyệt Cảm (月感) ở Diên Thọ Tự (延壽寺), Phì Hậu (肥後, Higo), tạo nên sự đối lập giữa Tây Bổn Nguyện Tự và Hưng Chánh Tự (興正寺); và theo mệnh lệnh của chính quyền Mạc Phủ thì Học Liêu bị phá bỏ. Nguyệt Cảm và Chuẩn Tú (准秀) của Hưng Chánh Tự bị lưu đày đi xa. Trước tác của ông có Chánh Tín Kệ Yếu Giải (正信偈要解) 4 quyển, Vô Lượng Thọ Kinh Khoa Huyền Khái (無量壽經科玄概) 1 quyển, v.v.
tây ngưu hóa châu
Aparagodāna (S), Aparagodānīya (S), Aparāgaudāni (S)Tây Cù đà niTên một cõi giớiXem Ngưu hoá châu.
; Aparagodàna (S). Continent at the west of the Meru Mount.
Tây Nham Liễu Huệ
(西巖了惠[慧], Seigan Ryōe, 1198-1262): vị tăng của Phái Hổ Kheo thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tây Nham (西巖), họ La (羅), người vùng Bồng Địa (蓬地), Bồng Châu (蓬州), đất Thục (蜀, Tỉnh Tứ Xuyên). Ông xuất gia với Tổ Đăng (祖燈) ở Ngọc Chưởng Sơn An Quốc Tự (玉掌山安國寺), rồi năm 19 tuổi xuống tóc, lên Thành Đô học kinh luận với Tánh Tông (性宗). Ông đến tham yết Hoại Am Chiếu (壞菴照) ở Chiêu Giác Tự (昭覺寺), rồi Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰) ở Kính Sơn (徑山), sau đến tham học với Cao Nguyên Tổ Tuyền (高原祖泉), và ông đã từng theo hầu thầy đến Thoại Nham Tự (瑞巖寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang). Về sau, ông theo học với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山) nhưng không có cơ duyên với vị này. Kế đến ông gặp được Thạch Điền Pháp Huân (石田法薰) cũng như Diệu Phong Chi Thiện (妙峰之善) ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺). Sau hay tin Sư Phạm sống ở Kính Sơn, ông lại đến tham vấn lần nữa và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Từ đó về sau ông sống qua các nơi như Nhạn Sơn Năng Nhân Thiền Tự (雁山能仁禪寺) ở Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), Đông Lâm Thiền Tự (東林禪寺) ở Giang Châu (江州, Tỉnh Giang Tây). Vào ngày 15 tháng 11 năm thứ 12 (1252) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến trú trì Thiên Đồng Cảnh Đức Thiền Tự (天童景德禪寺) ở Phủ Khánh Nguyên (慶元府, Tỉnh Triết Giang). Đến cuối đời ông đến sống tại Thoại Nham Khai Thiện Thiền Tự (瑞巖開善禪寺) ở Phủ Khánh Nguyên. Vào ngày 22 tháng 3 năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 65 tuổi đời và 47 hạ lạp. Ông có để lại cho hậu thế bộ Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄) 2 quyển.
tây phương
The west, or western regions; but it is also much used for the western heavens of Amitabha Buddha.
tây phương công cứ
(西方公據) Tác phẩm, 2 quyển, do cư sĩ Bành tế thanh biên soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 109. Nội dung thu chép những lời chỉ dạy của các bậc cổ đức và hành nghiệp khuyên niệm Phật vãng sinh của các ngài, đồng thời trình bày về lợi ích của việc niệm Phật. Tên sách Công cứ là bắt nguồn từ việc thi hào Tô đông pha đời Tống đeo một bức vẽ tượng Phật A di đà ở trước ngực và nói rằng: Đây là công cứ vãng sinh của Tô thức này. Bản cũ chỉ có 1 quyển, nhưng nhận thấy còn thiếu sót nên họ Bành đính chính và viết thêm thành 2 quyển và lấy tựa đề là Trùng đính Tây phương công cứ. Toàn sách chia làm 7 chương: Khởi giáo đại cương, Tịnh nghiệp chính nhân, Tịnh khóa nghi thức, Tây phương cảnh quán, Vãng sinh công hạnh, Liên tông khai thị và Vãng sinh hiện quả. Trong đó, chương Tây phương cảnh quán thứ 4 có phụ thêm 2 bức tranh là Tiếp dẫn và Kiến Phật để giúp cho sức quán tưởng, đồng thời dùng 9 hoa sen tượng trưng cho căn cơ của 9 phẩm vãng sinh. Chương Vãng sinh công hạnh thứ 5 cũng vẽ 4 hoa sen để ghi 4 hành nghiệp: Tụng kinh,Sám hối, Tác phúc và Phổ độ. Chương Liên tông khai thị thứ 6 có chép thêm thuyết Chuyên tu, Tạp tu và Lâm chung chính niệm quyết của ngài Thiện đạo; 11 điều pháp ngữ, Thiền tịnh tứ liệu giản... của ngài Vĩnh minh Diên thọ. Chương Vãng sinh hiện quả chia làm 2 mục làTập nghiệm và Thư chứng, ghi chép những điều mà tác giả thấy và nghe ở thời bấy giờ.
tây phương cực lạc
Xem Cực lạc.
; Sukhàvati (S). Western Pure-Land, Western Paradise.
tây phương hợp luận
(西方合論) Luận, 10 quyển, do cư sĩ Thạch đầu Viên hoành đạo soạn vào năm Vạn lịch 27 (1599) đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung luận này kế thừa chủ trương của ngài Vĩnh minh Diên thọ... nói rộng về yếu chỉ Thiền tịnh song tu, hiển bày nghĩa đích thực của Tam muội niệm Phật, để cho nhữngThiền giả và Nho gia hồ đồ không biết thật nghĩa niệm Phật mà vọng sinh chê bai được hiểu rõ. Toàn sách chia làm 10 môn: Sát độ môn, Duyên khởi môn, Bộ loại môn, Giáo tướng môn, Lí đế môn, Xứng tính môn, Vãng sinh môn, Kiến võng môn, Tu trì môn và Thích dị môn. Ngài Trí húc có bình luận về sách này và thu vào Tịnh độ thập yếu quyển thứ 10. [X. Tục thích thị kê cổ lược Q.3; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.thượng].
tây phương pháp xã
(西方法社) Đoàn thể tăng tục lấy việc đọc tụng và nghiên cứu kinh Pháp hoa làm hạnh tu chính yếu, do ngài Thần hạo (716-790) ở Bao sơn, quận Ngô sáng lập vào khoảng năm Trinh nguyên (785-804) đời Đường. Ngài Thần hạo lúc đầu theo ngài Nhất công ở đạo tràng Long tuyền tại Tiền đường xuất gia, y vào Hưng đại sư thụ giới Cụ túc, sau thờ ngài Đàm nhất ở Việt châu làm thầy, nghiên cứu Luật học rất sâu sắc. Niên hiệu Càn nguyên năm đầu (758), sư là 1 trong 7 vị Đại đức được chọn làm Đại giảng luật, hoằng truyền giới luật tại chùa Khai nguyên. Về già, sư dốc sức vào việc mở rộng Pháp hoa viên tông, thiết lập Tây phương pháp xã, đọc tụng kinh Pháp hoa hơn 9.000 bộ, đồng thời nghiên cứu giáo học Thiên thai, tăng tục đến tham học rất đông.
tây phương sư
(西方師) Phạm:Pàzcàtya. Cũng gọi Tây quốc sư, Ngoại quốc sư. Chỉ cho các Luận sư nước Kiện đà la thuộc miềnBắc Ấn độ. Đây là từ mang ý vị châm biếm mà các sư Thuyết nhất thiết hữu bộ ở nước Ca thấp di la dùng để gọi các Luận sư theo dị nghĩa ở nước Kiện đà la láng giềng phía tây, vì thế gọi là Tây phương sư. Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 135 hạ) ghi: Các sư ở phươngtây nói như thế đó.Câu xá luận quang kí quyển 26 (Đại 41, 388 trung) nói: Các sư phương tây chính là các sư nước Kiện đà la. Bà sa gọi là Ngoại quốc sư. [X. luận Đại tì bà sa Q.190; Câu xá luận thích Q.19].
tây phương tam thánh
(西方三聖) Ba bậc Thánh cõi Tây phương Tịnh độ, tức Phật A di đà, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí. Đức Phật A di đà la Giáo chủ của thế giới Cực lạc phương tây, bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí là 2 vị thị giả giúp Phật A di đà trong việc giáo hóa chúng sinh, vì thế được gọi là Tây phương tam thánh. Kinh Quán thế âm bồ tát thụ kí (Đại 12, 353 hạ) nói: Tây phương cách đây trăm nghìn ức cõi; có Phật hiệu là A di đà Như lai, Ứng cúng, Chính biến tri, hiện đang nói pháp. Đức Phật ấy có 2 vị Bồ tát, một là Quán thế âm, hai là Đại thế chí. Kinh Phật thuyết Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 hạ) ghi: Khi đức Phật Thích ca nói lời ấy thì Phật Vô lượng thọ hiện ra đứng giữa hư không, 2 vị đại sĩ Quán âm và Thế chí đứng hầu 2 bên, ánh sáng rực rỡ mà trăm nghìn muôn ức vàng Diêm phù đàn cũng không sánh bằng.
tây phương thất diệu chúng
(西方七曜衆) Chỉ cho 7 vị trời: Tịch mẫu, Đại quang, Đối chủ, Hạnh, Thìn, Tôn trưởng và Duyệt khả, được an trí ở mé tây của Ngoại viện trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Bảy vị trời trên đây tương đương với 7 ngôi sao: Nữ, Ngưu, Đẩu, Cơ, Vĩ, Tâm và Phòng trong 28 sao. Nhưng theo kinh Tú diệu... thì các ngôi sao nói trên đều không phải ở phương tây. (xt. Nhị Thập Bát Tú).
tây phương tiếp dẫn
Guide and welcomer to the Western Pure-Land, Amitabha Buddha.
tây phương tán
(西方讚) Cũng gọi Kim cương pháp bồ tát tán, Kim cương pháp tán, Pháp bồ tát tán. Chỉ cho kệ tụng khen ngợi bồ tát Kim cương pháp, vị Thượng thủ của 4 Bồ tát phương tây, 1 trong Tứ phương tán. Thông thường dùng kệ tán tiếng Phạm. Cứ theo Liên hoa bộ tâm quĩ thì bài kệ tán ấy là: Vajra dharma susattvàrtha Vajrapadma suzodhaka Lokezvara suvajràkwi Vajraịetra namo’ stute. (Pháp kim cương tốt lành Sen kim cương thanh tịnh Mắt kim cương tôn quí Con đính lễ Mắt kim cương).
tây phương tịnh độ
(西方淨土) Cũng gọi: Tây phương cực lạc tịnh độ. Gọi tắt: Tây phương. Chỉ cho thế giới Cực lạc ở phương tây,tức Tịnh độ cực lạc của đức Phật A di đà. Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Cách đây về phía tây hơn 10 vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực lạc; cõi ấy có Phật hiệu là A di đà, hiện đang nói pháp. Còn những người nguyện cầu vãng sinh Cực lạc thì gọi là Tây phương hành nhân, Tây phương hành giả; pháp mà họ tu hành gọi là Tây phương chi nghiệp, Tây phương chi pháp. [X. kinh Quán Vô lượng thọ; Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh tịnh độ pháp sự tán Q.hạ]. (xt. Cực Lạc Thế Giới).
tây phương yếu quyết thích nghi thông quy
(西方要决釋疑通規) Gọi tắt: Tây phương yếu quyết. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này giải thích rõ ràng về những điểm còn hoài nghi đối với việc vãng sinh Tây phương để khuyến khích mọi người nên tinh tiến tu tập. Toàn sách chia làm 14 đoạn, trong đó, 6 đoạn trước giải thích chung về chí thú vãng sinh Tịnh độ nói trong các kinh: Kim cương bát nhã, Phật tạng, Duy ma, Di lặc vấn, Tối thắng diệu định, Niết bàn...; đoạn thứ 7 so sánh sự hơn kém giữa Tây phương và Đâu suất, nêu ra 10 điểm khác nhau; ba đoạn 8, 9, 10 theo thứ tự hỏi đáp về bất thoái, thiểu thiện căn, Nhị thừa...; đoạn 11 hội thích 5 điều nghi nhỏ của hành giả; đoạn 12 y cứ vào luận Nhiếp đại thừa mà bàn giải việc vãng sinh Tây phương có ý thú biệt thời hay không; đoạn 13 bàn rộng về tán tâm xưng danh có thể được vãng sinh; đoạn 14 thuyết minh về phương pháp của tác nghiệp và hành pháp của tứ tu. Sách này dưới tựa đề tuy có ghi 2 chữ Cơ thuật (Khuy cơ soạn thuật) nhưng về nghĩa lí có chỗ nghi ngờ, cho nên ngài Tế xiêm người Nhật bản mới nêu ra 5 điều: Nghĩa tướng chung trái nhau, nghĩa thủy giác bản giác trái nhau, nghĩa Nhất thừa quyền thực trái nhau, nghĩa Đâu suất thoái chuyển trái nhau và nghĩa nghinh tiếp không nghinh tiếp trái nhau, từ đó ngài Tế xiêm đã suy đoán sách này không phải do ngài Khuy cơ soạn thuật. Về chú sớ của sách này thì có Tây phương yếu quyết thích nghi thông qui khoa chú 2 quyển của ngài Viên trí người Nhật. [X. Chư tông kinh sớ mục lục; Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục].
tây phương đà la ni tạng trung kim cương tộc a mật lý đa quân đồ lợi pháp
(西方陀羅尼藏中金剛族阿蜜哩多軍荼利法) Gọi tắt: A mật lí đa quân đồ lợi pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Hải vân ghi chép vào năm Trường khánh thứ 1 (821) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Đây là bộ sách bao quát nhất trong các kinh quĩ nói về pháp Quân đồ lợi, gồm 22 phẩm, tức phẩm Tựa, phẩm Trạch địa pháp, phẩm Thành tựu đàn, phẩm Thành tựu đại pháp, phẩm Cam lộ đại tiếu chú đẳng pháp, phẩm Thiêu hỏa pháp, phẩm Khất vũ chỉ vũ pháp, phẩm Đại bí mật tâm đà la ni, phẩm Nhiêu ích an ổn pháp, phẩm Đấu chiến thắng chú, phẩm Sứ giả pháp, phẩm Đại tam muội da đàn chú, phẩm Tùy tâm chú, phẩm Đại tùy cầu chú, phẩm Đại thành tựu trừ độc pháp, phẩm Khán sự pháp, phẩm Đới chú pháp, phẩm Thủ ấn pháp, phẩm Mạn đồ la thụ pháp đàn, phẩm Chư sứ giả chú, phẩm Trị quỉ bệnh chú và phẩm Chủng chủng đại phát khiển chú pháp.
tây quy trực chỉ
(西歸直指) Tác phẩm, 4 quyển, do cư sĩ Chu mộng nhan soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 2. Nội dung sách này nói về pháp môn niệm Phật vãng sinh, khuyến hóa người đời đềunên qui về Tịnh độ phương Tây, vì thế nên lấy tên sách là Tây qui trực chỉ (chỉ thẳng về phương Tây). Đầu quyển có lược truyện của tác giả và các biểu đồ về 10 việc thù thắng ở phương Tây, 9 điều thù thắng của pháp môn niệm Phật, 4 loài 6 đường trong 3 cõi, 7 thứ bất tịnh quán, bạch cốt quán... Quyển 1 nói về Tịnh độ cương yếu; quyển 2 nói vềNghi vấn chỉ nam; quyển 3 nói về Khải tín tạp thuyết, gồm các bài văn khuyến hóa tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ; quyển 4 là Vãng sinh sự lược, tức nêu sơ lược sự tích vãng sinh của các vị Bồ tát, Cao tăng, Vương thần, cư sĩ, đồng tử, phụ nữ và người cải ác hướng thiện...
tây sơn trụ bộ
Aparaśailā (S), Aparaseliya (P)A la thuyết bộMột trong 9 bộ phái trong Đại chúng bộMột trong 4 bộ phái của án đạt la phái.
; Avarasailà (S). The second subdivision of the Mahàsanghika school.
; (西山住部) Phạm: Apara-zaila. Pàli:Apara-seliya. Cũng gọi Tây sơn bộ. Một phái trong 20 bộ phái Tiểu thừa tách ra từ Đại chúng bộ 200 năm sau đức Phật nhập diệt, khi 5 việc của ngài Đại thiên lại được tranh luận lần thứ 2. Sau khi phân phái vì bất đồng quan điểm về 5 việc, đại chúng của bộ phái này đến trụ ở Tây sơn, cho nên gọi là Tây sơn trụ bộ. Thập bát bộ luận thì gọi bộ phái này là Phật bà la bộ (Phạm:Pubba-sela; Hán dịch: Đông sơn), kinh Văn thù vấn quyển hạ cũng gọi là Đông sơn bộ (Phạm: Pùrva-zaila). Nhưng Dị bộ tông luân luận thuật kí thì cho rằng gọi Đông sơn là sai lầm. (xt. Đại Chúng Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
Tây Thiên
(西天): có hai nghĩa chính. (1) Là từ xưng hô của Trung Hoa ngày xưa đối với Ấn Độ. Thời cổ đại, Ấn Độ được gọi là Thiên Trúc (天竺), Tây Trúc (西竺); vốn nằm ở phía Tây Trung Hoa, nên có tên là Tây Thiên. Như trong bài Tích Trượng Ca Tống Minh Sở Thượng Nhân Quy Phật Xuyên (錫杖歌送明楚上人歸佛川) của Hoàng Phủ Tằng (皇甫曾, ?-?) nhà Đường có câu: “Thượng nhân viễn tự Tây Thiên chí, Đầu Đà hạnh biến Nam triều tự (上人遠自西天至、頭陀行遍南朝寺, Thượng nhân xa từ Tây Thiên đến, hạnh Đầu Đà khắp chùa Nam triều).” Hay trong bài thơ Dĩ Thừa Yến Mặc Tặng Tăng Pháp Nhất (以承宴墨贈僧法一) của Triều Xung Chi (晁沖之, ?-?) nhà Tống cũng có câu: “Vương hầu cựu vật nhân kim đắc, cánh tả Tây Thiên bối diệp thư (王侯舊物人今得、更寫西天貝葉書, vương hầu vật cũ nay có được, lại chép Tây Thiên lá bối kinh).” Trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 16, phần Thất Trung Ngữ Yếu (室中語要), lại có đoạn: “Đông Tây Nam Bắc, thất túng bát hoành, triêu đáo Tây Thiên, mộ quy Đường Độ (東西南北、七縱八橫、朝到西天、暮歸唐土, Đông Tây Nam Bắc, bảy dọc tám ngang, sáng đến Tây Thiên [Ấn Độ], tối về Đường Độ [Trung Hoa]).” Hoặc trong Hạt Đường Huệ Viễn Thiền Sư Quảng Lục (瞎堂慧遠禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1360) quyển 1 lại có đoạn: “Tự thử Tây Thiên tứ thất, Đông Độ nhị tam, Phật Phật thọ chi vô cùng, đăng đăng truyền chi bất tận (自此西天四七、東土二三、佛佛授之無窮、燈燈傳之不盡, từ đây Tây Thiên hai tám, Đông Độ sáu vị, Phật Phật truyền thọ vô cùng, đèn đèn nối nhau bất tận).” (2) Đối với tín đồ Tịnh Độ Giáo, từ này chỉ cho thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) được đề cập trong Kinh A Di Đà.
tây thiên
Xem Ấn độ.
; India, the western thiên trúc quốc.
tây thiên giáo chủ
The Lord of the West, Amitabha Buddha.
tây thiên tứ thất
(西天四七) Tây thiên là Ấn độ; Tứ thất là 4 lần 7. tức chỉ cho 28 vị Tổ của Thiền tông Ấn độ được phó pháp truyền thừa. Bắt đầu từ Tổ thứ nhất là ngài Đại ca diếp, rồi lần lượt đến các ngài A nan, Thương na hòa tu, Ưu bà cúc đa, Đề đa ca, Di già ca, Bà tu mật, Phật đà nan đề, Phục đà mật đa, Hiếp tôn giả, Phú na dạ xa, Mã minh, Ca tì ma la, Long thụ, Ca na đề bà, La hầu la đa, Tăng già nan đề, Già da xá da, Cưu ma la đa, Xà dạ đa, Bà tu bàn đầu, Ma noa la, Hạc lặc noa, Sư tử tôn giả, Bà xá tư đa, Bất như mật đa, Bát nhã đa la và cuối cùng là ngài Bồ đề đạt ma. Ngài Bồ đề đạt ma đem Thiền tông truyền sang Đông đến Trung quốc, trở thành Sơ tổ trong 6 vị Tổ Thiền tông Đông độ. Cho nên, Tây thiên tứ thất thường được gọi liền với Đông độ nhị tam (Đông độ là Trung quốc; Nhị tam là 2 lần 3). [X. Truyền pháp chính tông kí Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].
Tây Tháp Quang Mục
(西塔光穆, Saitō Kōboku, ?-?): nhân vật sống vào cuối thời nhà Đường, vị tăng của Tông Quy Ngưỡng, pháp từ của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂). Ông sống ở Tây Tháp, Ngưỡng Sơn thuộc Viên Châu (袁州, Tỉnh Giang Tây), chỉ để lại một câu vấn đáp mà thôi, ngoài ra hành trạng của ông hầu như chẳng ai biết đến.
Tây Trúc
(西竺): tên gọi khác của Ấn Độ nhìn từ Trung Quốc, có nghĩa rằng đây là cõi Phật. Như trong Kế Đăng Lục (繼燈錄, CBETA No. 1605) có câu: “Nhất điểm linh minh thông vũ trụ, na câu Tây Trúc dữ Tào Khê (一點靈明通宇宙、那拘西竺與曹溪, một điểm sáng soi thông vũ trụ, sao còn Tây Trúc [Ấn Độ] với Tào Khê [Trung Quốc]).” Câu “tiếp hương linh Tây Trúc tiêu diêu (接香靈西竺逍遙)” có nghĩa là tiếp độ hương linh tiêu diêu về cõi Tây Trúc, nước Phật.
tây trúc
Xem Ấn độ.
tây tạng
Tibet.
tây tạng cao tăng toàn tập
(西藏高僧全集) Chỉ cho những tác phẩm của các Cao tăng Tây tạng và các đệ tử lớn củacácvị này, hoặc những trứ tác có liên quan đến các vị được thu chép lại mà thành, nhưng không được đưa vào Đại tạng kinh Tây tạng.Người Tây tạng gọi nguyên bản kinh luật luận từ Ấn độ truyền vào là Cam châu nhĩ (Tạng: Bka#-#gyur) và Đan châu nhĩ (Tạng:Bstan-#gyur), đồng thời phiên dịch, chú giải mà thành là Đại tạng kinh Tây tạng. Còn những tác phẩm nói về Phật giáo do những người Tây tạng soạn thì gọi chung là Tây tạng soạn thuật Phật điển, hoặc Tạng ngoại Phật điển, trong đó đa số tác phẩm được chỉnh lí thành Thập vạn ngự ngôn (Tạng: Gsuí-#bum), hoặc gọi là Thập vạn giáo sắc (Tạng: Bka#- #bum), cả 2 đều có nghĩa là Lời nói của đa số, thông thường dịch là Toàn thư. Do đó mà biết người Tây tạng gọi Toàn thư là chỉ cho những sách Phật nằm ngoài Đại tạng, chứ không phải chỉ cho Toàn tập của một cá nhân nào. Sự nghiên cứu về sách Phật ngoài Đại tạng Tây tạng chỉ mới bắt đầu gần đây, chưa có được bao nhiêu thành tích khả quan, nhất là về các tác phẩm liên quan đến Hồng giáo thì người ta còn biết đến rất ít. Chỉ có Đoàn học thuật điều tra của Ý đại lợi mới bắt đầu nghiên cứu. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của Đoàn này, đến nay người ta mới biết có các tác phẩm của các tác giả sau đây: 1. Bố đốn (Tạng:Bu-ston)Toàn thư, 26 pho. 2. Tông khách ba (Tạng: Tson-khaba)Toàn thư, 17 pho (hoặc 18 pho). 3. Cát dương ca phổ (Tạng: Rgyaltshabs) Toàn thư, 8 pho. 4. Khải châu (Tạng: Mkhas-grub) Toàn thư, 10 pho. 5. Đạt lại lạt ma (Tạng:Dalai blama) Toàn thư, 42 pho. 6. Ban thiền lạt ma (Tạng:Paị-chen bla-ma) Toàn thư, 40 pho. 7. Tát ca phan địa tháp (Tạng: Saskya Paịđita) Toàn thư, khoảng 50 pho. 8. Đề tây (Tạng:Sde-srit)Toàn thư, khoảng 20 pho. 9. Tùng ba kham bố (Tạng: Sum-pa mkhan-po) Toàn thư, 12 pho. 10. Đa la na tha (Tạng: Tàranàtha) Toàn thư, 18 pho. 11. Chương gia (Tạng: Lcaí skya) Toàn thư, 12 pho. 12. Độ quán hô đồ khắc đồ (Tạng: Thu#u-bkwan) Toàn thư, khoảng 20 pho.13. Ca mẫu dương yết ba (Tạng:Fjamdbyaís bzad-pa) Toàn thư, 54 pho. 14. Cấp khế (Tạng: Dge-zes) Toàn thư, 10 pho. 15. Long đặc nhĩ (Tạng: Kloí-rdol) Toàn thư, 2 pho. 16. Đạt mẫu kì đặc lỗ cát (Tạng:Damtshig rdo-rje)Toàn thư, 15 pho.
tây tạng hậu truyện kỳ phật giáo
(西藏後傳期佛教) Phật giáo Tây tạng ở thời kì truyền nhập sau.(xt. Tây Tạng PhậtGiáo).
tây tạng ngữ
(西藏語) Phạm:Bhoỉabhàzà. Tạng: Bod-skad. Thứ ngôn ngữ mà người Tây tạng và các dân tộc ở những vùng lân cận sử dụng, nhưng thông thường chỉ cho ngôn ngữ cổ điển (Tạng:Chos-skad) được dùng trong kinh Phật, trong văn chương cổ điển và phương ngôn ở vùng Lạp tát (Lha-sa). Tây tạng ngữ bao gồm các phương ngôn miền Tây, Đông, miền Nam và ngôn ngữ tiêu chuẩn ở trung ương. Tiếng Tây tạng ở trung ương là tiếng phổ thông, còn tiếng ở vùng Lạp tát là thứ ngôn ngữ được giai cấp thượng lưu trong xã hội ở Lạp tát sử dụng lại có phong cách riêng. Về nguồn gốc tiếng Tây tạng có nhiều thuyết khác nhau: Có thuyết cho rằng đó là văn tự Ma yết đà của Ấn độ, do quan Đại thần Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: Thonmi-sambhoỉa) du học Ấn độ rồi mang về vào thế kỉ VII. Có thuyết cho rằng đó là văn tự Lan cáp (Lan-tsha) thịnh hành ở Nepal được cải biến thành văn tự Tây tạng. Nhưng, theo sự nghiên cứu, so sánh của các học giả thời gần đây, cho rằng văn tự Tây tạng phỏng theo văn tự hệ Cấp đa (Phạm:Gupta) ở miền Bắc Ấn độ vào thế kỉ VII mà được cấu tạo thành, sau đó, chịu ảnh hưởng sự phiên dịch kinh Phật bằng tiếng Phạm, dần dần hoàn bị hình thái ngôn ngữ văn tự mà trở thành tiếng Tây tạng cổ điển vào thế kỉ IX. Toàn bộ tự mẫu gồm 30 tử âm, 4 mẫu âm, viết theo chiều ngang, văn pháp hơi giống với văn pháp Trung quốc và Nhật bản. Văn tự không sai khác bao nhiêu do thời đại và địa phương, nhưng cách và giọng nói thì tùy theo từng địa phương mà có khác nhau. Văn hóa Tây tạng phát triển đồng thời với Phật giáo Tây tạng, cho nên phần lớn các văn hiến là kinh sách Phật giáo, hoặc có liên quan đến Phật giáo. Mục lục về văn hiến Tây tạng hiện nay chỉ có bộ Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục do trường Đại học Đông bắc ở nước Nhật xuất bản vào năm 1953. Văn hiến về Tây tạng ngữ xưa nhất hiện còn là Đường Phồn Hội Minh Bi(Bia Liên minh giữa nhà Đường và Tây tạng, được lập vào năm 822 tại Lha-sa), các văn bia từ thế kỉ VIII đến thế kỉ X, các bản sách chép tay đào được ở Đôn hoàng và miền Đông Turkestan... [X. Origin of Tibetan Writing, JAOS 38 (1918) by B.Laufer; Sur l’origine de l’écriture tibétaine, JA 231 (1939) par J.Filliozat; Tibetan Studies in Japan (Indogaku Bukkyo gaku, vol.8, No 2, pp. 721-732) by Hajime Nakamura; Vu điền quốc sử (Tự bản Uyển nhã); Tây tạng văn hóa chi tân nghiên cứu (Thanh mộc Văn giáo); Tây tạng, Ấn độ chi văn hóa (Nham tỉnh Đại tuệ)]. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).
tây tạng phật giáo
(西藏佛教) Phật giáo Tây tạng, thông thường người ta gọi là Lạt ma giáo. Tây tạng (Phạm: Bhoỉa; Tạng: Bod, Bod-yul, Gaís-can-yul), cũng gọi Thổ phồn, Thổ bá đặc, Tây phiên, Ô tư tạng, Tuyết hữu quốc, Tuyết cốc quốc, Xích diện, nằm giữa rặng núi Côn lôn và dãy Hi mã lạp sơn, đông giáp tỉnh Tứ xuyên và tỉnh Vân nam của Trung quốc, tây giáp Làdak, bắc giáp tỉnh Tân cương và tỉnh Thanh hải của Trung quốc, nam giáp Miến điện, Bhutan, Tích kim, Nepal và Ấn độ; địa thế cao dốc, khí hậu rất lạnh, đời Hán, xứ này được gọi là Tây khương, Thổ phồn. Từ đời Đường về trước, người Tây tạng chỉ sống theo từng bộ lạc, đến giữa thế kỉ VII, vua Khí tông lộng tán (tức Tùng tán cán bố) lên ngôi, thống nhất các bộ tộc, vũ lực hùng mạnh, mở rộng lãnh thổ, thậm chí thường xâm phạm biên cương nhà Đường. Vua Thái tông nhà Đường cuối cùng quyết định dùng phương thức liên hôn để tranh thủ hòa bình ở biên thùy phía tây. Năm Trinh quán 15 (641), nhà Đường gả công chúa Văn thành cho vua Tây tạng, trước đó, vua Tây tạng đã cưới công chúa Ba lợi khố cơ của Nepal, 2 bà công chúa này đều là những tín độ Phật giáo thuần thành. Vua Tây tạng được 2 bà vợ khuyến hóa nên cũng rất kính tin Phật giáo. Vua thỉnh các vị cao tăng từ Trung Ấn độ đến Tây tạng hoằng pháp, đồng thời, gửi một phái đoàn gồm 16 người, do Đại thần Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: Thon-misambhoỉa) dẫn đầu, đến Ấn độ du học. Sau khi trở về Tây tạng, Đoan mĩ dùng tiếng Phạm làm nền tảng mà chế ra tự mẫu Tây tạng, phiên dịch kinh Bách bái sám hối, đó là bản kinh đầu tiên được dịch sang tiếng Tây tạng. Niên hiệu Cảnh văn năm đầu (710), vua Duệ tông nhà Đường lại gả công chúa Kim thành, người rất sùng tín Phật giáo, cho Khí lệ súc tán. Công chúa Kim thành sinh được một Vương tử, sau này lên ngôi tức là vua Cật lật song đề tán (Tạng:Khri-sroịlde-btsan), người đã lấy Phật giáo làm Quốc giáo của Tây tạng. Đến khi Lãng đạt ma kế vị Tán phổ lên làm vua (ở ngôi 836-841), vì sùng tín Bổng giáo nên đã phế bỏ Phật giáo, bởi thế, khi Khất li hồ lên ngôi thì Phật pháp đã bị diệt gần hết. Khi Đế quốc Mông cổ được kiến lập, Tây tạng trở thành một phần lãnh thổ của Đế quốc Mông cổ và Hốt tất liệt đã dùng Phật giáo để duy trì. May mắn cho Hốt tất liệt gặp được vị Tổ thứ 4 của phái Tát ca là Ban thiền Đại lạt ma Văn thù tát ca (Tạng: Sa-skya pan-chen). Ban thiền sai cháu là Bát tư ba đến triều Nguyên, Hốt tất liệt tôn làm Quốc sư. Sau, Bát tư ba (1229-1280) kế vị làm Tổ thứ 5củaphái Tát ca ở Tây tạng và một thế cuộc mới được mở ra, đó là Chính trị và tông giáo hợp làm một. Lịch sử Phật giáo Tây tạng lấy Pháp nạn Lãng đạt ma làm mốc, trước đó gọi là Tiền truyền kì(thời kì truyền bá trước), sau đó gọi là Hậu truyền kì(thời kì truyền bá sau). Việc dịch kinh Phật ở Tây tạng bắt đầu vào thời vua Khí tông lộng tán, vua từng ban lệnh lập ra 10 điều thiện, 16 điều luật trọng yếu; lại lấy Lạp tát (Lha-sa) làm trung tâm, xây dựng cung Bố đạt lạp (Potala). Vua còn xây chùa Đại chiêu và chùa Tiểu chiêu để thờ tượng Phật Thích ca thỉnh từ Trung quốc và tượng Phật A súc thỉnh từ Nepal. Đây là thời kì hưng thịnh đầu tiên của Phật giáo Tây tạng. Về sau, vua Cật lật song đề tán thỉnh 2 vị tăng nhà Đường và ngài A nan đà, người nước Ca thấp di la, phiên dịch kinh điển, đồng thời, phái ngài Ba sa (Tạng: Pahsa) đến Nepal. Năm 747, ngài Ba sa gặp Đại sư Thiện hải Tịnh hộ (Phạm: Zanta-rakwita) thuộc học phái Trung quán Thanh biện, liền thỉnh ngài đến Tây tạng. Ngài Tịch hộ mang theo các bộ luận của phái Trung quán đến Tây tạng, rồi lại soạn Nhị đế phân biệt thích và tuyên giảng giáo pháp Trung quán. Ngài Tịnh hộ còn kiến nghị vua Cật lật song đề tán thỉnh Đại sư Liên hoa sinh (Phạm: Padma-sambhava) đến Tây tạng. Ngài Liên hoa sinh truyền Đà la ni và Chân ngôn nghi quĩ, khởi đầu cho Mật giáo Tây tạng. Đồng thời, đệ tử của ngài Tịnh hộ như các vị Ca ma la thập (Phạm: Kamalasìla, Liên hoa giới), Tì lô giá na khiếp đát (Phạm: Vairocana-rakwita)... cũng nhận lời đến Tây tạng dịch kinh, hoằng dương tư tưởng Trung quán. Nhưng sau một thời gian tương đối lâu, bỗng phát sinh cuộc tranh luận giữa ngài Hộ tịch và các đệ tử với một vị danh tăng của nhà Đường là Hòa thượng Đại thừa, sau đó Hòa thượng Đại thừa bị thua trong luận trường, tuy nhiên, ảnh hưởng của Thiền tông không vì thế mà dứt hẳn ở Tây tạng. Về sau, Phật giáo Tây tạng lấy phái Phật giáo Chủ tri thời kì cuối ở Ấn độ làm dòng chính; phái này chuyên về luận lí, nên các bộ luận Nhân minh được phiên dịch đến hơn 66 loại. Thời kì này là thời kì kiến lập của Phật giáo Tây tạng. Đến thời vua Cật lật lai ba thiệm (Tạng:Khri-ral pa-can, ở ngôi 815-836), lại qui định Thất hộ dưỡng tăng, chư tăng được tham dự việc chính trị trong nước, nếu ai khinh thường Tam bảo sẽ bị hình phạt nặng nề. Thời này là thời kì tột đỉnh của Phật giáo Tiền truyền ở Tây tạng. Thời kìnàyqui tụ nhiều bậc hiền tài, về phía học giả Ấn độ thì có các ngài: Thắng hữu, Giới đế giác, Thí giới, Giác hữu...; về phía học giả Tây tạng thì có các ngài: Bảo hộ, Cháp tính giới... Các vị này đã biên soạn thành bộ Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti), rồi căn cứ vào sách này mà hiệu đính bổ túc cho các bản dịch cũ của Kinh bộ; dịch thêm các bộ luận trọng yếu của các bậc Đại sư: Long thụ, Đề bà, Mã minh, Từ thị, Vô trước, Thế thân... Sau đó, Lãng đạt ma lên ngôi vua, vì ông này sùng tín Bỗng giáo nên hủy diệt Phật giáo, không cho phiên dịch kinh luận, phá bỏ chùa viện, bắt tăng ni hoàn tục, đốt phá kinh điển, tượng Phật; do đó, chúng tăng đương thời phải lánh nạn sang các nước lân cận. Sau biến cố Lãng đạt ma, Phật giáo Tây tạng bước vào thời kì Hậu truyền. Thời Hậu truyền là thời kì phục hưng của Phật giáo, trước hết là Mật thừa, kế đến là Hiển thừa. Cuối thế kỉ XI, vị học giả bậc nhất của Mật thừa là ngài Lâm thân tang pha (Tạng: Rin-chen bzaí-po) đếnẤn độ, lúc trở về Tây tạng, sư thỉnh các học giả Ấn độ như: Tức đạt la ca la phạm mạnh (Phạm: Zradha-kara-varman), Ba địch ma ca la cấp đa (Phạm: Padma-karagupta)... mang theo về Luận bộ và 4 bộ Đát đặc la. Những kinh điển Mật thừa trước kia chưa được phiên dịch, thì bây giờ được dịch thêm rất nhiều, như các bộ: Cát tường thượng thừa lạc bản tục vương lược yếu, Hiện thuyết vô lượng bản tục, Du già đại giáo vương kinh... Giáo nghĩa mà chúng tăng Tây tạng học tập tu trì là lấy Trung quán hiển thừa làm chính; bấy giờ, sau khi việc phiên dịch các kinh điển Mật giáo được hoàn thành, thì Phật giáo Tây tạng bèn được chia làm 2 môn là Hiển môn và Mật môn. Những kinh điển Mật thừa được phiên dịch ở thời kì này khác với những kinh được dịch ở thời đại ngài Liên hoa sinh, cho nên Mật thừa ở thời kì nàyđược gọi là Tân phái Mật thừa, còn Mật thừa ở thời Đại sư Liên hoa sinh thì gọi là Cựu phái Mật thừa, hợp 2 phái tân cựu lại, gọi chung là Ninh mã phái (Tạng: Rĩin-mapa), hoặc gọi là Đại cứu cánh phái (Tạng: Rdsogs-chen-pa). Thời kì Phật giáo Hậu truyền đạt đến đỉnh cao là thời gian từ khi ngài A đề sa (Phạm: Atiza) đến Tây tạng (1035 hoặc 1038) về sau. Các tác phẩm của ngài như luận Bồ đề đạo đăng, kinh Thập bất thiện nghiệp đạo, Hành tập đăng... còn trong Đại tạng kinh Tây tạng có tới hơn 30 loại, trong đó, luận Bồ đề đạo đăng là tác phẩm tiêu biểu, chọn lựa chỗ trọng yếu của Hiển (giáo) và Mật (giáo), biện biệt rõ giới hạn tà chính, tận lực chấn hưng giáo pháp Đại thừa. Tư tưởng chủ yếu trong cuộc cải cách do ngài Tông khách ba (1417-1478) tiến hành sau này chính đã được khơi dậy bởi lí luận A đề sa. Từ sau khi ngài A đề sa đến Tây tạng, Phật giáo Tây tạng mới chia dòng phái, tất cả có 7 hệ 21 phái, chỉ trừ các phái đã truyền trước thời ngài A đề sa được gọi chung là phái Ninh mã, các phái còn lại như Ca đương, Ca nhĩ cư, Hi giải, Tát ca, Tước nam, Cách lỗ... đều có liên hệ với ngài A đề sa. Các phái nói trên, chỉ trừ phái Ca đương chuyên về việc giáo hóa, còn các phái khác thì đều câu kết với cường hào địa phương, tham dự việc chính trị, đặc biệt là phái Tát ca quan hệ rất mật thiết với chính quyền, chúng tăng ỷ thế kiêu căng, thao túng lũng đoạn, gây ra rất nhiều tệ nạn, công cuộc đổi mới nền Phật giáo Tây tạng của Tông khách ba đã diễn ra đúng lúc. Ngài Tông khách ba khởi xướng phong trào vận động cải cách tông giáo. Chúng tăng thuộccácphái Phật giáo Tây tạng trước Tông khách ba đều đội mũ và mặc áo màu đỏ, được gọi chung là Hồng giáo. Để phân biệt, Tông khách ba lập ra Hoàng giáo (chúng tăng đội mũ và mặc áo màu vàng), cũng gọi Cách lỗ phái (Ngạch nhĩ đức phái). Hoàng giáo chủ trương tôn trọng kinh giáo, nghiêm trì giới luật, chọn lấy những điều tốt đẹp của các phái, chỉnh đốn lại Hiển tông và Mật tông, nêu rõ nghĩa chân thật của Phật pháp, lập ra trình tự tu hành, khiến nền Phật giáo Tây tạng thay đổi lớn lao. Phái này về sau sản sinh ra 2 vị Lạt ma là Đạt lai và Ban thiền, lần lượt mở ra đầu mối cho nền chính trị tông giáo ở Tây tạng và 2 vị này được xem là chuyển sinh của đệ tử ngài Tông khách ba. Đạt lai truyền nối đến nay là đời thứ 14, còn Ban thiền thì là đời thứ 10. Cùng thời kì với Hoàng giáo của ngài Tông khách ba, có Bạch giáo (chúng tăng đội mũ và mặc áo màu trắng) lưu hành ở Hậu Tạng, phái này giữ gìn giáo pháp trang nghiêm thanh tịnh (tượng trưng bằng màu trắng), hoằng dương cả Hiển giáo và Mật giáo, nhưng lấy Mật thừa làm chính. Song, sau khi Hoàng giáo hưng thịnh thì Bạch giáo suy dần. Ngoài ra còn có Hắc giáo, vốn là ngoại đạo Bổng giáo, vì đội mũ và mặc áo màu đen, nên gọi là Hắc giáo. Phái này chuyên việc cầu đảo, chú thuật, chuộng đồng bóng, cúng tế, thích giáng bút cầu cơ... Thời cận đại, Phật giáo Tây tạng rất được trọng, học giả các nước Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật, Ấn... đều nghiên cứu, tìm hiểu về Vương thống, ngôn ngữ, kinh sách... của Tây tạng và về giáo lí, sự thay đổi... của Lạt ma giáo một cách sâu rộng. [X. Thích ca phương chí Q.thượng; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Đường thư liệt truyện thứ 141; Cựu ngũ đại sử ngoại quốc liệt truyện thứ 2; Tống sử liệt truyện thứ 251; Nguyên sử liệt truyện thứ 89; Ấn độ tông giáo sử khảo; Tây tạng chi Phật giáo (Đa điển Đẳng quan); Đường phồn hội bi văn (Tự bản Uyển nhã, Đại cốc học báo tập 3, số 10); Life of the Buddha (W.W Rockhill); Le Bouddhisme au Tibet (P.E. Foucaux); History of Indian and Easten Architecture, vol. 1 (J. Fergusson); Tibetan Temple Paintings (W.J. G. Van Meures); Tây tạng Phật giáo sử (Thánh nghiêm)]. (xt. Tông Khách Ba, A Đề Sa, Ban Thiền Lạt Ma, Đạt Lại Lạt Ma, Nghạch Nhĩ Đức Phái).
tây tạng phật giáo sử (học giả chi yến)
(西藏佛教史(學者之宴)) Tạng: Dam pa#i chos kyi #khor los bsgyur ba rnams kyi byaí ba gsal bar byed pa mkhas pa#i dga# ston. Cũng gọi Phật giáo sử (Học giảchi yến), La lạp cách Phật giáo sử (Tạng:Lho brag chos byuí). Phật giáo sử, do ngài Phạ âu chu cách lạp cách đan ngõa (Tạng: Dpha# bo gtsug lag phreí ba, 1504-1566) thuộc phái Ca nhĩ mã của Phật giáo Tây tạng soạn, hoàn thành khoảng 1545-1563, được thu vào Bách tạng quyển 4. Nội dung nói về sự thực lịch sử chuyển pháp luân của Phật giáo Tây tạng. Toàn sách chia làm 5 phần: Phần I: Bàn khái quát về thế gian. Phần II: Nói về Ấn độ, lại chia làm 4 mục.1. Phật truyện. 2. Kết tập. 3. Duyên do tạo tượng. 4. Hệ thống vua chúa Ấn độ. Phần III: Phần nói về Tây tạng, lại chia làm 10 mục. 1. Bồ tát Quán thế âm lấy xứ Tây tạng làm nơi nhân duyên giáo hóa. 2. Ghi chép về hệ thống các vua chúa Thổ phồn. 3. Lịch sử giới luật. 4. Truyện về các bậc Hiền, Trí, các nhà dịch kinh. 5. Lịch sử các phái mật chú cổ. 6. Lịch sử phái Ca đương. 7. Lịch sử khái quát về phái Ca nhĩ cư. 8. Lịch sử phái Ca nhĩ mã. 9. Lịch sử phái Địa khang. 10. Lịch sử phái Tát ca, phái Hi giải. PhầnIV: Lịch sử hệ thống vua chúa các nước: Hòa điều, Trung quốc, Tây hạ, Mông cổ... Phần V: Truyện các Tổ sư Ấn độ và lịch sử Ngũ minh, trong phần 3 của lịch sử Ngũ minh có nói về nguyên do của Thời luân đát đặc la. Bộ sách này là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về sự đối kháng giữa 2 phái Ngạch nhĩ đức và Ca nhĩ mã của Phật giáo Tây tạng ở thời kì đầu. Vì việc soạn thuật cũng như việc khắc bản và ấn hành đều có sự giúp sức của các nhân sĩ vùng La lạp cách, cho nên sách này còn được gọi là La lạp cách Phật giáo sử.
tây tạng tiền truyện kỳ phật giáo
(西藏前傳期佛教) Chỉ cho thời kì đầu của sự truyền nhập và phát triển của Phật giáo Tây tạng, tức khoảng từ năm 640 đến năm 840 Tây lịch. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).
tây tạng vương thống thế hệ minh giám
(西藏王統世系明鑒) Cũng gọi Tây tạng vương thống kí. Lịch sử Tây tạng, do ngài Sách nam Kiên tham, vị tăng thuộc phái Tát ca, Tây tạng, soạn vào năm 1388. Nội dung sách này chủ yếu nói về lịch sử và phổ hệ thừa kế của các triều vua Tây tạng vào thời kì Thổ phồn, đồng thời, giới thiệu lịch sử Phật giáo Ấn độ và lịch sử Phật giáo Tây tạng.
tây tạng đại tạng kinh
(西藏大藏經) Tibetan Tripiỉaka Tạng kinh được tập thành do những kinh điển tiếng Phạm hoặc chữ Hán được phiên dịch sang tiếng Tây tạng và các chương sớ do người Tây tạng soạn thuật. Khoảng thế kỉ VII, đất nước Tây tạng dưới triều vua Tùng tán cán bố (Tạng:Sroí-btsansgam-po, tức Khí tông lộng tán) thống trị, rất hưng thịnh. Vào năm 632, vua cho Đại thần Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: T h o n - m i - sambhoỉa) du học Ấn độ. Sau khi về nước, Đoan mĩ dùng tiếng Phạm làm nền tảng, sáng tạo ra tự mẫu tiếng Tây tạng, rồi phiên dịch kinh điển tiếng Phạm của Ấn độ sang tiếng Tây tạng. Sau đó, từ thế kỉ VIII đến thế kỉ IX, sự nghiệp dịch kinh rất hưng thịnh. Trong khoảng thời gian này, các học giả tiếng Phạm từ Đại hạ (Tây hạ), Ấn độ, như các ngài Thắng hữu (Phạm: Jinamitra), Giới đế giác (Phạm: Surendrabodhi)... nối tiếp nhau đến Tây tạng, hợp lực với các quan phiên dịch người Tây tạng như Bảo hộ (Phạm: Ratnarakwita)... cùng phiên dịch các kinh điển tiếng Phạm, đồng thời thống nhất dịch ngữ, sữa chữa các bản dịch cũ, nếu những bản tiếng Phạm còn thiếu thì dịch lại từ các bản dịch chữ Hán, chữ Vu điền để bổ túc. Về sau, công việc dịch kinh nối tiếp không ngừng, tổng cộng có 350 vị truyền dịch, dịch được hơn 4.000 bộ kinh Phật. Phần lớn Đại tạng kinh Tây tạng hiện nay đã được phiên dịch trong thời gian này. Đến giữa thế kỉ XIII thì hầu như đã hoàn thành toàn bộ nội dung của Đại tạng kinh Tây tạng ngày nay. Đến thế kỉ XIV, ngài Bố đốn (Tạng: Bu-ston) biên tập thêm và chia Đại tạng kinh này làm 2 bộ lớn là Cam châu nhĩ (Tạng: Bka#-#gyur) và Đan châu nhĩ (Tạng: Bstan-#gyur). Cam châu nhĩ là Chính tạng thu các Kinh và Luật; Đan châu nhĩ là Tục tạng, thu gom các bản chú thích Kinh, Luật, Luận và các tác phẩm về ngôn ngữ, văn học, lịch sử, y học... Đây là phương pháp phân loại đặc biệt của tạng kinh Tây tạng, về sau trở thành hình thức nhất định. Nay ý cứ vào Tây tạng Phật học nguyên luận của học giả Lữ trừng mà đồ biểu như sau: –Sơ phápluân : Pháp Tứ đế và Giới luật được nói ở vườn Nai. –Trung pháp luân : Pháp Vô tướng nói ở núi Linh thứu, như các kinh Bát nhã... –Hậu phápluân : Pháp Phân biệt nói ở Tì xá li... như các kinh Hoa nghiêmvà Bảo tích... HIỂN THỪA MẬT THỪA Các bộ kinh chú. ĐAN CHÂU NHĨ THÍCH SƠ PHÁP LUÂN Bảy bộ luận Tì đàm (luận Pháp uẩn túc, luận Tập dị môn túc, luận Thi thiết túc, luận Thích Quán Môn: Thức thân túc, luận Phẩm loại túc, luận Giới thân túc, luận Phát trí). Thích Hạnh Môn: Các bộ luận về Luật kinh và Luật tụng... THÍCH TRUNG PHÁP LUÂN Thích Quán Môn: Thích Hạnh Môn: Đại thừa tứ nghi (Long thụ, Từ thị, Nha quân, Trần na) Sáu bộ luận của ngài Long thụ (luận Thất thập không tính, Trung luận, luận Lục nhập như lí, luận Hồi tránh, luận Quảng phá, luận Giả danh thành tựu. Trong đó, luận Giả danh thành tựu chưa được truyền đến Tây tạng, nên có khi được thay bằng luận Bảo man). Luận Hiện quán trang nghiêm của bồ tát Từ thị. Luận Quán thập vạn Bát nhã của ngài Nha quân. Luận Bát thiên Bát nhã của ngài Trần na. –––– Ba bộ luận: Tập bồ tát học, Nhập bồ tát hạnh, Tu hành tam thứ đệ. THÍCHHẬU PHÁP LUÂN Năm bộ luận của bồ tát Từ thị (luận Hiện quán trang nghiêm, luận Đại thừa kinh trang nghiêm, luận Biện trung biên, luận Biện pháp tính và luận Tục thượng sư). Năm Địa phần của bồ tát Vô trước (tức 5 phần mà bản Hán dịch gọi là do bồ tát Từ thị truyền như Nhiếp bản địa phần trong luận Du già sư địa, bản Tây tạng truyền thì gọi là Căn bản chư địa, Nhiếp phục trạch, Nhiếp sự, Nhiếp dị và Nhiếp thích của ngài Vô trước. Hai nhiếp (A tì đạt ma tập luận và Nhiếp đại thừa luận (của ngài Vô trước). Tám chi luận của bồ tát Thế thân (luận Duy thức tam thập, luận Duy thứcnhị thập, luận Ngũ uẩn, luận Thích quĩ, luận Thành nghiệp, Đại thừa trang nghiêm kinh luận thích, Biệntrung biên luận thích và Duyên khởi kinh thích). Bồ tát luật nghi nhị thập tụng... Đại tạng kinh Tây tạng có rất nhiều bản, được liệt kê như sau: 1. Cựu nại đường tạng (Tạng:Snarthaí, Tạng Nại đường xưa): Vào đầu thế kỉ XIII, ngài Thế tôn kiếm và đệ tử là Nhuyến ngữ Ẩn phúc, từ nội địa Trung quốc đưa về Tây tạng, đồng thời do các vị La tát nhĩ tang kết bồng (Tạng: Blo-gsal saís rgyas #bum), Tỏa nam hoắc tài nhĩ (Tạng: Bsod-nams #od-zer), Ngân tước bách bồng (Tạng: Byaí-chub-#bum)... sưu tập kinh, luật và bí điển từ các nơi, sau đó, đối chiếu, hiệu đính rồi khắc bản ấn hành, được gọi là Nại đường cổ bản, bản gỗ và bản in này hiện nay đều thất truyền. 2. Lí đường tạng (Tạng:Li-thaí): Tức Lí đường bản, do các ngài Thích ca dã tán (Tạng:Zà-kya rgyal-mtshan)... khắc bản ở vùng Cần ưu (Tạng: Fjaí-yul), sau bị thiêu hủy vào năm 1908. 3. Cách đức tạng (Tạng:Sde-dge), cũng gọi Đức cách bản: Bắt đầu khắc bản vào năm Ung chính thứ 8 (1730) đời Thanh đến năm Càn long thứ 9 (1744) thì hoàn thành, sử dụng phần Cam châu nhĩ của Lí đường tạng, thêm phần Đan châu nhĩ của La xá nhĩ cương (Tạng: Sha-lu gser-khan) cất giữ, rồi y cứ vào kinh lục của ngài Bố đốn để tăng bổ mà thành. Tổng cộng phần Cam châu nhĩ có 100 hòm, hơn 700 bộ; phần Đan châu nhĩ thì thu 213 hòm, hơn 3.400 bộ. Bản khắc này vẫn còn ở chùa Cách đức. 4. Tân nại đường tạng (Tạng:Snarthaí): Tức Nại đường tân bản. Bắt đầu khắcbảnvào năm Ung chính thứ 8 (1730) đời Thanh, dùng Nại đường cổ bản làm bản mẫu, tham khảo mục lục của các ngài Sách ba và Bố đốn để tăng bổ. Phần Cam châu nhĩ tổng cộng có 102 hòm, hơn 600 bộ; phần Đan châu nhĩ thu 224 hòm. Tạng bản này hiện còn ở chùa Nại đường tại Nhật khách tắc. 5. Trác ni tạng (Tạng:Co-ne): Tức Trác ni bản. Niên đại khắc in không rõ, có thuyết cho rằng tạng này được ấn hành sau tạng Đức cách. 6. Bố na khắc tạng (Punaka): Vốn có tên là Bố na khắc bản, hiện còn bản gỗ ở Bố na khắc thuộc Bhutan. Tạng này chỉ có phần Cam châu nhĩ. 7. Kiệt côn bành tạng (Tạng:Rjes rku- #bum): Tức là Kiệt côn bành bản. Tạng này được khắc in ở chùa Côn bành (Tạng: Rku-#bum) tại Cam túc. Bản gỗ đã thất lạc, cũng chỉ có phần Cam châu nhĩ. 8. Khước mẫu đà tạng (Tạng: Chamdo): Vốn có tên là Khước mẫu đà bản. Tạng này nguyên ở chùa Khước mẫu đà, chỉ có phần Cam châu nhĩ. Bản gỗ cũng đã thất lạc. 9. Vĩnh lạc bản: Vốn có tên là Vạn lịch bản. Đây là phần Cam châu nhĩ căn cứ theo Nại đường cổ bản mà được khắc lại tại Trung quốc vào năm Vĩnh lạc thứ 8 (1410) đời Minh. Bản gỗ đã mất. 10. Vạn lịch tạng: Tức Vạn lịch bản. Tạng này dùng bản Vĩnh lạc làm bản mẫu được khắc lại vào năm Vạn lịch 30 (1602) đời Minh. Bản gỗ đã thất lạc, bản in thì hiện còn rất ít. 11. Bắc kinh tạng: Tức Bắc kinh bản. Tạng này lấy phần Cam châu nhĩ cất giữ ở chùa Sắc lạp tại Tây tạng làm bản mẫu, bắt đầu được khắc in tại Bắc kinh vào năm Khang hi 22 (1683) đời Thanh. Đến năm Ung chính thứ 2 (1724), phần Đan châu nhĩ cũng được khắc lại. Bản tạng này tuy một phần lớn được phiên dịch từ nguyên điển tiếng Phạm, nhưng cũngcósố ít được dịch từ Thánh điểnPàli mà thành; ngoài ra, còn có bộ phận nhỏ được dịch lại từ các bản kinh điển Hán dịch. Tổng cộng phần Cam châu nhĩ thu 106 hòm, gồm 1000 bộ (có thuyết nói 1055 bộ); Đan châu nhĩ thì thu 224 hòm, gồm hơn 5100 bộ (có thuyết nói 3962 bộ). Bản gỗ đã bị thiêu hủy trong chiến tranh vào năm Quang tự 26 (1900); bản in thì cả thế giới còn hơn 2 bộ, 1 bộ được cất giữ tại thư viện Quốc gia Pháp ở Paris và bộ còn lại được lưu trữ tại trường Đại học Đại cốc ở Kyoto, Nhật bản. 12. Lạp tát tạng (Tạng:Lha-sa): Tức Lạp tát bản, do Đạt lại lạt ma đời thứ 13 khắc bản, chỉ hoàn thành được phầm Cam châu nhĩ. Bản gỗ vẫn còn. Ngoài ra, theo truyền thuyết, ở Hạ bố táp nhĩ (Tạng: Bshad-pa-rtsal) thuộc vùng Sài hoắc (Tạng:Zar-hor), vào khoảng Đạt lại lạt ma đời thứ 5, cũng có khắc in tạng kinh Cam châu nhĩ... Trong tất cả bản Đại tạng Tây tạng nói trên, thì bản Bắc kinh, bản Đức cách và bản Tân Nại đường đều được hoàn thành vào thế kỉ XVIII. Trong đó thu gom rất nhiều nguyên điển Phật giáo mà các quốc gia khác chưa kịp phiên dịch thì đã bị thất tán, có thể dùng để dịch trả lại nguyên điển tiếng Phạm. Về mục lục của tạng dịch, từ thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ thứ XIV, có các bản mục lục như: Mục lục Bàng đường (Tạng: Fphaí-thaí), mục lục Đăng các nhĩ mã (Tạng: Ldan-dkar-ma), mục lục Ni mạn âu tạ lỗ (Tạng: Ĩi-ma#i Fod-zer), mục lục Tra ba (Tạng:Tshal-pa)... Ngài Bố đốn cũng biên tập 2 loại mục lục là: Mục lục Sâm lạp phủ lâm ba thiết (Tạng: Gsuírab rin-po-che, tức mục lục Cam châu nhĩ) và Á lỗ ba điền ngoã (Tạng: Rgyalpo-phreí-ba, tức mục lục Đan châu nhĩ). Tại Trung quốc, vào năm Chí nguyên 22 (1285) đời vua Nguyên thế tổ, Tổng thống Thích giáo là Hợp thai tát lí, Quốc sư Diệp liên, ngài Khánh cát tường..., vâng sắc chỉ biên soạn bộ Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục(tức mục lục tạng kinh bản đời Nguyên) thường được các học giả đời sau dẫn dụng để đối chiếu khi nghiên cứu các bản mục lục của tạng kinh. Đại tạng kinh Tây tạng có số pho quyển rất đồ sộ, có thể sánh ngang với Đại tạng kinh Hán dịch. Hơn nữa, chữ Tây tạng là do cải biến văn tự Ấn độ mà thành, địa lí lại gần Ấn độ, kinh điển Tây tạng phần nhiều được dịch thẳng từ tiếng Phạm, lại dùng dịch ngữ thống nhất và qua nhiều lần hiệu đính. Vì thế, việc đối chiếu 2 bản dịch Hán, Tạng có thể giúp học giả càng tiếp cận với nghĩa gốc của nguyên điển tiếng Phạm, nhờ đó thấy rõ được cái chân tướng Phật học Ấn độ rõ hơn. Bởi vậy biết Đại tạng kinh Tây tạng rất có giá trị, là tư liệu quan trọng không thể thiếu trong việc nghiên cứu tư tưởng Đông phương. (xt. Đại Tạng Kinh, Đan Châu Nhĩ, Cam Châu Châm Nhĩ).
tây tạng đại tạng kinh cam thù nhĩ khám đồng mục lục
(西藏大藏經甘殊爾勘同目錄) Cũng gọi Đại cốc mục lục. Mục lục, 4 quyển, do thư viện trường Đại học Đại cốc ở Nhật bản, đối chiếu, so sánh giữa phần Cam châu nhĩ của Đại tạng kinh Tây tạng (bản Bắc kinh) và Đại tạng Hán dịch mà biên soạn thành. Nội dung mục lục chia làm 6 bộ: Bí mật độ, Bát nhã bộ, Bảo tích bộ, Hoa nghiêm bộ, Chư kinh bộ và Giới luật bộ, cuối quyển có phụ thêm gần 50 trang sách dẫn tựa đề, trong đó nêu sách dẫn tiếng Phạm, Tạng, Hán. Mục lục này có thể được dùngđểđối chiếu với Đại chính tạng kinh, Nam điều mục lục (Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục), Đức cách tạng, Nại đường tạng của Tây tạng.
tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục phụ sách dẫn
(西藏大藏經總目錄附索引) Mục lục, 2 tập (có tập sách dẫn riêng) do các học giả Nhật bản là Vũ tỉnh Bá thọ (1882-1963), Linh mộc Tông trung (1881- 1963), Kim thương Viên chiếu (1891- ) Đa điền Đẳng quán (1890-1967)... biên soạn, ấn hành năm 1934. Đây là Tổng mục lục của Đại tạng kinh Tây tạng bản Đức cách (Tạng: Sde-dye) được cất giữ ở thư viện của trường Đại học Đông bắc, Nhật bản, cho nên cũng gọi là Đông bắc mục lục. Sách này được đối chiếu với Đại tạng kinh Hán dịch mà soạn thành, đồng thời chỉ rõ sự quan hệ đối ứng giữa Đại tạng kinhTây tạng và Đại tạng Hán dịch.Phần mục lục được chia làm Phật thuyết bộ (Tạng: Bka#-#gyur, Cam châu nhĩ), Luận sớ bộ (Tạng:Bstan-#gyur, Đan châu nhĩ), gồm 24 bộ, 317 pho, mỗi quyển đều có đánh số, tổng cộng có 4569 số. Phật thuyết bộ gồm có: Luật bộ, Bát nhã, Hoa nghiêm bộ, Bảo tích bộ, Kinh bộ, Thập vạn đát đặc la, Cổ đát đặc la, Thời luân kinh sớ và Đà la ni tập... Luận sớ bộ gồm có: Lễ tán bộ, Đátđặc đa bộ, Bát nhã bộ, Trung quán bộ,Kinh sớ bộ, Duy thức bộ, A tì đạt ma bộ, Luật bộ, Bản sinh bộ, Thư hàn bộ,Nhân minh bộ, Thanh minh bộ, Y minh bộ, Cao xảo minh bộ, Tu thân bộ, Tạp bộ, A để sa tiểu tập bộ, Mục lục bộ... Phần sách dẫn được chia làm 8 loại: 1. Tiêu đề Tây tạng ngữ phiên âm La tinh.2. Tiêu đề Phạm ngữ phiên âm La tinh. 3. Tiêu đề Hán ngữ. 4. Tiêu đềBru-sha ngữ. 5. Tên dịch chữ Hán được sắp xếp thứ tự theo 50 âm tiếng Nhật. 6. Sách dẫn về soạn giả, các tác phẩm do Ấn độ soạn thì tên soạn giả phần nhiều dùng sách dẫn tiếng Phạm, phần phiên dịch là tiếng Tây tạng; còn do Tây tạng soạn thì hoàn toàn sử dụng sách dẫn Tây tạng. 7. Sách dẫn đối chiếu giữa các sách trong mục lục vàĐại chính tạng. 8.Sách dẫn đối chiếu giữa Đại chính tạng và các sách trong mục lục.
tây tịnh
(西淨) Cũng gọi Tây ti. Nhà vệ sinh dành riêng cho chư tăng thuộc Tây tự sử dụng. Đây là một nơi mà lúc nào cũng phải được giữ gìn cho sạch sẽ, nên gọi là Tịnh, tên khác của nhà vệ sinh. Trong Thiền tông, khi vào 3 nơi: Nhà tắm, Tăng đường và Tây tịnh, tuyệt đối không được cười nói, vì thế gọi là Tam mặc đường (3 nhà im lặng). [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tam Mặc Đường, Tây Tự).
tây tự
(西序) Đối lại Đông tự. Hàng phía tây. Trong Thiền lâm, khi cử hành Phật sự trên Phật điện, Pháp đường, chúng tăng chia ra 2 ban đứng xếp hàng 2 bên; bên phải(phía đông), gọi là Đông tự, bên trái(phía tây) gọi là Tây tự. Tây tự chỉ cho chúng tăng đứng xếp hàng bên ban tây. Tây tự thì chọn những vị tăng có học vấn và đức hạnh đảm nhận, gọi là Đầu thủ; còn Đông tự thì chọn những vị tăng am tường về thế pháp đảm trách, gọi là Tri sự. Theo Sắc tu bách trượng thanh qui quyển thượng thì Tây tự gồm có 6 vị Đầu thủ là: Thủ tọa, Thư kí, Tạng chủ, Tri khách, Tri dục và Tri điện. Còn theo Hoàng bá thanh qui thì Tây tự gồm 10 vị Đầu thủ là: Thủ tọa, Tây đường, Hậu đường, Đường chủ, Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Trượng thị và Giám thu. (xt. Lưỡng Tự).
Tây Viện Tư Minh
(西院思明, Saiin Shimyō, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc. Ban đầu ông đến tham vấn Đại Giác (大覺) ở Ngụy Phủ (魏府, Tỉnh Hà Bắc), sau đến tham yết Bảo Thọ Chiểu (寳壽沼) ở Trấn Châu (鎮州, Tỉnh Hà Bắc) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Tây Viện vùng Nhữ Châu (汝州, Phủ Nam Dương, Tỉnh Hà Nam).
tây viện tư minh
Hsi-Yuan Ssu-ming (C), Xiyuan Siming (C), Sain Shimyo (J)Thiền sư thế kỷ thứ 9.
tây vương mẫu
Hsi wang-mu (C), Royal Mother of the West Tên một vị thiên.
Tây Vức, Tây Vực
(西域): tên gọi chung một dãy các nước ở phương Tây theo tri thức của người Ấn Độ xưa, phạm vi của nó không thể nào hạn định một cách nghiêm mật được. Rộng ra bao gồm cả Ấn Độ, Iran, Ai Cập hiện tại, còn về nghĩa hẹp nó ám chỉ khu vực trung ương Châu Á trong vùng bản địa Tarim của miền Nam bán bộ Tỉnh Tân Cương; ở trung tâm cao nguyên Pamir về phía Đông có các nước như Cao Xương (高昌), Quy Tư (龜茲), Sớ Lặc (疏勒), Sa Xa (莎車), Vu Chấn (于闐); về phía Tây có Giả Thời (赭時), Táp Mạt Kiến (颯秣建), Đỗ Hóa La (覩化羅), v.v. Trong Tây Vức Truyện (西域傳) của Hán Thư (漢書) có ghi khoảng hơn 30 nước phân bố trong địa khu Tây Vức, cho nên mới có thuyết “Tây Vức Tam Thập Lục Quốc (西域三十六國).” Trước khi Trương Khiên (張騫, ?-114 trước CN) đả thông Tây Vức, Hung Nô (匈奴) chi phối thế lực các nước trong khu vực này. Đến thời Hán, phạm vị quản hạt của cơ quan hành chính Tây Vức Đô Hộ Phủ (西域都護府) có 36 nước. Sau này cao tăng Huyền Trang (玄奘, 602-664) có viết tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō No. 2087) 12 quyển. Trong Phật Giáo, Tây Vức được dùng để chỉ cho Ấn Độ, quốc độ của chư Phật, Bồ Tát. Như trong bài cúng linh có câu: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”
tây vực
Xem Ấn độ.
; Western countries.
tây vực chí
(西域志) I. Tây Vực Chí. Cũng gọi Đại tùy tây quốc truyện. Địa chí, 10 quyển, do ngài Ngạn tông soạn vào đời Tùy. Nội dung sách này ghi chép các chùa tháp và những điều mà ngài Đạt ma cấp đa thấy nghe khi ngài đi qua các nước theo Đại thừa và Tiểu thừa ở vùng Tây vực. Toàn sách gồm 10 mục: Phương vật, Thời tiết, Cư xứ, Quốc chính, Học giáo, Lễ nghi, Ẩm thực, Phục chương, Bảo hóa và Sơn hà quốc ấp nhân vật... [X. Đại đường nội điển lục Q.5, Tục cao tăng truyện Q.2]. II. Tây Vực Chí. Địa chí, 1 quyển, do ngài Đạo an (312- 385) soạn. Theo Thủy kinh chú quyển 2 thì sách này dịch rõ các danh từ về địa lí, sản vật ở Tây vực và những kí sự có liên quan đến Phật giáo.
tây vực cầu pháp cao tăng truyện
Biographies of famous pilgrims, fifty six in number, with four added; it is by Nghĩa Tịnh.
tây vực ký
Records of Western countries.
tây vực phật giáo
(西域佛教) Phật giáo ở các nước vùng Tây vực. Danh từ Tây vực được nói trong lịch sử, thực không có phạm vi nhất định, vả lại, tên gọi của các nước Tây vực cũng tùy theo sự biến chuyển của thời đại mà luôn thay đổi. Riêng danh từ Tây vực trong lịch sử Phật giáo thì chỉ cho các khu vực phải đi qua khi truyền Phật giáo từ Ấn độ đến Trung quốc bằng đường bộ. Đại khái các khu vực ấy là: Đại hạ dưới quyền thốnglãnh của Đại nguyệt chi vào thế kỉ III trước Tây lịch kỉ nguyên, một phần Afghanistan, Ca thấp di la, một phần địa phương Ngũ hà, miền bắc Ba tư dưới quyền thống lãnh của nước An tức, Sagdiana (Để lật qua) thuộc phạm vi quyền quản trị của nước Khang cư... Còn các nước có liên quan với Phật giáo thì về phía tây dãy Thông lãnh có Nguyệt chi (nay là Turkestan, Afghanistan và Bắc Ấn độ), An tức, Khang cư (nay là miền Bắc Turkestan, miền Nam Siberia), Kiện đà la, Kế tân (tức Ca thấp di la, và nay là Kashmir thuộc Ấn độ); về phía đông dãy Thông lãnh thì có Vu điền, Chước cú ca (phía đông nam Sa xa hiện nay), Cưu tư (nay là Khố xa), Sớ lặc (nay là Khách thập cát nhĩ), Cao xương (nay là Thổ lỗ phiên)... Trong đó, Kiện đà la và Kế tân là 2 nước quan trọng nhất. Sự hưng thịch của Phật giáo Tây vực bắt đầu vào khoảng năm 260 trước Tây lịch, vua A dục từng phái các ngài Ma ha lặc khí đa (Phạm:Mahàrakkhita) và Mạt xiển đề (Phạm: Majjhàntika) đến vùng này truyền giáo. Ngài Ma ha lặc khí đa chủ yếu truyền đạo ở nước Du na (Yona) là thực dân địa của Hi lạp thuộc miền Tây bắc Ấn độ, từ đó mở rộng phạm vi đến các vùng Afghanistan, An tức, Khang cư...; còn ngài Mạt xiển đề thì hoằng pháp tại các nơi Kiện đà la, Ca thấp di la... Phật giáo ở Tây vực lưu hành rất nhanh, thậm chí Cao xương thờ làm quốc giáo. Thời kì này là thời tột đỉnh của Phật giáo Tây vực. Trước đó, Phật giáo đã đi qua Tây vực để sang phía đông đến Trung quốc, có nhiều bậc cao đức danh tăng từ các nước Tây vực cũng đến Trung quốc truyền dịch kinh điển, như các ngài An thế cao, Đàm vô đế, An pháp hiền, An pháp khâm... người nước An tức; các ngài Chi lâu ca sấm, Chi diệu, Chi khiêm, Pháp hộ, Chi pháp độ, Đàm ma nan đề, Chi đạo căn... người nước Nguyệt chi; các ngài Khang cự, Khang mạnh tường, Khang tăng khải, Khang tăng hội, Đàm đế...người nước Khang cư; các ngài Bạch diên, Bạch thi lê mật, Bạch pháp cự, Phật đồ trừng, Liên hoa tinh tiến... người nước Cưu tư; các ngài Tăng già bạt trừng, Tăng già đề bà, Tăng già la xoa, Đàm ma da xá, Phất nhã đa la, Ti ma la xoa, Cầu na bạt ma... người nước Kế tân. Từ thế kỉ II đến thế kỉ V Tây lịch, các giáo phái Phật giáo Tây vực phần nhiều thuộc Tiểu thừa. Các nước thịnh hành Tiểu thừa lúc bấy giờ gồm có Sớ lặc, Kế tân, Kiện đà la; các nước trong đó tư tưởng Đại thừa và Tiểu thừa song song lưu hành nhưng vấn lấy Tiểu thừa làm chính thì gồm An tức, Khang cư, Cưu tư... Còn các nước trong đó chỉ có Đại thừa thịnh hành thì gồm có nước Chước cú ca, Cao xương, Vu điền... Thếkỉ V về sau, nhân có các ngài Vô trước (Phạm: Asaôga) và Thế thân (Phạm: Vasubandhu) xuất hiện ở Kiện đà la nên xu thế của Phật giáo Đại thừa có cơ phát triển ở miền Bắc Ấn độ. Theo với đà truyền bá Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo như kiến trúc, điêu khắc, hội họa... cũng nhân đó mà phát triển. Nguyên liệu tạo tượng Phật thì phần nhiều là đất sét, sơn đen, tranh Phật thì bích họa là chính, còn kiểu dáng thì phần nhiều thuộc hệ thống Kiện đà la hòa hợp 3 tinh thần Hi lạp, La mã và Ấn độ. Ngoài ra, cũng có kiểu Hồi cốt, kiểu Lạt ma. Từ thế kỉ VII về sau, sắc thái mĩ thuật Trung quốc dần dần đậm nét, các di vật phần nhiều ở vùng Thổ lỗ phiên. Phạm vi đề tài, về tượng Phật thì chủ yếu là tượng đức Phật và các bồ tát Quan âm, Văn thù...; về hội họa thì lấy các sự tích trong kinh Hiền ngu, kinh Lụcđộtập... làm đối tượng. Về việc biên soạn, viết chép và phiên dịch kinh điển ở Tây vực cũng rất thịnh hành. Chỉ riêng ở 2 nơi Cao xương và Vu điền không thôi, người đời sau đã phát hiện các kinh như: A hàm (kinh Ưu bà lợi), Tiểu bộ kinh tạng, Bát nhã, Bí mật (Vô lượng môn đà la ni, Đại bạch tản cái chú), Đại tích(Nguyệt tạng phần, Bảo tràng, Nhật tạng phần, Hiền hộ phần)... tất cả gồm hơn 20 loại. Khoảng thế kỉ VI, Hồi giáo mới được sáng lập đã dùng bạo lực quân sự để truyền giáo, vó ngựa họ đến đâu là Phật giáo bị tiêu diệt đến đấy, cho nên từ thế kỉ VII đến thế kỉ XV, Phật giáo các nước Tây vực như An tức, Đại nguyệt chi, Khang cư, Đại hạ, Ca thấp di la, Kiện đà la, Sớ lặc, Vu điền, Cưu tư, Cao xương... đã lần lượt bị diệtcho đến tuyệt tích. Thời kì gần đây, phong trào học giả các nước đến Đông bộ Thổ nhĩ kì tư thản (Eastern Turkestan) thám hiểm khảo cổ rất thịnh, qua nhiều lần khai quật các nơi như Khố xa, Hòa điền, Thổ lỗ phiên, Khách lạt sa nhĩ, Đôn hoàng thiên Phật động, Ô lỗ mộc tề, La bố nặc nhĩ... đã đào được tượng Phật, tranh Phật, kinh điển và các di vật văn hóa khác, nhờ đó đã giúp cho việc nghiên cứu văn vật Tây vực tiến được một bước dài.[X. Sử kí đại uyển liệt truyện thứ 63; Đường thư tây vực liệt truyện thứ 146; Hán tây vực đồ khảo; Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 43 đến 73; Tây vực chi Phật giáo; Trung ương á tế á thám hiểm chi kinh quá dữ thành quả; Tây vực Phật giáo chi nghiên cứu (Vũ khê Liễu đế, Tông giáo nghiên cứu số đặc biệt); Cathay and the Way Thither,vol. 1 (H. Yule)]. (xt. Ca Thấp Di La Quốc, Kiện Đà La Quốc).
tây vực trung hoa hải đông phật tổ nguyên lưu
(西域中華海東佛祖源流) Cũng gọi Phật tổ nguyên lưu. Sử truyện, 2 tập, do ngài Sư nham Thái vĩnh người Hàn quốc biên chép và ấn hành vào năm 1764. Nội dung chép lại từ sự tích ứng hóa thành đạo của đức Thích ca Như lai (do ông Vương bột soạn vào đời Đường) đến việc nói về các môn phái như phái Tiên dương ngạn cơ... vàphổ hệ truyền thừa của Thiền tông(tông Tào khê)Hàn quốc. Đây là sử liệu quan trọng để nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Đại hàn.
tây vực tự
(西域寺) Chùa ở chân núi phía tây nam núi Thạch kinh, huyện Phòng sơn, Bắc bình, được xây cất vào đời Tùy, Đường. Chùa có cấu trúc qui mô, hoành tráng, tháp Phật trang nghiêm, tương truyền dưới tháp có chôn những bản kinh Phậtkhắc trên đá. Chùa này vốn có tên là Đông dục tự, đến đời Minh mới được đổi là Tây vực tự. Vào những năm đầu đời Thanh, 2 vị Tượng Phật ngồi đắp bằng đất ở Eastern Turkestan Đại sư là Siêu cổ và Tăng quảng nối tiếp nhau trụ trì, chùa lại càng hưng thịnh, đồng thời lại được đổi tên lần nữa là Tây vực vân cư thiền lâm. Nhưng từ thời Dân quốc trở đi, vì trải qua nhiều lần binh lửa, cho nên chùa đã bị hoang phế từ lâu.
Tây Ðường Trí Tạng
西堂智藏; C: xītáng zhìcáng; J: seidō chizō; 734/735-814;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Mã Tổ. Sư với Nam Tuyền, Bách Trượng là bạn đạo và là môn đệ xuất sắc của Mã Tổ. Sau khi Mã Tổ tịch, Sư được thỉnh ở lại giáo hoá. Sau Sư đến Tây Ðường trụ trì.|Sư xuất thân từ Kiền Hoá (虔化). Sư xuất gia vào thời niên thiếu, chẳng bao lâu sau hành cước đến Kiến Dương (建陽), làm môn đệ của Mã Tổ Đạo Nhất, cùng được ấn chứng với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海). Sau đó sư dạy thiền tại Tây Đường tự (西堂寺) ở Kiền Châu. Sư nổi tiếng đã dạy nhiều môn đệ từ nhiều nước khác nhau, bao gồm những cao tăng sau nầy như Đạo Nghĩa (道義, k: toŭi), Hồng Trắc (洪陟, k: hongch'ŏk) và Huệ Triệt (慧徹, k: hyech'ŏl) vào triều đại Tân La, Hàn Quốc. Sư viên tịch năm 814 lúc 80 tuổi. |Có một Cư sĩ (Trương Chuyết Tú Tài) đến hỏi: »Có thiên đường địa ngục không?« Sư đáp: »Có.« Cư sĩ hỏi: »Có Phật, Pháp, Tam bảo không?« Sư đáp: »Có.« và cứ như vậy câu hỏi nào Sư đều trả lời »Có.« Cư sĩ thưa: »Hoà thượng nói thế có lầm chăng?« Sư hỏi lại: »Ông gặp vị Tôn túc nào rồi mới đến đây?« Cư sĩ trả lời là đã đến thăm Hoà thượng Cảnh Sơn và Cảnh Sơn nói tất cả đều không. Sư hỏi: »Ông có vợ không?« Cư sĩ đáp: »Có.« Sư hỏi tiếp: »Hoà thượng Cảnh Sơn có vợ không?« Cư sĩ trả lời: »Không.« Sư bảo: »Hoà thượng Cảnh Sơn nói không là phải.« Cư sĩ lễ tạ.
Tây Đường Trí Tàng
(西堂智藏, Seidō Chizō, 735-814): xuất thân vùng Kiền Hóa (虔化), Quận Nam Khang (南康, thuộc Tỉnh Triết Giang), họ là Liêu (廖). Năm lên 8 tuổi (có thuyết cho 13 tuổi), ông đến tham học với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) ở Tây Lí Sơn (西裡山), Lâm Xuyên (臨川, thuộc Tỉnh Triết Giang), sau theo học với Quốc Nhất Đạo Khâm (國一道欽) và khai mở pháp tịch giáo hóa ở Cung Công Sơn (龔公山). Ông cùng với Hưng Thiện Duy Khoan (興善惟寛) chia tông phong của Mã Tổ thành hai phần, và ông cùng với Bách Trượng Hoài Hải (百杖懷海) là đại đệ tử của Mã Tổ. Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm năm thứ 9 (814) niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 55 hạ lạp. Ông được sắc phong thụy hiệu là Đại Tuyên Giáo Thiền Sư (大宣敎禪師), Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師).
tây đường
(西堂) Cũng gọi Tây am. Đối lại: Đông đường, Đông am. Từ xưng hô vị Trụ trì chùa khác đã từ nhiệm hiện đến trú ngụ ở bản tự. Còn vị Trụ trì tiền nhiệm của bản tự thì gọi là Đông đường, Đông am. Vì lấy phương đông làm Chủ vị, phương tây làm Tân vị (Khách vị), đón vị Trụ trì của chùa khác đã từ nhiệm đến lưu ngụ Tây đường và tiếp đãi như bậc tân khách nên gọi là Tây đường. Nhưng tại Nhật bản, có nơi lấy Đông đường và Tây đường làm cấp bậc, xếp Tây đường dưới Đông đường. Hiện nay lại có nơi ví vị Trụ trì là Đông đường, còn vị Trưởng lão phụ tá Trụ trì, hướng dẫn đại chúng, thì được gọi là Tây đường. Ngoài ra, trong Tây đường, các vị có danh tiếng và đức hạnh hơn thì gọi là Danh đức Tây đường; còn vị thị giả ở Tây đường thì gọi là Tây đường hành giả. Những chỗ ngồi trong Tây đường, gọi là Tây đường bản đầu. [X. chương Trụ trì, chương Chúc li trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.thượng, chương Lưỡng tự trong Q.hạ; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tây đường trí tạng
Seidō Chizō (J)Tên một vị sư.
tây đại thừa giáo
(西大乘教) Tông giáo dân gian, do bà Lữ ngưu sống tại thôn Hoàng, ngoại ô phía tây Bắc bình sáng lập vào đời Minh, Trung quốc. Bởi vì Văn hương giáo do Vương sâm ở cửa khẩu Thạch Phật, Loan châu, tỉnh Hà bắc, sáng lập gọi là Đông đại thừa giáo nên tông giáo này gọi là Tây đại thừa giáo. Giáo chủ Lữ ngưu cũng gọi là Lữbồ tát, Lữ tổ. Cứ theo Phổ độ tân thanh cứu khổ bảo quyển thì Lữ tổ là hóa thân của Vô sinh lão mẫu và Quan âm. Khi vua Anh tông (ở ngôi 1436-1449) nhà Minh đích thân cầm quân đánh Ngõa thích, Lữ tổ hóa làm bà già điên khùng, đứng giữa đường khuyên can ngăn trở, nhưng không ngăn được. Sau, vua Anh tông thua trận bị bắt ở thành Thổ mộc (phía tây huyện Hoài lai, Sát cáp nhĩ), Lữ tổ đem thức ăn uống cho vua. Khi vua được tha, trên đường trở về triều, Lữ tổ lại khuyên vua giữ im lặng. Đến khi vua lên ngôi trở lại, vua liền ban chiếu xây chùa Bảo minh (tức Thuận thiên Bảo minh hoàng cô tự) ở thôn Hoàng, ngoại ô kinh đô để cúng dường Lữ tổ bồ tát, làm đất sở tại của Tây đại thừa giáo. Khoảng năm Gia tĩnh, triều đình hủy bỏ chùa này.
Tây Đại Tự
(西大寺, Saidai-ji): ngôi già lam hiện tọa lạc tại Nara-shi (奈良市), một trong 7 ngôi chùa lớn của vùng Nam Đô, Đại Bản Sơn của Chơn Ngôn Luật Tông. Vào năm thứ 8 (764) niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (天平寳字), khi vụ loạn của Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ (藤原仲麻呂, Fujiwara-no-Nakamaro) dấy khởi, Hiếu Khiêm Thượng Hoàng (孝謙上皇, Kōken Jōkō) nhân cầu nguyện chiến thắng quân phản loạn, đã phát nguyện tạo lập bức tượng Tứ Thiên Vương bằng đồng vàng cao 7 tấc. Đây chính là khởi nguyên của chùa. Sau khi Trọng Ma Lữ bị giết chết, Xưng Đức Thiên Hoàng (稱德天皇, Shōtoku Tennō) có ý muốn xây dựng một ngôi chùa ở phía Tây để đối xứng với ngôi chùa phía Đông là Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Trong bản Tây Đại Tự Tư Tài Lưu Ký Trương (西大寺資財流記帳) có ghi rõ trạng huống đương thời lúc xây dựng chùa như thế nào. Trong khuôn viên rộng lớn có khoảng hơn 110 ngôi đường vũ như 2 ngôi Kim Đường Dược Sư và Di Lặc, 2 ngôi tháp ở phía Đông và Tây, Tứ Vương Đường, Thập Nhất Diện Đường Viện, v.v. Sự hưng thịnh của chùa này có thể sánh ngang hàng với Đông Đại Tự. Thế nhưng, khi kinh đô được dời về Bình An (794), cảnh chùa nhanh chóng đi đến tình trạng suy tàn. Theo bản Thất Đại Tự Tuần Lễ Tư Ký (七大寺巡禮私記) được viết vào năm thứ 6 (1140) niên hiệu Bảo Diên (保延) thuộc cuối thời Bình An, chùa chỉ còn lại nhà ăn, Tứ Vương Viện và 1 ngôi tháp mà thôi. Đến thời kỳ Liêm Thương, khi Duệ Tôn (叡尊, Eison)—vị tổ thời Trung Hưng—đến làm trú trì, chùa mới được phục hưng trên quy mô lớn và làm cho chùa hưng thịnh. Việc này được ghi lại trong Cảm Thân Học Chứng Ký (感身學証記), v.v. Tuy nhiên, trận hỏa tai vào năm thứ 2 (1502) niên hiệu Văn Quy (文龜) thuộc thời đại Thất Đinh, đã làm cho ngôi già lam đi đến tình trạng hoại diệt, chỉ còn sót lại Trung Môn của Tứ Vương Đường, Thạch Tháp Viện, Địa Tạng Viện, Đông Đại Môn. Những ngôi đường vũ còn lại phải đợi đến thời Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) cúng dường đất chùa mới có thể tái hưng được. Quần thể hiền tồn chủ yếu có Chánh Điện (本堂), Ái Nhiễm Đường (愛染堂), Tứ Vương Đường (四王堂), Đại Hắc Thiên Đường (大黑天堂), Hộ Ma Đường (護摩堂), Lầu Chuông, Sơn Môn, v.v., là kiến trúc được tái kiến dưới thời Giang Hộ. Bảo vật của chùa có bức tượng đứng Thích Ca Như Lai bằng gỗ (do Thiện Khánh [善慶] tạc, thời đại Liêm Thương), tượng ngồi Ái Nhiễm Minh Vương (愛染明王) bằng gỗ (do Thiện Viên [善圓] tạc, thời đại Liêm Thương), tượng ngồi Hưng Chánh Bồ Tát (興正菩薩) bằng gỗ (do Thiện Xuân [善春] tạc, thời đại Liêm Thương), v.v.
té
To fall—To tumble.
tên giả
False name.
tên thật
Real name.
tên tuổi
Name and age.
Tì
毘; C: pí; J: bi;|1. Giúp đỡ, trợ giúp; 2. Liệng bỏ; 3. Dùng để kí âm »vi« (वि) trong tiếng Phạn.
tì bà ha la
Ekavyavahàrika (S). Buddhist sect. Also Nhất thuyết bộ, Chấp nhấtngữ ngôn bộ.
tì bà sa luận
Vibhàsa-sàstra (S). A philosophical treatise by Kàtyàyaputra.
tì bà thi
(Phật). Vipasyin (S). The first of the seven Buddhas of antiquity.
tì bà thi phật
Vibhāṣā (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
tì bà xá na
Vipasyanà (S), Vipassana (P). Discernment, insight, correct perception or view. Also quán, minh sát thiền.
tì bát la quật
Xem Tất bát la.
tì bạt trí
thoái lui
tì da li
Vesali (S). Actual Basarth. Also Tì xá li, Quảng nghiêm thành.
tì già la na, thụ ký
Vyàkarana (S). Prediction, formal prophecy.
tì ha la
Vihàra (S). Monastery. Also tịnh xá.
tì kheo tăng chúng
Bhikkhusaṃgha (P), The order of fully ordained monks.
tì khưu (kheo)
Bhiksu (S). Monk, religious mendiant. Also khất sĩ, sư ông.
tì khưu ni
Bhiksuni (S). Nun. Also sư bà.
tì la tiện na
Xem Dũng quân vương.
tì lam
Vairambhā(ka) (S), Veramba (P)Phệ lam, Tì lam bà, Tùng lam, bạo phongTên một cơn gió dữ, cơn gió này đến đâu chỗ ấy tan tác.
tì lam bà
Xem Tì lam.
tì lam phong
Vairambha (S). The great wind which finally scatters the universe; the circle of wind under the circle of water on which the world rests. Also tì lam bà, bạo phong.
tì li da
Virya (S). Tinh tấn, cần hành.
tì li da ba la mật
Xem Tinh tấn ba la mật.
tì lê da
Virya (S). Virility, strength, energy.
tì lê da ba la mật
Virya Pàramità (S). Zeal, pure progress, the fourth of the ten pàramitàs.
tì lê gia ba la mật
Xem Tinh tấn Ba la mật.
tì lô giá na phật
Mahàvairocana-Buddha (S). Great Sun Buddha. Also Đại Nhật Như Lai.
tì lăng già
Xem Lăng già.
tì lư xá na phật
Vairocana-Buddha (S). Sun Buddha. Đại nhật Như lai.
tì lưu li
Virùdhaka (S). (1) Southern God Protector. Also Tăng trưởng thiên vương. (2) Crystal King, or Ác sinh vương (3)-born king, a king of Kosala (son of Prasenajit, Ba tư nặc), destroyer of Kapilavastu.
tì ma la
Vimàla (S). A great disciple of the Buddha.
tì ma la cật
Vimàlakìrti (S). A great Buddhist. Also Duy Ma cật, Tịnh Danh.
tì ma na kinh
Xem Tí ma túc Kinh.
tì ma túc kinh
Vekkhasana-sùtra (S)
tì mạt la mật đa la
Xem Vô cấu hữu luận sư.
tì na dạ ca thiên
Xem Chướng ngại thần.
tì ni
Xem Luật.
; Vinaya (S). Moral training; the disciplinary rules; precepts and commands.
tì ni tạng
Xem Luận tạng.
tì ni đa lưu chi
Vinitaruci (S)Diệp Hỷ thiền phái, Tì Ni Đa Lưu Chi thiền pháiNăm 574 qua Trung hoa, không may gặp nạn Châu vũ, đến Hồ nam gặp tổ Tăng Xán, được truyền tâm ấn. Năm 580 qua Việt nam trụ trì chùa Pháp vân. Ngài là tổ Thiền tông đờI thứ nhất của VN. Năm 594 Ngài truyền cho Pháp Hiền. Pháp hệ này truyền 28 đời từ 626 đến 1216.
; Vinìtaruchi (S). Name of a Patriarch.
tì ni đa lưu chi thiền phái
Xem Tì Ni Đa Lưu Chi.
tì nại da
Vinaya (S) Monastic discipline. Also luật, tì ni (cựu dịch).
tì nại da tạng
Vinaya-Pitaka (S). Basket of Discipline. Also Luật tạng.
tì nữu (thiên)
Vishnou (S)
tì phú la
Vipula (S). A mountain near Kusàgàrapura in Magadha.
tì phật lược (kinh)
Vaipulya (S). Large, spacious, phương quảng. The term is applied to sùtras of an expanded nature, especially expansion of the doctrine; in Hìnayàna the Agàmas, in Mahàyàna the sùtras of Hoa Nghiêm and Pháp Hoa type.
tì sa bà phật
Xem Tì xá phù.
tì sa môn thiên
Xem Dư Thiên vương.
tì sa môn thiên vương
Vaisravana (S). One of the four Mahàrajàs, guardian of the north, king of the Yaksas. Has the tittle Đa Văn, Phổ Văn universal or much hearing or learning.
tì sa mật đa la
Visvàmitra (S). The teacher of the prince Siddhartha.
Tì thế
毘世; C: píshì; J: bisei; |Phiên âm chữ Vaiśeṣika trong tiếng Phạn. Xem Thắng luận.
tì xá
Vesa (S). Entrance, home, house, adornment, prostitute; but it is probably Vaisya, the third cast of farmers and traders. Also Phệ xá.
tì xá khư mẫu
Visàkhà (S). A wealthy matron who with her husband gave a vihàra to Sakyamuni, wife of Anàthapindika. Also Lộc mẫu.
tì xá li
Vaisali (S). An ancient kingdom and city ođ the Licchavis, where the second synod was held, near Basarth.
tì xá phù phật
Visvabhù (S). The second Buddha of the 31st kalpa. The last (1,000th) Buddha of the preceding kalpa, the third of Sapta Buddha Thất Phật.
tì đề ha
Videha (S). Continent at the east of Mt Meru. Also Đông thắng thần châu, Đông đại châu.
tì, tỉ
Contiguous; surrounded; hemmed in; liberal; to aid; manifest.
Tì-bà-sa
毘婆沙; C: pípóshā; J: bibasha;|Phiên âm chữ vibhāṣā trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự chọn lựa, hoặc cái nầy hay cái kia. Một lối diễn dịch rộng hơn và giải thích khác hơn.
Tì-bà-sa bộ
毘婆娑部; S: vaibhāṣika; nguyên ngĩa là »bộ phái của những người theo Tì-bà-sa luận«;|Một nhánh được thành lập sau của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Như danh hiệu nêu rõ, bộ phái này dựa trên hai tác phẩm A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận (s: abhi-dharma-mahāvibhāṣā) và Tì-bà-sa luận (vibhāṣā), có nhiều cống hiến cho A-tì-đạt-ma (abhidharma) của Nhất thiết hữu bộ.
Tì-bà-sa luận
毘婆沙論; C: pípóshā lùn; J: bibasharon; S: vibhāṣā-śāstra |Là một chuyên luận triết học của Ca-đa-diễn-ni tử (s: kātyāyanīputra). Những người theo Đại Tì-bà-sa luận (s: vaibhāṣika) vốn là đệ tử của phái Hữu bộ. A-tì-đạt-ma Đại Tì-bà-sa luận (阿毘達磨大毘婆沙論).
tì-bà-thẩm-sá
, ẩn sĩ Vessṃmitta (P).
Tì-bà-xá-na
毘婆舍那; C: pípóshènà; J: bibashana;|Phiên âm từ chữ vipaśyanā trong tiếng Phạn và chữ vipassanā trong tiếng Pāli. Hán dịch là Quán. Là pháp thiền quán sát hay phân tích, thường được hiểu là bước kế tiếp trong pháp thiền Chỉ (s: śamatha) của Phật giáo.
Tì-bát-xá-na
毘鉢舎那; C: píbōshènà; J: bibasshana; |Còn gọi là Tì-bà-xá-na (毘婆舎那). Phiên âm chữ vipaśyanā trong tiếng Phạn, là pháp thiền quán chiếu hay phân tích theo giáo lí Phật pháp, đi cùng với pháp thiền Chỉ (止, s: śamatha).
Tì-câu-chi
毘倶胝; C: píjùzhī; J: biguchi; S: bhrukuṭi.|Một trong 37 vị Bồ Tát trong Thai tạng giới (胎藏界, s: garbha-dhātu)
Tì-da
毘耶; C: píyé; J: biya; S: vaiśāli|Quê hương của Duy-ma-cật (s: vimalakīrti).
Tì-da quật
毘耶窟; C: píyé kū; J: biyakutsu; |»Trượng thất tại thành Tì-da«, chỉ cho căn phòng của Duy-ma-cật, trong văn học thiền thường dịch là phương trượng, »một trượng vuông« (tương đương 9 mét vuông). Đây là thuật ngữ chỉ cho sự kính trọng đối với nơi ở của vị trú trì, hay đối với chính vị trú trì một thiền viện.
Tì-da-khư-lê-na
毘耶佉梨那; C: píyéqūlínà; J: biyakyo-rina;|Phiên âm chữ vyākaraṇa trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự báo trước tương lai sẽ thành Phật do Đức Phật bảo cho đệ tử, thường dịch là Thụ kí (授 [受] 記). Là một trong 12 thể loại truyền thống của kinh văn Phật giáo.
Tì-lam-bà
毘藍婆; C: pílánpó; J: biranba; S: vilambā|Một trong 10 loại la-sát nữ hộ trì Phật pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập la-sát nữ.
Tì-lê-da
毘梨耶; C: pílíyé; J: biriya;|Phiên âm chữ vīrya từ tiếng Phạn, có nghĩa là nỗ lực, cố gắng, tinh tiến. Tiếng Hán thường dùng là Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進). Là một trong sáu ba-la-mật (六波羅蜜).
Tì-lô-giá-na
毘盧遮那; C: pílúzhēnà; J: biroshana; S: vairocana;|Đại Nhật Như Lai (大日如來).
Tì-lô-xá-na Phật
毘盧舎那佛; C: pílúshènà fó; J: biroshana-butsu; S: vairocana buddha. |Còn viết Tì-lô-giá-na. Vairocana có nghĩa là »chiếu khắp«, tiếng Ấn Độ chỉ cho mặt trời. Đức Phật nầy có trí huệ thấm nhuần khắp mọi nơi, là biểu tượng chính của Hoa Nghiêm tông.
Tì-lưu-li
毘琉璃; C: píliúlí; J: biruri; S: vaiḍūrya.|Đá quý màu xanh. Lam ngọc. Một trong bảy loại châu báu. Còn viết là Lưu li (琉璃).
Tì-ma-chất-đa-la
毘摩質多羅; C: pímózhíduōluó; J: bimashit-tara; S: vimalacitra.|Tên một vị vua A-tu-la.
Tì-na-da
毘那耶; C: pínàyé; J: binaya;|Phiên âm chữ vinaya trong tiếng Sanksrit và Pāli, Hán dịch là Luật. Phần kinh văn ghi rõ giới luật, như là chỉ dẫn cho mọi sinh hoạt hằng ngày của tăng sĩ Phật giáo. Còn phiên âm là Tì-nại-da (毘奈耶).
Tì-ni
毘尼; C: píní; J: bini;|Hệ thống giới luật (s: vinaya) mà các tăng sĩ Phật giáo phải tuân thủ. Xem Giới luật.
Tì-ni tạng
毘尼藏; C: pínízàng; J: binizō; S: vināya-piṭaka.|Tạng luật trong kinh tạng Phật giáo, nội dung gồm giới luật. Xem Giới luật.
Tì-ni-đa Lưu-chi
毘尼多流支; S: vinītaruci; ?-594; dịch nghĩa là Diệt Hỉ (滅喜); |Thiền sư Ấn Ðộ sang Trung Quốc tham học, môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán và là người khai sáng thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi tại Việt Nam.|Sư là người Nam Thiên Trúc (Ấn Ðộ), thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Sư thuở nhỏ đã có ý chí khác thường, đi khắp mọi nơi cầu học Phật pháp. Năm 574, Sư sang Trung Quốc và nhân đây có cơ hội yết kiến Tam tổ Tăng Xán tại núi Tư Không. Thấy cử chỉ uy nghiêm của Tổ, Sư bỗng đem lòng kính mộ, đứng trước vòng tay cung kính. Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt không nói. Sư đứng im suy nghĩ giây lát bỗng nhiên tự ngộ, liền quì xuống lạy ba lạy. Tổ thấy vậy cũng chỉ gật đầu ba lần. Sư muốn đi theo hầu Tổ nhưng Tổ lại khuyên đến phương Nam giáo hoá.|Sư sang Việt Nam khoảng cuối thế kỉ thứ sáu (~580), cư trú tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) tỉnh Hà Bắc. Nơi đây Sư dịch bộ kinh Ðại thừa phương quảng tổng trì, sau khi đã dịch xong bộ Tượng đầu tinh xá tại Trung Quốc.|Trước khi tịch, Sư gọi đệ tử là Pháp Hiền đến và phó chúc: »Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn như thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, vốn không có chỗ sinh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa và cũng chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi… Tổ Tăng Xán khi Ấn khả chứng minh tâm này cho ta bảo ta mau về phương Nam giáo hoá. Ðã trải qua nhiều nơi nay đến đây gặp ngươi quả là phù hợp với lời huyền kí. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến.«|Nói xong, Sư chắp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hoả táng, thâu Xá-lị và xây Tháp thờ cúng, nhằm niên hiệu Khai Hoàng đời nhà Tuỳ, năm 594.|Người ta cho rằng Sư là tổ Thiền tông Việt Nam. Nhưng cũng có khuynh hướng cho rằng Khang Tăng Hội mới là người khởi xướng dòng thiền tại Giao Chỉ. Dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi lấy kinh Tượng đầu tinh xá làm nền tảng, chú trọng tư tưởng Bát-nhã và tu tập thiền quán. Phái thiền này để lại ảnh hưởng rất lớn lên các vua đời Lí như Lí Thái Tông.|Hệ thống truyền thừa của thiền phái này không được lưu lại đầy đủ, sử sách ghi chép lại không rõ, khi tỏ khi mờ, truyền được 19 thế hệ với Sư là Sơ tổ và chấm dứt với Y Sơn (mất năm 1213).
Tì-nại-da
毘奈耶; C: pínàiyé; J: binaya; |Phiên âm chữ vinaya từ tiếng Phạn và Pali, Hán dịch nghĩa là Luật. Phần kinh văn ghi rõ giới luật, như là chỉ dẫn cho mọi sinh hoạt hằng ngày của tăng sĩ Phật giáo.
Tì-nại-da kinh
毘奈耶經; C: pínàiyē jīng; J: binaya kyō; |1 quyển. Chữ »Giới luật« (Tì-nại-da 毘奈耶, s: vinaya) trong đề kinh chỉ cho sự kiềm chế 6 giác quan của người tu tập thiền định.
Tì-phật-lược
毘佛略; C: pífólüè; J: hibutsuryaku; |Phiên âm chữ vaipulya trong tiếng Phạn, là một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Đây là những bản kinh mà đề tài trải rộng cho mọi căn cơ. Hán dịch ý là Phương quảng (方廣).
Tì-sa-môn
毘沙門; C: píshāmén; J: bishamon; S: vaiśravaṇa|Xem Đa văn thiên (多聞天).
Tì-xá
毘舍; C: píshè; J: bisha;|Phiên âm chữ vaiśya trong tiếng Phạn, là giai cấp thứ 3 trong 4 giai cấp của xã hội Ấn Độ – là giai cấp thương gia.
Tì-xá-li
毘舍離; C: píshèlí; J: bishari; S: vaiśālī|Tên của thành Tì-xá-li và nước Tì-xá-li ở vùng Trung Ấn trong thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tại thế.
Tì-xá-li quốc
毘舍離國; C: píshèlíguó; J: bisharikoku; |Quốc gia Tì-xá-li (s: vaiśālī) thuộc vùng Trung Ấn, chủng tộc Licchavī cư ngụ ở đó. Là 1 trong 16 quốc gia chính trong thời Đức Phật. Thủ đô còn gọi là thành Tì-xá-li, là nơi có nhiều Phật pháp lưu hành, ngày nay gọi là vùng Besarb, cách Patna 27 dặm về phía Bắc.
Tì-xá-li thành
毘舍離城; C: píshèlíchéng; J: bisharijō;|Thành Tì-xá-li (s: vaiśālī), nơi tổ chức kì kết tập kinh điển lần thứ 2, được tổ chức 100 năm sau khi Đức Phật nhập niết-bàn.
Tì-xá-li thành kết tập
毘舍離城結集; C: píshèlíchéng jiéjí; J: bisharijō ketsujū;|Kì kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ 2, được tổ chức tại thành Tì-xá-li. Xem Đệ nhị kết tập (第二結集).
Tì-đàm
毘曇; C: pítán; J: bidon;|1. Viết tắt từ Phiên âm chữ abhidharma, Phiên âm đầy đủ là A-tì-đàm (阿毘曇) và A-tì-đạt-ma (阿毘達磨), dịch nghĩa là Luận (論); 2. Thuật ngữ đề cập đến A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (倶舍論, s: abhidharmakośa-bhāṣya); 3. Đề cập đến học thuật hoặc học giả Tiểu thừa.
Tì-đàm tông
毘曇宗; C: pítánzōng; J: bidonshū; |Tông theo học thuyết A-tì-đạt-ma. Một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Hoa. Không thật sự là một tông phái Phật giáo đặc biệt thành lập ở Á Đông, nhưng đề cập đến những người chuyên tập trung nghiên cứu kinh luận của Nhất thiết hữu bộ, ví như Tạp A-tì-đàm tâm luận (雜阿毘曇心論).
tìm
To look (search—hunt) for—To seek.
tìm cách
To find a means.
tìm cách thoát khổ
To find a means to escape the worldly sufferings.
tìm dịp
To seek an opportunity.
tìm giải pháp
To seek solutions
tìm hiểu
Inquiry.
tìm kiếm
See Tìm.
tìm lỗi người
To look for faults in others—Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường nhìn lên, nhìn xuống, nhìn đông, nhìn tây, nhìn bắc, nhìn nam, cố tìm lỗi người. Phật dạy rằng chúng ta nên nhìn lại chúng ta, chúng ta nên phản quang tự kỷ để tự giác ngộ lấy chính mình—In daily life, always look above , look below, look to the east or to the west, to the north or to the south and so on to try to find faults in others. Buddha taught that we should look into ourselves, we should reflect the light of awareness inwardly to become enlightened.
tìm phương hóa giải những hoàn cảnh hổn loạn
To seek for a solution to chaotic situations.
tìm ra
To identify—To find out—To discover.
tìm thấy
To find—To discover.
tìm tòi
To research.
tìm đường
To find a way (means).
tình
The feelings, passions, desires, affections, sensations; sentient; affinities; affairs; facts. Particular affections, duties, or affairs.
; The feelings—Passions—Affections—Desires—Sensations—Sentient.
tình bạn
Friendship.
tình ca
Love-song.
tình cảm chan chứa
All-absorbing sympathy.
tình cảnh
Situation—Condition.
tình cờ
By accident—By chance.
tình dục
The passions, desires.
; Passions—Desires (sexual).
tình hình
Situation.
tình hữu
The realm of feeling, i.e. any world of sentience or feeling, especially this world as empirically cosidered; hữu tình is to have consciousness, the conscious or sentient. Tình hữu lí vô, empirically or sentiently existing, in essence or reality non existent.
; Hạng phàm phu cho rằng hết thảy cảnh giới không có lý mà chỉ có tình—World of sentience or the realm of feeling, especially this world as empirically considered—See Hữu Tình Chúng.
tình hữu lý vô
Kiến mê tình cho lý là vô thể—Empirically or sentiently existing, in essence or reality non-existent.
tình hữu nghị
Friendship.
tình kiến
The perverted views produced by passion or affection.
; Tà kiến được sản sanh bởi dục vọng và phiền não—The perverted views produced by passion or affection.
Tình kiến 情見
[ja] ジョウケン jōken ||| Discrimination; the defiled views influenced by sentiments. These views arise unawares due to ignorance. => Sự phân biệt; vọng tưởng nhiễm ô bị ảnh hưởng bởi tình thức. Những vọng kiến nầy sinh khởi không chủ ý do vô minh.
tình lý
Feeling and reason.
Tình lượng 情量
[ja] ジョウリョウ jōryō ||| Thought, calculation, conceptualization. False discrimination. => Suy nghĩ, tính toán, nhận thức. Phân biệt hư dối.
tình lụy
Love misfortune.
tình nghi
To suspect—To doubt.
tình nguyện
Volunteer to do something
Tình sinh trí cách 情生智隔
[ja] ジョウショウチカク jōshō chikaku ||| "When a thought arises, wisdom is obstructed" (said by Yün Men, Yün Men and others). => “Khi một niệm sinh khởi, trí tuệ bị ngăn che” lời của Vân Môn (Yün Men), Đạo Nguyên (Yün Men) và một số người khác.
tình thâm
Deep affection.
tình thương
Maithuna (J).
; Affection—Love—Compassion.
tình thương chân thật
Tình yêu chân thật là tình yêu có mục đích độ mình độ người—True love (to save oneself and to save others).
tình thật
Sincere sentiment.
tình thế
Situation—Circumstance.
tình thực
Actual situation.
tình trường
Love affair.
tình trạng
Condition—State—Circumstance.
tình trạng nguy cấp
Perilous circumstances.
tình trần
The six gunas or objects of sensation of the six organs of sense; sensation and its data; sensation data; passion defilement.
; Sự ô nhiễm của dục vọng hay lục trần—Passion-defilement, or the six gunas or objects of sensation of the six organs of sense; sensation and its data; sensation-data; passion-defilement.
Tình trần 情塵
[ja] ジョウジン jōjin ||| (1) The six faculties (六根) and the six objects (六塵). (2) Defilement. => 1. Sáu căn (六根) và sáu trần (六塵). 2.Phiền não nhiễm ô.
tình tự
Love.
tình viên
The passions like an ape, never still.
tình võng
Net of passion.
tình ái
Love; affection.
; Love.
tình ý
Intention.
Tình 情
[ja] ジョウ jō ||| (1) Feeling, emotion, passion. (2) Heart, human nature; disposition. (3) Sympathy, compassion. (4) Circumstances, facts. (5) True, sincere. [Buddhism] (1) Sentiency (sattva). (2) Faculty, ability (indriya). (3) Thought, mind, emotion. (4) In Buddhist texts, it is often used with a negative connotation to indicate the mistakenly emotive and discriminating consciousness manifested by unenlightened sentient beings, in contrast to the Buddha, who lacks discrimination and mistaken emotion. In Kihwa's Hyŏn chŏng non (顯正論), 情is defined extensively in contrast to "nature" (性), where "nature" is seen as essence and discrimination/emotion is seen as incorrect function (of the human mind). See HPC 7.217a. => 1. Sự cảm động, mối xúc cảm, sự say mê. 2. Tấm lòng, bản tính con người; tâm tính. 3. Sự thông cảm, tình thương. 4. Hoàn cảnh, thực tế. 5. Thành khẩn, chân thành. [Phật học] 1. Khả năng tri giác, hữu tình, chúng sinh (s: sattva). 2. Tính năng, khả năng (s: indriya). 3. Tư tưởng, tâm ý, mối xúc cảm. 4. Trong kinh Phật, nó thường được dùng với nghĩa phủ định mở rộng chỉ cho mối xúc cảm sai lầm và thức phân biệt biểu hiện qua chúng sinh chưa giác ngộ, khác với Đức Phật, không còn tâm phân biệt và tình thức sai lầm. Trong Hiển chính luận (顯正論 k: Hyŏn chŏng non) của Kỷ Hoà (k: Kihwa), Tình được định nghĩa rộng rãi là ngược với Tính (性e: nature), trong đó Tính được xem là tính chất và phân biệt, Tình được xem là tác dụng sai lầm (của tâm thức con người).
Tích
析; C: xī; J: shaku;|2. Tách ra, làm rời ra, chia ra; phân chia. Nghiền nhỏ, tán thành bột, ép thành miếng; 2. Phân tích, tách bạch ra, hiểu ra.
tích
Pewter, tin; to bestow.
; 1) Tích Lũy: To accumulate. 2) Dấu Tích: To trace—Footsteps—External evidences—Indications. 3) Xưa kia: Formerly—Of old. 4) Phân chia: To divide—To separate—To differentiate. 5) Phân tích: To leave the world. 6) See Tích Trượng.
tích bản
(迹本) Chỉ cho Tích môn và Bản môn trong kinh Pháphoa. Kinh Pháp hoa có 28 phẩm, các nhà chú thích kinh này, chia ra 14 phẩm trước làm Tích môn và 14 bản sau là Bản môn. Pháp hoa Tích môn cho rằng sự thuyết pháp của đức Phật trong khoảng thời gian hơn 40 năm kể từ sau khi thành đạo đến hội Pháp Hoa, đều thuộc giáo lí khai quyền hiển thực. Còn Pháp hoa Bản môn thì cho rằng sinh thân đức Thích ca ở trong cung vua và thành đạo ở Già da (Tích) chẳng phải thân chân thực của Phật, mà là Ứng thân của Pháp thân (Bản) vốn đã thành Phật từ rất lâu xa rồi, chỉ vì cứu độ chúng sinh mà tạm thời thùy tích, thị hiện thành đạo ở Già da đó thôi. Đây là giáo lí khai tích hiển bản của Phật. (xt. Bản Tích Nhị Môn).
tích công
(積功) Đồng nghĩa: Tích lũy, Tích công lũy đức. Tích lũy các công đức, thiện căn đã tu tập được để hóa độ chúng sinh. Phẩm đề bà trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 trung) nói: Làm những việc khó làm, tu các hạnh khổ khó tu để tích lũy công đức. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung) nói: Vì chúng sinh mà mặc áo giáp thệ nguyện rộng lớn, độ thoát tất cả.[X. kinh Vô lượng thọ Q. hạ].
tích cốc phùng cơ
To save (lay up—put away) something for a rainy day.
tích cực
Positive—Active—Energetic.
tích hoá
(迹化) Đối lại: Bản hóa. Sự giáo hóa của thân Thùy tích (Ứng thân). Hàng Bồ tát pháp thân từ Sơ địa trở lên và Phật, từ thân chân thực của mình thị hiện ra nhiều thân để giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, gọi là Tích hóa.
tích huyền kí
(析玄記) Cũng gọi Ngũ vị tích huyền ký. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Kính vân soạn vào đời Đường. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 22 thì ngài Kính vân là người ở Kiến nghiệp (phía nam huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô), chuyên nghiên cứu giáo học tông Thiên thai, đồng thời thông suốt các kinh. Vào năm Quang hóa thứ 2 (899) đời vua Chiêu tông, ngài giảng kinh ở chùa Vĩnh gia, y cứ theo Tiểu thừa nhập đạo ngũ vị nói trong luận Câu xá mà soạn thành sách này. Hiện nay tác phẩm này đã bị thất lạc.
tích hóa
Giáo thuyết được rút ra từ những sự kiện bên ngoài, thí dụ như rút ra từ cuộc đời và công hạnh hoằng hóa của Ngài thì gọi là “tích hóa,” như 14 phẩm đầu trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa; còn 14 phẩm sau là những lời dạy trực tiếp hay “bản hóa”—Teaching or lessons derived from external events, i.e. of the Buddha's life and work, shown in the first fourteen sections of the Lotus Sutra; the second fourteen sections of that work are called his direct teaching—See Nhị Hóa.
tích hóa (tích môn)
Teaching or lessons derived from external events, i.e. of the Buddha's life and work, shown in the first fourteen sections of the Lotus sùtra; the second fourteen sections of that work are called bản hóa (bản môn) his direct teaching.
tích hóa thập diệu
The ten marvellous indications, or the external events or lessons.
Tích không
析空; C: xīkōng; J: shakukū; |»Tính không qua phân tích«, phản nghĩa với Thể không (體空). Khám phá sự không tồn tại trên cơ sở tự tính của các hiện tượng thông qua tiến trình phân tích.
Tích không quán
析空觀; C: xīkōngguān; J: shakukūkan; |Phép thiền quán phân tích ra bản tính của mọi hiện tượng là trống không. Nghĩa là khi hợp thể các phần tử của một vật được phân tịch trọn vẹn, thì vật ấy không còn thầy tồn tại trong bất kì một yếu tố riêng biệt nào nữa cả; do đó vật ấy được gọi là chỉ tồn tại trên danh nghĩa, và trong thực tế là không hiện hữu. Cũng vậy, khi sự hiện hữu của một con người được phân tích theo lối nầy, thì cái ngã cụ thể hoặc vĩnh hằng (s: ātman) sẽ không được tìm thấy trong hợp thể các phần tử. Do vậy Phật giáo cho rằng ngã (ātman) là không thật sự hiện hữu. Đây là quan niệm về Không phổ biến trong giáo lí Tiểu thừa.
tích không quán
(析空觀) Cũng gọi Tích sắc nhập không quán, Tích giả nhập không quán, Tích pháp nhập không quán, Sinh diệt quán, Chuyết độ quán, Tích pháp quán. Đối lại: Thể không quán. Chỉ cho pháp quán phân tích các pháp để vào không. Tức phân tích những yếu tố cấu thành thân người như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... và chia chẻ các sắc pháp đến cực vi (đơn vị nhỏ nhất cấu thành vật chất); hoặc phân tích tâm pháp đến 1 niệm (60 sát na), rồi dựa theo kết quả của sự phân tích này mà quán xét lí Nhân không, Pháp không. Đây là pháp quán Không của Tiểu thừa. Còn Thể không quán(cũng gọi Thể giả nhập không quán, Thể pháp nhập không quán, Thể pháp quán, Xảo độ quán, gọi đủ là Thể sắc nhập không quán) thì chẳng nhờ vào kết quả phân tích, mà ngay nơi tự thân các pháp thấu suốt lí bản lai không, như mộng huyễn; tức các pháp tuy có đó nhưng thực chất là không. Đây là pháp quán Không của Đại thừa. Theo phán giáo của tông Thiên thai, trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên thì Tam tạng giáo thực hành Tích không quán; còn Thông giáo thì thực hành Thể không quán. [X. luận Thành thực Q.12; phẩm Vô sai biệt trong luận Phật tính Q.4; Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Trung luận sớ kí Q.1, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.3, hạ]. (xt. Đãn Không, Thể Không Quán).
Tích không quán 析空觀
[ja] シャククウカン shakukūkan ||| The meditational practice of analyzing things to be empty of self-nature. I.e., when the compositional elements of one object are thoroughly analyzed, that object cannot be found existing in anyone of the elements; therefore that object is said to be established in name only, and is in reality, non-existent. In the same way, when the existence of an individual is analyzed in this way, a concrete or eternal self (ātman) cannot be found among the compositional elements. Therefore there is the Buddhist theory that the ātman is non-existent. This is a view of emptiness prevalent in Hīnayāna teachings. => Phép thiền quán phân tích ra bản tính của mọi hiện tượng là không. Nghĩa là khi hợp thể các phần tử của một vật được phân tịch trọn vẹn, thì vật ấy không còn thầy ttồn tại trong bất kỳ một yếu tố riêng biệt nào nữa cả; do đó vật ấy được gọi là chỉ tồn tại trên danh nghĩa, và trong thực tế là không hiện hữu. Cũng vậy, khi sự hiện hữu của một con người được phân tích theo lối nầy, thì cái ngã cụ thể hoặc vĩnh hằng (ātman) sẽ không còn thấy trong hợp thể các phần tử. Do vậy Phật giáo cho rằng ngã (ātman) là không thực sự hiện hữu. Đây là quan niệm về Không phổ biến trong giáo lý Tiểu thừa.
Tích không 析空
[ja] シャククウ shakukū ||| 'analytical emptiness.' As contrasted to 'essential emptiness' 體空. The discovery of the lack of inherent existence in all things through the process of analysis. => Phản nghĩa với Thể không體空. Khám phá sự không tồn tại trên cơ sở tự tính của các hiện tượng thông qua tiến trình phân tích.
tích kim phật giáo
(錫金佛教) Phật giáo tại nước Tíchkim. Tích Kim (Xích kim) thời xưa gọi là Triết mạnh hùng, ở phía nam chân núi Hy mã lạp (núi Tuyết), Bắc giáp Tây tạng, Đông nam giáp Bhutan (Bất đan), Nam giáp Ấn độ, Tây giáp Nepal(Ni bạc nhĩ), diện tích hơn 7000 km2. Tháng 5 năm 1975, Tích kim được sáp nhập vào nước Cộng hòa Liênbang Ấn độ mà trở thành bang thứ 22. Tích kim vốn là vùng cư trú của người Tây tạng, cho nên cũng nằm trong phạm vi của văn hóa Lạt ma giáo. Sau cuộc cải cách do ngài Tông khách ba khởi xướng vào thế kỷ XV thì phái Hoàng mạo (phái đội mũmàuvàng) trong Lạt ma giáo rất hưng thịnh. Đến thế kỉ XVII thì có chư tăng của chi phái Tả khắc đương thuộc phái Hồng mạo(phái đỗi mũ màu hồng) hoạt động ở đây, xây dựng rất nhiều chùa viện, hiện nay thế lực của phái này ở Tích kim rất lớn. Chùa viện Lạt ma ở Tích kim có hình thức đồng nhất, đều thờ tượng Tam tôn, ở giữa là đức Bản sư Thích ca mâu ni, bên trái là Thượng sư Liên hoa sinh, bên phải là bồ tát Quán thế âm, tượng Phật đều được mạ vàng và trên vách chùa được trang sức bằng các bức bích họa nhiều màu sắc; tòa pháp của Lạt ma trải pháp y màu hồng đậm, pháp khí được sử dụng khi cầu nguyện thì có: Nạo, bạt, trống, kèn, tù và(pháp loa)..., kinh chú được tụng phần nhiều là chú Đại minh vương 6 chữ Án ma ni bát mi hồng. Các vật cúng trước Phật gồm có 3 chén nước, 4 thứ hoa, 5 thứ hương, 6 ngọn đèn, 7 thứ thực phẩm... Chùa viện phần nhiều được xây cất cạnh núi, bên hồ, cách thị trấn rất xa, thông thường trong chùa có cả thư viện trong đó tàng trữ rất nhiều kinh sách, có đông người học từ các nơi đến tham cứu. Những chùa nổi tiếng như chùa Đại long (The Talung Monastery) là1trong các ngôi chùa thiêng liêng nhất ở Tích kim, ở đây có cất giữ các vật quí giá được sưu tập từ các chùa trên toàn quốc vào đầu thế kỷ XIX. [X. Đông nam á Phật giáo nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 83)].
tích lan
Ceylon, Sri-Lanka.
tích lan phật giáo
(錫蘭佛教) Tích lan, Phạm: Siôhala. Hán âm: Tăng già la. Hán dịch: Chấp sư tử, Sư tử dận, Sư tử. Tích lan là một đảo quốc ở biển Đông nam, cách bán đảo Ấn độ khoảng 32km. Thời xưa, người Trung quốc gọi Tích lan là nước Sư tử, đảo Đồng chưởng, đảo Lăng già, người châu Âu thì gọi là Tích lan (Ceylon). Năm 1972 đổi tên là Sri Lanka, là một trong các căn cứ địa chủ yếu của Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền. Theo Đảo sử (Pàli: Dìpavaôsa) và thiên trước của Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa) thì vào thời vua Thiên ái đế tu (Pàli: Devànampiyatissa, ở ngôi 247-207 tr.T.L), con của vua A dục là ngài Ma hi đà (Phạm:Mahendra) hướng dẫn 4 vị tỉ khưu, 1 cư sĩ và em gái của ngài là Ni sư Tăng già mật đa (Phạm: Saôghamitrà), lần đầu tiên, đem Phật giáo từ Ấnđộ truyền vào Tích Lan. Ngài Ma hi đà trước hết giảng kinh Tượng tích dụ (Pàli: Cùơahatthippadopamà-suttanta) cho vua Thiênái đế tu nghe ở núi Mi sa ca (Pàli: Missaka), phía đông Vương thành A nâu la đà bổ la (Phạm, Pàli:Anuràdhapura) là kinh đô nước Tích lan thời bấy giờ, đồng thời, trong 7 ngày Ngài đã hóa độ được 8500 người. Vua xây cất Đại tự (Pàli: Mahà-vihàra) ở rừng Đại mi già ở phía nam Vương thành, rồi lại kiến tạo 68 chùa hang động ở núi Chi đề (Pàli:Cetiyapabbata), đồng thời thỉnh xá lợi Phật thờ ở chùa Tháp viên (Pàli:Thùpàràma), Vương phi A nâu la (Pali: Anulà) cũng theo Ni sư Tăng già Mật đa xuất gia. Hai trăm năm sau, các triều vua đều kính tin Phật giáo nên đạo Phật phát triển mau chóng, Đại tự được dùng làm trung tâm của giáo đoàn thống nhất. Vua Mộc xoa già ma ni (Pàli:Duỉỉhagàmanì, ở ngôi 101-77 tr.T.L) tin sâu Phật pháp, xây cất tinh xá Ma lợi già bà đề (Pàli: Maricavaỉỉi-vihàra) ở phía tây Đại tự, lại kiến tạo Đồng điện (Pàli:Lohapàsàda) ở rừng Đại mi già, rồi xây dựng Kim man đại tháp (Pàli:Suvaịịamàlì) ở phía bắc Đồng điện. Vào thế kỉ I trước Tây lịch, vua Bà già già mã ni (Pàli:Vaỉỉagàmaịi, ở ngôi 43 – 17 tr.T.L) xây dựng chùa Vô úy sơn (Pàli: Abhayagiri-vihàra), sau, Trưởng lão Ma ha đế tu (Pàli:Mahàtissa) từ Đại tự dời đến chùa này. Từ đó, Phật giáo Tíchlan bèn chia làm 2 phái là Đại tự phái và Vô úy sơn tự phái. Hai phái này thường khuynh loát lẫn nhau để tranh giành quyền lãnh đạo Phật giáo. Đại tự phái tự cho mình là chính thống, trước hết dùng tiếngPàli biên chép các kinh điển truyền miệng vào lá bối để tiện việc bảo tồn lâu dài, đồng thời bắt đầu biên soạn và sửa chữa Đảo sử. Vô úy sơn tự phái thì chủ trương cách tân, chỉ trích Phật giáo truyền thống đã có xu thế hư bại, cho nên sau khi Phật giáo Đại thừa truyền vào Tíchlan (thế kỉ III) thì trở nên thành trì quan trọng của Đại thừa. Khoảng thế kỉ III, chi phái Phương đẳng bộ (Phạm: Vaitulyavàda, Pàli: Vedallavàda, cũng gọi Phương quảng bộ) của Phật giáo Đại thừa Ấnđộ truyền vào Tíchlan, tuyên dương tư tưởng Tính không, bị Đại tự phái phản đối, cuối cùng, vua Cù tha bà da (Phạm:Goỉhabhaya, ở ngôi 309- 322) phải đứng ra dàn xếp. Giữa thế kỉ IV, một số tỉ khưu thuộc Vô úy sơn tự phái do bất mãn với phái mình trích dẫn lời của Phương đẳng bộ, bèn dời đến chùa Nam Sơn (Pàli: Dakkhiịàgirivihàra), vì trong số tăng chúng bất mãn ấy có 1 vị tỉ khưu Thượng tọa tên là Hải (Pàli:Sàgala), nên chùa Nam sơn cũng được gọi là Hải bộ (Pàli: Sàgaliya), hoặc Nam sơn tự phái. Đây là lần phân hóa thứ 2 của Phật giáo Tích lan. Đến thời vua Ma ha tư na (Pàli:, ở ngôi 334-362), thế lực của Phật giáo Đại thừa khá hưng thịnh. Bấy giờ, ở Ấnđộ đang thịnh hành tư tưởng Du già của các ngài Vôtrước và Thếthân, vua Ma ha tư na thỉnh ngài Tăng hữu (Phạm: Saíghamitra) thuộc hệ thống Đại thừa Ấnđộ về ở tại chùa Vô úy sơn. Vì cổ động tăng chúng phái Đại tự chuyển sang tin theo giáo thuyết Đại thừa bị thất bại, nên ngài Tănghựu kiến nghị lên vua, vua hạ lệnh cấm nhân dân cúng dường tăng chúng Đại tự phái, các tỉ khưu Đại tự phái liền dời xuống các vùng miền Nam như Ma la da (Phạm:Malaya)...Tănghựu liền phá chùa Đại tự rồi xin nhà vua xây chùa Kìviên (Pàli:Jetavana-vihàra) ở gần nền cũ của Đại tự để cúng dường vị tỉ khưu Thượng tọa Đếtu (Pàli:Tissa) thuộc Hải bộ. Nhưng dân chúng nói chung đã có tâm tín ngưỡng sâu xa đối với Đại tự, nên tăng chúng Đại tự mới liên kết với tín đồ buộc tỉ khưu Đếtu phải hoàn tục, còn tăng chúng Hải bộ ở chùaKìviên thì dần dần phát triển thành một tông phái độc lập tín ngưỡng Phương đẳng bộ, gọi là Kìviên tự phái (Pàli:Jetavaniya). Sau khi lên nối ngôi vua Ma ha tư na, vua Cát tường vân sắc (Pàli: Siri- Meghavaịịa, ở ngôi 362-409), ủng hộ phái Đại tự, xây dựng lại Đại tự, đúc tượng ngài Ma hi đà bằng vàng, đồng thời cử hành hội kỉ niệm rất lớn hàng năm. Bấy giờ, gặp lúc Vương tử Đà đa (Phạm, Pàli:Danta- Kumara) và Vương phi Hi ma lê (Pàli: Hammàlì) mang 1 chiếc răng Phật từ thành Phật nha (Phạm,Pàli:Dantapura), nước Yết lăng già (Phạm: Kaliíga) ở nam Ấn độ đến đảo Tích lan cúng dường. Nhân dịp này, 1 cuộc lễ rướcRăng Phật về tôn trí tại chùa Tháp viên ở thành A nâu la đà bổ la đã được tổ chức cực kì trọng thể. Từ đó, 3 phái: Đại tự, Vô úy sơn tự và Kì viên tự ở vào thế chân vạc trong 1 thời gian dài. Chùa Tháp Viên Vào đầu thế kỉ V, tức vào thời vua Đại danh khoảng năm Nghĩa hi thứ 6 (410) đời ĐôngTấn, Trung quốc, trên đường từ Ấn độ trở về Trung quốc, ngài Pháphiển có ghé qua Tíchlan một thời gian và ở tại chùa Vô úy sơn, ngài cho biết 3 ngôi chùa lớn thời ấy có 10.000 vị tỉ khưu. Lúc bấy giờ, vị Luận sư vĩ đại nhất của Thượng tọa bộ là ngài Phật âm cũng từ Ấn độ đến Tích lan truyền giáo, trụ ở Đại tự, đầu tiên hoàn thành bộ luận Thanh tịnh đạo, có nội dung như 1 bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo. Sau đó, ngài hướng dẫn tăng chúng phái Đại tự phiên dịch Tam tạng từ tiếng Tích lan sang tiếng Pàli, đồng thời dùng tiếngPàli chú thích Tam tạng, đặt vững nền tảng hưng thịnh cho phái Đại tự Thượng tọa bộ. Sau ngài Phậtâm, Luật sư Phật thụ (Pàli:Buddgadatta) soạn cương yếu cho việc chú thích Tam tạng; Luận sư Hộ pháp (Pàli:Dhammapàla) thì hoàn thành công việc chú thíchmà ngài Phật âm còn bỏ dở. Từ thế kỉ VI đến thế kỉ XI, do sự khuynh loát về chính trị trong nội bộ Tích Lan và sự xâm lăng của người Tamils, nên Phật giáo cũng rơi vào tình trạng đình trệ, 3 ngôi chùa lớn bị phá hoại nghiêm trọng. Nửa sau của thế kỉ XI, vua Tì xá da bà ha đời thứ nhất (Pàli:VijayabàhuI, ở ngôi 1059-1114) sai sứ đến Miếnđiện, thỉnh chư tăng đến Tíchlan truyền trao giới luật, kiến lập lại tăng đoàn. Về sau, trải qua mấy mươi năm nhiễu loạn, đến vua Ba lạc la ma bà ha đời thứ nhất (Pàli:Parakkamabàhu I, ở ngôi 1153-1186) mới thống nhất toàn đảo, cải thiện chế độ tăng đoàn, thiết lập chùa tháp, nhà tăng, đồng thời tổ chức cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất, tôn ngài Đại Ca diếp (Pàli:Mahàkassapa) làm Thượng thủ, giải thích lại các chú sớ Tam tạng tiếngPàli. Từ cuối thế kỉ XII đến đầu thế kỉXIX, trải qua các cuộc xâm lấn của Bà la môn giáo của Ấn độ, Thiên chúa giáo của Bồ đào nha, Cơ đốc giáo của Anh quốc, Phật giáo Tích lan lại suy vi trầm trọng. Như trong thời kì người Bồ đào nha thống trị (1505-1658), họ phá hủy chùa viện, bách hại tăng chúng, đến nỗi các vị tỉ khưu thụ giới Cụ túc không còn lại quá 5 người! Còn thời kì người Anh cai trị (1796-1948), họ cổ động dân chúng cải tín sang Cơ đốc giáo, đồng thời cho rằng Phật giáo sùng bái ngẫu tượng là biểu hiện của sự quái đản, hoang đường, hạn chế các hoạt động của Phật giáo ở khắp mọi nơi, khiến Tích lan phải nhiều lần thỉnh giới sư từ Thái lan, Miến điện để lập lại tăng đoàn và truyền giới. Do đó, Phật giáo Tích lan thời cận đại đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Thái lan và Miến điện. Khoảng năm 1866 đến 1873, vị Sa di Cù na nan đà (Mrgertwvattigunananda) dùng tài hùng biện của mình phản kích Cơ đốc giáo, chủ trương khôi phục thời đại quang vinh của Phật giáo, dân chúng trên toàn đảo đều phấn chấn. Sau đó, Phật giáo linh trí học hội (Buddhist Theosophical Society) được thành lập. Ngày nay, các học viện nổi tiếng như: Học viện A nan đà, học viện Pháp vương, học viện Ma hi đà... cũng đều được sáng lập vào thời ấy. Năm 1891, cư sĩ Đạt ma ba la (Phạm: Dhrmapàla, sau cũng xuất gia) sáng lập hội Ma ha bồ đề (Mahàbodhi Society), huấn luyện các đoàn thanh niên ra nước ngoài hoằng pháp, đồng thời mở các trường học Phật giáo tại Tích lan. Hiện nay, Phật giáo Tíchlan được chia làm 3 phái lớn như sau: 1. Phái Xiêm La (Siam-nikàya), cũng gọi phái Thái quốc, được truyền đến Tích lan từ năm 1753, thuộc phái bảo thủ, có số chúng tăng đông nhất, tín đồ phần nhiều là các nhân sĩ thuộc giai cấp thượng tầng, có các chi phái như: A tư yết lợi (Asgirinikàya), Ma nhĩ phạt đa (Malwattanikàya)... 2. Phái A ma la phổ la (Amarapuranikàya), cũng gọi phái Thượngmiếnđiện, được truyền đến Tích lan năm 1802, tín đồ phần đông là các nhân sĩ thuộc giai tầng trung và hạ. Phái này cũng có các chi phái như: Ô phạm (Uva-nikàya), Na phạm la am lợi da (Nuwaraeliya-nikàya)... 3. Phái Lam mạn nặc (Ràmaĩĩanikàya), cũng gọi phái Hạmiếnđiện, được truyền đến Tích lan năm 1865, cũng từ Miếnđiện, là phái cách tân của thiểu số, có các chi phái như: A cổ lặc sa (Akuressanikàya), Am nhĩ yết lợi ngõa (Elgirivanikàya)... Giáo lí căn bản của 3 phái này hoàn toàn không khác nhau, vì đều thuộc Thượng tọa bộ Nam truyền, có khác chăng là ở chỗ tập quán sinh hoạt và phương thức tu hành mà thôi. Có rất nhiều di tích Phật giáo trên đảo, gần cố đô A nâu la đà bổ la có chùa Vô úy sơn, chùa Kì viên, chùa Tháp viên, chùa Lăng già (Pàli:Laíkàràma), chùa Đại tự, tháp Phồn tiêu(tức Tinh xá Ma lợi già bà đề), tháp Kim phấn (Ruwanweli Dagoba), chùa Nham thạch (Pàli: Galvihàra), Đồng điện, mộ ngài Ma hi đà, cây Đại bồ đề... Ở thành phố Khảm để (Kandy) thì có chùa Phật nha (tức chùa thờ chiếc răng của đức Phật do Vương tử Đà đa cúng dường). Ngoài ra còn đào được các pho tượng điêu khắc có giá trị lịch sử như tượng lớn của ngài A nan đà, tượng đức Phật Thích ca... Phật giáo được truyền vào Tíchlan đến nay đã hơn 2000 năm, cho nên, về các phương diện như phong tục tập quán, phương thức sinh hoạt, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học, âm nhạc... tất cả đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo. Sau khi Tích lan được độc lập vào năm 1948 đến nay, Phật giáo lại được tôn làm quốc giáo như xưa. Tăng đoàn dốc sức vào sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, khắp nơi trong nước đều có các tổ chức Phật giáo. Các tổ chức có tính cách toàn quốc thì như: Hội nghị Phật giáo toàn Tích lan (All Ceyon Buddhist Congress), Hội Phật giáo phụ nữ toàn Tích lan (All Ceyon Woman’s Buddhist Association), Hiệp hội Phật giáo đồ công chức nhân viên (Goverment and Local gorvement Buddhist Association)... Còn các tổ chức có tính cách quốc tế thì như: Hội Hữu nghị Phật giáo đồ thế giới (World Fellowship of Buddhists), Hội Ma ha Bồ đề (Mahà-bodhi Society)... tất cả đều góp sức vào các hoạt động phổ biến giáo lí Phật giáo. Về mặt văn hóa thì tiêu biểu nhất và được mọi người coi trọng là bộ Phật giáo Bách khoa toàn thư bằng tiếng Anh (Encyclopedia of Buddhism) do Chính phủ Tích lan xuất bản liên tục cho đến nay. Ngoài ra, chính phủ Tíchlan còn thiết lập các cơ sở hoằng pháp tại các nước ngoài như Buddhist Vihàra(Tinh xá Phật giáo) ở Luân Đôn, BuddhistVihàra ở Hoathịnhđốn... trực tiếp giảng đạo tại địa phương để giúp các nhân sĩ ngoại quốc muốn tìm hiểu và qui y Phật pháp. Do đó biết Phật giáo Tíchlan vẫn không ngừng phát triển theo hướng hiện đại hóa và tổ chức hóa Phật giáo. Hiện nay, ở Tích Lan có các ngày lễ của Phật giáo như sau: 1. Lễ năm mới: Tức lễ Tăng già la để (Phạm: Saôkranti), được cử hành vào ngày 13 tháng 4 hằng năm, kéo dài trong 5 ngày. Vào những ngày này, Phật tử đến chùa lễ Phật, lễ tháp, cúng dường, lãnh nhận 5 giới và nghe pháp. 2. Ngày lễ Vệ tắc: (Pàli:Vesàkhapùjà): Ngày lễ lớn nhất của Tíchlan, cử hành vào ngày rằm tháng 5, chúc mừng ngày đản sinh, thành đạo, niết bàn của đức Phật. Nhân dân đến chùa lễ Phật, cúng dường Tam bảo, thụ giới và nghe pháp; vào ngày này, chính phủ cấm sát sinh và phóng thích phạm nhân. 3. Ngày lễ răng Phật:Ngày lễ quan trọng được cử hành vào ngày mồng 1 tháng 8 hằng năm ở chùa Phật nha tại Kandy, ngôi chùa nổi tiếng thế giới. 4. Ngày lễ rước xá lợi Phật: Lễ rước được cử hành vào ngày 13 tháng 2 hàng năm tại chùa Trang nghiêm (Pàli: Kalỳanìvihàra), cách thủ đô Colombo 8km.5. Ngày lễ kỉ niệm Ngài Ma hi đà: Được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 theo lịch Tíchlan hàng năm. 6. Ngày lễ kỉ niệm tháp Ma hê da già na (Pàli: Mahiyaígaịacetiya) được cử hành vào tháng 9 mỗi năm theo lịch Tích lan.7. Ngày lễ kỉ niệm Thượng tọa ni Tănggiàmật đa. Về nghi thức Phật giáo được thực hành thì một phần y theo kinh luật, một phần y theo phong tục địa phương, nói chung gồm có: a. Phật nhật: Mỗi tháng có 4 ngày, giống như ngày trai giới ở Trung quốc. Vào những ngày này, tín đồ đến chùa lễ Phật, chư tăng giảng Tam qui, ngũ giới cho tín đồ nghe. b. Thuyết pháp: Theo truyền thống, tín đồ xây dựng giảng đường thỉnh chư tăng nói pháp. Vào buổi chiều, chùa gióng chuông báo hiệu giờ thuyết pháp. Nghi thức thuyết pháp long trọng hơn cả là do 3 vị Giảng sư ngày đêm luân phiên thuyết pháp. c. Kính Phật: Dâng các thực phẩm cúng dường đức Phật. d. Thí tăng (Pàli:Saíghadàna): Cúng dường chúng tăng. e. Niệm tụng kinh thủ hộ: Tín đồ thỉnh chư tăng tụng các kinh thủ hộ như:Kinh Tam bảo (Pàli:Ratanasutta), kinh Ngũ uẩn hộ (Pàli:Khandha Paritta)... cầu tiêu tai tăng phúc. [X. Tống thư Thái tổ bản kỉ 5; truyện Tăng quả trong Tỉ khưu ni truyện Q.2; truyện Cầu na bạt ma trong Lương cao tăng truyện Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.36; Đại đường Tây vực kí Q.8; Nam truyền Phật giáo sử (Tịnhhải); Thế giới Phật giáo đích hiện trạng (Lí Thiên xuân); An Account of the Island of Ceylon by E.Tennent, Ancient Ceylon by H.Parker]. (xt. Phật Âm, A Nâu La Đà Bổ La). Tượng đức Thế tôn niết bàn ở chùa Nham thạch
tích lan tông
Sihala-saṃgha (S).
tích lan tăng già phái
Sihala-saṃghanikāya (S)Tích Lan tông pháiThành lập năm 1192 ở Miến điện.
; (錫蘭僧伽派) Pàli: Sinhaơa-saíghanikàya. Cũng gọi: Tích lan tông phái (Pàli: Sinhaơa-nikàya), Hậu tông. Phái Phật giáo thuộc Thượng tọa bộ thời kì đầu của Miến điện do ngài Xa ba đa (Pàli:Chapaỉa) sáng lập vào năm 1192. Ngài Xa ba đa lưu học ở Tích lan trong 10 năm, kiến thức sâu rộng, có tài biện luận, lại có mối quan hệ, liên lạc mật thiết với Phật giáo Tíchlan. Sau, sư cùng với 4 vị tỉ khưu người Tíchlan là Thi bà lợi (Pàli: Sìvali), Đa ma lăng già (Pàli:Tàmalinda), A nan đà (Pàli:Ànanda), La hầu la (Pàli: Ràhula, sau hoàn tục) trở về Miếnđiện và xây dựng một ngôi chùa kiểu Tích lan ở Nhượngô (Pàli:Changu) thuộc miền Bắc Bồcam, gọi là chùa Xa ba đa, truyền giới tỉ khưu theo giới pháp Đại tự, hình thành phái Tíchlan, rất được vua Na ba la đế tất đô sùng tín. Từ đó, giáo đoàn Phật giáo Miếnđiện chia thành 2 phái, giáo đoàn cố hữu được gọi là Miếnđiện tông phái (Pàli: Maramma-nikàya), còn giáo đoàn do ngài Xa ba đa sáng lập thì gọi là Tích lan tông phái. Về sau, phái Tíchlan lại chia ra các chi phái như: Thi bà lợi, Đa ma lăng đà, A nan đà...
tích lý
Sri (skt)—May mắn—Fortunate.
tích lũy
To accumulate—To acquire—To store up—Accumulation (n).
tích lũy chướng
Accumulated hindrances.
tích lũy công đức
To accummulate merits.
tích lịch tinh
(礔礰星) Phạm:Nirghàta#. Hán âm: Niết già đa. Sao Tích lịch(sấm chớp), tức sao Thiên cẩu, tượng trưng cho những việc mộng huyễn ở đời. Trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, vị tôn này được đặt ở cạnh Nhật thiên, phía đông Ngoại kim cương bộ; hình tượng là hình đồng tử, có màu da người, tay chắp để trên đỉnh đầu, trong tư thế bay đi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
tích môn khai hiển
(迹門開顯) Chỉ cho giáo nghĩa trừ bỏ Tam thừa phương tiện(khai tam)để hiển bày Nhất thừa chân thực(hiển nhất) nói trong 14 phẩm đầu của kinh Pháphoa, gọi là Tích môn khai hiển. (xt. Khai Tích Hiển Bản, Khai Quyền Hiển Thực).
tích môn pháp hoa tông
(迹門法華宗) Tông Nhật liên ở Nhật bản gọi tông Thiênthai là Tích môn Pháp hoa tông, còn tự gọi tông Nhật liên là Bản môn Pháp hoa tông.(xt. Nhật Liên Tông).
tích môn thập diệu
The ten marvellous external indications.
Tích mệnh
(錫命): chữ tích (錫) có nghĩa là cây tích trượng do các tu sĩ Phật Giáo cũng như đạo sĩ thường dùng, nhưng khi đi chung với chữ mệnh (命) thì có nghĩa là bản cáo mệnh báo cho biết Thiên tử ban cho chư hầu tước phục, v.v. Như trong Dịch Kinh (易經), Sư Quái (師卦) có câu: “Vương tam tích mệnh, hoài vạn bang dã (王三錫命、懷萬邦也, nhà vua ban cho ba thứ, để nhớ đến các nước chư hầu).” Theo Chu Lễ (周禮), tam tích mạng (三錫命) ở đây là ba món quà tưởng thưởng cao quý nhất của nhà vua, gồm mệnh lệnh thọ nhận chức tước, mệnh lệnh thọ nhận sắc phục, và mệnh lệnh thọ nhận xe ngựa.
tích phật
(迹佛) Chỉ cho thân ứng hóa của chư Phật. Phật từ Pháp thân của mình biến hiện ra nhiều thân ứng hóa để cứu độ chúng sinh, Pháp thân của Ngài là Bản địa, còn thân ứng hóa là Thùy tích, vì thế nên gọi là Tích Phật.
tích thủy
Rữa bát—To rinse the almsbowl.
tích tiểu
Ý nói bẻ gãy hay phá vỡ những biện luận Tiểu Thừa—To traverse or expose the fallacy of Hinayana arguments.
tích tiểu thành đại
Many a little make a mickle.
tích trí
Trí huệ phân tích các pháp Tiểu Thừa để quán xét “không tính,” chúng ta sẽ thấy rằng “ngã” và chư pháp đều không có thực tánh—Analytical wisdom, which analyses dharmas and attains to the truth that neither the ego nor the things have a basis in reality.
; (析智) Trí phân tích các sự vật để quán xét về tính không của chúng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển thượng (Đại 33, 710 hạ) nói: Tam tạng giáo có đủ 3 thừa, tất cả đều dùng Tích trí quán xét 12 nhân duyên trong 3 cõi làm môn đầu tiên.
Tích Trượng
(s: khakkhara, khakharaka, 錫杖): âm dịch là Khích Khí La (隙棄羅), Khế Khí La (喫棄羅), Ngật Cát La (吃吉羅), Ngật Khí La (吃棄羅); còn gọi là Thanh Trượng (聲杖), Thiền Trượng (禪杖), Minh Trượng (鳴杖), Trí Trượng (智杖), Đức Trượng (德杖), Kim Tích (金錫); gọi tắt là Trượng (杖); là một trong 18 vật thường dùng của vị Tỳ Kheo, là vật dụng thường mang đi trên đường. Nguyên lai, Tích Trượng được dùng để xua đuổi rắn độc, côn trùng, v.v. Hoặc khi đi khất thực, vị Tỳ Kheo chấn rung cây Tích Trượng, làm cho ở xa cũng nghe biết; và đời sau nó trở thành một trong những pháp khí. Trong quyển Hạ của Đại Tỳ Kheo Tam Thiên Uy Nghi (大比丘三千威儀, Taishō Vol. 24, No. 1470), có giải thích rõ nguyên do cầm Tích Trượng như thế nào: “Nhất giả vi địa trùng cố, nhị giả vi niên lão cố, tam giả vi phần vệ cố (一者爲地虫故、二者爲年老故、三者爲分衛故, thứ nhất vì côn trùng dưới đất, thứ hai vì tuổi già, thứ ba vì để bảo vệ).” Tích Trượng được sử dụng không những chỉ để xua đuổi côn trùng độc hại, mà còn để báo cho biết khi đi khất thực, hay làm vật chống đỡ cho người lớn tuổi, già yếu. Trong quyển Hạ của Đại Tỳ Kheo Tam Thiên Uy Nghi còn nêu rất rõ 25 điều cần phải biết đối vị Tỳ Kheo cầm Tích Trượng như “xuất nhập kiến Phật tượng, bất đắc sử đầu hữu thanh (出入見佛像、不得使頭有聲, khi ra vào thấy tượng Phật thì không được làm cho đầu trượng phát ra tiếng vang)”, “bất đắc trì trượng nhập chúng (不得持杖入眾, không được mang trượng vào trong chúng)”, “tam sư dĩ trì trượng xuất, bất đắc phục trì trượng tùy xuất (三師已持杖出、不得復持杖隨出, khi ba thầy đã mang trượng đi ra rồi, không được lại cầm trượng đi theo ra)”, v.v. Cho nên, việc sử dụng Tích Trượng được chế định rất nghiêm cẩn, chứ không được lạm dụng. Trên đầu Tích Trượng có những vòng tròn lớn nhỏ bằng thiếc, khi lắc phát ra tiếng kêu leng keng, nên có tên gọi là Thanh Trượng (聲杖, gậy phát ra âm thanh). Nó được dùng đi khắp các nơi, nên được gọi là Phi Tích (飛錫), Tuần Tích (巡錫); nếu dừng một nơi mà trụ thì gọi là Lưu Tích (留錫). Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 8, có ghi lại câu chuyện của Thiền Sư Ẩn Phong (隱峰) ở Ngũ Đài Sơn (五臺山). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820) nhà Đường, trên đường lên Ngũ Đài Sơn, lúc đi ngang qua Hoài Tây (淮西), Thiền Sư gặp quan quân triều đình và giặc cướp đang giao tranh lẫn nhau, bất phân thắng bại; để hóa giải họa hoạn này, Thiền Sư bèn ném cây trượng lên không trung, phi thân bay qua. Khi ấy tướng sĩ của hai bên ngước lên nhìn mà khiếp hãi tưởng như trong giấc mơ, không còn tâm trí đánh nhau nữa. Câu chuyện này trở thành nổi tiếng trong Thiền lâm với thuật ngữ phi tích cao tăng (飛錫高僧, vị tăng đức độ cỡi trên Tích Trượng mà bay đi, hay vị tăng đi du hành đó đây). Trong Thiên Thai Tông và Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, khi có pháp hội, người ta thường dùng loại Tích Trượng ngắn, vừa chấn rung vừa tụng thần chú. Về nguồn gốc của Tích Trượng, Căn Bổn Nhất Thuyết Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (根本說一切有部毘奈耶雜事, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 34 có giải thích rằng nhân sự việc vị Tỳ Kheo đến nhà người khất thực, gặp vài trở ngại như lên tiếng báo cho biết, hay gõ cửa, v.v., đều bị quở trách; nên Phật chế dùng Tích Trượng như “trượng đầu an hoàn, viên như trản khẩu, an tiểu hoàn tử, dao động tác thanh nhi vi cảnh giác (杖頭安鐶、圓如盞口、安小鐶子、搖動作聲而爲警覺, gắn vòng tròn trên đầu trượng, tròn như miệng chén, gắn vòng nhỏ, rung động tạo thành tiếng để báo cho biết).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 5, phần Tích Trượng cho biết rằng: “Phật cáo Tỳ Kheo, ưng thọ trì Tích Trượng, quá khứ vị lai hiện tại chư Phật giai chấp cố; hựu danh Trí Trượng, hựu danh Đức Trượng; chương hiển trí hành công đức bổn cố. Tích giả, khinh dã; y ỷ thị trượng trừ phiền não xuất Tam Giới cố. Tích minh dã, đắc trí minh cố. Tích tỉnh dã, tỉnh ngộ khổ không Tam Giới kết cứu cố. Nhị dịch lục hoàn thị Ca Diếp Phật chế, tứ dịch thập nhị hoàn thị Thích Ca Phật chế (佛告比丘、應受持錫杖、過去未來現在諸佛皆執故、又名智杖、又名德杖、彰顯智行功德本故、錫者、輕也、依倚是杖除煩惱出三界故、錫明也、得智明故、錫醒也、醒悟苦空三界結究故、二股六環是迦葉佛製、四股十二環是釋迦佛製, Phật dạy Tỳ Kheo nên thọ trì Tích Trượng, vì chư Phật trong quá khứ vị lai và hiện tại đều dùng đến; lại có tên là Trí Trượng, lại có tên là Đức Trượng; làm sáng tỏ gốc công đức của Trí và Hành. Tích nghĩa là nhẹ, vì nương tựa vào cây trượng này mà đoạn trừ phiền não, ra khỏi Ba Cõi. Tích nghĩa là sáng, vì đạt được trí tuệ sáng suốt. Tích nghĩa là tỉnh, vì tỉnh ngộ khổ không của Ba Cõi cứu cánh. Trượng có hai đầu sáu vòng là do Phật Ca Diếp chế ra; có bốn đầu 12 vòng là do Phật Thích Ca chế ra).” Trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ giải thích rằng: “Y bát nãi nhẫn nhục chi pháp khí, Tích Trượng biểu Như Lai chi Pháp Thân (衣缽乃忍辱之法器、錫杖表如來之法身, y bát là pháp khí của nhẫn nhục, Tích Trượng là Pháp Thân của Như Lai).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) cho biết rằng: “Quải tam sự Như Lai y, hướng nhân gian ứng cúng phước điền, thủ trì Tích Trượng hàng long hổ (掛三事如來衣、向人間應供作福田、手持錫杖降龍虎, mang áo Như Lai ba việc, hướng cuộc đời ruộng phước cúng dường, tay cầm Tích Trượng hàng rồng hổ).” Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) do Luật Sư Độc Thể (讀體, 1601-1679), vị cao tăng của Phái Thiên Hoa (千華派) thuộc Luật Tông Trung Quốc soạn, có bài kệ Xuất Tích Trượng (出錫杖, Lấy Tích Trượng) như sau: “Chấp trì Tích Trượng, đương nguyện chúng sanh, thiết đại thí hội, thị như thật đạo. Án na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế, na dạ bát nanh, hồng phấn tra (執持錫杖、當願眾生、設大施會、示如實道、唵、那㗚噆、那㗚噆、那栗吒缽底、那㗚帝、娜夜缽儜、吽癸吒, cầm giữ Tích Trượng, nguyện cho chúng sanh, thiết hội đại thí, chỉ đường như thật. Án na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế, na dạ bát nanh, hồng phấn tra).”
Tích trượng
錫杖; S: khakkhara; J: shakujō; dịch âm là Khiết-khí-la;|Chỉ cây gậy thiếc có tra những vòng bằng thiếc hoặc đồng được các Tỉ khâu sử dụng đi khất thực. Tiếng kêu của những vòng thiếc báo hiệu cho thí chủ có người đến xin ăn và cũng được dùng để đuổi những con thú hung dữ (Quải tích).
tích trượng
Khakkhara (S), Khama (P), Khamāpana (P).
; Khakkara (S). A monk's staff partly of metal, especially with metal rings for shaking to make announcement of one's presence, and also used for demon expulsion etc.
; Khakkara (skt)—Cây gậy của nhà sư, phần đầu có những vòng thiết, khi rung gậy để báo cho biết sự có mặt của ai; gậy cũng còn được dùng để trừ ma quỷ—A monk's staff, partly of metal, especially with metal rings for shaking to make announcement of one's presence, and also used for demon expulsion.
; (錫杖) Phạm: Khakkhara. Hán âm: Khích khí la, Khiết khí la. Cũng gọi: Thanh trượng, Hữu thanh trượng, Trí trượng, Đức trượng, Minh trượng, Kim trượng. Gọi tắt: Trượng. Chỉ cho chiếc gậy mà vị tỉ khưu phải mang theo khi đi đường, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu. Gậy này vốn được dùng để xua đuổi rắn, trùng độc hại, hoặc khi đi khất thực thì rung gậy phát ra tiếng để người từ xa nghe biết; đến đời sau thì gậy trở thành 1 trong các pháp khí của thiền gia.Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ có nêu 3 lí do cần phải cầm tích trượng: Để xua đuổi trùng, rắn, vì tuổi già và lúc đi khất thực. Sách này cũng nêu 25 trường hợp bị hạn chế khi cầm tích trượng, như thấy tượng Phật thì không được để đầu gậy phát ra tiếng, cho đến không được dùng gậy để chỉ vào người khác, hoặc vẽ chữ trên mặt đất... xem thế đủ biết cách dùng tích trượng rất nghiêm cẩn. Tích trượng gồm 3 phần là tích, cán gỗ và thuần (cũng gọi là Đối, tức phần được bịt đồng ở cuối cán gỗ). Tích là đầu gậy, hình tháp, có cái vòng lớnbằng kim loạitrên đó có mắc thêm nhiều vòng nhỏ, khi rung gậy thì từ những cái vòng nhỏ này phát ra tiếng rung reng, vì thế nên Tích trượng còn được gọi là Thanh trượng(gậy phát ra tiếng). Vị tăng cầm tích trượng hành hóa khắp nơi, gọi là Phi tích(gậy bay), Tuần tích(qua lại). Khi dừng lại một chỗ, gọi là Lưu tích (dừng gậy), Quải tích(treo gậy). Tại Trung quốc thời xưa đã có nhiều truyện lạ về cây Tích trượng, như Tục cao tăng truyện quyển 16 chép rằng: Ngài Tăng trù đời Bắc Tề, khi tu thiền trên núi Tây vương ốc thuộc Hoài châu, nghe 2 con hổ đánh nhau, tiếng gầm vang trong hang núi, ngài liền cầm tích trượng ra can ngăn chúng, chấm dứt cuộc đánh nhau. Cũng Tục cao tăng truyện còn kể thêm, ngài Đàm tuân đời Tùy đang đi trong núi, bỗng gặp 2 con hổ đánh nhau, ngàicũng dùng tích trượng xua đuổi, chúng liền bỏ chạy mỗi con một ngả. Cho nên xưa nay gọi tích trượng là Giải hổ tích(gậy gỡ hổ). Còn điều Ngũ đài Ẩn phong Thiền sư Đặng thị trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 thì ghi: Trong năm Nguyên hòa (806-820) đời Đường, ngài Ẩn phong lên núi Ngũ đài, trên đường qua Hoài tây, lúc đóquanquân triều đình và quân giặc đang giao tranh, không phân thắng bại, vì muốn giải vây cho họ, sư liền quăng tích trượng lên không rồi cất mình bay qua trận chiến, Tướng sĩ 2 quân ngước lên nhìn, tâm đấu tranh của họ liền dứt. Đây là câu chuyện cổ về tích trượng rất nổi tiếng. Ở Nhật bản, các tông Thiên thai và Chân ngôn, trong pháp hội, dùng tích trượng cán ngắn rung lên để xướng Phạm bái (đọc canh tán), cho nên Phạm bái cũng được gọi là Tích trượng, là 1 trong 4 pháp yếu. Tích trượng(Phạm bái) này có 9 điều và 3 điều khác nhau. Chín điều có 9 tiết tán tụng, cũng gọi là Trường tích trượng (Tích trượng dài). Còn tích trượng 3 điều thì tụng 2 điều đầu tiên và 1 điều cuối cùng trong 9 điều tán tụng của Trường tích trượng. Ngoài ra, đời có lưu truyền kinh Đắc đạo thê đặng tích trượng 1 quyển, chuyên nói về nguồn gốc tích trượng và cuối quyển có phụ lục 25 điều về cách cầm tích trượng. Kinh này được lưu truyền vào đời Đông Tấn, câu văn rườm rà, rất nhiều chỗ khả nghi. Tứ phần giới bản như thích quyển 11 cho đây là ngụy kinh. [X. luật Thập tụng Q.56; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.10; điều Vong tài tăng hiện trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Thích thị yếu lãm Q. trung, hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.18; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ].
Tích tập 積集
[ja] シャクシュウ shakushū ||| To gather, prepare, accumulate, collect (saṃcita, kadamba, ācinoti)--especially such qualities as virtue and the causes of enlightenment. 〔瑜伽論 T 1579.30.545c18〕 => Tập hợp tụ tập lại, chuẩn bị, tích luỹ, thu thập (s: saṃcita, kadamba, ācinoti) - đặc biệt là những phẩm tính như đức hạnh và nhân duyên dẫn đến sự giác ngộ.
tích tụ
(積聚) I. Tích Tụ. Thu hoạch cất chứa thóc lúa. Kinh Trường a hàm (Đại 1, 148 hạ) nói: Bấy giờ do tâm ta tranh nhau tích tụ nên sinh ra vỏ trấu. II. Tích Tụ. Chỉ cho nghĩa của Uẩn (Phạm: Skandha), tức là sự nhóm họp của các pháp hữu vi, như Sắc uẩn là do 5 căn, 5 cảnh... nhóm họp thành. Luận Du già sư địa quyển 56 (Đại 30, 608 hạ) ghi: Hỏi: Nếu nói nghĩa tích tụ là nghĩa uẩn, vậy thì thế nào gọi là nghĩa tích tụ?-Đáp: Nghĩa các thể được gom tập, nghĩa hòa trộn nhau xoay chuyển, nghĩa cùng loại tổng lược, nghĩa tăng ích tổn giảm, đó là nghĩa tích tụ. III. Tích Tụ. Tích góp, chất chứa. Kinh Hoa nghiêm quyển 57 (Đại 9, 765 hạ) nói: Khi xướng chữ Na, nhập vào môn Bát nhã ba la mật, gọi là Sai biệt tích tụ.IV. Tích Tụ. Gọi đủ: Tích tụ tinh yếu tâm. (xt. Tích Tụ Tinh Yếu Tâm).
tích tụ nghiệp
Katattà-kamma (P). Store up karma.
tích tụ tinh yếu tâm
(積聚精要心) Chỉ cho tâm tích tụ tất cả yếu nghĩa trong các kinh, như Bát nhã tâm kinh chứa nhóm ý nghĩa cốt tủy trong 600 quyển kinh Đại bát nhã, là 1 trong 3 tâm nói trong Ma ha chỉ quán quyển 1 thượng, 1 trong 4 tâm nói trong Tông kính lục. [X. thiên Tâm ý thức trong Phiên dịch danh nghĩa tập; Đại minh tam tạng pháp số Q.19]. (xt. Tâm).
tích tụ tâm
(積聚心) Tạng: Sdud-pa#i sems. Chỉ cho vọng tâm cho rằng vô lượng là một.Theo phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 thì vọng tâm của phàm phu được chia làm 59 thứ, Tích tụ tâm là 1 trong 59 thứ đó, là tâm vọng gom tập vô lượng làm 1, tức là tâm học được một pháp mà họp tập tất cả pháp khác. (xt. Lục Thập Tâm).
Tích tụ 積聚
[ja] シャクジュ shakujū ||| (1) To accumulate harvested grain. (2) The gathering of various elements to create one thing (saṃūha, kūta-rāśi). (3) Accumulation, pile, heap (kūta). => 1. Cất chứa mùa màng thu hoạch được. 2. Tập hợp đủ các yếu tố khác nhau để tạo nên một pháp (s: saṃūha, kūta-rāśi). 3. Sự chứa nhóm, sự cất chứa, sự chất đống (s: kūta).
tích vi trần
Phân chia những phân tử cho đến khi không còn gì nữa để mà phân chia—To subdivide molecules till nothing is reached.
tích viên
(昔圓) Đối lại: Kim viên. Chỉ cho Viên giáo được nói trong 3 thời Hoanghiêm, Phươngđẳng và Bátnhã trước thời Pháp Hoa. (xt. Nhị Viên).
tích y phòng hàn
See Tích cốc phòng cơ.
tích ác
To accumulate evils (crimes).
tích đức
To accumulate virtues.
Tích 惜
[ja] シャク shaku ||| Be sparing of; be frugal with, be stingy with. Regret, value, prize. Be reluctant. => Dè xẻn, tiết kiệm; keo kiệt. Tiếc, coi trọng, quý trọng. Không sẵn lòng..
Tích 析
[ja] シャク shaku ||| (1) To break; break off; break up; divide. Grind up, pulverize, crush into pieces. (2) To analyze, discriminate, understand. => Tách ra, làm rời ra, chia ra; phân chia. Nghiền nhỏ, tán thành bột, ép thành miếng. Phân tích, tách bạch ra, hiểu ra.
tím
Purple—Violet.
tím bầm
Black and blue.
tím gan
To be black with rage.
tím mặt
Black in the face (with rage).
Tín
信; S: śraddhā; P: saddhā; C: xìn; J: shin;|1. Lòng tin tưởng nơi đức Phật và Phật pháp. Tín là cơ sở của hai yếu tố đầu tiên – Chính kiến và Chính tư duy – trong Bát chính đạo và một yếu tố của Năm lực. Trong Ðại thừa, tín còn đóng một vai trò quan trọng hơn, vì tín là hạnh nguyện quan trọng mà ai cũng có và sẽ đưa mỗi người đến Phật quả. Tuy nhiên tín không phải là niềm tin mù quáng, mà chính là lòng tin tưởng chắc chắn sau khi đã tìm hiểu và áp dụng giáo pháp của Phật. Tin tưởng mù quáng nơi lời nói của Phật hay đạo sư là đi ngược với quan điểm đạo Phật, như chính Phật đã từng khuyến cáo.|Tuy nhiên trong Tịnh độ tông, lòng tin nơi Phật A-di-đà có tính chất tuyệt đối. Vì vậy tông phái này cũng có khi được gọi là »Tín đạo«. Tín là một trong những cơ sở khi nhập vào Thánh đạo: một bậc Dự lưu (s: śrota-āpanna) có thể là một bậc Tuỳ tín hành (s: śraddānusarin) hay Tuỳ pháp hành (s: dharmānusarin) và khi giải thoát cũng có thể phân biệt là người nương vào Tín mà được giải thoát (śraddhāvimukta) hay nương vào Quán chứng được giải thoát (s: dṛṣṭiprāpta).|2. Một tên gọi của Tâm; |3. Một trong 10 thiện tâm sở đề cập trong luận Câu-xá; một trong 11 thiện tâm sở đề cập trong Pháp tướng tông. Khi gặp cảnh giới thanh tịnh, nhờ đó mà làm thanh tịnh các tâm sở khác. Tin nhận pháp giới như chúng đang là. Theo Pháp tướng tông, Tín là »thật pháp« có cái dụng suốt khắp Tam giới.
tín
Prāsāda (P), Layana (S), Śraddhā (S), Saddhā (P), Faith Đường, Giảng đường1- Lòng tin sâu sắc. 2- Đường: Ngôi nhà thờ Phật (e.g: Thích Ca Phật đường)Tín tâmKhiến cho tâm, tâm sở lắng trong thanh tịnh. Một trong 10 Đại thiện địa pháp. Một trong ngũ căn, ngũ lực.
; Sraddhà (S). Faith; to believe, belief. Devotion.
; Sraddha (skt)—Lòng tin. Có lòng tin sâu sắc đối với thực thể của chư pháp, tịnh đức Tam bảo, và thiện căn của thế gian và xuất thế gian; có khả năng đem lại đời sống thanh tịnh và hóa giải nghi hoặc. Theo Tịnh Độ tông, tín là tin cõi Cực Lạc có thật và hiện hữu cũng như cõi Ta Bà của chúng ta đang ở đây. Tín là tin rằng Đức Phật A Di Đà luôn luôn hộ niệm, sẵn sàng tiếp dẫn bất cứ chúng sanh nào biết quy kính và xưng niệm đến hồng danh của Ngài—Faith—Belief—To believe—Faith regarded as the faculty of the mind which sees, appropriates, and trusts the things of religion; it joyfully trusts in the Buddha, in the pure virtue of the Triratna and earthly and transcendental goodness; it is the cause of the pure life, and the solvent of doubt. According to The Pureland Buddhism, faith is believing in the Ultimate Bliss World truly exists just as the Saha World on which we are currently living. Faith means to have faith that Amitabha Buddha is always protecting and will readily rescue and deliver any sentient being who knows to respect and recite sincerely His name. ** For more information, please see Nhị Tín.
; (信) Phạm: Zradha. Hán âm: Xả ra đà. Đối lại: Bất tín. Tên của Tâm sở. Tín là tin, tức tác dụng tinh thần có công năng làm cho tâm và tác dụng của tâm sinh ra sự thanh tịnh đối với một đối tượng nào đó, là 1 trong 75 pháp của tông Câu xá và 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tông Câu xá lập Tín làm 1 trong 10 Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì xếp Tín vào 1 trong các tâm sở thiện. Luận Thành duy thức quyển 6 (Đại 31, 29 trung) nói: Thế nào là Tín? Đối với Thực, Đức, Năng nhẫn chịu và ưa thích sâu xa, lấy tâm thanh tịnh làm tính, đối trị bất tín, lấy sự ưa thích Pháp thiện làm nghiệp. Luận Thành duy thức còn nêu ra 3 loại Tín:1. Tín thực hữu: Tin nhận sâu xa đối vớisự vàlí chân thực của các pháp. 2. Tín hữu đức:Tin nhận và ưa thích sâu xa đối với đức thanh tịnh, chân thực của Tam bảo. 3. Tín hữu năng: Tin sâu vào năng lực chứng đắc và thành tựu tất cả pháp thiện thế gian và xuất thế gian của mình mà khởi tâm hi vọng. Tín là bước thứ nhất để vào đạo, cho nên trong 52 giai vị Bồ tát thì trước tiên là Thập tín vị; trong 5 căn, 5 lực cũng lấy Tín căn, Tín lực làm đầu. Phẩm Hiền thủbồ tát trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 63 thượng) nói: Tín là gốc của đạo, là mẹ sinh ra các công đức. Còn luận Đại trí độ quyển 1 (Đại 25, 63 thượng) thì nói: Đối với biển lớn Phật pháp thì chỉ có Tín mới vào được, Trí mới vượt qua được. Ngoài ra, về các pháp cần tin thì các kinh luận nói cũng khác nhau. Như luận Câu xá thì nêu các pháp sự lí như Tứ đế, Tam bảo, Nghiệp quả thiện ác...Kinh Tạp a hàm quyển 30 thì nêu 4 chứng tịnh tín là Phật, Pháp, Tăng và Thánh giới. Luận Nhiếp đại thừa quyển 7 (bản dịch đời Lương) thì chủ trương 3 việc cần tin: 1. Tin tính của chính mình thực có tính thật.2. Tin có khả năng chứng được tính ấy. 3. Tin tính của chính mình có vô lượng công đức. Luận Đại thừa khởi tín thì nhấn mạnh niềm tin đối với chân như và Phật, Pháp, Tăng. [X. phẩm Hiềnthủ Bồ tát trong kinh Hoanghiêm Q.6 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.29; luận Nhập a tì đạt ma Q. thượng; luận Câu xá Q.4; phẩm Loại túc luận Q.3].
tín bất cụ (túc)
xem nhất-xiển-đề.
tín châu
The pearl of faith.
; Hạt châu niềm tin; niềm tin thanh tịnh tâm như hạt trân châu trong suốt như nước—The pearl of faith; as faith purifies the heart it is likened to a pearl of the purest water.
; (信珠) Hạt châu chính tín. Tức chính tín có năng lực làm cho tâm loạn động được yên lặng, giống như hạt châu có công năng khiến nước đục thành lắng trong, cho nên được ví dụ như hạt châu mà gọi là Tín châu. Luận Thành thực quyển 4 (Đại 32, 266 thượng) nói: Có được Tín châu thì ao tâm lóng sạch.
tín chủng
Hạt giống của lòng tin—The seed of faith.
Tín căn
xem năm căn lành.
tín căn
Sraddhendriya (S). Faith, one of the five roots or organs producing a sound moral life.
; Sraddhendriya (skt)—Một trong năm căn, tín căn là nền tảng—Faith, one of the five roots or organs producing a sound moral life—Faith should serve as the foundation. ** For more information, please see Ngũ Căn.
; (信根) Gốc tin. Tức Tín là căn bản để vào đạo, là cội gốc vững chắc không lay chuyển và sinh ra mọi pháp lành; là 1 trong 5 căn thuộc 37 đạo phẩm. Theo luận Thích ma ha diễn quyển 1, Tín có 10 nghĩa: Lắng sạch, quyết định, hoan hỉ, không nhàm chán, vui theo, tôn trọng, tùy thuận, khen ngợi, không hư hoại và ưa thích. Căn cũng có 10 nghĩa: Hướng xuống phía dưới, ẩn kín, sinh ra, cứng chắc, nối nhau, lìa xa, nhóm thành, sum suê, đầy đủ và cao to.
tín cẩn
Vissasa (P), Śraddhendriya (S)Một trong 5 căn vô lậu (Tín, tấn, niệm, định, huệ).
tín cổ
Âm thanh của trống hay chuông khánh là phương tiện giữ được niềm tin—The drum or stimulant of faith.
tín giáo
To believe in religion.
Tín giải
信解; C: xìnjiě; J: shinge; |Có các nghĩa sau: 1. Tin và hiểu giáo lí. Có cả niềm tin và thông hiểu Phật pháp. Niềm tin chân chính. Niềm tin trọn vẹn (s: adhimukti, theo kinh Pháp Hoa); 2. Tin vào chính mình và người khác; 3. Niềm hân hoan, phát sinh do tâm mình tin nhất định sẽ được giác ngộ.
tín giải
Xem Thắng giải.
; Abhimukti (S). Faith and interpretation, i.e. to believe and understand or explain the doctrine.
; 1) Tin và hiểu giáo lý nhà Phật: Faith and interpretation—To believe and understand or explain the doctrine. 2) Độn căn thì tin, lợi căn thì hiểu: The dull or unintellectual belief. 3) Tín phá tà kiến, giải phá vô minh: Faith rids of heresy, interpretation of ignorance.
; (信解) Phạm: Adhimukti. Pàli:Adhimutti. Hán âm: A tì mục để. I. Tín Giải. Cũng gọi Tín thắng giải. Đối lại: Kiến chí. Giai vị nương vào Tín(lòng tin) mà được thắng giải(hiểu rõ), là giai vị tu hành của người độn căn, là 1 trong 7 bậc Thánh, 1 trong 18 bậc Hữu học, 1 trong 27 bậc Hiền thánh. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 122 hạ) nói: Đến được Trụ vị thì bỏ 2 tên gọi Tùy tín và Pháp hành mà chuyển thành Tín giải và Kiến chí, đó là vì độn căn và lợi căn khác nhau. Đây có nghĩa là những người độn căn khi còn ở giai vị Kiến đạo thì gọi là Tùy tín hành, nhưng khi đến giai vị Trụ quả của Tu đạo thì gọi là Tín giải. [X. luận Đại tì bà sa Q.54, 93; luận Du già sư địa Q.26]. II. Tín Giải. Do khởi lòng tin mà phát sinh sự hiểu biết.Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển hạ (Đại 17, 909 thượng) nói: Nếu ở trong đệ nhất thực nghĩa sâu xa, rốt ráo mà chẳng sinh sợ hãi, xa lìa chê bai, được tâm chính tín thì có thể khởi lòng tin và sinh hiểu biết. [X. kinh Đại nhật Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2].
tín giải hành chứng
Trước tiên là tin vui theo pháp, hiểu rõ pháp; sau đó y theo pháp mà tu hành, và cuối cùng chứng đắc được quả vị Phật—Faith, interpretation, performance, and evidence or realization of the fruit of Buddha's doctrine.
; (信解行證) Bốn quá trình mà người tu hành Phật đạo phải lần lượt trải qua. Trước hết phải tin ưa(Tín) Phật pháp, kế đến phải hiểu rõ (Giải) Phật pháp, sau nữa phải gắng sức học tập, tu hành(Hành) và cuối cùng chứng ngộ(Chứng) đạo quả.
tín giải hành địa
(信解行地) Gọi tắt: Tín giải địa. Từ ngữ gọi chung giai vị Thập địa trong Mật giáo. Đối với nghĩa lí sâu xa kín nhiệm, phàm phu và Nhị thừa không thể biết được, chỉ những người có lòng tin chân chính mới ngộ nhập được. Vì chính tín có công năng hiển bày lí chân thực và làm cho giải, chứng đều đầy đủ, cho nên gọi là Tín giải hành địa. Đây là giai vị quyết định tín tâm thanh tịnh.Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 580 hạ) nói: Từ lúc mới phát tâm chân chính cho đến thành Phật, trong khoảng thời gian đó gọi chung là Tín giải địa.
tín giải phẩm
(信解品) Phẩm thứ 4 trong 28 phẩm kinh Pháp hoa.Tín nghĩa là nghe mà không sinh nghi; Giải nghĩa là ở trong tâm hiểu rõ. Vì hàng trung căn lúc đầu nghe phẩm Phương tiện (phẩm thứ 2) tuy dốc lòng tin nhận, nhưng chưa hiểu rõ ý nghĩa, trong phẩm Thí dụ (phẩm thứ 3), đức Thế tôn nêu ví dụ 3 xe 1 xe để nói rõ ý chỉ gom 3 về 1. Nhờ đó, 4 vị đại Thanh văn là các ngài: Tu bồ đề, Ca chiên diên, Ca diếp và Mục kiền liên mới hiểu rõ. Các vị này muốn trình bày yếu chỉ sâu xa mà mình đã lãnh ngộ, nên trong phẩm Tín giải này nói về thí dụ Trưởng giả và cùng tử để nói lên cảnh giới và pháp hỉ mà mình đã lãnh ngộ. Trong thí dụ này, vị Trưởng giả có lòng từ bi dụ cho đứcPhật, cùng tử ngu muội dụ cho Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát), việc giao phó tài sản cho thừa kế dụ cho việc thụ kí thành Phật. Thí dụ này còn được chia làm 5 đoạn chủ yếu, tông Thiên thai dựa theo đó mà kiến lập giáo phán Ngũ thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa. Năm đoạn chủ yếu như sau: 1. Phụ tử tương thất: Cha con lạc nhau. Dụ cho giữa đường lui mất tâm Đại thừa. 2. Phụ tử tương kiến: Cha con gặp lại nhau. Dụ cho thời nghĩ nghi của Hoa nghiêm. 3. Phụ mệnh truy dụ: Cha sai người đuổi theo dỗ dành. Biểu thị lợi ích của sự quở trách nhận được khi từ thời A hàm tiếnvàoPhương đẳng. 4. Lãnh tri gia nghiệp: Nhận biết cơ nghiệp nhà. Dụ cho việc chuyển giáo ở thời Bát nhã. 5. Chính phó gia nghiệp: Chính thức giao phó gia nghiệp. Dụ cho việc khai hiển của kinh Pháp hoa.
Tín giải 信解
[ja] シンゲ shinge ||| (1) Believing and understanding the teachings. Having both faith and understanding in the Buddhist teaching. Correct faith, complete understanding (adhimukti).〔法華經 T 262.9.07c08〕 (2) Belief in oneself and others. (3) Joy, the arousal of the mind determined for enlightenment. => Có các nghĩa sau: 1. Tin và hiểu giáo lý. Có cả niềm tin và thông hiểu Phật pháp. Niềm tin chân chính Niềm tin trọn vẹn (s: adhimukti). Theo Kinh Pháp Hoa. 2. Tin vào chính mình và người khác. 3. Niềm hân hoan, phát sinh do tâm mình tin nhất định sẽ được giác ngộ.
tín giới
Faith and morals, i.e. the moral law, or commandments; to put faith in commandments.
; 1) Tín và giới: Faith and morals. 2) Đặt niềm tin vào thọ trì giới luật: To put faith in the commandments.
tín hiện quán
Niềm tin kiên cố nơi Tam Bảo như sự hiển hiện của chân thức—Firm faith in the Triratna as revealing true knowledge.
tín huệ
Xem tín tuệ.
; Tín căn và tuệ căn (tín căn để phá bỏ tà kiến và tuệ căn để phá bỏ vô minh)—Faith and wisdom. ** For more information, please see Ngũ Căn.
; (信慧) I. Tín Tuệ.Chỉ cho tín căn và Tuệ căn thuộc 5 căn trong 37 đạo phẩm. Tín có công năng phá tà kiến, Tuệ có công năng đoạn vô minh. Kinh Phật thuyết vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung) nói: Thọ mệnh rất khó được, Phật ra đời cũng khó gặp, người có tín tuệ còn khó hơn. II. Tín Tuệ. Chỉ cho trí tuệ của lòng tin.
Tín Hành
(信行, Shingyō, 540-594): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, tổ của Tam Giai Giáo (三階敎), còn gọi là Tam Giai Thiền Sư (三階禪師), người Quận Ngụy (魏郡, thuộc An Dương [安陽], Hà Nam [河南]), họ Vương (王), lúc nhỏ đã có trí tuệ xuất chúng. Sau khi xuất gia, ông thông hiểu các kinh, được vua Văn Đế nhà Tùy thỉnh mời đến ở Trường An. Ông chủ trương thời đại của đức Thích Ca là thời đại Chánh Pháp, kế đến thời đại thọ nhận giáo pháp là thời Tượng Pháp. Có nghĩa rằng hiện tại (thời nhà Tùy) đã kinh qua thời đại Chánh và Tượng Pháp, gặp lúc Phật Giáo suy vong, cho nên ông chủ xướng ra 3 giai đoạn, gọi là Tam Giai Phật Giáo. Ông cho rằng người hiện đời hoặc thiên về Nhất Thừa, hay Tam Thừa, hoặc niệm Di Đà, hay niệm Pháp Hoa, thường thích cái này ghét cái kia. Cho nên ông chủ trương cùng mọi người lao động, một ngày một bữa ăn. Do nhân cách thanh khiết, giáo thuyết lại dễ hiểu nên số lượng tín đồ theo rất đông. Đến thời nhà Đường, đệ tử là Tín Nghĩa (信義) thiết lập kho bạc cho dân lành, gọi là Vô Tận Tạng Viện, để làm lợi ích cho dân chúng. Trong khoảng thời gian từ năm thứ 20 (600) niên hiệu Khai Hoàng (開皇) nhà Tùy cho đến năm thứ 13 (725) niên hiệu Khai Nguyên (開元) nhà Đường, phái này trãi qua 4 lần bị cấm chế và áp bức, sau vụ loạn An Sử (安史) thì dần dần tiêu vong. Vào tháng giêng năm thứ 13 (594) niên hiệu Khai Hoàng (開皇), ông thị tịch, hưởng thọ 55 tuổi. Trước tác của ông có Tam Giai Vị Biệt Tập Lục (三階位別集錄) 3 quyển, Đối Căn Khởi Hành Tạp Lục (對根起行雜錄) 33 quyển, Tam Giai Phật Pháp (三階佛法) 4 quyển, v.v.
; 信行; C: xìnxíng; J: shingyō, 540-594;|Người sáng lập Tam giai giáo (三階教).
tín hành
1) Niềm tin và hành động: Believing action—Faith and practice. 2) Tin theo giáo pháp mà thực hành, đối lại với y theo giáo pháp mà thực hành. Tín hành dành cho người độn căn, trong khi pháp hành dành cho kẻ lợi căn: Action resulting from faith (for those of inferior ability)—Practice based on belief, in contrast with action resulting from direct apprehension of the doctrine; the former is found among the inferior ability, the latter among the mentally acute.
; (信行) Cũng gọi Tam giai thiền sư. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người ở quận Ngụy (An dương, Hànam), họ Vương, Tổ khai sáng Tam giai giáo. Thuở nhỏ sư đã có trí tuệ hơn người, giàu lòng thương xót. Sau khi xuất gia, sư học rộng các kinh, thân tâm trong sáng, được mọi người tôn kính, sau được vua Văn đế nhà Tùy thỉnh sư vào trụ ở Trườngan. Sư chủ trương thời đức Thích tôn là thời chính pháp, kế đó, là thời Tượng pháp, hiện nay (đời Tùy) thời Chính pháp và thời Tượng pháp đã qua, đang là thời Phật giáo suy vi, kinh điển không giúp ích được gì, cho nên sư đề xướng Tam giai tân nghĩa, gọi là Tam giai Phật giáo, hiểu và làm rất khác với người trước. Sư còn cho rằng người đương thời mang nặng ngã kiến biên kiến, hoặc nghiêng về Nhất thừa, hoặc nghiêng về Tam thừa, hoặc chỉ niệm Phật Di đà, hoặc chỉ tụng trì Pháp hoa, ưa đây ghét kia, kia trái đây phải, cho nên sư đề xướng Phổ chân phổ chính tông. Tức pháp không phân Đại, Tiểu, người chẳng kể phàm, thánh; kính tin và qui y tất cả, gọi là Phổ pháp. Do đó mà bỏ giới Cụ túc, hòa đồng với dân chúng lao động, cùng tu hành, nên đặt ra qui luật nghiêm khắc ngày ăn một bữa. Nhờ thế mà nhân cách cao khiết, giáo nghĩa giản dị rõ ràng, tín đồ theo về rất đông. Tháng giêng năm Khai hoàng 14 (594), sư thị tịch, thọ 55 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tam giai vị biệt tập lục 3 quyển, Đối căn khởi hành tạp lục 33 quyển, Tam giai Phật pháp 4 quyển. [X. Lục học tăng truyện Q.13; Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Tam giai giáo đích nghiên cứu (Thỉ xuy Khánh huy)]. (xt. Tam Giai Giáo).
tín hành bất li
(信行不離) Tin và làm chẳng lìa nhau. Tịnh độ chân tông của Nhật bản chủ trương danh hiệu là sự biểu hiện cụ thể năng lực cứu độ của chư Phật, nhờ tác dụngcủa danh hiệu mà sinh ra lòng tin, do lòng tin nên có các tác pháp xưng niệm danh hiệu; mà lòng tin(Tín) và xưng danh(Hành) là nhất thể, không tách rời nhau, cho nên gọi là Tín hành bất li. (xt. Hành Tín).
tín hành đạo
Practice based on faith.
Tín Hành 信行
[ja] シンギョウ shingyō ||| Xinxing (540-594); founder of the Sanjie jiao 三階教 movement. => (j: shingyō); (c: Xinxing ;540-594). Người sáng lập Tam Giai giáo (c: Sanjie jiao)
tín hương
(信香) I. Tín Hương. Hương là thông sứ của lòng tin, nên gọi là Tín hương. Nghĩa là qua mùi hương, mong lòng tin chân thành của mình bay đến nơi mình nguyện cầu. Đại Tống tăng sử lược (Đại 54, 241 trung) nói: Trong kinh ghi rằng Trưởng giả muốn thỉnh Phật, nên ban đêm lên lầu, tay cầm lư hương để biểu đạt lòng tin, sáng hôm sau, vào giờ thụ trai đức Phật liền đến, vì thế nên biết hương là thông sứ của lòng tin.II. Tín Hương. Hương được dùng để báo tin. Thiền sư mới ra trụ trì một ngôi chùa, gọi là Xuất thế khai pháp(ra đời mở pháp); bấy giờ gửi hương cho thầy mình để báo tin việc nối pháp, gọi là Tín hương.ĐạituệCảo thiền sư đáp Cổ sơn Đãi trưởng lão thư (Đại 47, 942 trung) nói: Chuyên sứ đến, thu sách và tín hương, biết đã xuất thế khai pháp, giảng đạo ở Thạch môn, không quên nơi xuất thân, vì Trưởng lão Nhạc niêm hương nối tiếp phái Dương kỳ. [X. môn Khí vật trong thiền lâm tượng khí tiên].
tín hướng
To believe in and entrust oneself to the Triratna Tam Bảo.
; Niềm tin không chút nghi ngờ đối và quay về với Tam Bảo—To believe in and entrust onself to the Triratna.
tín hướng tam bảo
To believe in and entrust oneself to the Triratna (Triple Jewel).
tín hạnh
Believing action; faith and practice.
tín hạnh nguyện
Faith, practice, and vow—Theo Liên Tông Cửu Tổ là ngài Ngẩu ích Đại Sư: “Nếu Tín Nguyện bền chắc thì khi lâm chung, chỉ xưng danh hiệu Phật mười niệm cũng được vãng sanh. Còn trái lại, thì dù cho có niệm Phật nhiều đến thế mấy đi nữa mà Tín Nguyện yếu kém, thì chỉ được kết quả là hưởng phước báu nơi cõi Nhân Thiên mà thôi.” Tuy nhiên, đây là nói về các bậc thượng căn, còn chúng ta là những kẻ hạ căn, phước mỏng nghiệp dầy, muốn vãng sanh Cực Lạc thì phải có đủ cả Tín Hạnh Nguyện, nghĩa là đầy đủ hết cả hai phần Lý và Sự—According to the Ninth Patriarch of Pureland Buddhism, the Great Master Ou-I: “If Faith and Vow are solidified, when nearing death, it is possible to gain rebirth by reciting the Buddha's name in ten recitations. In contrast, no matter how much one recites Buddha, if Faith and Vow are weak and deficient, then this will result only in reaping the merits and blessings in the Heavenly or Human realms.” However, this teaching only applies to beings with higher faculties. As for us, beings with low faculties, thin blessings and heavy karmas; if we wish to gain rebirth to the Ultimate Bliss World, we must have Faith, Practices and Vow. In other words, we must carry out both parts of Theory and Practice. (A) Tín: Faith—See Tín, and Lục Tín. (B) Hạnh: Practice. a) See Hạnh. b) Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, theo quan điểm Tịnh Độ, hạnh là sự thực hành, nghĩa là chuyên trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật không xen tạp và không tán loạn: According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, with point of view from the Pureland, practice means to take action or make application of the teaching. This means to recite often the virtuous name “Namo Amitabha Buddha” without distraction and without chaos throughout one's life. (C) Nguyện: Vow. a) See Nguyện. b) Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, theo quan điểm Tịnh Độ, nguyện đây tức là mỗi mỗi tâm phát ra đều là “tâm ưa thích” cầu được vãng sanh về Cực Lạc, mỗi mỗi niệm phát ra đều là “niệm mong cầu” được dự vào nơi chín phẩm sen vàng. Trong ba điều tín hạnh nguyện nầy, người tu tịnh nghiệp bắt buộc cần phải có đủ, không được thiếu sót một điều; tuy nhiên, nguyện là điều cần thiết nhất: According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, with point of views of the Pureland, vow is with each thought that arises, there is a “love and yearning” to gain rebirth in the Ultimate Bliss World, and with each thought, there is a “wish and prayer” To achieve a place in the nine-levels of Golden Lotus. In these three components of faith, practice, and vow, it is absolutely essential for the Pureland cultivator to have all three; however, vow is the most important.
tín hải
The ocean of faith; the true virtue of the believing heart is vast and boundless as the ocean.
; (信海) Biển tin. Nghĩa là thực đức của lòng tin rộng lớn vô biên, giống như biển cả không bến không bờ, cho nên gọi là Tín hải.
Tín Học
信學; ?-1190|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 10. Sư kế thừa Thiền sư Ðạo Huệ, đệ tử của Quốc sư Thông Biện.|Sư họ Tô, quê ở làng Chu Minh, phủ Thiên Ðức. Sư xuất thân từ một gia đình chuyên nghề khắc bản kinh, thuở nhỏ đã có tính thâm trầm, không thích giao du.|Năm 32 tuổi, Sư đến Thiền sư Ðạo Huệ ở núi Tiên Du thụ giáo. Sau ba năm tu học, Sư ngộ được yếu chỉ thiền và cất bước du phương. Ðến chùa Quán Ðỉnh ở núi Không Lộ, huyện Thạch Thất, Sơn Tây, Sư dừng lại trụ trì. Sư chuyên tu theo kinh Viên giác và ngộ được huyền nghĩa. Học chúng đến tham vấn rất đông.|Ngày 9 tháng giêng, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5 đời vua Lí Cao Tông, Sư có bệnh gọi chúng lại truyền kệ:|山林虎豹。橫文班駁。若欲甄別。子啐母啄|Sơn lâm hổ báo, hoành văn ban bác|Nhược dục chân biệt, tử thối mẫu trác.|*Núi rừng cọp beo, vằn vện lẫn lộn|Nếu muốn phân rành, con kêu, mẹ mổ.|Nói kệ xong, Sư viên tịch.
tín học thiền sư
Zen Master Tín Học (?-1190)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thiên Đức, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Thành Giới. Năm 32 tuổi, ngài viếng Thiền sư Đạo Huệ và trở thành Pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thị tịch năm 1190—A Vietnamese Zen master from Thiên Đức, North Vietnam. He was a disciple of Zen Master Thành Giới. When he was thirty-two years old, he visited Zen Master Đạo Huệ and became the latter's one of the most outstanding disciples. He was the Dharma heir of the tenth generation of Wu-Yun-T'ung Zen Sect. He passed away in 1190.
Tín Không
(信空, Shinkū, 1146-1228): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Tín Không (信空), thường được gọi là Bạch Xuyên Thượng Nhân (白川上人), tự là Xưng Biện (稱辨), hiệu Pháp Liên Phòng (法蓮房), xuất thân vùng Kyoto, con của vị Tả Đại Biện Diệp Thất Hành Long (左大辨葉室行隆). Năm 1157, ông xuất gia với Duệ Không (叡空) ở vùng Hắc Cốc (黑谷, Kurodani) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), rồi sau khi thầy qua đời, ông theo học Tịnh Độ Giáo với Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) và được truyền thừa Viên Đốn Giới. Năm 1204, vâng mệnh Nguyên Không, ông viết bản Thất Cá Điều Chế Giới (七箇條制誡, Bảy Điều Răn Dạy, 1 quyển) để đối trị với sự đàn áp mãnh liệt của đồ chúng trên Tỷ Duệ Sơn. Ông được Nguyên Không phó chúc cho các thư tịch Thánh Giáo và nỗ lực lãnh đạo duy trì giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật. Môn lưu của ônh thì gọi là Môn Đồ Bạch Xuyên (白川門徒).
Tín lạc
信樂; C: xìnlè; J: shingyō;|Có các nghĩa sau: 1. Có niềm tin và lòng thiết tha; 2. Có niềm tin rạch ròi, tin một cách không mơ hồ, không nghi ngờ; 3. Niềm tin hân hoan; 4. Tin và hiểu (信解).
tín lạc
To believe and rejoice in the dharma; the joy of believing.
; Tin tưởng và hoan hỷ nơi giáo pháp hay niềm vui do sự tin tưởng nơi giáo pháp—To believe and rejoice in the dharma—The joy of believing.
Tín lạc 信樂
[ja] シンギョウ shingyō ||| (1) To have faith in and aspire for. 〔法華經 T 262.9.43b27〕 (2) To have direct, unabashed faith in, without a doubt. (3) Joyful faith. (4) Faith and understanding. 信解 => Có các nghĩa sau: 1. Có niềm tin và thiết tha. 2. Có niềm tin rạch ròi, tin một cách không mơ hồ, không nghi ngờ. 3. Niềm tin hân hoan. 4. Tin và hiểu.
tín lực
Saddhā-bala (S), Śraddhā-balā (S), Energy of belief, Force of faith
; Sraddhàbala (S). The power or force of faith.
; Sraddhabala (skt)—Một trong năm lực—The power of faith, one of the five bala or powers. ** For more information, please see Ngũ Lực.
tín minh tâm
Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, Tổ Tăng Xán hầu như sống ẩn dật suốt đời, nhưng ta có thể nhìn ra tư tưởng của Tổ qua một thi phẩm luận về lòng tin có tên là Tín Minh Tâm. Đây là một trong những bút tích của các Thiền sư góp phần xứng đáng nhất vào sự luận giải tông chỉ nhà Thiền—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, the third patriarch lived most of his life as a hermit (obscure), his thought is gleaned from a metrical composition known as Hsin-Hsin-Ming or 'Inscribed on the Believing Mind'. Đạo lớn chẳng gì khó, cốt đừng chọn lựa thôi. Quí hồ không thương ghét, Tự nhiên ngời sáng. (Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch. Đản mạc tắng ái, đồng nhiên minh bạch). The Perfect Way knows no dificulties Except that it refuses to make preference: Only when freed from hate and love, It reveals itself fully and without disguise. Sai lạc nửa đường tơ, đất trời liền phân cách. Chớ nghĩ chuyện ngược xuôi, Thì hiện liền trước mắt (Hào li hữu sai, Thiên địa huyền cách. Dục đắc hiện tiền, Mạc tồn thuận nghịch). A tenth of an inch's difference, And heaven and earth are set apart: If you want to see it manifest, Take no thought either for or against it. Đem thuận nghịch chỏi nhau, Đó chính là tâm bịnh. Chẳng nắm được mối huyền, Hoài công lo niệm tịnh. (Vi thuận nghịch tương tranh, thị vi tâm bịnh Bất thức huyền chỉ, đồ lao niệm tịnh). To set up what you like against what you dislike. This is the disease of the mind: When the deep meaning of the Way Is not understood. Peace of mind is disturbed and nothing is gained. Tròn đầy tự thái hư, Không thiếu cũng không dư. Bởi mãi lo giữ bỏ, Nên chẳng được như như. (Viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư Lương do thủ xả, sở dĩ bất như). The Way is perfect like unto vast space, With nothing wanting, nothing superfluous: It is indeed due to making choice That its suchness is lost sight of. Ngoài chớ đuổi duyên trần, Trong đừng ghì không nhẫn. Cứ một mực bình tâm, Thì tự nhiên dứt tận. (Mạc trục hữu duyên, vật trụ không nhẫn Nhứt chủng bình hoài, dẫn nhiên tự tận). Pursue not the outer entanglements, Dwell not in the inner void; When the mind rests serene In the oneness of things, The dualism vanishes by itself. Ngăn động mà cầu tịnh, Hết ngăn lại động thêm. Càng trệ ở hai bên, Thà rõ đâu là mối. (Chỉ động qui chỉ, chỉ cánh di động Duy trệ lưỡng biên, minh tri nhứt chủng). Đầu mối chẳng rõ thông Hai đầu luống uổng công. Đuổi có liền mất có Theo không lại phụ không. (Nhứt chủng bất thông, lưỡng xứ thất công Khiển hữu một hữu, tòng không bối không) And when oneness is not thoroughly understood, In two ways loss is sustained. The denial of reality may lead to its absolute negation, While the upholding of the void may result in contradicting itself. Nói nhiều thêm lo quẩn, Loanh quanh mãi chẳng xong. Dứt lời dứt lo quẩn, Đâu đâu chẳng suốt thông. (Đa ngôn đa lự, chuyển bất tương ưng Tuyệt ngôn tuyệt lự, vô xứ bất thông). Wordiness and intellection The more with them the further astray we go away; therefore, with wordiness and intellection, there is no place where we cannot pass freely. Trở về nguồn nắm mối Dõi theo ngọn mất tông Phút giây soi ngược lại Trước mắt vượt cảnh không. (Qui căn đắc chỉ, tùy chiếu thất tông Tu du phản chiếu, thắng khước tiền không). When we return to the root, we gain the meaning. When we pursue the external objects, we lose the reason. The moment we are enlightened within; we go beyond the voidness of a world confronting us. Cảnh không trò thiên diễn Thảy đều do vọng kiến Cứ gì phải cầu chơn Chỉ cần dứt sở kiến (Tiền không chuyển biến, giai do vọng kiến Bất dụng cầu chơn, duy tu tức kiến). Transformations going on in an empty world which confronts us. Appear real all because of ignorance: Try not to seek after the true, only cease to cherish opinions. Hai bên đừng ghé mắt Cẩn thận chớ đuổi tầm Phải trái vừa vướng mắc Là nghiền đốt mất tâm. (Nhị kiến bất trụ, thận vật truy tầm Tài hữu thị phi, phấn nhiên thất tâm). Tarry not with dualism, carefully avoid pursuing it; as soon as you have right or wrong, confusion ensues, the mind is lost. Hai do một mà có Một rồi cũng buông bỏ Một tâm ví chẳng sanh Muôn pháp tội gì đó. (Nhị do nhứt hữu, nhứt diệc mạc thủ Nhứt tâm bất sinh, vạn pháp vô cữu). The two exists because of the one, but hold not even to this one; when the one mind is not disturbed, the ten thousand things offer no offence. Không tội thì không pháp Chẳng sanh thì chẳng tâm Tâm theo cảnh mà bặt Cảnh theo tâm mà chìm. (Vô cữu vô pháp, bất sanh bất tâm Năng tùy cảnh diệt, cảnh trục năng trầm). When no offence is offered by them, they are as if not existing; when the mind is not disturbed, it is as if there is no mind. The subject is quieted as the object ceases, the object ceases as the subject is quieted. Tâm là tâm của cảnh Cảnh là cảnh của tâm Vì biết hai đằng dứt Rốt cùng chỉ một không. (Cảnh do năng cảnh, năng do cảnh năng Dục tri lưỡng đoạn, nguyên thị nhứt không) The object is an object for the subject, the subject is a subject for an object: Know that the relativity of the two; rests ultimately on the oneness of the void. Một không, hai mà một Bao gồm hết muôn sai Chẳng thấy trong thấy đục Lấy gì mà lệch sai. (Nhứt không đồng lưỡng, tề hàm vạn tượng Bất kiến tinh thô, ninh hữu thiên đảng). In the oneness of the void the two are one, And each of the two contains in itself all the ten thousand things: When no discrimination is made between this and that, how can one-sided and prejudiced view arise? Đạo lớn thể khoan dung Không dễ mà không khó Kẻ tiểu kiến lừng khừng Gấp theo và chậm bỏ. (Đại đạo thể khoan, vô dị vô nan Tiểu kiến hồ nghi, chuyển cấp chuyên trì). The Great Way is calm and large-minded, Nothing is easy, nothing is hard: Small views are irresolute, The more in haste the tardier they go. Chấp giữ là nghiêng lệch Dấn tâm vào nẻo tà Cứ tự nhiên buông hết Bổn thể chẳng qua lại. (Chấp chi thất độ, tâm nhập tà lộ Phóng chi tự nhiên, thể vô khứ trụ). Clinging never keeps itself within bounds, It is sure to go in the wrong way: Let go loose, and things are as they may be, While the essence neither departs nor abides. Thuận tánh là hiệp đạo Tiêu dao dứt phiền não Càng nghĩ càng trói thêm Lẽ đạo chìm mê mãi. (Nhiệm tánh hiệp đạo, tiêu dao tuyệt não Hệ niệm quai chơn, trầm hôn bất hảo). Obey the nature of things, and you are in concord with the Way. Calm and easy and free from annoyance; But when your thoughts are tied, you turn away from the truth. They grow heavier and duller and are not at all sound. Mê ảo nhọc tinh thần Tính gì việc sơ thân Muốn thẳng đường nhứt thặng Đừng chán ghét sáu trần. (Bất hảo lao thần, hà dụng sơ thân Dục thú nhứt thặng, vật ố lục trần). When they are not sound, the soul is troubled; What is the use of being partial and one-sided then? If you want to walk the course of the One Vehicle, be not prejudiced against the six sense-objects. Sáu trần có xấu chi Vẫn chung về giác đấy Bậc trí giự vô vi Người ngu tự buộc lấy. (Lục trần bất ác, hoàn đồng chánh giác Trí giả vô vi, ngu nhơn tự phược). When you are not prejudiced against the six sense-objects, you in turn identify yourself with enlightenment; the wise are non-active, while the ignorant bind themselves up; Pháp pháp chẳng khác pháp Do ái trước sanh lầm Há chẳng là quấy lắm Sai tâm đi bắt tâm. (Pháp vô dị pháp, vọng tự ái trước Tương tâm dụng tâm, khởi phi đại thác). While the Dharma itself there is no individuation, they ignorantly attach themselves to particular objects. It is their own minds that create illusions. It is not the greatest of self-contradictions? Mê sanh động sanh yên Ngộ hết xấu hết tốt Hết thảy việc hai bên Đều do vọng châm chước. (Mê sanh tịnh loạn, ngộ vô hảo ác Hết thảy nhị biên, vọng tự châm chước). Ignorance begets the dualism of rest and unrest, the enlightened have no likes and dislikes: All forms of dualism are ignorantly contrived by the mind itself. Mơ mộng hão không hoa Khéo nhọc lòng đuổi bắt Chuyện thua được thị phi Một lần buông bỏ quách. (Mộng huyễn không hoa, hà lao bả tróc Đắc thất thị phi, nhứt thời phóng khước). They are like unto visions and flowers in the air: Why should we trouble ourselves to take hold of them? Gain and loss, right and wrong, away with them once for all! Mắt ví không mê ngủ Mộng mộng đều tự trừ Tâm tâm ví chẳng khác Thì muôn pháp nhứt như. (Nhãn nhược bất thụy, chư mộng tự trừ Tâm nhược bất dị, vạn pháp nhứt như). If an eye never falls asleep, all dreams will by themselves cease: If the mind retains its oneness, the ten thousand things are of one suchness. Nhứt như vốn thể huyền Bằn bặt không mảy duyên Cần quán chung như vậy Muôn pháp về tự nhiên. (Nhứt như thể huyền, ngột nhĩ vọng duyên Vạn pháp tề quán, qui phục tự nhiên). When the deep mystery of one suchness is fathomed, all of a sudden we forget the external entanglements: When the ten thousand things are viewed in their oneness, we return to the origin and remain what we are. Đừng hỏi vì sao cả Thì hết chuyện sai ngoa Ngăn động chưa là tịnh Cái hai đà chẳng được Cái một lấy chi mà. (Dẫn kỳ sở dĩ, bất khả phương tỷ Chỉ động vô động, động chỉ vô chỉ Lưỡng ký bất thành, nhứt hà hữu nhĩ). Forget the wherefore of things, and we attain to a state beyond analogy: Movement stopped is no movement, and rest set in motion is not rest. When dualism does no more obtain, even oneness itself remains not as such. Rốt ráo đến cùng cực Chẳng còn mảy qui tắc Bình đẳng hiệp đạo tâm Im bặt niềm tạo tác. (Cứu cánh cùng cực, bất tồn quĩ tắc Khế tâm bình đẳng, sở tác câu tức). The ultimate end of things where they cannot go any further, is not bound in harmony with the Way is the principle of identity in which we find all doings in a quiescent state; Niềm nghi hoặc lắng dứt Lòng tin hóa lẽ trực Mảy bụi cũng chẳng lưu Lấy gì mà ký ức Bổn thể vốn hư minh Tự nhiên nào nhọc sức. (Irresolutions are completely done away with, and the right faith is restored to its native straightness; nothing is retained now, nothing is to be memorized. All is void, lucid, and self-illuminating, There is no stain, no exertion, no wasting of energy. Trí nào suy lượng được Thức nào cân nhắc ra Cảnh chơn như pháp giới Không người cũng không ta. (Phi tự lượng xứ, thức tình nan trắc Chơn như pháp giới, vô tha vô tự). This is where thinking never attains, this is where the imagination fails to measure. In the higher realm of True Suchness, there is neither 'other' nor 'self.' Cần nhứt hãy tương ưng Cùng lẽ đạo bất nhị Bất nhị thì hòa đồng Không gì chẳng bao dong Mười phương hàng trí giả Đều chung nhập một tông. (Yêu cấp tương ưng, duy ngôn bất dị Bất nhị giai đồng, vô bất bao dong Thập phương trí giả, giai nhập thử tông). When a direct identification is asked for, we can only say 'not two.' In being not two all is the same, all that is comprehended in it: The wise in the ten quarters, they all enter into this absolute faith. Tông nầy vốn tự tại Khoảnh khắc là vạn niên Dầu có không không có Mười phương trước mắt liền. (Tông phi xúc diên, nhứt niệm vạn niên Vô tại bất tại, thập phương mục tiền). This absolute faith is beyond quickening time and extension space. One instant is ten thousand years; no matter how things are conditioned, whether with 'to be' or 'not to be.' It is manifest everywhere before you. Cực nhỏ là cực lớn Đồng nhau bặt cảnh duyên Cực lớn là cực nhỏ Đồng nhau chẳng giới biên. (Cực tiểu đồng đại, vong tuyệt cảnh giới Cực đại đồng tiểu, bất kiến biên biểu). The infinitely small is as large as large can be, when external conditions are forgotten; the infinitely large is as small as small can be, when objective limits are put out of sight. Cái có là cái không Cái không là cái có Ví chửa được vậy chăng Quyết đừng nên nấn ná. (Hữu tức thị vô, vô tức thị hữu Nhược bất như thị, tất bất tu thủ). What is is the same with what is not, what is not is the same with what is: Where this state of things fails to obtain, be sure not to tarry. Một tức là tất cả Tất cả tức là một Quí hồ được vậy thôi Lo gì chẳng xong tất. (Nhứt tức nhứt thiết, nhứt thiết tức nhứt Đản năng như thị, hà lự bất tất). One in all, all in one. If only this is realized, no more worry about your not being perfect! Tín tâm chẳng phải hai Chẳng phải hai tín tâm Lời nói làm đạo dứt Chẳng kim cổ vị lai. (Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm Ngôn ngữ đạo đoạn, phi cổ lai kim). The believing mind is not divided, and undivided is the believing mind. This is where words fail, for it is not of the past, future, or present.
tín mãn thành phật
(信滿成佛) Cũng gọi Tín mãn đắc Phật, Tín mãn đắc vị. Tin đủ liền thành Phật. Tức là việc tu hành của giai vị Thập tín đã viên mãn, bước vào giai vị đầu tiên của Thập giải mà thành Chính giác, là 1 trong 4 môn thành Phật nói trong kinh Chiêm sát, do tông Hoa nghiêm đặc biệt đề xướng. Các giai vị tu hành của tông Hoa nghiêm được chia làm 2 môn là Hàng bố và Viên dung, môn Hàng bố là từ Thập tín đến Phật quả, thứ tự có 6 vị khác nhau, còn môn Viên dung thì hễ được một vị là được tất cả vị. Phẩm Phạm hạnh trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 8 (Đại 9, 44 hạ) nói: Lúc vừa phát tâm liền thành Chính giác, biết tính chân thực của tất cả pháp, đầy đủ thân trí tuệ, không nhờ người khác mà giác ngộ. Hoa nghiêm kinhthám huyền kí quyển 3 (Đại 35, 166 trung) nói: Căn cứ theo toàn bộ ý nghĩa trong kinh mà nêu ra 3 mônthành Phật. Một nói về vị thì dùng 6 tướng phương tiện, tức sau phần tâm thắng tiến cuối cùng của Thập tín, bước vào giai vị đầu tiên của Thập giải thì liền thành Phật. Vì đây là giai vị bất thoái của Tam thừa chung giáo, cho nên dùng 6 tướng của Nhất thừa dung nhiếp, liền đầy đủ các giai vị cho đến quả Phật. Vì tông Hoa nghiêm cho rằng một hạnh tức tất cả hạnh, một vị tức tất cả vị, cho nên nói hễ được một vị liền được tất cả vị. Ở đây đặc biệt y cứ vào Thập tín đầy đủ là thành Phật để nói rằng Tam thừa chung giáo bước vào giai vị đầu tiên của Thập giải thì liền được bất thoái. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 19 (Đại 35, 647 trung) ghi: Nói chung, các giai vị dung nhiếp lẫn nhau, gồm có 3 loại: 1. Dùng Hành nhiếp vị, như trong Thập tín đủ tất cả vị, được ghi trong phẩm Hiền thủ.2. Dùng Vị nhiếp vị, như Thập trụ đầy đủ liền được thành Phật, được ghi trong phẩm Thập trụ và phần nói về tỉ khưu Hải chàng trong phẩm Pháp giới. Thập hành, Thập hướng, Thập địa cũng đều như thế và được nói rõ trong các phẩm này. 3. Tâm đầu tiên nhiếp tâm cuối cùng, như tâm đầu tiên của Thập trụ dung nhiếp các giai vị, được nói trong phẩm Thập trụ.Trong Ngũ giáo chương toản thích quyển hạ, phần 7, có giải thích đoạn văn nêu trên đây, cho rằng đầu tiên là Hành Phật, kế đến là Vị Phật. Dựa vào đó ta biết được là Hành vị của Thập tín chưa thành, cho nên gọi việc thành Phật ấy là Hành Phật. Vị đầu tiên của Thập giải trở lên thì vì vị đã thành, cho nên việc thành Phật ấy được gọi là Vị Phật. [X. kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo; luận Đại thừa khởi tín; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, phần cuối].
tín nam
Upàsaka (P). A male devotee. Lay adher
tín nghĩa
Credit. Tín, Nguyện, Hạnh Là Ba Món Ăn Tinh Thần Cao Tuyệt Trong Pháp Môn Tịnh Độ: Faith, vows and practice are called the three best provisions of the Pure Land method.
tín nguyện
Faith and vows.
tín nguyện hành
(信願行) Chỉ cho lòng tin, phát nguyện và tu hành. Tông Tịnh độ rất coi trọng 3 môn này, gọi là Tịnh độ tam tư lương. Tư là tiền bạc, lương là lương thực; ví như người đi xa, một là cần tiền bạc, hai là cần lương thực, đây là 2 điều kiện rất quan trọng, nếu thiếu thì khó có thể đi đến nơi mình muốn. Cũng thế, người tu hành muốn thành Phật hoặc vãng sinh Tịnh độ cũng phải đầy đủ Tín, Nguyện, Hành mà Tín là điều kiện quan trọng nhất. Bởi vì, nếu không có lòng tin thì Nguyện và Hành không thành lập được.
tín ngưỡng
To believe in and look up to. Belief, faith, creed.
; Niềm tin tôn giáo—To believe in and look up to—Religious faith or belief.
; (信仰) Cũng gọi Ngưỡng tín. Tín tâm chiêm ngưỡng(ngẩng trông với lòng tin kính). Tín ngưỡng có các từ tương đương trong tiếng Phạm là: Zcradhà, Psasàda, adhimukti, bhakti, Hán dịch: Tín tâm, chính tín, tịnh tín, tín giải. Nghĩa là ngẩng trông với lòng tin kính đối với Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. Bước đầu tu hành Phật đạo, cần phải lập tín tâm vững chắc, không để lay động, rồi tiến tới cầu trí tuệ, mong đạt đến cảnh giới mở tỏ.
tín nhiệm
To confide—To have faith and confidence in—To trust.
tín nhạo
(信樂) Tin ưa. Nghĩa là lắng nghe, tín ngưỡng Phật pháp mà sinh tâm mến mộ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Chúng sinh dốc lòng tin ưa(tín nhạo), muốn sinh về cõi nước của ta, dù chỉ 10 niệm, nếu không được sinh thì ta không thành Chính giác. Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 9 (Đại 31, 213 trung) nói: Đối với chính giáo Lục độ, tâm quyết định không nghi, gọi là Tín; đối với pháp đã tin, muốn phát tâm tu hành, gọi là Nhạo. Bởi tâm chấp nhận không hoài nghi, thuận theo pháp đã nghe mà mến mộ, tin ưa, rồi y cứ vào đó để tiến lên tìm cầu các pháp thiện thế gian, xuất thế gian, gọi là Tín nhạo. Pháp môn Tịnh độ, đối với ý nghĩa tín nhạo thì giải thích là tin Tịnh độ (tức nguyện nhạo vãng sinh). [X. Câu xá luận quang kí Q.4; Quán kinh tán thiện nghĩa truyền thông tín Q.1]. (xt. Tam Tâm).
tín nhẫn
Faith-patience, faith-endurance.
; Faith-patience—Faith-endurance. 1) Kiên trì an trụ trong niềm tin và niệm hồng danh Phật A Di Đà: To abide patiently in the faith and repeat the name of Amitabha. 2) Tin nơi chân lý và đạt được tín nhẫn: To believe in the Truth and attain the patient faith. 3) Theo Thiên Thai, Biệt Giáo có nghĩa là niềm tin không bị đảo lộn của Bồ Tát rằng chư pháp là không thật: According to the T'ien-T'ai sect, the differentiated teaching means the unperturbed faith of the Bodhisattva that all dharma is unreal.
tín niệm xướng đề
(信念唱題) Tín niệm nghĩa là tin và nghĩ, thuộc về ý nghiệp, tức trong lòng kính tin đối với Bản tôn. Xướng đề nghĩa là miệng niệm đề kinh Nam mô diệu pháp Liên hoa kinh thuộc về khẩu nghiệp, nhờ đó có thể được khai ngộ. Đây là giáo nghĩa của tông Nhật liên, Nhật Bản. Thông thường, Phật giáo chủ trương lí giải và thực tiễn tương ứng thì đạt đến giác ngộ, nhưng tông Nhậtliên cho rằng chúng sinh đời mạt pháp lấy lòng tin thay cho trí tuệ.
tín nữ
Xem Ưu bà di.
; Upàsikà (P). A female devotee, who remains at home. Lay follower.
; Upasika (skt)—Ưu bà di—Người nữ tin theo Phật pháp và thụ trì tam quy ngũ giới hoặc bát quan trai giới—A female devotee who remains at home, but strongly supports the Sangha, a keeper of the basic five commandments or eight commandments.
tín phục
To believe in and submit oneself to. To trust; to accept in faith;
; Tin và phục tùng—To believe and submit oneself to—To trust.
Tín phụng
信奉; C: xìnfèng; J: shinbō; |Đức tin, niềm tin, sự tin tưởng.
Tín phụng 信奉
[ja] シンブ shinbō ||| Belief, faith, conviction. => Đức tin, niềm tin, sự tin tưởng.
Tín Quang Minh Tự
(信光明寺, Shinkōmyō-ji): ngôi danh sát của Tịnh Độ Tông, hiệu núi là Di Lặc Sơn (彌勒山), tên chính thức là Di Lặc Sơn Sùng Nhạc Viện Tín Quang Minh Tự (彌勒山崇岳院信光明寺); hiện tọa lạc tại Iwazu-chō (岩津町), Okazaki-shi (岡崎市), Aichi-ken (愛知縣). Vào năm 1451 (Bảo Đức [寶德] 3), Tùng Bình Tín Quang (松平信光, Matsutaira Nobumitsu) phát tâm quy y theo Thích Dự Tồn Quynh (釋譽存冏), Tăng sĩ của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông, đi bố giáo từ Hoằng Kinh Tự (弘經寺, Gukyō-ji) vùng Phạn Chiểu (飯沼, Iinuma, thuộc Ibaraki-ken [茨城縣]) đến tiểu quốc Tam Hà (三河, Mikawa), và khai sáng ra chùa này với mục đích cầu nguyện siêu độ cho tổ tiên quá cố của dòng họ Tùng Bình. Chính sau này vị trú trì đời thứ 2 và thứ 3 của chùa trở thành trú trì của Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở kinh đô Kyoto, tạo điều kiện thuận lợi cho Phái Trấn Tây ở địa phương Tam Hà tiến xuất lên kinh đô. Vào năm 1571 (Nguyên Quy [元龜] 2), các ngôi đường vũ của chùa hầu như bị cháy rụi, chỉ còn sót lại Pháp Đường (hiện là Quan Âm Đường); nhưng 2 năm sau thì được tái kiến nhờ mệnh của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu). Từ đó về sau, chùa trở thành nơi chuyên tâm cầu nguyện cho tổ tiên của dòng họ Tướng Quân, được chính quyền Mạc Phủ bảo hộ tối đa. Vào khoảng cuối thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), chùa lại gặp nạn hỏa tai và kiến trúc hiện tại là quần thể trước niên hiệu Bảo Vĩnh (寶永, 1704-1710), gồm có: Quan Âm Đường, Khách Điện, Đường Môn, Tổng Môn.
tín quý sơn duyên khởi
(信貴山緣起) Tác phẩm truyện tranh,3 quyển,tương truyền do ngài Giác du (Điểu vũTăng chính) vẽvà pháp sư Tịchliên ghi lời vào cuối đời Đằngnguyên, hiện được cất giữ ở chùa Triềuhộ, núi Tínquý, Nhậtbản. Nội dung tập tranh miêu tả sự linh nghiệm của Thiên vương Tì sa môn ở núi Tín quývà sự thuyết pháp của Đại sư Mệnh liên(được chép trong Vũ trụ thập di Một trong các quyển vẽ duyên khởi ở núi Tín Quýquyển 8). Các hình ảnh có nét vẽ rất sắc sảo, sống động, có thể sánh ngang với Nguyên thị vật ngữ hội quyển ở cùng thời đại.
tín sĩ
Upasaka (skt)—Ưu bà tắc, tín sự nam, hay cận sự nam—Tín giả tại gia thọ trì tam quy ngũ giới hay bát quan trai giới—A male devotee who remains in the world as a lay disciple, a bestower of alms, a keeper of the basic five commandments, or eight commandments.
tín sĩ tín nữ
(信士信女) Tín sĩ và tín nữ. Tín sĩ, Phạm: Upàsaka, Hán âm: Ưu bà tắc, chỉ tín đồ Phật giáo thuộc nam giới. Tín nữ, Phạm: Upàsikà, Hán âm: Ưu bà di, chỉ tín đồ Phật giáo thuộc nữ giới. Tức hai chúng tại gia đã thụ Tam qui, Ngũ giới hoặc giới Bát quan trai. (xt. Tín Đồ).
tín thuận
To believe and obey.
; Tin tưởng và vâng phục—To believe and obey.
tín thành tựu phát tâm
(信成就發心) Một trong 3 thứ phát tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín. Tức Bồ tát trong giai vị Thập tín phát khởi trực tâm, Phương tiện tâm và Đại bi tâm khi thành tựu tín tâm để nhập vào Tín vị thứ 10. (xt. Tam Chủng Phát Tâm).
tín thí
Almsgiving because of faith; the gifts of the faithful.
; 1) Bố thí do nơi niềm tin (tin nơi hành trì lục độ Ba La Mật mà bố thí): Almsgiving because of faith. 2) Đồ vật bố thí của người thiện tín: Những vật cúng dường của người tại gia cho người xuất gia—The gifts of the faithful.
; (信施) Tín đồ đem tài vật bố thí cho Tam bảo, hoặc chỉ cho tài vật dùng để bố thí. Kinh Trường a hàm quyển 14 (Đại 1, 89 thượng) nói: Như các sa môn, Bà la môn khác nhận của tín thí, lại cầu tích trữ y phục, thức ăn uống, không biết bao nhiêu cho đủ, còn sa môn Cù đàm không có việc như thế. Luật Ma ha tăng kì quyển 31 ghi: Đức Phật dạy: Tín là tín tâm mà cho, hoan hỉ mà cho. Thí có 8 thứ, từ Thời thực, Dạ phần cho đến tịnh bất tịnh.... [X. kinh Đại bảo tích Q.88; Quân chân Cửu phong Huyền thiền sư trong Thiền lâm tăng bảo truyện Q.7].
tín thọ
Có lòng tin nhận nơi giáo pháp—Receptivity and obedience of faith—To believe and receive the doctrine—In faith receive and obey (usually found at the end of sutras).
tín thọ phụng hành
1) Tin và thọ trì giáo pháp mà Như Lai đã nói ra: In faith receive and obey. 2) Câu thường được tìm thấy ở cuối những bài kinh (ám chỉ lời hứa tin và phụng hành những lời Phật dạy): A sentence usually found at the end of sutras.
Tín thọ phụng hành 信受奉行
[ja] シンジュブキョウ shinjubukyō ||| To receive the Buddha's teaching with conviction and understanding, and then truly practice these teachings. This phrase frequently appears at the end of a sutra or a śāstra. => Ghi nhận lời dạy của Đức Phật với niềm tin và sự thông hiểu, rồi chân chính thực hành những lời dạy nầy. Câu nầy thường xuất hiện vào cuối những bản kinh hoặc luận (s:śāstra).
Tín thọ 信受
[ja] シンジュ shinju ||| To receive (the teachings) with confidence. To gain faith and keep it. => Ghi nhận lời dạy với niềm tin tưởng. Có được niềm tin và hành trì theo.
Tín thụ
信受; C: xìnshòu; J: shinju; |Ghi nhận (lời dạy) với niềm tin tưởng. Có được niềm tin và hành trì theo.
tín thụ
The receptivity and obedience of faith; to believe and receive (the doctrine).
Tín thụ phụng hành
信受奉行; C: xìnshòu fèngxíng; J: shin-jubukyō;|Ghi nhận lời dạy của đức Phật với niềm tin và sự thông hiểu, rồi chân chính thực hành những lời dạy nầy. Câu nầy thường xuất hiện vào cuối những bản kinh hoặc luận (s: śāstra).
tín thụ phụng hành
In faith receive and obey, a sentence found at the end of sùtras.
; (信受奉行) Tin nhận vâng làm. Nghĩa là tin nhận pháp do Như lai nói mà vâng làm theo. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 844 hạ) ghi: Tất cả đại chúng, nghe đức Phật nói, đều rất vui mừng, tin nhận vâng làm.
tín thủ
Faith, regarded as a hand grasping the precious truth of Buddha.
; 1) Niềm tin được coi như là bước đầu tiên trên đường tu đạo thanh tịnh: Faith as the first and leading step in the Path of Purification. 2) Niềm tin được coi như là cánh tay hái lấy của báu Phật pháp—Faith regarded as a hand grasping the precious truth of Buddha.
tín thủy
Lòng tin trong sạch như nước trong—Faith pure and purifying like water.
; (信水) Nước tin. Nghĩa là tín tâm thanh tịnh ví như nước lắng trong, có công năng rửa sạch những cáu bẩn hoài nghi, nên gọi là Tín thủy.
tín tuệ
Faith and wisdom.
; See Tín Huệ.
tín tâm
Shinjin (J)Xem Tín.
; A believing mind, which receives without doubting. Faith.
; Tin theo pháp mà mình được nghe mà không có lòng nghi ngờ—Faith—A believing mind which receives without doubting. ** For more information, please see Tứ Tín Tâm and Ngũ Chủng Tín.
; (信心) Tâm tin. Nghĩa là sau khi lắng nghe và hiểu rõ Phật pháp, tâm tin nhận mà không nghi ngờ, cũng tức là tâm thanh tịnh xa lìa hoài nghi. Kinh Tạp a hàm quyển 26 (Đại 2, 188 thượng) nói: Thế nào là tín lực? Đó là đối với Nhưlai sinh khởi tín tâm, sâu xa vững chắc. Tín tâm là bước đầu vào đạo, cho nên trong 5 căn(Tín, Tiến, Niệm, Định, Tuệ) Tín được đặt ở đầu. Kinh Hoa nghiêm quyển 11 (bản 60 quyển) và luận Đại trí độ quyển 1 đều ví dụ tín tâm là tay, cho rằng người đã hiểu biết được Phật pháp mà không có tín tâm thì cũng giống như người lên núi báu mà không có tay, nên không lấy được một vật gì. Kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng cũng cho tín tâm là cội nguồn của hạnh Bồ tát và đặt Tín ở đầu các giai vị. Còn tín tâm nói trong kinh Đại bát niết bàn và trong luận Đại thừa khởi tín thì chính là tâm tin Tam bảo Phật, Pháp, Tăng và lí nhân quả. Nhưng pháp môn tịnh độ thì đặc biệt nhấn mạnh tâm tin vào nguyện lực của Phật A di đà, như Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàmloan, cho rằng người xưng danh nhớ nghĩ mà không thỏa mãn điều mình mong cầu là do 3 việc bất tương ứng (Đại 40, 835 trung): Một là tín tâm không thuần, lúc còn lúc mất. Hai là tín tâm bất nhất, không quyết định. Ba là tín tâm không liên tục, vì xen lẫn các niệm khác. Trong Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo cũng nêu 2 thứ tín tâm là Cơ và Pháp, trong đó, Pháp tín tâm có Nhân lập tín và Hạnh lập tín khác nhau. Nhân lập tín thì nhấn mạnh tâm tin vào nguyện lực của Phật Di đà, sự khuyên bảo của Phật Thích ca và sự chứng minh của chư Phật. Nếu người theo học thuyết khác, có kiến giải khác, thì dù có Hóa Phật, Báo Phật đến rước, cũng không được vãng sinh. Còn Hạnh lập tín thì cho rằng xưng danh là thuận theo hạnh nguyện của đức Phật kia (Phật Di đà), cho nên y cứ vào đó mà lập tín tâm quyết định vãng sinh. [X. kinh Hoa nghiêm Q.14 (bản dịch mới); kinh Phạmvõng Q. thượng; Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.14].
Tín tâm minh
信心銘; C: xìnxīmíng; J: shinjinmei;|Một bài kệ tụng danh tiếng của Tam tổ Tăng Xán bao gồm 584 chữ. Ðây là một tác phẩm căn bản của Thiền tông. Ðặc biệt là hai câu đầu:|至道無難,唯嫌揀擇|»Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch.«|*»Ðạo tột cùng không khó|Chỉ đừng phân biệt chọn lựa«.|được rất nhiều Thiền sư sau này nhắc lại và giảng giải.
tín tâm minh
Shinjinmei (J).
; (信心銘) Tác phẩm, 1 quyển, do Tổ thứ 3 của Thiền tông Trung quốc là Thiền sư Giám trí Tăngxán soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung ca tụng cảnh giới Tín tâm bất nhị, Bất nhị tín tâm. Sách này được viết theo thể thơ mỗi câu 4 chữ, gồm 146 câu, tổng cộng 584 chữ, từ Chí đạo vô nan, Duy hiềm giản trạch đến Ngôn ngữ đạo đoạn, Phi khứ lai kim thì hết. Tư tưởng trong tác phẩm này chủ trương xa lìa tất cả vọng niệm đối lập, sai biệt, như phải trái, được mất... mà an trụ nơi cảnh giới bình đẳng tự tại. Lại cho rằng tình thức của con người chẳng phải thế giới chân thực, thế giới không có suy lường mới là pháp giới chân thực tuyệt đối, nếu tâm trụ trong pháp giới này thì tất cả quan niệm đối đãi như cực lớn, cực nhỏ, có, không... đều bình đẳng như nhau. Toàn sách đề xướng tư tưởng Hoa nghiêm Một tức tất cả, dung thông lẫn nhau, cho nên rất có ý nghĩa trọng yếu về mặt lịch sử tư tưởng. Trong sách nói: Vạn pháp đồng quán, trở về tự nhiên. Đây là quan niệm Vạn vật nhất thể trong tư tưởng Trang tử và Tăng triệu. Sách này và Tâm vương minh của Phó đại sĩ, Tâm minh của ngài Ngưu đầu Pháp dung bắt nguồn từ cùng một tư tưởng, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành tư tưởng của Thiền tông thời kì đầu. Sách chú sớ nổi tiếng của tác phẩm này có Tín tâm minh niêm cổ của ngài Thanh liễu, Tín tâm minh nghĩa giải của ngài Minh Bản... [X. Thiền tịch chí Q. thượng].
tín tâm vi bản
(信心爲本) Lòng tin là gốc. Đây là giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Lấy tín tâm làm gốc tức là lòng tin hồi hướng tha lực là nhân chính yếu của sự vãng sinh Tịnh độ, Tịnh độ chân tông căn cứ vào đây để lập tông nghĩa của mình.
Tín túc
信宿; C: xìnsù; J: shinshuku;|Nghỉ lại qua hai đêm.
Tín túc 信宿
[ja] シンシュク shinshuku ||| To stay over for two nights. => Nghỉ lại qua hai đêm.
Tín tương ưng địa
信相應地; C: xìn xiāngyīng dì; J: shin sō-ōji;|Thuật ngữ trong Đại thừa khởi tín luận dành cho Thập trú (十住), khi hành giả đạt đến giai vị Bất thối chuyển.
tín tương ưng địa
(信相應地) Cũng gọi Tín hành địa, Tín địa. Chỉ cho giai vị tương ứng với Tín, sắp bước lên hàng Sơ trụ Bồ tát. Thập địa kinh luận quyển 1 (Đại 26, 124 hạ) nói:Tất cả Bồ tát đều trụ ở Tín hành địa. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 577 hạ) nói: Một là Chấp tương ứng nhiễm, nương vào đạo Giải thoát của Nhị thừa và Tín tương ứng của Bồ tát mà xa lìa. Hai là Bất đoạn tương ứng nhiễm, nương vào Tín tương ứng địa tu học phương tiện, dần dần lìa bỏ, được Tịnh tâm địa, rốt ráo xa lìa (...) Không rõ được nghĩa Nhất pháp giới thì từ Tín tương ứng địa quán sát tu mà đoạn, nhập vào Tịnh tâm địa, được xa lìa từng phần; cho đến Như lai địa thì hoàn toàn xa lìa. Đại thừa khởi tín luận trực giải quyển thượng của Hám sơn Đại sư (Vạn tục 72, 90 thượng) ghi: Tín tương ứng địa là từ Tín và Trụ, nhập Sinh không quán, chỉ phá đượcKiến tư, tức Kiến ái phiền não. Luận Kim cương bát nhã quyển thượng, cũng nóiTín tương ứng địa có 3 Địa là Tín hành địa, Tịnh tâm địa và Như lai địa, trong đó, Thập lục trụ xứ hiển bày Tín hành địa, Chứng đạo trụ xứ là Tịnh tâm địa, Cứu cánh trụ xứ là Như Lai địa. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển hạ, phần đầu thì cho rằng Tín tương ứng địa là từ Thập giải trở về trước, tín căn thành tựu, không còn trở lui. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q. thượng, phần cuối; Khởi tín luận sớ Q. thượng; Đại thừa khởi tín luận liệt cương sớ Q.3].
Tín tướng tương ưng 信相應地
[ja] シンソウオウジ shin sō-ōji ||| A term in the Awakening of Faith 起信論 for the ten abidings 十住, wherein one achieves a condition of non-retrogression. =>Thuật ngữ trong Đại Thừa Khởi Tín Luận về Thập trú, khi hành giả đạt đến giai vị Bất thối chuyển.
tín tạng
The treasury of faith.
; Kho báu niềm tin chứa tất cả công đức—The treasury of faith which contains all merits.
; (信藏) Lòng tin chứa đựng tất cả công đức. Kinh Hoanghiêm (bản 80 quyển) quyển 2 (Đại 10, 6 trung) nói: Tín tạng giải thoát môn có năng lực mạnh mẽ làm cho chúng sinh gặp Phật ra đời.
tín vị
(信位) I. Tín Vị. Gọi đủ: Thập tín vị. Chỉ cho giai vị Thập tín trong 52 giai vị Bồ tát. (xt. Thập Tín). II. Tín Vị. Đối lại: Nhân vị. Chỉ cho giai vị hướng thượng vào thẳng cảnh giới giác ngộ, siêu việt tất cả, tuyệt đối thanh tịnh, gọi là Tín vị. Trái lại, giai vị hướng hạ cứu giúp chúng sinh, thì gọi là Nhân vị. [X. Thung dung lục tắc 32]
tín y
(信衣) Áo tin. Y là áo Phật, áo ca sa, là chứng cứ cho việc truyền trao Chính pháp, khiến mọi người tin đó là chân truyền, vì thế gọi là Tín y. Thung dung lục tắc 13 (Đại 48, 235 hạ) ghi: Nửa đêm, Tín y được trao cho Lư năng, làm cho 700 vị tăng ở Hoàng mai phải xôn xao. (xt. Ca Sa).
tín điều
Drsti (S), Ditthi (P). Dogma.
; Dogma.
tín điều chủ nghĩa
Dogmatism.
tín đạo
Faith as the first and leading step.
tín địa
Belief or the faith root.
tín đồ
Believer, follower, disciple, adept.
; Believer.
; (信徒) Chỉ cho tín chúng của giáo đoàn Phật giáo. Theo nghĩa rộng thì chỉ cho 7 chúng: Tỉ khưu,tỉ khưu ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc và ưu bà di. Còn nói theo nghĩa hẹp thì Tín đồ là chỉ riêng cho ưu bà tắc và ưu bà di mà thôi.
tín đồ ấn độ giáo
Hindu (S).
tín độ
Ấn Độ—India—Vào thời nhà Đường, lãnh thổ Tín Độ Quốc trải dài trên một chu vi hơn 90.000 dậm. Ba phía giáp biển, phía Bắc nằm trên dãy Tuyết Sơn Hy Mã Lạp Sơn. Phía Bắc rộng, phía Nam hẹp, giống như hình bán nguyệt. Thời tiết rất nóng và ẩm. Kinh thành là Tì Tham Bà Bổ La (Vichavapura)—In the T'ang dynasty, its territory is described as extending over 90,000 miles in circuit, being bounded on three sides by the sea; north is rested on the Snow Mountain (Himalaya); wide at north, narrowing to the south, shaped like a half-moon. It eas extremely hot, well watered and damp. Its capital was Vichavapura.
tín độ hà
Xem Thiên Trúc.
; Tân Đầu Hà, hay Ấn Hà, một trong bốn con sông lớn—The Indus, one of the four great rivers.
; (信度河) Phạm, Pàli:Sindh, Sindhu. Cũng gọi: Ấnđộ tư hà, Tân đào hà, Lạp sở hà, Tân đầu hà. Hán dịch: Nghiệm hà, Linh hà. Con sông lớn ở miền Tây bắc Ấn độ, tức là sông Ấnđộ (Indus) hiện nay. Sông này bắt nguồn từ núi Tăng cách khách ba bố thuộc rặng núi Cương để tư ở Tâytạng, chảy theo phíatây bắc, qua các thung lũng của núiKhách lạt côn lôn và Hi mã lạp nhã mà chảy vào vùng Parmi của Ấnđộ, rồi uốn khúc về phía Tây nam đến địa phương Ngũ hà (Phạm:Paĩjàb), nhập với các dòng sông khác qua Pakistan mà chảy vào biển Á rập, sau khi vượt qua 2898km. Điều Bát lộ la quốc trong Đại đuờng tây vực kí quyển 3 (Đại 51, 884 trung) ghi: ... Đi về phía nam, vượt qua sông Tín độ. Sông rộng 3, 4 dặm, chảy về phía nam, lặng trong như gương, dòng chảy lững lờ, có rồng độc trong đó, nếu mang các vật quí báu hoặc hoa quả hiếm lạ thì phần nhiều thuyền bị cuốn chìm. Theo đó thì vùng thượng lưu sông Tín độ rất cao dốc, hiểm trở. Nhưng vùng trung châu(tức địa phương Ngũ Hà) của sông này, đất đai rất phì nhiêu, là trung tâm của nền văn hóa Ấn độ cổ đại. [X. kinh Trường a hàm Q.18; luận Đại tì bà sa Q.5]. (xt. Ấn Độ Hà).
tín độ quốc
Xem Thiên Trúc.
; (信度國) Tín độ, Phạm: Sindhu. Vốn là tên một Vương quốc thời xưa ở miền tây Ấnđộ, về sau được dùng làm tên chung cho toàn cõi Ấnđộ. Đại đường tây vực kí quyển 11 (Đại 51, 937 thượng) nói: Nước Tín độ chu vi hơn 7000 dặm, đại đô thành là Tì thiêm bà bổ la, rộng hơn 30 dặm. Đất đai phì nhiêu, thích hợp cho việc trồng ngũ cốc, nhất là lúa mạch, sản xuất vàng, bạc, đá quí, các loại muối, nuôi nhiều bò, dê, lạc đà, nhưng giống lạc đà nhỏ, thấp, chỉ có một bướu. Tính người nước này cứng cỏi, thẳng thắn, thích tranh cãi, chỉ trích lẫn nhau, không thích học rộng, tin sâu Phật pháp, có vài trăm ngôi già lam với hơn 10.000 vị tăng, đều tu học theo pháp Chính lượng bộ của Tiểu thừa. Khi đức Phật còn tại thế, thường đến nước này giáo hóa, về sau, vua A dục có xây tháp kỉ niệm. Ngài Ô ba cúc đa cũng từng đến nước này hoằng pháp, xây dựng chùa tháp, lúc ngài Huyền trang đến đây, các chùa tháp ấy vẫn còn. Nhà khảo cổ học người Anh là ông A.Cunningham căn cứ vào Tây vực kí mà suy đoán là miền Thượng tín (Upper Sind) thuộc tiểu bang Tín địa (Sind) là di tích của nước này. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Thích ca phương chí Q. hạ; Giải thuyết Tây vực kí; The Ancient Geography of India by A.Cunnigham; Buddhist Records of the Western World by S.Beal; On Yuan Chwang by T.Watters; The eographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India by H.L.Dey]. (xt. Ấn Độ).
tín đức
Abhimukti (S), Implicit faith.
; The merit of the believing heart; the virtue of faith.
; Công đức của niềm tin—The merit of the believing heart—The power of faith.
tín đức bồ tát
Saddhādhika (S)Tên một vị Bồ tát.
Tín 信
[ja] シン shin ||| To believe in, to trust. Faith, confidence, sincerity. (śraddhā): 'faith', 'conviction.' (1) A name for the mind. (2) One of the 'ten good mental condition' elements listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論; one of the 'eleven good elements' in the doctrine of the Faxiang 法相 school. Facing the environment with clarity and calmness, thereby calming and quieting the other mental functions. Accepting the world as it is. According to the Faxiang school, it is a 'real element' which functions throughout the three realms. => Tin, tin tưởng vào. Niềm tin, sự tin cậy, lòng thành (s: śraddhā). 1. Một tên gọi của Tâm. 2. Một trong 10 thiện tâm sở đề cập trong Luận Câu xá; một trong 11 thiện tâm sở đề cập trong Pháp tướng tông. Khi gặphcảnh giới thanh tịnh, nhờ đó mà làm thanh tịnh các tâm sở khác. Tin nhận pháp giới như chúng đang là Theo Pháp tướng tông, Tín là "thực pháp" có cái dụng suốt khắp ba cõi.
tín, giải, hành, chứng
Faith, interpretation, performance and evidence or realization of the fruit of Buddha's doctrine.
tín, hạnh, nguyện
Faith, Practice, Vows.
tính
Shō (J).
; 1) See Tánh. 2) To calculate—To compute—To count—To reckon. 3) Character—Nature.
; (性) I. Tính. Phạm:Prakfti. Pàli:Pakati. Đối lại: Tướng, Tu. Có nghĩa bất biến. Chỉ cho tính chất vốn có xưa nay, thực thể(tức tự tính)của sự vật, tự thể đối với tướng trạng hoặc chủng tính(tố chất)của chúng sinh... tức cái bản chất mà dù có chịu ảnh hưởng. của thế giới bên ngoài cũng không hề thay đổi.Cứ theo phẩm Chủng tính trong kinh Bồ tát địa trì quyển 1, phẩm Chủng tính trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 1 và luận Đại trí độ quyển 31, 32 thì pháp nhĩ từ vô thủy đến nay đã có nhân chủng bản phần tự nhiên như thế, không đợi các nhân duyên khác cấu thành, đó là Tính. Theo luận Đại trí độ quyển 31, Tính có Tổng và Biệt khác nhau. 1. Tổng tính: Tức tính chung của các pháp, như vô thường, khổ, không, vô ngã, vô sinh, vô diệt... 2. Biệt tính:Tức tính riêng của mỗi sự vật hoặc mỗi pháp, như lửa có tính nóng, nước có tính ướt, tâm có tính biết... Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng giải thích Như thị tính trong Thập như có 3 nghĩa: 1. Không thay đổi. 2. Phân biệt chủng loại. 3. Thực tính, tức tên khác của Phật tính. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 49 cho rằng Tính có 2 nghĩa: 1. Chủng tính. 2. Pháp tính. Tông Duy thức chủ trương Tính có chân vọng, chân tục khác nhau. Trong 3 tính được thành lập là tính Biến kế sở chấp, tính Y tha khởi và tính Viên thành thực thì tính Viên thành thực được xem là tính thực của Duy thức. Ngoài ra, đứng về phương diện chủng tính mà nói thì có 5 chủng tính, như Phật tính, Như Lai tính...; còn đứng về phương diện bản tính của các pháp mà nói thì có pháp tính, lí tính... Lại tính chân thực, gọi là Thực tính, công đức trong đó, gọi là Tính đức; cái từ xưa đến nay vốn đã sẵn đủ, gọi là Tính cụ, thể của Tính cụ tức duyên khởi, gọi là Tính khởi. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; phẩm Nhất thiết pháp tướng trong kinh Giải thâm mật Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.1, 4; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần đầu, Q.9, phần cuối]. II. Tính. Chỉ cho ái dục (Phạm,Pàli:Kàma). Đây là hành vi trở ngại sự tu hành, cho nên tăng chúng xuất gia phải đoạn tuyệt; còn tín đồ tại gia thì không bị cấm đoán, nhưng phải có hành vi ái dục chính đáng. Do đó, hành giả xuất gia có giới dâm và tín đồ tại gia có giới không tà dâm. (xt. DâmGiới, Ái, Ái Dục, Biến Thành Nam Tử).
tính chất
Property—Nature—Charateristics.
tính chủng tính
Nature-seed nature, i.e. original or primary nature, in contrast with tập chủng tính active or functioning nature; it is also the bodhisattva thập hạnh stage.
tính chừng
To estimate.
tính cách
Nature—Character.
tính cách trị liệu
Therapeutic nature
tính cơ
(性機) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Hoàng bá Nhậtbản, sống vào đời Thanh, người ở Phúc thanh, Phúc châu, họ Trịnh, tự Tuệ Lâm.Thuở nhỏ, sư theo Nho học, linh lợi và có tài hùng biện, nhưng xem nhẹ công danh và hướng tâm về Phật pháp. Năm 40 tuổi, sư theo ngài Hủy công chùa Kìviên xuất gia. Năm Thuận trị thứ 6 (1649), sư lên núi Hoàng bá tham yết ngài Ẩn nguyên Longkì, được cử làm chức Kí thất. Năm Thuận trị 11 (1654), sư theo ngài Ẩn nguyên đến Nhậtbản, lần lượt giữ chức Kí thất các chùa Đông minh, Thánh thọ, Phổ môn... Khoảng năm Khoan văn (1661- 1673), sư trụ trì chùa Phậtnhật. Năm Diên bảo thứ 8 (1680), sư trụ trì chùa Vạnphúc. Về già, sư xây viện Hưnglong để tĩnh tu, rồi lại lập đàn truyền giới, có tới hơn 500 người thụ pháp. Niên hiệu Thiên hòa năm đầu (1681), sư thị tịch, thọ 73 tuổi. Sư có các tác phẩm: Nhị hội ngữ lục, Thương lãng thanh, Da sơn tập. [X. Phổ chiếu Quốc sư niên phổ Q.2; Tục nhật bản cao tăng truyện Q.5; Hoàng bá phổ lược].
Tính cảnh 性境
[ja] ショウキョウ shōkyō ||| One of the three kinds of objects 三類境 sanleijing in Consciousness-only theory, meaning 'real objects.' Objects which are arisen from true seeds, have true substance and function, and which the mind cognizes in their true aspect. The objective aspect of the three transformations of the eighth consciousness (seeds, five faculties, container world). The objective aspect as objectified by the first five objects and the five organs, or the objective aspect of the mind fixed in concentration. => Một trong Tam loại cảnh (c: 三類境 sanleijing) theo giáo lý Duy thức, nghĩa là 'đối tượng thực.' Là đối tượng sinh khởi từ chủng tử chân thực, có thể tính và tác dụng chân thực, được tâm nhận biết từ chân tướng của nó, bao gồm ba thứ biến hiện từ tướng phần của thức thứ 8 (chủng tử, ngũ căn, và khí thế gian), tướng phần của 5 thức trước và Ngũ câu ý thức, hoặc là tướng phần của tâm an định. .
tính cụ
(性具) Cũng gọi Bản cụ, Lí cụ, Thể cụ. Chỉ cho chân như, pháp tính sẵn có trong mỗi chúng sinh. Tông Thiên thai chủ trương mỗi một sự pháp trong pháp giới xưa nay vốn tròn đủ 3 nghìn các pháp nhân quả, mê ngộ trong 10 cõi, đó gọi là Tính cụ. Nghĩa là các thế giới hiện tượng đều có thiện và ác, đây kia hoàn toàn đầy đủ, mà pháp này pháp kia không lẫn lộn nhau. Ý nghĩa Tính cụ này là thuyết cao tột, là nền tảng và đặc sắc căn bản của giáo học Thiên thai.Sự khác nhau cơ bản về tư tưởng giữa tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm là ở chỗ: Tông Thiên thai chủ trương thuyết Tính cụ, còn tông Hoa nghiêm thì chủ trương thuyết Tính khởi. Thuyết Tính khởi của Hoa nghiêm cho rằng một khi lí tùy duyên thì thành các pháp sai biệt, còn khi lí không tùy duyên thì không có sai biệt. Thiên thai Viên giáo thì chủ trương lí tính của chân như xưa nay vốn sẵn đủ các pháp mê ngộ, gọi là Lí cụ tam thiên(Lí đủ 3 nghìn các pháp); Lí cụ này thường tùy duyên mà hiện khởi các pháp, gọi là Sự tạo tam thiên(Sự tạo ra 3 nghìn các pháp). Lí cụ tam thiên vàSự tạo tam thiên đều đồng nhất, cho nên thường xuyên tùy duyên mà cũng thường xuyên bất biến, đây là đối lại với Bất tức của Biệt lí tùy duyên mà bàn về Tương tức. Cho nên, Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển hạ của ngài Tứ minh Tri lễ cho rằng: Nếu không bàn về Thể cụ, thì Tùy duyên và Bất tùy duyên đều thuộc Biệt giáo.Thuyết Tính cụ này lấy thuyết Tam đế viên dung, nhất niệm tam thiên (Ba đế viên dung, một niệm ba nghìn) của ngài Trí khải làm nền tảng, nhưng ngài Trí khải và ngài Trạm nhiên đều lấy quán xét tâm làm chủ yếu, vì thế đặc biệt nhấn mạnh ý chỉ tâm cụ tam thiên (tâm đủ 3 nghìn các pháp). Đến thời ngài Phụng tiên Nguyên thanh đời Tống thuộc phái Sơn ngoại, lại kế thừa thuyết này, chủ trương duy tâm cụ tam thiên, lấy tâm năng cụ làm tự tính của linh tri mà hình thành thuyết Tâm tính linh tri. Tông Thiênthai ứng dụng thuyết Tính cụ này, về mặt tu hành chủ trương 10 pháp giới(6 phàm, 4 thánh) có đủ trong nhau, nghĩa là trong 1 pháp giới có đủ cả 10 pháp giới, tức trong bản tính chúng sinh vừa có các pháp ác của 9 pháp giới từ Bồ tát trở xuống, mà cũng vừa có các pháp thiện của Phật giới, cho nên Phật và chúng sinh, về căn bản, không khác nhau. [X. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q. thượng; Pháp hoa thập diệu bất nhị môn thị châu chỉ Q. hạ; Kim cương ti hiển tính lục Q.2; Thập bất nhị môn văn tâm giải; Tứ minh thập thiện thư; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.3]. (xt. Tính Thiện Tính Ác).
tính danh
Name and family.
tính duy thức
(性唯識) Đối lại: Tướng duy thức. Chỉ cho chân như vô tướng thường trụ, hoặc chỉ choKhiển tướng chứng tính thức (bỏ tướng chứng tính thức) trong 5 lớp Duy thức, tức biết rõ rằng Sự tướng y tha là không, cần phải xả bỏ để chứng tính Viên thành thực(Phật tính). (xt. Ngũ Trùng Duy Thức, Tướng Duy Thức, Duy Thức).
tính dục
Desires that have become second nature; desires of the nature,
; Sexual desire.
; (性欲) Tham dục tích tập thành tính. Tức sự tham muốn, ưa thích lâu ngày, thành thói quen. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 585 trung) nói: Tính dục, dục là ưa thích, như Tôn đà la nan đà ưa thích 5 dục lạc, Đề bà đạt đa thích tiếng tăm, cho đến các vị đắc đạo cũng có những sở thích riêng... Tính là tích tập (...) nghĩa là những thói quen tích góp lâu ngày thành tính. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật].
tính già nhị tội
(性遮二罪) Chỉ cho Tính tội và Già tội. Tính tội cũng gọi là Tự tính tội, Tính trọng, Thực tội, là tội lỗi của tự tính không đợi Phật cấm chế, mà tự tính của nó chính đã là ác rồi, nếu phạm thì sẽ có tội báo. Già tội cũng gọi Chế tội, Già chế. Nghĩa là vì tránh sự chê cười của người đời, nên đức Phật đã tùy thời gian, nơi chốn, tình huống mà chế định giới cấm để ngăn chặn (già)không cho sai phạm, giữ gìn các giới khác, nếu phạm thì bị tội già chế. Luận Luật nhị thập nhị minh liễu (Đại 24, 667 thượng) nói: Học xứ do đức Phật lập ra có 3 loại là Tính tội, Chế tội và Nhị tội. Trong đó, về Tính tội, nếu là nghiệp thuộc thân, khẩu, ý thì do Tùy hoặc và hoặc Đẳng lưu mà phạm, lại trong sự phạm lỗi này, nếu do cố ý thì nghiệp nhiễm ô tăng trưởng và tương tục lưu chuyển với tội câu hữu ấy, đó là Tính tội. Khác với 3 nhân phạm này thì do không phân biệt rõ giới, hoặc do mất chính niệm, hoặc do vô ý phạm lỗi. Trong đó, nếu không có Tùy hoặc và hoặc Đẳng lưu, cũng không có niệm niệm tăng trưởng thì đó là Chế tội. Nếu có đủ cả 2 tướng thì gọi là Chế tính nhị tội. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1, kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), kinh Chính pháp niệm xứ quyển 59, luận Đại tì bà sa quyển 123 và luận Câu xá quyển 14 đều cho rằng 4 Ba la di Sát, Đạo, Dâm, Vọng là Tính tội; phẩm Thập thiện đạo trong luận Thành thực quyển 9 thì cho rằng 10 điều ác: Sát, Đạo, Dâm, Vọng, Ác khẩu, Lưỡng thiệt, Ỷ ngữ, Tham, Sân, Tà kiến là Tính tội. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 thì cho rằng 7 điều trước trong 10 điều ác là Tính tội; Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng cho rằng thêm điều uống rượu vào 7 điều trước trong 10 điều ác, gọi là Tính tội.Ngoài các tội thuộc về Tính tội, còn lại đều thuộc Già tội, tức chỉ cho các tội Đột cát la...Kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), Bồ tát giới bản (Đàm vô sấm), kinh Bồ tát địa trì quyển 5, kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi, kinh Phạm võng quyển hạ... đều gọi Già tội là Khinh tội hoặc Khinh cấu tội. Còn về tội uống rượu thì các luận đều gọi là Già tội, chỉ có luận Câu xá quyển 14 thì cho là Tính tội. [X. luận Du già sư địa Q.99; luận Thuận chính lí Q.38; kinh Ưu bà tắc giới Q.6; luận Nhiếp đại thừa Q. hạ (bản dịch đời Lương)].
tính giác
Inherent intelligence, or knowledge, i.e. that of the bhùtatathatà.
; Inherent intelligence—Inherent knowledge.
; (性覺) Thể tính của chân như không nương vào bất cứ thể tính nào khác mà tự giác, tự minh. Kinh Đại Phật đínhthủ lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 120 thượng) nói: Tính giác mầu nhiệm sáng suốt, Bản giác sáng suốt mầu nhiệm.
tính giới
The natural moral law, e.g. not to kill, steal, etc... not requiring the law of Buddha.
; (性戒) Cũng gọi Tính tội giới, Tính trọng giới, Chủ giới, Cựu giới. Đối lại: Già giới. Giới cấm được đặt ra để ngăn chặn tính tội, 1 trong 2 loại giới. Đứng về phương diện quả báo phạm tội mà nói thì loại giới luật này là hành vi tội ác thuộc về bản chất, như 4 Ba la di sát sinh, trộm cắp, tà dâm và nói dối trong 5 giới, không cần đợi đức Phật chế giới, cũng không luận tại gia, xuất gia, hoặc thụ giới hay không thụ giới, nếu phạm 4 điều này thì trong vị lai chắc chắn sẽ phải chịu quả báo; vì tự tính của chúng là tội ác, là nhân chính yếu của quả báo, là các tội ác bị toàn thể xã hội lên án và đều có luật pháp đểtrừng trị, cho nên gọi là Tính giới. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.59; phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn Q.11 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.46; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q. thượng, phần 1]. (xt. Tính Tội).
tính hoành tu tung
(性橫修縱) Hoành (ngang)nghĩa là sai biệt, Tung (dọc)nghĩa là thứ lớp. Tính hoành tu tung có nghĩa là Tính đức có sai biệt, Tu đức có thứ lớp hiển bày. Tông Thiên thai lập thuyết Tam Như lai, tam Phật tính,tam pháp, tam đức và Tứ giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên. Đối với Viên giáo thì chẳng tung chẳng hoành, đối với Biệt giáo thì Tung hoành sai biệt. Đối với 2 môn Tính tu và Nhân quả thì có thuyết Tính hoành tu tung. Ở đây lấy 3 đức Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát làm thí dụ để thuyết minh nghĩa Tính hoành tu tung. Tức 3 đức Pháp thân, Giải thoát, Bát nhã đều là Tính đức, ba pháp độc lập, không dung lẫn nhau, như 3 ông vua ở 3 nước, gọi là Tính hoành (sai biệt); còn khi tu thành thì lại khởi các công phu duyên nhân, liễu nhân để giúp đỡ lẫn nhau, trước Pháp thân, kế Bát nhã, sau Giải thoát theo thứ lớp hiển bày, gọi là Tu tung (thứ lớp). Pháp hoa văn cú quyển 9 (Đại 34, 128 trung) nói: Nếu là Tính đức tam Như Lai thì là hoành, nếu là Tu đức tam Như Lai thì là tung. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.9; Kim quang minh kinh văn cú kí Q.1].
tính hoả
(性火) Đối lại: Sự hỏa. Lửa tính. Do 4 đại chủng đất, nước, lửa, gió hòa hợp mà thành lửa, gọi là Sự hỏa; nhưng nếu chỉ nói về tự thân tính chất của lửa thì gọi là Tính hỏa, đó là vì Hỏa đại baohàmtrong tất cả sắc pháp, là 1 trong các nguyên tố cơ bản của hết thảy vật chất. [X. Nhân minh đại sớ Q.2]
tính hư không thập nghĩa
(性虛空十義) Chỉ cho 10 nghĩa của lí hư không thanh tịnh.1. Không chướng ngại: Trong các sắc pháp, lí hư không viên dung không chướng ngại.2. Trùm khắp: Không nơi nào mà không hiện diện. 3. Bình đẳng:Đối với tất cả pháp không phân biệt. 4. Rộng lớn: Không bờ mé, không giới hạn.5. Không có tướng: Tròn sáng vắng lặng, dứt bặt sắc tướng. 6. Thanh tịnh:Trong trẻo, rỗng suốt, không dính bụi. 7. Không lay động: Thường tròn, yên lặng, không dời không đổi. 8. Hữu không: Xưa nay vốn rỗng lặng, dứt bặt tất cả pháp hữu vi. 9. Không không: Xưa nay vốn không tịch, cũng không lìa các tướng không. 10. Vô đắc: Lí thể cũng dứt bặt, không nắm bắt được. [X. luận Thích ma ha diễn Q.3; Tông kính lục Q.6; Tam tạng pháp số Q.39].
tính hạnh
Conduct—Behavior.
tính hải
The ocean of the Bhùtatathatà, the all-containing, immaterial nature of the Dharma.
; (性海) Cũng gọi Quả hải. Chỉ cho biển bản tính (thực tính), ví dụ Lí tínhchân như sâu rộng như biển; là cảnh giới của pháp thân. Trong bài tựa Đạiđườngtây vực kí có câu (Đại 51, 867 hạ): Toang lưới ngờ trong biển tính, mở Diệu giác nơi bến mê. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Vãng sinh lễ tán].
tính hải quả phần
(性海果分) Gọi tắt: Quả phần. Đối lại: Duyên khởi nhân phần. Chỉ cho cực quả Diệu giác, là cảnh giới nội chứng của Phật. Thuyết này được thấy trong tác phẩm Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, do ngài Pháp tạng, Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm, y cứ vào ý Nhân phần khả thuyết, quả phần bất khả thuyết nói trong Thập địa kinh luận mà triển khai. Tính hải quả phần là gì? Nếu nói theo Tính hải thì Tính hải quả phần là Thể lượng; nếu nói theo Quả phần thì Tính hải quả phần là cực vị, nhưng thực ra thìTính hải tức Quả phần. Chỗ liễu ngộ của bậc quả Già na là thấu suốt tận cùng cội nguồn của các pháp sự lí, đó là Tính. Về cái Tính mà bậc quả liễu ngộ thì năng chứng, sở chứng đều trùm khắp suốt cả không gian, thời gian, mênh mông sâu rộng không bờ mé, vì thế gọi là Tính hải. Phần hạn mà bậc quả liễu ngộ là Quả phần, bậc quả là Diệu giác, tức chỉ cho cảnh giới mà Phật liễu ngộ. Nhưng Tính hải mà bậc quả Già na liễu ngộ có khác với cảnh giới mà bậc nhân Phổ hiền liễu ngộ, vì thế nên cực quả Diệu giác được gọi là Tính hải quả phần. Tính hải quả phầnnàylà cảnh giới tự nội chứng của Phật, chỉ có Phật với Phật mới biết được, bậc nhân hoàn toàn không lường biết được, cho nên chỉ nói Tính hải là cảnh giới của Thập Phật, chứ không nói đến Quả hải của bậc nhân. Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 2 (Đại 72, 302 hạ) nói: Tính hải quả phần là cảnh giới nội chứng cùng tột của chư Phật Xá na; cảnh sở chứng là cội nguồn các pháp, trí năng chứng là đại trí. Năng sở như thế, cùng suốt dọc ngang, tâm cảnh khế hợp, nhất thế bất nhị, cứu cánh thầm hợp, đại quả mầu nhiệm, sâu không đáy, (...) Tính này tột cùng, không gì đến được, suốt tận đáy nguồn nên gọi là Quả. Phần là phần hạn, rốt ráo cùng tột, không gì vượt qua. Tính hải tức quả, quả chính là phần.
Tính hải quả phần 性海果分
[ja] ショウカイカブン shōkaikabun ||| The extent of the sphere of the Buddha. The 'ocean-like true nature of the effect aspect.' 'Ocean' is a metaphor for great depth and breadth. 'Nature' refers to that which is unchanging, whether in the station of Buddhahood or sentient being. The time of practice is called 'cause' 因, and the awakening of enlightenment is called 'fruit' 果 (guo). => Khoảng rộng mênh mông của bầu trời Phật tính. ' Quả phần là chân tính rộng lớn như đại dương'. 'Đại dương' là ẩn dụ cho rộng lớn và sâu thẳm, 'tính' là đề cập đến cái không biển đổi, dù ở địa vị Phật hay chúng sinh. Giai đoạn tu tập gọi là 'nhân'(因e: cause), và lúc giác ngộ gọi là 'quả'(果 c: guo).
Tính hải 性海
[ja] ショウカイ shōkai ||| The Ocean of Original (True) Nature. A comparison of true thusness with an ocean. The world of original essence. True reality as-it-is, which cannot be expressed in speech, and has a breadth and depth that is compared to an ocean. => So sánh chân như với đại dương. Là thế giới của bản tính. Chân tế như nó đang là, không diễn tả được bằng ngôn ngữ, sâu và rộng nên được ví như biển lớn.
tính khí
Temperament—Character.
tính khí quan sùng bái
(性器官崇拜) Tín ngưỡng sùng bái hình tượng sinh thực khí. Đây là hình thái tín ngưỡng đặc thù trong sự sùng bái tự nhiên của nhân loại từ thủa rất xa xưa đến thời kì nguyên thủy. Trong nghi thức lễ bái thần Thấp bà (Phạm: Ziva) của Ấn độ giáo, sự lễ bái hình tượng sinh thực khí Lân già (Phạm: Liíga) của nam giới rất được coi trọng; đối với sự sùng bái Tính lực (Phạm:Zakti, sức sinh sản) của Đỗ nhĩ gia (Phạm:Durgà), người phối ngẫu của thần Thấp bà, thì lấyviệc lễ bái sinh thực khí Ưu ni (Phạm: Yoni) của nữ giới làm trọng. Về dấu vết của Tính khí quan sùng bái cũngcóthể thấy trong Cơ đốc giáo ở Âu châu thời Trungcổ, như trong Tiểu giáo đường St. Fountin ở Varailles tại miền Đông nam nước Pháp, đến thế kỉ XVI vẫn còn treo hình tạo cơ quan sinh dục của nam, nữ.
tính không
The nature void, i.e. the immateriality of the nature of all things.
; The nature void—Tính chất phi vật chất của vạn hữu, không có thứ gì có tự tính—The immateriality of the nature of all things; nothing has a nature of its own.
tính không giáo
One of the thee Nam Sơn sects which regarded the nature of things as unreal or immaterial, but held that the things were temporally entities. Tính không quán. The meditation of this sect on the unreality, or immateriality, of the nature of things.
tính không quán
(性空觀) Quán xét tự tính của tất cả các pháp do nhân duyên sinh vốn không, đều không có ngã, đem lí này soi rọi tâm mình, gọi là Tính không quán. Đây là 1 trong 3 pháp quán của Nam sơn Luật tông do ngài Đạo tuyên đời Đường lập ra. (xt. TamQuán).
tính không tướng không
(性空相空) Cũng gọi Tính tướng nhị không. Phật giáo chủ trương các pháp là Không, nói về thể tính của các pháp thì gọi là Tính không; còn bàn đến tướng trạng các pháp thì gọi là Tướng không. Về vấn đề này cũng có nhiều thuyết khác nhau. 1. Luận Đại trí độ quyển 31 liệt kê Tướng không. Tính không nghĩa là khi tính của các pháp chưa sinh thì không có; còn lúc gặp các duyên hòa hợp thì sinh khởi các pháp, nếu không có các duyên thì cũng không có tính. Như nước, do lửa đốt nấu mà sinh ra tính nóng, khi lửa tắt thì tính nóng cũng mất. Tướng không tức tướng chung, tướng riêng của các pháp(các tướng vô thường, khổ, không,...là tướng chung, tướng nóng của lửa, tướng ướt của nước,... là tướng riêng) đều là không. 2. Theo sự giải thích trong luận Thậpbát khôngdo ngài Chân đế dịch thì tính không nghĩa là Phật tính tức không. Phật tính là tự tính của các pháp, là tính chân thực, là tự tính niết bàn vắng lặng, vô thể, vô tướng, vô sinh, vô diệt. Còn Tướng không nghĩa làHóa thân chẳng phải sinh tử, chẳng phải Niết bàn, cho nên không có tướng sinh tử hư vọng, cũng không có tướng Niết bànchân thực. 3. Theo tông Thiên thai, khi thực hành pháp quán Nhất không(Thực tướng của pháp tính), nếu y cứ vào hành tướng phá chấp khác nhau mà phân biệt thì có thể chia pháp không(đối tượng để quán xét)ra làm Tính không và Tướng không. Về Tính không thì dùng 4 câu Chẳng tự sinh, chẳng do cái khác sinh, chẳng cộng sinh, chẳng phải không nhân sinh để suy nghiệm các pháp, phá trừ vọng chấp Có, đồng thời tiến hành quán xét Các pháp tính không. Về Tướng không thì khi sự chấp tính đã bị phá, lại trừ bỏ luôn cả cái tướng tên giả của Tính, làm cho nó cũng không. Vì thế nên biết hễ tu quán pháp Không thì sẽ phá bỏ được vọng chấp Tính, Tướng. 4. Theo Hành sự sao tư trì kí quyển 28, Tính không là lí Không vô ngã do hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác phân tích thể tính của các pháp mà hiển bày. Tướng không là lí Không vô tướng do hàng Tiểu Bồ tát không qua phân tích mà trực tiếp y cứ vào bản tướng của các pháp để hiển bày. [X. Kim quang minh kinh văn cú kí Q.6 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3, phần 3].
tính khởi
Arising from the primal nature, or bhùtatathatà, contrast with duyên khởi arising from secondary causes.
; (性起) Đối lại: Duyên khởi. Tính khởi nghĩa là từ nơi Tính mà sinh khởi, cũng tức là từ cảnh giới của Phật quả mà nói về sự hiện khởi của các pháp, là 1 trong các giáo nghĩa của tông Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Bảo vương Như lai tính khởi trong Hoa nghiêm, Tính khởi thuộc về quả, là pháp môn của đức Phật Lô xá na. Tất cả pháp tùy thuận bản tính chân thực của chúng mà hiển hiện, đồng thời có năng lực tùy theo căn cơ của chúng sinh mà sinh khởi tác dụng, đó là Tính khởi. Như trong Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 4, ngài Trí nghiễm nói rằng: Bản thể (Tính)của giác ngộ vốn đã sẵn có trong tâm chúng sinh và hiển hiện (khởi)ở hiện tại.Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 16 của ngài Pháp tạng chia ra 2 cách giải thích là Nhân và Pháp. 1. Từ bản tính bất biến của Phật hiển hiện ra tác dụng giáo hóa, là Tính khởi của Như Lai (Nhân). 2. Từ bản thân chân lí khởi tác dụng, tức Như lai là Tính khởi (Pháp). Trong sách này còn nêu 3 nghĩa Lí, Hành, Quả. 1. Lí tính khởi: Bản tính (lí tính) của vạn hữu xưa nay vốn chân thực, nương vào trí mà hiển hiện. 2. Hành tính khởi: Nghe giáo pháp mà khởi phát tu hành, tiến đến thành quả. 3. Quả tính khởi: Hoàn thành Phật quả và khởi tác dụng giáo hóa. Nói cách khác, nếu bàn theo quả Phật thì muôn pháp trong vũ trụ là Quả thể của Tính khởi, còn Lí, Hành là Khởi dụng của Tính khởi. (xt. Duyên Khởi).
tính khởi duyên khởi
(性起緣起) Chỉ cho thuyết Tính khởi và thuyết Duyên khởi do tông Hoa nghiêm thành lập. (xt. Tính Khởi, Duyên Khởi).
tính lãnh đạm
Indifference.
tính lầm
To miscalculate.
tính lực phái
(性力派) Phạm: Zakta. Cũng gọi Trước khất để phái. Một chi pháitronghệ thống phái Thấp bà (Phạm:Ziva) của Ấnđộ giáo. Giáo phái này do sùng bái uy lực của thần Thấp bà mà sùng bái cả tính lực (Phạm:Zakti, sức sinh đẻ con cái) của Đỗ nhĩ gia (Phạm:Durgà), vợ thần Thấp bà. Từ đó, giáo phái này dùng sinh thực khí (Phạm:Liíga) của người nam và sinh thực khí (Phạm:Yoni) của người nữ để tượng trưng cho nguyên lực hoạt động của Phạm (thực thể tối cao của vũ trụ), tức là năng lực thai nghén muôn vật của thần Thấpbà vàthần phối ngẫu Đỗ nhĩ gia. Muốn được ân sủng cứu giúp và giải thoát thì phảisùng bái hình tượng Liígavà Yoni. Đồng thời phái này cũng chủ trương bãi bỏ chế độ xã hội kì thị chủng tính, quả phụ tuẫn tiết... Từ đầu thế kỉ VI, VII, giáo phái này dần dần có các qui định về hình thức lễ bái và nghi quĩ tông giáo, cùng lúc sinh ra văn học Đát đặc la (Phạm:Tantra) để giải thích rõ các nghi quĩ. Nghi thức chủ yếu có 4 loại: Hi sinh(dùng động thực vật hoặc thân người để cúng tế thần), Luân tọa(Phạm: Cakrapùjà, nam nữ hợp giao), Thân chứng (thực tập Du già) và Ma pháp. Giáo lí căn bản là sự kết hợp giữa Phạm thiên và Tính lực, dùng Phạm tượng trưng sự hiển hiện của tất cả muôn vật và dùng Tính lực tượng trưng sự phát triển của thế giới. Về sau, do phát sinh nhiều nghi thức và những phương pháp thực hành khác nhau, nên đã chia thành 2 phái tả, hữu. Sau khi phái Tính lực kết hợp với Mật giáo thì dần dần hình thành Mật giáo Đát đặc la, tức là Mật giáo Tả đạo thuộc thời kì sau ở Ấn độ. Đây cũng chính là nguyên do sa đọa của Mật giáo. (xt. Hữu Đạo Tính Lực Phái, Tả Đạo Tính Lực Phái).
tính mạng
Life.
tính mệnh
The life of conscious beings; nature and life.
Tính mệnh 性命
[ja] ショウミョウ shōmyō ||| (1) The life of conscious beings. Essence and life. The nature of things that possess life. => 1. Cuộc sống của loài hữu tình. Bản chất và cuộc sống. Bản tính của sự vật có sinh mạng.
tính nguyện
(性願) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người huyện Tấn giang, tỉnh Phúc kiến, họ Dương, tự Bátrường, hiệu Tiềm tẩu.Sau khi thụ giới Cụ túc, sư vân du các nơi. Ban đầu sư học Hoa nghiêm nơi Ngũ đài Thừa thiên, kế đến học ngài Hoàng mai Minh đàm. Sau đó, sư trở về miền Nam thờ ngài Trường thủy Tử tuyền làm thầy, nghe kinh Lăng nghiêm, kinh Viên giác, các bậc túc học các nơi suy tôn sư là Giáo Hải Nghĩa Long, sư nổi tiếng từ đó. Sư từng trụ trì chùa Thanh lương ở Tuyền châu, chùa Báo ân ở Tô châu và chùa Tường phù ở Hàng châu. Sư hoằng dương yếu chỉ viên đốn, mở rộng tông Hoa nghiêm. Khi ngài Nghĩa thiên –Tăng thống Cao li– đến Trung quốc hỏi đạo, xin làm đệ tử và thụ giáo nơi sư. Ban đầu, các sách sớ sao của tông Hoa nghiêm từ lâu đã bị thất lạc, nhờ ngài Nghĩa thiên đem đến, giải quyết được những điều còn nghi, từ đó các bộ sớ sao lại được lưu truyền ở Trung quốc. Sau khi ngài Nghĩa thiên về nước, vào năm Nguyên hựu thứ 2 (1087), ngài Nghĩa thiên lại sai sứ đem đến biếu sư 3 bản dịch kinh Hoa nghiêm (mới và cũ) viết bằng kim nhũ, sư liền xây gác Hoa nghiêm để cất giữ. Tháng 11 năm Nguyên hựu thứ 3 (1088), sư thị tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm vọng tận hoàn nguyên quán sớ sao bổ giải, Hoa nghiêm nguyên nhân luận phát vi lục. [X. Phật tổ thống kỉ Q.29; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Bổ tục cao tăng truyện Q.2; Thích môn chính thống Q.3].
tính ngã
The Buddha-nature ego, which is apperceived when the illusory ego is banished.
tính niệm xứ
Citta-smrtyupasthàna (S). One of the four objects of thought, i.e. that the original nature is the same as the Buddha-nature. Xem tứ niệm xứ.
tính nết
Conduct.
tính oánh
(性瑩) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Hoàng bá Nhậtbản, sống vào đời Thanh, người ở Bồđiền, phủ Hưnghóa, tỉnh Phúckiến, họ Trần, tự là Độctrạm. Sư xuất thân trong một gia đình đời đời theo Nho học, rất thông minh và chuyên trì tụng Bát nhã tâm kinh, không ngày nào nghỉ, người đời gọi sư là Hòa thượng tử. Sư luôn cảm nhận sự vô thường của cuộc đời và lo sợ không yên. Cho nên, sau khi thân mẫu qua đời, sư đến chùa Tích vân cầu xuất gia. Sư thường đọc tụng kinh Pháp hoa, Lăng nghiêm, Cao phong ngữ lục, các sách của ngài Vân thê nên mới biết sự trọng yếu của việc tọa thiền. Năm Thuận trị 11 (1654), sư 27 tuổi, theo ngài Ẩn nguyên Long kì đến Nhật bản. Năm 1664, sư sáng lập chùa Bảo Lâm ở Viễn giang, Nhật bản và trụ ở đó trong 18 năm, người đến cầu đạo rất đông. Năm 1682, sư vâng mệnh trụ trì Hoàng bá sơn, hoằng pháp trong 11 năm. Sư trì luật rất tinh nghiêm, tu pháp môn Tịnh độ, ngày tụng 48 biến kinh A di đà, luôn trì danh hiệu Phật không nghỉ. Năm 1692, sư lui về ẩn tu, năm 1706, sư thị tịch, thọ 79 tuổi.Sư để lại các tác phẩm: Ngữ lục 30 quyển, Phù tang kí qui vãng sinh truyện 2 quyển, Đương ma mạn đồ laduyên khởi, Xưng tán tịnh độ vịnh tán, Thụ thủ đường Tịnh độ thi, Tác phúc niệm Phật đồ thuyết. [X. Tục Nhậtbản cao tăng truyện Q.5; Tùy văn vãng sinh truyện Q.2; Hoàng bá phổ lược].
tính phái
(性派) Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Hoàng bá Nhậtbản, sống vào đầu đời Thanh, người ở Phúcthanh, tỉnh Phúckiến, họ Lâm, tự là Nam nguyên. Lúc nhỏ, sư lễ ngài Vô tịnh Chương công ở núi Hoàng bá xuất gia, thụ giới Sa di, ít lâu sau, sư tham lễ Thiền sư Ẩn nguyên Long kì và theo hầu ngài trong nhiều năm. Năm 1654, sư theo ngài Ẩn nguyên sang Nhật bản. Năm 1668, sư sáng lập viện Hoa tạng ở bên núi Hoàng bá, xây dựng Từ quang đường. Năm 1671, ngài Ẩn nguyên thầm trao cho sư kệ tụng, phất tử. Năm 1673, ngài Ẩn nguyên thị tịch, sư biên tập Quảng lục và soạn niên phổ về ngài Ẩn nguyên. Năm 1688, sư xây lại Đại Phật điện chùa Đông đại, mở hội Thiên tăng, làm Đạo sư của pháp hội. Năm 1692, sư trở về núi Hoàng Bá, ẩn cư ở Cao thọ hiên. Tháng 6 năm ấy, sư thị tịch, thọ 62 tuổi. Sư có các tác phẩm: Giám cổ lục 30 quyển, Chi lâm tập 24 quyển. [X. Hoàng bá phổ lược; Tục Nhật bản cao tăng truyện Q.5].
tính sai
To miscalculate.
tính sư
(性獅) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Hoàng bá Nhật bản, sống vào đầu đời Thanh, người ở thị trấn Đông vệ, phủ Phúc châu, tỉnh Phúc kiến, họ Chu, tự là Độc hống. Lúc nhỏ, sư thờ ngài Vân giản Hoằng công ở chùa Gia phúc làm thầy. Năm 20 tuổi, sư và ngài Vân giản cùng tham yết Thiền sư Ẩn nguyên Long kì ở núi Hoàng bá. Năm Thuận trị 11 (1654), sư theo ngài Ẩn nguyên đến Nhật bản, ở chùa Vạn phúc tại Vũ trị, được chọn giữ chức Đường ti. Ít lâu sau, sư lại được cử làm Giám viện, ngày đêm lãnh chúng, siêng năng giúp đỡ. Năm Khoan văn (Nhật bản) 11 (1671), sư sáng lập viện Hán tùng ở ngọn Ngũ vân. Sư thị tịch vào ngày 16 tháng 11 niên hiệu Nguyên Lộc năm đầu (1688), thọ 65 tuổi.Sư có tác phẩm: Ngũ vân biệt tập 4 quyển. [X. Hoàng bá phổ lược; Tục nhật bản cao tăng truyện Q.5].
tính sắc
Transcendent rùpa or form within or of the Tathàgata-garba. Also chân sắc. Good by nature (rather tha by effort); naturally good; in contrast with tính ác evil by nature.
Tính Thao
(性瑫) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Hoàng bá Nhật bản, sống vào đầu đời Thanh, người ở Tấn giang, phủ Tuyền châu (Tấn giang, Phúc kiến), họ Ngô, tự là Mộc am. Sư vốn thiên tư đĩnh ngộ, tướng mạo cao lớn, đẹp đẽ. Năm 10 tuổi sư đã có chí xuất trần, năm 19 tuổi, sư theo Thiền sư Ấnminh hòa ởchùa Khainguyên xuất gia. Năm Sùngtrinh thứ 8 (1635), sư y vào ngài Nguyênhiền ở Cổ sơn thụ giới Cụ túc. Về sau, sư đến chùa Tiếp đãi ở Hàngchâu tham vấn ngài Tuyếtquang về yếu chỉ pháp thiền, không bao lâu, sư lại lên núi Thiênđồng lễ yết ngài Mậtvân Viênngộ. Năm Thuậntrị thứ 5 (1648), sư lễ yết ngài Ẩnnguyên Long kì ở núi Hoàngbá. Sau đó ít lâu, sư hoằng pháp ở chùa Tuệ minh, Tượng sơn tại huyện Vĩnh xuân. Năm Thuận trị 12 (1655), sư sang Nhật bản trụ chùa Sùng phúc ở Trường kì, sau đó đến núi Hoàng bá ở Sơn thành, kế thừa pháp tịch đời thứ 2 núi Hoàng bá sau ngài Ẩn nguyên. Năm Diên bảo thứ 2 (1674), sư trông coi chùa Thụy thánh ở Giang hộ, mở Tam đàn đại giới, người xin thụ giới rất đông. Mùa Xuân năm Diên bảothứ 8 (1680), sư lui về ẩn tu ở viện Tử vân. Niên hiệu Trinhhưởng năm đầu (1684), sư thị tịch, thọ 74 tuổi. Đệ tử nối pháp gồm hơn 50 vị như Thiết ngưu Tích cơ, Tuệ cực Đạominh,... Sư có các tác phẩm: Quảnglục 30 quyển, Hoàng bá Mộc am thiền sư ngữ lục 10 quyển; Mộc am thiền sư đông lai ngữ lục 7 quyển, Tử vân sơn thảo 1 quyển, Tượng sơ ngữ lục 1 quyển, Tử vân khai sĩ truyện 1 quyển. [X. Mộc am thiền sư niên phổ; Tụcnhật bản cao tăng truyện Q.5; Nhật bản thiền tông sử yếu].
tính thiện
Good nature.
tính thiện tính ác
(性善性惡) Cũng gọi: Tính nhiễm tính tịnh. Thiện và ác đều là những tính đức sẵn có của chúng sinh, tức thiện, ác thuộc về tiên thiên, gọi là Tính thiện, Tính ác; thiện, ác do hành vi hậu thiên tạo ra, gọi là Tu thiện, Tu ác. Về tính thiện, tính ác, giữa tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm có những quan điểm khác nhau: 1. Tông Thiên thai chủ trương thuyết Nhất niệm tam thiên(Một niệm ba nghìn) cho rằng trong 10 pháp giới (6 phàm 4 thánh)thì cõi Phật và 9 cõi chúng sinh đều có đủ 3 nghìn pháp mê ngộ. Theo Quán âm huyền nghĩa quyển thượng của ngài Trí khải thì đức Phật đã dứt hết Tu ác, chỉ còn Tính ác, Nhất xiển đề thì dứt hết Tu thiện, chỉ còn Tính thiện. Tính thiện, Tính ác không bao giờ mất. Phật chẳng dứt Tính ác, nên khi được năng lực ‘Từ(tình thương)huân tập(hun ướp) thì Tính ác có thể trở thành tác dụng tự do, tự tại vào địa ngục A tị để giáo hóa chúng sinh; Nhất xiển đề không đoạn Tính thiện, nên gặp nhân duyên (điều kiện)thì Tính thiện khai phát. Ngài Tứ minh Trilễ đời Tống nhấn mạnh thuyết Tính cụ tam thiên, xem trọng Tính ác, cho rằng đặc sắc của tông Thiên thai là ở pháp môn Tính ác(Tính ác thuyết giáo). 2. Tông Hoa nghiêm có thuyết Tính khởi Tính ác. Trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 16, ngài Pháp tạng cho rằng pháp nhiễm tịnh tuy đều nương vào chân mà lập, nhưng nhiễm có công dụng trái với chân chứ không phải chân, cho nên chỉ gọi Tịnh là Tính khởi. Còn theo sự giải thích trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 21 và Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao quyển 42 của ngài Trừng quán, thì thể của vọng vốn chân, vì thế Như lai chẳng đoạn Tính thiện. Hoa nghiêm kinh Hành nguyện phẩm sớ sao quyển 1 và Viên giác kinh lược sớ quyển 2 của ngài Tông bảo, cũng kế thừa thuyết này mà bàn về Tính ác, nhưng cho tâm là năng tạo, Phật và chúng sinh là sở tạo. Điểm khác nhau giữa tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai chính là ở thuyết Tính khởi này.[X. luận Đại thừa khởi tín; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3; Chỉ quán nghĩa lệ Q. thượng; Thập bất nhị môn chỉ yếu sao Q. thượng; Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.3]. (xt. Chỉ Ác Tu Thiện).
tính thông
(性聰) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở phủ Diên bình (Nam bình, Phúc kiến), họ Liên, hiệu Minhgiác, tự Hàm phác, người đời gọi sư là Minh giác Tính thông, hoặc Hàm phác Tính thông. Năm 15 tuổi, sư xuất gia ở chùa Thiên vương, lần lượt tham học các ngài Bảnhuy ở núi Chiđề, Đạivân ở núi Phổđà, Mặc uyên ở núi Vũ lâm, Nhĩmật ở Đôngsơn, Vĩnhgiác Nguyên hiền ở Cổ sơn, Ngư đàm ở Ônchâu,... và đắc pháp nơi ngài Báchsi Hànhnguyên ở Hàng châu. Về sau, sư lần lượt hoằng pháp ở các chùa Quan âm tại Hàng châu, chùa Pháphỉ tại Dưhàng, viện Quảngphúc ở Tiềnđường, chùa Thuận thiên Hảihội, chùa Diênthọ, chùa Anquốc ở Thiệuvũ, Thuậnthiên Mẫntrung thiền tự...Năm Khang hi thứ 5 (1666) đời Thanh, sư tịch, thọ 75 tuổi. Sư có tác phẩm: Minh giác Thông thiền sư ngữ lục 16 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.10].
tính thật
(性實) Chủ trương tự tính nhất định có thực. Tông Tam luận thường dùng từ ngữ này. Tức là đối với nhân duyên giả danh mà chấp trước thật có sinh diệt. Các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tính, đương thể tức không, cho nên đối với Thế đế chỉ có giả danh mà thôi. Nhưng vì ngoại đạo, phàm phu không rõ biết được chân tướng của các pháp, nên cho rằng các pháp thực có tự tính sinh diệt. Trong Trung quán luận sớ quyển 2, phần đầu, ngài Giatường thuộc tông Tam luận cho rằng (Đại 42, 23 thượng): Thứ nhất, thế gian chỉ căn cứ vào điều mắt thấy tai nghe mà chấp là thật, như đất nước hòa hợp thì vật bên ngoài sinh, cha mẹ hòa hợp thì pháp bên trong khởi, vì quyết định cho là thật có pháp trong, ngoài sinh ra nên gọi là Tính thực. Thứ hai, ngoại đạo chấp trước vô nhân tà nhân, nhất định có sinh, cũng gọi là Tính thực. Thứ ba, hàng Tiểu thừa chấp trước vị lai nhất định có tính sinh, từ vị lai khởi tiếp đến hiện tại, cho nên gọi là Sinh, cũng là Tính thực. Thứ tư, người học Đại thừa có sở đắc, tuy nói các pháp là giả, nhưng quyết định có sinh được sinh, vì sinh chẳng do diệt mà sinh nên sinh trở thành tự tính. Đây là sự sinh diệt của 4 thứ Tính thực do ngài Gia tường chủ trương. Dùng Không để diệt trừ sự chấp trước về Tính thực, gọi là Tính không. Tính không lại được chia làm 2 thứ là Bản tính không và Phá tính không. Bản tính không, tức tính này từ xưa đến nay vốn rỗng lặng, chẳng phải do phá chấp mới có, nên gọi là Bản tính không. Còn Phá tính không là dùng Tuệ quán suy xét đến cùng cực, mới biết rõ tính của các pháp rốt cuộc là lí không bất khả đắc, cho nên gọi là Phá tính không. [X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q. trung].
tính thống
(性統) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đầu đời Thanh, người ở An nhạc, huyện Đồng xuyên, tỉnh Tứxuyên, họ Long, hiệu là Biệtam. Năm 11 tuổi, thân phụ qua đời, sư bèn theo ngài Tam sơn Đăng lai xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư tham học ngài Đăng bính ở Hành sơn. Ít lâu sau, sư trở về và nối pháp ngài Tam sơn. Sau khi ngài Tam sơn thị tịch, sư kế thừa pháp tịch Cao phong. Sư có các tác phẩm: Tục đăng chính thống 42 quyển, Phổ đà Biệt am thiền sư đồng môn lục 3 quyển.
tính thức
Natural powers of perception, or the knowledge acquired through the sense organs; mental knowledge.
tính trừng
(性澄) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, người ở Cốikê (huyện Thiệuhưng, tỉnh Chiếtgiang), họ Tôn, tự Trạmđường, hiệu Việtkhê. Năm 13 tuổi, sư theo ngài Thạch môn thù chùa Phật quả xuất gia, năm sau thụ giới Cụ túc, rồi lần lượt tham học các bậc tôn túc như Phật giám tiêm, Hoằng công Đạo phu, Tĩnh công Nhân tẩu, Vân mộng Doãn trạch, Đảm ba Thượng sư, Cáp tôn Thượng sư,... để học tập Thiên thai, Mật giới. Sau sư nối pháp ngài Doãn Trạch, rồi lần lượt trụ các chùa: NamThiên trúc diễn phúc, Đông Thiên trúc hưng nguyên, Thượng Thiên trúc,... ở Hàng châu. Niên hiệu Chí đại năm đầu (1308), sư vâng sắc hiệu đính Đại tạng, được ban hiệu Phật Hải Đại Sư. Về già, sư chuyên tu tịnh nghiệp, niệm niệm chẳng rời, thường cảm được điềm linh ứng. Tháng 8 năm Chí chính thứ 2 (1342), sư biết trước giờ lâm chung, liền nhóm chúng thuyết pháp, ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các trứ tác: Kim cương kinh tập chú, Tiêu tai kinh chú, A di đà kinh cú giải.[X. Đại minh cao tăng truyện Q.1; Tục Phật tổ thống kỉ Q. thượng, Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1].
tính tuyền
Tính Tuyền Thiền Sư—Zen Master Tính Tuyền (1674-1744)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Nam Định. Vào tuổi 12, ngài đi đến chùa Liên Tông để bái kiến Như Trừng Lân Giác Thượng Sĩ và trở thành đệ tử của Thượng Sĩ,. Ngài thọ cụ túc giới và trở thành Pháp tử đời thứ 39 của dòng Thiền Lâm Tế. Ngài ở lại đây sáu năm. Sau đó ngài sang Tàu và cũng ở lại đó sáu năm. Khi ngài trở về Việt Nam thì Thượng Sĩ đã qua đời được ba năm rồi. Ngài mang tất cả những kinh thỉnh được từ bên Tàu về chùa Càn An cho chư Tăng Ni trong nước đến sao chép . Ngài thị tịch năm 1774, thọ 70 tuổi—A Vietnamese monk from Nam Định. At the age of 12, he came to Lien Tông Temple to pay homage to Thượng Sĩ and to become the latter's disciple. He received complete precepts and became the Dharma heir of the thirty-ninth generation of the Linn-Chih Zen Sect. He stayed there for six years. Later, he went to China and stayed there for another six years. When he came back to Vietnam, his master Thượng Sĩ had already passed away for three years. He transported all the sutras and sacret books of vinaya to Càn An Temple for other monks and nuns in the country to come to copy. He passed away in 1744, at the age of 70.
tính tâm
(性心) Gọi đủ: Tự tính thanh tịnh tâm. Chỉ cho tâm sẵn có của chúng sinh, tự tính thanh tịnh, lìa tất cả hư vọng, ô nhiễm. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 110 thượng) nói: Tính tâm xa lìa chân thực, nhận vật là mình, tự trôi lăn trong vòng luân hồi. (xt. Tự Tính Thanh Tịnh Tâm).
tính tình
Nature.
tính tông
Xem Pháp tính tôn.
; (性宗) Cũng gọi Pháp tính tông. Trong Phật giáo, những tông lấy bản thể và đạo lí bất biến, bình đẳng, tuyệt đối, chân thực làm trung tâm để lập tông với mục đích tìm hiểu thực tướng vũ trụ và đời sống con người, thì gọi là Tính tông, Pháp tính tông. Trái lại, các tông phái lấy hiện tượng biến hóa, tướng trạng tương đối sai biệt làm nền tảng để lập tông, thì gọi là Tướng tông, Pháp tướng tông. Thông thường, các tông như Tam luận, Hoa nghiêm,...thuộc Tính tông, còn các tông như Câu xá, Pháp tướng... thì thuộc Tướng tông.(xt. Tính Tướng Quyết Phán, Tính Tướng Dung Hội, Pháp Tính Tông).
tính tĩnh
Thiền Sư Tính Tĩnh—Zen Master Tính Tĩnh (1692-1773)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Động Khê. Sau đó ngài đến chùa Nguyệt Quang xin làm đệ tử của Thiền sư Như Hiện. Sau khi thầy ngài thị tịch, ngài trở thành Pháp tử đời thứ 38 dòng Thiền Lâm Tế. Ngài tiếp tục ở lại chùa hoằng pháp. Ngoài ra, ngài còn trùng tu các ngôi già lam Long Động, Phước Quang, và Quỳnh Lâm. Ngài thị tịch năm 1773, thọ 82 tuổi—A Vietnamese monk from Động Khê. He became a disciple of Zen Master Như Hiện at Nguyệt Quang Temple. After his master passed away, he became the Dharma heir of the thirty-eighth generation of the Linn-Chih Zen Sect. He continued to stay at Nguyệt Quang Temple to expand the Buddha Dharma. Besides, he also rebuilt Long Động, Phước Quang, and Quỳnh Lâm Temples. He passed away in 1773, at the age of 82.
tính tướng
The nature (of anything) and its phenomenal expression.
; (性相) Chỉ cho thể tính và tướng trạng. Tính là bản thể chân thực tuyệt đối bất biến, hoặc là tự thể của sự vật; Tướng là tướng trạng của các hiện tượng tương đối biến hóa sai biệt. Luận Đại trí độ quyển 31 có nêu 2 thuyết phân biệt về tính tướng như sau: 1. Tính và Tướng không khác: Chỉ khác về tên gọi, nói tính tức nói tướng, nói tướng tức nói tính; như nói tính lửa tức nói tướng nóng, nói tướng nóng tức nói tính lửa. Bởi thế, tính và tướng có khi được dùng lẫn cho nhau, như nói thực tướng các pháp, tức là nói thực tính các pháp. 2. Tính và Tướng có khác: Tính là thể, Tướng là hình tướng có thể nhận biết, như ngũ giới là Tính, nhuộm áo, cạo tóc là Tướng, Tính và tướng có trongngoài, xa gần, trước sau khác nhau.
tính tướng dung hội
(性相融會) Đối lại: Tính tướng quyết phán. Về mặt giáo nghĩa của Tính tông và Tướng tông vốn đã có những chỗ hội thông nhau, bây giờ đem những chỗ hội thông ấy hệ thống dung hòa lại để hiểu rõ chỉ thú hội hợp, gọi là Tính tướng dung hội. Đây là học phong đặc biệt của ngài Pháp tạng, Tổ thứ 3 tông Hoa nghiêm. Trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, khi bình luận về giáo phán của 2 ngài Giớihiền và Tríquang, y cứ vào sự rộng, hẹp của phạm vi thu nhiếp căn cơ và sự đủ, thiếu của ngôn giáo, ngài Pháp tạng nhận định rằng giáo phán của ngài Giớihiền rất có lí; lại căn cứ vào sự lợi ích cho chúng sinh lớn hay nhỏ và lí được hiển bày sâu hay cạn mà ngài Pháptạng cho rằng giáo phán do ngài Tríquang thành lập cũng rất có lí, rồi ngài Pháptạng kết luận cả 2 giáo phán đều là liễu nghĩa. Lại trong phán thích của Hoa nghiêm thập tông thì tông Ứng lí viên thực thứ 8 trong 8 tông do tông Pháp tướng thành lập được đổi thành tông Chân đức bất không và nâng lên Địa vị Chung giáo. Như trên đều là những điểm đặc sắc của chủ trương Tính tướng dung hội. (xt. Tính Tướng Quyết Phán,Không Hữu Tranh Luận).
tính tướng học
(性相學) Cũng gọi Pháp tướng học. Môn học tìm hiểu về mối quan hệ giữa Tính(bản thể)và Tướng(hiện tượng)các pháp. Trong đó, nghiên cứu các bộ luận Câu xá, Thành thực,... để hiểu rõ về thuyết Tính tướng của Tiểu thừa và nghiên cứu các bộ luận Du già, Duy thức,... để tìm hiểu về thuyết Tính tướng của Đại thừa. Quán tâm giác mộng sao quyển hạ (Đại 71, 88 hạ) nói: Người tu tập quán hạnh cho tính tướng là hời hợt, kẻ học hỏi tính tướng gọi quán hạnh là hí luận. Như vậy, vì cho sai biệt là thiển cận nên họ đã mê mất lí sâu sát; vì cho quán hạnh là trò đùa nên người ta đã đánh mất thực đức. [X. luậnĐại tì bà sa Q.1; Du già sư địa luận thích].
tính tướng nhị không
(性相二空) Chỉ cho Tính không Tướng không. (xt. Tính Không Tướng Không).
tính tướng nhị tông
(性相二宗) Chỉ cho Tính tông (Pháp tính tông) và Tướng tông (Pháp tướng tông). Tông phái chủ trương lí của các pháp chỉ một vị, gọi là Pháp tính tông, như các tông Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai, Mật,...Tông phái chủ trương tướng các pháp sai biệt, gọi là Pháp tướng tông, như các tông Duy thức, Câu xá... Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 79 (Đại 36, 619 thượng) nói: Tức thực mà có, là tông Pháp tướng; tức có mà thực, là tông Pháp tính, cả 2 (có và thực) không rời nhau, mới thành tâm Phật chân thực vô ngại. Vì thế, cho Duy thức Đại thừa là tông Pháp tướng và Chung giáo trong 5 giáo do tông Hoa nghiêmphán lập là tông Pháp tính. Còn theo thuyết của Hoa nghiêm tông yếu nghĩa do ngài Ngưng nhiên người Nhậtbản soạn thì trong 5 giáo của Hoa nghiêm, Chung giáo và Viên giáo là tông Pháp tính, Thủy giáo là tông Pháp tướng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2 và Hoa nghiêm tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 9 nêu ra 10 quan điểm khác nhau giữa Tính tông và Tướng tông như sau: 1. Khác nhau về Nhất thừa và Tam thừa: Tông Pháp tướng cho Tam thừa là chân thực, Nhất thừa là phương tiện; còn tông Pháp tính thì cho Tam thừa là phương tiện, Nhất thừa là chân thực. 2. Khác nhau về Nhất tính và Ngũ tính: Tông Pháp tướng chủ trương Năm tính đều khác nhau, trong đó, cho chúng sinh không thành Phật là liễu nghĩa, còn một tính đều thành là phương tiện; còn tông Pháp tính thì cho 5 tính đều khác nhau là phương tiện, 1 tính đều thành là chân thực. 3. Khác nhau về duy tâm và chân vọng:Tông Pháp tướng chủ trương muôn pháp do 1 tâm A lại da sinh khởi; còn tông Pháp tính thì cho rằng chân như và vô minh hòa hợp mà duyên khởi ra các pháp. 4. Khác nhau về chân như tùy duyên và vắng lặng:Tông Pháp tướng cho rằng chân như vắng lặng, không tạo tác các pháp; còn tông Pháp tính thì chủ trương chân như có 2 nghĩa bất biến và tùy duyên, vì tùy duyên nên ứng theo các duyên nhiễm tịnh mà tạo tác các pháp thiện ác. 5. Khác nhau về không, hữu, tức, li của 3 tính:Tông Pháp tướng cho rằng trong 3 tính thì tính Biến kế sở chấp là không, tính Y tha và tính Viên thành đều là Hữu; tông Pháp tính cho rằng vô tính của Y tha tức là Viên thành. 6. Khác nhau về sinh Phật (Chúng sinh và Phật) không tăng không giảm: Tông pháp tướng cho rằng trong 5 tính, người không có chủng tính không thể thành Phật, vì thế nên chúng sinh giới không giảm, Phật giới không tăng; tông Pháp tính cho rằng chỉ một lí bình đẳng, thể của chúng sinh và Phật không hai, cho nên chúng sinh giới và Phật giới không tăng không giảm. 7. Khác nhau về không, hữu, tức, li của 2 đế:Tông Pháp tướngcho rằng Tục đế là không, Chân đế là hữu, không và hữu khác nhau; còn tông Pháp tính thì cho rằng Không tức hữu là Chân, hữu tức không là Tục, chân không diệu hữu, thể là một mà tên khác. 8. Khác nhau về đồng thời và trước sau của 4 tướng: Tông Pháp tướng cho rằng 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt có trước sau khác thời, trong đó sinh, trụ, dị là hiện tại, diệt là vị lai; tông Pháp tính thì cho rằng trong 1 sát na đồng thời có đủ 4 tướng, tướng có đã sinh thực không diệt liền, ngay khi sinh tức diệt, không đợi sau mới không. 9. Khác nhau về năng, sở, đoạn, chứng, tức, li:Tông Pháp tướng chủ trương năng đoạn là trí, sở đoạn là hoặc(phiền não), năng chứng là tâm, sở chứng là lí vô vi, thể tính đều khác; tông Pháp tính thì cho rằng chiếu rọi thấy hoặc vốn không tức là trí, lìa trí năng chứng không có hoặc sở đoạn. 10. Khác nhau về thân Phật là hữu vi hay vô vi:Tông Pháp tướng cho rằng 4 trí của Như Lai, thân Tự thụ dụng, thân Tha thụdụng đều từ chủng tử mà sinh, khác với vô vi của Niết bàn vô lậu hữu vi; còn tông Pháp tính thì chủ trương Hữu tức sắc, tâm của pháp tính, cho nên sắc, tâm của Phật đều vô vi thường trụ, chẳng bị 4 tướng đổi dời. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.2, 49; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3; Viên giác kinh đại sớ Q. thượng, phần 1 (Tông mật); Tông kính lục Q.34].
tính tướng quyết phán
(性相决判) Đối lại: Tính tướng dung hội. Phân biệt, phán đoán rõ những điểm hơn kém về phương diện giáo nghĩa của Tính tông và Tướng tông, gọi là Tính tướng quyết phán. Đây là chủ trương của ngài Trừngquán, Tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm. Trong Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm quyển 5, ngài Trừngquán nối theo lời bình luận của ngài Pháptạng, Tổ thứ 3 tông Hoa nghiêm, về giáo phán của 2 ngài Giớihiền và Tríquang, nhưng khác với ngài Pháptạng cho giáo phán của 2 ngài đều có những điểm hợp lí, ngài Trừngquán lại chê giáo phán của ngài Giớihiền và sử dụng giáo phán của ngài Trí quang. Đối với sự phân định về 10 tông của Hoa nghiêm, ngài Trừngquán đảo ngược thứ tự sắp xếp của ngài Pháp tạng, gọi tông Pháp tướng là Tam tínhkhônghữu tông,đặt vào vị trí thứ 7 trong 10 tông, xếp tông Tam luận vào địa vị Đốn giáo, gọi là Chân không tuyệt tưởng tông, đặt ở vị trí thứ 8. Điều này cho thấy giữa Tính tông và Tướng tông có sự hơn kém về mặt giáo nghĩa. (xt. Không Hữu Luận Tranh).
Tính tướng 性相
[ja] ショウソウ shōsō ||| 'Essential nature and characteristic.'〔瑜伽論T 1579.30.651c〕 => Bản tính và đặc điểm.
tính tập nhị tính
(性習二性) Cũng gọi Tính chủng tập chủng. Chỉ cho Tính chủng tính và Tập chủng tính.1. Tính chủng tính: Gọi đủ: Bản tính trụ chủng tính (Phạm:Prakftisthaôgotram), gọi tắt là Tính chủng; tức chủng tính pháp nhĩ tự nhiên tồn tại, từ vô thủy đến nay xoay vần tiếp nối, làm Nhân cho pháp vô lậu. 2. Tập chủng tính: Gọi đủ: Tập sở thành chủng tính (Phạm: Samudàrìtaô gotram), gọi tắt là Tập chủng; chỉ cho chủng tính nhờ tu hành, huân tập mà thành. Thuyết Tính tập nhị tính này ứng dụng thích hợp cho các pháp môn, như Tự tính thanh tịnh và vô cấu thanh tịnh nói trong kinh Vô thượng y quyển thượng, Bản giác và Thủy giác nói trong luận Đại thừa khởi tín, Bản hữu chủng tử và tân huân chủng tử trong luận Thành duy thức quyển 2, Bản lai thanh tịnh và vô cấu thanh tịnh trong luận Tam vô tính quyển thượng, pháp Phật tính và báo Phật tính trong Đại thừa nghĩa chương quyển 9,... đều là căn cứ vào thuyết Tính tập nhị tính mà được thành lập. [X. phẩm Chủng tính trong kinh Bồ tát địa trì Q.1; luận Thành duy thức Q.9; luận Du già sư địa Q.35; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q. hạ]. (xt. Chủng Tính).
Tính tịnh 性淨
[ja] ショウジョウ shōjō ||| An abbreviation of 自性清淨, the "purity of the self-nature." (prakrti-prabhāsvara). => Gọi tắt của Tự tính thanh tịnh (自性清淨, e: purity of the self-nature; s: prakrti-prabhāsvara).
tính tội
Sins that are such according to natural law, apart from Buddha's teaching e.g. murder etc.
; (性罪) Đối lại: Già tội. Cũng gọi: Tự tính tội, Tính trọng, Thực tội.Chỉ cho tội lỗi của tự tính, 1 trong 2 tội. Nghĩa là bất luận ở vào hoàn cảnh nào, hễ vi phạm sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối,... đều là hành vi tội ác thuộc về bản chất, gọi là Tính tội. Trái lại, các tội lỗi vì phạm giới luật do đức Phật chế để tránh sự chê cười của người đời, đều thuộc tội nhẹ thì gọi là Già tội, như tội uống rượu được coi là Già tội. Các cấm giới thuộc Tính tội gọi là Tính giới, Tính trọng giới, Chủ giới, Cựu giới; còn các cấm giới nhắm vào Già tội thì gọi là Già giới, Li ác giới, Khách giới, Tân giới. Cho dù đức Phật không chế định Tính giới, thì Tính tội vẫn là tội ác; còn Già tội thì chỉ sau khi đức Phật chế định Già giới mới thành tội. Về phạm vi của Tính tội, trong các kinh luận có các thuyết khác nhau. Như kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), kinh Chính pháp niệm xứ quyển 59, Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1, luận Đại tì bà sa quyển 123, luận Câu xá quyển 14,... đều cho 4 Ba la di sát, đạo, dâm, vọng là Tính tội. Phẩm Thập thiện đạo trong luận Thành thực quyển 9 cho 10 điều ác: Sát, đạo, dâm, vọng, ác khẩu, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến là Tính tội. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 cho 7 điều trước trong 10 điều ác là Tính tội, Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng cho 7 điều trước trong 10 điều ác cộng thêm uống rượu là Tính tội. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.6; luận Luật nhị thập nhị minh liễu; luận Du già sư địa Q.99; luận Thuận chính lí Q.38]. (xt. Tính Giới, Tội).
tính tự tính
Bhavasvabhava (skt)—Bản chất của hiện hữu hay cái gồm nên bản thể của sự vật. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật bảo Mahamati: “Này Mahamati, bản chất của hiện hữu không phải như người ngu phân biệt nó.”—Self-nature, that which constitutes the essential nature of a thing. In the Lankavatara Sutra, the Buddha told Mahamati: “Oh Mahamati, the nature of existence is not as it is discriminated by the ignorant.”
tính xấu
Vice.
tính âm
(性音) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người ở Thẩm dương, họ Lí, tự Calăng, hiệu Xuydư. Thuở nhỏ, sư theo Nho học, chuyên nghiên cứu về thuyết Tính mệnh. Năm 24 tuổi, sư lễ ngài Tìlô Chânnhất ở Cao dương cầu xuất gia; về sau, sư tham yết ngài Mộng am Siêu cách chùa Lí an và được nối pháp. Lúc đầu, sư hoằng pháp ở chùa Đại thiên Phật tại Kinh tây, không bao lâu, dời đến trụ chùa Bá lâm, rồi lại trụ các chùa Lían, Qui tông, Đạigiác... Mùa xuân, niên hiệu Ung chính năm đầu (1723), sư về miền Nam. Tháng 4 năm Tí nhâm.6124 T Ung chính thứ 4 (1726), sư thị tịch ở chùa Quitông, thụy hiệu Viên Thông Diệu Trí Thiền Sư. Sư để lại các tác phẩm: Tông giám pháp lâm, Tông thống nhất ti, Tạp độc hải, Ngữ lục, Ngữ yếu... hơn 100 quyển. [X. Tông giám pháp lâm Q.72; Lí an tự chí Q.5, 7; Chính nguyên lược tập Q.12].
tính đĩnh
(性珽) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Phúc thanh, phủ Phúc châu, họ Trần, tự là Tượng nhai. Thủa nhỏ, sư thường đến chùa Ngô sơn, một hôm, sư nghe tụng bộ Thiền tông chính mạch bỗng nảy chí xuất gia. Sau, sư theo ngài Thường hi phúc ở Trường lạc xin cạo tóc. Năm 19 tuổi, sư đến núi Bách trượng tham học Pháp sư Khắc dung, sau đó, lần lượt tham yết các ngài Vô dị Nguyên lai, Mật vân Viên ngộ,... Khi sư đến tham lễ ngài Phá sơn Hải minh ở Đông tháp tại tỉnh Chiết giang thì được nối pháp. Về sau, sư lần lượt trụ ở các ngôi chùa danh tiếng như Long phan thiền tự ở phủ Trùng khánh (nay là huyện Ba, tỉnh Tứ xuyên), Ngọc phong thiền tự, Hoa nghiêm thiền tự...Năm Thuận Trị thứ 8 (1651), sư thị tịch, thọ 54 tuổi. Sư có tác phẩm: Tượng nhai Đĩnh thiền sư ngữ lục, 4 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.70; Kiền nam hội đăng lục Q.1].
tính đắc
(性得) Cũng gọi Sinh đắc, Tính đức. Chỉ cho cái tính chất tiên thiên đã có sẵn trong bản tính của chúng sinh từ vô thủy đến nay, không do học vấn, kinh nghiệm, tập tành mà có. Trái lại, cái nhờ năng lực hậu thiên tu hành mà đạt được thì gọi là Tu đắc, Tu đức. Luận Phật tính quyển 1 (Đại 31, 787 hạ) ghi: Nếu nói theo thuyết của các bộ như Tì đàm, Tì bà đa..., thì tất cả chúng sinh đều không có Tính đắc Phật tính, mà chỉ có Tu đắc Phật tính. [X. phẩm Chủng tính trong kinh Bồ tát địa trì Q.1; Pháp hoa kinh văn cú Q.9; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.34].
tính đắc phật tính
(性得佛性) Đối lại: Tu đắc Phật tính. Chỉ cho Phật tính pháp nhĩ tự nhiên đã có sẵn trong bản tính của tất cả chúng sinh.Cứ theo kinh Niết bàn quyển 7 (bản Bắc) thì tất cả chúng sinh thảy đều có Phật tính, chỉ vì Phật tính của phàm phu bị phiền não che lấp, nếu siêng năng tinh tiến tu hành đoạn trừ phiền não thì Phật tính thanh tịnh bản nhiên hiển hiện ngay tức khắc. (xt. Phật Tính).
tính địa
Spiritual nature, the second of the ten stages as defined by the Thông giáo Intermediate School.
tính đốn
(性潡) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Hoàng bá Nhậtbản, sống vào đầu đời Thanh, người ở Phúc thanh, phủ Phúc châu, tỉnh Phúckiến, họ Lâm, tự Caotuyền, hiệu Vân ngoại, Đàm hoa đạo nhân. Sư xuất gia năm 13 tuổi, thờ Thiền sư Tuệ môn Nhưbái ở núi Hoàngbá, Phúc kiến làm thầy, đồng thời được nối pháp ngài. Năm 29 tuổi (1661), sư vâng mệnh ngài Ẩn nguyên Long kì sang Nhậtbản, đến ở chùa Vạnphúc tại Vũtrị. Ít lâu sau, sư lại trụ ở chùa Phápvân tại Áo châu, đồng thời trông nom chùa Phật nhật ở Nhiếptân, rồi phục hưng chùa Hiếu châu ở Giahạ, được phiên chúa là Tiền điền quy y. Sau, sư lại trở về Vũ trị, thường vào cung thuyết pháp. Năm Nguyên lộc thứ 5 (1692), sư kế thừa pháp tịch đời thứ 5 núi Hoàng Bá. Năm Nguyênlộc thứ 8 (1695), sư thị tịch, thọ 63 tuổi. Vua ban thụy hiệu Đại Viên Quảng Tuệ Quốc Sư, Phật Trí Thường Chiếu Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Phù tang thiền lâm tăng bảo truyện 10 quyển, Đông quốc cao tăng truyện 10 quyển, Tẩy vân tập 10 quyển, Phậtquốc Cao tuyền thiền sư ngữ lục 8 quyển, Sơn đường thanh thoại 3 quyển, Đông độ chư tổ truyện 1 quyển, Pháp hoa lược tập 1 quyển, Hàn mặc thiền 1 quyển, Cao tuyền thiền sư ngữ lục 1 quyển, Hữu mã ôn tuyền kí 1 quyển, Thích môn hiếu truyện 1 quyển. [X. Đại viên Quảng tuệ quốc sư bi minh; Hoàng bá Đông độ tăng bảo truyện Q. thượng; Nhật bản thiền tông sử yếu].
tính độ
The sphere of the dharma-nature, i.e. the bhùtatathatà.
; (性土) Đối lại: Tướng độ. Chỉ cho thế giới Chân như pháp tính, không hình không sắc. Bởi vì lí của pháp tính chẳng phải dơ chẳng phải sạch, chẳng rộng chẳng hẹp, giống như hư không ở khắp mọi nơi, chẳng hạn như Thường tịch quang độ(cõi ánh sáng thường vắng lặng) chính là Tính độ. Còn Tướng độ thì tùy theo tâm hành của chúng sinh mà có nhiều cõi khác nhau. [X. Tông kính lục Q.89]. (xt. Pháp Tính Độ, Tướng Độ).
tính đức
Natural capacity for good (or evil), in contrast with tu đức powers(of goodness) obtained by practice.
; (性德) Cũng gọi Tính đắc, Tự tính đắc. Trong bản tính của chúng sinh vốn có đầy đủ năng lực tiên thiên, gọi là Tính đức, còn năng lực hậu thiên nhờ tu hành mà được thì gọi là Tu đức, Tu đắc, Nhân công đắc.(xt. Tính Đắc).
Tính đức 性徳
[ja] ショウトク shōtoku ||| Virtues possessed by nature; the possession by every sentient being of the qualities of his original nature, such as good/evil, delusion/awakening. The complement of 修徳--virtues attained through practice. => Đức hạnh có từ trong bản tính; mọi chúng sinh đều vốn có sẵn trong bản tính, như thiện/ác, mê/ngộ. Phần bổ túc cho Tu đức 修徳-- đức hạnh do tu đạo mà có.
Tính 姓
[ja] ショウ shō ||| (1) Surname, family name. One's clan, tribe or ethnic group (gotra). (2) In India, one's social caste (jāti). => 1. Tên họ. Thị tộc, bộ tộc hoặc dân tộc (s: gotra). 2. ở Ấn Độ, là giai cấp trong xã hội của một người (s: jāti). .
Tính 性
[ja] ショウ shō ||| (1) Nature, essence, substance, self-nature; (pre-)disposition, inclination, temperament. That which a person (or thing) is born with. (2) Quality, characteristic. (3) The inner essence of something as opposed to its outer form. That which does not change according to external influences (svabhāva). (4) Innate, inherent, inborn. (5) The quality or constituent by which one becomes a buddha. (6) Suchness, reality. (7) Sex. (8) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See => 1. Bản chất, thực chất, căn bản, tự tính, tính khí tiên thiên, khí chất, tính khí. Điều mà một người (hay vật) mang lấy khi vừa sanh ra. 2. Phẩm chất, đặc tính. 3. Bản tính bên trong của một vật, đối lại với bản chất nội tại, thường bất biến theo ảnh hưởng bên ngoài (s: svabhāva). 4. Bẩm sinh, vốn có. 5. Phẩm chất hay yếu tố cấu tạo, qua đó mà người ta thành Phật. 6. Chân như, thực tế. 7. Giới tính. 8. Một trong Thập Như thị trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập Như thị十如是.
tính, tự tính
Svabhàva, prakrti, pradhàna (S). The nature, intp. as embodied, causative, unchanging; also as independent or self-dependent; fundamental nature behind the manifestation or expression. Also the Buddha-nature immanent in all beings, the Buddha heart or mind.
tòa
1) Chỗ ngồi: Vastu (skt)—Place—Seat. 2) Tòa án: Court—Judge.
Tòa hạ
(座下): có ba nghĩa chính. (1) Từ kính xưng đối với bậc tôn đức. Như trong tác phẩm Học Lâm (學林), chương Trẫm (朕), của Vương Quán Quốc (王觀國, ?-?) nhà Tống, giải thích rằng: “Xưng tôn giả vi tòa hạ, kỷ hạ, tịch hạ, các hạ (稱尊者爲座下、几下、席下、閣下, gọi các bậc tôn kính là tòa hạ, kỷ hạ, tịch hạ, các hạ).” (2) Dưới giảng tòa. Như trong bài thơ Hoa Sơn Nữ (華山女) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có câu: “Hoàng y Đạo sĩ diệc giảng thuyết, tòa hạ liêu lạc như minh tinh (黃衣道士亦講說、座下寥落如明星, Đạo sĩ áo vàng cũng giảng thuyết, dưới tòa vắng vẻ như sao sáng).” (3) Dưới tòa hoa sen, mượn chỉ chư Phật, Bồ Tát. Như trong tác phẩm Nại Hà Thiên (奈何天), phần Giảo Thoát (狡脫), của Lý Ngư (李漁, 1611-1680) nhà Thanh, có đoạn: “Tình nguyện quy y tòa hạ, cố cá truyền kinh thính pháp chi nhân (情願皈依座下、做個傳經聽法之人, tình nguyện quy y dưới tòa, tự làm người truyền kinh điển và nghe pháp).”
tòa như lai
The throne (palace chamber) of the Buddha—The palace chamber in which the Buddha was situated.
tòa sen
Buddha's throne.
tòn ten
To hang (swing) loosely.
tòng
To follow.
tòng chinh
To go to war.
tòng hiển nhập mật
(從顯入密) Cũng gọi: TòngHiển nhậpMật chi cơ, Vu hồi chi cơ. Từ Hiển giáo chuyển sang tu Mật giáo. Cơ này khác với cơ trực vãng(đi thẳng)đã tu học môn Chân ngôn từ lúc ban đầu.
tòng hương
(從香) Hương tiếp theo sau. Trong Tùng lâm, lúc khai đường chúc thánh, sau khi vị Trụ trì niệm hương, thị giả tiếp lấy hương cắm vào lư, lại đốt thêm một nén hương nữa, nén hương đốt tiếp theo này gọi là Tòng hương. Sắc tư Bách trượng thanh qui quyển 1 (Đại 48, 1113 trung) ghi: Trụ trì niệm hương chúc thọ xong, thị giả tiếp lấy hương, dùng tay trái cắm hương vào lư, tay phải cầm một nén tòng hương, vái vị trụ trì rồi bước xuống, trở về chỗ đứng. [X.môn Tùng quĩ, loại thứ 9, trong Thiền lâm tượng khí tiên]
tòng học
To study.
tòng luân
(從倫) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động, sống vào đầu đời Nguyên, hiệu là Lâm Tuyền. Sư tham yết ngài Vạn tùng Hành tú chùa Báo ân ở Yên kinh, tỉnh ngộ và được nối pháp của ngài. Ban đầu, sư trụ chùa Vạn thọ, sau thừa kế thầy trụ chùa Báo ân. Năm Thế tổ thứ 9 (1268), sư vâng chiếu chỉ vào nội điện, từng luận đạo với Đế sư (thầy vua), phát huy các điểm chủ yếu của Thiền học, khéo léo dâng lên vua bộ Thiền nguyên chư thuyên tập của ngài Tông mật. Tháng 10 năm Thế tổ 18 (1277), sư đốt Đạo tạng ngụy kinh ở chùa Mẫn trung tại Đại đô, trừ Đạo đức kinh, các kinh còn lại bị đốt sạch. Đối với 100 tắc tụng cổ của ngài Đầu tử Nghĩa thanh và 100 tắc tụng cổ của ngài Đan hà Tử thuần, sư đều làm thêm trứ ngữ và bình xướng, vựng tập thành Không cốc tập, Hư đường tập. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống Q.14; Ngũ đăng toàn thư Q.61].
Tòng lâm
叢林; C: cónglín; J: sourin; |Nghĩa gốc của thuật ngữ nầy là »rừng cây«, »lùm cây«, »khu rừng nhỏ«. Trong Phật pháp, nó có nghĩa là nơi Tăng chúng tu tập, như tu viện hay chùa.
tòng lâm
Saṃgha (S), Saṅgha (P)Tăng già, Tăng đoàn, Tăng chúngChỗ tăng và tục nhóm họp để dạy hay học đạo.
; Monastery.
; Lâm là rừng, nhiều cây tụ lại một chỗ gọi là Tòng, xưa nay Thiền tông dùng danh từ này để xưng hô thiền viện. Ở trung Quốc có những Tòng lâm có thể dung nạp hai ba ngàn hành giả tham thiền cùng sinh hoạt tu hành.
; Monastery complex.
Tòng lâm 叢林
[ja] ソウリン sourin ||| The original meaning of this term is "forest," "thicket" or "grove." In Buddhism, it refers to a gathering of the sangha, or to the place where they gather, such as a monastery or temple. => Nghĩa gốc của thuật ngữ nầy là "rừng cây", "lùm cây", "khu rừng nhỏ". Trong Phật pháp, nó có nghĩa là nơi Tăng chúng tu tập, như tu viện hay chuà.
tòng môn nhập giả bất thị gia trân
(從門入者不是家珍) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cái gì từ ngoài cửa vào thì không phải của báu nhà mình. Nghĩa là đồ trân bảo chân chính thì phải ở trong chính nhà mình. TrongThiền lâm, nhóm từ này ngụ ý cho rằng điểm thenchốtquan trọng nhất của việc đại ngộ là ở Phật tính vốn sẵn có, nếu không biết rõ lí này mà hướng ra bên ngoài để tìm cầu sự khai ngộ thìrốtcuộc chẳng được gì. Bích nham lục tắc 5 (Đại 48, 145 thượng) ghi: Nham đầu nói rằng: Ôngkhông thấy sao! Cái từ ngoài cửa vào chẳng phải là của báu trong nhà, nó phải từ trong lồng ngực của chính mình tuôn chảy ra, bao trùm cả trời đất mới có chút phần tương ứng.
tòng nghi sư
(從儀師) Cũng gọi Tòng uy nghi sư. Một chức tăng dưới quyền vị Uy nghi sư, có nhiệm vụ chỉnh đốn uy nghi của chúng tăng trong giới đàn(lúc thụ giới) hoặc trong lúc cử hành pháp hội. Nếu ở cương sở(nơi thi hành các chức vụ) thì Tòng nghi sưphụtá Tam cương. (xt. Uy Nghi Sư).
tòng nghĩa
(從義) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Bắc Tống, người ở Bình dương thuộc Ôn châu (nay là huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang), họ Diệp, tự Thúcđoan. Sư xuất gia năm 8 tuổi, 17 tuổi thờ ngài Phùtông Kếtrung làm thầy, học tập giáo nghĩa tông Thiên thai, sau sư đi khắp các nơi, lần lượt trụ trì 5 chùa: Đại vân, Chân bạch, Ngũ phong, Bảo tích và Diệu quả. Năm 27 tuổi, sư giảng Thiên thai tứ giáo nghi ở chùa Diệu quả, đồng thời soạn bộ Thiên thai tứ giáo nghi tập giải. Sư là người đoan chính thanh bạch, thức ngủ điều độ, đam mê soạn thuật, quá ngọ không ăn, trái pháp không nói, thường nằm nghiêng bên phải, nước không lọc chẳng uống, uy nghi chỉnh túc. Sư cho rằng từ đời Tùy, Đường về sau, các tông phái không y cứ vào kinh luận, chỉ chú trọng việc tu chứng, phán thích không hết ý của Phật, cho nên trong các bộ bổ chú, tập giải do sư soạn, chỗ nào sư cũng biện minh điều này. Tuy học theo tông học chính thống của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia, ra sức hoằng dương Thiên thai, nhưng luận thuyết của sư thường khác xa với quan điểm của ngài Tứ minh Tri lễ, vì thế người đời sau gọi sư là Hậu sơn ngoại. Về già, sư trụ chùa Thọ thánh ở Tú châu (nay là huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang), mở rộng tông phong. Năm Nguyên hựu thứ 6 (1091), sư thị tịch, thọ 50 tuổi, thụy hiệu Thần Trí. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa tam đại bộ bổ chú 14 quyển, Kim quang minh huyền nghĩa thuận chính kí 3 quyển, Kim quang minh văn cú tân kí 7 quyển, Chỉ quán nghĩa lệ toản yếu 6 quyển, Chỉ quán nghĩa lệ khoa 1 quyển, Thủy chung tâm yếu chú 1 quyển, Tứ giáo nghi tập giải 3 quyển, Quán kinh sớ vãng sinh kí 4 quyển, Thập bất nhị môn thông kí 3 quyển, Kim ti ngụ ngôn kí 4 quyển, Tịnh danh lược kí 10 quyển, Sưu huyền kí 3 quyển, Pháp hoa cú khoa 6 quyển, Bồ tát giải sớ khoa 1 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.21; Thích thị kê cổ lược Q.4].
tòng nhân hướng quả
(從因向果) Từ nhân hướng tới quả. Khi tu hành Phật đạo, từ nhân vị (chẳng hạn như Bồ tát vị)theo thứ tự tiến tới quả vị (chẳng hạn như Phật vị), cứ như thế tiến tu hướng tới, gọi là Tòng nhân hướng quả, hoặc Tòng nhân chí quả. Ngược lại, từ quả vị hướng tới nhân vị để giáo hóa, dắt dẫn chúng sanh thì gọi là Tòng quả hướng nhân. Mật giáo nói chung và tông Thiên thai Nhật bản đều có thuyết này và nó được dùng để biểu thị cho giai vị và phương hướng trong quá trình tu chứng của người hành đạo. (xt. Đông Nhân Phát Tâm, Tòng Quả Hướng Nhân).
tòng phục
To submit.
tòng quả hướng nhân
(從果向因) Đối lại: Tòng nhân hướng quả. Từ quả vị 3 thân tròn sáng lại hướng về nhân địa phát tâm tu hành. Chẳng hạn, vì dắt dẫn và hóa độ chúng sinh mà một đức Phật từ quả vị phương tiện thị hiện thân Bồ tát, thân Thanh văn; cũng như hành giả niệm Phật, sau khi được sinh về Tịnh độ, trở lại thế giới Sa bà để tiếp dẫn người khác vãng sinh. Những trường hợp này đều thuộc Tòng quả hướng nhân. Trong Mật giáo, để biểu thị người tu hành từ địa vị phát tâm đầu tiên đến quả Phật, theo sự chuyển biến về mặt âm vận của chữ (a) Tất đàm, được phối hợp với 5 phương, 5 Phật mà có 2 phương hướng tu hành là Đông nhân phát tâm và Trung nhân phát tâm. Trong đó, Trung nhân phát tâm là phối Đại nhật Như Lai ở chính giữa (Trung ương)với nhân vị phát tâm, hướng theo thứ tự các phương vị tu chứng Đông, Nam, Tây, Bắc từ quả vị đến nhân vị, đặc biệt gọi là Tòng quả hướng nhân(Từ quả vị hướng đến nhân vị). Còn trong vị thứ của Viên giáo do tông Thiên thai phán thích thì có thuyết Lục tức vị, được phối hợp với các giai vị tu hành của Bồ tát. Lục tức theo thứ lớp từ cạn đến sâu là: Lí tức, Danh tự tức, Quán hành tức, Tương tự tức, Phần chân tức (Phần chứng tức)và Cứu cánh tức. Tổ khai sang tông Thiên thai Nhật bản là ngài Tối trừng theo thuyết Lục tức vị, sáng lập nghĩa mới, lấy 5 tức trước như Lí tức...… làm Nhân vị, Cứu cánh tức là Quả vị, thuận theo thứ tự Thủy giác mà tiến tu hướng lên, gọi là Tòng nhân chí quả (từ nhân vị đến quả vị), nói theo pháp môn giáo nghĩa thì gọi là Thủy giác pháp môn. Trái lại, nếu căn cứ vào lí Phật phàm nhất thể(Phật và chúng sinh phàm phu là cùng một thể tính), lấy lí tức làm quả vị Phật viên mãn, lấy 5 tức sau từ Danh tự tức cho đến Cứu cánh tức làm nhân vị của hạnh hóa độ người khác, cứ như thế từ Cứu cánh tức hướng tới Li tức ngược hướng tu hành thì chính là thuận theo thứ tự Bản giác từ quả hướng xuống chuyển tu, gọi là Tòng quả hướng nhân (từ quả vị hướng tới nhân vị); nói theo pháp môn giáo nghĩa thì gọi là Bản giáo pháp môn. (xt. Trung Nhân Phát Tâm, Ngũ Chuyển, Tòng NhânHướngQuả).
tòng sự
To work—To serve.
Tòng Thẩm
從諗|Triệu Châu Tòng Thẩm
tòng thẩm nhưng cựu
(從諗仍舊) Tên công án trong Thiền tông. Tòng thẩm chỉ choThiền sư Triệuchâu Tòngthẩm đời Đường; Nhưng cựu nghĩa là vẫn như cũ, như xưa, tức vẫn nương theo và ứng dụng các phương pháp cầu chứng của người xưa. Ngài TriệuchâuTòngphẩm dạy người học không cần phải suy xét, tìm cầu khắp nơi, nếu cứ đi theo dấu chân của người trước thì cũng có thể đạt được cảnh giới giác ngộ. Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 131 hạ) ghi: Triệuchâu nói: Chớ nên phí sức, nói năng to lớn mới mẻ, sao chẳng như cũ đi? Pháp thế gian còn có cửa vào, huống chi pháp xuất thế há không có cửa ư? Chỉ do mình không chịu như cũ đó thôi.
tòng thẩm tiển cước
(從諗洗脚) Tên công án trong Thiền tông. Tòng thẩm rửa chân. Đây là cơ duyên vấn đáp giữa ngài Triệuchâu Tòngthẩm đời Đường và Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền, khi ngài Triệuchâu hành cước(đi tham vấn các nơi) đến tham yết thì đúng lúc ngài Lâmtế đang rửa chân. Thiền uyển mông cầu quyển trung (Vạn tục 148, 127 thượng) ghi: Triệuchâu hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấnđộ đến? Lâm Tế đáp: Lúc này lão tăng đang rửa chân. Triệuchâu lại bước đến gần tỏ vẻ lắng nghe. Lâm tế nói: Còn gáo nước dơ thứ 2 ở đó!Triệuchâu liền lui. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11].
tòng tâm lưu xuất
(從心流出) Từ trong tâm tuôn chảy ra. Nghĩa là chư tôn quyến thuộc của Mật giáo là từ trong tâm Đại nhật Nhưlai mà xuất hiện. Các vị tôn này đều do tự tính của Đại nhật Như lai mà hình thành, mang cùng một tính kim cương. Chẳng hạn như 4 vị Bồ tát (Hỉ bồ tát, Manbồ tát, Cabồ tát, Vũbồ tát)ở 4 góc trong Kim cương luân thuộc Mạn đồ laKim cương giới chính là các vị Bồ tát từ trong tâm Đại nhật Như lai mà lưu xuất ra. [X.kinh Phân biệt thánh vị].
tòng địa dũng xuất
(從地踴出) Từ trong lòng đất vọt ra. Tức vô lượng Bồ tát từ trong lòng đất vọt ra. Một trong các loại thần biến mà đức Phật thị hiện khi Ngài nói pháp. Như phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháphoa quyển 5 ghi rằng: Lúc đức Phật nói kinh Pháphoa, Ngài bảo đại chúng là thế giới Sa bà tự có các Bồ tát và quyến thuộc nhiều bằng số cát của 6 vạn sông Hằng, sau khi Phật nhập diệt, đều có khả năng hộ trì đọc tụng kinh này. Khi Phật nói lời ấy thì cõi nước ba nghìn đại thiên trong thế giới Sa bà đều rúng động nứt nẻ, có vô lượng nghìn ức Bồ tát nghe âm thanh của Phật, liền cùng nhau từ trong đất vọt ra. [X.kinh Bất thoái chuyển pháp luân Q.1].
tóc bạc
White hair.
tóc hoa râm
Grey hair.
tóc rụng
One's hair falls out.
tóc xanh
Black hair.
tóm
To arrest—To catch—To seize—To capture—To take hold of.
tóm cổ
See Tóm.
tóm lại
In brief—In short—To sum up.
tóm tắt
To sum up—To summarize.
tóp
To shrink—To contract.
tô
Refreshing thyme; revive, cheer. Translit su, so, sa, s. Most frequently it translit the Sanskrit su, which means god, well, excellent, very.
; 1) Phó sản của sữa bò (sinh tô và thục tô): Curd, butter. It is described as produced by churning milk. 2) Tốt: Good—Well—Excellent.
tô ba ha
Svàhà (S). Hail! A mystic word indicating completion, good luck, nirvàna, may evil disappear and good be increased. Also Ta bà ha, tá ha, tát bà ha.
; Svaha (skt)—Một câu tán thán hay một mật tự chỉ sự hoàn tất, chúc lành, chúc tiêu tai cát tường (sự dữ tan biến và sự lành xuất hiện)—A kind of amen; a mystic word indicating completion, good luck, nirvana, may evil disappear and good be increased.
tô bà ha
(蘇婆訶) Phạm:Svàhà. Cũng gọi: Tăng bà ha, Tắc phạ ha, Sa bà ha, Sa phược ha, Tát bà ha, Sa phạ ha, Sa phạ hạ, Sa ha. Từ ngữ kết thúc câu chân ngôn, đà la ni. Nhân vương kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ quyển hạ cho rằng Sa phạ ha nghĩa là thành tựu, cát tường, viên tịch, tức tai, tăng ích, vô trụ...… Theo nghĩa vô trụ thì Sa phạ ha chính là Niết bàn vô trụ, nương vào Niết bàn vô trụ này mà làm lợi lạc cho hữu tình đến vô cùng tận. Đại nhật kinh sớ quyển 6 thì cho rằng Sa ha nghĩa là cảnh giác, tức cảnh giác chư Phật không trái với bản thệ, đầy đủ điều nguyện ước, làm cho đạo tràng là thanh tịnh trang nghiêm. Còn Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì cho rằng Sa ha là phá dẹp các chướng ngại, có nghĩa dẹp trừ các ma chướng, khiến chúng phải lui tan. Đây vốn là từ cảm thán do người Ấn độ đời xưa xướng lên khi cúng tế thần, còn có nghĩa là vật dâng cúng tốt đẹp. Người đời sau biến Tô bà ha thành Thần thánh ngữ, thêm vào cuối câu chú để biểu thị ý nghĩa thành tựu, cát tường, tức tai, tăng ích…... [X. phẩm Trì tụng pháp trong kinh Đại nhật Q.7; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.1; Tôn thắng Phật đính tu du già pháp quĩ nghi Q. thượng; Kim cương đính kinh du già Quán tự tại vương Như lai tu hành pháp; Đại nhật kinh sớ Q.7; Bát nhã ba la mật đa tâm kinh lược sớ; Tuệ lâm âm nghĩa Q. hạ].
tô bà hô đồng tử
Xem Diệu Tý Bồ tát.
tô bà hô đồng tử thỉnh vấn kinh
(蘇婆呼童子請問經) Phạm:Suvàhu-paripfechà. Gọi tắt: Tô bà hô đồng tử kinh, Tô bà hô thỉnh vấn kinh, Tô ma hô kinh, Tô ma hô luật kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Thâu ba ca la dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung kinh này ghi chép những lời của Chấp kim cương bồ tát đại Dược xoa tướng chỉ dạy đồng tử Tô bà hô về luật nghi mà hành giả Chân ngôn phải thụ trì. Toàn kinh gồm 12 phẩm: Phẩm Luật phần, phẩm Phân biệt xứ sở phần, phẩm Trừ chướng phần, phẩm Phân biệt kim cương chử cập dược chứng nghiệm phần, phẩm Phân biệt thành tựu chướng phần, phẩm Niệm tụng chân ngôn quĩ tắc quán tượng ấn đẳng mộng chứng phần, phẩm Tất địa tướng phần, phẩm Hạ bát tư na phần, phẩm Phân biệt già nạn, phẩm Phân biệt đạo phần, phẩm Phân biệt chư bộ phần và phẩm Phân biệt bát pháp phần. Bản dịch khác của kinh này là kinh Diệu tí bồ tát sở vấn do ngài Pháp thiên dịch vào đời Bắc Tống, gọi tắt là kinh Diệu tí sở vấn, gồm 4 quyển, 12 phẩm, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Trong 12 phẩm thì kinh Diệu tí sở vấn phần nhiều có xuất xứ từ phẩm Thành tựu phần, là phẩm mà kinh này không có, nhưng lại thiếu phẩm Niệm tụng chân ngôn quĩ tắc quán tượng ấn đẳng mộng chứng phần, 11 phẩm còn lại đều có nội dung giống với kinh này, chỉ hơi khác nhau về tên gọi mà thôi. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5].
Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn kinh 婆呼童子請問經
[ja] ソバコドウシショウモンキョウ Sobako dōji shōmon gyō ||| The Supohu tongzi qingwen jing; Skt. Subāhuparipṛcchātantra; Tib. dpung bzang gis zhus pa zhes bya ba'i rgyud; (Tantra of the Questions of Subāhu) [To.805, P.428]. A basic text on the practical aspects of esoteric ritual, explained by in response to questions from the youth Subāhu. Often grouped with a number of other early treatises on ritual theory and practice (Susiddhitantra (T 893), Guhyatantra (T 897), Dhyānottara [To.808, P.430]). Chinese translations: (1) 11 chapters in 3 fasc. (T 895.18.719746), Questions of the Youth Subāhu 蘇婆呼童子請門經, abbr. Sutra of the Youth Subāhu 蘇婆呼童子經, tr. Śubhakarasimha 囉波迦羅. KI (mb) 5. (2) 12 chapters in 4 fasc. (T 896.18.746760), Questions of the Bodhisattva with Wondrous Arms 妙臂菩薩問經, tr. Fatian 法天. KI (mb) 5. => (j: Sobako dōji shōmon gyō; c: Supohu tongzi qingwen jing; s: Subāhuparipṛcchātantra; t:dpung bzang gis zhus pa zhes bya ba'i rgyud; e: Tantra of the Questions of Subāhu). Là bản kinh quan trọng của pháp tu Mật giáo, được Chấp Kim cang thần (s:Vajrapāṇi) giải thích qua lời thưa hỏi của đồng tử Tô bà hô (s: Subāhu). Thường được xếp vào với những luận giải khác về giáo lý và thực hành các nghi quỹ [(Thành tựu tan-tra, s: Susiddhitantra), (Bí mật tập hội tan-tra, s: Guhyatantra) và Dhyānottara]. Các bản dịch tiếng Hán gồm: 1. Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn kinh 蘇婆呼童子請問經 (e: Questions of the Youth Subāhu), gọi tắt là Tô bà hô đồng tử kinh 蘇婆呼童子經 (e: Sutra of the Youth Subāhu), 3 quyển, 11 chương. Ra-ba-ca-la (s: Śubhakarasimha 囉波迦羅) dịch. 2. Diệu tý Bồ-tát vấn kinh 妙臂菩薩問經 (e: Questions of the Bodhisattva with Wondrous Arms), gồm 12 phẩm trong bốn quyển, Pháp Thiên (c: Fatian 法天) dịch.
tô bà hồ bồ tát
(蘇婆胡菩薩) Tô bà hồ,Phạm:Subàhu#. Hán dịch: Diệu tí. Cũng gọi Tô bà hôbồ tát, Tô ba hồbồ tát.Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, hàng thứ 2, trong viện Hư không tạng, phía bên phải bồ tát Trung tôn Hư không tạng trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật hiệu là Tất địa kim cương. Vị tôn này chủ về đức của Cát tường hư không tạng, chủng tử là (hùô) hoặc (su), hình Tam muội da là vòng dây hoa sen xanh trên hoa sen hoặc là chày 1 chĩa trên hoa sen. Hình tượng vị tôn này thân màu da người, bàn tay phải ngửa lên hướng ra ngoài, như dáng kết ấn Thí vô úy; bàn tay trái dựng đứng, cầm hoa sen xanh, trên hoa sen có vòng dây hoa sen xanh chưa nở; đầu gối bên trái dựng thẳng, ngồi trên hoa sen. Chân ngôn là: Án a lợi dã tô bà hồ sa ha. [X.kinh Đà la ni tập Q.7; Thanh long tự nghi quĩ Q. trung].
tô bà lợi sư bộ
(蘇婆利師部) Phạm: Suvarwaka. Hán dịch: Thiện tuế bộ. Cũng gọi: Tô bạt lê sa kha bộ, Kha thi bi dữ bộ. Một trong 20 bộ phái của Tiểu thừa, cũng là 1 trong 5 bộ luật. Cứ theo luận Dị bộ tông luân, luận Bộ chấp dị và luận Thập bát bộ thì bộ phái này chính là tên khác của Ẩm quang bộ. Còn Tứ phần luật khai tông kí quyển 1, phần đầu thì cho rằng Ẩm quang là họ của người đứng đầu bộ này và Tô bà lợi là tên của ngài. Nhưng, kinh Xá lợi phất vấn thì chủ trương bộ này khác với Ẩm quang bộ, đồng thời cho rằng Ẩm quang bộ là chia ra từ Thượng tọa bộ, còn bộ này thì chia ra từ Thuyết nhất thiết hữu bộ.(xt. ẨmQuangBộ).
tô bà sư đa
(蘇婆師多) Phạm:Subhàsita. Hán dịch: Diệu ngữ. Lời nói sâu xa, mầu nhiệm, là từ ngữ khen ngợi kinh điển. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4, khi chư tăng Ấn độ tụng kinh, trước hết dựa theo ý trong kinh mà soạn kệ tụng khen ngợi công đức của Phật, kế đến tụng văn kinh, rồi lại tụng hơn 10 bài kệ để hồi hướng phát nguyện; khi tụng kinh xong, đại chúng đều xướng Tô(diệu)bà sư đa(ngữ) để khen ngợi văn kinh là những lời mầu nhiệm, sâu xa không có gì sánh được.
tô bàn đa
(蘇槃多) Phạm: Subanta. Cũng gọi: Tô mạn đa Đối lại: Đinh ngạn đa Chỉ cho tiếng biến hóa ngữ vĩ của danh từ, hình dung từ...… trong ngữ pháp tiếng Phạm. Tức là tiếng biến hóa ngữ vĩ y theo pháp Bát chuyển thanh. Tô (su) là tiếng ngữ vĩ, bàn đa (banta) nghĩa là ở sau, cho nên Tô bàn đa tức là ngữ vĩ có Su. Tô bàn đa bắt nguồn từ ngữ vĩ thứ 7 trong danh từ tiếng Phạm thuộc số nhiều, có âm Tô, gồm có tiếng 1 chữ (đơn số), tiếng 2 chữ(song số) và tiếng nhiều chữ(phức số) khác nhau, mỗi số đều có 8 chuyển, tổng cộng thành 24 ngữ vĩ chuyển biến(24 chuyển). [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3; Duy thức xu yếu Q. thượng; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Bát Chuyển Thanh).
tô bạt đà la
Xem Thiện Hiền.
; Subhadra (S). The last disciple of Buddha. Also Tu bạt đà la, Thiện Hiền.
; Subhadra (skt)—Một thức giả Bà La Môn 120 tuổi, vị đệ tử cuối cùng được Đức Phật cho đổi sang đạo Phật—A learned Brahmin, 120 years old, the last convert made by Sakyamuni.
tô bộ để
Subhuti (skt)—See Tu Bồ Đề.
tô du
Ghrta, ghee (S). Clarified butter; scented oil extracted from the sumanà plant.
; (酥油) Phạm: Ghfta. Gọi tắt: Tô Một loại thuốc nấu bằng sữa bò, dùng để ăn hoặc để thoa hầu chữa bệnh nóng. Trong Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma, Tô du được hòa lẫn với ngũ cốc để đốt, vì chủng loại hộ ma có khác nhau nên Tô du được dùng cũng khác nhau. Tô du biến chế từ sữa của bò trắng, bò vàng, bò đen, theo thứ tự, tương ứng với 3 pháp: Tức tai, Tăng ích và Hàng phục. [X.phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháphoa Q.6; Đại nhật kinh sớ Q.7, 11; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Phạm ngữ tạp danh].
Tô du 蘇油
[ja] ソユ soyu ||| An oil that is extracted from butter. Sanskrit ghrta. (s: ghrta). => Dầu trích từ bơ.
tô duy lạp quốc
Sovira (S).
tô dạ ma thiên
Xem Dạ Ma.
tô dầu
Ghrta (skt). 1) Một loại bơ trong—Ghee, or clarified butter. 2) Một loại dầu thơm lấy từ cây tô ma: Scented oil extracted from the sumana plant.
tô hợp hương
(蘇合香) I. Tô Hợp Hương. Phạm: Turuska Hán âm: Đô la sắt ca, Đột súc ca, Đỗ lô sắt kiếm. Cũng gọi: Hợp chư hương thảo. Hương liệu dùng để đốt, hoặc chế thuốc. Bản thảo cương mục cho rằng Tô hợp hương do nấu nhựa các loại cây hương mà thành chứ không phải vật tự nhiên. Có thuyết cho rằng Tô hợp hương là loại cây cao rụng lá thuộc họ cây Kim lũ mai, phần nhiều mọc ở vùng Tiểu á tế á, nhựa cây lấy được từ vỏ cây này, gọi là Tô hợp hương hoặc Tô hợp du, mùi thơm của nó giống với mùi hương An tức; Tô hợp du là nhiên liệu để đốt đèn, cũng được dùng làm dầu Hộ ma. [X.kinh Mâu lê mạn đà la chú; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3, 8]. II. Tô Hợp Hương. Gọi tắt: Tô hợp. Tên một thứ vũ nhạc, là tân nhạc, điệu bàn thiệp, thuộc về đại khúc. Vũ công dùng cỏ thuốc tô hợp làm áo giáp, mũ trụ để múa, nên điệu múa này được mệnh danh là Tô hợp. Loại vũ nhạc này do Trần hậu chủ sáng tác, cũng có thuyết cho là nhạc khúc của Trung Ấnđộ. TheoVũ khúc khẩu truyền, khi vua A dục bị bệnh, sai người đi tìm cỏ thuốc tô hợp, suốt 7 ngày mới kiếm được và chữa hết bệnh cho vua, các quan vui mừng nên lấy cỏ thuốc cài vào áo giáp, mũ trụ mà múa, do đó mới có điệu múa Tô hợp này.
tô la đa
Surata (skt)—Enjoyment—Amorous pleasures.
; (蘇囉多) Phạm: Surata. I. Tô La Đa Cũng gọi Tô lạt đa. Hán dịch: Diệu thích, Diệu trụ, Diệu lạc.Sự vui sướng, thích thú của việc giao cấu giữa nam và nữ, gọi là Tô la đa. Từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho cái lí thú nội chứng đại lạc đại tham nhiễm của kim cương tát đỏa. Theo sự giải thích của Đại nhật kinh sớ quyển 17 thì Tô la đa có 5 nghĩa sau đây: 1. Đắm trước: Tâm chuyển thức thành trí đắm trước nơi pháp chữ A vi diệu pháp giới chẳng sinh. 2. Cùng trụ nơi an vui: Cùng an trụ nơi diệu lí chữ A tự nhiên chứng đắc, cảm nhận sự an vui của hiện pháp. 3. Vui đắm: Vui thích với sự nghiệp vi diệu của tính đức sẵn có, vắng lặng không sinh.4. Bỏ tà theo chính: Nhờ sức mạnh của tâmbồ đề chữ A thanh tịnh, xả bỏ việc tà khúc, đi vào chính nghĩa đại không bất sinh.5. Mong cầu: Vì môn chữ A trùm khắp pháp giới nên mong trên cầubồ đề, dưới hóa độ chúng sinh. Lí thú thích quyển thượng (Đại 19, 608 trung) nói: Tô la đa là sự vui sướng na la na lí ở thế gian, Kim cương tát đỏa cũng là Tô la đa, dùng đại bi vô duyên duyên khắp cõi chúng sinh vô tận, nguyện được lợi ích yên vui, tâm không hề ngừng nghỉ, mình và người là bình đẳng, cho nên gọi là Tô la đa. [X.kinh Đại Nhật Q.16, 17]. II. Tô la đa Tên tiếng Phạm Surata của Thích duyệt nữ trong Mạn đồ la gồm 17 vị tôn trong kinh Lí thú.
tô lâu ba thiên tử
(蘇樓波天子) Tô lâu ba, Phạm: Surùpa. Hán dịch: Diệu sắc thiên tử. Cứ theo phẩm Tán thán trong kinh Thắng thiên vương bát nhã ba la mật quyển 7, lúc đức Phật giảng nói, khen ngợi Thắng thiên vương bát nhã thì Thiên tử Tô lâu ba từ chỗ ngồi đứng dậy, đính lễ Phật và nói kệ khen rằng (Đại 8, 72 thượng): Thương chúng sinh đều coi ình đẳng Tâm thanh tịnh chẳng nhiễm thế gian Khéo biết rõ các tính căn dục Tùy pháp thích nghe mà giảng thuyết Trước nói pháp phá giặc phiền não Kế dẹp thiên ma, quân huyễn hóa Thế tôn đã nói lỗi ba cõi Rộng nêu Niết bàn, đức vô lượng.
tô lô đa ba na
Tu Đà Hườn—Nhập Lưu—Dự Lưu—See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tô lô đô ha
(蘇盧都呵) Hán dịch: Phạm âm quyết định. Tên bài chú, 1 trong các Đại đà la nithần chú do đức Phật Duy việt nói. Thần chú này có công năng trị 18.000 chứng bệnh, giải trừ các tai nạn như mặt trời, mặt trăng vận hành thất thường, gió mưa trái mùa, chiến tranh, dịch bệnh, dịch quỉ... [X. Đà la ni tạp tập Q.1].
tô lạp phái
(蘇拉派) Tô lạp, Phạm: Saura Một trong các phái của Ấn độ giáo. Phái này theo tập quán của người Aryan đời xưa, sùng bái mặt trời (Phạm:Sùrya), đồng thời, chịu ảnh hưởng sự sùng bái thần Thái dương (Phạm:Mithra) của người Ba tư ở khoảng thế kỷ I, hình thành vào thời đại sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata). Nghi thức lễ bái của phái này rất giản dị, trực tiếp. Trong các thi phẩm tự sự như: La ma da na (Phạm:Ràmàyaịa), Mã lỗ khẳng để á phú lan na (Phạm:Màrkaịđeya Puràịa)…... đều có trình bày giáo nghĩa của phái này. Về văn hiến thì giáo phái này có Tô lạp tán hi đạt (Phạm:Saurasôhità), được soạn vào thế kỉ VII, VIII và Thái dương thần bách tán (Phạm:Sùrya-zataka), một loại thơ Cung đình (Phạm:Kàvya) nổi tiếng trong văn học cổ điển của Ấn độ.
tô lạt đà quốc
(蘇剌佗國) Tô lạt đà, Phạm:Suràwỉra. Cũng gọi Tô lạt tra quốc. Tên một nước thời xưa ở Tây Ấnđộ, lệ thuộc nước Phạt lạp tì. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 thì dân cư nước này đông đúc, nhà cửa giàu có, nhưng phong tục khinh bạc, tính người thô lỗ, không thích học vấn, tin theocả tà lẫn chính. Trong nước có 50 ngôi già lam với hơn 3.000 chúng tăng, phần nhiều học giáo pháp Đại thừa. Ngoài ra còn có hơn 100 ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở xen lẫn.Vị trí nước này hiện nay là tiểu bang Tô lạt đa (Sorath), phíanam bán đảo Tạp tây ngõa thuộc vùng Bombay. [X. Đại từ ân tự Tam tạng Pháp sư truyện Q.4; Thích ca phương chí Q. hạ].
tô lầu ba
Surupa (skt)—Of beautiful form—Handsome.
tô lộc gia
Xem Minh Nguyệt thiên tử.
tô ma
Soma (skt)—See Cam Lộ.
; (蘇摩) Phạm: Soma Cũng gọi: Tố ma. Tên vị thần rượu của Bà la môn giáo ở Ấnđộ, do rượu Tô ma được thần cách hóa mà thành. Tô ma vốn là một loại cỏ mọc lan tràn trên mặt đất, ngắt lấy thân nó rồi dùng đáép thì được chất lỏng màu vàng, thêm sữa bò và bột mì vào thì chất nước ấy sẽ lên men và thành rượu Tô ma. Người Ấnđộ đời xưa thường dùng loại rượu này để tế thần, cho rằng uống loại rượu này thì sẽ không chết, do đó gọi là Cam lộ (Phạm: Amfta, không chết). Rượu này có công năng chữa khỏi bệnh của thần nhân, đồng thời đem lại dũng khí nên được xem đồng với thần mà gọi là Tô ma thần. Tô ma cũng được dùng để lấy lửa, hoặc có thuyết cho rằng trong Tô ma có thần lửa. Người đời sau xem Tô ma đồng với mặt trăng nên gọi là Nguyệt thần, Nguyệt thiên, trở thành vị thần che chở việc cúng tế, khổ hạnh, cỏ thuốc…... [X.kinh Khổng tước vương chú Q. hạ].
tô ma na tô ma na
Sumanas (S)Một loại hoa cõi trời.
tô ma phù đế
(蘇摩浮帝) Phạm: Soma-bhùti. Cũng gọi: Tô ma phù để Hán dịch: Chân nguyệt. Con củaTrưởng giả Hiềnhộ ở thành Vương xá tại Ấnđộ đời xưa. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 109, thuở xưa, đức Phật ở thành Vương xá thuyết pháp cho đại chúng nghe, trong chúng nghe pháp có con của Trưởng giả Hiền hộ là Tô ma phù đế, có đủ nhân duyên thiện căn phúc đức đời trước, được quả báo cõi trời, nhà cửa của cải dồi dào và rất thù thắng. Đức Phật nhận lời thỉnh cầu của tôn giả A nan, khen ngợi nhân duyên phúc đức đời trước của Tô ma phù đế.
tô ma quốc bát
(蘇摩國鉢) Cũng gọi Tô ma bát (Phạm: Somapàtra). Một trong các loại bát. Theo luật Tứ phần quyển 52, thuở xưa, đức Phật du hành đến nước Tô ma, gặp một người thợ gốm có tín tâm, Ngài dạy người này về cách làm bát rất tỉ mỉ, ông ta theo lời Phật dạy, hễ làm cái nào thì thành cái đó và đặc biệt xinh xắn khác thường. Bấy giờ, người thợ gốm đem bát Tô ma đến cúng dường cáctỉkhưu, các vị không dám nhận, nhưngđức Phật cho phép nhận loại bát này.
tô ma tế
(蘇摩祭) Phạm: Somayajĩa. Nghi thức tế lễ trọng đại do tín đồ Bà la môn giáo ở Ấn độ cử hành để dâng rượu Tô ma lên cúng thần hoặc tổ tiên. Nghi thức cúng tế này được bắt đầu vào thời đại Phệ đà. Lúc cúng tế phải có 4 vị tế quan. Tô ma tế được chia làm 4 loại như sau: 1. A kì ni thấp đầu ma (Phạm: Agniwỉoma):Cúng tế thần lửa. 2. Lực ẩm tế(Phạm:Vàjapeya): Lễ tế do quốc vương cử hành để cầu thắng lợi.3. Tức vị lễ tế(Phạm:Ràjasùya): Tế lễ do quốc vương cử hành khi lên ngôi. 4. Mã tế(Phạm: Azvamedha): Lễ tế được cử hành để cúng tế Sinh chủ (Phạm: Prajàpati) và Nhân đà la (Phạm: Indra), dùng ngựa làm vật hi sinh. Cử hành lễ tế này có thể khiến quốc vương trở nên chúa tể các nước. 5. Phụng nhũ tế (Phạm:Pravargya): Một loại tế lễ phụ thuộc Tô ma tế. 6. Hỏa đàn tế (Phạm: Agnicayana): Lễ tế được cử hành để kiến lập đàn tế. 7. Nhân tế (Phạm: Puruwamedha): Giống như Mã tế, nhưng ở đây dùng người làm vật hi sinh để cầu đạt được nguyện vọng lớn hơn mà pháp Mã tế không thể đạt được. 8. Toàn tế (Phạm: Sarvamedha).
tô ma xà
Tiền thân Đức Phật, khi Ngài bố thí thân rắn lớn để cứu những người đang đói—Soma-sarpa, a former incarnation of sakyamuni when he gave his body as a great snake to feed the starving people.
tô ma đề bà
Soma-deva or Candra-deva (skt)—Nguyệt Thiên—The moon-deva.
tô mê
Sumeru (skt)—Núi Tu Di là trung tâm của mọi thế giới—The central mountain of every world.
tô mê lư
Sumeru (S). Sumeru Mount. Also Núi Tu Di, Tu Di Sơn.
tô môn đáp lạp
Sumatra (S)Đảo Sumatra của Nam dương ngày nay.
; (蘇門答臘) Phạm:Sumaỉra(chữ này viết lầm từ chữ Sumuỉra). Cũng gọi: Tô môn đáp lạt, Tu văn đáp lạt, Tu văn đạt na. Tên một hòn đảo lớn nằm về cực tây quần đảo Đại tốn tha trong các đảo của Indonesia, là hòn đảo lớn thứ 5 trên thế giới. Thủaxưa, đảo này là nơi cư trú của giống người Mã lai, khoảng thế kỷ I, nơi này trở thành đất thực dân của người Ấn độ, từ đó mới có Phật giáo và Bà la môn giáo lưu hành. Phật giáo chính thức được truyền đến Tô môn đáp lạp vào thế kỷ VII, đặc biệt thịnh hành ở Thất lợi phất thệ (Phạm: Zrèvijaya), tức Palembang hiện nay) tại bờ Bắc phía đông của đảo này. Cứ theo lời tựa trong Nam hải kí quy nội pháp truyện thì các châu ở Nam hải có hơn 10 nước, đều tin thờ Phật pháp, nhưng phần lớn tu học theo Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ và Chính lượng bộ thuộc Phật giáo Tiểu thừa, chỉ ở Duy mạt la du (Malayu, tức Thất lợi phất thệ) là hơi có chút Đại thừa. Từ những năm cuối thời Lục triều đến các đời Đường, Tống, nhờ có Phật giáo hưng thịnh mà Thất lợi phất thệ trở nên nổi tiếng, từng là trọng tâm của Phật giáo Nam hải đời Đường, có rất nhiều vị tăng Trung quốc (đời Đường) đến học Phật ở đây, các vị tăng từ Trung quốc đi Ấn độ cũng thường đến đây trước để học tập tiếng Phạm rồi mới sang Ấn độ. Như các bộ Nam hải kí qui nội pháp truyện và Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện do ngài Nghĩa tịnh soạn cũng được hoàn thành tại xứ này, là các tư liệu trọng yếu có liên quan đến Phật giáo Nam hải và Phật giáo Ấn độ đương thời. Ngoài ra, các vị cao tăng như Trinh cố, Thiện hạnh, Vô hành, Trí hoằng, Đạo hoằng, Kim cương trí...… cũng từng lần lượt đến đảo này. Về sau, trong khoảng 400 năm, nhờ vua chúa nhiều đời đều tin thờ Phật giáo, hết sức ủng hộ nên đảo đã xây dựng 3 ngôi tháp Phật, Quán thế âm, Kim cương thủ và 2 tòa Chi đề, cùng nhiều chùa viện, tượng Phật...… đó là thời kì hưng thịnh của Phật giáo ở đảo này. Từ giữa thế kỉ 13 về sau, tín đồ Hồi giáo Ả rập đến truyền giáo ở vùng tây bắc hòn đảo, dần dần mở rộng thế lực tông giáo mình, làm cho Phật giáo bị tuyệt tích. Từ thế kỷ XV trở đi, địa vị của Phật giáo đã hoàn toàn được thay thế bởi Hồi giáo, Hồi giáo từ đó trở thành tông giáo có tính cách đại biểu ở Tô môn đáp lạp. [X. Đạiđườngtây vực cầu pháp cao tăng truyện; Doanh nhai thắng lãm; Đảo di chí lược; Tân đường thư liệt truyện thứ 147; Minh sử liệt truyện thứ 212, 215].
tô mạt na
Sumana (skt)—Một loại cây có bông vàng thơm, thường mọc thành bụi, cao khoảng 3 hay 4 bộ, có thể là hoa “lài”—A yellow sweet-smelling flower growing on a bush 3 or 4 feet high, perhaps the “great flowered jasmine.”
tô mật
(蘇蜜) Tô, Phạm: Ghfta. Hán âm: Già lí đa. Được tinh chế từ sữa bò; có 2 thứ: Sinh tô và thục tô. Mật, Phạm: Madhu. Hán âm: Ma độ. Chỉ cho chất lỏng có vị ngọt do ong hút ra từ hoa và được chế thành mật. Theo luật Tứ phần quyển 42,đức Phật cho phép cáctỉkhưu bị bệnh được dùng 5 thứ thuốc là tô, du, sinh tô, mật và thạch mật.
Tô mật 蘇蜜
[ja] ソミツ somitsu ||| Refined butteroil and refined honey. => Tinh lọc dầu trong bơ và mật ong tinh lọc.
tô ngã mã tử
(蘇我馬子) Tên vị đại thần của Thiên hoàng Mẫn đạt ở Nhậtbản vào thế kỉ VI, từng giúp đỡ Thiên hoàng Mẫn đạt, Thiên hoàng Dụng minh, Thiên hoàng Sùng tuấn, Nữ hoàng Suycổ, Thái tử Thánhđức...… trong sự nghiệp phát triển Phật giáo. Năm Thiên hoàng Khâm minh 13 (552), nước Báchtế (Triềutiên) hiến tặng một pho tượng Phật Thích ca bằng đồng mạ vàng, cờ phướn, kinh luận...…, Thiên hoàng bèn ban pho tượng Phật này cho dòng họ Tô ngã. Mãtử kế thừa sự nghiệp của cha, vào năm Thiên hoàng Mẫn đạt 13 (584), xây dựng Phật đường để thờ tượng Phật, đồng thời đón mời các tăng ni, như sa môn Huệtiến đến từ Cao cú li, ni Thiệntín, ni Thiền tạng, ni Huệthiện...… Về sau, nhờ Nữ hoàng Suycổ và Thái tử Thánhđức sử dụng vũ lực diệt trừ dòng họ Vật bộ phản đối Phật giáo, giúp đỡ những người có lòng kính tin Phật pháp, cho nên Phật giáo Nhậtbản ở thời kì đầu nhờ đó mà dần dần hưng thịnh.
Tô Ngã Đạo Mục
(蘇我稻目, Soga-no-Iname, ?-570): vị hào tộc sống dưới thời đại Phi Điểu (飛鳥, Asuka, 593-710), đã từng làm Đại Thần cho hai triều đại Tuyên Hóa (宣化, Senka, 535-539) và Khâm Minh (欽明, Kimmei, 539-571). Ông là người đối lập với Vật Bộ Vĩ Dư (物部尾輿, Mononobe-no-Okoshi), chủ trương chấp nhận Phật Giáo, đem tượng Phật an trí tại nhà ông Hướng Nguyên (向原, Mukuhara) và lập nên Hướng Nguyên Tự (向原寺).
tô phược la
Suvarnagotra (skt)—Vương quốc mẫu hệ, nằm trong vùng Hi Mã Lạp Sơn, còn được mô tả là bộ tộc Hoàng Kim—A matriarchal kingdom, somewhere in the Himalayas, described as the Golden Clan.
tô phạt thích nã cù đát la quốc
(蘇伐刺拿瞿呾羅國) Phạm: Suvarịa-gotra. Pàli: Suvaịịagotta. Hán dịch: Kim thị quốc. Tên một nước thời xưa ở Ấnđộ. Đại đường tây vực kí quyển 4 (Đại 51, 892) hạ nói: Trong núi Đại tuyết có một nước chuyên sản xuất vàng ròng thượng hạng, nên gọi là nước Tô phạt lạt noa cù đát la(đời Đường dịch là Kim thị). Đây chính là nước Đông nữ, vì người đời lấy người nữ làm tên nước, chồng cũng làm vua, nhưng không biết gì về việc chính trị, chỉ biết chinh phạt và làm ruộng mà thôi. Trong nước trồng lúa mì, nuôi dê ngựa, khí hậu rất lạnh, cá tính người dân thô bạo. Chiều đông tây nước này rộng, chiều nam bắc hẹp, đông giáp nước Thổ phồn, bắc giáp nước Vu điền, tây giáp nước Tam ba ha.
tô phọc la đa
(蘇縛囉多) Phạm: Suvrata. Cũng gọi: Tô một la đa. Hán dịch: Thiện trụ giới giả. Tiếng khen ngợi người trì giới. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 67 hạ) ghi: Tiếng Phạm Suvrata, Hán dịch là Thiện trụ giới giả, vì người này khéo an trụ trong Tam muội da, nên gọi là Thiện trụ giới giả, tức là cách gọi khác của danh từ Phật tử. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5].
tô phụ
Xem quỉ đói.
tô thức
(蘇軾) Thi sĩ Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người Mi sơn, tỉnh Tứ xuyên, tự Tử chiêm, hiệu Đôngpha, là 1 trong 8Đại gia đời Đường Tống. Ông giỏi về thi họa và thư pháp, là người mở ra một trường phái sáng tác từ chương hào phóng. Thơ văn của ông khí thế hùng hồn, tưởng tượng phong phú, khéo dùng thủ pháp khoa trương, những bài từ Thủy điệu ca đầu, Niệm nô kiều rất được người đời sau truyền tụng. Về thư pháp thì ông giỏi về lối chữ Hành(chữ viết hỏi đá thảo), chữ Khải(chữ viết ngay ngắn, tức lối chữ chân), nét bút đầy đặn, ngang tàng, ít trau chuốt hoa mĩ. Tuy là một văn nhân, thi sĩ nổi tiếng, n h ư n g ngoài Nho học ông cũng gần gũi Phật giáo, trong các bài thơ của ông thường có nói đến Phật pháp, chủ trương tu cả Thiền và Tịnh độ. Khoảng năm Hi ninh (1068-1077), ông xây một lầu gác lớn ở Biện kinh để thờ tượng 4 vị Bồ tát và chép kinh Pháp hoa. Khi ngài Tuệ biện ở chùa Thiên trúc thị tịch, ông làm 3 bài thơ để truy điệu. Năm Nguyên phong thứ 3 (1080), ông đến tham vấn Thiền sư Thường tổng ở Thiền viện Đông lâm tại Giang châu, trong khi đối đáp ông có tỉnh ngộ, bèn tặng Thiền sư một bài thơ kệ như sau (Vạn tục 137, 59 hạ): Khê thanh tiện thị quảng trường thiệt, Sơn sắc khởi phi thanh tịnh thân; Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ, Tha nhật như hà cử tự nhân? (Tiếng suối reo là lưỡi rộng dài, Màu núi xanh là thân thanh tịnh; Đêm về tám vạn bốn nghìn kệ, Sáng lại làm sao nói tựa người?) Ông qua đời năm 1101, thọ 65 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Đông pha toàn tập 115 quyển, Đông pha dịch truyện 9 quyển, Đông pha thư truyện 13 quyển, Đông pha chí lâm 5 quyển, Đông pha từ 1 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46; Gia thái phổ đăng lục Q.23; Vong huynh tử chiêm đoan minh mộ chí minh (Loan thành hậu tập Q.22); Đông pha tiên sinh niên phổ (Đông pha thất tập quyển đầu); Tống sử Q.28].
Tô Triệt
(蘇轍, 1039-1112): văn hào dưới thời nhà Tống, một trong 8 nhân vật nổi danh dưới thời Đường Tống, con thứ của Tô Tuân (蘇洵), em của Tô Thức (蘇軾), tự là Tử Do (子由), Dĩnh Banh (潁浜), hiệu là Loan Thành (欒城). Đối xứng với anh mình là Đại Tô (大蘇), ông được gọi là Tiểu Tô (小蘇). Trước tác của ông có Loan Thành Tập (欒城集), Thi Kinh Tập Truyện (詩經集傳), v.v.
tô tất địa
Susiddhi (S). A mystic word of the Tantra School, meaning "may it be excellently accomplished". Also Diệu thành tựu.
; Dịch là Diệu Thành Tựu, nghĩa là sự thành tựu bất khả tư nghì.
; Susiddhi (skt)—Một chữ bí mật trong Mật Tông, có nghĩa là “mong sự việc thành công mỹ mãn.”—A mystic word of the Tantra School, meaning, “may it be excellently accomplished.”
tô tất địa bồ tát
Susidhi (S)Tên một vị Bồ tát.
tô tất địa kinh
Susiddhi sutra—See Tô Tất Địa.
; (蘇悉地經) Phạm: Susiddhikara-mahàtantrasàdhanopàyika-paỉala. Cũng gọi: Tô tất địa yết la kinh, Tô tất địa yết ra kinh, Tô tất đế yết la kinh, Diệu thành tựu pháp, Diệuthànhtựutácnghiệp kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Thâu ba ca la (tức Tamtạng Thiệnvôúy) dịch vào năm Khai nguyên thứ 4 (726) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này nói rộng về các nghi tắc thành tựu Tất địa 3 bộ: Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. Kinh này và kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính là 3 bộ kinh lớn của Mật giáo. Nội dung kinh này bao gồm các phần như: Trì tụng, Quán đính, Kì thỉnh, Hộ ma, Thành tựu, Thời phần... Kinh này trong Đại chính tạng tập 18 gồm có 3 loại bản in, đều là 3 quyển, tức bản Cao li 37 phẩm, bản đời Tống 38 phẩm và bản Nhật bản 34 phẩm. Bản Nhật do Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản là ngài Tối trừng thỉnh từ Trung quốc về Nhật vào niên hiệu Trinh nguyên năm đầu (805) đời vua Thuận Tông nhà Đường. Về sau, ngài Viên trân lại thỉnh bản tiếng Phạm mang về, đồng thời soạn bộ Tô tất địa yết la kinh lược sớ 7 quyển để giải thích về ý nghĩa trong văn kinh. Đối với Thai Mật(Mật giáo do tông Thiên thai Nhật bản truyền) thì 2 kinh Đại nhật và Kim cương đính là kinh Thai (tạng); Kim (cương) nhi nhị. Trái lại, kinh này giải thích ý chỉ sâu xa của Kim cương, Thai tạng Lưỡng bộ bất nhị. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.12; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Phật Tổ thống kỉ Q.29; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.5].
tô tất địa pháp
(蘇悉地法) Cũng gọi: Tô tất địa yết la. Hán dịch: Diệu thành tựu pháp. Bí pháp được tu theo kinh Tô tất địa yết la; 1 trong 3 bộ đại pháp do Thai mật (Mật giáo do tông Thiên thai Nhậtbản truyền) của Nhậtbản lập ra. Tô tất địa (Phạm:Susiddhi), Hán dịch là Diệu thành tựu, Mật giáo chủ trương nhờ tụng trì chân ngôn mà hoàn thành được diệu quả rốt ráo, thù thắng. Pháp tu dựa theo kinh Tô tất địa yết la, gọi là Tô tất địa pháp; pháp Quán đính thực hành theo kinh này, gọi là Tô tất địa quán đính. Thông thường cho rằng Kim cương bộ và Thai tạng bộ là hai, nhưng pháp Tô tất địa là bí pháp lấy Lưỡng bộ bất nhị làm chỉ thú sâu xa nhất. Cứ theo phẩm Chân ngôn trong kinh Tô tất địa yết la thì kinh này sâu xa mầu nhiệm như trời trong các trời, cũng có chân ngôn là bậc thượng trong các bậc thượng. Nếu y theo pháp này mà tu hành thì tất cả mọi việc đều thành tựu. Bởi vì pháp Tô tất địa chính là pháp niệm tụng được tu để mau thành tựu 3 thứ Tất địa. Hành pháp này là y cứ vào Tô tất địa diệu tâm đại của ngài Viên nhân và Dược sư nghi quĩ thứ đệ của ngài Tối trừng. Còn theo Chân ngôn tông giáo thời vấn đáp quyển 4 của ngài An nhiên, hành pháp Tô tất địa lấy 18 đạo là pháp chung của 2 bộ Kim cương và Thai tạng làm giềng mối. Lại nữa, pháp Tô tất địa là pháp cầu thành tựu Tất địa trong đại pháp Thai tạng, cho nên cùng với Thai tạng giới cùng lập 3 bộ: Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. Ngoài ra, có thuyết cho rằng pháp này thuộc pháp Kim cương bộ trong 3 bộ của Thai tạng; chỗ thành tựu của pháp này là Phật bộ và Liên hoa bộ; pháp này lập ra 3 bộ khác nhau là để cho thấy chỗ bất đồng với 3 bộ của Thai tạng.
tô tất địa quán đỉnh
(蘇悉地灌頂) Quán đính tu theo kinh Tô tất địa yết la. Khi thực hành quán đính này, không cần lập đàn tràng riêng, chỉ đối mặt nhau mà truyền trao mật ấn. Ấn minh (ấn khế và chân ngôn) được truyền chính là 3 thứ ấn minh Tất địa được nói trong Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp. Ấn minh này được truyền trao sau khi 2 bộ Kim cương, Thai tạng cùng thực hành quán đính hoặc A xà lê vị quán đính, vì thế nên 2 loại quán đính này cũng được gọi là Tô tất địa quán đính. Tại Nhật bản, trong 3 bộ kinh là kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính và kinh Tô tất địa thì Đông Mật (Mật giáo do tông Chân ngôn của Nhật bản truyền) lấy 2 bộ kinh Đại nhật và kinh Kim cương đính làm kinh bí yếu nhất. Ngài Không hải tuy được ngài Huệ quả truyền cho pháp này, nhưng lại lấy 2 bộ vốn có(Kim cương, Thai tạng)làm tông chỉ, cho nên trong Chân ngôn phó pháp truyện do ngài soạn chỉ nói về nhận và truyền 2 bộ đại pháp(Kim cương, Thai tạng)chứ không đề cập đến pháp Tô tất địa, cũng không phó chúc pháp này, nhưng Đông Mật đời sau vẫn có việc trao truyền ấn tín của pháp này. Thai Mật thì cho rằng vì kinh Tô tất địa có nói ý chỉ sâu xa về Lưỡng bộ bất nhị, đặc biệt hơn 2 kinh trước (Đại nhật và Kim cương đính), cho nên rất coi trọng Tô tất địa quán đính. Sự truyền thừa có 2 dòng: 1. Do ngài Tốitrừng truyền:Thứ tự là Thiệnvôúy, Nghĩalâm, Thuậnhiểu, Tốitrừng. 2. Do ngài Viênnhân truyền: Thứ tự là Đạinhật, Kimcươngtátđỏa, Longthụ, Longtrí, Kimcươngtrí, Thiệnvôúy, Bất không, Nhấthạnh, Huệquả, Huệtắc, Nghĩa tháo, Nghĩa chân, Viênnhân. [X.phẩmPhân biệt A xà lê tướng trong kinh Tô tất địa yết laQ.1; Hiển giới luận duyên khởi Q.thượng; Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kíQ.3; Tô tất địa quán đính sự trong Liễu nhân quyết Q.32; Tứ thập thiếp quyếtQ.12].
tô tất địa viện
(蘇悉地院) Viện Tô tất địa, 1 trong 12 viện lớn của Hiện đồmạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Viện này nằm ở lớp thứ 3 phíatây, tức ở dưới viện Hư không tạng. Tô-tất-địa (Phạm: Susisshi) nghĩa là diệu thành tựu, tiêu biểu cho sự thành tựu của 3 bộ thuộc Thai tạng giới. Viện này gồm có 8 vị Tôn là Minh vương, Kim cương, bồ tát Kim cương tướng, Kim cương Quân đồ lợi, Kim cương bất không, Bất không cúng dường bảo, Khổng tước vương mẫu, Nhất kế la sát và Thập nhất diện Quán âm, chỉ thiếu vị Chủ tôn, cho nên xưa nay vẫn tôn Bồ tát Tô tất địa yết la của viện Hư không tạng làm vị chủ tôn của viện này. Nói theo tướng mà Thập nhất diện Quán âm thành tựu thì một mặt trên đỉnh đầu của Ngài là tượng trưng cho việc dùng quả đức để thành tựu chúng sinh, 10 mặt còn lại thì biểu thị cho việc dùng nhân đức để thành tựu chúng sinh; mặt tịch tĩnh của Ngài là thành tựu chúng sinh thuần thiện, mặt phẫn nộ là thành tựu chúng sinh thuần ác, còn mặt vừa vui vừa giận là thành tựu các chúng sinh thiện ác lẫn lộn. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2].
tô tất địa yết la bồ tát
(蘇悉地羯羅菩薩) Tô tất địa yết la, Phạm:Susiddhikara. Hán dịch: Diệu thành tựu nghiệp giả. Cũng gọi: Tô tất địa già labồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 đầu hàng dưới bên phải trong viện Hư không tạng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật hiệu là Thành tựu kim cương. Vị tôn này đứng đầu về đức khéo thành tựu muôn pháp, có năng lực thành tựu các sự nghiệp thế gian, xuất thế gian, cho nên gọi là Diệu thành tựu. Chủng tử là chữ (ji), bao hàm ý nghĩa khắc phục các chướng, thành tựu mọi công đức, hoặc biểu thị nghĩa muôn đức xuất sinh thành tựu. Hình tượng vị tôn này thân màu trắng ngà, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, 2 tay chắp lại để rỗng ở giữa, các đầu ngón tay hướng xuống dưới, đặt ở trước ngực, hình Tam muội da là thanh kiếm, biểu thị ý nghĩa chặt đứt mọi chướng ngại. Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nẫm nhĩ phạ nhật la tất thể ra một đệ bố ra phạ phạ đát mạ mãn đát ra sa ra sa ra phạ hạ. [X.phẩm Kim cương tạng đại uy thần lực tam muội pháp ấn chú trong kinh Đà la ni tậpQ.7; Huyền pháp tự nghi quĩQ.2; Bí tạng kí].
tô tất địa yết la cung dưỡng pháp
(蘇悉地羯羅供養法) Cũng gọi Tô tất địa cúng dường pháp. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vàođờiĐường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung sách này nói về pháp cúng dường trì tụng trong kinh Tô tất địa, bao gồm: Tán thán pháp, Sám hối, Qui mệnh tam bảo, Phát bồ đề tâm, Phát thắng nguyện, Quán đính ấn, Tứ chủng niệm tụng, Nhị chủng thành tựu vật, Quán tâm, các chân ngôn thỉnh Hỏa thiên... Ngoài ra, ngài Thiện vô úy còn dịch bản khác nữa, gồm 2 quyển, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 18. Trong Khai nguyên thích giáo lục và Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục đều không thấy có ghi sách này. Vì thế có thuyết cho rằng tác phẩm này là do ngài Thiện vô úy soạn ra.
tô tất địa yết la kinh
Susidhikara-sutra—See Tô Tất Địa.
tô tất địa yết la ngũ trang nghiêm pháp
(蘇悉地羯羅五莊嚴法) Chỉ cho 5 pháp trang nghiêm Tô tất địa yết la. Cứ theo Tô tất địa yết la kinh sớ quyển 1 thì 5 pháp ấy là: 1. Tinh tiến:Bồ tát tu môn Chân ngôn trước hết phải phát tâmbồ đề, mặc áo giáp, đội mũ trụ từ bi, ở trong sinh tử làm cho cõi nước Phật thanh tịnh, thành tựu các chúng sanh không hề khiếp nhược, phá các ma quân không hề lui bước. 2. Minh vương:Kế đến, lấy đạo Tam muội của chư Phật làm chỗ nương tựa, nếu không nhờ vào bản thệ của chư Phật thì không thể khuyến phát thánh chúng đi vào sinh tử làm lợi ích chúng sinh, cho nên phải lấy Minh vương của 3 bộ làm chỗ nương. Tức nương vào Minh vương của 3 bộ là Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ mà tu các pháp Tức tai, Hàng phục và Tăng ích. 3. Trừ chướng:Chỉ cho pháp Tức tai có năng lực diệt trừ 3 hoặc 3 chướng trong 6 đường và 3 thừa. 4. Thành tựu dũng mãnh: Chỉ cho pháp Hàng phục có công năng hàng phục các oán địch của phàm và thánh từ vô thủy đến nay. 5. Thành tựunhất thiết chân ngôn: Chỉ cho pháp Tăng ích có năng lực thành tựu đầy đủ tất cả điều mà phàm vàthánh ưa thích, mong cầu... [X.kinh Tô tất địa yết laQ.thượng].
tô tần đà
Subinda (S)Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh phápXem Tô đần đà.
; (蘇頻陀) Phạm: Subinda. Vị A la hán thứ 4 trong 16 vị A la hán. Ngài và 700 vị La hán quyến thuộc cùng phát nguyện trụ ở châu Bắc câu lô để hộ trì chánh pháp, làm lợi ích hữu tình. Đây có lẽ chỉ cho tỉ khưu Quả y (Phạm: Zobhita) ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3. Theo bức tượng do Đại sư Thiền nguyệt vẽ vào đời Đường thì vị A la hán này ngồi xếp bằng trên phiến đá, mặc áo pháp che kín 2 vai, tay phải nắm lại đặt ở phía trước ngực, tay trái để trên đầu gối. Còn tượng vị này được vẽ trong bức bích họa ở hang 76 của động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì ngồi xếp bằng trên đá, 2 ngón trỏ và giữa của tay phải co lại, tay trái cầm bình nước, đặt ở trước ngực. [X. Đạia la hánnan đềmật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập].
tô tức
(蘇息) Gọi đủ: Phù tô hưu tức. Giúp đỡ cho tỉnh lại rồi nghỉ ngơi. Tiếng dùng đặc biệt của tông Thiên thai. Nghĩa là từ quả vị tạm thời tiến lên mà chứng quả hoàn toàn rốt ráo. Trong 5 thời phán giáo do tông Thiên thai lập ra, thì thời Niết bàn thứ 5, trước thuận theo các căn cơ tạm thời, giảng nói lại đương phần của 4 giáo trước là Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng và Bát nhã để chứng quả tiệm tu tạm thời. Sau đó, từ khi nói dứt trừ sự sai khác giữa 4 giáo trước, đến lúc hòa nhập vào diệu lí Nhất thực viên dung, gọi là Phù tô hưu tức.Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 3, phần 4 (Đại 46, 244 trung) ghi: Về ý của Niết bàn, cả 4 giáo trong kinh ấy đều nói nghĩa thường trụ, cho nên ý gốc là ở Viên giáo, nhưng tạm thời dùng 3 giáo để đưa đến cảnh giới Nhất thực viên dung (Tô tức) chứ thực ra không lấy phương tiện làm cứu cánh. (xt. Truy Thuyết Truy Mẫn). TÔ TỨC XỨ I. TôTứcXứ. Pàli: Assàsaniyà dhamma. Chỉ cho phương pháp an úy (khuyên giải). Kinh Tạpa hàm quyển 41 (Đại 2, 298 thượng) ghi: Này nhân giả! Ông sẽ thành tựu bất hoại tịnh đối với Phật, bất hoại tịnh đối với pháp, đối với Tăng, dùng 3 Tô tức xứ này để truyền dạy. II. TôTứcXứ. Chỉ cho Niết bàn khôi thân diệt trí của Tiểu thừa. Cảnh giới thân, tâm đều dứt bặt này, đối với Tiểu thừa, chính là Niết bàn chân thật, nhưng đối với Đại thừa thì đó mới chỉ là hóa thành tạm thời được đặt ra, còn cần phải tu hành trải qua nhiều kiếp nữa mới thực sự chứng nhập Phật đạo. Kinh Thắng man (Đại 12,219 hạ) ghi: Nói A la hán, Bíchchiphật quán xét giải thoát, đạt đến chỗ rốt ráo của 4 trí, đó cũng chỉ là thuyếtPhương tiện hữu dư bất liễu nghĩa của Nhưlai mà thôi. [X. Thắng man bảo quật Q.trung, phần cuối; Kim quang minh kinh huyền nghĩa Q.thượng].
tô yết đa
Sugata or Svagata (skt)—Như Lai Như Khứ, danh hiệu của một vị Phật—Well come or well departed, title of a Buddha.
tô yết đà
Xem Thiện Lai.
Tô Ðông Pha
蘇東坡; C: sūdōngpō; 1037-1101, cũng được gọi là Ðông Pha Cư sĩ;|Văn hào nổi danh kiêm Cư sĩ ngộ đạo người Trung Quốc. Ông kế thừa Thiền sư Ðông Lâm Thường Tổng (東林常總; cũng được gọi là Ðông Lâm Chiếu Giác), một môn đệ đắc pháp của Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam.|Ông tên Tô Thức, tự là Tử Chiêm, hiệu Ðông Pha. Cha ông là Tô Tuân, người em trai là Tô Triệt (tự là Tử Do). Ðiểm đặc sắc nhất trong gia đình họ Tô là cả ba cha con đều được xếp vào »Bát đại gia« của văn học Trung quốc từ suốt đời Ðường đến đời Tống. Ông đã sớm tỏ tài năng của mình, lên 11 tuổi đã đọc nhiều sách vở. Năm 22 tuổi, cùng với em là Tô Triệt, ông đi thi và đỗ tiến sĩ.|Cuộc đời sau đó của ông rất thăng trầm, lúc thì đạt những địa vị cao cả, lúc thì bị đày ra những nơi hẻo lánh khổ cực. Nhưng không lúc nào ông rời chủ trương của cuộc đời mình là đem triết lí của đạo Phật, Lão Tử, Trang Tử vào thơ văn, áp dụng tinh thần từ bi vào việc trị dân, đào kinh đắp đập chống thiên tai… Lúc rảnh rỗi thì ngao du sơn thuỷ tham vấn các vị Thiền sư để học Ðạo. Nhân một lần dừng chân tại Ðông Lâm, ông được Thiền sư Thường Tổng thuyết về »vô tình thuyết pháp« và nhân đây có ngộ nhập. Sáng hôm sau ông trình kệ:|溪聲便是廣長舌。山色豈非清淨身|夜來八萬四千偈。他日如何舉似人|Khê thanh tiện thị quảng trường thiệt|Sơn sắc khởi phi thanh tịnh thân|Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ|Tha nhật như hà cử tự nhân|*Suối reo quả thật lưỡi rộng dài|Màu non đây hẳn thân thanh tịnh|Ðêm nghe tám vạn bốn ngàn kệ|Sáng dậy làm sao nói với người.|(cô T. N. dịch, theo Thích Phước Hảo, Thích Thông Phương).|Thú vị nhất có lẽ là những giai thoại thiền giữa ông và những vị Cao tăng đương thời. Qua đó, người ta có thể hình dung được tinh thần của ông và cái »Ðại cơ đại dụng« của các vị Thiền sư.|Một hôm, ông đến viếng Thiền sư Hạo ở Ngọc Tuyền. Ngọc Tuyền thấy ông liền hỏi: »Tôn quan tên gì?« Ông thưa: »Tên Cân, nghĩa là »cân« các vị trưởng lão trong thiên hạ.« Ngọc Tuyền liền quát một tiếng to, rồi sau đó bảo: »Hãy nói tiếng hét này nặng bao nhiêu!« Ông không đáp được, từ đó thầm khâm phục.|Ông cũng kết bạn rất thân với Thiền sư Phật Ấn Liễu Nguyên. Một hôm, ông đi thuyền ghé thăm Phật Ấn ngay lúc vị này đi vắng. Ðợi mãi không được, ông bèn viết vài dòng lưu lại và những chữ cuối cùng là »Tô Ðông Pha, người Phật tử vĩ đại, dù có tám ngọn gió (Bát phong) thổi cũng chẳng động.« Phật Ấn về đọc thấy thế liền viết thêm những dòng sau »Nhảm nhí! Những gì ông viết ở đây chẳng hơn gì phát rắm.« Khi nghe được lời lăng mạ này Tô Ðông Pha nổi giận lôi đình, cấp tốc đi thuyền qua sông. Thấy Phật Ấn, ông quát to: »Thầy có quyền gì mà thoá mạ tôi như vậy? Tôi há không phải là một Phật tử mộ đạo, chỉ để tâm đến đạo không thôi hay sao? Quen biết tôi lâu như vậy không lẽ thầy lại mù quáng đến thế hay sao?« Phật Ấn chỉ lặng lẽ nhìn ông một vài giây, sau đó mỉm cười nói chậm rãi: »Tô Ðông Pha, Phật tử vĩ đại kêu rằng tám ngọn gió cũng khó mà động được ông một tấc, thế mà giờ đây chỉ một phát rắm cũng thổi ông qua đến tận bên này sông!«|Danh vọng của ông cao mà tính tình lại rất là bình dân, có lúc tự cày ruộng, cất nhà như một nông phu. Ông viết lên vách nhà đế tự răn mình: »Hay ngồi xe thì chân sẽ tàn tật, ở nhà rộng dễ bị cảm, hiếu sắc thì sức mau kiệt, ăn đồ cao lương thì dễ đau bao tử.« Vì tâm hồn khoáng đạt người đời đều quý mến ông hơn tất cả các văn hào khác đời Tống.
Tô Đà
(s, p: sudhā, 酥酡): âm dịch là Tô Đà (蘇陀) hay Tu Đà (須陀), ý dịch là thức ăn Cam Lồ của trời, là loại thức ăn có vị ngon được lưu truyền ở Ấn Độ, món ăn trên trời được chế ra từ chất dịch của một loại cây. Cho nên thường có từ Tô Đà Vị (蘇陀味, mùi vị Tô Đà), Tu Đà Phạn (須陀飯, cơm Tu Đà). Trong Huyền Ứng Âm Nghĩa (玄應音義) 3 có đoạn rằng: “Tô Đà vị, cựu kinh trung tác Tu Đà phạn, thử thiên Cam Lồ thực (蘇陀味、舊經中作須陀飯、此天甘露飯, mùi vị Tô Đà, trong kinh xưa cho là cơm Tu Đà, đây chính là thức ăn Cam Lồ của trời)”. Hơn nữa, trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄) quyển 3 lại có câu: “Sái phi phi chi pháp vũ, phiến tạp tạp chi từ phong, quảng khai hương tích chi trù, phổ hiến Tô Đà chi soạn (洒霏霏之法雨、扇颯颯之慈風、廣開香積之廚、普獻酥酡之饌, Rưới lả chả dòng mưa pháp, thổi vi vu gió từ bi, rộng mở nhà bếp Hương Tích, dâng khắp món ăn Tô Đà).” Hay như Trong Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) của Phạn Kỷ Sở Thạch (梵琦楚石) nhà Nguyên, cũng có đoạn thơ nhắc đến hương vị Tô Đà trên cõi Tịnh Độ là: “Tô Đà tự chú lưu ly oản, Cam Lộ trường ngưng phỉ thúy bàn, bất tợ Tuyết Sơn đa dược vị, chúng sanh vô phước biến thành toan (酥酡自注琉璃盌、甘露長凝翡翠盤、不似雪山多藥味、眾生無福變成酸, Tô Đà tự rót lưu ly chén, Cam Lộ đọng lâu phỉ thúy bàn, chẳng giống Tuyết Sơn nhiều vị thuốc, chúng sanh vô phước biến chua thành).”
tô đà
Sudha (skt)—See Cam Lộ.
; (蘇陀) Phạm: Sudha. Cũng gọi: Tu đà. Hán dịch: Cam lộ. Thức ăn được biến chế bằng nhựa cây, là thực vật trên cõi trời. Theo luận Du già sư địa quyển 4 thì có loại cây tiết ra 4 vị thức ăn xanh, vàng, đỏ, trắng, gọi là Tô đà. Còn Huyền ứng âm nghĩa quyển 22 thì cho rằng trong kinh xưa gọi là Tu đà phạn, là thức ăn cam lộ trên cõi trời. [X. Du già sư địa luận lược toản Q.2].
tô đà di
(蘇陀夷) Phạm: Sudàya, Sudàna. Pàli: Sudàyi Cũng gọi: Tu đà, Tu đà na. Hán dịch: Thiện chí. Tên một vị đệ tử Phật, con của Chiên đà việt, vua nước Xá vệ ở Ấn độ đời xưa. Thời Đức Phật tại thế, vua nước Xá vệ là Chiên đà việt tin theo đạo Bà la môn, dùng các Bà la môn giúp việc chính trị trong nước. Vua có một người vợ rất được yêu quí, khiến các phu nhân khác ghen tức, họ bèn mua chuộc các Bà la môn nói xấu với vua để giết bà vợ yêu quí ấy. Bấy giờ bà ấy đang mang thai, sau sinh con ngoài gò mả, nhưng nửa thân của người mẹ không rữa nát, nhờ thế mà đứa trẻ được bú sữa trong 3 năm, sau khi ra khỏi gò mả, người con làm bạn với chim thú. Đức Phật thương xót độ cho xuất gia, đặt tên là Tu đà, 7 ngày sau chứng quả A la hán. Sau, Tu đà đến yết kiến vua Chiên đà việt, dùng thần thông cảm hóa nhà vua, vua sai các quan đến chỗ Phật thụ 5 giới, đức Phật bèn nói về nhân duyên đời quá khứ giữa nhà vua và Tu đà cho vua nghe. [X.kinh Chiên đà việt quốc vương].
tô đà phiến đà
(蘇陀扇陀) Phạm: Sudhasyanda Tên một loại thuốc hay. Theo truyền thuyết, nếu mắt người bệnh trông thấythuốcnày thì mọi chứng bệnh đều dứt liền. [X.luận Đại trí độ Q.6].
tô đát la
1) Sợi chỉ: Thread. 2) Kinh điển: A classical work—Sutra, especially the sermons or sayings of the Buddha.
; (蘇怛羅) Phạm:Sùtra Pàli:Sutta Cũng gọi: Tô đa la, Tô đát lãm, Tu đa la. I. TôĐátLa Hán dịch: Diên, Tuyến. Sợi dây dùng để xâu các vật(như những bông hoa chẳng hạn)lại với nhau để chúng khỏi rơi ra. Kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 32 trung) nói: Tô đa la có 4 loại:Trắng, vàng, đỏ, đen. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. II. TôĐátLa Hán dịch: Kinh, Khế kinh, Diên kinh. Từ gọi chung các kinh điển. Kinh điển có công năng xâu suốt các văn nghĩa, không để mất mát, đồng thời có công năng thu giữ chúng sinh, không để rơi vào đường ác, cho nên ngụ ý ví dụ mà gọi là Tố đát lãm. [X. Phật địa kinh luận Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần đầu].
Tô Đông Pha
(蘇東坡, 1036-1101): tức Tô Thức (蘇軾), nhà chính trị, thi nhân và nhà văn chương đời Bắc Tống. Ông người Mi Sơn (眉山), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), tự là Tử Chiêm (子瞻), Đông Pha là hiệu. Ông làm quan đến chức Hàn Lâm Học Sĩ, nhưng vì phản đối chính sách của Vương An Thạch (王安石), nên ông bị lưu đày đến Hoàng Châu (黃州), Hồ Nam (湖南). Là một trong Đường Tống Bát Đại Thi Nhân, ông thừa kế nên cổ văn nhà Đường và thành công lớn với nền cổ văn nhà Tống. Ông có để lại nhiều tuyệt tác và bên cạnh đó ông còn có tài năng vẽ tranh tuyệt vời. Thi tập của ông là Đông Pha Toàn Tập (東坡全集).
tô đông pha
Su Tung Po (C), Sotoba (J).
; Su-Tung-Po—Một trong những ngôi sao văn học lớn làm sáng ngời thế giới văn hóa của nhà Tống—One of the greatest literary stars illuminating the cultural world of Sung.
tô đăng
A lamp using butter and fragrant oil.
; Một loại đèn dùng bơ và dầu hương làm dầu đốt—A lamp using butter and fragrant oil, or a lamp burning butter-oil.
tô đạt lê xá na
Xem Thiện kiến.
; Sudarsana (skt)—Thiện Kiến (khi nhìn thấy dáng núi người ta dễ phát tâm lành)—Vòng núi thứ tư trong bảy vòng Kim Sơn—The fourth of the seven concentric circles around Sumeru.
tô đạt lê xá na sơn
(蘇達梨舍那山) Tô đạt lê xá na, Phạm:Sudarzana. Pàli:Sudassana. Hán dịch: Thiện kiến sơn, Thiện hiện sơn.Cũng gọi: Tu đằng sa la sơn. Lớp núi thứ 4 trong 7 lớp núi vàng bao quanh núi Tu di. Núi này cao 5.000 do tuần, bao quanh phía ngoài lớp núi thứ 3 là Cát địa lạc ca (Phạm:Khadiraka,Pàli: Karavika). Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24, núi này rất hùng vĩ, tráng lệ, ai thấy cũng khen ngợi, vì thế gọi là núi Thiện kiến. [X.luận Du già sư địa Q.2]. (xt. Cửu Sơn Bát Hải).
tô đạt nã
Sudàna (S). A former name of the Buddha. Also Thiện Nha.
; Sudana (skt)—See Tu Đạt.
tô đạt đa
Xem Cãp Cô Độc.
; Sudatta (S). Name of Anàtpindaka. Also Thiện Thí.
; Sudana (skt)—See Tu Đạt.
tô đần đà
Suvinda (S)Tô tần đàMột trong 16 vị Đại La hán được Phật cử ra nước ngoài hoằng pháp.
; Suvinda (S). One of the 16 arhats.
Tô-tất-địa kinh 蘇悉地經
[ja] ソシッチキョウ ||| Abbreviated title of the 蘇悉地羯羅經. (j: Soshitchi kyō) => Viết tắt của Tô-tất-địa-yết-la kinh 蘇悉地羯羅經.
Tô-tất-địa nghi quỹ khế ấn đồ 蘇悉地儀軌契印圖
[ja] ソシツチギキカイインズ Soshitsuji giki geiin zu ||| The Soshitsuji giki geiin zu; (Mudrās for the Susiddhi Ritual Procedure). 1 fasc. [TZ.3164.8.127]. A series of line drawings of the impressions (mudrā 契印) to be made during the invocation rites of the Susiddhitantra. It was brought to Japan by Enchin 圓珍 and Shūei 衆叡. => (j: Soshitsuji giki geiin zu; c: Soshitsuji giki geiin zu; e: Mudrās for the Susiddhi Ritual Procedure). 1 quyển. Một bộ những đồ hình khế ấn thực hiện trong nghi quỹ Thành tựu tan-tra (s: Susiddhitantra). Được mang về Nhật Bản bởi Viên Trân (j: Enchin 圓珍) và Chúng Duệ (j:Shūei 衆叡).
Tô-tất-địa-yết-la cúng dường pháp 蘇悉地羯羅供養法
[ja] ソシツチケツラキョウヨウホウ Soshicchikara kuyō hō ||| The Suxidijieluo gongyang fa; 2 fasc. (T 894.18.692719), attributed to Śubhākarasiṁha 善無畏. Ritual text (Pūjavidhi 供養法) based on the Susiddhitantra 蘇悉地羯羅經 (T 893). => (j: Soshicchikara kuyō hō; c: Suxidijieluo gongyang phiên âm); 2 quyển, được xem là do ngài Thiện Vô Uý (s: Śubhākarasiṁha 善無畏) dịch. Cúng dường pháp (s: Pūjavidhi 供養法) căn cứ trên Tô-tất-địa-yết-la kinh (s: Susiddhitantra 蘇悉地羯羅經).
Tô-tất-địa-yết-la kinh 蘇悉地羯羅經
[ja] ソシッチカラキョウ Soshicchikara kyō ||| The Suxidi jieluo jing; Skt. Susiddhikaramahātantrasādhanopāyikapaṭala; Tib. legs par grub par byed pa'i rgyud chen po las sgrub pa'i thabs rim par phye ba [To.807, P.431]; (Tantra of Uncanny Success [in All Endeavours]) 34 chapters in 3 fasc. [T 893.18.603692]; 37 chapters in 3 fasc. [K.432]; 38 chapters in 4 fasc. [other canons]; abbr. Susiddhitantra 蘇悉地經; tr. Śubhakarasiṁha 囉波迦羅 in 726 CE. A manual for ensuring the successful completion of esoteric rituals, often grouped with a number of other early treatises on ritual theory and practice (Susiddhitantra [T 893], Subāhuparipr_ccha [T 894], Guhyatantra [T 897], Dhyānottara [To.808, P.430]). The esotericism of Japanese Tendai 台密 inherited the text's practical tradition from China in the late Tang, and regards the Susiddhi as an expression of the nonduality of the two principal (兩部不二) Vairocanaabhisaṃbodhi and the Tattvasaṃgraha . Important documents of this tradition include Ennin's 圓仁Condensed Commentary 蘇悉地羯羅經略疏 [T 2227] and an iconographic work, Mudrās of the Susiddhi Ritual Procedure 蘇悉地儀軌契印圖, brought to Japan by Enchin 圓珍 and Shūei 衆叡. [TZ.3164]. KI (mb) 5; [msj151] => (j: Soshicchikara kyō; c: Suxidi jieluo jing; s: Susiddhikaramahātantrasādhanopāyikapaṭala; t: legs par grub par byed pa'i rgyud chen po las sgrub pa'i thabs rim par phye ba; e: Tantra of Uncanny Success [in All Endeavours), 34 phẩm trong 3 quyển. Viết tắt là Tô tất địa kinh (Susiddhitantra 蘇悉地經), do Ra-ba-ca-la (s: Śubhakarasimha 囉波迦羅) dịch năm 726. Là cẩm nang để thực hịên thành tựu các nghi quỹ Mật giáo, thường được xếp vào cùng với những luận giải trước đây về giáo lý và pháp thực hành nghi quỹ như Susiddhitantra, Subāhuparipr_ccha, Guhyatantra, Dhyānottara. Thai mật (Tendai 台密), một tông phái Mật giáo Nhật Bản tiếp truyền giáo lý tu tập nầy từ cuối đời Đường Trung Hoa, và xem Tô tất địa kinh như là một biểu tượng tính bất nhị của Vairocanaabhisaṃbodhi and the Tattvasaṃgraha (lưỡng bộ bất nhị 兩部不二). Kinh văn quan trọng của pháp nầy gồm có luận giải Tô tất địa yết la kinh lược sớ (蘇悉地羯羅經略疏Condensed Commentary) của Viên Nhân (j:Ennin's 圓仁 ) và một cuốn đồ hình Tô tất địa nghi quỹ khế ấn đồ (蘇悉地儀軌契印圖 e: Mudrās of the Susiddhi Ritual Procedure), do Viên Trân (j: Enchin 圓珍) và Chúng Duệ (j:Shūei 衆叡) mang từ Trung Hoa về Nhật Bản.
Tô-tần-đà 蘇頻陀
[ja] ソビンダ Sobinda ||| Subinda , one of the sixteen arhats 十六羅漢 who vowed to stay in this world to ensure the transmission of the correct dharma. => (j: Sobinda; c: Subinda). Một trong 16 vị A-la-hán, phát nguyện lưu lại cõi giới nầy để hộ trì chính pháp.
Tô-đát-lãm 蘇呾纜
[ja] ソタラン sotaran ||| A transliteration of the Sanskrit sūtra. More commonly transcribed as => Phiên âm chữ sūtra từ tiếng Sanskrit. Thường được dịch là tu-đa-la 修多羅.
tôi thép
To harden steel.
tôi đòi
Servant.
tôi được nghe như vầy
Evam mayā śutram (S), Evam me sutaṃ (S), Thus have I heard Như thị ngã văn.
tôn
Arya (S).To honour, honoured, honourable.
; 1) Bậc đáng tôn kính: Arya (skt)—Honourable—The honoured one—To honour. 2) Đích tôn: Grandchild—The eldest grandson (eldest son of the eldest son). 3) See Tông.
tôn bà bồ tát
(孫婆菩薩) Tôn bà, Phạm: Sumbha. Vị Bồtát ngồi ở vị trí thứ 6, hàng thứ nhất, bên tráibồtát Kimcương quyền trong Hiện đồ Mạnđồla Thai tạng giới, Mật giáo. Mật hiệu là Tối thắng kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, mặc áo trời, tóc tết bím, đội mũ báu, ngồi tréo chân, tay trái cầm chày 1 chĩa, để ở cạnh vai; tay phải nắm lại thành quyền, để ở trước ngực, ngón cái và ngón út dựng đứng, 3 ngón kia co lại, hình Tam muội da là chày 1 chĩa. [X. Bí tạng kí; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].
tôn bà tu mật bồ tát sở tập luận
(尊婆須蜜菩薩所集論) Cũng gọi: Tôn bà tu mật sở tập luận, Bà tu mật sở tập luận, Bà tu mật kinh. Luận, 10 quyển, do ngài Tôn-bà-tu-mật soạn, ngài Tăng già bạt trừng... dịch vào đời Phù Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 28. Nội dung luận này y cứ vào giáo thuyết của Thuyết nhất thiết hữu bộ mà lần lượt giải thích tính tướng các pháp. Toàn sách chia làm 14 kiền độ: Tụ kiền độ, Tâm kiền độ, Tam muội kiền độ, Thiên kiền độ, Tứ đại kiền độ, Khế kinh kiền độ, Cánh lạc kiền độ, Kết sử kiền độ, Hành kiền độ, Trí kiền độ, Kiến kiền độ, Căn kiền độ, Nhất thiết hữu kiền độ và Kệ kiền độ. Trong đó, 13 kiền độ trước tùy chỗ mà nêu nhiếp tụng (kệ tổng quát) để tóm tắt thuyết trong kiền độ ấy. Bồ tát Tôn bà (Mạn đồ la Thai tạng giới)Trong bài tựa ở đầu quyển, ngài Đạo an cho rằng luận này nói rộng về 10 pháp, các pháp muốn nói có lẽ là 10 kiền độ: Tâm, Tam muội, Thiên, Tứ đại, Cánh lạc, Kết sử, Hành, Trí, Kiến và Căn. Cách phân loại này rất giống với 8 kiền độ: Tạp, Kết, Trí, Nghiệp, Đại chủng, Căn, Định, Kiến trong luận A tì đạt ma phát trí và với 11 phẩm: Giới, Hành, Nghiệp, Sử, Hiền thánh, Trí, Định, Tu đa la, Tạp, Trạch, Luận trong luận Tạp a tì đàm tâm. Trong đó, Tạp kiền độ của luận Phát trí có thể nói là tương đương với Tụ kiền độ của luận này, 7 kiền độ còn lại thì tương đương với các kiền độ từ kiền độ Tam muội trở xuống của luận này. Còn 4 phẩm: Hành, Sử, Trí, Định của luận Tạp a tì đàm tâm thì tương đương với 4 kiền độ: Hành, Kết sử, Trí, Tam muội của luận này; 5 phẩm: Hiền thánh, Tạp, Tu đa la, Trạch, Luận thì tương đương với 5 kiền độ: Kiến, Tụ, Khế kinh, Nhất thiết hữu, Kệ của luận này. Cho nên, có khả năng là ngoài 8 Kiền độ của luận Phát trí, luận này đã lại thêm vào 6 Kiền độ Tâm, Tam muội... mà thành 14 kiền độ. Còn 11 phẩm trong luận Tạp a tì đàm tâm cũng có thể đã bỏ bớt Tâm kiền độ của luận này rồi sửa chữa thêm mà thành. Theo thuyết của các học giả cận đại thì tác giả Bà tu mật của luận này và ngài Thế hữu trong 4 vị Đại luận sư của hội Bà sa có khả năng là cùng một người; cũng có thuyết cho rằng luận này có lẽ đã do đệ tử ngài Bà tu mật hoặc người đời sau soạn tập thành sách.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 10; Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
tôn chi
Tông chi—Branch of a family, sect or school.
tôn chỉ
Leading lines or guiding instructions of a sect or school.
tôn chứng
Venerable witness.
tôn cảnh phong
Sun Ching-feng (C).
tôn giáo
Religion.
; Religion.
tôn giáo dân gian
Civic religion.
tôn giả
Ārya (S), Ariya, Ayya (P), phag pa (T), Saint A lê da, ThánhTừ dùng chỉ bậc A la hán, bậc Đại sư, bậc tu lâu năm, bậc có đức hạnh và trí huệ, là từ mà bậc dưới dùng gọi bậc trên.
; Arya (S). Honourable one, a sage, a saint, an arhat.
; Arya (skt)—A Lê Da—Thánh giả hay những bậc trí đức cao, tiếng tôn xưng để gọi các vị A La Hán—An Honored One—An Honourable One—A sage—A saint—An Arhat.
tôn giả a nan
Ananda—Đệ nhứt đa văn—Who was famed for his excellent memory and wide erudition—See A Nan Đà và Thập Đại đệ tử.
tôn giả ca diếp
Mahakashyapa—Đệ nhứt Thiền định—Foremost in Samadhi—See Ma Ha Ca Diếp và Thập Đại Đệ Tử.
Tôn giả Chúng Hiền 尊者衆賢
[ja] ソンジャシュウケン Sonja shūken ||| Saṃghabhadra. See 衆賢. => (s: Saṃghabhadra). Xem Chúng Hiền衆賢.
tôn giả duy ma cật
See Vimalakirti.
tôn giả giác ngộ
Enlightened Venerable.
tôn giả kiều trần như
Kaundinya.
tôn giả la hầu la
Nổi tiếng về mật hạnh—Foremost in inconspicuous practice—See Rahula.
tôn giả mục kiền liên
Đệ nhứt thần thông—Foremost in spiritual powers—See Maudgalyayana.
tôn giả tu bồ đề
See Subhuti.
tôn giả xá lợi phất
Đệ nhất trí huệ—Foremost in wisdom—See Sariputra.
tôn giả đại hiệu
Xem Ma nam câu lỵXem Ma ha nam.
tôn giả đề bà đạt đa
Devadatta—Nghịch hữu tri thức—Adverse-practice good spiritual advisor—See Đề Bà Đạt Đa.
Tôn giả 尊者
[ja] ソンジャ sonja ||| A worthy; an adept practitioner who is worthy of respect; a venerable one; a high monk; an arhat. A sage (Skt. āyuṣmat; Pali āyusmat). (2) A host; master, person in a position of responsibility. => 1. Một bậc đáng trọng; bậc tu hành lão luyện đáng kính; bặc trưởng thượng; bậc cao tăng; một vị A-la-hán. Nhà hiền triết (s: āyuṣmat; p: āyusmat). 2.Chủ nhà, chủ nhân, người có trách nhịêm.
tôn hiệu
(尊號) Chỉ cho danh hiệu chư Phật. Danh hiệu của chư Phật có các công đức thù thắng, vi diệu đáng được tôn trọng, cho nên gọi là Tôn hiệu. Tôn hiệu của Như lai không thể xưng, không thể nói, không thể nghĩ bàn, có năng lực khiến tất cả chúng sinh đều được Vô thượng đại bát niết bàn. Tôn hiệu là do nguyện lực đại từ đại bi của Như lai mà có, chứ phàm phu không thể có được.
tôn khách ba
Xem Tống lạt Ba.
tôn kinh
The honourable scripture, Buddhist sùtra.
tôn kính
Abhisaṃkaroti (S), Treat with respect.
; Homage—Reverence—To have respect for –To reverence and respect—To show/pay respect for—To revere—To respect—To honour.
tôn ký
The prediction of Buddhahood to his disciples by the Honoured One; the honourable prediction.
; Sự thọ ký của Đức Phật về sự thành Phật của các đệ tử của Ngài—The prediction of Buddhahood to his disciples by the Honoured One—The honorable prediction.
tôn nghiêm
Solemn—Grave.
tôn nhan
Honourable face.
tôn phái
Tông phái—See Tôn Chi.
tôn phục
To respect—To reverence—To honour—To venerate.
tôn quyền
(孫權) Tên vị Đế vương khai quốc của nước Ngô (222-279) thời đại Tam quốc, người ở Phú xuân, quận Ngô, Trung quốc, tự là Trọng mưu. Ông có tinh thần nghĩa hiệp, thích nuôi kẻ sĩ, được phong làm Ngô vương, không bao lâu tự lập làmđế, dựng nước tại Giang đông, đóng đô ở Kiến khang. Về già, tính tình ông cứng cỏi, tự ý làm càn, trị phạt nghiêm khắc. Ông lại thích thuật thần tiên, có lần ông sai tướng sĩ ra biển tìm núi tiên. Ông từng xây ngôi chùa Phật đầu tiên ở Giang nam, đặt tên là chùa Kiến sơ và đặt tên khu vực quanh chùa là Phậtđàlí(làng Phật). Ông rất kính trọng nhà dịch kinh lớn là Chi khiêm và cao tăng Khang tăng hội.[X. Tam quốc chí Q.47].
tôn quí
See Tôn Trọng.
tôn quý đoạ
(尊貴墮) Một trong 3 thứ đọa (Sa môn đọa, Tôn quí đọa, Tùy loại đọa) của Tàosơn, là phương pháp tu học phápThiền do ngài Tàosơn Bản tịch (840-901) chỉ dạy. Đọa nghĩa là tự do vô ngại. Siêu việt tôn quí, tự do vô ngại, gọi là Tôn quí đọa. Tào sơn lục (Vạn tục 119, 469 hạ) nói: Pháp thân pháp tính là việc tôn quí cũng gạt ra một bên, đó là Tôn quí đọa. Như con trâu trắng ở chỗ đất trống(chỉ cho cảnh giới giác ngộ giải thoát), đó là chỗ cùng tột của pháp thân cũng phải để ra một bên, đừng để nó ngồi ở chỗ một mảy sắc cũng không(cảnh giới tuyệt đối), đến cả việc cúng dường cũng phải để ra một bên. Nếu muốn cúng dường thì phải tìm được món ăn nào có cái vị Vô vị, hoặc gọi là Vô lậu, thì hãy cúng dường, còn các món uế nhiễm khác thì chẳng phải món vô lậu giải thoát. (xt. Tào Sơn Tam Chủng Đọa).
tôn sùng
To idolize, worship s.o.,sth.
; Honourable—Eminent.
tôn sư
Honourable Teacher.
; Honoured Master.
tôn sắc
The honourable commands, Buddha's teaching.
; Những lời chỉ dạy đáng tôn quý hay những lời dạy của Đức Phật—The honourable commands, Buddha's teaching.
tôn thượng
To respect one's superior.
tôn thạnh
Chùa Tôn Thạnh tọa lạc trong xã Thanh Đa, huyện Phước Lộc, bây giờ là Cần Giuộc, tỉnh Long An. Lúc đầu chùa tên Lan Nhã, được Hòa Thượng Viên Ngộ sáng lập và dựng lên năm 1808. Trong tập hồi ký của ông Võ Văn Kiết, tri huyện Phước Lộc, đã ghi lại: về việc đúc tượng Bồ Tát Địa Tạng như sau: “Lần đầu tượng đúc không thành, lần sau sư Tăng Ngộ bèn chặt một ngón tay của mình mà bỏ vào lò nấu đồng, thịt xương của ngón tay hòa lẫn với kim khí. Lần nầy pho tượng được viên mãn. Từ đấy khách thập phương góp phần tô điểm ngôi già lam Lan Nhã ngày càng trở nên tráng lệ hơn. Tuy nhiên, ngôi chùa hiện nay không còn được như xưa nữa.” Đường vào chùa phía bên phải có tấm bia kỷ niệm ông Nguyễn Đình Chiểu được dựng lên năm 1973. Trong chánh điện có rất nhiều tượng La Hán. Sân sau chùa có tháp thờ Sư Viên Ngộ—Tôn Thạnh Pagoda, name of a temple, located in Thanh Đa village, Phước Lộc (now Cần Giuộc) district, Long An province, South Vietnam. It was founded and built by Most venerable Viên Ngộ (Tăng Ngộ) in 1808. It was called Lan Nhã Pagoda then. Chief of Phước Lộc district, Mr. Võ Văn Kiết, recorded in his diary about the casting of Ksigarbha Bodhisattva statue at Lan Nhã Pagoda as follows: “At first, the casting failed. Afterwards, it was said that Master Tăng Ngộ cut a finger of his right hand and dropped it into a pot used to cook bronze. The finger was mixed with the metal, therefore the statue casting became successful. Since then, pilgrims from all over the country have helped decorate Lan Nhã Pagoda to make it more magnificient and splendid. However, at present, the pagoda does not appear marvellous as it used to be. On the right side of the gateway stands a stele set up in 1973 to memorize the great scholar Nguyễn Đình Chiểu. In the Main Hall, there are many statues of Arahats. In the back of the pagoda, there stands the stupa of Most Venerable Vien Ngộ.
tôn thất
Royal family.
tôn thắng
Honoured and victorious. Tôn thắng giả, the honoured victorious one, one of the five Phật Đỉnh also known as Trừ chướng Phật đỉnh, one of the divinities of the Yoga School.
; 1) Vị tôn giả luôn chiến thắng (ma quân phiền não) đáng tôn kính: Honoured and victorious, the honoured victorious one. 2) Một trong năm vị Phật Đảnh Tôn bên cánh tả của Phật Thích Ca Mâu Ni, tượng trưng cho trí huệ: One of the five bodhisattvas on the left side of Sakyamuni (symbolized wisdom)—See Ngũ Phật Đảnh Tôn. 3) Trừ Chướng Phật Đảnh: One of the divinities of the Yoga school—See Ngũ Phật Đảnh Tôn (5).
tôn thắng bồ tát sở vấn nhất thiết chư pháp nhập vô lượng môn đà ra ni kinh
Tsun-sheng p'u-sa so-wen i-ch'ieh chu-fa ju-wu-liang-men t'o-lo-ni ching (C).
tôn thắng mạn đồ la
(尊勝曼荼羅) Gọi đủ: Tôn thắng Phật đínhmạnđồ la. Mạnđồla được vẽ để tu pháp Tôn thắng trong Mật giáo. Có 2 cách vẽ, cách vẽ thứ nhất y cứ theo Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ, do ngài Thiệnvôúy dịch; cách vẽ thứ 2 y cứ theo Phật đính Tôn thắng đàlani niệm tụng nghi quĩ pháp, do ngài Bấtkhông dịch. Mạn đồla vẽ theo nghi quĩ của ngài Thiệnvôúy thì ở chính giữa vẽ vòng tròn sáng lớn, rồi lại chia làm 9 vòng tròn nhỏ, trong vòng tròn nhỏ ở chính giữa vẽ Tìlôgiána Nhưlai, các vòng tròn ở 4 phương vẽ Bạch tản cái Phật đính, Tối thắng Phật đính, Tôn thắng Phật đính và Quang tụ Phật đính; còn trong các vòng tròn ở 4 góc thì vẽ Thắng Phật đính, Quảng sinh Phật đính, Vô biên thanh Phật đính và Phát sinh Phật đính, tất cả là 8Đại Phật đính. Hai bên phía dưới bên ngoài vòng tròn lớn vẽ 2 vị Minhvương Hàngtamthế và Minhvương Bấtđộng, chính giữa đặt lư hương; 2 bên phía trên vẽ 6 Thủ đà hội thiên. Mạnđồla theo nghi quĩ của ngài Bấtkhông thì ở chính giữa vẽTìlôgiána Nhưlai; 4 phương 4 góc an trí 8 vị Đại bồ tát làbồtát Quántựtại,bồtát Từthị,bồ tát Hưkhôngtạng,bồtát Phổhiền,bồtát Kimcươngthủ,bồtát Vănthùsưlợi,bồ tát Trừcáichướng vàbồtát Địatạng, 4 cửa đặt 4 lư hương, 4 góc đặt tịnh bình (bình nước trong), 4 cạnh đặt 4 ngọn đèn dầu tô đang cháy. Ngoài ra, trong phẩm Kì vũ pháp của Tôn thắng Phật đính chân ngôn tu Du già nghi quĩ quyển hạ có nói về hình tướng của bức Mạnđồla vẽ theo Tôn thắng pháp được sử dụng khi cầu mưa, gọi là Camlộ mạnđồla. [X.phẩm Họa tượng trong Tôn thắng Phật đính tudu già pháp quĩ nghiQ.thượng; Tôn tượng sao quyển 2].
tôn thắng pháp
The honoured and victorious dharma.
; (尊勝法) Cũng gọi: Tôn thắngđàlani pháp. Chỉ cho pháp tu thờ Tôn thắng Phật đính làm bản tôn và tụng niệm Đà la ni Tôn thắng. Tức tu bí pháp Tức tai, Tăng ích để cầu diệt tội sinh thiện, trừ sạch các nghiệp chướng, tăng thêm tuổi thọ, phá địa ngục, cầu mưa... Tôn thắng đà la ni là pháp tăng thọ diệt tội mà đức Phật Thích ca nói để cứu ách nạn đọa ác đạo cho Thiên tử Thiện trụ. Pháp này được tu theo Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng Tôn thắng Mạn đồ la nghi quĩ (1 quyển) do ngài Bất không dịch và Tôn thắng Phật đính tu du già pháp quĩ nghi (2 quyển) do ngài Thiện vô úy dịch. Theo Nghi quĩ của ngài Bất không thì vị Trung tôn là Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới, còn theo Quĩ nghi của ngài Thiện vô úy thì vị Trung tôn là Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Pháp này treo Mạn đồ la Tôn thắng, đồng thời thiết lập đại đàn, bên phải đại đàn đặt đàn Hộ ma, đều theo pháp Tức tai, Tăng ích của đàn mà trang trí khác nhau. Đồng thời theo thứ lớp mà thực hành Đạo tràng quán, ấn ngôn(ấn khế và chân ngôn) của Bản tôn, chân ngôn của 8 đại Phật đính và Hàng tam thế, mật hiệu (hoặc Phạm hiệu) của Bản tôn, tán... Trong pháp tu này chư tăng phải niệm tụng đà la ni tôn thắng không ngừng. Quĩ nghi của ngài Thiện vô úy có nói rõ về sự thù thắng của Tôn thắng pháp, cho rằng nếu người tu pháp này có thể trong khoảng một niệm chứng được vô sinh, chuyển 5 trí thành 5 phần pháp thân, ngộ 3 mật chính là 3 thân, lúc mới phát tâm liền vượt qua 160 tâm, tu các hạnh trong 3 vô số kiếp, chứng được Tam muội da của sắc thân Phổ hiền thì ngay lúc vừa phát tâm liền thành Chính giác. Quĩ nghi này còn ghi cả hình tượng mạn đồ la, tức chính giữa nguyệt luân(vòng tròn lớn) vẽ Đại nhật Như lai, đầu đội mũ báu Ngũ trí, ngồi kết già trên tòa Thất sư tử, tay kết Pháp giới định ấn. Chung quanh bày xếp 8 vị Phật đính, ở phía dưới an trí minh vương Bất động, minh vương Hàng tam thế và lư hương, phía trên đặt thiên cái(lọng) và 6 Thủ đà hội thiên. Nghi quĩ của ngài Bất không thì chính giữa cũng là Đạinhật Nhưlai, chung quanh thì bày xếp 8 vị Đạibồ tát: Quánâm, Từ thị, Hưkhôngtạng, Phổhiền, Kimcương thủ, Vănthù, Trừcáichướng và Địatạng. Vịtăng tông Thiên thai Nhật bản là ngài Tônýtừng tu pháp này để cầu mưa và rất linh nghiệm, cho nên trong triều ngoài nội đặc biệt coi trọng pháp này. [X.kinh Phật đínhtôn thắngđàlani (bản dịch của ngài Phậtđàbalợi)].(xt. Tôn Thắng Mạn Đồ La).
tôn thắng phật
Trừ chướng Phật Đảnh—The Honoured Victorious One (Buddha).
tôn thắng phật đỉnh tu du già pháp quỹ nghi
(尊勝佛頂修瑜伽法軌儀) Cũng gọi: Tôn thắng Phật đính chân ngôn Du già pháp quĩ nghi. Gọi tắt: Tôn thắng nghi quĩ. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung sách này chia làm 12 phẩm, gồm 4 pháp niệm tụng như Tức tai, Tăng ích..., pháp Tịnh pháp giới tam ma địa, pháp Ngũ luân tam ma địa, pháp Hộ thân kết giới, Tam muội da kim cương và Ấn chân ngôn của minh vương Hàng tam thế, Tôn thắng đà la ni, Tôn thắng mạn đồ la và cách vẽ Đại đàn mạn đồ la... Trong đó, 34 pháp thành tựu nói trong phẩm Tôn thắng Phật đính tu du già bản tôn chân ngôn cùng với 34 pháp trước trong 38 pháp nói trong Phật đính tôn thắng đà la ni biệt pháp do ngài Nhã na dịch và Niệm tụng tôn thắng biệt hành pháp nói trong Phật đính tôn thắng đà la ni chân ngôn đều giống nhau. Theo các học giả cận đại thì 34 pháp thành tựu này có khả năng đã do người đời sau sửa chữa thêm vào. Lại nữa, sách này có lẽ đã do ngài Hỉ vô úy soạn tập và do ngài Thiện vô úy dịch, thông thường cho vấn đềnàycòn có điểm đáng ngờ. Cũng có thuyết cho rằng Thiện vô úy chính là Hỉ vô úy. Ngoài ra, sách này được lưu truyền ở Nhật bản với tựa đề là Tôn thắng Phật đính chân ngôn tu du già kinh, hoặc là Tôn thắng Phật đính
tôn thắng đà la ni
(尊勝陀羅尼) Phạm: Uwịìwa-vijaya-dhàraô. Gọi đủ: Tịnh trừ nhất thiết ác đạo Phật đính tôn thắngđàlani. Cũng gọi: Thanh tịnh chư thú Phật đính tôn thắngđàlani, Nhất thiết Nhưlai ôsắt nịsa tối thắng tổng trì, Phật đính tôn thắng đàlani, Diên thọđàlani, Thiện cát tường đàlani. Đàlani nói về công đức nội chứng của Tôn thắng Phật đính tôn. Đà lani này do đức Phật nói để cứu với Thiên tử Thiện trụ, vì nghiệp báo, sắp phải sinh làm thân súc sinh 7 lần trong đường ác. Cứ theo kinh Phật đính tôn thắng đà la ni do ngài Phật đà ba lợi dịch thì Đà la ni này có năng lực tiêu trừ tất cả tội chướng, phá diệt tất cả khổ trong ác đạo ô uế. Đà la ni này gồm 87 câu, xét về độ dài thì thuộc loại Đạichú. Nếu thụ trì, viết chép, cúng dường, đọc tụng Đà la ni này, hoặc an trí trên tháp, cột cao, lầu gác... thì được các công đức như tất cả ác đạo đều thanh tịnh, tiêu trừ tội chướng, tăng thêm tuổi thọ, vãng sanh Cực lạc.. Người tu theo Mật giáo thường sớm tối đọc tụng, hoặc đọc tụng khi hồi hướng vong linh người chết. Đà la ni này cũng thường được tụng niệm trong các thời khóa của Thiền tông. Tại Trung quốc, Nhật bản có rất nhiều người tin nhận và trì tụng đà la ni này và rất linh nghiệm. Năm 1884, học giả Nan điều Vănhùng người Nhậtbản đã đối chiếu, sửa chữa bản lá bối ở chùa Pháp long, bản ghi trong A xoalathiếp, bản chép tay do ngài Tịnh nghiêm chùa Linh vân giáo đính, bản dập văn bia ở chùa Thiển thảo và Bátnhãtâm kinh bằng tiếng Phạm đều được thu vào necdota Oxoniensia, Aryan Series. Vol 1. PartIII và xuất bản. [X. Gia cú linh nghiệm Phật đính Tôn thắng đà la ni kí; Nhật bản Phật giáo sử chi nghiên cứu 3; Tôn thắng đà la ni chi nghiên cứu (Địch nguyên Vân lai, Mật giáo 2)].
tôn thắng đà la ni kinh
(尊勝陀羅尼經) Gọi đủ: Phật đính tôn thắng đà la ni kinh. Cũng gọi: Tôn thắng kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Phật đà ba lợi dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nguyên dođức Phật nói kinh này như sau: Thiên tử Thiện trụ, sau khi mệnh chung, sắp phải chịu khổ báo 7 lần sinh trong đường ác súc sinh, trời Đế-thích thương xót nghiệp nhân của ông, liền đến chỗ Phật, thỉnh cầu Phật cứu giúp, Ngài bèn giảng nói Tôn Thắng Đà-la-ni và công đức trì Tụng Đà-la-ni này. Phật Đính Tôn Thắng là 1 trong 5 Phật Đính của viện Thích ca trong Mạn-đồ-la Thai tạng giới, Mật-giáo. Trong 5 Phật đính thì Phật đính tôn hình Luân vương từ đỉnh đầu Phật Thích ca hiển hiện là thù thắng nhất, cho nên Mật giáo mới thờ Phật đính Tôn làm Bản tôn mà tu trì pháp Tức tai trừ bệnh, gọi là Tôn thắng pháp. Đà la ni Phật đính tôn thắng là nói về công đức của Phật đính tôn thắng. Đà la ni này gồm có 87 câu, xưa nay rất linh nghiệm. Về sách chú sớ kinh này thì có: Phật đính tôn thắng đà la ni kinh sớ, 2 quyển, do ngài Pháp sùng soạn vào đời Đường. Ngoài ra, kinh này cũng còn có rất nhiều bản dịch khác, như Tôn thắng đà la ni tịnh niệm tụng công năng pháp (đã thất lạc), do ngài Trí xứng dịch vào đời Hậu Chu, Phật đính tôn thắng đà la ni kinh, 1 quyển, do cư sĩ Đỗ hành khải dịch vào đời Đường, Tối thắng Phật đính đà la ni tịnh trừ nghiệp chướng kinh, 1 quyển, do ngài Địa bà ha la dịch vào đời Đường, Phật đính tôn thắng đà la ni kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, Tôn thắng đại minh vương kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, Tối Thắng Phật đính đà la ni kinh, 1 quyển, do ngài Pháp thiền dịch vào đời Tống.
tôn thắng đà la ni kinh tràng
(尊勝陀羅尼經幢) Cây cột đá trên đó có khắc kinh Tôn thắng đà la ni. Kinh Tôn thắng đà la ni do ngài Phật đà ba lợi truyền dịch là nguyên nhân của việc kiến lập các kinh chàng này mà hiện nay còn rất nhiều. Khi hành hương lễ bái núi Ngũ đài, ngài Phật đà ba lợi đời Đường gặp một ông già ở gần núi Tư dương, theo lời khuyên của ông, sư trở về Thiên trúc mang kinh Tôn thắng đà la ni đến Trung quốc. Vào năm Khai thành thứ 5 (840) đời vua Văn tông nhà Đường, một Đà la ni kinh chàng đã được dựng lên ở nơi này để đánh dấu chỗ ngài Phật đà ba lợi gặp gỡ ông già kì lạ. Cây kinh chàng hiện còn là do người đời sau kiến lập, trên đó có bài minh được khắc vào năm Thiên thánh thứ 4 (1026) đời Tống. Phía ngoài chùa Bách pháp, núi Chung nam cũng có 2 cột khắc kinh Tôn thắng đà la ni, một trong 2 cột kinh này được khắc vào năm Thái hòa thứ 5 (831) đời Đường, chữ do ngài Vô khả viết, nơi này là chỗ trà tì(thiêu) ngài Tổng tỉnh thuộc Tam giai giáo. Ở chùa Khai nguyên tại Trịnh châu, Hà nam có Tôn thắng đà la ni kinh chàng hình bát giác, gồm 2 tầng, tầng dười thân cột khắc đà la ni, tầng trên khắc khám thờ Phật, đồng thời có bài văn minh, được tạo lập vào năm Trung hòa thứ 5 (885) đời Hi tông nhà Đường, được dựng lại vào năm Thiên thành thứ 5 (930) thời Minh tông nhà Hậu Đường. Ngoài ra, đà la ni kinh chàng ở thôn Vương long, huyện Cố an, tỉnh Hà bắc được kiến lập vào khoảng năm Thiên phụ (1117-1122) đời Kim, cột có 9 tầng, cao khoảng 7m, đường trực kính lớn nhất khoảng 1m. Tầng nền là thể cột đá 8 mặt, khắc văn kinh Đà la ni, quá trình và niên đại trùng tu kinh chàng, từ tầng 2 đến tầng 4 có Phi thiên được khắc nổi, hình vẽ chim thú, tầng thứ 5 có khắc đoạn văn Thần tán thiên phụ Hoàng đế vạn tuế tề thiên chương đức Hoàng hậu trừ quân thân vương công chúa thiên thu đặc kiến tiêu tai báo quốc Phật đính Tôn thắng đà la ni chàng, tầng thứ 6 là tranh mặt loài thú được khắc nổi, tầng 7, 9 là tượng Phật, tầng 8 là hình hoa sen ngửa, trên cùng là đỉnh cột có hình dáng cây nấm. Tạo hình thanh nhã, nghệ thuật điêu khắc rất tinh xảo.[X. Nhập đường cầu pháp tuần lễ hành kíQ.3].
tôn trọng
1) Tôn quý và kính trọng: Respect and honoured—To honour—Honourable—To have regard and consideration for. 2) Cách tốt nhứt để tôn trọng Phật là làm theo lời Phật dạy: “Không làm các điều ác, làm các điều lành, và giữ cho tâm ý thanh sạch.”—The best way to respect the Buddha is to follow his advice: “Not to do evil, to do good, and to purify one's mind.”
tôn tín
To reverence and faith—To revere and trust.
tôn túc
A monk honoured and advanced in years.
; Từ được dùng để gọi vị Tăng tuổi cao đức trọng—A term used to call a monk honoured and advanced in years.
tôn túc sơn
Xem Linh thứu sơnXem Kê Túc sơn.
tôn tượng
(尊像) Chỉ cho tượng của các vị tôn, tức là tượng Phật, Bồtát, Minh vương,Chư thiên, thầnHộ pháp... Kinh Tốtấtđịa quyển 2 (Đại 18, 615 trung) nói: Trước quán tưởng phương hướng an trụ của Bản tôn, xoay mặt về phương ấy cung thỉnh Ngài, sau đó xoay mình lại, đặt ứ già(nước thơm) ở trướcTôn tượng.
tôn tộc
Person of the same family.
Tôn Ý
(尊意, Soni, 866-940): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 13, húy là Tôn Ý (尊意), thông xưng là Lê Bổn Tổ Sư (梨本祖師), hiệu Pháp Tánh Phòng (法性房), xuất thân kinh đô Kyōto. Năm 876, nhân xem tranh Địa Ngục ở Cát Điền Tự (吉田寺), ông kinh hãi và quy y theo Phật Giáo, nương Hiền Nhất (賢一) ở Cao Sơn Tự (高山寺) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) tu tập. Vào năm 879, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo hầu Tăng Toàn (增全, Zōzen); đến năm 886 thì được phép xuất gia và năm sau thì thọ giới với Viên Trân (圓珍, Enchin). Ông từng học hai bộ đại pháp với Tăng Toàn và pháp Tô Tất Địa với Huyền Chiếu (玄照, Genshō). Năm 926, ông chính thức được cung cử làm Thiên Thai Tọa Chủ. Để trấn áp vụ loạn Bình Tướng Môn (平將門), ông tiến hành tu Pháp Bất Động (不動法); trong cung nội ông cũng hành Pháp Tôn Thắng (尊勝法) để cầu nguyện sinh sản an toàn và mưa thuận gió hòa; tương truyền hết thảy đều có linh nghiệm. Sau khi qua đời, ông được truy tặng chức Tăng Chánh. Trước tác của ông có Pháp Tánh Tư Ký (法性私記), Pháp Tánh Biệt Ký (法性別記) 2 quyển, Thai Tạng Giới Biệt Ký (胎藏界別記) 2 quyển, Mạn Trà La Sao (曼茶羅抄) 8 quyển, Tổng Trì Viện Quán Đảnh Thứ Đệ (惣持院灌頂次第) 1 quyển, v.v.
tôn đà la nan đà
Xem Bạt nan đà.
; Upananda, a disciple of the Buddha.
; Sundarananda or Sunanda (skt)—Em trai của Đức Phật, có vợ tên là Tôn Đà Lợi, nên nguời ta gọi ông là Tôn Đà La Nan Đà để phân biệt với ông A Nan Đà—Said to be younger brother of Sakyamuni, his wife's name being Sundari; thus called to distinguish him from Ananda.
; (孫陀羅難陀) Phạm: Sundara-nanda Hán dịch: Diễm hỉ. Vịvương tử thứ 2 của vua Tịnh phạn, em khác mẹ với đức Thích tôn. Sau khi thành đạo,đức Phật độ cho sư xuất gia và chứng quả Alahán. Trước khi xuất gia,sư có tên là Nanđà, vì có vợ tên là Tônđà lợi nên gọi sư là Tôn đà la nan đà. Sư có thân hình cao lớn, dung mạo đoan chính, có 30 tướng, so với Phật chỉ thiếu tướng sợi lông trắng ở giữa hai chân mày và tướng trái tai dài chấm vai. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tậpQ.11]. (xt. Nan Đà).
tôn đà la nan đà thi
(孫陀羅難陀詩) Phạm: Sindarananda-kàvya. Tập thơ, do thi nhân Phật giáo người Ấn độ là ngài Mã minh (Phạm:Azvaghowa) soạn vào thế kỷ II. Nội dung chia làm 18 chương, chủ yếu nói về quá trình xuất gia, tu hành, được thành tựu của tôn giả Nan đà(em khác mẹ với đức Thích tôn) dưới sự dắt dẫn, chỉ dạy của đức Thích tôn; đồng thời nói về thành Ca tì la (Phạm: Kapilavastthu), về vua Tịnh phạn và về chuyện yêu thương giữa Nan đà và vợ là Tôn đà lợi. Ngài Mã minh dùng sách này để nói rõ về tư tưởng của Phật giáo Đại thừa, là văn hiến quan trọng về mặt lịch sử tư tưởng Đại thừa ở thời kì đầu. Sách này và bộ luận Đại thừa khởi tín của ngài Mã minh có quan hệ rất mật thiết về mặt tư tưởng. Ngoài ra, tư tưởng của hành phái Du già đời sau cũng chịu ảnh hưởng của sách này rất lớn.
tôn đà lợi
Sundari (skt). 1) Tên của một bà quý phái đã hủy báng Đức Phật trước đám đông: Name of a courtesan who defamed the Buddha in front of a crowd. 2) Tên một đức trẻ do vua Ba Tư Nặc dẫn đến để được gặp Phật, đứa bé đã ngộ đạo sau khi nghe Phật thuyết pháp: Name of a young child who realized the truth after hearing the Buddha's preaching. 3) Tên của một vị A La Hán: Name of an arhat. 4) Vợ của tôn giả Tôn Đà La Nan Đà: Wife of Sundarananda.
; (孫陀利) Phạm: Sundari. 1. Tôn Đà Lợi Cũng gọi: Tuđàlợi, Toanđàlợi, Toan đànanđề. Hán dịch: Hảo thủ,Khả ái. Tên người dâm nữ ở thời đạiđức Phật, từng vu báng Phật giữa đại chúng, việc này là 1 trong 10 nạn của Phật. Bài kinh Tônđàlợi túc duyên trong kinh Hưngkhởihànhquyểnthượng, Bột kinh sao... đều có nói về nhân duyên đời quá khứ của Tônđàlợi. [X.kinhThíchgiatấttộitronglụcđộ tập kinh Q.5; phẩm Thế tôn trong kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi; bài kinh Tu đà lợi trong kinh Nghĩa túc Q.thượng]. II. Tôn Đà Lợi Hán dịch: Diễm. Tên người vợ của ngài Tôn đà la nan đề trước khi xuất gia. [X. Pháp hoa huyền tán Q.1]. III. Tôn Đà Lợi Tên một vị Lahán được ghi trong kinh Bách duyên quyển 10. Trong một làng nọ có đứa trẻ sinh ra đã đoan chính, tên là Tônđàlợi. Vua Ba tư nặc đưa bé đến chỗ Phật, Ngài nói pháp Tứ đế cho nghe, bé liền ngộ đạo, chứng quả A-la-hán.
tôn đặc báo thân
(尊特報身) Gọi tắt: Tôn đặc thân. Tiếng dùng của tông Thiên thai. Chỉ cho Báo thân Phật được tôn sùng một cách đặc biệt. Tứ giáo nghi tập chú quyển thượng của ngài Mông nhuận cho rằng: Tiếng Phạm Lô xá na cũng dịch là Tôn đặc. Báo thân là thân Phật đền đáp hạnh nguyện ở nhân vị, là thân thứ hai trong 3 thân Pháp, Báo, Ứng. Tôn đặc báo thân này vốn trụ ở cõi Thực báo, là thân hình rộng lớn tròn đầy có vi trần số tướng hảo nhiều như những giọt nước biển của 10 thế giới Liên hoa tạng, nhưng về phương diện Ứng thân xuất hiện ở thế giới Sa bà thì hiện khởi thân Tôn đặc. Như thân Lô xá na, Giáo chủ pháp hội Hoa nghiêm là Tôn đặc thân, đặc biệt ứng hiện để hóa độ hàng căn cơ đốn ngộ, vĩ đại của Biệt giáo và Viên giáo, cho nên gọi là Tu hiện tôn đặc thân. Trái lại, trong pháp hội Pháp hoa, hàng tiểu cơ thuần thục, trực tiếp cảm thấy Ứng thân cao trượng sáu, có 32 tướng là Tôn đặc thân, gọi là Bất tu hiện tôn đặc thân. [X. Duyma kinh văn sớ Q.2; Quán kinh diệu tông saoQ.4; Tứ minh giáo hành lục Q.4; Độc giáokíQ.7; Sơn gia nghĩa uyển Q.thượng]. (xt. GiáoChủ).
Tôn 尊
[ja] ソン son ||| (1) Honorable, to honor, to venerate (pūjita). (2) A sage or worthy (muni). (3) One who has perfected his/her practice; a buddha. (4) Excellent, superb. => 1. Đáng tôn kính, quý trọng, sùng kính (s: pūjita). 2. Nhà hiền triết hoặc bậc đáng kính (s:muni). 3. Người đã thành tựu công hạnh tu tập của mình; một vị Phật . 4. Ưu tú, cao cả.
Tôn-đà-la Nan-đà 孫陀羅難陀
[ja] ソンタラナンタ Sondarananda ||| Sundarananda; a half brother of Śākyamuni, the second son of King Sudhodhana 淨飯王, and became one of his disciples. His original name was Nanda 難陀, but he was called such because he was married to a woman named Sundarī 孫陀利. 〔法華經 T 262.9.1c26〕 => (s: Sundarananda). Anh em khác mẹ với Thích Ca Mâu Ni, là con thứ hai của vua Tịnh Phạn, rồi trở thành đệ tử của Phật. Ông có tên là Nan-đà, nhưng được gọi như thế vì cưới vợ tên là Tôn-đà-lợi.
tông
Shin (C), ShŪ (J), School.
; (Tôn) Ancestors, ancestral; clan, category, kind; school, sect; siddhànta: summary, main doctrine, syllogism, prposition, conclusion, realization. Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh, what's bred in the bone comes out in the flesh. Like father like son.
; 1) Tổ Tông: Ancestors. 2) Bộ Tộc: Clan. 3) Loại: Class—Kind—Category. 4) Dòng: School—Sects, which are of two kinds: a) Thành lập một dòng riêng, sư đệ truyền nối, như Phật Giáo Tiểu Thừa Ấn Độ có 20 bộ, Phật giáo trung Hoa có 13 bộ, Phật giáo Nhật Bản có 14 bộ: Those founded on the principles having historic continuity, as the twenty sects of Hinayana, the thirteen sects of China, and fourteen sects of Japan. b) Một người theo kiến giải của mình mà bình luận, phê phán tông chỉ của các tông khác—Those arising from an individual interpretation of the general teaching of Buddhism, • Theo lý thuyết của các giáo phán định, như những tông của Ngài Vĩnh Minh: The sub-sects founded by Yung-Ming. • Căn cứ theo giáo thuyết đặc biệt của mình hay của các tông phái đã được thừa nhận mà phán định, như Ngài Hoằng Pháp ở Nhật Bản: Those based on a peculiar interpretation of one of the recognized sects, as the Jodo-Shinshu founded by Shiran-shonin.
; (宗) I. Tông. Phạm:Sìddhànta. Hán âm: Tất đàn đa. Đồng nghĩa: Tông yếu, Tông chỉ. Hàm nghĩa là cái được tôn sùng, thông thường chỉ cho ý chỉ chính, nghĩa thú mà các giáo phái tôn sùng, hoặc điểm then chốt, chỗ qui thú của toàn bộ giáo thuyết trong các kinh luận. Phân biệt và quyết định tông yếu của mỗi bộ kinh, luận gọi là Minhtông, đây là vấn đề quan trọng của các tông phái Phật giáo xưa nay. Chẳng hạn như kinh Duyma lấy Bất khả tư nghì giải thoát làm Tông; kinh Đại Phẩm lấy Không tuệ làm Tông; kinh Thắng Man lấy Nhất thừa làm Tông... Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu, thì ngoại đạo ở Ấnđộ đời xưa có 16 tông như Nhân trung hữu quả...; Pháphoakinhhuyềntán quyển 1 thì qui nạp tất cả 20 bộ phái Tiểu thừa thành 6 tông như: Ngã pháp câu hữu, Hữu pháp vô ngã, Pháp vô khứ lai, Hiện thông giả thực và Chư pháp đãn danh, đồng thời chia Đại thừa thành 2 tông: Thắng nghĩa giai không và Ứng lí viên thực. Hoanghiêmngũgiáo chương quyển 1 cũng chia Đại thừa thành 4 tông: Nhất thiết giai không, Chân đức bất không, Tướng tưởng câu tuyệt và Viên minh cụ đức rồi cộng thêm 6 tông Tiểu thừa nói trong Pháp hoakinhhuyềntán quyển 1 mà thành 10 tông. Tất cả các tông này đều dựa vào nghĩa thú của các kinh luận mà phán lập tên tông. Thông thường các đoàn thể sùng tín cùng một giáo nghĩa được gọi là Tông. Tông đoàn lại chia ra nhiều chi nhánh gọi là Phái. Sự phân biệt giữa Tông đoàn này với các Tông đoàn khác thì gọi là Tông môn, Tông phái. Ngoài ra, giáo nghĩa do một phái chủ trương, gọi là Thú chỉ, Tông chỉ. Tên của tông phái gọi là Tông danh. Lí do đặt Tông danh có nhiều cách, có khi đặt theo kinh, như tông Hoa nghiêm, tông Niết bàn, có khi đặt theo luận, như tông Địa Luận, tông Câu xá, tông Tì đàm, tông Tam luận, tông Thành thực; có trường hợp y cứ vào giáo nghĩa mà đặt, như tông Thiền, tông Tịnh độ, tông Chân ngôn...; có khi theo tên của vị Khai tổ hoặc nơi ngài cư trú mà đặt, như tông Thiên thai, tông Lâm tế, tông Tào động của Trung quốc và tông Nhật liên của Nhật bản. Còn giáo nghĩa do tông phái nói ra thì gọi là Tông nghĩa, Tông thừa; phong khí của một tông, gọi là Tông phong; chỉ thú của một tông, gọi là Tông ý; Tổ sư của một tông, gọi là Tông tổ; môn đệ của một tông, gọi là Tông đồ; nghị luận liên quan đến sự hơn kém, thật giả của tông phái, gọi là Tông luận; công việc thuộc giáo đoàn của tông phái, gọi chung là Tông vụ; nơi coi về tông vụ, gọi là Tông vụ sở, người chủ trì Tông vụ sở, gọi là Tông vụ trưởng, Tông trưởng. Tại Trung quốc từ đời Đường, các vị Tổ sư sáng lập các tông phái để chuyên môn nghiên cứu, học tập, tu hành, như Thiền tông, Tịnh độ tông, Luật tông, Hoa nghiêm tông, Tam luận tông, Pháp tướng tông, Mật tông, Thiên thai tông, gọi là Đại thừa bát tông. Nếu thêm các tông: Tì đàm, Thành thực, Niết bàn, Nhiếp luận và Địa luận thì thành là 13 tông. Ở Nhật bản, vào thời đại Bình an có 8 tông thịnh hành là: Luật, Câu xá, Thành thực, Pháp tướng, Tam luận, Hoa Nghiêm, Thiên thai và Chân ngôn; cho nên sự học hỏi, nghiên cứu về giáo nghĩa của tất cả các tông phái Phật giáo, thông thường được gọi là Bát tông kiêm học(học cả 8 tông); Bát tông nếu thêm Thiền tông nữa thì thành Cửu tông(9 tông), quen gọi là Bát gia cửu tông(8 nhà 9 tông). Bát gia cửu tông này thu tóm tất cả tông phái. Ngoài ra còn có các thuyết 6 tông, 12 tông, 13 tông... [X. PháphoahuyềnnghĩaQ.1 thượng, Q.9 hạ; Hoa nghiêm kinh huyền kí Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1]. (xt. Thập Tam Tông). II. Tông. Phạm: Pakwa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 5 chi tác pháp, 1 trong 3 chi tác pháp, 1 trong 8 Năng lập. Tức là luận đề, mệnh đề, phán đoán của một chủ trương nào đó mà chính mình nêu ra để tham luận, được cấu thành bởiChủ từ(tiền trần)và Tân từ(hậu trần). Chủ từ và tân từ đều gọi là Tông y, 2 phần này hợp làm một mệnh đề, gọi là Tông thể. Chẳng hạn như tín đồ Phật giáo đối với Thanh luận sư mà nêu luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vìnó được tạo tác ra. Trong luận thức trên, âm thanh và vô thường đều là Tông y, 2 phần này hợp chung lại thành âm thanh là vô thường tức là Tông thể, vì nó được tạo ra là Nhân (lí do). Trong đối luận Nhân minh, theo qui định, Tông y đều phải được người lập luận(Lập) và người vấn nạn(Địch) cùng chấp nhận(lập địch cộng hứa); còn Tông thể thì lập địch bất cộng hứa, tức cái mà người lập luận chủ trương thì bị người vấn nạn phản đối. Tông được chia ra làm Chân tông (tông đúng) và Tự tông(tông sai). Chân tông tức là mệnh đề chính xác, Tự tông tức là mệnh đề sai lầm, dường như đúngnhưngthật ra là sai. Tự tông lại được chia làm 3 loại: Tương vi, Bất thành, Cực thành. Các nhà Cổ nhân minh từ ngài Trần na về trước cho rằng: Tông thuộc về Năng lập, ý chỉ cho tác pháp có khả năng xác lập chủ trương của chính mình. Nhưng các nhà Tân nhân minh như ngài Trần na, Thương yết la chủ... thì cho rằng chỉ có Nhân(lí do) vàDụ(ví dụ) mới đáng được gọi là Năng lập, đó là vì Nhân và Dụ có khả năng thành lập Tông, còn bản thân Tông thì vì chưa được đôi bên Lập, Địch cùng chấp nhận, cũng như phải đợi đến nghị luận mới có thể xác lập, cho nên Tông chỉ thuộc Sở lập chứ chẳng phải Năng lập. Đó là chỗ sai khác rất lớn về lập trường quan điểm giữa Tân nhân minh và Cổ nhân minh. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trầnđạitề); Nhân minh học (Xử ngu)]. (xt. TôngY, TôngThể).
tông bà tu mật bồ tát sở tập luận
Ārya-vasumitra-bodhisattva-saṃcita-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
tông bính
(宗炳) Cư sĩ Trung quốc thời Lưu Tống thuộc Nam triều, sống ẩn dật, người ở Niết dương, Nam dương (nay là Trấn bình, huyện Nam dương, tỉnh Hà nam), tự là Thiếu văn. Ông giỏi về thư pháp, hội họa, đánh đàn, thích du lịch. Ông ra làm quan lúc trẻ tuổi. Năm Nghĩa hi thứ 8 (412) về sau, ông vào Lô sơn theo ngài Tuệviễn tu Tịnh độ. Sau, ông từ biệt ngài Tuệviễn về ở ẩn tại Giang lăng, kết giao với ngài Tuệkiên. Ông nghiên cứu tu học Bát nhã không quán, phụng trì tín ngưỡng Quan âm và Diđà. Bấy giờ, có vịsamôn ở Trị thành tên Tuệ lâm, viết Bạch hắc luận, soạn Đạt tính luận, phê phán thuyết Báo ứng của Phật giáo, đồng thời đưa Bạch hắc luận cho Tông Bính để khiêu khích. Cư sĩ Tông Bính liền soạn Minh Phật luận và Nạn bạch hắc luận. Trong đó, Minh Phật luận nói về tinh thần bất diệt, còn Nạn bạch hắc luận thì bác lại thuyết củasamôn Tuệlâm. Tông bính cũng mở rộng cuộc tranh luận qua lại với Hàthừathiên. Các bộ luận trên đây đều được thu gom vào Quảng hoằng minh tập quyển 3, 4. (xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).
tông bản
(宗本) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người ở Vô tích, Thường châu (Vô tích, tỉnh Giang tô), họ Quản, tự là Vô triết.Năm 19 tuổi, sư theo ngài Đạo thăng xuất gia ở chùa Vĩnh an, tại Thừa thiên, Tô châu, tu khổ hạnh 10 năm mới cạo tóc và thụ giới Cụ túc. Ba năm sau, sư bái từ ngài Đạo thăng, đến chùa Cảnh đức tại Trì châu tham yết ngài Thiên y Nghĩa hoài, có chỗ tỉnh ngộ. Ngài Nghĩa hoài đề cử sư mở pháp ở chùa Thụy quang tại Tô châu, pháp tịch ngày thêm hưng thịnh. Sau, sư trụ chùa Tịnh từ, rồi tăng tục ở Tô châu thỉnh sư đến hoằng pháp ở 2 chùa Vạn thọ và Long hoa, có hơn 1.000 người nghe pháp. Năm Nguyên phong thứ 5 (1085), sư được chiếu chỉ của vua Thần tông, làm Tổ thứ nhất Tuệ lâm thiền sát thuộc chùa tướng quốc. Hôm sau sư khai pháp, vua triệu sư đến điện Diên hòa hỏi đạo. Vua Triết tông hạ chiếu ban cho sư hiệu Viên Chiếu Thiền Sư. Niên hiệu Nguyên hựu năm đầu (1086), vì tuổi già, sư xin về quê. Khi sư ra khỏi đô thành, rất đông người đưa tiễn, lúc sắp chia tay, nghe lời sư dạy bảo, ai cũng rơi lệ. Cuối đời, sư trụ chùa Linh quang tại Bình giang, đóng cửa tu thiền, chuyên tâm tịnh nghiệp. Thiền Hoa nghiêm do sư đề xướng, mở bày nghĩa sâu kín của Hoa nghiêm, đạt đến chỗ viên dung mầu nhiệm. Năm Nguyên phù thứ 2 (1099), sư thị tịch, thọ 80 tuổi. Đệ tử có các vị Thiệnbản Đạithông, Kimsơn Thiệnninh, Thủnhất Phápchân, Tu ngung Chân ngộ... Sư có tác phẩm: Qui nguyên trực chỉ tập 2 quyển, Tuệ biện lục (Biệt lục) 1 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyênQ.16; Phật tổ thống kỉQ.27; Thiền lâm bảo huấn Q.14; Thích thị kê cổ lược].
tông bảo
(宗寶) Danh Tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên. Sư từng trụ chùa Phong phan Báo ân quang hiếu ở Thiều châu (nay là huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông). Năm Chí nguyên 28 (1291), sư đối chiếu, so sánh giữa 3 bản Đàn kinh khác nhau, sửa chữa những chỗ sai lầm, bổ sung những chỗ thiếu sót, biên soạn thêm phần cơ duyên đệ tử thỉnh ích, sau đó ấn hành Lụctổ Đạisư Phápbảođàn kinh(Tôngbảo bảnđàn kinh). [X. Lụctổđànkinhbạt]. (xt. Lục Tổ ĐànKinh).
tông chỉ
he main thesis, or ideas, e.g. of a text.
; Motto—The main thesis or ideas.
; (宗旨) Đồng nghĩa: Tông, Tông thú, Tông yếu, Tông thể, Tông chỉ, Tông qui. Chỉ thú chủ yếu của kinh và luận. Nói chung, khi giải thích kinh luận, Phật giáo thường gọi chỉ thú là Tông chỉ hoặc Tông thú. Như về Tông chỉ của kinh Pháp hoa, mục Biện kinh tông chỉ thứ 4 trong Pháp hoa huyền nghĩa của ngài Cát tạng có ghi: Về tông chỉ của Pháp hoa, có luận thuyết của 13 nhà. Trong Thiền tông thì gọi yếu chỉ Thiền là Tông chỉ, cũng gọi là Tông phong, Tông thú, Tông thừa. Lại nữa, giữa Thiền gia và Giáo gia(các giáo phái ngoài Thiền tông) có khác nhau. Thiền gia gọi là Thiền môn hoặc Tông môn, còn Giáo gia thì gọi là Giáo môn. Tông của Tông môn không nương theo kinh giáo, dùng tâm truyền tâm là bản chỉ của Phật pháp; nói theo giáo của Giáo môn thì bản chỉ của Tông này gọi là Tông chỉ. (xt. Tông).
Tông chỉ 宗旨
[ja] シュウシ shūshi ||| (1) The basic meaning, aim, motive or gist. (2) In the Chan school, the source of the Buddha-dharma. Original idea. The reference point of religious practice. (3) The main principle or teaching of a particular sect. => 1. Ý nghĩa căn bản, mục đích, nguyên cớ, thực chất. 2. Theo Thiền tông , nghĩa là cội nguồn của Phật pháp. Ý tưởng cốt yếu. Điểm quan hệ của sự tu tập. 3. Nguyên lý chủ đạo hay yếu chỉ pháp môn của một tông phái.
tông cáp ba
Tsong-Kapa (T).
; Sumatikirti (S). Tsong Kha Pa (Tib). The reformer of the Tibetan church, founder of the Yellow Hat Sect.
Tông Cảnh lục 宗鏡録
[ja] スギョウロク Sūgyō roku ||| Zongjing lu; (Record of the Mirror of Orthodoxy). 100 fasc., compiled by Yánshòu 延壽 in the Song dynasty, completed in 961. A massive collection of portions of sutras, treatises and teaching records from India and China. Also called 心鏡録. Yanshou, primarily of Tiantai background, was a strong believer in the need for an integrated approach to scriptural study and meditation practice, and thus compiled this work in an effort to enhance the integrated approach. T 2016.48.417b-957b. => (c: Zongjing lu; e: Record of the Mirror of Orthodoxy). 100 quyển. Vĩnh Minh Diên Thọ (c: Yánshòu 延壽) biên soạn vào đời Tống, hoàn thành năm 961. Là một tập hợp gồm nhiều kinh, luận và pháp ngữ của Ấn Độ và Trung Hoa. Còn gọi là Tâm cảnh lục. Diên Thọ, hậu duệ chính của tông Thiên Thai, là một người có niềm tin mạnh mẽ vào sự cần thiết phải có sự hợp nhất giữa việc nghiên cứu kinh luận và tu tập thiền định, thế nên sư biên soạn tác phẩm nầy trong nỗ lực đưa đến sự hợp nhất ấy.
tông cốt
Những yếu chỉ cốt lõi của một tông phái—The bones or essential tenets of a sect.
tông cửa
To batter the door down.
tông cửu quá
(宗九過) Cũng gọi: Tự tông cửu quá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chín lỗi của Tông(1 trong 3 chi tác pháp của Nhân minh). 1. Hiện lượng tương vi (Phạm: Pratyakwa-virodha, Pratyakwavirudha): Tức lỗi trái với hiện lượng(sự nhận biết trực tiếp). Tương vi nghĩa là trái ngược, mâu thuẫn, xung đột lẫn nhau. 2. Tỉ lượng tương vi (Phạm: Anumàna-virudha): Tức lỗi trái với tỉ lượng(sự nhận biết suy lí, so sánh). 3. Tự giáo tương vi(Phạm:Svasastravirodha, Àgama-virodha): Tức lỗi trái nhau giữa Tông do người lập luận lập ra và giáo nghĩa mà người ấy noi theo. 4. Thế gian tương vi (Phạm: Lokavirodha): Tức lỗi trái với sự hiểu biết thông thường mà người thế gian cùng thừa nhận. 5. Tự ngữ tương vi(Phạm:Svavacanavirodha) Tức lỗi trái ngược, mâu thuẫn lẫn nhau giữa tiền trần(chủ từ) và hậu trần(tân từ) của Tông do người lập luận lập ra. 6. Năng biệt bất cực thành (Phạm: Vizewaịàprasiddha, Aprasiddha-vizew aịa): Tức lỗi năngbiệt(hậu trần) của Tông không được đối phương chấp nhận. 7. Sở biệt bất cực thành (Phạm: Vizewàprasiddha, Aprasiddha-vizewya): Tức sở biệt(tiền trần) của Tông không được đối phương chấp nhận. 8. Câu bất cực thành (Phạm: Ubhayàprasiddha, Aprasiddhobhaya): Tức lỗi tiền trần và hậu trần đều không được đối phương chấp nhận. 9. Tương phù cực thành (Phạm: Prasiddha-saôbandha): Nhân minh qui định rằng Tông thể(tức sự liên kết giữa chủ từ và tân từ của Tông thành một mệnh đề có ý nghĩa hoàn chỉnh) phải là cái mà cả đôi bên đều không chấp nhận, như thế mới có sự tất yếu tranh luận. Trái lại, nếu lập một sự kiện đã được mọi người thừa nhận thì không còn ý nghĩa đối luận nữa. Trong 9 lỗi nói trên, trừ các lỗi 6, 7, 8 là lỗi của Tông y, các lỗi còn lại đều là lỗi của Tông thể. Năm lỗi trước là lỗi trái với hiện lượng, tỉ lượng, gọi chung là Năm lỗi tương vi; 4 lỗi sau là lỗi về sở biệt, năng biệt, cực thành, bất cực thành, gọi chung là Bốn lỗi bất cực thành. Trong đó, 5 lỗi tương vi là do Mục túc tiên nhân và ngài Trần na đã lập ra từ trước, còn 4 lỗi bất cực thành thì do đệ tử ngài Trần na là luận sư Thương yết na chủ mới lập ra sau. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính líluận sớQ.trung; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.4]. (xt. Nhân Minh).
tông cực
Ultimate or fundamental principles.
; Giáo pháp căn bản—Ultimate or fundamental principles.
tông danh nghĩa thú
(宗名義趣) Tìm hiểu về ý nghĩa tông chỉ và danh xưng. Các tông đều có tên gọi và nghĩa thú. Như tông Niết bàn, tông Hoa nghiêm... đều y cứ vào kinh điển mà đặt tên tông; còn các tông như Tì đàm, Thành thực, Địa luận, Nhiếp luận, Tam luận... đều y cứ vào luận điển mà đặt tên; các tông như Thiền, Luật, Pháp tướng, Chân ngôn... thì y cứ vào pháp nghĩa mình chủ trương mà đặt tên; tông Thiên thai thì y cứ vào nơi vị Tông tổ truyền giáo mà đặt tên; tông Tịnh độ thì y cứ vào cõi nước mong được sinh đến mà đặt tên. Trong Thiền tông thì các tông phái như Lâm tế, Tào động, Hoàng bá... đều y cứ vào nơi vị Tông tổ hoằng pháp mà đặt tên. Dung thông niệm Phật tông, Thời tông, Chân tông... của Nhật bản, đều y cứ vào giáo nghĩa mà đặt tên. Nếu y cứ vào kinh luận hoặc vị Tổ hoằng pháp mà đặt tên tông thì ý nghĩa rõ ràng, thường không cần bàn thảo thêm nữa; nhưng, nếu y cứ vào giáo nghĩa mà đặt tên tông thì có khi cùng một giáo nghĩa mà nảy sinh tranh luận, mà ngay cả tên gọi cũng khó phân biệt rõ ràng, cho nên, trong trường hợp này, cần phải tìm hiểu lại tên tông và ý nghĩa của nó.
tông di phẩm
(宗异品) Cũng gọi: Dị phẩm (Phạm: Vipakwa). Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho phẩm loạikhácvới Tông(mệnh đề) trong luận thức của Nhân minh, là 1 trong các điều kiện cần phải có của Dị dụ (tức ví dụ chứng minh được hiển bày từ mặt trái) trong luận thức. Dị dụ có công năng làm cho ý nghĩa của Tông càng thêm rõ ràng, khiến cho đối phương không còn nói quanh co được nữa. Như luận thức sau đây: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do tạo tác mà có ra. Đồng dụ:Những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường, như cái bình... Dị dụ: Những gì không phải là vô thường thì đều không phải do sự tạo tác mà có ra, ví như hư không. Trong luận thức trên, ta thấy Đồng dụ phải dùng đồng phẩm của Tông để ví dụ; còn Dị dụ thì phải đem Dị phẩm của Tông ra để ví dụ. [X. Nhân minh chính lí môn luận]. (xt. Cộng Dị Phẩm, Dị Phẩm).
tông diễn chân dung
Thiền Sư Tông Diễn Chân Dung (1640-1711)—Zen Master Tông Diễn Chân Dung—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phú Quân, Cẩm Giang, Bắc Việt. Ngài mồ côi cha từ thời thơ ấu. Năm 12 tuổi, ngài xuất gia. Về sau ngài trở về độ bà mẹ già bằng cách cho bà mẹ ở chùa công phu tu tập đến khi qua đời. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1711—A Vietnamese Zen Master from Phú Quân, Cẩm Giang, North Vietnam. He lost his father when he was very young. When he was twelve years old, he left home and became a monk. Later, he returned to his home town to save his mother by allowing her to stay in the temple to cultivate until the day she passed away. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam.
Tông Du Tự
(宗猷寺, Sōyū-ji): ngôi tự viện của Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu núi là Chơn Long Sơn (眞龍山); hiện tọa lạc tại số 218 Sōyūji-chō (宗猷寺町), Takayama-shi (高山市), Gifu-ken (岐阜縣). Vào năm 1632 (Khoan Vĩnh [寛永] 9), hai anh em Kim Sum Trọng Lại (金森重賴, Kanamori Shigeyori) và Kim Sum Trọng Thắng (金森重勝, Kanamori Shigekatsu) phát tâm kiến lập ngôi bảo sát này để hồi hướng công đức cầu nguyện cho thân phụ là Kim Sum Khả Trọng (金森可重, Kanamori Arishige) được siêu độ và cung thỉnh Thiền Sư Nam Tẩu Tông An (南叟宗安) làm Tổ khai sơn. Ban đầu, chùa có tên là Tân An Quốc Tự (新安國寺); nhưng sau đó được đổi thành Chơn Long Sơn Tông Du Tự (眞龍山宗猷寺) do kết hợp hai Pháp Hiệu của Trọng Lại là Chơn Long Viện Điện (眞龍院殿) và của Trọng Thắng là Huy Vân Tông Dụ Cư Sĩ (徽雲宗猷居士) mà thành.
tông duệ
(宗睿) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Chân ngôn, người Kinh đô (Kyoto). Lúc tuổi trẻ, sư theo học các ngài Nghĩa chân, Viên trân ở núi Tỉ duệ, sau theo ngài Chân thiệu chùa Thiền lâm học Mật giáo. Năm 860 (có thuyết nói năm 859), sư theo Thân vương Chân như đến Trung quốc (đời Đường), tham yết A xà lê Huyền khánh ở Biện châu, thụ trì Kim cương giới quán đính. Ít lâu sau, sư đến thăm núi Thiên thai. Trong thời gian du học, sư lần lượt tham yết các nhà Chân ngôn, được truyền trao yếu chỉ sâu xa của Mật giáo.Sau khi trở về Nhật bản, Sư trở thành 1 trong 8 nhà đến Trung quốc, rất được Thiên hoàng Thành hòa kính tin, các kinh sách, pháp khí... do sư thỉnh về được cất giữ trong tàng kinh của Đông tự. Sau, sư được bổ nhiệm làm Trưởng giả Đông tự. Năm 884,sư thị tịch, thọ 76 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Thai tạng giới niệm tụng thứ đệ, Hậu nhập đường truyện. [X. Nguyên hanh thích thư Q.3, 24; Bản triều cao tăng truyệnQ.7].
tông dụng
Principles and their practice, or application.
; Nguyên tắc và thực hành—Principles and their practices, or application.
tông gia
See Thiện Đạo (2).
; (宗家) Lời của Tịnh độ chân tông Nhật bản tôn xưng cao tăng Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ đời Đường, Trung quốc. Vìsư là bậc nhất trong các vị Tổ sư của tông này nên được gọi là Tông gia. Ngoài ra, tông Chân ngôn Nhậtbản cũng gọi ngài Không hải, Tổ khai sáng tông này, là Tông gia và gọi Tamtạng Thiệnvôúy đời Đường là Sớ gia.(xt. Thiện Đạo).
tông giám
(宗鑒) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống. Thuở nhỏ, sư học Nho, giỏi văn chương. Sau khi xuất gia,sư tu tập giáo pháp Tam quán của tông Thiên thai. Sư trụ ở Lương chử. Sư có soạn bộ Thích môn chính thống 8 quyển, phỏng theo thể lệ củaSử kí,Hán thư chia nội dung sách làm 5 thiên mục: Bản kỉ, Thế gia, Chư chí, Liệt truyện và Tải kí. Cứ theo Thích thị nghi niên lục quyển 8 vàTục chỉ nguyệt lục quyển 3thì ngài Tổ Giám chính là Tông Giám, vị tăng tông Lâmtế, người ở Hoài an (thuộc Sát cáp nhĩ), họ Từ, y vào ngài Chung sơnchân xuất gia, không bao lâu, đến nương theo ngài Hạtđườngviễn. Sau,sư trở về đất Mân, tham lễ Thiền sư Càn nguyêndĩnh, được khai ngộ.Sưtừng trụ chùa Tư phúc và sau đến trụ ở Cổ sơn 7 năm. Năm Khai hi thứ 2 (1206) đời Tống, sư thị tịch. [X. Tục truyền đăng lụcQ.33].
Tông Giám Pháp Lâm
(宗鑑法林, Shūkanhōrin): 72 quyển, do Ca Lăng Tánh Âm (迦陵性音) nhà Thanh biên soạn, san hành vào năm thứ 53 (1714) niên hiệu Khang Hy (康熙). Vào mùa xuân năm thứ 51 (1712) niên hiệu Khang Hy, Tập Vân Đường Ca Lăng Tánh Âm (集雲堂迦陵性音)—pháp từ của Mộng Am Cách (夢庵格)—bắt đầu khởi bút biên tập bộ này tại Pháp Lâm Tự (法林寺) ở Tắc Bắc (塞北), đến mùa hè năm thứ 53 cùng niên hiệu trên thì hoàn thành bản khắc tại Tông Giám Đường (宗鑑堂) của Bá Lâm Viện (柏林院) trên kinh đô, cho nên tác phẩm này có tên gọi là Tông Giám Pháp Lâm. Nó thâu lục những Cổ Tắc Công Án, niêm tụng của từ trên đức Thích Tôn cho đến 37 đời thuộc môn hạ của Đại Giám (大鑑).
tông giám pháp lâm
(宗鑒法林) Tác phẩm, 72 quyển, do ngài Ca lăng Tính âm biên tập vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 116. Nội dung sách này sưu tập, thu chép một số lớn các cổ tắc, công án, niêm tụng của các Thiền sư nhiều đời, gồm 2720 điều, được sắp xếp theo thứ tự như sau: Thếtôn, các kinh, Thánh hiền ứng hóa, Tổ sư Tây thiên, Tổ sư Đông độ, các tổ bàng hệ, các vị nối pháp không được rõ, từ đời thứ nhất thuộc pháp hệ ngài Tuệnăng đến đời thứ 37 thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên và Namnhạc, các vị tôn túc không rõ việc nối pháp... Vì vào mùa Xuân năm Khang hi 51 (1712) thì nhóm họp soạn sách ở chùa Pháp lâm tại Tái bắc, đến mùa Hạ năm Khang hi53 (1714) thì hoàn thành việc khắc bản ở Tông giám đường thuộc viện Bách lâm tạiKinh đô, cho nên lấy tựa đề là Tông giám pháp lâm.
tông giáo
The teaching of the sect.
; (宗教) Chỉ cho tông và giáo. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, có thuyết Phân giáo khai tông (chia giáo mở tông), tức là tách 2 chữ Tông Giáo riêng ra để giải thích. Nghĩa là giáo pháp đức Phật nói ra vì thích ứng với căn cơ các đối tượng được giáo hóa, cho nên gọi là Giáo; còn ý chỉ căn bản trong giáo thì gọi là Tông. Thông thường, Tông là niềm tin chủ quan, cá nhân, còn Giáo thì có nghĩa giáo thuyết khách quan. Lại giáo chỉ của một tông cũng gọi là Tông giáo. Ngoài ra, có khi cho Tông là Giáo vô ngôn, mà Giáo là Tông hữu ngôn; hoặc cho Tông là Tông môn, Giáo là Giáo môn. Tức cho rằng Tông môn là chỉ cho Thiền môn truyền riêng ngoài giáo, vì Thiền là Giáo lìa lời nói, dùng tâm truyền tâm; còn Giáo môn thì chỉ cho Giáo tông nương theo ngôn giáo của các kinh luận Đại, Tiểu thừa mà được thành lập, như các tông Thiên thai, Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm... đều thuộc Giáo tông, đối lại với Thiền gia thì Giáo tông được gọi là Giáo gia. Cũng có khi cho Tông là chỉ cho 8 tông do tông Pháp tướng nói ra, hoặc 10 tông do tông Hoa nghiêm nói ra; lại có khi cho Giáo là chỉ cho 4 giáo hoặc 8 giáo do tông Thiên thai nói, hoặc 5 giáo do tông Hoa Nghiêm phán lập...; cũng có trường hợp cho Giáo là chỉ cho tất cả kinh giáo trong 3 tạng 12 phần giáo. Do đó mà biết danh từ Tông giáo, có thể nói, bao hàm ý nghĩa toàn thể Phật giáo. Từ sau khi tư tưởng học thuật phương Tây truyền sang các nước phương Đông thì thông thường đều dùng danh từ Tông giáo mà Phật giáo quen dùng để dịch chữ Religion trong các ngôn ngữ phương Tây như Anh, Đức, Pháp... Religion bắt nguồn từ tiếng La-tinhReligio, về ngữ nguyên của từ này có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng Religiolà do động từ Ligare(kết) mà ra, hàm ý thần và người kết hợp; hoặc do động từ Legare(chỉnh lí) biến hóa mà ra, biểu thị ý nghĩa nghiêm túc và nghi lễ. Ý nghĩa nguyên thủy nhất của từReligiolà chỉ cho tình cảm sợ hãi, bất an đối với sự vật siêu tự nhiên; về sau từ ngữ này trở thành từ ngữ chỉ cho những sự vật siêu tự nhiên, là những đối tượng được yêu mến, rồi dần dần biểu hiện sự yêu mến ấy ra bên ngoài thành các nghi lễ. Từ đó,Religiolại tiến thêm một bước chỉ cho hệ thống tín ngưỡng, giáo nghĩa, nghi lễ của đoàn thể hoặc tổ chức nào đó. Cũng tức là loài người đối với năng lực thần bí hoặc hiện tượng có uy lực siêu nhân đã gán cho chúng một ý nghĩa, coi đó là chủ thể của lí tưởng tuyệt đối, đồng thời phát sinh ý niệm sợ hãi, thiêng liêng, tin cậy, về nương, tôn sùng... rồi tiến xa hơn nữa là thực hành các nghi thức như cúng tế, cầu đảo, lễ bái..., biến giới luật, tín điều thành những khuôn phép sinh hoạt hàng ngày để mong an tâm lập mệnh và hướng thượng phát triển nhân cách hoàn mĩ. Về các tông giáo đã được thành lập thì có rất nhiều chủng loại, hình thái cũng khác nhau, có những tông giáo hiện còn, cũng có các tông giáo đã suy vi, cho đến tuyệt tích. Về hình thái tông giáo có thể chia làm tông giáo tâm lí cá nhân và tông giáo xã hội tập đoàn. Tông giáo tâm lí cá nhân chỉ cho niềm tin và sự thể nghiệm tông giáo riêng của từng người, bất luận là người ấy có tham dự một tổ chức tông giáo đặc biệt nhất định nào hay không, hoặc có hình thái tín ngưỡng đặc biệt nhất định nào hay không. Nếu do tâm tín ngưỡng chí thành và sự thể nghiệm tha thiết của cá nhân mà tích cực hoằng truyền cho người khác, tập hợp nhiều người có cùng tín ngưỡng lại thì liền trở thành đoàn thể tông giáo, sinh ra tông giáo mới, người chủ xướng được gọi là Tổ khai sáng của tông giáo ấy. Còn nếu tận lực vận động đổi mới tông giáo vốn đã có từ trước thì gọi là Nhà cải cách. Về tông giáo xã hội đoàn thể, nếu theo lịch sử phát đạt của tông giáo mà phân loại thì đại khái có thể chia làm 3 loại là: Tông giáo nguyên thủy, Tông giáo quốc dân và Tông giáo thế giới. 1. Tông giáo nguyên thủy (cũng gọi Tông giáo bộ tộc): Chỉ chotông giáo thời đại thái cổ vàtông giáo xã hội chưa khai hóa, sùng bái tự nhiên, sùng bái tinh linh, sùng bái đồ đằng, đồng bóng... 2. Tông giáo quốc dân(cũng gọi Tông giáo dân tộc): Chỉ cho tông giáo được thực hành ở trong một khu vực nhất định như bộ tộc, dân tộc, quốc gia..., như Thần đạo của Nhật bản, Ấn độ giáo của Ấn độ, Do thái giáo của Israel, Đạo giáo, Nho giáo của Trung quốc... Phần nhiều có quan hệ mật thiết với phong tục, tập quán, chế độ xã hội ở khu vực ấy chứ chưa hẳn đã có khai tổ Tông giáo hoặc kinh điển y cứ, như Thần đạo của Nhật bản không có vị Giáo tổ nhất định nào mà chỉ lấy tông giáo nguyên thủy làm cơ sở và căn cứ vào tổ chức quốc gia mà phát triển. 3. Tông giáo thế giới:Như Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo... Loại hình tông giáo này phần nhiều tùy theo ý chí tự do cá nhân tiếp nhận tín ngưỡng và thuận theo tín điều, nghi lễ, giới luật... trong tổ chức. Thông thường, các tông giáo thế giới này do vị Khai tổ đặc biệt, nhất định sáng lập, đồng thời lấy hành tích và giáo thuyết của Khai tổ làm trung tâm để hình thành giáo lí và kinh điển của tông giáo này. Giáo đoàn phần nhiều dựa trên lập trường siêu dân tộc, quốc gia mà được thành lập, cho nên giáo pháp của các tông giáo này là lấy toàn thể nhân loại(Phật giáo thì lấy toàn thể chúng sinh) làm trung tâm, có tích cách thế giới tính và phổ biến tính. Tuy nhiên, tông giáo có thế giới tính mặc dù lấy toàn thể nhân loại làm trung tâm, nhưng trên thực tế thường lấy việc cứu giúp cá nhân làm nền tảng, cho nên có đặc tính tìm tòi tâm linh bên trong và chú trọng sự tu hành thực tiễn của cá nhân. Trong các tông giáo thế giới, đặc tính này hiện rõ nét nhất ở Phật giáo.Nếu y cứ theo đối tượng tín ngưỡng khác nhau màphân loại thì đại khái ta có thể chia Tông giáo làm 4loại như sau: 1. Đa thần giáo (Polytheism): Tức sùng bái nhiều dạng thần linh, thường là loại tín ngưỡng tự nhiên hình thành, tồn tại ở thời đại nguyên thủy chưa khai hóa. Theo với đà phát triển về nhân trí, đối với sự sùng bái tự nhiên, dần dần gán cho một ý nghĩa, lí tưởng, đối tượng sùng bái trở thành những thần linh cao cấp, được tin thờ song song với tổ tiên và các bậc anh hùng. Hoặc có khi từ Nhất thần giáo phát triển thành Đa thần giáo, tức đối với một vị thần có tính cách tối cao, lí tưởng hóa tính cách ấy thành những phân thân quyền hóa của vị thần tối cao để sùng bái một cách cá biệt. Như vị Giáo tổ của Phật giáo là đức Phật, về mặt trí tuệ của Ngài được lí tưởng hóa mà quyền hóa thành bồ tát Văn thù, bồ tát Thế chí..., về mặt từ bi của Ngài được lí tưởng hóa mà quyền hóa thành bồ tát Quán thế âm, còn về mặt hạnh nguyện thực tiễn của Ngài thì được lí tưởng hóa mà quyền hóa thành bồ tát Phổ hiền. Riêng bồ tát Quán thế âm vì cứu độ chúng sinh mà tùy cơ hóa hiện 33 thân, như Thánh quán âm, Thiên thủ thiên nhãn quán âm, Bất không quyên sách quán âm, Liễu diệp quán âm, Thủy nguyệt quán âm... 2. Nhất thần giáo (Monotheism): Từ sự sùng bái Đa thần giáo tự nhiên diễn tiến dần đến sự sùng bái một vị thần duy nhất có tính tiêu biểu cho cácthần. Như Do thái giáo, Cơđốc giáo, Hồi giáo đều là tín ngưỡng Nhất thần giáo điển hình. Còn Ấn độ giáo tuy có tính cách tín ngưỡng Đa thần, nhưng trong các thần tôn sùng một vị thần tối cao, ưu việt hơn các thần khác, là đại biểu của các thần, có uy quyền tuyệt đối, đây gọi là Đơn nhất thần giáo (Henotheism). Như phái Thấp bà, tôn Thấp bà (Phạm:Ziva) là thần tối cao duy nhất. Nhất thần giáo cũng có thể được gọi là Giao thế thần giáo (Kathenotheism), như Phạm thiên, Tìthấpnô, Thấp bà là 3 vị thần cùng được tôn thờ trong một tông phái nhưng có các địa vị khác nhau. Chẳng hạn như thần Thấp bà được phái Thấp bà sùng bái như vị thần tối cao, còn Phạm thiên và Tìthấpnô chỉ là thứ yếu, tùy thuộc thần Thấp bà. 3. Phiếm thần luận (Pantheism), cũng gọi Vạn hữu thần giáo. Đa thần giáo và Nhất thần giáo do được tin thờ một cách thực tế nên thuộc loại tông giáo có tính cách thực tiễn, so sánh với các tông giáo này thì Phiếm thần luận thuộc loại tông giáo lí luận, vì có tính chất nghiêng nặng về phương diện giải thích rõ triết học lí luận, cho rằng trong nội bộ các hiện tượng vũ trụ có cái nguyên lí phép tắc chi phối hiện tượng giới, rồi thần cách hóa nguyên lí phép tắc này mà chủ trương Đạo lí thần trùm khắp các hiện tượng trong vũ trụ. Phạm (Phạm: Brahman) trong Áo nghĩa thư của Ấn độ tức thuộc về Đạo lí thần. Phạm tồn tại trong Ngã cá nhân (Phạm:Àtman), đây là nền tảng của lí tưởng Phạm ngã đồng nhất tối cao.4. Vô thần luận(Atheism), cũng gọi Vô thần giáo. Chỉ cho loại tông giáo không lập thần làm đối tượng tín ngưỡng. Cơđốc giáo cho rằngnếu không lập thần kì thì không thành tông giáo. Các học giả phương Tây nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy, cho rằngđức Phật không lễ bái các thần Phạm thiên, Đếthích... trái lại, Phạmthiên, Đế thích hướng Phật lễ bái, đồng thời lắng nghe Phật pháp, cho nên các học giả này chủ trương Phật giáo nguyên thủy thuộc về Vô thần luận. Đối với đời sống nhân loại, tông giáo có nhiều công năng: 1. Công năng nguyên thủy của tông giáo là nhằm diệt trừ khổ não, bất an, mang lại hi vọng và an vui, chủ yếu là công dụng về mặt tình cảm. 2. Về phương diện ý chí thiện ác, năng lực tông giáo có những giá trị tích cực, như giúp cứu vãn thế đạo nhân tâm, xác lập luân lí đạo đức, điều chỉnh dư luận, phát động xã hội phản tỉnh... 3. Quan hệ với tri thức, theo với đà phát triển trí năng của nhân loại, người đời dần dần bài bác tín ngưỡng tông giáo phản khoa học, phản lí tính, họ cho rằng trong tông giáo phần nhiều bao hàm sắc thái mê tín, nên cần phải sửa đổi hoặc loại bỏ. Trong Phật pháp bao hàm 3 yếu tố lớn: 1. Nhân: Hợp lí tính phù hợp với nhân quả hoặc quan hệ duyên khởi. 2. Đức:Luân lí tính phù hợp với chính kiến thiện ác. 3. Giáo:Tông giáo tính phù hợp về mặt tín ngưỡng với việc lợi mình lợi người. Như vậy, có thể nói, Phật giáo bao hàm 3 phương diện lớn là Trí(nhân), Tình(đức) và Ý(giáo) thuộc sinh mệnh tri thức của nhân loại.
tông giáo luật chư gia diễn phái
(宗教律諸家演派) Cũng gọi Tông giáo luật chư tông diễn phái.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thủ nhất Khôngthành biên soạn lại vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này giới thiệu một cách vắn tắt về tông chỉ đại yếu và sự truyền thừa của các tông phái Phật giáo Trung quốc. Sách này không phân khoa rõ ràng, có thể chia làm 9 tông: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn, Pháp nhãn, Thánh thọ, Thiên thai, Hoa nghiêm, Nam sơn luật và phụ lục 10 điều. [X. Kim lăng cổ tích đồ khảo; Phật học thư mục biểu].
tông hiểu
(宗曉) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Nam Tống, người ở Tứ Minh (nay là huyện Ngân, tỉnh Chiết giang), họ Vương, tự Đạt tiên, hiệu là Thạch Chi. Sư thụ giới Cụ túc năm 18 tuổi. Đầu tiên, sư theo học ngài Cụ am Cường Công sau sư tham yết ngài Vân am Hồng Công. Không bao lâu, sư trụ trì chùa Xương Quốc Thúy La ở Tứ minh, người đến tham học rất đông. Sau sư lui về ẩn tại Tây Sơn tụng kinh Pháp hoa làm thời khóa hàng ngày. Sau sư đi khắp các chùa ở vùng Chiết giang, Giang Tây, suốt 3 năm mới trở về. Sư từng ở địa vị Đệ nhất tọa chùa Diên Khánh, ngoài những giờ diễn giảng, sư biên soạn Pháp Hoa hiển ứng lục, Lạc bang văn loại, Nho Thích hiếu kỉ, Minh lương sùng thích chí, đồng thời có ghi chú yếu chỉ. Sư còn chích máu viết kinh Pháp hoa và dùng mực viết kinh Hoa nghiêm, Bảo tích, Bát nhã, Niết bàn... Sư cũng viết Chân Tông Hoàng đế ngự chú Tứ thập nhị chương kinh cho cư sĩ Trương Tôn Nghĩa ở Trung Lâm. Sư hoằng truyền giáo quán hơn 40 năm, về già càng chuyên tâm tu học.Năm Gia định thứ 7 (1214), sư thị tịch, thọ 64 tuổi, pháp lạp 47. Về tác phẩm của sư, ngoài các sách nói trên còn có: Lạc bang di cảo 2 quyển, Tứ minh giáo hành lục 7 quyển, Tam giáo xuất hưng tụng chú, Bảo vân chân tổ tập, Kim quang minh kinh chiếu giải 2 quyển, Thí thực thông giám, Minh giáo biên. TÔNG HỌC Đồng nghĩa: Tông thừa. Xưa nay, Tông thừa có bao hàm ý nghĩa Tông của tông phái mình (tự tông), Tông nghĩa hoặc kinh sách của tự tông, đặt nặng việc giải thích giáo nghĩa kinh điển. Tông học hiện nay là Tông thừa theo nghĩa rộng, ứng dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại, chú trọng điểm quán xuyên của các hệ thống lịch sử giáo lí, lịch sử giáo nghĩa... khiến cho ý nghĩa và giá trị của tín ngưỡng truyền thống càng được xác nhận rõ hơn. Ngoài ra, tu tập học thuyết của tông phái mình cũng gọi là Tông học.
tông học
The study or teaching of a sect.
; Học thuyết hay giáo lý của một tông phái—The study or teaching of a sect.
tông khách ba
Sumatikirti (skt)—Người cải cách hệ thống Chùa bên Tây Tạng, vị sáng lập ra tông phái áo vàng (Hoàng Giáo). Theo Tây Vực Tân Ký thì Tông Khách Ba sanh năm 1417 tại Tân Ninh, tỉnh Cam Túc, tông phái của ông được thành lập dựa trên sự tinh chuyên giữ giới, để đối lại với sự biếng nhác của Hồng Giáo (phái áo đỏ). Người ta cho rằng Tông Khách Ba là hậu thân của Văn Thù; người khác lại cho rằng ông là hậu thân của Đức Phật A Di Đà—The reformer of the Tbetan church, founder of the Yellow Sect. According to the New Record of the Western Lands, Sumatikirti was born in 1417 in Hsin-Ning, Kan-Su. His sect was founded on strict discipline, as opposed to the lax practices of the Red Sect. He is considered to be an incarnation of Manjusri; others say of Amitabha.
; (宗喀巴) Tạng: Tsoí-kha-pa. Nhà cải cách Phật giáo Tây tạng sống vào thế kỷ XIV, XV, cũng là Tổ khai sáng của phái Hoàng mạo (phái đội mũ màu vàng) thuộc Lạt ma giáo, người ở vùng Tông khách tại Tây ninh thuộc tỉnh Thanh hải. Sư vốn có tên là Hiền tuệ xứng cát tường, pháp danh là La bốc tạng trát khắc ba,La tang trát ba (Tạng: Lozan-tak-pa), còn Tông khách ba là do người đời sau tôn xưng theo địa danh, nơi sinh của sư. Lúc sư lên 3, Pháp vương Cát mã ba du hí kim cương từ Tây tạng đến Nội địa thấy sư có dung mạo phi phàm, liền cho sư thụ Cận sự giới, ban hiệu là Khánh hỉ tạng. Năm 7 tuổi, sư y chỉ vào ngài Đôn châu nhân khâm thụ giới Sa di. Sư tu học pháp Liên hoa bộ ở chùa Tát ca tại Trát thập luân bố(Nhật khách tắc), lãnh hội hết ý nghĩa sâu kín. Sư lại đến Tuyết sơn tu khổ hạnh trong mấy năm, người Tây tạng tôn sư là Giáp lặc ngõa. Rồi sư tu học giáo nghĩa của phái Ca đương (Tạng: Bka#-gdam-pa), đồng thời đi tu học các nơi. Bấy giờ, phái Tát ca (Tạng: Sa-skya-pa) đã bị rơi vào tà giáo chú pháp của phái Hồng mạo(phái đội mũ đỏ), sư rất thương cảm nên phát nguyện cải cách. Năm 36 tuổi, Sư đề xướng chủ nghĩa nghiêm thủ độc thân theo đúng giới luật của Phật giáo, sáng lập giáo phái Đâu suất (Phạm:Dga#- ldan), sau đổi thành phái Ngạch nhĩ đức (Tạng:Dge-lugs-pa) nghĩa là phái Đức hạnh. Người đương thời thấy tình trạng đồi bại của phái Hồng mạo nên rất ngưỡng mộ giáo đoàn của sư. Nhưng cũng vì thế mà sư bị các nơi áp bức nên phải ẩn trốn trong núi. Sư đề xướng thuyết dung hợp giữa Bát nhã trung quán và Bí mật kim cương thừa, giáo lí củasư thu hút phái Ca đương từ ngài Ađềsa về sau và thực hành phương thức khất thực, tọa cụ, phục trang, giới luật của Phật giáo nguyên thủy, đồng thời đội mũ màu vàng để phân biệt với phái đội mũ đen (Tạng: Shwa-nag) của Bổng giáo và phái đội mũ đỏ (Tạng: Shwa-dwar) đã có từ xưa đến nay, cho nên hệ phái của sư được gọi là Hoàng mạo phái (Tạng: Shwaser), Hoàng y phái (phái áo vàng). Giới luật và đức hạnh của sư lan tỏa trên toàn cõi Tây tạng, phạm vi thế lực cũng dần dần được mở rộng và trở thành nguồn gốc của Đạt lại và Ban thiền Lạt ma đời sau. Sư sáng lập chùa Cam đan ở ngoại ô thủ đô Lhasa, là Bản sơn của phái Hoàng mạo. Sau đó,sư sai đệ tử xây chùa Sắc lạp và chùa Biệt bạng ở gần Lhasa, ở các chùa này, Sư chia ra giáo hóa, chỉ trong vòng mấy năm đã giành được tòa pháp của Hồng y Lạt ma. Tín đồ đều coi sư là hóa thân của Phật Adiđà hoặc của bồ tát Văn thù và lại càng thêm sùng kính. Thông thường sư cũng được mọi người tôn là Đệ Nhị Năng Nhân. Các đệ tử nổi tiếng của sư có: Đạt nhĩ ma nhân khâm (Tạng: Dar-ma rin-chen, 1364-1432), Căn đôn châu ba (Tạng: Dge-#dun-grub-pa, 1390-1475), Khải châu (Tạng: Mkhas-grub-rje, 1385-1435)... Trong đó, 2 vị Căn đôn châu ba và Khải châu được sư truyền đại pháp. Ngài Căn đôn châu ba thì mở rộng hệ thống truyền thừa Đạt lại lạt ma, còn ngài Khải ba thì mở rộng hệ thống truyền thừa Ban thiền lạt ma. Đạt lại và Ban thiền đời đời chuyển sinh để hóa độ chúng sinh. Sư có rất nhiều tác phẩm, đến hơn 200 loại lớn nhỏ, bao gồm các sách chú thích về Hiển giáo và Mật giáo, văn lễ tán, văn kì đảo, sách giáo dục, thư hàn, giác thư, bí mật nghi quĩ, thành tựu pháp... được biên soạn thành Tông Khách Ba Toàn Thư (Tạng:Gsuís #bum). Trong đó, có 2 tác phẩm quan trọng nhất là: Bồ đề đạo thứ đệ luận (Tạng: Byan-chub-lam-rim) nói khái quát về giáo nghĩa của phái Thậm thâm quán (Tạng: Zad-mo lta-ba), phái Quảng đại hành (Tạng: Rgya-chen Spyod-pa) thuộc Hiển giáo và Bí mật đạo thứ đệ luận (Tạng:Síag-rim, cũng gọi Mật tông đạo thứ luận) nói khái quát về giáo nghĩa của phái Gia trì kì đảo (Tạng: Ĩamlenbyin-rlabs) thuộc Mật giáo. Trong 2 bộ luận trên, ngài Tông khách ba nói rõ về thứ tự tu hành của Hiển tông và Mật tông, đồng thời nhấn mạnh chủ trương quan trọng là bất luận Hiển hay Mật đều phải giữ gìn giới luật. Hai tác phẩm này đều có bản quảng và lược. Bồ đề đạo thứ đệ quảng luận gần đây đã được ngài Pháp tôn dịch ra Trung văn(bản in chụp của nhà xuất bản Tân văn phong), Lược luận phần lớn cũng đã được ngài Đại dũng dịch và ngài Pháp tôn bổ túc(bản in chụp của Ấn kinh xứ ở Đài Loan).Nhìn chung, giá trị tư tưởng then chốt của sư là ở chỗ liên kết Phật giáo Đại thừa ở thời kì cuối tại Ấn độ với Phật giáo Tây Tạng. Giáo chỉ của phái Hoàng y do sư truyền thực ra đã dựa vào Liên hoa hộ pháp của Adiđà Như lai do ngài Long mãnh truyền, đều tôn thờ Minh phi bộ hộ của Bản tôn bộ mẫu, giống như phái Hồng y, mà pháp tu nghiệm cũng không khác với phái Hồng y. Chỉ vì chỉnh đốn phái Hồng y và chú trọng về Cam châu nhĩ nên giữ nghiêm giới luật, thăng hoa đức hạnh, lấy việc thành tựu sự trong sáng của Liên hoa bộ một cách chân chính làm yếu chỉ căn bản, còn giáo qui của sư thì lấy sự hộ trì tâm bồ đề làm chính. Ngay trong phái Hoàng y cũng có 2 phái lớn và đều tôn sùng đức hạnh giới luật, chân thực tu nghiệm, hình thức lí thú của 2 phái đều không khác nhau. Tông khách ba thị tịch vào năm Vĩnh lạc 15 (1478) đời Minh, thọ 63 tuổi.Các đệ tử của sư lấy ngày sư thị tịch 25 tháng 10 làm ngày Tông giáo. Nhưng về năm sinh và năm mất của sư có nhiều thuyết khác nhau, như có thuyết cho rằng sư sinh năm 1355 và thị tịch năm 1417; lại có thuyết chủ trương sư sinh năm 1357 và thị tịch năm 1419... [X. Tây tạng Phật giáo lược sử (Lí dực chước); Lạt ma giáo giáo lí khái thuyết (Tự bản uyển nhã); Tây tạng Phật giáo nghiên cứu (Trường vĩ nhã nhân); Grammar of the Tibetan Language, by A.Csoma; The Buddhism in Tibet, by E.Schlagintweit; The Buddhism of Tibet, by L.A.Waddell; Tibetan English Dictionary, by Candra Das; Tibetan Temple Paintings, by W.J.G.Van Meurs]. (xt. Thậm Thâm Quán).
tông kiên
(宗堅) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đầu đời Thanh, hiệu Bất lân, là đệ tử nối pháp của ngài Dã trúc Phúc tuệ ở Tung sơn, phủ Vân Nam (nay là huyện Côn minh, tỉnh Vân Nam). Năm Khang Hi thứ 6 (1667), sư trụ ở viện Di lặc Đâu suất. Năm Khang Hi thứ 12 (1673), sư vâng lời thầy đến trụ ở thiền viện Tung sơn.Sư có tác phẩm: Đâu suất Bất Lân Kiên thiền sư ngữ lục 3 quyển.
Tông Kính Lục
(宗鏡錄, Sugyōroku): 100 quyển, do Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) trước tác. Thể theo lời thỉnh cầu của Trung Ý Vương (忠懿王) nhà Ngô Việt, bộ này hình thành vào năm thứ 2 (961) niên hiệu Kiến Long (建隆) đời vua Thái Tổ nhà Tống. Đây là trước tác vĩ đại thâu tập rộng rãi 60 bộ kinh điển Đại Thừa, những tác phẩm của hơn 300 bậc thánh hiền từ Ấn Độ đến Trung Quốc, các Ngữ Lục của chư vị Thiền tăng, sách giới luật, sách thế tục, v.v., với chủ trương thâu tóm các tông Pháp Tướng, Tam Luận, Hoa Nghiêm, Thiên Thai cho dung hợp vào Thiền. Về nội dung, bộ này được chia thành 3 chương với chủ đề lấy tâm truyền tâm: Chương Tiêu Tông (標宗章), Chương Vấn Đáp (問答章) và Chương Dẫn Chứng (引証章); phần tiền bán của quyển 1 thuộc về Chương Tiêu Tông, từ phần sau của quyển 1 cho đến quyển 93 là Chương Vấn Đáp, từ quyển 94 trở đi thuộc về Chương Dẫn Chứng.
tông kính lục
ShŪkyōroku (J)Tên một bộ sưu tập.
; (宗鏡錄) Cũng gọi: Tông giám lục, Tâm kính lục. Tác phẩm, 100 quyển, do ngài Vĩnh minh Diên thọ (904-975) soạn vào đời Tống, hoàn thành vào năm thứ 2 (961) đời Thái tổ, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Sách này do thu gom 60 bộ kinh luận Đại thừa và vậng biên các trứ tác của 300 vị Thánh hiền Ấn độ, Trung quốc mà thành. Nội dung trình bày rõ về đại ý của chư Phật và chính tông của kinh luận. Lập luận trong toàn bộ sách đặt nặng vấn đề đốn ngộ, viên tu; điều được gọi là Thiền tôn Đạt ma, Giáo tôn Hiền thủ là tư tưởng trung tâm, là tập văn cốt yếu về tu thiền, nói rõ Thiền và Giáo là một. Toàn sách chia làm 3 chương là Tiêu tông chương, Vấn đáp chương và Dẫn chứng chương, Chương Tiêu tông là phần nói tổng quát, chiếm hơn phân nửa quyển 1; chương Vấn đáp từ nửa sau quyển 1 đến quyển 93, thảo luận về Tâm và vấn đề dị đồng giữa các tông Thiền, Giáo; chương Dẫn chứng từ quyển 94 đến quyển cuối, dẫn chứng hơn 300 chỗ kinh văn để nhấn mạnh về sự trình bày của chương Vấn đáp. Sau khi bộ sách được hoàn thành vẫn chưa thấy lưu thông, mãi đến khoảng năm Nguyên phong (1078-1085) đời vua Thần Tông nhà Tống mới có bản khắc gỗ lưu hành. Về sau có bản khắc cải đính xuất hiện, khi khắc in tạng Gia hưng vào cuối đời Minh thì ngài Trí Húc san định lại bản cải đính. Đến đời Thanh tiếp tục có tiết bản xuất hiện.
tông luận
(宗論) Cũng gọi: Pháp luận. Chỉ cho sự tranh luận về Tông nghĩa giữa 2 tông phái khác nhau, gọi là Tông luận. Sự tranh luận giữa ngoại đạo và Phật giáo ở Ấn độ, sự xung đột giữa Đạo giáo và Nho giáo ở Trung Quốc, các cuộc tranh luận giữa 2 thứ tông giáo nội, ngoại này đối với sự thịnh suy của pháp môn có mối quan hệ rất lớn, cần phải hết sức biện luận. Còn giữa các tông phái nội bộ của Phật giáo có phát sinh tranh luận, nếu vì mục đích làm sáng tỏ giáo nghĩa do tông mình thành lập thì được, còn nếu cứ khư khư cố chấp những điều khác biệt nhỏ nhặt thì cái gọi là Tông luận chỉ có hại chứ không lợi ích gì. Tại Ấn độ, bồ tát Đề bà soạn Quảng bách luận nhằm phá trừ các chấp trước của Tiểu thừa, ngoại đạo; bồ tát Hộ pháp trong 7 ngày đã thu phục 100 vị Luận sư của Tiểu thừa; bồ tát Thế thân ban đầu tu tập Tiểu thừa, soạn luận Câu xá, nói sơ lược về luận Đại tì bà sa của Hữu bộ, trong văn trường hàng(văn xuôi) đã trích lấy nghĩa lí của Kinh bộ để sửa chữa học thuyết thiên lệch của Hữu bộ, Luận sư Chúng hiền nhân đó mới soạn luận Thuận chính lí để tranh biện lại. Còn trong Đại thừa thì sự tranh luận về Hữu, Không giữa 2 Luận sư Hộ pháp và Thanh biện, đều có thể gọi là Tông luận. Ngoài ra, sự tranh luận phát sinh trong nội bộ của một tông, như Sơn gia, Sơn ngoại trong tông Thiên thai ở đời Tống, cũng thuộc về Tông luận. Nhưng cũng có thuyết cho rằng loại đối luận trong một tông (phái) này chỉ có thể được xem là tranh luận, chứ không phải thuộc về Tông luận.
tông lâm tế
Lin-Chi School—See Lâm Tế Tông.
tông lặc
(宗泐) Danh tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đầu đời Minh, người ở Thai châu (nay là huyện Lâm hải, tỉnh Chiết Giang), họ Chu, tự Quí Đàm, hiệu là Toàn thất. Năm 8 tuổi, sư đến chùa Tịnh từ ở Hàng châu theo ngài Tiếu ẩn Đại hân học Phật pháp; năm 14 tuổi, sư xuất gia, năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc, theo hầu ngài Đại hân khi ngài đến khai sơn chùa Long tường tập khánh(chùa Thiên giới) ở Kim lăng. Sau, sư đến tham yết ngài Nguyên tẩu ở Kính sơn. Ban đầu, sư trụ chùa Thủy tây, sau dời đến trụ các chùa Trung thiên trúc và Song kính. Đầu đời Minh, sư được vua ban sắc trụ trì chùa Thiên giới, vâng mệnh vua cùng với ngài Như kỉ soạn Lăng già kinh chú giải 4 quyển, Bát nhã tâm kinh chú giải 1 quyển, Kim cương Bát nhã kinh chú giải 1 quyển và soạn Tán Phật lạc chương. Năm Hồng vũ thứ 10 (1377), sư đi Tây vực cầu pháp, thỉnh được kinh Trang nghiêm bảo vương và kinh Văn thù. Năm Hồng Vũ 15 (1385), sư trở về triều, sau đó được bổ nhiệm giữ chức Tăng lục ti Hữu thiện thế, trông coi việc giáo dục tăng ni trong nước. Vì bị triều thần ghen ghét làm hại nên sư cất am Viên thông lui về ẩn tu. Năm Hồng Vũ 24 (1391), sư thị tịch ở chùa Thạch Phật tại Giang phố, thọ 74 tuổi. Về tác phẩm của sư, ngoài các sách kể ở trên còn có Toàn thất ngoại tập 1 quyển, Toàn thất cảo 1 quyển. [X. Kim lăng phạm sát chíQ.1, 16; Tịnh từ tự chíQ.10, 19; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.2; Nam tống nguyên minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.13].
tông lợi
(宗利) Cao tăng Trung quốc, Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm, sống vào đời Đường, người ở Quả châu (nay là huyện Tây sung, tỉnh Tứ xuyên), họ Hà, người đời gọi sư là Khuê phong Thiền sư, Khuê sơn Đại sư, thụy hiệu là Định Tuệ Thiền Sư. Năm Nguyên hòa thứ 2 (870) sư đến kinh đô dự thi, trên đường đi qua Toại châu, sư nghe Hòa thượng Đạo viên thuyết pháp liền theo ngài xuất gia và thụ giới Cụ túc, rồi theo lời khuyên của ngài Đạo viên, sư đến tham yết Thiền sư Nam ấn ở Ích châu. Không bao lâu, sư đến tham yết ngài Thần chiếu ở chùa Báo quốc tại Lạc dương. Năm Nguyên hòa thứ 5 (810), sư đến chỗ ngài Trừng quán thụ trì giáo học Hoa nghiêm. Tháng giêng năm Nguyên hòa 11 (816), sư trụ chùa Trí cự núi Chung nam, tự nguyện không xuống núi. Ở đây, sư xem Tạng kinh trong 3 năm. Sau, sư vào chùa Thảo đường ở núi Chung nam chuyên tâm tu học. Rồi sư lại dời đến Khuê phong lan nhã ở phía nam của chùa chuyên tụng kinh tu thiền. Năm Thái hòa thứ 2 (828), sư được triệu vào cung giảng kinh và được ban áo đỏ, Tướng quốc Bùi hưu và các sĩ phu trong triều ngoài nội thường đến theo sư học đạo. Ít lâu sau, sư xin trở về núi. Sư từng thấy chúng tăng trong chùa tranh cãi nhau về Thiền và Giáo, sư liền soạn Thiền nguyên chư thuyên tập 100 quyển (hiện chỉ còn phần tựa), thu chép thiền ngữ của các tông, đồng thời đề xướng Giáo Thiền nhất trí đặt vững nền tảng cho Phật giáo trong khoảng thời gian từ cuối đời Đường đến đời Tống. Về mối quan hệ giữasư và sự truyền thừa của Thiền tông có 2 thuyết: 1. Pháp hệ từ ngài Hà trạch Thần hội theo thứ tự truyền cho ngài Pháp như, Nam ấn, Đạo viên và Tông mật. 2. Pháp hệ từ ngài Thần hội chùa Tịnh chúng theo thứ tự truyền cho ngài Nam Ấn, Đạo Viên và Tông Mật. Người đời nay thường dùng theo hệ phổ thứ 2. Ngày mồng 6 tháng giêng niên hiệu Hội xương năm đầu (841), sư ngồi mà thị tịch ở Hưng phúc tháp viện, thọ 62 tuổi, pháp lạp 34. Sau khi trà tì (thiêu) thu được vài mươi viên xá lợi. Sư để lại các tác phẩm: Viên giác kinh khoa văn 2 quyển, Viên giác kinh đại sớ 3 quyển, Thiền nguyên chư thuyên tập 100 quyển (hiện chỉ phần tựa), luận Nguyên nhân 1 quyển, Vu lan bồn kinh sớ 2 quyển, Hoa nghiêm kinh luân quán 15 quyển, Viên giác kinh đại sớ thích nghĩa sao 13 quyển, Kim cương bát nhã kinh sớ luận toản yếu 2 quyển, Khởi tín luận sớ chú 4 quyển, chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn 1 quyển, Trung hoa truyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Thiền tông chính mạch quyển 1; Phật tổ thống kỉ Q.29; Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Khuê phong thiền sư tháp minh tinh tự trong Toàn Đường văn Q.743].
tông môn
Originally, the general name for sects. Later appropriated to itself by the Thiền tông, which refers to the other school as Giáo môn, teaching sects, i.e. those who rely on the written word rather than on the "inner light".
; 1) Tên của một tông phái: Name of a sect or school. 2) Tiếng dùng để gọi Thiền tông hay tông phái tu tập bằng trực giác, trong khi các tông phái khác được gọi là Giáo Môn hay những tông phái tu bằng giáo điển được ghi lại—It refers to the Ch'an (Zen) or Intuitional schools, other schools are called “Teaching Sects,” or those who rely on the written word rather than on the “inner light.”
; (宗門) Cửa ra vào của giáo chỉ được tôn sùng. Từ đời Tống về sau, từ Tông môn được dùng để chỉ cho Thiền tông, còn các tông khác thì được gọi là Giáo tông. Các vị Thiền tăng soạn sách phần nhiều đặt 2 chữ Tông môn ở đầu, như Tông môn thập qui luận của ngài Pháp nhãn Văn ích, Đại tuệ tông môn vũ khố của ngài Đạo khiêm, Tông môn thống yếu của ngài Tông vĩnh, Tông môn hoặc vấn của ngài Viên trừng... Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113,117 thượng) nói: Tông môn nghĩa là Tam học đều y cứ vào môn này nên gọi là Tông môn. Khảo tín lục quyển 4 của ngài Huyền trí, người Nhật bản, cho rằng danh từ Tông môn có xuất xứ từ Thiền lâm, y cứ vào câu Phật nói tâm là tông, vô môn là pháp môn nói trong kinh Lăng già mà lập Phật tâm tông và tự xưng là Tông môn. Tông môn, có khi gọi là Tông thừa, hoặc gọi tắt là Tông, tuy nhiên, danh xưng này không phải chỉ để gọi Thiền tông, mà trong Thiên thai có Kinh bộ tông, Tát bà đa tông, ngoài ra cũng có các danh mục như Chân tông, Viên tông... [X.kinh Lăng già Q.1 (bản 4 quyển); luận Truyền pháp chính tông Q.hạ].
tông môn bảo tích lục
(宗門寶積錄) Tác phẩm, 93 quyển, do ngài Sơn hiểu Bản triết biên tập vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 127. Sách này phỏng theo hình thức của Cổ tôn túc ngữ lục thu chép các phần Thướng đường, Thị chúng, Tiểu tham, Cơ duyên, Niêm tụng, Pháp ngữ... của 88 vị Thiền sư cuối đời Tống, đời Nguyên, đời Minh mà chưa thấy được ghi chép trong Ngũ đăng hội nguyên và Cổ tôn túc ngữ lục. Nhưng Vạn tục tạng chỉ chép văn Tựa, Phàm lệ, Mục lục (từ quyển 1 đến quyển 91), kể từ ngài Nam nhạc Hoài nhượng, Thanh nguyên Hành tú, Tuyết phong Nghĩa tồn, Huyền sa Sư bị, đến các ngài Giác lãng Đạo thịnh, Vi lâm Đạo bái, Tuyết quan Đạo ngân, Tung nhũ Đạo mật; Q.92, 93 là Lịch truyền tổ đồ tán.
tông môn chích anh tập
(宗門摭英集) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Duy giản trụ trì thiền viện Siêu hóa ở Việt châu biên tập vào năm Cảnh hựu thứ 5 (1038) đời Tống, được khắc in ở Hàng châu vào khoảng năm Hoàng hựu. Về sau, bộ sách này được truyền đến Cao li và do Cao li Đại tạng đô giám khắc lại vào năm Cao tông 24 (1254). Nhưng, sau khoảng vài trăm năm, sách này và cả bản gỗ khắc in đều bị thất lạc, nên đời sau không biết đến tên của sách này. Cho mãi đến tháng 7 năm 1981, học giả Hàn Quốc là ông Triệu minh cơ mới tìm thấy bản chép tay của bản gỗ sách này trong một nhà sách cũ ở Hán thành, khiến giới học thuật chú ý. Trong 53 tấm bản gỗ của quyển thượng thì đã mất 2 tấm, phần còn lại chỉ chép truyện kí của 180 vị, cuối quyển có phụ lục Qui sơn cảnh sách. Trong 52 tấm bản gỗ của quyển trung chép truyện kí của 137 vị và trong 48 bản gỗ của quyển hạ thì ghi truyện tích của 107 vị. Tác giả sách này tham phỏng các bậc Tông tượng ở nhiều nơi, xem khắp các sách và lấy Bảo lâm truyện, Truyền đăng lục, Quảng đăng lục và Truyền đăng ngọc anh tập làm bản gốc, đồng thời thu chép những truyện thiếu sót trong các bộ Tăng truyện khác mà biên tập thành sách này. Đây là bộ tư liệu trọng yếu về mặt lịch sử Thiền tông Trung Quốc, nhất là sách này có chép truyện kí của 8 vị mà chưa thấy được ghi trong bất cứ bộ Tăng truyện nào, đó là: Cam chi hành giả, Tế Thượng tọa ở Trì xuyên, Kê sơn chương ở Trì châu, Báo từ khuông hóa ở Đàm châu, Ứng ngộ ở núi Vân môn tại Thiều châu, Phúc hóa nghiêu ở Mi châu, Thượng hóa thành Huệ giám ở Lô sơn và Thường ở núi Bách trượng tại Hồng châu. Đây là chỗ quí giá hơn nữa của bộ sách này.
tông môn chính đăng lục
(宗門正燈錄) Truyện kí, 12 quyển, do ngài Đông dươngAnhtriều thuộc tông Lâm tế Nhật Bản soạn. Nội dung sách này ghi chép truyện tích của các vị tổ Thiền tông, tất cả gồm 24 vị từ ngài Nam nhạc trở xuống đến ngài Mã tổ Đạo nhất, Bách trượng Hoài hải, Hoàng bá Hi vận... và các ngài Đại ứng Thiệu minh, Đại đăng Diệu siêu của Nhật bản. Ngoài phần truyện kí ra còn có phần Ngữ yếu, Niêm hương, Kệ tụng, Hành trạng... Trong lời tựa của chính tác giả được viết vào niên hiệu Văn qui năm đầu (1501) có nói: Từ 5 ngọn đèn tiếp theo trăm nghìn ngọn đèn, từ trăm nghìn ngọn đèn lại hợp làm một ngọn đèn, ánh sáng các ngọn đèn lan tỏa ra vô tận, cho nên dùng đèn (đăng) làm tên sách.
tông môn cải
(宗門改) Cũng gọi: Tông môn xuyên tạc. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản –Nghĩa là kiểm tra các tông môn sở thuộc. Vào thời kì đầu thời đại Giang hộ, Mạc Phủ nhận thấy Thiết chi đan tông (Gia tô giáo) có ý đồ xâm chiếm lãnh thổ, nhiễu loạn Thần xã, chùa viện, liền ban hành luật cấm chỉ Thiết chi đan tông truyền giáo, ra lệnh cho tín đồ bỏ Tông, ai không nghe thì xử tử. Đến thời đại Đức xuyên thì Thiết chi đan phụng hành được thiết lập để phụ trách việc kiểm tra mọi người của Tông môn sở thuộc, nếu ai đã tin theo Thiết chi đan tông thì phải cải tín sang Phật giáo, đồng thời đặt ra các điều lệ xử phạt. Lại qui định tất cả tông phái đều phải thuộc tổ chức của Phật giáo, phải ghi rõ tháng, năm và nơi sinh của mỗi người trong chùa viện. Đây là chế độ giám sát chùa viện, chế độ Đàn gia sau này tức đã do sự diễn biến từ Tông môn cải mà ra.
Tông Môn Cải Dịch
(宗門改役, Shumon-aratameyaku): tên một chức quan được thiết trí ở các Phiên cũng như chính quyền Mạc Phủ, nhằm cấm chỉ và hạn chế tối đa Thiên Chúa Giáo cũng như tín đồ của tôn giáo này hoạt động. Người nhậm chức này đầu tiên là Tỉnh Thượng Chính Trọng (井上政重, Inoue Masashige) vào năm 1640 (Khoan Vĩnh [寛永] 17). Vào năm 1664 (Khoan Văn [寛文] 4), chính quyền Mạc Phủ ra lệnh thiết trí chức quan Tông Môn Cải Dịch này tại các Phiên. Đến năm 1792 (Khoan Chính [寛政] 4), chức quan này bị phế bỏ.
tông môn hoặc vấn
(宗門或問) Cũng gọi: Trạm nhiên thiền sư tông môn hoặc vấn. Gọi đủ: Vân môn Hiển thánh tự Tán mộcthiền sưtông môn hoặc vấn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trạm nhiên Viên trừng, thuộc tông Tào động soạn vào đời Minh, các vị Liễu trinh, Chu gia mô biên tập, được thu vào phần phụ lục của Trạm nhiên Viên trừng thiền sư ngữ lục trong Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này là ngài Viên trừng phúc đáp các câu hỏi do người học nêu ra liên quan đến pháp môn tham thiền và yếu chỉ tu đạo vào tháng 4 năm Vạn lịch 23 (1595), gồm 52 hạng mục, mỗi hạng mục đều được giải thích rõ ràng. Cuối quyển có phụ lục: Tham thiền thích nạn hoặc vấn bổ di, Đáp Minh đỉnh tứ vấn, Đạt quan hòa thượng chiêu ương truyện.
tông môn huyền giám đồ
(宗門玄鑒圖) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hư nhất Phương giác thuộc tông Tào động soạn vào đời Minh, ấn hành vào năm Vạn lịch 35 (1607), được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Ngài Phương giác nhận thấy các tông phái trong Thiền lâm đều lập tông môn riêng, tranh nhau đề xướng các thuyết khác nhau, khiến cho người học đời sau không biết theo ai, nên soạn Huyền giám đồ, dẫn chứng huyền cơ mầu nhiệm của các bậc đời xưa, tổng hợp các cương mục, dùng mấy mươi hạng mục như môn, luận, tụng, đồ... để nói rõ về cội nguồn và tông chỉ của các nhà: Tào động, Qui ngưỡng, Lâm tế, Vân môn, Pháp nhãn... Nội dung sách này bao gồm 12 môn: Phổ hiền, Văn thù, Quán âm, Dĩ lí nhân hà, Thuận thực y ngũ, Pháp thể tự nhiên, Mật ứng tàng phong, Sự lí lí đối, Kí sự tiêu huyền, Lí tuyệt thuyên sự, Thuận chính qui thực, Toàn cơ tận pháp; Ngũ luận: Tam huyền, Tứ đại thức, Bát bổng, Ngũ cú, Bát đại thế, cùng các loại Ngũ vị đồ tụng.
Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu
(宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō): 30 quyển, do Hối Ông Ngộ Minh (晦翁悟明) nhà Tống biên soạn, san hành vào năm thứ 16 (1189) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), gọi tắt là Liên Đăng Hội Yếu (聯燈會要, Rentōeyō) hay Hội Yếu (會要, Eyō). Vào năm thứ 10 (1183) niên hiệu Thuần Hy, Hối Ông chọn ra hơn 600 người từ các bộ Ngữ Lục như Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄), Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄), v.v., và biên tập lại các cơ duyên vấn đáp của họ để hình thành nên bộ này. Cùng năm này, ngay trong thất của Giang Tâm Tiềm Quang (江心潛光), ông tự viết lời tựa cho tác phẩm của mình; đến năm thứ 16 cùng niên hiệu trên, ông thêm vào lời tựa của Lý Vịnh (李泳) và cho san hành. Về sau, bản này được trùng san vào năm thứ 28 (1291) niên hiệu Chí Nguyên (至元). Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn được san hành vào năm thứ 3 (1389) niên hiệu Gia Khánh (嘉慶) tại Lâm Xuyên Tự (臨川寺, Rinsen-ji), và bản ấn hành của Tổ Thái (祖泰) ở Đại Ứng Tự (大應寺, Daiō-ji) vào năm thứ 3 (1690) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿).
Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập
(宗門拈古彙集, Shūmonnenkoishū): 45 quyển, do Bạch Nham Tịnh Phù (白巖淨符) nhà Thanh biên soạn, san hành vào năm thứ 3 (1664) niên hiệu Khang Hy (康熙). Đây là thư tịch bổ khuyết, đính chính những ngữ yếu về niêm đề, cơ duyên của chư vị tổ sư trước thời nhà Tống, Nguyên được thâu lục trong Tông Môn Thống Yếu Tục Tập (宗門統要續集), và thâu tập các niêm cổ của chư sư về những ngữ yếu đó. Tiếp theo bộ Thống Yếu Tục Tập (統要續集), nội dung của bộ này gồm có 33 đời chư vị Thiền sư thuộc môn hạ của Nam Nhạc (南岳) và 36 đời thuộc môn hạ của Thanh Nguyên (青原). Nó là bản thâu tập vĩ đại về những công án của 1700 tắc công án xưa nay.
tông môn niêm cổ vị tập
(宗門拈古彙集) Tác phẩm, 45 quyển, do ngài Bạch Nham Tịnh phù biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Khang hi thứ 3 (1664), được thu vào Vạn tục tạng tập 115. Nội dung sách này biên tập các niêm cổ, cơ duyên của các vị từ Phật tổ đến 33 đời dưới ngài Nam nhạc, 36 đời dưới ngài Thanh nguyên; tức thu chép những niêm đề ngữ từ đời Tống, Nguyên về trước trong Tông môn thống yếu tục tập, đồng thời bổ túc các cơ duyên, còn những niêm đề từ Tống, Nguyên về sau mà Thống yếu chưa thu chép thì lần lượt ghi tiếp. Sách này sưu tập nhiều ngữ lục, hành trạng, bài minh bia của chư tăng ở các nơi, gồm 1.700 tắc, tất cả đều y cứ theo thể lệ của Thống yếu mà sửa chữa, biên tập thêm. Đây là tác phẩm tập đại thành về công án. Ngoài ra, bộ Tông môn niêm cổ 4 quyển được ấn hành vào năm Khang hi 20 (1681) đời Thanh là do trích lục từ 4 quyển: 2, 3, 4, 5 trong Tuệ cung huýnh thiền sư ngữ lục mà thành.
tông môn tam ấn
(宗門三印) Chỉ cho 3 hình thức thí dụ mà Thiền tông sử dụng để nói rõ về sự bình đẳng của Phật pháp. Đó là: 1. Ấn không: Biểu thị Phật pháp bình đẳng không sai khác, cũng giống như dùng ấn in vào không gian vô hình, tự nhiên chẳng hiện lên bất cứ đường nét, hình tượng nào. 2. Ấn thủy: Biểu thị từ Phật pháp bình đẳng nhất như, tuyệt đối duy nhất, không mảy may sai khác mà hiển hiện ra tướng sai khác; cũng giống như mặt nước (gương) đồng nhất, có thể in hiện các tư thế hình mạo khác nhau. 3. Ấn nê: Cũng biểu thị từ bản thể Phật pháp tuyệt đối duy nhất, có thể hiển hiện các tướng khác nhau; cũng giống như mặt đất đồng nhất có thể in hiện các dấu chân khác nhau. Ngoài ra, Ấn không, Ấn thủy, Ấn nê cũng theo thứ tự biểu thị cho Pháp thân vị, Báo thân vị, Ứng thân vị của Phật và Bồ-tát. Nhân thiên nhãn mục quyển 6 (Đại 48, 329 trung) ghi: Nhất ấn ấn không. Ngài Thạch môn thông nói: Lưỡi ở hàm trên. Ngài Ngọc Tuyền đạt nói: Muôn tượng thu về trong gương xưa. Nhất ấn ấn thủy Môn nói: Nói chuyện với người điếc. Tuyền nói: Bóng trăng thu in trên nghìn sông. Nhất ấn ấn nê. Môn nói: Trên đầu ăn gậy, trong miệng lẩm bẩm. Tuyền nói: Hãy xem lúc đường nét xuất hiện. [X. Nhân thiên nhãn mục sao].
tông môn thiết nan
(宗門設難) Gọi đủ: Vân môn Mạch lãng hoài thiền sư tông môn thiết nạn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Mạch lãng Minh hoài thuộc tông Tào động soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 125. Vào năm Vạn lịch 48 (1620) đời vua Thần tông, có người đặt câu hỏi cho ngài Minh hoài về 25 điều nghi nạn quan trọng trong Tông môn như Tâm pháp của Thiền tông là quét sạch quán hành, không lập văn tự... nhưng tại sao các sư ở đời sau lại lập các thuyết Tam huyền tam yếu, Ngũ vị tam quan...? Vấn nạn này được ngài Minh hoài giải thích rõ ràng từng điều, cho nên toàn sách mới dùng hình thức thể vấn đáp để hiển bày tông nghĩa.
Tông Môn Thập Quy Luận
(宗門十規論, Shūmonjukkiron): 1 quyển, do Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) nhà Đường trước tác, san hành năm thứ 6 (1756) niên hiệu Bảo Lịch (寳曆), nói cho đủ là Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy Luận (法眼禪師宗門十規論, Hōgenzenjishūmonjukkiron), Tịnh Từ Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy Luận (淨慈法眼禪師宗門十規論, Jōjihōgenzenjishūmonjukkiron) và gọi tắt là Thập Quy Luận (十規論, Jukkiron). Tác giả vốn là vị tổ khai sáng Pháp Nhãn Tông (法眼宗), đã từng cử xướng tông phong của mình rất mạnh từ cuối thời nhà Đường cho đến Ngũ Đại. Đây là tác phẩm nêu rõ 10 quy luật của tông môn để khuyên răn môn đồ tu tập, rất nổi tiếng như là tác phẩm đầu tiên nêu tên các tông phái của Ngũ Gia. Có bản năm thứ 6 (1346) niên hiệu Chí Chánh (至正) Trung Quốc, bản năm đầu (1648) niên hiệu Khánh An (慶安) Nhật Bản, v.v. Truyền bản hiện tồn có 2 loại: bản do Đại Viên Bảo Giám (大圓寳鑑) của Mậu Lâm Tự (茂林寺) vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken) san hành vào thứ 6 (1756) niên hiệu Bảo Lịch, và bản do Chỉ Nguyệt Huệ Ấn (指月慧印) san hành vào năm thứ 11 (1761) cùng niên hiệu trên. Ngoài ra còn có bản tăng bổ chú thích của Năng Nhân Nghĩa Đạo (能仁義道).
tông môn thập quy luận
(宗門十規論) Cũng gọi: Pháp nhãn thiền sư tông môn thập qui luận, Tịnh tuệ Pháp nhãn thiền sư tông môn thập qui luận. Gọi tắt: Thập qui luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp nhãn Văn ích soạn vào đời Ngũ đại, được thu vào Vạn tục tạng tập 110. Sách này chủ ý nêu ra các tệ nạn trong Thiền gia ở thời Ngũ đại để răn dạy. Toàn sách được chia làm 10 điều như sau: 1. Tâm địa của chính mình chưa sáng tỏ mà gạt làm thầy người. 2. Giữ môn phong phe phái, nghị luận không thông. 3. Nêu lệnh đề cương mà không biết huyết mạch. 4. Đối đáp không xem xét thời tiết, cũng không có con mắt tông môn. 5. Lí sự trái nhau, không phân biệt được nhơ sạch. 6. Không thông qua sự gạn lọc, ức đoán các câu nói xưa nay. 7. Chỉ chăm nhớ kinh sách cho thật nhiều, nhưng khi việc đến thì không biết diệu dụng. 8. Không thông suốt kinh giáo, dẫn chứng bừa bãi. 9. Không rõ thanh luật, không thông lí đạo, thích làm thi ca, niệm tụng. 10. Bảo vệ chỗ dở của mình, thích tranh hơn thua. Về chú sớ này thì có: Tăng tiêu bàng chú tông môn thập qui luận của Năng nhân Nghĩa đạo.
tông môn thập thắng luận
(宗門十勝論) Luận, 1 quyển, do ngài Hổ quan Sư luyện, người Nhậtbản soạn, được thu vào Thiền học đại hệ phê phán bộ. Nội dung sách này nêu lên 10 việc để nói rằng Thiền tông thù thắng hơn các tông khác. Mười thắng luận ấy như sau: 1. Trúc can chính tục luận. 2. Đạt ma vị cao luận. 3. Tổ danh thông hô luận. 4. Phái lưu quảng trường luận. 5. Sắm kí mạc viễn luận.. 6. Phần tịch thu tàng luận. 7. Qui củ nghiêm chỉnh luận. 8. Vương thần đa nhân luận. 9. Ứng hóa u tán luận. 10. Tha gia suy xưng luận. Thiền tịch chí quyển hạ, phê bình việc thứ 1, 3, 7, 9, 10 của sách này là luận hay, việc thứ 2, 5 là điều mà Giáo tông tuân phục, việc thứ 6 thì không đáng gọi là thắng, còn việc thứ 4, 8 thì thuộc luận kém.
Tông Môn Thống Yếu
(宗門統要, Shūmontōyō): xem Tông Môn Thống Yếu Tập (宗門統要集, Shūmontōyōshū) bên dưới.
Tông Môn Thống Yếu Tập
(宗門統要集, Shūmontōyōshū): hay Tông Môn Thống Yếu (宗門統要, Shūmontōyō), 10 quyển, Tông Vĩnh (宗永) nhà Tống biên, san hành năm thứ 3 (1133) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興). Đây là tác phẩm thâu tập những cổ tắc cơ duyên của chư vị thánh hiền ứng hóa từ đức Thế Tôn trở xuống cũng như của chư vị tổ sư Tây Thiên, Đông Độ để làm cho đàn hậu học thông đạt tông chỉ của các vị này. Bộ này nêu lên 1107 tắc công án từ 11 đời thuộc môn hạ của Nam Nhạc (南岳) cho đến 10 đời thuộc môn hạ của Thanh Nguyên (青原), tạo ảnh hưởng vô cùng to lớn cho tác phẩm Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要) ra đời. Hiện tại Đông Dương Văn Khố (東洋文庫, Tōyō-bunko) của Nhật Bản đang tàng trữ bản nhà Tống được san hành vào năm thứ 6 (1179) niên hiệu Thuần Hy (淳熙). Tiếp theo tập này có Tục Tập (續集) do Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) nhà Nguyên soạn.
Tông Môn Thống Yếu Tục Tập
(宗門統要續集, Shūmontōyōzokushū): 22 quyển, bản tục biên của Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) nhà Nguyên, san hành vào năm thứ 7 (1320) niên hiệu Diên Hựu (延祐). Đây là bản tục biên từ bộ Tông Môn Thống Yếu Tập (宗門統要集) 10 quyển của Tông Vĩnh (宗永) nhà Tống, thâu lục 918 nhân vật từ thời đức Thế Tôn trở về sau cho đến thời nhà Nguyên với 1366 tắc công án.
tông môn thống yếu tục tập
(宗門統要續集) Cũng gọi: Tục tập tông môn thống yếu. Tác phẩm, 22 quyển, do ngài Tông vĩnh biên tập vào đời Tống, ngài Thanh mậu biên tiếp vào đời Nguyên. Cứ theo bài tựa Tục tập tông môn thống yếu của Phùng tử chấn thì biết bộ Tông môn thống yếu của ngài Tông vĩnh được khắc lại vào năm Thiệu hưng thứ 3 (1133), ngài Thanh mậu đời Nguyên lại phụ thêm 2 quyển nữa, tức là bổ sung thêm đời thứ 12 đến đời thứ 18 dưới ngài Nam nhạc và đời thứ 11 đến đời thứ 14 dưới ngài Thanh nguyên, cộng tất cả có 406 vị, nhưng chỉ thu chép cơ duyên (tất cả 259 tắc) của 131 vị. Có thuyết cho rằng ngài Tông vĩnh biên soạn Tông môn thống yếu tập 10 quyển, ngài Thanh mậu biên tập 12 quyển tiếp theo nên thành là Tông môn thống yếu tục tập 22 quyển. Sách này bắt đầu từ chư Phật ở Tây trúc, kế là chư Tổ và các bậc Tông tượng đời trước ở Đông độ, bởi vì chỉ dẫn cho hậu học và các bậc tác gia đời sau, đồng thời chọn lựa người trước đều từ văn tự mà có và chỉ thẳng tâm người. [X. chương Cổ lâm Thanh mậu trong Tăng tập tục truyền đăng lục Q.5; Thiền tịch chí Q.thượng].
tông môn vô tận đăng luận
(宗門無盡燈論) Luận, 2 quyển, do ngài Đông lãnh Viên từ (1721-1792) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này chia làm 10 chương mục: Tông do, Tín tu, Hiện cảnh, Thực chứng, Thấu quan, Hướng thượng, Lực dụng, Sư thừa, Trưởng dưỡng và Lưu thông để chỉ rõ pháp môn tín tâm tu hành. Cuối quyển có phụ lục một thiên Hành trì luận. Vô tận đăng hàm có ý nghĩa một ngọn đèn cháy lan ra thành trăm nghìn ngọn đèn, các ngọn đèn nối tiếp nhau vô tận.
Tông Môn Võ Khố
(宗門武庫, Shūmonbuko): xem Đại Huệ Võ Khố (大慧武庫, Daiebuko) ở trên.
tông môn vũ khố
(宗門武庫) Gọi đủ: Đại tuệ Phổ giác thiền sư tông môn vũ khố. Gọi tắt: Đại tuệ tông môn vũ khố, Đại tuệ vũ khố. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo khiêm biên tập vào đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47, phụ sau Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục. Nội dung sách này do ngài Đại tuệ Tông cảo thu chép ngữ lục của các bậc cổ đức có cơ phong nhạy bén, cao vút trong việc tùy duyên ứng cơ và nhân duyên tiếp vật lợi sinh, đồng thời thêm phần bình xướng của riêng mình mà thành, tất cả gồm 114 điều mục. Sách này xưa nay rất được các vị thuộc tông Lâm tế thích đọc tụng. [X. Đại tuệ Phổ giác thiền sư niên phổ; Thiền tịch chí Q.hạ].
Tông Mật
宗密|Khuê Phong Tông Mật
tông mật
Tsung mi (C), Zongmi (C), ShŪmitsu (J)(780-841) Tổ thứ 5 và là vị tổ cuối cùng của Hoa Nghiêm tông, đệ tử của ngài Trừng Quán.
; Tsung Mi (C). One of the five patriarchs of the Hoa Nghiêm sect.
; Một trong năm vị tổ của tông Hoa Nghiêm—Tsung-Mi, one of the five patriarchs of the Hua-Yen (Avatamsaka) sect.
Tông Mật 宗密
[ja] シュウミツ Shūmitsu ||| Zongmi (780-841), also commonly referred to by the monastic title of Guifeng 圭峰. Tang dynasty scholar-monk, installed as fifth patriarch of the Huayan schools as well as a patriarch of the Heze 荷澤 Chan lineage. He wrote a number of vitally important essays on the current situation of Buddhism in Tang China, and is one of the most important figures in East Asian Buddhist history in terms of providing modern scholars with a clear analysis of the development of Chan and Huayan and the general intellectual/religious climate of his times. Unlike some of his more radical and cryptic Chan contemporaries, he was a sober-minded and meticulous scholar who wrote extensive critical analyses of the various Chan and scholastic sects of the period, as well as numerous scriptural exegesis. Zongmi was, like many later Korean monks on whom he extended his influence, deeply interested in both the practical and doctrinal aspects of Buddhism, and especially concerned about the means of the harmonization of the views of those who tended toward exclusivity in either direction. Zongmi studied deeply all the major texts of the Chinese Buddhist canon of his time, specializing in those works with Huayan, tathāgatagarbha and Chan affinities. He was deeply affected by Huayan thought and is famous for his work in the area of doctrinal classification, i.e., attempting to account of the apparent disparities in the Buddhist doctrines by categorizing them according to their specific aims. Although he conducted other important studies on texts such as the Huayan jing 華嚴經 , Awakening of Faith 起信論, and Diamond Sutra 金剛經, and dealt with such issues as the rapprochement of the three teachings and the relationship of various schools of Chan, Zongmi's work on the Sutra of Perfect Enlightenment (Yuanjue jing 圓覺經)was the centerpiece of his scholarly career. His most important work on the sutra was his Yuanjue jing da shou (Great Commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經大疏). During the process of finishing this work, Zongmi wrote a series of abridgments, expansions and digressions on it. Other noted works include the Renyuan lun (人源論Inquiry into the Origin of Humanity; see Gregory [1995]) and the Chanyuan zhuquan jidu (禪源諸詮集都Origins of the Various Chan Teachings). For a full-length study of Zongmi's thought see Gregory (1991). => c: Zongmi (780-841), thường được gọi tên ngôi chùa sư trú trì là Khuê Phong (c: Guifeng 圭峰). Là vị tăng học giả vào đời Đường, được truyền thừa làm tổ thứ 5 của tông Hoa Nghiêm và cũng là Tổ sư của dòng thiền Hà Trạch (c: Heze 荷澤). Sư viết nhiều chuyên luận quan trọng về tình hình Phật giáo đương thời vào đời Đường Trung Hoa, và là một trong những gương mặt kiệt xuất trong lịch sử Phật giáo Á Đông trong tinh thần là một học giả có quan điểm mới lạ với những phân tích rất sáng suốt về sự phát triển của Thiền tông và Hoa Nghiêm tông và các kiến giải về tư tưởng, tôn giáo trong thời của sư. Không như những Thiền sư cực đoan và khó hiểu đương thời, sư là một học giả có tính điềm đạm và thận trọng, đã viết nhiều chuyên luận phân tích đánh giá sâu rộng nhiều phái thiền và học thuật thời ấy, cũng như đã viết nhiều luận giải về kinh điển. Tông Mật, cũng như các tăng sĩ Triều Tiên về sau có được ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng của sư, đã chú trọng sâu sắc trong cả hai lĩnh vực tu tập và nghiên cứu giáo lý Phật pháp, đặc biệt là quan tâm đến ý nghĩa của sự hoà hợp các quan điểm có khuynh hướng độc đáo trong cả hai tông phái. Tông Mật nghiên cứu sâu rộng tất cả các bản kinh chủ yếu qua tạng Hán văn trong thời của sư, chuyên tâm về các kinh luận đề cập đến tư tưởng Hoa Nghiêm, Như Lai tạng và mối quan hệ với Thiền. Sư chịu ảnh hưởng đậm nét tư tưởng Hoa Nghiêm, và nổi bật với công trình phân loại các giáo lý , nghĩa là sư nỗ lực trong đánh giá sự khác biệt trong giáo lý Phật giáo bằng cách phân loại chúng theo mục đích đặc biẹt của từng loại giáo lý. Mặc dù sư hướng những nghiên cứu quan trọng của mình vào những kinh như Hoa Nghiêm, luận Đại thừa khởi tín, kinh Kim Cương, và bắt tay vào những đề tài như lập lại mối tương quan của ba pháp môn (Thiền, tịnh, mật) và các phái Thiền khác nhau, mà luận giải của Tông Mật về kinh Viên Giác còn là kiệt tác trong sự nghiệp nghiên cứu của sư. Tác phẩm quan trọng nổi tiếng nhất của sư là Viên Giác kinh đại sớ (圓覺經大疏c: Yuanjue jing da shou ; e: Great Commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment). Trong tiến trình hoàn tất luận giải kinh nầy, Tông Mật còn trứ tác một loạt những bài tóm tắt, phần khai triển và hiệu chỉnh lại luận giải trên. Các tác phẩm danh tiếng khác còn có Nhân nguyên luận (人源論c: Renyuan lun; e: Inquiry into the Origin of Humanity). Xem Gregory [1995], và Thiền nguyên chư thuyên tập đô (禪源諸詮集都c: Chanyuan zhuquan jidu; e: Origins of the Various Chan Teachings). Xem các tác phẩm của Gregory [1995] để biết thêm chi tiết về tư tưởng của Tông Mật.
Tông Nam Man
(南蠻宗): tên gọi khác của Thiên Chúa Giáo.
tông nghi
The rules or rituals of a sect.
; Nghi thức hay luật lệ của một tông phái—The rules or ritual of a sect.
tông nghĩa
The tenets of a sect.
; Giáo nghĩa của một tông phái—The tenets of a sect.
; (宗義) I. Tông Nghĩa. Chỉ cho giáo nghĩa do một tông phái lập ra, nêu bày chủ trương và phương hướng tín ngưỡng của tông ấy. Thông thường, Tông nghĩa đều lấy sự thực của kinh nghiệm tín ngưỡng làm nền tảng và dùng ngôn ngữ để trình bày một cách có hệ thống. Thời đại Phật giáo bộ phái nương vào các kinh điển truyền thừa mà lập Tông nghĩa, phong khí nghị luận giữa các bộ phái rất thịnh hành. Nói theo giáo tướng và quán tâm của tông Thiên thai và giáo tướng và sự tướng của tông Chân ngôn thì Tông nghĩa chính là chỉ cho Giáo tướng trong đó, cũng chính là chỉ cho hệ thống giáo lí phải tuân theo về mặt tu hành thực tiễn. Vả lại, cái gọi là Tông nghĩa cũng còn tượng trưng cho giáo quyền của một tông, chẳng hạn như đối lại với các loại di thuyết, Tông nghĩa tức bao hàm ý chỉ giáo nghĩa chính thống. II. Tông Nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Hậu trần (Tân từ) của Tông (mệnh đề) trong tác pháp 3 chi Nhân minh. Tiền trần (danh từ trước) của Tông là Thể, đối lại, Hậu trần cũng gọi là Nghĩa. (xt. Tông Pháp).
tông nghĩa nhất phần vi nhân
(宗義一分爲因) Tiếng dùng trong Nhân minh. Tức lấy một phần của Tông (mệnh đề) làm Nhân (lí do). Theo qui tắc lập luận của Nhân minh, điều này không được chấp nhận. Tông nghĩa nhất phần vi nhân có thể được chia làm 2 loại như sau: 1. Lấy pháp Năng biệt trong Tông làm Nhân. Như lập luận thức: Tông:Âm thanh là vô thường. Nhân:Vì nó là cái vô thường. Người lập luận lập Âm thanh là vô thường thì chính mình đã thừa nhận tất cả âm thanh đều phù hợp với tính chất vô thường, cho nên nói theo lập trường của người lập luận thì Nhân (vô thường) trong luận thức trên hoàn toàn có quan hệ với tính chất của Tông (vô thường), tức hoàn toàn phù hợp với qui định Biến thị tông pháp tính, vốn không hề có lỗi. Nhưng người vấn nạn không chấp nhận nghĩa Âm thanh là vô thường, không tán đồng việc người lập luận dùng Nhân Vì nó là cái vô thường làm lí do xác lập Tông, nên nó không phải hoàn toàn quan hệ với tính chất của Tông. Thực ra, Năng biệt (Tân từ của Tông) là pháp Bất cực thành, ngữ nghĩa của nó dùng có thích hợp với Hữu pháp (chủ từ của Tông) hay không thì chỉ cần được người lập luận chấp nhận là được, chứ không cần người vấn nạn chấp nhận. Còn pháp Năng lập (2 chi Nhân, Dụ) thì phải là pháp Cực thành, ý nghĩa của nó được dùng có thích hợp với Hữu pháp hay không thì phải được cả người lập luận và người vấn nạn cùng chấp nhận. Cho nên, nếu dùng Năng biệt làm Nhân tức là dùng pháp Bất cực thành làm pháp Cực thành, không phù hợp với qui định Biến thị Tông pháp tính, vì thế không thể dùng nó để chứng minh Tông. 2. Dùng Hữu pháp trong Tông làm Nhân.Như lập luận thức: Tông:Âm thanh là vô thường. Nhân:Vì nó là âm thanh. Trong luận thức trên, Nhân tuy phù hợp với điều kiện Biến thị tông pháp tính, nhưng đối với là vô thường của âm thanh thì hoàn toàn chưa nêu được lí do, cho nên cũng không chứng minh được Tông thể. Nguyên tắc của Nhân minh qui định phạm vi của Hữu pháp phải hẹp hơn phạm vi của pháp Năng lập, nếu dùng Hữu pháp làm Nhân thì phạm vi của cả 2 phải bằng nhau, phạm vi của Hữu pháp không thể hẹp hơn phạm vi của pháp Năng lập, vì thế không thể dùng để chứng minh Tông. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc (Trần đại tề); Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Bất Thành Nhân, Biến Thị Tông Pháp Tính, Thể).
tông nguyên
The basic principle of a sect; its origin or cause of existence.
; Giáo thuyết hay giáo điển căn bản của một tông phái—The basic principles of a sect, or its original cause of existence.
; (宗元) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Đại tuệ, tông Lâm tế đời Tống, người ở huyện Kiến dương, tỉnh Phúc kiến, họ Liên. Thủa nhỏ, sư được mọi người khen là Nho lâm tú kiệt. Năm 28 tuổi,sư lễ ngài Đạo tủng ở Tây phong cầu xuất gia. Ít lâu sau, sư đến tham yết ngài Đại tuệ Tông cảo ở Kính sơn, được ngài ấn khả và nối pháp của ngài. Sau, đáp lời thỉnh cầu của Thừa tướng Trương lăng, sư đến khắp các chùa hoằng pháp. Cuối đời,sư trở về làng cũ ẩn tu, ngôi am sư ở được đặt tên là Chúng diệu viên. Năm Thuần hi thứ 3 (1176), sư thị tịch, thọ 77 tuổi, pháp lạp 50. Sư có tác phẩm: Trúc nguyên Nguyên am chủ ngữ 1 quyển.
tông ngưỡng
(宗仰) Danh tăng Trung quốc cận đại, người ở Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Hoàng, tự là Trung ương, pháp danh Ấn lăng, hiệu Ô mục sơn tăng. Năm 16 tuổi, sư y vào Hòa thượng Dược khám chùa Tam phong ở Thường thục xuất gia. Ngoài việc hoằng pháp, sư còn nghiên cứu học tập tiếng Anh, Nhật, Phạm và thi, thư, họa, kim thạch... Sau, sư thụ giới Cụ túc ở chùa Kim sơn tại Trấn giang, đồng thời làm chức Giám viện chùa này. Năm Quang tự 27 (1901), sư cùng các ông: Ngô kính hằng, Chương thái viêm, Sái nguyên bồi, Tưởng trí do, Trâu dung... tổ chức Trung hoa Giáo dục hội ở Thượng hải, do sư làm Hội trưởng, đồng thời chủ biên Tô báo hô hào cách mạng, không bao lâu thì bị triều đình nhà Thanh cấm hoạt động, sư phải lánh sang Nhật bản. Ở đây, sư tận lực giúp đỡ cách mạng và rất được Tôn trung sơn kính trọng. Năm Quang tự 34 (1908), sư trở về nước, sáng lập trường Ái quốc dành cho nữ sinh ở Thượng hải. Niên hiệu Tuyên thống năm đầu (1909) được sự giúp đỡ của người đệ tử là La ca lăng, sư ấn hành Đại tạng kinh gồm 4816 quyển, sư tự làm Giám đốc, trông coi việc ấn loát sửa chữa. Năm Tuyên thống thứ 4 (1912), toàn tạng được hoàn thành, tức là Tần già Đại tạng kinh hiện nay. Năm Dân quốc thứ 8 (1918), sư trụ trì chùa Thê hà tại Giang ninh, đồng thời đổi kim sơn pháp phái thành Kim sơn phân tông. Tháng 7 năm Dân quốc thứ 10 (1921), sư thị tịch, thọ 56 tuổi. [X. Tông ngưỡng thượng nhân truyện lược (Hương cảng Phật giáo kì thứ 56)].
tông nhân dụ
Proposition, reason, example, the three parts of a syllogism.
; Ba chi chính trong lập lượng. Đây là một từ ngữ thuộc luận lý, thí dụ ngọn đồi có lửa là tôn hay mệnh đề; vì nó có khói, là nhân hay lý do. Tất cả những gì có lửa là có khói, như một nhà bếp, và hễ cái gì không có lửa thì không có khói như một cái hồ nước, đây là dụ—Three main branches in stating a syllogism. This is a logical term, i.e., the hill is fiery (proposition); because it has smoke (reason). All that has smoke is fiery like a kitchen, and whatever is not fiery has no smoke like a lake (example). 1) Tông: Pratijna (skt)—Tôn—Mệnh đề—Proposition. 2) Nhân: Hetu (skt)—Cause—Reason. 3) Dụ: Udaharana or Drishtanta (skt)—Sự minh họa hay thí dụ—Illustration or example.
tông nhãn
(宗眼) Con mắt chính pháp, tức chỉ cho quan điểm có tính cách đại biểu của một tông phái nào đó, cũng chỉ con mắt sáng thấu suốt rõ ràng nghĩa tông chỉ sâu kín. Luận Tông môn thập qui do ngài Pháp nhãn Văn ích soạn vào thời Ngũ đại (Vạn tục 110, 440 thượng) nói: Đối đáp mà không xem xét thời tiết thì không phải Tông nhãn. Trong đó, không phải Tông nhãn tức là không có đặc điểm lí luận của bản tông. Cũng trong luận này còn nói: Hễ là Tông sư thì trước hết phải phân biệt được tà chính, phân biệt được tà chính rồi thì lại cần biết rõ thời tiết; hơn nữa, lời nói cũng cần phải có Tông nhãn, cơ phong đối đáp không mâu thuẫn nhau.
Tông Nhất Đại sư 宗一大師
[ja] シュウイチダイシ Shūichi daishi ||| See Shibei 師備. => Xem Sư Bị (c: Shibei 師備).
Tông phong
(宗風): phong nghi của một tông phái, còn gọi là gia phong (家風) hay Thiền phong (禪風); như Vân Môn Tông Phong (雲門宗風), Đức Sơn Tông Phong (德山宗風), Lâm Tế Tông Phong (臨濟宗風), Tào Động Tông Phong (曹洞宗風). Như trong Tông Phong Đạo Độc Thiền Sư Ngữ Lục (宗寶道獨禪師語錄, 卍 Xuzangjing Vol. 72, No. 1443) quyển 4 có bài Trường Khánh Chàng Chung Bảng Kệ (長慶挂鐘板偈) rằng: “Hữu cú vô cú cổ kim truyền, thọ đảo đằng khô kỉ bách niên, thử nhật tong phong trùng chỉnh đốn, tương tùy lai dã đại gia khan (有句無句古今傳、樹倒藤枯幾百年、此日宗風重整頓、相隨來也大家看, có lời không lời xưa nay truyền, cây ngã dây khô mấy trăm năm, ngày nay tông phong được chỉnh đốn, cùng theo đến đó ngắm cửa nhà).”
tông phong
The customs or traditions of a sect. In the Thiền tông it means the regulations of the founder.
; Phong cách của một tông phái. Môn đồ Thiền tông đặc biệt tán dương vị tôn sư của tông phái mình gọi là tông phong (phong cách truyền nối của các tổ sư thì gọi là Thiền Phong)—The customs or traditions of a sect. In the Ch'an sect it means the regulations of the founder.
; (宗風) Cũng gọi: Tông nghi, Thiền phong. Chỉ cho phong mạo riêng biệt của một tông. Thiền tông đặc biệt gọi phong nghi của Tông sư gia là Tông phong, như Vân môn tông phong, Đức sơn tông phong. Sự truyền thừa Thiền phong giữa các vị Tổ sư của một tông là phong nghi riêng của tông ấy, cũng gọi là Tông phong, như tông phong Lâm tế, tông phong Tào động. [X. điều Thị chúng trong Lâm tế lục]. (xt. TôngChỉ).
Tông Phong Diệu Siêu
(宗峰妙超, Shūhō Myōchō, 1282-1337): vị Thiền Tăng của Phái Đại Ứng (大應派) thuộc Lâm Tế Tông, vị Tổ khai sáng Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) và Phái Đại Đức Tự (大德寺派), người vùng Bá Ma (播磨, Harima, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), húy là Diệu Siêu (妙超, Myōchō), thường được gọi là Đại Đăng Quốc Sư (大燈國師, Daitō Kokushi), đạo hiệu là Tông Phong (宗峰, Shūhō), và thụy hiệu là Hưng Thiền Đại Đăng Quốc Sư (興禪大燈國師), Cao Chiếu Chánh Đăng Quốc Sư (高照正燈國師), Đại Từ Vân Khuông Chơn Quốc Sư (大慈雲匡眞國師); họ là Kỷ (紀). Năm lên 11 tuổi, ông theo xuất gia với Luật Sư Giới Tín (戒信) ở Thư Tả Sơn Viên Giáo Tự (冩書山圓敎寺) và học về Thiên Thai giáo học. Sau đó ông đến tham vấn Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji) thuộc vùng Liêm Thương. Vào năm thứ 3 (1305) niên hiệu Gia Nguyên (嘉元), nhân khi Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) từ vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]) lên kinh đô và sống ở Thao Quang Am (韜光庵), ông đến đó tham vấn, kế đến ông đi theo hầu Nam Phố lên Vạn Thọ Tự, rồi đến Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), hết mình chuyên tâm nghiên cứu và cuối cùng thì liễu ngộ được yếu chỉ, nên được Am Phố ấn khả cho, lúc ấy ông 26 tuổi. Đến năm 1308, Nam Phố qua đời thì ông trở về Kinh Đô, rồi sống ẩn cư ở Vân Cư Tự (雲居寺) trong vòng khoảng 20 năm. Đến năm đầu (1226) niên hiệu Gia Lịch (嘉曆), ông đến Tử Dã (紫野, Murasakino, thuộc Jokyo-ku [上京區], Kyoto-fu [京都府]), dựng thảo am mà sống. Sau đó, một số các bậc vua chúa, công khanh như Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō), Xích Tùng Tắc Thôn (赤松則村, Akamatsu Norimura), v.v., quy y theo, nhờ đó ông xây dựng thành ngôi chùa lấy tên là Long Bảo Sơn Đại Đức Tự (龍寶山大德寺), và thỉnh ông làm vị Tổ khai sơn chùa này. Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇, Hanazono Jōkō) cũng nhân nghe đạo phong của ông, mới triệu thỉnh ông đến để hỏi pháp, rồi ban cho ông hiệu là Hưng Thiền Đại Đăng Quốc Sư. Từ đó, Đại Đức Tự được xếp ngang hàng với Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị quan ở Thái Tể Phủ là Đại Hữu Lại Thượng (大友賴尚), ông chuyển đến ở tại Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji), nhưng chẳng được bao lâu thì ông lại trở về kinh đô sống ở Đại Đức Tự. Vào ngày 23 tháng 12 năm thứ 3 niên hiệu Diên Nguyên (延元), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 34 pháp lạp. Các trước tác của ông để lại có Đại Đăng Quốc Sư Ngữ Lục (大燈國師語錄) 3 quyển, Pháp Ngữ (法語), Bích Nham Tập Hạ Ngữ (碧巖集下語) 1 quyển, v.v. Pháp từ của ông có Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄), Triệt Ông Nghĩa Hanh (徹翁義亨), Hải Ngạn Liễu Nghĩa (海岸了義), Hổ Khê Đạo Nhâm (虎溪道壬), v.v. Vào năm thứ 3 (1686) niên hiệu Trinh Hưởng (貞享), Linh Nguyên Thiên Hoàng (靈元天皇, Reigen Tennō) ban tặng thêm cho ông thụy hiệu là Đại Từ Vân Khuông Chơn Quốc Sư.
; 宗峰妙超; J: shūhō myōchō; 1282-1338; cũng được gọi là Ðại Ðăng Quốc sư (j: daitō kokushi); |Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc thuộc tông Lâm Tế. Sư nối pháp Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo jōmyō) và là thầy của Quan Sơn Huệ Huyền (j: kanzan egen). Sư là người thành lập và trụ trì đầu tiên của Ðại Ðức tự (j: daitoku-ji) ở Kinh Ðô (kyōto), một trong những ngôi chùa quan trọng nhất của Nhật Bản.|Sư sinh trưởng tại Harima, cách thành phố Osaka không xa. Lúc còn nhỏ Sư đã có những dấu hiệu lạ thường, lên mười đã không thích chơi với trẻ con cùng lứa. Sư bắt đầu nghiên cứu tu tập Phật pháp rất sớm và chu du viếng thăm nhiều thiền viện. Năm 22 tuổi, Sư đến tham học với Thiền sư Cao Phong Hiển Nhật (kōhō kennichi) tại Vạn Thọ tự (manju-ji) ở Liêm Thương (kamakura) và nơi đây có ngộ nhập. Sau, Sư đến học nơi Thiền sư Nam Phố Thiệu Minh và được vị này Ấn khả. Nam Phố khuyên Sư tu tập thêm hai mươi năm nữa trước khi nhập thế hoằng hoá thế gian.|Sau khi Nam Phố tịch (1308), Sư trở về Kinh Ðô sống ẩn dật hai mươi năm. Trong thời gian này, Sư sống cùng với những kẻ ăn xin và ngủ dưới cầu. Tin truyền về một kẻ ăn xin lạ thường đồn đến tai Thiên hoàng Hoa Viên (hanazono) và ông đích thân đến cầu để tìm cho ra lai lịch của vị khất sĩ phi thường này. Ông mang theo một giỏ dưa và nói trước các khất sĩ: »Ta sẽ tặng quả dưa cho người nào đến đây mà không sử dụng đôi chân.« Mọi người đều suy nghĩ chần chừ, Sư liền bước ra nói: »Ðưa quả dưa cho ta mà không được dùng đôi tay!« Ngay sau sự việc này, Nhật hoàng thỉnh Sư về cung điện tham vấn.|Sau đó, Sư dựng một cái am trên đồi gần Kinh Ðô, học chúng đua nhau đến rất đông, đến nỗi Thiền viện Ðại Ðức được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của học khách. Sư được Cựu Thiên hoàng Hoa Viên phong là Hưng Thiền Ðại Ðăng Quốc sư (興禪大燈國師; kōzen daitō kokushi). Tông phong của Sư nổi tiếng là uy nghiêm dũng mãnh. Nổi danh nhất là bản Di giới (遺誡; j: yuikai) của Sư – được viết hai năm trước lúc Sư quy tịch. Bản Di giới này nêu rõ phong cách của dòng thiền Ứng-Ðăng-Quan và truyền thống của Thiền tông từ Trung Quốc đến Nhật Bản nói chung. Bản này – thỉnh thoảng được biến đổi đôi chút – vẫn còn được treo trước mỗi Thiền viện của tông Lâm Tế tại Nhật. Nội dung bản này như sau:|»Dù các thiền viện được hưng thịnh thế nào sau khi lão tăng qua đời đi nữa, dù tượng hình Phật và các bộ kinh được tạo bằng vàng ròng đi nữa, dù thiền sinh tham học đông đảo, tụng kinh, phát nguyện, toạ thiền suốt đêm, ăn chỉ một bữa, chuyên cần giữ giới đi nữa, – nếu họ không chú tâm tìm cho bằng được diệu pháp nằm ngoài kinh điển của chư Phật, Tổ thì họ không thể nào đoạn diệt lưới nghiệp, tông chỉ sẽ bị hoại, họ sẽ theo nhà ma. Dù khoảng thời gian từ khi lão tăng qua đời có dài thế nào đi nữa thì cũng không được gọi họ là con cháu của lão tăng.|Nhưng – nếu có người nào tại đây, ở nhà lá, ăn rau cỏ từ nồi nghiêng bếp hỏng để sống qua ngày, nếu người này tự tìm hiểu nguồn gốc của chính mình thì ngày ngày sẽ thấy được lão tăng và sẽ là người báo ân chân thật.«|Sư lâm bệnh nặng năm 55 tuổi và phó chúc công việc cai quản thiền viện cho môn đệ là Triệt Ông Nghĩa Hanh (tettō gikō). Sư căn dặn không được xây tháp cho Sư sau khi Sư tịch. Câu chuyện rất cảm động sau được truyền lại, tả lúc Sư quy tịch. Như phần lớn các vị Thiền sư, Sư muốn ngồi Kết già viên tịch mặc dù chân của Sư bị thương và trước đó Sư cũng không thể nào ngồi kết già toạ thiền. Biết thời điểm đã đến, Sư dùng hết sức mình kéo chân trái đặt trên chân phải. Xương chân của Sư gẫy, máu tuông đầy ca-sa. Sư an nhiên ngồi thẳng và viết những dòng kệ sau:|Phật, Tổ ta đã đoạn|Tóc bay đã hết rối|Bánh xe tự tại chuyển|Chân không bèn nghiến răng.|Với sự xuất hiện của Sư, Thiền Nhật Bản đã vượt qua giai đoạn du nhập, các Thiền sư Nhật đã đạt được phong độ của các tiền bối tại Trung Quốc đời Ðường, đời Tống.
tông phong diệu siêu
ShŪhō myōchō (J)Tên một vị sư.
; (宗峰妙超) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người ở Bá ma (huyện Binh khố), họ Kỉ, hiệu là Tông phong. Sư xuất gia năm 11 tuổi và sau đó theo học ngài Cao phong Hiển nhật. Không bao lâu, sư lại đến tham học ngài Nam phố Thiệu minh, sau được ấn khả và nối pháp ngài Thiệu minh. Xích tùng Viên tông kính mộ đức hạnh của sư nên sáng lập chùa Đại đức ở vùng Tử dã (khu Thượng kinh, phủ Kinh đô), thỉnh sư làm Tổ khai sơn, Thiên hoàng Hoa viên qui y sư, ban hiệu Hưng Thiền Đại Đăng Quốc Sư. Sư cũng rất được Thiên hoàng Hậu Đề hồ kính tin và ban hiệu Cao Chiếu Chính Đăng Quốc Sư. Thời Kiến vũ trung hưng, sư được phong làm Vô Song Thiền Uyển Thần Hàn và suy tôn là bậc nhất Ngũ sơn. Sư từng được thỉnh trụ chùa Vạn phúc, cuối đời, Sư trở về chùa Đại đức. Năm Diên nguyên thứ 2 (1337), sư thị tịch, thọ 56 tuổi, pháp lạp 34, thụy hiệu Đại Từ Vân Khuông Chân Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Dạ thoại kí, Đại đăng quốc sư ngữ lục, Bích nham tập hạ ngữ...
tông phái
Sects (of Buddhism).
; Sects (school or dharma-door) of Buddhism. There are several sects in Buddhism: 1) Câu Xá Tông: Giáo điển Vi Diệu hay Câu Xá Tông dựa trên Vi Diệu Câu Xá Luận—Abhidharma or Kosa sect based on the Abhidharma-kosa-sastra Câu Xá Luận)—See Câu Xá Tông. 2) Thành Thật Tông: Giáo điển dựa trên Thành Thật Luận—Satyasiddhi sect, based on the Satyasiddhi-sastra (Thành Thật Luận). 3) Luật Tông: Giáo điển dựa trên Luật Tạng—Vinaya or Discipline sect, based on the Vinaya-pitaka—See Luật Tông. 4) Tam Luận Tông: Giáo điển dựa trên Trung Quán Luận và Thập Nhị Môn Luận của Ngài Long Thọ, cũng như Bách Luận của Ngài Aryadeva—The Three-Sastra Sect, based on the Madhyamika-sastra (Trung Quán Luận) and Dvadasa-nikaya-sastra of Nagarjuna, and Sata-sastra of Aryadeva. 5) Niết Bàn Tông: Thiên Thai—Giáo điển dựa vào Kinh Đại Bát Niết Bàn, được Dharmaraksa dịch sang Hoa ngữ năm 423 sau Tây Lịch, sau nầy sáp nhập với Tông Thiên Thai vì hai tông phái nầy có nhiều chỗ tương đồng—Nirvana sect, based on the Mahaparinirvana-sastra (Đại Bát Niết Bàn), which was translated into Chinese by Dharmaraksa in 423 A.D.; later incorporated in T'ien-T'ai, with which it had in common. 6) Địa Luận Tông: Giáo điển dựa vào Thập Địa Luận của Ngài Thế Thân Bồ Tát, được Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hoa ngữ năm 508 sau Tây Lịch, được Tông Hoa Nghiêm hấp thụ và biến thành giáo điển của mình—Dasabhumika sect, based on Vasubandhu's work (ten stages of the bodhisattva's path to Buddhahood), which was translated into Chinese by Bodhiruci in 508 A.D., absorbed by the Avatamsaka School. 7) Tịnh Độ Tông: Giáo thuyết dựa trên niềm tin Đức Phật A Di Đà trong cõi Tây Phương Cực Lạc—Pure Land or Sukhavati sect (salvation through faith in Amitabha into Western Paradise)—See Tịnh Độ Tông. 8) Thiền Tông: Sơ Tổ Trung Hoa là Ngài Bồ Đề Đạt Ma, nhưng Thiền Tông Trung Quốc đã có từ trước khi Ngài đến Trung Quốc—Dhyana, Meditative or Intuitive sect. Its first patriarch in China was Bodhidharma, but it existed before he came to China. 9) Nhiếp Luận Tông: Giáo điển dựa vào bộ Nhiếp Đại Thừa Luận của Ngài Vô Trước Bồ Tát, được Paramartha dịch sang Hoa ngữ năm 563 sau Tây Lịch, sau được hấp bởi Tông Hoa Nghiêm—Mahayan-samparigraha sect, later absorbed by Avatamsaka sect (Hoa Nghiêm), based on the Mahayana-samparigraha sastra by Asanga, translated by Paramartha in 563 A.D., subsequently absorbed by the Avatamsaka sect. 10) Thiên Thai Tông: Giáo điển dựa trên bộ Kinh Pháp Hoa. Đây là sự hoàn thành của trường phái Trung Quán—Saddharma-pundarika sect, based on the Saddharma-pundarika sastra or the Lotus of the Good Law. It is a consummation of the Madhyamika tradition (Trung Quán Luận). 11) Hoa Nghiêm Tông: Giáo điển dựa vào Kinh Hoa Nghiêm, được dịch sang Hoa ngữ năm 418—Avatamsaka sect, based on the Buddha-Avatamsaka sutra, or Gandha-vyuha, translated into Chinese in 418. 12) Pháp Tướng Tông: Giáo điển Du Già Sư Địa Luận, sau khi Ngài Huyền Trang trở về từ Ấn Độ với bản dịch bộ luận nầy—Dharmalaksana sect, established after the return of Hsuan-tsang from India and his translation of the important Yogacarya works. 13) Mật Tông: Mantrayana (skt)—Esoteric school—Secret teachings—See Chân Ngôn Tông, and Mật Tông. 14) Chân Ngôn Tông: Các giáo lý và phương pháp tu tập của tông phái Phật giáo nầy dựa trên ba phương thức quán tưởng: mạn đà la, mật chú, và thủ ấn—The doctrine and practices of this sect of Buddhism based on three meditational devices: the mandala, the mantra, and the mudra—See Mật Tông.
; (宗派) Cũng gọi Tông môn, Tông chỉ. Chỉ cho các tông môn pháp phái, như chùa viện, giáo hội hoặc các đoàn thể Tông giáo khác có cùng một nội dung giáo nghĩa, nghi thức, hành sự... gọi là Tông phái. Thời đức Phật tại thế, đoàn thể tăng ni của Phật giáo vốn được gọi là Tăng già.Phạm: Saôgha, là giáo đoàn duy nhất thời bấy giờ, nhưng khoảng vài trăm năm sau khi Phật nhập diệt thì phát sinh 18 đến 20 bộ phái. Đến thời Phật giáo Đại thừa thì vì học thuyết phân chia nên lại hình thành Trung quán và phái Du già. Vào thời kì đầu, khi Phật giáo Trung quốc phát sinh học phái thì tăng nhân chưa hẳn đã thuộc về một tăng đoàn nhất định nào. Cho mãi đến khi nhiều loại giáo nghĩa được xác lập, việc truyền thừa của Tổ sư dần dần được xem trọng, thì tên gọi của tông phái từ đó trở thành đại biểu cho tăng đoàn ấy. Tông phái Phật giáo phát sinh ở Trung Quốc vào khoảng thời đại Tùy, Đường, bấy giờ có thuyết 13tông, như: Tìđàm, Thành thực, Luật, Tam luận, Niết bàn, Địa luận, Nhiếp luận, Tịnh độ, Thiền, Thiên thai, Hoa nghiêm, Pháp tướng, Mật tông... Riêng Thiền tông thì có thuyết 5 nhà 7 tông. Năm nhà là: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, là những dòng phái thuộc thiền Nam tông. Còn 7 tông tức là tông Lâm tế trong 5 nhà lại chia ra 2 phái: Dương kì và Hoàng long. Tại Nhậtbản có rất nhiều tông phái, như:1. Nam đô 6 tông: Tam luận, Pháp tướng, Hoa nghiêm, Câu xá, Thành thực và Luật tông. 2. Tám tông: Ngoài 6 tông nói trên, lại thêm 2 tông Thiên thai và Chân ngôn. 3. Tám nhà 9 tông: Ngoài 8 tông nêu trên lại thêm Thiền tông. 4. Mười tông: Ngoài 9 tông nói trên lại thêm tông Tịnh độ nữa. 5. Mười hai tông: Ngoài 10 tông kể trên lại thêm Tịnh độ chân tông và tông Nhật liên. 6. Mười ba tông 56 phái: Khoảng năm 1940, trong 12 tông phái của Phật giáo Nhật bản lại loại bỏ 3 tông Tam luận, Thành thực và Câu xá, còn Thiền tông thì chia ra 3 tông Lâm tế, Tào động và Hoàng bá, rồi lại thêm 2 tông nữa là Dung thông niệm Phật tông và Thời tông. Từ năm 1945 về sau, Nhật bản lại thêm nhiều tông phái Phật giáo mới nữa không thể kể hết.
tông phái mật tông
Mantrayana—See Tông phái (13).
tông phái nhật bản
Buddhist sects in Japan. (A) Sự phát triển Phật Giáo tại Nhật Bản—The development of Buddhism in Japan: Theo Giáo sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Nhật Bản từng được gọi là vùng đất của Phật Giáo Đại Thừa. Dạng Phật Giáo nầy lúc đầu phát triển mạnh ở Trung Hoa rồi đi dần đến Nhật Bản qua trung gian của Triều Tiên. Sau đó Phật giáo ở Nhật Bản phát triển nhờ sự nỗ lực của các tu sĩ Trung Hoa và Nhật Bản. Các học giả cho rằng Phật giáo xuất hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản vào năm 552 và đã đến từ Kudara, một trong những vương quốc của Triều Tiên thời đó—According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Japan has been called the land of Mahayana Buddhism. This form of Buddhism originally flourished in China and travelled to Japan via Korea. Thereafter Buddhism developed through the efforts of both Chinese and Japanese monks. It is generally held by Japanese scholars that Buddhism first made its appearance in the year 552 A.D., and that it came from Kudara, one of the kingdoms of Korea at that time. 1) Thời kỳ du nhập—The period of importation: Từ thế kỷ thứ 6 đến thứ 7 sau Tây Lịch. Đây là thời kỳ Asuka và Nara—From 6th century to 7th century A.D. The Asuka and Nara period. a) Tại Nhật Bản, đạo Phật xuất hiện chủ yếu qua sự thích ứng với Thần đạo, một dạng tín ngưỡng bản địa của Nhật. Để đạt được mục đích nầy, các tu sĩ Phật giáo chấp nhận việc thờ cúng tổ tiên , và để cho các vị thần của Thần Đạo được xếp bên cạnh ảnh của Đức Phật, xem đó như những hiện thân của Đức Phật. Theo cách nầy, đạo Phật mới có thể dần dần tự khẳng định giữa người dân Nhật mà không loại bỏ thẳng thừng Thần Đạo của họ—The first manifestations of Buddhism in Japan consisted chiefly in adapting it to Shintoism, a native cult of Japan. For this purpose, Buddhist monks accepted ancestor worship and admitted, side by side with the Buddha's image, the gods of Shintoism on the ground that these represented the various incarnations of the Buddha. In this manner Buddhism was able gradually to establish itself among the common people without rejecting Shintoism outright. b) Một lợi thế quan trọng là khi đạo Phật lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản thì đạo nầy cũng được giới thiệu đồng thời với nền văn hóa đã phát triển cao độ của Trung Hoa. Phần lớn là do đặc thù văn hóa của mình mà đạo Phật được chấp nhận bởi giai cấp quí tộc vốn là giai cấp trí thức ở Nhật vào thời đó. Một khi đã được giai cấp quí tộc bảo trợ thì Phật giáo nhanh chóng lan ra khắp nước. Nhiều hoàng đế Nhật ngày xưa đã theo đạo Phật và lấy kinh điển Phật giáo làm nguyên tắc chủ đạo trong đời sống. Ông hoàng Shotoku (574-621), quan Nhiếp Chánh của Nữ hoàng Suiko, đã cống hiến lớn cho Phật giáo qua việc xây tu viện Horyuji và viết các luận giải về Tam Tạng. Thực vậy, ông ta đã tạo cho Phật giáo ở Nhật Bản những gì mà vua A Dục đã làm cho đạo nầy ở Ấn Độ hay những gì mà Constantine đã làm cho Cơ Đốc giáo ở đế quốc La Mã—An important advantage was that when Buddhism first made its appearance in Japan, it was introduced along with the highly developed culture of China. It was largely because of its cultural character that Buddhism was accepted by the aristocracy, which was the intellectual class of Japan in those days. Once it was patronized by the aristocracy, Buddhism rapidly spread throughout the country. Several emperors of ancient Japan adopted Buddhism and accepted its tenets as their guiding principles in life. Prince Shotoku (574-621 A.D.), Regent of Empress Suiko, made a great contribution to Buddhism by founding the Horyuji monastery and by writing commentaries on three scriptures. In fact, he did for Buddhism in Japan what King Ashoka had done for it in India, and what Constantine did for Christianity in the Roman Empire. c) Vào thời kỳ nầy có sáu tông phái được du nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc—In those days, the sects introduced from China were six in number: • Câu Xá Tông: The Abhidharma-Kosa School—See Câu Xá Tông. • Tam Luận Tông: The Three Treatise School of the Madhyamika—See Tam Luận Tông. • Thành Thật Tông: The Satyasiddhishastra school—See Thành Thực Tông. • Hoa Nghiêm Tông: The Avatamsaka school—See Hoa Nghiêm Tông. • Pháp Tướng Tông: The Dharmalaksana school—See Pháp Tướng Tông. • Luật Tông: The Vnaya school—See Luật Tông. 2) The period of nationalization: Thời kỳ thứ hai của Phật giáo tại Nhật Bản bắt đầu với sự thành lập của hai phái Thiên Thai và Chân Ngôn. Thiên Thai được Saicho (767-822) sáng lập và Chân Ngôn được Kukai (774-835) sáng lập—The second period of Japanese Buddhism began with the founding two new sects, the T'ien-T'ai and the Shingon, by Saicho (767-822 A.D.) and Kukai (774-835 A.D.), respectively. a) Mục đích của viêc thành lập hai giáo phái nầy là quốc gia hóa các giáo lý của đạo Phật để làm cho đạo nầy trở thành một tôn giáo của toàn thể mọi người. Đồng thời, họ cũng nhằm đưa vào khuôn phép các tu sĩ Phật giáo trong các tu viện cứ sống cách biệt với thế giới thường nhật. Đặc điểm nổi bật của hai giáo phái nầy là chú trọng vào sự giải thoát tinh thần, nhưng cũng chú trọng đến việc áp dụng giáo lý vào cuộc sống—Their object was to nationalize Buddhist doctrines in order to make Buddhism a religion of the common people. At the same time, they aimed at disciplining the monks in Buddhist monasteries who kept aloof from everyday world. The dominant feature of these two sects is that they laid stress not merely on spiritual salvation, but also on the fulfilment of the doctrine in this world. b) Do các nỗ lực liên tục của các tu sĩ Thiên Thai và Chân Ngôn mà Phật Giáo Nhật Bản đã được quốc gia hóa và dần dần được mọi người theo. Tuy nhiên, còn có một số vấn đề cần phải giải quyết. Các giáo lý nầy vẫn còn quá cao siêu, không dễ hiểu cho quảng đại quần chúng, những người nầy thường chỉ muốn tin vào những điều mê tín gắn liền với các giáo lý. Hơn thế nữa, do sự thay đổi của môi trường cùng với sự phổ biến của đạo Phật cho nên nhiều người đã từ bỏ cuộc sống thường ngày để tìm sự yên tĩnh tinh thần trong một thế giới cao xa—By the continuous efforts of both the T'ien-T'ai and the Shingon monks, Buddhism became nationalized and gradually gained in popularity. However, a number of problems remained to be solved. The doctrines were still too scholarly to be easily understood by the common people, who tended to accept only the superstitions attached to them. Furthermore, as the environment changed with the spread of Buddhism, it induced many people to give up this world in order to seek spiritual rest in the world beyond. c) Trong thế kỷ thứ 10, đã có một phong trào Phật giáo mới nổi lên dưới dạng đức tin vào Đức Phật A Di Đà. Nhiều người ngã theo đức tin nầy và họ chỉ việc tụng niệm hồng danh Phật A Di Đà với mục đích tái sanh ở miền Tịnh Độ. Phong trào nầy đã làm nẩy sinh nhiều hệ phái mới biệt lập, cũng đặt nặng đức tin vào Đức Phật A Di Đà—A new Buddhist movement arose in the tenth century A.D. in the form of belief in Amitabha Buddha. Many people were converted to this faith, and they simply recited the name of Amitabha Buddha with the object of being reborn in his Pure Land. This movement was followed by independent new sects which also emphasized belief in Amitabha. d) Đặc điểm chung của các hệ phái nầy được biểu hiện trong định nghĩa về đời sống thế tục, trong những cố gắng để thuần khiết và đơn giản hóa về cả giáo lý lẫn thực hành. Nhờ các đặc điểm trên mà các hệ phái nầy đã thu hút được nhiều tín đồ trong số những tá điền, nông dân và quân nhân. Các hệ phái mới xuất hiện trong thế kỷ mười hai và mười ba gồm—The factors common to these sects were to be found in the definition of laymanship and in the efforts to purify and simplify both doctrine and practice. Owing to these features, they were able to attract many followers from among the farmers, peasants and warriors. The new sects, which arose during the twelfth and thirteenth centuries, were as follows: • Phái Yuzunenbutsu do Ryonin (1072-1132) sáng lập: Yuzunenbutsu founded by Ryonin (1072-1132 A.D.). • Phái Jodo do Honen (1133-1212) sáng lập: Jodo founded by Honen (1133-1212 A.D.). • Phái Jodo-Shin do Shinran (1173-1289) sáng lập: Jodo-Shin founded Shiran (1173-1262 A.D.). • Phái Ji do Ippen (1239-1289) sáng lập: The Ji founded by Ippen (1239-1289 A.D.). e) Thời kỳ Kamakura nẩy sinh các hệ phái mới, trùng hợp với sự thịnh vượng của chế độ phong kiến ở Nhật Bản, có sự xuất hiện của hai hệ phái mới: The Kamakura period, during which these sects came into being, coincided with the rise of feudalism in Japan. It was also in this period that two new sects made their appearance. • Thiền tông do Eisai (1141-1215) và Dogen (1200-1253) sáng lập: The Zen introduced by Eisai (1141-1215 A.D.) and Dogen (1200-1253 A.D.). • Nhật Liên Tông do Nhật Liên (1222-1282) sáng lập: The Nichiren founded by Nichiren (1222-1282 A.D.). • Hai phái nầy có chung đặc điểm với các tông phái Tịnh Độ vừa kể trên phần (d), dù rằng có sự mâu thuẫn đáng kể trong các nguyên tắc của họ. Một bên thì tin vào sự giải thoát qua tín ngưỡng vào quyền lực bên ngoài vốn là triết lý cơ bản của Tịnh Độ tông, còn bên kia thì tin vào sự giải thoát qua sự giác ngộ của chính mình, vốn là nền tảng của Thiền tông: These two sects also shared the same characteristics as those of the Pure Land sects, mentioned in (d), although there was a remarkable contradiction in their principles. One believed in salvation through faith in the power of others, the underlying philosophy of Pure Land Buddhism, and the other in the dotrine of salvation through one's own enlightenment on which the Zen sect is based. 3) Thời kỳ nối tiếp—The period of continuation: Sau thời kỳ Kamakura, Phật giáo Nhật không có sự phát triển nào đáng kể ngoài sự mở rộng của các hệ phái—After the Kamakura period, there was no significant development in Japanese Buddhism other than the expansion of the various sects: a) Trong thời kỳ Edo (1603-1867), Phật giáo Nhật Bản có đủ tính chất quốc giáo dưới sự che chở của chế độ Tướng Quân (Shogun) Tokugawa. Lý do chính là chánh phủ muốn dùng Phật giáo để triệt hạ ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo trong đời sống của người dân Nhật. Trong thời kỳ nầy Phật giáo trở thành phổ biến trong dân chúng đến nỗi vào cuối kỷ nguyên này thì các hoạt động của Phật giáo diễn ra dưới dạng những nghiên cứu bác học, đặt nền móng cho các nghiên cứu Phật giáo về sau nầy: During the Edo period (1603-1867 A.D.), Buddhism acquired the character of a national religion in Japan under the protection of the Tokugawa Shogunate. The main reason for this development was that the government hoped thereby to undermine the influence of Christianity upon the life of the Japanese people. In this period, Buddhism became popular, so that towards the close of this era Buddhist activities took the form of scholarly studies in Buddhism, which laid the foundation of modern Buddhist studies.. b) Sau thời kỳ phục hưng của Minh Trị vào năm 1868, Phật giáo không còn được che chở và phải đối diện với nguy cơ mất đi sự hậu thuẫn của dân chúng do sự đố kỵ của Thần Đạo đầy tính dân tộc. Cũng may là nguy cơ nầy không diễn ra nhờ những nỗ lực của các tín đồ cả Tăng lẫn tục. Hơn nữa, sau đó chánh phủ Nhật bảo đảm sự tự do tín ngưỡng theo Hiến pháp. Đồng thời các tu sĩ từng nghiên cứu giáo lý đạo Phật bằng quan điểm khoa học cố gắng tìm ra một ý nghĩa mới cho các giáo lý xưa. Nên biết trong thời kỳ nầy đã có những đoàn truyền giáo từ Nhật đi đến tận châu Mỹ, Hạ Uy Di, cùng các xứ khác để truyền bà đạo Phật theo tinh thần của những nghiên cứu mới nầy về đạo Phật: Having lost its protector after Meiji Restoration in 1868 A.D., Buddhism faced the risk of being deprived of public support on account of the hostility of nationalistic Shintoism. Fortunately, this risk was obviated by the efforts of both monks and laymen. Furthermore, the government guaranteed freedom of religion under the Constitution. At the same time, many monks who had investigated the doctrines of Buddhism scientifically tried to find a new meaning in the old doctrines. It may also be noted that some Buddhist missionaries went over to America, Hawaii, and other countries to propagate Buddhism in the light of modern studies in Buddhism. (II) Các tông phái Phật giáo Nhật Bản—Japanese Buddhism sects: Như trên đã nói, phần lớn các tông phái Phật giáo Nhật Bản đều từ trung Hoa đến, nhưng chỉ một số còn giữ được tính chất Trung Hoa mà thôi. Tại Nhật Bản có khoảng mười ba tông phái Phật giáo. Đó là Hoa Nghiêm, Luật tông, Pháp Tướng, Mật tông, Tam Luận, A Tỳ Đạt Ma câu Xá, Thành Thật, vân vân, nhưng các tông phái nầy đã có phần tàn lụi và ít tạo được ảnh hưởng riêng. Dưới đây là một số tông phái vẫn còn phát triển—As mentioned above, most Buddhist sects in Japan originally came from China, but only a few of them still retained their Chinese character. The Buddhist sects in Japan are said to be thirteen in number. They are the Avatamsaka (Kegon), the Vinaya (Ritsu), the Dharmalaksana (Hosso), the T'ien-T'ai (Tendai), the Tantric Buddhism (Shingon), the three-sastra school of Madhyamika, the Abhidharma-kosa (Kusha), the Satyasiddhi-sastra (Jojitsi), etc., but they are more or less extinct and have little independent influence. Here are those that are still active: (A) Thiền Phái Nhật Bản: Japanese Zen sects—See Thiền Phái Nhật Bản. (B) Các tông phái khác: Other sects: 1) Phái Nhật Liên: Nichiren sect—Một phái Phật giáo do Nhật Liên (1222-1282) sáng lập. Các tín đồ phái Nhật Liên sùng mộ tụng “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” hòa nhịp với tiếng trống mạnh mẽ của họ—A Japanese Buddhist sect founded by Nichiren (1222-1282). Nichiren believers devotedly recite “Namo The Wonderful Law of the Lotus Sutra” to the vigorous accompanying of their own drum-beating. 2) Phái Thiên Thai: Phái Tiên Thai Nhật Bản khởi đầu với Saicho (767-822). Sau khi qua đời ông được biết như là Truyền Giáo Đại Sư, người đã mang giáo lý phái nầy từ Trung Quốc về Nhật Bản vào năm 805. Giáo lý và phương pháp tu tập của phái Thiên Thai chủ yếu đặc căn bản trên Kinh Pháp Hoa và sự phân chia giáo lý của Phật thành Bát Giáo Ngũ Thời do Trí Giả Đại Sư sơ tổ người Trung Hoa thiết lập—The Japanese T'ien-T'ai sect starts with Saicho (767-822), posthumously known as Dengyo-Daishi, who brought the teachings from China in 805. The T'ien-T'ai doctrine and practices are based chiefly on the Lotus sutra and the division of the Buddha's doctrines into Eight Teachings and Five Periods as laid down by Chi-I, the Chinese founder—For more information about the T'ien-T'ai, please see Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo. 3) Phái Tịnh Độ: Phái Tịnh Độ Nhật Bản được Đại Sư Pháp Nhiên sáng lập năm 1175—The Japanese Pure Land Sect was founded by a great monk named Honen in 1175—For more information about the Pure Land sect, please see A Di Đà in Vietnamese-English and Amita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Sections.
tông phái đạo phật
Buddhism school - Ấn độ: chia làm 2 tông phái chánh: Đại thừa và Tiểu thừa. Tiểu thừa chia làm 20 bộ. Đại thừa chia làm Trung quán tông và Du già tông. - Tại Nhật: Có 12 tông phái như sau: - Luật tông (Ritsou-shŪ) - Pháp tướng tông hay Từ ân tông (Hosso- shŪ) - Tam luận tông (Sanron- shŪ) - Hoa nghiêm tông (Kegon-shŪ) - Thiên thai tông (Tendai- shŪ) - Chơn ngôn tông hay Mật tông (Singon-shŪ) - Thiền tông hay Phật tâm tông (Zen-shŪ) - Pháp hoa tông hay Nhựt liên tông (Nitchiren-shŪ) - Tịnh độ tông (Zodo-shu) - Chơn tông hay Tịnh độ Chơn tông (Shin-shŪ) - Câu xá tông (Koucha-shŪ) - Thành thật tông (Jo-Jitsou-shŪ).
tông pháp
The thesis of a syllogism consisting of two terms, each of which has five different names: tự tính subject; sai biệt its differentiation; hữu pháp that which acts; pháp the action; sở biệt that which is differentiated; năng biệt that which differentiates; tiền trần first statement; hậu trần following statement; tông y that on which the syllogism depends, both for subject and predicate. Also Tông thể.
; Tông Thể—The body of doctrine of a sect with five different names: 1) a) Tự Tính: Subject. b) Sai Biệt: Differentiation. 2) a) Hữu Pháp: Thesis that acts. b) Pháp: The action. 3) a) Sở Biệt: Thesis which is differentiated. b) Năng Biệt: That which differentiates. 4) a) Tiền Trần: First statement. b) Hậu Trần: The following statement. 5) 1) Tông Y: That on which the syllogism depends. 2) Diệc Y: Both for subject and predicate.
; (宗法) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Hữu pháp (chủ từ) của Tông (mệnh đề) được gọi là Tông pháp, tức là tên khác của Tiền trần (chủ từ). Đối lại với Tiền trần thì Pháp là tên khác của Hậu trần (Tân từ) trong Tông. Tiền trần và Hậu trần đối với cả mệnh đề của tông mà nói thì Hữu pháp là Thể, còn Pháp là nghĩa. Một Thể có nhiều nghĩa, như âm thanh ngoài tính chất vô thường, còn có nghĩa là sở văn (cái được nghe), nghĩa sở tác (cái được làm ra). Vì thế, suy rộng ra, hễ cái gì thuộc về nghĩa của Thể này đều có thể gọi là Pháp. Nếu người lập luận lấy đó làm Nhân (lí do) thì cái ấy phải là Tông pháp. Như lập luận thức sau đây: Tông:Âm thanh là vô thường. Nhân:Vì nó là cái được tạo ra. Cái được tạo ra vốn là nghĩa có trong âm thanh của Hữu pháp, là Tông pháp, cho nên có năng lực dùng để chứng minh. Nếu dùng Vì là cái mà mắt thấy làm Nhân thì âm thanh chẳng phải là cái mà mắt thấy được, âm thanh không có nghĩa do mắt thấy, cho nên cái mà mắt thấy chẳng phải Tông pháp. Những cái mà mắt thấy tuy đều là vô thường, nhưng âm thanh vốn chẳng phải là cái mà mắt thấy, cho nên cũng không thể dùng cái mà mắt thấy để đoán định âm thanh cũng là vô thường. Loại Nhân này vừa không thể chứng minh âm thanh là vô thường mà cũng không thể chứng minh âm thanh là thường trụ, vì thế nó chẳng phải là Tông pháp và không thể dùng nó làm Nhân. Hậu trần vô thường trong Tông cũng bao hàm pháp âm thanh của Hữu pháp, cho nên cũng có thể gọi là Tông pháp. Để phân biệt, thông thường gọi Tông pháp nói trong Tông là pháp Sở lập, còn gọi Tông pháp nói trong Nhân là pháp Năng lập. Nếu nói theo sự quan hệ giữa Nhân và Tông thì Nhân là Năng lập, còn Tông là Sở lập. Cho nên nói theo thí dụ thực tế người ta quen dùng: Âm thanh là vô thường, vì nó do sự tác động mà có thì vô thường là pháp Sở lập, còn do sự tác động mà có là pháp Năng lập. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].
tông phạm
(宗範) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Tiền y am biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Đạo quang 15 (1835), được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Nội dung sách này gồm 10 chương: Thiền nguyên, Triệt tham, Điều tập, Nhập thánh, Lợi nhân, Hiển dụ, Cơ dụng, Cương tông, Thị biện và Quán giáo nói về diệu tâm biệt truyền. Trong sách trích dẫn cơ duyên tham ngộ của các Tiên thánh trong các tông, y cứ vào thứ tự tham cứu trước sau mà lần lượt nói rõ về nghĩa Giáo thiền hợp nhất, Thiền Tịnh song tu, khuyến khích người học phát thệ nguyện rộng lớn Đời này làm thầy người, đời sau làm Phật tổ.
Tông phụng 宗奉
[ja] シュウブ shūbu ||| To revere; to worship and honor. 〔法華經 T 262.9.35c03〕 => Sùng kính; thờ phượng và tôn quý.
tông sư
Teacher of the sect.
; (宗師) I. Tông Sư. Cũng gọi: Pháp sư, Kinh sư, Luận sư.Vị cao tăng thấu suốt tông chỉ của 3 tạng Kinh,Luật,Luận, học vấn, đức hạnh vẹn toàn, xứng đáng là bậc thầy của mọi người. II. Tông Sư. Cũng gọi: Tông sư gia, Tông tượng, Thiện tri thức. Riêng chỉ cho bậc sư gia truyền Phật tâm tông (Thiền tông). Tức bậc cao tăng thể ngộ tông chỉ của Thiền tông, có khả năng dùng các phương tiện khéo léo để tiếp dắt đệ tử đến cảnh giới giác ngộ chân chính. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 260 trung) ghi: Tông sư là bậc thầy truyền Phật tâm tông. Còn nói: Tông là tôn, nghĩa là bậc thầy này mở ra con đường pháp không, được mọi người tôn kính. [X. Bích nham lục tắc 2, 53, 63].
Tông sư 宗師
[ja] シュウシ shūshi ||| An eminent monk who possesses learning and virtue, and serves as an instructor and guide for a practitioner, especially in the Chan school. (2) In Chan and other sects, a patriarch. => 1. Là vị cao tăng có trí lực và đức hạnh, là người chỉ dạy và giáo hoá cho mọi người tu tập, đặc biệt trong thiền tông. 2. Là vị Tổ sư trong thiền tông và một số các tông phái khác.
tông thiên thai
Saddharma-pundarika sect—See Tông phái 10.
Tông Thiết Chi Đan
(切支丹宗): tên gọi khác của Thiên Chúa Giáo.
tông thiền
Dhyana or Zen school—See Tông phái 8.
tông thuyết câu thông
Thông suốt cả tông chỉ và thuyết pháp của bậc đại sư (tông thông: thông hiểu tông chỉ hay tu tập thiền định giác ngộ triệt để; thuyết tông: thuyết pháp an nhiên tự tại)—In doctrine and expression both thorough, a term applied to a great teacher.
tông thông thuyết thông
In doctrine and expression, both thorough, a term applied to a great teacher.
; (宗通說通) Cũng gọi: Tông thuyết câu thông. Đồng nghĩa: Tự giác giác tha, Hướng thượng hướng hạ, Hành giải tươngứng. Thông suốt cả tông chỉ và giáo thuyết. Trong Thiền tông, nếu thông đạt tông chỉ sâu xa thì gọi là Tông thông; nếu người có khả năng đối trước đại chúng mà thuyết pháp giáo hóa một cách tự tại thì gọi là Thuyết thông. Kinh Lăng già quyển 3 (Đại 16, 499 trung) ghi: Phật bảo ngài Đạituệ: Tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát có 2 thứ thông tướng, đó là Tông thông và Thuyết thông. Này Đại tuệ Tông thông nghĩa duyên theo tướng thắng tiến mà mình chứng được, xa lìa ngôn ngữ, văn tự, vọng tưởng, hướng tới tự tướng tự giác vô lậu, xa lìa tất cả giác tưởng hư vọng, hàng phục tất cả chúng ma ngoại đạo, nương theo sự giác ngộ của chính mình mà phát huy ánh sáng rực rỡ, đó gọi là Tông thông tướng. Còn Thuyết thông tướng là gì? Nghĩa là giảng nói được giáo pháp của 9 bộ, xa lìa các tướng khác, chẳng khác, có, không... dùng mọi phương tiện khéo léo, tùy căn cơ chúng sinh mà nói pháp thích hợp khiến họ được giải thoát, đó gọi là Thuyết thông tướng. Tông kính lục quyển 29 dẫn lời trong kinh Pháp hoa, cho rằng nếu Thuyết thông tướng mà Tông không thông thì giống như mây đen che mặt trời; còn nếu Tông thông mà Thuyết cũng thông thì như mặt trời ở giữa hư không, không bị một vật gì che lấp. Bởi vì Tông thông và Thuyết thông có quan hệ rất mật thiết, trong Thuyết thông nhất định lấy Tông thông làm chỗ y cứ chính yếu mới có thể dùng ngôn ngữ, văn tự một cách khéo léo để diễn đạt Phật ngữ thiền tâm là chỗ chứng ngộ của mình, cho nên Tông thông phần nhiều được dùng trong phạm vi tu hành của chính mình, còn Thuyết thông thì được dùng trong lãnh vực khai ngộ người khác. Do đó, trong Thiền lâm, từ ngữ Tông thông Thuyết thông đã trở thành danh tướng quan trọng để nói về sự tự hành và hóa tha. Y cứ vào đó, Tông kính lục quyển 29 cho rằng Tông thông là Định, còn Thuyết thông là Tuệ. [X. Truyền pháp bảo kí; Lục tổ đàn kinh; Đốn ngộ yếu môn; Tông kính lục Q.3, 9, 41; Viên ngộ Phật quả Thiền sư ngữ lục quyển 16; Thung dung lục tắc 12; Tổ đình sự uyển Q.7; Truy môn cảnh huấn Q.5].
tông thắng
Một vị đệ tử của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, ỷ mình thông minh, cải lời Tổ dạy, đi đấu lý và biện luận với con vua trong nước thời đó là Thái Tử Dị Kiến, rốt cuộc bị thảm bại nhục nhã, buồn muốn nhảy xuống núi tự tận, may nhờ có Thiên Long Hộ Pháp xuất hiện cứu vớt—Tsung-Sheng, a disciple of Patriarch Bodhidharma. Tsung Sheng thought highly of his intelligence. He disobeyed the Patriarch and went to compete and debate with Prince Di-Ch'ien of that country. As a result, he lost the debate and felt so ashamed that he wanted to commit suicide by jumping off a cliff. Luckily, he was comforted and saved by a Dharma-Guardian.
tông thể
Tông Pháp—Thực thể nghĩa lý của một tông phái—The body of doctrine of a sect—See Tông Pháp and Nhân Minh.
; (宗體) Tông và Thể. Tông là tông chỉ hiển bày đạo lí trong các kinh luận; Thể là chỉ cho Giáo pháp lấy kinh luận làm chủ thể. Tông hợp với Thể gọi chung là Tông thể. Phần nhiều, khi giải thích nghĩa sâu xa của kinh, luật, luận các nhà chú thích thường trình bày theo thứ tự Tông và Thể của kinh. Trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, khi giải thích về Tông, Thể, Hành, Tướng, cho rằng Tông chính là giới pháp, Thể chính là giới thể, Hành tức là giới hạnh và Tướng tức là giới tướng. [X. Pháphoa huyền nghĩa Q.9 hạ; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần].
tông thọ
(宗壽) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Đại tuệ, tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, hiệu Vô lượng, người đời gọi sư là Vô lượng thiền sư. Sư trụ trì chùa Thụy nham ở Minh châu (nay là huyện Ngân, tỉnh Chiết giang). Sư có soạn sách Nhập chúng nhật dụng thanh qui, được ấn hành vào năm Gia định thứ 2 (1209). [X. Nhật dụng thanh qui; Tục truyền đăng lục Q.35; Ngũ đăng nghiêm thống Q.22].
tông thống biên niên
(宗統編年) Tác phẩm, 32 quyển, do ngài Kỉấm biên soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 147. Nội dung sách này theo thể biên niên ghi chép sự hưng thịnh và suy vi của Thiền tông trong khoảng thời gian từ khi đức Thích tôn nhập diệt cho đến năm Khang hi 28 (1689) đời Thanh, Trung Quốc. Quyển 1, 2 nói về đức Phật thích ca mâu ni, quyển 3 đến quyển 7 nói về các vị Tổ ở Ấn độ, quyển 8 nói về Khai tổ Bồ đề Đạt ma ở Trung Quốc, từ quyển 9 đến quyển 30 liệt kê từ ngài Tuệ khả đời thứ 2 trở xuống đến các vị trong 5 tông, cho đến Vũ môn truyền đời thứ 29 tông Lâm tế và Tông kính thư đời thứ 29 tông Tào động. Trong đó còn ghi chép xen lẫn các sự tích quan trọng khác có liên quan đến Phật giáo, nếu có chỗ ngờ thì phụ thêm phần Giáp chú để giải thích. Quyển 31, 32 có tựa đề là Chư phương lược kỉ, thu chép những điều thấy nghe và pháp hệ Thiền tông các nơi trong khoảng từ năm Vạn lịch 43 (1615) đời Minh đến khoảng năm Khang hi 28 (1689) đời Thanh. Sách này sử dụng các tư liệu từ Cao tăng truyện, Truyền đăng lục, cho đến các loại sách vở ngoại học như Ngũ kinh, Chư tử... Chỉ cho tông nghĩa do mỗi tông truyền bá.
tông thừa
The vehicle of a sect, i.e. its essential tenets.
; Tức là Thiền tông, cũng gọi là Tổ Sư Thiền, là Pháp thiền trực tiếp do Phật Thích Ca đích thân truyền cho sơ tổ Ma Ha Ca Diếp.
; Giáo nghĩa và giáo điển của các tông phái—The vehicle of a sect.
; (宗乘) Trong điều Huyền sa Sư bị của Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18, điều Tự pháp sư kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 và trong Phổ khuyến tọa thiền nghi của ngài Đạo nguyên người Nhật bản, đều cho rằng chỗ cùng tột của một tông là Tông thừa. Chữ Thừa ở đây cũng giống với chữ Thừa trong Đại thừa, Tiểu thừa, Nhất thừa và Tam thừa. Mang ý nghĩa là chuyên chở chúng sinh đến chỗ khai ngộ. Ngoài ra, từ ngữ Tông thừa nhãn có nghĩa là đối với Tông thừa có kiến giải độc đáo; Tông thừa lực thì chỉ cho học vấn đắc lực do nương theo Tông thừa mà được.
tông trách từ giác
(宗賾慈覺) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người ở Tương dương, họ Tôn, thụy hiệu Từ giác đại sư, thuộc tông Vân môn nhưng tu theo tông Tịnh độ. Sư mồ côi cha từ thuở nhỏ, được mẹ nuôi dưỡng. Sư có chí tiết cao xa, sớm theo Nho học, thông hiểu sách vở ngoài đời. Năm 29 tuổi, sư lễ ngài Viên thông Pháp tú chùa Trường lô ở Chân châu cầu xuất gia và thụ giới Cụ túc. Sau, sư theo ngài Quảng chiếu Ứng phu tham học Thiền chỉ. Một hôm, sư vừa bước lên bậc thềm thì chợt tỉnh ngộ, liền làm bài tụng (Đại 51, 539 hạ): Cử túc thượng chuyên giai Phân minh giá cá pháp Hoàng dương mộc bạn tiếu ha ha Vạn lí thanh thiên nhất luân nguyệt (Bước chân lên thềm gạch Pháp ấy tự rõ ràng Tựa gốc hoàng dương cười khanh khách Lưng trời muôn dặm một vừng trăng). Khoảng năm Nguyên hựu, sư trụ chùa Trường lô, rước mẹ về Đông thất ở Phương trượng, khuyên mẹ cạo tóc xuất gia, trì niệm danh hiệu Phật Adi đà. Sư trụ ở đây được 7 năm thì mẹ sư qua đời,sư tự nhủ là tâm báo hiếu mẹ đã xong, nên soạn Khuyến hiếu văn 120 bài, nói rõ đạo hiếu của thế gian và xuất thế gian. Năm Nguyên hựu thứ 4 (1089), phỏng theo Bạch liên xã ở Lô sơn, sư kiến lập Liên hoa thắng hội, khuyên tất cả đạo, tục niệm danh hiệu Phật, ghi số hàng ngày, hồi hướng phát nguyện cầu sinh Tịnh độ. Khoảng năm Sùng ninh (1102-1105), nhận lời thỉnh của ông Dương úy, sư bắt đầu hoằng pháp ở viện Hồng tế, phủ Chân định (nay là huyện Chính định, tỉnh Hà bắc). Cứ theo Lạc bang văn loại quyển 3 thì sư là 1 trong 5 vị Tổ kế thừa Liên xã. Sư có các tác phẩm: Thiền uyển thanh qui 10 quyển, Vi giang tập, Tọa thiền châm, Niệm Phật tham thiền cầu tông chỉ thuyết, Liên hoa thắng hội lụcvăn, Niệm Phật hồi hướng phát nguyện văn, Niệm Phật phòng thoái phương tiện văn, Quán Vô lượng thọ Phật kinh tự, Khuyến niệm Phật tụng, Tây phương Tịnh độ tụng. [X. Phật tổ thống kỉQ.27; Tục truyền đăng lụcQ.12; Tịnh độ Thánh hiền lục Q.3; Thích thị kê cổ lược Q.4]. TÔNG TRÍ Cũng gọi Tông thú. Chỉ cho chủ trương, qui thú căn bản của tông phái, là nguyên do lập giáo thuyết pháp và là sự biểu hiện cao nhất về tư tưởng, tinh thần... của một tông, một phái. Pháp tu hành thể nhận được tông chỉ cũng gọi là Tông trí, hoặc Tông thú. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 238 thượng) ghi: Người học ngu độn, xưa nay chỉ nương vào văn tụng niệm chứ biết gì đến Tông thú?. Nhưng trong Mật giáo, có 2 thuyết về Tông thú: 1. TheoY chủ thích trong Lục hợp thích mà giải thích rõ ràng về nghĩa của Tông và Thú, cho rằng giáo pháp được tôn sùng trong một bộ kinh điển, gọi là Tông, chỗ qui thú của Tông, gọi là thú. Như Tông thú của bộ kinh Đại nhật thì lấy pháp môn Tam bình đẳng cú làm Tông, A tự bản bất sinh là Thú. 2. Nếu dùng Trì nghiệp thích để giải thích thì Tông tức làThú. Như chỗ được tôn sùng trong một kinh chính là chỗ qui thú của bộ kinh ấy. Nhưng phần nhiều thuyết thứ nhất được thông dụng hơn. Ngoài ra, còn có rất nhiều dụng ngữ đồng loại với Tông trí, Tông thú như: 1. Tông nguyên: Nguyên do của tông chỉ.2. Tông cốt:Cương yếu cốt lõi của một tông.3. Tông đồ: Con đường của tông chỉ này khác với con đường của các tông chỉ khác. 4. Tông nguyên:Nguồn gốc của tông chỉ.5. Tông cực:Chỗ tột cùng của sở tông, sở thuyết.
tông trí
Giáo điển tối thượng của tông phái—The ultimate or fundamental tenets of a sect, important elements, or main principle.
tông tính
(宗性) I. Tông Tính. Phạm:Pakwatà. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tên khác của Tông thể, tức là Tông (mệnh đề) do 2 Tông y (chủ từ và tân từ) liên kết thành một ngữ ý hoàn chỉnh. (xt. Tông Thể). II. Tông Tính (1202-?) Vị tăng học giả chùa Đông đại thuộc tông Hoa nghiêm, Nhật bản. Lúc còn trẻ tuổi, sư trụ chùa Đông đại nghiên cứu học thuyết của các tông như Hoa nghiêm... Sư từng giữ các chức như Học đầu của viện Tôn thắng, Giảng sư của hội Duy ma... Về sau, được Thiên hoàng Hậu Sa nga kính trọng, cử sư làm chức Biệt đương chùa Đông đại. Sư thị tịch năm nào không rõ, thọ khoảng hơn 70 tuổi. Đệ tử có các vị như: Ngưng nhiên, Công hiểu... Sư có rất nhiều tác phẩm, hiện còn có 230 bộ, 451 quyển. Các sách về Hoa nghiêm, Câu xá của sư thì tập thành tư liệu tăng truyện (Nhật bản cao tăng truyện yếu văn sao).
tông tượng
The master workman of a sect who founded its doctrine.
; Tông sư của một tông phái người đã sáng lập ra giáo thuyết của tông phái (người đã khéo thuyết pháp giúp thành tựu cho đệ tử, như người thợ đúc tượng dạy học trò)—The master workman of a sect who founded its doctrines.
tông tịnh độ
The Pure Land sect—See Tông phái 7.
tông tổ
The founder of a sect or school. Tông Gia a name for Thiện Đạo Shan Tao, a writer of commentaries on the sùtras of the Pure Land sect, and one of its principal literary men.
; Vị sáng lập ra tông phái—The founder of a sect or school.
; (宗祖) Cũng gọi: Khai tổ, Sơ tổ, Thủy tổ, Tổ sư, Khai sơn, Khai cơ. Chỉ cho vị Khai tổ của một tông, cũng tức là vị Tổ khai sáng một tông, hoặc cũng chỉ chung vị Tổ sư sáng lập một chùa, một sơn môn. Trong một tông lại chia ra nhiều phái, cho nên đối với Tông tổ mà nói thì vị Khai tổ của một phái gọi là Phái tổ. Nếu nói theo toàn thể Phật giáo thì đức Phật Thích ca mâu ni là vị Giáo tổ khai sáng một tông giáo. Về sau, các tông phái Phật giáo tuy mỗi phái đều có vị Tổ khai tông lập thuyết của mình, nhưng về mặt tập quán thường suy tôn đức Phật Thích ca mâu ni là vị Sơ tổ truyền thừa giáo thuyết, giáo pháp. Như sự truyền thừa của Thiền tông vốn suy tôn đức Thích ca mâu ni là vị Sơ tổ trong 28 vị Tổ ở Ấn độ, còn tổ Bồ đề Đạt ma thứ 28 là Sơ tổ ở Trung Quốc. Cũng như trong sự truyền thừa của Mật tông thì người đầu tiên truyền kinh Đại nhật và kinh Tô tất địa đến Trung quốc là ngài Thiện vô úy, sau lại có các ngài Nhất hạnh, Bất không... tận lực dịch kinh, soạn sớ, truyền pháp, xác lập sự hoằng truyền giáo pháp Mật giáo tại Trung quốc. Nhưng, về mặt truyền thừa thì Mật giáo thường lấy Pháp thân Đại nhật Như lai (đức Phật Tì lô giá na) làm vị Sơ tổ của mình. Còn Luật tông cũng lấy Phật Thích ca mâu ni làm Sơ tổ. Trong các bộ luật thì luật Tứ phần phổ biến nhất ở Trung quốc, cho nên người đời sau tôn ngài Đạo tuyên làm Khai tổ của Luật tông (Tứ phần luật tông) của Trung quốc, vì ngài là người hoằng truyền luật Tứ phần mạnh mẽ nhất. Trong sự truyền thừa của tông Tịnh độ thì ngài Tuệ viễn đời Đông tấn thành lập Liên xã ở Lô sơn, đề xướng pháp môn Di đà Tịnh độ, là Sơ tổ của tông Tịnh độ Trung quốc. Ngoài ra, các tông phái lớn được phân chia ra từ trong một tông thì mỗi tông phái cũng đều có vị Tổ khai tông lập phái của mình, như tông Lâm tế trong Thiền tông lấy ngài Lâm tế Nghĩa huyền làm Khai tổ, tông Tào động lấy ngài Động sơn Lương giới làm Khai tổ, tông Ngưu đầu lấy ngài Ngưu đầu Pháp dung làm Khai tổ. Còn ở Nhật bản thì Tổ của tông Tào động là ngài Vĩnh bình Đạo nguyên, Tổ của tông Hoàng bá là ngài Ẩn nguyên Long kì đời Minh, Trung Quốc...
tông uyên
(宗淵) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người ở Cao mật, tỉnh Sơn đông, họ Cung. Sư xuất gia ở Đông lai Bắc thiền viện. Sư rất thích ngâm thơ, vì ưa cảnh trí vắng vẻ của núi Bách các tại Nghi dương nên sư trụ ở đó. Bản tính sư trong sạch, ngay thẳng, thích sự yên tĩnh, người phàm tục khó được gặp sư. Hàng ngày, sư trì tụng phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa. Năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980), sư biết trước ngày mệnh chung nên bảo thợ mộc đóng giường tòa gấp, đến ngày ấy, sư an nhiên ngồi thị tịch, thọ 82 tuổi. Sư có tác phẩm: Lạc tây tập. [X. Tống cao tăng truyện Q.30].
tông y
That on which a sect depends.
; Lý thuyết mà tông phái dựa vào (Nhân Minh Học có ba chi, chi thứ nhất là Tông Pháp gồm Tông thể và Tông Y)—The method of proposition on which a sect depends. ** For more information, please see Nhân Minh.
; (宗依) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho Tiền trần (chủ từ) và Hậu trần (tân từ) cấu thành Tông thể trong luận thức Nhân minh. Như lập Tông (mệnh đề): Âm thanh là vô thường thì đó là toàn thể của Tông, gọi là Tổng tông, Tông thể. Phần tử mà Tông thể nương (y) vào để được cấu thành, gọi là Biệt tông, Tông y. Âm thanh và vô thường đều là một phần của Tông, mỗi phần đều là chỗ nương (sở y) của Tông thể để cấu thành, cho nên gọi là Biệt tông, Tông y. Trong đối luận Nhân minh qui định Tông y phải được cả người lập luận lẫn người vấn nạn cùng chấp nhận, đây là điều kiện bắt buộc để xác lập Tông. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Tông Thể).
tông yếu
The fundamental tenets of a sect; the important elements, or main principle.
; See Tông Trí.
; (宗要) Chỉ cho chỗ then chốt của giáo pháp các tông. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 thượng (Đại 33, 683 thượng) nói: Tông là Yếu, tức Phật tự thực hành nhân quả để làm Tông. Yếu là gì? Hễ nói nhân thì bao gồm vô lượng điều thiện; hễ nói quả thì bao gồm vô lượng điều chứng đắc. Giống như giơ tấm lưới lên thì tất cả các mắt lưới đều động; kéo một góc tấm áo thì tất cả sợi vải đều đến, vì thế gọi là Tông yếu. Trong các tác phẩm của mình, ngài Nguyên hiểu (người Triềutiên) thường dùng từ ngữ Tông yếu, như Vô lượng thọ kinh tông yếu, Di lặc thướng sinh kinh tông yếu, Niết bàn tông yếu...[X. Tam luận huyền nghĩa; Thai tông nhị bách đề].
Tông yếu 宗要
[ja] シュウヨウ shūyō ||| The basic doctrine of a particular scripure. A genre of commentary, especially used by the Korean monk Wŏnhyo. => Giáo lý căn bản trong một bộ kinh. Thể loại của chuyên luận đặc biệt do Nguyên Hiểu, một vị tăng Triều Tiên sử dụng.
tông điển
(宗典) Thánh điển của tông phái. Tông nghĩa là tông yếu, tông thú. Chỉ cho các kinh luận đặc biệt được lựa chọn từ trong các kinh của Phật giáo để làm chỗ y cứ cho các tông phái, gọi là Tông điển. Ngoài ra, các tác phẩm do vị Tông tổ, hoặc liệt Tổ của một tông soạn thuật, cũng có khi được xếp vào hàng Tông điển.
tông đồ
Disciples of a sect.
tông đồ tri giải
Tông là Thiền tông, đồ là môn đồ. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ quở Thần Hội rằng: “Ngươi sau này dù ra hoằng pháp cũng chỉ là một môn đồ đủ tri giải của Thiền tông mà thôi” (Tri giải là chướng ngại sự khai ngộ).
tông đồng phẩm
(宗同品) Gọi tắt: Đồng phẩm (Phạm: Sapakwa). Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho phẩm loại cùng một nghĩa với Tông(mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Đồng phẩm cũng bao hàm Nhân đồng phẩm, nhưng phần nhiều chỉ cho Tông đồng phẩm. Như lập luận thức sau đây: Tông:Âm thanh là vô thường. Nhân:Vì nó có tính được tạo tác mà có ra. Dụ:Như cái bình... Sự vô thường của cái bình và sự vô thường của âm thanh là cùng một phẩm loại như nhau, cho nên gọi là Tông đồng phẩm. Sự đồng(giống nhau) dị(khác nhau) của Tông phẩm lấy pháp sở lập(được lập ra) làm tiêu chuẩn. Khi lập tông Âm thanh là vô thường thì vô thường là pháp sở lập, nếu sự vật có những điều kiện giống nhau với pháp sở lập này thì là Đồng phẩm. Cái bình là vô thường, có tính chất điều kiện giống với pháp sở lập, nên bình là Đồng phẩm. Tông đồng phẩm phải được cả Lập(người lập luận) và Địch(người vấn nạn) cùng chấp nhận(cộng hứa). Cùng chấp nhận ở đây có 2 ý nghĩa: 1. Cùng chấp nhận thể của nó (Tông đồng phẩm) là có thật. 2. Cùng chấp nhận thể của nó có đủ ý nghĩa được nói trong pháp sở lập. Như tông Âm thanh là vô thường, lấy bình làm Tông đồng phẩm, bình được cả đôi bên Lập và Địch cùng thừa nhận là có thật, cũng được Lập và Địch thừa nhận bình có nghĩa vô thường. Để phân biệt với Đồng phẩm mà Lập, Địch cùng không chấp nhận, nên Đồng phẩm mà Lập, Địch cùng chấp nhận này cũng được gọi là Cộng đồng phẩm. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.thượng; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Đồng Phẩm).
tông ấn
(宗印) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người ở Diêm quan, Hàng châu (Hải ninh, Chiết giang), họ Trần, tự Nguyên thực, hiệu là Bắc phong Sư thờ ngài Tuệ lực Đức lân làm thầy. Sau, sư tham yết ngài Trúc am Khả quan ở Đương hồ, tu tập giáo quán tông Thiên thai, đọc tụng cách ngôn của các Tổ. Không bao lâu, sư đến Nam hồ tu tập pháp sám trường kì. Rồi sư lại đến Tượng điền tham yết Thiền sư Viên ngộ diễn. Sau, sư trở về chùa Diên khánh ở Nam hồ, nhận lời thỉnh của ngài Hư đường Bản không làm Thủ tọa chùa này. Ngài Bản không từng soạn luận Tông cực, bàn rõ về thuyết Sự, Lí mỗi thứ lập 1 tính của ngài Trí dũng Liễu nhiên, sư bèn lập ra 9 vấn nạn để bác bỏ. Về sau, ngài Thông thủ Tô tần, thỉnh sư trụ chùa Chính giác, vì gặp cơn lốc lớn nên chùa bị sập đổ, cả 2 vị cùng về Triết tây, trụ chùa Thiên trúc thượng, giảng Chỉ quán. Vua Ninh tông nghe tiếng sư, triệu vào cung thỉnh vấn đại chỉ Phật pháp, ban hiệu Tuệ Hạnh Pháp Sư. Năm Khánh nguyên thứ 5 (1199), vị tăng người Nhật bản là Tuấn nhận đến Trung quốc, trụ ở chùa Siêu quả 8 năm, theo sư học giáo quán. Năm Gia định thứ 6 (1213), sư nằm nghiêng bên phải mà thị tịch ở am Nhất hạnh tại Tùng giang, thọ 66 tuổi, được an táng cạnh tháp Từ vân. Sư có các tác phẩm: Lăng nghiêm kinh thích đề, 1 quyển, Kimcương kinh tân giải, Bắc phong giáo nghĩa (không rõ số quyển, hiện còn 1 quyển). [X. Thích môn chính thống Q.7; Phật tổ thống kíQ.16; Phật tổ lịch đại thông tải Q.32].
Tông 宗
[ja] シュウ shū, sō ||| (1) Ancestor, origin. (2) Head, chief. (3) Patriarch. (4) A clan of single ancestry. (5) A certain teaching or tradition which has come from a certain source. => 1. Tổ tiên, thuỷ tổ. 2. Thủ lĩnh, thủ trưởng. 3. Tổ sư. 4. Bộ tộc chỉ có một dòng họ. 5. Giáo lý hay pháp môn xuất phát từ một nguồn nào đó.
Tông-khách-ba
宗喀巴; T: tsong-kha-pa; 1357-1419;|Lạt-ma Tây Tạng, nhà cải cách lừng danh của Phật giáo tại đây. Sư sáng lập tông phái Cách-lỗ (t: gelugpa), với một trong những giáo pháp quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng. Sư sinh ra trong lúc các Tạng kinh tại Tây Tạng đã soạn xong nhưng Sư chủ trương soát xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành quả của mình trong hai tác phẩm chính: Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim chenmo) và Chân ngôn đạo thứ đệ (t: ngagrim chen-mo). Sư là người xây dựng nhiều tháp quan trọng tại Tây Tạng như Drepung, Sera và Ganden.|Sư sinh tại Amdo, Ðông Bắc Tây Tạng và lúc còn nhỏ, Sư đã đi vào con đường tu học. Năm ba tuổi, Sư thụ giới Cư sĩ với Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ 4, La-bồi Ða-kiệt (t: rolpe dorje; 1340-1383). Sư học với nhiều vị đạo sư khác nhau và nghe nhiều khai thị của hai tông phái Tát-ca (t: sakyapa) và Cam-đan (t: kadampa). Khả năng luận giảng xuất sắc của Tông-khách-ba biểu lộ trong 18 tác phẩm và các tác phẩm này đã trở thành kinh sách giáo khoa cho các thế hệ sau. Sư cho rằng, một tỉ-khâu cần phải nghiên cứu năm ngành học (Ngũ minh) và muốn thế, vị này cần biết lắng nghe các lời khai thị, biết tự mình suy xét phân biệt và biết thực hiện chúng thông qua thiền định. Trong năm ngành đó thì về triết học, Sư khuyên học Trung quán và ngành Nhân minh (s: hetuvidyā), về thiền định nên nghiên giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa và A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), về một đời sống chân chính nên dựa vào Luật tạng (s, p: vina-ya).||H 67: Tông-khách-ba. Trong hình này, Sư được diễn tả như một hiện thân của Văn-thù, với những dụng cụ thuộc tính như hoả kiếm (s: khaḍga) và quyển kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra). Tay Sư đang bắt Ấn chuyển pháp luân. Phía trên đầu là ba bảo ngọc, tượng trưng cho Tam bảo. Mũ nhọn trên đầu Sư là biểu hiện của một học giả (s: paṇḍita).|Ngoài các thành tích trên, Sư còn hoàn tất bốn công trình lớn được kể là: tu chỉnh một bức tượng quan trọng của Di-lặc, kiên trì giữ Luật tạng, thành lập lễ nguyên đán Mon-lam và xây nhiều tháp.
tù hãm
To live shut up.
tù túng
Not having enough room (space) for action.
tù xà đa
Xem Thiện Sanh.
tùm lum
In confusion—In disorder.
tùng
1) Cây tùng: A pine. 2) Đồng ý: To agree with. 3) Phụ tùng: Secondary. 4) Theo: To follow—To arise from. 5) Tùng học: Followers.
Tùng Bình
(松平, Matsudaira): tên gọi của một dòng họ, vốn xuất thân từ Thôn Tùng Bình (松平村), Quận Gia Mậu (加茂郡), tiểu quốc Tam Hà (三河, Mikawa). Thân Thị (親氏) là vị Tổ khai sáng đời đầu, đến đời thứ 9 là Gia Khang (家康, Ieyasu) thì đổi thành họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa).
Tùng Bình Thân Trung
(松平親忠, Matsudaira Chikatada, 1431-1501): Đương Chủ đời thứ 4 của dòng họ Tùng Bình, con trai thứ 3 của Tùng Bình Tín Quang (松平信光, Matsutaira Nobumitsu); tên lúc nhỏ là Trúc Thiên Đại (竹千代); thông xưng là Thứ Lang Tam Lang (次郎三郎). Ông bắt đầu kế thừa gia nghiệp vào khoảng năm 1489 (Trường Hưởng [長享] 3) sau khi phụ thân qua đời, và trở thành chủ nhân Thành An Tường (安祥城, Anshō-jō). Không bao lâu sau, ông xuất gia, lấy hiệu là Tây Trung (西忠), pháp hiệu là Tùng An Viện Điện Thái Dận Tây Trung (松安院殿太胤西忠). Ông qua đời vào ngày mồng 10 tháng 8 năm 1501 (Minh Ứng [明應] 10), hưởng thọ 71 tuổi.
Tùng Bình Tín Quang
(松平信光, Matsutaira Nobumitsu, ?-?): vị Võ Tướng sống trong khoảng thời gian từ thời đại Thất Đinh đến Chiến Quốc; tên lúc nhỏ là Trúc Nhã Hoàn (竹若丸) hay Trúc Thiên Đại (竹千代); thông xưng là Tam Lang (三郎); thân phụ là Tùng Bình Thái Thân (松平泰親, Matsutaira Yasuchika). Theo các sử liệu cho biết, ông được xem như là sơ Tổ của dòng họ Tùng Bình. Tương truyền trong khoảng thời gian vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂, Ōnin-no-ran), ông phục vụ cho Y Thế Trinh Thân (伊勢貞親, Ise Sadachika), quan Chấp Sự Chính Sở cho chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Sau đó, dần dần ông tập trung thế lực, trở thành nhà Chiến Quốc Đại Danh, tạo cơ sở vững chắc cho dòng họ Tùng Bình. Chính ông là người có công trong việc kiến lập Vạn Tùng Tự (萬松寺) ở Lang Thôn (瀧村, Taki-mura) cũng như Tín Quang Minh Tự (信光明寺) ở Nham Tân (岩津, Iwazu). Cuối cùng ông qua đời tại Thành An Tường (安祥城, Anshō-jō).
Tùng Dung Am Lục
(從容菴錄, Shōyōanroku): xem Tùng Dung Lục (從容錄, Shōyōroku) bên dưới.
Tùng Dung Lục
(從容錄, Shōyōroku): còn gọi là Tùng Dung Am Lục (從容菴錄, Shōyōanroku), nguyên bản là Vạn Tùng Lão Nhân Bình Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Tụng Cổ Tùng Dung Am Lục (萬松老人評天童覺和尚頌古從容菴錄, Manshōrōjinbyōtendōkakuoshōjukoshōyōanroku), 6 quyển, bản tụng cổ của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) nhà Tống, có lời bình xướng của Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀), san hành vào năm thứ 17 (1224) niên hiệu Gia Định (嘉定). Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiệu Hưng (紹興, 1131-1162), Hoằng Trí Chánh Giác tiến hành biên tập 100 tắc công án của chư vị cổ đức, trong đó 11 tắc là tụng cổ của bản thân ông. Về sau, trong khoảng thời gian ẩn cư nhàn hạ tại Tùng Dung Am (從容菴) trong khuôn viên Báo Ân Tự (報恩寺) ở Yến Kinh (燕京, Phố Bắc Kinh), vào năm thứ 6 (1223) niên hiệu Gia Định nhà Nam Tống, Vạn Tùng Hành Tú đi theo vua Thái Tổ thân chinh Tây Vức, thể theo lời thỉnh cầu của Trạm Nhiên Cư Sĩ Gia Luật Sở Tài (湛然居士耶律楚材), có thêm vào trong phần Hoằng Trí Tụng Cổ những lời dạy chúng, bình xướng, trước ngữ, lấy tên am thất của minh đặt tên cho bộ sách này là Tùng Dung Lục. Bản hiện tại có 6 quyển được trùng san vào năm thứ 35 (1607) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh. Cùng với Bích Nham Lục (碧巖錄), bộ này được lưu hành rộng rãi trong Thiền lâm; các bài tụng cổ trong đó có phong cách rất cao. Đối xứng với Bích Nham Lục được dùng rộng rãi trong Lâm Tế Tông, Tùng Dung Lục được dùng rất phổ biến trong Tào Động Tông để cử xướng tông phong. Cho nên có bộ Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Tụng Cổ Báo Ân Lão Nhân Trước Ngữ (天童覺和尚頌古報恩老人著語) 2 quyển do Linh Thoại (靈瑞) ở Vạn Tùng Tự (萬松寺, Manshō-ji), thành phố Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya) Nhật Bản ghi lời bình xướng. Bản lưu bố có Tăng Quan Hoằng Trí Thiền Sư Tụng Cổ (増冠宏智禪師頌古) do Cổ Điền Phạn Tiên (古田梵仙) bổ chú san hành vào tháng 6 năm thứ 19 (1886) niên hiệu Minh Trị (明治). Sách chú giải chủ yếu có Tụng Cổ Xưng Đề (頌古稱提) của Diện Sơn (面山), Tùng Dung Lục Biện Giải (從容錄辨解) của Thiên Quế (天桂), Tiếp Tuy Lục (接觜錄) của Đỉnh Tam (鼎三), v.v.
tùng dung lục
Congronglu (C)Tên một bộ sưu tập.
tùng duyên hiển liễu tông
Xem Di Man Sai phái.
tùng duyên sanh
Pratyaya-mayam (skt)—To arise from condition—Consisting condition.
tùng duyệt thiền sư
Thiền sư Tùng Duyệt Đẩu Suất sanh năm 1044 tại Cám Châu, bây giờ là tỉnh Giang Tây—Zen master Tzong-Yueh Tou-Shuai was born in 1044 in Kan-Chou, a place in modern Jiang-Xi province. • Sư làm “thủ chúng” ở tu viện Đạo Ngộ, trong một dịp hướng dẫn Tăng chúng đến yết kiến Hòa Thượng Trí ở Vân Cái. Sau một vài câu đàm luận, thiền sư Trí đã biết được biệt tài của sư. Hòa Thượng Trí bèn cười bảo: “Xem thủ tọa khí chất phi phàm, tại sao thốt ra lời dường như kẻ say?” Sư đỏ mặt xuất mồ hôi thưa: “Cúi mong Hòa Thượng chẳng tiếc từ bi.” Hòa thượng Trí lại dùng lời châm chích thêm. Sư mờ mịt, liền xin nhập thất tham vấn riêng với Hòa Thượng. Hòa thượng Trí hỏi: “Ông đã từng thấy Hòa thượng Pháp Xướng chăng?” Sư thưa: “Có từng xem ngữ lục của Ngài, tự hiểu rõ, chứ không mong thấy.”—Tzong-Yueh was the head monk at Tao-Wu Monastery, and on one occasion he led a group of monks on a journey to visit Zen master Yun-Kai Zhi. After only a few sentences of conversation, Zhi knew that Tzong-Yueh possessed special ability. Zhi laughed and said: “I observe that your breath is unusual. Why is it that when you speak your breath is like that of a drunkard?” Tzong-Yueh's face became flushed and he broke out in sweat, and he said: “I hope the master won't spare your compassion.” Zhi continued to talk to Tzong-Yueh, goading him. Tzong-Yueh was flushed and didn't understand. He asked to have a private interview with Zhi. In the abbot's room, Zhi asked Tzong-Yueh: “Have you ever seen Zen master Fa-Chang?” Tzong-Yueh said: “I have read the record of his talks. I understood it all, so I don't want to see him.” • Hòa Thượng Trí hỏi tiếp: “Từng thấy Hòa thượng Văn ở Động Sơn chăng?” Tùng Duyệt thưa: “Người Quan Tây vô não, mang một cái quần vải khai nước đái, có chỗ nào hay?” Hòa thượng Trí nói ngay: “Ông nên đến ngay chỗ khai nước đái ấy mà tham vấn.” Sư theo lời dạy của Hòa thượng Trí, tìm đến yết kiến Hòa thượng Văn và thâm nhận được áo chỉ. Sư trở lại yết kiến Hòa thượng Trí. Trí hỏi: “Sau khi thấy người Quan Tây đại sự thế nào?” Sư thưa: “Nếu chẳng được Hòa Thượng chỉ dạy, đã luống qua một đời.” Sư bèn lễ tạ Hòa Thượng Trí mà lui ra—Zen master Zhi continued to ask Tzong-Yueh: “Have you seen Zen master Tung-Shan Wen?” Tzong-Yueh said: “Kuan-Hsi's disciples don't have any brains. If you put on a cotton garment that smells like piss, what good is it?” Zhi said: “You should go and practice at that place that smells like piss.” Following Zhi's instructions, Tzong-Yueh went and practiced with Zen master Wen at Tung-Shan, and deeply realized his great teaching. Later Tzong-Yueh returned to see Zen master Zhi. Zhi asked: “Now that you've seen Kuan-Xi's disciples, what about the great matter?” Tzong-Yueh said: “Had it not been for your instructions, it would have slipped past me my entire life.” Tzong-Yueh then bowed and retreated. • Một lần sư thượng đường thuyết pháp: “Tai mắt một bề trong, ở yên trong hang vắng, gió thu vào cổ tùng, trăng thu sanh sông biếc. Thiền Tăng khi ấy lại cầu chơn, hai con khỉ đột bốn đuôi duỗi.” Nói xong sư bèn hét lên một tiếng—One time he entered the hall to address the monks, saying: “When a person' eyes and ears are clear, then he resides in a remote mountain valley. The autumn wind rustles the ancient pines and the autumn moon reflects from the cold waters. A patch-robed monk who reaches that place must go still further to realize the truth, for this is still just two apes with four tails hanging down.” After saying this the master shouted. • Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Đẩu Suất trọn không biện biệt, lại kêu rùa đen là trạnh, không thể nói diệu bàn huyền, chỉ biết khua môi động lưỡi, khiến cho Thiền Tăng trong thiên hạ xem thấy trong mắt một giọt máu, chớ có đổi sân làm hỷ người tiếu ngạo yên Hà đó chăng? Sư im lặng giây lâu nói: “Thổi lên một bản thăng bình nhạc, mong được sanh bình chưa hết sầu.”Another time Tou-Shuai entered the hall to address the monks, saying: “I can't differentiate anything. I see a hard-shelled turtle and I mistakenly call it soft-shelled. I can't talk any wondrous talk, or speak about truth. I just flap my lips and drum my tongue. When all the monks in the world see me, they laugh so hard in derision that their tears turn to blood. Don't I turn their derision to happiness? Are you laughing at me now?” After a pause, the master said: “I blow a light hearted tune on my flute and it causes people to forget a lifetime of troubles.” • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Mới thấy tân xuân lại sang đầu hạ, bốn mùa dường tên sáng tối như thoi, bỗng chợt mặt hồng trở thành đầu bạc, cần phải nỗ lực riêng dụng tinh thần, cày lấy vườn ruộng của mình, chớ phạm lúa mạ của người, tuy nhiên như thế kéo cày mang bừa, phải là con trâu trắng ở núi Tuyết mới được. Hãy nói lỗ mũi ở chỗ nào? Sư im lặng giây lâu lại nói: “Bậy! Bậy!”—One day Zen master Tou-Shuai enterd the hall to address the monks, saying: “Fist comes the new spring, and then it's the beginning of summer. The four seasons pass like a shuttle. Before you know it, a red-faced baby has turned into an old white-hair. You must truly exert yourself and use extraordinary effort. Cultivate your own field, and don't steal someone else's seedings. Applying yourself in this way, your cultivation will certainly result in finally seeing the white ox on snow mountain.” • Vào mùa đông năm 1091, sau khi tắm gội, sư họp Tăng chúng lại nói kệ: “Bốn mươi tám năm, Thánh phàm giết sạch, Chẳng phải anh hùng, Long An đường trơn.” Nói xong sư ngồi yên thị tịch, được vua ban danh hiệu “Chơn Tịnh Thiền Sư.” In the winter of 1091, after bathing, the master assembled the monks and recited this verse: “After forty-eight years, Sacred and mundane are completely killed off, Although not heroic, The Longan road is slippery.” Upon finishing the verse, the master passed away (still sitting). He received posthumous title of “True Stillness Zen Master.”
tùng duyệt đẩu suất
Tsung-Yueh-T'ou-Shuai—See Tùng Duyệt Thiền Sư.
tùng giới giới
xem oai nghi giới.
tùng lam
Xem Tì lam.
Tùng lâm
(叢林): còn gọi là Thiền lâm (禪林) hay Chiên Đàn lâm (旃檀林), nơi khu rừng có nhiều cây cối rậm rạp, nơi tăng chúng hòa hợp cùng chung sống một chỗ rất yên tĩnh như cây cối. Thông thường từ này ám chỉ đạo tràng nơi các vị Thiền tăng tham Thiền biện đạo.
; (叢林): có hai nghĩa chính:(1) Khu rừng có cây cối mọc um tùm. (2) Tự viện lớn, đặc biệt ám chỉ Thiền tự, Thiền lâm. Như Thiền Lâm Bảo Huấn (禪林寶訓, Taishō Vol. 48, No. 2022) quyển 4 có dạy rằng: “Học giả bảo ư tùng lâm, tùng lâm bảo ư đạo đức, trú trì nhân vô đạo đức, tắc tùng lâm tương kiến kỳ phế hỉ (學者保於叢林、叢林保於道德、住持人無道德、則叢林將見其廢矣, học giả bảo vệ chốn tùng lâm, tùng lâm bảo dưỡng đạo đức; người trú trì mà không có đạo đức, ắt tùng lâm sẽ bị phế tuyệt vậy).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244), Chương Báo Ân (報恩章) thứ 2 có đoạn rằng: “Kim tùng lâm trung, phàm ngộ tai nạn đẳng sự, kỳ đảo Vi Đà, vô bất linh ứng (今叢林中、凡遇災難等事、祈禱韋陀、無不靈應, nay trong chốn tùng lâm, nếu gặp tai nạn, v.v., nên cầu đảo Vi Đà, không gì không linh ứng).”
tùng lâm
Pindavana (skt)—Khu rừng cây tùng—Pine forest—A Clump of forest—A large assembly of monks—A monastery.
Tùng Lâm Công Luận
(叢林公論, Sōrinkōron): 1 quyển, do Giả Am Huệ Bân (者庵惠彬) nhà Tống soạn, san hành vào năm thứ 8 (1680) niên hiệu Diên Bảo (延寳). Vào năm thứ 16 (1189) niên hiệu Thuần Hy (淳熙) nhà Nam Tống, Giả Am Huệ Bân thâu tập những điển tịch nội ngoại Thiền lâm, luận rõ chúng đúng sai, chánh tà như thế nào, chia ra 70 hạng mục để hình thành tác phẩm này. Trong Thiền Tịch Chí (禪籍志) có xưng tán rằng: “Kỳ luận chí công, kỳ tự tuyệt xướng, cái Nam Tống anh kiệt, Thiền lâm nha trảo (其論至公、其序絕唱、蓋南宋英傑、禪林牙爪, luận bàn của ông rất công bằng, lời tựa của ông hay tuyệt, quả đúng là bậc anh kiệt của nhà Nam Tống, là nanh vuốt của rừng Thiền)”. Giả Am nhờ đạo hữu Tông Huệ (宗惠) viết lời tựa và cho san hành bộ này; tuy nhiên cả hai đều không rõ thuộc pháp hệ nào. Tại Nhật, bản san hành vào năm thứ 8 niên hiệu Diên Bảo do Vô Trước Đạo Trung (無著道忠) hiệu đính, được phổ biến rộng rãi nhất; nhưng trước đó cũng có bản năm thứ 4 (1359) niên hiệu Diên Văn (延文), bản hoạt tự niên hiệu Khánh Trường (慶長, 1596-1615), v.v.
Tùng Lâm Thạnh Sự
(叢林盛事, Sōrinseiji): 2 quyển, do Cổ Nguyệt Đạo Dung (古月道融) nhà Tống soạn. Đây là thư tịch có lời tựa của tác giả ghi năm thứ 3 (1197) niên hiệu Khánh Nguyên (慶元) nhà Nam Tống và lời bạt của Độn Am Tông Diễn (遯庵宗演) vào năm thứ 5 (1199) cùng niên hiệu trên. Nội dung của nó là những ngôn hạnh của chư vị thánh nhân, tôi hiền được tác giả mắt thấy tai nghe rõ ràng ngay trong tùng lâm của mình, thâu lục lại để làm tư lương giúp ích cho người đến tham học. Sách chú giải về tác phẩm này có Tùng Lâm Thạnh Sự Biệt Khảo (叢林盛事別考), không rõ tác giả.
tùng lâm tinh xá
Piṇḍavana-Vihāra (S).
Tùng lâm, tòng lâm
(叢林): chỉ các tự viện nơi tăng chúng tập trung sinh sống, đặc biệt chỉ cho các tự viện Thiền Tông. Xưa kia, tại Ấn Độ, phần lớn người ta thường chọn các khu rừng thâm u, tĩnh mịch, cách xa thành thị náo nhiệt, để kiến lập Tinh Xá; cho nên, nơi chư tăng dừng lại an trú được gọi là Lan Nhã (蘭若, nơi vắng vẻ, yên tĩnh), tùng lâm, v.v. Các kinh điển giải thích về từ này rất nhiều, như Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 3 cho rằng tăng chúng hòa hợp, cư trú tại một nơi, giống như khu rừng có cây cối tụ tập, nên lấy đó làm thí dụ. Đại Trang Nghiêm Luận Kinh (大莊嚴論經, Taishō Vol. 4, No. 201) quyển 1 thì cho rằng: “Tăng do dũng kiện quân, năng tồi ma oán địch, như thị chúng tăng giả, thắng trí chi tùng lâm (僧猶勇健軍、能摧魔怨敵、如是眾僧者、勝智之叢林, tăng như quân hùng mạnh, phá được địch ma oán, như vậy chúng tăng là, tùng lâm có thắng trí).” Hay Thiền Lâm Bảo Huấn Âm Nghĩa (禪林寶訓音義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1262) định nghĩa hai chữ tùng lâm rằng: “Tùng lâm nãi chúng tăng sở chỉ chi xứ, hành nhân thê tâm tu đạo chi sở dã; thảo bất loạn sanh viết tùng, mộc bất loạn trưởng viết lâm; ngôn kỳ nội hữu quy cũ pháp độ dã (叢林乃眾僧所止之處、行人棲心修道之所也、草不亂生曰叢、木不亂長曰林、言其內有規矩法度也, tùng lâm là nơi chúng tăng dừng chân, là chốn hành giả dưỡng tâm tu đạo; cỏ không mọc loạn xạ gọi là tùng, cây không sinh trưởng tạp loạn gọi là lâm; gọi như vậy vì bên trong có quy cũ, pháp tắc vậy).” Thông thường, tùng lâm chỉ cho các tự viện Thiền Tông, nên còn có tên là Thiền lâm (禪林). Bên cạnh đó, người ta lấy rừng cây Chiên Đàn có hương thơm phức để ví cho chốn tùng lâm thanh tịnh, nơi cư trú của các bậc long tượng, nên còn được gọi là Chiên Đàn Lâm (栴檀林). Sau này, các tự viện các tông phái về Luật, Giáo, v.v., cũng mô phỏng theo chế độ Thiền lâm mà gọi là tùng lâm. Trong tùng lâm, tất cả tài sản của chùa đều thuộc về của công, không phải của riêng cho bất cứ ai, theo một quy củ nhất định mà thâu nhận chư tăng từ khắp nơi đến; vị Trú Trì cũng được tuyển chọn thông qua sự đồng ý của đại tăng; cho nên nơi đây còn được gọi là Thập Phương Tùng Lâm (十方叢林). Lại theo Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 13 cho biết rằng tùng lâm có thể làm cho phát sanh trí tuệ, thần thông, v.v., nên còn có tên là Công Đức Tùng Lâm (功德叢林). Đối với Thiền Tông Trung Hoa, từ sau thời Lục Tổ Huệ Năng (慧能, 638-713) trở đi, trong vòng hơn 100 năm, phần lớn chư vị Thiền tăng lúc bấy giờ sống trong các hang động hay tá túc tại các tự viện của Luật Tông; sau đó, Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一, 709-788) sáng lập ra tùng lâm để giúp tăng chúng được an cư. Tiếp theo, nhân việc trú xứ của tăng chúng tôn ty thượng hạ không phân định rõ ràng; thuyết pháp, Trú Trì chẳng theo quy chế nào cả, v.v., Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海, 749-814) bèn chế định ra Thanh Quy, gọi là Bách Trượng Thanh Quy (百丈清規). Trãi qua từ cuối thời nhà Đường (唐, 618-907) đến nhà Tống (宋, 960-1279), việc kiến lập tùng lâm ngày một hoàn bị, Thiền tăng thường tập trung cư trú; nếu chốn tùng lâm nào có bậc cao đức Trú Trì, số lượng tăng chúng có thể lên đến trên ngàn người. Tùng lâm ở phương Bắc hưng thịnh dưới thời nhà Tống; vào thời vua Nhân Tông (仁宗, tại vị 1022-1063), Thiền đạo thịnh hành ở Biện Kinh (汴京); rồi vua Thần Tông (神宗, tại vị 1067-1085) sắc mệnh sáng lập hai Đại Thiền Viện là Huệ Lâm (慧林), Trí Hải (智海), và sau này trở thành những Thiền Lâm trứ danh của Kinh Sư Khai Phong (開封). Đến năm thứ 2 (1103) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1126), khi Tông Trách (宗賾, ?-?) biên tập bộ Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規, 10 quyển), chế độ tùng lâm đã được hoàn bị một cách rạng rỡ. Sau khi Hoàng thất nhà Tống đi về phương Nam, các danh tăng Thiền tông xuất hiện, tùng lâm nhất thời đạt đến tột đỉnh cực thịnh; Sử Di Viễn (史彌遠, 1164-1233) bèn dâng sớ tâu xin quy định các Thiền Tự ở Giang Nam là Ngũ Sơn Thập Sát (五山十剎); gồm: (1) Kính Sơn Tự (徑山寺) ở Dư Hàng (餘杭), (2) Linh Ẩn Tự (靈隱寺) ở Hàng Châu (杭州), (3) Tịnh Từ Tự (淨慈寺), (4) Thiên Đồng Tự (天童寺) ở Ninh Ba (寧波), (5) Dục Vương Tự (育王寺) làm Thiền Viện Ngũ Sơn (禪院五山); còn (1) Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) ở Hàng Châu, (2) Đạo Tràng Tự (道場寺) ở Hồ Châu (湖州), (3) Giang Tâm Tự (江心寺) ở Ôn Châu (溫州), (4) Song Lâm Tự (雙林寺) ở Kim Hoa (金華), (5) Tuyết Đậu Tự (雪竇寺) ở Ninh Ba, (6) Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Đài Châu (台州), (7) Tuyết Phong Tự (雪峰寺) ở Phúc Châu (福州), (8) Linh Cốc Tự (靈谷寺) ở Kiến Khang (建康), (9) Vạn Thọ Tự (萬壽寺) ở Tô Châu (蘇州), (10) Hổ Kheo Tự (虎丘寺) là Thiền Viện Thập Sát (禪院十剎). Đến thời kỳ này, chế độ tùng lâm tồn tại một thời gian lâu ở Giang Nam. Về quy mô tùng lâm, ban đầu vẫn còn nhỏ. Trong một chùa, chỉ có Phương Trượng (方丈), Pháp Đường (法堂), Tăng Đường (僧堂) và Nhà Liêu. Trú Trì là chủ của tăng chúng, được tôn làm Trưởng Lão, ở tại nhà Phương Trượng. Ban đầu không có Điện Phật, chỉ thiết lập Pháp Đường mà thôi. Khi tăng chúng vào Tăng Đường, tùy theo Giới Lạp (戒臘) lớn nhỏ mà an bài vị thứ; hay khi tiến hành Pháp Phổ Thỉnh (普請法, lao động tập thể), bất luận trên dưới, mọi người đều phải tham gia lao động để tự cung tự cấp. Trước khi tùng lâm được thiết lập, đầu não của tự viện là Tam Cang (三綱), gồm Thượng Tọa (上座), Tự Chủ (寺主), Duy Na (維那, tức Đô Duy Na [都維那]); để lãnh đạo chúng tăng và duy trì cương kỷ Thiền môn. Sau khi tùng lâm hình thành, các vị Chấp Sự có Thủ Tòa (首座), Điện Chủ (殿主), Tạng Chủ (藏主), Trang Chủ (莊主), Điển Tòa (典座), Duy Na, Giám Viện (監院), Thị Giả (侍者), v.v. Đời sau khi tổ chức tùng lâm mỗi lúc một lớn mạnh, gia phong các tự viện lại bất đồng; vị Trú Trì phần lớn nhân thời thế mà tự lập ra ban Chấp Sự, nên danh mục quá nhiều. Theo Thiền Uyển Thanh Quy, danh mục Chấp Sự có 23 loại. Từ thời nhà Tống trở đi, chế độ tùng lâm ít có cải đổi. Căn cứ vào Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (敕修百丈清規) dưới thời nhà Nguyên, chế độ tùng lâm lại tăng thêm nhiều; chức phận được chia nhỏ ra, có thể đạt đến 80 loại. Nhân viên Chấp Sự trong tùng lâm ít nhiều đều tùy theo quy mô thiết lập lớn nhỏ mà định. Trong một tự viện, phòng Phương Trượng là chổ ở chính của Thiền lâm, là nơi vị Trú Trì cư ngụ; nên vị Trú Trì còn được gọi là Phương Trượng. Bên cạnh đó, vị Trú Trì còn là người đứng đầu của các ngôi điện đường trong chùa, nên được tôn xưng là Đường Đầu Hòa Thượng (堂頭和尚). Bên dưới Trú Trì có hai bên Đông và Tây. Các vị Chấp Sự trọng yếu của bên Tây là Thủ Tòa (xưa là Thượng Tọa), Tây Đường (西堂), Hậu Đường (後堂), Đường Chủ (堂主), Thư Ký (書記), Tri Tạng (知藏), Tạng Chủ, Tri Khách (知客), Liêu Nguyên (寮元, thủ lãnh của Vân Thủy Đường [雲水堂]), v.v. Bên Đông thì có Giám Viện (xưa là Tự Chủ, tục xưng là Đương Gia [當家]), Phó Tự (副寺, tức Tri Khố [知庫]), Duy Na, Duyệt Chúng (悅眾), Thị Giả, Trang Chủ, v.v. Ngoài ra, còn có một số chức vụ khác như Phạn Đầu (飯頭), Thái Đầu (菜頭), Hỏa Đầu (火頭), Thủy Đầu (水頭), Uyển Đầu (碗頭, tức Hành Đường [行堂]), Chung Đầu (鐘頭), Cổ Đầu (鼓頭), Môn Đầu (門頭), Viên Đầu (園頭), Dục Đầu (浴頭, hay Tri Dục [知浴]), Thanh Đầu (圊頭, hay Tịnh Đầu [淨頭]), Tháp Đầu (塔頭, hay Tháp Chủ [塔主]), Thọ Đầu (樹頭), Sài Đầu (柴頭), Ma Đầu (磨頭), Trà Đầu (茶頭), Thán Đầu (炭頭), Lô Đầu (爐頭), Oa Đầu (鍋頭), Dũng Đầu (桶頭), Đăng Đầu (燈頭), Tuần Sơn (巡山), Dạ Tuần (夜巡), Hương Đăng (香燈), Ty Thủy (司水), Chiếu Khách (照客), Thính Dụng (聽用), v.v. Các loại Chấp Sự kể trên được phân thành đẳng cấp rõ ràng, nhân viên Tri Sự thuộc cấp 1, nhân viên Chủ Sự là cấp 2, và nhân viên Đầu Sự là cấp 3. Dưới Phương Trượng, tổ chức căn bản có 4, gọi là Tứ Đại Đường Khẩu (四大堂口); gồm: (1) Thiền Đường (禪堂), là trung tâm của tùng lâm; (2) Khách Đường (客堂), nơi các chức ty tiếp đãi khách và nội vụ; (3) Khố Phòng (庫房), là nhà kho, nơi cất giữ các vật phẩm, v.v. (4) Y Bát Liêu (衣鉢寮), văn phòng sự vụ của Trú Trì Phương Trượng. Về chủng loại, căn cứ Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 15, phần Tùy Châu Trí Môn Quang Tộ Thiền Sư (隨州智門光祚禪師), có nêu ra 4 loại tùng lâm: (1) Chiên Đàn Tùng Lâm (栴檀叢林, tùng lâm thuần cây Chiên Đàn), (2) Kinh Cức Tùng Lâm (荊棘叢林, tùng lâm thuần cây gai), (3) Tùng lâm thuần cây gai mà có cây Chiên Đàn bao bọc, (4) Tùng lâm thuần cây Chiên Đàn mà có cây gai bao bọc. Đây là căn cứ theo loại cây gì trồng và bao bọc chung quang tùng lâm để phân loại. Hiện tại có 2 loại là Tử Tôn Tùng Lâm (子孫叢林, hay Pháp Môn Tùng Lâm [法門叢林]) và Thập Phương Tùng Lâm (十方叢林), v.v. Có nhiều điển tịch Thiền Tông liên quan đến hành sự trong tùng lâm cũng như phong quy của chư vị cổ đức, ngoại trừ các loại Cao Tăng Truyện (高僧傳), Tăng Bảo Truyện (僧寶傳) ra, còn có Nhập Chúng Nhật Dụng Thanh Quy (入眾日用清規, hay Nhập Chúng Nhật Dụng [入眾日用], 1 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1246) của Vô Lượng Tông Thọ (無量宗壽, ?-?), vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông, sống dưới thời nhà Tống; Nhập Chúng Tu Tri (入眾須知, 1 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1247, không rõ soạn giả); Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, 10 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250) do Thích Nhất Hàm (釋弌咸) nhà Nguyên soạn; Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 1 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本, 1263-1323), vị tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông, sống dưới thời nhà Nguyên; Tùng Lâm Lưỡng Tự Tu Tri (叢林兩序須知, 1 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1251), của Phí Ẩn Thông Dung (費隱通容, 1593-1661) vị tăng của Lâm Tế Tông, sống dưới thời nhà Minh, v.v. Ngoài ra, một số văn hiến quan trọng khác cùng loại như trên cũng có liên quan đến hành sự trong tùng lâm như Tùng Lâm Thạnh Sự (叢林盛事, 2 quyển, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1611) của Cổ Nguyệt Đạo Dung (古月道融, ?-?), vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông, sống dưới thời nhà Tống; Tùng Lâm Công Luận (叢林公論, 1 quyển,卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1268) của Giả Am Huệ Lâm (者菴惠彬, ?-?) nhà Nam Tống; Lâm Nhàn Lục (林間錄, 2 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1624) của Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪, 1071-1128), vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông, sống dưới thời nhà Tống; Thiền Lâm Bảo Huấn (禪林寶訓, 4 quyển, Taishō Vol. 48, No. 2022) của Tịnh Thiện (淨善) nhà Nam Tống; Sơn Am Tạp Lục (山庵雜錄, 2 quyển, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1616) của Vô Uấn (無慍), vị tăng của Thiên Thai Tông sống dưới thời nhà Minh, v.v. Trong Thiền Lâm Bảo Huấn (禪林寶訓, Taishō Vol. 48, No. 2022) quyển 4 có đoạn rằng: “Học giả bảo ư tùng lâm, tùng lâm bảo ư đạo đức, Trú Trì nhân vô đạo đức, tắc tùng lâm tương kiến kỳ phế hĩ (學者保於叢林、叢林保於道德、住持人無道德、則叢林將見其廢矣, học giả giữ gìn nơi tùng lâm, tùng lâm giữ gìn nơi đạo đức, vị Trú Trì không có đạo đức, thì tùng lâm sẽ gặp sự tàn phế vậy).”
Tùng Nguyên Sùng Nhạc
(松源崇岳[嶽], Shōgen Sūgaku, 1132-1202): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tùng Nguyên, người vùng Long Tuyền (龍泉), Xử Châu (處州, Tỉnh Triết Giang), họ là Ngô (呉). Lúc nhỏ ông đã có chí xuất gia, đến năm 23 tuổi thọ Ngũ Giới tại Đại Minh Tự (大明寺) và làm Sa Di. Ban đầu ông đến tham học với Linh Thạch Diệu (靈石妙), rồi tiếp đến là Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) ở Kính Sơn (徑山) và Ứng Am Đàm Hoa (應庵曇華). Vào năm thứ 2 (1163) niên hiệu Long Hưng (隆興), ông thọ Cụ Túc giới tại Bạch Liên Tinh Xá (白蓮精舍) ở Tây Hồ (西湖), Lâm An (臨安, Tỉnh Triết Giang) và bắt đầu đi tham học khắp nơi. Ông có đến tham yết Mộc Am An Vĩnh (木庵安永) ở Càn Nguyên Tự (乾元寺). Sau cùng ông đến tham vấn Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑) ở Tây Sơn (西山), Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang) và kế thừa dòng pháp của vị này. Từ đó ông bắt đầu khai đường giáo hóa ở Trừng Chiếu Thiền Viện (澂照禪院) vùng Dương Sơn (陽山), Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô). Về sau, ông đã từng sống qua một số nơi như Báo Ân Quang Hiếu Tự (報恩光孝寺) ở Quân Sơn (君山) thuộc vùng Giang Âm Quân (江陰軍, Tỉnh Giang Tô), Thật Tế Thiền Viện (實際禪院) ở Trị Phụ Sơn (治父山) vùng Vô Vi Quân (無爲軍, Tỉnh An Huy), Tiến Phước Thiền Viện (薦福禪院) ở Nhiêu Châu (饒州, Tỉnh Giang Tây), Trí Độ Thiền Viện (智度禪院) ở Hương Sơn (香山) vùng Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) và Linh Nham Thiền Viện (靈巖禪院) ở Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc Phủ Bình Giang. Đến năm thứ 3 (1197) niên hiệu Khánh Nguyên (慶元), ông đến ở tại Linh Ẩn Tự (靈隱寺), rồi khai sáng Hiển Thân Báo Từ Tự (顯親報慈寺). Vào ngày mồng 4 tháng 8 năm thứ 2 niên hiệu Gia Thái (嘉泰), ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi đời và 40 hạ lạp. Môn nhân của ông như Thiện Khai (善開), Quang Mục (光睦), v.v., đã biên soạn bộ Tùng Nguyên Hòa Thượng Ngữ Lục (松源和尚語錄), 2 quyển, Lục Du (陸游) thì soạn bài minh của tháp.
; 松源崇嶽; C: sōngyuán chóngyuè; J: shōgen sōgaku; 1139-1209;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế dòng Dương Kì, từng tham học với Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo, đắc pháp nơi Thiền sư Mật Am. Tắc 20 trong Vô môn quan có nhắc lại một giai thoại của Sư.
tùng nguyên sùng nhạc
Shōgen sŪgaku (J)Tên một vị sư.
Tùng Pha Tông Điềm
(松坡宗憩, Shōha Sōkei, hậu bán thế kỷ 13): vị tăng của Phái Hổ Kheo (虎丘派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Nguyên, hiệu là Tùng Pha (松坡). Ông kế thừa dòng pháp của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範). Trong khi làm Tạng Chủ (藏主) ở Kính Sơn (徑山), từ khoảng thời gian niên hiệu Hàm Thuần (咸淳) nhà Tống cho đến niên hiệu Chí Trị (至治, 1265-1323), ông đã thâu tập các kệ tụng của chư vị tôn túc khắp nơi và biên tập thành bộ Giang Hồ Phong Nguyệt Tập (江湖風月集). Bộ này được phổ biến rộng rãi trong chốn Thiền lâm và có khá nhiều sách chú thích về tác phẩm này.
tùng phục
To submit.
Tùng Quảng tự
松廣寺; C: sōngguăng sì; J: shōkōji; K: sŏnggwangsa;|Một trong những Thiền viện quan trọng nhất ở Hàn Quốc, nằm trên núi Tào Khê (曹溪山). Được Tri Nột (知訥, k: chinul) khai sáng, thiền viện nầy vẫn còn hoạt động đến ngày nay như một trung tâm tu học. Kiến thức đào tạo trong thiền viện nầy đã được trình bày qua tác phẩm của Buswell (1992).
Tùng Quảng tự 松廣寺
[ja] ショウコウジ Shōkōji ||| Sŏnggwangsa; one of the most important Sŏn monasteries in Korea, located on Chogye Mountain 曹溪山. Founded by Chinul 知訥, this monastery is still very active today as a practice center. Background on the practices engaged in at this monastery have been reported on in Buswell (1992) => (k: Sŏnggwangsa) Một trong những Thiền viện quan trọng nhất ở Cao Ly, nằm trên núi Tào Khê (e: Chogye Mountain 曹溪山). Do ngài Trí Nột (k: Chinul 知訥) khai sáng, thiền viện nầy vẫn còn hoạt động đến ngày nay như một trung tâm tu học. Kiến thức đào tạo trong thiền viện nầy đã được trình bày qua tác phẩm của Buswell (1992).
Tùng thu
(松楸): có hai nghĩa. (1) Chỉ cho cây tùng và cây thu, phần nhiều được trồng ở nơi nghĩa trang; từ đó, nó có nghĩa là mộ phần. Như trong bài Tề Kính Hoàng Hậu Ai Sách Văn (齊敬皇后哀策文) của Tạ Thiếu (謝朓, 464-499) nhà Tề thời Nam Triều có câu: “Trận tượng thiết ư viên tẩm hề, ánh dư tông ư tùng thu (陳象設於園寢兮、映輿鍐於松楸, voi trận đặt nơi miếu đường chừ, kiệu xe trang điểm mộ phần).” Hay trong bài thơ Thù Lạc Thiên Kiến Ký (酬樂天見寄) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường cũng có câu: “Nhược sử ngô đồ hoàn tảo đạt, diệc ưng tiêu cổ nhập tùng thu (若使吾徒還早達、亦應簫鼓入松楸, nếu muốn chúng tôi mau về sớm, cũng nên tiêu trống đến mộ phần).” (2) Đặc biệt chỉ cho mồ mả của cha mẹ. Như trong Dung Trai Tục Bút (容齋續筆), bài Tư Dĩnh Thi (思潁詩), của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống có đoạn: “Kỳ tiêu dao ư Dĩnh, cái vô kỉ thời, tích vô nhất ngữ cập ư tùng thu chi tư (其逍遙於潁、蓋無幾時、惜無一語及於松楸之思, ông [Âu Dương Tu] sống tiêu dao nơi đất Dĩnh, dường như chẳng mấy lúc, tiếc không một lời nào thấu được suy nghĩ về mộ phần song thân).” Trong Lô Sơn Ký (廬山記, Taishō Vol. 51, No. 2095), quyển 4, bài Tây Lâm Thủy Các (西林水閣) của Thiền Nguyệt Đại Sư Quán Hưu (禪月大師貫休, 832-912) có câu: “Tùng thu liên tháp cổ, song hạm nhậm nhàn khai (松楸連塔古、窗檻任閑開, mộ phần liền tháp cổ, ngạch cửa tùy ý khai).”
tùng thẩm triệu châu
See Triệu Châu Tòng Thẩm.
Tùng Thẩm 從諗
[ja] ジュウシン Jūshin ||| Congshen, more popularly known as Zhaozhou 趙州 (d. 897). A Tang period Chan master, one of the most oft-cited figures in Chan history, whose name appears regularly in such works as the Wumen guan 無門關 and Biyan lu 碧岩録. He was a disciple of Mazu daoyi 馬祖道一and spent the major part of his teaching career at Guanyinyuan 觀音院in Zhaozhou 趙州. His posthumous title was Zhenji dashi 眞際大師, and he left behind a three fascicle teaching record. => (j: Jūshin;c: Congshen) Thường gọi là Triệu Châu [c: Zhaozhou 趙州 (d. 897)]. Thiền sư đời Đường. Nhân vật thường được trích dẫn nhất trong lịch sử Thiền, tên Sư thường xuất hiện trong những tác phẩm như Bích nham lục (c: Biyan lu 碧岩録). Sư là đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất (c: Mazu daoyi 馬祖道一) và Sư đã dành thời gian chính để dạy Thiền tại Quán Âm viện ở Triệu Châu. Thuỵ hiệu của Sư là Chân Tế Đại sư (c: Zhenji dashi 眞際大師), Sư đã truyền lại ba bộ Ngữ lục.
tùng tăng
Vị Tăng mới xuất gia—A half-monk—A neophyte.
Tùng Vĩ Ba Tiêu
(松尾芭蕉, Matsuo Bashō, 1644-1694): nhà Haiku sống đầu thời kỳ Giang Hộ (江戸, Edo), tên là Tông Phòng (宗房), hiệu Haseo (はせを), biệt hiệu là Đào Thanh (桃青), Bạc Thuyền Đường (泊船堂), Chước Nguyệt Am (釣月庵), Phong La Phường (風羅坊), v.v.; thông xưng là Đằng Thất Lang (藤七郎), Trung Hữu Vệ Môn (忠右衛門), Thậm Thất Lang (甚七郎); xuất thân vùng Thượng Dã (上野, Ueno), Y Hạ (伊賀, Iga). Ông đã từng làm hầu cận cho Thiền Ngâm (蝉吟, Zengin, tức Chủ Kế Lương Trung [主計良忠]), con thứ 3 của Đằng Đường Tân Thất Lang Lương Thanh (藤堂新七郎良清) và có chí muốn học về Hài Cú. Có thời ông từng theo hầu Bắc Thôn Quý Ngâm (北村季吟, Kitamura Kigin) ở kinh đô Kyoto, sau xuống Giang Hộ làm việc thủy đạo. Cuối cùng ông chuyển đến Ba Tiêu Am (芭蕉庵, Bashō-an) ở vùng Thâm Xuyên (深川, Fukagawa), vượt qua phong cách Hài Cú của giới văn nghệ sĩ đương thời, và sáng lập ra phong thái riêng của mình gọi là Tiêu Phong (蕉風). Chính trong khoảng thời gian nầy, ông đi ngao du đây đó, rồi lưu lại rất nhiều danh cú cũng như văn kỷ hành, và qua đời tại một lữ quán ở vùng Nan Ba (灘波, Namba, thuộc Osaka ngày nay). Các danh cú được thâu tập vào bộ Hài Giai Thất Bộ Tập (俳諧七部集); những văn kỷ hành hay nhật ký gồm có Cánh Khoa Kỷ Hành (更科紀行), Tha Nga Nhật Ký (嵯峨日記), Oku-no-hosomichi (奥の細道, Con Đường Hẹp Trong Cùng), v.v. Một trong những câu Haiku nỗi danh của ông là “Furuike ya kawazu tobikomu mizu no oto (古池や蛙飛びこむ水の音, chiếc hồ xưa, con ếch nhảy vào, tiếng nước vang)”, v.v.
; 松尾芭蕉; J: matsuo bashō; 1644-1694;|Một thi hào vĩ đại người Nhật, người đã đưa dạng thơ Bài cú (排句; j: haiku, cũng thường được đọc là Hài cú), dạng thơ ba dòng với âm điệu 5-7-5 đến tuyệt đỉnh. Trong những bài thơ của ông, tinh thần Thiền được trình bày dưới dạng thi ca hoàn hảo nhất.|Ông họ Tùng Vĩ (松尾; matsuo), tên Tông Phòng (宗房; munefusa) xuất thân từ một gia đình hiệp sĩ (侍; samurai) cấp thấp. Vì sớm bước vào làm việc với vị quan hầu gần nhà nên ông có điều kiện tiếp xúc với nghệ thuật làm thơ, đặc biệt là dạng Bài cú. Vì sau này trụ tại một am có cây chuối trước cổng nên ông đặt tên là Ba Tiêu am, »Am cây chuối« và tự gọi mình là Ba Tiêu. |Sau khi được Phật Ðỉnh (佛頂; butchō), một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế hướng dẫn vào giáo lí và phương pháp Toạ thiền theo Thiền tông, ông Kiến tính, ngộ đạo. Những kinh nghiệm quý báu này đã được trình lại một cách trọn vẹn trong những bài thơ, đặc biệt là những tác phẩm được hình thành trong thập niên cuối đời của ông. Cuộc đời của ông là một cuộc đời du tử, chu du đây đó, lúc nào cũng tự do tự tại. Ông du ngoạn khắp nước Nhật và những bài thơ về thắng cảnh, thiên nhiên của ông, được ép vào phạm vi khắc khe của dạng Bài cú là những kiệt tác vô song của nền văn hoá Nhật. Hầu hết tất cả những bài thơ Bài cú của ông đều có liên hệ đến thiên nhiên – không phải chỉ vì quy luật đặc biệt của Bài cú là trong mỗi bài, thi sĩ phải nhắc đến một trong bốn mùa hoặc ít nhất phải ám chỉ. Ông rất yêu thiên nhiên và con người. Nơi con người, ông thấy được sự ưu đãi của thiên nhiên, vũ trụ, sự quý báu vô cùng khi được làm người. Trong một Bài cú, ông trình bày rõ lòng mình (tạm dịch từ một bản Ðức ngữ):|Ko ni aku|tomōsu hito ni wa|hana mo nashi|»Ta không thích trẻ con«|Ai nói vậy sẽ không thấy được|Những nụ hoa chớm nở.|Bài thơ cuối cùng của ông trước khi tịch tại O-saka:|Tabi ni yande|yume wa kareno wo|kake-meguru|*Bệnh trên đường du ngoạn|đeo đuổi trên những cánh đồng khô|những giấc mộng xoay vòng.
tùng vĩ ba tiêu
Matsuo bashō (J)Tên một vị sư.
Tùng Vĩnh Trinh Đức
(松永貞德, Matsunaga Teitoku, 1571-1653): ca nhân và nhà Haiku sống vào đầu thời đại Giang Hộ, tên là Thắng Hùng (勝熊), hiệu Trường Đầu Hoàn (長頭丸), Tiêu Du Hiên (逍遊軒), người vùng Kyoto. Ông theo học Hòa Ca với Tế Xuyên U Trai (細川幽齋, Hosokawa Yūsai), rồi Liên Ca với Lí Thôn Thiệu Ba (里村紹巴, Satomura Jōha). Sau ông dạy lại Hòa Ca cho những người lớp dưới, và cũng là tác giả của một số Cuồng Ca đầu thời Cận Đại. Ông viết ra cuốn Bài Hài Ngự Tản (俳諧御傘), để quy định về pháp thức và danh mục của thể ca châm biếm hài. Môn nhân của ông có Bắc Thôn Quý Ngâm (北村季吟, Kitamura Kigin), là những nhân vật nổi tiếng đương thời. Trước tác của ông có Tân Tăng Đại Khủng Ba Tập (新增大筑波集), Hồng Mai Thiên Cú (紅梅千句).
tùng địa dõng xuất
1) Nhẩy lên từ đất—To spring forth—To burst from the earth--Springing out of the Earth. 2) Tựa của chương 15 trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The title of Chapter 15 in Lotus Sutra.
tùng địa dõng xuất bồ tát
Bồ Tát từ đất hiện lên (khi Đức Phật Thích Ca giảng xong phần Tích Môn, bước qua phần Bản Môn trong Kinh Pháp Hoa thì vô số các vị Đại Bồ Tát đã từng được Đức Thích Ca Như Lai giáo hóa bỗng từ dưới mặt đất hiện lên rồi trụ trên không trung, các vị đó gọi là Bản Hóa Bồ Tát)—Bodhisattvas who spring forth from the earth when Sakyamuni Buddha expounded the Lotus Sutra, Chapter 15.
Tùng địa dũng xuất 從地涌出
[ja] ジュウチヨウシュツ jūchi yōshutsu ||| Welling up out of the earth. => Vọt lên từ lòng đất.
Tùng 從
[ja] ジュウ jū ||| (1) Follow, accord with, comply; listen to. To follow in one's steps. To learn. (2) From. (3) Vertical. (4) Together, a follower. (5) An indicator of the ablative case. From... (6) Permit, approve, sanction, authorize. (7) To cause joy. => 1. Theo, tuỳ theo, tuân theo, nghe theo. Đi theo. Học hỏi. 2. Từ. 3. Chiều thẳng đứng. 4. Nhất trí với nhau, môn đệ. 5. Biểu thị của công cụ cách (ngôn ngữ học).Từ... 6. Cho phép, chấp thuận, thừa nhận, uỷ quyền. 7. Gây nên niềm vui.
tùy
Follow, comply with; sequent, consequent, after, according to, as.
; 1) Tùy thuộc: To depend on. 2) Tùy tùng: To follow. 3) Tùy với: To comply with. 4) Tùy theo: According to.
tùy chuyển lý môn
Tùy theo căn cơ của người nghe mà thuyết phương tiện (chưa được chư Phật và chư Bồ Tát thuyết giảng), đối lại với Chân Thực Lý Môn tùy theo bản ý của chư Phật và chư Bồ Tát mà làm sáng tỏ thực nghĩa—The sect or teaching of adaptable philosophies not revealed by the Buddhas and Bodhisattvas, in contrast with the truth as revealed by them.
tùy căn cơ
According to the capacity or capability—Pháp Phật thuyết giảng tùy căn cơ trình độ của từng người—The teaching of the Buddha according with the capacity of everyone.
tùy cơ
According to capacity, capability, or opportunity.
; Tùy theo cơ hội hay căn cơ, như giáo thuyết của Đức Phật thích hợp với căn cơ của mọi người—According to opportunity, capacity, or capability, i.e. the teaching of the Buddha according with the capacity of everyone.
tùy cơ ứng biến
To accommodate (adapt) oneself to circumstances.
tùy cầu
According to prayer. Name of a deva which was formerly a wicked monk who died and went to hell, but when dying repented, prayed and was reborn the deva.
; Tùy theo sự cầu nguyện của chúng sanh—According to prayer.
tùy cầu bồ tát
Bồ tát Quán Âm Tầm Thanh Cứu Khổ—Bodhisattva (Kuan-Yin) who sees that all prayers are answered.
tùy cầu thiên tử
Tùy Cầu Tức Đắc Thiên Tử—Tên của một vị Ác Tăng chết đi tuy bị đọa vào địa ngục, nhưng trước khi chết hối hận và cầu nguyện, nên được sanh lên cõi trời với tên là “Tùy Cầu Đắc Thiên Tử”—Name of a deva who was formerly a wicked monk who died and went to hell, but when dying repented, prayed and was reborn the deva.
Tùy duyên
(隨緣): tùy thuận theo nhân duyên hay cơ duyên, ứng với duyên của căn cơ. Duyên (s: pratyaya, p: paccaya, 緣) ở đây muốn chỉ cho nguyên nhân trực tiếp (duyên hay trợ duyên). Đôi khi từ này cũng được dùng để chỉ chung cho cả nhân và duyên.
tùy duyên
According with, or resulting from conditioning causes, or circumstances, as waves result from wind; also sequent conditions; also according to circumstances, e.g. tùy duyên hóa vật, to convert or transform people according to their conditions, or to circumstances in general.
; Chịu theo cái duyên mà sự vật bên ngoài kéo tới gây ra cảm xúc cho tự thể, như sóng là hệ quả của gió (nước nhờ duyên gió thổi mà sinh ra sóng)—According with conditioning cause, or resulting from conditioning cause, or circumstances as waves result from wind.
tùy duyên bất biến
Ever changing in conditions yet immutable in essence, i.e. the chân như, in its two aspects of tùy duyên chân như phenomenal relativity ; and considered as immutable, the bất biến chân như which is likened to water as opposed to the waves.
; Bất biến trong những hành động tùy duyên, như thể của chân như là bất biến, nhưng khi tiếp xúc với cái duyên thì nẩy sinh ra vô số sự vật khác nhau—Ever changing in conditions yet immutable in essence—Adapting to conditions fundamtentally unchanging.
tùy duyên chân như
Chân như là bản thể của vạn vật, là chân thực, như thường, bất biến, bất động, lại là chỗ dựa cho các sự tướng của nhân duyên (chân như là thể, vạn vật là tướng; thể và tướng nương nhau, không bao giờ xa lìa nhau), như nước và sóng (nước bất biến, nương theo gió ngoại duyên, mà tạo thành hàng hàng lớp lớp sóng)—The bhutatathata in the relative or phenomenal conditions—The absolute in its phenomenal relativity; and considered as immutable, the bhutatathata, which is likened to the water as opposed to the waves.
tùy duyên hóa vật
Chuyển hóa chúng sanh tùy theo điều kiện hay hoàn cảnh của họ—To convert or transform people according to their conditions, or to circumstances in general.
tùy hình hảo
Excellent in every detail; the individual excellences of others united in the Buddha.
; Hảo Tướng—Thân Phật có đủ tướng hảo của bậc đại nhân, từng tướng lại có một số vẻ đẹp biểu lộ tùy theo hình dung của mỗi tướng—Excellent in every detail; the individual excellences of others united in the Buddha. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Phật.
tùy hóa
Upapatti (S)Một trong Tam hóa.
tùy hỉ
To rejoice in the welfare of others. To do that which one enjoys, to follow one's inclination.
tùy hỷ
Vui theo điều thiện. Vui theo cái vui của người (thấy người làm việc thiện, lòng mình hoan hỷ vui sướng theo)—To rejoyce in all good—To rejoice in the welfare of others, or to do that which one enjoys, or to follow one's inclination.
tùy hỷ công đức
Rejoice at others' merits and virtues—Đây là hạnh nguyện thứ năm trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Tùy hỷ công đức là phát tâm chứng nhất thiết trí mà siêng tu cội phước, chẳng tiếc thân mạng, làm tất cả những hạnh khó làm, đầy đủ các môn Ba La Mật, chứng nhập các trú địa của Bồ Tát, đến trọn quả vô thượng Bồ đề, vân vân bao nhiêu căn lành ấy, dù nhỏ dù lớn, chúng ta đều tùy hỷ—This is the fifth of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Rejoice at others' merits and virtues means from the time of our initial resolve for all wisdom, we should diligently cultivate accumulation of blessings without regard for their bodies and lives, cultivate all the difficult ascetic practices and perfect the gates of various paramitas, enter bodhisattva grounds of wisdom and accomplish the unsurpassed Bodhi of all Buddhas. We should completely follow along with and rejoice in all of their good roots (big as well as small merits).
tùy khả năng
According to one's capability.
tùy kinh luật
According to the discipline as described in the sùtras, i.e. the various regulations for conduct in the Sùtra-pitaka; the phrase tùy luật kinh means according to the wisdom and insight as described in the Vinaya-pitaka.
; Hành động đúng theo luật được diễn tả trong Luật Tạng—According to the discipline as described in the sutras, i.e. the various regulations for conduct in the Sutra-pitaka; according to the wisdom and insight as described in the Vinaya-pitaka.
tùy loại
According to the categories.
; Tùy theo chủng loại. Đức Phật và Bồ Tát tùy theo chủng loại chúng sanh mà thị hiện thuyết giáo khác nhau—According to class or type. Buddhas and Bodhisattvas reveal themselves in varying forms according to the need or nature of the beings whom they desire to save.
tùy loại sanh
Chư Phật và chư Bồ Tát sanh vào điều kiện của những người mà họ muốn cứu độ—Buddhas and Bodhisattvas are born into the conditions of those they seek to save.
tùy loại sinh
According to life species.
tùy loại ứng đồng
See Tùy Loại.
tùy miên
Yielding to sleep, sleepiness, drowsiness, comatose, one of the klesa or temptations; also used by the Sarvàstivàdins as an equivalent for klesa, the passions and delusions, by the Duy thức school as the seed of klesa.
; 1) Buồn ngủ: Ngầy ngật—Yielding to sleep, sleepiness, drowsiness, comatose, one of the klesa, or temptations. 2) Theo tông nghĩa của Hữu Bộ Tiểu Thừa, “Tùy Miên” là một tên khác của phiền não: Used by the Sarvastivadins as an equivalent for klesa, the passions and delusions. 3) Theo tông nghĩa của phái Duy Thức Đại Thừa, đây là tên gọi chung cho chủng tử của “Phiền Não Chướng” và “Sở Tri Chướng” (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến): Used by the school of consciousness as the seed of klesa (greed, hatred, ignorance, pride, doubt, wrong views).
tùy nghi
As suitable, proper, or needed.
; Tùy theo mục đích yêu cầu—For whatever purpose it may serve—As suitable, proper, or needed.
tùy nghĩa
Tùy theo ý nghĩa—According to intention, to meaning, or to the right.
tùy ngôn thủ nghĩa
Yatharutarthabhinivishta (skt)—Chấp vào văn tự mà cho rằng văn tự hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa—To cling to the letter as fully in accordance with the sense.
tùy niệm
Anussati (P).
tùy niệm phân biệt
Anusmarana-vikalpa (S).
tùy phiền não
Sequent or associated klesa-trials, or evils; or especially those which follow the six tùy miên. Also called tùy hoặc.
; Tùy Hoặc—Phiền não khởi lên bởi phiền não căn bản, đối lại với phiền não căn bản khởi lên từ lục căn—Sequent, or associated klesa-trials, or evils, either all of them as always dogging the foot-steps—Consequent afflictions resulting or arising from the fundamental afflictions, in contrast with afflictions arising from the six senses. ** For more information, please see Nhị Phiền Não.
tùy phái
Messenger.
tùy pháp
Anudhamma (P).
tùy pháp hành
Dhammānusārin (P), Dharmānussarin (S).
; Those who follow the truth by reason or intellectual ability, in contrast with the non-intellectual, who put their trust in others.
; Những người lợi căn tu hành bằng cách nghiền ngẫm và thực tập giáo lý, đối lại với hạng độn căn chỉ biết tin vào người khác—The religious life which is evolved from practicing the teaching of others—Those who follow the truth by reason of intellectual ability, in contrast with the non-intellectual, who put their trust in others. ** For more information, please see Tùy Tín Hạnh.
tùy phòng
Tùy theo nơi hay bất cứ nơi nào—According to place; suitable to the place; in whatever place; wherever.
tùy phòng tỳ ni
Vinaya (skt)—Những luật nghi thích hợp với điều kiện địa phương, hay luật lệ thích hợp cho mọi nơi—Rules which are suitable to local conditions; or to conditions everywhere.
tùy phương
According to place; suitable to the place; in whatever place; wherever. Tùy phương tì ni, vinaya or rules, suitable to local conditions, or to conditions everywhere.
tùy phần
According to the part assigned or expected; accordingto lot or duty.
; Tùy theo hạn phận của sức lực mà hoàn thành công việc đã được giao phó—According to the part assigned or expected; according to lot or duty.
tùy phần giác
Partial enlightenment, the third of tứ giác in the Awakening of Faith Khởi tín luận.
; Giác ngộ từng phần, một trong “tứ giác” được nói đến trong Khởi Tín Luận—Partial enlightenment, the third of the four intelligences or apprehensions of the Awakening of Faith. ** For more information, please see Tứ Giác.
tùy sắc ma ni
Một loại ngọc mani không có màu sắc riêng, nó tùy theo màu sắc của vật soi vào nó mà hiện sắc tướng của mình—A precious stone that takes on the colour of its surroundings.
tùy sức
According to one's force.
tùy theo
According to.
tùy thuận
To follow, accord with, obey; to believe and follow the teaching of another.
; 1) Tin và thực tập theo giáo thuyết của Đức Phật: To believe and follow the teaching of the Buddha. 2) Tùy thuận theo ai: To accord with someone—To follow someone—To obey.
Tùy thuận giải thoát
xem Ba-la-đề-mộc-xoa.
tùy thuộc
To depend (rely) on.
tùy thời
According to the situation (circumstances).
tùy tâm
According to mind, or wish.
; According to mind or wish.
tùy tâm chúng sanh mà hiện thân cứu độ
To appear in the world to save sentient beings in any physical form (any form they wish).
Tùy Tâm Viện
(隨心院, Zuishin-nin, Zuishin-in): xem Mạn Trà La Tự (曼荼羅寺, Mandara-ji) bên trên.
tùy tình
Nhượng bộ hay tùy theo sự ước nguyện của người khác--Yielding to other people's wishes.
tùy tín hành
Saddhānusārin (P), Śraddhānusārin (S).
; The religious life which is evolved from faith in the teaching of others; it is of the độn căn unintellectual type.
; Những người độn căn tu hành bằng cách tin vào giáo lý, đối lại với những người lợi căn tu hành bằng cách thực tập giáo lý—The religious life which is evolved from faith on the teaching of others. It is that of the unintellectual type, in contrast with those whose intelligence is sharp, their religious life is evolved from practice on the teaching of others.
tùy tùng
To accompany—To follow.
tùy tướng
The secondary states, i.e. of birth, stay, change, and death, in allphenomena.
; Tiểu tướng sanh, trụ, dị, diệt của vạn hữu—The secondary state, i.e. birth, stay, change, and death, in all phenomena.
tùy tướng giới
To follow the forms and discipline of the Buddha, i.e. become a monk.
; Tùy thuận theo hình tướng và tuân theo giáo pháp sống tu của Phật, như nhuộm áo cạo tóc để trở thành một Tăng Sĩ—To follow the forms and discipline of the Buddha, i.e. become a monk.
tùy tục thuyết
Samvritya-desana (skt)—Giáo lý tương đối—Relative teaching.
tùy tự
Tùy theo bản nguyện của chính mình—At one's own will--Voluntary
tùy tự ý ngữ
Tùy theo ý nghĩ của mình mà thuyết giảng (có ba loại: tùy theo ý mình, tùy theo ý người, tùy theo ý của mình và người)—Voluntary addresses, or remarks volunteered by the Buddha.
tùy viên
Attaché.
Tùy Văn Ký
(隨聞記, Zuimonki): gọi đủ là Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký (正法眼藏隨聞記, Shōbōgenzōzuimonki), 6 quyển, là tập thâu lục các bài pháp thoại hằng ngày của Đạo Nguyên dạy cho đại chúng môn hạ của ông trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Trinh (嘉禎, 1235-1238). Hoài Trang (懷奘) được xem như là người biên tập bộ này; hoặc có thể Hoài Trang ghi chép rồi môn hạ ông thâu lục lại. Bản Diện Sơn (面山) lưu bố rộng rãi được san hành vào năm thứ 8 (1758) niên hiệu Bảo Lịch (寶曆); nhưng vào năm thứ 12 (1644) niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永), bản thư tả của Trường Viên Tự (長圓寺) được phát hiện; và giữa hai bản này có những điểm dị đồng khá lớn. Ngoài ra, có bản san hành đầu tiên vào năm thứ 4 (1651) niên hiệu Khánh An (慶安), bản Khoan Văn (寛文), v.v. Sách chú thích về bộ này có Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Văn Ký Bố Cổ (正法眼藏隨聞記布鼓, 1921) của Lục Việt Nham (陸鉞巖).
tùy xá lợi
Vaisali (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong trung Anh Phật Học Từ Điển, dân tộc Tùy Xá Lợi là dân tộc của một nước cộng hòa cổ Vaisali, trong số những đệ tử Phật đầu tiên—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Licchavis were the people of the ancient republic of Vaisali who were among the earliest followers of sakyamuni.
tùy ý
At will, following one's
tùy ý tịnh
Anumatikappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
tùy ýù
1) Theo ý ai: At will—Following one's own wishes. 2) Tên cũ của “An Cư Kiết Hạ”: The old name for summer retreat or Vassa.
tú
Thêu trên vải—To embroider.
tú diệu
Nhị thập bát tú và thất diệu—The twenty-eight constellations and seven luminaries.
tú lợi mật đa
Suryamitra (skt)—Thần Mặt Trời—The sun-god.
tú năng
Thần Tú và Huệ Năng, hai vị tổ của Phật Giáo Nam và Bắc Trung Hoa sau Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn—Shen-Hsiu and Hui-Neng, the two patriarchs of South and North Chinese Buddhism after the fifth patriarch Hung-Jen. **For more information, please see Thần Tú, and Huệ Năng.
tú phật
Bức hình Phật được thêu trên vải—Embroidered picture of a Buddha.
tú tài trương chuyết
Zhang-Juo Hsiu-Ts'ai—Một hôm Tú Tài Trương Chuyết đến tham vấn Thiền Sư Thạch Sương. Sư hỏi: “Ông tên gì?” Trương Chuyết đáp: “Dạ con tên Trương Chuyết.” Sư liền nói: “Trong đây cái xảo còn không có, huống là cái chuyết (vụn vằn).” Tú Tái Trương Chuyết bỗng tỉnh ngộ và làm bài kệ: “Quang minh tịch chiếu biến hà sa Phàm Thánh hàm linh cộng ngã gia Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện Lục căn tài động bị vân già Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh Thú hướng chan như tổng thị tà Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại Niết Bàn sanh tử đẳng không hoa.” (Sáng soi lặng lẽ khắp hà sa Phàm Thánh hàm linh chung một nhà Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện Sáu căn vừa động bị che lòa Muốn trừ phiền não càng thêm bệnh Hướng đến chân như thảy đều tà Tùy thuận các duyên không quái ngại Niết Bàn sanh tử thảy không hoa). One day Zhang-Juo Hsiu-Ts'ai came to interview Master Shih-Shuang-Qing-Chu. Shih-Shuang asked: “What is your name?” Zhang-Juo said: “Venerable, my name is Zhang-Juo.” Shih-Shuang then said: “Here, the skillful does not even exist let alone the clumsy ('Juo' in Chinese means 'clumsy').” Zhang-Juo instantly got awakened and composed the following verse: “The brilliant light silently shines throughout themyriad worlds, Saints, human beings, and living creatures are all living under one roof. If only no thought arises, will the whole world reveal itself. Once the six sense-organs agitate, it will be clouded. Trying to eliminate afflictions simply worsens the ailment, Hoping to reach true nature is equally wrong. Just live in accordance with circumstances, Nirvana and samsara are just the real flowers. Tù: 1) (a): Stagnant (water). 2) (n): Prison—Jail—Gaol.
tú vương hoa bồ tát
Naksatra-ràja-sankusumitàbhijnà (S). King of the star-flowers, a bodhisattva in the Lotus sùtra.
tú vương phật
King-of-Past-Lives Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Natchatraràja Buddha (S). King of stars Buddha.
túc
A halting place; to pass the night, sojourn, stay; early, former; left over.
; 1) Chân: Foot—Leg. 2) Đầy đủ: Enough—Full. 3) Chỗ trú ngụ qua đêm: A halting place where one passes the night—Stay. 4) Xưa kia: Former—Early.
túc báo
The consequence of deeds done in former existence.
; Quả báo cảm ứng từ nghiệp nhân ở đời trước, hay hậu quả của những hành động trong tiền kiếp—The consequence of deeds done in former existence.
Túc chướng
(足利義持, Ashikaga Yoshimochi, 1386-1428, tại chức 1394-1422): vị Tướng Quân đời thứ 4 của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh, con trai đầu của Nghĩa Mãn (義滿, Yoshimitsu). Mẫu thân ông là bà vợ hầu Đằng Nguyên Khánh Tử (藤原慶子, Fujiwara-no-Yoshiko), con gái của An Nghệ Pháp Nhãn (安芸法眼). Sau khi cha mình qua đời, ông tự lo việc chính vụ, và mậu dịch thương mại. Đặc biệt, ông có biệt tài về vẽ tranh Thủy Mặc và nghệ năng xuất chúng; cho nên tranh của ông rất nổi tiếng, vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay như Bố Đại Đồ (布袋圖), Bạch Y Quan Âm Đồ (白衣觀音圖), Hàn Sơn Đồ (寒山圖), Đỗ Tử Mỹ Đồ (杜子美圖), v.v. Giới danh của ông là Thắng Định Viện Điện Hiển Sơn Đạo Thuyên Đại Thiền Môn (勝定院殿顯山道詮大禪門).
túc chấp
The character acquired in a previous existence and maintained.
; Bản chất thiện ác chấp trước từ đời trước và được lưu lại trong tâm cho đến đời nầy—The character acquired in a previous existence and maintained.
túc chấp khai phát
Quả hiện tại do những thiện căn đã gieo trồng từ trong tiền kiếp đến nay mới nẩy nở—The present fruition of the meritorious character developed in previous existence.
túc chỉnh
Grave and correct.
Túc chủng 宿種
[ja] シュクシュ shukushu ||| Seeds of karma planted in prior lifetimes. => Hạt giống nghiệp đã được gieo trồng trong đời trước..
túc căn
The root of one's present lot planted in previous existence.
; Cội căn được vun trồng trong tiền kiếp—The root of one's present lot planted in previous existence.
túc diệu
Hai mươi tám chòm sao và thất đại hùng tinh—The twenty-eight constellations and seven luminaries.
Túc duyên
(宿緣): tức nhân duyên đời trước, kiếp trước; tức chỉ cho nhân duyên thiện ác trói buộc bởi đời quá khứ. Tôn Đà Lợi Túc Duyên Kinh (孫陀利宿緣經) thư 1 cũng như Cốt Tiết Đầu Đông Nhân Duyên Kinh (骨節煩疼因緣經) thứ 4 của Phật Thuyết Hưng Khởi Hành Kinh (佛說興起行經, Taishō Vol. 4, No. 197) quyển Thượng cho rằng ác duyên của đời trước là túc duyên. Trong khi đó, Phẩm Hiền Thủ (賢首品) của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 15, Cầu Na Bạt Đà La Truyện (求那跋陀羅傳) của Cao Tăng Truyện (高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2059) quyển 3, v.v., cho rằng duyên lành của đời trước là túc duyên. Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) quyển 3 có đoạn: “Tích nhật Linh Sơn, đồng thính Pháp Hoa, túc duyên sở truy, kim phục lai hĩ (昔日靈山、同聽法華、宿緣所追、今復來矣, ngày xửa Linh Sơn, cùng nghe Pháp Hoa, túc duyên đeo đuổi, nay lai đến rồi).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh quyển 25, Phẩm Thập Hồi Hướng (十迴向品) thứ 25, cũng có đoạn: “Vô số cung điện, vô số âm thanh, tùy thuận túc duyên, chư thiện tri thức, thị hiện nhất thiết, công đức trang nghiêm, vô hữu cùng tận (無數宮殿、無數音聲、隨順宿緣、諸善知識、示現一切、功德莊嚴、無有窮盡, vô số cung điện, vô số âm thanh, tùy thuận túc duyên, các thiện tri thức, thị hiện hết thảy, công đức trang nghiêm, không có cùng tận).” Hoặc trong tác phẩm Minh Phật Luận (明佛論) của Tông Bính (宗炳, 375-443) nhà Tống thời Nam Triều lại có đoạn: “Huống Tu Di chi đại, Phật quốc chi vĩ, tinh thần bất diệt, nhân khả thành Phật, tâm tác vạn hữu, chư pháp giai không, túc duyên miên mạc, ức kiếp nãi báo hồ (況須彌之大、佛國之偉、精神不滅、人可成佛、心作萬有、諸法皆空、宿緣綿邈、億劫乃報乎, huống chi Tu Di to lớn, nước Phật vĩ đại, tinh thần bất diệt, người có thể thành Phật, tâm tạo ra vạn hữu, các pháp đều không, túc duyên xa xôi, ức kiếp còn báo ứng thay !).”
túc duyên
Abhilāṣa (S)Đủ duyênĐủ túc duyên để đầu Phật.
; Causation or inheritance from previous existence.
; Nhân duyên truyền lại từ tiền kiếp—Causation or inheritance from previous existence.
Túc duyên 宿縁
[ja] シュクエン shukuen ||| Remaining karma. Causes and conditions from prior existences. => Nghiệp còn lại. Nhân duyên từ những kiếp trước.
túc dạ
Nghỉ lại đêm trước trong các cuộc lễ—To stay the night, the previous night before any special services or ceremony.
túc kỵ
Đêm trước ngày lễ thọ trai—The night before a fast day.
Túc Lợi Nghĩa Giáo
(足利尊氏, Ashikaga Takauji, 1305-1358, tại chức 1338-1358): Tướng Quân đời đầu của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Tên ban đầu là Cao Thị (高氏). Cha là Trinh Thị (貞氏, Sadauji). Mẹ là Thượng Sam Thanh Tử (上杉清子); vợ là Đăng Tử (登子), con của Bắc Điều Thủ Thời (北條守時). Vào năm 1331 (Nguyên Hoằng [元弘] nguyên niên), ông cùng với Trinh Trực (貞直) lên kinh đô để trấn định vụ Loạn Nguyên Hoằng. Đến năm 1333, khi Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, tại vị 1318-1339) thoát ra khỏi vùng Ẩn Khi (隱岐, Oki) và trốn trong Bá Kì Thuyền Thượng Sơn (伯耆船上山), ông thống lãnh quân đội của Mạc Phủ và lần thứ hai lên kinh đô. Giữa đường, ông dương cao ngọn cờ tái hưng dòng họ Nguyên (源, Minamoto) ở Tiểu Thôn Bát Phan Cung (篠村八幡宮), Đơn Ba (丹波, Tamba) và tiêu diệt Lục Ba La Thám Đề (六波羅探題, Rokuharatandai). Với tư cách người có công lao số một trong việc thảo phạt, ông được Thiên Hoàng ban tặng cho tên húy là Tôn Trị (尊治) và đổi tên thành Tôn Thị (尊氏). Ông từng thủ hộ 3 tiểu quốc như Võ Tàng (武藏, Musashi), v.v., và được ban quyền quản lãnh 30 nơi trên toàn quốc. Vào năm 1335 (Kiến Võ [建武] 2), ông xuống vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) để trấn dẹp vụ loạn của Trung Tiên Đại (中先代, Nakasendai). Năm sau, ông ủng hộ đưa Quang Minh Thiên Hoàng (光明天皇, Kōmyō Tennō, tại vị 1336-1348) lên ngôi, chế định ra bản Kiến Võ Thức Mục (建武式目) và làm sáng tỏ phương châm chính sách của chính quyền Mạc Phủ. Từ khoảng năm 1349 (Trinh Hòa [貞和] 5) trở đi, ông đối lập với người em Trực Nghĩa (直義) vì chung quanh việc quyết định chính sách, và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc nhiễu loạn Quán Ứng (觀應). Vào năm 1358, trong kế hoạch viễn chinh vũng Cửu Châu (九州, Kyūshū), ông bị bệnh và qua đời. Chính ông đã từng quy y với Thiền Sư Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石) và có công trong việc kiến lập Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji). Giới danh của ông là Đẳng Trì Viện Điện Nhân Sơn Diệu Nghĩa Đại Cư Sĩ Trường Thọ Tự Điện (等持院殿仁山妙義大居士長壽寺殿).
Túc Lợi Nghĩa Trì
(足利義敎, Ashikaga Yoshinori, 1394-1441, tại chức 1428-1441): vị Tướng Quân đời thứ 6 của chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh, con trai thứ 4 của Nghĩa Mãn (義滿). Ban đầu ông tự xưng là Nghĩa Viên (義圓), rồi xuất gia và làm Thiên Thai Tọa Chủ. Sau đó ông hoàn tục và làm Tướng Quân. Ông đã tận lực tập trung quyền lực, chế áp dã tâm của Trì Thị (持氏) và tiêu diệt dòng họ Túc Lợi (足利) ở Liêm Thương, nhưng sau ông bị Xích Tùng Mãn Hựu (赤松滿祐, Akamatsu Mitsusuke) giết chết trong vụ Loạn Gia Cát (嘉吉の亂). Giới danh của ông là Phổ Quảng Viện Thiện Sơn Đạo Huệ (普廣院善山道惠).
Túc Lợi Trì Thị
(足助重範, Asuke Shigenori, 1292-1332): vị Võ Tướng vào cuối thời Liêm Thương, con của Túc Trợ Lục Lang Thứ Lang Trinh Thân (足助六郎次郎貞親); giả danh là Tam Lang (三郎). Trong vụ Loạn Nguyên Hoằng (元弘の亂, Genkō-no-ran), ông đứng về phía Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, tại vị 1318-1339), nổi tiếng với tài bắn cung, đã dùng tên bắn chết tướng địch. Tuy nhiên, sau khi thành bị rơi vào tay địch, ông bị bắt và bị xử tử hình tại hình trường Lục Điều Hà Nguyên (六條河原, Rokujōgawara).
Túc Lợi Tôn Thị
(足利持氏, Ashikaga Mochiuji, 1398-1439): vị Võ Tướng đầu thời đại Thất Đinh, con của Túc Lợi Mãn Kiêm (足利滿兼, Ashikaga Mitsukane), là người đã từng bình định vụ loạn Thượng Sam Thiền Tú (上杉禪秀, Uesugi Zenshū). Sau đó, ông đối lập với Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Giáo (足利義敎, Ashikaga Yoshinori), tạo nên vụ Loạn Vĩnh Hưởng (永享の亂); nhưng ông bị bại trong trận này và tự vẫn.
túc lự thiền sư
Zen Master Túc Lự—Thiền sư Việt Nam, quê tại Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Thông Thiền, và là pháp tử đời thứ 14 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài trụ tại chùa Thông Thánh để dạy thiền. Nơi và lúc nào ngài thị tịch vẫn chưa ai rõ—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He was a disciple of Zen master Thông Thiền, and became the dharma heir of the fourteenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he stayed at Thông Thánh Temple to teach Zen. His whereabout and when he passed away were unknown.
túc mạng
Tiền kiếp hay cuộc sống ở những đời trước (Phật cho rằng người đời đều có cuộc sống trong đời quá khứ, hoặc là trời, người, ngạ quỷ, súc sanh, lăn lóc luân hồi, đó là túc mệnh)—Previous life or lives.
túc mạng lực
Khả năng của Phật, biết trước luân hồi sanh tử trong quá khứ—The Buddha-power to know all previous transmigrations.
túc mạng minh
Tuệ giác nhìn thấy những điều kiện sanh tử trong tiền kiếp của mình và của người. Tuệ giác của một vị A La Hán—Insight into the mortal conditions of self and others in previous lives—The knowledge of the arhat of his own and other previous transmigrations.
Túc mạng thông
Phạn ngữ là prvanivsnusmṛti, chỉ năng lực biết được những đời trước, là một trong Ngũ thông. Cũng gọi là Túc mạng trí.
túc mạng thông
Pubbenivāsānussati-jāṇam (P), Purvānivāsānusmṛti-jānā (S), Remembrance of previous lives Tuệ hiểu biết tiền kiếp, đây là tuệ giác đầu tiên mà đức Phật chứng đắc vào canh một đêm thành đạo. Trong lục thông gồm: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông, thần túc thông, lậu tận thôngTúc mạng minh.
; Purvanivasanusmrti (skt)—Một trong lục thông, khả năng nhìn thấy và nhớ lại tiền kiếp của mình và của người. Đây là trí huệ của một vị Phật—The Divine knowledge—One of the six transcendental powers, can remember past lives—Knowledge of former past lives of one's own and of others—Buddha-knowledge of all forms of previous existence of self and others—See Lục Thông.
Túc mạng thông 宿命通
[ja] シュクミョウツウ shukumyōtsū ||| The supernatural power of knowing the past lifetimes of oneself and others. One of the six supernatural powers 六神通. => Năng lực thần thông biét được quá khứ của mình và của người khác. Một trong Lục thần thông.
Túc mạng trí
xem Túc mạng thông.
Túc mạng trí thông 宿命智通
[ja] シュクミョウチツウ shukumyōchitsū ||| The supernatural power of knowing the past lifetimes of oneself and others. One of the six supernatural powers 六神通. => Năng lực thần thông biét được quá khứ của mình và của người khác. Một trong Lục thần thông.
Túc mạng 宿命
[ja] シュクミョウ shukumyō ||| (1) The prior world; one's previous life(s). Prior existence. (2) Knowledge of the causes and conditions related to one's prior existence. => 1. Kiếp trước; đời sống trước của một người. Mạng sống trong kiếp trước. 2. Biết được nhân duyên liên hệ đến kiếp trước .
túc mệnh
Previous life, or lives.
; See Túc Mạng.
túc mệnh lực
Buddha-power to know all previous transmigrations.
; Một trong Thập Lực của Như Lai—One of ten Buddha-powers—See Thập Lực (9).
túc mệnh minh
The knowledge of the arhat of his own and other previous transmigrations.
; See Túc Mạng Minh.
túc mệnh thông
Pùrvanivàsànusmrti (S). Buddha-knowledge of all forms of previous existence of self and others
; See Túc Mạng Thông.
túc mục
Akṣapada (S)Tên một vị sư. Khai tổ của phái Cổ Nhân Minh.
; Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Túc Mục là tên của vị Tiên nhân đầu tiên nói về thuyết Nhân Minh. Tác phẩm của ông gồm năm quyển—According to Keith in The Dictionary of Chinese Buddhist Terms, this is the name of Aksapada Gotama, to whom is ascribed the beginning of logic; his work is seen in five books of aphorism on the Nyaya.
túc nghiệp
Former karma, the karma of previous existence.
; Nghiệp tiền kiếp—Former karma, the karma of previous existence.
Túc nghiệp 宿業
[ja] シュクゴウ shukugō ||| Past karma. The karma remaining from prior existences. => Nghiệp trong quá khứ. Nghiệp duy trì từ các đời sồng trước.
túc nguyện
Xem Bản nguyện.
; The vow made in a former existence.
; Nguyện vọng từ trong tiền kiếp—A vow made in a former existence.
túc nguyện lực
The power of an ancient vow.
; Lực tác dụng của nguyện vọng vố có trong tiền kiếp—The power of an ancient vow.
Túc nguyện 宿願
[ja] シュクガン shukugan ||| A long-term aim; a long-cherished desire. => Mục đích lâu dài, ước nguyện ấp ủ từ lâu.
túc nhân
Good or evil cause in previous existence.
; Nghiệp nhân, cả thiện lẫn ác, đã gieo trồng từ nhiều đời trước—Good or evil cause in previous existence.
túc phúc
Happy karma from previous existence.
; Phúc đức thiện căn đời trước hay phúc nghiệp tiền kiếp—Happy karma from previous existence.
Túc thanh 肅清
[ja] シュクショウ shukushō ||| (1) To purge, clean up. To remove what is wrong. (2) Serenity. => 1. Thanh trừ, dẹp yên; quét sạch. Sữa đổi những điều sai trái. 2. Yên tĩnh.
túc thiện
Good deeds done in previous existence.
; Những thiện căn gieo trồng trong tiền kiếp—Good deeds done in previous existence.
túc thế
A former existence.
; Tiền kiếp hay việc sống chết của một đời hoặc nhiều đời trước—A former existence.
Túc thế 宿世
[ja] シュクセ shukuse ||| The prior world; one's previous lifetime(s). The causes and conditions related to one's prior existence. => Kiếp trước; đời sống trước của một người. Nhân duyên liên hệ đến kiếp trước của một người.
túc thực
Have spread good seeds in former lives.
túc trái
The unrepaid debts from, or sins of, former incarnations.
; Những nợ nần hay tội lỗi chưa trả trong tiền kiếp (tuy nhiên, chưa chuốc khổ quả, đến đời nầy mới thấy hiện ra các báo ứng, khổ dụng. Người ta thường nói “tiền oan túc trái,” nghĩa là những oan trái từ xưa, hay oán thù nợ nần năm cũ)—The unrepaid debts from or sins of former incarnations.
Túc trí 宿智
[ja] シュクチ shukuchi ||| The wisdom attained by the efficacy of one's religious practice in prior lifetimes. => Trí tuệ đạt được do kết quả tu tập trong kiếp trước.
túc trú
Purva-nivasa (skt)—Nơi trú ngụ trong tiền kiếp—Former abidings or habitations.
túc trú thông
Túc trú tùy niệm trí chứng thông—The Buddha knowledge of the former incarnations of himself and others.
Túc trú thông 宿住通
[ja] シュクジュウツウ shukujūtsū ||| The supernatural knowledge of the past lifetimes of oneself and others. One of the six supernatural powers 六神通. => Năng lực thần thông biết được quá khứ của mình và mọi chúng sinh. Một trong Lục thần thông.
Túc Trợ Trùng Phạm
(續高僧傳, Zokukōsōden): 30 quyển, do Đạo Tuyên (道宣) nhà Đường biên soạn, được san hành vào năm thứ 39 (1611) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh. Đây là bộ sử thư ghi lại 340 truyền ký của chư vị cao tăng và 160 người được phú pháp, trong khoảng thời gian 144 năm từ đầu thời nhà Lương cho đến năm thứ 19 (645) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) nhà Đường. Đối với Cao Tăng Truyện nhà Lương được gọi là Lương Cao Tăng Truyện (梁高僧傳), bộ này còn được gọi là Đường Cao Tăng Truyện (唐高僧傳), gồm 10 thiên: Dịch Kinh, Nghĩa Giải, Tập Thiền, Minh Luật, Hộ Pháp, Cảm Thông, Di Thân, Đọc Tụng, Hưng Phước và Tạp Khoa. Thiên Tập Thiền bắt đầu từ quyển 16 đến 19, người tu tập thuần túy Thiền chỉ có 23 người tính từ Đạt Ma trở xuống mà thôi.
túc trụ
Purva-nivasa (skt)—Nơi trú ngụ của những tiền kiếp—Former abidings, or habilitations.
túc trụ tùy niệm trí chứng thông
Phật trí biết được tiền kiếp của chính mình và chúng sanh—The Buddha-knowledge of the former incarnations of himself and others.
túc trực
To attend at all time.
túc tác
The deeds of a former life.
; Những hành động hay tác nghiệp trong tiền kiếp—Deeds of a former life.
túc tác ngoại đạo
Một trong những giáo phái ngoại đạo tìm giải thoát bằng cách tự khổ hạnh để giải thoát những trừng phạt và chướng nghiệp tiền kiếp—One of the ascetic sect who sought release from penalties from the deeds of a former life by severe austerities now.
túc tông hoàng đế
Su-tsung (C), Suzong (C)Một vị hoàng đế nhà Đường.
túc tập
The practices, habits or deeds of or inherited from former existence.
; Những tu tập, thực hành, thói quen, hay hành động trong tiền kiếp—The practices, habits or deeds of or inherited from former existence.
túc vương hoa
Naksatra-raja-sankusumitabhijna (skt)—Một vị Bồ Tát trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—King of the star-flower, a bodhisattva in the Wonder Lotus Sutra.
túc vương hoa bồ tát
Natchatrarāja (S), Natchatrarāja Samkusumitabhidjā.
Túc Vương Hoa Bồ-tát 宿王華菩薩
[ja] シュクオウケボサツ Shukuōke bosatsu ||| Constellation Flower King; the name of a bodhisattva who appears in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.53a5〕 => (c: Sùwánghuā púsà j: Shukuōke bosatsu ; e: Constellation Flower King); Danh hiệu một vị Bồ-tát trong kinh Pháp Hoa.
túc vương hý
Naksatra-raja-vikridita (skt)—Túc Vương Hý là vua của chòm sao nhị thập bát tú, một loại tam ma địa trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The play of the star-king, or king of the constellations, one of the samadhi in the Lotus sutra.
túc vương hý tam muội
Nakchatra-radjavikridita (S), Nakchatraradjavikridita Samādhi (S) Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
túc vương phật
Natchatrarāja-Buddha (S)Một đức Phật quốc độ của Ngài ở phương thượng đối với cõi ta bà.
túc ý
Ý nguyện từ trước—The former intention or vow.
Túc 宿
[ja] シュク shuku ||| (1) In Buddhist texts, commonly a reference to prior lifetimes and their karmic residue. (2)To stay overnight; to keep overnight. (3) since long ago; long-term, long cherished. (4) A night. (5) A constellation. => 1. Theo kinh điển Phật giáo, thường đề cập đến đời sống trong quá khứ và nghiệp tích tập xưa nay. 2. Ở lại qua đêm, giữ lại qua đêm. 3. Từ lâu nay, lâu dài, ấp ủ từ lâu. 4. Một đêm. 5. Một chòm sao.
Túc 肅
[ja] シュク shuku ||| (1) Respectful, reverential. To revere, to respect. (2) Majestic, awesome. (3) Strict, severe. (4) Quiet, serene. (5) To write. (6) To advance, to recommend. => 1. Kính cẩn, tỏ vẻ tôn kính. Kính trọng, tôn kính. 2. Trang nghiêm, uy nghi. 3. Nghiêm túc, nghiêm khắc. 4. Yên lặng, yên tĩnh. 5. Viết. 6. Đề xuất; đề nghị.
túm rụm
See Tum Húm.
túng
1) To be short of money. 2) To tolerate evil doings.
túng ngặt
needy.
túng quẫn
Needy—Hard pressed for money.
túng thiếu
To be in financial difficulties.
túng tiền
To be pressed for (short of) money.
túy
1) Thuần Túy: Pure. 2) Say Rượu: Drunk—Intoxicated.
túy tượng
Con voi điên, giống như những kẻ xấu ác khó hàng phục—A mad elephant, like evil hard to subdue.
tý
Cánh tay—The arm—Forearm.
Tý Nguyệt
(子月): tên gọi khác của tháng 11 Âm Lịch. Trong chương Thích Thiên (釋天) của Nhĩ Nhã (爾雅) có giải thích rằng: “Thập nhất nguyệt vi Cô (十一月爲辜, tháng Mười Một là Cô).” Học giả Hác Ý Hành (郝懿行, 1757-1825) nhà Thanh chú giải rằng: “Cổ giả, cố dã. Thập nhất nguyệt dương sanh, dục cách cố thủ tân dã; thập nguyệt kiến Hợi, Hợi giả căn cai dã; chí kiến Tý chi nguyệt, nhi tư tư nhiên sanh hỉ (辜者、故也、十一月陽生、欲革故取新也、十月建亥、亥者根荄也、至建子之月、而孳孳然生矣, Cô nghĩa là cố [cũ], tháng Mười Một sinh dương, muốn thay đổi thì phải giữ cái mới; tháng Mười là kiến Hợi [thuộc chi Hợi]; Hợi là rễ cây; đến tháng kiến Tý thì sinh nở nhiều ra).” Âm Lịch lấy tháng 11 thuộc về tháng Tý, tháng 12 là tháng Sửu, tháng Giêng là tháng Dần, tháng 2 là tháng Mão, tháng 3 là tháng Thìn, tháng 4 là tháng Tỵ, tháng 5 là tháng Ngọ, tháng 6 là tháng Mùi, tháng 7 là tháng Thân, tháng 8 là tháng Dậu, tháng 9 là tháng Tuất, tháng 10 là tháng Hợi. Mỗi năm, từ ngày Lập Xuân (立春) đến ngày Kinh Trập (驚蟄) là tháng Giêng, tức tháng Dần; từ Kinh Trập đến Thanh Minh (清明) là tháng 2, tức tháng Mão; từ Thanh Minh đến Lập Hạ (立夏) là tháng 3, tức tháng Thìn; từ Lập Hạ đến Mang Chủng (芒種) là tháng 4, tức tháng Tỵ; từ Mang Chủng đến Tiểu Thử (小暑) là tháng 5, tức tháng Ngọ; từ Tiểu Thử đến Lập Thu (立秋) là tháng 6, tức tháng Mùi; từ Lập Thu đến Bạch Lộ (白露) là tháng 7, tức tháng Thân; từ Bạch Lộ đến Hàn Lộ (寒露) là tháng 8, tức tháng Dậu; từ Hàn Lộ đến Lập Đông (立冬) là tháng 9, tức tháng Tuất; từ Lập Đông đến Đại Tuyết (大雪) là tháng 10, tức tháng Hợi; từ Đại Tuyết đến Tiểu Hàn (小寒) là tháng 11, tức tháng Tý; từ Tiểu Hàn đến Lập Xuân (立春) là tháng Chạp, tức tháng Sửu. Trong bài thơ Hàn Viên Tức Mục (寒園卽目) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Tý nguyệt tuyền tâm động, Dương hào địa khí thư (子月泉心動、陽爻地氣舒, tháng Tý lòng suối động, hào Dương đất trời mở).” Hay trong Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 29 có đoạn: “Hồ Châu Phủ Thiên Trí Nguyệt Tuyền Ngọc Chi Pháp Tụ Thiền Sư, Gia Hòa Phú thị tử, mẫu Phùng, sanh Hoằng Trị Nhâm Tý Tý nguyệt hối nhật (湖州府天池月泉玉芝法聚禪師、嘉禾富氏子、母馮、生弘治壬子子月晦日, Thiền Sư Ngọc Chi Pháp Tụ ở Nguyệt Tuyền, Thiên Trì, Phủ Hồ Châu, con nhà họ Phú ở Gia Hòa, mẹ họ Phùng; ông sanh vào ngày cuối tháng 11 năm Nhâm Tý [1492] niên hiệu Hoằng Trị nhà Minh).”
tý xa chá
Pisaca (skt)—Một loại quỷ—A class of demon.
tý đa thế la
Pitasila (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tý Đa Thế La là một vương quốc và thành phố cổ trong tỉnh Sindh, khoảng 700 dậm về phía bắc Adhyavakila, và 300 dậm về phía tây nam của Avanda; tuy nhiên không ai biết địa điểm chính xác của nó—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Pitasila, an ancient kingdom and city in the province of Sindh, 700 miles north of Adhyavakila, 300 miles south-west of Avanda; however, exact position is unknown.
Tăng
(s, p: saṅgha, 僧): tiếng gọi tắt của Tăng Già (僧伽); ý dịch là hòa (和), chúng (眾), hòa hợp chúng (和合眾), hòa hợp tăng (和合僧), hải chúng (海眾, nghĩa là chúng tăng hòa hợp như một vị nước biển); hay kết hợp cả Phạn ngữ và Hán ngữ lại mà có tên gọi là tăng lữ (僧侶). Ngoài ra, còn có cách gọi khác như tăng gia (僧家), tăng ngũ (僧伍), v.v. Tăng là một trong ba ngôi báu (Tam Bảo [三寶], gồm Phật, Pháp và Tăng), là người tín thọ giáo pháp của đức Như Lai, vâng theo hành trì đạo của Ngài để nhập vào hàng Thánh và chứng quả. Tăng còn là hàng ngũ Thánh đệ tử cắt tóc, xuất gia, theo Phật học đạo, thọ giới Cụ Túc, có đủ Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến, trú vào Tứ Hướng, Tứ Quả. Từ này còn được dùng để chỉ cho đoàn thể tín thọ Phật pháp, tu hành Phật đạo. Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn độ cho nhóm 5 Tỳ Kheo A Nhã Kiều Trần Như (s: Ājñātakauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 阿若憍陳如), v.v., và đây được xem như là Tăng Đoàn đầu tiên của Phật Giáo. Luật Sư Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cho rằng muốn cấu thành Tăng Già phải có 2 điều kiện: (1) Lý hòa, tức tuân thủ giáo nghĩa Phật Giáo, lấy việc giải thoát Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) làm mục đích tối thượng. (2) Sự hòa, có 6 loại, tức Lục Hòa, gồm Giới Hòa Đồng Tu (戒和同修), Kiến Hòa Đồng Giải (見和同解), Thân Hòa Đồng Trụ (身和同住), Lợi Hòa Đồng Quân (利和同均), Khẩu Hòa Vô Tránh (口和無諍), Ý Hòa Đồng Duyệt (意和同悅). Ngoài ra, nguyên lai Tăng là tên gọi thông thường của Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼). Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, v.v., gọi Tỳ Kheo là Tăng, Tỳ Kheo Ni là Ni. Sau này, ngoài hai chúng trên còn có Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼) cũng được gọi là Tăng hay Ni. Tăng Già Tỳ Kheo và Tăng Già Tỳ Kheo Ni được gọi là hai bộ chúng. Hết thảy các Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni trong bốn phương có tên gọi là Bốn Phương Tăng Già. Chư Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni hiện hữu trước mặt được gọi là Hiện Tiền Tăng Già. Hiện Tiền Tăng Già tất phải có từ 4 người trở lên, tập trung, hòa hợp, mới có thể thực hành pháp Yết Ma (羯磨), Bỉnh Pháp (秉法), v.v. Nếu dưới số lượng ấy, được gọi là quần, nhóm. Hơn nữa, do vì hình thức Yết Ma không giống nhau, nên số lượng chúng Tỳ Kheo cũng bất đồng. Theo Tứ Phần Luật (四分律) quyển 44, phần Chiêm Ba Kiền Độ (瞻波揵度) có nêu Tăng 4 người, Tăng 5 người, Tăng 10 người, Tăng 20 người. Đối với Tăng 4 người, trừ Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣), thọ đại giới, xuất tội ra, có thể tác các pháp Yết Ma khác một cách như pháp. Trường hợp Tăng 5 người, trừ thọ đại giới, xuất tội ra, có thể tác các pháp Yết Ma khác một cách như pháp. Trường hợp Tăng 20 người thì có thể tác bất cứ pháp Yết Ma nào.
; 增; C: zēng; J: zō;|Có các nghĩa sau: 1. Nhanh hơn, thêm, mở rộng, nâng cao, tăng thêm (s: vṛddhi, abhyudaya, pravardhita, vivardhana); 2. Cao cả, đề cao. Xuất sắc, cao cấp, khá hơn, ưu tú; 3. Trên, hơn, vượt xa hơn. Thượng hạng, quá mức, thặng dư; 4. Gắn bó, phụ chương, nhận làm chi nhánh; phụ thuộc, bổ trợ; 5. Không bị ngăn trở (tăng thượng 增上); 6. Tám địa ngục càng lúc càng trở nên đau khổ.
; 僧; C: sēng; J: sō;|Có các nghĩa sau: 1. Đầu tiên là gọi tắt phiên âm từ Tăng-già (僧伽; s: saṃgha), nghĩa là đoàn thể của Tăng ni; 2. Thuộc về Tăng, hoặc là của Tăng; 3. Về sau, trong cách dùng của người Đông Á, trở thành từ đề cập đến cá nhân Tăng và Ni, nhưng trước đó, từ nầy đã đề cập đến đoàn thể gồm 3 đến 4 vị Tăng ni trở lên.
tăng
Samgha (S). An assembly, collection, company, society. The corporate assembly of at least three (formerly four) monks under a chairman empowered to hear confession, grant absolution, and ordain. The church or monastic order, the third member of the Triratna. The term tăng used alone has come to mean a monk or monks in general.
tăng bi
(增悲) Cũng gọi Bi tăng. Chỉ cho chủng tính mà tâm xót thương của Bồ tát thêm lên. Bồ tát có 2 loại chủng tính là Tăng bi và Tăng trí(cũng gọi Trí tăng). Tăng trí, tức phần tính(tự tính sai biệt của các pháp) của Đại trí tăng thêm hơn lên, khiến cho thiện căn tự lợi đoạn ác chứng lí thêm nhiều, có năng lực dứt trừ phiền não một cách nhanh chóng mà chứng quả Phật. Còn Tăng bi thì phần tính Đại bi tăng thêm hơn lên, nguyện ở trong sinh tử lâu dài để làm lợi ích cho chúng sinh, chứ không muốnvội vào Niết bàn. Bồ tát Tăng bi và bồ tát Tăng trí hợp lại gọi chung là Nhị tăng bồ tát. Ngoài ra, Thiền sư Ấu chương ở viện Thụy long tại Hàng châu vào đời Đường, gặp năm đói kém và bệnh dịch, ở 3 quận Ôn, Thai và Minh, người chết nằm đầy đường, sư lo thu nhặt mấy nghìn xác đem chôn cất tử tế, nên người đời gọi sư là Bi tăng đại sĩ, Bi tăng bồ tát. [X. Thích thị kê cổ lược Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.20].
tăng binh
(僧兵) Cũng gọi Pháp sư vũ gia. Tăng lữ tập hợp thành đội ngũ, cầm vũ khí chiến đấu. Tức tăng nhân làm binh sĩ. Trong Phật giáo, xưa nay cấm chỉ chúng tăng đọc các sách nói về binh pháp, tụ họp làm loạn. Kinh Phạm võng, quyển hạ đã ghi rõ không được cất giữ các thứ như dao, gậy, cung, tên... để chiến đấu, giết hại, cũng không được luyện tập chiến trận, dấy binh đánh nhau để tranh giành quyền lợi mà giết hại chúng sinh. Nhưng vì chùa viện có ruộngvườn trang trại nên phải có tăng binh canh giữ. Tăng binh bắt đầu có từ thời Bắc Ngụy ở Trung quốc. Cứ theo Ngụy thư thích lão chí 20, khi vua Thế tổ nhà Bắc Ngụy, Tây chinh đến Trường an, thấy trong chùa có cất giữ cung tên, giáo mác, nhà vua nổi giận, giết các sa môn ở Trường an, đốt phá tượng Phật. Tuy vậy, ở Trung quốc chưa hề hình thành tổ chức Tăng binh. Cứ theo Tiều thư nhị biên quyển 9, vào đời Minh, chúng tăng có nghĩa cử bảo vệ biên cương, như năm Gia tĩnh 32 (1553) quân Nhật xâm nhập bờ biển Tô tùng, quân dân vùng này vùng dậy chống cự, nhưng thất bại, không ngăn chặn được; Thái khắc liêm ở Thảo giang bèn chiêu mộ chúng tăng, thành lập các đội để chiến đấu, họ đánh rất mạnh và đại phá quân Nhật. Còn tại Nhật bản, vào thời đại Bình an (794-1192), lãnh địa của các chùa viện dần dần được mở rộng, mà phép tắc xuất gia thì hỗn tạp, từ đó sinh ra tệ nạn độ riêng tư, có rất nhiều người không nơi nương tựa bèn cạo tóc vào chùa, làm những việc lặt vặt để nuôi thân, sau cầm vũ khí, tụ tập làm lính, rồi để bảo vệ đất đai, tài sản hoặc đánh các tông phái khác, các chùa viện cũng tổ chức thành những tập đoàn vũ trang, như tăng binh ở chùa Diên lịch đại bản sơn của tông Thiên thai, vì lấy núi Tỉ duệ làm căn cứ nên được gọi là Sơn pháp sư; tăng binh chùa Hưng phúc đại bản sơn của tông Pháp tướngvì ở Nại lương, cho nên gọi là Nại lương pháp sư, ngay cả triều đình cũng khó mà chế phục được các tập đoàn tăng binh này. Sau thời đại Liêm thương (1192-1333), các tông phái lớn trong Phật giáo Nhật bản đều có tăng binh vũ trang, trong đó, Tịnh độ chân tông, tổ chức tín đồ nông dân, luôn xung đột với nhà cầm quyền đương thời là Chức điền Tín trường, trong sử gọi là Nhất hướng tông khởi nghĩa. Tháng 8 năm Khánh trường 13 (1608), Đức xuyên Gia khang mới lập ra các điều mục cho núi Tỉ duệ, cấm các vị tăng không siêng năng tu học cư trú trên núi này. Đến đây, nạn tăng kinh hoành hành suốt khoảng thời gian 700 năm mới chấm dứt. Tại Triều tiên, từ triều Cao li về sau cũng có tổ chức tăng binh. Như vào năm 1388, vua Tân ngô và Thôi oánh cùng bàn mưu tính kế phát động tăng đồ trong và ngoài nước đánh chiếm đất Liêu. Năm 1624, vua Nhân tổ Hiến văn đặt ra tăng binh. Năm 1636, quân nhà Thanh đến đánh phá, mấy nghìn tăng binh đẩy lui. Nhưng tăng binh Triều tiên dùng để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, khác hẳn với tăng binh Nhật bản. [X. Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.3, 11, 14; Triều dã quần tải Q.3, 11, 16; Nguyên hanh thích thư Q.25, 26].
tăng biện
(僧辯) I. Tăng Biện (?-493) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tề, người ở Kiến khang (Giang tô), họ Ngô. Sư theo học 2ngàiĐàm thiên và Pháp sướng, sau trụ ở chùa An lạc. Sư rất giỏi về Phạm bái, nổi tiếng khắp Nam Tề. Bài Cổ Duy ma và bài kệ Thụy ứng thể 7 chữ do sư truyền rất nổi tiếng ở đương thời.Năm Vĩnh minh thứ 11 (493), sư thị tịch.[X. Lương cao tăng truyện Q.13]. II. Tăng Biện (568-642). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người đất Nam dương (Hà nam) họ Trương. Sư xuất gia từ nhỏ, theo Pháp sư Trí ngưng học luận Nhiếp đại thừa. Đầu năm Đại nghiệp (605-617) đời Tùy sư được triệu vào đạo tràng Đại thiền định. Đầu năm Vũ đức (618-625) đời Đường, sư truyền giảng luận Nhiếp đại thừa. Khoảng năm Trinh quán (627-649) đời Đường, lúc ngài Huyền trang dịch kinh, sư được cử làm chức Chứng nghĩa. Sau,sưvâng sắc trụ ở chùa Hoằng phúc chuyên việc giảng dạy. Tuy nổi tiếng khắp trong nước nhưng sư vẫn tự khiêm; khi ngài Đạo nhạc giảng luận Câu xá, sư đến dự nghe. Năm Trinh quán 16 (642), sư thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư có soạn sách chú thích các luận: Câu xá, Nhiếp đại thừa, Biện trung biên, Thành duy thức, Vô tướng tư trần và Phật tính.[X. Tục cao tăng truyện Q.15].
tăng bảo
The idealized church, the third member of the Triratna.
tăng bảo chánh tục truyện
(僧寶正續傳) Tăng truyện, 7 quyển, do ngài Thạch thất Tổ tú soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 137. Nội dung sách này thu chép truyện kí và ngữ yếu tông thừa của 30 vị Thiền sư đời Tống như La hán Hệ nam, Viên thông Đạo mân, Đâu suất Huệ chiếu, Hoàng long Đạo chấn, Đức sơn Mộc thượng tọa, Lâm tế Kim cương vương..., đồng thời, dưới mỗi truyện có phụ thêm bài tán. Cuối quyển phụ lục Đại cổ tháp chủ dữ Hồng giác phạm thư, nêu ra 3 lỗi trong Tăng bảo truyện của ngài Giác phạm để chất vấn.
tăng bảo quả
(僧寶果) Chỉ cho vị lậu tận A la hán, tức người đã dứt sạch tất cả mọi phiền não mà an trụ trong quả vị A la hán. [X. phẩm Tựa, phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].
tăng ca lan đa bộ
Sankrantivāda (P), Sutravadatika (S), Suttavāda (P), do dī pe (T), Sankrantivada (S)Kinh lượng bộ, Thuyết chuyển bộMột trong 11 bộ phái của Thượng tọa bộ do ngài Câu ma la la đa (Kumaralabdha) sáng lập.
tăng ca lan đa tông
Sutravadatika school.
tăng ca tăng nê
(僧迦僧泥) Hạnh tu ngày ăn một bữa, 1 trong 12 hạnh đầu đà. Chữ này do viết lầm từ chữ Y ca tăng nê (Phạm: Aikàsanika, Pàli: Ekàsanika). [X. Chính pháp nhãn tạng hành trì thượng]. (xt. Thập Nhị Đầu Đà Hạnh).
Tăng Cang
(僧綱): tên gọi một chức tăng quan chuyên giám sát quy luật của tăng ni cũng như quản lý ngôi chùa lớn nổi tiếng. Ở Trung Quốc một số danh xưng khác được dùng như Sa Môn Thống (沙門統), Tăng Thống (僧統), Tăng Chánh (僧正), Tăng Chủ (僧主), v.v.; riêng ở Nhật Bản thì chia thành Tam Cang gồm Tăng Chánh (僧正), Tăng Đô (僧都) và Luật Sư (律師).
Tăng Cang 僧綱
[ja] ソウゴウ sōgō ||| Administrator of the clergy (also 僧官)--an official post to which members of the Buddhist clergy were appointed, which has its institutional origins in China, and was also instituted in various forms in Korean and Japan. The three most common administrative titles in order of rank 僧正, 僧都, 律師. => Tăng thống (còn gọi là Tăng quan)-- một chức việc hành chính mà thành viên trong hàng Tăng lữ Phật giáo được bổ nhiệm, nguồn gốc phát xuất từ Trung Hoa , và cũng được lập thành trong nhiều dạng khác nhau ở Cao Ly và Nhật Bản. Ba chức danh thông dụng nhất là Tăng chính 僧正, Tăng đô 僧都, Tăng sư 律師.
tăng chi bộ
(增支部) Pàli: Aíguttara-nikàya. Bộ kinh lớn trong 5 bộ thuộc Kinh tạng Pàli Nam truyền, tương đương với kinh Tăng nhất a hàm Hán dịch. Nội dung gồm 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh (có thuyết nói 2198 kinh, hoặc 2308 kinh), được chia loại, sắp xếp và biên tập theo thứ tự pháp số, từ pháp thứ nhất đến pháp thứ 11 mà thành. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả Tỉ kì Chính trị và Xích chiểu Trí thiện, người Nhật bản, giữa Tăng chi bộ và 472 kinh trong Tăng nhất a hàm Hán dịch, chỉ có 136 kinh có nội dung tương đương hoặc có thể so sánh đối chiếu với nhau. Vả lại, trong Tăng chi bộ không bao hàm tư tưởng Đại thừa như các kinh Hán dịch, hơn nữa, cũng ít có dấu vết mở rộng và sửa đổi, vì thế biết sự biên soạn Tăng chi bộ đã sớm hơn các kinh Hán dịch, tức được hoàn thành vào khoảng thế kỉ I Tây lịch.Nguyên vănPàli của bộ kinh này được hiệu đính và xuất bản trong khoảng thời gian từ năm 1885 đến năm 1900. Sau đó, đã có những bản dịch Anh, Đức, Nhật... lần lượt được xuất bản. Sách chú thích bộ kinh này là Manorathapùraịì, do Đại luận sư Phật âm (Pàli: Buddhaghosa) soạn tại Tích lan vào thế kỉ thứ V. Sách chú thích này do 2 vị: Dhammànanda và M. Walleser lần lượt xuất bản vào các năm 1923 và 1924. (xt. A Hàm Kinh, Tăng Nhất A Hàm Kinh).
tăng chi bộ kinh
Angutara-Nikaya (P).
Tăng Chánh
(僧正, Sōjō): tên gọi của một chức Tăng quan, có nghĩa là tự sửa mình cho đúng, giúp người khác làm cho đúng, chấp chưởng việc chỉnh đốn những việc làm sai trái của Tăng lữ, thống lãnh giáo đoàn Phật Giáo. Chức này tương đương với chức Sa Môn Thống (沙門統) dưới thời Bắc Triều. Phần Lập Tăng Chánh (立僧正) trong quyển Trung của Đại Tống Tăng Sử Lược (大宋僧史略) do Tán Ninh (贊寧) nhà Tống soạn, có ghi rằng chữ “chánh (正)” của Tăng Chánh đồng nghĩa với chữ “chính (政, làm cho đúng)”. Người nhận chức Tăng Chánh đầu tiên là Tăng Bích (僧碧) nhà Tiền Tần (前秦, 334~394). Trong khoảng thời gian niên hiệu Thăng Minh (昇明), vua Thuận Đế (順帝, tại vị 477~479) nhà Tống suy cử Pháp Trì (法持) làm chức quan này; rồi trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Minh (大明), Đạo Ôn (道溫) được bổ nhiệm làm Tăng Chánh của Đô Ấp (都邑, tức Kiến Khang [建康]). Tiếp theo, vua Võ Đế (武帝, tại vị 502~549) nhà Lương bổ nhiệm Pháp Siêu (法超) làm Tăng Chánh của Đô Ấp; rồi đến năm thứ 6 (525) niên hiệu Phổ Thông (普通) thì cử Pháp Vân (法雲) làm Đại Tăng Chánh (大僧正), và Huệ Lịnh (慧令) làm Tăng Chánh. Vào đầu thời Bắc Tống (北宋, 960~1127), triều đình cho đặt chức Tăng Chánh ở mỗi châu, tuyển chọn những người tài ba, đức hạnh để đảm đương trọng trách này. Tại Nhật Bản, chức tăng quan này được chế ra vào năm 624 đời Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628), có 3 loại là Tăng Chánh (僧正), Tăng Đô (僧都) và Luật Sư (律師). Riêng Tăng Chánh và Tăng Đô lại chia thành Đại Tăng Chánh (大僧正), Đại Tăng Đô (大僧都), Thiếu Tăng Chánh (少僧正) và Thiếu Tăng Đô (少僧都). Về sau chức Tăng Chánh này lại được phân làm ba cấp là Đại, Chánh, Quyền; Đại Tăng Chánh là tương đương với Đại Nạp Ngôn (大納言), Chánh Tăng Chánh là Trung Nạp Ngôn (中納言) và Quyền Tăng Chánh là Tham Giảng (參講).
tăng chánh
(僧正) Cũng gọi Tăng chủ. Chức quan tăng cao nhất trong tổ chức Phật giáo, có trách nhiệm lãnh đạo và chấn chỉnh hàng ngũ tăng ni cho phù hợp với các qui định của giớiluật. Chế độ Tăng chính được đặt ra đầu tiên từ thời Ngụy, Tấn thuộc Nam Bắc triều, là chức quan tăng trung ương, nhưng từ đời Đường, Tống về sau, ở các châu, huyện địa phương cũng có đặt ra chức quan tăng này. Cứ theo điều Lập tăng chính trong Đại tống tăng sử lược quyển trung thì Tăng chính trước phải sửa mình cho đúng rồi sau mới sửa được người. Bởi vì giới luật tỉ khưu dần dần đã không được giữ gìn nghiêm túc, đã nhiễm thói tục, cho nên phải chọn người có đức hạnh trong chúng tăng làm Tăng chính để sửa chữa những tăng ni vi phạm giới luật. Đời Hậu Tần, vua Diêu hưng (ở ngôi 393-416) đã cử ngài Tăng khế (Đạo khế) làm Tăng chủ thống lãnh tăng ni đất Tần, đây tức là vị Tăng chính đầu tiên. Về sau, các vua thuộc Nam triều đều có đặt chức Tăng chính, nhưng vì triều đại khác nhau nên tên gọi cũng bất đồng. Như trong năm Đại minh (457-464), vua Hiếu vũ triều Lưu Tống, sắc lệnh ngài Đạo ôn làm Đô ấp tăng chính; niên hiệu Thái thủy năm đầu (465), vua Minh đế ban sắc cử ngài Tăng cẩn làm Thiên hạ tăng chính; năm Thái thủy thứ 2 (466), vua sắc lệnh Tỉ khưu ni Bảo hiền làm Đô ấp ni tăng chính. Niên hiệu Thăng minh năm đầu (477), vua Thuận đế sắc lệnh ngài Pháp trì làm Thiên hạ tăng chính. Thời Nam Tề, vua Cao đế sắc lệnh ngài Pháp dĩnh làm Tăng chính; trong năm Vĩnh minh (483-493), vua Vũ đế ban sắc cử các ngài Pháp hiến chùa Định lâm thượng và Huyền sướng chùa Trường can làm Tăng chủ, chia nhau lãnh đạo tăng ni ở Giang nam và Giang bắc, còn ngài Đạo đạt thì làm Tăng chính châu Nam duyện. Do đó mà biết chức này vốn gọi là Tăng chủ, nhưng về sau thì dùng cả danh từ Tăng chủ và Tăng chính. Năm Phổ thông thứ 6 (525), vua Vũ đế nhà Lương sắc lệnh cử ngài Pháp vân làm Đại tăng chính; niên hiệu Thiên hỉ năm đầu (560), vua Văn đế nhà Trần ban sắc cho ngài Bảo quỳnh làm Đô ấp đại tăng chính. Cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển trung thì chức Tăng chủ cũng giống như Tăng quan, chỉ cho Tiểu chính Tiểu thống của một địa phương. Còn theo Tăng nhã truyện trong Tục cao tăng truyện quyển 5, năm Thiên giám thứ 8 (509) đời Lương, ngài Tăng nhã được cử làm Ngô quận tăng chính, điều này cho thấy ở các địa phương cũng sử dụng danh xưng Tăng chính chứ không chỉ riêng trung ương mới dùng danh xưng này. Tóm lại, đến thời đại Lương, Trần thì chuyên dùng hiệu Tăng chính để đối lại với chế độ Tăng thống của Bắc Ngụy, đến đời Đường về sau thì thông thường các châu đều có lập Tăng chính để trông nom công việc tăng ni ở các địa phương. Ngoài ra, Nhật bản đã sớm phỏng theo chế độ nhà Lương và nhà Trần ở Trung quốc. Năm 624, Thiên hoàng Suy cổ ban sắc thiết lập Tăng cương, cử ngài Quán lặc làm Tăng chính, đó là vị Tăng chính đầu tiên ở Nhật bản. Về sau cũng do các triều đại mà có sự thay đổi. [X. Tỉ khưu truyện Q.3; Lương cao tăng truyện Q.6, 7; Phật tổ thống kỉ Q.36, 51]. (xt. Tăng Cương).
Tăng chính
僧正; C: sēngzhèng; J: sōjō;|Trách nhiệm lớn nhất trong hàng giáo phẩm Phật giáo, tương đương với Tổng giám mục trong giáo hội Thiên chúa giáo La-mã.
Tăng chính 僧正
[ja] ソウジョウ sōjō ||| The first grade in the Buddhist hierarchy, comparable to an archbishop in the Roman catholic church. => Trách nhiệm lớn nhất trong hàng giáo phẩm Phật giáo, tương đương với Tổng giám mục trong gíao hội Thiên chúa giáo La Mã.
Tăng chúng
僧衆; C: sēngzhòng; J: sōshū;|Tăng ni thuộc đoàn thể tăng lữ Phật giáo; đoàn thể của những người xuất gia tu đạo (s,p: saṃgha).
tăng chúng
Xem Tòng lâm.
; Samgha (S). The body, or assembly of monks; Buddhist clergy.
; (僧衆) Cũng gọi Chúng tăng. Chỉ cho đoàn thể tỉ khưu có từ 4 vị trở lên sống trong tinh thần hòa hợp. Tăng, gọi đủ là Tăng già (Phạm: Saôgha), Hán dịch là chúng. Tăng chúng là từ kết hợp cả Phạm và Hán. (xt. Tăng Già).
Tăng chúng 僧衆
[ja] ソウシュウ sōshū ||| The monks and nuns of the Buddhist clerical order; the renunciant community (Pali/Sanskrit saṃgha) => Tăng Ni thuộc đoàn thể tăng lữ Phật giáo; đoàn thể của những người xuất gia tu đạo (s,p: saṃgha).
tăng chấp
(增執) Đối là: Giảm chấp. Chấp tăng ích, tức vọng chấp các pháp thực có thì làm thêm cái giá trị có của các pháp vốn hư giả, là 1 trong 2 thứ vọng chấp. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 (Đại 43, 243 hạ) nói: Do đó, thể tính của nội thức này chẳng phải không, thể tính của ngã pháp ngoài tâm chẳng phải có, vì thế ngăn trừ được lỗi tăng chấp là chấp cảnh bên ngoài lìa tâm là có thật. Còn Giảm chấp là chấp tổn giảm, tức vọng chấp các pháp làKhông vô, thì thiên hẳn về nghĩa Không, làm giảm nghĩa không của các pháp.
tăng chế
(僧制) Cũng gọi Thanh qui, Tăng cấm. Chỉ cho những điều qui định ngoài giới luật được đặt ra để ngăn ngừa sự buông thả trong lời nói và việc làm của tăng ni. Tại Trung quốc, Tăng chế bắt đầu từ bộ Tăng ni quĩ phạm do ngài Đạo an soạn vào đời Đông Tấn, nội dung bao gồm các pháp: Hành hương, Định tòa, giảng kinh, thượng giảng, bố tát, sai sứ, sám hối, 6 thời hành đạo, ăn uống... Đến thời Bắc Ngụy, các ông vua rất coi trọng Tăng chế, như vào năm Thái hòa 17 (493), vua Hiếu văn ban sắc lập Tăng chế gồm 47 điều. Vào mùa thu niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508), vua Tuyên vũ ban sắc lệnh, trong chúng tăng, ai phạm tội giết người trở lên thì bị xét xử theo luật pháp thế tục, còn vi phạm các tội khác thì đều do Chiêu huyền tự là cơ cấu tăng quan trung ương giải quyết theo giới luật. Năm sau lại chế định pháp cấm chỉ tăng ni tích chứa 8 vật bất tịnh, hoặc mượn danh nghĩa Tam bảo cho người vay tiền để kiếm lời. Thời vua Hiếu minh (516-528), Luật sư Tuệ quang soạn Nhân vương thất giới và Tăng chế gồm 18 điều, nhưng rất tiếc là hiện nay đều thất truyền. Nhân vương thất giới (7 điều răn vua nhân từ) có lẽ đã căn cứ vào kinh Nhân vương bát nhã ba la mật mà được soạn ra. Sa môn Tăng cừ đời Lưu Tống thuộc Nam triều thì soạn Tăng ni yếu sự 2 quyển. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời Vũ đế nhà Tề, Văn tuyên vương ở Cánh lăng soạn Tăng chế 1 quyển. Năm Phổ thông thứ 6 (525), Vũ đế nhà Lương cử ngài Pháp vân chùa Quang trạch làm Đại tăng chính, ngài Pháp vân liền thiết lập Tăng chế, làm phép tắc cho đời sau. Đời Tùy, vào năm Khai hoàng 15 (595), vua sắc lệnh Hữu ti thu chép các pháp ngữ răn dạy sa môn trong các kinh Đại, Tiểu thừa mà biên thành Chúng sinh pháp yếu 10 quyển. Đến đời Đường, vào năm Khai nguyên (713-741), có Đạo tăng cách, Dụ lệnh tăng ni... được chế định. Về sau, trong Thiền môn, có ngài Bách trượng Hoài hải chế định Thanh qui, từ đó, các tùng lâm y cứ vào Thanh qui này mà sinh hoạt. Đến đời Nguyên, vua ban sắc sửa lại, gọi là Sắc tu Bách trượng thanh qui, làm pháp tắc cơ bản cho các tự viện nhiều đời. Tại Nhật bản thì vào niên hiệu Đại bảo năm đầu (701), Tăng ni lệnh được chế định. Niên hiệu Dưỡng lão năm đầu (717), vua ban sắc chỉnh đốn hàng ngũ tăng ni. Năm sau, đổi Đại bảo lệnh (701) 11 quyển thành Dưỡng lão lệnh (717) 10 quyển, trong đó, quyển 2 là Tăng ni lệnh, gồm 27 điều, qui định nếu ai phạm giới thì bị xử khổ sai, hoặc hoàn tục. Vào thời đại Liêm thương, quyền cai quản tăng ni nằm trong tay Mạc phủ(các võ tướng). Từ thời Minh trị Duy tân về sau, các tông phái đều chế định giáo qui của mỗi tông để quản lí tăng ni, chế độ này được thừa kế đến ngày nay. [X. Lương cao tăng tuyện Q.5; Tục cao tăng truyện Q.21; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Ngụy thư thích lão chí 20; Đường lụcđiểnQ.4].
tăng chức
(僧職) Từ gọi chung chức vụ của tăng lữ. Các chức vụ này chuyên về việc quản lí các chùa viện, tổ chức pháp hội và giám sát tăng chúng, như Tam cương, Giảng sư, Độc sư, Ngũ sư, Thập sư, Nội cung phụng thập thiền sư, Hộ trì tăng, A xà lê, Uy nghi sư, Tòng nghi sư, Đạo sư, Pháp vụ, Tọa chủ, Biệt đương, Trưởng giả, Kiểm giáo, Chấp hành, Trưởng lão, Trụ trì, Viện chủ, Câu đương, Chuyên đương, Tri sự, Hành sự, Tại sảnh, Niên dự... Trong đó, các chức như: A xà lê, Trưởng lão, Tam cương, Thập sư, Tọa chủ, Tri sự, Kiểm giáo, Trụ trì, Viện chủ, Nội cung phụng... là những chức vụ thông dụng cho cả Phật giáo Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản, ngoài ra đều là các chức riêng của Phật giáo Nhật bản. Tam cương chỉ cho 3 vị: Thượng tọa, Tự chủ, và Đô duy na, gọi là Quyền tam cương, trông coi tổng quát các việc trong chùa; còn 3 chức vụ: Dĩ giảng, Nội cúng, và A xà lê gọi là Chính tam cương; Giảng sư và Quốc ti cùng quản chưởng các việc tăng ni trong nước và kiêm việc giảng diễn kinh luận. Chức này vốn gọi là Quốc sư, hoặc Quốc giảng sư, có Đại quốc sư và Tiểu quốc sư khác nhau; Độc sư là chức phó của Giảng sư, chuyên các việc liên quan đến tín đồ; Ngũ sư gồm có 5 vị được thiết lập tại các chùa lớn để bổ sung cho Tam cương biệt đương khi thiếu vắng; Thập sư, cũng gọi Thập tăng, chỉ cho Giới hòa thượng, Yết ma sư, Giáo thụ sư và 7 vị tôn chứng sư trong giới đàn khi truyền trao giới pháp; Thập sư cũng có Đại thập sư và Tiểu thập sư khác nhau. Nội cung phụng thập thiền sư, cũng gọi Nội cung, Cung phụng, Thập thiền sư, Thập sư, trông coi việc Phật trong cung vua, gồm có 1 vị Tọa chủ, 3 vị Tam cương và 6 vị Cung tăng, gọi chung là Thập thiền sư. A xà lê là chức vụ trông coi các việc tu pháp, quán đính, thụ giới..., cũng có Đại a xà lê và Tiểu a xà lê khác nhau, lại vì công việc bất đồng nên danh xưng cũng khác, như có Truyền pháp a xà lê, Tam bộ đại pháp a xà lê, Thụ giới a xà lê...; Uy nghi sư thì trong pháp hội ở các chùa, có nhiệm vụ giám sát uy nghi của chúng tăng; Tòng nghi sư, tức người phụ tá, giúp đỡ Uy nghi sư; Trưởng lão là chức Thủ tọa của một chùa; Trụ trì và Viện chủ là chủ chính của chùa viện, tổng quản mọi việc. Ngoài ra, trong các chùa còn có các tăng chức như: Đường đạt, Bạn tăng, Phường quan, Đông đường, Tây đường, Tiền đường, Hậu đường, Tháp chủ, Thư kí, Tạng chủ, Duy na, Tri khách, Đô tự, Giám tự, Phó tự, Nạp sở, Điển tọa, Dục chủ, Tịnh đầu, Tịnh nhân, Đường chủ, Điện chủ, Khán phường, Thừa sĩ, Tòng tăng, Thị giả... [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung, hạ; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Tổ đình sự uyển Q.8; môn Chức vị trong Thiền lâm tượngkhí tiên].
tăng cung
(僧供) Gọi đủ: Tăng cúng dường. Chỉ cho phẩm vật cúng dường chúng tăng.Cúng dường 100 vị tăng, gọi là Bách tăng cúng; cúng dường 1.000 vị tăng, gọi là Thiên tăng cúng, gọi chung là Cúng dường hội.[X. điền Hóa chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.5]. (xt. Cúng Dường).
tăng cái
(繒蓋) Cũng gọi Thiên tăng cái. Cái lọng lớn(cái) được may bằng lụa (tăng). Lọng vốn là một vật mà người Ấn độ dùng để che nắng, mưa. Người đời sau dùng lọng treo ở phía trên đỉnh đầu của tượng Phật, hoặc treo phía trên tòa thuyết pháp, vì vậy, lọng trở thành một trong những pháp cụ trang nghiêm điện Phật. (xt. Thiên Cái, Cái).
tăng côn
(僧琨) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy họ Trịnh. Sư vốn theo học Pháp sư Vong danh, vì giỏi về âm điệu nên vào khoảng năm Khai hoàng (581-600), sư được vua Văn đế nhà Tùy ban sắc cử làm Độc kinh pháp chủ trong 25 chúng. Sư sưu tập các kinh luận và thuyết của thánh hiền soạn thành một bộ Luận trường 30 quyển (có chỗ nói 31 quyển). Về sau, sư xây chùa Tĩnh giác ở Khúc trì và trụ tại đó.
Tăng cương
僧綱; C: sēnggāng; J: sōgō;|Tăng thống (còn gọi là Tăng quan 僧官) – một chức việc hành chính mà thành viên trong hàng Tăng lữ Phật giáo được bổ nhiệm, nguồn gốc phát xuất từ Trung Hoa, và cũng được thành lập dưới nhiều dạng khác nhau ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Ba chức danh thông dụng nhất, xếp từ giai vị trên xuống dưới là Tăng chính (僧正), Tăng đô (僧都), Luật sư (律師).
tăng cương
(僧綱) I. Tăng Cương. Cũng gọi Tăng quan. Nghĩa gốc là giềng mối của tăng ni, từ đó chuyển thành tên chức quan tăng do nhà nước bổ nhiệm thống lãnh tăng ni trên toàn quốc để hộ trì đạo pháp và giúp đỡ nhà nước về mặt quản lí các chùa viện. Nhiệm vụ của vị quan tăng này là kiểm xét xem tăng ni có phạm giới hoặc có làm tròn phận sự hay không, đồng thời giám sát công việc của các chùa viện. (xt. Tăng Quan). II. Tăng Cương. Cũng gọi Tăng vị. Chế độ đặc biệt của Phật giáo Nhật bản. Tức địa vị của một vị tăng được phân định theo tuổi tác và trí đức. Nhưng do thời đại cũng có sự thay đổi. (xt. Tăng Vi).
tăng cương bổ nhậm
(僧綱補任) Tác phẩm, 6 quyển, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 123. Nội dung sách này ghi chép thứ tự các vị được bổ nhiệm làm Tăng cương của Phật giáo Nhật bản, trong khoảng 519 năm, tính từ năm Suy cổ Thiên hoàng 32 (624) đến năm Vĩnh trị thứ 2 (1142). Sách được viết theo thể biên niên. Dưới tên người, đều có chú thích rõ ngày, tháng làm Tăng quan, thăng chức và truyện sơ lược...; dưới các niên hiệu cũng ghi rõ nguyên do của các niên hiệu ấy, các pháp hội chủ yếu, việc xây dựng các chùa viện, cho đến các sự kiện quan trọng như: Thay đổi niên hiệu, lên ngôi, các giảng sư Nam Bắc, Quán đính... Các kí sự của sách này chính xác, những việc vào cuối thời kì Bình an có phạm vi liên quan rất rộng, là tư liệu căn bản về Tăng sử của Phật giáo Nhật bản. Qua sách này người ta biết được nguồn gốc Tăng cương và sự biến đồi của Tăng quan, Tăng vị, Tăng chức... Nguyên bản sách này được cất giữ tại chùa Hưng phúc ở Nại lương (Nara), đã được xếp vào loại quốc bảo của Nhật bản. Ngoài ra còn có bản 12 quyển do ngài Huệ trân chùa Đông đại biên soạn, bản gốc đã bị thất lạc, nay chỉ còn lưu truyền bản sao là Tăng cương bổ nhiệm lược kí 2 quyển, do ngài Tăng hiền sao lục. [X. Tăng cương bổ nhiệm sao xuất dữ Thất đại tự niên biểu (Tiểu dã Huyền diệu, Phật thư nghiên cứu số 1, 7, 8)].
Tăng cường
增強; C: zēngqiáng; J: sōkyō;|Làm mạnh hơn, gia tăng sức lực.
tăng cừ
(僧璩) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều, người ở quận Ngô, họ Lai(có thuyết nói họ Chu). Sư tham học ngài Tăng nghiệp, thông suốt các kinh, đặc biệt giỏi về luật Thập tụng. Ban đầu, sư trụ ở núi Hổ khâu tại quận Ngô, sau được Hiếu vũ đế ban sắc triệu vào kinh cử làm Tăng chính duy na, trụ ở chùa Trung hưng. Sư giữ giới luật nghiêm cẩn, tăng tục đều tôn kính. Về sau, sư dời đến ở chùa Trang nghiêm. Sư thị tịch vào cuối năm Đại minh (457- 464) đời Lưu Tống. Sư có tác phẩm: Thập tụng tăng ni yếu sự yết ma 2 quyển, Thuật đạo sinh thiện bất thụ báo nghĩa. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Lương cao tăng truyện Q.11; Xuất tam tạng kí tập Q.2].
Tăng Duệ
(僧叡, Sōei, 1762-1826): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Tăng Duệ (僧叡); tên lúc nhỏ là Tả Kinh (左京); thụy hiệu Thắng Giải Viện (勝解院); hiệu Ưng Thành (鷹城), Thạch Tuyền (石泉); xuất thân vùng Hộ Hà Nội (戸河內, Togouchi), An Nghệ (安芸, Aki, thuộc Hiroshima-ken [廣島縣]); trưởng nam của Viên Đế (圓諦) ở Chơn Giáo Tự (眞敎寺) vùng An Nghệ. Năm 1773, đến nhập môn làm đệ tử của Tuệ Vân (慧雲) ở Báo Chuyên Phường (報專坊), An Nghệ, học về giáo nghĩa Chơn Tông; nghiên cứu thêm cả Phạn Ngữ, Nhân Minh và thông hiểu luôn Thiên Thai giáo học. Sau ông tuyên xướng thuyết Hoằng Nguyện Trợ Chánh (弘願助正) và trong dịp An Cư năm 1817 ở Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự, ông lại đưa ra các học thuyết mới, tạo nên luận tranh trong nội bộ Tông môn và bị điều tra. Đến năm 1825, ông được cử làm chức Ty Giáo (司敎). Ông là Tổ của Học Phái Thạch Tuyền (石泉學派). Trước tác của ông có rất nhiều như Trợ Chánh Thích Vấn (助正釋問) 1 quyển, Văn Loại Thuật Văn (文類述聞) 8 quyển, Giáo Hành Tín Chứng Tùy Văn Ký (敎行信証隨聞記) 63 quyển, Sài Môn Huyền Thoại (柴門玄話) 1 quyển, v.v.
tăng duệ
(僧叡) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đông Tấn, người ở Trường lạc, quận Ngụy (An dương, Hà nam), là một trong Tứ thánh ở Quan trung. Thủa nhỏ sư đã có chí xuất trần, năm 18 tuổi, sư lễ ngài Tăng hiền cầu xuất gia. Năm 20 tuổi sư đã thông suốt các kinh luận. Sư từng nghe ngài Tăng lãng giảng kinh Phóng quang bát nhã, thường hỏi những chỗ còn ngờ, ngài Tăng lãng khen sư là người có tài. Năm 24 tuổi, sư đi các nơi thuyết giảng, rất đông người đến nghe và sư thường than là Thiền pháp chưa được lưu truyền. Tháng 12 năm Hoằng thủy thứ 3 (401) đời Diêu Tần, ngài Cưu ma la thập đến Trường an, sư liền theo học và thỉnh ngài La thập phiên dịch Thiền pháp yếu giải, theo đó ngày đêm tinh cần tu tập. Quan Tư đồ Diêu tung rất kính trọng sư và vua Tần là Diêu hưng cũng khen sư là bậc tài khí. Sư cùng với ngài Tăng triệu tham dự việc dịch kinh của ngài La thập. Người đời sau gọi sư là 1 trong 4 vị đệ tử lớn(Đạo sinh, Tăng triệu, Đạo dung, Tăng duệ) của ngài Cưu ma la thập. Khi ngài La thập dịch kinh Pháp hoa đến phẩm Ngũ bách đệ tử, trong đó có câu ngài La thập dịch là Thiên kiến nhân, nhân kiến thiên(Trời thấy người, người thấy trời), sư kiến nghị đổi lại là Nhân thiên giao tiếp, lưỡng đắc tương kiến (trời, người giao tiếp, hai bên được thấy nhau), ngài La thập rất hoan hỉ, việc này sau được lưu truyền thành giai thoại trong một thời gian. Sau, sư giảng thuyết luận Thành thực do ngài La thập dịch, kiến giải của sư rất hợp ý ngài La thập. Lúc sinh bình ngài Tăng duệ nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ, khi đi đứng ngồi nằm không dám xoay lưng về hướng Tây. Sau, sư tự biết giờ lâm chung nên cáo biệt đại chúng, vào phòng tắm gội, đốt hương lễ bái, ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng Tây, chắp tay thị tịch. Sư có các trứ tác: Bài tựa kinh Tiểu phẩm bát nhã, lời bạt kinh Pháp hoa, bài tựa luận Đại trí độ, bài tựa Trung luận, bài tựa luận Thập nhị môn, bài tựa kinh Tư ích, bài tựa Tì ma la cật đề kinh nghĩa sớ, lời bạt kinh Tự tại vương, bài tựa kinh Quan trung xuất thiền(các bài tựa nêu trên hiện còn), bài tựa luận Thành thực, bài tựa Bách luận, bài tựa Tư ích kinh nghĩa sớ(các bài tựa trên đã thất lạc). Ngoài ra, Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 nói sư có soạn Nhị Tần lục 1 quyển; Pháp hoa văn cú kí quyển 8, phần 4 nói sư có soạn Nhị thập bát phẩm duyên khởi; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục quyển 1 nói sư có soạn Chú pháp hoa kinh 7 quyển và Phật điển sao mục lục quyển thượng nói sư có soạn Pháp hoa kinh sớ..., nhưng e rằng những ghi chép này không đúng sự thật. Lại trong Pháp hoa văn cú quyển 8, hạ; Pháp hoa truyện kí quyển 2 thì cho rằng ngài Tăng duệ lập ra Cửu triệt để phân biệt giải thích kinh Pháp hoa nên người đời gọi sư là Cửu Triệt Pháp Sư, nhưng e việc này đã bị lầm lẫn với sự tích của ngài Đạo dung. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.8, 10; Lương cao tăng truyện Q.6; Phật tổ lịch đại thông tải Q.8].
Tăng Già
(s, p: saṃgha, 僧伽): gọi tắt là tăng; ý dịch là hòa (和), chúng (眾), hòa hợp (和合); cho nên còn được gọi là hòa hợp chúng (和合眾), hòa hợp tăng (和合僧), hải chúng (海眾, nghĩa là chúng tăng hòa hợp như một vị nước biển). Hoặc lấy Phạn ngữ cùng Hán ngữ hợp chung lại gọi là tăng lữ (僧侶). Ngoài ra, còn cách gọi khác như tăng gia (僧家), tăng ngũ (僧伍), v.v. Tăng là một trong ba ngôi báu, là người tín thọ giáo pháp của đức Như Lai, vâng theo đạo ấy, tinh cần tu tập, nhập vào dòng Thánh và chứng quả vị. Từ này cũng chỉ cho hàng Thánh đệ tử xuất gia, cạo bỏ râu tóc, theo học đạo của đức Phật, đầy đủ Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến, an trú trong Tứ Hướng Tứ Quả; hoặc chỉ cho đoàn thể tín thọ Phật pháp, tu hành Phật đạo. Sau khi thành đạo, trước hết đức Phật đến vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), độ cho 5 anh em Kiều Trần Như (s: Ājñātakauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 憍陳如) và đây được xem như khởi đầu hình thành Tăng Già. Luật sư Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cho rằng muốn cấu thành Tăng Già phải có 2 điều kiện: (1) Lý hòa, tức tuân thủ giáo nghĩa Phật Giáo, lấy việc giải thoát Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃) làm mục đích tối thượng. (2) Sự hòa, có 6 loại, tức Lục Hòa, gồm Giới Hòa Đồng Tu (戒和同修), Kiến Hòa Đồng Giải (見和同解), Thân Hòa Đồng Trụ (身和同住), Lợi Hòa Đồng Quân (利和同均), Khẩu Hòa Vô Tránh (口和無諍), Ý Hòa Đồng Duyệt (意和同悅). Ngoài ra, nguyên lai Tăng là tên gọi thông thường của Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼). Trung Quốc, Việt Nam, v.v., gọi Tỳ Kheo là Tăng, Tỳ Kheo Ni là Ni. Đặc biệt, Nhật Bản gọi tu sĩ nam là Tăng Lữ (僧侶, sōryo), tu sĩ nữ là Ni Tăng (尼僧, nisō). Sau này, ngoài hai chúng trên còn có Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerī, 沙彌尼) cũng được gọi là Tăng hay Ni. Tăng Già Tỳ Kheo và Tăng Già Tỳ Kheo Ni được gọi là hai bộ chúng. Hết thảy các Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni trong bốn phương có tên gọi là Bốn Phương Tăng Già. Chư Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni hiện hữu trước mặt được gọi là Hiện Tiền Tăng Già. Hiện Tiền Tăng Già tất phải có từ 4 người trở lên, tập trung, hòa hợp, mới có thể thực hành pháp Yết Ma (羯磨), Bỉnh Pháp (秉法), v.v. Nếu dưới số lượng ấy, được gọi là quần, nhóm. Hơn nữa, do vì hình thức Yết Ma không giống nhau, nên số lượng chúng Tỳ Kheo cũng bất đồng. Theo Tứ Phần Luật (四分律, Taishō Vol. 22, No. 1428) quyển 44, phần Chiêm Ba Kiền Độ (瞻波揵度) có nêu Tăng 4 người, Tăng 5 người, Tăng 10 người, Tăng 20 người. Đối với Tăng 4 người, trừ Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣), thọ đại giới, xuất tội ra, có thể tác các pháp Yết Ma khác một cách như pháp. Trường hợp Tăng 5 người, trừ thọ đại giới, xuất tội ra, có thể tác các pháp Yết Ma khác một cách như pháp. Trường hợp Tăng 20 người thì có thể tác bất cứ pháp Yết Ma nào. Theo Thập Tụng Luật (十誦律, Taishō Vol. 23, No. 1435) quyển 30, phần Chiêm Ba Pháp (瞻波法), có nêu ra 5 loại tăng: (1) Vô tàm quy tăng (無慚愧僧), tức chỉ các Tỳ Kheo phá giới mà không biết xấu hổ; (2) Nhu dương tăng (羺羊僧), chỉ cho hạng Tỳ Kheo phàm phu căn tánh chậm lụt, không có trí tuệ, giống như đàn dê tụ tập mà chẳng biết gì cả; các Tỳ Kheo này cũng không biết Bố Tát, Yết Ma, thuyết giới, pháp hội, v.v.; (3) Biệt chúng tăng (別眾僧), tức là các Tỳ Kheo ở trong một phạm vi, mỗi nơi tác pháp Yết Ma riêng biệt, không đồng nhất; (4) Thanh tịnh tăng (清淨僧), tức chỉ cho các vị chuyên trì giới pháp thanh tịnh; (5) Chân thật tăng (眞實僧), chỉ cho các bậc Hữu Học và Vô Học. Riêng Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh (大乘本生心地觀經, Taishō Vol. 3, No. 159) quyển 2 nêu ra 3 loại tăng của thế gian và xuất thế gian, gồm: (1) Bồ Tát Tăng (菩薩僧), như Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利), Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒), v.v.; (2) Thanh Văn Tăng (聲聞僧), như Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連), v.v.; (3) Phàm phu tăng (凡夫僧). Trong Tứ Phần Luật Danh Nghĩa Tiêu Thích (四分律名義標釋, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 744) quyển 25, phần (襯體), có đoạn: “Phàm thị Tăng Già ngọa cụ, thọ dụng chi thời, bất đắc tùy nghi tương khinh tiểu Tọa Cụ, cập cấu nhị sơ bạc ố vật, nhi vi sấn thế, đắc ác tác tội (凡是僧伽臥具、受用之時、不得隨宜將輕小坐具、及垢膩疏薄惡物、而爲儭替、得惡作罪, phàm là vật trãi nằm của tăng, khi thọ dụng, không được tùy tiện lấy Tọa Cụ nhỏ nhẹ, và vật nhơ nhớp mỏng manh, mà đem cúng thay thế, [như vậy] mắc tội ác tác).” Hay trong bài tựa của Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (重治毗尼事義集要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 719) lại có đoạn: “Tỳ Ni Tạng giả, Phật pháp chi cương kỷ, Tăng Già chi mạng mạch, khổ hải chi tân lương, Niết Bàn chi yếu đạo dã (毗尼藏者、佛法之紀綱、僧伽之命脈、苦海之津梁、涅槃之要道也, Tạng Tỳ Ni là, cương kỷ của Phật pháp, mạng mạch của Tăng Già, cầu bắc qua biển khổ, đường chính của Niết Bàn vậy).”
tăng già
Saṇgha (P), Assembly, gen dun (T), Saṃgha (S)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
; Xem tăng.
; (僧伽) I. Tăng Già. Phạm, Pàli: Saôgha. Gọi tắt: Tăng. Phạm Hán: Tăng chúng, Tăng gia, Tăng ngũ.Hán dịch: Hòa, Chúng, Hòa hợp. Cũng gọi Hòa hợp chúng, Hòa hợp tăng, Hải chúng(chúng tăng hòa hợp như nước biển chỉ có một vị, cho nên dùng biển để ví dụ mà gọi là Hải chúng). Tức chỉ cho đệ tử của Phật xuất gia tu đạo, đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, trụ nơi giai vị Tứhướng Tứ quả, hoặc chỉ cho đoàn thể gồm 4 vị tỉ khưu trở lên sống hòa hợp theo tinh thần giới luật. Đoàn thể Tăng già đầu tiên là 5 vị tỉ khưu: A nhã kiều trần như... được đức Phật hóa độ ở vườn Nai sau khi Ngài thành đạo. Theo luật sư Đạo tuyên đời Đường thì muốn tổ chức thành Tăng già phải có 2 điều kiện: 1. Lí hòa: Tức tuân theo giáo nghĩa của Phật giáo, lấy Niết bàn giải thoát làm mục đích.2. Sự hòa: Gồm có: Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải, thân hòa đồng trụ, lợi hòa đồng quân, khẩu hòa vô tránh và ý hòa đồng duyệt. Tăng vốn là từ gọi chung các tỉ khưu, tỉ khưu ni. Ở Trung quốc và Nhật bản gọi tỉ khưu là Tăng, tỉ khưu ni là Ni. Nhưng đến đời sau thì không những tỉ khưu, tỉ khưu ni, mà cả sa di, sa di ni cũng được gọi là Tăng hoặc Ni, các tỉ khưu thì gọi là Đại tăng, còn các sa di thì gọi là Tiểu tăng. Đại thừa nghĩa chương quyển 10 (Đại 44, 656 thượng) nói: Bậc Thánh bồ tát thì chỉ một mình, không có lữ nên không thành Tăng. Lữ ở đây có nghĩa là đồng bạn, đồng nghĩa với chữ chúng. Tỉ khưu, tỉ khưu ni, sa di, sa di ni gọi chung là Tứ chúng. Nói theo nghĩa rộng thì Tăng già là toàn thể giáo đoàn Phật giáo bao gồm cả chúng tại gia, tức là Thất chúng. Ngoài ra, Tỉ khưu tăng già và Tỉ khưu ni tăng già, gọi chung là Lưỡng tăng già, cũng gọi là Nhị bộ chúng, Nhị chúng. Về phương diện quan niệm thì bao gồm tất cả tỉ khưu, tỉ khưu ni 4 phương, gọi là Tứ phương tăng già; còn giáo đoàn tỉ khưu, tỉ khưu ni hiện tiền thì gọi là Hiện tiền tăng già.Hiện tiền tăng già phải có 4 người trở lên nhóm họp trong tinh thần hòa hợp mới cử hành được pháp Yết ma(tác pháp về giới luật), nếu 4 người trở xuống thì chỉ gọi là Quần. Lại do chủng loại yết ma khác nhau nên số các vị tỉ khưu nhóm họp cũng bất đồng. Chương Chiêm ba trong luật Tứ phần quyển 44 chia làm 4 loại:Tứ nhân tăng (Tăng 4 người), Ngũ nhân tăng(Tăng 5 người), Thập nhân tăng (Tăng 10 người) và Nhị thập nhân tăng (Tăng 20 người). Theo luật Ngũ phần quyển 24 và Đại phẩm Luật tạng tiếng Pàli (Mahàvagga IX, 4), nếu quá 20 người thì thuộc Vô lượng tỉ khưu tăng. Như vậy, tất cả có 5 loại Tăng. Trong đó, Tứ nhân tăng có thể cử hành tất cả các pháp Yết ma, chỉ trừ yết ma tự tứ, thụ đại giới và cử tội; Ngũ nhân tăng cũng được cử hành tất cả các pháp yết ma, chỉ trừ yết ma thụ đại giới và yết ma cử tội; còn Nhị thập nhân tăng thì được cử hành hết thảy yết ma. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩalâm chương quyển 6, phần đầu, Tăng có 3 loại là: Lí hòa, Sự hòa và Biện sự: 1. Đứng về phương diệnLí hòa mà nói thì một người cũng được gọi là Tăng. 2. Nói theo phương diện Sự hòathì phải có 3 người mới được gọi là Tăng. 3. Còn nói theo nghĩaBiện sự thì phải từ 4,5 cho đến 20 người trở lên mới gọi là Tăng. Ở Trung quốc thì chỉ một người cũng gọi là Tăng hoặc Tăng lữ; danh từ Tăng đồng nghĩa với sa môn xuất gia; trong Tam bảo, Tăng được gọi là Tăng bảo, đều lấy tỉ khưu làm chính, nhưng Tăng cũng có khi chỉ cho tỉ khưu ni. Hợp chung lại thì tỉ khưu và tỉ khưu ni được gọi là Tăng ni. Ngoài ra, về chủng loại của Tăng, trong các kinh điển ghi chép khác nhau. Thời Phật còn tại thế, có phá giới tăng và độn căn tăng... Pháp Chiêm ba trong Thập tụng quyển 30 liệt kê 5 loại Tăng: 1. Vô tàm quí tăng: Chỉ cho các tỉ khưu phá giới, không biết hổ thẹn(tàm quí). 2. Nâu dương tăng: Chỉ cho các tỉ khưu độn căn không có trí tuệ, giống như bầy dê (nâu dương) tụ tập ở một chỗ chẳng biết gì. Những tỉ khưu này không biết Bố tát, Yết ma bố tát, thuyết giới, pháp hội... 3. Biệt chúng tăng: Chỉ cho các tỉ khưu cùng ở chung trong một khu vực kết giới mà cử hành các yết ma riêng biệt. 4. Thanh tịnh tăng: Chỉ cho các tỉ khưu giữ giới và tương đối ưu tú trong chúng tăng phàm phu. 5. Chân thực tăng: chỉ cho các bậc Hữu học và Vô học. Phẩm Hữu y hành trong kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân quyển 5 và Vi tổn bộ trong Pháp uyển châu lâm quyển 19, đều không có Biệt chúng tăng, chỉ nói 4 loại Tăng giống như trên màthôi. Còn luận Đại trí độ quyển 3 cũng không nêu Biệt chúng tăng mà chỉ nói 4 loại Tăng như sau: 1. Thực tăng: Tức chân thực tăng. 2. Hữu tu tăng: Chỉ cho các Tăng tuy nhận lãnh giới luật để tu đạo, nhưng vẫn phạm tội và sau mới ăn năn (tức hữu tu: còn có tâm hổ thẹn). 3. Á dương tăng(gọi tắt là Dương tăng. Có khi cũng là tiếng tự khiêm của tỉ khưu): Chỉ cho những vị tăng ngu tối, không phân biệt được thiện ác, giống như con dê câm (á dương). 4. Vô tu tăng(cũng gọi Vô tàm quí tăng, Vô sỉ tăng): Chỉ cho tăng phá giới, không có tâm hổ thẹn (vô tu). Ngoài ra, luận Tạp a tì đàm tâm quyển 10 nêu 2 loại tăng: Đệ nhất nghĩa tăng, Đẳng tăng... Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 1, nêu 3 loại Tăng: Đệ nhất nghĩa tăng, Thánh tăng và Phúc điền tăng; Đại thừa nghĩachương quyển 10 liệt kê 2 loại Tăng: Giả danh tăng và Chân thực tăng; 3 loại Tăng: Giả danh tăng, Thanh tịnh tăng và Chân thực tăng; cho đến 3 loại tăng: Phá giới tạp tăng, Ngu si tăng và Thanh tịnh tăng. Trong đó, Chân thực tăng và Thanh tịnh tăng tức là Tăng bảo; ngoài ra như Vô tàm quí tăng... thì không được xếp vào Tăng bảo. LuậnĐại trí độ quyển 34, ngoài Thanh văn tăng còn lập Bồ tát tăng. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2, nêu 3 loại tăng:1. Bồ tát tăng: Như các ngài Văn thù sư lợi, Di lặc... là Bồ tát tăng. 2. Thanh văn tăng: Như các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên... là Thanh văn tăng. 3. Phàm phu tăng: Nếu có những người phàm phu chân thiện, thành tựu Biệt giải thoát giới, đầy đủ tất cả chính kiến, khai thị Thánh đạo cho những người khác để lợi lạc chúng sinh thì gọi là Phàm phu tăng. Tuy chưa được giới, định, tuệ, vô lậu, nhưng người cúng dường Phàm phu tăng này cũng được vô lượng phúc đức. Về thứ tự của Tăng, kinh Tỉ khưu ưng cúng pháp hành có ghi: Phật hóa tăng, Tứ đạo quả tăng, Bồ tát tăng, Thất hiền tăng, Phàm phu tăng... Điều này cho thấy Bồ tát cũng được gọi là Tăng. Luật Ngũ phần quyển 16 cũng xếp Phật vào Tăng số, như (Đại 22, 110 trung) ghi: Phật dạy: Nên cúng dường Tăng, vì ta cũng ở trong Tăng. Luật Ma ha tăng kì quyển 3 (Đại 22, 251 hạ) ghi: Nếu tháp có vật cúng mà chúng tăng không có thì nên nghĩ như thế này: Hãy cúng dường Tăng vì Phật cũng ở trong Tăng, liền đem vật cúng tháp mà cúng dường chúng tăng. Nhưng về vấn đề vừa tường thuật ở trên, xưa nay cũng có ý kiến khác nhau, như phẩm Biện tam bảo trong luận Thành thực quyển 3 chủ trương Phật chẳng phải là chúng Thanh văn, hơn nữa, giữa Tam bảo Phật Pháp Tăng có sự sai khác, vì thế không thể xếp Phật vào hàng Tăng già được. [X. kinh Tạp a hàm Q.22; kinh Trường a hàm Q.2; phẩm Quảng diễn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.2; kinh Tì ni mẫu Q.6; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.6; Tát bà đa bộ luật nhiếp Q.9; luận Đại tì bà sa Q.34; luận Dị bộ tông luân; Pháp hoa kinh văn cú Q.1, thượng; Duy ma kinh văn sớ Q.3; Chư kinh yếu tập Q.2; Phiên phạm ngữ Q.2; Tứ phần luật hành sự sao Q.thượng, phần 1 hạ, phần 3; Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.1, thượng; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.1; Tứ phần luật khai tông kí Q.2; Viên giác kinh đại sớ thích nghĩa sao Q.13, thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4; Thích thị yếu lãm Q.thượng, trung; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Lục Hòa Kính). II. Tăng Già (628-710) Cao tăng Tây vực đến Trung quốc vào đời Đường, người nước Bắc hà vùng Thông lãnh, có thuyết cho rằng sư là người nước Toái diệp (Suy-àb), họ Hà. Vào đầu năm Long sóc (661-663) đời Đường, sư đến phủ Tây lương, rồi qua vùng Giang hoài, trụ ở chùa Long hưng tại Sở châu. Sau, sư thỉnh được pho tượng bằng vàng ở phường Tín nghĩa tại huyện Lâm hoài, Tứ châu; trên pho tượng có khắc những chữ Cổ hương tích và Phổ chiếu vương Phật, cho nên sư xây chùa Lâm hoài để tôn thờ. Sư nhiều lần hiển hiện thần dị, như hiện hình Quán âm 11 mặt..., người đời càng kính tin và tôn sư là Quán âm Đại sĩ hóa thân. Năm Cảnh long thứ 2 (708) sư đượcvuaTrung tông triệu vào Nội đạo tràng tôn làm Quốc sư và trụ chùa Tiến phúc tại Trường an. Ngày mồng 2 tháng 3 năm Cảnh long thứ 4 (710) sư tịch ở chùa Tiến phúc, thọ 83 tuổi, vua Trung tông rất thương tiếc. Đệ tử có Huệ nghiễm, Mộc xoa... Năm Hàm thông thứ 2 (861), vua Ý tông ban hiệu Thánh Chứng Đại sư. Năm Đại trung tường phù thứ 6 (1013), vua Chân tông nhà Tống ban thụy hiệu là Phổ Chiếu Minh Giác Đại Sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.18; Thái bình quảng kí Q.96; Toàn đường văn Q.263].
tăng già ba la
Samghapàla (S). Also Chúng Dường.
tăng già bà la
(僧伽婆羅) (460-524) Phạm: Saôgha varman hoặc Saíghapàla. Hán dịch: Tăng dưỡng, Tăng khải, Chúng khải. Danh tăng người nước Phù nam (Cao miên) sang Trung quốc dịch kinh vào đời Nam Tề. Sư thông minh từ thủa nhỏ, xuất gia năm 15 tuổi, chuyên học A tì đàm, nổi tiếng ở vùng Hải nam. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư học tạng Luật, có chí du phương. Nghe nước Tề Phật pháp thịnh hành, sư theo thuyền đến Dương đô, trụ tại chùa Chính quán. Sau, sư làm đệ tử vị sa môn người Thiên trúc là Cầu na bạt đà la, nghiên cứu sâu các kinh Phương đẳng. Sư học nhiều hiểu rộng, biết mấy thứ ngôn ngữ. Sau khi nhà Tề diệt vong, Phật pháp suy đồi, sư tuyệt giao với bên ngoài, đóng cửa tĩnh tu. Năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Vũ đế nhà Lương, ngài Mạn đà la tiên từ nước Phù nam đến, sư vâng sắc cộng tác dịch kinh. Sau, có các vị danh tăng như: Bảo xướng, Tuệ siêu, Tăng trí, Pháp vân... tham dự làm Bút thụ. Lúc sư dịch kinh ở điện Thọ quang, có khi Vũ đế đích thân đến dịch trường ghi chép văn dịch. Vũ đế đãi ngộ sư rất trọng hậu. Sư sống cuộc đời thanh bạch, không biết cất giữ tài sản, của cúng dường đều dùng vào việc xây cất hoặc tu sửa chùa viện. Năm Phổ thông thứ 5 (524) sư tịch ở chùa Chính quán, hưởng thọ 65 tuổi. Dịch phẩm gồm hơn 10 bộ như: Kinh A dục vương 10 quyển, kinh Khổng tước vương đà la ni 2 quyển, kinh Văn thù sư lợi vấn 2 quyển... [X. truyện Cầu na tì địa trong Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.3; Tục cao tăng truyện Q.1;Đại đường nội điển lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].
tăng già bà thi sa
Samghavasesa (S).
tăng già bạt ma
Saṃghavarman (S)Chúng Khải.
; Samghavarman (S). Also Chúng Khải.
; (僧伽跋摩) Phạm: Saôghavarman. Hán dịch: Tăng khải, Chúng khải. I. Tăng già Bạt ma (?-?) Cao tăng Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Lưu Tống. Sư xuất gia từ nhỏ, giới đức thanh cao, hiểu sâu tạng Luật, đặc biệt tinh thông luận Tạp a tì đàm tâm. Năm Nguyên gia thứ 10 (433) đời Lưu Tống, sư vượt sa mạc đến Kiến nghiệp (Nam kinh), mọi người đều cung kính, tôn xưng là Tam tạng Pháp sư. Mới đầu, sư nhận lời thỉnh của ngài Tuệ quán trụ ở chùa Bình lục, tụng niệm hành đạo, ngày đêm không nghỉ, tăng chúng hướng về rất đông, đạo tràng hưng thịnh. Bấy giờ, Ni sư Tuệ quả ở chùa Ảnh phúc xin sư truyền lại giới Cụ túc, ngài Tuệ nghĩa ở chùa Kì hoàn nhất định không đồng ý. Hai bên tranh luận nhiều lần, sư nêu rõ tông chỉ, hiển bày chính pháp, ngài Tuệ nghĩa liền khâm phục, bảo các đệ tử như Tuệ cơ... phụng sự giúp đỡ. Bấy giờ có tới vài trăm tăng ni xin thụ giới lại. Theo ý của sư, người chưa đủ 20 tuổi mà thụ giới Cụ túc thì phải căn cứ vào thụ giới lại mà tính là hạ lạp thứ nhất; còn người đã đủ 20 tuổi mà thụ giới, đã ở vào địa vị đắc giới thì y cứ vào năm thụ giới đó mà tính giới lạp thứ nhất. Bấy giờ, ở Bành thành có Vương nghĩa khang, vì ngưỡng mộ giới đức của sư nên thiết trai cúng dường, 4 chúng cung kính, tiếng tăm sư vang khắp chốn kinh ấp. Năm Nguyên gia thứ 11(có thuyết nói năm thứ 10), nhận lời thỉnh của ngài Tuệ quán... sư dịch bộ luận Tạp a tì đàm tâm 14 quyển ở chùa Trường can và dịch Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển ở chùa Bình lạc tại Mạt lăng. Chí hướng của sư là du hóa khắp nơi chứ không muốn trụ ở một chỗ nào. Sau 19 năm truyền dịch kinh điển, sư lại theo thuyền buôn của người Tây vực trở về Ấn độ. Dịch phẩm: Luận Tạp a tì đàm tâm 14 quyển, Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già 10 quyển, Phân biệt nghiệp báo lược 1 quyển, Khuyến phát chư vương yếu kệ 1 quyển, Thỉnh Thánh tăng dục văn 1 quyển (đã thất lạc). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.10, 11, 14; Lương cao tăng truyện Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Anh dịch đại minh tam tạng thánh giáo mục lục]. II. Tăng Già Bạt Ma (?-?) Tương truyền là cao tăng người Ấn độ, hoặc người nước Khang cư vùng Trung á, đến Trung quốc dịch kinh vào thời đại Tam quốc. (xt. Khang Tăng Khải).
tăng già bạt trừng
Saṃghabhuti (S)Sư người Ấn, thế kỷ IVXem Chúng Hiện.
; Samghvarti (S). Also Chúng Hiện
; (僧伽跋澄) Phạm: Saôghabhùti. Hán dịch: Chúng hiện. Cao tăng nước Kế tân, Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn.Sư học đủ 3 tạng, thông suốt các kinh, lại hiểu thấu diệu chỉ của luận A tì đàm tì bà sa. Vì có chí du phương, nên vào năm Kiến nguyên 19 (383) đời Phù Tần, sư đến Trường an, rồi cùng với các vị Đạo an, Đàm ma nan đề, Phật đồ la sát, Triệu chính (tự Văn nghiệp)... dịch luận A tì đàm tì bà sa. Năm Kiến nguyên 20 (384) sư lại nhận lời thỉnh của Triệu chính, cùng với các vị Đàm ma nan đề, Tăng già bà đề và Trúc phật niệm dịch bộ luận Tôn bà tu mật bồ tát sở tập 10 quyển. Không bao lâu, sư lại theo lời thỉnh của Triệu chính, dịch kinh Tăng già la sát sở tập 3 quyển ở chùa Thạch dương tại Trường an. Về sau, vì Quan trung loạn lạc nên sư lánh nạn ở Đông Tấn. Năm Hoàng sơ thứ 4 (397), đời Diêu Tần, sư trở về Y lạc, mùa thu năm sau, nhận lời thỉnh của Thái úy Diêu mân, cùng với ngài Trúc phật niệm, dịch kinh Xuất diệu 30 quyển. Sư có giới đức thanh cao, tinh thần an nhiên thoát tục, chúng tăng ở Quan trung phần nhiều kính ngưỡng sư là bậc mô phạm. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 10, 13; Lương cao tăng truyện Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Hán Ngụỵ Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thạng dụng đồng)].
tăng già bạt đà la
Saṃghabhadrā (S)Chúng HiềnTên một Luận sư Ấn độ vào thế kỷ thứ 5, đệ tử ngài Tắc Kiền Địa La.
; Samghabhadra (S). Also Chúng Hiền.
; (僧伽跋陀羅) Phạm: Saôghabhadra. Hán dịch: Chúng hiền, Tăng hiền. I. Tăng Già Bạt Đà La. Luận sư người Ca thấp di la thuộc Bắc Ấn độ. Thủa nhỏ sư đã thông minh hiểu rộng, được mọi người khen ngợi. Sư nghiên cứu sâu sát luận Đại tì bà sa. Bấy giờ, ngài Thế thân (Phạm: Vasubandhu) soạn luận A tì đạt ma câu xá, đứng trên lập trường tư tưởng của Kinh bộ để bác bỏ học thuyết của các Luận sư Tì bà sa. Sư thấy được đại ý, rồi khổ công nghiên cứu trong 12 năm mà soạn thành luận Câu xá bạc gồm 2 vạn bài tụng, 8 trăm nghìn lời. Sau đó, sư cùng với mấy người học trò mang luận này đến ngài Thế thân, muốn tranh biện để đánh đổ luận thuyết của ngài. Lúc ấy, ngài Thế thân đang ở trong thành Xa yết la nước Trách ca, nghe tin sư sắp đến, vì không muốn tranh luận với sư, nên ngài Thế thân sắp xếp hành trang, dẫn các đệ tử đi xa. Sư cũng chuyển hướng đi theo ngả đường ngài Thế thân, nhưng khi đến ngôi chùa ở nước Mạt để bổ la thì bỗng bị bệnh nặng không đi tiếp được, sư bèn sai đệ tử mang luận kèm theo phong thư đến ngài Thế thân. Ngài Thế thân đọc thư và xem luận của sư xong, trầm ngâm giây lâu, rồi nói với các đệ tử rằng: Lí tuy không đủ nhưng lời lại có dư, đối với tông ta, luận này đã phát minh được những điều mới lạrồi đổi tên của luận này là luận Thuận chính lí. Không bao lâu sư thị tịch ở chùa ấy, đệ tử thiêu nhục thân, thu di cốt, xây tháp thờ trong rừng Am một la phía tây bắc chùa. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ thì tháp ấy vẫn còn. Sư để lại các tác phẩm: Luận Quang tam ma da(tức là luận A tì đạt ma tạng hiển tông, 40 quyển, do ngài Huyền trang dịch), luận Tùy thực (tức là luận Thuận chính lí, 80 quyển). [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Đại đường tây vực kí Q.4; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. II. Tăng Già Bạt Đà La. Cao tăng người Tây vực đến Trung quốc dịch kinh vào thời Nam Tề. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 11, trong năm Vĩnh minh (483-493), Bạt đà la và thầy là Tam tạng Pháp sư đi thuyền đến Quảng châu, khi sắp lên thuyền, Tam tạng Pháp sư bỗng muốn trở lại, bèn giao tạng Luật mang theo cho sư. Năm Vĩnh minh thứ 7, sư cùng với Sa môn Tăng y(cũng gọi Tăng huy) dịch bộ luật này ở chùa Trúc lâm tại Quảng châu, đó chính là bộ Thiện kiến luật tì bà sa 18 quyển. Vì cùng an cư nên sau khi thụ Tự tứ vào ngày rằm tháng 7 Vĩnh minh thứ 8, sư phỏng theo đời trước, dâng hương hoa cúng dường Luật tạng xong thì chấm một điểm, bấy giờ đã chấm được 975 điểm, đây chính là Chúng Thánh Điểm Kí; 975 điểm tức là khoảng thời gian từ năm đức Phật diệt độ đến năm Vĩnh minh thứ 8. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 11; Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Chúng Thánh Điểm Kí).
tăng già da xá
Xem Gia da đa xá.
; Samghayathata (S). 18th Indian patriarch. Also Chúng Xưng.
; (僧伽耶舍) Phạm: Saôghayazas. Hán dịch: Chúng xưng. Luận sư Ấn độ sống vào thời đại Phật giáo bộ phái. Sư tinh thông các bộ luận của Thuyết nhất thiết hữu bộ và rất giỏi về các môn học Nhân minh, Thanh minh... [X. Nhân minh đại sớ Q.1].
tăng già la
Nước Tích Lan ngày nay. Xem Tăng già quốc.
tăng già la sát
Saṃgharaksa (S)Tên một vị sư. Sư người Ấn, thế kỷ I.
; (僧伽羅刹) Phạm: Saôgharakwa. Cũng gọi Tăng già la xoa. Hán dịch: Chúng hộ. Cao tăng người nước Tu lại thuộc Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ thứ nhất Tây lịch.Sư xuất gia học đạo từ lúc còn nhỏ, thông minh quán thế, trứ thuật rất nhiều, đặc biệt rất giỏi về Thiền pháp. Sư thường du hóa các nơi, đến nước Kiện đà la ở vùng Tâybắc Ấn độ, được vua Chân đà kế nhị tôn làm thầy. Tương truyền, khi lâm chung, sư từng phát thệ rằng: Nếu quả thực ta là bậc đại sĩ lập căn đắc lực, thì ta nguyện đứng dưới gốc cây này, tay vin lá mà xả bỏ thân ta, cho dù sức mạnh của đại tượng(voi lớn)Na la diên cũng không thể dời được lông tóc của ta, dẫu có thiêu cũng không thể nào đốt cháy lá này. Nói xong thì sư mệnh chung. Bấy giờ, vua Chân đà kế nhị đích thân đến nhưng không thể nào lay động di thể của sư, dùng voi lớn kéo cũng không nhúc nhích, đến khi thiêu lá cây cũng không thương tổn. Tương truyền, sau đó sư sinh lên cung trời Đâu suất, thành đức Phật thứ 8 trong kiếp Hiền, đời vị lai giáng sinh, hiệu là Nhu Nhân Phật. Tát bà đa bộ kí của ngài Tăng hựu đời Lương ghi: Ngài Tăng già la sát là vị Tổ thứ 29, còn Phật đại bạt đà la sư tông tương thừa lược truyện thì nói sư là Tổ thứ 26. Về niên đại xuất sinh thì bài tựa kinhTăng già la sát sở tập cho rằng sư ra đời vào 700 năm sau đức Phật nhập diệt. Nếu vua Chân đà kế nhị nói ở trên chính là vua Ca nị sắc ca thì ngài Tăng già la sát là người cùng thời đại với vua và có lẽ lớn tuổi hơn vua. Lại nữa, nếu theo truyền thuyết kinh Đại đạo địa do ngài An thế cao dịch vào đời Đông Hán chính là kinh Đại đạo địa do ngài Tăng già la sát soạn thì niên đại ra đời của Tăng già la sát phải là trước thế kỉ II Tây lịch. Soạn phẩm: Kinh Tu hành, kinh Đại đạo địa, kinh Tăng già la sát sở tập. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 10, 12; Tịnh độ giáo chi khởi nguyên cập phát đạt].
tăng già la sát sở tập kinh
(僧伽羅刹所集經) Cũng gọi Tăng già la sát sở tập Phật hành kinh, Tăng già la sát tập kinh, Tăng già la sát tập. Kinh, 3 quyển(có chỗ ghi 5 quyển), do ngài Tăng già bạt trừng dịch vào đời Tiền Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung kinh nói về sự tu hành ở đời quá khứ của Phật và sự tích giáo hóa sau khi giáng sinh xuất gia của Ngài. Trong đó, có ghi chép về những nơi đức Phật an cư trong khoảng thời gian 45 năm sau khi Ngài thành đạo mà trong các sách khác không thấy nhắc đến, có thể nói đây là sử liệu quí giá nhất trong các Phật truyện. Theo lời tựa ở đầu quyển thì sách này do ngài Tăng già la sát biên soạn, các ngài Tăng già bạt trừng và Trúc Phật niệm cùng dịch vào đời Tiền Tần. Nhưng, Pháp kinh lục quyển 6 thì cho rằng sách này là do ngài Đàm ma nan đề dịch; Khai nguyên thích giáo lục quyển 15 căn cứ vào đó mà cho rằng sách này có 2 bản dịch, bản của ngài Nan đề là bản dịch thứ 2. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].
tăng già la xoa
(僧伽羅叉) I. Tăng Già La Xoa (?-?) Cũng gọi Tăng già la sát. Cao tăng người nước Tu lại thuộc Ấn độ. (xt. Tăng Già La Sát). II. Tăng Già La Xoa (?-?) Cao tăng người nước Kế tân (Ca thấp di la) thuộc Bắc Ấn độ, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn. Lang gia vương Tư mã tuấn rất thâm tín Phật pháp, xây cất tinh xá, thỉnh ngài Tăng già la xoa và các vị danh tăng khác đến thuyết pháp và dịch kinh. Vì ngài La xoa giỏi tụng A hàm, nên vào niên hiệu Long an năm đầu (397), được mời cùng với ngài Tăng già đề bà tham dự việc dịch lại kinh Trung a hàm. [X. Lương cao tăng truyện Q.1, 6].
tăng già lam
Xem Già lamXem Tịnh xá.
; Samghàràma (S). A monastery with its garden or grove.
tăng già lam ma
Xem Già lam.
tăng già lê
Xem Đại y.
; Sanghàti (S). The patch-robe, one of the three garments of a monk.
; (僧伽梨) Phạm:Pàli:Saíghàỉì. Cũng gọi Tăng già chi, Tăng già trí, Già chi.Áo pháp(ca sa) 9 điều trở lên của tỉ khưu, là 1 trong 3 áo. Áo này chỉ được mặc khi vào cung vua, vào làng xóm, đi khất thực và thăng tòa thuyết pháp, hàng phục ngoại đạo, cho nên cũng gọi là Nhập vương cung tụ lạc y. Lại vì áo này lớn nhất trong 3 áo nên cũng gọi là Đại y; vì có nhiều miếng vải nhỏ được khâu dính lại với nhau, nên cũng gọi là Tạp toái y; vì có 3 bậc(thượng, trung, hạ) 9 phẩm khác nhau nên còn gọi là Cửu phẩm đại y; thông thường y cứ vào hạ hạ phẩm mà gọi chung là Cửu điều y(áo 9 nẹp). Nhưng luật Tứ phần chỉ nêu hạ, trung 6 phẩm mà thôi. Trong đó, hạ hạ phẩm 9 điều, hạ trung phẩm 11 điều, hạ thượng phẩm 13 điều, mỗi điều gồm 2 miếng vải dài, 1 miếng vải ngắn; trung hạ phẩm 15 điều, trung trung phẩm 17 điều, trung thượng phẩm 19 điều, gồm 3 dài 1 ngắn; thượng hạ phẩm 21 điều, thượng trung phẩm 23 điều, thượng thượng phẩm 25 điều, gồm 4 dài 1 ngắn. Dài nhiều ngắn ít, nghĩa là dài càng tăng thì ngắn càng giảm, tượng trưng cho Thánh trí tăng, phàm tình giảm. [X. luật Tứ phần Q.40, 41, 48; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.4; luật Ngũ phần Q.20, 21, 29; luật Ma ha tăng kì Q.9, 38; luật Thập tụng Q.27, 28; Hữu bộ bật sô ni tì nại da Q.7; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.5, 6; Hữu bộ bách nhất yết ma Q.1, 10; luận Đại trí độ Q.1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.14; Tì ni nhật dụng thiết yếu].
tăng già mật đa
Saṃghamitta (S)Xem Mahindra. Con gái vua A Dục, sáng lập giáo đoàn Tỳ kheo ni Tích Lan.
; (僧伽蜜多) (256-198 TCN) Pàli: Saôghamittà. Vị tỉ khưu ni Ấn độ, người đầu tiên sáng lập Tăng đoàn Tỉ khưu ni Tích lan, là ái nữ của vua A dục, em ngài Ma hi đà (Pàli:Mahinda). Ni sư xuất gia năm 18 tuổi cùng với ngài Ma hi đà. Sau khi ngài Ma hi đà đến Tích lan truyền pháp, Hoàng hậu A nâu la muốn xuất gia, vua Thiên ái đế tu (Pàli: Devànaôpiyatissa) bèn sai cháu là A lợi tra (Pàli:Ariỉỉha) đến thành Ba tra lợi phất (Pàli:Pàỉaliputta) của Ấn độ thỉnh Ni sư Mật đa đến Tích lan. Bấy giờ, vua A dục lấy một nhánh cây Đại bồ đề giao cho Ni sư Mật đa đem sang Tích lan cúng dường. Không bao lâu, Ni sư Mật đa đến thủ đô nước Tích lan là thành A nâu la đà (Pàli:Anuràdha), Hoàng hậu A nâu la và 500 thị nữ xin xuất gia và Ni sư Mật đa độ cho. Như vậy, Ni sư Mật đa không chỉ là người thành lập Tăng đoàn tỉ khưu ni đầu tiên của Tích lan mà còn là người mang giống cây Bồ đề ở Bồ đề đạo tràng nơi đức Phật thành đạo bên Ấn độ đến trồng ở thủ đô Tích lan, đồng thời, chính thức truyền vào nước này nghi thức lễ bái cây Bồ đề để tỏ lòng tôn kính và ghi nhớ đức Phật Thích ca mâu ni của tín đồ Phật giáo Ấn độ. Sau, vua Thiên ái đế tu xây chùa Hệ tượng trụ (Pàli:Hatthàơhaka) thỉnh Ni sư Mật đa trụ trì. Năm 198 trước Tây lịch, Ni sư Mật đa tịch ở tinh xá này, thọ 59 tuổi. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1-3; Đại sử (Pàli:Mahàvaôsa), 5, 13, 18, 19, 20].
tăng già nan đề
Samghanandi (S). 17th Indian patriarch. Also Chúng Hà.
; (僧伽難提) Phạm: Saôghanandi. Cũng gọi Tăng già na đề, Tăng khư nan đề. Tổ phó pháp thứ 16(có thuyết nói Tổ thứ 17)của Thiền tông Ấn độ, người ở thành Thất la phiệt, con vua Bảo trang nghiêm. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2 thì lúc mới sinh ra sư đã biết nói, thường khen ngợi Phật sự. Năm 7 tuổi, sư y vào ngài Thiền lợi đa xuất gia, trong 19 năm tu tập không hề biếng nhác. Sau, sư được ngài La hầu la truyền pháp. Sư là bậc có trí tuệ sâu xa, siêng tu hạnh Bồ tát. Theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 6 thì sư từng dùng bài kệ (Đại 50, 320 thượng): Sinh trong dòng Chuyển luân, chẳng phải Phật La hán; không thụ thân đời sau, cũng chẳng phải Độc giác để xét nghiệm một vị La hán. Nhưng vị này không hiểu, liền lên cung trời Đâu suất thỉnh vấn bồ tát Di lặc. Bồ tát Di lặc bảo vị La hán rằng: Người thế gian đặt cục đất sét lên bàn xoay, nhào nặn thành viên ngói, viên ngói ấy đâu có cùng các Thánh cùng đến đời sau. Vị La hán được mở tỏ, liền trở lại Diêm phù đề giải nói về việc ấy. Ngài Nan đề nghĩ rằng vị La hán chắc chắn đã được bồ tát Di lặc chỉ giáo. Từ đó, sư càng tinh cần, tế độ chúng sinh, sau phó pháp cho ngài Tăng già da xá. Nhưng theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2 thì sư phó pháp cho ngài Già da xá đa, rồi vin cành cây mà thị tịch. Lúc đó là năm Chiêu đế 13 đời Tây Hán (năm 47 trước Tây lịch). [X. Truyền pháp chính tông kí Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.5; Phật tổ lịch đại thôngtải Q.5].
tăng già nan đề tổ sư
Saṃghanandi (S)Chúng HàTổ thứ 17 dòng thiền Ấn độ.
tăng già quốc
Siṃha (S)1- Sư tử quốc, nước Tích Lan ngay nay. 2- sư tử 3- Sư Tử Tỳ Kheo, tổ đời thứ 24 trong 28 vị tổ Phật giáo Ấn độ. Xem Sinha Bhiksu (Sư tử Tỳ kheo). 4- Sư Tử Bồ tát.
tăng già thí quốc
(僧伽施國) Tăng già thi, Phạm: Sàôkàzya, Saôkàzya, Pàli: Saôkassa. Cũng gọi Tăng già thi sa quốc, Tăng ca thi quốc, Tăng ca xa quốc, Tăng ca xá quốc, Tăng kha xa quốc, Tăng ca thi quốc, Kiếp tỉ tha quốc (Pàli:Kapitha), Nê phạ miệt đa quốc (Phạm:Devàvatàra). Tên một nước đời xưa ở lưu vực sông Hằng, Trung Ấn độ. Cao tăng Pháp hiển truyện (Đại 51, 859 hạ, 860 thượng) nói: Từ đây đi về phía đông nam 18 do diên, có một quốc gia tên là Tăng già thi, là nơi đức Phật trở về từ cung trời Đao lợi sau 3 tháng thuyết pháp cho thân mẫu nghe (...) Nước này có khoảng 1000 vị tăng và ni, học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Theo Đại đường tây vực kí quyển 4, nước này chu vi hơn 2000 dặm, đô thành rộng hơn 20 dặm, khí hậu và thổ nghi gần giống nhưkhí hậuthổ nghi của nước Tì la na noa, phong tục thuần hậu, người ham học nghề; trong nước có 4 ngôi chùa với hơn 1000 vị tăng, đều học pháp Tiểu thừa của Chính lượng bộ; có 10 ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở xen kẽ, tất cả đều thờ trời Đại tự tại. Cao tăng Pháp hiển truyện còn nói: Đây là nơi mà tỉ khưu ni Ưu bát la là người đầu tiên lễ bái đức Phật khi Ngài từ cung trời Đao lợi trở về cõi Diêm phù, là nơi 3 đức Phật quá khứ và đức Thích tôn kinh hành và tĩnh tọa; là chỗ Thiên đế thích và Phạm thiên vương theo đức Phật từ cõi trời đi xuống và là nơi có tháp thờ tóc và móng tay của Phật... Về vị trí của đô thành nước này, theo ông Cunningham chính là vùng Sankisa nằm khoảng giữa Atranji và kanoj. Nhưng ông Smith thì không tán đồng thuyết này và cho rằng đó phải là vùng phụ cậnPitiàlì ở góc đông bắcÌtà hoặc Etah. [X. kinh Tạp a hàm Q.19; kinh A dục vương Q.3; A dục vương truyện Q.2; Giải thuyết tây vực kí; Ancient Geography of India by A. Cunningham; On Yuan Chwang by T. Watters; Buddhist Records of the Western World by S. Beal; The Geographical Dictionary of Ancicent and Mediaeval India by N. L. Dey].
tăng già tra kinh
Seng-chia-che ching (C)Tên một bộ kinh.
tăng già trá
(僧伽吒) Phạm: Saôghàỉa. Cũng gọi Tăng già đa. I. Tăng Già Tra. Hán dịch: Tập hội. Tức pháp môn nhờ nhân duyên tập hội mà được thành lập. Pháp môn này nương vào uy lực thần thông tự tại của Như lai mà được thực hiện. Kinh Tăng già tra quyển 1 (Đại 13, 959 hạ) nói: Có pháp môn tên là Tăng già tra, nếu pháp môn này ở cõi Diêm phù đề có người được nghe thì có thể diệt trừ được tội ngũ nghịch. [X. kinh Đại tập hội chính pháp Q.1]. II. Tăng Già Tra. Tên loại gió nổi lên vào kiếp Phong tai. Cứ theo kinh Đại bảo tích quyển 37, gió này có năng lực thổi bay thế giới ba nghìn Đại thiên, thổi các núi Tô mê lư (Tu di), núi Luân vi(Thiết vi)và các biển lớn bay lên cao 100 du thiện na, sau đó tan ra thành cát bụi. [X. kinh Khởi thế nhân bản Q.2].
tăng già yết ma
Samghakarma (S).
tăng già đà
(僧伽陀) I. Tăng Già Đà. Phạm: Saôgata. Hán dịch: Tập chủng tính, Li trước địa. Phải tu hạnh Phục đạo nhẫn một A tăng kì kiếp mới vào được giai vị Tăng già đà, tương đương với giai vị Thập trụ trong 42 giai vị tu hành của Bồ tát. Hành giả ở giai vị này, tu tập Không quán để phá Kiến hoặc và Tư hoặc. [X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.5 (Gia tường)]. (xt. Lục Chủng Tính). II. Tăng Già Đà (?-?) Phạm: Saôgata. Hán dịch: Nhiêu thiên. Cao tăng Tây vực đến Trung quốc dịch kinh vào đời Tây Tấn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9].
tăng già đề bà
Saṃghadeva (S)Chúng ThiênSư người Ấn, thế kỷ IV.
; Samghadeva (S). Also Chúng Thiên.
; (僧伽提婆) Phạm: Saôghadeva. Cũng gọi Tăng già đề hòa, Tăng già đế bà, Cù đàm tăng già đề bà. Hán dịch: Chúng thiên. Cao tăng kiêm đại học gia Tì đàm học thuộc Hữu bộ, người nước Kế tân, BắcẤn độ, họ Cù đàm, đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đông Tấn. Sư là người thông minh tuấn tú, uy nghi đĩnh đặc, bản tính khiêm cung, học thông 3 tạng, nhất là luận A tì đàm tâm. Trong năm Kiến nguyên (365-384) đời Tiền Tần, sư đến Trường an. Tháng 4 năm Kiến nguyên 19 (383), nhận lời thỉnh của tỉ khưu Pháp hòa, sư và ngài Trúc phật niệm cùng dịch luận A tì đàm bát kiền độ 20 quyển. Năm sau, ngài Đạo an chủ trì phiên dịch luận Tôn bà tu mật bồ tát sở tập, thỉnh sư và các ngài Tăng già bạt trừng và Đàm ma nan đề cùng đọc tiếng Phạm. Ít lâu sau, sư và ngài Pháp hòa cùng các môn đồ đến Lạc dương, trong thời gian 4, 5 năm, sư nghiên cứu giảng dạy kinh A hàm, nhờ đó thông hiểu tiếng Trung quốc, lại dịch các luận A tì đàm tâm và Tì ba sa, đồng thời sửa chữa những chỗ sai sót trong các kinh đã được dịch trước. Sau, ngài Pháp hòa vào Quan trung, còn sư thì nhận lời thỉnh của ngài Tuệ viễn, đến Lô sơn. Vào năm Thái nguyên 16 (391), sư dịch luận A tì đàm tâm 4 quyển và luận Tam pháp độ 2 quyển ở đài Bát nhã tại Lô sơn. Niên hiệu Long an năm đầu (397), sư đến Kiến nghiệp, rất được các vương công nhà Tấn và các danh sĩ kính tin. Bấy giờ, Lang gia vương là Tư mã tuấn kiến lập tinh xá, chiêu mộ học chúng khắp nơi. Khi ngài Đề bà đến đây, Vương liền thỉnh ngài giảng dạy luận A tì đàm, đại chúng đều lãnh ngộ. Mùa đông năm ấy, Vương thỉnh sư dịch lại kinh Trung a hàm. Về các kinh luận do sư dịch, Xuất tam tạng kí tập quyển 2 liệt kê 6 bộ 116 quyển từ kinh Trung a hàm 60 quyển trở xuống; còn Khai nguyên thích giáo lục thì liệt kê 5 bộ 118 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.9, 10, 13; Lương cao tăng truyệnQ.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.7].
tăng giới
The ten prohibitions; the complete commands for monks.
; (僧戒) Đối lại: Ni giới. Giới luật của chúng tăng phải thụ trì, tức chỉ cho 10 giới của sa di và giới Cụ túc của tỉ khưu. (xt. Thập Giới, Cụ Túc Giới).
tăng giới bát đoạn
(僧戒八段) Chỉ cho 8 phần của giới Cụ túc, tức là 4 pháp Ba la di, 13 pháp Tăng tàn, 2 pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa, 90 pháp Đơn đọa, 4 pháp Đề xá ni, 100 pháp Chúng học và 7 pháp Diệt tránh. Thông thường được chia làm 5 thiên, 7 tụ... (xt. Ngũ Thiên).
tăng giới học
Adhisita (S)Giới họcMột trong tam học.
; (增戒學) Phạm:Adhizìla. Pàli: Adhisìla. Cũng gọi Tăng thượng giới học, Giới học.Một trong Tam học giới, định, tuệ. Vì giới luật có khả năng giúp ích cho việc tu thiện, diệt ác nên gọi là Giới học. Vì năng lực của giới luật làm cho việc tu thiện diệt ác vững mạnh hơn lên nên gọi là Tăng thượng. Tư trì kí quyển thượng, phần 1, (Đại 40, 168 trung) nói: Tăng giới học là con đường xuất thế chân chính, là thắng pháp tăng thượng, nên chẳng thể cho là chế phục dần dần mà nói là tăng được. Về sự quan hệ giữa Tam học giới, định, tuệ thì giới học là trợ duyên của định học, còn tuệ học là kết quả của định học, thế nên giữa Tam học có đủ mối quan hệ Duyên(giới), Nhân(định) và Quả (tuệ).
tăng ha bổ la quốc
(僧呵補羅國) Phạm: Siôhapura. Tên một nước xưa ở Bắc Ấn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 3, nước Tăng ha bổ la chu vi khoảng 3500 hoặc 3600 dặm, phía tây giáp sông Ấn độ (Indus); đô thành chu vi khoảng 14 hoặc 15 dặm, dựa vào núi cao, hiểm trở. Đất đai phì nhiêu, gieo trồng tốn ít công mà thu hoạch lại được nhiều; khí hậu lạnh, tính người cứng cỏi, phong tục mãnh liệt, lại hay dối trá. Nước không có vua, lệ thuộc nước Ca thấp di la. Khi ngài Huyền trang đến đây, còn thấy ở phía đông nam đô thành có tháp do vua A dục xây dựng với 10 cái ao ở 2 bên.[X. Cổ kim đồ thư tập thành biên duệ điển 74; Giải thuyết tây vực kí; Ancient Geography of India by A. Cunningham; On Yuan Chwang vol. I by T. Watters].
tăng huệ học
Adhiprajā (S)Huệ học, Tăng thượng huệMột trong tam học.
tăng hàm
Seng-han (C).
; (僧含) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều. Sư hiếu học từ thủa nhỏ, dốc chí vào việc trau dồi kinh sử, thiên văn, toán thuật. Lớn lên, sư tinh thông Phật pháp, nghiên cứu kinh luận, đặc biệt hiểu thấu kinh Đại Niết bàn; sư thường giảng thuyết, giáo hóa, không biết mỏi mệt. Năm Nguyên gia thứ 7 (430), quan Thái thú Tân hưng là Đào trọng tổ ngưỡng mộ phong cách mô phạm của sư, nên xây chùa Linh vị và thỉnh sư an trụ. Sau, sư đến Lịch dương hoằng bá chính pháp, đạo tục ở vùng Giang tả đều hưởng ứng theo rất đông. Sau, sư lại đến Cửu giang hoằng truyền kinh pháp. Một hôm đang khỏe mạnh như thường, sư bỗng họp mọi người để nói lời từ biệt, sáng sớm hôm sau, sư an nhiên thị tịch.Sư có các tác phẩm: Thần bất diệt luận, Thánh trí viên giám luận, Vô sinh luận, Pháp thân luận, Nghiệp báo luận, Pháp hoa tông luận. [X. Lương cao tăng truyện Q.7].
tăng hình văn thù
(僧形文殊) Tượngbồ tát Văn thù với hình tướng tỉ khưu an trí ở Tăng đường và Trai đường trong các chùa viện Thiền tông. Thông thường, tượng bồ tát Văn thù đều có hình tướng tại gia, nhưng khi thờ ở Tăng đường, Trai đường làm tượng Thánh tăng thì Ngài có hình tướng sa môn, tức là tượng ngài Văn thù mình đắp ca sa, tay kết Định ấn pháp giới, ngồi thiền trên lưng sư tử. Truyện ngài Bất không chùa Đại hưng thiện trong Tống cao tăng truyện quyển 1, (Đại 50, 713 thượng) nói: ... Mùa đông năm thứ 4, ngài Bất không tâu vua xin thờ bồ tát Văn thù làm Thượng tọa nơi Trai đường của các chùa viện trong nước, được vua chấp thuận. Đó là hiềm vì lẽ ngài Kiều trần như là người đầu tiên được độ trong Tiểu thừa giáo. Môn Linh tượng loại thứ 5 trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Chùa Đông phúc cổ có vị Duy na vừa thấy tượng Thánh tăng, sau lưng dán giấy đề là Trần Như Tôn Giả liền bảo chúng tăng rằng: Sổ giới lạp nên đổi lại viết là Trần Như Tôn Giả (...) Trong chúng có vị tên là Trung nói: Đó là vì không biết Tăng hình Văn thù nên mới đề lầm là Kiều trần như !.
Tăng Hưu
僧休; C: sēngxiū; J: sōkyū;|Cao Tăng thời Bắc Nguỵ, là thành viên Địa luận tông (地論宗) trường phái phía Bắc. Sư là đệ tử của Đạo Sủng (道寵).
Tăng Hưu 僧休
[ja] ソウキュウ Sōkyū ||| Sengxiu, a Northern Wei monk who was a member of the northern branch of the Dilun school 地論宗, and who was a disciple of Daochong 道寵. => (c: Sengxiu) Cao Tăng thời Bắc Ngụy, là thành viên Bắc phái Địa Luận tông, Sư là đệ tử của Ngài Đạo Sủng.
Tăng Hạ
(增賀, Zōga, 917-1003): vị Tăng của Thiên Thai Tông, sống vào khoảng giữa thời Bình An, húy là Tăng Hạ (增賀), thường được gọi là Đa Võ Phong Tiên Đức (多武峰先德), xuất thân vùng Kyoto; con của Tham Nghị Quất Hằng Bình (參議橘恆平). Năm 10 tuổi, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo hầu Lương Nguyên (良源). Năm 963, theo lời khuyên của Như Giác (如覺), ông đến sống trong núi Đa Võ Phong (多武峰) thuộc vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Mỗi năm bốn mùa ông đều chuyên tu Pháp Hoa Tam Muội (法華三昧), đến năm 964 thì giảng Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀), rồi năm sau thì giảng Pháp Hoa Văn Cú (法華文句). Vào năm 996, nhân mùa kiết hạ An Cư, ông đọc tụng Pháp Hoa Kinh và cảm ứng được Quan Âm cũng như Văn Thù Bồ Tát, rồi sống mãi trong núi ấy suốt 41 năm trường. Tác phẩm của ông để lại có Du Già Sư Địa Luận Vấn Đáp (瑜伽師地論問答) 7 quyển, Vô Ngôn Niệm Phật Quán (無言念佛觀) 1 quyển, Pháp Hoa Huyền Nghĩa Sao (法華玄義鈔). Hơn nữa, theo như trong Bản Triều Pháp Hoa Nghiệm Ký (本朝法華驗記) có ghi về việc ông đã tu trì Pháp Hoa Kinh và khi lâm chung thì thể hiện dưới hình thức như sau: “Tụng Pháp Hoa Kinh thủ kết Kim Cang Ấn tọa Thiền cư nhập diệt (誦法華經手結金剛印坐禪居入滅, ông vừa tụng Kinh Pháp Hoa, tay bắt Ấn Kim Cang, ở thế tọa Thiền mà nhập diệt).” Như vậy theo nhận xét trên của tác giả Ngu Quản Sao (愚管抄, Gukanshō), ta có thể suy đoán được rằng hình thái khi lâm chung của Pháp Nhiên (法然) không giống với Tăng Hạ Thượng Nhân. Có nghĩa rằng khi Pháp Nhiên thị tịch, có lẽ ông đã bắt Ấn Kim Cang và tọa Thiền. Và hình thức khi Pháp Nhiên thị tịch như thế nào thì tác giả cũng không ghi rõ chi tiết.
Tăng Hải
僧海; C: sēnghăi; J: sōkai; 599-654;|Môn đệ của Tín Hành (信行), người sáng lập Tam giai giáo (三階教), trú tại Hoá Độ tự (化度寺) thuộc Trường An.
Tăng Hải 僧海
[ja] ソウカイ Sōkai ||| Senghai (599-654); disciple of Sanjiejiao 三階教 founder Xinxing 信行 and resident of the Changan temple of the Huadu si 化度寺. => (j: Sōkai; c: Senghai 599-654); môn đệ của Tín Hành , người sáng lập Tam giai giáo, trú tại chùa Hóa Độ thuộc Trường An.
tăng hộ
Saṃgharaksita (S)Tên một vị sư. Đệ tử Xá lợi Phất.
; (僧護) I.Tăng Hộ. Phạm: Saígharakwita. Pàli: Saígharakkhita. Vị tỉ khưu sống vào thời đức Phật còn tại thế, là đệ tử của ngài Xá lợi phất. Cứ theo kinh Nhân duyên Tăng hộ thì có lần ngài Tăng hộ đi cùng với 500 lái buôn ra biển, trên đường trở về bị thất lạc đồng bạn, nên ngài phải đi một mình ven biển, ngài thấy 53 địa ngục, chúng sinh trong đó tùy theo tội nghiệp của mỗi người mà chịu khổ. Khi về đến tinh xá, ngài Tăng hộ thưa hỏi đức Phật những điều ngài đã thấy, đức Phật lần lượt giải đáp từng trường hợp một, rất đầy đủ. II. Tăng Hộ (?-?) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Lương thuộc Nam triều. Sư từng trụ trì chùa Kiến nguyên tại Dương đô, tinh thông luận Tì đàm, nổi tiếng ở thời Tề, Lương.
tăng hộ bồ tát
Samyharaksita (S)Tên một vị Bồ tát.
tăng hữu
Saṃghamitra (S)Tên một vị sư.
; (僧祐) (445-518) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người ở Giang ninh, tỉnh Giang tô, họ Du. Thủa nhỏ, sư vào chùa Kiến sơ lễ bái, trong lòng cảm thấy vui thích, mến đạo, không muốn về nhà, cha mẹ cũng thương bèn cho phép xuất gia. Sư lễ ngài Tăng phạm làm thầy. Năm 14 tuổi, sư y chỉ vào ngài Pháp hiến ở chùa Định lâm thụ giới Cụ túc, sau đó, sư theo ngài Pháp dĩnh học luật. Không bao lâu, nhận lời thỉnh của Cánh lăng vương, sư khai giảng giới luật, có tới 7, 8 trăm người nghe. Trong năm Vĩnh minh (483-493), đời Tề, sư vâng sắc đến đất Ngô mở lớp khảo thí, tuyển chọn 5 chúng, đồng thời, giảng luật Thập tụng và dạy phép thụ giới. Những tài vật do thí chủ cúng dường, sư đều dùng vào việc sửa chữa, trang nghiêm các chùa Định lâm, Kiến sơ, mở Đại hội Vô già, Xả thân trai, tạo lập Kinh tạng, sưu tập, hiệu đính kinh điển... Sư là người đầu tiên mở những nơi cất giữ văn hiến Phật giáo tại các chùa. Sư còn thông hiểu pháp tắc vẽ tượng, tượng Đại Phật ở Quang trạch, Nhiếp sơn và tượng Thạch Phật ở huyện Diệm đều được tạo lập theo pháp tắc của sư. Vua Vũ đế nhà Lương rất kính trọng sư, có thắc mắc gì về việc chư tăng, vua đều mời sư giải quyết. Về già, sư bị bệnh thấp khớp, phải ngồi xe vào nội điện để truyền giới cho 6 cung. Năm Thiên giám 17 (518), sư thị tịch ở chùa Kiến sơ, thọ 74 tuổi. Môn đồ rất thịnh, gồm hơn 11.000 tăng tục, trong đócó cácngài Trí tạng,Tuệ khuếch, Bảo xướng, Lâm xuyên Vương hoành, Nam bình Vương vĩ... Sư có các tác phẩm: Thập tụng luật nghĩa kí 10 quyển, Xuất tam tạng kí tập, Hoằng minh tập, Thích ca phổ, Bồ tát thiện giới Địa trì nhị kinh kí, Đại tập Hư không tạng vô tận ý kinh kí, Hiền ngu kinh kí, Thế giới kí 5 quyển, Tát bà đa bộ tương thừa truyện 5 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.9, 12; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Lương cao tăng truyện Q.11, 12; truyện Bảo xướng trong Tục cao tăng truyện Q.1; truyện Trí tạng trong Tục cao tăng truyện Q.5; truyện Minh triệt trong Tục cao tăng truyện Q.6].
Tăng Hựu
僧祐; C: sēngyòu; J: sōyū; 445-518.|Một trong những vị sớm nhất lập mục lục Tam tạng kinh điển Trung Hoa lưu hành thời đó. Tác phẩm lớn có tên là Xuất tam tạng tập kí (出三藏集記). Tăng Hựu hoàn tất mục lục ngay trước khi tịch diệt, biên soạn một danh mục đồ sộ dựa trên danh mục cũ (hiện nay đã thất lạc) mà sư có được trong suốt quá trình nghiên cứu thời ấy.
Tăng Hựu 僧祐
[ja] ソウユウ sōyū ||| Sengyou (445-518); one of the earliest catalogers of the then-growing Chinese Tripitaka. His major work was entitled the Chusanzang jiji (A Compilation of Notes on the Translation of the Tripitaka; 出三藏集記). Sengyou completed his catalog shortly before his death, compiling an extensive list which relied on the (currently missing) earlier catalogs available to him at the time, along with his own research. => (c: Sengyou 445-518). Một trong những vị sớm nhất lập mục lục Tam tang kinh điển Trung Hoa lưu hành thời đó. Tác phẩm lớn có tên là Xuất Tam Tạng Tập Ký (出三藏集記 e: A Compilation of Notes on the Translation of the Tripitaka). Tăng Hựu hoàn tất mục lục ngay trước khi tịch diệt, biên soạn một danh mục đồ sộ dựa trên danh mục cũ (hiện nay đã thất lạc) mà Ngài có được trong suốt quá trình nghiên cứu thời ấy.
tăng khư tụng
Saṃkhyā-kārikā (S)Số luận tụng.
tăng khư đa
Xem Số luận phái.
tăng khấp đa tì nại da
(僧泣多毗奈耶) Phạm: Saôkwipta-vinaya. Hán dịch: Lược giáo. Giáo pháp Tùy phương tì ni mà đức Phật nói sơ lược khi Ngài sắp vào Niết bàn.Tùy phương tì ni nghĩa là trong giới luật, đối với những việc đức Phật chưa cho phép, cũng chưa cấm chỉ, thì được tùy theo phong thổ, khí hậu và phong tục, tập quán của mỗi địa phương mà châm chước cho phép hay cấm chỉ. [X. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma Q.10]. (xt. Tùy Phương Tì Ni).
tăng khứ sư
Xem Số luận phái.
tăng kiếp
(增劫) Đối lại: Giảm kiếp. Khoảng thời gian trong đó tuổi thọ của con người tăng lên dần dần. Tức trong kiếp Trụ, tuổi thọ con người mỗi một trăm năm tăng lên một tuổi, cứ thế trong khoảng thời gian từ 10 tuổi đến 8 vạn tuổi, gọi là kiếp Tăng. Quá trình thành lập, tồn tại, hoại diệt của thế giới này cho đến chuyển biến sang một chu kì thành lập, tồn tại và hoại diệt của một thế giới khác được chia làm 4 thời kì Thành, Trụ, Hoại, Không gọi là 4 kiếp. Kiếp Trụ là thời kì an ổn và tồn tại của Khí thế gian và Chúng sinh thế gian. Trong 4 kiếp, chỉ có kiếp Trụ là có Tăng kiếp và Giảm kiếp. [X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Câu xá Q.12].
Tăng Kì
(阿祇): tiếng gọi tắt của A Tăng Kì (s: asaṅkhya, p: asaṅkha, 阿僧祇), nghĩa là vô số, tên gọi số từ của Ấn Độ, thể hiện số lượng cực lớn đến nỗi không thể đến được.
tăng kì
Sanghika (S). Relating to a sangha; a complete set of land and buildings or a monastery.
tăng kỳ
Saṃghika (S)Chúng số1- Của tăng kỳ là của thường trụ, của chung, của tăng chúng. 2- Ma ha Tăng kỳ bộ, Đại chúng bộ (Một trong 20 bộ phái Tiểu thừa).
; (僧祇) I. Tăng Kỳ. Phạm: Asaôkhya. Gọi đủ: A tăng kì. Hán dịch: Vô số, Vô ương số. Chỉ cho con số cực kì lớn, không thể đếm được, 1 trong các số mục của Ấn độ.(xt. A Tăng Kì). II. Tăng Kỳ. Phạm: Sàôghika. Hán dịch: Chúng số. Như Tăng kì luật, Tăng kì vật (Chúng luật, Chúng vật)...
tăng kỳ chi
(僧祇支) Phạm: Saôkakwikà. Pàli: Saíkacchà, Saíkacchika. Hán dịch: Yêm dịch y, Yêm dịch sấn y, Phú dịch y, Phú kiên y. Cũng gọi Tăng cước kì ca, Tăng kiệt chi, Tăng ca chi, Tăng khước kì, Tăng cước kì, Tăng cước sai. Gọi tắt: Kỳ chi, Kiệt chi. Áo lót phủ vai, che 2 nách, 1 trong 5 áo. Tại Ấn độ, ngoài 3 áo do Tăng đoàn qui định ra, vị tỉ khưu ni còn được sở hữu 1 áo lót hình chữ nhật, dài đến eo để che 2 nách, ngực và vai trái, gọi là áo Tăng kì chi, được mặc bên trong 3 áo, cộng với cái quần và 3 áo, gọi chung là 5 áo của tỉ khưu ni. Về sau, tỉ khưu tăngcũng được phép dùng Tăng kì chi. Phú kiên được sử dụng với ca sa 7 điều hiện nay có thể được xem là hình thức tượng trưng cho loại áo này. Cách mặc Tăng kì chi là: Từ dưới nách bên phải kéo lên che ngực rồi vắt phủ lên vai trái. Lúc ở trong phòng thì chỉ mặc Tăng kì chi và quần. Về sự đồng, dị giữa Tăng kì chi và Phú kiên y thì xưa nay có nhiều thuyết. Cứ theo sự chú thích trong Hữu bộ bách nhất yết ma quyển 2 của Ngài Nghĩa tịnh thì Tăng kì chi và Phú kiên y vốn là một, nhưng trong luật không có danh mục về Phú kiên y. Vả lại, Tăng kì chi được lưu hành ở thời ngài Nghĩa tịnh, đúng ra là chỉ cho Quyết tô lạc ca (Phạm: Kusùlaka, quyết tu la), tức quần của tỉ khưu ni. Nhưng luật Tứ phần quyển 27 và 48 thì ngoài 3 áo ra, còn nêu Tăng kiệt chi và Phú kiên y. Bởi thế nên Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 1 mới căn cứ vào đó mà cho rằng Phú kiên y nói trong luật Thập tụng quyển 46 chính là Phú kiên y của luật Tứ phần, còn Quyết tu la chính là Tăng kiệt chi. Tức thuyết này cho rằng Tăng kì chi và Phú kiên y là 2 vật khác nhau, còn Tăng kỳ chi và Quyết tu la thì giống nhau. Nhưng khảo chứng tên gọi Phạm và Hán thì đó chỉ là một vật. [X. luật Tứ phần Q.41; luật Ma ha tăng kì Q.38; điều Trước y pháp thức trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.5, phần cuối]. (xt. Tam Y, Ngũ Y, Pháp Y).
tăng kỳ hộ
(僧祇戶) Chỉ cho những hộ dân thuộc quyền cai quản của Tăng quan thời Bắc Ngụy, có lẽ được thiết lập khoảng cuối năm Hoàng hưng đến khoảng năm Diên hưng (470-475) đời Bắc Ngụy. Tăng kỳ hộ được thiết lập đồng thời với Phật đồ hộ do sự tấu thỉnh của Sa môn thống(chức quan thống lãnh Phật giáo) Đàm diệu. Tăng kỳ hộ và Phật đồ hộ tổ chức thành bộ phận kinh tế của các chùa viện thời Bắc Ngụy. Hằng năm Tăng kỳ hộ phải nộp cho Tăng tào(cơ quan tổng quản các chùa viện) 60 hộc(bằng 3.600 thăng đời Đường) ngũ cốc để cung cấp cho tăng đồ các chùa viện, hoặc cho dân nghèo vay khi xảy ra nạn đói kém. Loại ngũ cốc này gọi là Tăng kỳ túc. Cách tổ chức này cũng giống như Vô tận tạng(kho vô tận) do vua Lương vũ đế thiết lập. Số thóc cho vay sẽ được thu hồi vào năm trúng mùa. Tăng kỳ túc do các tăng sĩ phụ trách quản lí, về sau dần dần trở thành vật tư hữu của tăng đồ các chùa viện, mất đi cái ý nghĩa và công dụng lúc ban đầu. Năm Kiến đức thứ 3 (574), Vũ đế nhà Bắc Chu phá diệt Phật pháp thì tổ chức này cũng bị bãi bỏ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38; điều Lưu Tống thái thủy ngũ niên trong Tư trị thông giám Q.132; Thích lão chí trong Ngụy thư Q.114; Chi na Phật giáo sử nghiên cứu (Trủng bản Thiện long)].
tăng kỳ mậu đà ta ha
Xem Tịnh Sư Tử.
Tăng kỳ 僧祇
[ja] ソウギ sōgi ||| see a-seng-ch'i => Xem A-tăng-kỳ 阿僧祇.
Tăng Lãng
僧朗; C: sēnglăng; J: sōrō; K: sǔngnang;|Một trong những vị Cao tăng sớm nhất tại Hàn Quốc (Cao Cú Li 高句麗; k: koguryǒ, tk. 6-6) đến Trung Hoa, trải qua một thời gian rất lớn để tham học Tam luận (三論) và Hoa Nghiêm (華嚴) trước khi trở về quê nhà.
tăng lãng
(僧朗) I. Tăng Lãng (?-?) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Nam Bắc triều, người đất Kinh triệu. Từ nhỏ sư đã du phương tham học, ban đầu, theo ngài Phật đồ trừng (232-348) học giới, sau học cả Bát nhã. Về sau, sư lập tinh xá ở núi Côn lôn, hang Kim dư, phía tây bắc Thái sơn làm đạo tràng hoằng pháp, đệ tử có hơn trăm người, nổi tiếng về nghiêm trì giới luật; nơi đây cũng là trung tâm của Phật giáo miền Bắc đương thời. Có lần sư dẹp được nạn hổ(cọp) dữ trong núi, làm cho đạo tục được an ổn. Vì sư có năng lực thần dị nên được người đời tôn xưng là Thần tăng. Sau, sư thị tịch trong núi.II. Tăng Lãng (?-?) Cũng gọi Đạo lãng, Đại lãng pháp sư, Nhiếp sơn đại sư. Cao tăng kiêm học giả Trung quốc, thuộc tông Tam luận, sống vào đời Tề Lương thuộc Nam triều, người ở thành Liêu đông, Cao cú li, Tị tổ của học phái Tân tam luận. Ban đầu, sư theo ngài Pháp độ học tập kinh luận, tinh thông học thuyết Hoa nghiêm, Tam luận. Về sau, sư lần lượt trụ ở chùa Thê hà tại Nhiếp sơn, chùa Thảo đường ở Chung sơn để hoằng pháp. Vì ngưỡng mộ phong cách đạo đức của sư nên vào năm Thiên giám 11 (512), vua Vũ đế nhà Lương sắc lệnh các vị Tăng thuyên, Tăng hoài... đến Nhiếp sơn theo sư học Tam luận, sau chỉ có ngài Tăng thuyên là nối được pháp của sư. Cũng có thuyết cho rằng, đầu tiên sư đến Đôn hoàng theo pháp sư Đàm khánh học Tam luận, cómột độ ẩn cư tại núi Cối kê, sau mới vào Nhiếp sơn. [X. truyện Pháp độ trong Lương cao tăng truyện Q.8; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.19].
Tăng Lãng 僧朗
[ja] ソウロウ Sōrō ||| Sŭngnang. One of the earliest eminent monks from Koguryŏ (5-6c) who traveled in China and spent a considerable amount of time and studying Sanlun 三論 and Huayan 華嚴 before returning to Koguryŏ. => (k: Sŭngnang; j: Sōrō ) Một trong những vị Cao Tăng sớm nhất từ Koguryŏ (5-6c) đến Trung Hoa trải qua một thời gian rất lớn để tham học Tam Luận (c: Sanlun) và Hoa Nghiêm (c: Huayan 華嚴 ) trước khi trở về.
tăng lược
(僧䂮) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Diêu Tần, người ở Nê dương (Tây an, Thiểm tây), họ Phó. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, thờ Đại sư Hoằng giác làm thầy, học thông Tam tạng và Lục kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu, Dịch), giới hạnh thanh tịnh trang nghiêm. Lúc các ngài Đạo an, Pháp hòa khảo chính kinh Tăng nhất a hàm, sư và ngài Tăng mậu cũng tham gia giúp sức. Khi ngài Hoằng giác giảng kinh Pháp hoa cho Diêu trành nghe thì sư làm Đô giảng. Diêu trành và Diêu hưng rất ngưỡng mộ đức độ của sư. Năm Hoằng thủy thứ 3 (401), ngài Cưu ma la thập đến Trường an dịch kinh, sư và ngài Tăng triệu, Tăng duệ cùng tham dự dịch trường của ngài La thập. Bấy giờ, tăng ni từ khắp nơi qui tụ về Quan trung rất đông. Để thống nhiếp kỉ cương của Tăng đoàn, năm Hoằng thủy thứ 7 (405), vua Diêu hưng ban sắc thỉnh sư làm Quốc nội tăng chủ thống lãnh tăng ni, đó là vị quan Tăng đầu tiên ở phương Bắc. Tuy được đãi ngộ trọng hậu nhưng sư vẫn sống giản đơn, xe cộ của sư được nhường cho người già yếu, bệnh tật; bổng lộc thì cúng dường đại chúng, dù tuổi đã già nhưng vẫn thường giảng thuyết. Sư thị tịch ở chùa Đại an vào cuối năm Hoằng thủy. [X. bài tựa kinh Tăng nhất a hàm; Hoằng minh tập Q.11; truyện Phật đà bạt đà la trong Lương cao tăng truyện Q.2 và truyện Đạo hằng trong Q.6; Lịch đại tam bảo kỉ Q.11; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Phật tổ thống kỉ Q.3; Phật tổ lịch đại thông tải Q.8; Tấn thư Diêu hưng tải kí Q.17].
tăng lạp
Monastic age.
tăng lục
(僧錄) Chức quan Tăng coi về việc ghi chép, lưu giữ danh sách tăng ni và bổ nhiệm các chức vụ khác. Nơi làm việc của các chức vụ này thì gọi là Tăng lục ti. Có khi Tăng lục, Tăng lục ti được dùng chung, đều chỉ cho chức vụ cai quản tăng ni. Chức vụ này được lập ra đầu tiên vào thời Diêu Tần. Theo truyện ngài Tăng lược trong Lương cao tăng truyện quyển 6, vua Diêu hưng đời Hậu Tần tôn ngài Tăng lược làm Tăng chủ(Tăng chính), ngài Tăng thiên làm Duyệt chúng, ngài Pháp khâm và Tuệ bân đều làm Tăng lục. Địa vị Tăng lục vốn ở dưới chức Tăng chính, nhưng đến đời Đường thì Tăng lục lại được đưa lên trên Tăng chính với quyền hạn rộng rãi là thống lãnh chùa viện, quản lí tăng tịch và bổ nhiệm quan Tăng trên toàn quốc. Khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời vua Hiến tông, dưới Lưỡng nhai công đức sứ đặt ra chức Tăng lục, ngài Linh thúy được cử làm Hữu nhai tăng lục và ngài Đoan phủ làm Tả nhai tăng lục. Khoảng năm Khai thành (847-859) đời vua Văn tông, ngài Vân đoan được bổ nhiệm giữ chức Lưỡng nhai tăng lục. Như vậy, đến đây, Tả hữu nhai tăng lục được sáp nhập làm một chức và do một người đảm nhiệm. Khoảng năm Càn ninh (894- 897) đời vua Chiêu tông, ngài Giác huy được cử làm Lưỡng nhai Phó tăng lục, đó là chức Phó tăng lục đầu tiên. Về sau, sang các đời Ngũ đại, Bắc Tống, Nam Tống, các vua cũng đều đặt chức Tả hữu nhai Tăng lục và Phó tăng lục. Vào đời Tống, Tả hữu nhai tăng lục ti được trực thuộc Hồng lô tự; sau Hồng lô tự bị bãi bỏ thì Tả hữu tăng lục được sáp nhập với Lễ bộ. Vào thời Bắc Tống, trong Ti Tăng lục, ngoài Tăng lục và Phó tăng lục, còn có các chức Giảng kinh thủ tọa, Giảng luận thủ tọa..., dưới Tăng lục lại đặt ra chức Giám nghĩa để quản lí các việc vặt. Sang thời Nam Tống thì các chức Giảng kinh thủ tọa và Giảng luận thủ tọa bị bãi bỏ, đồng thời, lập thêm chức Giám nghĩa ngoại ngạch. Đến đời Nguyên, các châu quận có những chức như: Tăng lục, Phán chính, Phó đô cương... Sang đời Minh, ở kinh đô, lập ra Ti Tăng lục, Ti Đạo lục để quản lí tăng ni, đạo sĩ trong nước. Vào năm Hồng vũ 15 (1382) đời Minh, Ti Tăng lục được thiết lập, trong đó có các chức vụ như: Chính lục phẩm tả thiện thế, Chính lục phẩm hữu thiện thế, Tòng lục phẩm tả xiển giáo, Tòng lục phẩm hữu xiển giáo, Chính bát phẩm tả giảng kinh, Chính bát phẩm hữu giảng kinh, Tòng bát phẩm tả giác nghĩa, Tòng bát phẩm hữu giác nghĩa... để cai quản các việc thuộc Phật giáo. Tại các tỉnh, phủ thì lập Ti Tăng cương, trong đó đặt Đô cương 1 người và Phó đô cương 1 người; ở các châu thì thiết lập Ti Tăng chính, trong đó, đặt Tăng chính 1 người; ở các huyện thì thiết lập Ti Tăng hội, đặt Tăng hội 1 người. Tất cả các chức vụ kể trên đều phải tuyển chọn những vị tăng tinh thông kinh điển, giới hạnh thanh tịnh để đảm nhiệm. Đến đời Thanh, năm Thiên thông thứ 6 (1632) triều vua Thái tông, chế độ Tăng quan mới được thiết lập. Khoảng năm Thuận trị (1644-1661), các phẩm trật đại khái đều theo chế độ Tăng quan đời Minh, nhưng ngoài Thiện thế, Xiển giáo, Giảng kinh, Giác nghĩa... mỗi chức đều có Tả, Hữu 2 người ra, còn có Chánh ấn 1 người và Phó ấn 1 người. Nhật bản chịu ảnh hưởng của Trung quốc, từ thời đại Thất đinh về sau, trong Thiền lâm có đặt chức Tăng lục. Vào năm Khang lịch thứ 2 (1380), Thiên hoàng Hậu Viên dung tôn ngài Xuân ốc Diệu ba chùa Tướng quốc làm Tăng lục. Năm Vĩnh đức thứ 3 (1383), Túc lợi Nghĩa mãn đổi viện Lộc uyển làm Ti Tăng lục để quản lí các việc trong Thiền gia, cho đến chính trị, ngoại giao, văn thư, giấy tờ... có liên quan đến Mạc phủ, quyền thế càng ngày càng lớn mạnh. Thời Túc lợi Nghĩa giáo, Ti Tăng lục được dời đến Ấm lương hiên bên cạnh viện Lộc uyển, lần lượt có các vị tôn túc giữ chức Tăng lục như: Tuyệt hải, Vô cầu, Dung cốc, Phương hương, Quang lân... Nhưng từ năm Văn an thứ 2 (1445) về sau, các chùa lớn như: Đại đức, Diệu tâm, Tổng trì, Vĩnh bình... đều lần lượt tách khỏi sự cai quản của Ti Tăng lục. Vào niên hiệu Nguyên hòa năm đầu (1615), Mạc phủ Đức xuyên ra lệnh dời Ti Tăng lục đến viện Kim địa của chùa Nam thiền và cử ngài Sùng truyền giữ chức Tăng lục. Ngài Sùng truyền rất được Mạc phủ tín nhiệm và trọng đãi, nên chỉ trong thời gian ngắn, quyền lực đã khá mạnh, không chỉ cai quản các chùa Thiền mà còn quản lí cả các thần xã(nhà thờ của Thần đạo) và chùa viện nói chung. Mãi đến năm Khoan vĩnh 12 (1635), khi chức Tự xã phụng hành được bổ nhiệm riêng thì quyền lực của chức Tăng lục mới dần dần suy vi và chỉ còn quản lí các việc của phái Ngũ sơn thuộc tông Lâm tế thôi. Tại Cao li, về tình hình bổ nhiệm chức Tăng lục, cứ theo Cao li sử quyển 8, năm Văn tông 21 (1067), ngài Đạo nguyên được cử làm Hữu nhai tăng lục và lựa chọn các vị tăng có giới hạnh thanh tịnh trang nghiêm thường trụ chùa Hưng vương. Mãi đến năm Thế tông thứ 6 (1424) triều Lí, Ti Tăng lục mới bị bãi bỏ. [X. điều Tả hữu nhai tăng lục trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.17, 41; Nhập đường cầu pháp tuần lễ kí Q.1; Đường thư bách quan chí chú; điều Hồng lô tự trong Tống sử chức quan chí 118; Minh sử chức quan chí 50, 51; Thanh hội điển lễ bộ từ tế thanh lại ti chú]. (xt. Tả Hữu Nhai Tăng Lục Ti).
Tăng lữ
僧侶; C: sēnglǚ; J: sōryo;|Thành viên trong Tăng đoàn. Giới tăng lữ (s: saṃgha); còn gọi Tăng chúng (僧衆).
tăng lữ
Monastic companion, or company.
Tăng lữ 僧侶
[ja] ソウリョ sōryo ||| The members of the Buddhist order; the clergy (saṃgha); same as 僧衆. => Thành viên trong Tăng đoàn. Giới tăng lữ (s: saṃgha); còn gọi Tăng chúng 僧衆.
Tăng Mân
(僧旻, Sōbin, 467-527): vị tăng sống dưới thời nhà Lương thuộc Nam Triều, người vùng Phú Xuân (富春), Quận Ngô (呉郡, thuộc Phú Dương [富陽], Triết Giang [浙江]), họ Tôn (孫), cùng với Pháp Vân (法雲) và Trí Tàng (智藏) được gọi là Ba Vị Pháp Sư Lớn của nhà Lương. Năm 7 tuổi, ông xuất gia, đến trú tại Hổ Kheo Tây Sơn Tự (虎丘西山寺), theo Tăng Hồi (僧回) học 5 bộ kinh. Đến năm 13 tuổi, ông đi theo Tăng Hồi đến sống tại Bạch Mã Tự (白馬寺) vùng Kiến Nghiệp (建業), sau đó chuyển sang Trang Nghiêm Tự (莊嚴寺) ở Nam Kinh (南京) và thường hầu hạ Đàm Cảnh (曇景). Ông sống an bần, hiếu học, tinh tấn tu tập, thông hiểu các kinh, lại có sở trường về Thành Thật Luận (成實論), là một trong những luận sư nổi danh của Thành Thật Tông thời Nam Bắc Triều. Vào năm thứ 10 (492) niên hiệu Vĩnh Minh (永明), ông tuyên giảng Thành Thật Luận ở Hưng Phước Tự (興福寺), chúng đạo tục đến nghe rất đông, cho nên tiếng tăm của ông vang khắp đó đây. Vương Trung Bảo (王仲寳) ở Lang Da (瑯琊), Trương Tư Quang (張思光), v.v., là những học giả đương thời, đều có thâm giao với ông. Đến cuối thời nhà Tề, loạn lạc xảy ra khắp nơi, nên ông lánh nạn ở Từ Châu (徐州), nhưng không bao lâu sau thì được thỉnh đến nhà Ngô, rộng mở pháp tịch tuyên giảng kinh luận. Vào năm thứ 6 (507) niên hiệu Thiên Giám (天監), ông soạn Chú Bát Nhã Kinh (注般若經), nhà vua ban sắc chỉ cho 5 vị pháp sư trong kinh thành giảng kinh, trong số đó ông là người được nhà vua đãi ngộ cao nhất. Bên cạnh đó, ông còn vâng mệnh giảng Kinh Thắng Man (勝鬘經) tại Huệ Luân Điện (惠輪殿), khi ấy nhà vua thân lâm đến pháp tịch nghe giảng. Không bao lâu sau, ông lại phụng sắc chỉ cùng với Tăng Lượng (僧亮), Tăng Hoảng (僧晃), Lưu Hiệp (劉勰), v.v., khoảng 30 người tập trung tại Định Lâm Tự (定林寺) soạn bộ Chúng Kinh Yếu Sao (眾經要鈔) 88 quyển. Đến năm đầu (527) niên hiệu Đại Thông (大通), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi. Nhà vua rất đau lòng thương tiếc, ban sắc lệnh an táng tại khu mộ địa của Khai Thiện Tự (開善寺) thuộc Chung Nam Sơn (鍾南山). Đệ tử của ông có Trí Học (智學), Huệ Khánh (慧慶), v.v. Một số trước tác ông để lại hơn 100 quyển như Luận Sớ Tạp Tập (論疏雜集), Tứ Thanh Chỉ Quy (四聲指歸), Thi Phổ Quyết Nghi (詩譜決疑), v.v. Đặc biệt, bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ (成實論義疏) 10 quyển rất nổi tiếng.
tăng mân
(僧旻) (467-527) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người ở Phú xuân, quận Ngô (Phú dương, tỉnh Chiết giang), họ Tôn, cùng với các ngài Pháp vân, Trí tạng được gọi là Lương tam đại pháp sư(ba Pháp sư lớn đời Lương). Sư xuất gia năm lên 7 tuổi ở chùa Tây sơn, núi Hổ khâu. Năm 13 tuổi, sư theo ngài Tăng hồi vào ở chùa Bạch mã tại Kiến nghiệp, sau dời đến chùa Trang nghiêm ở Nam kinh, thờ ngài Đàm cảnh làm thầy. Sư an bần hiếu học, tinh tiến tu đạo, thông suốt các kinh, đặc biệt sở trường về luận Thành thực, là 1 trong các Luận sư tông Thành thực ở thời Nam Bắc triều. Năm Vĩnh minh thứ 10 (492), sư khai giảng luận Thành thực ở chùa Hưng phúc, đạo tục về tham học rất đông, tiếng tăm sư lừng lẫy. Lang gia vương Trọng bảo, Trương tư quang và các danh sĩ nổi tiếng đương thời đều đến đàm đạo với sư. Cuối đời Tề, thiên hạ loạn lạc, sư ẩn cư tại Từ châu. Không bao lâu, sư nhận lời thỉnh đến đất Ngô hoằng dương Phật pháp. Năm Thiên giám thứ 6 (507), vua Lương vũ đế thỉnh 5 vị Đại pháp sư thuyết giảng Bát nhã ở Kinh ấp, sư được ưu đãi nhất. Sư lại vâng sắc giảng kinh Thắng man ở điện Huệ luân, Vũ đế đích thân đến nghe. Sau đó, sư lại vâng sắc cùng với các vị Tăng lượng, Tăng hoảng, Lưu tai... gồm 30 người nhóm họp ở chùa Định lâm thượng soạn Chúng Kinh Yếu Sao, 88 quyển. Niên hiệu Đại thông năm đầu (527) sư thị tịch, thọ 61 tuổi, Vũ đế vô cùng thương tiếc, ban sắc an táng sư ở chùa Khai thiện, núi Chung sơn. Sư có các tác phẩm: Luận sớ tạp tập, Tứ thanh chỉ qui, Thi phổ quyết nghi, Thành thực luận nghĩa sớ 10 quyển, Chú bát nhã kinh. [X. truyện Tuệ thứ trong Lương cao tăng truyện Q.8; truyện Pháp vân, truyện Tuệ trừng trong Tục cao tăng truyện Q.5; Phật tổ lịch đại thông tải Q.10; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển 195].
Tăng Mạng
(增命, Zōmyō, 843-927): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 10, trú trì đời thứ 5 của Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji), húy là Tăng Mạng (增命), thụy hiệu Tĩnh Quán (靜觀), sanh ở Kyōto, xuất thân là con của quan Tả Đại Sử Tang Nội An Phong (桑內安峰). Năm 13 tuổi, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo hầu Diên Tối (延最) ở Tây Tháp Viện. Đến năm 867, ông thọ Bồ Tát Giới, sau đó theo học giáo lý Thiên Thai với Viên Nhân (圓仁, Ennin) và thọ phép Quán Đảnh với Viên Trân (圓珍, Enchin). Năm 899, ông làm Trưởng Lại (長吏) của Viên Thành Tự, rồi đến năm 906 thì được cử làm Thiên Thai Tọa Chủ. Thỉnh thoảng ông có vào trong cung nội để làm lễ cầu nguyện cho ngọc thể của Thiên Hoàng được bình an. Vào năm 925, ông làm chức Tăng Chánh. Vũ Đa Pháp Hoàng (宇多法皇, Uda Hōō) đã theo Tăng Mạng xuất gia, thọ giới, đăng đàn thọ phép Quán Đảnh và Bồ Tát giới. Thụy hiệu Trí Chứng Đại Sư (智証大師) của Viên Trân được sắc phong là nhờ sự tấu thỉnh của Tăng Mạng. Trước tác của ông có Tông Luận Ngự Giảng (宗論御講) 1 quyển, Thai Tạng Giới Khẩu Truyền (胎藏界口傳) 1 quyển.
tăng mẫn
(僧敏) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người Quảng lăng (huyện Giang đô, tỉnh Giang tô). Sư trụ ở chùa Kiến nghiệp. Nhân việc đạo sĩ Cố hoan soạn Di hạ luận bôi bác Phật giáo, sư bèn soạn các luận: Nhung hoa, Chiết Cố đạo sĩ Di hạ luận để bác bỏ quan điểm sai lầm của Cố hoan. [X. Hoằng minh tập Q.7; Quảng hoằng minh tập Q.1, 21].
tăng na
(僧那) I. Tăng Na. Phạm: Saônàha-saônadha. Gọi đủ: Tăng na tăng niết. Tăng na, dịch cũ: Hoằng thệ, Đại thệ. Tăng niết, Hán dịch: Tự thệ. Tức chỉ cho 4 thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát. Nhưng, theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 3 thì Tăng na tăng niết phải là Ma ha tăng na tăng niết đà, Ma ha dịch cũ là lớn, Tăng na là áo giáp, Tăng niết đà là mặc hoặc là trang nghiêm, cho nên Tăng na tăng niết đà có nghĩa là mặc áo giáp lớn; tức là Đại thệ trang nghiêm nói trong kinh Đại phẩm. Áo giáp là ví dụ 4 thệ nguyện rộng lớn. II. Tăng Na (?-?) Thiền sư Trung quốc sống vào thời Nam Bắc triều, người ở Đông hải (tỉnh Giang tô), họ Mã, là đệ tử nối pháp của ngài Tuệ khả, Tổ thứ 2 của Thiền tông Trung quốc. Lúc đầu, sư theo Nho học, thông hiểu Tam lễ (3 bộ sách: Nghi lễ, Chu lễ và Lễ kí của Tàu), Chu dịch. Sau đến Tương châu nghe thiền sư Tuệ khả thuyết pháp, sư sinh tâm chính tín liền xin xuất gia, tu hạnhĐầu đà, khất thực nơi làng xóm, không vào thành ấp. Sau không rõ sư tịch ở đâu. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Tục cao tăng truyện Q.16].
tăng nghi
The monastic custom, i.e. shaving head and beard, wearing the robe, etc..
tăng ngũ tịnh đức
(僧五淨德) Chỉ cho 5 thứ tịnh đức của người xuất gia nói trong kinh Chư đức phúc điền. Đó là: 1. Phát tâm xa lìa thế tục: Người xuất gia phát tâm mạnh mẽ thoát li phàm tục, tu tập bồ đề để làm ruộng phúc cho thế gian. 2. Hủy hoại hình tướng tốt đẹp: Người xuất gia cạo bỏ râu tóc, tự hủy hình tướng đẹp đẽ, cởi bỏ áo thế tục, mặc áo pháp Như lai, có đầy đủ uy nghi như Phật, làm ruộng phúc cho thế gian. 3. Cắt đứt hẳn tình thân ái: Người xuất gia từ bỏ tình thương yêu của cha mẹ, một lòng tinh tiến tuđạođể báo đáp ân đức sinh thành của cha mẹ và làm ruộng phúc cho thế gian. 4. Xả bỏ thân mệnh: Người xuất gia xả bỏ thân mệnh không chút luyến tiếc, chỉ một lòng cầu chứng Phật đạo để làm ruộng phúc cho thế gian. 5. Chí cầu Đại thừa: Người xuất gia thường mang hoài bão cứu giúp chúng sinh, chuyên chí siêng cầu pháp Đại thừa để độ thoát tất cả hữu tình, làm ruộng phúc cho thế gian.
tăng ngữ xúc
(增語觸) Đối lại: Hữu đối xúc. Chỉ cho Ý xúc tương ứng với ý thức thứ 6. Vì ý xúc duyên theo tên của vật mà phân biệt nên gọi là Tăng ngữ xúc. Tăng ngữ nghĩa là Ngữ tăng thượng. Ngữ là âm thanh không thể biểu đạt rõ ràng, âm thanh thù thắng ấy là tên, vì thế gọi tên ấy là Tăng ngữ. Vì duyên theo Tăng ngữ ấy nên y cứ vào sở duyên mà gọi là Tăng ngữ xúc. [X. luận Câu xá Q.10].
tăng nhất a hàm
Xem Tăng nhứt A hàm.
; ekottarikàgamas, numerically arranged subjects.
tăng nhất a hàm kinh
Ekottarikàgama (S).
; (增壹阿含經) Phạm: Ekottarikàgama. Pàli: Aíguttara-nikàya. Hán âm: Y cô đạt ra a cam. Kinh, 51 quyển, do ngài Cù đàm tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 2, là 1 trong 4 bộ A hàm của hệ Bắc truyền. Về tên gọi của kinh này, theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, luật Ngũ phần quyển 30, luật Tứ phần quyển 54... thì sở dĩ gọi Tăng nhất a hàm là vì các kinh trong đó được phân loại theo thứ tự pháp số tăng từ 1 đến 11 mà biên tập thành, cho nên gọi là Tăng nhất. Còn theo Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 thì Tăng nhất a hàm là bộ kinh gồm nhiều bài kinh ngắn mà đức Phật tùy thời nói cho hàng trời, người nghe rồi sau được kết tập lại mà thành. Toàn bộ kinh có 52 phẩm, 472 kinh, nội dung mang đậm sắc thái tư tưởng Đại thừa, được thành lập muộn nhất trong 4 bộ A hàm. Sắp xếp như sau: Đầu tiên là phẩm Tựa, nói về nhân duyên ngài A nan truyền tụng, kết tập kinh này, ngài Ưu đa la thụ pháp... kế đến là theo phương pháp tăng số mà tập hợp và phân loại các kinh ngắn như sau: 1. Loại 1 pháp: Gồm 13 phẩm. 2. Loại 2 pháp: Gồm 6 phẩm. 3. Loại 3 pháp: Gồm 4 phẩm. 4. Loại 4 pháp: Gồm 7 phẩm. 5. Loại 5 pháp: Gồm 5 phẩm. 6. Loại 6 pháp: Gồm 2 phẩm. 7. Loại 7 pháp: Gồm 3 phẩm. 8. Loại 8 pháp: Gồm 2 phẩm. 9. Loại 9 pháp: Gồm 2 phẩm. 10. Loại 10 pháp: Gồm 3 phẩm. 11. Loại 11 pháp: Gồm 4 phẩm. Trong đó, ở cuối các phẩm và các kinh, phần nhiều có bài tụng tổng quát để tóm tắt đại ý của phẩm hoặc kinh ấy. Về sự chia phẩm và quyển trong Tăng nhất a hàm thì 3 bản Tống, Nguyên, Minh đều có 52 phẩm, 50 quyển, còn bản Cao li thì có 50 phẩm, 51 quyển. Về sự tăng số của kinh này thì có 2 thuyết: 1. LuậtMa ha tăng kì quyển 32, luận A tì đàm tì bà sa quyển 10, Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 39... cho rằng kinh Tăng nhất a hàm vốn từ 1 pháp theo thứ tự tăng đến 100 pháp, sau vì thất lạc nên chỉ còn truyền 10 pháp. 2. Luật Ngũ phần quyển 30, luật Tứ phần quyển 54, Soạn tập tam tạng cập tạp tạng truyện, luận Phân biệt công đức quyển 2... thì cho rằng kinh này từ 1 pháp theo thứ tự tăng đến 11 pháp, tổng cộng có 11 pháp. Thuyết này tương đối phù hợp với nội dung kinh Tăng nhất a hàm hiện còn. Trong 5 bộ thuộc hệ Nam truyền thì Tăng chi bộ (Pàli: Aíguttara-nikàya) tương đương với kinh này. Tăng chi bộ có tất cả 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh. Cứ theo Hán dịch Tứ a hàm (The four Buddhist Àgamas in Chinese) của học giả Tỉ kì Chính trị người Nhật và Hán Pa tứ bộ tứ a hàm hỗ chiếu lục của học giả người Nhật khác là ông Xích chiểu Trí thiện thì trong 472 kinh của Tăng nhất a hàm bản Hán dịch, chỉ có 136 kinh có nội dung tương đương hoặc có thể đối chiếu với Tăng chi bộ tiếngPàli. Các sách đã dẫn còn chỉ ra rằng trong Tăng chi bộ không bao hàm tư tưởng Đại thừa của kinh Hán dịch, vả lại, cũng ít thấy có dấu vết mở rộng và sửa đổi, cho nên việc biên soạn Tăng chi bộ chắc phải sớm hơn kinh Hán dịch, tức đã được hoàn thành vào khoảng thế kỉ I Tây lịch. Còn phần giải đề kinh Tăng nhất a hàm trong Phật quangĐại tạng kinh thì nói rằng giữa Tăng nhất a hàm và Tăng chi bộ có tất cả 153 kinh tương đương hoặc giống nhau. Các kinh Biệt sinh của Tăng nhất a hàm bản Hán dịch có tất cả 28 loại, trong có kinh A la hán cụ đức 1 quyển. Thời gần đây, trong những quyển kinh xưa bằng tiếng Phạm còn sót lại được tìm thấy ở vùng Tân cương, Trung quốc, có phần tương đương với kinh thứ 5 trong phẩm Thiện tụ của kinh Tăng nhất a hàm Hán dịch; phần này được thu chép vào tác phẩm Manuseript Remains of Buddhist Literature Found in Eastern Turkestan, vol. I của học giả Hoernle. Ngoài ra, các kinh được thu chép trong Đại tạng kinh Tây tạng như: Kinh Từ thị sở vấn phẩm (Tạng: Byams-pas shus pa#i le#u) tương đương với bài kinh thứ 6 trong phẩm Thiện tri thức của kinh Tăng nhất a hàm; kinh Đại vi diệu chàng (Tạng: Mdo Chen-po rgyal-mtshan dam-pa she-bya-ba) tương đương bài kinh thứ 1 trong phẩm Cao chàng; kinh Tứ đế (Tạng: Lden-pa-bshi#i mdo) tương đương với bài kinh thứ 1 trong phẩm Tứ đế; kinh Lợi ích chỉ man (Tạng: Sor-mo#i phren-bala phan-pa) tương đương với bài kinh thứ 6 trong phẩm Lực; kinh Từ quán tưởng (Tạng: Byams-pa bsgom-pa#i mdo) tương đương với bài kinh thứ 10 trong phẩm Phóng ngưu. Về việc lưu truyền kinh Tăng nhất a hàm, theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 1, phần đầu và Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm quyển 8 thì Tứa hàm đều do Đại chúng bộ truyền; nhưng luận Phân biệt công đức quyển 2 thì chủ trương do Tát bà đa bộ truyền; còn học giả Thủy dã Hoằng nguyên người Nhật thì cho là do mạt phái của Đại chúng bộ truyền. [X. luận Du già sư địa Q.85; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.6; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.6; Duyệt tạng tri tân Q.26; Đại tạng kinh Nam điều mục lục bổ chính sách dẫn; Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành (Ấn thuận)]. (xt. A Hàm, A Hàm Kinh).
Tăng nhất A-hàm kinh
增一阿含經; C: zēngyī āhán jīng; J: zōichi agonkyō; S: ekottara-āgama-sūtra; |Một trong 4 bộ kinh trong tạng A-hàm; gồm 51 quyển, do Cồ-đàm Tăng-già-đề (瞿曇僧伽提, s: gautama-saṃghadeva) dịch năm 397. Toàn kinh có 52 phẩm, gồm tất cả 451 kinh. Chi tiết các chủ đề được đánh số từ 1 đến 11 và các kinh được tập hợp theo nội dung.
Tăng nhất A-hàm kinh 增一阿含經
[ja]ゾウイチアガンキョウ Zōichi agonkyō ||| Zengyi ahan jing; Skt. Ekottara-āgama-sūtra. 'Increased by One Āgama Sutras ': one of the four collections of sutras in the Āgama division; 51 fasc., tr. by Gautama-samghadeva 瞿曇僧伽提 in 397. T 125.2.549a-830b. This collection has 52 chapters, containing 451 sutras in all. Subjects expounded are numbered from one to eleven and the sutras are grouped according to their contents. => s: Ekottara-āgama-sūtra; e: Increased by One Āgama Sutras. Một trong 4 bộ kinh trong tạng A-hàm; gồm 51quyển, do Cồ-đàm Tăng-già-đề dịch năm 397. Toàn kinh có 52 phẩm, gồm tất cả 451 kinh. Chi tiết các chủ đề được đánh số từ 1 đến 11 và các kinh được tập hợp theo nội dung.
tăng nhất bộ kinh
Xem Tăng nhứt A hàm.
tăng nhất tập
Anguttara Nikàya (P)
tăng nhẫn
(增忍) (813-871) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người ở Trần lưu, Bái quốc, (Hà nam), họ Sử. Đầu năm Hội xương (841-846), sư đến núi Hạ lan ở Linh vũ, thấy một vùng đất thanh tịnh tên là Bạch thảo cốc(thung lũng cỏ trắng), liền phát tâm xuất gia, dựng am tranh cư trú, tinh tiến tu trì, người Khương, người Hồ bảo nhau đến cúng dường thức ăn. Sau, quan Tiết độ sứ là Lí ngạn tá kính trọng danh tiết của sư, nên xây viện Bạch thảo ở chùa Long hưng thỉnh sư an trụ. Sư từng chích máu chép hơn 280 quyển kinh. Năm Đại trung thứ 9 (855), sư tụng kinh Đại bi cảm ứng hiện Chính ấn song quyền trong hư không; lúc sư mời người vẽ lại hiện tượng này thì trong cái chén bằng đồng để rửa bút của họa công cũng cảm hiện được một đóa hoa Bảo tính, mọi người thấy đều kinh ngạc và khen là việc hiếm có. Năm Hàm thông 12 (871), sư thị tịch, hưởng dương 59 tuổi. Sư có các tác phẩm: Luận Đại bi 6 quyển, luận Tam giáo hủy thương. [X. Tống cao tăng truyện Q.26].
tăng nhứt a hàm
Ekottarikāgama (P), Ekottarāgama (S), Anguttara nikāya (S), Single-Item Upwards Collection Tăng chi bộ kinh, Tăng nhất bộ kinhMột trong 5 phẩm của Kinh Tạng, gồm 9.550 bài kinh, chia thành 11 tiểu phẩm từ một đến mười một dựa trên số tiểu mục có đề cập trong kinh.
tăng ni
Monks and nuns.
tăng ni quản thuộc
(僧尼管屬) Chế độ quản lí tăng ni của triều đình Trung quốc thời xưa. Cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển trung thì vào đầu đời Đông Hán, các sa môn phải thuộc Hồng lô tự, đến đầu đời Hậu Ngụy thì Giám phúc tào được thiết lập để thống nhiếp tăng ni. Về sau, Giám phúc tào được đổi là Sùng huyền thự. Thời Tề, Lương lập Đồng văn tự để trông coi về tăng vụ. Đến đầu đời Đường thì tăng ni đều trực thuộc Ti tân, niên hiệu Diên tải năm đầu (694) đời Vũ tắc thiên thì đổi sang lệ thuộc Từ bộ. Năm Khai nguyên 14 (726) đời vua Huyền tông, tăng ni lại trực thuộc Hồng lô tự, nhưng dưới sự kiểm xét của Từ bộ; nam nữ đạo sĩ thì trực thuộc Tông chính tự. Đến năm Nguyên hòa thứ 2 (807) đời vua Hiến tông thì thiết lập Tả hữu nhai công đức sứ để cai quản toàn thể tăng ni và nam nữ đạo sĩ. Độ điệp của tăng ni đều do Từ bộ cấp phát.
tăng ni quỹ phạm
(僧尼軌範) Thanh qui, do ngài Đạo an soạn vào đời Đông Tấn, nhằm mục đích chỉnh lí và hoàn bị giới luật. Sách này hiện nay đã thất truyền, nên không biết được nội dung cụ thể, nhưng theo truyền thuyết thì sách gồm các hạng mục:1. Pháp hành hương, tọa thiền, tụng kinh, thuyết giảng... 2. Pháp tu hành hằng ngày như 6 thời hành, ăn uống, ngủ nghỉ... 3. Pháp bố tát, sai sứ, sám hối... Loại sách Tăng chế, Thanh qui được lưu truyền ở đời sau đều bắt nguồn từ Tăng ni quĩ phạm của ngài Đạo an. [X. Biên niên thông luận Q.3].
tăng nê sa giả ủ
(僧泥沙者傴) Ngày đêm chỉ ngồi, không nằm, 1 trong 12 hạnh Đầu đà. Đây là dịch âm lầm của từ Nê sa giả khư (Phạm:Naiwadika,Pàli: Nesajjika). [X.Chính pháp nhãn tạng hành trì thượng]. (xt. Thập Nhị Đầu Đà Hạnh).
tăng phòng
(僧房) Phạm:Vihàra. Hán âm: Tì ha la. Cũng gọi Tăng phường. Phòng xá của chúng tăng. Cứ theo luật Tứ phần quyển 50, sau khi thành đạo, đức Phật và 5 vị tỉ khưu trụ ở nơi a lan nhã, dưới gốc cây, phòng trống, hang núi, bụi cỏ, rừng cây, bãi đất trống, gò mả, ven sông... Đến khi đức Phật vào thành Vương xá, vua Bình sa mới làm phòng xá ở vườn trúc Ca lan đà cúng dường Phật và chư tăng 4 phương. Không bao lâu, lại có vị Trưởng giả xây cất 60 phòng xá trên núi Kì xà quật, đầy đủ các thứ cần dùng để cúng dường Phật và chúng tăng cư trú, đây là các phòng tăng đầu tiên trong lịch sử Tăng đoàn Phật giáo. Về cách làm phòng xá, theo luật Tứ phần quyển 3, Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 3 và luật Ma ha tăng kì quyển 6, nếu không có đàn việt(thí chủ), tỉ khưu tự xin làm phòng xá, thì trước hết phải chọn nơi an toàn, không bị trở ngại mới được phép làm, phòng dài 12 gang tay Phật và rộng 7 gang. Nếu có đàn việt làm phòng tăng thì không cần theo kích thước nhất định. Còn theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 17 và Ngọa tức phương pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 thì ta biết trong phòng tăng có vẽ cái đầu lâu trắng, hoặc đặt tượng Phật. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng miêu tả tăng phòng ở chùa Na lan đà như sau (Đại 51, 5 trung): Tại đây, có 9 dẫy tăng phòng, trong đó mỗi phòng là một trượng vuông, mặt sau có cửa sổ thông gió, cửa ra vào trông ra mái hiên. Các cửa này tuy cao nhưng chỉ có 1 cánh, đối diện nhau, không được treo mành mành, nhìn thẳng ra ngoài, 4 mặt đều thấy, kiểm sát lẫn nhau, không che chắn riêng tư, mỗi góc có làm đường qua lại.Tại Trung quốc, vào giữa đời Đường, lúc thanh qui của Thiền tông được thành lập thì phong trào kiến tạo Tăng đường ở tập thể mới hưng khởi. Các chùa lớn ở Trung quốc, Nhật bản thiết lập phòng tăng ở 3 phía đông, tây, bắc của Giảng đường, gọi là Tam diện tăng phòng. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; luật Thập tụng Q.56; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.10; Bán am la quả nhân duyên trong A dục vương truyện Q.3].
tăng phó
(僧副) (464-524) Cũng gọi Đạo phó. Thiền sư Trung quốc sống vào thời Nam Tề, người ở Thái nguyên, tỉnh Sơn tây, họ Vương, là đệ tử của ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ Thiền tông Trung quốc. Cứ theo truyền thuyết, khi Tổ Đạt ma xét nghiệm các đệ tử thì trong 4 phần da, thịt, xương, tủy của pháp Thiền, sư được ấn chứng là đã được phần da. Khoảng năm Kiến vũ đời Tề, sư xuống miền Nam, dừng chân ở chùa Định lâm hạ tại núi Chung sơn. Vua Vũ đế nhà Lương kính ngưỡng đạo phong của sư nên thỉnh sư trụ ở chùa Khai thiện tại Kim lăng. Về sau, sư vào đất Thục làm cho Thiền pháp ở nơi đây phát triển mạnh. Cuối đời, sư trở lại Kim lăng trụ chùa Khai thiện. Năm Phổ thông thứ 5 (524), sư tịch, thọ 61 tuồi. Vâng mệnh Công chúa Vĩnh hưng, ngài Vương dịch soạn bài văn bia để thờ sư. [X. Tục cao tăng truyện Q.16; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; chương Bồ đề đạt ma trong Truyền pháp chính tông kí Q.5].
Tăng phường
nơi trú ngụ, chỗ ở của chư tăng, ni.
tăng phường
A monaster; also a nunnery.
Tăng phẩm
增品; C: zēngpǐn; J: sōhon;|Hạng, loại vật gì được tinh chế tốt hơn, hay hơn… loại trước.
Tăng phẩm 增品
[ja]ソウホン sōhon ||| A class, or category of something that is above, better, more refined, etc., than the present class. 〔二障義 HPC 1.808c22〕 => Hạng, loại vật gì được tinh chế tốt hơn, hay hơn... loại trước.
Tăng quan
僧官; C: sēngguān; J: sōkan;|Vị coi sóc về mặt hành chính của toàn thể tăng đoàn. Tăng cương (僧綱).
tăng quan
Director of monk.
; (僧官) Các chức vụ của chư tăng do triều đình bổ nhiệm để thống lãnh tăng ni các chùa viện trên toàn quốc nhằm duy trì kỉ cương và phát triển Phật giáo. Tại Ấn độ, trong Tăng đoàn có các chức vụ như: Thượng tọa, Tự chủ, Giám viện, Duy na, Trực nhật, Trực nguyệt, Trực tuế... nhưng không có chế độ quan chức; nếu tăng ni vi phạm giới luật thì do Tăng đoàn tự phân xử, phán quyết. Ở Trung quốc, tăng ni phần nhiều được triều đình che chở, không được thi hành chế độ tự trị, vì thế Tăng quan cần phải được thiết lập. Chế độ Tăng quan bắt đầu từ thời đại Ngụy, Tấn thuộc Nam Bắc triều, về sau, trải bao triều đại đều thừa kế chế độ này, chỉ có tên gọi các chức vị Tăng quan thì tùy triều đại mà có thay đổi. Như truyện ngài Tăng lược trong Lương cao tăng truyện quyển 6 ghi: Ở phương Bắc, người đầu tiên lập Tăng quan là vua Diêu hưng (ở ngôi 393-416) nhà Hậu Tần, lập ngài Tăng lược làm Tăng chính, ngài Tăng thiên làm Duyệt chúng, các ngài Pháp khâm và Tuệ bân làm Tăng lục để cai quản tăng ni. Thời Bắc Ngụy, khoảng năm Hoàng thủy (396-397), vua Đạo vũ đế ban sắc bổ nhiệm sa môn Pháp quả làm Đạo nhân thống để thống lãnh tăng đồ. Sau pháp nạn Thái vũ đế diệt Phật, Văn thành đế nối ngôi, liền ra sức phục hưng Phật giáo, thiết lập chế độ Tăng quan duy nhất để thống nhiếp Tăng đoàn. Ở trung ương đặt Giám phúc tào, do Đạo nhân thống làm chánh và Đô duy na làm phó để điều hành tăng sự. Niên hiệu Hưng an năm đầu (452), sa môn Sư hiền, người nước Kế tân, được bổ nhiệm làm Đạo nhân thống. Sau khi ngài Sư hiền tịch, chức Đạo nhân thống được đổi là Sa môn thống, do ngài Đàm diệu kế nhiệm. Các châu, quận, huyện thì thiết lập Tăng tào do Sa môn thống các địa phương làm chủ quản. Niên hiệu Hòa bình năm đầu (460), Giám phúc tào được đổi làm Chiêu huyền tự(theo Ngụy thư thích lão chí thì việc này diễn ra vào thời vua Hiếu văn đế), đặt 1 vị Đại thống, 1 vị Thống và 3 vị Đô duy na, đồng thời, thiết lập các chức Công tào và Chủ bạ viên... Trong đó, chức Đại thống dường như chưa được chính thức bổ nhiệm. Chiêu huyền tự được quyền xét xử các tăng ni phạm tội sát nhân trở xuống. Năm Thái hòa 17 (493) đời vua Hiếu văn đế, 47 điều tăng chế được đặt ra. Khoảng năm Vĩnh bình (508-511) đời vua Tuyên vũ đế, các chùa viện ở các châu quận thiết lập Tam cương (Tam quan), gồm có Thượng tọa, Tự chủ và Duy na. Về sau, Bắc Ngụy chia làm Đông Ngụy và Tây Ngụy. Đông Ngụy gọi chức Chiêu huyền thống của Chiêu huyền tự là Quốc thống, gọi Chiêu huyền Đô duy na là Quốc đô. Niên hiệu Đại thống năm đầu (535) đời vua Văn đế của Tây Ngụy, ngài Đạo trân ở chùa Đại trung hưng được bổ nhiệm làm Sa môn đại thống của nước Ngụy, không bao lâu lại lập thêm chức Chiêu huyền tam tạng, sắc ban Chu quốc tam tạng làm Tăng quan trung ương, Hạ châu tam tạng và An châu tam tạng làm Tăng quan địa phương, trông coi các việc như nghi lễ, giáo học... trong Tăng đoàn. Thời Bắc Tề, vào năm Thiên bảo thứ 2 (551) đời vua Văn tuyên đế, thiết lập chức Chiêu huyền thập thống, do 10 vị cao tăng đảm nhiệm; ngài Pháp thượng được cử đứng đầu Thập thống, gọi là Chiêu huyền đại thống, cũng gọi Chiêu huyền thống, còn 9 vị kia thì gọi là Thông thống. Theo truyện Hồng tuân trong Tục cao tăng truyện quyển 21, ngài Hồng tuân được cử giữ chức Đoán sự sa môn, có trách nhiệm xử lí các tăng ni vi phạm kỉ cương. Chế độ Tăng quan ở phương Nam có lẽ bắt đầu với chức Tăng chính ở Thục quận vào thời vua An đế (397-417) đời Đông Tấn, do quan Thứ sử Ích châu là Mao cừ thiết lập và do sa môn Tăng cung đảm nhiệm, nhưng đây là Tăng quan địa phương. Đến khoảng năm Vũ đế (ở ngôi 420-422) đời Lưu Tống, Tăng quan trung ương mới được thiết lập, do ngài Pháp hòa chùa Ngõa quan làm Tăng chủ. Trong năm Đại minh (457-464), vua Hiếu vũ đế ban sắc bổ nhiệm sa môn Đạo ôn làm Đô ấp tăng chính. Niên hiệu Thái thủy năm đầu (465), vua Minh đế sắc lệnh bổ nhiệm sa môn Tăng cẩn làm Thiên hạ tăng chủ. Chức Tăng quan thuộc các thời đại Nam triều tiếp tục dùng tên gọi Tăng chính hoặc Tăng chủ, nhưng các Tăng chính, Tăng chủ ở địa phương tương đối có thực quyền hơn các Tăng chính, Tăng chủ ở trung ương. Năm Thái thủy thứ 2 (467), Ni sư Bảo hiền làm Đô ấp Ni tăng chính và Ni sư Pháp tịnh làm Đô ấp Ni đô duy na, đây là lần đầu tiên các vị tỉ khưu ni được bổ nhiệm Tăng quan. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493), vua Vũ đế nhà Nam Tề cùng lúc ban sắc bổ nhiệm ngài Pháp hiến chùa Định lâm thượng và ngài Huyền sướng chùa Trường can làm Tăng chủ Giang nam và Giang bắc. Về sau, Tăng quan lại được chia ra Đông và Tây. Theo Lương cao tăng truyện quyển 8, sa môn Tuệ cơ từng được bổ nhiệm làm Đông thổ tăng chính, thống lãnh chúng tăng ở 10 thành khoảng đất Ngô và Cối kê. Sa môn Tuệ cầu thì vào niên hiệu Trung hưng năm đầu (501) đời vua Hòa đế, được bổ nhiệm làm Kinh thổ tăng chính. Đến năm Phổ thông thứ 6 (525), vua Lương vũ đế sắc lệnh bổ nhiệm ngài Pháp vân chùa Quang trạch làm Đại tăng chính, đó là chức Đại tăng chính đầu tiên được thiết lập. Ngài Pháp vân nhân đó lại lập Tăng chế để làm phép tắc cho đời sau. Niên hiệu Thiên gia năm đầu (560), vua Trần văn đế ban sắc bổ nhiệm ngài Bảo quỳnh chùa Đại bành thành làm Kinh ấp đại tăng chính, cũng gọi Kinh ấp đại tăng thống. Niên hiệu Chí đức năm đầu (583), vua Trần hậu chủ ban sắc bổ nhiệm sa môn Tuệ hằng làm Kinh ấp đại tăng đô, sau chuyển nhiệm làm Đại tăng chính. Đời Tùy kế thừa chế độ Ngụy, Tề, Tăng quan lấy Thống làm Chánh và Đô làm Phó, đồng thời dùng cả danh xưng Tăng chủ và Tăng chính; đổi Chiêu huyền tự làm Sùng huyền thự, đặt dưới Hồng lô tự (nơi tiếp đãi khách nước ngoài và sứ thần triều cống). Niên hiệu Khai hoàng năm đầu (581), vua Văn đế ban chiếu bổ nhiệm ngài Tăng mãnh chùa Đại hưng thiện làm Tùy Quốc Đại Thống, Thánh sa di làm Quốc tăng đô. Năm Khai hoàng thứ 10 (591), thiết lập các quan chức như: Chiêu huyền đại thống, Chiêu huyền thống, Ngoại quốc tăng chủ... Theo Tùy thư bách quan chí 23, vào năm Đại nghiệp thứ 3 (607), Dượng đế đổi các chùa Phật gọi là Đạo tràng, ở các Đạo tràng và các Đạo quán (chùa của Đạo giáo) lập Giám thừa do ngài Đàm diên đảm nhiệm và chức Bình đẳng sa môn do ngài Trí tụ đảm trách. Có thuyết cho rằng Tăng quan đời Tùy không có tổ chức thống nhất quản lí, chỉ theo lệ thường và phương tiện quyền nghi mà lập ra các chức. Đến đời Đường, dưới Hồng lô tự cũng lập Sùng huyền thự. Năm Vũ đức thứ 3 (620), vua Cao tổ lại bổ nhiệm 10 vị Tăng quan, gọi là Thập đại đức. Vài năm sau, chế độ quan lại trung ương dần dần được hoàn bị, cơ cấu Tăng quan trung ương liền bị bãi bỏ và thay vào đó dùng quan thế tục quản lí các việc liên quan đến Tăng đoàn, như Tất viên giám, Từ bộ, Tả nhai đại công đức sứ, Hữu nhai đại công đức sứ, Đông đô công đức sứ... Thời Vũ hậu, Từ bộ(coi về việc cúng lễ, thiên văn, y dược...) quản lí các sự vụ liên quan đến Phật giáo, Sùng huyền thự quản lí các sự vụ liên quan đến Đạo giáo. Vào thời Trung Đường, chế độ Tăng quan trung ương được thiết lập trở lại, như các ngài Trừng quán, Duy anh... được bổ nhiệm làm Tăng thống, nhưng chỉ trên danh nghĩa chứ không có thực quyền. Đầu những năm Nguyên hòa (806-820), dưới Tả hữu lưỡng nhai công đức sứ, lập thêm chức Tăng lục để trông coi các việc của tăng ni ở Trung ương, ngài Vân thúy làm Hữu nhai tăng lục và ngài Đoan phủ làm Tả nhai tăng lục. Khoảng năm Càn ninh (894-897) đời vua Chiêu tông, ngài Giác huy giữ chức Lưỡng nhai Phó tăng lục, đây là chức Phó tăng lục đầu tiên. Ngoài ra, ở đầu đời Đường còn có chức Tăng thống, là vị Tăng quan cao nhất ở địa phương. Các chùa viện trong nước thì có chức Tam cương do vị Thượng tọa đảm nhiệm. Vào thời Nam, Bắc Tống, ở thủ đô Khai phong thiết lập Tả nhai tăng lục ti và Hữu nhai tăng lục ti để quản lí về sổ tăng tịch và bổ nhiệm Tăng quan; trong đó có các chức: Tăng lục, Phó tăng lục, Giảng kinh thủ tọa, Giảng luận thủ tọa... (2 chức sau đến đời Nam Tống bị bãi bỏ); dưới Tăng lục có Thứ vụ viên,gọi là Giám nghĩa, thời Nam Tống lập thêm chức Ngạch ngoại giám nghĩa. Tăng quan các địa phương thì dùng theo chế độ Tăng quan đời Đường, tức các châu mỗi châu lập 1 chức Tăng chính, dưới có Phó tăng chính, Tăng phán... Đến đời Nguyên, viện Tuyên chính thống lãnh Tăng đoàn toàn quốc, trong đó lập các chức như: Tổng thống, Tăng lục, Chính đô cương, Phó đô cương... Năm Đại đức thứ 6 (1302), vua Thành tông ban sắc lệnh, các Tăng quan và tăng ni nói chung nếu phạm tội thì do Ngự sử đài và Nội ngoại tuyên chính viện xử lí. Tại các châu đặt Tăng chính ti, dưới đó lập Tăng chính và Phó tăng chính, các huyện thì đặt Đô cương. Năm Chí thuận thứ 2 (1331) ở các nơi thiết lập 16 sở Quảng giáo tổng quản phủ, bao gồm các địa phương như: Kinh kì sơn hậu đạo, Lưỡng hoài giang bắc đạo, Quảng tây lưỡng hải đạo, Cam túc chư lộ... Cơ cấu chi nhánh của Đại đô tuyên chính viện ở Giang nam là sở Thích giáo tổng thống, do vị Tăng quan địa phương làm Giám đốc. Đến đời Minh, vào những năm đầu, vua Thái tổ thiết lập Thiện thế viện ở chùa Thiên giới tại Kim lăng để thống lãnh giáo đoàn, đặt các chức: Thống lãnh, Phó thống lãnh, Tán giáo, Kỉ hóa... Năm Hồng vũ 15 (1382), thiết lập Tại kinh tăng lục ti và Tại ngoại tăng lục ti. Trong Tại kinh tăng lục ti lại lập Chính lục phẩm tả thiện thế, Chính lục phẩm hữu thiện thế, Tòng lục phẩm tả xiển giáo, Tòng lục phẩm hữu xiển giáo; Chính bát phẩm tả giảng kinh và Chính bát phẩm hữu giảng kinh; Tòng bát phẩm tả giác nghĩa và Tòng bát phẩm hữu giác nghĩa... Dưới Tại ngoại tăng lục ti thì thiết lập: 1. Tăng cương ti cấp phủ: Có 1 chức Đô cương và 1 chức Phó đô cương. 2. Tăng chính ti cấp châu: Có 1 chức Tăng chính. 3. Tăng hội ti cấp huyện: Có 1 chức Tăng hội. Nhiệm vụ của các cơ cấu trên đây là: Kiểm tra nhân số tăng ni, lập thành sổ bộ; Tuyển chọn Trụ trì các chùa viện; Cấp phát độ điệp; Xem xét, chỉ đạo tăng ni làm việc. Sang đời Thanh, chế độ Tăng quan được thiết lập theo chế độ Tăng quan đời Minh, nhưng không có thực quyền thống lãnh tăng ni. Chế độ Tăng quan ở Hàn quốc bắt đầu vào năm thứ 11 (550) đời vua Chân hưng xứ Tân la, bấy giờ lập 1 vị Đại thư tỉnh, do Pháp sư An tang đảm nhiệm. Về sau lại lập thêm 2 vị Tiểu thư tỉnh. Năm sau, Pháp sư Huệ lượng, người Cao cú li, được cử làm Quốc thống (Tự chủ), Pháp sư Bảo lương làm Đại đô duy na. Thời Thiện đức Nữ vương (632-646), Pháp sư Từ tạng được bổ nhiệm làm Đại quốc thống. Năm Nguyên thánh vương thứ 3 (787), 2 ngài Huệ anh và Phạm như làm Tiểu thư tỉnh. Lại lập 9 vị Châu thống và 18 vị Quận thống. Đến triều Cao li cũng có chế độ Tăng thống, Tăng lục. Cứ theo Cao li sử quyển 8, 16, 17, 39 và Triều tiên thông giám quyển 37, vào năm Văn tông 21 (1067), chùa Hưng vương được khánh thành, vua ban sắc cho Hữu nhai tăng lục Đạo nguyên tuyển chọn 1000 vị tăng giới hạnh trang nghiêm đến dự lễ. Năm Nhân tông 12 (1134), ngài Tịnh tâm làm Tam trùng đại thống. Năm Nghị tông thứ 2 (1148), ngài Pháp tôn Huyền hi làm Cực thế tăng thống. Năm Cung mẫn vương thứ 5 (1356), ngài Phổ ngu được vua phong làm Vương sư. Đến triều Lí, năm Thế tông thứ 6 (1425), 7 tông của Phật giáo Triều tiên được hợp thành Thiền tông và Giáo tông, bãi bỏ chức quan Tăng lục ti. Năm Tuyên tổ 26 (1592) lại lập chức Tăng thống, chiêu mộ Tăng binh, ngài Tây sơn được cử làm Đô tổng nhiếp và ngài Tùng vân làm Phó tổng nhiếp. Chế độ này được người đời sau tiếp tục sử dụng. Tại Nhật bản, Tăng quan cũng gọi là Tăng cương, chế độ này bắt đầu vào năm Suy cổ thiên hoàng 32 (624), ngài Quán lặc làm Tăng chính, ngài An bộ Đức tích làm Tăng đô, ngài Hà đàm liên làm Pháp đầu. Năm Thiên hoàng Thiên vũ 12 (684), các chức trên được đổi là Tăng chính, Tăng đô, Luật sư..., gọi chung là Tam cương. Tháng 1 năm Thiên bình 17 (745), ngài Hành cơ được cử làm Đại tăng chính. Năm Trinh quán thứ 6 (864), các cấp bậc Tăng quan được xếp theo các Tăng vị: Pháp ấn, Pháp nhãn, Pháp kiều...; Pháp ấn là cấp bậc Tăng chính, Pháp nhãn là cấp Tăng đô, Pháp kiều là cấp Luật sư. Đến đời Túc lợi Nghĩa mãn lại phỏng theo chế độ Tăng quan các đời Đường, Tống của Trung quốc, thiết lập quan chức Tăng lục, cai quản các chùa viện Thiền tông Ngũ sơn, Thập sát. Đến đầu thời Minh trị, chế độ Tăng quan bị bãi bỏ. Năm Minh trị 17 (1884), các tông phái được chính phủ thừa nhận, tự đặt ra tông chế, tự pháp, lập Tăng chính, Tăng đô... để thống lãnh giáo đoàn. [X. Lương cao tăng truyện Q.7, 11, 13; Tỉ khưu ni truyện Q.3; Tục cao tăng truyện Q.9, 10, 23; Tống cao tăng truyện Q.6, 29; Phật tổ thống kí Q.36, 41, 42, 51, 54; Đại thanh hội điển Q.248; Cổ kim đồ thư tập thành thần dịđiển 59, 65].
Tăng quan 僧官
[ja] ソウカン sōkan ||| An administrator of the sangha. See => Vị coi sóc về mặt hành chính của toàn thể tăng đoàn. Xem Tăng cang 僧綱.
tăng sấn
(僧嚫) Sấn, gọi đủ: Đạt sấn (Phạm:Dakwiịà). Hán dịch: Bố thí. Tức chỉ cho phẩm vật cúng dường chúng tăng.
tăng thiên
(僧遷) Cũng gọi Tăngthiều. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Lương thuộc Nam triều, trụ ở chùa An lạc.Năm Thiên giám 14 (515) đời Vũ đế nhà Lương, sư vâng sắc biên tập Hoa lâm Phật điện chúng kinh mục lục 4 quyển. [X. truyện ngài Pháp độ trong Lương cao tăng truyện Q.8; truyện Tăng thiều trong Tục cao tăng truyện Q.5; Lịch đại bảo kỉ Q.11; Thích thị kê cổ lược Q.2].
tăng thuyên
(僧詮) Cũng gọi Chỉ quán thuyên. Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tam luận sống vào đời Lương, Nam triều. Năm Thiên giám 11 (512), vua Lương vũ đế ban sắc cho sư cùng với 9 vị tăng khác như các sư Tăng hoài, Tuệ linh... đến chùa Chỉ quán tại Nhiếp sơn theo ngài Tăng lãng học tập, nghiên cứu nghĩa lí Tam luận, về sau chỉ một mình sư đắc pháp. Bấy giờ, học thuyết luận Thành thực đang thịnh hành ở Giang nam,mà Tam luận thì yếu kém, sư bèn tiếp nối ngài Tăng lãng trụ trì chùa Chỉ quán, chấn hưng học thuyết Tam luận. Vì thế, người đời sau gọi giáo nghĩa Tam luận trước ngài Tăng lãng và Tăng thuyên là Cựu thuyết, sau 2 ngài là Tân thuyết. Hải ấn huyền huyền lục của ngài Minh đạo nói: Trong khoảng thời gian từ ngài Cưu ma la thập đến ngài Cát tạng gồm 7 đời truyền nối, Tam luận có Tân và Cựu khác nhau. Trong đó, từ ngài Trúc đạo sinh đến ngài Đạo lãng (e là Tăng lãng) ở Hà tây dùng giáo nghĩa pháp tướng của ngài La thập để thành lập tông Vô sở đắc; còn từ ngài Tăng thuyên ở Nhiếp lãnh đến ngài Cát tạng thì lập riêng giáo nghĩa pháp tướng để thành lập tông Vô sở đắc. Thuyết trước là Cựu, thuyết sau là Tân. Học trò ngài Tăng thuyên có tới vài trăm vị, trong đó có 4 vị: Pháp lãng, Tuệ bố, Trí biện và Tuệ dũng được gọi là Tăng Thuyên Tứ Hữu, hoặc gọi Tăng Thuyên Môn Hạ Tứ Triết(Bốn người bạn, hoặc 4 người đệ tử hiền trí của ngài Tăng thuyên). [X. Tam luận tổ sư truyện tập; Tục cao tăng truyện Q.7; Bát tông cương yếu Q.hạ; chương 18 trong Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc Triều Phật giáo sử; Nhiếp sơn chi Tam luận tông sử lược khảo (Sử học tạp chí 2 Q.5)].
tăng thuận
(僧順) Cũng gọi Đạo thuận. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy (có thuyết nói sống vào đời Nam Tề), người Bối châu (Thanh hà, Hà bắc), họ Chu. Sư học thông kinh Niết bàn và các kinh khác, từng vào ngục nói pháp cho các người tù nghe. Về sau, sư trụ ở chùa Huyền pháp tại Kinh ấp. Vào đầu đời Đường, sư đến chân núi Li sơn ở Bá châu, thấy một ngôi chùa cổ đã đổ nát, sư liền trùng tu, đặt tên là Tân lương rồi trụ tại đây hoằng pháp. Sư có các tác phẩm: Tích tam phá luận (cũng gọi Đáp đạo sĩ giả xương Trương dung Tam phá luận). [X. Tục cao tăng truyện Q.26; Tùy thiên thai trí giả đại sư biệt truyện; Hoằng minh tập Q.18; Quảng hoằng minh tập Q.2].
Tăng thượng
增上; C: zēngshàng; J: zōjō; S: ādhipatya |Có các nghĩa sau: 1. Làm tăng thêm, gia tăng, phát triển; 2. Cao cấp, ưu thế, vượt trội, tột bực; 3. Chủ yếu, không ngăn ngại.
tăng thượng
Adhipati (S)Tăng cường năng lực giúp các pháp tiến triển mạnhThù thắng
; (增上) Phạm: Aupacayika, adhipati. Thêm lên, tức tăng cường năng lực giúp cho tác dụng tiến triển khiến các pháp lớn mạnh. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1, nếu nói theo tâm tăng thượng thì đó là Tố đát lãm(Kinh); nếu nói theo giới tăng thượng thì đó là Tì nại da(Luật); nếu nói theo tuệ tăng thượng thì đó là A tì đạt ma (Luận). Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 1(bản dịch đời Đường), nói:Tuệ tăng thượng là trí tuệ hướng tới chứng ngộ. Luận Đại tì bà sa quyển 21 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 1... có nêu 3 thứ Tăng thượng: 1. Tự tăng thượng: chỉ cho sức tăng thượng của chính mình tạo ra, như không tạo nghiệp ác thì không bị đọa vào đường ác. 2. Thế tăng thượng: Chỉ cho sức tăng thượng của thế gian, như làm các việc thiện thì được người đời khen ngợi; còn nếu làm các việc độc ác, tàn bạo, thì bị người thế gian nguyền rủa, chê cười. 3. Pháp tăng thượng: Chỉ cho sức tăng thượng của chính pháp, như vì hộ trì chính pháp nên không khởi nghiệp ác, cũng không khiến cho người đời khinh thường và phá hủy chính pháp. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 15 nêu 7 thứ Tăng thượng: 1. Thủ tăng thượng: Năm căn như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân có sức tăng thượng đối với cảnh giới năng thủ. 2. Sinh tăng thượng: Như nam căn, nữ căn có sức tăng thượng đối với việc sinh nở, thụ thai. 3. Trụ tăng thượng: Như mệnh căn có sức tăng thượng đối với sự tồn tại lâu dài của sắc thân. 4. Thụ dụng tạp nhiễm tăng thượng: Nămthụcăn như khổ căn, lạc căn, xả căn... có sức tăng thượng đối với các cảm nhận của thân tâm như thân không vui, tâm vui, thân tâm chẳng phải vui chẳng phải không vui... Đó cũng là sở tùy miên của tham sân si, tức vui là sở tùy miên của tham, khổ là sở tùy miên của sân, không khổ không vui là sở tùy miên của si. 5. Thanh tịnh tăng thượng: Năm căn như tín, tinh tiến, niệm... và 3 căn: Vị tri dục tri, tri, dĩ tri có sức tăng thượng đối với các pháp thanh tịnh thế gian và xuất thế gian. 6. Điền tăng thượng: Cộng nghiệp có sức tăng thượng đối với sự sinh khởi của khí thế gian như núi, sông, đất đai (điền)... 7. Chấp thụ tăng thượng: Bốn đại chủng đất,nước,lửa, gió có sức tăng thượng đối với các sắc pháp được tạo ra như sắc, hương... Trên đây là nói rõ tác dụng của mỗi căn trong 22 căn đều có sức tăng thượng đối với các pháp sở đối(đối tượng) của nó. Ngoài ra, mỗi một pháp đối với sự sinh, trụ của các pháp khác không gây trở ngại, hoặc giúp thêm sức cho thì gọi là Tăng thượng duyên. Quả của nhân năng tác gọi là Tăng thượng quả, còn thánh dục ưa thích đế lí thì gọi là Tăng thượng nhẫn pháp. Sự tăng thịnh của 3 căn bất thiện, gọi là Tăng thượng bất thiện căn. Thế lực của kiến mạnh mẽ bén nhạy, gọi là Kiến tăng thượng; sự tăng thượng của tuệ, gọi là Tuệ tăng thượng. Ngoài ra còn có Trí tăng thượng, Bi tăng thượng, Tín tăng thượng, Niệm tăng thượng, Kiến tăng thượng đạo, Tu tăng thượng đạo... [X. luận Đại tì bà sa Q.18, 54, 61; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.20; luận Hiển dương thánh giáo Q.14].
Tăng thượng duyên
增上縁; C: zēngshàng yuán; J: zōjōen; S: adhipati-pratyaya.|Là 1 trong 4 duyên theo giáo lí của tông Duy thức. Có nghĩa là »nhân duyên liên quan đến sự thiếu vắng hay có mặt của điều kiện cho phép«. Là tất cả mọi nhân duyên góp thêm vào nhân duyên chính để tạo thành sự hiện hữu (hữu lực 有力), cùng những điều kiện dù không góp phần trực tiếp vào nguyên nhân, cũng đều thuộc về tính chất của vô lực (無力). Do vậy, đối với mọi trường hợp, khi một vật sinh khởi, có vô số yếu tố tác động và chi phối. Những yếu tố nầy được gọi là »nguyên nhân vượt qua các điều kiện ảnh hưởng trực tiếp« hoặc Tăng thượng duyên.
tăng thượng duyên
Adhipati-pratyaya (S), Influence of one factor.
; (增上緣) Phạm: Adhipati-pratyaya. I. Tăng Thượng Duyên. Nguyên nhân gián tiếp giúp cho tất cả pháp hữu vi sinh khởi hay kết quả, là 1 trong 4 duyên; nghĩa là bất cứ lực dụng mạnh mẽ nào có khả năng giúp thêm sức cho sự sinh khởi hoặc đưa đến kết quả của các pháp khác thì đều gọi là Tăng thượng duyên. Như 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh sinh ra 6 thức, trong đó có những lực dụng tăng thượng giúp cho các pháp khi sinh khởi không bị ngăn ngại. Cũng như ruộng, phân, nước... đều là Tăng thượng duyên giúp cho lúa mạ phát triển mạnh và kết quả tốt. Tăng thượng duyên được chia làm 2: 1. Dữ lực tăng thượng duyên: Chỉ cho Tăng thượng duyên giúp sức để thành tựu sự sinh khởi của các pháp. 2. Bất chướng tăng thượng duyên: Chỉ cho Tăng thượng duyên không gây trở ngại cho sự sinh khởi của các pháp. Do đó mà biết tất cả muôn pháp trong vũ trụ đều có công năng của duyên này; vì thế ảnh hưởng của Tăng thượng duyên đối với các pháp phổ biến hơn ảnh hưởng của Sở duyên duyên. Tuy nhiên, phạm vi của Tăng thượng duyên cũng có chỗ hạn chế:1. Một vật không thể ảnh hưởnglại chính mình, tức 1 vật không thể là Tăng thượng duyên của bản thân. 2. Pháp hữu vi không thể làm Tăng thượng duyên cho pháp vô vi, đó là vì pháp vô vi vốn là pháp vô sinh, cho nên không nằm trong phạm vi của 4 duyên. [X. luận Du già sư địa Q.52; luận Đại tì bà sa Q.17, 107; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại trí độ Q.31; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối]. (xt. Tứ Duyên). II. Tăng Thượng Duyên. Chỉ cho bản nguyện của đức Phật A di đà, là 1 trong 3 duyên Nhiếp thủ. Tịnh độ giáo lấy bản nguyện của đức Phật A di đà làm duyên tăng thượng giúp thêm cho việc vãng sinh Tịnh độ của chúng sinh.Quán kinh huyền nghĩa phần (Đại 37, 246 trung) nói: Phàm phu mà được vãng sinh đều do nương vào nghiệp lực đại nguyện của đức Phật A di đà làm Tăng thượng duyên. (xt. Nhiếp Thủ).
Tăng thượng duyên 增上縁
[ja]ゾウジョウエン zōjōen||| (adhipati-pratyaya). One of the "four causes" [siyuan 四縁] in Consciousness-only theory. It refers to 'conditions related to the absence or presence of empowerment.' All the causes that aid the main causes of the production of existences [有力], plus the conditions that, though not directly contributing to the cause, are of the nature of 'not impeding' [無力]. Therefore, for all occasions, when one thing is produced, there are various influencing and controlling factors. These are called the 'causes beyond direct empowerment' or 'dominant condition.' 〔攝大乘論 T 1593.31.115c27〕 => (s: adhipati-pratyaya). Là 1 trong bốn duyên theo giáo lý của tông Duy thức. Có nghĩa là “nhân duyên liên quan đến sự thiếu vắng hay có mặt của điều kiên cho phép”. Là tất cả mọi nhân duyên góp thêm vào nhân duyên chính để tạo thành sự hiện hữu (hữu lực 有力), cùng những điều kiện dù không góp phần trực tiếp vào nguyên nhân, cũng đều thuộc về tính chất của vô lực (無力). Do vậy, đối với mọi trường hợp, khi 1 vật sinh khởi, có vô số yếu tố tác động và chi phối. Những yếu tố nầy được gọi là “nguyên nhân vượt qua các điều kiện trực tiếp khr hữu” hoặc Tăng thượng duyên
tăng thượng giới
Adhiśīla (S).
tăng thượng huệ
Xem Tăng huệ học.
Tăng thượng mạn
增上慢; C: zēngshàngmàn; J: sōjōman;|1. Quá tự cao; cực kì kiêu ngạo, quá ngạo mạn (s: adhimāna); 2. Tuyên bố dối trá rằng mìmh đã chứng được chân lí tối hậu và có thần thông; 3. Tự cho rằng mình có đức hạnh lớn trong khi thực không có. Đây là loại thứ 5 trong Thất mạn (七慢).
tăng thượng mạn
Adhimāna (S)Chưa chứng quả mà cho là đã chứng quả.
; Pride, regarding oneself as superior.
; (增上慢) Phạm: Abhi-màna. Tâm ngạo mạn tự cao khởi lên khi chưa chứng được quả vị mà tự cho là đã chứng, là 1 trong 7 mạn nói trong luận Đại tì bà sa quyển 43 và luận Câu xá quyển 19. Luận Pháp hoa cũng nêu 7 thứ tâm Tăng thượng mạn, giải thích rõ ràng và lần lượt phối trí với 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa để đối trị. Đó là: 1. Tâm tăng thượng mạn điên đảo mong cầu các công đức, dùng thí dụ nhà Lửa để đối trị. 2. Tâm tăng thượng mạn Thanh văn quyết định 1 chiều, dùng thí dụ Cùng tử để đối trị. 3. Tâm tăng thượng mạn Đại thừa quyết định 1 chiều, dùng thí dụ Trận mưa để đối trị. 4. Tâm tăng thượng mạn thực không mà nói là có, dùng thí dụ Hóa thành để đối trị. 5. Tâm tăng thượng mạn tán loạn, dùng thí dụ hạt châu buộc trong chéo áo để đối trị. 6. Tâm tăng thượng mạn thực có công đức, dùng thí dụ hạt châu trên đỉnh đầu để đối trị. 7. Tâm tăng thượng mạn thực không có công đức, dùng thí dụ thầy thuốc để đối trị. Ngoài ra, so sánh mình với người khácrồi sinh tâm tự phụ cao ngạo, cũng gọi là Tăng thượng mạn, thông thường gọi đó là Cống cao ngã mạn. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Biện ngũ sự luận Phẩm loại túc Q.1; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Mạn).
Tăng thượng mạn 增上慢
[ja]ソウジョウマン sōjōman ||| (1) Overweening pride; extreme arrogance; full of arrogance (adhimāna). 〔法華經 T 262.9.51a8〕(2) Declaring falsely that one has realized the ultimate truth and is in possession of supernatural abilities. (3) Believing that one has great virtue when one does not. This is the fifth of the seven kinds of pride . => 1. Quá tự cao; cực kỳ kiêu ngạo, quá ngạo mạn (s: adhimāna). 2. Tuyên bố dối trá rằng mìmh đã chứng được chân lý tối hậu và có thần thông. 3. Tự cho rằng mình có đức hạnh lớn trong khi thực không có. Đây là loại thứ năm trong Bảy thứ mạn (Thất mạn 七慢).
Tăng thượng quả
增上果; C: zēngshàng guŏ; J: zōjōka; S: adhipati-phala| Nguyên nhân phụ thuộc đi cùng với nguyên nhân chính được gọi là »tăng thượng duyên«, và kết quả của việc nầy được gọi là Tăng thượng quả.
tăng thượng quả
Adhipati-phala (S), Dominant effect, Fruit of dominant effect.Một trong ngũ chủng quả (đẳng lưu, dị thục, ly hệ, sĩ dụng, tăng thượng quả).
; Adhipatiphala (S). Dominant fruition.
; (增上果) Phạm: Adhipati-phala. Quả được sinh ra do sức tăng thượng của nhân Năng tác, là 1 trong 5 quả. Vì đây là kết quả hoạt động của nhiều nhân nên cũng gọi là Cộng quả. Trong nhiều trường hợp, Tăng thượng quả là quả của Sở duyên duyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên, vì 3 duyên này đều thuộc về Năng tác nhân. Như nhãn căn nương vào Tăng thượng duyên mà sinh ra nhãn thức thì nhãn thức này thuộc về Tăng thượng quả. Còn Năng tác nhân là gọi chung các nhân khác không có quan hệ trực tiếp đối với kết quả. Luận Câu xá quyển 6 (Đại 29, 35 thượng) nói: Vì không chướng ngại nên gọi là Tăng thượng, hoặc Năng tác nhân cũng có sức thù thắng, như 10 xứ giới đối với 5 thức thân, nghiệp của các hữu tình đối với khí thế giới, tai... đối với sự phát sinh của nhãn thức đều có sức đắp đổi tăng thượng, vì nghe rồi liền sinh tâm muốn trông thấy. Theo thuyết trên đây của luận Câu xá thì Năng tác nhân chỉ ở chỗ không chướng ngại, nếu giúp thêm sức thì quả đạt được sẽ là Tăng thượng quả. Lại nữa, thể của Năng tác nhân và Tăng thượng quả có rộng hẹp khác nhau. Vì Năng tác nhân trụ nơi không chướng ngại; bao nhiếp tất cả pháp hữu vi, vô vi, cho nên thể của nó rộng. Còn Tăng thượng quả thì thuộc về pháp nhân quả, chỉ bao hàm pháp hữu vi, cho nên thể của nó hẹp. Luận Đại tì bà sa quyển 21 (Đại 27, 107 trung) nói: Năng tác nhân nhiều, Tăng thượng quả ít, vì Năng tác nhân bao hàm tất cả pháp hữu vi và vô vi, còn Tăng thượng quả thì chỉ bao hàm pháphữuvi. [X. luận Du già sư địa Q.5; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Thành duy thức Q.8].
Tăng thượng quả 增上果
[ja]ゾウジョウカ zōjōka||| (adhipati-phala); 'dominant effects.' The secondary causes that work with the main cause are called "dominant conditions", and the results of these are called dominant effects. => Nguyên nhân phụ thuộc đi cùng với nguyên nhân chính được gọi là “tăng thượng duyên”, và kết quả của việc nầy được gọi là Tăng thượng quả.
tăng thượng tâm
Adhi-citta (S)Xem Tăng tâm học.
; (增上心) I. Tăng Thượng Tâm. Tâm tăng tiến hướng thượng, có lực dụng mạnh mẽ. Kinh Viên giác (Đại 17, 916 hạ) nói: Nếu tất cả chúng sinh trong đời mạt pháp phát khởi tâm tăng thượng nơi Đại viên giác thì sẽ phát đại nguyện thanh tịnh của Bồ tát. II. Tăng Thượng Tâm. Chỉ cho tâm thiền định, tức tâm định có sức tăng thượng đạt được do ngăn dứt các ý nghĩ xấu ác. Kinh Tăng thượng tâm trong Trung a hàm quyển 25 (Đại 1, 588 thượng) nói: Nếu tỉ khưu muốn được tâm tăng thượng thì nên luôn luôn nhớ nghĩ 5 tướng, vì thường nghĩ về 5 tướng thì niệm ác đã sinh liền diệt; niệm ác diệt rồi thì tâm thường an trụ, tâm thái vắng lặng, nhất ý được định. Kinh Hoàng lô viên trong Trung a hàm quyển 40 nói: Chứng được Đệ nhất tăng thượng tâm gọi là Sơ thiền; chứng được Đệ nhị tăng thượng tâm cho đến Đệ tứ tăng thượng tâm thì lần lượt gọi là Đệ nhị cho đến Đệ tứ thiền. III. Tăng Thượng Tâm. Cũng gọi Tăng thượng tâm học. Chỉ cho Định học, 1 trong 3 học. Định có sức tăng thượng sẽ làm cho tâm tăng tiến.[X. luận Câu xá Q.28].
tăng thượng tâm học
Adhicitta-sikkha (S).
; (增上心學) Phạm:Adhicitta-zikwà. Pàli: Adhicitta-sikkhà. Chỉ cho Định học, vì định là môn học có thế lực tăng thượng giúp cho tâm tăng tiến nên gọi là Tăng thượng tâm học. Tu định có công năng thu nhiếp tán loạn, khiến tâm chuyên chú vào một đối tượng, xa lìa dục vọng tà ác, hướng tới kiến tính ngộđạo. Luận Câu xá quyển 28 (Đại 29, 145 trung) ghi: Có Luận sư nói rằng khi tâm chuyên chú vào một cảnh mà giữ được liên tục thì gọi là Tam ma địa. Khế kinh nói đó là Tăng thượng tâm học, tâm thanh tịnh tối thắng, tức là Tứ tĩnh lự. [X. luận Tập dị môn túc Q.5].
tăng thượng tâm kinh
Xem Kinh An trú tầm.
; Vitakkasanthàba-suttam (P).
Tăng Thượng Tự
(增上寺, Zōjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông, hiện tọa lạc tại Shibakōen (芝公園), Minato-ku (港區), Kyōto-to (東京都); hiệu núi là Tam Duyên Sơn (三緣山); tên chính thức là Tam Duyên Sơn Quảng Độ Viện Tăng Thượng Tự (三緣山廣度院增上寺), là ngôi chùa nổi tiếng ở thủ đô Kyoto. Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Về vấn đề khai sáng của chùa, hiện vẫn còn nhiều điểm chưa rõ lắm, nhưng theo truyền ký thì chùa chính là hậu thân của Quang Minh Tự (光明寺) ở Thôn Bối Trũng (貝塚村); và người ta cho rằng Tông Duệ (宗睿) là người khai sơn ra chùa này. Theo như cuốn Ngọc Chi Lộ (玉枝露) của Kinh Lịch Hòa Thượng (經歷和尚), chùa này xưa kia vốn là tự viện của Chơn Ngôn Tông, là nơi thường dừng chân của Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji). Theo ký lục của chùa, điều rõ ràng nhất đó là bắt đầu từ thời của Nguyên Dự (源譽), vị Tổ đời thứ 7 kể từ Tây Dự (西譽) trở đi. Vào năm 1590, khi Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) vào thành Giang Hộ thì cùng lúc đó đến tham bái Tăng Thượng Tự này, ông được Tồn Ứng Thượng Nhân (存應上人) chỉ cho pháp môn Thập Niệm. Từ đó mối quan hệ giữa chùa này với dòng họ tướng quân càng khắng khít, và đó cũng là đích điểm xuất phát sự phát triển của chùa này. Thế lực cũng như tài lực của chùa trong thời kỳ này có thể nói là rất mạnh và phong phú. Qua sự hưng thạnh của chùa này mà các tự viện trên toàn quốc cũng dần dần đặt nặng đến thế lực chính trị. Vào trong khoảng niên hiệu Nguyên Lộc (元祿, 1688-1704), vâng mệnh của chính quyền Mạc Phủ vị Quán Thủ của chùa thì được bổ nhiệm là chức Đại Tăng Chánh. Điều này đã làm cho ngôi chùa Tổng Bản Sơn Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở Kyoto rất khó xử, vì lẽ đó mà thỉnh thoảng xảy ra những cuộc tranh chấp về chức vị. Ngôi chùa Tăng Thượng Tự này đã cùng với cấu trúc của Thành Giang Hộ, được dời về vị trí hiện tại, và trở thành một điểm trọng yếu trong Nội Phủ Thành Giang Hộ vậy. Chủ yếu ngôi chùa này đã phát triển rực rỡ nhờ mối quan hệ mật thiết với chính quyền Mạc Phủ của dòng họ Đức Xuyên (德川, Tokugawa), và được sự ngoại hộ phong phú của chính quyền Mạc Phủ cũng như Hoàng Thất. Nhưng đến cuối thời Minh Trị Duy Tân (明治維新, 1868) thì quyền lực ấy dần dần yếu hẳn đi, rồi trong khuôn viên chùa có 48 ngôi chùa con cũng từ từ sát nhập lại với nhau, và đến thời kỳ Chiêu Hòa (昭和, Shōwa) thì chỉ còn đếm được 20 ngôi chùa con mà thôi. Thời đại thay đổi và khuôn viên trong chùa cũng có những biến chuyển, trong chùa hiện tại có công viên, trường học, sở hành chính, vì thế hình dáng ngày xưa của chùa không còn được nguyên vẹn nữa.
tăng thượng tự
(增上寺) Chùa ở công viên Đô chi tại Đông kinh (Tokyo), Nhật bản, là 1 trong 7 Đại bản sơn của tông Tịnh độ, hiệu là Tam duyên sơn Quảng độ viện. Chùa này vốn thuộc về tông Cổ nghĩa chân ngôn, nhưng vào tháng 12 năm Minh đức thứ 4 (1393, có thuyết nói năm Chí đức thứ 2– 1385) đổi sang tông Tịnh độ, lấy tên chùa như hiện nay, đồng thời, tôn ngài Thánh tông làm Tổ khai sơn. Niên hiệu Ứng vĩnh năm đầu (1394), gia đình Thiên diệp Tá trúc cúng dường pháp khí, ruộng vườn, rừng cây... nên chùa được sửa sang mở rộng. Thời Đức xuyên Gia khang, chùa được đổi làm Bồ đề sở (Từ đường) và dời về địa chỉ hiện nay, vì được Mạc phủ bảo hộ nên được đặt ngang hàng với chùa Khoan vĩnh, đứng đầu 18 chùa ở Quan đông. Sau, chùa nhiều lần bị thiêu hủy, tái thiết, đến cuối thời Đức xuyên vẫn còn hơn 2.800 vị tăng cư trú. Sau thời Minh trị Duy tân, Mạc phủ bị sụp đổ, chùa Tăng thượng cũng theo đó mà suy vi. Trong chùa hiện còn cất giữ Pháp nhiên thượng nhân truyện 2 quyển, in trên giấy màu, Đại tạng kinh (bản đời Tống của Trung quốc) gồm 5356 tập, 5847 quyển, Đại tạng kinh (bản đời Nguyên) gồm 5386 tập, 5931 quyển, Đại tạng kinh (bản Cao li) gồm 1259 tập, 6531 quyển, tất cả đều là quốc bảo của Nhật bản.
Tăng thượng 增上
[ja]ゾウジョウ zōjō ||| (ādhipatya). (1) To accelerate, increase, develop. (2) Superior, dominant, surpassing, extreme. (3) Mainly; unimpededly. Unimpeding. =>(s: ādhipatya) Có các nghĩa sau: 1. Làm tăng thêm, gia tăng, phát triển. 2. Ở chỗ cao hơn, có ưu thế hơn, vượt trội, tột bực. 3. Chủ yếu, không ngăn ngại.
Tăng thạnh
增盛; C: zēngshèng; J: sōjō; S : udrika; P: vuddhi |Gia tăng, mở rộng, phát triển, đạt được bằng quyền lực, mãnh liệt.
Tăng thạnh 增盛
[ja]ソウジョウ sōjō ||| To increase, enlarge, develop, gain in power, be energized. (Skt. udrika; Pali vuddhi) 〔二障義HPC 1.797a〕 => (Skt. udrika; Pali vuddhi) Gia tăng, mở rộng, phát triển, đạt được bằng quyền lực, mãnh liệt.
tăng thọ ích toán
(增壽益算) Đối lại: Giảm thọ đoạt toán. Tăng thêmtuổi thọ nhờ làm các việc phúc thiện. Cứ theo kinh Tứ thiên vương thì 4 vị Thiên vương, Thái tử, sứ giả... của trời Đế thích, hàng tháng vào 6 ngày trai xuống tuần tra nhân gian, xem xét các việcthiện ác của con người, rồi trở về tâu trình với Đế thích.Trời Đế thích sẽ tăng thêm tuổi thọ,(tăng thọ ích toán) và sai các thiện thần che chở cho những người qui y Tam bảo, giữ tâm trai giới thanh tịnh. Tư tưởng về các vị thần xem xét việc thiện ác của người thế gian rồi tăng hay giảm tuổi thọ vốn do Đạo gia đề xướng. Còn thuyết Tứ thiên vương đi tuần tra nhân gian thì có thấy trong kinh Trường a hàm quyển 22, nhưng trong đó không có việc thêm hoặc bớt tuổi thọ. Có thuyết cho rằng quan niệm Tăng thọ ích toán là do người đời sau do chịu ảnh hưởng tư tưởng Bão phác tử của Đạo gia mà thêm vào.[X. kinh Tam phẩm đệ tử; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh Tịnh độ tam muội; kinh Phổ hiền Bồ tát diên mệnh kim cương tối thắng đà la ni; kinh Hộ mệnh pháp môn thần chú; kinh Thọ mệnh; Kim cương thọ mệnh niệm tụng pháp; Bão phác tử nội thiên 6].
tăng thống
Saṅgharāja (P), Saṃgharāja (S).
; Samgharàja (S). Chief of the Buddhist clergy in a country. Supreme Patriarch of the Sangha Council.
; (僧統) Cũng gọi Sa môn thống, Đạo nhân thống, Đô thống, Chiêu huyền thống. Chức quan Tăng được thiết lập vào thời Bắc Ngụy của Trung quốc để thống lãnh tăng ni trong cả nước. Cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển trung, vua Diêu hưng (trị vì 393-416) đời Hậu Tần đầu tiên đặt ra quan Tăng, gọi là Tăng chính. Khoảng năm Hoàng thủy (396- 397) đời Bắc Ngụy, ngài Pháp quả ở Triệu quận được cử làm Sa môn thống. Còn theo Ngụy thư thích lão chí thì khoảng năm Hoàng thủy (396-397), sau khi vua Văn thành đế nhà Bắc Ngụy phục hưng Phật pháp, vào niên hiệu Hưng an năm đầu (452), vua ban sắc cử sa môn Sư hiền, người nước Kế tân, làm Tăng thống đầu tiên lãnh chúng tăng, còn gọi là Đạo nhân thống; không bao lâu, đổi lại là Sa môn thống và ngài Đàm diệu được bổ nhiệm vào chức vụ này, cũng gọi là Chiêu huyền sa môn đô thống. Từ đó về sau, chức này thường được gọi là Chiêu huyền thống. Đến thời Đông Ngụy thì Chiêu huyền thống được gọi là Quốc thống. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (550), vua Văn tuyên nhà Bắc Tề ban sắc thiết lập Chiêu huyền thập thống, sa môn Pháp thượng được cử đứng đầu Thập thống, gọi là Chiêu huyền Đại thống, còn 9 vị kia gọi là Thông thống, lãnh đạo 400.000 tăng ni. Niên hiệu Khai hoàng năm đầu (581), vua Văn đế nhà Tùy ban sắc bổ nhiệm ngài Tăng mãnh làm Tùy quốc Đại thống và lập các chức Chiêu huyền thống... Từ đời Đường về sau, thiết lập Tăng lục làm cơ cấu Tăng quan. [X. Tùy thư bách quan chí 22, 27]. (xt. Chiêu Huyền Tự, Tăng Quan).
tăng thụy
(僧諡) Tên hiệu truy tặng vị tăng đã thị tịch. Thông thường y cứ vào hành vi và đức hạnh của vị tăng ấy lúc còn sống để đặt tên hiệu, nhằm khuyến thiện và tán dương. Cứ theo Hoằng minh tập quyển 2, khi ngài Pháp quả(vốn là Sa môn thống) thời vua Thái tổ nhà Hậu Ngụy thị tịch được truy tặng danh hiệu Lão Thọ Tướng Quân Triệu Hồ Linh Công; đây là vị tăng đầu tiên được ban tặng thụy hiệu.
tăng thứ
In order of monastic age, according to years of ordination.
; (僧次) Chỗ ngồi của chúng tăng được sắp xếp theo thứ tự giới lạp(tuổi hạ) được tính từ năm thụ giới Cụ túc. Cứ theo kinh Phạm võng quyển hạ, Phật tử nên ngồi theo thứ tự đúng như pháp, người thụ giới trước ngồi trước, người thụ giới sau ngồi sau, chứ không phân biệt già trẻ, tỉ khưu ni, người sang, quốc vương, vương tử, cho đến hàng hoàng môn, nô tì... Ngoài ra, pháp cúng dường có chia ra Tăng thứ và Biệt thỉnh. Thí chủ không lựa chọn, chỉ theo thứ tự tăng vị mà cúng dường, gọi là Tăng thứ; còn nếu lựa chọn 1 vị nào đó trong chúng tăng mà mời thỉnh để cúng dường riêng thì gọi là Biệt thỉnh. [X. Trai tăng nghi trong Thiền uyển thanh qui].
Tăng tiến
增進; C: zēngjìn; J: zōshin; |Mở rộng và phát triển; phát triển và thăng tiến; gia tốc.
Tăng tiến 增進
[ja]ゾウシン zōshin||| To enlarge and develop; grow and advance; to accelerate. => Mở rộng và phát triển; phát triển và thăng tiến; tăng nhanh hơn.
tăng triệt
(僧徹) Cao tăng Trung quốc sống vào cuối đời Đường. Sư thông minh từ thủa nhỏ, nhân ngưỡng mộ Quốc sư Ngộ đạt Tri huyền nên xin theo làm thị giả. Ngài Tri huyền thường phó chúc cho sư diễn giảng các trứ tác của ngài, nên sư soạn nhiều sách chú giải. Lúc đầu, sư trụ chùa Pháp càn, rất được các quan kính ngưỡng, sau sư giữ chức Tả hữu nhai ứng chế. Hàng năm, vào ngày sinh của vua, sư đến giảng thuyết ở điện Lân đức, được ban cho ca sa đỏ. Sư cũng từng biện luận để phá các quan điểm sai lầm của các đạo sĩ đối với Phật giáo nên được vua ban hiệu Tịnh Quang Đại Sư. Sư có các tác phẩm: Pháp giám(chú giải Như lai tạng kinh sớ), 4 quyển, Pháp đăng (chú giải Đại vô lượng thọ kinh sớ), 2 quyển, Pháp uyển(chú giải Thắng man kinh sớ), 10 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42, Phật tổ lịch đại thông tải Q.24; Tống cao tăng truyện Q.6; Đại tống tăng sử lược Q.trung, hạ].
Tăng Triệu
(僧肇, Sōjō, 384-414?): một trong Tứ Triết của La Thập, học tăng sống dưới thời Hậu Tần, đã từng theo hầu hạ và học với Cưu Ma La Thập (鳩摩羅什), rất thiên tài nhưng lại chết sớm. Ông rất thích tư tưởng Lão Trang, nhưng sau khi đọc Kinh Duy Ma do Chi Khiêm (支謙) dịch, ông quy đầu theo Phật pháp. Ông đến vùng Cô Tàng (姑藏) thuộc Kinh Châu để yết kiến La Thập, trở thành môn hạ và đã từng giúp vị này trong việc dịch kinh ở Trường An. Một số trước tác được xem như là của ông gồm có Bát Nhã Vô Tri Luận (般若無知論), Vật Bất Thiên Luận (物不遷論), Bất Chơn Không Luận (不眞空論), Niết Bàn Vô Danh Luận (涅槃無名論), v.v. và chúng được gọi chung là Triệu Luận. Chính các tư tưởng Bát Nhã, Không, Niết Bàn của ông thông qua mấy bộ luận này đã thể hiện lối tư duy độc đáo của người Trung Hoa, và mở ra một phương hướng mang tính quyết định cho Phật Giáo Trung Hoa.
; 僧肇; C: sēngzhào; J: sōjō; 374 hoặc 378-414;|Cao tăng của Tam luận tông, một dạng Trung quán tông truyền từ Ấn Ðộ qua Trung Quốc. Có thể nói rằng, Sư là luận sư xuất sắc nhất của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ năm và cũng là người đầu tiên trong Phật giáo Trung Quốc nắm vững và trình bày hoàn hảo giáo lí tính Không của Long Thụ. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Triệu luận (肇論) và Bảo tạng luận (寶藏論). Sư cũng soạn bài tựa cho kinh Duy-ma-cật, bài tựa cho kinh Trường A-hàm, bài tựa cho Bách luận.|Sư là người Kinh Triệu, xuất thân từ một gia đình nghèo. Sư có nghề viết mướn nên có điều kiện đọc rất nhiều sách và rất chú tâm đến các lời dạy của hai vị Lão Tử, Trang Tử. Sau khi nghiên cứu kĩ quyển Ðạo đức kinh của Lão Tử, Sư tự than: »Hay thì hay lắm nhưng còn trụ nơi hư vô, chưa đến chỗ tột cùng.« Sau khi đọc được kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) – bản dịch của Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) – Sư hoan hỉ nói: »Nay mới biết được chỗ về!« Sư nhân đây phát tâm xuất gia, trở thành tăng sĩ và đến với Cưu-ma-la-thập tại Cô Tàng, xin được theo học ý chỉ. Sau khi Cưu-ma-la-thập dời về Trường An, Sư cũng theo thầy về đó để phụ giúp trong việc dịch thuật. Nơi Cưu-ma-la-thập, Sư ngộ được giáo lí Trung đạo, giáo lí tính Không của Long Thụ. |Sư nổi tiếng với tính cách của một tư tưởng gia và văn sĩ là nhờ bốn quyển sách, gọi chung lại là Triệu luận (肇論), bao gồm: Bát-nhã vô tri luận (般若無知論), Bất chân không luận (不真空論), Vật bất thiên luận (物不遷論) và Niết-bàn vô danh luận (涅槃無名論). Trong đó, Sư nêu tính thống nhất của tương đối và tuyệt đối, của hiện tượng và bản thể, chúng vừa không rời nhau, vừa đối nghịch nhau. Tác phẩm của Sư hết sức uyên bác và có trình độ văn chương cao, là những tổng hợp thật sự của tư tưởng Trung Quốc và Ấn Ðộ. Sau khi đọc luận Bát-nhã vô tri, Cưu-ma-la-thập bảo Sư: »Kiến giải ta không hơn ông, vậy nên kính trọng nhau vậy.« Khi bài luận này đến tay Huệ Viễn – Khai tổ của Tịnh độ tông – Huệ Viễn chỉ biết thốt lên: »Chưa từng có!«|Trong luận Vật bất thiên, Tăng Triệu quan niệm rằng, tính »bất biến« của sự vật được biểu lộ bằng: cái đã qua không hề »bất động« và đồng nhất với cái đang là, đồng thời, cái đã qua cũng chẳng vận động để trở thành cái đang là. Theo Sư, vừa không có động cũng chẳng có bất động. Sư viết như sau (bản dịch của Thích Duy Lực): |»… Thật đáng thương xót! Ðã biết vật xưa chẳng đến mà lại nói vật nay có đi; vật xưa đã chẳng đến mà vật nay làm sao đi được? Tại sao? Tìm vật xưa nơi xưa, xưa chưa từng không; tìm vật xưa nơi nay, nay chưa từng có. Nay chưa từng có thì rõ ràng không đến; xưa chưa từng không, nên biết vật chẳng đi…«|Sư nhấn mạnh rằng, Thánh nhân lúc nào cũng sống trong thật tại, hiện tại, sống theo nhịp sống của thời gian nên chính vì vậy, họ thoát khỏi vòng ảnh hưởng, trói buộc của thời gian, ở ngay trong thiên hình vạn trạng mà không bị chúng lay động, ở ngay trong động mà không thấy nó động. Việc gì có giá trị cho hiện tại thì nó chỉ có giá trị cho hiện tại, việc gì có giá trị cho ngày hôm qua thì nó chỉ có giá trị cho ngày hôm qua. Người ta không nên so sánh phân biệt những gì đã xảy ra với những việc đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra. Trong trường hợp này, người châu Âu thường sử dụng một câu rất hay là »Ðó chỉ là tuyết của ngày hôm qua« (bởi vì hôm nay tuyết đã tan và trở về với mây khói). Ðể nhấn mạnh điều này, Sư dẫn một ví dụ của một nhân vật xưa tên Phạn Chí. Phạn Chí tuổi trẻ xuất gia, đến lúc đầu bạc trở về thì các người láng giềng trầm trồ: »Người xưa còn sống sao?« Phạn Chí đáp: »Tôi giống người xưa mà chẳng phải người xưa ấy.« Hàng xóm nghe không hội cho rằng ông nói sai.|Về tính Không (s: śūnyatā), Sư cho rằng sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại: tất cả đều phụ thuộc lẫn nhau, một khi nguyên nhân của sự vật mất đi thì sự vật cũng hết tồn tại. Ðối với Sư, trình hiện tồn tại tương tự như một hình ảnh ảo thuật, hình ảnh đó không thật, nhưng có trình hiện tồn tại – trên bình diện ảo thuật – cho nên cũng không thể nói nó không tồn tại.|Trong luận Bát-nhã vô tri – luận quan trọng nhất trong bốn bộ luận – Sư cho rằng Bát-nhã là loại trí mà trong đó, cái tuyệt đối chính là đối tượng nhận thức. Nhưng, cái tuyệt đối lại trống rỗng và phi tính chất nên cái tuyệt đối không thể trở thành đối tượng nhận thức. Thế nhưng cái tuyệt đối đó lại là bản thể của mọi sự vật. Vì vậy, một Thánh nhân vừa an trụ trong Không tính và Vô vi, nhưng vừa lại nằm trong lĩnh vực của hành động (Bất hành nhi hành). Nguyên văn:|»Lại sự chiếu dụng của Bát nhã không cần tác ý cho nên chân tâm của bậc thánh nếu trống rỗng trong sạch được chừng nào thì sự chiếu dụng đầy đủ chừng ấy, do đó suốt ngày tri (biết) mà chưa từng tri vậy. Thật lí chứng bên trong, ánh sáng tiềm ẩn mà quyền trí luôn luôn hiện ra sự ứng cơ hoá độ bên ngoài. Vì vô tri nên tâm được trống rỗng, tự nhiên đạt đến chiếu soi nhiệm mầu, lấp bít tâm trí thông minh mà sự độc giác lại âm thầm cùng khắp nơi, thành ra chẳng có chỗ bất tri là nghĩa đây vậy.«|Triệu luận đã có ảnh hưởng rất nhiều trong nền Phật giáo Trung Quốc, ngay cả Thiền tông, một môn phái không chú trọng nhiều đến văn tự. Tương truyền rằng, khi đọc luận Niết-bàn vô danh – đến chỗ »Bậc chí nhân trống rỗng vô hình mà vạn vật đều do tâm tạo. Ngộ được vạn vật đều quy về tự kỉ, ấy chỉ có bậc Thánh mới chứng được«, Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên bỗng nhiên có ngộ nhập, cao hứng tự vỗ bàn nói to: »Thánh nhân chẳng có cái ta (Ngã) bởi vì tất cả chính là ta. Còn gì để mà phân biệt ta và người!« Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích cũng đã nghiên cứu kĩ bộ luận này trước khi đến và ngộ chân lí nơi La-hán Quế Sâm. |Với Tăng Triệu, Ðại thừa hệ phái Trung quán đã đứng vững và đã mang một sắc thái riêng biệt của Trung Quốc – nhưng hoàn toàn không kém đẳng cấp cũ tại Ấn Ðộ với những Ðại luận sư như Long Thụ, Thánh Thiên.
tăng triệu
Shengzhao (C), Seng-chao (C), Shengzhao (C)(374/378-414) Thuộc trường phái Tam luận trong hệ Trung luận ở Trung quốc.
; (僧肇) (384-414) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đông Tấn, người ở Trường an, Thiểm tây, họ Trương. Thủa nhỏ, nhà nghèo nên sư phải làm nghề viết thuê, nhờ thế mà được xem nhiều kinh sử. Mới đầu, sư hâm mộ Lão Trang, sau nhân đọc kinh Duy ma mà khai ngộ, liền xuất gia. Sư học thông cả 3 tạng nhưng đặc biệt giỏi các kinh Đại thừa phương đẳng, kiến thức sâu xa lại có tài biện luận nên chỉ mới 20 tuổi mà tiếng tăm đã lừng lẫy ở Quan trung. Khi nghe tin ngài Cưu ma la thập đang ở đất Lương, sư liền đến theo học, được ngài La thập khen là bậc kì tài. Đến khi nhà Diêu Tần phá Lương châu rước được ngài La thập thì sư theo ngài về Trường an. Vâng mệnh vua Diêu hưng, sư cùng với ngài Tăng duệ... ở trong vườn Tiêu dao định rõ các kinh luận, từ đó sự ngộ giải của sư càng sâu nên được khen là Giải không đệ nhất. Năm Hoằng thủy thứ 6 (404), ngài La thập dịch kinh Đại phẩm bát nhã, sư soạn Bát nhã vô tri luận, được ngài Cưu ma la thập và ngài Tuệ viễn rất tán thưởng. Tiếc thay, năm Nghĩa hi thứ 10 (414), sư thị tịch, hưởng dương 31 tuổi (Hiện nay có học giả suy đoán sư sinh vào năm Ninh khang thứ 2 (374) đời vua Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn). Sư có các tác phẩm: Tông bản nghĩa, Vật bất thiên, Bất chân không, Bát nhã vô tri, Niết bàn vô danh(tất cả luận trên được người đời sau thu vào một tập, đề chung là Triệu luận). Ngoài ra còn có: Chú duy ma cật kinh 10 quyển, Bảo tạng luận 1 quyển, bài tựa kinh Duy ma cật, bài tựa kinh Trường a hàm, bài tựa Bách luận. Nhưng luận Bảo tạng thực ra là do người đời sau ngụy tạo rồi mượn tên sư chứ chẳng phải do chính sư soạn. Về trứ tác của ngài Tăng triệu, các bộ Xuất tam tạng kí tập quyển 12, Đông vực truyền đăng mục lục, Tăng bổ chư tông chương sớ lục, Pháp hoa huyền luận quyển 2... đều nói khác nhau.
Tăng Triệu 僧肇
[ja] ソウジョウ Sōjō ||| Sengzhao (384-414?) A scholar-monk of the latter Ch'in. A student of Kumārajīva 鳩摩羅什, he was considered to be a genius who died prematurely. Originally a student of Taoism, he was converted to Buddhism upon reading the Vimalakīrti-sūtra 維摩經. As a student of Kumārajīva, he worked with him on his translation projects, but he also wrote a number of his own treatises on topics such as prajñā, emptiness and nirvāna, the most well-known being the Zhao lun 肇論 and the Baocang lun 寶藏論, and also composed prefaces to the Vimalakīrti-sūtra 維摩詰經序、Longer Āgama Sutra 長阿含經序, and the Bai lun 百論序. => j: Sōjō; c: Sengzhao (384-414?). Cao Tăng học giả đời Hậu Tấn , Trung Hoa. Sư là môn đệ của Ngài Cưu-ma-la-thập (s: Kumārajīva ). Sư được xem là một thiên tài trẻ tuổi. Xuất thân là môn đệ của Lão giáo, Sư chuyển sang Phật giáo nhân đọc Kinh Duy-ma-cật (s: Vimalakīrti-sūtra). Là môn đệ của Ngài Cưu-ma-la-thập, Sư cộng tác với Ngài trong chương trình dịch thuật và viết riêng một số luận giải về các đề tài Bát-nhã, Tính không và Niết-bàn, tác phẩm nổi tiếng nhất là Triệu Luận 肇論 và Bảo Tạng Luận 寶藏論, và Sư cũng soạn bài tựa cho Kinh Duy-ma-cật ( Duy-ma-cật kinh tự 維摩詰經序), bài tựa cho Kinh Trường kinh A-hàm (Trường A-hàm kinh tự 長阿含經序), bài tựa cho Bách Luận (百論序 Bách luận tự)
tăng truyện bài vận
(僧傳排韵) Sách dẫn, 108 quyển, do ngài Nghiêu thứ (1640-1695) người Nhật biên soạn từ năm 1673 đến năm 1680 mới hoàn thành, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 99, 100. Đây là bộ sách dẫn tương đương với các tăng truyện của Trung quốc. Nội dung y cứ theo thứ tự 108 vần mà chỉnh lí, sắp xếp tên các vị tăng được nêu trong các bộ Tăng truyện của Trung quốc, đồng thời ghi lược truyện của các vị tăng và xuất xứ của Tăng truyện được trích dẫn. Trong 103 quyển trước, phía dưới tên húy, hiệu và tự của các vị cao tăng Trung quốc, nêu thứ tự vần, ở dưới tên húy ghi lược truyện của các vị và xuất xứ bộ Tăng truyện. Quyển 104 thì tựa đề viết bằng tiếng Phạm, căn cứ vào thời đại mà liệt kê tên phiên âm của các vị tăng đến từ Ấn độ, Tây vực... Bốn quyển cuối cùng đề là Thất danh(mất tên), tức liệt kê các vị cao tăng Trung quốc mà tên họ đã bị thất lạc, chỉ dựa vào địa danh nơi các vị cư trú, trích lấy một chữ đầu rồi y theo thứ tự của vần mà ghi chép. Đầu quyển có lời tựa, phàm lệ, thư mục trích dẫn và mục lục.
tăng trù
(僧稠) (480-560) Thiền sư Trung quốc sống vào thời Bắc Tề, người ở Cự lộc, tỉnh Hà bắc, họ Tôn. Sư học rộng nghe nhiều, thông suốt kinh sử, năm 28 tuổi, được mời làm Thái học bác sĩ, nhưng không bao lâu sư xuất gia, theo Thiền sư Đạo phòng tu tập Chỉ quán, học pháp Tứ niệm xứ trong phẩm Thánh hạnh của kinh Niết bàn, rồi lại theo Thiền sư Đạo minh tu tập 16 pháp đặc thắng. Sau, sư tham yếtThiền sư Bạt đà ở chùa Thiếu lâm tại Tung sơn, trình chỗ chứng ngộ của mình. Ngài Bạt đà nói (Đại 50, 553 hạ): Từ dãy Thông lãnh trở về phía đông, Thiền học bậc nhất, chính là ông đó!. Vua Minh đế nhà Bắc Ngụy 3 lần triệu thỉnh, sư đều từ chối. Sau, sư tu Thiền ở núi Tây vương ốc và núi Thanh la. Trong Thiền tông, Thiền pháp của sư thuộc Tiểu thừa thiền, được xếp ngang hàng với Thiền đại thừa của ngài Bồ đề đạt ma. Sư hoằng truyền pháp Tứ niệm xứ rất đặc sắc. Niên hiệu Vĩnh hi năm đầu (532), vua Hiếu vũ đế nhà Bắc Ngụy xây cất Thiền tự trong núi Mã đầu tại Hoài châu thỉnh sư trụ trì. Khoảng năm Thiên bảo (550-559) đời Bắc Tề, vua Văn tuyên đế xây chùa Vân môn ở Nghiệp đô quyết thỉnh sư trụ trì, đồng thời, ban sắc cho sư kiêm chủ trì chùa Thạch quật. Từ vua quan đến thứ dân đều kính sư như bậc Thánh, tôn là Đại Thiền Sư. Đồ chúng đến tham học lúc nào cũng có tới hơn nghìn người. Sư xin vua xây cất Thiền tự tại các châu quận trong nước để giáo hóa hậu học, nhờ đó, Thiền pháp rất thịnh ở miền Bắc. Tháng 4 niên hiệu Càn minh năm đầu (560), sư không bệnh mà an nhiên ngồi thị tịch, thọ 81 tuổi. Sư có tác phẩm: Chỉ quán pháp 2 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.16].
Tăng trưởng
增長; C: zēngzhăng; J: zōjō;|Có các nghĩa sau: 1. Gia tăng, mở rộng, nới rộng ra (s: vṛddhi); 2. Tăng cường, củng cố, phát triển; 3. Làm phấn chấn; 4. Trở nên khá hơn hay chiềm ưu thế hơn; 5. Nhân duyên để hoàn tất nghiệp báo; 6. Đưa ra, dẫn đến, làm nổi bật; 7. Sự đề cao ảnh hưởng và thế lực, do vậy, cao mạn.
tăng trưởng nghiệp
(增長業) I. Tăng Trưởng Nghiệp. Đối lại: Bất tăng trưởng nghiệp. Chỉ cho những nghiệp ác được tạo tác một cách cố ý, tức những nghiệp làm xong rồi, người tạo nghiệp không hề có một chút hối hận, chẳng những thế mà còn sinh tâm vui mừng, làm cho hạt giống nghiệp tăng thêm sức lớn mạnh, cho nên gọi là Tăng trưởng nghiệp. Loại nghiệp này nhất định phải chịu quả dị thục. (xt. Cố Tư Nghiệp). II. Tăng Trưởng Nghiệp. Cũng gọi Tăng thượng nghiệp. Đối lại: Tạo tác nghiệp. Chỉ cho nghiệp có năng lực tăng tiến không ngừng vì có đầy đủ 5 nghĩa: Thẩm tư, viên mãn, vô ác tác đối trị, hữu bạn và dị thục. Có đủ 5 nghĩa này thì được gọi là Tăng thượng nghiệp, nếu không thì chỉ gọi là Tạo tác nghiệp. Năm nghĩa như sau: 1. Thẩm tư: Nghiệp được tạo tác qua quá trình suy nghĩ, tính toán cẩn thận. 2. Viên mãn: Nghiệp đã đến mức rốt ráo, cùng tột. Nói theo các nghiệp ác, nghiệp đọa ác thú gọi là Viên mãn nghiệp. Chẳng hạn như trong 10 nghiệp đạo, nếu ở giai vị Gia hạnh, do 1 nghiệp đọa vào ác thú thì chỉ gọi là Tạo tác nghiệp, chứ không gọi Tăng trưởng nghiệp; khi đã đến mức cùng tột thì vừa gọi là Tạo tác nghiệp vừa gọi là Tăng trưởng nghiệp; nếu do 2 nghiệp mà đọa vào ác thú thì khi mới có 1 nghiệp gọi là Tạo tác nghiệp, chứ không gọi Tăng trưởng nghiệp, đến khi đã đủ cả 2 nghiệp thì vừa gọi Tạo tác nghiệp vừa gọi Tăng trưởng nghiệp; cứ như thế cho đến do 10 nghiệp đọa ác thú thì 9 nghiệp chỉ gọi là Tạo tác nghiệp, đến khi đủ cả 10 nghiệp thì vừa gọi Tạo tác nghiệp vừa gọi là Tăng trưởng nghiệp. 3. Vô ác tác đối trị: Không khởi tâm ác tác và đối trị. Ác tác là sau khi tạo nghiệp sinh tâm ăn năn, hối hận; Đối trị là sau khi gây nghiệp bày tỏ sám hối. Nếu sau khi tạo nghiệp mà sinh tâm ăn năn và sám hối thì gọi là Tạo tác nghiệp, chứ không gọi Tăng trưởng nghiệp. Trái lại, sau khi tạo nghiệp không có ác tác, cũng không có đối trị thì mới gọi là Tăng trưởng nghiệp. 4. Hữu bạn: Có pháp đồng loại giúp sức. Như làm việc ác, có việc ác giúp sức thêm, đó tức là Tăng trưởng nghiệp; nếu không có việc ác giúp sức thì chỉ gọi là Tạo tác nghiệp. 5. Dị thục: Nghiệp nhất định mang lại quả dị thục. Nếu nghiệp được tạo nhất định sẽ mang lại quả dị thục(quả báo) thì gọi là Tăng thượng nghiệp, còn không mang lại quả dị thục thì chỉ gọi là Tạo tác nghiệp. Năm nghĩa trên đây chung cho cả nghiệp thiện và nghiệp ác. [X. kinh Nghiệp báo sai biệt; luận Câu xá Q.18].
tăng trưởng như trăng non
Trăng non đầu tháng mỗi ngày đều lớn dần, tròn đầy hơn đêm trước, cho đến khi tròn đầy hoàn toàn vào giữa tháng. Đây ví sự tăng trưởng đều đặn của người thuyết giảng Chánh pháp, mỗi ngày một lớn mạnh hơn.
Tăng Trưởng Thiên
(s: Virūḍhaka, p: Virūḷhaka, 增長天): âm dịch là Tỳ Rô Đà Ca (毘嚕陀迦), còn gọi là Tỳ Lưu Đa Thiên (毘留多天), Tỳ Lưu Ly Thiên (毘流離天), Tỷ Lưu Trà Ca Thiên (鼻溜荼迦天), Tỳ Lâu Lặc Thiên (毘樓勒天), Tỳ Lâu Lặc Ca Thiên (毘樓勒迦天), Tỳ Lâu Lặc Xoa Thiên (毘樓勒叉天), Nam Phương Thiên (南方天, trời ở phương Nam); là một trong 4 vị Thiên Vương, một trong 16 vị thiện thần. Vị này trú trong thành Thiện Kiến (善見), nằm lưng chừng phía Nam Tu Di Sơn (s: Sumeru, 須彌山). Thường vị này quán sát chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提), thống lãnh chúng quỷ thần Cưu Bàn Trà (s: Kumbhāṇḍa, p: Kumbhaṇḍa, 鳩槃荼), Bách Lệ Đa (s: Preta, 薜荔多), v.v., giữ gìn phương Nam, có thể hang phục tà ác, làm tăng tưởng thiện căn, là vị thiện thần hộ trì Phật pháp. Đại Hội Kinh (大會經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Tripitaka Vol. 1, No. 1) quyển 12 cho biết rằng: “Nam phương Tỳ Lâu Lặc Thiên Vương, lãnh chư Long Vương, hữu đại uy đức, hữu cửu thập nhất tử, diệc tự Nhân Đà La, hữu đại thần lực (南方毗樓勒天王、領諸龍王、有大威德、有九十一子、亦字因陀羅、有大神力, Tỳ Lâu Lặc Thiên Vương ở phương Nam, thống lãnh các Long Vương, có uy đức lớn, có chín mươi mốt người con, cũng tên là Nhân Đà La, có thần lực lớn).” Về hình tượng của Tăng Trưởng Thiên, các thuyết không giống nhau. Theo Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 11 giải thích rằng thân của Tỳ Rô Đà Ca dài một khuỷu tay, mang các loại y khác nhau, trang sức vô cùng tinh xảo, kỳ diệu, tương xứng với thân; tay trái cầm cây đao buông xuống, tay phải cầm cây giáo dài, đầu giáo chạm đất. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết thêm rằng: “Nam phương Tăng Trưởng Đại Thiên Vương, kỳ thân thanh sắc chấp bảo kiếm, thủ hộ bát Phật Nam phương môn (南方增長大天王、其身青色執寶劍、守護八佛南方門, Tăng Trưởng Đại Thiên Vương ở phương Nam, thân màu xanh cầm kiếm báu, giữ gìn tám Phật cửa phía Nam).” Trong đồ hình Mạn Trà La của Thai Tạng Giới Mật Giáo, vị này ngự ở phía Đông thuộc Nam môn của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院). Từ xưa, tín ngưỡng Tứ Thiên Vương đã rất cực thịnh, Trung Quốc cũng như Nhật Bản vẫn còn khá nhiều di phẩm và hình tượng của Tứ Thiên Vương cũng bất đồng. Như tại Thiên Tường Am (千祥庵) ở Lạc Dương (洛陽), Tỉnh Hà Nam (河南省), vẫn còn 5 pho tượng Phật sau tường, bên trái là tượng Nhân Vương (仁王), và bên phải là Tăng Trưởng Thiên. Tại Vạn Niên Tự (萬年寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山), Tỉnh Triết Giang (浙江省), an trí tượng vị trời này ở góc Đông Bắc, tay cầm đàn Tỳ Bà. Tại Thiên Vương Điện (天王殿) của Thiên Đồng Tự (天童寺) trên Thái Bạch Sơn (太白山), tượng vị trời này tay cầm kiếm. Còn tượng ở Thiên Vương Điện của Phổ Tế Tự (普濟寺) thuộc Phổ Đà Sơn (普陀山) thì tay cầm con rắn. Tượng ở Thiên Vương Điện của Pháp Vũ Tự (法雨寺) thuộc Phổ Đà Sơn thì tay cầm dù. Trong khi đó, tượng ở Thiên Vương Điện của Bảo Thông Tự (寶通寺) thuộc vùng Võ Xương (武昌), Tỉnh Hồ Nam (湖南省), thì tay cầm dù và tháp. Tượng ở Thiên Vương Điện của Quy Nguyên Tự (歸元寺), Hán Khẩu (漢口), thì tay cầm đàn Tỳ Bà. Tôn tượng hiện tồn ở Cư Dung Quan (居庸關) vùng Xương Bình (昌平), Tỉnh Hà Bắc (河北省), là tác phẩm thuộc giữa thời nhà Nguyên (元, 1271-1368), hay tay cầm kiếm, chân phải gập xuống được con quỷ thiện đỡ lên, chân trái duỗi ra đạp lên con quỷ quái; hình tượng rất hùng tráng. Bên cạnh đó, tại Nhật Bản, Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) ở vùng Nại Lương (奈良, Nara), Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) ở Đại Hòa (大和, Yamato), v.v., vẫn còn một số kiệt tác điêu khắc về Tăng Trưởng Thiên.
Tăng trưởng thiên
增長天; C: zēngchángtiān; J: zōjōten; S: virūḍhaka|Một trong Tứ thiền thiên. Cai quản loài quỷ Cưu-bàn-trà (s: kumbhāṇḍa) và trấn giữ phương Nam.
tăng trưởng thiên
(增長天) Tăng trưởng, Phạm: Virùđhaka. Pàli: Virùơhaka. Tạng: Fphags-skyes-po. Hán âm: Tì rô đà ca. Cũng gọi Tì lưu đa thiên, Tì lưu li thiên, Tị lưu đồ ca thiên, Tì lâu lặc thiên, Tì lâu lặc ca thiên, Tì lâu lặc xoa thiên. Vị thiện thần hộ pháp ở trong thành Thiện kiến lưng chừng núi Tu di về mặt nam, là 1 trong 4 Thiên vương, 1 trong 12 vị trời. Vị thần này thường xem xét các việc thiện ác của chúng sinh cõi Diêm phù đề, thống lãnh các loại quỉ thần Cưu bàn đồ, Bệ lệ đa..., trấn giữ phương Nam, phá dẹp tà ác, tăng trưởng căn lành. Về hình tượng của Tăng trưởng thiên có các thuyết khác nhau. Theo kinh Đà la ni tập quyển 11 thì thân Tì rô đà ca cao 1 khủyu tay, mặc các loại áo trời, trang sức rất đẹp tương xứng với thân tướng; tay trái buông xuống, cầm dao, tay phải cầm giáo, cán giáo chấm đất. Theo Dược sư lưu li quang vương thất Phật bảnnguyệncông đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp, Tăng trưởng đại thiên vương ở phương Nam thân màu xanh, tay cầm bảo kiếm, trấn giữ cửa phía nam của 8 đức Phật. Còn trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo thì vị tôn này được an trí ở phía đông của cửa Nam thuộc viện Ngoại kim cương bộ. Từ xưa đến nay, tín ngưỡng Tứ thiên vương rất thịnh hành, tại Trung quốc và Nhật bản đều có nhiều di phẩm về hình tượng của vị tôn này, như tượng Thiên vương có 1 quỉ Dạ xoa theo hầu thờ ở am Thiên tường, huyện Lạc dương, tỉnh Hà nam, tượng Thiên vương tay cầm đàn tì bà thờ ở chùa Vạn niên, núi Thiên thai, tỉnh Chiết giang, tượng Thiên vương tay cầm kiếm thờ ở chùa Thiên đồng núi Thái bạch, tượng Thiên vương tay cầm hình con rắn thờ ở chùa Phổ tế núi Phổ đà, tượng Thiên vương tay cầm lọng thờ ở chùa Pháp vũ núi Phổ đà, tượng Thiên vương tay cầm lọng và tháp thờ ở chùa Bảo thông, huyện Vũ xương, tỉnh Hồ nam, tượng Thiên vương tay cầm đàn tì bà thờ ở chùa Qui nguyên tại Hán khẩu; tượng Thiên vương thờ ở cửa ải Cư dung, huyện Xương bình, tỉnh Hà bắc, là tác phẩm được tạo vào giữa đời Nguyên, có hình dáng 2 tay ấn thanh kiếm, chân phải co lại do thiện quỉnâng lên, chân trái duỗi thẳng đạp lên quái quỉ, trông rất hùng tráng, mang sắc thái Lạt ma giáo.Tại Nhật bản, trong các chùa Đông đại, Hưng phúc ở Nại lương, chùa Pháp long ở Đại hòa... cũng còn rất nhiều tượng Tăng trưởng thiên đều là những kiệt tác điêu khắc. [X. kinh Điển tôn và kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Tứ thiên vương trong kinh Khởi thế Q.6; phẩm Cáo xa nặc bị mã trong kinh Phổ diệu Q.4, kinh Hoa nghiêm Q.1 (bản dịch mới); phẩm Tứ thiên vương quan sát thiên nhân trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.5; kinh Quán đính Q.6; Bát nhã thủ hộ thập lục thiện thần vương hình thể; luật Ma ha tăng kì Q.34; luận Đại trí độ Q.54; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
Tăng Trưởng Thiên Vương
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
tăng trưởng thiên vương
Virùdhaka (S). Southern God Protector. Also Tì lưu li.
Tăng trưởng thiên 增長天
[ja]ゾウジョウテン Zōjōten ||| Virūḍhaka. One of the four heavenly kings 四天王. He rules over Kumbhāṇḍa and protects the southern continent. => s: Virūḍhaka Một trong Tứ thiền thiên. Cai quản loài quỷ Cưu-bàn-trà (s: Kumbhāṇḍa) và trấn giữ phương Nam.
Tăng trưởng 增長
[ja]ゾウジョウ zōjō ||| (1) To increase, enlarge, broaden (vrddhi). (2) To reinforce, strengthen, develop. (3) To enliven. (4) To become superior or predominant. (5) The condition of completion of karmic reward. (6) To take out, lead out, bring out. (7) Enhancement of one's influence and power, therefore, pride. => Có các nghĩa sau: 1. Gia tăng, mở rộng, nới rộng ra (s: vrddhi). 2. Tăng cường, củng cố, phát triển. 3. Làm phấn chấn. 4. Trở nên khá hơn hay chiềm ưu thế hơn. 5. Nhân duyên để hoàn tất nghiệp báo. 6. Đưa ra, dẫn đến, làm nổi bật. 7. Sự đề cao ảnh hưởng và thế lực, do vậy, khiến họ tự cao.
tăng tàn
Saṃghadisesa (P), Saṃghavaśeṣa (S), Saṅghadidesa (P), Tăng già bà thi saTỳ kheo có 13 điều (Tỳ kheo ni có 17 điều) trong 227 điều của giới bản Tỳ kheo trong Kinh phân biệt (Sutta-Vibhanga).Tội thứ 13 ghi trong Luận tạng, nếu phạm thì bị tẩn xuất một thời gian.
; Sanghàvasesa (S). A sin of an ordained person requiring open confession before the assembly for absolution, or riddance tàn; failing confession, dismissal from the order.
; (僧殘) Phạm: Saôghàvazewa. Hán âm: Tăng già bà thi sa. Cũng gọi Chúng dư, Chúng quyết đoán, Tăng sơ tàn. Trọng tội vào hàng thứ 2 sau Ba la di, 1 trong 5 thiên 7 tụ. Vị tăng phạm tội này thì mạng pháp chỉ còn sót lại(tàn)chút ít, giống như người bị chém gần chết, chỉ còn thoi thóp, nhưng nếu cấp cứu kịp thời thì vẫn còn hi vọng sống. Tức vị tăng phạm tội phát lộ sám hối trước chúng tăng đúng như pháp để diệt tội thì có thể vẫn còn được ở lại trong Tăng đoàn. Số giới Tăng tàn của tỉ khưu khác với số giới ấy của tỉ khưu ni. Theo luật Tứ phần, tỉ khưu có 13 giới, vì thế có tên là Thập tam tăng tàn, đó là: 1. Cố ý làm xuất tinh. 2. Xoa vuốt thân người nữ. 3. Nói lời thô bỉ với người nữ. 4. Tự khen mình trước người nữ đòi được cúng dường. 5. Làm người mai mối. 6. Làm phòng xá quá lượng qui định. 7. Phòng có tăng chủ mà không chịu phân xử. 8. Không có căn cứ mà vu khống người khác phạm trọng tội. 9. Bịa đặt lí do để phỉ báng người khác. 10. Phá tăng mà không nghe lời can gián.11. Tiếp tay cho kẻ khác phá tăng mà không nghe lời can gián. 12. Làm nhơ nhuốc nhà người, bị đuổi, lại hủy báng, không nghe lời can gián của tăng.13. Có tính xấu, chống cự, không nghe lời can gián của chúng tăng. Số giới Tăng tàn của tỉ khưu ni có 17 điều:1. Làm người mai mối. 2. Không có căn cứ mà phỉ báng người khác phạm trọng tội. 3. Bịa đặt lí do để hủy báng người khác. 4. Nói xấu người. 5. Độ nữ tặc. 6. Ra ngoài phạm vi kết giới cứ theo ý mình mà giải tội Tam cử(phạm tội mà không chịu nhận, có tội mà không chịusám hối, có ác ý mà không chịu lìa bỏ). 7. Phạm Tứ xúc(sự xúc phạm đối với người nam, như cầm tay, nắm áo...). 8. Nhận thức ăn của người nam với tâm nhiễm ô. 9. Khuyến khích nhận y phục, thức ăn của người nam có tâm nhiễm ô. 10. Phá tăng mà không nghe lời can gián.11. Tiếp tay cho kẻ khác phá tăng mà không nghe lời can gián. 12. Làm nhơ nhuốc nhà người, bị đuổi, lại hủy báng mà không nghe lời can gián. 13. Tính xấu chống cự mà không nghe lời can gián của chúng tăng. 14. Ở gần nhau, làm điều xấu mà không nghe lời can gián. 15. Chê bai chúng tăng, khuyên nhau ở gần, làm điều xấu mà không nghe lời can gián.16. Sinh tâm sân, xả bỏ Tam bảo, chúng tăng đã 3 lần can gián mà không nghe theo. 17. Phát khởi 4 việc tranh cãi, phỉ báng tăng mà không nghe lời can gián. Trong 17 giới trên, các giới 1, 2, 3, 10, 11, 12 và 13 giống với giới của tỉ khưu. Người phạm giới Tăng tàn phải sám hối trước đại chúng thanh tịnh từ 20 vị trở lên và phải phục tòng sự xử phạt của Tăng đoàn. Về cách sám hối diệt tội, theo Di sa tắc ngũ phần giới bản và Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản, nếu tỉ khưu cố ý che giấu thì nên thi hành biệt trụ(ở riêng biệt), thời gian biệt trụ lâu hay mau là tùy theo số ngày đã che giấu. Thời gian biệt trụ xong rồi thì thực hành Ma na đỏa (Phạm: Mànatva) trong 6 ngày đêm, sau đó, nương nhờ 20 vị tỉ khưu thanh tịnh làm pháp yết ma xuất tội thì tội ấy mới được diệt trừ và được sống trong Tăng đoàn. Trong trường hợp không che giấu mà phát lộ ngay sau khi phạm giới thì có thể trực tiếp thực hành pháp Ma na đỏa. Còn đối với tỉ khưu ni phạm giới Tăng tàn thì phải có 20 vị tỉ khưu và 20 vị tỉ khưu ni thanh tịnh làm yết ma xuất tội.[X. kinh Tì ni mẫu Q.7; luật Tứ phần Q.2-5; Thiện kiến luật tì bà sa Q.12; Tứ phần luật hành sự sao Q.trung, phần 2].
tăng tàn giới
Trayodaśa sanghādesesa (P)13 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
tăng tâm học
Adhicitta (S)Định học, Tăng thượng tâmMột trong tam học.
tăng tông
(僧宗) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều, trụ tại chùa Linh hóa, quận Thủy hưng (hiện là huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông). Sư học rộng, thông hiểu các kinh luận, lập đạo tràng thuyết giảng, người đến học rất đông. Sư có các tác phẩm: Luận Pháp tính, luận Giác tính.
tăng tập tục truyện đăng lục
(增集續傳燈錄) Sử truyện, 6 quyển, 1 quyển mục lục, do ngài Nam thạch Văn tú (1345-1418) soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 142. Bộ sách này được viết sau bộ Tục truyền đăng lục do sưu tập các tư liệu của Thiền tông từ đời Tống đến đời Nguyên như tháp minh, hành trạng các Thiền sư... mà hình thành. Nội dung ghi chép các cơ duyên vấn đáp của hơn 500 vị Thiền sư từ đời thứ 18 đến đời thứ 25 sau ngài Đại giám. Cuối quyển có phụ thêm Ngũ đăng hội nguyên bổ di 1 quyển, trong đó, ghi chép lược truyện của 20 vị Thiền sư đời thứ 17 sau ngài Đại giám. Dưới phần Bổ di có ghi thêm 7 vị nối pháp mà không rõ lai lịch.
tăng tịch
(僧籍) Cũng gọi: Tăng trướng, Cung trướng. Chỉ cho cuốn sổ ghi tên họ, quê quán, các việc xuất gia được độ... của tăng ni. Phẩm Chúc lụy kinh Nhân vương do ngài La thập dịch (Đại 8, 833 hạ) nói: Đặt ra Thống quan để cai quản chúng tăng, coi giữ tăng tịch, Tăng thống lớn, nhỏ cùng nhau ràng buộc, như pháp coi ngục tù, pháp giữ binh lính, lúc ấy Phật pháp sẽ không còn trụ ở thế gian nữa. Ở Trung quốc, đến thời Ngụy Tấn, chế độ Tăng tịch đã nghiêm ngặt, triều đình lập ra Tăng chính hoặc Chiêu huyền tào để thống lãnh, cai quản tăng ni, đời Tùy làm theo chế độ cũ của Bắc triều, đời Đường, tăng ni do Từ bộ của Thượng thư tỉnh và Tả hữu nhai tăng lục ti quản lí. Theo Đường hội yếu thì sổ hộ tịch tăng ni chế độ cũ cứ 3 năm làm một lần, một bản đưa về Từ bộ, một bản lưu giữ ở châu huyện. Tháng giêng năm Thái hòa thứ 4 (830) đời vua Văn tông nhà Đường. Từ bộ ra lệnh cho tăng ni trong nước ghi tên họ trình lên để làm bằng chứng cấp phát độ điệp; năm sau, vua ban sắc cho các châu quận trong nước lập hộ tịch tăng ni. Đến đời Tống thì tăng tịch do ti Tăng lục quản lí. [X. Phật tổ thống kí Q.40; Ngụy thư thích lão chí Q.20; Đường thư bách quan chí Q.38; điều Hồng lô tự trong Tống sử chức quan chí 118]. (xt. Độ Điệp).
tăng tục
Monks and the laity.
tăng tự tứ nhật
(僧自恣日) Ngày chư tăng tự tứ, tức ngày kết thúc hạ an cư. Phật chế hằng năm trong 90 ngày mùa Hạ, chúng tăng nhóm họp, an cư ở một nơi để giữ vững giới luật, trau dồi các hạnh cho trong sáng, vào ngày cuối cùng, chư tăng cử hành pháp Tự tứ, tức là mỗi người xin chúng tăng nêu ra những lỗi lầm mà mình đã phạm, rồi tỏ bày sám hối trước đại chúng để được thanh tịnh, tự mình cảm thấy vui mừng nên gọi là Tự tứ. Đồng thời, trong ngày này, chư Phật 10 phương cũng hoan hỉ vì sự tu hành tinh tiến của chúng tăng được viên mãn, nên cũng gọi là Phật hoan hỉ nhật, Hoan hỉ nhật. Theo kinh Vu lan bồn, vào ngày này, tôn giả Mục kiền liên cúng dường chúng tăng 10 phương để cầu xin cứu mẹ thoát khỏi đường ngã quỉ. Phật tử đời sau, noi gương ngài Mục kiền liên, hằng năm vào ngày rằm tháng 7, ngày chư tăng tự tứ, lại cúng dường chúng tăng 10 phương để cầu cho cha mẹ nhiều đời được siêu thoát, đó chính là nguồn gốc của lễ Vu lan bồn. [X. luật Ma ha tăng kì Q.27]. (xt. Tự Tứ, Vu Lan Bồn).
Tăng Ung
僧邕; C: sēngyōng; J: sōyū; 543-631;|Đệ tử của Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo, trú trì chùa Hoá Độ (化度寺), Trường An.
Tăng Ung 僧邕
[ja] ソウユウ Sōyū ||| Sengyong﹔(543-631) disciple of Sanjie founder Xinxing and resident of the Changan temple of the Huadu si . => (j: Sōyū; c: Sengyong 543-631); đệ tử của Ngài Tín Hành 信行, người sáng lập Tam giai giáo, trú trì chùa Hóa Độ 化度寺, Tràng An.
tăng viêm già đà ni
(僧炎伽陀尼) Phạm: Saôyamagatàni. Giữ lại không cho phát sinh. Tăng viêm nghĩa là giữ lại; Già đà ni nghĩa là không để cho sinh khởi. Nếu giữ gìn, ngăn chặn trước, không để cho tội phát sinh thì gọi là Bồ tát tăng viêm già đà ni. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng].
tăng viên
Xem Tịnh xá.
tăng vương
(僧王) Pàli:Saígharàja. Cũng gọi Tăng hoàng. Vị lãnh tụ cao nhất của chúng tăng Phật giáo Thái lan. Do Quốc vương tuyển chọn một cao tăng có đầy đủ phúc đức và trí tuệ tôn làm Quốc sư, phong làm Tăng hoàng cai quản chúng tăng toàn quốc, quyền uy rất lớn, địa vị tôn quý giống như vị Đạt lai lạt ma Tây tạng, hoặc Giáo hoàng La mã. Về phương diện tôn giáo, vua Thái lan cũng phải kính ngưỡng Tăng vương như tôn kính đức Phật vậy. Nhưng thông thường Tăng vương không tham dự chính trị, hoàn toàn chỉ là vị lãnh tụ thuần túy tinh thần mà thôi.
tăng vật
(僧物) Phạm,Pàli:Sàôghika. Cũng gọi Tăng kì vật, Tăng già vật. Chỉ cho tất cả vật dụng thuộc về Tăng già(đoàn thể tăng ni). Ngoài 3 áo, 1 bát là vật tư hữu cá nhân, còn các vật khác, cho đến phòng ốc, đất đai... đều thuộc tài sản chung, đều có quan hệ kinh tế với tăng đoàn. Giáo đoàn của đức Thích tôn lấy việc tu hành li dục làm tông chỉ, nên có những qui định nghiêm khắc đối với việc tích chứa riêng của cá nhân. Về việc sử dụng vật của tăng đoàn, tuy tùy thời đại và xứ sở có khác nhau, nhưng về tinh thần sử dụng thì vẫn được truyền thừa từ xưa cho mãi đến ngày nay. Nói một cách tổng quát, tăng vật được chiara2 loại: 1. Tứ phương tăng vật(cũng gọi Chiêu đề tăng vật, Thập phương tăng vật, Thường trụ tăng vật): Tức là những vật dụng chung của tăng già, là tài sản công cộng của giáo đoàn, hiện tiền tăng không được tự ý xử trí, như chùa viện, ruộng vườn, phòng ốc... 2. Hiện tiền tăng vật: Chỉ cho những vật mà hiện tiền tăng(tỉ khưu, tỉ khưu ni hiện cùng ở một chùa) được phép thụ dụng, tức những vật thí chủ bố thí cho tăng chúng hiện diện; hoặc chỉ cho những di vật của vị tăng, ni đã qua đời. Ngoài ra, Tứ phần luật hành sự sao quyển trung còn chia tăng vật làm 4 loại. 1. Thường trụ thường trụ vật: Chỉ cho những vật mà đại chúng cùng được thụ dụng, như chùa viện, ruộng vườn, hoa quả, rừng cây... chung cho tăng 10 phương, không được chia dùng riêng. 2. Thập phương thường trụ vật:Chỉ chocácthức ăn chín như cơm, bánh... do thí chủ cúng dường đại chúng, là những vật chung cả 10 phương, nhưng chỉ giới hạn ở bản xứ thụ dụng, cho nên gọi là Thập phương thường trụ vật. 3. Hiện tiền hiện tiền vật: Chỉ cho những vật do thí chủ bố thí cho hiện tiền tăng, hoặc những vật riêng của mỗi người. Đây là những vật do thí chủ xem xét hiện tiền tăng nhiều hay ít mà cúng dường. 4. Thập phương hiện tiền vật: Chỉ cho những di vật của vị tỉ khưu quá cố được phân chia cho tăng 10 phương. [X. phẩm Thập thiện nghiệp đạo trong kinh Chính pháp niệm xứ Q.1; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.44; Thiện kiến luật tì bà sa Q.9; luật Ngũ phần Q.25; luật Tứ phần Q.41; luật Ma ha tăng kì Q.28; luật Thập tụng Q.8, 10, 28; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.2, 3, 5; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.8; Hữu bộ ni đà na Q.5; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 1; Thích thị yếu lãm Q. trung; điều Vong tài tăng hiện trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Tam Bảo Vật, Lục Vật).
tăng vị
(僧位) Cũng gọi Tăng giai. Tức thứ bậc được sắp xếp theo trí đức và tuổi hạ của vị tăng, đây là chế độ riêng của Phật giáo Nhật bản. Năm Thiên bình bảo tự thứ 4 (760), do ngài Lương biện tâu thỉnh, nhà vua mới định Tăng vị gồm 4 vị 13 bậc. Thời Thiên hoàng Quang nhân (770-781), chức Tăng cương được xem là Tăng vị, trong đó chức Tăng chính tương đương với chức quan Tòng tứ vị, chức Tăng đô tương đương với chức quan Chính ngũ vị, chức Luật sư tương đương với chức Tòng ngũ vị. Thời Thiên hoàng Hoàn vũ (781-860) chế định ra 6 vị: Vô vị, Nhập vị, Trụ vị, Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị. Trong đó, bậctăng Vô vị tương đương với bậc quan Bát vị, bậc tăng Nhập vị tương đương với bậc quan Thất vị, bậc tăngTrụ vị tương đương với bậc quan Lục vị, bậc tăng Mãn vị tương đương với bậc quan Ngũ vị, bậc tăngPháp sư vị tương đương với bậc quan Tứ vị và bậc tăng Đại pháp sư tương đương với bậc quan Tam vị. Năm Trinh quán thứ 6 (864), các tăng quan và tăng thường đều được trao cho giai vị, không phân biệt tên gọi cấp bậc, không phân biệt cao thấp, cho nên ngoài 3 bậc Mãn vị, Pháp sư vị và Đại pháp sư vị, còn đặt ra 3 bậc nữa là: Pháp kiều thượng nhân vị, Pháp nhãn hòa thượng vị và Pháp ấn đại hòa thượng vị, đều là những cấp bậc từ Luật sư trở lên. Đến năm Minh trị thứ 6 (1873), chế độ Tăng vị mới bị bãi bỏ.
Tăng Xán
僧璨; C: sēngcàn; J: sōsan; ?-606;|Tổ thứ ba của Thiền tông Trung Quốc, nối pháp của Nhị tổ là Huệ Khả và là thầy của Tứ tổ Ðạo Tín. Sau khi được ấn khả, Sư lang thang đây đó, sống ẩn dật không ai biết. Ngoài Thiền sư Ðạo Tín, Sư có truyền pháp cho Tì-ni-đa Lưu-chi, người sau này đem Thiền tông sang Việt Nam. Sư cũng là tác giả của Tín tâm minh, một tác phẩm trứ danh, rất phổ biến trong giới thiền.
tăng xán
Seng tsan (C), Sōsan (J), Sengcan (C), Seng-tsang (C).
; (僧粲) I. Tăng Xán (529-613). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người ở Trần lưu, Biện châu (Khai phong, Hà nam), họ Tôn. Thủa nhỏ sư đã thích du phương tham học, có mặt ở khắp các trường giảng Tề, Chu, Trần... Sư giỏi biện luận, tự lấy hiệu là Tam quốc luận sư. Năm Khai hoàng thứ 10 (590), vua ban sắc cho sư trụ chùa Đại hưng thiện, đến năm Khai hoàng 17 (597), sư được ban sắc làm Đệ nhất Ma ha diễn luận chủ của 25 chúng. Sư thường thuyết giảng ở chùa Tổng hóa. Năm Đại nghiệp thứ 5 (609), sư biện luận đối đáp với ngài Cát tạng của tông Tam luận, làm cho tăng tục ở Trường an rất kinh ngạc. Năm Đại nghiệp thứ 9 (613), sư thị tịch ở chùa Đại hưng thiện, thọ 85 tuổi. Sư có các tác phẩm: Luận Thập chủng Đại thừa, luận Thập địa 2 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.9]. II. Tăng Xán (?-606). Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tùy, có thuyết nói là người ở Từ châu, Tổ thứ 3 của Thiền tông Trung quốc. Ban đầu, lúc còn là cư sĩ, sư đến tham yết Nhị tổ Tuệ khả, đắc pháp và được truyền trao áo bát, bấy giờ sư đã hơn 40 tuổi, vào ẩn cư trong núi Tư không. Thời vua Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật pháp, sư lánh nạn đến ẩn ở núi Hoàn công, người đời không ai biết. Năm Khai hoàng 12 (592) đời Tùy, ngài Đạo tín, mới 14 tuổi, đến lễ sư cầu học, 9 năm sau được truyền pháp. Đến khi ngài Đạo tín cơ duyên thuần thục, vào năm Đại nghiệp thứ 2 (606), sư đứng trước am chấp tay thị tịch. Vua Huyền tôn nhà Đường ban thụy hiệu Giám Trí Thiền Sư. Sư có tác phẩm: Tín tâm minh. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Phật tổ thống kí Q.30; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Long hưng Phật giáo biên niên thông luận Q.18].
tăng xứng
Sanghakīrti (S)Tên một vị sư.
tăng y
Uttarasaṃgha (S)Y mặc ở giữa (ngoài là tăng già lê, trong là an đà hội).
Tăng ích
增益; C: zēngyì; J: zōyaku;|1. Gia tăng, mở rộng, nâng cao; 2. Nhận thức sai lầm và thừa nhận vật gì không thật sự hiện hữu. Tự mình dính líu vào một dạng hiện hữu khách quan. Quan niệm cường điệu về sự hiện hữu, đối nghịch với Tổn diệt (損滅); 3. Mang đến vận may, làm cho hưng thịnh, thịnh vượng, sung túc.
tăng ích
(增益) I. Tăng Ích. Phạm:Svàhà. Hán âm: Tăng sa ha, Sa bà ha, Tát bà ha, Tô bà ha, Sa phạ hạ, Tăng bà ha. Hán dịch: Cứu cánh, Viên mãn, Thành tựu, Cát tường, Tức tai, Ức niệm. Câu cuối cùng được thêm vào sau mỗi bài chân ngôn mật chú, như (Đại 8, 848 hạ): Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha trongBát nhã tâm kinh. II. Tăng ích. Thường gọi: Tăng ích pháp. Pháp tu cầu tăng trưởng phúc đức, 1 trong 3 hoặc 4 loại Đàn pháp của Mật giáo.
Tăng ích chấp
增益執; C: zēngyìzhí; J: zōekishū; |Chấp vào quan niệm có (hữu 有), hoặc thường (常), là một cực đoan – theo Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo), môn đệ của tông Pháp tướng – rất thường xảy ra.
Tăng ích chấp 增益執
[ja]ゾウエキシュウ zōekishū ||| Attachment to the view of existence 有, or eternalism 常, an extreme to which, according to Wŏnhyo 元曉, followers of the dharma-character teaching 法相 are especially prone. 〔二障義 HPC 1.814a〕 => Chấp vào quan niệm có (hữu 有), hoặc thường (常), là một cực đoan, theo Nguyên Hiểu (Wŏnhyo 元曉), môn đệ của tông Pháp tướng, là rất thường xảy ra.
tăng ích pháp
Pustika (S)Pháp tu cầu sống lâu.
; Zoyakoho (J).
; (增益法) Tăng Ích, Phạm: Puwỉka. Hán âm: Bố sắt trưng ca, Bố sắt trí ca. Tạng: Rgyas-pa. Cũng gọi Tăng trưởng pháp, Tăng vinh pháp. Chỉ cho pháp tu cầu tăng thêm tuổi thọ, phúc lộc, thăng quan tiến chức, mùa màng bội thu, ghi nhớ không quên, tu pháp được thành tựu... là 1 trong 3 loại, 4 loại, 5 loại hoặc 6 loại tu pháp của Mật giáo. Tăng ích pháp có nhiều loại tùy theo sự mong cầu như: 1. Phúc đức tăng ích: Mong cầu phúc lạc thế gian. 2. Thế lực tăng ích: Mong cầu quan tước bổng lộc. 3. Diên mệnh tăng ích: Mong cầu khỏe mạnh sống lâu. 4. Tất địa tăng ích: Mong cầu được 5 địa vị Chuyển luân. Pháp Tăng ích được phối hợp Bảo hộ trong 5 bộ, tu chung với các pháp Niệm tụng và Hộ ma. Khi tu tập pháp này, theo Nghi quĩ gốc, hành giả phải ngồi xoay mặt hướng đông, y phục và các vật dâng cúng như hoa quả, thức ăn uống... đều phải là màu vàng, đàn và lò Hộ ma đều hình vuông. Ngồi xoay mặt hướng đông, vì hướng đông thuộc mùa xuân, biểu trưng cho khí dương phát mạnh; dùng màu vàng vì màu vàng có ý nghĩa tăng mùi vị; dùng hình vuông vì hình vuông không chuyển động, nghĩa là giữ gìn các pháp, làm cho dừng trụ. Màu vàng và hình vuông nói trên đều tiêu biểu địa đại, vì địa đại(đất) có năng lực sinh ra các vật quí báu giúp ích cho thế gian, nên tương ứng với pháp Tăng ích. Phẩm Trì tụng phép tắc trong kinh Đại nhật quyển 7 nói rằng: Ở đầu và cuối của chân ngôn dùng khi tu pháp này phải thêm từ ngữ Nạp ma (Phạm:Namas, cũng gọi Nam mô, nghĩa là qui kính). Còn kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 1 và phẩm Tối thắng minh vương chân ngôn trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn quyển 9 thì đều nói khi tu pháp này phải dùng tòa hoa sen. [X. kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ].
Tăng ích 增益
[ja]ゾウエキ zōyaku||| (1) To increase, enlarge, enhance. (2) To mistakenly cognize and posit something that is in reality non-existent. to commit oneself to some kind of objective composite. The exaggerated view of existence, as opposed to nihīism 損滅. (3) To bring good fortune; to cause things to flourish, thrive, prosper. => 1. Gia tăng, mở rộng, nâng cao. 2. Nhận thức sai lầm và thừa nhận vật gì không thực sự hiện hữu. Tự mình dính líu vào một dạng hiện hữu khách quan. Quan niệm cường điệu về sự hiện hữu, đối nghịch với Tổn diệt 損滅. 3. Mang đến vận may, làm cho hưng thịnh, thịnh vượng, sung túc.
tăng ý
Visichamati (S).
tăng đoàn
Sāvakasaṃgha (P), Congregation of disciples, Saṇgharama Body Xem Tòng lâm, Xem tăng già.
Tăng đô
僧都; C: sēngdū; J: sōto, sōzu;|Chức danh thứ hai trong 3 chức danh tiêu biểu của vị Tăng coi sóc việc hành chính của tăng đoàn trong hệ thống tổ chức tăng lữ vùng Đông Á. Tăng cương (僧綱).
tăng đô
(僧都) Chức quan tăng thống lãnh tăng ni, địa vị dưới Tăng chính, Tăng thống. Vua Hiếu minh nhà Bắc Ngụy đầu tiên bổ nhiệm ngài Tuệ quang làm Tăng đô, sau ngài vào đất Nghiệp chuyển sang giữ chức Quốc thống(thống lãnh tăng ni cả nước); rồi đến niên hiệu Chí đức năm đầu (583) đời Trần Hậu chủ, ngài Tuệ hằng được bổ nhiệm làm Đại tăng đô ở kinh ấp, sau chuyển đổi giữ được chức Đại tăng chính. Đến đời Tùy, phỏng theo chế độ Ngụy, Tề, lập Tăng thống làm chánh, Tăng đô làm phó. Nhật bản cũng mô phỏng theo chế độ của Trung quốc, vào năm Suy cổ Thiên hoàng 32 (624), ngài An bộ Đức tích là người đầu tiên được ban sắc giữ chức Tăng đô. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung;Tục cao tăng truyện Q.9]. (xt. Tăng Quan).
Tăng đô 僧都
[ja] ソウト ソウズ sōto sōzu ||| The second of the three standard administrative posts in the sangha in the standard East Asian clerical administrative system. See 僧綱. => Chức danh thứ hai trong 3 chức danh tiêu biểu của vị Tăng coi sóc việc hành chính của tăng đoàn trong hệ thống tổ chức tăng lữ vùng Đông Á. Xem Tăng cang 僧綱.
Tăng Đĩnh Thủ Trách
(僧挺守賾, Sōtei Shusaku, ?-?): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, có thuyết cho rằng ông cùng với nhân vật tên Vị Trách (渭賾), hiệu là Tăng Đĩnh (僧挺), pháp từ của Trúc Am Sĩ Khuê (竹菴士珪). Ông đã từng làm Tàng Chủ ở Cổ Sơn (鼓山) vùng Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), nên thông xưng là Trách Tạng Chủ (賾藏主). Ông là người biên tập và trùng san Ngữ Lục của 20 Thiền gia thành bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要), tác phẩm có bộ phận tối cổ của Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄), vào đầu niên hiệu Thiệu Hưng (紹興, 1131-1162). Nhờ công trình biên tập này, những Ngữ Lục quý trọng mới không bị tán thất.
tăng đường
(僧堂) Cũng gọi Vân đường,Tọa đường, Tuyển Phật đường, Thánh tăng đường, Khô mộc đường. Chỉ cho tòa nhà được xây dựng trong khuôn viên chùa viện để hàng ngày chúng tăng tọa thiền, ngủ nghỉ, là 1 trong 7 loại điện đường trong các chùa viện thuộc Thiền tông.Thời xưa, tất cả việc tọa thiền, ngủ nghỉ, ăn uống... đều được thực hiện ở Tăng đường, cho nên Tăng đường có công dụng kiêm cả Tăng phòng và Thực đường. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2 thì trong Tăng đoàn Phật giáo nguyên thủy, Tăng đường là chỉ cho tăng phòng và tinh xá, cho nên tính chất khác với Tăng đường hiện nay. Ở Trung quốc, từ đời Đường, Tống về sau, ở chính giữa Tăng đường tôn trí tượng Thánh tăng, chung quanh đặt giường, là nơi chúng tăng nghỉ ngơi và ngày đêm tọa thiền tu đạo. Còn chế độ Tăng đường hiện nay là y cứ vào thanh qui do Thiền sư Bách trượng Hoài hải đời Đường chế định mà lập ra và cụ thể hóa thêm. Lại theo tác dụng của nó, Tăng đường có nhiều ý nghĩa nên cũng nhiều tên gọi: Là nơi Vân thủy tăng qui tụ, gọi là Vân đường; là đạo tràng để tuyển chọn người làm Phật, làm Tổ, gọi là Tuyển Phật trường; là nơi ngồi thiền bất động, giống như cây khô, gọi là Khô mộc đường. Cũng còn gọi là Quảng đường. Đời sau gọi là Thiền đường là do lẫn lộn với Tọa thiền đường trong Thiền qui đời Minh, Thanh. Tăng đường là nơi quan trọng nhất của chùa viện Thiền tông, cho nên trong các bộ thanh qui như Sắc tu, Bị dụng... đều có qui định về vị thứ và hành pháp tiến thoái hàng ngày rất chặt chẽ. Tăng đường được xây cất ở phía đông chùa. Tùy theo diện tích rộng hẹp của Tăng đường mà hoạch định 4, hoặc 8, hoặc 12 vị trí đặt giường tọa thiền. Nếu lập được 4 vị trí, thì ở chính giữa là khám thờ tượng Thánh tăng, 2 bên, phía trước và phía sau tượng Thánh tăng đều có giường, phía trước gọi là Tiền đường, phía sau gọi là Hậu đường. Giường ở 2 bên Tiền đường, gọi là Đông bắc sàng, Đông nam sàng, cũng gọi là Thủ tọa bản, Tây đường bản; giường ở 2 bên Hậu đường, gọi là Tây bắc sàng, Tây nam sàng, cũng gọi là Hậu đường bản, Lập tăng bản. Mỗi giường đều xếp đặt 5 người ngồi. Chỗ ngồi của đại chúng khởi đầu từ Thủ tọa bản của Đông bắc sàng, sắp xếp theo thứ tự giới lạp, đến Tây bắc sàng, Tây nam sàng và, cuối cùng, đến Tây đường bản của Đông nam sàng, rồi lại từ Bắc sàng đến Nam sàng. Mỗi giường đều có Đầu bản gọi là Tứ bản đầu, tức chỉ cho người ngồi ở chỗ đầu tiên. Còn giường ở 2 bên của khám Thánh tăng thì gọi là Xuất nhập bản. Chỗ ngồi đầu tiên của Đông bắc sàng, gọi là Tiền đường thủ tọa; chỗ ngồi đầu tiên của Hậu đường, gọi là Hậu đường thủ tọa. Trong Tăng đường, chỗ ngồi của mỗi người chiếm 3 thước Tàu (khoảng 1,20m) và được gọi là Đường vị. Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1145 hạ) nói: Thụ trai xong, không được tu tập trong Tăng đường nói chuyện, xem kinh, xem sách, không được đi xuyên qua Tăng đường để lên gian trên, hoặc xuống gian dưới. Bởi vì xem hoặc đọc tụng kinh thì ở các liêu, thuyết pháp, vấn đáp thì đã có Pháp đường. Ở trong Tăng đường cũng như trong nhà tắm, nhà Tây tịnh(nhà xí), mọi người phải tuyệt đối giữ im lặng, cho nên 3 nơi này được gọi là Tam mặc đường. Ngoài ra, những người tu hành ở Tăng đường, được gọi là Đường chúng, Đường tăng.[X. Thiền môn qui thức trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.6]. (xt. Già Lam).
tăng đường thanh quy
(僧堂清規) Gọi đủ: Động thượng tăng đường thanh qui hiện hành pháp sao. Thanh qui, 5 quyển, do ngài Thụy phương Diệnsơnngười Nhật bản soạn. Nội dung qui định các pháp tắc qui củ mà một vị tăng phải chấp hành nơi Tăng đường thuộc tông Tào động. Bộ thanh qui này dùng các thanh qui như Vĩnh bình, Oánh sơn làm bản gốc, rồi tham khảo các thanh qui xưa, mỗi mỗi đều được khảo chứng kĩ lưỡng, ghi chép đầy đủ và rõ ràng những uy nghi trong Thiền lâm. Về sau, ngài Thụy phương lại soạn thêm bản khảo đính 3 quyển và Thập di 1 quyển để bổ sung cho những chỗ thiếu sót. Bản hiện hành được xuất bản năm1753.
tăng đạo
(僧導) (362-457) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đông Tấn thời Nam Bắc triều, người Trường an, Thiểm tây, là học trò của ngài Cưu ma la thập.Sư xuất gia năm 10 tuổi, theo thầy học kinh Pháp hoa, đêm ngày nghiên cứu, hiểu được văn nghĩa một cách sơ lược. Đến năm 18 tuổi, sư đã đọc rộng các sách, hiểu biết như thần, khiến ngài Tăng duệ phải kinh ngạc. Sau khi sư thụ giới Cụ túc, học thức của sư càng tiến, thông suốt các kinh luận Thiền cũng như Luật, vua Diêu hưng rất khâm phục đức nghiệp của sư. Sư tham dự dịch trường(nơi dịch kinh điển) của ngài La thập, thẩm định rõ ràng các kinh luận. Sau, Vũ đế nhà Lưu Tống đánh Trường an, quét sạch Quan nội, sư được Vũ đế phó thác giúp đỡ Thái tử Quế dương Công nghĩa chân thoát nạn Hạ vương, Vũ đế thâm cảm ân đức ấy bèn bảo con cháu tôn sư làm thầy. Về sau, sư làm chùa Đông sơn ở Thọ xuân, thuyết giảng kinh luận, thường có hơn nghìn người tham học. Những người theo sư học luận Thành thực, được gọi là phái Thành thực thuộc hệ thống Thọ xuân, là học phái Thành thực đầu tiên ở Trung quốc. Bấy giờ gặp nạn nhà Bắc Ngụy bức hại Phật giáo, có mấy trăm vị sa môn lánh nạn đến nương tựa nơi sư, được sư cung cấp y thực đầy đủ, lại lập hội Hành hương để cầu nguyện cho người chết. Đến khi vua Hiếu vũ nhà Lưu Tống lên ngôi, sư vâng sắc trụ trì chùa Trung hưng tại Kiến khang. Đầu năm Hiếu kiến (454-456), sư vâng sắc tuyên giảng kinh Duy ma ở chùa Ngõa quan, vua và các công khanh đều đến nghe. Sau, sư trở về Thọ xuân, thị tịch ở chùa Thạch giản, hưởng thọ 96 tuổi. Đệ tử có các vị: Tăng uy, Tăng âm. Sư để lại các tác phẩm: Thành thực nghĩa sớ, Tam luận nghĩa sớ, Không hữu nhị đế luận. [X. Lương cao tăng truyện Q.7; Pháp hoa truyện kí Q.2; Phật tổ lịch đại thông tải Q.9; chương 18 Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng)].
tăng đạo tổn sanh
(增道損生) Đạo là chỉ cho trí Trung đạo; Sinh là chỉ cho sinh tử biến dịch. Tăng đạo tổn sinh nghĩa là trí Trung đạo dần dần tăng lên; còn sinh tử biến dịch thì dần dần giảm đi. Đây là từ ngữ của tông Thiên thai nói về sự lợi ích của Pháp hoa bản môn. Bài tựa Pháp hoa kinh huyền nghĩa (Đại 33, 681 trung) nói: Phát khởi phương tiện quyền xảo của các bậc Thánh, hiển bày lí sâu xa kín nhiệm của Bản địa, cho nên tăng đạo tổn sinh, giai vị gần bậc Đại giác; trong một đời giáo hóa, sự và lí đều viên dung. Cứ theo thuyết của tông Thiên thai, trong các giai vị tu hành của Bồ tát thì 42 giai vị từ Sơ trụ đến Diệu giác, trí Trung đạo lần lượt tăng lên, gọi là Tăng đạo; nhờ trí tăng mà 42 phẩm vô minh được đoạn trừ, sinh tử biến dịch dần dần giảm bớt, gọi là Tổn sinh. Đây là căn cứ vào Trí đức và Đoạn đức của Pháp thân mà nói về tăng giảm. Lại nữa, trong 41 giai vị Bồ tát từ Thập trụ đến Đẳng giác, mỗi giai vị đều có tăng đạo tổn sinh, theo đó cũng đều có đầy đủ 10 Như thị; còn ở vị Diệu giác(quả Phật) thì vì đã hết vô minh, không có nghĩa tổn sinh, tức không có Như thị báo nên chỉ có 9 Như thị. Tuy nhiên, nếu nói theo quan điểm Phật là quả báo vô thượng thì giai vị Diệu giác cũng có đủ 10 Như thị. Ngoài ra, tông Thiên thai luận tăng đạo tổn sinh của 42 giai vị hoàn toàn không giống như thứ tự cách lịch của Biệt giáo.Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5, thượng (Đại 33, 735 trung) nói: Đoạn văn này nói rõ ràng về 42 giai vị, đó đều là những thứ bậc không thứ bậc, nhưng vì đạt đến thực tướng tăng đạo tổn sinh nên mới bàn đến thứ bậc mà thôi. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2 thượng; Pháp hoa văn cú Q.10 thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa thích tiêm Q.1, 4; Pháp hoa văn cú kí Q.10, thượng].
tăng đạt
(僧達) (475-566) Cao tăng Trung quốc, thuộc học phái Địa luận, sống vào đời Bắc Tề, người ở Thượng cốc, tỉnh Hà bắc, họ Lí. Sư xuất gia năm 15 tuổi, du học ở kinh đô (Đại đồng) Bắc Ngụy, sau khi thụ giới Cụ túc, sư chuyên học tạng Luật. Vua Hiếu văn nhà Bắc Ngụy rất tôn kính sư, thỉnh sư giảng thuyết về luật Tứ phần. Sau, sư đến Lạc dương theo học ngài Lặc na ma đề. Sau khi ngài Lặc na ma đề tịch, sư lại theo ngài Tuệ quang học Thập địa kinh luận, đồng thời thụ giới Bồ tát. Sư tinh thông Thập địa kinh luận, rất được Vũ đế nhà Lương kính trọng và ban sắc trụ chùa Đồng thái. Đến vua Văn tuyên nhà Bắc Tề cũng đặc biệt kính trọng sư, làm chùa Hồng cốc ở núi Hoàng hoa sắc sư trụ trì. Năm Thiên bảo thứ 7 (566) đời Bắc Tề, sư thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.16].
tăng đồ
(僧徒) Đồng Nghĩa: Tăng chúng. Đồ có 2 nghĩa: Một là nhiều, nên tăng đồ nghĩa là nhiều tăng sĩ như Tăng chúng. Hai là đệ tử, tức đối với thầy mà gọi là đồ, như Sư đồ (thầy trò). [X. Đại đường tây vực kí Q.1].
Tăng 僧
[ja] ソウ sō ||| (1) Originally an abbreviation of the transcription of saṃgha (僧伽), referring to the whole community of monks and nuns. (2) That which belongs to, or is of the saṃgha. (3) Later, in East Asian usage, comes to refer to individual monks and nuns, but earlier it refers to a group of more than 3-4 monks or nuns. => Có các nghĩa sau: 1. Đầu tiên là gọi tắt phiên âm từ Tăng già (s: saṃgha) , nghĩa là đoàn thể của Tăng ni 2. Thuộc về Tăng, hoặc là của Tăng. 3. Về sau, trong cách dùng của người Á Đông, trở thành từ đề cập đến cá nhân Tăng và Ni, nhưng trước đó, từ nầy đã đề cập đến đoàn thể gồm ba đến bốn vị Tăng, Ni trở lên.
; [ja] ソウ sō ||| (1) Originally an abbreviation of the transcription of saṃgha (僧伽), referring to the whole community of monks and nuns. (2) That which belongs to, or is of the saṃgha. (3) Later, in East Asian usage, comes to refer to individual monks and nuns, but earlier it refers to a group of more than 3-4 monks or nuns. => Có các nghĩa sau: 1. Đầu tiên là gọi tắt phiên âm từ Tăng già (s: saṃgha) , nghĩa là đoàn thể của Tăng ni 2. Thuộc về Tăng, hoặc là của Tăng. 3. Về sau, trong cách dùng của người Á Đông , trở thành từ đề cập đến cá nhân Tăng và Ni, nhưng trước đó, từ nầy đã đề cập đến đoàn thể gồm ba đến bốn vị Tăng, Ni trở lên.
Tăng 增
[ja]ゾウ zō ||| (1) To accelerate, increase, enlarge, enhance, augment (vrddhi, abhyudaya, pravardhita, vivardhana). (2) Elevated, exalted. Superb, superior, surpassing, excellent. (3) Above, beyond. Extra, excess, surplus. (4) Attached, annexed, affiliated; dependent, auxiliary. (6) Unimpeding (增上). (7) The eight hells that become increasingly more painful. => Có các nghĩa sau: 1. Nhanh hơn, thêm, mở rộng, nâng cao, tăng thêm (s: vrddhi, abhyudaya, pravardhita, vivardhana). 2. Cao cả, đề cao. Xuất sắc, cao cấp, khá hơn, ưu tú. 3. Trên, hơn, vượt xa hơn. Thượng hạng, quá mức, thặng dư. 4. Gắn bó, phụ chương, nhận làm chi nhánh; phụ thuộc, bổ trợ. 5. Không bị ngăn trở (Tăng thượng 增上). 6. Tám địa ngục càng lúc càng trở nên đau khổ.
Tăng-già
僧伽; C: sēng qié; J: sōgya; S, P: saṅgha;|1. Chỉ hội đoàn của các vị Tỉ-khâu (s: bhik-ṣu), Tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī) cũng như các Sa-di (s: śrāmaṇera). Trong nhiều trường hợp, các Cư sĩ cũng được liệt vào Tăng-già.|Tăng-già là một trong Tam bảo (s: triratna), là một đối tượng trong Ba quy y của Phật tử. Ðời sống của Tăng-già được quy định trong các giới luật được ghi trong Luật tạng.|2. Chỉ phái Số luận (s: saṃkhya); |3. Con sư tử (s: siṃha).
Tăng-già Nan-đề
僧伽難提; S: saṃghanandi;|Tổ thứ 17 Thiền tông Ấn Ðộ.
Tăng-già tự
僧伽寺; C: sēngqiésì; J: sōgyaji;|Một ngôi chùa toạ lạc trên núi Tam Giác (三角山), sinh hoạt trong thời đại Cao Li (高麗; k: koryǒ) và Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn).
Tăng-già tự 僧伽寺
[ja] ソウギャジ Sōgyaji ||| (Korean) Buddhist temple located at Samgak-san 三角山, active during the Koryŏ and Chosŏn periods. => (Thuật ngữ Cao Ly) Chùa Phật giáo tọa lạc trên núi Tam Giác Sơn, sinh hoặt trong thời kỳ Koryŏ và Chosŏn .
Tăng-già Xá-đa
僧伽舍多; S: saṃghayathata;|Tổ thứ 18 Thiền tông Ấn Ðộ
Tăng-già 僧伽
[ja] ソウギャ sōgya ||| (1) A transcription of the Sanskrit/Pali saṃgha. The community of Buddhist practitioners who gather together in the common effort of attaining Buddhahood. (2) A reference to the Saṃkya school of philosophy. (3) Simha--"lion." => Có các nghĩa sau: 1. Phiên âm chữ saṃgha từ tiếng Sanskrit và Pali. Đoàn thể của những người xuất gia cùng sống hòa hợp với nhau nỗ lực tu tập để giác ngộ Phật tính. 2.Triết học của phái Số luận (s: Saṃkya) 3. Sư tử (s: Simha).
tăng-già-lê
xem ba tấm pháp y.
Tăng-già-lợi y
僧伽利依; C: sēngqié lìyī; J: sōgyarie; S: saṃghha-ārāma.|Nơi tăng chúng tụ tập để tu tập Phật pháp: Chùa hay Tu viện. Thường viết là Tăng-già-lam (僧伽藍) hoặc Già-lam (伽藍).
Tăng-già-lợi-y 僧伽利依
[ja] ソウギャリエ sōgyarie ||| saṃghha-ārāma. The gathering place of Buddhist practitioners: the temple or monastery. Commonly written sengqielan 僧伽藍 or qielan 伽藍. (s: saṃghha-ārāma) => Nơi tăng chúng tụ tập để tu tập Phật pháp: Chùa hay Tu viện. Thường viết là Tăng-già-lam 僧伽藍 hoặc Già-lam 伽藍.
Tăng-kì
僧祇; C: sēngqí; J: sōgi;|A-tăng-kì (阿僧祇).
tăng-kỳ vật
chỉ cho những vật thuộc quyền sở hữu của Tăng-già, hay Tăng đoàn, giáo hội, tức là những tài sản chung ở các ngôi chùa, tinh xá... nói chung là tài vật thuộc về ngôi Tam bảo, không phải của riêng ai.
tăng-man vật
(僧鬘物): tài vật được cúng dường lên Tam bảo. Danh từ tăng-man được dịch âm từ tiếng Phạn, các nhà Hán dịch đời Đường dịch nghĩa là “đối diện thí”, được giải thích là “hiện tiền đối diện chi thí”. Từ điển Đinh Phúc Bảo dẫn Giới sớ, quyển 2, tập thượng, ghi rõ danh từ này dịch nghĩa là “đối diện vật thí”, nhưng không thấy ghi nguyên ngữ. Từ điển Bách khoa Phật học xếp đây là một trong sáu loại “Tăng vật”, nghĩa là tài sản của Tăng-già. Như vậy, hiểu theo nghĩa này là “tài sản được cúng dường, bố thí trong hiện tại”. Các bản trước đây đều hiểu chữ tăng trong tăng-man là chỉ chư tăng, vì câu tiếp theo nói đến Phật. Nhưng như vậy thì chữ man (鬘– mái tóc mượt) ở đây hoàn toàn không có nghĩa. Vì thế, ở đây chúng tôi hiểu tăng-man vật là những đồ vật được trực tiếp cúng dường cho Tăng-già.
Tăng-nhất bộ kinh
增一部經; S: ekottarāgama; P: aṅguttara-nikāya;|Bộ kinh thứ tư của Kinh tạng. Bộ này gồm 11 tập, thường ngắn hơn các kinh khác và được sắp xếp thứ tự theo pháp số mà chủ đề của mỗi bài kinh được chia ra. Về mặt cấu trúc này thì Tăng-nhất bộ kinh khá giống A-tì-đạt-ma (s: abhidharma).
Tăng-tắc Ca-la
僧塞迦羅; C: sēngsē jiāluó; J: sōsokukara;|Phiên âm của từ »samskāra« trong tiếng Phạn, thường được diễn đạt qua tiếng Hán là Hành (行). Một trong Ngũ uẩn (五蘊; s: skandha). Sự thúc đẩy.
Tăng-tắc-ca-la 僧塞迦羅
[ja] ソウソクカラ sōsokukara ||| A transcription of the Sanskrit 'samskāra.' Usually represented by the Chinese character xing 行. One of the five skandhas 五蘊. Impulse. => Phiên âm của từ 'samskāra' trong tiếng Sanskrit, thường được diễn đạt qua tiếng hán là Hành. Một trong Ngũ uẩn (五蘊; s: skandhas ). Lực thúc đẩy.
tĩnh
Ekàgra (S). Cessation of strife, peace, calm, quietness, stillness.
; Vắng lặng—Tranquil—Calm—Quiet—cessation of strife—Peace—Quietness—Stillness.
Tĩnh Biến
(靜遍, Jōhen, 1166-1224): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu thời Liêm Thương, húy là Tĩnh Biến (靜遍), hay Tịnh Biến (淨遍), thông xưng là Thiền Lâm Tự Pháp Ấn (禪林寺法印), Đại Nạp Ngôn Pháp Ấn (大納言法印), hiệu là Tâm Viên Phòng (心圓房), Chơn Liên Phòng (眞蓮房), Chơn Vấn Phòng (眞問房); con của quan Đại Nạp Ngôn Bình Lại Thạnh (大納言平賴盛). Ông xuất gia tại Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi thọ nhận Dòng Tiểu Dã (小野流) từ Thắng Hiền (勝賢) của Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), Dòng Quảng Trạch (廣澤) từ Nhân Long (仁隆) của Nhân Hòa Tự. Sau đó, ông đến trú trì Thiền Lâm Tự (禪林寺, Zenrin-ji). Ông được bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) của Nguyên Không (源空, Genkū) cảm hóa, bèn đến tham bái mộ của vị này, lễ bái làm đệ tử và quy y theo Tịnh Độ Giáo. Ông truyền trao các pháp của mật giáo cho Dòng Tam Bảo Viện (三寶院), và chuyển đến trú tại Vãng Sanh Viện (徃生院) trên Cao Dã Sơn. Đệ tử phú pháp của ông có Đạo Phạm (道範), Thật Hiền (實賢), v.v.
tĩnh chí
xem sa-môn.
; (靜志) I. Tĩnh Chí Phạm: Zramaịa (Sa môn). Cũng gọi: Tịnh chí. Chỉ cho người tu hạnh thanh tịnh. Phần chú giải trong Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 trung) nói: Zramaịa Hán dịch là Tĩnh chí, là danh từ mà người đời thường dùng để gọi các đạo sĩ Thiên trúc, cũng chỉ cho người tu tịnh hạnh ở nước ấy. II. Tĩnh Chí Phạm: Bràhmaịyatà. Hoàn tất việc tu hành. Kinh Pháp tập yếu tụng (Đại 4, 794 hạ) nói: Người đời còn cha mẹ là vui, Chúng tăng hòa hợp cũng an vui; Thế gian cósa môn là vui, Niềm vui tĩnh chí cũng như thế.
tĩnh chủ
Vị Tăng trưởng lão chủ trì buổi thiện tọa của chư Tăng—The elder presiding over a company of monks in meditation.
; (靜主) Chỉ cho vị Trưởng lão trong Thiền tông tham dự việc tọa thiền của chúng tăng, hoặc chỉ cho vị Trụ trì một ngôi chùa, hay vị đứng đầu các tự viện thanh tịnh, yên tĩnh. [X.chương Thiên hóa trong Hoàng bá thanh qui].
tĩnh công
Jinggong (C), Ching-kung (C)Bài tập khí công thụ động.
tĩnh dưỡng
To rest.
tĩnh huệ
Trí huệ tĩnh lặng, có khả năng thấu suốt tánh không của vạn hữu—Calm wisdom, insight into the void, or immaterial, removed from the transient.
; (靜慧) Trí tuệ an tĩnh. Tức là Không tuệ, tuệ này có năng lực trừ sạch phiền não của thân tâm.Kinh Viêngiác (Đại 17, 917 hạ) nói: Do các ý niệm lắng xuống mà rõ biết thức tâm xao động. Nhờ tĩnh tuệ phát sinh mà phiền não của thân tâm vĩnh viễn diệt trừ. Từ đó, bên trong phát sinh tịch tĩnh, khinh an.
tĩnh hành đường
The nirvana hall—See Niết Bàn Đường.
tĩnh lự
Xem Tư duy tu, Xem Thiền định.
; Dhyàna (S). Meditation. Also Thiền, thiền na.
; Dhyana (skt)—Đà Da Diễn Na—Calm thought—Unperturbed abstraction. ** For more information, please see Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Thiền Định in Vietnamese-English Section.
tĩnh lự ba la mật
(靜慮波羅蜜) Phạm:Dhyànà-pàramità. Cũng gọi: Thiềnba la mật, Thiền na ba la mật, Tĩnh lựba la mật đa, Thiền độ. Chỉ cho phép thiền định mà bồ tát tu tập để đạt đếnĐạiniết bàn, 1 trong 10 thắng hạnh, 1 trong 6ba la mật, 1 trong 10 ba la mật. Có 3 thứ Tĩnh lự: 1. An trụ tĩnh lự: Khiến an trụ trong pháp vui giải thoát hiện tiền. 2. Dẫn pháttĩnh lự: Khiến phát sinh 6 thần thông. 3. Biện sự tĩnh lự: Thành tựu sự nghiệp,làm lợi ích cho các hữu tình. Luận Biện trung biên quyển hạ (Đại 31, 474 thượng) nói: Nhờ Tĩnh lự ba la mật đa mà phát khởi thần thông, dắt dẫn hữu tình về với chính pháp. [X.luậnThành duy thức Q.9]. (xt. Thập BaLaMật).
tĩnh lự luật nghi
Dhyāna-saṃvara (S), Dhyana rules.
; (靜慮律儀) Phạm: Dhyànà-saôvara. Cũng gọi: Tĩnh lự sinh luật nghi, Thiền luật nghi, Địnhluậtnghi, Định cộng giới, Định giới, Thiền giới. Chỉ cho Sắc triền giới, tức là giới của cõi Sắc. Luật nghi chỉ cho giới thể của Vô biểu sắc. Tức nhờ tu tập thiền định, khi phát được các định cõi Sắc (Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền)thì trong tâm tự nhiên sinh ra giới thể có năng lực ngăn ngừa điều xấu ác. [X. luận Đại tì bà sa Q.119; luận Câu xá Q,14; luận Du già sư địa Q.53; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Tam Chủng Luật Nghi, Vô Biểu Sắc).
tĩnh lự luật nghi vô biểu sắc
(靜慮律儀無表色) Chỉ cho Vô biểu sắc nhờ nhập định hữu lậu mà phát sinh. Tức lúc nhập định thì từ trong thân tự phát ra giới thể có công năng ngăn ngừa điều sai quấy, xấu ác. (xt. VôBiểuSắc, TĩnhLự LuậtNghi).
tĩnh lự sinh
(靜慮生) Cũng gọi: Sinh Tĩnh lự. Tên cũ: Tứ thiền thiên. Chỉ cho 4 tầng trời thuộc cõi Sắc, là nơi sinh đến của những người nhờ tu tập 4 thứThiền định mà cảm được. Tức Sơ thiền thiên, Đệ nhị thiền thiên, Đệ tam thiền thiên và Đệ tứ thiền thiên. (xt. TứThiềnThiên)
Tĩnh Lực
靜力; 1112-1175|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, thế hệ thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư tên tục là Ngô Trạm, quê ở Cát Lăng, Vũ Bình. Sư bẩm chất thông minh, lại thông cả ba môn: Văn nghệ, học thuật và thể dục. Sư đến Thiền sư Ðạo Huệ thụ giáo và sau đó được ấn chứng.|Nghe lời khuyên của thầy, Sư đến Vũ Ninh cất trên núi một am cỏ ở làng Cương Việt. Tương truyền tiếng nói của Sư trong vắt và thời nhân bảo rằng, trong miệng Sư có con chim Hoàng oanh.|Niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ hai, một hôm Sư cáo bệnh gọi đồ chúng lại dạy: »Các ngươi! Tất cả các người học đạo lấy tâm siêng năng cúng dường Phật, không gì khác hơn chỉ cầu dứt được các nghiệp ác. Tâm miệng niệm tụng, tin hiểu nghe nhận, ở chỗ vắng vẻ yên lặng, gần Thiện tri thức. Nói ra lời hoà nhã, nói phải thời, trong tâm không khiếp nhược. Liễu đạt nghĩa lí, xa lìa ngu mê, an trụ chỗ bất động. Quán tất cả các pháp Vô thường, Vô ngã, vô tác Vô vi. Nơi nơi lìa phân biệt, ấy là người học đạo. Nay phần hoá duyên của ta đã xong.« Sư nói kệ:|先雖言吉後言凶。自是太祖諱不從|爲遇見龍爲佛子。忽遭鼠出寂無窮|Tiên tuy ngôn kiết hậu ngôn hung|Tự thị Thái Tổ huý bất tòng|Vi ngộ kiến long vi Phật tử|Hốt tao thử xuất tịch vô cùng.|*Trước tuy nói kiết, sau gọi hung|Từ đời Thái Tổ kiêng chẳng tòng|Vì thấy rồng lên làm Phật tử|Chợt trông chuột hiện lặng vô cùng.|Nói xong, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ 64 tuổi.
tĩnh lực
The power of abstract meditation.
; Sức mạnh của tĩnh lự hay năng lực của thiền tập—The power of abstract meditation.
; (靜力) Năng lực của thiền định. Tĩnh lực có công năng đoạn trừ các phiền não. Kinh Viên giác (Đại 17, 918 trung) nói: Nếu các Bồ tát thường ở trong trạng thái cực tĩnh thì nhờ tĩnh lực mà vĩnh viễn đoạn trừ phiền não, rốt ráo thành tựu.
tĩnh mại
(靖邁) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người huyện Tử đồng, tỉnh Tứ xuyên. Tính sư trầm lặng, nghiên cứu kinh luận rất sâu, là 1 trong 11 vị Đại đức chứng nghĩa trong đạo tràng phiên dịch của ngài Huyền trang. Sư trụ tại chùa Từân, cùng với các vị: Thê huyền chùa Phổ quang, Minh tuấn chùa Hoằngphúc, Biệncơ chùa Hội xương, Đạotuyên chùa Phongđức núi Chung nam, dịch kinh Bảnsự 7 quyển. Lại cùng với ngài Thầnphưởng, sư nhận chức bút thụ chùa Từ ân. Sư có các tác phẩm: Cổ kim dịch kinh đồ kỉ 4 quyển; Bátnhã tâm kinh sớ 1 quyển; Phật địa kinh luận sớ 6 quyển; Thập luân kinh sớ 8 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].
tĩnh mặc
To keep silent; to hold one's peace.
tĩnh thất
Abode of peace, the quiet heart.
; Tĩnh phòng của chư Tăng—The abode of peace, the quiet heart.
tĩnh thắng tam muội
(靜勝三昧) Chỉ cho sự tọa thiền vô vi tịch tĩnh, chìm đắm trong cảnh giới rỗng không, lặng lẽ, là lời chê bai pháp thiền Mặc chiếu. Đại tuệ Phổgiác thiền sư ngữ lục quyển 26 (Đại 47, 921 hạ) nói: Tôi suy đi nghĩ lại, ắt ngờ ông đã đắm trước Tĩnh thắng tam muội, đến khi hỏi Trựccácthì biết quả như tôi đã dự liệu (xt. Mặc Chiếu Thiền). TĨNH THẤT Ngôi nhà yên tĩnh, thí dụ cảnh giới thiền định. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 17 thì Niết bàn thường lạc là từ trí tuệ chân thực sinh khởi, trí tuệ chân thực là từ nhất tâm thiền định sinh khởi. Ví như ngọn đèn trước gió, khó có thể chiếu sáng, phải đặt nó trong căn nhà kín gió thì ngọn đèn ấy mới phát huy được tác dụng chiếu sáng hoàn toàn. Trí tuệ cũng thế, nếu tâm tán loạn thì trí tuệ không thể phát huy công dụng, phải có thiền định thì trí tuệ chân thực mới sinh khởi được.
tĩnh trí
Calm wisdom, the wisdom derived from quietness, or mystic trance..
; Trí huệ đạt được từ sự tĩnh lự—Calm wisdom, the wisdom derived from quietness, or mystic trance.
; (靜智) Chỉ cho trí tuệ trong sáng, lặng lẽ, dứt bặt các phiền não. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 861 thượng) nói: Sau nhờ nghiệp trước mà việc tu tập càng thêm sáng tỏ, tĩnh trí lắng trong mới toại được nguyện trước.
tĩnh tung
(靖嵩) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người ở Cố an, quận Trác (nay là tỉnh Hà bắc), họ Trương. Sư xuất gia năm 15 tuổi, theo ngài Dung trí ở Nghiệp đô học kinh Niết bàn, Thập địa kinh luận, luật Tứ phần, luận Tạp a tì đàm tâm, luận Thành thực,...… Sư từng truyền Tam qui cho Lang gia vương của Bắc Tề. Đến khi Vũ đế nhà Bắc Chu phá diệt Phật pháp, sư đến Giang nam ở ẩn, ngoài việc thuyết giảng, sư còn học luận Nhiếp đại thừa nơi ngài Pháp thái. Trong năm Khai hoàng (581-600), sư trụ ở chùa Sùng thánh tại Bành thành, hoằng dương luận Nhiếp đại thừa. Năm Đại nghiệp thứ 10 (614), sư thị tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các tác phẩm: Nhiếp đại thừa luận sớ 6 quyển; Tạp a tì đàm tâm luận sớ 5 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.10].
tĩnh tuệ
Calm wisdom, insight into the void, or immaterial, removed from the transient.
; See Tĩnh Huệ.
tĩnh tâm
Ekàgratà (S). Tranquility of mind; serenity.
; Peace of mind—To have an untroubled mind—To regain calmness of mind.
tĩnh tư
Calm thought; meditation, a meditator, i.e. a monk.
; 1) Hành giả: A meditator. 2) Một vị Tăng: A monk. 3) Thiền tập: Meditation. 4) Tư tưởng tĩnh lặng: Calm thought.
tĩnh tọa
To sit in contemplation.
; Seated in meditation—See Tịnh tọa.
tĩnh tức
Yama (skt)—Diêm Ma—Phương tiện của Diêm ma là làm lắng đọng hay dứt các tội của tội nhân—He who restrains curbs, controls, keeps in check.
; (靜息) Phạm: Yama. Hán dịch: Diêm ma vương. Ngưng dứt việc tạo các tội ác. Nghĩa là nhờ vào phương tiện chỉ dạy của vua Diêm ma mà tội nhân biết tội lỗi của mình, không dám làm các điều ác nữa. [X. Du già luận kí Q.16, phần cuối (Độn luận)]. (xt. Diêm MaVương).
tĩnh uyển
(靜琬) Cũng gọi: Tịnh uyển, Trí uyển. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy. Trong năm Đạinghiệp (605-617), sư trụ ở chùa Trítuyền tại U châu (nay là tỉnh Hà bắc), thấy vua Vũđế nhà Bắc Chu phá hoại Phật giáo một cách triệt để, sư bèn phát nguyện khắc tất cả kinh trên các phiến đá, cất giấu trong núi Bạch đới ở Trác châu (tỉnh Hà bắc) để phòng sau khi pháp diệt, giúp người học theo đó mà tu tập. Do đó, núi Bạch đới được đổi tên là Thạch kinh sơn (núi Kinh đá), sau lại đổi là Thạch cảnh sơn. Bấy giờ, sư được Hoàng hậu của vua Dạngđế nhà Tùy giúp đỡ trong sự nghiệp này.Nhưng chí nguyện chưa thành thì sư đã thị tịch, các đệ tử tiếp nối việc khắc kinh của sư. [X. Pháp uyển châu lâm Q.18; Tiểu tây thiên thạch kinh đường kí].
tĩnh xứ tát bà ha
(靜處薩婆呵) Tát bà ha, Phạm:Svàhà. Hán dịch: Cát tường, Thành tựu. Tát bà ha phần nhiều được dùng ở cuối các câu văn thần chú. Còn cảnh giới thành tựu, đạt được khi tọa thiền ở nơi yên tĩnh thì gọi là Tĩnh xứtát bà ha. Chương Hoàng long Pháp trung trong Gia thái phổ đăng lục quyển 16 (Vạn tục 137, 122 hạ) ghi: Vị tăng hỏi: Thế nào là Phật? Đáp: Chớ tìm kiếm bên ngoài (…...). Hỏi: Thế nào là Thiền? Đáp: Chớ truyền ra bên ngoài. Hỏi: Vậy rốt cùng là thế nào? Đáp: Tĩnh xứtát bà ha!
tĩnh ái
(靜藹) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Bắc Chu, người ở Huỳnh dương, họ Trịnh. Năm 17 tuổi, sư cùng với người bạn đến chùa xem các bức vẽ miêu tả địa ngục, bèn quyết chí đến Thiền sư Hòa ở chùa Ngõa Quan xin xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo Pháp sư Cảnh học luận Đại trí độ. Về sau, sư lại theo vị Phạm tăng học trong 10 năm. Ngoài luận Đại trí độ, sư còn tinh thông Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận…... Sư ở ẩn trong núi Chung nam, nhiều người đến theo học, dần dần phát triển thành trung tâm học vấn. Bấy giờ, Vũ đế nhà Bắc Chu nghe theo lời đạo sĩ Trương tân, muốn phế bỏ Phật pháp, sư dâng biểu can ngăn nhưng nhà vua không nghe, sư bèn dẫn học trò vào sâu trong núi Chung nam, tạo lập 27 ngôi chùa men theo sườn núi hiểm trở. Niên hiệu Tuyên Chính năm đầu (578), sư ngồi xếp bằng trên đá, tự cắt thịt mình rồi thị tịch, hưởng dương 45 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Tam bảo tập. [X. Phật tổ thống kỉ Q.38; Tục cao tăng truyện Q.23].
tơ duyên
marriage bonds.
tơ hồng
Bond of marriage.
tơ lòng
Ties of affection.
tơ tưởng
To dream.
tơi bời
To run away in disorder.
tơi tả
In tatters—In rags.
Tư
滋; C: zī; J: ji;|Càng nhiều hơn; tăng thêm; phong phú; chín muồi. Gia tăng; nuôi dưỡng, làm tươi nhuận, kích động.
tư
Cetanā (S), Volition Một trong 10 đại địa pháp.Tác dụng tạo tác các nghiệp.
; Cint-(S). Think, thought; turn the attention to; intp. by tâm sở pháp mental action or contents, mentality, intellection.
; 1) Bốn: Four. 2) Chú tâm vào: To turn the attention to. 3) Đầu tư: To invest capital. 4) Riêng tư: Private—Secret—Selfish. 5) Tâm sở pháp: Mental action or contents, mentality, intellection. 6) Thứ tư: Fourth. 7) Tiền vốn: Funds 8) Tư duy: Sankhara (p)—Tên của tâm sở pháp (đem cái tác dụng khiến tâm tạo tác mà đặt tên)—Thought—To think.
Tư Ba
(斯波, Shiba): tên của một dòng họ, thuộc hàng quan Thủ Hộ Đại Danh dưới thời đại Thất Đinh, thuộc dòng họ Túc Lợi. Con của Túc Lợi Thái Thị (足利泰氏) là Gia Thị (家氏) dời đến sinh sống ở Quận Ba Tư, vùng Lục Áo (陸奥), và lấy tên của địa phương này làm tên của dòng họ mình. Đến thời Cao Kinh (高經) thì làm quan Quản Lãnh và Thủ Hộ vùng Việt Tiền (越前). Sau đó, ông còn làm chức Thủ Hộ kiêm luôn cả hai vùng Vĩ Trương (尾張), và Viễn Giang (遠江). Trong vụ Loạn Ứng Nhân thì dòng họ này bị phân liệt và đi đến suy thối.
Tư biện 思辯
[ja] シベン shiben ||| To speculate; speculation. => Suy xét, nghiên cứu; sự suy đoán.
tư bà
Xem Hạnh phúc.
tư bản
Capital.
tư chất
Natural qualities.
tư cách
Aptitude—Manner.
tư cách của bậc chơn tu
The personality of the true cultivator.
tư duy
.
; To consider or reflect on an object with discrimination; thought, reflection.
; To think—Thought—To reflect—To consider or reflect on an object with discrimination—See Thiền.
tư duy hữu ngã luận
Egocentricism.
tư duy nhị nguyên
Dualistic thoughts.
tư duy tu
Dha (S), Meditation Tĩnh lự, Đà nam, Đà diễn na.
; Thực tập tư duy—The cultivation of ponderance.
Tư duy 思惟
[ja] シユイ shiyui ||| (1) To think, to consider or discriminate an object. To continue thinking about one thing. Deliberation (cetanā, cintā, mīmāmsā, upadhyāna). (2) To think in one's mind. (3) To consider theoretically. (4) To think in view of achievement. (5) To pay attention, to pay heed (maniskara). (6) to practice the Buddhist Way. (7) One of the 'Ten Dharma Practices' 十法行. To infer a meaning through the principle. Thinking => (cintanā). 1. Suy nghĩ, xem xét hay phân biệt một vật. Duy trì suy nghĩ về một việc. Sự thận trọng (s: cetanā, cintā, mīmāmsā, upadhyāna). 2. Suy tưởng trong tâm mình. 3. Suy nghĩ về lý thuyết. 4. Suy tính để thành tựu việc gì. 5. Chú ý, lưu ý đến (s: maniskara). 6. Tu tập Phật đạo. 7. Một trong 'Thập pháp hạnh'. Suy luận ra ý nghĩa nhờ một nguyên lý. Tư tưởng (s: cintanā).
tư duyên
Những ngoại duyên vật chất cần thiết cho một vị Tăng như y áo, thực phẩm, và phòng ốc—The material necessaries of a monk, clothing, food, and shelter.
tư dục
Evil desires.
tư giả
Thought or its content as illusion.
; Thể của tư hoặc là hư vọng vô thực nên gọi là tư giả—Thought or its content as illusion.
tư hoặc
The illusion of thought.
; Có chấp tư tưởng sai lầm là Tư hoặc.
tư hoặc (tu hoặc)
Tư tưởng khởi dậy qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài hay những thói quen như tham, sân, si, vân vân—The illusion of thought—Thoughts arising through contact with the world or by habits such as desires, anger, infatuation, etc. ** For more information, please see Tu Hoặc.
tư huệ
Cintamayi-prajā (S)Một trong Tam huệ.
; Trí huệ đạt được do công phu tu tập thiền định và giáo lý nhà Phật—The wisdom attained by meditating on the principles and doctrines of Buddhism.
tư hữu
Private property.
tư kiến
Personal opinion.
tư kỷ
Always thinking of self—Selfish.
tư lý nha
Surya (skt). 1) Mặt Trời: The sun. 2) Thần mặt Trời: The sun-deva.
tư lương
Maāṇa (P).
; Sambhara (skt). (I) Nghĩa của “tư lương”—The meanings of Sambhara: 1) Chất liệu chuẩn bị: Preparatory material. 2) Muốn thực phẩm: To desire food. 3) Thiền định được xem như món ăn tinh thần cho tâm linh—Thought-food, or mental food, meditation as a kind of mental food. 4) Thực phẩm cho thân và tâm như đồ ăn, bố thí và trí tuệ, vân vân: Supplies for body or soul, e.g. food, almsgiving, wisdom, etc. 5) Thực phẩm thuộc tinh thần: Moral provisions. (II) Phân Loại “tư lương”—Categories of Sambhara: (A) Nhị Chủng Tư Lương: Two kinds of spiritual provender—See Nhị Chủng Tư Lương.
tư lượng
Thinking and measuring, or comparing; reasoning.
; Suy tư và lý luận hay so sánh—Thinking and measuring, or reasoning, comparing.
tư lượng năng biến thức
Mana (skt)—Mạt Na Thức hay thức thứ bảy trong bát thức—The seventh vijnana, intellection, reasoning. ** For more information, please see Mạt Na Thức.
tư lượng thức
The seventh vijnàna, intellection, reasoning.
Tư lượng 思量
[ja] シリョウ shiryō ||| (1) To think about, consider, contemplate on. (Pali parivṃsate, ceteti; Skt. mīmāṃsā, cintana, cintā, manaskāra). (2) The basic quality, or "stuff" or potentiality of thought (manas) 意. (3) In Yogācāra discourse, often carries connotations of "defiled thought." => 1. Suy nghĩ về, xem xét, suy tưởng (p: parivṃsate, ceteti; Skt. mīmāṃsā, cintana, cintā, manaskāra). 2. Phẩm chất căn bản, hay “quặng sạch” hay tiềm năng của tư tưởng (manas; ý意). 3. Trong các luận Duy thức, Tư lượng thường có nghĩa mở rộng là “vọng tưởng nhiễm ô”.
tư lợi
Ātmahita (S), Personal benefit.
; Self-interest—Personal interests.
tư lự
Manyati (skt)—To reflect—To worry.
Tư Mã Quang
(司馬光, 1019-1086): Nho gia, chính trị gia, đã từng làm việc dưới các đời vua Nhân Tông, Anh Tông và Thần Tông nhà Bắc Tống, tự là Quân Thật (君實), xuất thân Huyện Hạ (夏縣), Tỉnh Sơn Tây (山西省). Ông đã từng tranh đấu phản đối Tân Pháp của Vương An Thạch (王安石), được tặng cho xưng hiệu là Thái Sư Ôn Quốc Công (太師温國公). Trước tác của ông có Tư Trị Thông Giám (資治通鑑).
tư mã thiên
Sima Qian (C), Ssu-ma Ch'ien (C).
Tư nghị 思議
[ja] シギ shigi ||| (1) To think about the meaning of the words of the scriptures (artha-cintā). (2) To think, to conceptualize. A conception. (3) To think objectively. => 1. Suy tư về ý nghĩa của ngôn từ hay kinh luận (s: artha-cintā). 2. Suy nghĩ, nhận thức. Một quan niệm. 3. Suy nghĩ một cách khách quan.
tư pháp
Justice.
Tư Phúc Như Bảo
資福如寶; C: zīfú rúbǎo; J: shifuku nyohō; tk. 9/10; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Quy Ngưỡng, nối pháp Thiền sư Tây Tháp Quang Mục (西塔光穆), một môn đệ đắc pháp của Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Sư được nhắc lại trong Công án 33 và 91 của Bích nham lục. Ngoài ra sử sách hầu như không ghi gì thêm về Sư ngoài việc sử dụng 97 viên tướng, một hệ thống truyền pháp bí mật mà chỉ các bậc thượng thủ trong Quy Ngưỡng tông được truyền và ứng dụng. Hệ thống 97 viên tướng xuất phát từ Quốc sư Nam Dương Huệ Trung, qua Ðam Nguyên Ứng Chân và được Thiền sư Ngưỡng Sơn đưa vào tông Quy Ngưỡng.
tư phúc như bảo
Shifuku Nyohō (J)Tên một vị sư.
Tư phước
(資福): lấy phước, cầu phước. Như trong Cân Sương Thuyết (巾箱說) của Kim Thực (金埴, 1663-1740) nhà Thanh có câu: “Nhiên vãng vãng nghiệm chi, niên phong gia cấp, tương dữ các kỳ dư tài dĩ tư phước (然往往驗之、年豐家給、相與榷其餘財以資福, nhưng thường thường suy nghiệm thấy, năm được mùa, nhà nhà no đủ, bèn đánh thuế tài sản dư để cầu phước).” Hay trong Lịch Triều Thích Thị Tư Giám (歷朝釋氏資鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 76, No. 1517) quyển 8 có đoạn: “Giáp Thìn tứ niên, Quán Sát Sứ Vương Trí Hưng, dĩ thượng thập nhị nguyệt sanh nhật, thỉnh ư Tứ Châu trí Giới Đàn độ tăng ni dĩ tư phước (甲辰四年、觀察使王智興、以上十二月生日、請於泗州置戒壇度僧尼以資福, vào năm Giáp Thìn [824], niên hiệu Khánh Trường thứ 4 nhà Đường, Quán Sát Sứ Vương Trí Hưng [758-836], nhân ngày sinh nhật tháng 12, thỉnh đến Tứ Châu thiết lập Giới Đàn độ tăng ni để cầu phước).”
Tư Phước Như Bảo
(資治通鑑, Shijitsugan): gọi tắt là Thông Giám (通鑑, Tsugan), bộ sách lịch sử, 294 quyển, do Tư Mã Quang (司馬光, 1019-1086) nhà Tống trước tác. Đây là tác phẩm biên thuật theo thể biên niên trong khoảng thời gian 1.362 năm từ Uy Liệt Vương (威烈王) nhà Chu cho đến Thế Tông (世宗) nhà Hậu Chu thời Ngũ Đại, có lời chú giải của Hồ Tam Tỉnh (胡三省) nhà Chu.
tư quyền
Personal rights.
tư sinh
Những thứ cần thiết trong đời sống—Necessaries of life.
Tư sở thành địa 思所成地
[ja] シショジョウチ shishojōchi ||| The stage completed by thought. The title of one of the section divisions of the Yogācārabhūmi-śāstra. 〔瑜伽論 T 1579.30.361b〕 => Giai vị thành tựu tư duy. Tên một chương trong Du-già sư địa luận.
Tư thái dục
xem Ba sự ham muốn.
tư thông
To commit adultery.
tư thế tọa thiền
Meditation posture—The posture having eight features of Buddha way of sitting: 1) Thân thẳng: Lưng thẳng—Straight body—Straight Spine—Straight back—The body should be perpendicular with the floor. 2) Chân bắt tréo hoặc chân nầy chồng lên chân kia: The legs should be crossed or one over the other. 3) Bàn tay này nằm trên bàn tay kia, lòng bàn tay ngữa lên, hai ngón cái chạm nhau, cả hai bàn tay đặc sát vào bụng với hai ngón cái ngang rún: One hand on top of the other, both palms upwards, the two thumbs should be touching and the hands placed close to the belly with the thumbs at the level of the navel. 4) Đầu hơi ngã về trước tránh bị khích động tâm thần: The head should be slightly inclined downwards to prevent mental excitement. 5) Vai buông lơi nhưng thẳng một cách tự nhiên: Shoulders should be relaxed but straight, level and balanced. 6) Răng và môi khép lại một cách tự nhiên: The teeth and lips should be closed naturally. Not to open nor too tight closed. 7) Lưỡi chạm vào bên trong thành răng trên: The tongue should touch the upper teeth which helps prevent dry mouth. 8) Mắt nửa nhắm nửa mở tránh sư lôi cuốn bên ngoài hay sự buồn ngũ bên trong: The eyes should be half-open (neither wide open nor completely closed) to prevent distractions and or sleepiness.
tư thực
Thought-food, mental-food; to desire food.
tư trang
Jewelry and money which a woman bring to the husband's family at marriage.
tư trạch
Tarka (S), Reasoning, Takka (P)Suy tưởng, Suy lýMột trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
tư trạch lực
Power in thought and selection (of correct principles).
; Khả năng suy nghĩ lựa chọn những nguyên tắc đúng đắn—Power in thought and selection of correct principles.
Tư trạch 思擇
[ja] シチャク shichaku ||| To ponder, think deeply about; analyze in a thorough and concentrated manner (pratisaṃkhyā). => Suy nghĩ về, cân nhắc kỹ lưỡng về; phân tích theo lối tập trung và triệt để (s: pratisaṃkhyā).
Tư Trị Thông Giám
(斯文): nghĩa là học vấn ấy, đạo ấy. Trong bộ Luận Ngữ, Chương Tử Hãn (子罕) có câu rằng: Thiên chi tướng táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã (天之將喪斯文也、後死者不得與於斯文也, vị tướng trời đã chôn đi cái học vấn ấy, nên người chết sau không có được cái học vấn ấy). Như vậy từ này vốn phát xuất từ trong Luận Ngữ.
tư tuệ
The wisdom attained by meditating (on the principles and doctines of Buddhism),
tư tài trướng
Bản kê khai tài sản của tự viện—Schedule of property of a monastery.
tư tâm
Selfishness—Egoism.
tư tình
1) Personal relationship. 2) To commit adultery.
tư tưởng
(A) Nghĩa của Tư Tưởng—The meanings of “Thoughts”—Thoughts—Ideas—Theo Kinh Satipatthana, Đức Phật đã trình bày sự tỉnh thức về con đường giác ngộ. Nơi đây đối tượng tinh thần được chú tâm thẩm tra và quan sát khi chúng phát sinh trong tâm. Nhiệm vụ ở đây là tỉnh thức về những tư tưởng sinh diệt trong tâm. Bạn sẽ từ từ hiểu rõ bản chất của những tư tưởng. Bạn phải biết cách làm sao sử dụng những tư tưởng thiện và tránh cái nguy hiểm của những tư tưởng có hại. Muốn thanh tịnh tâm thì tư tưởng của bạn lúc nào cũng cần được kiểm soát—In the Satipatthana Sutra, the Buddha explained His Way of Enlightenment. Here, mental objects are mindfully examined and observed as they arise within. The task here is to be aware of the thoughts that arise and pass away within the mind. You must slowly understand the nature of thoughts. You must know how to make use of the good thoughts and avoid the danger of the harmful thoughts. Your thoughts need constant watching if the mind is to be purified. (B) Phương Cách tỉnh thức về những Tư Tưởng—Methods of mindfulness of thoughts and mental states—Tỉnh Thức về những Tư Tưởng—Mindfulness of Thoughts. • Ngồi một mình tập trung tâm vào những tư tưởng—To sit alone and concentrate the mind on the thoughts. • Quan sát những tư tưởng thiện và ảnh hưởng tinh thần của chúng: To watch the good thoughts and observe how they affect your mental state. • Quan sát những tư tưởng có hại và thấy chúng làm tinh thần xáo trộn thế nào: To watch the harmful thoughts and observe how they disturb your mental state. • Đừng cố ý cưỡng lại những tư tưởng, vì càng cưỡng lại bạn càng phải chạy theo: Do not try to fight with the thoughts, for the more you try to fight them, the more you have to run with them. • Hãy quan sát những tư tưởng một cách vô tư và tạo cơ hội để vượt qua chúng. Sự chuyển động vượt qua tư tưởng và kiến thức mang lại an lạc, hòa hợp và hạnh phúc. Chỉ quan sát những tư tưởng, từ từ bạn sẽ hiểu được cách kiểm soát những tư tưởng tội lỗi và khuyến khích các tư tưởng thiện: Simply observe the thoughts dispassionately and so create the opportunity to go beyond them. The moving beyond all thoughts and knowledge bring peace, harmony, and happiness. Simply observe these thoughts, you will slowly come to understand how to control evil thoughts and to encourage good thoughts. • Trong sinh hoạt hằng ngày, cố gắng quan sát tiến trình suy nghĩ của bạn. Chỉ quan sát chứ đừng đồng nhất với tiến trình: In the course of your working day, try to observe your thinking process. Simply observe and do not identify with this process.
tư tưởng ngưng đọng (tưởng tịch)
Active thought has been put to rest.
tư tưởng phân biệt
Discriminatory thought—Thinking of percepts or concepts as objective realities—Fixation on appearances while ignorant of essence.
tư tưởng thanh tịnh
Pure thoughts.
tư tưởng triết lý
Philosophical thought.
tư tưởng tán loạn
Conceptual distractions.
tư tưởng từ bi với chúng sanh mọi loài
Thoughts of compassion to all beings.
tư tưởng vô hại
Harmless thoughts.
tư tưởng xấu xa
Những ý nghĩ xấu xa—Evil thoughts—Negative thoughts—Negative thoughts include 1) Resentment: Oán hận. 2) Greed: Tham lam. 3) Jealousy: Ganh tỵ. 4) Anger: Sân giận. 5) Wishing to harm others: Muốn hại người. 6) Wrong views: Tà kiến. 7) Slander: Phỉ báng. 8) Lying: Nói dối. 9) Arrogance: Cống cao ngã mạn. 10) Stealing: Trộm cắp. 11) Sexual misconduct: Tà dâm. 12) Substance abuse: Hút, uống hay chích những chất cay độc. 13) Double-tongued: Nói lưỡi hai chiều. 14) Harsh speech: Nói lời độc ác. 15) Bad attitudes: Thái độ xấu ác. 16) Wrong discernments: Phân biệt sai lầm. 17) Faithlessness: Không có niềm tin. 18) Ignorance: Si mê. 19) Thought of killing: Tư tưởng sát sanh. 20) Causing trouble: Gây rối, etc.
Tư tế 伺察
[ja] シサツ shisatsu ||| Deep, subtle analysis that penetrates to the core of things. In most vipaśyanā (觀) meditational systems this is considered to be the most subtle form of analytical meditation. => Quán sát, tư duy sâu kín để thâm nhập vào cốt tủy của các pháp. Trong hầu hết các hệ thống Thiền Minh sát (Quán, s: vipaśyanā), Tư tế được xem là dạng vi tế nhất trong pháp Thiền phân tích.
Tư văn
(四恩): bốn ơn lớn, có nhiều thuyết khác nhau. (1) Chỉ cho ơn mẹ, ơn cha, ơn Như Lai, ơn pháp sư thuyết pháp. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 61, cha mẹ có công ơn sanh ra thân ta, nuôi dưỡng ta nên người; cho nên ơn ấy khó mà đền đáp được. Đức Như Lai Chánh Đẳng Giác là bậc Đại Sư Vô Thượng giúp chúng sanh trong Ba Cõi thoát ra sanh tử luân hồi; vì vậy ơn ấy cũng khó báo đáp. Pháp sư dùng năng lực thuyết pháp khiến cho người nghe chuyển hóa tâm thức, cải tà quy chánh, khiến cho người kiêu mạn được điều phục, cho nên ơn ấy cung khó đền đáp. (2) Theo Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh (大乘本生心地觀經) quyển 2 giải thích, Tứ Ân là ơn cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn quốc vương, ơn Tam Bảo. (3) Chỉ cho ơn sư trưởng, ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn thí chủ. (4) Chỉ cho ơn trời đất, ơn quốc vương, ơn sư trưởng và ơn cha mẹ.
tư vấn
To consult—To advise.
Tư án 思案
[ja] シアン shian ||| To think. Thought, pondering over. Fret, worry. => Quá trình tư duy, trầm tư về điều gì. Băn khoăn, lo nghĩ.
tư ích
Private interest.
tư ích phạm thiên sở vấn kinh
Ssu-i fan-t'ien so-wen ching (C)Tên một bộ kinh.
tư đà hàm
Sakaḍāgāmi (S), Once-returner Sakṛḍāgāmi (S)Tư đà hàm quả, Nhứt vãng lai quả, Nhứt lai quảQuả vị Tư đà hàm. Trong 4 quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Sakadagamin = người đắc quả Tư đà hàm. Quả vị Tu đà hàm, có nghĩa là bậc chỉ còn một lần trở lại thế gian mới siêu thoát luân hồi.
; Sakrdàgàmin (S). One who has attained the 2nd stage of the Noble Path.
; Sakrdagamin (skt)—See Tứ Thánh Quả (2).
tư đà hàm (người đắc quả)
Sakṛḍāgāmi (S).
tư đà hàm quả
Sakadagamiphala (S), Fruit of once.
; Sakrdagamiphala (skt)—Tình trạng còn quay trở lại một lần nữa—The state of coming back once more—See Tứ Thánh Quả (2).
tư đà hàm đạo
Sakaḍāgāmimagga (P)
tư ấn
Ấn riêng của nhà sư, có hình giống như sọ người để nhắc nhở về sự ngắn ngủi của cuộc sống—A monk's private seal, which should resemble a skull as reminder of the brevity of life.
Tư 思
[ja] シ shi ||| (1) To think, contemplate, esteem, consider, judge, realize, imagine. Thought(s), idea, mind, sense. (2) the function of the mind with a motive; intention, aim; volitional activity. In Abhidharmakośa theory, one of the Ten Great Ground Mental Function Elements (cetanā, detayitva). (3) In Consciousness-only theory, creative, volitional functioning; one of the Five Pervasively Functioning Mental Function Elements; the essence of karma. (4) Inference, reasoning, deduction. Discrimination. => 1. Suy nghĩ, trầm ngâm suy tưởng, coi là, cân nhắc, phán đoán, thấy rõ, tưởng tượng. Tư tưởng, ý tưởng, tâm trí, ý thức. 2. Tác dụng của tâm ý với một động cơ; dự định, mục đích; hành vi thuộc ý chí. Theo giáo lý Câu-xá luận, Tư là một trong 10 Đại địa pháp (e: Ten Great Ground Mental Function Elements; s: cetanā, detayitva). 3. Theo giáo lý Duy thức tông, Tư là pháp gây ra sự tạo tác, là tác dụng của ý chí; là một trong 5 Biến hành thuộc Tâm sở pháp; là bản chất của nghiệp. 4. Sự suy ra, lý lẽ, sự suy diễn. Sự phân biệt.
Tư 滋
[ja] ジ ji ||| More and more; increasingly; be luxuriant; be ripe, fruitful. Increase; to nourish, to stir up, to excite. => Càng nhiều hơn; tăng thêm; phong phú; chín muồi. Gia tăng; nuôi dưỡng, làm tươi nhuận, kích động.
Tư 私
[ja] シ shi ||| (1) Myself, I, me. (2) Personal; one's person; personal affairs; private affairs; secret, private, as opposed to public (公). (3) Concerning one's personal benefit; selfish. => 1. Tự tôi, chính tôi, Tôi. 2. Cá nhân, riêng tư, chuyên riêng; việc riêng; việc thầm kín, việc tư. khác với việc chung ( công 公). 3. Chỉ cho lợi lạc riêng tư của mỗi người; sự ích kỷ.
Tư-đà-hàm
xem Bốn quả thánh.
; 斯陀含; S: sakṛḍāgāmin; P: sakaḍāgāmin; |Nhất lai.
Tư-đà-hàm 斯陀含
[ja] シダゴン shidagon ||| A transliteration of the Sanskrit sakṛd-āgāmin, meaning "once-returner," which is usually translated into Chinese as yilai 一來 or yizhulai 一住來. A religious practitioner who will only be reincarnated in this world one more time. The second of the four Hīnayāna fruits 四果. => Phiên âm chữ sakṛd-āgāmin trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là “trở lại một lần nữa”, chữ Hán thường dịch là Nhất lai (c : yilai一來 ) hay Nhất vãng lai (c: yizhulai 一住來). Hành giả còn phải tái sinh trong thế gian nầy một lần nữa. Là quả vị thứ hai trong Tứ quả Tiểu thừa.
tưu lý minh phi
Caurī (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở nam cung.
tương hợp
Xem Đạo lý.
Tương nhiếp 相攝
[ja] ソウショウ sōshō ||| To include each other; mutual inclusion; mutual containment; to have in common; to share. 〔二障義 HPC 1.800c20〕 => Bao hàm lẫn nhau, bao gồm lẫn nhau; nhiếp phục lân nhau; có chung với nhau, chia sẻ cùng nhau.
tương nhập
Mutual entry; the blending of things, eg. the common light from many lamps.
Tương phản 相反
[ja] ソウホン sōhan ||| Contradictory, opposing. => Trái ngược, đối lập.
Tương sinh 將生
[ja] ソウショウ sōshō ||| A sentient being in the intermediate state between death and rebirth 中有, who is soon to be reborn into this world. 〔瑜伽論 T 1579.30.412c22〕 => Trạng thái trung gian trong khoảng chết và đi đầu thai của một chúng sinh (trung hữu 中有), và chẳng bao lâu được tái sinh trong thế gian nầy.
tương sơn pháp tuyên
Chiang shan Fa ch'uan (C)Tên một vị sư.
Tương Sơn Pháp Tuyền
(蔣山法泉, Shōsan Hōsen, khoảng giữa thế kỷ 11): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc), họ là Thời (時). Lúc còn nhỏ tuổi ông đã tài mẫn, thông minh, sau ông theo xuất gia với Tín Kỷ (信玘) ở Trí Môn Viện (智門院) thuộc Long Cư Sơn (龍居山). Sau khi thọ Cụ Túc giới xong, ông đến tham yết Vân Cư Hiểu Thuấn (雲居曉舜) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên ông đến trú tại Đại Minh Tự (大明寺), rồi trãi qua một số chùa khác như Thiên Khoảnh (千頃), Linh Nham (靈巖), Nam Minh (南明), Tương Sơn (蔣山). Ngoài ra, thể theo chiếu chỉ ông đến trú trì Trí Hải Thiền Viện (智海禪院) ở Đại Tướng Quốc Tự (大相國寺). Ông được ban cho thụy hiệu là Phật Huệ Thiền Sư (佛慧禪師). Ông là người đã từng đọc sách rất nhiều, nên được gọi là Tuyền Vạn Quyển (泉萬巻).
tương tùy
Saṃbandha (S), Subordination (S, P).
Tương tợ 相似
[ja] ソウジ sōji ||| Resemblance, similarity. To simulate. => Sự tương đồng, giống nhau. Mô phỏng.
tương tục
Saṁtati (S), Continuity, Santati (P).
; Santati (S). Continuity, especially of cause and effect.
tương tục giả
Illusory ideas continuously succeed one another producing other illusory ideas, one of the three hypotheses of Thành thật luận.
Tương tục giải thoát địa ba-la-mật liễu nghĩa kinh 相續解脱地波羅蜜了義經
[ja] ソウゾクカイダツチハラミツリョウギキョウ Sōzoku gedatsuchi haramitsu ryōgikyō ||| Xiangxu jietuodi poluomi liaoyijing; (Saṃdhinirmocana-sūtra [partial]). 1 fasc., trans. Gunabhadra T 678.16.711-719. Also see T 675, 676. => (c: Xiangxu jietuodi poluomi liaoyijing; s: Saṃdhinirmocana-sūtra [1 phần]). 1 quyển. Cầu-na-bạt-đa-la (Gunabhadra) dịch.
tương tục thường
Nodal or successive continuity in contrast with bất đoạn thường uninterrupted continuity.
tương tục tâm
Continuity of memory, or sensation, in regard to agreeables or disagreeables, remaining through other succeeding sensations.
Tương tục 相續
[ja] ソウゾク sōzoku ||| (1) Continuity, succession, inheritance. Union, link, fusion. (2) Continuing individual existence. Eternal, unchanging continual individual substance (body). (3) The continuity of an unbroken lineage of a school from master to disciple. => Sự liên tục, kế tiếp, kế thừa. Kết hợp, liên kết, hỗn hợp. Thực thể tương tục. Thường hằng, thực thể tương tục bất biến (Thể). Sự truyền thừa không gián đoạn của một tông phái từ thầy đến đệ tử.
tương tức
Phenomenal identity, e.g. the wave is water and water the wave.
tương tự
Alike, like, similar, identical. Tương tự Phật, approximation or identity of the individual and Buddha, a doctrine of Thiên Thai; the stage of thập tín. Tương tự tức (Phật), one of the six of such identities, similiarity in form. Tương tự giác, the approximate enlightenment which in the stage of thập trụ, thập hạnh, and thập hồi hướng approximates to perfect enlightenment by the subjection of all illusion; the second of the four degrees of bodhi in the Awakening of Faith Khởi tín luận.
Tương vi 相違
[ja] ソウ sōi ||| (1) Opposing, contradictory (paraspara-viruddha, viruddha, virodha). (2) Different. To different. (viparyāya, viparyayena, viparyayād, viparīta). (3) An abbreviation of xiangweiyin 相違因. (4) To be at odds with reality, or correct reason. =>1. Trái ngược, mâu thuẫn (s: paraspara-viruddha, viruddha, virodha). 2. Khác nhau, phân biệt (viparyāya, viparyayena, viparyayād, viparīta). 3. Viết tắt của Tương vi nhân 相違因). 4. Xung đột với thực tế, hoặc trái nghịch với lẽ phải chân xác.
Tương y 相依
[ja] ソウエ sōe ||| Existence based on mutual dependence. => Sự hiện hữu dựa vào sự nương tựa lẫn nhau.
tương đãi
The doctrine of mutual dependence or relativity of all things for their existence, e.g. the triangle depends on its three lines, the eye on things having colour and form, long or short.
Tương đãi 相待
[ja] ソウダイ sōdai ||| (1) Interdependence, for example, heads and tails are established in their relation to each other (apekṣā, apekṣana). (2) To obtain reciprocity or symmetry. (3) To meet each other; to treat one another. => 1. Sự phụ thuộc lẫn nhau, chẳng hạn, đầu và đuôi của một vật được tạo thành do mối tương quan với nhau (s: apekṣā, apekṣana). 2. Có sự nhân nhượng lẫn nhau hay cân đối với nhau. 3. Gặp nhau, tiếp đãi lẫn nhau.
tương đối
Opposite, opposed; in comparison.
Tương đối 相對
[ja] ソウタイ sōtai ||| As opposed to; as compared to; in relation to. => Đối ngược với; đối chiếu với; tương quan với.
Tương Ưng
(相應, Sōō, 831-918): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào đầu và giữa thời Bình An, húy là Tương Ưng (相應), hiệu Kiến Lập Đại Sư (建立大師), xuất thân vùng Thiển Tỉnh (淺井, Asai), Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Kaga-ken [加賀縣]), họ Lịch Tỉnh (櫟井). Năm 15 tuổi, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), theo hầu Trấn Thao (鎭操, Chinzō). Đến năm 17 tuổi, ông xuống tóc xuất gia, làm đệ tử của Viên Nhân (圓仁, Ennin) tại Trung Đường (中堂) trong vòng 6, 7 năm. Chính ông đã khai sáng Duệ Nam (叡南, tức Vô Động Tự Cốc [無動寺谷]) để ẩn tu trong vòng 12 năm. Từ năm 859 trở về sau, ông cẳm đắc sự linh nghiệm của Bất Động Minh Vương (不動明王) ở Cát Xuyên (吉川, Yoshikawa), Tỷ Lương Sơn (比良山); cho nên sáng lập Bất Động Tự (不動寺, Minh Vương Viện [明王院]); và sau đó được kính ngưỡng như là vị tổ khai sáng ra pháp môn Hồi Phong Hành (回峰行) ở vùng Bắc Lãnh (北嶺). Ông từng tu hành ở Kim Phong Sơn (金峰山), vùng Cát Dã (吉野, Yoshino); và thường có những cuộc đàm luận liên quan đến chuyện cầu đảo linh nghiệm của ông đối với hoàng thất.
tương ưng a hàm
Saṃyutta nikāya (P), Connected Collection Saṃyuktāgama (P)Tương Ưng bộ kinhMột trong 5 phẩm của Kinh Tạng, gồm 7.762 bài kinh, chia thành 56 tiểu phẩm.
; Samyuktàgamas (S). Miscellaneous Agamas.
tương ưng a-nan-dà
Ānāpāna-samyutta (P), Mindfulness of breathing Tên một bộ kinh.
tương ưng bà la môn
Brāhmaṇa-samyutta (P), Brahmins Tên một bộ kinh.
Tương ưng bộ kinh
相應部經; S: saṃyuktāgama; P: saṃyutta-ni-kāya;|Bộ thứ ba của Kinh tạng văn hệ Pā-li (Bộ kinh, A-hàm). Tương ưng bộ bao gồm các kinh ngắn nói về cuộc đời và hoạt động của đức Phật. Các kinh này được xếp loại và đặt tên dựa trên nội dung, tên người đối đáp hay cơ hội của các bài giảng của đức Phật.
tương ưng ca diếp
Kassapa-samyutta (P), Kasspa-samyutta Tên một vị Phật hay Như Lai.
tương ưng càn thát bà
Gandhabbakāya-samyutta (P), Gandhabba devas Tên một bộ kinh.
tương ưng dạ xoa
Yakkha-samyutta (P), Yakkha demons Tên một bộ kinh.
tương ưng giới
Dhātu-samyutta (P), Elements Tên một bộ kinh.
tương ưng kim xí điểu
Supaa-samyutta (P), Garudas Tên một bộ kinh.
tương ưng kiến
Ditṭṭhi-samyutta (P)Tên một bộ kinh.
tương ưng kosaka
Kosala-samyutta (P), King Pasenadi of Kosala (Chapter SN3).
tương ưng la hầu la
Rahula-samyutta (P), Ven. Rahula (chapter SN XVIII) Tên một bộ kinh.
tương ưng lakkhana
Lakkhana-samyutta (P), Ven. Lakkhana (chapter SN XIX).
tương ưng loài rồng
Nāga-samyutta (P), Nagas (chapter SN XXIX)).
tương ưng lợi đắc cung kính
Labhasakkara-samyutta (P), Gains and tribute.
tương ưng minh kiến
Abhisamayā-samyutta (P), Realization Tên một bộ kinh.
tương ưng nhân duyên
Paṭicca Samuppāda-samyutta (P), Dependent co-arising) (chapter SN12).
tương ưng nhập
Okkantika-samyutta (P), Recurring Tên một bộ kinh.
tương ưng phiền não
Kleśa-samyutta (P), Defilements Tên một bộ kinh.
Tương ưng phược 相應縛
[ja] ソウオウバク sōōbaku ||| Binding defilements that arise concomitant with each thought, which are temporary in nature. These are contrasted to 所縁縛, which arise in connection with external objects. One of two kinds of fetters 二縛. 〔二障義HPC 1.806c24〕 => Phiền não trói buộc sinh khởi tương ưng với mỗi niệm, chỉ nhất thời trong bản tính. Ngược lại là Sở duyên phược 所縁縛 sinh khởi khi liên hệ với cảnh giới bên ngoài. Là một trong Nhị phược 二縛.
tương ưng phạm thiên
Brahma-samyutta (P), Brahma deities Tên một bộ kinh.
tương ưng radha
Radha-samyutta (P), Sutra on Ven. Radha (chapter SN XXIII) Tên một bộ kinh.
tương ưng rừng
Vana-samyutta (P), The forest (chapter SN 9) Tên một bộ kinh.
tương ưng sakka
Sakka-samyutta (P), Sakka (the Deva king) Tên một bộ kinh.
tương ưng sanh
Uppada-samyutta (P), Arising Tên một bộ kinh.
tương ưng sariputta
Sariputta-samyutta (P), Ven. Sariputta (chapter SN XVIII) Tên một bộ kinh.
tương ưng thiên tử
Devaputta-samyutta (P), Sutra on Sons of the Devas Tên một bộ kinh.
tương ưng thí dụ
Opamma-samyutta (P), Comparisons Tên một bộ kinh.
tương ưng thọ
Saṃpraykta-vedaniyata (S).
tương ưng tu đà hoàn
Sotapatti-samyutta (P), Sutra on Stream-entry Tên một bộ kinh.
tương ưng tứ chánh cần
Sammāppadhana-samyutta (P), The Four Right Exertions.
tương ưng tỳ kheo
Bhikkhu-samyutta (P), Monks (chapter SN XXI) Tên một bộ kinh.
tương ưng tỳ kheo ni
Bhikkhuni-samyutta (P), Nuns Tên một bộ kinh.
tương ưng uẩn
Khaṇḍa-samyutta (P), The aggregates of clinging/becoming Tên một bộ kinh.
tương ưng vô thủy
Anatamagga-samyutta (P), The unimaginable beginnings of samsara and transmigration (chapter SN XV).
tương ưng vô vi
Asaṅkhata-samyutta (P), The unfashioned (Nibbana) Tên một bộ kinh.
tương ưng ác ma
Mārasamyutta (P), Mara (chapter SN4) ác ma Tương ưngTên một bộ kinh.
Tương ưng 相應
[ja] ソウオウ sō-ō ||| (anvita, yukti, saṃbandha, saṃprayoga). 'Response', accordance; in tandem with; together; in synergy with; depending on each other; to be directly associated with. (1) Those things which are grouped together under the main topic of a teaching. (2) To accompany, to be involved in (anvita). (3) To be bound together, existent together. Binding, bound relationship, relationship, concomitant (yukti, saṃbandha). (4) The concomitance of mind with mental functions. (5) In the theory of Consciousness-only, union, or combination of the mind and its functions. The mind and mental functions arise from the same sensory faculty, serving as the agent, and possess the same objects, symbols, time and original quality (saṃprayoga). (6) Accordance with true principle (yoga). => (s: anvita, yukti, saṃbandha, saṃprayoga). 'Đáp lại', khế hợp; cùng đi với nhau; cùng nhau; hiệp lực cùng nhau; tin vào nhau, liên hợp trực tiếp với nhau. 1. Những điểm được xếp loại cùng nhau theo đề tài chính của giáo lý. 2. Đi kèm theo nhau, tương quan cùng nhau (s: anvita). 3. Ràng buộc cùng nhau, hiện hữu cùng nhau. Liên kết, tương quan với nhau (yukti, saṃbandha). 4. Sự tương ưng của tâm với các tâm sở. 5. Theo giáo lý Duy thức, đó là sự tương ưng của tâm và các tâm sở. Tâm và tâm sở đếu phát sinh từ cùng một gíac quan, được xem như là tác nhân, có cùng một đối tượng, biểu tượng, thời gian và nguồn gốc (saṃprayoga). 6. Khế hợp với nguyên lý chân thật (yoga).
Tương ấn 相即
[ja] ソウソク sōsoku ||| The union of two phenomena, whereby they lose their distinction and become one. Not different. => Hợp nhất của hai hiện tượng, trong đó nó đánh mất đặc tính riêng của mình và trở thành một. Không khác.
tương ứng
Xem Đạo lý.
; Response, correspond, tally, agreement, yukta, or yoga intp. as khế hợp union of the tallies, one agreeing or uniting with the others.
tương ứng nhân
Corresponding, or mutual causation, e.g. mind, or mental conditions causing mentation, and vice-versa.
tương ứng pháp
The correspondence of mind with mental data dependent on five correspondences common to both, i.e. the senses, reasoning, process, time and object.
tương ứng tông
Yoga, the sect of mutual response between the man and his object of worship resulting in correspondence in body, mouth, and mind. It is a term for Chân Ngôn tông.
Tường Nhụy
(祥蕊, Shōzui, ?-1823): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Giang Hộ, húy Tường Nhụy (祥蕊[蘂]), xuất thân vùng Tân Dã (津野), A Ba Mộc (阿波木, thuộc Tokushima). Ông xuất gia năm 16 tuổi, theo hầu vị Ni Tấn Hải (晋海) ở Chánh Hưng Am (正興庵) vùng A Ba (阿波, Awa), chuyên nghiên cứu văn học và sáng tác thi ca, văn từ. Đến năm 50 tuổi, ông kế thừa Chánh Hưng Am, rồi 10 năm sau ông giao nơi nầy lại cho đệ tử và lui về ẩn cư tại Huyễn Mộng Am (幻夢庵) ở vùng Trường Cốc Bộ (長谷部).
tướng
Xem Tâm ảnh.
; Laksana (S). External appearance; the appearance of things; form; a phenomenon hữu vi pháp in the sense of appearance, mutual; to regard. The four forms taken by every phenomenon are sinh rise, trụ stay, dị chamge, diệt cease, i.e. sinh birth, lão old age, bệnh sickness, tử death.
tướng chân như
Xem Thật tướng chân như.
Tướng chân như 相眞如
[ja] ソウシンニョ sōshinnyo ||| The suchness of characteristics, which refers to the fact that self and dharmas are both empty of inherent existence. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Chân như của các tướng, chỉ cho sự thực là ngã và pháp đều là không tồn tại trên cơ sở tự tướng. Là một trong Bảy loại chân như (Thất chủng chân như七種眞如).
Tướng Duy thức 相唯識
[ja] ソウユイシキ sōyuishiki ||| "Aspect of Consciousness-only." The teaching that the known world is a collection of the aspects of all dharmas, but is nothing but consciousness. Investigating the characteristics of the world. The ideograph 相 refers to the phenomenal world. This aspect of Consciousness-only is explained through the first four levels of apprehension of Consciousness-only. This is in contrast to xingweishi 性唯識 which is the true principle of Consciousness-only. 相唯識 is a category that explains the manifest appearances of consciousness, and it refers to all existences (法) of the nature of dependent arising that are established within true thusness. => Giáo lý cho rằng thế giới phân biệt được chỉ là tập hợp tướng của các pháp, chẳng là gì ngoài thức. Khảo sát về tính chất của các pháp, chữ Tướng có nghĩa là là thế giới hiện tượng. Phương diện nầy của Duy thức được giải thích thông qua khía cạnh đầu tiên trong 4 mức độ nhận thức về Duy thức. Thuật ngữ nầy ngược với Tánh Duy thức, là bản thể chân thực của Duy thức. Tướng Duy thức là phạm trù để giải thích sự biểu hiện của thức, nó đề cập đến các pháp mang tính duyên khởi được lập trong chân như.
tướng hy hữu
Rare and undearing appearance.
tướng hảo
Laksana-vyanjana (S). The thirty two tướng or marks and the eighty hảo or signs on the physical body of Buddha.
Tướng hảo trang nghiêm 相好荘嚴
[ja] ソウゴウショウゴン sōgōshōgon ||| Adorned by excellent characteristics. A description of the body of the Buddha. These are the 32 primary characteristics and the 18 secondary characteristics. => Được trang nghiêm bằng các tướng tốt. Diễn tả thân của Đức Phật. Có 32 tướng tốt chính và 18 tướng tốt phụ.
Tướng hảo 相好
[ja] ソウゴウ sōgō ||| The primary and secondary marks of the Buddha's body, of which there are 32 and 18 respectively (lakṣaṇaanuvyanjana). Excellent characteristics. => Những tướng tốt chính và phụ trên thân của Đức Phật, có 32 tướng tốt và chính và 18 tướng tốt phụ (lakṣaṇaanuvyanjana). Những tướng ưu việt.
tướng không
Xem Tự tướng không.
; The unreality of form; the doctrine that phenomena have no reality in themselves.
tướng luân
The sign or form of wheels, also luân tướng, i.e. the nine wheels or circles at the top of a pagoda.
Tướng mạo
[ja] ソウミョウ sōmyō ||| (mukha). Looks, features, form, shape, character. In the Mahāyāna-saṃgraha, one of four kinds of permeation of the store consciousness. 〔攝大乘論 T 1593.31.117c5〕 => (s: mukha) Ngoại hình, nét mặt, hình dáng, đặc điểm. Theo Nhiếp Đại thừa luận, đó là một trong 4 loại huân tập của tàng thức.
Tướng nhân 相因
[ja] ソウイン sōin ||| (lakṣaṇa-hetu). (1) The characteristic of karma wherein there is continual arising without cease--no break between prior instant and later instant. One of the 'six kinds of causes' 六種因. (2) The cause of a characteristic. => (s: lakṣaṇa-hetu) 1. Đặc tính của nghiệp trong đó có sự sinh khởi không ngừng–không gián đoạn giữa khoảnh khắc đầu và cuối. Là một trong Lục chủng nhân 六種因. 2. Nguyên nhân của một tướng.
tướng núi
Girinati (S), Mountain chief.
Tướng phược 相縛
[ja] ソウバク sōbaku ||| (1)The attachment by the mind to the objects in the six realms. The Cheng weishīun 成唯識論 says: "言相縛者謂於境相不能了達如幻事等 由斯見分相分所拘不得自在故名相縛". (2) In the Yogācārabhūmi-śāstra, is described as one of two kinds of binding, the binding to the marks of practice of the truths, the other being 麁重縛 (inflexibility, inadaptibility). 〔瑜伽論 T 1579.30.657a10-20〕 => Sự chấp trước của tâm với cảnh trong lục đạo. Thành Duy thức luận nói: 'Ngôn tướng phược giả, vị ư cảnh tướng bất năng liễu đạt như huyễn sự đẳng, do tư kiến phần tướng phần sở câu bất đắc tự tại, cố danh tướng phược -言相縛者謂於境相不能了達如幻事等 由斯見分相分所拘不得自在故名相縛- Tướng phược nghĩa là không thông hiểu tính chất như huyễn của các pháp, do đó bị hạn cuộc trong tướng phần và kiến phần, không được tự tại, nên gọi là tướng phược'. Theo Du-già sư địa luận, Tướng phược là một trong Nhị phược, là sự trói buộc vào mục đích của việc tu đạo; còn lại là Thô trọng phược 麁重縛 (không uyển chuyển, không thể thích nghi).
tướng phần
The part of laksana or objective appearance.
Tướng phần 相分
[ja] ソウブン sōbun ||| 'Objective aspect.' One of the four aspects of perception in Consciousness-only theory as explained by Dharmapāla. It generally means 'object of perception' but more specifically, that image of the outside world that is kept within the mind. In this case, the character xiang 相 means 'image' or 'reflection.' Since this aspect means object(s) of perception, it does not have an active conceptual function. => Một trong bốn lĩnh vực của thức theo giáo lý Duy thức được giải thích bởi Hộ Pháp (s: Dharmapāla). Nghĩa thông thường là 'đối tượng của nhận thức' nhưng có vẻ chuyên biệt hơn, có nghĩa là hình tượng của ngoại giới lưu lại trong tâm thức. Trong trường hợp nầy, chữ tướng 相 có nghĩa là hình tượng hoặc là sự phản ánh. Vì tướng phần nầy là đối tượng của nhận thức, chứ không phải là một chức năng nhận thức thực sự.
Tướng Quốc Tự
(相國寺, Shōkoku-ji): hiện tọa lạc ở phía Đông Nam nội thành Khai Phong (開封, Tỉnh Hà Nam), được xây dựng vào năm thứ 6 (555) niên hiệu Thiên Bảo (天寳) nhà Bắc Tề. Nguyên gốc chùa có tên là Kiến Quốc Tự (建國寺), sau được tái kiến dưới thời nhà Đường, đến năm đầu (713) niên hiệu Khai Nguyên (開元) thì được ban sắc ngạch là Tướng Quốc Tự (相國寺) và vào năm thứ 2 (996) niên hiệu Chí Đạo (至道) là Đại Tướng Quốc Tự (大相國寺). Dưới thời Bắc Tống, chư vị hoàng đế đều quy sùng về chùa, chia khuôn viên chùa thành 64 ngôi viện, thiết lập các đạo tràng Luật và Thiền. Viên Chiếu Tông Bổn (圓照宗本) cũng như Chánh Giác Bổn Dật (正覺本逸), chư vị Thiền tăng của Vân Môn Tông và Lâm Tế Tông đã từng vâng sắc chỉ đến trú trì hai Thiền Viện Huệ Lâm Viện (慧林院) và Trí Hải Viện (智海院). Chùa được trùng tu dưới thời nhà Kim, Nguyên và Minh, nhưng bị mai một sau trận lũ lớn của sông Hoàng Hà vào năm thứ 15 (1642) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎); và được trùng tu vào năm thứ 31 (1766) niên hiệu Càn Long (乾隆).
tướng sư
Physiognomist.
tướng Thiên phúc luân
tướng bánh xe đủ ngàn nan hoa, một trong các tướng tốt của Phật là giữa lòng bàn chân có các đường vân xoáy hình bánh xe có đủ ngàn cây nan hoa.
tướng trí
Knowledge derived from phenomena.
tướng trạng sự vật
Lakṣaṇa (S), Mark Lặc xoa na, Hộ Dã.
tướng tánh tự tánh
Lakṣaṇa-svabhāva (S)Tướng tự tánhTánh sai khác giữa các tướng trạng các pháp.
tướng tông
Xem Pháp tướng tông.
Tướng tông 相宗
[ja] ソウシュウ sōshū ||| A school or teaching that emphasizes research into the mode of all existences, i.e., the Abhidharmakośa school or the Faxiang school. => Tông phái Phật giáo nghiên cứu sâu vào các phơng thức hiện hữu, như tông A-tỳ-đạt-ma Câu-xá hoặc Pháp tướng tông.
Tướng tưởng cụ sắc tông 相想倶絶宗
[ja] ソウソウグゼツシュウ sōsō guzetsu shū ||| The doctrinal position that says truth is beyond form and perception, and that it is inexplicable. The ninth of the ten classifications of the teachings 賢首十宗 done by the early Huayan scholar Xienshou (Fazang) 法藏. => Lập trường học thuyết cho rằng chân lý siêu việt sắc tướng và nhận thức, và điều ấy là bất khả tư nghì. Là điểm thứ chín trong Hiền Thủ thập tông 賢首十宗, do Pháp Tạng (Fazang), học giả thuộc tông Hoa Nghiêm lập ra.
Tướng tưởng 相想
[ja] ソウソウ sōsō ||| Characteristics (marks) and perception. Phenomena and their perception. 〔瑜伽論 T 1579.30.625a3〕 => Sắc tướng và tri giác nhận thức. Hiện tượng và sự nhận thức về chúng.
tướng tự tánh
Xem Tướng tánh tự tánh.
tướng vô tính
Unreal in phenomena, e.g. lông rùa turtle hair and sừng thỏ rabbit's horns; the unreality of phenomena, one of the tam vô tính.
Tướng vô tính 相無性
[ja] ソウムショウ sōmushō ||| One of the three 'non-natures' (三無性) of the Yogācāra school. The lack of self-nature of appearance. Form, appearance, or seeing is unreal, e.g., a rope appearing like a snake. => Một trong Tam vô tính của Duy thức tông. Các tướng không có thể tính riêng biệt. Sắc, tướng, hay nhận thức đều không có thực thể, như sợi dây thừng trông có cẻ như con rắn.
tướng đại
The greatness of the potentialities, or attributes of the Tathàgata.
Tướng đại 相大
[ja] ソウダイ sōdai ||| The greatness of the attributes of the innately enlightened minds of sentient beings. This refers to the myriad virtuous aspects that are part of the mind enlightenment. It is one of the three greatnesses 三大 taught in the Awakening of Faith 起信論. => Sự vĩ đại của thuộc tính tâm giác ngộ ban đầu trong mọi chúng sinh. Thuật ngữ nầy đề cập đến vô số đức tướng là từng phần của tâm giác ngộ. Là một trong Tam đại được trình bày trong Luận Đại thừa khởi tín.
Tướng đạo 將導
[ja] ソウドウ sōdō ||| To lead, guide. 〔法華經 T 262.9.25c29〕 => Dẫn đường, hướng dẫn.
tướng ứng nhân
Saṃprayukta-hetu (S).
Tướng 相
[ja] ソウ sō ||| (Sanskrit: lakṣaṇa, saṃjñā, nimitta). (1) Form, appearance, state, condition, aspect, situation, expression, external appearance, outwardly expressed appearance. (2) Characteristic, distinctive feature. (3) A thought, concept 想. (4) A thought that has left traces. (5) One of the Buddha's 32 marks 三十二相. (6) One of the four marks 四相 of conditioned existence (arising, abiding, changing, ceasing). (7) Defilement. (8) Discriminated aspect(s). When juxtaposed with the notions of self, such as 人 and 我, it is equivalent in connotation to 法, i.e., objective constructs. (9) One of the ten such-likes taught in the Lotus Sutra. See 十如是. => (s: lakṣaṇa, saṃjñā, nimitta). 1. Sắc, hính dáng, trạng thái, tình trạng, dáng vẻ bên ngoài, sự biểu lộ bên ngoài. 2. Đặc tính, nét riêng biệt. 3. Tưởng. Tư tưởng, ý niệm. 4. Suy nghĩ không còn để lại dấu tích. 5. Một trong 32 tướng tốt của Đức Phật. 6. Một trong Bốn tướng của hiện hữu (sinh, trú, dị, diệt). 7. Phiền não nhiễm ô. 8. Tướng phân biệt. Khi đi cùng với từ diễn tả khái niệm về ngã, như nhân 人 và ngã我, nó có ý nghĩa tương đương với Pháp 法. 9. Là một trong Mười như thị theo kinh Pháp Hoa. Xem Thập như thị十如是.
Tường quang
(祥光): ánh sáng, hào quang tốt lành, tượng trưng cho điềm lành. Như trong bài Tuyên Đức Hoàng Hậu Đôn Khuyến Lương Vương Lịnh (宣德皇后敦勸梁王令) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều có đoạn: “Phong công hậu lợi, vô đắc nhi xưng, thị dĩ tường quang tổng chí, hưu khí tứ tắc (豐功厚利、無得而稱、是以祥光總至、休氣四塞, công lợi to lớn, không có mà thổi phồng lên, vì vậy điềm lành thảy đến, khí tốt bốn phương).” Trong Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 11, phần Thập Tổ Hiếp Tôn Giả Truyền Pháp Phú Na Dạ Xà (十祖脅尊者傳法富那夜奢), có đoạn: “Hiếp Tôn Giả, trung Ấn Độ nhân, bổn danh Nan Sanh, xử thai lục thập nguyệt, tương đản chi tịch, mẫu mộng bạch tượng tải nhất bảo tòa, tòa trí nhất minh châu, tùng môn nhi nhập, ký giác toại sanh, sanh nhi tường quang chúc thất, thể hữu kỳ hương (脅尊者、中印度人、本名難生、處胎六十年、將誕之夕、母夢白象載一寶座、座置一明珠、從門而入、既覺遂生、生而祥光燭室、體有奇香, Hiếp Tôn Giả, người miền trung Ấn Độ, tên là Nan Sanh, ở trong bào thai mẹ mười sáu tháng; vào đêm sắp sanh, mẹ ông mộng thấy con voi trắng chở một tòa báu, trên tòa ấy có đặt một viên ngọc sáng, con voi từ cửa đi vào; khi tỉnh dậy thì sanh ra ông, khi sanh thì hào quang tỏa sáng căn phòng, thân có mùi hương thơm lạ).” Hay trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1524) quyển 19, phần Nhị Tiêu Sư Truyện (二蕭師傳), lại có đoạn: “Sư chí Tống Gia Hy gian, thỉ nhập diệt, trụ thế tam bách dư tuế, hỏa hóa ư Phụng Quan nham, tường quang chúc thiên, dị hương phổ văn (師至宋嘉熙間、始入滅、住世三百餘歲、火化於鳳冠巖、祥光燭天、異香普聞, đến trong khoảng thời gian niên hiệu Gia Hy [1237-1240] nhà Tống, sư mới bắt đầu nhập diệt, sống ở đời được hơn ba trăm tuổi, hỏa táng tại núi Phụng Quan, hào quang rực trời, hương lạ ngát khắp).”
Tưởng
想; S: saṃjñā; P: saññā;|Cảm giác, khái niệm xuất phát từ tâm khi sáu giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh. Ví dụ như một người nhìn một bầy chim bay thì khi vừa nhìn thấy bầy chim là Thụ (受; s, p: vedanā), trạng thái tự chủ, tự biết mình đang thấy bầy chim bay là Tưởng (e: perception). Tưởng là uẩn thứ ba trong Ngũ uẩn.
tưởng
là những khái niệm khác nhau được tạo ra tùy theo từng đối tượng khi tiếp xúc với trần cảnh, như đen, trắng, nhỏ, to, dài, ngắn, đàn ông, đàn bà... Tưởng là một trong năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
; Saā (S), Saṃjā (S), Perception Tưởng uẩn. Tác dụng tưởng tượng sự vật. - Trong ngũ uẩn: sắc, thọ tưởng, hành, thức. - Một trong 10 đại địa pháp. One of the 10 mahabhumikas.
; To think, meditate, reflect, expect; a function of mind.
tưởng giới
The sphere of thought.
Tưởng thọ diệt vô vi 想受滅無爲
[ja] ソウジュメツム sōjōmetsu mui ||| 'concentration of cessation.' xiangshoumie >想受滅 refers to the samādhi of the extinction of the first six consciousnesses. When feeling and perception are destroyed, the sixth consciousness, the mind elements, and mental function elements are also destroyed. A deep form of meditation which is one of the six unconditioned elements in Consciousness-only theory. => Nói đến loại Định diệt trừ sáu thức đầu. Khi thọ và tưởng đã được diệt rồi, thì thức thứ sáu, các tâm pháp và tâm sở pháp đều cũng được diệt. Là một dạng định rất sâu và là một trong sáu pháp tâm bất tương ưng hành theo giáo lý Duy thức.
Tưởng thọ diệt 想受滅
[ja] ソウジュメツ sōjōmetsu ||| An expression of the condition of the experience of true reality, wherein at the time of entry into the samādhi of the extinction of the mano (6th) consciousness, the main mental functions of feeling and perception are extinguished. => Diễn đạt điều kiện chứng nhập thức tại, ở thời điểm nhập vào định diệt trừ thức thứ 6, các tâm sở chính thọ và tưởng đều dứt sạch.
tưởng uẩn
Saa-kkhanda (P), Aggregate of perception Saṃjā-skandha (S).
; Sanjnà (S). One of the five skandhas, perception.
Tưởng uẩn 想蘊
[ja] ソウウン sōun ||| (saṃjñāna-skandha); 'perception.' One of the five skandhas. Refers to images that surface in the mind. 'symbolic function.' In the theory of elements in the Yogācāra school, the elements of perceptive mental function are included in this skandha. (s: saṃjñāna-skandha); => Một trong năm uẩn. Nói đến ý tưởng xuất hiện trong tâm. Theo quan niệm về các pháp của Duy thức tông, thì các pháp thuộc về tâm sở nhận thức đều bao gồm trong uẩn nầy. Tương ưng pháp 相應法 [ja] ソウオウホウ sōōhō ||| (1) Concomitant elements (dharmas); the mind 心 and mental objects 心所, which are bound to each other. (2) The mental objects 心所. 〔二障義HPC 1.790a〕 => Các pháp tương ưng; tâm và tâm sở, cùng đi đôi và quy định giới hạn với nhau. Tâm sở pháp 心所.
tưởng vô thường
Anicca saa (P).
tưởng ái
Thought of and desire for, thought leading to desire.
tưởng điên đảo
Inverted thoughts or perceptions, i.e. the illusion of regarding the seeming as real.
tưởng đảo
xem ba sự điên đảo.
Tưởng địa ngục
, còn gọi là Đẳng hoạt địa ngục. Xem Đẳng hoạt.
tưởng địa ngục
Xem hoạt địa ngục.
tưởng ấm
xem năm ấm.
Tưởng 想
[ja] ソウ sō ||| (1) The symbolification of sensory data; symbol, idea, conception (Skt. saṃjñā; Tib. ḥdu śes). The function of arising thoughts in the mind regarding shape, color, length, pleasure/pain, etc. (2) One of the five aggregates. In Abhidharma theory, one of the ten Great Ground elements; in Consciousness-only, one of the Five Pervasive Functions . => 1. Biểu trưng của các dữ kiện cảm giác; biểu tượng, ý tưởng, quan niệm (Skt. saṃjñā; Tib. ḥdu śes). Tác dụng của ý tưởng sinh khởi trong tâm đối với hình dáng, màu sắc, độ dài, khổ/vui v.v... 2. Một trong Ngũ uẩn. Theo giáo lý A-tỳ-đạt-ma, đó là một trong 10 ậi thiện địa pháp; theo giáo lý Duy thức, là một trong Ngũ biến hành 五遍行.
; [ja] ソウ sō ||| (1) The symbolification of sensory data; symbol, idea, conception (Skt. saṃjñā; Tib. ḥdu śes). The function of arising thoughts in the mind regarding shape, color, length, pleasure/pain, etc. (2) One of the five aggregates. In Abhidharma theory, one of the ten Great Ground elements; in Consciousness-only, one of the Five Pervasive Functions 五遍行. => 1. Biểu trưng của các dữ kiện cảm giác; biểu tượng, ý tưởng, quan niệm (Skt. saṃjñā; Tib. ḥdu śes). Tác dụng của ý tưởng sinh khởi trong tâm đối với hình dáng, màu sắc, độ dài, khổ/vui v.v... 2. Một trong Ngũ uẩn. Theo giáo lý A-tỳ-đạt-ma, đó là một trong 10 ậi thiện địa pháp; theo giáo lý Duy thức, là một trong Ngũ biến hành.
tượng
Gaja (S), Elephant.
; Pratirùpa, pratirùpaka (S). Like, similar, resemblance; semblance; image; portrait; form, formal.
tượng hóa
The religion of the image or symbol, Buddhism.
Tượng pháp
像法; C: xiàngfǎ; J: zōhō;|Có các nghĩa sau: 1. »Tương tự Chính pháp«; »tương tự pháp«. Giáo lí tương tự với chính pháp do đức Phật thuyết. Một trong ba thời (Tam thời 三時) (xem Chính tượng mạt 正像末) sau khi đức Phật nhập diệt, đó là thời Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Các Phật tử nghiên cứu giáo lí và hiến mình cho việc tu tập, nhưng không nhất thiết hướng đến giác ngộ rốt ráo (s: pratirūpa-kah); 2. Các pháp (phần tử) như hình sắc, được phản chiếu trong gương (theo Bảo tính luận 寶性論).
tượng pháp
Semblance Dharma (age of), PratirŪpakadharma (S).
; The second or formal period of the teaching of Buddhism by symbol. The three periods are chính pháp those of the real, tượng pháp the formal, and mạt pháp the final.
Tượng pháp quyết nghi kinh
像法決疑經; C: xiàngfǎ juéyí jīng; J: zōhō-ketsugikyō;|Kinh nguỵ tạo ở vùng Đông Á; 1 quyển.
Tượng Pháp Quyết Định Kinh 像法決疑經
[ja] ゾウホウケツギキョウ Zouhouketsugikyou ||| Xiangfa jueyi jing (Sutra of Resolving Doubts During the Age of the Semblance Dharma). An apocryphal East Asian text. 1 fasc., T 2870.85.1335-1338. => (c: Xiangfa jueyi jing; e: Sutra of Resolving Doubts During the Age of the Semblance Dharma). Kinh ngụy tạo ở vùng Đông Á; 1 quyển.
Tượng pháp 像法
[ja] ゾウホウ zōhō ||| (1) To resemble the dharma; "semblance dharma." Teachings which resemble those of the true dharma taught by the Buddha. One of the three periods of time 三時 (see also 正像末) after the passing away of the Buddha, which are the periods of the correct dharma 正法, semblance dharma and degenerate dharma 末法. Buddhists study the teachings and engage themselves in practice, but the practices do not necessarily lead to the full enlightenment of the Buddha (pratirūpakah). See also 正像末. (2) Dharmas [elements] as forms and shapes, as those reflected in a mirror. 〔寶性論T 1611.31.834b26〕 => Có các nghĩa sau: 1. Tương tự Chính pháp; "tương tự pháp". Giáo lý tương tự với chính pháp do Đức Phật thuyết. Một trong 3 thời (Tam thời) (xem Chính tượng mạt) sau khi Đức Phật nhập diệt, đó là thời Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.Các Phật tử nghiên cứu giáo lý và hiến mình cho việc tu tập, nhưng không nhất thiết hướng đến giác ngộ rốt ráo (s: pratirūpakah). Xem Chính tượng mạt. 2. Các pháp (phần tử) như hình sắc, được phản chiếu trong gương.Theo Thật Tính Luận.
tượng phật
Daibutsu (J), Buddha statue Tên người Nhật dùng gọi những hình tượng Phật hay Bồ tát có kích thước lớn. Tượng nổi tiếng nhất là tượng Phật A di đà ở Kamakura, dù nhỏ hơn tượng ở Nara, cao 49ft 7 dựng năm 1252.
tượng tích dụ đại kinh
Mahāhatthi-padopama sutta (P)Tên một bộ kinh.
tượng vương
Gajapati (S). Lord of Elephants, a term for Sàkyamuni; also the fabulous ruler of the southern division of the Jambudvipa continent.
tượng đầu sơn
Gayāśiras (S), Gajaśīrṣa (S), Gajasira (P), Gayāśikkara (P)Núi Tượng đầu, bên bờ sông Ni liên thiền (Nairanjara), gần thị trấn Gaya (kế Calcutta), nơi đây ngày xưa là chỗ Phật ngồi tham thiền và thành đạo.
; Gayà-siras (S). Elephant-head mountain, name of two mountains, one near Gayà, the other said to be near the river Nairanjanà.
tượng đầu thiên
Xem Kim Cang Điều Phục thiên.
tượng đầu đại tướng
Xem Kim Cang Điều Phục thiên.
tạ
Cảm ơn—To thank—To return with thanks.
tạ giới
Cảm tạ (Tam Bảo) khi thọ giới—To give thanks for being given the commandments, i.e. being ordained.
tạ linh vận
(謝靈運) Kinh Thí Dụ đào được ở Đôn Hoàng Kinh Kim Cương Tràng Đà La Nithiết lập, còn có sở tả kinh của các chùa viện và các nhà quí tộc. Thời đại Thiên bình là thời kì tả kinh thịnh nhất tại Nhật bản, từ thời Liêm thương về sau thì dần dần suy vi. Di phẩm tả kinh xưa nhất hiện còn là kinh Kim cương tràng đà la ni được chép vào năm Thiên vũ 14 (686). [X. kinh Phật bát nê hoàn Q.hạ; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.7; kinh Trì tâm Phạm thiên sở vấn Q.4; kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; kinh Đại thừa trang nghiêm Q.13; Thích thị kê cổ lược Q.2; Lương thư liệt truyện Q.45; Pháp uyển châu lâm Q.18; Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi Q.3; Nhật bản thư kỉ Q.30; Nhật bản dật sử Q.16].
tạ lỗi
See Tạ Tội.
tạ nhân duyên
(謝因緣) Học trò lạy tạ thầy. Trong Thiền tông, vị Trụ trì chỉ dạy người học, gọi là Nhân duyên; người học lạy tạ thầy về sự dạy bảo ấy, gọi là Tạ nhân duyên. Nghi thức lạy tạ là trải tọa cụ lạy 3 lạy hoặc 9 lạy. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1143 hạ) nói: Người muốn thưa hỏi về đạo pháp, trước phải báo cho vị thị giả biết để thị giả bạch với vị Trụ trì (...) Nếu được vị Trụ trì chấp thuận thì sau hồi Định chung (chuông báo hiệu giờ tọa thiền), người muốn thưa hỏi đến liêu thị giả, đợi Phương trượng đốt đèn thắp hương xong, thị giả dẫn đến trước vị Trụ trì vấn an, cắm hương, trải tọa cụ lễ 9 lạy (...), sau khi lắng nghe lời dạy bảo, tiến lên phía trước cắm hương, trải tọa cụ lễ 9 lạy, đó gọi là Tạ nhân duyên. [X. môn Tham thỉnh trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tạ quải tháp
(謝挂搭) Nghi thức bày tỏ lòng cảm tạ vị Trụ trì của vị tăng vừa được chấp nhận cho ở trong tùng lâm. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ) nói: Theo qui tắc xưa, khi được phép nhập Tăng đường (được nhập chúng) thì phải làm lễ tạ quải đáp ngay. Về sau, tạ quải đáp chỉ được thực hiện 3 lần trong 1 năm vào các ngày lễ: Đông chí, đầu năm và trước hạ an cư. Ngoài ra, số tiền hương mà người được phép ở lại là nhờ vị Thị giả chuyển vào quĩ của Thường trụ để bày tỏ lòng cảm tạ, gọi là Tạ quải đáp hương tiền.
tạ tam lang
(謝三郎) Tên hiệu của Thiền sư Huyền sa Sư bị đời Đường, vì ngài là con thứ 3 của nhà họ Tạ nên người đời gọi ngài là Tạ tam lang.Bích nham lục tắc 22 (Đại 48, 162 hạ) ghi: Huyền sa nói: Cần gì đến Nam sơn? (Tạ tam lang trên thuyền câu, chỉ có con cáo đồng này còn hơi giống 1 tí, táng thân mất mệnh cũng không biết). Tạ Linh Vận
tạ thế
To pass away—To die.
Tạ Thổ
(謝土): tạ ơn Thổ Thần. Vào thời cổ đại, đây là một hình thức cúng tế đáp tạ Thổ Thần sau khi nhà cửa đã hoàn thành. Trong bản Di Trú Thượng Viện Biên Hạ Cáo Văn (移住上院邊廈告文) của Lý Chí (李贄, 1527-1602) nhà Minh có đoạn rằng: “Kim thượng vị tố Phật, vị cảm nhập cư chánh thất, thả diệc vị cảm tạ Thổ (今尚未塑佛、未敢入居正室、且亦未敢謝土, nay vẫn còn chưa đắp tượng Phật, chưa dám vào ở phòng chính, cũng chưa dám cúng tạ Thổ Thần).” Hay trong Lô Sơn Ký (廬山記, Taishō Vol. 51, No. 2095) lại có câu: “Tạ Thổ chi dạ, phong vân không tiềm, tiên đăng viễn chiếu (謝土之夜、風雲空潛、仙燈遠照, đêm cúng tạ Thổ Thần, gió mây ẩn trên không, đèn tiên xa tỏa sáng).”
tạ trấn chi
(謝鎮之) Quan Tán kị thường thị thời Minh đế nhà Lưu Tống thuộc Nam triều. Do đạo sĩ Cố hoan soạn Di hạ luận chê bai Phật giáo là văn hóa mọi rợ, nên ông liền soạn Dữ cố đạo sĩ tích Di hạ luận (cũng gọi Tạ trấn chi tích Di hạ luận)bác bỏ thuyết của Cố hoan. Vào thời Tấn, Tống, thế lực của Đạo giáo đã đủ mạnh và bắt đầu ganh đua với Phật giáo vốn đã hưng thịnh, cho nên ra sức soạn sách, lập thuyết để ổn cố cơ sở lí luận của mình, đồng thời muốn triệt để đánh đổ học thuyết Phật giáo. [X. Hoằng minh tập Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.36; Phật tổ lịch đại thông tải Q.8; Nam Tề thư Q.54;Tam giáo luận hành].
tạ tội
To apologize—To beg pardon—To excuse oneself.
tạ từ
To thank and leave.
tạ ơn
To express gratitude to somone
tạc
To engrave—To sculpture—To carve.
tạc nhật
Hôm qua.
tạc nhật thuyết định pháp, kim nhật thuyết bất định pháp
Hôm qua thuyết về định pháp, hôm nay thuyết về những ngoại lệ—Yesterday preaching an established rule, today preaching and exception to the rule.
tạc tượng
To carve a statue.
tại
At, on, in, present.
; At—In—On—Present.
Tại bì 在皮
[ja] ザイヒ zaihi ||| To lie on the skin, or external part of something, as do some types of coarse hindrances. As contrasted to 在膚 and 在實. 〔瑜伽論 T 1579.30.562b10〕 => Nằm ngoài da, hay là phần ngoài của vấn đề, như làm một vại loại chớng ngại thô trọng. Ngược lại với Tại phu (在膚) và Tại thật (在實).
tại gia
Gahattha (P), Gṛhastha (S), Gahattha (P)Gia trụ kỳGiai đoạn ở nhà cưới vợ sinh con. Một trong bốn giai đoạn trong đời một người Bà la môn: Phạm hạnh kỳ, Gia trụ kỳ, Lâm thê kỳ, Tuần thế kỳ.
; At home, a lay man or woman not xuất gia. i.e. not leaving home as a monk or nun.
; Cư sĩ tại gia, chứ không phải tu sĩ xuất gia—At home (a lay man or woman)—Not leaving home as a monk or a nun—One who resides at home (in a family).
; (在家) Phạm: Gfha-stha. Pàli: Gahaỉỉha. Cũng gọi Cư gia, Trụ gia, Tại gia nhân. Đối lại: Xuất gia. Chỉ cho người sống cuộc đời thế tục, có gia đình, sản nghiệp, tự làm việc để nuôi thân. Nhà(gia) có 2 loại: Một là nhà thế tục, hai là nhà lao ngục ba cõi. Ra khỏi nhà thế tục tương đối dễ, nhưng thoát li nhà lao ngục(5 dục, 6 trần) 3 cõi thì rất khó. Thân xuất gia chỉ cho việc ra khỏi nhà thế tục, còn tâm xuất gia thì chỉ cho việc thoát li nhà 3 cõi. Người tại gia mà qui y Phật giáo, thụ trì tam qui, ngũ giới thì cũng trở thành 1 thành viên của giáo đoàn Phật giáo, người nam gọi là ưu bà tắc, người nữ gọi là ưu bà di. Phật giáo cho rằng đời sống tại gia dễ bị chìm đắm vì tham trước vật dục, tình ái, trở ngại việc tu hành Phật đạo, vì thế trong các kinh nói rộng về các chướng ngại của nếp sống tại gia. Như kinh Bảo tích quyển 82 có nêu ra 99 thứ chướng nạn: Nhiều bụi bặm, nhơ nhớp, bị trói buộc, nhiều cáu bẩn... Kinh Văn thù sư lợi vấn thì liệt 90 (có thuyết nói 95) thứ quá hoạn như: Có chướng ngại, thu nạp các cáu bẩn, làm các việc ác, ở chỗ bụi bặm nhớp nhúa, chìm đắm trong vũng bùn nhục dục... Nhưng tại gia cũng có các vị Bồ tát đạt được địa vị giác ngộ giải thoát, như các vị Duy ma, Hiền hộ, Thắng man phu nhân, Bàng uẩn... họ đều là điển hình của hàng tại gia chứng quả.[X. kinh Tạp a hàm Q.20; kinh Hà khổ trong Trung a hàm Q.36; Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; kinh Bồ tát thiện giới Q.7; kinh Ưu bà tắc giới Q.3; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.44; luận Đại tì bà sa Q.25; luận Câu xá Q.14; Đại tạng pháp số Q.16]. (xt. Xuất Gia).
tại gia nhị giới
The two grades of commandments observed by the lay, one the five, the other the eight ngũ and bát giới. These are the Hìnayàna rules; the Mahàyàna are the thập thiện giới ten good rules.
; Hai giới tại gia—Two kinds of commandments observed by the lay: (A) Nhị Giới Tiểu Thừa—Two kinds of commandments observed by the Hinayana laypersons: 1) Tại gia ngũ giới: Five commandments for the lay. 2) Tại gia Bát quan Trai giới: Eight commandments for the lay. (B) Thập Thiện Cho Tại Gia Giới Đại Thừa—Commandments observed by the Mahayana laypersons are ten good rules.
; (在家二戒) Chỉ cho 2 loại giới luật mà người tại gia thụ trì, đó là 5 giới và 8 giới. 1. Năm giới: Không giết hại, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối và không uống rượu. Năm giới này phải giữ trọn đời nên chỉ cấm gian dâm. 2. Tám giới (cũng gọi Bát quan trai giới): Tức ngoài 5 giới còn thêm 3 giới: Không ngồi nằm trên giường cao rộng lớn, không đeo tràng hoa anh lạc và không xem nghe múa hát, không ăn phi thời. Tám giới này chỉ thụ trì trong 1 ngày 1 đêm nên giới thứ 3 hoàn toàn cấm dâm dục.[X. luận Thập trụ tì bà sa Q.7, 8 ]. (xt. Bát Quan Trai Giới, Ngũ Giới).
tại gia trì giới xuất gia
One who is still at home, but observes the whole of a monk's or nun's rules.
tại gia trì thập thiện (sa di giới)
One who is still at home, but observes the ten good rules.
tại gia xuất gia
One who while remaining at home observes the whole of a monk's or a nun's rules.
; 1) Cư sĩ và tu sĩ: Lay people and monks. 2) Vị cư sĩ tại gia mà giữ cụ túc giới của một vị tăng hay Ni: One who while remaining at home observes the whole of monk's or nun's rules.
tại gia, xuất gia
Tại gia tu hành thọ ngũ giới gọi là cư sĩ, nam gọi là Ưu bà tắc, nữ gọi là Ưu bà di. Xuất gia tu hành, nam nữ thọ giới khác nhau, mới xuất gia cùng thọ 10 giới, nam gọi là Sa di, nữ gọi là Sa di Ni. Sa di Ni thọ thêm lục pháp giới gọi là Thức xoa ma na Ni. Sa di thọ 250 giới gọi là Tỳ kheo, Thức xoa thọ 384 giới gọi là Tỳ kheo Ni. Những giới kể trên gọi là giới Thinh văn, thuộc về Tiệm giới, phải y theo cấp bậc tiệm tiến không được nhảy qua. Giới Bồ tát thì thuộc về Đốn giới, chẳng phân biệt cấp bậc, nam, nữ, tại gia, xuất gia; chỉ cần phát tâm chân chính, đều có thể thọ cùng một lượt.
tại lý giáo
Tại Lý Giáo, thoát thai từ Bạch Liên Xã, được thành lập tại tỉnh Sơn Đông vào đầu đời nhà Thanh; danh hiệu “Lý” tự nó liên hợp ba tôn giáo lại với nhau, Khổng, Lão và Phật; tín đồ của tông phái nầy không thờ hình tượng, không đốt nhang, không hút thuốc, không uống rượu, và là những người trường chay—The T'sai-Li secret society, an offshoot of the White Lily Society, was founded in Shan-Tung at the beginning of the Ch'ing dynasty; the title :in the Li” indicating that the society associated itself with all religions, Confuciansim, Taoism, and Buddhism; its followers set up no image, burnt no incense, neither smoke nor drank, and were vegetarian.
Tại phu 在膚
[ja] ザイフ zaifu ||| To abide on the outer layer etc., as do some types of coarse hindrances. As contrasted with those hindrances that lie on the outside surface 在皮 or those that lie within 在實. 〔瑜伽論 T 1579.30.562b9〕 => Nằm ở tầng lớp bên ngoài, v.v . . như là một vài loại chướng ngại thô trọng. Ngược lại với những loại chướng ngại nằm trên bề mặt ( tại bì, 在皮), hoặc nằm bên trong (tại thật 在實).
Tại thật 在實
[ja] ザイジツ zaijitsu ||| To reside on the inside, as do certain types of coarse hindrances. 〔瑜伽論 T 1579.30.562b10〕 => Ở tại bên trong, làm một loại chướng ngại thô trọng.
tại thế
In the world, while alive here.
; 1) Lúc sanh thời: While alive. 2) Trên thế giới: In the world. 3) Tam Giới: Lokiya (p)—See Tam Giới.
Tại tiền 在前
[ja] ザイゼン zaizen ||| To be manifest; to be apparent; to appear before one's eyes. Synonymous with 現前. 〔二障義 HPC 1.811b24〕 => Rõ ràng, hiển nhiên; hiển bày trước mắt mọi người. Đồng nghĩa với hiện tiền.
tại triền
In bonds, i.e chân như tại triền the bhùtatathatà in limitations, e.g. relative v. Khởi tín luận Awakening of Faith.
; In bonds—See Tại Triền Chân Như.
tại triền chân như
The fettered bhutatathata—Lý chân như pháp tính ẩn trong phiền não triền phược—The bhutatathata in limitations.
tại triền cung dưỡng
(在纏供養) Đối lại: Xuất triền cúng dường. Dùng mọi biểu hiện tượng trưng cho bản thệ của chư Phật, Bồ tát để cúng dường Tại triền Như lai hầu tăng trưởng sức nội huân (xông ướp ở bên trong). Triền nghĩa là trói buộc; Tại triền là bị trói buộc trong phiền não nhơ nhớp. Tại triền Như lai chỉ cho tự tính Phật (bản giác) của tất cả chúng sinh và vì tất cả chúng sinh đang còn bị trói buộc trong phiền não cấu uế, cho nên gọi là Tại triền Như lai. Trái lại, chư Phật đã thoát li các phiền não nghiệp chướng, đã đạt đến địa vị viên minh, thì gọi là Xuất triền Như lai. Cúng dường các bậc Như lai đã thành Phật để tăng trưởng pháp lạc, gọi là Xuất triền cúng dường. Chẳng hạn như chư tôn trong Mạn đồ la của Mật giáo, khi cúng dường lẫn nhau, thì 4 vị Phật ở 4 phương như Phật A súc, Phật Bảo tướng... cúng dường đức Đại nhật Như lai, gọi là Xuất triền cúng dường; còn đức Đại nhật Như lai cúng dường 4 vị Phật thì gọi là Tại triền cúng dường. (xt. Tứ Phương Tứ Phật).
tại triền như lai
Tathagata in bonds—See Tâm Pháp Thân.
tại triền xuất triền
(在纏出纏) Cũng gọi Tại triền chân như xuất triền chân như. Khi tâm tự tính thanh tịnh Như lai tạng còn bị trói buộc trong phiền não thì gọi là Tại triền, đến khi đã ra khỏi sự trói buộc mà hiển hiện thành Pháp thân thì gọi là Xuất triền. Cũng tức là chúng sinh khi còn bị phiền não trói buộc thì gọi là Tại triền; trái lại, khi đã vượt thoát sự trói buộc ấy thì gọi là Xuất triền. Ngoài ra, Như lai tạng còn bị phiền não che lấp, gọi là Tại triền chân như, Hữu cấu chân như; đến khi đã diệt trừ hết phiền não mà hiển hiện pháp thân thì gọi là Xuất triền chân như, Vô cấu chân như. [X. chương Pháp thân trong kinh Thắng man;Thắng man bảo quật Q.hạ; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.3; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần cuối].
Tại triền 在纏
[ja] ザイテン zaiten ||| Being in a stage of confusion resulting from adhesion to defilements. The ideograph 纏 means "shackled" by defilement. => Đang ở trong giai đoạn lộn xộn do kết quả dính mắc với phiền não. Chữ triền có nghĩa là 'bị trói buộc' bởi phiền não.
tại tâm
In one's heart.
tại tâm tại duyên tại quyết định
(在心在緣在决定) Gọi chung: Tam tại. Nhận xét theo nghĩa Tâm, Duyên và Quyết định thì thuyết chủ trương người phạm các tội ngũ nghịch, thập ác chỉ nhờ công đức của 10 niệm lúc lâm chung cũng được vãng sinh, là chủ trương hoàn toàn không trái với lí nghiệp đạo. Theo kinh Quán Vô lượng thọ nói thì người tạo tội ngũ nghịch, thập ác, nếu lúc lâm chung, dốc một lòng xưng niệm danh hiệu của đức Phật A di đà, 10 niệm liên tục không gián đoạn thì được sinh về thế giới Cực lạc. Nhưng nghiệp ngũ nghịch, thập ác là nặng, nghiệp 10 niệm là nhẹ, thế thì trái lí nghiệp đạo, như cái cân sẽ nghiêng về bên nặng, cho nên vãng sinh luận chú quyển thượng mới dùng 3 nghĩa, Tại tâm, Tại duyên, Tại quyết định để so sánh sự nặng nhẹ giữa ngũ nghịch, thập ác và 10 niệm để nêu tỏ lí tội nghiệp là nhẹ mà công đức niệm Phật là nặng, nên được vãng sinh. 1. Tại tâm: Đây là căn cứ vào tính hư thực của tâm năng tạo mà so sánh sự nặng nhẹ. Nghĩa là người ác dùng tâm hư vọng điên đảo để tạo tội ngũ nghịch, còn 10 niệm là người nghe công đức chân thực của Phật, phát khởi tịnh tín mà xưng danh, có khả năng chiếu phá bóng tối vô minh. 2. Tại duyên: Đây là dựa vào sự chân vọng của đối cảnh để so sánh nặng nhẹ. Nghĩa là người tạo ác lấy chúng sinh phiền não hư vọng làm đối cảnh sở duyên, còn 10 niệm thì duyên theo danh hiệu có công đức chân thực của Phật A di đà mà khởi. 3. Tại quyết định: Đây là căn cứ vào tính chất chậm mau lúc gây nghiệp mà so sánh. Người làm điều ác là gây nghiệp lúc bình thường, cho nên sau khi làm ác còn có tâm thiện, vô kí xen kẽ liên tục khởi lên; còn 10 niệm thì niệm lúc hấp hối bức thiết, không có niệm nào khác xen lẫn, nên tâm thiện tu niệm cực kì mạnh mẽ, vì vô hậu tâm, vô gián tâm nối nhau không xen hở, cho nên ngay đó quyết định vãng sinh. Tóm lại, sức mạnh của 10 niệm lúc hấp hối có công năng diệt trừ mọi tội lỗi, nhờ thế nên những người tạo các nghiệp Ngũ nghịch, Thập ác, mới được vãng sinh Tịnh độ.[X. An lạc tập Q.thượng; luận Tịnh độ thập nghi].
tại tôi
Because of me.
tại tại thế thế
In every place.
tại tại xứ xứ
In every place.
; In every place.
tại tục
In and of the world, unenlightened; in a lay condition.
; Trong trạng thái thế tục—In and of the world—Unenlightened—In a lay condition.
tại vì
Because.
Tại ác 在握
[ja] ザイアク zaiaku ||| To be in one's hand; be in the hand; be at hand. => Nắm trong tay; ở trong tay.
Tại 在
[ja] ザイ zai ||| (1) To be, to exist. At, in, on. (2) To consist in, to rest with. To be present. (3) With reference to; in the case of. => Có các nghĩa sau: 1. Tồn tại, hiện hữu. Ở tại, ở trong, ở trên. 2. Cốt ở tại, do ở chỗ, tuỳ ở . . ., tuỳ thuộc vào. . .Có mặt, hiện diện. 3. Có liên quan đến, trong trường hợp.
tạm trụ vô thường
(暫住無常) Tạm trụ là tạm thời tồn tại; Vô thường nghĩa là tất cả pháp hữu vi đều sinh diệt đổi dời, không thường trụ. Tạm trụ vô thường có nghĩa là các pháp hữu vi tuy thuộc vô thường, nhưng vì duyên trái nghịch chưa đến nên tạm thời còn tiếp tục. Như núi non, cây cỏ... khi chưa xẩy ra hỏa tai, thì tạm thời còn đó; nhưng nếu hỏa tai vụt đến thì bị hoại diệt liền. [X. luận Kim thất thập Q.thượng].
tạm đáo
(暫到) Gọi đủ: Tạm đáo tăng. Chỉ cho vị tăng tạm thời lưu trú tại Tăng viện.Trong Thiền lâm, những vị tăng mới đến tùng lâm cư trú, hoặc những vị tăng mới đến tham học thì gọi là Tân đáo tăng. Thiền lâm qui định trong thời gian kết chế an cư không được nhận thêm người đến ở, nhưng nếu có vị tăng nào vì công việc mà đến vào lúc này, thì do luật qui định,khôngđược phép cư trú chính thức để trở thành Tân đáo tăng, mà chỉ tạm thời được lưu lại trong tùng lâm và gọi là Tạm đáo tăng. Ngoài ra, vị tăng mới đến Thiền viện, thủ tục cư trú chưa làm xong, cũng được gọi là Tạm đáo tăng. Những vật mà vị Tạm đáo tăng cần dùng như giường chiếu, màn chăn... đều do vị tăng Tri khách cung cấp. Nếu vị Tạm đáo tăng đột nhiên qua đời thì cũng do vị tăng Tri khách chủ trì việc lễ tang.[X. Đại tuệ Phổ giác thiền sư tông môn vũ khố; điều Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; Thiền uyển thanh qui Q.1; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.1; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.6].
tạng
Piṭāka (S), Storage 1- Nội dung giáo pháp. 2- Hộp, rương, kho. sự thành tựu đầy đủ.
; (藏) I. Tạng. Phạm,Pàli:Piỉaka. Hán âm: Tất đắc gia, Tỉ trích gia, Tỉ tra ca. Vốn chỉ cho cái giỏ xách tay, cái hòm, cái rương, từ đó dẫn đến nghĩa cái kho chứa, hoặc nghĩa là học tập, lại từ đó mà chuyển thành nghĩa thu giữ hết thảy pháp mà Bồ tát phải biết là tạng, gọi là Bồ tát tạng. Còn theo phẩm Tựa trong Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1 thì chữ Tạng gồm có 2 nghĩa: Khí (Phạm,Pàli:Bhàjana) và Học Pàli: Pariyatti), nhưng chữ pariyatti còn có ý nghĩa thành tựu, đầy đủ. Do đó, từ ngữ pháptạng được dùng hiện nay là chỉ cho sự hoàn thành về Thánh điển, hoặc chỉ cho chính Thánh điển. Xưa nay, sự phân loại về pháp tạng rất phiền phức, sơ lược thì có 5 loại sau: 1.Kinh, Luật, Luận hợp thành Tam tạng.2. Tam tạng của Đại thừa, Tiểu thừa hợp chung thành Lục tạng. 3. Thanh văn tạng và Bồ tát tạng gọi chung là Nhị tạng. 4. Tam tạng Kinh, Luật, Luận, thêm Tạp tạng hoặcChútạng, gọi là Tứ tạng. Trong Pháp tạng bộ, thêm Bồ tát tạng vào 4 tạng Kinh, Luật, Luận, Chú gọi chung là Ngũ tạng; trong Đại chúng bộ thì gọi 5 tạng Kinh, Luật, Luận, Tạp, Chú là Ngũ tạng; Luận sư Thành thực thì gọi 5 tạng Kinh, Luật, Luận Tạp và Bồ tát là Ngũ tạng; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 1 thì ngoài Tam tạng Kinh, Luật, Luận thêm tạng Bát nhã ba la mật đa và tạng Đà la ni mà gọi chung là Ngũ tạng. 5. Kinh Bồ tát xử thai quyển 7 thì nói 8 tạng là Thai hóa tạng, Trung ấm tạng, Ma ha diễn phương đẳng tạng, Giới luật tạng, Thập trụbồ tát giới tạng, Tạp tạng, Kim cương tạng và Phật tạng. Ngoài ra, Đại chúng bộ chia Thanh văn tạng, Bồ tát tạng mỗi tạng thành là Kinh, Luật, Luận, Tạp cộng chung là 8 tạng. [X. phẩm Tam tạng trong kinh Văn thù chi lợi phổ siêu tam muội Q.trung; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.4; Nhiếp đại thừa luận thích Q.1 (bản dịch đời Lương); Đại thừa nghĩa chương Q.1]. II. Tạng. Phạm: Garbha. Pàli:Gabbha. Hán âm: Nghiệt lạt bà, Yết ha. Vốn có nghĩa là cái tổ, chỗ lõm xuống, chỗ trống rỗng, chuyển thành nghĩa chỉ cho thai tạng, thai nhi, về sau phát triển thành nghĩa Như lai tạng (Phạm: Tathàgatagarbha) mà cho rằng Như lai vốn tồn tại trong tâm chúng sinh, giống như thai nhi ở trong bào thai. [X. kinh Như lai tạng; kinh Nhập lăng già Q.3; Thập địa kinh luận Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.8]. III. Tạng. Phạm: Koza. Pàli:Kosa. Hán âm: Câu xá. Vốn chỉ cho đồ vật chứa nước, sau chuyển sang các nghĩa: Chỗ nương gá, chắc thực, gói ghém, ngậm chứa... [X. luận Câu xá Q.1;luậnThuận chính lí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. IV. Tạng. Phạm,Pàli:Àlaya. Chỉ cho chỗ ở, nhà, kho... Do nghĩa nàymà cho rằng thức A lại da là cái kho chứa đựng tất cả hạt giống của các pháp. [X. luận Chuyển thức; luận Thành duy thức Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.2].
tạng chủ
(藏主) Cũng gọi Tri tạng, Tạng ti. Chỉ cho chức vụ của vị tăng trông coi Kinh tạng, 1 trong 6 vị Đầu thủ trong tùng lâm, phải thông hiểu nghĩa học. Tạng chủ đứng đầu Tạng điện, phụ trách trông coi việc đại chúng trong tùng lâm đọc tạng kinh. Tạng điện được chia làm 2 bộ phận: Khán kinh đường (nhà xem kinh) và Kinh tạng(nhà để kinh), theo thứ tự do 2 chức vụ Khán kinhthủ tọa và Tạng điện chủ trông coi, 2 vị này đều trực thuộc vị Tạng chủ. [X. điều Tây tự đầu thủ tri tạng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; điều Tạng chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.3; chương Vân cư Đạo tề trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.26; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tạng giáo
The Pitaka, i.e. Tripitaka school, one of the four divisions Tạng, Thông, Biệt, Viên as classified by Thiên Thai.
; (藏教) Gọi đủ: Tam tạng giáo. Tức tên khác của Tiểu thừa giáo, 1 trong 4 giáo Hóa pháp do ngài Trí khải tông Thiên thai lập ra. Tứ giáo nghĩa, quyển 1 (Đại 46, 721 thượng) nói: Tam tạng giáo nói rõ về lí Tứ thánh đế nhân duyên sinh diệt, phần chính là giáo hóa Tiểu thừa, phụ là giáo hóa Bồ tát. Tam tạng giáo gồm Tu đa la tạng, Tì ni tạng và A tì đàm tạng; (...) Tam tạng giáo này thuộc về Tiểu thừa. Tu đa la tạng chỉ cho 4 bộ A hàm; Tì ni tạng chỉ cho Bát thập tụng luật, còn A tì đàm tạng thì chỉ cho cácbộPhân biệt pháp nghĩa của Phật và các đệ tử. Ba tạng này gọi chung là tạng vì mỗi tạng đều hàm chứa tất cả văn lí, cũng tức A hàm là Định tạng, Tì ni là Giới tạng và A tì đàm là Tuệ tạng; các giáo của 3 tạng này đều có công dụng chuyển ác thành thiện, chuyển mê khai ngộ, chuyển phàm thành thánh, vì thế gọi chung là Tam tạng giáo. Theo giáo phán của tông Thiên thai thì giáo này là giáo đầu tiên trong 4 giáo Hóa pháp. Người tu hành giáo này quán Tứ đế nhân duyên sinh diệt, dứt trừ Kiến hoặc, và Tư hoặc, rõ suốt Tử phược và Quả phược mà vào Niết bàn vô dư, lấy khôi thân diệt trí(thân diệt trí bặt) làm quả cùng tột. Căn cơ được giáo này hóa đạo có 3 thừa khác nhau: Chính yếu là giáo hóa 2 thừa Thanh văn và Duyên giác, phần phụ là giáo hóa Bồ tát. Trong đó, Thanh văn quán 4 đế, Duyên giác quán 12 nhân duyên, Bồ tát tu 6 độ, mỗi thừa đều có kì hạn chứng quả. 1. Giai vị tu hành của Thanh văn có Thất hiền, Thất thánh khác nhau: a.Thất hiền(cũng gọi Thất phương tiện), thuộc về phàm vị. Trong đó, Tam hiền là Ngoại phàm, Tứ thiện căn là Nội phàm. b. Thất thánh: Từ Tùy tín hành cho đến bậc A la hán Câu giải thoát, tức bậc Thánh từ kiến đạo trở lên, tùy theo căn cơ bén nhạy hay chậm lụt mà lập ra Tam đạo, Tứ quả khác nhau. 2. Duyên giác vì là hàng lợi căn nên không trải qua thứ bậc mà tu hành liền được giác ngộ, chẳng những chỉ đoạn trừ các phiền não căn bản mà còn diệt sạch các tập khí. 3. Bồ tát cũng không lập thứ bậc, trải qua 3 a tăng kì 100 đại kiếp tu các hạnh 6 độ 100 phúc, chiết phục các phiền não, thân cuối cùng chứng được 8 tướngthành đạo, tức đạt đến quả Phật của giáo này, gọi là Liệt ứng sinh thân. Pháp môn của Tam thừa tuy không giống nhau, thứ bậc tu hành và đoạn hoặc tu chứng cũng khác nhau, nhưng lại cùng tu Tích không quán, cùng chứng lí không thiên chân, cùng qui về khôi, đoạn(khôi thân diệt trí), vì thế gọi là Chuyết độ. Ngài Trí khải cho rằng giáo này có đủ 4 môn là Hữu môn, Không môn, Diệc hữu diệc không môn, Phi hữu phi không môn và đem phối Hữu môn với Tì đàm, Không môn với Thành thực, Diệc hữu diệc không môn với Côn lặc, Phi hữu phi không môn với Xa nặc sở dụng. Nhưng vì luận Côn lặc và luận Xa nặc sở dụng ở Trung quốc vốn không có bản dịch nên ngài Trí khải chủ trương căn cứ vào Hữu môn của Tì đàm làm chính, Không môn của Thành thực làm phụ để giải thích rõ về ý nghĩa và những giai vị tu hành của Tạng giáo.Về vấn đề ngài Trí khải cho rằng Tam ạng giáo là Tiểu thừa giáo, trong Tục hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí quyển 1, ngài Tuệ uyển nêu ra 4 lỗi để phản bác ý kiến của ngài Trí khải. Bốn lỗi ấy là: 1. Quá lạm Đại thừa. 2. Đại thừa không có Tam tạng. 3. Trái với giáo tột bậc. 4. Bất định. Trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2, ngài Trừng quán–Tổ thứ 4 của tông Hoa nghiêm– cũng nêu ra lí do tại sao không nên xếp Tam tạng giáo vào Tiểu thừa giáo, vì Tam tạng giáo cũng bao hàm Lục độ bồ tát Đại thừa, có năng lực dứt trừ kết hoặc 34 tâm mà chứng thành chân Phật, vì thế không thể xem là đồng với Tiểu thừa giáo. Nhưng trong Thiên thai tứ giáo nghi bị thích quyển thượng ngài Nguyên túy, người Cao li thuộc tông Thiên thai thì phản đối thuyết trên và cho rằng (Vạn 102, 77 thượng): Nay khảo sát đại bản thì thấy có 3 ý: 1. Tam tạng Tiểu thừa là riêng biệt(Giới tạng Đại thừa ở trong kinh Phạm võng). 2. Tam tạng của Tiểu thừa cách biệt khác nhau(Kinh học, Luật học, Luận học không tương dung). 3. Tam tạng của Tiểu thừa phá thầy thuốc xưa(thầy thuốc xưa đối phá ngoại đạo tà kiến). Vì 3 lí do trên đây nên gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4 hạ, Q.10 thượng; Pháp hoa kinh văn cú Q.9 thượng; Ma ha chỉ quán Q.3 hạ; Tứ niệm xứ Q.1, 2; Pháp hoa huyền nghĩa thích quyết Q.3, phần 3; Bát giáo đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Giáo quán cương tông; Thủ hộ quốc giới chương Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa tư kí Q.1].
tạng giáo thất giai
(藏教七階) Chỉ 7 giai đoạn tu hành của Bồ tát Tam tạng giáo đến quả Phật. 1. Tứ hoằng thệ nguyện: Tức quán tưởng 4 cảnh khổ, tập, diệt, đạo mà phát khởi 4 thệ nguyện rộng lớn: a. Thệ nguyện độ vô biên chúng sinh. b. Thệ nguyện đoạn vô tận phiền não. c. Thệ nguyện học vô lượng pháp môn. d. Thệ nguyện thành Phật đạo vô thượng. 2. Tam kì tu lục độ: Bồ tát phát tâm rồi, trong 3 a tăng kì kiếp siêng năng tu hành 6 độ, bản nguyện được đầy đủ. 3. Bách kiếp chủng tướng hảo: Trong 100 kiếp gieo nhân các tướng tôn quí, tốt đẹp, cứ 100 phúc đức thì thành tựu một tướng quí đẹp, đến khi đầy đủ 32 tướng thì được thân trang nghiêm. 4. Lục độ tướng mãn: Tu hành tướng 6 độ viên mãn, như đức Thế tôn khi còn ở nhân vị siêng tu các hạnh lành. 5. Đâu suất giáng sinh: Từ cung trời Đâu suất sinh xuống nhân gian để thế vào chỗ thiếu vắng Phật mà độ sinh. 6. Giáng thần xuất thai: Vì nhàm chán những nỗi khổ sinh già bệnh chết mà muốn thoát li, nên cầu xuất gia, vào núi tu đạo. 7. Bồ đề thụ hạ thành đạo: Dưới gốc Bồ đề hàng phục quân ma, ngồi yên bất động mà thành Phật đạo. [X. Thiên thái tứ giáo nghi tập chú].
tạng hạ
(藏下) Có hai nghĩa: 1. Tạng, chỉ cho Kinh điện, tức tòa nhà cất giữ Đại tạng kinh; Tạng hạ, chỉ cho ngôi nhà phía dưới Kinh điện. 2. Tạng, chỉ cho chức vụ Tạng chủ trông coi tạng kinh; Tạng hạ, chỉ cho chức vụ vị tăng dưới quyền Tạng chủ. Ngoài ra, Tạng hạ đầu thủ thông thường chỉ cho Thủ tọa của Khán kinh đường và vị Tạng điện chủ, nhưng hiện nay chức vụ này không được thiết lập nữa. [X. điều Khán tạng kinh trong Thiền uyển thanh qui Q.6].
tạng hải
(藏海) I. Tạng Hải. Chỉ chothức A lại da. Tông Duy thức ví thức Mạt na thứ 7 như sóng và thức A lại da thứ 8 như biển (hải) vì có năng lực sinh khởi thức Mạt na.Hồng tự nghĩa (Đại 77, 406 thượng) nói: Tạng hải thì thường trụ, còn sóng Mạt na thứ 7 thì chuyển động. II. Tạng Hải. Chỉ cho Như lai tạng. Tức Như lai tạng được vídụnhư biển. Bí tạng bảo thược quyển hạ (Đại 77, 370 thượng) nói: Tạnghải lắng yên sóng 7 chuyển thức, uẩn(5 uẩn) tàn dứt cái hại của 6 tên giặc.
tạng kinh
Xem Tam tạng.
; The Canon, of which there are catalogues varying in number of contents, the first by Lương Vũ Đế of 5,400 quyển; Khai Nguyên 5,048 quyển. The oldest existing canon is believed to be the Korean with 6,467 quyển; the Tống canon has 5,714 quyển; the Nguyên 5,397 quyển; the Japanese 665 covers; the Minh 6,771 quyển, reprinted in the Thanh dynasty with supplement.
tạng kinh chỉ
(藏經紙) Cũng gọi Tạng kinh tiên, Kim túc tiên. Chỉ cho một loạigiấy lụa màu vàng, sáng bóng của chùa Kim túc huyện Hải diêm, tỉnh Chiết giang, dùng để chép kinh. Tương truyền chùa này có tạng kinh 1000 pho, đều được viết bằngloạigiấy trên. Trong ngoài quyển kinh đều sáng bóng, đều được viết theo lối Hồng ti lan giới, nét mực sáng bóng như sơn, ở mỗi tập giấy đều đóng dấu ấn nhỏ màu đỏ, văn ấn là Kim túc sơn tạng kinh chỉ(giấy tạng kinh núi Kim túc) và có ghi niên hiệu Nguyên phong đời vua Thần tông nhà Tống, vì thế biết tạng kinh này được viết vào đời Tống. Loại giấy này có 2 loại vàng và trắng, màu trắng gọi là Kim túc tiên, màu vàng có các đường vân gọi là Tạng kinh tiên. [X. Kim túc tiên thuyết].
tạng kinh các
(藏經閣) Cũng gọi Kinh khố, Kinh đường, Kinh phòng, Kinh trù, Nhất thiết kinh tàng, Kinh các, Tạng các, Tạng điện, Pháp bảo điện, Tu đa la tạng, Đại tạng kinh lâu, Kinh tạng... Gác chứa kinh. Tức chỉ cho tòa nhà trong đó kinh điển được cất giữ (xt. Kinh Tạng).
tạng luận
Abhidhamma Piṭāka (P), Basket of Special Teaching, Abhidharma Pitaka (S)Đại pháp, Đối pháp, A tỳ đạt ma, A tỳ đàm, Vô tỷ pháp- Một trong tam tạng kinh điển: - Kinh tạng - Luật tạng - Luận tạng. Do ngài Maha Ca Diếp đọc lại trong kỳ kết tập thứ nhất. Từ Luận Kinh, Luận tạng (Abhidharma) dùng chỉ phần chú giải đích thân Phật nói ra. Từ Luận (Sastra) chỉ phần chú giải do các nhà sư đại thừa sau này bổ túc và giải thích cho rõ nghĩa những điểm quan trọng trong kinh điển. Luận Kinh của Nam Tạng có 7 bộ, bằng tiếng Pali. Luận Kinh của Bắc Tạng có 7 bộ viết bằng tiếng Sanskrit, có khác biệt với Luận Kinh của Nam Tạng. - Thường được gọi là Abhidharma thay vì Abhidharma-pitaka.
; (藏論) Pàli: Peỉakopadesa. Tác phẩm, do ngài Ma ha ca chiên diên (Pàli:Mahàkaccàyana) soạn. Luận này lấy 16 phạm trù, 5 phương pháp và 18câucăn bản làm trung tâm để giải thích những điều nói trong Tam tạng Pàli (đặc biệt là Kinh tạng). Toàn sách được chia làm 8 chương: Chương 1: Nói về Thánh đế. Chương 2: Dạy phát thú, chia nội dung các kinh điển thành 15 loại. Chương 3: Nói về hữu tình. Chương 4: Phân biệt kinh điển. Chương 5: Phân biệt và giải thích 16 phạm trù: Thuyết thị, giản trạch, ứng lí, túc xứ, đặc tướng, tứ nghiêm, dẫn chuyển, phân biệt, hồi chuyển, dị ngữ, thi thiết, thâmnhập, thanh tịnh, quan thuyết, duyên cụ và đề cử. Chương 6: Kinh nghĩa tập. Chương 7: Phạm trù thích dụng. Chương 8: Phân biệt kinh, dùng 5 phương pháp là: Hoan hỉ dẫn chuyển, tích đả cốc, sư tử du hí, tứ phương thiếu vọng và câu sách. Còn 18 câu căn bản là: Vô minh, khát ái, tham, sân, si, tịnhtưởng, lạc tưởng, thường tưởng, ngã tưởng (trên đây là 9 căn bản bất thiện), chỉ, quán, vô tham, vô sân, vô si, bất tịnh tưởng, khổ tưởng, vô thường tưởng và vô ngã tưởng (trên đây là 9 căn bản thiện). Tại các nước Phật giáo thuộc hệ thống Nam truyền như Tích lan, Thái lan..., bộ luận này chưa được thu vào Tam tạngPàli, nhưng ở Miến điện thì luận này và Đạo luận được thu vào Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddhaka-nikàya) trong tạng Pàli. Luận này có bản chép tay bằng tiếng Miến điện của Arabinda Barua và bản chữ La mã (Pàli Text Society, 1949) được xuất bản. [X.Peỉakopadesce, Introduction by A. Barua; Vimuttimagga and Visuddhimgga, Introduction by P.V Bapat; A History of Pàli Literature, Vol. II by B.C. Law].
tạng lý
The Tathàgatagarbha, or universal storehouse whence all truth comes.
; (藏理) Chỉ cho thực lí của Như lai tạng. Ma ha chỉ quán quyển 10 hạ (Đại 46, 139 hạ) nói: Thực tướng chính là Như lai tạng, vô lượng khách trần phiền não che lấp Tạng lí này, phải tu hằng sa pháp môn mới hiển bày được tính thanh tịnh.
tạng lục
(藏六) Giấu sáu. Tức chỉ cho con rùa ẩn giấu 6 chi là đầu, đuôi và 4 chân của nó vào trong mai rùa để tránh nguy cơ bị các vật khác bức hại. Động tác này của con rùa được dùng để ví dụ người tu hành phải luôn giữ gìn 6 căn. Nghĩa là 6 thức của chúng sinh do cửa 6 căn mà rong ruổi, chạy theo 6 trần sắc, thanh, hương,... rồi dấy lên những ý tưởng xằng bậy, cho nên cần làm như con rùa giấu kín 6 căn vào bên trong để đề phòng ma quỉ làm hại. [X. kinh Tạp a hàm Q.43; kinh Pháp cú]. (xt. Qui Tàng Lục).
Tạng Nhân Đầu
(藏人頭, Kurōdonotō): tên gọi một chức Trưởng Quan ngày xưa của Nhật coi sóc toàn bộ cơ quan gọi là Tạng Nhân Sở (藏人所, tức sở hành chính chuyên hậu cận Thiên Hoàng, và làm những việc tạp sự từ nhỏ chí lớn trong cung nội như tuyên truyền, tấn tấu, nghi thức, v.v). Vào năm 810 (Đại Đồng [大同] thứ 5), cùng với sự thành lập Tạng Nhân Sở, đầu tiên Đằng Nguyên Đông Từ (藤原冬嗣, Fujiwara-no-Fuyutsugu, 775-826) và Cự Thế Dã Túc (巨勢野足, Kose-no-Notari, 750-817) được bổ nhiệm làm chức quan này.
Tạng thức
藏識; S: ālaya-vijñāna;|A-lại-da thức
tạng thức
The Alayavijnàna, the storehouse of all knowledge, the eighth consciousness.
tạng ti
(藏司) Chỉ cho Tạng chủ, người trông coi tạng kinh trong tùng lâm, cũng có nghĩa là chỗ ở của vị Tạng chủ. [X. chương Sở an Tuệ phương trong Gia thái phổ đăng lục Q.19]. (xt. Tạng Chủ).
tạng trần
(藏塵) Cũng gọi Thập liên hoa tạng trần số, Thập hoa tạng trần. Gọi đủ: Thập liên hoa tạng thế giới hải vi trần số. Từ ngữ hiển bày thân Phật nói trong kinh Hoa nghiêm có trùng trùng vô tận tướng không thể nghĩ bàn. Ý nói ở nơi thân Phật có những tướng của bậc đại nhân nhiều như số bụi nhỏ trong 10 thế giới Liên hoa tạng mà chỉ những bậc có Phổ nhãn (mắt thấy khắp) mới thấy được. Theo tông Thiên thai thì vị Phật này là Giáo chủ của Biệt giáo trong 4 giáo; ngài Tứ minh Tri lễ thuộc tông Thiên thai đời Tống thì nói đó là Tu hiện tôn đặc thân. [X. phẩm Tướng hải trong kinh Hoa nghiêm Q.32 (bản 60 quyển); Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.48; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].
Tạng Tuấn
(藏俊, Zōshun, 1104-1180): vị học Tăng của Pháp Tướng Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An, vị Tổ đời thứ 47 của Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), húy là Tạng Tuấn (藏俊), thường được gọi là Bồ Đề Viện Thượng Cang (菩提院上綱), Bồ Đề Viện Tăng Chánh (菩提院僧正), Bát Thiệt Tăng Chánh (八舌僧正), hiệu là Giáo Minh Phòng (敎明房); xuất thân vùng Trì Cừu (池尻), Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara [奈良]); họ Cự Thế (巨勢). Ông theo hầu hạ Giác Tình (覺晴) ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), rồi học Pháp Tướng cũng như Duy Thức với Lương Khánh (良慶), v.v. Thể theo lời thỉnh cầu của quan Tả Đại Thần Đằng Nguyên Lại Trường (藤原賴長), thỉnh thoảng ông có thuyết giảng về Nhân Minh. Năm 1155, ông tham gia Hội Duy Ma, rồi đến năm 1168 thì làm giảng sư cho hội này, và đến năm 1178 thì được bổ nhiệm làm Quyền Luật Sư. Năm sau, ông làm chức Biệt Đương của Nguyên Hưng Tự, đến năm 1178 thì được thăng chức lên làm Quyền Thiếu Tăng Đô. Ông đã từng làm giảng sư cho Hội Pháp Hoa Bát Giảng cũng như Tối Thắng Giảng ở Pháp Thành Tự (法成寺), rồi làm chức Quyền Biệt Đương của Hưng Phước Tự, và sau khai sáng ra Bồ Đề Viện trong khuôn viên chùa này. Đệ tử ông có Tín Viên (信圓), Giác Hiến (覺憲), Huyền Duyên (玄緣), Huệ Phạm (惠範), v.v. Năm 1214, ông làm chức Tăng Chánh và được truy tặng pháp ấn. Trước tác của ông để lại có Nhân Minh Sớ Sao (因明疏鈔) 41 quyển, Duy Thức Luận Đệ Lục Quyển Sao (唯識論第六巻鈔) 4 quyển, Pháp Hoa Huyền Tán Văn Tập (法華玄讚文集) 1 quyển, v.v.
Tạng Tẩu Lãng Dự
(藏叟朗譽, Zōsō Rōyo, 1194-1277): vị Tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, húy là Lãng Dự (朗譽), đạo hiệu Tạng Tẩu (藏叟). Ông theo học pháp với Vinh Triêu (榮朝, Eichō) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji), rồi sau đó kế thừa dòng pháp của vị này. Khi Vinh Triêu qua đời, ông đến làm trú trì Trường Lạc Tự ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]). Sau đó ông đến trú tại Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) ở vùng Liêm Thương, và cao xướng Thiền phong của mình; nhưng đến cuối đời thì ông lại trở về sống ở Trường Lạc Tự. Vào ngày mồng 4 tháng 6 năm thứ 3 niên hiệu Kiến Trị (建治), ông viên tịch.
tạng vương quyền hiện
(藏王權現) Cũng gọi Tạng vương bồ tát, Kim cương tạng vương bồ tát, Kim phong sơn quyền hiện, Kim phong bồ tát. Vị Bồ tát bản tôn thờ ở Tạng vương đường, núi Kim phong, quận Cát dã, huyện Nại lương, Nhật bản. Tương truyền, đây là vị Bồ tát do ngài Dịch tiểu giác (634-701 ?); Tổ khai sáng của phái Tu nghiệm đạo, Nhật bản, cảm được trongthời gian ngài tu hành ở núi Kim phong. Từ thời đại Bình an về sau, theo với đà phát triển của Tu nghiệm đạo, vị Bồ tát này đã trở thành tín ngưỡng toàn quốc. Về hình tượng, trông Ngài giống như đồng tử Kim cương, hiện tướng phẫn nộ, tay phải cầm chày 3 chĩa đưa lên, tay trái xòe 5 ngón để ở chỗ eo, một chân đưa cao, trong tư thế muốn nhảy. Ở chùa Tam Phật tại Bá kì (huyện Điểu thủ) có 8 pho tượng Bồ tát này tạc bằng gỗ, là tác phẩm thời Đằng nguyên. [X. Trần thiêm ái nang sao Q.9, 13; Cát dã thập di Q.hạ; Thái bình kí Q.26].
tạng yếu
(藏要) Tuyển tập gồm các kinh sách trọng yếu trong Đại tạng do Nam kinh Chi na nội học viện ấn hành từ năm Dân quốc 18 (1929). Viện này xem xét các tạng kinh trước nay và nhận thấy đều có 10 khuyết điểm: 1. Lan man lộn xộn không có đầu mối. 2. Không biện biệt những kinh sách ngụy tạo. 3. Một sách có nhiều bản dịch. 4. Văn dịch tối nghĩa, không lưu loát, 5. Dịch làm mất ý gốc. 6. Sửa đổi bản văn. 7. Chọn lầm văn chữ. 8. Soạn thuật theo ức đoán, không có căn cứ. 9. Chú sớ trống rỗng, hời hợt. 10. Trình bày luộm thuộm, rườm rà. Ngay đến Đại chính tạng nổi tiếng của Nhật bản, khi kiểm tra nội dung, Học viện này cũng phát giác khá nhiều chỗ sai lầm. Do đó, Viện đã lựa chọn một số kinh điển quan trọng trong Đại tạng, sửa chữa kĩ, chú thích chính xác để xuất bản và lần lượt đã hoàn thành được 3 tập: Tập 1: Gồm 26 bộ, về Kinh có Bát nhã, Hoa nghiêm, Bảo tích, Niết bàn, A hàm..., Luật có Bồ tát, Thập tụng... Luận có Trí độ, Du già, Trung luận, Trung biên, Duy thức, Nhân minh... Tập 2: Gồm 27 bộ, về Kinh có Năng đoạn kim cương, phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm, Duy ma cật..., Luận có Trung quán, Bách luận, Câu xá... Tập 3: Gồm 21 bộ, vềKinh có Hợp bộ kim quang minh, Mật nghiêm..., Luận có Hiển dương thánh giáo, Đại thừa chưởng trân, Thập trụ tì bà sa... Nhà xuất bản Tân Văn Phong ở Đài loan đã Photocopy phát hành tập thứ 2; đồng thời, vào năm Dân quốc 76 (1987), ở hải ngoại đã sưu tập và ấn hành 2 tập còn lại.
tạng điện
A library of the scriptures.
; (藏殿) Chỉ cho ngôi nhà bao gồm Kinh tạng (Kinh đường) và Khán kinh đường. Kinh tạng là nơi cất giữ kinh điển có thờ tượng Phật, do đó, cũng là tụng kinh vào dịp lễ Chúc thánh, hoặc theo thỉnh nguyện của thí chủ. Còn Khán kinh đường là nơi đại chúng đến đọc tạng kinh. Đến đời Nam Tống thì nghi thức tụng kinh được cử hành trên Phật điện, còn việc đọc tụng kinh tạng thì chúng tăng đưa về các liêu, cho nên Tạng điện không còn lí do tồn tại. Bởi vậy, Thiền tông Nhật bản vốn truyền thừa từ thời đại Nam Tống, tuy có tên gọi Tạng chủ và Tạng điện, nhưng đã mất đi ý nghĩa nguyên thủy mà chỉ còn là hữu danh vô thực. [X. điều Đán vọng tạng điện chúc tán trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; điều Tạng chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.3].
tạng đầu bạch hải đầu hắc
(藏頭白海頭黑) Cũng gọi Mã tổ hắc bạch. Tên công án trong Thiền tông. ĐầuTạng trắng, đầu Hải đen. Nội dung công án này tường thuật cuộc vấn đáp của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất và 2 vị đệ tử nối pháp của ngài là Tây đường Trí tạng và Bách trượng Hoài hải với 1 vị tăng. Trong đó, Tạng chỉ cho Tây đường Trí tạng, Hải chỉ cho Bách trượng Hoài hải.Thung dung lục tắc 6 (Đại 48, 230 trung) ghi: Có vị tăng hỏi Mã đại sư: Lìa tứ cú, dứt bách phi, xinThầy chỉ thẳng cho con biết về ý của Tổ sư từ Tây trúc đến! Đại sư bảo: Hôm nay ta mỏi mệt, không nói cho ông biết được, hãy đến hỏi Trí tạng! Vị tăng bèn đến hỏi ngài Trí tạng, Tạng nói: Sao không hỏi Hòa thượng? Vị tăng đáp: Hòa thượng dạy tôi đến hỏi ngài. Trí tạng nói: Hôm nay tôi bị nhức đầu, không nói cho sư biết được, hãy đến hỏi sư huynh Hoài hải! Vị tăng liền đến hỏi ngài Hoài hải. Hải nói: Đến chỗ này thì tôi không hiểu. Vị tăng trở lại thưa việc ấy lên Đại sư, Đại sư nói: Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc. Bạch và hắc chỉ cho bạch mạo(mũ trắng) và hắc mạo(mũ đen) vốn là điển tích xưa. Truyền thuyết kể rằng, có 2 kẻ trộm, một đội mũ trắng, một đội mũ đen, kẻ trộm mũ đen bày quỉ kế cướp mất những thứ mà kẻ trộm mũ trắng đã đoạt được. Như vậy, kẻ trộm mũ đen đã tỏ ra vô tình nhưng giỏi hơn kẻ trộm mũ trắng.
tạng, tàng
Treasury, thesaurus, store, to hide; the Canon. An intp. of pitaka, a basket, box, granary, collection of writings. Tam tạng Tripitaka consists of the sùtras, vinana and sàstras.
tạo giáp
(皂莢) Cũng gọi Tạo giác. Tức cây bồ kết, loại cây cao, rụng lá, thuộc họ đậu, mọc hoang ở châu Á, châu Phi, Nam Mĩ... Thân và cành cây đều có gai, mùa hè nở hoa màu trắng lợt, giống hoa câydẻ, kết thành quả dài khoảng 30cm, sau khi phơi khô có thể dùng làm thuốc chữabệnh ho vàtrướng bụng. Ngoài ra, quả bồ kết được nấu lấy nước để tắm, giặt, nước ép bồ kết cũng có thểđượcdùng để chế tạo bột giặt. Trong Thiền lâm từ xưa nước bồ kết thường được dùng để rửa tay sau khi đại tiện. Điều Đại tiểu tiện trong Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn tục 111, 456 thượng) nói: Rửa tay, trước dùng tro, kế đến là đất, sau cùng là dùng tạo giáp, táo đậu, phải rửa đến gần khuỷu tay, sau đó súc miệng.
tạo huyền
(造玄) Cao tăng Trung quốc, thuộc Mật tông sống vào đời Đường. Sư trụ chùa Từ ân tại Trường an, thụ pháp Thai tạng giới nơi ngài Pháp toàn chùa Thanh long và Thụ pháp Kim cương giới nơi ngài Nguyên chính ở viện Phiên dịch chùa Đại hưng thiện. Năm Hàm thông thứ 6 (865), sư có soạn tác phẩm: Thai Kim lưỡng giới huyết mạch mà người đời gọi là: Tạo huyền a xà lê phó chúc sư tư huyết mạch. Theo Huyết mạch này thì thứ tự của Thai tạng pháp giới là: Đại nhật, Kim cương thủ, Đạt ma cúc đa, Thiện vô úy, Huệ quả, Nghĩa tháo và Pháp toàn. Còn thứ tự của Kim cương pháp giới là: Đại nhật, Phổ hiền, Mạn thù thất lợi, Long mãnh, Long trí,Kim cương trí,Bất không, Huệ quả, Huệ tắc và Nguyên chính. [X. Thai kim huyết mạch đồ (Trí chứng); Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.2; Thiên thai chi mật giáo; Mạn đồ la chi khởi nguyên (Thần lâm Long tịnh, Nhật bản Đại chính Đại học học báo tập 4)].
tạo lập hình tượng phúc báo kinh
(造立形像福報經) Cũng gọi Tạo Phật tượng phúc báo kinh, Tạo lập hình tượng kinh, Hình tượng phúc báo kinh. Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được dịch vào khoảng thời đại Đông Tấn (317- 420), thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này nói về việc vua Ưu điền phát nguyện tạo lập hình tượng của đức Phật, nhân đó Phật nói cho vua nghe về công đức sâu xa của việc tạo tượng trong vô lượng kiếp sau sẽ được phúc báo lớn. Cuối quyển có câu Vãng sinh về cõi nước của đức Phật A di đà, suy đó thì biết kinh này xuất hiện vào niên đại mà tín ngưỡng Tịnh độ A di đà đang thịnh hành. Ngoài ra còn có bản dịch khác của kinh này là: Tác Phật hình tượng kinh(cũng gọi Ưu điền vương tác Phật hình tượng kinh, Tác tượng nhân duyên kinh), cũng không rõ dịch giả, được dịch vào khoảng đời Đông Hán, nhưng cuối quyển không có bài kệ vua Ưu điền tán thán đức Phật và bài kệ Đức Thế tôn đáp lời vua. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Chúng kinh mục lục Q.3 (Pháp kinh); Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 2, 3]. (xt. Đại Thừa Tạo Tượng Công Đức Kinh).
tạo tháp công đức kinh
(造塔功德經) Kinh, 1 quyển, do ngài Địa bà ha la dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh rất ngắn gọn, chỉ có mười mấy dòng, nói về công đức rộng lớn củaviệc xây tháp để thờxá lợi, tóc, răng, râu, móng tay của Phật, hoặc an trí 12 bộ loại kinh, hoặc để viết chép các bài kệ Pháp thân. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.5; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.4].
tạo thư thiên
(造書天) Phạm: Brahman. Hán âm: Bà la hạ ma thiên. Hán dịch: Tịnh thiên, Phạm thiên. Chỉ cho người tạo ra 12 mẫu âm trong chương Tất đàm của tiếng Phạm Về nguồn gốc của tiếng Phạm có nhiều thuyết, thuyết này cho tiếng Phạm là do chính Phạm thiên tạo ra. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
tạo tượng
(造像) Tạo lập hình tượng. Về nguồn gốc của việc tạo tượng vốn là một đề tài lớn cho giới học giả nghiên cứu, thảo luận. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 28 chép: Đức Phật lên cõi trời Ba mươi ba, trong 3 tháng hạ Ngài vắng mặt ở Diêm phù đề. Bấy giờ, vua Ưu điền nước Bạt sa cảm thấy nhớ Phật nên ông sai thợ khắc tượng Phật cao 5 thước (1,6m) bằng gỗ chiên đàn; vua Ba tư nặc nước Xá vệ được biết tin này, cũng sai thợ đúc tượng Phật cao 5 thước bằng vàng tử ma. Khi ấy trong cõi Diêm phù đề mới có 2 tượng. Cứ theothiên thứ 5 trong cuốn Trung quốc Phật giáo phát triển sử của học giả Trung thôn nguyên người Nhật bản thời cận đại; Ấn độ vốn cho rằng khắc hoặc vẽ tượng Phật là việc xúc phạm thần thánh, nếu muốn đả phá quan niệm hạn chế này thì phải nhờ sự xung kích bên ngoài, đến từ một nền văn hóa và truyền thống hoàn toàn không bị Phật giáo Ấn độ chi phối, do đó, người đầu tiên khắc tạo tượng Phật là những người thợ Hi lạp, La mã đến nước Kiện đà la để xây dựng tháp Phật. Bởi thế, tượng đức Thích tôn do họ khắc tạo trông giống như tượng thần Hi lạp.
tạo tượng lượng độ kinh
(造像量度經) Gọi đủ: Xá lợi phất vấn tạo tượng lượng đạc kinh Kinh, 1 quyển, do ngài Công bố tra bố dịch vào năm Càn long thứ 7 (1742) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 87. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật trụ ở vườn ông Cấp cô độc, rừng cây Thái tửKỳ đà tại nước Xá vệ, lúc sắp lên cung trời Đao lợi, nhân tôn giả Xá lợi phất thưa hỏi nên Ngài chỉ dạy phép tắc tạo tượng Phật, trong đó có qui đ ị n h chiều cao của thân Phật, về nhục kế, tóc, bộ diện, trán, cho đến tay chân... Dịch giả Công bố tra bố còn soạn: Tạo tượng lượng đạc kinh dẫn, Tạo tượng lượng đạc kinh giải và Tạo tượng lượng đạc kinh tục bổ(đều được thu vào Đại chính tạng tập 21).
tạo tượng minh
(造像銘) Bài văn ghi tên người phát nguyện tạo tượng, thợ tạo tượng, nguyên do, niên đại tạo tượng... được khắc nơi tòa ngồi của tượng Phật, hoặc trên hào quang phía sau(nếu là tượng đồng); hoặc trực tiếp viết vào bụng tượng hoặc khắc ở bất cứ chỗ nào thích hợp(nếu là tượng gỗ).
tạp
Mixed, variegated, heterogenous, hybrid, confused, disordered.
tạp a hàm
Sammā-vāyāma (S).
; samyuktàgamas, general, on dhyàna, trance etc.
tạp a hàm kinh
Saṃyuktāgama (S), Saṃyutta-nikāya (S), Sammā-vāyāma (P)Kinh A hàm có 4 bộ: - Dighagama: Trường A hàm - Madhyamagama: Trung A hàm - Ekottaragama: Tạp A hàm - Samyuktagama: Tăng nhứt A hàm.
; The Samyuktàgama-sùtra tr. by Gunabhadra.
; (雜阿含經) Phạm: Saôyuktàgama. Pàli:Saôyutta-nikàya. Hán âm: Tán du khất đát ca a cam. Kinh, 50 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 2, là 1 trong 4 bộ A hàm Bắc truyền. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 30 và luật Tứ phần quyển 54, nguyên do lập danh xưng Tạp a hàm là vì kinh này tập hợp các giáo pháp Tứ thánh đế, Bát thánh đạo, Thập nhị nhân duyên... mà đức Phật giảng nói cho tỉ khưu, tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Thiên tử, Thiên nữ... vào một bộ, nên gọi là Tạp a hàm. Còn theo luật Ma ha tăng kì quyển 32 thì vì văn cú của bộ kinh này được thu tập lộn xộn nên gọi là Tạp a hàm. Luận Du già sư địa quyển 85 thì cho rằng tất cả giáo phápSự tương ứng được tập hợp lại, nên gọi là Tạp a cấp ma (Tạp a hàm). Lại theo Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 thì Tạp a hàm xiển minh các thiền định, là pháp môn mà người tọa thiền phải tu tập. Toàn bộ kinh gồm có 50 quyển, 1362 bài kinh ngắn, nội dung tương đương với Tương ứng bộ (Saôyutta-nikàya) bản Pàli thuộc Nam truyền. Đây là bộ lớn nhất và cũng được thành lập sớm nhất trong 4 bộ A hàm Hán dịch. Theo tính chất mà phân biệt thì toàn kinh được chia làm 3 loại lớn: 1. Tu đa la: Nội dung gồm các Đạo phẩm như uẩn, xứ, duyên khởi, thực, đế, giới, niệm, trụ... 2. Kì dạ: Phần kệ tụng vấn đáp. 3. Kí thuyết: Ghi chép lại lời của Phật và các đệ tử nói, theo thứ tự đượcbiên chép vào các quyển. Ba bộ loại lớn trên đây, theo thứ tự, tương đương với 3 loại Sở thuyết Sở vị thuyết và Năng thuyết nêu trong luận Du già sư địa quyển 85. Kinh Tạp a hàm bảo tồn được phong mạo của Phật giáo nguyên thủy, trong đó tuy có cả các phần do người đời sau biên soạn, nhưng phần lớn được thành lập vào thời kì đầu. Những câu văn trong kinh này phần nhiều ngắn gọn, sáng sủa; về pháp môn tu hành thực tiễn, có nêu các đạo phẩm như Niệm trụ, Uẩn, Giới... Từ sự đối thoại giữa Phật và các đệ tử hiển hiện ra tứ song bát bối khác nhau, dựa theo 8 chúng mà nói Chúng tương ứng, khiến tại gia, xuất gia, nam nữ, già trẻ, các vị đại đệ tử của Phật... đều lãnh thụ được lợi ích của chính pháp. Hiện nay, kinh Tạp a hàm có 2 loại bản mới là Tạp a hàm kinh của nhà xuất bản Phật quang sơn và Tạp a hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn thuận. Tạp a hàm bản Phật quang dùng hình thức chấm câu mới, chia đoạn rõ ràng, chú trọng đối chiếu với bảnPàli và với các bản Hán dịch khác nhau, xem xét lại thứ tự số quyển, với mỗi bài kinh đều có giải nói ý kinh. Những chỗ văn kinh không rõ, khó hiểu, đều có đưa vào thêm văn Pàli để đối chiếu, so sánh, hoặc dịch ra Trung văn. Còn Tạp a hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn thuận thì đối chiếu kinh Tạp a hàm với luận Du già sư địa, áp dụng thể thức cũ của Ấn độ là chia loại theo nội dung, xóa bỏ cách chia quyển theo truyền thống Hán dịch, tất cả có 7 tụng, 51 tương ứng. Cứ theo Hán Pàli tứ bộ a hàm hỗ chiếu lục của Học giả Xích chiểu Trí thiện người Nhật bản thì giữa kinh Tạp a hàm Hán dịch Bắc truyền và Tương ứng bộ Pàli Nam truyền chẳng những chỉ khác nhau về số lượng kinh được thu chép mà còn có nhiều chỗ trái nhau về nghĩa lí. Một học giả Nhật bản khác là ông Tỉ kì Chính trị đã tham chiếu Tương ứng bộ Pàli, Biệt dịch Tạp a hàm kinh, Hữu bộ tì nại da tạp sự... rồi trong tác phẩm của mình là Hán dịch tứ a hàm, (The four Buddhist Àyamas in Chinese) phân loại kinh Tạp a hàm thành 8 tụng (phẩm) 63 bộ.Ngoài ra, 3 kinh: Kinh A dục vương nhân duyên, kinh Pháp diệt tận tướng và kinh A dục vương thí bán a ma lặc quả nhân duyên trong quyển 23 và quyển 25 của kinh Tạp a hàm hiện còn, tương đương với Divyàvadàna tiếng Phạm, A dục vương truyện do ngài An pháp khâm dịch vào đời Tây Tấn và kinh A dục vương do ngài Tăng già sa la dịch vào đời Lương. Ba kinh nói trên đúng ra là kinh Vô ưu vương, theo ý nghĩa nội dung kinh thì thực không nên biên chép vào kinh Tạp a hàm. Bởi thế 2 bộ kinh Tạp a hàm mới được biên tập của Trung quốc đều loại bỏ 3 kinh này, riêng bản Phật quang vẫn đưa các kinh ấy xếp vào phần phụ lục để cho người đọc tham khảo. Kinh này thu chép tất cả gồm 1300 kinh ngắn, nhưng Đại chính tạng của Nhật bản thì có tất cả là 1362 kinh ngắn, tức bao gồm cả quyển 23 và quyển 25 nói trên. Kinh Tạp a hàm bản Phật quang tổng cộng có 1359 kinh, đồng thời, y cứ vào pho bộ đã được điều chỉnh lại mà có biên số hiệu mới. Còn Tạp a hàm kinh luận hội biên của ngài Ấn thuận thì cứ cuối mỗi kinh lạiliệt kê số kinh có liên quan đến kinh ấy và lần lượt được tính là một kinh, thành ra tổng cộng có tới hơn 10.000 kinh. Quốc dịch nhất thiết kinh của Nhật bản cũng sử dụng phương pháp này, nhưng tổng số kinh có hơi khác số kinh trong bản của ngài Ấn thuận. Bản Hán dịch kinh Tạp a hàm có 3 loại và 30 kinh Biệt sinh, tổng cộng có 33 loại. Trong các quyển kinh còn sót lại bằng tiếng Phạm được tìm thấy thời gần đây ở vùng Tân cương Trung quốc, người ta phát hiện những mảnh vụn tương đương với kinh Tạp a hàm Hán dịch. Ngoài ra, trong Đại tạng kinh Tây tạng cũng có thu chép những Biệt kinh tương đương với kinh Tạp a hàm Hán dịch. Về các bộ phái truyền thừa kinh Tạp a hàm, theo Pháp hoa kinh huyền tán quyển 1, phần đầu, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 4, phần cuối và Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm quyển 8 thì Tứ a hàm đều do Đại chúng bộ truyền; nhưng Câu xá luận kê cổ quyển thượng lại cho rằng Tạp a hàm và Trung a hàm là do Thuyết nhất thiết hữu bộ truyền; còn ngài Ấn thuấn thì chủ trương Tạp a hàm Hán dịch do Thuyết nhất thiết hữu bộ truyền, Tương ứng bộPàli do Xích đồng diệp bộ truyền, Biệt dịch Tạp a hàm kinh thì gần như Ẩm quang bộ truyền. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.39; luận Phân biệt công đức Q.1; Soạn tập tam tạng cập tạp tạng truyện; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lương cao tăng truyện Q.3; Pháp kinh lục Q.3; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.5, 13, Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.6; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.6; Duyệt tạng tri tân Q.29; Đại tạng kinh Nam điều mục lục bổ chính sách dẫn; Tạp a hàm kinh san định kí (Lữ trừng); Tạp a hàm kinh uẩn tụng lược thích (Nhiếp ngẫu canh); Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành (Ấn thuận)]. (xt. A Hàm, A Hàm Kinh).
tạp a tì đàm tâm luận
(雜阿毗曇心論) Phạm: Saôyuktàbhidharmahfdaya-zàstra. Cũng gọi Tạp a tì đàm tì bà sa, Tạp a tì đàm bà sa, Tạp a tì đàm kinh, Tạp a tì đạt ma luận. Gọi tắt: Tạp tâm luận. Luận, 11 quyển, do ngài Pháp cứu (Phạm: Dharmatràta) soạn, ngài Tăng già bạt ma... dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 28. Sách này là một trong những Thánh điển tiêu biểu của Thuyết nhất thiết hữu bộ, là sách chú thích luận A tì đàm tâm của ngài Pháp thắng. Ngoài phần văn gốc gồm 250 bài kệ của luận A tì đàm tâm, ngài Pháp cứu còn thêm phẩm Tựa, phẩm Trạch và 350 bài kệ khác nữa mà thành bộ sách chú thích này với hơn 600 bài kệ, dùng để bổ chính cho luận A tì đàm tâm. Thứ tự các phẩm trong luận này được đặt theo thứ tự của Tứ đế. Về Hán dịch thì có 4 bản: Bản thứ nhất do ngài Tăng già đề bà dịch tại Lạc dương vào cuối những năm Kiến nguyên (365-384) đời Diêu Tần, gồm 16 quyển (hoặc 13 quyển); bản thứ 2 do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch vào đời Đông Tấn, gồm 13 quyển; bản thứ 3 do ngài Y nghiệp ba la dịch vào năm Nguyên gia thứ 3 (426) đời Lưu Tống, cũng gồm 13 quyển; bản dịch thứ 4, tức bản hiện nay, được dịch vào năm Nguyên gia 11 (434) hoặc năm Nguyên gia 12 (435) đời Lưu Tống. Trong 4 bản dịch nói trên thì 3 bản trước đều đã thất truyền. Có rất nhiều sách chú thích bộ luận này, nhưng hiện nay đều không còn. Tạimục 3, tiết 4, chương 10 trong Thuyết nhất thiết hữu bộ vi chủ đích luận thư dữ Luận sư chi nghiên cứu của mình, ngài Ấn thuận đã trình bày tỉ mỉ và thuyết minh rõ ràng về giá trị của Luận này. Ngài Ấn thuận còn cho rằng tên Phạm của Luận này mà giới học giả thường dùng không phù hợp với ý nghĩa của tên gốc. Tức theo đúng ý của tên gốc thì tiếng Phạm phải là Abhidharmahfdaya-vyàkhyà. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; 5; Đại đường nội điển lục Q.3,4; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.3].
tạp a tỳ đàm tâm luận
Samyukta-abhidharma-hṛdaya śāstra (S)Tạp Tâm luậnDo ngài Pháp Cứu biên soạn.
tạp bảo tạng kinh
Saṃyukta-ratna-piṭāka sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
; (雜寶藏經) Phạm: Saôyukta-ratna-piỉaka-sùtra. Kinh, 10 quyển (hoặc 8 quyển, 13 quyển), do các ngài Cổ ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy; được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung kinh này thu chép các sự tích liên quan đến đức Phật và đệ tử Phật cùng những duyên sự sau khi đức Phật nhập diệt, bao gồm các việc về vua Thập xa và vương tử Ma la, cuộc vấn đáp giữa tỉ khưu Na tiên và vua Di lan đà, giữa tôn giả Kì dạ đa và vua Chiên đàn kế ni tra... toàn sách gồm 121 chương chia làm 5 thiên: Thiên Hiếu tử, thiên Phỉ báng, thiên Thí hạnh, thiên Giáo hóa và thiên Đấu tránh, chủ yếu là tư tưởng Tạng giáo A hàm, dùng làm nhân duyên thí dụ để nói rõ về quan hệ nhân quả.[X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].
tạp duyên
(雜緣) I. Tạp Duyên. Tập hợp từ 2 niệm trụ(trong 4 niệm trụ) trở lên để làm đối tượng quán xét, gọi là Tạp duyên. Tạp duyên lại có Nhị hợp quán, Tam hợp quán và Tứ hợp quán khác nhau. Nhị hợp quán có 6 thứ: Thân thụ hợp quán, Thân tâm hợp quán, Thân pháp hợp quán, Thụ tâm hợp quán, Thụ pháp hợp quán và Tâm pháp hợp quán. Tâm hợp quán có 4 thứ: Thân thụ tâm hợp quán, Thân thụ pháp hợp quán, Thân tâm pháp hợp quán và Thụ tâm pháp hợp quán. Tứ hợp quán thì chỉ duy nhất một thứ: Thân thụ tâm pháp hợp quán. (xt. Tứ Niệm Trụ). II. Tạp duyên Chỉ cho tất cả phiền não làm chướng ngại việc tu hành niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ.
Tạp hoa
xem kinh Tạp hoa.
tạp hoa kinh
Xem Hoa Nghiêm kinh.
tạp hành
Miscellaneous practices.
tạp hạnh
Miscellaneous acts.
; (雜行) Đối lại: Chính hạnh. Ngoài việc lễ bái, xưng niệm danh hiệu Phật A di đà nguyện vãng sinh Tịnh độ mà còn lễ bái, xưng niệm danh hiệu các đức Phật khác, hoặc tu tập tam học, lục độ... thì gọi là Tạp hạnh. (xt. Chính Hạnh, Chính Tạp Nhị Hạnh).
tạp mạn đồ la
(雜曼荼羅) Cũng như Chư tôn mạn đồ la, Biệt tôn mạn đồ la. Chỉ cho Mạn đồ la được kiến lập theo các kinh: Bảo lâu các, Bất không quyên sách, Nhất tự kim luân Phật đính... Loại Mạn đồ la này thờ các vị tôn khác làm Trung tôn chứ không thờ Đại nhật Như lai như Lưỡng bộ Mạn đồ la. Mạn đồ la này có các bộ khác nhau như: Như lai, Phật đính, Chư kinh, Quán âm, Bồ tát, Thiên... Như lai bộ có A di đà Mạn đồ la, Thích ca mạn đồ la; Phật đính bộ có Đại Phật đính mạn đồ la, Tôn thắng mạn đồ la; Chư kinh bộ có Bảo lâu các kinh mạn đồ la, Bồ đề tràng kinh mạn đồ la; Thỉnh vũ kinh mạn đồ la, Đồng tử kinh mạn đồ la, Lí thú kinh mạn đồ la; Quán âm bộ có Như ý luân mạn đồ la; Bồ tát bộ có Kim cương thủ bồ tát mạn đồ la; Thiên bộ có Diêm ma thiên mạnđồ la, Cát tường thiên mạn đồ la, Bắc đẩu mạn đồ la...
tạp nghiệp
A world of varied karma.
; (雜業) Đồng nghĩa: Tạp hạnh. Tu các hành nghiệp khác để cầu sinh về Tịnh độ chứ không thực hành chính nghiệp vãng sinh. Theo Vãng sinh lễ tán nói, rất hiếm người tu tạp nghiệp mà được vãng sinh Tịnh độ, trong trăm người may ra được một, hai người.
tạp nhiễm
Sankilesa (P), Saṃkleśa (S), Sankilesa (P), Sankilessana (P)Hữu lậu pháp Xem Nhiễm ô.
; All kinds of moral infection; imputity, defilement.
; (雜染) Phạm: Saôkleza. Hán âm: Tăng cát lệ thước. Đối lại: Thanh tịnh. Chỉ cho các pháp hữu lậu. Tạp nghĩa là xen lẫn, trộn lẫn; Nhiễm nghĩa là pháp nhơ nhớp, tức chỉ cho pháp bất thiện và hữu phú vô kí. Thông thường, tạp nhiễm và ô nhiễm là đồng nghĩa, có thể được dùng thay cho nhau. Nhưng cứ theo Thành duy thức luận quyển 2, phần cuối, khi chỉ nói nhiễm, nhiễm ô thì tức chỉ cho phiền não; còn khi nói tạp nhiễm thì chung cả 3 tính thiện, ác và vô kí, là gọi chung tất cả các pháp hữu lậu. Tạp nhiễm được chia làm 3 loại, gọi là Tam tạp nhiễm. Đó là: 1. Phiền não tạp nhiễm(cũng gọi Hoặc tạp nhiễm): Tức gọi chung tất cả phiền não và tùy phiền não, lại chia ra 2 thứ: Kiến sở đoạn và Tu sở đoạn; hoặc 3 thứ: Dục giới hệ, Sắc giới hệ và Vô sắc giới hệ; hoặc 10 thứ như: Căn bản phiền não... 2. Nghiệp tạp nhiễm: Chỉ cho nghiệp từ phiền não sinh ra, hoặc trợ giúp phiền não để tạo tác 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 3. Sinh tạp nhiễm(cũng gọi Khổ tạp nhiễm): Nỗi khổ thụ sinh trong 3 cõi vì nương vào phiền não và nghiệp. Ba loại tạp nhiễm trên đây, theo thứ tự, tương đương với hoặc, nghiệp, khổ. Cũng có chỗ cho rằng 3 tạp nhiễm thêm Chướng tạp nhiễm thành 4 tạp nhiễm. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1].
tạp phẩm
Saṃyuktavarga (S)Một trong hai phần Phụ lục của Tạng Luận.
tạp quái
Tsa-kua (C), Miscelaneous Notes Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
tạp sanh thế giới
(雜生世界) Chỉ cho thế giới trong đó có nhiều loài chúngsinhsinh sống lẫn lộn. Như thế giới Sa bà gồm 5 đường: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, người, trời... sống xen tạp. [X. Tịnh độ luận chú Q.hạ].
tạp sinh thế giới
A world of various beings, i.e. that of five destinies, hells, demons, animals, men and devas.
tạp sắc bảo hoa nghiêm phật
Ratnakusuma-sanpuchpitagatra-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
tạp sắc bảo hoa nghiêm thân phật
Ratnakusumasanpuchpitagatra Buddha (S), Varied-Colored Jewels-Flower Adornment Body Buddha Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Ratnakusumasanpuchpitagàtra-Buddha (S).
tạp thiện
(雜善) Chỉ cho thiện căn do tự sức mình tu tập được. Sức thiện căn này yếu kém, không bằng sức thiện căn nhờ niệm Phật tha lực đạt được. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập (Nguyên Không – người Nhật bản).
tạp thí dụ kinh
(雜譬喻經) Kinh, 1 quyển, do ngài Đạo lược soạn tập, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung nêu các thí dụ nhân duyên để nói rõ về lí nghiệp báo thiện ác, gồm 39 dụ. Trên đây là nói theo bản của tạng Cao li, còn 3 bản Tống Nguyên Minh thì đề là: Chúng sinh soạn tạp thí dụ, chia làm 2 quyển, có tất cả 44 dụ. Nay đem bản Tống Nguyên Minh đối chiếu với bản Cao li thì 2 bên chỉ có 9 dụ giống nhau, như vậy đủ biết 2 kinh này là riêng biệt. Ngoài ra, Xuất tam tạng kí tập quyển 2, phần ghi các kinh do ngài Cưu ma la thập dịch, có kinh Tạp thí dụ 1 quyển, do ngài Đạo lược soạn tập; Lịch đại tam bảo kỉ quyển 8 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 4, đều nói do ngài Cưu ma la thập dịch vào năm Hoằng thủy thứ 7 (405) đời Diêu Tần, bản Cao li khuyết tên dịch giả, bản đời Tống quyển thượng không có dịch giả, quyển hạ ghi do ngài La thập dịch, còn 2 bản đời Nguyên Minh đều nói do ngài La thập dịch. Ngoài các kinh ghi trên, trong tạng kinh còn có 3 bộ kinh cùng mang tên Tạp thí dụ: Bộ thứ nhất do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán, có 1 quyển, 12 dụ; bộ thứ hai, cũng gọi Bồ tát độ nhân kinh, 2 quyển, gồm 32 dụ, được dịch vào đời Hậu Hán, nhưng không rõ dịch giả; bộ thứ 3 tên là Cựu tạp thí dụ kinh, 2 quyển, do ngài Khang tăng hội dịch vào đời Ngô, gồm hơn 60 dụ. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Pháp kinh lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 2, 13].
tạp tu
(雜修) Đối lại: Chuyên tu. Ngoài việc chuyên niệm danh hiệu đức Phật A di đà còn gồm tu tất cả các thiện hạnh khác để cầu vãng sinh Tịnh độ, gọi là Tạp tu. [X. Vãng sinh lễ tán]. (xt. Chuyên Tạp Nhị Tu).
tạp tu tĩnh lự
(雜修靜慮) Cũng gọi Tạp tu định. Chỉ cho sự tu tập cả tĩnh lự(thiền định) hữu lậu lẫn tĩnh lự vô lậu. Cứ theo luận Câu xá quyển 24, các bậc A la hán và A na hàm tập luyện Tạp tu tĩnh lự để cầu hiện pháp lạc, hoặc để đề phòng phiền não sinh khởi đưa đến thoái đọa; vì Tĩnh lự là định căn bản của cõi Sắc, nên người vẫn chưa dứt hết phiền não của cõi Dục(tức chưa lìadục)thì không tu được. Vì thế, các vị từ Bất hoàn hướng trở xuống không có khả năng tu Tạp tu tĩnh lự này. Cũng luận Câu xá còn nói rõ về tướng tu của Tạp tu tĩnh lự, nghĩa là trước hết phải vào tĩnh lự thứ 4, khiến cho nhiều niệm vô lậu tiếp tục hiện tiền, kế đó dẫn sinh nhiều niệm hữu lậu, rồi lại hiện khởi nhiều niệm vô lậu, cứ như thế xoay vần tu cả vô lậu, hữu lậu, vô lậu đắp đổi lẫn nhau, lại dần dần giảm thiểu những niệm ấy, gọi là Viễn gia hạnh; nếu dần dần giảm đến còn 2 niệm vô lậu thì dẫn sinh 2 niệm hữu lậu hiện tiền, lại hiện khởi 2 niệm vô lậu, gọi là Cận gia hạnh, hoặc Gia hạnh thành mãn; sau đó lại giảm xuống còn một niệm vô lậu, một niệm hữu lậu, một niệm vô lậu thì lúc đó căn bản của việc Tạp tu tĩnh lự đã viên thành. Trong quá trình tu chứng, trong một niệm vô lậu đầu tiên, đoạn trừ được Bất nhiễm ô vô tri, từ vô lậu tiến vào hữu lậu; rồi trong một niệm hữu lậu kế đó, đoạn trừ được Bất nhiễm ô vô tri, từ hữu lậu tiến vào vô lậu. Hai sát na trước(vô lậu, hữu lậu) chứng Vô gián đạo; sát na thứ 3(vô lậu), chứng Giải thoát đạo. Tạp tu Tĩnh lự thứ 4 đã thành tựu thì cũng có thể nhờ thế lực ấy mà tạp tu 3 Tĩnh lự còn lại. Mà muốn tu tập những Tĩnh lự này thì trước hết cần phải tu được ở 3 châu(trừ Bắc châu) thuộc cõi người trong Dục giới; về sau, nếu có thoái thất mà sinh vào cõi trời Phạm chúng của Sắc giới thì cũng có thể như trước mà tạp tu Tĩnh lự. Tu Tĩnh lự này có 3 nhân: 1. Nhân thụ sinh vào cõi trời Ngũ tịnh cư: Muốn sinh vào cõi trời Tịnh cư thì phải nương nghiệp hữu lậu, vì thế khởi một niệm hữu lậu trung gian và dùng niệm vô lậu trước và sau nó để huân tu, khiến cảm được cõi trời Tịnh cư, vì thế, một niệm hữu lậu trung gian chính là dẫn nghiệp của việc thụ sinh ở cõi trời Tịnh cư. 2. Nhân thụ dụng pháp vi diệu lạc hiện tại.3. Nhân phòng ngừa tâm xa lìa và thoái thất vị định tạp tu. Trong 3 nhân trên, bậc lợi căn của quả Bất hoàn, do nơi 2 nhân trước mà tạp tu Tĩnh lự, còn đối với hàng độn căn Bất hoàn thì do cả 3 nhân; bậc lợi căn A la hán do nhân thứ 2, còn bậc độn căn A la hán thì do nhân thứ 2 và nhân thứ 3 mà tu. Thứ tự tu tướng của Tĩnh lự thứ 4 do tông Duy thức chủ trương là Hữu lậu, vô lậu, hữu lậu, tức đặt vô lậu ở giữa; đồng thời cho rằng nhân thành tựu Ngũ tịnh cư thiên chẳng phải do bậc Thánh khởi nghiệp lần thứ 2, mà do nghiệp hữu lậu lúc còn là phàm phu ở 3 tầng trời dưới tạo ra, sau nhờ sức định trợ giúp làm cho phát sinh tác dụng. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 6, phần cuối (Đại 43, 783) nói: Tạp tu này, niệm hữu lậu ở trước và sau, một sát na vô lậu ở giữa, gọi là Tu thành lậu, như nghiệp Ngũ tịnh cư, nơi thân phàm phu tạo ra hạt giống, tự do chứa nhóm trong thân, có năng lực cảm quả sinh vào các tầng trời dưới, nhưng do khởi nguyện hiếm có, huân tu thành mãn, sức định vô lậu chuyển đổi, giúp hạt giống nghiệp cảm sinh trước kia, khiến cho thế lực thù thắng hơn mà sinh lên cõi Ngũ tịnh cư, cho nên chẳng phải hữu lậu ở giữa, vì sức nó yếu kém. [X. luận Đại tì bà sa Q.175; luận Du già sư địa Q.12; Câu xá luận quang kí Q.24; Câu xá luận bảo sớ Q.24].
tạp tâm luận
Xem Tạp A tỳ đàm tâm luận.
tạp tính giới
The world of mixed dwellers, i.e. the five species ngũ thú.
tạp tạng
(雜藏) Tạng thu nhiếp tất cả Thánh điển nói về giáo hạnh của Bồ tát, 1 trong 4 tạng. Theo phẩm Tựa trong kinh Tăng nhất a hàm thì Đại thừa phương đẳng và các Khế kinh, gọi là Tạp tạng. Luật Ma ha tăng kì quyển 32 thì cho rằng những kệ tụng nói về các nhân duyên bản hạnh do các vị Bích chiphật, A la hán... tự thuật là Tạp tạng. Luận Phân biệt công đức quyển 1 thì cho rằng tạng này bao gồm lời đức Phật dạy, lời các vị đệ tử nói, lời chư thiên tán tụng, hoặc nói về túc duyên sở sinh của Bồ tát 3 a tăng kì, văn nghĩa chẳng phải một, vượt cả 3 tạng, nên gọi là Tạp tạng.
tạp uế ngữ
Xem Vô nghĩa ngữ.
tạp độc
(雜毒) Chỉ cho các pháp có xen lẫn tính chất khổ và phiền não làm trở ngại việc tu hành được ví như chất độc, nên gọi là Tạp độc. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 56 (Đại 17, 329 hạ) nói: Các Hữu (cõi) dù gọi là vui nhưng thực thì giống như mật có pha độc (tạp độc).
tạp độc thiện
(雜毒善) Cũng gọi Tạp độc hạnh. Chỉ cho những thiện hạnh có xen lẫn các phiền não, tham, sân, si... như việc tự lực, tu thiện của phàm phu, chính là Tạp độc thiện. Vì những thiện hạnh ấy là do 3 nghiệp khởi động từ tâm hư giả không thật, thiếu lòng chí thành và xen lẫn pháp độc hư giả, cho nên gọi là Tạp độc thiện. Nếu đem các hạnh này hồi hướng nguyện sinh về Tịnh độ của Phật A di đà thì chắc chắn không thể được. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa].
tạp đức
Miscellaneous acts of virtue.
tả
1) Bên trái: Left—The left hand. 2) Giả dối: False. 3) Tuôn ra: To purge—To drain. 4) Viết: To write.
; (左) Cũng gọi Già, Giả. Chỉ cho chữ (ca), 1 trong 52, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Tả có nghĩa là hết thảy pháp lìa tất cả sự dời đổi. Phẩm Tự mẫu trong Văn thù vấn (Đại 14, 509 hạ) nói: Khi xướng chữ Tả tức là xướng tiếng Tứ thánh đế. Ngoài ra, chữ Tả còn có nghĩa là lìa sinh diệt, là tất cả pháp rốt ráo bất khả đắc. [X. phẩm Bách tự thành tựu trì tụng trong kinh Đại nhật Q.6; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.7].
tả bình
(瀉瓶) Rót nước từ một chiếc bình này sang một bình khác, ví dụ sự truyền pháp từ thầy sang đệ tử hoàn toàn đầy đủ, không mảy may thiếu sót. Các dụng ngữ như Tả bình tương thừa, Tả bình truyền đăng, Nhất vị tả bình... cũng đều biểu thị ý nghĩa này. Kinh đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 40 (Đại 12, 601 trung, hạ) nói: Từ khi theo hầu ta cho đến nay, đã hơn 20 năm, A nan thường ghi nhớ 12 thể tài kinh do ta nói, một khi đã nghe qua, không bao giờ hỏi lại, như rót nước từ chiếc bình này sang một bình khác(tả bình). Vĩnh bình quảng lục quyển 4 nói: Phật Phật trao tay, Tổ Tổ truyền nối(tả bình), kết duyên nơi mây nước(hành cước), gieo giống chốn tùng lâm, chính vào lúc ấy, núi Tu di là bút, nước biển cả là mực. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Đại đường nội điển lục Q.5].
tả chân
(寫真) Vẽ tướng mạo chân thật, đặc biệt miêu tả tướng mạo nhân vật. Pháp uyển châu lâm quyển 33 (Đại 53, 537 trung) nói: Thủa xưa, lần đầu tiên, vua Ưu điền khắc tượng Phật bằng gỗ chiên đàn, vua Ba tư nặc đầu tiên đúc tượng Phật bằng vàng, đều theo nghệ thuật tả chân, biểu hiện diệu tướng của đức Phật 1 cách khéo léo. Ở Trung quốc, từ đời Đường về sau, phong trào vẽ chân dung các bậc cao tăng rất thịnh trong giới Phật giáo, vua thường ban sắc đắp vẽ chân tướng các bậc cao tăng để thờ phụng lễ kính. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.16; Tống cao tăng truyện quyển 1, 14; Tục truyền đăng lục Q.5].
tả dược
Thuốc xổ—Purgatives.
tả gian
(左間) Cũng gọi Thượng gian. Chỉ cho bên trái. Khi ngồi hoặc đứng trong nhà mà nhìn ra ngoài, thì phía bên trái của mình gọi là Tả gian. Cũng gọi Thượng gian, chỉ cho vị trí cao quí. Chỗ ngồi lấy bên trái làm tôn quí, đó là qui tắc của Trung quốc từ xưa đến nay. (xt. Thượng Gian).
tả hành
(左行) I. Tả Hàng. Chỉ cho cách viết chữ từ trái sang phải, như chữ Phạm, chữ Pàli, chữ Tây tạng, chữ La mã và tiếng Anh, tiếng Pháp ngày nay.Có nhiều cách viết, viết về ngang thì có cách viết từ phải sang trái, như tiếng Túc đặc, Hồi hột...; có cách viết từ trái qua phải như Phạm, Pàli... đã nói trên. Về cách viết theo hàng dọc từ trên xuống dưới, thì có cách viết trước phải sau trái, như chữ Hán, chữ Nhật; có cách viết trước trái, sau phải như chữ Hồi hột. II. Tả Hàng. Một trong các quyến thuộc của Cưu bàn đồ (loài quỉ ăn tinh khí người). (xt. Cưu Bàn Đồ).
tả hữu
Left and right.
tả hữu nhai tăng lục ti
(左右街僧錄司) Chức vụ của vị tăng trông coi danh sách tăng ni và bổ nhiệm tăng quan ở đời Đường, Tống. Vào đời Đường, ở Trường an có Lục nhai, chia làm Tả tam nhai và Hữu tam Cách viết chữ Phạm và chữ Tây Tạng Cách viết chữ Hồi Hột theo chiều dọc Cách viết chữ Hồi Hột theo chiều ngangnhai do Tả hữu nhai sứ có trách nhiệm quản lí xem xét. Khoảng năm Trinh nguyên (785-804) đời vua Đức tông, thiết lập Tả hửu nhai đại công đức sứ, chuyên coi về toàn bộ danh sách tăng ni. Khoảng năm Nguyên hòa (860-820) đời vua Hiến tông, dưới Lưỡng nhai công đức sứ, thiết lập Tăng lục, do ngài Vân thúy làm Hữu nhai tăng lục và ngài Đoan phủ làm Tả nhai Tăng lục. Tả, Hữu tăng lục có khi gộp làm 1 chức, gọi là Lưỡng nhai tăng lục hoặc Tả hữu nhai tăng lục, như Phật tổ thống kỉ quyển 42 chép, niên hiệu Khai thành năm đầu (836) đời vua Văn Tông, ngài Vân đoan giữ chức Tả hữu nhai tăng lục. Năm Đại trung thứ 3 (849) đời vua Tuyên tông, ngài Linh án làm Lưỡng nhai tăng lục. Năm Đại trung thứ 8 (854), ngài Biện chương làm Tả nhai tăng lục, ngài Tăng triệt làm Hữu nhai tăng lục. Khoảng năm Hàm thông (860-873) đời vua Ý tông, ngài Ngạn sở làm Hữu nhai tăng lục, ngài Thanh lan làm Tả nhai tăng lục. Trong năm Càn ninh (894-897) đời vua Chiêu tông, vua ban sắc bổ nhiệm ngài Giác huy làm Lưỡng nhai phó tăng lục, đây là chức Phó tăng lục đầu tiên được thiết lập. Sang đời Ngũ đại, vào năm Thiên phúc thứ 3 (938) đời vua Cao tổ nhà Hậu Tấn, ngài Đạo phi làm Tả nhai phó tăng lục. Đến đời Tống, vào năm Thái bình hưng quốc thứ 6 (981) đời vua Thái tông, thiết trí chức Hữu nhai phó tăng lục. Đầu năm Hàm bình (998-1003) đời vua Chân tông, ngài Tán ninh làm Đông kinh Hữu nhai tăng lục, không bao lâu được chuyển sang giữ chức Tả nhai tăng lục. Vào năm Càn đạo thứ 3 (1167) đời vua Hiếu tông nhà Nam Tống, vua ban sắc bổ nhiệm ngài Nhã nột làm Hữu nhai tăng lục, năm sau chuyển sang làm Tả nhai tăng lục. Đến năm Thuần hi 11 (1184), ngài Nhã nột lại được bổ nhiệm làm Lưỡng nhai tăng lục.Sang các đời Nguyên, Minh, Thanh, cũng đều có đặt chức Tăng lục, 2 đời Minh, Thanh, đều y theo chức quan của triều đình mà định phẩm chế, nhưng không có các chức Tả, Hữu nhai. X. điều Tạp nhậm chức viên trong Đại tống tăng sử lược Q.trung; Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.17, 41; Tống cao tăng truyện Q.6, 17, 29]. (xt. Tăng Lục).
tả khê
Tso-Ch'i—Vị tổ thứ tám của tông Thiên Thai, tên là Huyền Lang—The eighth T'ien-T'ai patriarch, named Hsuan-Lang. ** For more information, please see Huyền Lang.
Tả Khê Huyền Lãng
(左溪玄朗, Sakei Genrō, 673-754): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, tổ thứ 8 của Thiên Thai Tông Trung Quốc, người vùng Ô Thương (烏傷), Vụ Châu (婺州, Nghĩa Ô, Triết Giang), có thuyết cho là Đông Dương (東陽, cũng thuộc Triết Giang), họ Phó (傅), cháu đời thứ 6 của Phó Đại Sĩ (傅大士), tự là Huệ Minh (慧明), hiệu Tả Khê (左溪). Năm 9 tuổi, ông xuất gia, đến năm đầu (692, tức năm thứ 9 niên hiệu Tự Thánh đời vua Trung Tông) niên hiệu Như Ý (如意) đời Võ Hậu, ông được sắc phong trú trì Thanh Thái Tự (清泰寺) ở Đông Dương. Nhân đến thọ Cụ Túc giới với Ngạn Luật Sư (岸律師) ở Quang Châu (光州), ông theo vị này học về luật nghi cũng như kinh luận, đọc hết các điển tịch, nghiên cứu sâu Kinh Niết Bàn và cũng đã từng đến tham học Thiền yếu với Thiền Sư Ấn Tông (印宗) ở Diệu Hỷ Tự (妙喜寺). Sau ông đến Thiên Cung Tự (天宮寺) ở Đông Dương, theo học Pháp Hoa Kinh, v.v., với Huệ Uy (慧威) và nương theo Thiền Sư Cung (恭禪師) tu tập Chỉ Quán. Ông rất thâm hiểu các sách Nho học, lại rành Đạo Giáo, nhưng rốt cuộc ông nhận thức rằng chỉ có pháp Chỉ Quán là yếu quyết để vào đạo thôi. Từ đó về sau, ông thích chốn núi rừng, tránh xa cõi người, nên vào ẩn cư trong núi Tả Khê thuộc Huyện Bồ Dương (浦陽), Vụ Châu (婺州), thường hành hạnh đầu đà, ăn mặc thô sơ trong vòng hơn 30 năm. Đến năm thứ 16 (728) niên hiệu Khai Nguyên (開元), thể theo lời thỉnh cầu của vị Sắc Sứ Vụ Châu Vương Chánh Dung (王正容), ông tạm thời ra sống ngoài thành, rồi lại cáo bệnh mà trở về núi. Hằng ngày ông chuyên tâm dạy dỗ đồ chúng không hề mệt mỏi, cho nên giáo học Thiên Thai nhờ đó trở nên hưng thịnh. Môn hạ của ông có Trạm Nhiên (湛然)―vị tổ thời trung hưng của Thiên Thai Tông, Pháp Dung (法融)―vị tăng người Tân La (新羅), Lý Ứng (李應), Thuần Anh (純英), v.v. Vào năm thứ 13 niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi. Ngô Việt Vương ban cho thụy hiệu là Minh Giác Tôn Giả (明覺尊者), người đời thường gọi ông là Tả Khê Tôn Giả (左溪尊者). Trước tác của ông có Pháp Hoa Khoa Văn (法華科文) 2 quyển.
tả kinh
Chép kinh—To copy the scriptures.
; (寫經) Biên chép kinh Phật. Việc này bắt đầu vào khoảng thế kỉ II, I trước Tây lịch, tức thời đại Phật giáo sơ kì ở Ấn độ. Lúc bấy giờ, các bộ phái Tiểu thừa đều theo phương thức khẩu tụng để truyền thừa Phật pháp, còn Đại thừa thì chú trọng việc viết chép; trong đó, Ấn độ dùng tiếng Phạm, các nước Tây vực dùng cả tiếng hạm, tiếng Hồ, Tích lan thì chuyên dùng tiếngPàli. Trong kinh điển Đại thừa thường có lời văn tán thán công đức viết chép kinh, như Pháp hoa văn cú quyển 8 cho rằng Thư tả pháp sư có công đức thù thắng nhất trong 5 hạng Pháp sư. Tóm lại, khi mà nghệ thuật ấn loát vẫn chưa phát triển thì việc tả kinh thực sự có ý nghĩa và công đức rất lớn trong việc hoằng truyền lưu thông kinh pháp. Về nguyên liệu để chép kinh, thời kì đầu sử dụng lá bối đa la, về sau dần dần có lụa trắng, vàng lá, vỏ cây hòe, vỏ cây hoa, lụa tre, giấy... Trong các di phẩm tả kinh, có những mảnh kinh kệ đứt rách, đào thấy ở Vu điền thuộc miền Trung á, được viết bằng mực trên vỏ cây hoa. Ngoài ra cũng có dấu vết cho thấy kinh điển được viết chép trên những miếng vàng mỏng, đồng mỏng. Trong các bản kinh chép tay xưa, loại thường thấy nhất là lá bối, như những nguyên điển tiếng Phạm hiện còn. Còn những bản chép tay muộn hơn, thì được viết trên giấy. Ngoài ra, dụng cụ để viết chép thì có mực, bút, gai... Ở Trung Quốc, từ đời Đông Hán, song song với việc bắt đầu phiên dịch kinh Phật là việc dùng bút mực biên chép kinh điển, như những văn kinh phiên dịch phần lớn được biên chép ngay. Về sau, vì có nhu cầu thỉnh kinh hoặc lưu truyền nên tiếp tục biên chép lại văn dịch, do đó, phong khí tả kinh rất thịnh hành. Đến các đời Tùy, Đường phong khí này càng phổ biến. Nhưng, từ cuối đời Đường đến đầu đời Tống trở đi, vì nghệ thuật ấn loát phát triển mạnh, đưa đến việc lưu hành bản in Đại tạng kinh thì phong khí tả kinh bắt đầu suy đồi. Hiện nay còn rất nhiều di phẩm tả kinh, trong đó, bản xưa nhất là kinh Thí dụ 1 quyển đào được ở Đôn hoàng, được biên chép vào niên hiệu Cam lộ năm đầu (265) đời Tào Ngụy. Ngoài ra, như các mảnh đứt rách còn sót lại của kinh Chư Phật yếu tập quyển hạ, do đội thám hiểm Đại cốc của Nhật bản từ Trung quốc mang về, niên đại biên chép được suy định là năm Nguyên khang thứ 6 (296) đời Tây Tấn, cũng là 1 di phẩm tả kinh nổi tiếng của Trung quốc. Về hình thức, các bản kinh chép tay của Trung quốc được làm theo kiểu cuộn tròn có trục cốt bên trong, tức là Quyển tử bản, mỗi hàng 15 đến 22 chữ, trên, dưới và giữa các hàng đều được cách ngăn bằng 1 đường mực mờ nhạt. Về thể chữ, vào thời Lục triều, kinh sách thường được viết theo 1 thể chữ gọi là Lục triều thể (như Lệ thư, Bát phần thư)...; đến đời Tùy đại khái được thống nhất bằng kiểu chữ Khải, đồng thời qui định đường ngăn và số chữ. Đời sau viết mỗi hàng 17 chữ chính là theo tiêu chuẩn được qui định ở thời Tùy. Ở Nhật bản, cách viết kinh đại khái cũng mô phỏng theo phương thức của Trung quốc. Vào thời Nại lương, ngoài sở tả kinh do triều đình
Tả Kinh Mục Lục
(冩經目錄, Shakyōmokuroku): 1 quyển, do Viên Trân (圓珍, Enchin, 814-891) soạn vào năm 750 (niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳] thứ 2).
Tả Truyện
(左傳): tên gọi tắt của Xuân Thu Tả Thị Truyện (春秋左氏傳), còn gọi là Tả Thị Truyện (左氏傳), Tả Thị Xuân Thu (左氏春秋), gồm 30 quyển, là trước tác lịch sử mang tính biên niên của cổ đại Trung Quốc. sách chú thích về bộ Xuân Thu (春秋), tương truyền do Tả Kheo Minh (左丘明, 556-451ttl.) trước tác. Bản này kết hợp với Công Dương Truyện (公羊傳), Cốc Lương Truyện (穀梁傳), được gọi là Xuân Thu Tam Truyện (春秋三傳).
tả truyện
Ta-chuan (C).
tả đạo
False doctrine.
tả đạo tánh lực phái
Vamacara-sakta (S)Một tôn phái ở Ấn vào thế kỷ 11.
; (左道性力派) Tả đạo tính lực, Phạm: Vàmàcàra Zàkta. Một trong các phái Tính lực ở Ấn độ. Phái này được sáng lập vào khoảng thế kỉ XI, lấy Đát đặc la (Phạm: Tantra) làm trung tâm, coi trọng Luân tọa lễ bái (Phạm: Cakrapùjà), thực hành pháp dùng thân người hiến cúng. Tức nam nữ tín đồ tham dự Luân tọa trong đêm, dùng 5 M (5 chữ M) là thịt (Phạm: Màôsa), Cá (Phạm: Matsya), rượu (Phạm: Madhya), gạo rang (Phạm: Mudrà) làm thức ăn để hành pháp tính giao (Phạm: Maithuna). Mượn cảnh nam nữ giao hoan trong tâm thái ngây ngất để hợp nhất với thần mà quán tưởng cảnh giới giải thoát, lấy đó làm pháp tu. Phái này thịnh hành ở Mạnh gia lạp (Bengal), A tát mật (Assam). Nhưng phương pháp tu này thô tục, tạp nhạp, dễ bị sa đọa, nên trong thời kì người Anh đô hộ Ấn độ, phái này đã bị cấm hoạt động. (xt. Đát Đặc La Phật Giáo).
tản cái hành đạo
(傘蓋行道) Nghi thức dùng lọng che(tản cái) trên đỉnh đầu người thụ Quán đính để đi vòng quanh các vị tôn trong Mạn đồ la hoặc chung quanh tranh tượng Tổ sư khi cử hành nghi thức Quán đính trong Mật giáo. Nghi thức che lọng đi nhiễu này được cử hành vào lúc sắp bước lên ngôi vị Pháp vương sau nghi thức Quán đính đã cử hành xong. Lúc cử hành nghi thức Quán đính, sau khi đã nhận ấn khế và chân ngôn Quán đính xong, người nhận(hành giả) bước ra khỏi Tiểu đàn, đến đứng trước Đại đàn, lễ Mạn đồ la 3 lễ, đi nhiễu quanh đàn 3 vòng và lúc hành giả hướng về tranh tượng của Tổ sư Truyền đăng thì vị A xà lê tự cầm lọng che trên đỉnh đầu của hành giả nhận Quán đính, gọi là Tản cái hành đạo. Nếu vị Đại A xà lê tuổi cao sức yếu thì do vị Giáo thụ sư làm thay. Kinh Cù hê quyển hạ (Đại 18, 770 hạ) nói: A xà lê tự tay cầm lọng, bảo đệ tử đi nhiễu Mạn đồ la 3 vòng, sau đó đến trước cửa Tây lễ 3 lễ, vị A xà lê cũng cầm lọng đi theo để che đầu. Sau khi đệ tử lễ xong, vị A xà lêkhải bạch Chư tôn, nói như sau: Con tên là...,đã quán đính cho đệ tử tên là... giờ đây con xin giao phó cho Chư tôn, khiến trì minh tạng. Nói xong thì buông lọng ra, bảo đệ tử đứng dậy, đối trước Mạn đồ la. Về lọng được sử dụng thì có 2 loại, lọng trắng và lọng đỏ, phần nhiều tùy theo dòng phái mà khác nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8; Truyền pháp quán đính sơ dạ tác pháp lí kí Q.hạ].
tảo li tốc li
(早離速離) Tên 2 người con của Phạm chí Trường na ở thời quá khứ, cũng là tiền thân của bồ tát Quán thế âm và bồ tát Đại thế chí. Cứ theo kinh Quán thế âm bồ tát vãng sinh tịnh độ bảnduyên thì vô số kiếp về trước, ở nước Ma niết bà tra thuộc Nam thiên trúc có một vị Phạm chí(tức người Bà la môn dốc chí cầu sinh lên cõi trời của Phạm thiên, nên gọi là Phạm chí) tên là Trường na, vợ tên là Ma na tư la, sinh được 2 người con. Khi người anh lên 7 và người em lên 5 thì mẹ mắc bệnh qua đời, người cha thì lấy vợ khác. Bấy giờ gặp nạn đói kém, người cha lên núi Đàn na la tìm thức ăn, ở nhà người mẹ ghẻ hãm hại 2 đứa trẻ bằng cách đem rabỏ ngoài đảo hoang. Hai anh em rất đau khổ, liền phát 100 lời nguyện, nguyện tu đạo Bồ tát để làm lợi ích cho chúng sinh trong 10 phương, phát nguyện xong liền mệnh chung. Lúc người cha trở về, được biết 2 con của mình đã bị bỏ ngoài hoangđảo, liền đi tìm kiếm, nhưng khi đến nơi thì chỉ thấy một đống xương trắng. Người cha buồn khổ khóc thương và phát 500 lời nguyện, nguyện rộng độ các chúng sinh độc ác mau thành Phật đạo, đồng thời thường trụ ở thế giới Sa bà để thuyết pháp giáo hóa. Phạm chí Trường na nói trên là tiền thân của đức Phật Thích ca, Ma na tư la là tiền thân của đức Phật A di đà, người anh tên Tảo li là bồ tát Quán thế âm, người em tên Tốc li là bồ tát Đại thế chí(vì sớm lìa bỏ cha mẹ nên gọi là Tảo li, Tốc li). Núi Đàn na la tức là núi Linh thứu ở thờiđức Phật tại thế, còn hoang đảo tức là núi Bổ đà lạc.
tảo tham
(早參) Cũng gọi Triêu tham. Thời tham học buổi sáng. Tức sau khi dùng cháo bữa sáng xong, đại chúng tụ tập trên giảng đường nghe vị Trụ trì khai thị giáo pháp. Tổ đình sự uyển quyển 8 (Vạn tục 113, 118 hạ) nói: Trong Thiền môn, buổi sáng đại chúng lên nhà giảng nghe pháp, gọi là Tảo tham. Ngoài ra, nghi tắc thực hành lúc tảo tham gọi là Tảo tham pháp. Lợi ích do việc nghe pháp lúc tảo tham mang lại cho đại chúng, gọi là Tảo tham pháp ích. Ba tiếng trống do vị Thị giả đánh lúc tảo tham để báo hiệu vị Trụ trì sắp thăng đường, gọi là Tảo tham cổ. Tấm bảng gỗ có viết 2 chữ Tảo tham treo ở cửa vào Pháp đường và nhà Phương trượng vào trước ngày tảo tham, gọi là Tảo tham bài. [X. Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Thiền uyển thanh qui Q.1, 2; Tăng đường thanh qui Q.1, 4; bài Tựa trong Sắc tu Bách trượng cổ thanh qui; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Tham, Triêu Tham Mộ Thỉnh).
tảo trừ phàm thánh bổng
(掃除凡聖棒) Cây gậy quét sạch cái thấy phân biệt phàm thánh, là phép đánh thứ 8 trong 8 phép đánh gậy của tông Lâm tế. Khi bậc thầy tiếp hóa người học, không cho người học nghĩ ngợi, dùng gậy đánh để quét sạch cái thấy phân biệt đối lập nhau như phàm tình và thánh giải, khiến cho họ triệt để thấy bản tính của mình. Tức là nói được cũng đánh, nói không được cũng đánh, làm cho người học ngay đó phá vỡ khối ngờ. Đây là phương pháp hữu hiệu nhất trong 8 cách đánh(bát bổng) của tông Lâm tế, cho nên được xem là chính bổng. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng].
tảo tỉnh
(藻井) Cũng gọi Ỷ tỉnh, Thừa trần, Thiên hoa bản.Một kiểu kiến trúc củaTrung quốc thời cổ đại, cũng được thu dụng trong các kiến trúc Phật giáo. Tức chạm trổ hoặc vẽ các hoa văn trên phần mái vòm bên trong nóc của các lâu đài, cung điện, hoặc phần mái vòm phía trên tòa Phật. Lối kiến trúc này có hình vuông, hình 6 góc, hình 8 góc hoặc hình tròn. Tảo tỉnh đã có từ đời Hán, là một hình thức kiến trúc trang trí, tượng trưng cho sự Trang nghiêm, cao quí, phần nhiều được thấy trong các chùa viện. Hiện còn nhiều tảo tỉnh trong quần thể động đá ở Vân cương được kiến tạo vào thời Lục triều. Ngoài ra, những tảo tỉnh ở chùa Phật quang núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc vàở chùa Long sơn, Lộc cảng, Đài loan, đều rất nổi tiếng trong nước.
tảo đãng môn
(掃蕩門) Cũng gọi Thôi đảo môn. Đối lại: Phù khởi môn. Phương pháp phủ định tất cả tướng sai biệt, quét sạch(tảo đãng) mọi chấp trước mà bậc thầy sử dụng để dẫn dắt người học. Trái lại, Phù khởi môn(môn đỡ dậy) là phương pháp khẳng định tất cả các pháp nghĩa phân biệt như mê và ngộ, chúng sinh và Phật, thiện và ác... mà sư gia ứng dụng để dựng dậy, nâng đỡ người học. (xt. Bả Trụ Phóng Hành).
tảo địa chân ngôn
(掃地真言) Chân ngôn được trì tụng khi quét dọn đất cát để kiến lập thổ đàn Mạn đồ la trong Mật giáo. Chân ngôn là: Án, hạ ra hạ ra tổ ngật ra hạ noa dã sa phạ hạ. [X. Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la cập giản trạch địa pháp].
tảo địa ngũ đức
(掃地五德) Cũng gọi Tảo địa ngũ chủng thắng lợi. Năm thứ công đức của việc quét đất nêu trong Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 14, đó là: 1. Tự tâm thanh tịnh(cũng gọi Tự trừ tâm cấu): Khi người quét đất chùa sạch sẽ thì tâm cũng được thanh tịnh. 2. Linh tha tâm tịnh(cũng gọi trừ tha cấu): Sau khi quét, người khác thấy đất chùa sạch sẽ, tâm cũng được thanh tịnh. 3. Chư thiên hoan hỉ(cũng gọi Khứ kiêu mạn): Người quét đất chùa sạch sẽ giống như trừ bỏ bụi nhơ kiêu mạn trong thân mình, khi chư thiên thấy người và đất đều thanh tịnh nên sinh tâm hoan hỉ. 4. Thực đoan chính nghiệp (cũng gọi Điều phục tâm): Người quét đất chùa sạch sẽ thì điều phục được tâm mình, cũng như gieo trồng(thực) phúc nghiệp đoan chính, đời sau ắt được tướng mạo đoan chính và đức nghiệp tốt đẹp. 5. Mệnh chung đương sinh thiên thượng(cũng gọi Trưởng công đức): Người quét đất chùa sạch sẽ, tăng trưởng công đức, cho nên sau khi mệnh chung sẽ được sinh lên cõi trời.
tấm phan
Pennant.
tấn căn
Viryendriya (S)Một trong 5 căn vô lậu (Tín, tấn, niệm, định, huệ).
tấn sơn
(晋山) Cũng gọi Tiến viện, Tiến sơn, Nhập viện.Tấn là tiến lên,Sơn là chùa viện, nghĩa là vị Tân trụ trì bước vào chùa viện để lãnh trách nhiệm kế thừa pháp vụ. Nghi thức được cử hành vào dịp này gọi là Tấn sơn thức.Theo điều Nhập viện, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng, vào đời Đường, khi cử hành ghi thức Tấn sơn, vị Tân trụ trì đầu phải đội nón, lưng mang khăn gói, khi đến trước cổng chùa thì bỏ nón, vào cổng đốt hương, nói pháp ngữ. Sau đó, đến trước Tăng đường, cởi bỏ khăn gói, đến chỗ khuất vắng rửa chân, lấy ca sa trong khăn gói ra để mặc; xong, vào Tăng đường thắp hương, đến trước tượng Thánh tăng lạy 3 lạy, người đi theo cũng đều lạy. Sau khi sắp xếp hành lí, lên điện Phật dâng hương, nói pháp ngữ dâng hương và lễ 3 lễ. Kế đó, đến Thổ địa đường, Tổ sư đường thắp hương, mỗi nơi đều có pháp ngữ. Sau đó, bước vào nhà Phương trượng, cũng có pháp ngữ. Cứ như thế lần lượt khai đường cầu nguyện. Đó là nghi thức Tấn sơn cử hành vào đời Đường. Về sau, nghi thức Tấn sơn trong các đời Tống, Nguyên, Minh và cận đại dần dần trở nên long trọng và phức tạp hơn nhiều, tất cả chi tiết đều được ghi rõ trong Hoàng bá thanh qui của Hòa thượng Ẩn nguyên. [X. Thiền uyển thanh qui Q.7; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.4; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tấn Thuỷ
晉水; C: jìn shuĭ; J: shinsui; |Tên gọi khác của Tịnh Nguyên (淨源), Tăng sĩ tông Hoa Nghiêm trong thời kì Phật giáo phục hưng đời Tống.
Tấn Thuỷ 晉水
[ja] シンスイ Shinsui ||| Jinshui; another name for 淨源, a Huayan monk during the Song Buddhist revival period. => (c: Jinshui); tên gọi khác của Tịnh Nguyên 淨源, Tăng sĩ tông Hoa nghiêm trong thời kỳ Phật giáo phục hưng vào đời Tống.
tấn triều
Chin dynasty (C).
tất
To end, final, complete, all.
tất ba la
Pippala (S)Cây bồ đề, Tất bát laXem bodhidruma.
tất bát la
Vaibhara (S)Tì bát la quậtHang đá nơi ngài Ca Diếp và 500 A la hán kiết tập kinh điển lần thứ nhấtXem Tất ba la.
tất bát la da na
(畢鉢羅耶那) Phạm:Pippalàyàna. Tức chỉ cho ngài Ma ha Ca diếp, vì ngài sinh dưới gốc cây Tất bát la. Hoặc truyền thuyết cho rằng cha mẹ ngài Ca diếp cầu tự nơi thần cây Tất bát la mà sinh được ngài, nên dùng cây làm tên. [X. Pháp hoa văn cú Q.1]. (xt. Ca Diếp).
tất bát la quật
(畢鉢羅窟) Phạm:Pippalì-guhà. Pàli:Pipalì-guhà, Pipphalì-guhà. Cũng gọi Tân ba la quật, Ti ba la thạch thất, Tất ba la diên thạch quật. Gọi tắt: Tất bát. Chỉ cho hang động ở vùng phụ cận thành Vương xá, Trung Ấn độ. Vì ở trên hang động này có cây Tất bát la, hoặc vì tên ngài Đại ca diếp là Tất bát la, ngài với nơi này có nhân duyên rất mật thiết, nên gọi là Tất bát la quật. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện thì sau khi thụ trai, đức Phật thường tọa thiền ở đây. Đại đường tây vực kí quyển 9 nói rằng các vị tỉ khưu thường tu tập thiền định tại nơi này, vì nơi đây thường xuất hiện các hình ảnh rồng, rắn, sư tử... quái dị, khiến người trông thấy phần nhiều đều sinh tâm cuồng loạn. Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Đại ca diếp cùng với 500 vị tỉ khưu đã cử hành kết tập kinh điển lần thứ nhất tại hang động này. [X. kinh A dục vương Q.9; Ấn độ Phật tích thực tả giải thuyết].
tất bát la thụ
(畢鉢羅樹) Phạm: Pippala. Pàli:Assatha. Gọi tắt: Tất bát thụ. Hán dịch: Cát tường. Cây Tất bát la, loại cây thân cao, thuộc họ dâu, mọc nhiều ở Trung Ấn độ. Vì đức Thích ca đã thành Đẳng chính giác ở gốc cây này nên thường gọi là Bồ đề thụ. (xt. Bồ Đề Thụ).
tất chí bổ xứ nguyện
(必至補處願) Cũng gọi Linh chí bổ xứ nguyện, Nhiếp tha quốcbồ tát nguyện, Bồ tát cứu cánh nhất sinh bổ xứ nguyện, Nhất sinh bổ xứ nguyện, Hoàn tướng hồi hướng nguyện. Nguyện nhất định sẽ được đến ngôi Bổ xứ(thành Phật), là lời nguyện thứ 22 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà khi còn là tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân. Bổ xứ nói đủ là Nhất sinh bổ xứ, hàm ý là qua hết đời này, đời sau nhất định sẽ được thành Phật ở thế gian; vì thếBổ xứ tức chỉ cho địa vị tối cao của Bồ tát – bồ tát Đẳng giác. Đức Phật A di đà tự thệ là nếu các Bồ tát ở những cõi nước phương khác muốn sinh đến cõi Tịnh độ của Ngài thì chắc chắn được đến ngay địa vị Nhất sinh bổ xứ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung) nói: Nếu tôi thành Phật các chúng Bồ tát ở các cõi Phật khác muốn sinh đến cõi nước tôi thì rốt ráo đều được đến ngôi Nhất sinh bổ xứ (...). Nếu không như thế thì tôi không thành Chính giác.
tất chí diệt độ nguyện
(必至滅度願) Cũng gọi Vãng tướng chứng quả nguyện, Trụ chính định tụ tất chí bồ đề nguyện, Lậu tận vị nguyện, Vô thượng niết bàn nguyện, Chứng đại niết bàn nguyện, Trụ chính định tụ nguyện, Linh trụ chính định tụ nguyện. Nguyện chắc chắn đến được diệt độ, là lời nguyện thứ 11 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà khi còn là tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân. Tức Phật Di đà nguyện rằng tất cả người, trời trong cõi nước của Ngài đều trụ trong Chính định tụ cho đến khi diệt độ, đạt được đại quả Niết bàn, nếu không như thế thì Ngài không thành Chính giác.Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng) nói: Nếu tôi thành Phật, tất cả người, trời trong nước tôi không trụ nơi chính định tụ cho đến diệt độ thì tôi không lên Chính giác.
tất cánh
Atyanta (S). At bottom, finally, at last, fundamental, final, ultimate
; (畢竟) Phạm: Atyanta. Cũng gọi Cứu cánh, Chí cánh. Rốt ráo, tột bậc, cuối cùng. Chân lí thanh tịnh tuyệt đối (Niết bàn, thực tướng, không tính...) xa lìa phiền não ô nhiễm, gọi là Tất cánh tịnh; đức Phật là nơi tột cùng để chúng sinh quay về nương tựa, nên gọi là Tất cánh y; tuyệt đối không gọi là Tất cánh không; cảnh giới mà Phật chứng được là cảnh giới giác ngộ cùng tột, không ai sánh được, cho nên gọi là Tất cánh giác(cùng nghĩa với Vô thượng giác); trí tuệ cùng suốt lí tính của pháp giới, gọi là Tất cánh trí; muôn vật trong vũ trụ chỉ là không vô, nên cuối cùng không thường trụ, gọi là Tất cánh vô thường trụ. [X. kinh Niết bàn Q.27 (bản Bắc); Chú Duy ma kinh Q.10; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
Tất cánh bất sinh 畢竟不生
[ja] ヒッキョウフショウ hikkyōfushō ||| "Absolute non-arising;" a description of the condition of absolute reality. => 'Rốt ráo không sinh khởi'; diễn tả cảnh giới thực tại cứu cánh.
tất cánh giác
The ultimate enlightenment, or bodhi, of a Buddha.
tất cánh không
Atyanta-śŪnyatā (S)Dùng hữu vi không, vô vi không phá tất cả các pháp.
; Fundamentally unreal, immaterial, or void.
; (畢竟空) Phạm:Atyanta-zùnyatà. Cũng gọi Chí cánh không. Các pháp rốt ráo không, 1 trong 18 pháp không. Luận Đại trí độ quyển 31, phân biệt giữa Tất cánh không và Tính không, cho rằng Tất cánh không là không còn gì; còn Tính không là tính xưa nay thường như thế; Tất cánh không là pháp thực hành của chư Phật, còn Tính không là pháp thực hành của Bồ tát. Tức dùng Không để phá trừ các pháp, rốt ráo không chấp trước 1 vật gì, 3 đời thanh tịnh, là Tất cánh không; tự tính của hết thảy các pháp là không, chỉ do các duyên hòa hợp mà dường như có, nếu lìa các duyên thì tự tính các pháp không thực có, là Tính không. Trung quán luận sớ quyển 1 phần cuối giải thích Tất cánh không như sau: Tính của chúng sinh cũng như hư không, trong đó không có sinh tử qua lại, cũng không có người giải thoát. Vì sinh tử vốn tự chẳng sinh, nên không có qua lại; đã không có sinh tử qua lại thì sinh tử đâu mà diệt, nên gọi là Niết bàn, vì thế không có giải thoát. Bởi vậy, sinh tử niết bàn rốt ráo đều không, tất cả đều không sinh. Tức Niết bàn vốn tự chẳng sinh, sinh tử cũng vốn tự chẳng sinh, cho nên là tất cả chẳng sinh. Vì tất cả chẳng sinh nên gọi là Tất cánh không. [X. phẩm Vấn thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; kinh Giải thâm mật Q.3; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Thập bát không]. (xt. Thập Bát Không).
tất cánh không hành
(畢竟空行) Thực hành pháp quán dứt lìa cả 2 bên có và không mà trụ nơi Chân không quán. Đây là 1 trong 4 hạnh an lạc, do Quốc sư Thanh lương Trừng quán y cứ vào phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa quyển 4 mà lập ra. Vì tu 4 hạnh này sẽ đưa đến Niết bàn, thân tâm định tĩnh, nên gọi là An lạc. Tất cánh không hành tức đem các hành xứ, cận xứ nói trong kinh Pháp hoa qui hết về Không. Hành xứ tức là quán chiếu lí, đúng như lí mà tu hành; Cận xứ là quán tất cả pháp không, tức gần với lí. Hành xứ, cận xứ, cuối cùng, đều qui về không, vì thế gọi là Tất cánh không hành. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.28].
tất cánh trí
Ultimate, or final wisdom, or knowledge of the ultimate.
tất cánh tịnh
(畢竟淨) Rất mực thanh tịnh. Tức chỉ cho Niết bàn, Thực tướng... Vì Niết bàn, Thực tướng xa lìa tất cả phiền não, nghiệp khổ nhiễm ô, rốt ráo thanh tịnh, vĩnh viễn bất biến. Thám huyền kí quyển 12 giải thích Tất cánh tịnh nói trong kinh Hoa nghiêm quyển 25 (bản dịch cũ) là được quả Niết bàn; Tất cánh an lạc đại thanh tịnh xứ nói trong Vãng sinh luận chú là sinh về thế giới An lạc chứng diệu quả Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.63].
tất cánh vô
Never, fundamentally not, or none.
; (畢竟無) Rốt ráo không. Tức chỉ cho những vật tuyệt đối không bao giờ có trong thế gian. Như sừng thỏ, lông rùa, nếu tìm đến sự tướng thì rốt ráo là việc hư vọng không thực, Tất cánh vô khác với Tất cánh không, vì Tất cánh không là nói về thực tướng của vũ trụ mà không phủ nhận sự tồn tại của muôn pháp. Nghĩa là muôn pháp vẫn có đó, nhưng là có giả chứ không phải có thực. Còn lông rùa, sừng thỏ là những vật chưa từng tồn tại bao giờ, vốn đã là không, nên là Tất cánh vô.
tất cánh vô thường
xem ba loại vô thường.
tất cánh y
A final trust, ultimate reliance, i.e. Buddha.
; (畢竟依) I. Tất Cánh Y. Đức hiệu của chư Phật. Tất cánh đồng nghĩa với Cứu cánh. Tức chư Phật là chỗ nương tựa rốt ráo của chúng sinh, cho nên gọi là Tất cánh y. Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 2 (Đại 31, 826 thượng) nói: Đáng bỏ và hư dối, không vật và sợ hãi; hai thứ pháp và tăng, chẳng phảiTất cánh y. [X. kinh Ương quật ma la Q.2]. II. Tất Cánh Y. Đức hiệu của Phật A di đà. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Trong sáng rực rỡ chẳng ai bằng Nên Phật còn gọi Vô đối quang; Gặp ánh sáng ấy nghiệp tiêu sạch Con xin cúi lạy Tất cánh y.
tất cánh đoạn
(畢竟斷) Đối lại: Tổn phục đoạn. Nhờ vào năng lực của đạo vô lậu để vĩnh viễn đoạn diệt các hạt giống phiền não, làm cho không còn sinh được nữa. Trái lại, Tổn phục đoạn thì chỉ tạm thời áp phục, ngăn chặn hạt giống phiền não, nhưng khi gặp duyên (có cơ hội) thì chúng lại hiện hành ngay.
Tất cánh 畢竟
[ja] ヒッキョウ hikkyō ||| (atyanta). (1) Absolute, (2) Final, most, the limit. After all, finally, in the long run. (3) Positively, decidedly, absolutely. (4) Again, in conclusion (punar). (5) Necessarily. (6) Enlightenment. => (s: atyanta) 1. Tuyệt đối. 2. Dứt khoát, hầu hết, ranh giới. Rốt ráo, cuối cùng, trong thời gian dài. 3. Một cách chắc chắn. Kiên quyết, tuyệt đối. 4. Lại nữa, sự thu xếp (punar). 5. Tất yếu, nhất thiết. 6. Giác ngộ.
tất cả tội chướng
All offense-obstacles.
tất giai giải thoát
(悉皆解脫) Đồng nghĩa: Tất cánh giải thoát. Rốt ráo giải thoát, tức là hoàn toàn tự do, tự tại,cởibỏ hết mọi sự bó buộc, mê hoặc. Chỉ cho tâm tu hành thuần thục, hoặc biểu thị trạng thái tuyệt đối chân thực của tự thể vạn hữu. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 222 trung) nói: Tất cảcácpháp thảy đều giải thoát, các ông phải tự hộ niệm, giáo hóa đời sau.
tất kỳ lợi da
(悉耆利耶) Phạm:Sìgiriya. Chỉ cho ngọn núi cao, cách thành phố Khảm để (Kandy) của Tích lan 72 km về phía bắc. Dọc theo sườn núi có 6 hang động, trong có những bức bích họa nổi tiếng. Trên núi có các di tích Vương thành từ thời vua Ca diếp (Pàli:Kassapa, ở ngôi 479-497) của Tích lan. Hiện nay trên núi chỉ còn 4 hang động, trên vách vẽ tranh các người trời rải hoa cúng dường; nét vẽ rất thực, cấu tưởng nhiều biến hóa, sử dụng các màu sắc đỏ, vàng, lục, đen..., mô tả thân hình kiều diễm, dáng dấp xinh đẹp của chư thiên, biểu lộ tình cảm phong phú. Nội dung các bích họa có lẽ đã miêu tả các Phật sự do các Vương phi và thị nữ của vua Ca diếp thực hiện khi nhà vua đang xây dựng cung điện tại nơi này. Niên đại gần với bích họa ở các hang động số 16 và 17 tại A chiên đa, đều mang kiểu dáng thời Cấp đa và biểu hiện vẻ hùng vĩ của nghệ thuật Phật giáo với phong cách Tích lan. Đường lên các hang động này không dễ, cho nên rất ít người biết đến. Mãi tới năm 1889, ông A. Murray mới lên đến tận đỉnh núi, vẽ lại các bích họa đem về trưng bày tại viện bảo tàng Colombo. Đến năm 1895, được sự giúp đỡ của chính phủ Tích lan, ônh H. C. P. Bell mới nỗ lực thực hiện công việc khôi phục các bức tranh như cũ. [X. A History of Fine Art in India and Ceylon by V. A. Smith; Guide to the Collections of the Colombo Museum].
tất lăng già bà sa
Palindavatsa (S). Also Dư Tập.
tất lăng già bà ta
Xem Dư Tập A la hán.
tất lăng già bà tha
(畢陵伽婆蹉) Phạm: Pilinda-vatsa. Pàli:Pilinda-vaccha. Cũng gọi: Tất lăng già phiệt sa, Tất lân đà bà ta, Tất lan đà phiệt sa, Tỉ lợi đà bà gia, Tất na phạ sa. Gọi tắt: Tất lăng già, Tất lăng. Phạm Hán: Tất lân đà tử. Hán dịch: Dư tập, Ác khẩu. Đệ tử đức Phật, thuộc dòng Bà la môn, người ở thành Xá vệ, Ấn độ thời xưa. Cứ theoParamattha-dìpanì (sách chú thích kinh Tiểu bộPàli) thì ngài Tất lăng ban đầu học chú thuật tàng hình, rất nổi tiếng, sau gặp đức Phật, sức chú thuật bị mất, liền xuất gia làm đệ tử Phật. Luận Đại trí độ quyển 2 ghi chép, có lần Tất lăng qua sông Hằng khất thực, vì ngài mắng nhiếc thần sông nên thần đến thưa với đức Phật về việc này, Phật liền khiển trách ngài Tất lăng và bảo phải tạ lỗi thần sông. Đồng thời, đức Phật giải thích rằng vì ngài Tất lăng đã sinh vào nhà Bà la môn 500 đời đến nay, tính thường tự kiêu căng, xem thường người khác; cho nên những lời lỗ mãng ấy chỉ là do thói quen đã huân tập từ xưa mà thôi. Tên gọi Dư tập(thói quen còn rớt lại), Ác khẩu có lẽ đã do đó mà được đặt. Ngoài ra, ngài Tất lăng cũng có thần thông. Hữu bộ tì nại da quyển 5 nói có lần ngài dùng sức thần thông cứu người cháu bị cướp. [X. luật Ma ha tăng kì Q.29; Pháp huyền tán Q.1].
tất lạc xoa
Xem Vô Ưu.
tất lặc chi để ca phật
Xem Duyên Giác.
tất lợi xoa
Xem cây vô ưu.
tất nhập biện tài tam muội
Nirukti-niyata-pravesa-samādhi (S).
tất pháp tánh tam muội
Dharma-djatu-niyata-samādhi (S).
tất sĩ la mạt thể
Xem Kiên Huệ Bồ tát.
tất thích xoa
Xem Vô Ưu.
tất tràng tướng tam muội
Niyata-dhvaja-ketu-samādhi (S).
tất tài
(必才) (1292-1359) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nguyên, người Lâm hải, Thai châu, họ Khuất, tự là Đại dụng. Ban đầu, sư theo ngài Mông nhuận học giáo quán Thiên thai, thông suốt kinh luận, hiểu sâu Thiền pháp. Trong năm Chí chính, sư trụ chùa Diễn phúc ở Hàng châu, vua Thuận đế ban hiệu Phật Giám Viên Chiếu. Năm Chí chính 19 (1359), một hôm, sư chợt cảm thấy đầu óc rỗng lặng, tự biết duyên trần đã mãn, liền thắp hương, ngồi ngay thẳng, chắp tay thị tịch, thọ 68 tuổi.Sư để lại các tác phẩm: Diệu huyền văn cú, Chỉ quán tăng trợ trị văn, Pháp hoa Niết bàn giảng nghĩa, Chương an kinh khê pháp trí lễ văn thi kệ. [X. Đại minh cao tăng truyện Q.1; Tống học sĩ tập Q.57].
tất tú
(畢宿) Phạm: Rohiịì. Cũng gọi Thi lô hi nễ, Lỗ hỉ ni, Mộc giả, Trưởng dưỡng giả, Trưởng dục giả. Sao Tất, 1 trong 28 ngôi sao. Cứ theo kinh Tú diệu thì sao Tất có 5 sao, Trung quốc thì cho là sao Tất có 8 sao, thuộc về thần Bát xàbát để (Phạm: Prajàpati). Trong Mật giáo, sao Tất được an trí trong Ngoại viện phía tây hoặc Ngoại viện phía đông của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này tay phải cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu màu đỏ. Hình Tam muội da là ngôi sao trên hoa sen. Ấn khế thì dùng ấn chung của 28 sao. Chân ngôn là: Qui mệnh Lỗ hỉ ni (rohiịì) na khất xoa đa la(nakwatra, sao) sa phạ hạ; hoặc dùng chú chung của 28 sao.[X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.hạ; kinh Xá đầu gián Thái tử nhị thập bát tú; kinh Tú diệu].
tất đoạ vô gián
(必墮無間) Ắt rơi vào vô gián. Vô gián chỉ cho địa ngục Vô gián, là địa ngục thứ 8 trong 8 địa ngục nóng. Tất đọa vô gián nghĩa là những người tạo tội ác sâu nặng chắc chắn sẽphảiđọa vào địa ngục Vô gián. [X. kinh Trường a hàm Q.19; kinh Địa tạngbồ tát bản nguyện Q.hạ]. (xt. Vô Gián Địa Ngục).
Tất Đàm
(s: siddham, j: shittan, 悉曇): tên gọi học vấn truyền thống liên quan đến văn tự, âm vận cũng như văn phạm Sanskrit. Với ý nghĩa là "cái đã thành tựu", từ Siddham ám chỉ về thể loại chữ viết Siddhamātrikā đã phát triển vào thế kỷ thứ 6 từ chữ Gupta thuộc loại chữ Bhurāfumī của hệphương Bắc. Ở Trung Quốc, thể loại chữ viết này được truyền từ Ấn Độ vào, đã phân chia ra và gọi các chữ viết và mẫu âm là Tất Đàm, còn văn phạm và giải thích ngữ cú là Phạn Ngữ. Tuy nhiên, ở Nhật Bản thì gộp chung lại gọi là Tất Đàm. Bảng mẫu tự thì được gọi là Ma Đa Thể Văn (摩多体文). Ma Đa (s: mātrikā, 摩多) là chữ mẫu âm, Thể Văn (s: vianjana, 体文) có nghĩa làchữ tử âm. Tất Đàm là loại chữ biểu âm, ý nghĩa nhất định được thêm vào nơi mẫu tự và chữ hợp thành, đây được gọi là Tự Môn (字門). Trong kinh điển có lập ra các thuyết gồm 50 tự môn hay 42 tự môn. Sách viết về cách nối kết và phương pháp hợp thành các mẫu tự thì được gọi là Tất Đàm Chương (悉曇章). Chính cuốn Tất Đàm Tự Ký (悉曇字記), 1 quyển, trước tác của Trí Quảng (智廣) nhà Đường giải thích thêm về Tất Đàm Chương, đã được Không Hải (空海, Kūkai) đem về Nhật, và được các học giả về Tất Đàm rất coi trọng. Còn bộ Tất Đàm Tạng (悉曇藏), 8 quyển, của Ngũ Đại Viện An Nhiên (安然, Annen) là tác phẩm hình thành hệ thống Tất Đàm Học dưới thời Bình An. Bên cạnh đó, với tư cách là sách nghiên cứu tiêu biểu dưới thời Giang Hộ có Tất Đàm Tam Mật Sao (悉曇三密抄) gồm 7 hay 8 quyển của Tịnh Nghiêm (淨嚴), hay Phạn Tự Tân Lương (梵字津梁) khoảng 1000 quyển của Từ Vân (慈雲) biên tập, là những trước tác nổi tiếng nhất.
tất đàm
(悉曇) Phạm: Siddhaô, Siddhàô. Cũng gọi Tất đán, Tứ đàm, Tất đàn, Thất đán, Thất đàm. Hán dịch: Thành tựu, Thành tựu cát tường. Từ gọi chung các chữ cái(mẫu âm, tử âm, tức các nguyên âm và phụ âm)của tiếng Phạm. Từ thế kỉ VII về trước, văn tự Tất đàm vốn đã thịnh hành ở Ấn độ. Ở Trung quốc, vào thời Nam Bắc triều, văn tự Tất đàm đã được các vị học giả dịch kinh truyền vào và được người Trung quốc đón nhận học tập. Các tác phẩm như: Phạm ngữ thiên tự văn 1 quyển của ngài Nghĩa tịnh, Tất đàm tự kí 1 quyển của ngài Trí quảng, Tự mẫu biểu 1 quyển của ngài Nhất hạnh... đời Đường là những trứ tác rất cần thiết cho sự học tập tiếng Phạm ở đương thời. Các tác phẩm này được truyền đến Nhật bản vào khoảng thời đại Nại lương về trước. Tại Trung quốc, thể chữ và chữ cái của chữ Phạm được gọi là Tất đàm, còn văn phạm và giải thích câu văn tiếng Phạm thì gọi là Phạm âm hoặc Phạm ngữ để phân biệt. Nhưng người Nhật thì chẳng những gọi thể chữ của chữ Phạm là Tất đàm mà cả cách viết, cách đọc, văn pháp... tiếng Phạm cũng gọi là Tất đàm. 1. Theo Tất đàm tự kí của ngài Trí quảng, nếu nói theo nghĩa rộng thì Tất đàm là từ gọi chung Ma đa(nguyên âm) và Thể văn(phụ âm), còn nói theo nghĩa hẹp thì Tất đàm là chỉ cho 12 vận Ma đa. Ma đa,Phạm:Màtfkà, nghĩa là mẫu, cũng gọi Vận, chỉ cho 16 chữ mẫu âm (xem biểu đồ 1); trong đó, có 4 chữ tương đối ít dùng, gọi là Biệt ma đa. Bốn chữ ấy là:F, f, ơ, ơ; 12 chữ còn lại gọi là Thông ma đa, hoặc 12 vận Tất đàm, 12 chương Tất đàm. Đồng thời, chữaô và chữa# là chuyển hóa từ chữa mà ra, chứ không phải vận chính; trong 16 mẫu âm, trừ 2 chữ aô và a# ra, còn lại 14 âm. Hai chữ này vì đứng giữa Ma đa và Thể văn nên gọi là Giới bạn(giữa ranh giới 2 bên).Thể văn, Phạm: Vyaĩjana, có 35 chữ(xem biểu đồ 1), trong 25 chữ đầu, cứ mỗi 5 chữ y theo cách phát âm, thứ tự gọi là Nha thanh(âm yết hầu), Xỉ thanh(âm lợi), Thiệt thanh(âm lưỡi), Hầu thanh (âm răng) và Thần thanh (âm môi), gọi là Ngũ loại thanh(Ngũ ngũ thanh, Tương tùy thanh). Còn 10 chữ sau cùng, gọi chung là Biến khẩu thanh (Mãn khẩu thanh); Biến khẩu thanh nghĩa là tiếng mà khi phát âm phải há rộng miệng. Trong đó, chữ (llaô) là do 2 chữ (la) hợp thành 1 chữ kép (Hợp thành tự, Phức hợp tự); chữ (kwa) là do 2chữ (ka) và (wa) hợp lại bằng cách chồng lên nhau mà thành 1 chữ kép khác, vì thế nó không phải là mẫu tự nguyên bản mà là do các chữ khác tạo thành. (X.Đồ Biểu I). Xưa nay, khi bàn về Tất đàm thì mỗi tự mẫu đều lập ra 3 môn: Hình(thể chữ), Âm (phát âm) và Nghĩa(ý nghĩa). Về âm thì có 2 lối truyền: Trung thiên trúc và Nam thiên trúc, đồng thời cũng bao hàm Liên thanh pháp(như sự biến hóa về âm vận của 2 tiếng nối liền với nhau). Về nghĩa, để dễ nhớ nên ghép các tự mẫu thành những chữ có ý nghĩa nhất định, gọi là Tự môn. Tất đàm vốn là văn tự biểu âm chứ không phải văn tự biểu ý, cho nên chỉ riêng 1 chữ thì đều không có ý nghĩa, nhưng người Ấn độ từ bé đã học thuộc lòng tự mẫu bằng 1 phương pháp riêng. Chẳng hạn như chữ a nghĩa là vốn không sinh (chữ Phạm: Anutpàda), tức là chọn 1 từ ngữ có bao hàm tự mẫu A, hoặc chọn từ ngữ có thể dựa theo hình dáng của chữ mà liên tưởng để dễ nhớ, tự mẫu như vậy có 1 ý nghĩa nhất định. Trong Phật giáo có thuyết 50 tự môn, 42 tự môn; riêng Mật giáo vốn rất coi trọng thuyết này. Chữ Chân ngôn lập 2 môn: Tự tướng và Tự nghĩa, mỗi chữ có 2 cách giải thích là Thiển lược(nông cạn) và Thâm bí(sâu xa), chủ trương thuyết Thanh tự thực tướng. Mật giáo cho rằng 50 tự môn đều là Pháp mạn đồ la tự nhiên, trùm khắp 3 đời 10 phương, tuyệt đối bất biến. Còn thuyết 42 tự môn cũng gọi là 42 tự môn Đà la ni. Văn tự Đà la ni hoàn toàn khác với thuyết 50 tự môn, không lấy tự mẫu làm mục đích, cho nên, về mặt văn tự, cách sắp xếp và trình bày không được rõ ràng mạch lạc như 50 tự môn, hơn nữa, lại thiếu mất 15 chữ mẫu âm và 4 chữ tử âm mà thêm vào 11 chữ kép(Hợp thành tự, Phức hợp tự) như đồ biểu II sau đây: 2. Các pháp tắc về xuyết tự, hợp tự, liên thanh... của tự mẫu Tất đàm thì được ghi trong 18 chương, từ chương Ca ca cho đến chương Cô hợp, gọi là 18 chương Tất đàm, 18 chương Tất đàm kiếnlập, hoặc Tất đàm thiết kế... Thông thường, các tự mẫu tập hợp và những chữ kép được gọi là Tất đàm chương. 3. Về hệ phổ tương thừa của Tất đàm, phái Thai mật căn cứ vào Tất đàm tạng quyển 1 của ngài An nhiên mà chủ trương 4 loại Tất đàm tương thừa khác nhau là: Phạm vương tương thừa (Nam thiên tương thừa), Long cung tương thừa (Trung thiên tương thừa), Thích ca tương thừa(do Hiển giáo truyền) và Đại nhật tương thừa(do Mật giáo truyền). Trong Tất đàm chương tương thừa khẩu thuyết quyển thượng, ngài Ẩm quang(Từ vân tôn giả) thuộc phái Đông mật phê phán thuyết trên, đồng thời cho rằng Phạm vương tức là Đại nhật; còn trong Tất đàm khảo thí biểu bạch thì ngài Không hải người Nhật, chủ trương Tất đàm kiêm truyền Trung thiên tương thừa (thứ tự: Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không, Huệ quả...) và Nam thiên tương thừa(thứ tự: Bát nhã cù sa, Bát nhã bồ đề, Trí quảng...). [X. luận Đại trí độ Q.48; điều Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Tất đàm tạng Q.4; Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí Q.4 (Tuệ viễn)].
tất đàm (tất đàn)
Xem tứ tất đàn.
tất đàm liên thanh
(悉曇連聲) Trong tiếng Phạm, khi 2 từ nối liền nhau thì có sự thay đổi về âm vận, gọi là Liên thanh pháp (Phạm: Sandhi). Tức phần cuối của 1 từ là mẫu âm(nguyên âm) gặp phần đầu của từ kế liền sau cũng là mẫu âm, thì 2 mẫu âm này biến thành 1 mẫu âm dài(tức đọc dài). Ví dụ:Paramaartha chuyển thànhParamàrtha; còn khi phần cuối của từ trước là tử âm(phụ âm) và phần đầu của từ kế liền sau cũng là 1 tử âm gặp nhau thì chuyển thành tử âm cùng loại. Ví dụ: Dig-nàga chuyển thành Dinnàga.
tất đàm luân lược đồ sao
(悉曇輪略圖抄) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Liễu tôn, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung toàn sách chia làm 80 chương, trong đó gồm có biểu đồ nói rõ về âm vận Tất đàm và các việc có lien quan. Sách này là tác giả căn cứ vào khẩu thuyết của thầy mình là ngài Minh liễu phòng tín phạm, rồi thêm vào những điều tâm đắc của mình mà soạn thành.
tất đàm ngũ thập tự môn
(悉曇五十字門) Năm mươi tự môn Tất đàm. Trong 50 tự môn, gồm có 16 chữ mẫu âm(nguyên âm) và 34 chữ tử âm(phụ âm), lànhữngtự âm mà các trẻ em Ấn độ phải học đầu tiên. Vì các em phải học thuộc lòng nên người Ấn độ đặt ra nhiều phương pháp để giúp các em dễ nhớ; 1 trong những phương pháp ấy là chọn những từ ở đầu có tự mẫu hoặc trong từ ấy gồm có các tự mẫu, nhằm thuyết minh ý nghĩa của các tự mẫu để tiện việc học tập. Chẳng hạn, khi muốn nói về chữ A thì chọn những từ ở đầu có chữ A như:Anutpàda(nghĩa là chẳng sinh); muốn nói rõ chữ B thì chọn những từ có chữ B ở đầu như: Bala(nghĩa là sức). Dụng ý chính là nhờ phương pháp liên tưởng khiến người ta dễ ghi nhớ. Cũng có trường hợp dựa vào hình dáng của chữ để ghi nhớ, như trong 50 tự môn của kinh Đại bát Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) lấy chữ (ỉa) làm hình bán nguyệt, chữ (ỉha) làm hình trăng tròn. Kinh điển Phật giáo rất xem trọng tự nghĩa, đặc biệt Mật giáo còn dùng phương cách giải thích bí mật sâu xa để trực tiếp hiển bày lí cứu cánh tuyệt đối, cho đến thuyết minh 50 tự môn đều là pháp Mạn đồ la tự nhiên, trùm khắp 3 đời 10 phương thường hằng bất biến. [X. phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.7; điều Tây phương học pháp trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].
tất đàm tam mật sao
(悉曇三密鈔) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tịnh nghiêm (1639-1702) người Nhật bản biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này giải nói về hình dáng, vần âm và ý nghĩa của các chữ Tất đàm. Toàn sách chia làm 8 môn: Phạm tự bản nguyên môn, Tất đàm đề mục môn, Bản tự hình âm môn, Hợp tự chuyển thanh môn, Trùng tự hỗn thanh môn, Liên thanh hợp hô môn, Âm vận tương thông môn và Tự tướng tự nghĩa môn. Về sách chú thích tác phẩm này thì có: Tiện mông 1 quyển của ngài Pháp điển, Yếu kí 1 quyển của ngài Trí minh.
tất đàm thập bát chương
(悉曇十八章) Cũng gọi Tất đàm thập bát chương kiến lập, Tất đàm thiết kế. Chỉ cho 18 chương biểu thị các phép tắc: Xuyết tự, Hợp tự và Liên thanh của 47 tự mẫu Tất đàm. Mười tám chương ấy là: 1. Chương Ca ca: Trong 35 tự mẫu (tử âm) của Thể văn, trừ chữ lam (llaô), 34 chữ còn lại, mỗi chữ thêm vào 12 Ma đa (mẫu âm)mà thành 408 chữ như Ca (ka), Ca (kà)... 2. Chương Chỉ dã chỉ da: Trừ 3 chữ: Ra (ra), da (ya) và lam (llaô), ở phía dưới 32 tự mẫu còn lại, mỗi chữ xuyết hợp với nửa thể của chữ da, rồi thêm 12 Ma đa mà thành 384 chữ như: Chỉ dã (kya), Chỉ da (kyà)... 3. Chương Ca lược ca lược: Trừ 2 chữ ra và lam, ở phía dưới 33 tự mẫu còn lại, mỗi chữ xuyết hợp với nửa thể của chữ ra, rồi thêm 12 Ma đa thì thành Ca lược (kra), ca lược (krà). 4. Chương Ca la ca la: Trừ 3 chữ ra, la, lam, phía dưới 32 tự mẫu còn lại, mỗi chữ xuyết hợp với chữ la, rồi thêm 12 Ma đa mà thành 384 chữ Ca la (kla), Ca la (klà)... 5. Chương Ca phạ ca phạ: Trừ 3 chữ ra, phạ, lam, phía dưới 32 tự mẫu còn lại, mỗi chữ đều xuyết hợp với chữ Phạ (va), rồi thêm 12 Ma đa mà thành 384 chữ Ca phạ (kva), ca phạ (kvà). 6. Chương Ca ma ca ma: Trừ 3 chữ ma, la, lam, dưới 32 tự mẫu còn lại, mỗi chữ đều xuyết hợp với chữ ma, rồi thêm 12 Ma đa mà thành 384 chữ Ca ma (kma), ca ma (kmà)... 7. Chương Ca na ca na: Trừ 3 chữ na, la, lam, dưới 32 tự mẫu còn lại, mỗi chữ đều xuyết hợp với chữ na, rồi thêm 12 Ma đa mà thành 384 chữ Ca na (kna), ca na (knà)... 8. Chương A lặc ca: Trừ 2 chữ la và lam, phía trên 33 tự mẫu còn lại, mỗi chữ xuyết hợp với nửa thể của chữ la, rồi thêm vào 12 Ma đa mà thành 396 chữ A lặc ca (rka), a lặc ca (rkà)... 9. A lặc chỉ da. 10. A lặc ca lược. 11. A lặc ca la. 12. A lặc ca phạ. 13. A lặc ca ma. 14. A lặc ca na. Từ chương thứ 9 đến chương thứ 14, cách trừ các tự mẫu cũng lần lượt giống như chương 2 đến chương 7 đã trình bày ở trên, còn phương pháp xuyết hợp thì đều giống như chương 8. 15. Chương Ang ca (cũng gọi chương Dị): Sự kiến lập chương này có 2 trường hợp là: a. Các chữ ang (ía), nhã (ĩa), noa (ịa), na (na), ma (ma) thuộc Tị âm (âm mũi), mỗi chữ trước nó đều thêm 4 chữ (ka, kha, ga, gha) ở ngay câu ấy, nhưng trừ những chữ trùng như: Ang ang, nhã nhã... b. Các chữ ang thêm ở trên 9 chữ Biến khẩu thanh, rồi thêm 12 Ma đa mà thành các chữ ang da, ang la... 16. Chương Nhật lí: Trừ chữ lam, 34 tự mẫu còn lại, thêm chữ Hột lí (f) của Biệt ma đa mà thành 34 chữ Ngật lí, Khất lí... Biệt ma đa có 4 chữ: Hột lí (f), Hột lê (f), Lí (ơ), Lê (ơ), nhưng đây chỉ nêu 1 chữ Hột lí làm ví dụ. 17. Chương A sách ca(cũng gọi chương Nan giác): Sự kiến lập chương này có nhiều loại, các tự mẫu trong 5 loại thanh xuyết hợp với các tự mẫu khác, thêm 12 Ma đa mà thành 126 chữ. 18. Chương Cô hợp: Chương này được kiến lập do tập hợp các chữ khác chủng loại như: Dị thể dị âm, 35 ma đa, đương thể trùng tự, liên thanh, bán âm, bán thể, ấn văn tự... Trong Niết bàn kinh sớ quyển 4 thượng, ngài Tuệ viễn đời Tùy cho rằng Tất đàm có 12 chương, từ ngài Nghĩa tịnh đời Đường trở về sau nói 18 chương. Trong Tất đàm tự kí của ngài Trí quảng đời Đường và Thiên trúc tự nguyên của ngài Cảnh hựu đời Tống đều có ghi rõ việc này. [X. điều Tây phương học pháp trong Nam hải kíquinội pháp truyện Q.4; Tất đàm tạng Q.5, 8; Tất đàm tập kí]. (xt. Tất Đàm).
tất đàm tạng
(悉曇藏) Cũng gọi Bát quyển tạng. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài An nhiên (841-901) người Nhật bản soạn ở chùa Diên lịch, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung phân loại, bình luận về nguồn gốc các âm vận Tất đàm, đồng thời ghi chép những điều có liên quan đến các loại hình, âm, nghĩa của các chữ Tất đàm. Toàn sách chia làm 8 thiên: Phạm văn bản nguyên, Tất đàm vận nữu, Chương tảo cụ khuyết, Biên lục chính tự, Mẫu tự phiên âm, Tự nghĩa nhập môn, Tự nghĩa giải thích và Chính lục chương đoạn. Trong các sách giải thích về Tất đàm của các tác giả người Nhật bản, bộ sách này xuất hiện tương đối sớm hơn, lại bàn về nhiều việc và trích dẫn những sách mà hiện nay đã thất lạc, cho nên rất được các học giả coi trọng.
tất đàm tứ chủng tương thừa
(悉曇四種相承) Bốn loại Tất đàm tùy duyên trao truyền cho nhau. Đó là: 1. Phạm vương tương thừa (cũng gọi Nam thiên tương thừa): Tức là thuyết cho rằng văn tự Tất đàm mà người Ấn độ sử dụng là do Phạm thiên tạo ra, gồm có 47 lời căn bản, 12 Ma đa, 35 Thể văn, nếu hợp chữ lại mà chuyển thành các chữ thì nhiều vô tận, nên chỉ lập 18 chương để làm tiêu chuẩn mà thôi. Nam thiên tương thừa văn của Ma hê thủ la nói trong Tất đàm tự kí của ngài Trí quảng đời Đường chính là chỉ cho Tất đàm do vị Phạm vương này sáng tạo. 2. Long cung tương thừa (cũng gọi Trung thiên tương thừa): Tất đàm do bồ tát Long thụ thỉnh về từ cung vua Rồng dưới biển, vào khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt. Cứ theo Tất đàm tự kí thì Trung thiên gồm cả văn từ Long cung, đại thể giống với Nam thiên. 3. Thích ca tương thừa: Tất đàm do đức Thích tôn tuyên thuyết được hiển bày trong các kinh điển. Tức là 50 tự mẫu trong kinh Văn thù vấn, 42 tự môn trong kinh Hoa nghiêm, 46 tự mẫu trong phẩm Thị thư kinh Phương quảng đại trang nghiêm, 28 câu tự môn trong phẩm Hải tuệ bồ tát kinh Đại tập, 42 tự môn trong kinh Đại phẩm bát nhã, 14 âm 50 tự nghĩa trong phẩm Như lai tính của kinh Đại Bát niết bàn. Sau khi đức Phật nhập diệt, văn tự Tất đàm được các ngài Văn thù, Di lặc, A nan kết tập để lưu truyền ở đời. 4. Đại nhật tương thừa: Tất đàm do đức Đại nhật Như lai tuyên thuyết. Tức chỉ cho 50 chữ trong phẩm Thích tự mẫu kinh Kim cương đính và 50 chữ trong các phẩm Cụ duyên, phẩm Đồng tự luân kinh Đại nhật, do bồ tát Kim cương tát đỏa kết tập và do bồ tát Long mãnh thỉnh được từ Nam thiênThiếttháp để truyền tụng lưu thông. [X. Tất đàm tạng Q.1; Pháp hoa luận chú (Thường đằng); Tứ luận huyền nghĩa (Tuệquân)].
tất đàm tứ thư
(悉曇四書) Chỉ cho 4 bộ sách quan trọng về Tất đàm học. Đó là: 1. Tất đàm tự kí, 1 quyển, do ngài Trí quảng soạn vào đời Đường. 2. Tất đàm thập nhị lệ, 1 quyển, do ngài An nhiên người Nhật bản soạn. 3. Pháp hoa phạm thích. 4. Chân ngôn cú nghĩa sao.
tất đàm tứ thập nhị tự môn
(悉曇四十二字門) Cũng gọi Tứ thập nhị tự môn, Tứ thập nhị tự đà la ni môn. Bốn mươi hai tự môn Tất đàm được giải thích về nghĩa của mỗi chữ. Cứ theo Tứ thập nhị quán môn trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm, nếu thông suốt 42 tự môn thì ngộ nhập được bờ mé của pháp không. Còn luận Đại trí độ quyển 48 thì cho rằng 42 tự môn này là văn tự Đà la ni, chứ không phải giải thích nghĩa của tự mẫu. Theo phẩm Tứ niệm xứ trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, khi nghe các tự môn này mà thụ trì đọc tụng được, hoặc giải thích cho người khác thì được 20 thứ công đức. Bốn mươi hai tự môn này là Đà la ni, chủ yếu giúp hành giả được năng lực nhớ lâu, cho đến tài biện luận vô ngại. Trong tác phẩm Tứ thập nhị tự môn 2 quyển, ngài Nam nhạc Tuệ tư đã phối hợp 42 tự môn nói trong kinh Đại phẩm bát nhã với 42 giai vị của Bồ tát. Còn Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh Nhập pháp giới phẩm đốn chứng Tì lô giá na pháp thân tự luân du già nghi quĩ thì nói: Quán 42 tự luân, từ chữ a, ra, pa, ta, na, cho đến đha thì hiện chứng trí thân Tì lô giá na, đối với các pháp không bị chướng ngại. Đối chiếu 42 tự môn này với 50 tự môn thì trong 42 tự môn thiếu 15 chữ mẫu âm, từ chữàtrở xuống; thiếu 4 chữ tử âm:ía, jha, ĩa, ha, mà lại thêm 11 chữ kép(phức hợp tự, trùng tự) như:wỉa... Về lí do lựa chọn và tiêu chuẩn sắp xếp cơ bản của 42 chữ này tuy không biết rõ, nhưng trong luật Tứ phần quyển 11, có ghi câu A, ra, pa, ca, na là 5 chữ đầu tiên trong 42 tự môn. Nhờ đó ta có thể xét biết phần nào về nguồn gốc sâu xa của sự sắp xếp các tự môn. (xt. Tất Đàm).
tất đàm tự ký
(悉曇字記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí quảng y theo lời chỉ dạy của ngài Bát nhãbồ đề, người Nam thiên trúc, ghi chép lạithành sách vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung giải thích về Ma đa (mẫu âm) và Thể văn(tử âm) của Tất đàm, đồng thời trình bày sơ lược về 18 chương của cách hợp thành văn tự này. Phần đầu và phần cuối sách nói về sự kiến lập 18 chương, phần giữa ghi tiêu đề của Tất đàm tự kí. Do đó mà được suy đoán có thể vốn là 2 bản, về sau hợp thành một, hoặc trong bản văn có lẫn lộn chú thích. Đây là bộ sách đầu tiên giải thích về tự mẫu và 18 chương Tất đàm một cách có hệ thống, cho nên được các học giả Tất đàm đời sau xem trọng và trích dẫn rộng rãi, đồng thời soạn chú thích cũng rất nhiều. (xt. Tất Đàm Thập Bát Chương).
tất đàm tự số
(悉曇字數) Chỉ cho số mục của tự môn Tất đàm. Về điểm này, các kinh luận nói có khác nhau. 1. Tất đàm tự kí ghi 51 tự môn, trong đó có 16 mẫu âm, 34 tử âm và thêm một chữ llaô, 2. Đại đường tây vực kí quyển2 thì ghi tổng cộng 47 chữ, tức là trong 16 chữ mẫu âm, trừ ra 2 chữ cuối cùng (aô, a#), còn lại 14 chữ; và trong 35 chữ tử âm, trừ ra 2 chữ llaô và kwa, còn lại 33 chữ (14+33=47). 3. Phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm ghi 46 chữ, tức trong 16 mẫu âm trừ ra 4 âm là f, f, ơ, ơ Biệt ma đa, còn lại 12 chữ; trong 35 tử âm, trừ ra chữ llaô, còn lại 34 chữ (12+34=46). 4. Kinh Đại bát Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) ghi 50 chữ, trong đó gồm 12 Ma đa, 34 Thể văn (trừ llaô) và 4 Biệt ma đa. 5. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du giàkim cương đính cũng ghi 50 chữ, nhưng dùng chữ kwa cuối cùng thay cho chữđha của kinh Niết bàn. 6. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 ghi 49 chữ, tức trừ ra 2 chữ cuối cùng (llaô, kwa) trong 51 chữ củaTất đàm tự kí. (xt. Tất Đàm).
tất đàn
Siddhi (S). Success. Also thành tựu.
tất đát tha bát đát ra
Sitatapatrobnisa (S), Sitatapatra (S)Bách tản cái Phật đảnh, Bạch tản Phật đảnh, Bạch tản cái Phật đảnh luận vương.
tất đạt đa
Siddhārtha (P), Siddhattha (P), Sarva-Siddhārtha (S)Sĩ Đạt Đa; Tất Bà Tất ĐạtNghĩa là Người được toại nguyện. 1- = Sĩ đạt đa, Nhứt thiết nghĩa thành 2- Bốn phép tất đàn = bốn phép thành tựu cho chúng sanh: - thế giới tất đàn: Phật tuỳ thuận chỗ vui thích của chúng sanh mà nói pháp khiến người nghe vui lòng đẹp dạ. - Các vị nhơn tất đàn: Tuỳ căn cơ chúng sanh mà thuyết pháp. - Đối trị tất đàn: dùng sự đối trị mà trị t6m bệnh chúng sanh. - Đệ nhất nghĩa tất đàn: Khi cơ duyên thuần thục, Phật thuyết Thật tướng của các pháp giúp họ tới chỗ chơn chứng.
; Sarvarthasiddhartha (S)Tên gọi đầy đủ của Thái tử Tất đạt Đa.
; Siddharta (S) One who has accomplished his task; prince Siddharta.
; (悉達多) Phạm:Siddhàrtha. Pàli:Siddhattha. Cũng gọi Tát bà tất đạt đa (Phạm: Sarvasiddhàrtha), Tát bà hạt lạt tha tất đà (Phạm: Sarvàrthasiddha), Tát bà ngạch tha tất đà, Tát phược ngạch tha tất địa, Tất đạt la tha,Tất đa át tha, Tất đạt, Tất đa, Tất đà. Hán dịch: Nhất thiết nghĩa thành, Nhất thiết sự thành, Tài cát, Cát tài, Thành lợi, Nghiệm sự, Nghiệm nghĩa. Tên của đức Thích tôn khi còn là Thái tử con vua Tịnh phạn. Khi đức Thích ca xuất sinh làm trưởng tử của vua Tịnh phạn thành Ca tì la, tiên A tư đà xem tướng biết vị Vương tử này nhờ các thiện căn công đức ở đời trước nên có đầy đủ tướng tốt thù thắng, có năng lực thành tựu tất cả việc lành. Nếu Vương tử ở nhà thì chắc chắn sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia thì sẽ thành Vô thượng chính giác. Vì thế, để biểu thị ý nghĩa nói trên, nên Thái tử được đặt tên là Tất đạt đa. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.24; Đại đường tây vực kí Q.7; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. (xt. Thích Ca Mâu Ni).
tất đạt đa cồ đàm
Siddhārtha Gautama (S), Siddhattha Gotama (P).
tất để lý
(悉底履) Phạm:Strì. Cũng gọi Tất điệt lí. Hán dịch: Nữ, thê. Danh từ chỉ giống cái trong văn pháp tiếng Phạm. Trong văn pháp tiếng Phạm, các danh từ, đại danh từ, hình dung từ... đều có 3 thuộc tính khác nhau, gọi là Tam thanh (tam tính), tức Nam thanh(giống đực), Nữ thanh (giống cái) và Phi nam phi nữ thanh (giống trung tính). Trong đó, Nữ thanh tức là Tất để lí.
tất địa
Xem Thành tựu giả.
; Siddharta (S)
; (悉地) Phạm: Siddhi Tạng: Grub-pa. Hán dịch: Thành tựu, Diệu thành tựu. Phạm Hán: Thành tựu tất địa, Tất địa thành tựu. Hành giả Mật giáo tụng trì chân ngôn, do tam mật(thân, khẩu, ý) tương ứng mà thành tựu các diệu quả thế và xuất thế gian. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 15, nếu hoàn thành được giai vị Chính giác thì gọi là Vô thượng tất địa. Nhưng khi chưa đạt đến giai vị ấy thì vẫn còn có 5 thứ Tất địa là: Tín, Nhập địa, Ngũ thông, Nhị thừa và Thành Phật. Về 5 Tất địa này, theo Hiển giáo, Tín là Tín hành của các giai vị trước 10 địa, Nhập địa là vào Sơ hoan hỉ địa(tương đương với nhập Kiến đạo của Thanh văn), Ngũ thông là cảnh giới của 5 thần thông biết khắp thế gian, khi vượt qua giai vị Ngũ thông tiên nhân thì đến Địa thứ 4, Nhị thừa là vượt qua cảnh giới của Thanh văn và Duyên giác và đến Địa thứ 8, Thành Phật tức là từ Địa thứ 9 tu đạo Bồ đề, tiến tới hoàn thành giai vị Như lai. Còn theo Mật giáo thì Sơ hoan hỉ địa có 10 tâm, tâm đầu tiên đến tâm thứ 4 là Ngũ thông, tâm thứ 5 đến tâm thứ 8 là Nhị thừa, tâm thứ 9 đến tâm thứ 10 là Thành Phật. Tức 10 tâm của Sơ địa được chia làm 3 phẩm, 4 tâm đầu là Hạ phẩm, 4 tâm kế là Trung phẩm, 2 tâm cuối là Thượng phẩm. Tôn thắng nghi quĩ lại chia Tất địa làm 2 loại là Hữu tướng và Vô tướng, được sự sống lâu và phúc đức thế gian, gọi là Hữu tướng tất địa; còn thành tựu quả đức xuất thế gian thì gọi là Vô tướng tất địa. Hai Tất địa này, mỗi Tất địa cũng có 3 phẩm khác nhau. Nếu phối hợp 2 Tất địa này với 5 loại Tất địa và Vô lượng tất địa nói trên thì Hạ tất địa và Trung tất địa của Hữu tướng tương đương với 3 Tất địa đầu tiên trong 5 loại Tất địa, Thượng tất địa tương đương với Nhị thừa tất địa thứ 4; còn Hạ tất địa của Vô tướng thì tương đương với Hữu tướng tất địa, Trung tất địa tương đương với Thành Phật tất địa thứ 5, Thượng tất địa tương đương với Vô thượng tất địa. Trong nghĩa Tức thân thành Phật của ngài Không hải người Nhật bản gọi Tất địa của nhân vị Thủy giác là Trì minh tất địa(trì minh nghĩa là tụng trì chân ngôn), còn gọi Tất địa của quả mãn Bản giác là Pháp Phật tất địa. Đồng thời, theo Đại nhật kinh sớ quyển 3, thì cảnh giới hiện ra trong quán tâm của hành giả Chân ngôn được chia làm 3 phẩm Tất địa: Thượng phẩm an trụ ở cõi Phật mật nghiêm, Trung phẩm an trụ ở Tịnh độ 10 phương và Hạ phẩm an trụ ở các cung trời và Tu la. Ngoài ra, Tô tất địa (Phạm:Su-siddhi) nghĩa là diệu thành tựu, tức là thắng diệu thành tựu. Thai Mật ở Nhật bản y cứ vào kinh Tô tất địa, 1 trong 3 bộ Đại pháp, mà nói pháp Tô tất địa, là pháp sâu xa bí mật nhất biểu thị ý nghĩa 2 bộ Kim cương và Thai tạng là bất nhị. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật Q.3; phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; phẩm Tất địa thành tựu trong kinh Như ý bảo châu chuyển luân bí mật hiện thân thành Phật Kim luân chú vương].
tất địa cung
(悉地宮) Chỉ cho cung điện cõi nước Tất địa, là cảnh giới hiện ra trong quán tâm của hành giả Chân ngôn. Tất địa cung có 3 phẩm: 1. Thượng phẩm: Tức cõi Phật mật nghiêm, ở ngoài 3 cõi (Dục, Sắc, Vô sắc), hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác không thể thấy được. 2. Trung phẩm: Tức các cõi Tịnh độ trong 10 phương. 3. Hạ phẩm: Cung của chư thiên và Tu la. Nếu hành giả tu trì chân ngôn thành tựu Trì minh tiên ở cả 3 phẩm thì được an trụ trong 3 phẩm Tất địa cung nói trên. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3]. (xt. Tất Địa).
tất địa trì minh tiên
(悉地持明仙) Phạm: Siddhi-vidyadhara. Vị tiên nhờ vào chú thuật mà thành tựu ngoại pháp. Trong Mật giáo, vị tôn này được xếp vào chúng Thành tựu trì minh tiên thuộc Ngoại bộ Mạn đồ la Thai tạng giới. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6]. (xt. Trì Minh Tiên).
tất địa vương
(悉地王) I. Tất Địa Vương. Tên khác của minh vương Ái nhiễm trong Mật giáo, vì vị này lấy tiểu chú của minh vương Ái nhiễm làm Hồng tất địa (Phạm:Hùôsiddhi) nên cũng gọi là Tất địa vương. II. Tất Địa Vương. Gọi đủ: Bất không tất địa vương Quán thế âm. Hóa thân của bồ tát Bất không quyên sách Quán thế âm. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 11, Bất không Tất địa vương Quán thế âm có 3 mặt 4 tay, toàn thân màu vàng ròng, ngồi kiết già, mặt chính hoan hỉ hiền từ, mặt bên phải tỏ vẻ hơi giận, ngậm miệng chau mày, mặt bên trái trừng mắt đáng sợ, há miệng nhe nanh, 1 tay cầm hoa sen, 1 tay cầm cây giáo 3 chĩa, 1 tay cầm hộp kinh Bất không và 1 tay kết ấn Thí vô úy, thân phát ra những ngọn lửa sáng rực. Chân ngôn gồm 116 câu.
tất định
Xem Bất thoái chuyển.
tất định bồ tát
(必定菩薩) Chỉ cho Bồ tát ở địa vị nhất định thành Phật.Tất định đồng nghĩa với Chính định tụ, Bất thoái chuyển. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 (Đại 26, 34 thượng) ghi: Bản nguyện của đức Phật A di đà nói: Nếu người xưng niệm danh hiệu của ta thì liền tự quay về nhậpvàotất định, đượcA nậu đa la tam miệu tambồ đề. Ngu thốc sao (Đại 83, 648 hạ) nói: ... Tức thời nhập vào tất định, gọi Tất định bồ tát. [X. luận Đại trí độ Q.93].
Tất 悉
[ja] シツ shitsu ||| (krtsna). All, one and all; entirely, fully, wholly, altogether, completely, utterly, thoroughly, without exception. (s: krtsna) => Tất cả, một trong tất cả; toàn bộ, trọn vẹn, toàn thể, hoàn toàn, đầy đủ, tuyệt đối, thấu đáo, không có ngoại lệ.
Tất 畢
[ja] ヒツ hitsu ||| To finish, conclude. All, together. => Hoàn tất, kết thúc. Tất cả, cùng nhau.
Tất-lăng 畢陵
Tất-lăng-già 畢陵伽 [ja] ヒツリョウ Hitsuryō ||| See 畢陵伽婆蹉. => Xem Tất-lăng-già-bà-ta 畢陵伽婆蹉.
Tất-lăng-già-bà-ta 畢陵伽婆蹉
[ja] ヒツリョウカバサ Hitsuryōka basa ||| Pilinda-vatsa; the name of an monk in the Mahāprajñāpāramitā-śāstra 智度論, cited as an example of an arhat who had eliminated the afflictions proper 煩惱, but who still possessed the remaining habit energies 餘習 of the affliction of pride, and therefore dared to scold the god Varuṇa 水天.〔二障義 HPC 1.794a10; 大智度論 T 1509.25.; 法華經 T 262.9.1c25〕 => (s: Pilinda-vatsa); tên của một vị tăng trong Trí độ luận (s: Mahāprajñāpāramitā-śāstra 智度論), được trích dẫn làm ví dụ cho một vị A-la-hán đã trừ sạch phiền não, nhưng vẫn còn những tập khí (dư tập 餘習) ngã mạn, vậy nên đã mắng Thuỷ thiên (s: Varuṇa 水天).
Tất-đàn-đa
悉檀多; S: siddhānta; có thể dịch nghĩa là Học thuyết (學說);|Danh từ được dùng tại Tây Tạng chỉ các giáo thuyết, giáo lí được chứng minh và lưu tồn của các bộ phái Phật giáo tại Ấn Ðộ. Trong thời gian Phật pháp được truyền sang Tây Tạng lần đầu người ta đã đem qua những tác phẩm này nhưng khi phái Cách-lỗ (t: gelugpa) thịnh hành thì các loại sách này được hệ thống hoá chặt chẽ.|Tất-đàn-đa được phân ra hai loại, Tất-đàn-đa ngoại đạo và Tất-đàn-đa của nội bộ. Các bộ phái khác nhau của Phật giáo được nghiên cứu tại đây là Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika), Kinh lượng bộ (s: sautrāntika), Duy thức (s: vijñānavāda) và Trung quán (s: mādhyamika). Các tác giả nổi tiếng nhất của Tất-đàn-đa là Jam-yang Sha-pa (1648-1721) và Kon-chok Jig-me Wan-gpo (1728-1781). Mục đích của các tác phẩm Tất-đàn-đa là làm cho giáo lí Phật pháp được luận giảng trong các bộ phái dễ hiểu hơn, ít mâu thuẫn và như vậy dễ tiếp thu. Hai đề tài được tranh luận nhiều nhất là tính Không và đặc điểm của các pháp Hữu vi (s: saṃskṛta).
Tất-đạt
悉達; S: siddha; cũng được gọi là Thành tựu giả; |Chỉ người tu tập Tan-tra đã đạt Tất-địa (s: siddhi). Ai đạt một trong những Tất-địa được gọi là Tất-đạt, đạt nhiều Tất-địa thì được gọi là Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).
Tất-đạt-đa Cồ-đàm
悉達多瞿曇; S: siddhārtha gautama; P: sid-dhattha gotama; Tất-đạt-đa có nghĩa là Nhất thiết nghĩa thành (一切義成), Thành tựu chúng sinh (成就眾生; dịch từ dạng dài của tên Phạn ngữ là Sarvārthasiddha);|Tên của đức Phật lịch sử, từng sống trên trái đất, người sáng lập Phật giáo. Ngài sinh khoảng năm 566 (hay 563) trước Công nguyên trong một gia đình quý tộc thuộc dòng Thích-ca (s: śākya) tại Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu) thuộc Nepal ngày nay. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn (s, p: suddhodana), mẹ là Ma-da (s, p: māyādevi) sinh Tất-đạt-đa trong vườn Lam-tì-ni (lumbinī). Sau khi mẹ mất, 7 ngày sau khi sinh, Tất-đạt-đa sống với người dì Ma-ha Bà-xà-bà-đề (mahāpra-jāpatī). Năm 16 tuổi, Tất-đạt-đa cưới Gia-du-đà-la (yaśodharā). Năm 29 tuổi, sau khi sinh La-hầu-la (rāhula), Tất-đạt-đa thoát li, sống không nhà, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, Tất-đạt-đa từ bỏ phép tu này, chú tâm thiền định và đạt Giác ngộ hoàn toàn năm 35 tuổi. Biết rằng không dễ truyền đạt những gì mình giác ngộ, mới đầu Ngài không định truyền bá giáo pháp. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, Ngài mới quyết định chuyển Pháp luân. Ngài được mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – »Trí giả của dòng dõi Thích-ca«. Sống đến năm 80 tuổi, đức Thích-ca từ trần. Qua 45 năm giảng dạy, sợ rằng đệ tử chấp lời mình nói là chân lí, chứ không phải chỉ là phương tiện giác ngộ, Ngài tuyên bố chưa từng nói lời nào. Lời dạy cuối cùng của Ngài là »Tất cả các pháp đều vô thường, hãy tinh tiến tu học«.|Có nhiều truyền thuyết về Tất-đạt-đa: Mẹ Ngài nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng một con voi trắng nhập vào người mình. Ngài sinh ra từ hông bên mặt của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, nói: »Trên trời dưới đất chỉ có ta là người đáng tôn kính [Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn], đây là lần sinh cuối cùng, ta sẽ chấm dứt Khổ của sinh, lão bệnh tử.« Dưới mỗi bước chân đi của Ngài là một đoá sen. Ngày nay, trong tranh tượng, ta còn thấy tích này.|Ngay lúc sinh ra, Tất-đạt-đa đã có đầy đủ hảo tướng (Ba mươi hai tướng tốt). Các nhà tiên tri cho rằng, Ngài sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Vua cha Tịnh Phạn muốn con mình nối dõi nên tìm mọi cách dạy dỗ cho con, nhất là không để Tất-đạt-đa tiếp cận với cảnh khổ, xa một cuộc sống tu hành.|Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, Tất-đạt-đa từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà. Tương truyền rằng bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở Tất-đạt-đa lên đường tu học Phật quả. Ngài thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của mình. Ngài quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Ðộ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-ra Già-đa-na (s: ārāda kālāma; p: āḷāra kālāma) và Ưu-đà-già La-ma tử (s: rudraka rāmaputra; p: uddaka rāmaputta). Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình. Ngài quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có Năm tỉ-khâu cùng đi với Ngài. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Ngài nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm Tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi.|Sau đó Tất-đạt-đa đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một cây Bồ-đề và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định – mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu – Ngài đạt Giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Ngài biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Ngài:|»… Sau khi hoàn lại sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền (Tứ thiền), nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.|Khi tâm (citta) ta được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó về những kí ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một, hai, ba, bốn, năm, …, trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới. ›Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta… Ta đã chết như vầy…‹. Sự hiểu biết (p: vijjā) đầu tiên này ta đã đạt được trong canh đầu (từ 21 đến 24 giờ đêm)…|Sau đó ta chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh. Với con mắt của chư thiên, trong sáng, siêu việt vượt qua mọi giới hạn nhân thế, ta thấy chúng sinh hình thành và tiêu hoại, …chúng sinh tái sinh theo nghiệp lực. Ta nhận ra rằng ›Chúng sinh tạo nghiệp bất thiện qua ba ải thân khẩu ý đều chìm đắm sau khi chết, tái sinh trong đoạ xứ, địa ngục. Các chúng sinh nào tạo thiện nghiệp bằng thân khẩu ý được tái sinh trong thiện đạo, sau khi chết được lên cõi thiên‹… Sự hiểu biết thứ hai này ta dã đạt được trong canh hai (từ 24 giờ đêm đến 3 giờ sáng).|Sau đó ta chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các Ô nhiễm (漏; lậu; p: āsava) và nhìn nhận như thật: ›Ðây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây là con đường tiêu diệt khổ‹, và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lí ›Tái sinh ta đã đoạn, cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống (khổ đau) này ta đã vượt qua‹… Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong canh ba (3 đến 6 giờ sáng)…« (Trung bộ kinh 36, tóm tắt).|Bậc giác ngộ lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên Ngài tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Sau đó Ngài gặp lại năm vị tỉ-khâu, các vị đó nhận ra rằng Ngài đã hoàn toàn thay đổi. Qua hào quang toả ra từ thân Ngài, các vị đó biết rằng Ngài đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin Ngài giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, Ngài chấm dứt sự im lặng.|Ðức Phật bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát. Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, Ngài giảng Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên và quy luật Nhân quả (Nghiệp). Tại Lộc uyển này, Ngài bắt đầu những bài giảng đầu tiên, bắt đầu »chuyển pháp luân«. Năm vị tỉ-khâu đó trở thành năm đệ tử đầu tiên của Ngài và là hạt nhân đầu tiên của Tăng-già. Sau đó Ngài thuyết pháp từ năm này qua năm khác. Ngài hay lưu trú tại Vương xá (s: rājagṛha) và Vệ-xá-li (s: vaiśālī), sống bằng khất thực, đi từ nơi này qua nơi khác. Ðệ tử của Ngài càng lúc càng đông, trong đó có vua Tần-bà-sa-la (bimbisāra) của xứ Ma-kiệt-đà. Vị vua này đã tặng cho Tăng đoàn một tu viện gần Vương xá. Các đệ tử quan trọng của Ngài là A-nan-đà, Xá-lị-phất và Mục-kiền-liên. Cũng trong thời gian này, đoàn Tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī) được thành lập.|Ðức Phật cũng có kẻ thù muốn ám hại. Ðề-bà Ðạt-đa, người em họ, thống lĩnh Tăng-già muốn giết Phật nhưng không thành. Tuy thế Ðề-bà đạt-đa thành công trong việc chia rẻ Tăng-già ở Vệ-xá-li. Ngược lại với đức Phật, Ðề-bà Ðạt-đa chủ trương một cuộc sống khổ hạnh.|Theo kinh Ðại bát-niết-bàn (p: mahāparinibbāna-sutta) đức Phật nhập diệt tại Câu-thi-na (s: kuṣi-nagara) năm 486 (hay 483 trước Công nguyên) vì một thức ăn độc. Ngài nằm nghiêng bên mặt, hướng về phía Tây và nhập Niết-bàn. Theo truyền thuyết Pā-li thì Phật diệt độ ngày rằm tháng tư, văn bản Phạn ngữ (sanskrit) cho rằng ngày rằm tháng 11. Trong buổi hoả thiêu xác Phật có nhiều hiện tượng lạ xẩy ra. Xá-lị của Ngài được chia làm 8 phần và được thờ trong các tháp khác nhau.|Mặc dù cuộc đời đức Phật có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học – vốn hay có nhiều nghi ngờ và thành kiến – cũng đều nhất trí công nhận là một nhân vật lịch sử và là giáo chủ của đạo Phật.
Tất-đạt-đa 悉達多
[ja] シッダッタ Shiddatta ||| A transliteration of the Sanskrit Siddhārtha, which means the "one who accomplishes his goal." This was the given name of Śākyamuni Buddha before he left home; his family name was Gautama 喬答摩. => Phiên âm chữ Siddhārtha từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'người thành tựu mục đích của mình'. Đây là tên đặt cho Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trước khi Ngài xuất gia; họ của Ngài là Kiều-đáp-ma (k: Gautama 喬答摩).
Tất-địa
悉地; S: siddhi; nghĩa là »khả năng toàn diện,« »thành đạt,« cũng có thể hiểu là Thần thông;|Chỉ khả năng kiểm soát năng lực của cơ thể và năng lực chinh phục được thiên nhiên. Tất-địa là quả vị của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Kim cương thừa nêu tám loại Tất-địa bình thường, thuộc vào thế tục: 1. Kiếm bất bại; 2. Mắt nhìn thấu trời; 3. Ði nhanh; 4. Tàng hình; 5. Thuốc chống lão; 6. Bay bổng; 7. Tạo linh dược; 8. Chinh phục ma quỷ.|Tám Tất-địa này vẫn còn nằm trong thế tục, chỉ có Giác ngộ mới được gọi là Tất-địa xuất thế, cũng được gọi là Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) trong truyền thống Ðại thủ ấn.
tấu tiến pháp ngữ
(奏進法語) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Chân thịnh người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 77. Toàn sách có 381 chữ, chia làm 8 đoạn, nhấn mạnh pháp niệm Phật bản nguyện tha lực, 3 tâm đầy đủ trong nguyện thứ 18. Bản chất của việc niệm Phật ở nơi 3 tâm mà trong 3 tâm thì coi trọng Tín tâm, còn hình thức xưng danh thì không tuyệt đối cần phải có. Nhưng đứng về phương diện tín tâm tương tục mà nói thì cần phải khuyên dạy xưng danh tương tục. Đây là thuyết chọn lựa niệm Phật mà đưa vào bản nguyện niệm Phật do ngài Pháp nhiên chủ trương. [X. Tam pháp ngữ lược giải; Xưng danh am tạp kí; Chân lãng thượng nhân di cảo tập; Thiên thai Chân thịnh tông tông học phiếm luận].
tầm
đơn vị đo chiều dài, bằng 8 thước cổ, mỗi thước bằng khoảng 0,33 mét. Như vậy, mỗi tầm có thể là vào khoảng 2,64 mét.
; Vitakka (P), Directed thought, Applied thought.
; (尋) Phạm: Vitarka. Pàli:Vitakka. Dịch cũ: Giác. Tìm cầu, suy tính, là tên của Tâm sở, 1 trong 75 pháp do tông Câu xá thành lập, 1 trong 100 pháp do tông Duy thức lập ra. Đây là tác dụng suy xét thô sơ đối với sự lí. Luận Câu xá quyển 4 (Đại 29, 21 trung) nói: Tính thô của tâm gọi là Tầm. Luận Thành duy thức quyển 7 (Đại 31, 35 hạ) nói: Tầm nghĩa là tìm cầu, khiến tâm vội vàng, đối với ý và cảnh, thô chuyển làm tính. Tâm sở này hiện khởi ở cõi Dục và Sơ thiền, từ định Trung gian và Nhị thiền trở lên thì không, hiện khởi thông cả định, tán và vô lậu, thuộc về Bất định địa pháp. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Tầm và Tứ đều có thể tính riêng và là nhất tâm đồng thời tương ứng; còn Kinh bộ và Đại thừa thì cho Tầm là giả pháp. Theo luận Du già sư địa quyển 5, Tầm và Tứ đều lấy một phần Tư và Tuệ làm thể, lấy các nghĩa Danh, Cú... làm sở duyên, lấy tìm cầu, dò xét làm hành tướng, phát khởi lời nói, có đầy đủ 7 thứ khác nhau như hữu tướng, vô tướng... Luận này (quyển 5) cũng bàn về sự khác nhau giữa Tầm tứ và Phân biệt, cho rằng nghĩa của Phân biệt rộng, còn Tầm tứ thì chỉ là một bộ phận trong đó mà thôi. [X. kinh Pháp lạc tỉ khưu ni trong Trung a hàm Q.58; luận Đại tì bà sa Q.43, 52; luận Du già sư địa Q.1; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.11; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần đầu; Du già luận kí Q.2, thượng; Câu xá luận quang kí Q.2, 4]. (xt. Tứ).
Tầm cầu tâm 尋求心
[ja] ジングシン jingu shin ||| The state of mind in which one is trying to determine the identity of an object. The second of five successive states of mind taught in the Yogācārabhūmi-śāstra. 〔瑜伽論 T 1579.30.280a25〕 => Trạng thái của tâm khi cố gắng xác định đặc tính của một vật. Là món thứ hai trong Ngũ biến hành tâm tương ưng pháp trình bày trong Du-già sư địa luận
Tầm cầu 尋求
[ja] ジング jingu ||| To seek, inquire, investigate. Same connotations as the single logograph .〔二障義HPC 1.791b〕 => Tìm kiếm, đòi hỏi, khảo sát. Có nghĩa rộng như riêng chữ Tầm 尋.
Tầm hương chủ 尋香主
Tầm hương hành 尋香行 [ja] ジンコウシュ jinkōshu ||| 'Perfume seeker;' a translation of the Sanskrit term gandharva. See 乾闥婆. => Hán dịch chữ gandharva từ tiếng Sanskrit. Xem Càn-thát-bà 乾闥婆.
Tầm ngôn tương vi 尋言相違
[ja] ジンゴンソウイ jingon sōi ||| One of the six kinds of causes of contradiction . The contradictions that arise in the investigation of the texts, wherein early and later, and the explanations of various teachers contradict each other.〔瑜伽論T 1579.30.501a〕 => Một trong Lục chủng tương vi 六種相違. Mâu thuẫn sinh ra trong khi khảo sát bản văn, trong khi trước và sau đó, sự giải thích của các bậc thầy mâu thuẫn lẫn nhau.
Tầm ngôn 尋言
[ja] ジンゴン jingon ||| (1) To investigate the words (of the scriptures). To fully plumb the meaning of the lines of the texts and their commentaries. 〔瑜伽論T 1579.30.501b〕(2) In Ch'an, this term can have a negative connotation of being caught up in the words to the extent that one forgets one's original purpose. => 1. Nghiên cứu nghĩa lý (của kinh điển). Thăm dò trọn vẹn ý nghĩa phương pháp và những chú giải của kinh văn. Trong Thiền tông, thuật ngữ nầy có nghĩa mở rộng, phủ định những ai bị kẹt trong ngôn từ đến mức bỏ quên mục tiêu căn bản vủa mình.
tầm ngưu
(尋牛) Tìm trâu. Chỉ cho bức tranh thứ nhất trong 10 bức tranh Tầm ngưu. Ví dụ giai vịpháttâm đầu tiên. Trâu dụ cho bản lai diện mục. Tức tìm cầu bản lai diện mục, chuyên chí tham thiền tu đạo, gọi là Tầm ngưu. [X. Thập ngưu đồ tụng]. (xt. Thập Ngưu Đồ).
tầm thanh cứu khổ
(尋聲救苦) Đức Phật A di đà tùy theo âm thanh niệm Phật của chúng sinh mà cứu khỏi khổ nạn.Bát chu tán (Đại 47, 453 hạ) nói: Trong tất cả thời duyên pháp giới Hiện thân khắp sáu đường nhiếp thủ Mắt thấy tai nghe tâm rõ suốt Tầm thanh cứu khổ ứng hiện ngay. Ngoài ra, bồ tát Quán thế âm vốn lấy việc cứu độ khổ ách cho tất cả chúng sinh làm đức nguyện; nếu chúng sinh gặp những tai nạn như nước cuốn trôi, lửa đốt cháy, dao gậy đánh chém, Dạ xoa la sát, khổ não sợ hãi... mà một lòng chí thành niệm danh hiệu Ngài, thì Ngài liền theo âm thanh xưng niệm đến che chở cứu thoát. (xt. Quán Thế Âm Bồ Tát).
Tầm Thiền
(尋禪, Jinzen, 943-990): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời đại Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 19, húy là Tầm Thiền (尋禪), thông xưng là Phạn Thất Tọa Chủ (飯室座主), thụy hiệu là Từ Nhẫn (慈忍), xuất thân vùng Kyoto, con thứ 10 của Đằng Nguyên Sư Phụ (藤原師輔, Fujiwara Morosuke). Ông làm đệ tử của Lương Nguyên (良源, Ryōgen) và chuyên nghiên cứu về Hiển Mật. Từ khi ông chữa bệnh cho Lãnh Tuyền Thiên Hoàng (冷泉天皇, Reizei Tennō) được lành thì trở nên nổi tiếng. Năm 974, ông làm A Xà Lê, rồi đến năm 981 thì làm Quyền Tăng Chánh, và năm 985 thì làm Thiên Thai Tọa Chủ. Trước tác của ông có Chỉ Quán Lược Quyết (止觀略決) 1 quyển, Thọ Nhất Thừa Bồ Tát Tỷ Kheo Giới Quán Đảnh Thọ Pháp Tư Ký (授一乘菩薩比丘戒灌頂受法私記) 1 quyển, Kim Cang Bảo Giới Chương (金剛寳戒章) 3 quyển, v.v.
tầm thường niệm phật
(尋常念佛) Đối lại: Biệt thời niệm Phật. Trong 4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm, thường niệm Phật, không gián đoạn. [X. Tịnh độ tông yếu tập Q.2; Vãng sinh yếu tập Q.trung, phần cuối]. (xt. Biệt Thời Niệm Phật).
tầm thường trà phạn
(尋常茶飯) Cũng gọi Gia thường trà phạn. Việc uống trà, ăn cơm hằng ngày, là những động tác bình thường, chẳng có gì là kì lạ. Thiền tông dùng ngay cái tâm bình thường như việc uống trà, ăn cơm này mà đả tọa tham thiền, kiến tính thành Phật, cho nên gọi là Tầm thường trà phạn. Phần dạy chúng trong Bích nham lục tắc 1 (Đại 48, 140 thượng) ghi: Cách núi thấy khói, biết ngay là lửa; cách tường thấy sừng, biết liền là trâu. Nêu một rõ ba, phân biệt rõ ràng, đó là tầm thường trà phạn của nạp tăng.
Tầm tư 尋思
[ja] ジンシ jinshi ||| To seek, inquire, examine, investigate (tārkika). Rational investigation, which goes deep, but is not as subtle as 伺 (ci) analysis. => Tìm kiếm, đòi hỏi, khảo sát, nghiên cứu (tārkika). Nghiên cứu dựa trên lý trí, khá sâu nhưng không tinh vi bằng phân tích [Tư, 伺 (ci) ].
Tầm tứ 尋伺
[ja] ジンシ jinshi ||| vitarka and vicāra, two conditions of meditation, which are investigation and analysis. These are two kinds of mental functions whose nature is not inherently good or evil 不定法. They usually operate in tandem with each other, as, when one views an object, one first ascertains it roughly, and then scrutinizes it in detail. => (s: vitarka, vicāra). Hai điều kiện của thiền định, là truy cầu và phân tích. Là hai tâm sở mà tánh vốn không thiện hoặc ác (bất định pháp). Nó thường hoạt động song hành với nhau, như khi nhìn thấy một đối tượng, trước tiên người ta sẽ tìm hiểu nó một cách vội vàng, sau đó sẽ xem xét kỹ lưỡng chi tiết.
Tầm đạo 尋道
[ja] ジンドウ jindō ||| To inquire into the Way; to seek enlightenment. 〔二障義HPC 1.811a〕 => Hỏi đạo; tìm cầu giải thoát.
Tầm 尋
[ja] ジン shin ||| (1) To seek, request, inquire, investigate. (2) To get, grasp, accumulate, possess. (3) (vitarka). 'Investigation', 'discovery', 'perception.' One of the four undetermined (nature) elements in the doctrine of the Faxiang 法相 school. Seeking. The function of the mind that gives a general view. The action of a coarsely inquiring mind. The action of a rough and inferential mind. The mental action of roughly fathoming the principle of a thing. Also translated as 覺. See also 尋伺. => 1. Tìm kiếm, yêu cầu, đòi hỏi, truy tìm. Kiếm được, nắm được, gom góp lại, sở hữu. (s: vitarka). “Tìm tòi”, “khám phá”, “tri giác”. Một trong 4 bất định pháp theo giáo lý của Pháp tướng tông. Tác dụng của tâm thức để đưa ra một quan niệm tổng quát. Là hoặt dụng thô của tâm tìm cầu và là hoặt dụng thô của tâm suy luận. Là tâm sở thô dò tìm nguồn gốc của một vật. Còn dịch là Giác覺. Xem Tầm tứ 尋伺.
tần bà
Bimbā (S)Trái cây Tần bà giống trái bưởi, đỏ và bóng láng. Cũng còn là tên của Da du đà la.
tần bà la
(頻婆羅) I. Tần Bà La. Phạm: Viôvara. Cũng gọi Tần bà, Tần bạt la, Tì bà la. Danh từ chỉ số lượng của Ấn độ đời xưa, tương đương với 10 triệu. [X. kinh Phật bản hạnh tập quyển 12, phần giáp chú; Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. II. Tần Bà La. Chỉ cho quả của cây Tần bà, màu sắc đỏ tươi. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 28 (Đại 3, 782 thượng) nói: Môi đỏ như son, hoặc như quả Tần bà la, hoặc giống như san hô và phấn sáp.
tần bà sa la
Bimbisàra (S). Name of a king.
tần bà sa la mộng
(頻婆娑羅夢) Chỉ cho điềm mộng của vua Tần bà sa la. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, ban đêm vua Tần bà sa la nằm mộng thấy một tấm vải bị xé rách thành 18 mảnh, cây gậy vàng bị gãy thành 18 đoạn, vua lo sợ nên đến hỏi đức Phật, Phật bảo: Hơn 100 năm sau khi ta diệt độ, có vua A du ca (vua A dục), dùng uy lực hàng phục các nước; bấy giờ, giáo đoàn chia làm 18 bộ, nhưng đều hướng tới cửa giải thoát. Điềm mộng này tức báo trước việc ấy.
tần bà sa la vương
Bimbisāra-Pratyudgammna (P), (S, P)Vua xứ Magadha thời đức Phật,xây dựng thành phố Rajagrha. Ông theo đạo Phật và cúng dường Bamboo Grove, ông bị con là Ajatasatru giết để đoạt ngôi.
; (頻婆娑羅王) Tần bà sa la, Phạm,Pàli:Bimbisàra. Cũng gọi Tần tì sa la vương, Tần đầu sa la vương, Tần phù bà vương, Dân di sa la vương, Bình sa vương. Hán dịch: Ảnh thắng vương, Ảnh kiên vương, Nhan mạo đoan chính vương, Đế thực vương, Quang trạch đệ thất vương, Hảo nhan sắc vương, Hình lao vương. Vua nước Ma kiệt đà, sống cùng thời với đức Thích tôn, thuộc đời thứ 5 của vương triều Tây tô nạp gia ( P h a m : Saizunàga), Hoàng hậu là phu nhân Vi đề hi (Pàli: Vedehì), có Thái tử tên là A xà thế (Phạm: Ajàtazatra). Vua và Hoàng hậu đều qui y đức Phật, thâm tín Phật pháp. Trước khi đức Phật thành đạo, vua từng thỉnh cầu Ngài khi nào thành đạo thì đến thành Vương xá để nhận sự cúng dường của vua, đức Thế tôn im lặng nhận lời. Sau khi chứng đắc quả Phật, đức Thế tôn đến thành Vương xá thuyết pháp, nhà vua bèn xây cất tinh xá Trúc lâm tại Ca lan đà cúng dường Phật và đệ tử để an trụ, cúng dường tăng già, hộ trì Phật pháp, là người ngoại hộ đầu tiên. Về già, vua tôn trí tóc, móng tay... của đức Phật ở tháp trong cung điện để lễ bái. Sau vua bị Thái tử A xà thế cướp ngôi và chết trong ngục. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q.11; phẩm Xuất gia trong kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; phẩm Sư tử hốngbồ tát trong kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc); luật Tứ phần Q.33; luận Đại trí độ Q.2; luận Câu xá Q.29; Đại đường tây vực kí Q.8].
tần bà sa la vương kinh
(頻婆娑羅王經) Phạm: Bimbisàra-pratyudgammana. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc vua Tần bà sa la nghe danh đức Phật bèn đến bái yết Ngài. Khi đến nơi, vua thấy tôn giả Ưu lâu tần loa ca diếp ngồi bên cạnh Phật rất được mọi người tôn kính, trong tâm vua thắc mắc giữa 2 vị không biết ai là thầy? Đức Phật biết ý vua, bèn bảo tôn giả Ca diếp nói rõ nhân duyên qui y Phật của mình cho vua nghe, đồng thời đức Phật cũng vì nhà vua nói pháp vô thường sinh diệt. Kinh này tức là bản dịch khác của kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm quyển 11.
tần bà thụ
(頻婆樹) Tần bà, Phạm: Bimba, Bimbajà. Pàli: Bimba, Bimbajàla. Hán dịch: Tương tư thụ. Tên khoa học: Momordica, Monadelpha. Một loại cây sản sinh ở Ấn độ cổ đại, quả có màu đỏ tươi. Điều Tần bà quả trong Tịch chiếu đường cốc hưởng tập quyển 1 nói: Cây Tần bà thuộc loại cây cao, quả có màu đỏ, to bằng hạt đậu đỏ. Du già luận kí quyển 2 thượng thì cho rằng quả Tần bà chính là quả Tần loa. [X. phẩm Thắng lộc trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.1; Phiên Phạm ngữ Q.10; Huyền ứng âm nghĩa Q.3].
tần bà trướng
(頻婆帳) Tần bà, Phạm: Bimba. Hán dịch: Thân ảnh. Bức màn có thêu các loại thân hình. Tần bà cũng chỉ cho quả Tần bà, màu đỏ tươi; vì thế có chỗ cho rằng bức màn này có màu đỏ giống như màu của quả Tần bà, cho nên gọi là Tần bà trướng. [X. Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].
tần già
Xem Ca lăng tần già.
tần già bình
(頻伽瓶) Chỉ cho chiếc bình có hình dáng giống như chim Tần già, nên được đặt tên là bình Tần già. Đức Phật dùng bình Tần già để ví dụ hư không chẳng đi, đến, thức không sinh, diệt. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 2 nói: Ví như người mang chiếc bình Tần già chứa đầy hư không đến một nơi cách xa đó nghìn dặm, mở nắp bình nhưng chẳng thấy hư không thoát ra. Như vậy, hư không chẳng phải từ nơi khác đến, cũng chẳng phải từ nơi này vào, thức, uẩn cũng lại như thế.
tần già la
Piṅgala (S)Băng Yết la thiên, Băng Ca la thiênCon trai của bà La sát Ha lỵ đế.
tần già, ca lăng tần già
Karavinka (S). Bird with miraculous song.
tần loa thụ
(頻螺樹) Tần loa, Phạm: Bilva, Vilva. Pàli:Billa. Cũng gọi Tì la bà thụ, Tất lập bá thụ, Tì lợi bà thụ, Tỉ la thụ, Tị la thụ. Hán dịch: Nam thụ. Tên khoa học: Aegle marmelos. Cũng gọi Bengal quince, Bel-fruit-tree, Wood-apple-tree... Loại cây cao giống như cây Ôn bột, được tín đồ Ấn độ giáo tôn là cây thánh. Thân cây cao tới 10 mét, chu vi đến 1 mét, có gai to. Mùa hạ nở hoa, kết trái hình cầu, màu vàng giống màu trái chanh, vắt lấy nước uống được; hoa dùng chế nước thơm, rễ, vỏ... dùng làm thuốc. Du già luận kí quyển 2 thượng và Du già lược toản quyển 2 cho rằng quả Tần loa chính là quả Tần bà. Tuy nhiên, cũng có thuyết cho rằng Tần loa và Tần bà thực ra là 2 loại cây khác nhau. [X. phẩm Diêm phù đề châu trong kinh Trường a hàm Q.18; luận Du già sư địa Q.5].
Tần phiền
(蘋蘻): tên hai loài cỏ Tần (biệt thể là 薲, thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [田字草, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [田], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; bên cạnh đó, nó là tên gọi của loài cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước) và cỏ Phiền (蘻, tên loại cỏ ngải với tên là Bạch Ngải [白艾], Bạch Hao [白蒿], lá nhỏ, toàn thân có lông màu trắng, hoa có hình cái chuông, thuộc khoa Cúc, sống lâu năm, phân bố từ miền Bắc Nhật Bản cho đến vùng Siberia). Từ đó, từ này có nghĩa là yểu điệu, mềm mại, mảnh mai, yếu mềm. Cho nên, “tần phiền dung chất” (蘋蘻庸質) có nghĩa là “tư chất yếu mềm”.
tần quảng vương
(秦廣王) Vị vua thứ nhất trong 10 vị vua cai quản cõi u minh. Theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là Minh vương Bất động, chuyên coi về sổ sách ghi chép việc sống chết, tuổi thọ yểu của người thế gian, xem xét các việc, phán định lành dữ ở cõi u minh. Cứ theo truyền thuyết thì cung điện của vị vua này tọa lạc tại Đường đen, Suối vàng, phía chính Tây, ngoài tảng đá Ốc tiêu dưới đáy biển cả. Người mới chết được 7 ngày, thân trung ấm phải đến trước đài Nghiệt kính (tấm gương chiếu rọi những nguyên nhân của việc làm ác) ở bên phải của điện này để được luận định về tội năng nhẹ. [X. Phật tổ thống kỉQ.33, Tịnh độ kiến văn tập]. (xt. Thập Vương).
tần thúc bảo
Qin Shufao (C)Viên tướng của vua Đường Thái Tông, nhà Đường.
tần thủy hoàng
Ch'in Shih Huang (C).
tần triều
Ch'in dynasty.
tần trìều
Ch'in (C).
Tần tảo
(蘋藻): loại cỏ Tần (thuộc khoa Cỏ Chữ Điền [田字草, Điền Tự Thảo], lá nó bốn cái chấp làm thành hình chữ Điền [田], là loại cỏ sống dưới nước lâu năm; bên cạnh đó, nó là tên gọi của loài cỏ Bồng, sống bềnh bồng trên mặt nước) và cỏ Tảo (rong biển, tên gọi chung các thứ cỏ mọc dưới nước); đều là tên loại cỏ nước. Người xưa thường hái loại cỏ này để làm vật cúng tế, từ đó nó có nghĩa là vật phẩm cúng tế hay sự cúng tế. Như trong thiên Chiêu Nam (召南), Thái Tần (采蘋) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Ư dĩ thái tần, nam giản chi tân, ư dĩ thái tảo, ư bỉ hàng lạo (於以采蘋、南澗之濱、於以採藻、於彼行潦, sao hái cỏ tần, tận chốn khe nam; sao hái rong biển, nơi vũng nước đọng kia).” Hay trong bài thơ Sương Trung (湘中) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824) nhà Đường có đoạn: “Tần tảo mãn bàn vô xứ điện, không văn ngư phụ khấu huyền ca (蘋藻滿槃無處奠、空聞漁父扣舷歌, tần tảo đầy mâm đâu chẳng cúng, không nghe chài lão vỗ thuyền ca).” Về sau, từ tần tảo này được dùng để chỉ đức tánh cao đẹp của người phụ nữ. Như trong bài thơ ru con của Việt Nam có câu: “Một đời tần tảo sớm hôm, nên bơ gạo trắng nên lòng thẳng ngay, bà ru dạy mẹ tháng ngày, đến nay mẹ lại nhớ lời ru con.” Hay như câu ca dao: “Cô hai buôn tảo bán tần, cô ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa, cô tư dọn dẹp trong nhà, cô năm sắc thuốc mẹ già dưỡng nuôi.” Người Trung Quốc vẫn thường dùng câu “Tần Tảo Quyền Dư (蘋藻權輿, tần tảo ngay từ ban đầu)” để chúc tụng vào dịp lễ cưới xuất giá của người con gái. Câu “khiết Chiên Đàn tần tảo dĩ quy y (潔栴檀蘋藻以皈依)” có nghĩa là làm trong sạch, thanh tịnh bằng hương gỗ Chiên Đàn để dâng cúng và xin quy y.
tần vương phá trận nhạc
(秦王破陣樂) Cũng gọi Thất đức vũ, Tề chính phá trận nhạc. Gọi tắt: Phá trận vũ. Nhạc khúc Tần vương phá trận. Một điệu vũ nhạc nổi tiếng ở đời Đường, cùng với Cửu công vũ và Thượng nguyên vũ được gọi chung là Tam đại vũ. Theo Đường thư lễ nhạc chí thứ 11, khi Đường thái tông còn là Tần vương, phá Lưu vũ chu, trong quân khen ngợi tinh thần vũ dũng của ông nên làm ra vũ khúc này. Sau khi ông lên ngôi thì trong những bữa yến tiệc vào các dịp lễ tết, Đông chí, triều hội, khánh chúc... đều tấu vũ nhạc này. Về sau, lúc ngài Huyền trang đến Thiên trúc, loại vũ nhạc và những nhạc khúc nổi tiếng này đã lan truyền khắp các nước Thiên trúc. [X. Đại đường đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Âm luật cụ loại sao].
tần xà ha bà sa
(頻闍呵婆娑) Phạm: Vindhyavàsin. Học giả phái Số luận ở Ấn độ. Cứ theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện thì sau đức Phật nhập diệt 900 năm, Tần xà ha bà sa đến nước A du xà, dùng luận Tăng khư để bác bỏ pháp nghĩa của ngài Phật đà mật đa la – thầy của ngài Thế thân – khi trở về núi Tần xà ha thì bị hóa thành một khối đá. Sau, ngài Thế thân nghe việc này liền soạn luận Thất thập chân thực để bác bỏ luận Tăng khư của ngoại đạo ấy. (xt. Tự Tại Hắc).
Tần-bà-sa-la
擒婆娑羅; S, P: bimbisāra;|Vua xứ Ma-kiệt-đà (magadha) trong thời Phật Thích-ca Mâu-ni. Năm 30 tuổi – nhân nghe một bài giảng của Ðức Phật – ông trở thành tín đồ phụng sự đạo pháp. Ông là người tặng đức Phật Trúc Lâm (p: veḷuvana), nơi Ðức Phật và Tăng-già thường dừng chân. Tần-bà-sa-la sau bị con trai là A-xà-thế (p: ajātasattu) giết chết.
tẩm đường
(寢堂) Nhà làm việc công của vị Trụ trì thuộc Thiền tông, tức là nói vị trụ trì tiếp đãi tân khách và chúng tăng. Có ba thuyết sau đây: 1. Ngoài phương trượng còn lập riêng Tẩm đường. 2. Phương trượng có lớn, nhỏ, Tẩm đường là tòa Phương trượng lớn. 3. Một gian trong Phương trượng. Tại Nhật bản, ngoài Phương trượng không xây cất Tẩm đường riêng, thông thường dùng gian trước của Phương trượng làm Tẩm đường. [X. điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui Q.7; Lâm gian lục Q.hạ; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tẩm 寢
[ja] シン shin ||| To sleep (nidrāvin). => Ngủ (s: nidrāvin).
tẩn ngưu
Gṛṣṭi (S)Tên một vị thiên. Tên của vị thần mây.
tẩn xuất
Pravrājana (S), Dismiss, Pabbajana (P)Trục xuất khỏi giáo đoàn.
tẩu tác
(走作) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tâm thần dao động, dong ruổi không định, hoặc chỉ cho những việc làm vượt ngoài khuôn phép xưa nay. Hư đường lục quyển 4 (Đại 47, 1017 trung) nói: Chưa từng dừng nghỉ, một ngày 12 thời, có thời nào không tẩu tác chăng? Có bữa cháo bữa cơm nào không tẩu tác chăng? Trải đơn mở bát không tẩu tác chăng? Tới lui vái chào không tẩu tác chăng? Nói năng bàn luận không tẩu tác chăng?.
tẩy bát
(洗鉢) Rửa bát sau khi thụ trai. Phép rửa bát là: Trước hết, vén tay áo, rót nước vào bát(có khi là nước nóng). Khi nhận nước, 2 tay bưng bát, sau đó, đặt bát lên đầu gối, dùng bàn chải bát, chà rửa phía trong bát, rồi đổ nước ấy sang chén thứ 1, tay trái xoay bát, tay phải cầm bàn chải chà rửa cả bên trong và ngoài bát, xong, đặt bàn chải vào chén thứ 1; lại dùng tay trái cầm bát, tay phải cầm khăn lau phủ lên bát. Sau đó, 2 tay xoay bát theo chiều bên trái và lau khô bát, xong, tạm để khăn vào trong bát, chừa ra 1 góc khăn, phần còn lại phải để hết trong lòng bát. Kế đến để bát lên giá bát, dùng bàn chải trong chén thứ 1 chà rửa thìa, đũa xong thì lau khô, (khi lau không được lấy khănlaura khỏi bát), sau đó để thìa, đũa vào trong túi vải, đặt nằm ngang trước chén. Kế đến, rửa chén thứ 1, trước hết, tay trái cầm bàn chải và chén thứ 1, rồi tay phải thay đổi vị trí của chén thứ 1 và chén thứ 2, đồng thời rót nước từ chén thứ 1 sang chén thứ 2. Rửa chén thứ 1 xong, lau khô để vào trong bát và để khăn lau vào trong chén thứ 1. Sau đó, rửa chén thứ 2 và chén thứ 3, tay phải cầm bàn chải, đổ một nửa nước ở chén thứ 2 vào chén thứ 3 để rửa, xong rồi lau khô, để chồng lên chén thứ 1, khăn lau bát để vào trong chén. Sau cùng, thu tất cả các chén để vào trong bát.
tẩy dục ngũ lợi
(洗浴五利) Chỉ cho 5 điều lợi ích của việc tắm rửa mà đức Phật đã nói cho vị tỉ khưu bị bệnh hủi nghe. Đó là: 1. Trừ dơ bẩn: Dùng nước tắm rửa thân thể thì các chất dơ bẩn không còn. 2. Thân thể thanh tịnh: Các chất dơ bẩn không còn thì thân thể được sạch sẽ. 3. Trừ lạnh lẽo: Tắm rửa thì thân thể khoan khoái ấm áp, không còn lạnh lẽo. 4. Trừ phong: Thân thể ấm áp thì các bệnh phong tà tự trừ. 5. Được an ổn: Đã không có các bệnh phong tà thì tứ chi an ổn.
tẩy phật
(洗佛) Thỉnh Phật vào nhà tắm tắm gội. Sau khi đức Phật nhập diệt, các tùng lâm vẫn tuân giữ lệ này, nên đến giờ tắm gội, trước hết phải thỉnh Thánh tăng ở Tăng đường vào tắm, sau đó, chúng tăng mới lần lượt vào tắm. [X. chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.14].
tận
All used up; end, finish, complete, nothing left; all, utmost, entirely.
tận hình
(盡形) Cũng gọi Tận hình thọ. Hình chỉ cho sắc thân có hình thể, tướng dáng. Tận hình nghĩa là hết một thời kì của sự sống có hình thể và thọ lượng giới hạn này, tức là trọn một đời. Phẩm Tịnh kiến, kinh Phật tạng quyển hạ (Đại 15, 797 hạ) nói: Bấy giờ, ta làm Chuyển luân thánh vương, tận hình (suốt đời) đem tất cả nhạc cụ cúng dường chư Phật và các đệ tử, mà chư Phật cũng không thụ kí cho ta, vì còn có tâm sở đắc.
tận hư không giới
To the end of the empty space.
; (盡虛空界) Hết cõi hư không. Tức chỉ cho cõi hư không rộng lớn, bao la không có bờ mé. Phật giáo dùng từ ngữ này để diễn tả cái tướng trạng mông mênh vô biên và có lẽtừ này đã bắt nguồn từ câu Tận hư không biến pháp giới. Tam thập thất tôn lễ sám văn (Đại 18, 336 thượng) ghi: Nam mô Đại viên kính trí Kim cương ba la mật, xuất sinh tận hư không biến pháp giới trần sát ba la mật đẳng nhất thiết chư Phật. (xt. Tận Vị Lai Tế).
tận khổ
(盡苦) Cũng gọi Tận khổ biên, Tận khổ biên tế. Đồng nghĩa: Niết bàn. Hết khổ. Nghĩa là nhờ tu hành các hạnh thanh tịnh như giới, định, tuệ, giải thoát... đều đã viên mãn, nên diệt được hết các khổ.Kinh Tức tránh nhân duyên (Đại 1, 906 hạ) nói: ... Nếu thấy được Thánh trí thì chứng ngộ đạo xuất li, cho đến diệt hết các khổ. [X. kinh Tạp a hàm Q.9].
tận khổ đạo
(盡苦道) Phương pháp diệt hết các khổ. Pháp tu của Nhị thừa là dùng Quán hạnh quán xét 4 đế, 12 nhân duyên, đoạn hết biển khổ sinh tử. Tức là Thanh văn thừa nghe thanh giáo (lời nói pháp) của Phật, rồi quán xét 4 đế mà sinh khởi không trí, đoạn trừ phiền não. Còn Duyên giác thừa thì nhờ căn cơ sắc bén, không do thanh giáo của Phật, tự quán xét 12 nhân duyên mà sinh khởi trí chân không, đoạn trừ phiền não. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 trung) nói: Bởi thế, Xá lợi phất, Ta đặt ra phương tiện, nói các tận khổ đạo để chỉ bày pháp Niết bàn.
tận lậu
Extinction of the cankers.
tận lậu thiền
(盡漏禪) Thiền hết lậu hoặc. Tức chỉ cho thiền định đoạn trừ hết sạch các phiền não, tham, sân, si..., là một trong các hạnh tu của A la hán.Kinh Tu hành đạo địa quyển 6 (Đại 15, 221 trung) nói: Ta phải dùng phương tiện gì để diệt sạch dâm nộ si, hầu được Tận lậu thiền, sau đó an ổn như cõi trời Tịnh cư?
tận nghiệp
Kamakṣaya (S), Kammakkhaya (P).
; Karmaksaya (S). Consumation of the previous actions and the results therof.
tận thất nhật
(盡七日) Chỉ cho ngày thứ 7 của tuần thất thứ 7, tức là ngày cuối cùng trong 49 ngày cầu siêu độ cho người chết, cũng là ngày quan trọng nhất của pháp Thất thất. (xt. Thất Thất Trai).
tận thập phương
The entire ten directions, the universe, everywhere.
; (盡十方) Cũng gọi Tận thập phương giới, Tận thập phương thế giới, Toàn pháp giới. Khắp các thế giới trong 10 phương. Vãng sinh lễ tán kệ (Đại 47, 443 trung) nói: Bạch Thế tôn! Con một lòng qui mệnh đức Vô ngại quang Như lai trong các thế giới khắp 10 phương, xin theo đúng lời Phật dạy, nguyện cùng với hết thảy chúng sinh, đều được vãng sinh về cõi an lạc.Trong Thiền lâm dùng câu Khắp hết thế giới trong 10 phương giống như thoi mực để ví dụ một tướng bình đẳng, xa lìa các tướng sai biệt. Còn câu Khắp hết thế giới trong 10 phương là một hạt minh châu, thì minh châu ví dụ cho Chân như, Phật tính, tức hàm ý cho rằng cái đương thể của thế giới trong 10 phương chính là Chân như. [X. chương Huyền sa sư bị trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Thung dung lục tắc 85].
tận thị nữ thân
(儘是女身) Hết báo thân nữ này. Phẩm Dược vươngbồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 54 trung) nói: Nếu có người nữ nào nghe phẩm Dược vương bồ tát bản sự mà thụ trì, thì hết một báo thân nữ này, đời sau không làm thân nữ nữa. Còn phẩm Đề bà đạt đa (cũng kinh Pháp hoa) thì nói: Con gái của Long vương Sa kiệt la trí tuệ bén nhạy, chỉ mới 8 tuổi mà đã có khả năng thụ trì tất cả bí tạng sâu xa của chư Phật, trong khoảng sát na phát tâm bồ đề đã được bất thoái chuyển và biến thành thân nam.
tận thọ
Āyuksaya (S), Āyukkhaya (P),
; Ayuksaya (S). Consumation of life.
tận trí
(kṣayajđna): trí tuệ khởi đầu của bậc vô học, do dứt trừ hết mọi phiền não mà khởi sanh trí tuệ nên gọi là tận trí.
; Kṣaya-jāna (S), Khayaāṇa (P).
; (盡智) Phạm: Kwaya-jĩàna. Pàli:Khaya-ĩàịa. Chỉ cho trí vô lậu đã đoạn trừ tất cả phiền não mà đạt được, là trí tuệ của bậc Thánh Vô học, 1 trong 2 trí, 1 trong 10 trí. Cứ theo luận Tập dị môn túc quyển 3, nếu chứng ngộ Tứ đế thì trí, kiến, minh, giác, giải, tuệ, quang, quán... được phát sinh đều là Tận trí; nếu như thực biết đã trừ hết dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu... thì gọi là Tận trí, nếu như thực biết đã trừ hết tất cả kết phược, tùy miên, tùy phiền não, triền... thì gọi là Tận trí. Trong đó, trí, kiến, minh, giác... đều là tên khác của trí tuệ. Câu xá luận quang kí quyển 26 (Đại 41, 386 thượng) nói: Trí là quyết đoán, kiến là suy tìm, minh là chiếu sáng, giác là giác ngộ, giải là hiểu thấu, tuệ là lực chọn, quang là ánh sáng trí tuệ, quán là quán xét... tất cả đều là tên khác của tuệ. [X. luận Đại tì bà sa Q.102; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Câu xá Q.26; luận Thuận chính lí Q.73, 74; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.35; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, hạ]. (xt. Nhị Trí, Thập Trí).
Tận trí 盡智
[ja] ジンチ jinchi ||| Eradication wisdom. The wisdom that one experiences as the result of the eradication of all afflictions (kṣaya-jñāna). The wisdom that comes as the result of religious practices, as a result of the full understanding of the implications of the Four Noble Truths. One of the two kinds of wisdom 二智. 〔二障義HPC 1.789c〕 => Trí huệ có được như là kết quả của sự diệt trừ phiền não (kṣaya-jñāna). Trí huệ có được là do kết quả của tu tập, là kết quả của sự hiểu rõ sự quan hệ mật thiết của Tứ diệu đế. Là một trong 2 loại trí huệ (Nhị trí 二智)
tận tâm
Cetovimutti (S), Deliverance of heart.
tận tịnh hư dung
The identity of the absolute and the empirical, a doctrine of the Prajnapàramità.
; (盡淨虛融) Tận là rốt ráo; Tịnh là chân không, tức các pháp rốt ráo là không nên gọi là Tận tịnh. Đây là chỉ thú của nghĩa Không nói trong kinh Bát nhã. Còn hư dung thì có nghĩa các pháp đã là chân không, không có tự tính nên rỗng rang dung thông nhau, cùng là nhất như. Đây là thời nói pháp thứ 4 trong 5 thời thuyết pháp củamộtđời đức Phật theo giáo phán của tông Thiên thai, nhằm diệt trừ sự chấp pháp của Nhị thừa, khiến dần dần đi vào thực tướng Trung đạo Pháp hoa. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng (Đại 33, 800 trung) nói: Thời Bát nhã nếu luận chung thì 3 thừa cùng vào, nhưng nếu luận riêng thì chỉ một mình Bồ tát vào được; còn nếu nói rộng ra đến cả ấm nhập tận tịnh hư dung thì cũng không bàn đến nghĩa chung và riêng.
tận vị lai tế
To the end of all time, eternal.
; (盡未來際) Đồng nghĩa: Vô hạn. Cùng suốt đến bờ mé của vị lai vô hạn; từ ngữ này thường được dùng trong trường hợp phát nguyện. Vì muốn biểu thị điều mình nguyện sẽ thường trụ cho đến tận cùng bờ mé vị lai. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 4 (Đại 3, 309 thượng) nói: Tất cả thiện nam tử tín tâm Xuất gia tu đạo cũng như thế Vì cứu cha mẹ và chúng sinh (...) Nên chứng quả Bồ đề vô thượng Tận vị lai tế thường chẳng diệt Làm chỗ nương tựa cho chúng sinh. [X. kinh Hoa nghiêm Q.22 (bản dịch cũ); Pháp hoa văn cú kí Q.4 hạ].
tận đại địa nhân nhất khẩu thôn tận
(盡大地人一口吞盡) Đồng nghĩa: Tận đại địa nhân vong phong kết thiệt. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ một miếng mà nuốt hết tất cả mọi người trên mặt đất. Trong Thiền lâm, câu nói này được dùng để hình dung bậc Thầy hoặc Thiền sinh có kiến thức, năng lực, cảnh giới triệt ngộ hơn người; tất cả cử chỉ, hành vi của bậc Thiền giả ưu việt này, những người tầm thường không thể sánh được, giống như hết thảy mọi người trên mặt đất đều bị cuốn hút trong sự nói năng, im lặng của họ. Bích nham lục tắc 49 (Đại 48, 185 thượng) nói: Cá kình phun sóng cao nghìn thước (chuyển qua bờ kia rồi, không ngại sự kì lạ, chỉ một miếng nuốt hết mọi người trên mặt đất).
Tận 盡
[ja] ジン jin ||| (1) To be ruined, perish. Die out, disappear, fail. Become nonexistent (kṣaya, kṣīna). (2) To stop, finish, end (avāsanā, anta). (3) Exhaust. (4) The extinction, or destruction of suffering. Among the Four Noble Truths, the equivalent of 'cessation' mie 滅. Extinction. (nirodha). (5) To pause, rest (uparama) [休]. (6) The conflagration of the universe and its return to nothingness. => 1. Bị hư hỏng, diệt vong. Chết, biến mất, phá sản. Trở nên hoại diệt (s: kṣaya, kṣīna). 2. Dừng lại, kết thúc, chấm dứt (avāsanā, anta). 3. Cạn kiệt. 4. Tiêu diệt, sự chấm dứt mọi khổ đau. Trong Tứ diệu đế, tương đương với Diệt (滅s: nirodha). 5. Dừng, nghỉ (s: uparama) [ hưu 休]. 6. Vũ trụ bị nạn lửa và hoại diệt.
tập
Saṃudāya (S), originationNhân1- Nguyên nhân (Thí dụ: dukkhasamudaya: nguyên nhân sự khổ). 2- Còn gọi là Tập, trong Tứ diệu đế: Khổ (duhkha), Tập (samudaya), Diệt (nirodha), Đạo (marga). 3- Một trong 4 hành tướng của Tập đế: Nhân, Tập, Sanh, Duyên.
; Samudaya (S). Origin. Repetition, practice, habit, skilled.
Tập bộ kinh
集部經; P: sutta-nipāta;|Một phần của Tiểu bộ kinh, chứa những bài kinh dưới dạng thi kệ.
tập chủng tánh
(習種性) I. Tập Chủng Tính. Phạm: Samudànìta-gotra. Gọi đủ: Tập sở thành chủng tính. Chỉ cho chủng tính nhờ tu hành, huân tập mà có được, 1 trong 2 chủng tính, 1 trong 6 chủng tính. Cũng tức là chủng tính do nghe giáo pháp của Phật, tu các thiện hạnh, huân tập lâu ngày mà thành. Trái lại, chủng tính pháp nhĩ tự tồn của nhân vô lậu từ vô thủy đến nay đắp đổi nối tiếp nhau, gọi là Tính chủng tính, cũng tức là tính tự nhiên sẵn có. (xt. Chủng Tính). II. Tập Chủng Tính. Tức chỉ cho giai vị Thập trụ trong các giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa. Bồ tát ở giai vị này tu tập Không quán, phá trừ Kiến hoặc, Tư hoặc. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng]. (xt. Lục Chủng Tính).
tập cổ kim phật đạo luận hoành
(集古今佛道論衡) Cũng gọi Tập hợp cổ kim Phật đạo luận hành thực lục, Cổ kim Phật đạo luận, Cổ kim Phật đạo luận hành, Phật đạo luận hành. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Đạo tuyên (596-667) soạn vào niên hiệu Long sóc năm đầu (661) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung ghi thuật cuộc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo trong khoảng thời gian từ đời Đông Hán đến đầu đời Đường, là tư liệu lịch sử quan trọng về sự quan hệ giữa đạo Phật và đạo Lão tại Trung quốc. Trong đó: -Quyển 1: Nói về sự tích tranh luận giữa đôi bên Phật và Đạo ở các đời Đông Hán, Tiền Ngụy, Bắc Ngụy, Tống, Lương, Bắc Tề... có phụ lục luận Biện đạo của Trần tư vương Tào thực nhà Ngụy, luận Lão đam phi đại hiền của Tôn thịnh nhà Tấn, Lão tử nghi vấn phản tấn của Tôn thịnh nhà Tấn... -Quyển 2: Nói về sự tích tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo diễn ra trong các đời Bắc Chu và đời Tùy. -Quyển 3: Tường thuật quá trình tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo vào đời Đường. -Quyển 4: Tường thuật quá trình tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo trong niên hiệu Hiển khánh. Bản được thu trong Đại chính tạng còn có thêm phần Bổ di đề là Quyển định tục phụ (phụ theo quyển 4), nói về sự tích đạo sĩ Đôn hành chân bỏ Đạo giáo theo Phật giáo vào khoảng năm Long sóc. Về sau, ngài Trí thăng cũng soạn Tục tập cổ kim Phật đạo luận hành 1 quyển. [X. Đại đường nội điển lục Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Hán thư liệt truyện thứ 78; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
tập diệt
To practice (the good) and destroy (the evil).
; (習滅) Tu tập pháp thiện, diệt trừ pháp ác. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng) nói: Khéo biết phương tiện âm thanh tập diệt. Như các Bồ tát ở cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà, có khả năng hiểu biết chính pháp của Như lai, tu trì các pháp lành, phá dẹp các pháp ác, diệt trừ phiền não nghiệp chướng, được đại trí tuệ, đầy đủ biện tài vô ngại và ưa thích cầu đạo Vô thượng bồ đề. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ].
tập giải
(集解) Thu gom các chú giải của nhiều nhà về một bộ kinh luận nào đó vào một tập, gọi là Tập giải. Thông thường, danh từ này được dùng làm tiêu đề của các sách. Trong các sách Phật dùng từ Tập giải làm tiêu đề hiện còn thì có bộ Đại bát niết bàn kinh tập giải 71 quyển của ngài Bảo lượng đời Lương là xưa nhất, trong đó thu gom luận thuyết của 10 vị: Đạo sinh, Tăng lượng, Pháp dao, Đàm tế, Tăng tông, Bảo lượng, Trí tú, Pháp trí, Pháp an và Đàm chuẩn. Về sau, có Kim cương kinh tập giải 4 quyển của cư sĩ Dương khuê đời Tống, Tứ giáo nghi tập giải 3 quyển của ngài Tòng nghĩa đời Tống, Thành duy thức luận tập giải 10 quyển của ngài Thông nhuận đời Minh...
tập hội chung
(集會鍾) Cũng gọi Hành sự chung. Chuông nhóm họp. Nghĩa là khi pháp hội sắp được cử hành thì đánh chuông báo hiệu để tập họp đại chúng tham dự. Còn quả chuông treo trong Tăng đường được đánh lên khi triệu tập chúng tăng thì gọi là Tập chúng chung. Điều Chung, chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48, 1155 hạ) ghi: Chuông ở Tăng đường, khi nào tập chúng thì đánh.
Tập khí
習氣; S: vāsanā;|Nguyên nghĩa Phạn ngữ (sanskrit) là »Ấn tượng, tưởng tượng, sự thúc dục.« Tập khí chỉ thói quen, những bản năng, bản tính tiềm tàng có thể hiện lên bất cứ lúc nào.
tập khí
những tập quán, thói quen xấu được tích lũy qua một thời gian dài, thậm chí là trong rất nhiều đời nhiều kiếp quá khứ, nên thường rất khó nhận biết và dứt trừ.
; Saṃudāya-vāsanā (S), Vāsanā (S), Hidden motives, Pravriti (S), Abhysa (S)Huân tập Những tập tánh, phần hình thành nơi tâm do tư tuởng và hành vi tương tục hiện hành huân tập vào, dần dần kết chặt vào tâm, trải qua thời gian dài tích tập thành tánh, khó phá trừ.
; Vàsanà (S). Habit, the force of habit; the uprising or recurrence of thoughts, passions, or delusions after the passion or delusion has itself been overcome, the remainder or remaining influence of delusion. Former impression; recollection of the past.
; (習氣) Phạm,Pàli:Vàsanà. Cũng gọi Phiền não tập, Dư tập, Tàn khí. Gọi tắt: Tập. Do tư tưởng, hành vi(đặc biệt là phiền não) của người ta dấy sinh hằng ngày, rồi huân tập(xông ướp, tập tành) thành những thói quen, hơi hướng sót lại, rớt lại trong tâm người ta, gọi là Tập khí, giống như để hương trong hộp, khi lấy hương ra rồi mà trong hộp vẫn còn mùi thơm. Nói cách nôm na là tất cả ý nghĩa và việc làm của chúng ta đều để lại trong ta những kinh nghiệm và thói quen, đó chính là Tập khí. Trong Phật giáo, từ Tập khí được dùng để ví dụ tuy đã diệt trừ chính thể của phiền não, nhưng vẫn còn hơi hướng của thói quen rớt lại và rất khó diệt trừ. Trong kinh Phật có ghi chép nhiều trường hợp, chẳng hạn như thói quen dâm dục của ngài Nan đà khi còn ở tại gia, thói quen nổi giận của ngài Xá lợi phất và ngài Ma ha ca diếp, thói quen kiêu căng của ngài Tì lăng già bà bạt, thói quen nhún nhảy chơi đùa của ngài Ma đầu bà tư tra, thói quen nhai suốt ngày như trâu của ngài Kiều phạm bát đề... đều là Tập khí; chỉ có đức Phật mới vĩnh viễn đoạn trừ cả chính thể và tập khí của phiền não.Tông Duy thức cho Tập khí là tên khác của chủng tử(hạt giống), là phần khí được huân tập bởi hiện hành, có năng lực sinh ra tư tưởng, hành vi và tất cả các pháp hữu vi được chứa đựng trong thức A lại da. Tập khí lại được chia làm 3 loại là: 1. Danh ngôn tập khí: Chỉ cho các chủng tử nương vào danh ngôn(biểu tượng của lời nói) mà được huân tập thành, là nguyên nhân trực tiếp, làm cho tất cả các pháp hữu vi đều tự sinh. Cũng tức là các chủng tử do khái niệm về danh tướng được huân tập trong thức A lại da mà hình thành. 2. Ngã chấp tập khí: Tập khí(chủng tử)nương vào ngã chấp mà được huân tập thành. Cũng tức là các chủng tử do ngã kiến được huân tập trong thức A lại da mà thành. 3. Hữu chi tập khí: Những chủng tử nghiệp thiện ác do nhân của Tam hữu (sự sống còn trong 3 cõi) huân tập thành. Ngoài ra, khí phần do các thiện căn tích tập được cũng gọi là Tập khí. Như phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nói: Bồ tát Đệ thập địa có 10 loại Tập khí: Tập khí Bồ đề tâm (cũng gọi Bản khí), tập khí Thiện căn(cũng gọi Thành hành khí), tập khí Giáo hóa chúng sinh(hạ hóa), tập khí Kiến Phật(thượng kiến), tập khí Ư thanh tịnh độ thụ sinh (thụ sinh), tập khí Bồ tát hạnh(đại hạnh), tập khí Đại nguyện(thập nguyện), tập khí Ba la mật(thập độ), tập khí Xuất sinh bình đẳng pháp(lí trí) và tập khí Chủng chủng phân biệt cảnh giới(lượng tri). Mười loại tập khí này đều vì áp phục và đoạn trừ các phiền não mà tích lũy, huân tập khí phần các thiện hạnh, nên gọi là Tập khí. [X. luận Đại trí độ Q.27; luận Du già sư địa Q.52; luận Thành duy thức Q.8; Thập địa kinh luận Q.11; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53]. (xt. Chủng Tử).
tập khí phiền não
Đã thành thói quen chấp thành kiến giải và tư tưởng sai lầm của mình, gọi là tập khí phiền não.
Tập khí 習氣
[ja] ジッケ jikke ||| 'Habit energies.' Latent karmic impressions created from all of the words, thoughts, actions and external influences experienced by sentient beings, closely related to the concepts of "seeds" --i.e. karmic impressions which help to comprise the total character of the individual entity. Habit energies are distinguished from seeds by virtue of the fact that they are the traces that remain even after destroying the seeds existent in the ālaya-vijñāna. According to the Yogācāra school, the seeds and the habituated energies are removed during the period from the first bhūmi until the tenth. These energies are fully eliminated only upon the attainment of Buddhahood, and therefore, as hindrances to liberation, are considered to be the most subtle, as all of the other hindrances proper of affliction and noesis can be eliminated at advanced bodhisattva stages. (Skt. vāsanā; Tib. bag chags) 〔唯識三十頌、 T 1586.31.61a; 成唯識論、 T 1585.31.43a; 瑜伽論T 1579.30.305b5〕(2) In his Ijangŭi, Wŏnhyo describes two kinds of habit energies: distinctive 別習氣 and shared 通習氣. 〔二障義HPC 1.793c〕 => Dấu ấn tiềm tàng của nghiệp ttạo ra do lời nói, suy nghĩ, hành động và những tác động từ ngoại giới khác của chúng sinh, rất gần gũi với ý niệm về 'chủng tử'- có nghĩa là những dấu ấn về nghiệp bao gồm toàn bộ tính cách của một cá nhân. Tập khí khác biệt với hạt giống đức hạnh từ thực tế chúng là dấu vết còn lưu lại sau khi chuyển hoá chủng tử hiện hành trong A-lại-da thức. Theo Duy thức tông, chủng tử và tập khí đều được chuyển hoá trong giai vị đầu cho đến giai vị thứ 10 trong sơ địa. Những tập khí nầy sẽ hoàn toàn tiêu trừ khi đạt đến quả vị Phật, do vậy, chướng ngại cho giải thoát, được xem là rất vi tế, như tất cả các chướng ngại chính do phiền não và sở tri có thể được tiêu trừ khi tiến lên giai vị Bồ-tát (Skt. vāsanā; Tib. bag chags) . 2. Trong Tác phẩm Ijangŭi của mình, sư Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo) đã mô tả hai loại tập khí: Biệt tập khí (別習氣) và Thông tập khí (通習氣)
tập khởi
Xem ý.
; (集起) Phạm:Citta. Hán dịch: Tâm. Chỉ cho thức A lại da, vì thức này huân tập, chứa nhóm tất cả chủng tử và từ đó lại sinh khởi hiện hành, nên gọi là Tập khởi. (xt. Tâm, Chủng Tử)
tập loại trí
(集類智) Phạm: Samudaye ’nvaya-jĩànaô. Chỉ cho trí vô lậu do quán xét Tập đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà đạt được, tức là trí chứng lí Tập đế, là 1 trong 8 trí, 1 trong 16 tâm. Loại nghĩa là giống, tức trí này giống với Pháp trí do quán xét Tập đế của cõi Dục mà đạt được. (xt. Bát Nhẫn Bát Trí, Thập Lục Tâm, Tập Loại Trí Nhẫn).
tập loại trí nhẫn
Saṃudāya-jāna-kṣānti (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh.
; (集類智忍) Phạm: Samudaye ‘nvayajĩànakwànti#. Là một trong 8 nhẫn, 1 trong 16 tâm. (xt. Bát Nhẫn Bát Trí, Thập Lục Tâm, KiếnĐạo).
tập lượng luận
Pramāṇa-samuccaya śāstra (S), Samuccayapramāṇa śāstra (S), Shuryoron (J)Một bộ luận về Đại thừa của Pháp tướng tông, do ngài Trần Na trước tác.
; (集量論) Phạm: Pramàịa-samuccaya. Tạng: Tshad-ma kun-las btus-pa. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Trần na (Phạm:Dignàga) người Ấn độ soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào năm Cảnh long thứ 2 (711) đời Đường. Đây là bộ luận về Nhân minh do thu chép, tổ chức, phân loại các phần nói về Lượng trong các sách của ngài Trần na như luận Chính lí môn... mà thành. Tác phẩm này là do chính ngài Trần na tập đại thành về thuyết Lượng, cho nên gọi là Tập lượng luận. Nội dung chia làm 6 phẩm: Phẩm Hiện lượng, phẩm Vị tự tỉ lượng, phẩm Vị tha tỉ lượng, phẩm Quán dụ tự dụ, phẩm Quán li và phẩm Quán quá loại. Tất cả được chia làm 2 phần là phần kệ chính và phần chú thích. Trong sách cũng bao hàm phần phê phán Luận Quĩ (Phạm: Vàdavidhi, Tạng: Rtsod-pa sgrub-pa) của ngài Thế thân và Tri thức luận của các học phái như: Học phái Chính lí, học phái Thắng luận, học phái Di mạn sai, học phái Số luận... Ngài Trần na dùng thái độ phê phán để nghiên cứu các loại Lượng luận của Phật giáo và ngoại đạo, qui kết Lượng thành 2 loại là Hiện lượng và Tỉ lượng, nói rõ về tính chất của 2 loại, đề ra thuyết 3 phần, tức chia Thức làm Tướng phần, Kiến phần và Tự chứng phần, luận Hiện lượng và thuyết 3 phần phát triển thành Nhận thức luận của học phái Duy thức. Rồi lại lấy Tam chi tác pháp làm trung tâm mà thuyết minh về 3 tướng của Nhân, 9 nguyên tắc Nhân, hợp của Đồng dụ, li của Dị dụ, mổ xẻ những suy lí sai lầm về tự nhân(Nhân tương tự), tự dụ và tự năng phá. Nguyên bản tiếng Phạm của sách này đã bị thất lạc, chỉ còn 2 bản dịch bằng tiếng Tây tạng (bản 1 do Kanakavarman, Dad-pa zes-rab dịch và bản 2 do Vasudhararakwita, Sha-ma seí-fgyal dịch), gọi là Lượng kinh. Về các sách chú thích thì ngoài sách chú thích của chính tác giả, trong Đại tạng kinh Tây tạng còn có Thích lượng luận (Phạm: Pramàịa-vàrttika, Tạng: Tshad-ma rnam-#grel) do ngài Pháp xứng (Phạm: Dharmakìrti) soạn; Tập lượng luận chú quảng đại vô cấu (Phạm:Vizàlàmalavatì nàma Pramàịasamuccaya-ỉìkà, Tạng: Yaís-pa daí dri-ma med-pa-daí ldanpa shes-bya-ba Tshad-ma kun-las btuspa#i #grel-bzad) do ngài Cát niên đà la bồ đề (Phạm:Jinendrabuddhi) soạn. Ngoài các bộ chú thích trong Đại tạng kinh nói trên, còn có Lượng kinh thích (Tạng:Tshad- ma mdo#i rnam-bzad) do ngài Kiết nhĩ giáp phổ tháp mã lâm kiệt (Tạng: Rgyaltshab dar-ma rin-chen) soạn. [X. Tập lượng luận lược sao (Lữ trừng, Nội học 4); History of Indian Logic by S.C.Vidyabhùsana].
tập nghiệp
Acinnakamma (P), Habitual kamma.
tập nhân tập quả
(習因習果) Chỉ cho Đồng loại nhân và Đẳng lưu quả. Trong Nhân quả luận của Phật giáo, 6 nhân và 5 quả đều đóng vai trò lí luận chủ chốt. Sáu nhân giải thích nguyên do sinh khởi của các pháp, nhân thứ 3 trong đó là Đồng loại nhân (Phạm: Sabhàgahetu), dịch cũ là Tập nhân, chỉ cho nguyên nhân sinh ra pháp cùng loại; còn 5 quả thì nói rõ về kết quả do các loại nhân duyên sinh ra, trong đó, quả thứ 2 là Đẳng lưu quả (Phạm:Niwyanda-phala), dịch cũ là Tập quả, là kết quả ngang bằng, cùng loại với nguyên nhân. Chữ tập(quen, tập quen) của dịch cũ là chú trọng nghĩa quan hệ nhân quả thường nối theo nhau. Tức quen nối theo tâm thiện ở niệm trước mà khởi lên tâm thiện ở niệm sau là nghiệp quả thiện, cho đến nối theo tính vô kí của niệm trước mà sinh khởi tính vô kí của niệm sau. Niệm trước gọi là Tập nhân, tức nhân đồng loại; niệm sau gọi là Tập quả, tức quả đẳng lưu. Theo Ma ha chỉ quán quyển 8 thì Tập nhân là tự phần nhân, còn Tập quả thì là y quả. Tập nhân, Tập quả chung cho tất cả sắc pháp, tâm pháp và 3 tính thiện, ác, vô kí... (xt. Ngũ Quả, Lục Nhân, Đồng Loại Nhân, Đẳng Lưu Quả).
tập nhân tập quả.
The continuity of cause and effect, as the cause so the effect.
Tập nhẫn 習忍
[ja] シュウニン shūnin ||| The practice of the tolerances, initiated in the Path of Seeing. See 八忍. 〔仁王經 T 245.8.8〕32b7 => Tu tập tính khoan dung, xuất phát từ Kiến đạo (Path of Seeing). Xem Bát nhẫn (八忍) [ja] シュウジョウ shūjō ||| See 習成種姓.
tập nhứt thiết công đức tam muội
Sarvapuṇya samutchtchaya (S), Sarva-puṇya-samutchtchaya-samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
tập pháp
Saṃudāya-dhamma (P), Origina-tion-factors.
tập pháp trí
Saṃudāya-dharma-jāna (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh.
; (集法智) Phạm: Samudaye-dharma-jĩànaô. Chỉ cho trí vô lậu nhờ quán xét Tập đế của cõi Dục, đoạn trừ Kiến hoặc, chứng lí Tập đế mà đạt được, là 1 trong 8 trí, 1 trong 16 tâm. [X. luận Câu xá Q.23]. (xt. Bát Nhẫn Bát Trí, Thập Lục Tâm, Tập Loại Trí Nhẫn).
tập pháp trí nhẫn
Saṃudāya-dharma-jāna-kṣānti (S)Một trong Thập lục tâm do quán Tứ đế mà phát sanh.
tập sa môn bất ứng bái tục đẳng sự
(集沙門不應拜俗等事) Cũng gọi Sa môn bất kính tục lục, Tập sa môn bất bái tục nghị, Sa môn bất ưng bái tục sự, Bất bái tục nghi đẳng sự. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Ngạn đông soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này thu chép các bài văn Tấu(tâu lên vua), Chiếu(mệnh lệnh của vua), Sắc(sắc lệnh của vua), Khải(thuật bày), Biểu (tờ tâu đưa lên vua), Trạng(tờ trình), Sự(việc), Thư(thơ), Nạn(hỏi điều khó khăn), Đáp... từ năm Hàm khang thứ 6 (340) đời Đông Tấn đến năm Long sóc thứ 2 (662) đời Đường, nói về việc sa môn có nên lễ bái người thế tục hay không. Toàn sách được chia làm 3 thiên: Thiên Cố sự, thiên Thánh triều nghị bất bái và thiên Thánh triều nghị bái. Đầu quyển có bài tựa của Vương ẩn khách (tự là Thiếu vi), cuối quyển có phụ thêm thiên Sa môn bất ưng bái tục tổng luận của soạn giả. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
Tập thành chủng tính 習成種姓
[ja] シュウジョウシュショウ shūjō shushō ||| Proclivities (seeds 種子) which are cultivated in the present lifetime, which are more coarse and superficial than the seeds with which one is born 本性住種姓. 〔瑜伽論T 1579.30.478a〕 => Chủng tử đã gieo trồng trong đời hiện tại, thô trọng và nông cạn hơn chủng tử bẩm sinh (tập tính trụ chủng tính 本性住種姓).
Tập thành chủng tử 習成種子
[ja] シュウジョウシュシ shūjō shuji ||| Seeds developed through the habituation that occurs in the present lifetime. See 習成種姓. 〔二障義 HPC 1.793b〕 => Hạt giống phát triển thông qua tập khí hiện hành trong đời nay. Xem Tập thành chủng tính 習成種姓 . [ja] シュウショジョウシュショウ shūshojō shushō ||| See 習成種姓.
tập thánh đế
Xem Tập đế.
tập thần châu tam bảo cảm thông lục
(集神州三寶感通錄) Cũng gọi Tập thần châu tháp tự tam bảo cảm ứng lục; Đông hạ tam bảo cảm thông lục, Đông hạ tam bảo cảm thông kí, Tam bảo cảm thông lục, Cảm thông lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung thu chép những sự tích linh dị về xá lợi Phật, tượng Phật, chùa Phật, về kinh điển và tăng tục. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].
tập trí
Saṃudāya-jāna (S)Trí vô lậu do quán Tập đế.
; (集智) Phạm: Samudaya-jĩàna. Chỉ cho trí vô lậu do quán xét và thể ngộ lí Tập đế mà đạt được, là 1 trong 10 trí, 1 trong 11 trí. Luận A tì đạt ma phẩm loại túc quyển 1 (Đại 26, 694 thượng) nói: Tập trí là gì? Là trí vô lậu do tư duy về Nhân, Tập, Sinh, Duyên của nhân hữu lậu mà phát khởi. Trong quá trình tu chứng Phật đạo, khi tiến vào giai vị Kiến đạo, thành tựu Khổ loại trí rồi thì duyên theo Tập đế của cõi Dục mà quán xét, tư duy về 4 hành tướng Nhân, Tập, Sinh, Duyên, sinh ra Pháp trí nhẫn vô lậu, gọi là Tập pháp trí nhẫn. Sau khi sinh khởi Tập pháp trí nhẫn, lại phát sinh Pháp trí vô lậu, gọi là Tập pháp trí. Đây là bước đầu thành tựu Tập trí. [X. luận Đại tì bà sa Q.106; luận Tạp a tì đàm tâm Q.6; luận Thành thực Q.16]. (xt. Thập Lục Tâm, Thập Trí).
tập tánh tự tánh
Saṃudāya-svabhāva (S)Tập tự tánhTánh nhóm họp thiện ác thành tựu pháp nhiễm tịnh.
tập tự tánh
Xem Tập tánh tự tánh.
tập đế
Saṃudāya-āriya-satya (S), Saṃudāya-āriya-sacca (P), Saṃudāya-āriya-satya (S)Tập thánh đế
; Samudaya-àrya-satya (S). Causes of the dukkha.
; (集諦) Phạm: Samudaya-satya. Pàli: Samuđaya-ariya-sacca. Gọi đủ: Tập thánh đế (Phạm: Samudayàrya-satya; Pàli: Samudayasacca). Cũng gọi: Khổ tập thánh đế,Khổ tập đế. Chân đế về căn nguyên sinh ra các thống khổ, 1 trong 4 thánh đế, giáo lí cơ bản của Phật giáo. Tập nghĩa là gom nhóm lại. Nếu tâm tương ứng với kết nghiệp thì trong vị lai chắc chắn sẽ gom nhóm các khổ sinh tử, cho nên gọi là Tập. Đế nghĩa là đích thực không hư dối. Xét kĩ tất cả phiền não hoặc nghiệp thì biết chúng có năng lực gom nhóm quả khổ sinh tử trong 3 cõi ở đời vị lai, vì vậy gọi là Tập đế; tức là chân đế về nguyên nhân sinh ra các nỗithống khổ của con người. Nguồn gốc của khổ là khát ái, vì có khát ái nên cấu thành đời sau và thân sau. Hạt nhân của khát ái là ngã kiến hư vọng từ vô minh sinh ra, nếu có khát ái thì liền có sinh tử luân hồi; muốn dứt khổ sinh tử thì phải dùng trí tuệ chiếu rọi chân lí, thực tướng, chứng được Niết bàn, đoạn trừ khát ái vượt thoát khổ luân hồi. Cứ theo các luận Đại tì bà sa quyển 78, phẩm Tứ đế trong luận Thành thực quyển 2, luận Câu xá quyển 22... thì về vấn đề tự tính của Tập đế, các phái thuộc Phật giáo bộ phái đều có quan điểm khác nhau, lược nêu như sau: 1. Đa số các Luận sư A tì đạt ma chủ trương Nhân của các pháp hữu lậu chính là Tập đế. Lậu là tên khác của phiền não.2. Thí dụ sư (Phạm: Dfwỉàntika) thuộc kinh Lượng bộ cho rằng Nghiệp phiền não chính là Tập đế. Nghiệp chỉ cho thân, khẩu, ý tạo tác thiện, ác. 3. Phân biệt luận giả (Phạm: Vibhajya-vàdin) thì chia ra Tập và Tập đế khác nhau, cho rằng chỉ có loại Ái có năng lực đưa đến thân đời sau mới là Tập đế, còn Ái và các nhân hữu lậu khác là Tập chứ không phải Tập đế. Thân sau tức là quả báo sinh tử luân hồi ở vị lai, Ái chỉ cho dục vọng, dục ái, khát ái là nguồn gốc của sinh mệnh. 4. Thuyết nhất thiết hữu bộ thì chỉ cho rằng Ái là tự tính của Tập đế. Ngoài ra, luận Thành duy thức quyển 9 lại chia Tập đế làm 3 loại và theo thứ tự dùng ba tính Duy thức Biến, Y, Viên để thuyết minh. Đó là: 1. Tập khí tập: Tức tập khí do tự tính của Biến kế sở chấp nắm giữ. 2. Đẳng tập khởi: Chỉ cho các nghiệp phiền não nương vào các nhân duyên bên ngoài mà sinh khởi (Y tha khởi). 3. Vị li hệ tập: Chỉ cho Chân như chưa xa lìa được các chướng ngại ô nhiễm. Trong 3 loại Tập trên đây, Đẳng khởi tập tương đương với Tập đế. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 16; kinh Phân biệt thánh đế trong Trung a hàm Q.7; kinh Trường a hàm Q.9; luận Tập dị môn túc Q.6; luận Pháp uẩn túc Q.6].
Tập 習
[ja] シュウ shū ||| (1) To learn, to study, to practice--i.e., to learn something by repetition. Habituation. (2) To get accustomed to; customs, habits. (3) To pile up, to add up. (4) The original meaning of this character is for a baby bird to learn how to fly by repeated attempts. [Buddhism] (1) An abbreviation for 習氣, 'habit energies.' Traces, or remains of defilement. (2) A Chinese translation of samudaya, the second of the four noble truths, more commonly written in Chinese as 集. (3) Mistaken habituated nature. => 1. Học, nghiên cứu, thực hành, có nghĩa là học một điều gì bằng cách lập lại ngài lần. Thói quen2. Quen với; thói quen, tập quán. 3. Chồng chất, thêm vào. 4. Nghĩa gốc của từ nầy là chim non cố gằng nhiều lần tập bay. [Phật học ] 1. Viết tắt của 'tập khí' (習氣). Dấu vết, hoặc phiền não nhiễm ô còn sót lại. 2. Hán dịch chữ Samudaya từ tiếng Sanskrit, là sự thật thứ nhì trong Tứ diệu đế, tiếng Hán thường gọi là Tập 集. 3. Tập tính sai lầm.
tật
Irsya (S)Ghen ghét sự thành tựu của kẻ khác. Một trong 10 tiểu tùy phiền não.
; (嫉) Phạm:Ìrwyà. Tâm ghen ghét, tật đố nổi lên khi thấy những điều tốt đẹp của người khác, là 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Theo thuyết của tông Câu xá thì tâm sở này(1 trong các Tiểu phiền não địa pháp) có năng lực dẫn sinh các tâm ô nhiễm, còn tông Duy thức thì xếp tâm sở này vào 1 trong các Tùy phiền não. [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Câu xá Q.21].
tật lê luận
(蒺藜論) Chỉ cho những câu hỏi khó khăn (nạn vấn) không biết phải giải đáp thế nào. Tức đặt những vấn nạn dồn đối phương vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, đáp đã không được mà không đáp cũng không xong. Kinh Tạp a hàm quyển 32 nói: Thủa xưa, có ngoại đạo sai đệ tử dùng Tật lê luận đến hỏi Phật, nhưng các ngài ấy nghe đức Phật nói pháp đều tin phục.
tật lê viên
(蒺藜園) Đối lại: Lương phúc điền. Vườn Tật lê. Tật lê là loại cây có hoa màu vàng, quả có gai và rất đắng, ăn không được. Tật lê viên được dùng để ví dụ những ngôi chùa mà chúng tăng tu hành không đúng như pháp, không mang lại phúc lợi cho tín thí. Theo chính pháp thì cúng dường vào ngôi chùa có Tam bảo thanh tịnh sẽ được phúc quả, là ruộng phúc tốt lành, nên gọi là Lương phúc điền. Trái lại, nếu cúng dường vào những ngôi chùa mà chúng tăng tụ họp, tu hành không đúng chính pháp thì sẽ không được phúc lợi, nên gọi Tật lê viên. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3].
tật đắc thành phật
(疾得成佛) Mau chóng thành Phật mà không cần trải qua nhiều kiếp tu hành, là chủ trương của tông Hoa nghiêm. Theo Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương quyển 4 thì có 5 trường hợp được mau thành Phật: 1. Nương vào thân thù thắng mà tu thì 1 đời liền được thành Phật: Thân thù thắng tức là thân khác thường, như Chuyển luân Thánh vương, Thiên tử... tin Phật phápmàtu tập thì ngay đời này được thành Phật.2. Nhờ thấy nghe hiểu biết nhanh chóng:Tức nghe Như lai nói pháp rồi theo đó tu tập, liền chứng được 10 Phật lực đạt đến giác ngộ. 3.Nhờ một thời nghe pháp mà thành Phật ngay: Như phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm nói đồng tử Thiện tài tham học các Bồ tát tri thức, một thời được bồ tát Phổ hiền giáo hóa, lập tức thành Phật.4. Nhờ một niệm mau được thành Phật: Một niệm tương ứng với Phật pháp cũng lập tức thành Phật. 5. Nhờ vô niệm mau thành Phật: Nếu thể ngộ tất cả pháp chẳng sinh, tất cả pháp chẳng diệt cũng lập tức thành Phật.
tật đố tân phụ kinh
(嫉妒新婦經) Cũng gọi Đố phụ kinh. Kinh, 1 quyển, không rõ soạn hoặc dịch giả.Nội dung nhấn mạnh người có tâm ghen ghét sẽ phải chịu nghiệp báo rất nặng. Khai nguyên thích giáo lục quyển 18, Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 28 đều cho kinh này là kinh ngụy tạo.
Tật đố 嫉妒, 嫉妬
[ja] シット shitto ||| Envy. Same as 嫉妬. => Đố kỵ. Đồng nghĩa với Tật đố 嫉妬.
Tật 嫉
[ja] シツ shitsu ||| Jealousy, envy (īrsyā). One of the lesser defilement elements as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, one of the twenty secondary defilements in the doctrine of the Faxiang 法相 school. The mental action of displeasure regarding the accomplishments or virtuous actions of others. Also, a sub-function of the primary affliction of enmity. => Ghen tỵ, đố kỵ (s: īrsyā). Một trong các tiểu phiền não địa pháp được ghi trong Câu-xá luận, là 1 trong 20 tuỳ phiền não trong giáo lý Pháp tướng tông. Tâm hành bất thiện khi nhìn thấy sự thành tựu đức hạnh của người khác. Lại nữa, là một tác dụng phụ của sân hận, một món căn bản phiền não.
Tật 疾
[ja] シツ shitsu ||| (1) Sickness, illness, disease; to get sick. To worry, to suffer over. (vyādhi) (2) Urgency, haste. Speed, velocity. (vega) Quickly. (3) To hate; to be hated. => 1. Bệnh, đau yếu, bệnh tật; mang bệnh. Phiền muộn, đau khổ (s: vyādhi). 2. Gấp rút, vội vã. Nhanh chóng, nhanh nhẹn (s: vega). 3. Ghét, không thích.
tắc kiền địa la
Skandila (S)Tên một vị Pháp sư ở thế kỷ thứ 5.
Tắc-kiện-đà
塞建陀; C: sāijiàntuó; J: saikenda;|Phiên âm chữ skandha trong tiếng Phạn. Xem Uẩn (蘊).
Tắc-kiện-đà 塞建陀
[ja] サイケンダ saikenda ||| A transcription of the Sanskrit skandha. See 蘊. => Phiên âm chữ skandha trong tiếng Sanskrit. Xem Uẩn 蘊.
Tắc-kiện-đà-la
塞建陀羅; C: sāijiàntuóluó; J: saikendara;|Có 2 nghĩa: 1. Skandhila. Một vị tăng Ấn Độ, tác giả của Nhập A-tì-đạt-ma luận (入阿毘達磨論, s: abhidharma-āvatāra-prakaraṇa); 2. Phiên âm chữ Uẩn (蘊; s: skandha) trong tiếng Phạn.
Tắc-kiện-đà-la 塞建陀...
[ja] サイケンダラ Saikendara ||| (1) Skandhila. An Indian monk, the author of the Abhidharma-āvatāra-prakaraṇa 入阿毘達磨論. (2) A transcription of the Sanskrit skandha 蘊. => Có 2 nghĩa: 1. Skandhila. Một vị tăng Ấn Độ, tác giả của Nhập A-tỳ-đạt-ma luận (入阿毘達磨論s: Abhidharma-āvatāra-prakaraṇa). 2. Phiên âm chữ Uẩn (蘊 skandha) trong tiếng Sanskrit.
Tắm Phật
Hán Việt: Dục Phật (浴佛)|Một buổi lễ phổ biến tại Trung Quốc, được tổ chức vào ngày Phật đản sinh, mùng 8 tháng 4 âm lịch. Trong buổi lễ này, một pho tượng nhỏ của đức Phật Thích-ca – được trình bày dưới dạng liên hoa toạ (Phật toạ), tay phải chỉ trời, tay trái chỉ xuống đất – được đem ra tắm và cúng lạy. Toàn thể Tăng-già đều tham dự buổi lễ tắm Phật này.|Truyền thống tắm Phật vốn xuất xứ từ Ấn Ðộ, bắt nguồn từ sự tích rằng, sau khi sinh ra tại Lam-tì-ni (lumbinī), đức Phật được chín con rồng đến phun nước tắm rửa.
tắm trên sông hằng
Gangasnāna (S), Bathing in the Ganges.
Tắng tật 憎嫉
[ja] ゾウシツ zōshitsu ||| To be hateful and envious. Jealous dislike. Hatred and envy. => Ghét và đố kỵ. Ghen ghét. Sự căm ghét và ganh tỵ.
Tắng ái 憎愛
[ja] ゾウアイ zōai ||| Hate and attachment. => Ghét và yêu thích.
Tằng
曾; C: céng; J: sō; |1. Đã, rồi, quá khứ. Có, đã có. Biểu thị cho quá khứ; 2. Trải qua; 3. Rồi, thì; 4. Hơn nữa, thêm vào; 5. Tên dòng họ.
tằng phụng nghi
(曾鳳儀) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc sống vào đời Minh, người ở Hành châu (Hành dương, tỉnh Hồ nam), tự Thuấn trưng, hiệu Kim giản, làm quan đến Lễ bộ lang trung. Ông tính thông minh hiếu học, chuộng lí học của Lục tượng sơn. Sau khi thôi làm quan, ông về làng mở trường giảng học, học trò rất đông. Tình cờ gặp 1 vị tăng, 2 bên tranh luận, trải 3 ngày ông mới chịu khuất phục, từ đó ông kính tin Phật pháp, giữ giới ăn chay, nghiên cứu kinh luận, gắng sức tham cứu. Một hôm, ông thấy mặt trăng lặn, mặt trời mọc, hoát nhiên tỉnh ngộ, tự thấy những nghi ngại tiêu sạch, được ý chân thật của 2 nhà(Phật, Nho). Sau đó, ông viết sách lập thuyết để lưu truyền. Ông có những tác phẩm: Thủ lăng nghiêm kinh tông thông, Lăng già kinh tông thông, Kim cương kinh tông thông. [X. Hành châu phủ chí].
Tằng Xán
(曾燦, 1626-1689): xuất thân Ninh Đô (寧都) Giang Tây (江西); tên thật là Truyền Xán (傳燦), tự Thanh Lê (青藜), hiệu Chỉ Sơn (止山). Lúc nhỏ đã làm thơ nổi tiếng. Vào cuối thời nhà Minh loạn lạc, ông xuống tóc xuất gia tu hành, đi vân du khắp nơi. Sau ông đi ở nhờ đây đó suốt 20 năm, và đến cuối đời thì qua đời tại kinh đô. Ông cùng với Ngụy Hi (魏禧) xưng là Dịch Đường Cửu Liễu (易堂九了). Trước tác của ông có Lục Tùng Đường Thi Văn Tập (六松堂詩文集), Chỉ Sơn Tập (止山集), Tây Yêm Thảo Đường Thi Tập (西崦草堂詩集); và ông thường tuyển chọn thơ của các danh nhân, biên thành Quá Nhật Tập (過日集).
Tằng 曾
[ja] ソウ sō ||| (1) Already, past. Has, have. An indicator of the past tense. (2) To pass. (3) Then. (4) More, additional. (5) A family name. => 1. Đã, rồi, quá khứ. Có, đã có. Biểu thị cho quá khứ. 2. Đã qua. 3. Rồi, thì. 4. Hơn nữa, thêm vào. 5. Tên gọi dòng họ.
tặc phọc tỉ khâu nhân duyên
(賊縛比丘因緣) Cũng gọi Thảo hệ tỉ khưu nhân duyên. Nhân duyên vị tỉ khưu bị giặc cướp bắt và dùng cỏ tươi để trói, nội dung nêu cao tinh thần kiên trì giáo pháp của một người xuất gia. Thời đức Phật còn tại thế, có vị tỉ khưu bị giặc cướp bắt và dùng cỏ tươi để trói, vì sợ các cọng cỏ bị đứt nên vị tỉ khưu không dám tự cởi trói cho mình, cứ ngồi chờ chết. Nhưng may mắn gặp được vị Quốc vương đi tuần du ngang qua, nhà vua đích thân mở trói cho và cúng dường 3 y. Kinh Đại bátniết bàn (bảnBắc) quyển 26 (Đại 12, 520 thượng) nói: Thà bỏ thân mệnh chứ không hủy bỏ giới cấm, như tỉ khưu bị trói bằng cỏ tươi. [X. Nhất thiết hữu bộ mục đắc ca Q.6; luận Đại trang nghiêm Q.3; Pháp uyển châu lâm Q.9].
tặc trụ
(賊住) Phạm: Steya-saôvàsika. Pàli: Theyya-saôvàsaka. Cũng gọi Tặc đạo trụ, Tặc tâm nhập đạo.Ở trong Phật pháp với tâm kẻ cướp. Tức chỉ cho hạng người vì mong được lợi dưỡng, vìkế mưu sinh mà xuất gia, hoặc vì muốn trộm cắp giáo pháp mà vào trong giáo đoàn; hoặc vì chưa đủ 20 tuổi nên không được thụ giới Cụ túc mà trà trộn vào hàng ngũ những người thụ giới. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17; luật Tứ phần Q.34; luận Đại tì bà sa Q.99].
tặng biệt dạ
(贈別夜) Cũng gọi Đãi dạ, Túc dạ, Đại dạ, Bạn dạ. Chỉ cho đêm hôm trước ngày tống táng, nghĩa là đêm tiễn biệt người đã qua đời. [X. điều Thiên hóa di khám trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; điều Đối linh tiểu tham niệm tụng điện trà thang trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.9]. (xt. Đãi Dạ).
tặng biệt kinh
(贈別經) Thời kinh tụng niệm trong đêm trước khi hỏa thiêu hoặc mai táng để tiễn biệt người quá cố. [X. Mạt hậu sự nghi trong Đại giám tiểu thanh qui].
tặng ngũ trùng
(贈五重) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản Nghi thức ban tặng Ngũ trùng huyết mạch cho người chết của tông Tịnh độ Nhật bản.Ngũ trùng huyết bạch được chia làm Học tượng tương thừa và Kết duyên tương thừa. Học tượng tương thừa được cử hành đối với chúng tăng xuất gia, còn Kết duyên tương thừa được cử hành đối với tín đồ tại gia. Nếu người tại gia lúc còn sống chưa được kết duyên tương thừa, thì khi chết, những người thân như cha mẹ, vợ con... thay thế thụ Ngũ trùng huyết mạch, giúp cho người chết được truyền thừa huyết mạch nhiều đời của Phật Tổ, đồng thời trước pháp danh tặng thêm tên hiệu, mong nhờ công đức ấy mà người chết được lợi ích tăng tiến Phật đạo, đógọilà Tặng ngũ trùng.
tẻ ngắt
Very sad.
tẻ nhạt
Dull.
Tế
濟; C: jì; J: sai, sei;|1. Qua sông, cứu tế; 2. Chỗ cạn, nơi có thể vượt qua được; 3. Làm, giúp đỡ, cứu giúp; 4. Làm xong, hoàn thành; 5. Gia tăng.
tế
Even, level, equal, uniform; complete, perfect; equalize; tranquilize; alike; all; at the same time, altogether.
; 1) Biên địa: A border. 2) Cúng tế: Sacrifice—Sacrificial. 3) Giới hạn: Limit. 4) Hy sinh: Sacrifice. 5) Khu vực: A region. 6) Nơi giao tiếp: A juncture—To join on. 7) Tế độ: To save—To aid—To bring about. 8) Vi tế: Fine—Small—Minute—Careful—In detail. 9) Vượt sông: To cross a stream.
tế an
Chi An (C)Tên một vị sư.
tế bần
To relieve, assist the poor.
; To help the poor.
tế bắc
(濟北) Danh hiệu của Thiền sư Nghĩa huyền, Tổ khai sáng tông Lâm tế đời Đường. Vì vào năm Đại trung thứ 8 (854), ngài trụ ở viện Lâm tế, bên bờ sông Hô đà, huyện Chính định, tỉnh Hà bắc, nên đặc biệt gọi ngài là Tế bắc. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 4 (Đại 47, 1011 hạ) nói: Con lừa mù Tế bắc, ban đầu đến ngọn tháp Cao an, không thể dẵm chân xuống được, bèn quay trở về núi Hoàng bá.
tế chính bổn giác
Tên của một đệ tử của Hòa Thượng Tế Lịch Chính Văn (see Tế Lịch Chính Văn). Ngài là tăng cang chùa Thiên Mụ, đồng thời là trú trì chùa Quốc Ân. Năm 1837, Hòa Thượng đã tiến hành công cuộc trùng tu đại qui mô chùa Quốc Ân. Sau đó vào năm 1842, ngài đã cùng với Hòa Thượng Liễu Thông Giám Huệ được vua Thiệu Trị cấp cho 500 lạng bạc để hoàn tất việc trùng tu chùa Quốc Ân. Không ai rõ ngài thị tịch vào năm nào và ở đâu—Name of a disciple of Most Venerable Tế Lịch Chính Văn. He was a royal-recognized monk of Thiên Mụ and headmonk of Quốc Ân temple. In 1837, he started to rebuild Quốc Ân temple on a large scale. Then in 1842, he and the new headmonk of Quốc Ân temple were granted 500 ounces of silver from king Thiệu Trị to accomplish the reconstruction of the temple. His whereabout and when he passed away were unknown.
tế cấp
To afford assistance to s.o. in urgent circumstances; to minister to s.o.'s wants.
tế gia
Tế Hạ—Đệ tử của tông Lâm Tế—The school, or disciples of Lin-Chi.
tế hiến
(祭獻) Dâng hiến các vật như thức ăn, thóc gạo, trái cây... lên cúng tế thần linh hoặc vong hồn Tổ tiên theo 1 nghi thức nhất định. Thông thường, nghi thức cúng hiến này đều do Tế tư hoặc tăng lữ cử hành, cũng có khi do chính gia chủ thực hiện; đa số giáo phái các tông giáo đều có nghi thức này. Các xã hội dưới chế độ nô lệ thời cổ đại và trong những dân tộc bán khai thậm chí có tục lệ giết người làm vật hi sinh để tế hiến thần linh.
tế hoạt
(細滑) Đồng nghĩa: Tế sắc. Chỉ cho cảnh xúc chạm mịn màng trơn láng. Thường là chỉ cho sắc tướng xinh đẹp của nam, nữ. Tế hoạt cũng đồng nghĩa với chi Xúc thứ 6 trong 12 chi Nhân duyên, là sự xúc chạm làm nảy sinh khoái cảm mềm mại, mịn màng. Kinh Tu hành đạo địa quyển 6 (Đại 15, 220 hạ) nói: Biết năm dục lạc đều là vô thường, nhưng không trừ hết được. Vì sao? Vì dùng các niệm biết sắc, thanh, hương, tế hoạt(xúc). [X. kinh Úc ca la việt vấn Bồ tát hạnh; kinh Nghĩa túc Q.hạ].
tế hoạt dục
Sexual attraction through softness and smoothness.
; Một trong sáu loại sắc dục, ham muốn cái vẻ nuột nà bóng bẩy xinh xắn của thân thể—One of the six kinds of sensual attractions, sexual attraction through softness and smoothness.
tế hạ
See Tế Gia.
; (濟下) Cũng gọi Tế môn, Tế tông. Chỉ cho tông Lâm tế. (xt. Ngũ Gia Thất Tông).
tế hạ tam bình
(濟下三評) Tên công án trong Thiền tông. Công án này là lời bình luận của ngài Bảo đàm về 3 vị đệ tử của Thiền sư Lâm tế là Bảo thọ, Tam thánh Tuệ nhiên và Hưng hóa Tồn tưởng. Chương Tam thánh Tuệ nhiên trong Đại quang minh tạng quyển hạ (Vạn tục 137, 438 hạ) nói: Đệ tử ngài Lâm tế có Bảo thọ, Tam thánh, Hưng hóa, cũng giống như đệ tử ngài Mã tổ có Bách trượng, Nam tuyền, Qui tông vậy. Bách tượng giống ngài Mã tổ có khí lực, Qui tông giống ngài Mã tổ có tài trí siêu tuyệt, Nam tuyền giống Mã tổ rỗng rang cùng tột, cho nên biết Bảo thọ giống Lâm tế rất sâu sắc. Chân thành ở chỗ giữa ban ngày ăn gậy, gõ đinh đất Hồ mà được ngộ; mạnh mẽ ở chỗ bảo Tịch tử đánh Hương nghiêm, xô ngã Đức sơn diệt mất Chính pháp nhãn tạng mà được ngộ; sâu sắc ở chỗ trong màn tía rải chân châu, hai phen gặp mặt mà được ngộ. Tuy nhiên, mỗi người mới chỉđược1 phần mà nối trăm đời Lâm tế, huống hồ được cả toàn phần thì há không nối đến nghìn muôn đời Lâm tế ư? Kẻ ngu này thường hận rằng vì việc đánh, hét không được thi hành ở đời nay, nên đạo của Lâm tế mới suy vi; phải chăng năng lực của người học đời sau có chỗ không kham được? Hay là có chỗ bậc thầy chưa thực hiện hết ý chỉ? Như người uống nước, lạnh, ấm tự biết. Một nén hương Hưng hóa, từ trong gian nan cay đắng mà được, cho nên mới hưng thịnh. [X. Tông môn cát đằng tập Q.thượng].
tế hạnh
Hành động vi tế của người tu hành trong cuộc sống hàng ngày, đều đúng theo giới luật của nhà Phật gọi là Tế hạnh.
tế khổn
To relieve s.o. in distress.
tế lịch chính văn
Tên của một đệ tử của Hòa Thượng Trí Hải (see Trí Hải) ở tại chùa Quốc Ân vào khoảng từ 1805 đến 1825. Năm 1822, Hòa Thượng được vua Minh Mạng cấp cho 500 lạng bạc để trùng tu chùa Quốc Ân. Ngài thị tịch năm 1825, tháp mộ của ngài được kiến lập uy nghi ngay trong sân chùa—Name of a disicple of Most Venerable Trí Hải. He stayed at Quốc Ân temple from 1805 to 1825. In 1822, king Minh Mạng granted 500 ounces of silver for him to rebuild the temple. He passed away in 1825, his magnificent stupa was built in the garden of the temple.
tế miên hoa
xem đâu-la.
tế nghi thư
Brahmanas (S).
tế nghiệp thân
The final body which brings to an end all former karma.
tế nghiệp tướng niệm
(細業相念) Nghiệp dụng nhỏ nhiệm trong Sinh tướng do vô minh căn bản phát khởi. Tướng này không phải là thể của vô minh. Trong 4 tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt của các pháp hữu vi, Sinh tướng khi sắp chuyển sinh Trụ tướng là niệm vi tế, vì thế gọi là Tế nghiệp tướng niệm. Luận Thích ma ha diễn quyển 3 (Đại 32, 618 trung) nói: Lúc chứng thành quả Phật thì xa lìa 2 thứ niệm. Những gì là hai? Một là Đại vô minh niệm, hai là Tế nghiệp tướng niệm.
tế ngộ
(濟悟) (1626-1687) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế sống vào đầu đời Thanh, người ở Ngô môn, họ Phí, hiệu Hạc phong. Sư xuất gia năm 12 tuổi, thờ ngài Thụy chi quang chùa La hán ở Tùng lăng làm thầy. Năm 20 tuổi, sư y vào ngài Phẫu thạnh Hoằng bích thụ giới Cụ túc, rồi tham học nơi ngài Linh ẩn cụ và được nối pháp. Năm Khang hi thứ 6 (1667) sư trụ chùa Phúc thiện ở Bộc thủy, sau lại trụ chùa Phúc thọ ở Đồng hương, tỉnh Chiết giang. Năm Khang hi 26 (1687) sư thị tịch, thọ 62 tuổi. Sư có tác phẩm: Hạc phong Ngộ thiền sư ngữ lục 2 quyển.
tế nhuyễn ngữ
Refined and soft speech.
tế nhị
Subtle—Delicate.
tế quan
(祭官) Người chủ trì việc cúng tế của Bà la môn giáo. Bắt đầu vào thời đại Phệ đà, đến thời đại Phạm thư thì càng trở nên phức tạp, qui định nhiều nghi thức cúng tếvà đặt ra nhiều loại tế quan, như nghi thứcTô ma phải có 4 Tế quan và 3 người phụ tá cử hành. Bốn tế quan: Người khuyến thỉnh thần linh, người xướng các bài tán ca, người hành lễ cúng tế và người cầu đảo.
tế sanh diệt
(細生滅) Chỉ cho tướng sinh diệt nhỏ nhiệm của 3 loại Bất tương ứng nhiễm sau trong 6 tâm ô nhiễm, là 1 trong 2 thứ sinh diệt. Trong 6 tâm ô nhiễm được lập ra trong luận Đại thừa khởi tín thì 3 loại tâm ô nhiễm sau là: Hiện sắc bất tương ứng nhiễm, Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm và Căn bản nghiệp bất tương ứng nhiễm. Ba loại tâm ô nhiễm này là các Hoặc(phiền não) vi tế, không tương ứng với tâm vương, tâm sở; cũng không tương tức với tâm Như lai tạng, cho nên gọi là Bất tương ứng nhiễm. Vì tướng sinh diệt của 3 loại Bất tương ứng nhiễm này hiển hiện một cách rất vi tế, nên gọi là Tế sinh diệt.[X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần đầu]. (xt. Lục Nhiễm Tâm).
tế sắc
Refined appearance.
; Nét xinh xắn của nam nữ—Refined appearance.
; (細色) I. Tế Sắc. Nhan sắc mịn màng, trơn láng, xinh đẹp, phần nhiều chỉ cho nữ sắc. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 276 trung) nói: Liếc nhìn tế sắc, tâm tà nảy sinh. II. Tế Sắc. Đối lại: Thô sắc. Sự tinh diệu của sắc pháp. Theo luận Câu xá quyển 1, trong các loại sắc pháp thì 5 căn, 5 cảnh là pháp hữu đối, thuộc về sắc thô; còn Vô biểu sắc là pháp vô đối, thuộc về sắc vi tế. Các pháp hữu kiến hữu đối cũng thuộc về sắc thô, còn các pháp vô kiến vô đối thì thuộc về sắc vi tế. Cũng có thuyết cho rằng pháp vô kiến hữu đối là sắc thô, còn pháp vô kiến vô đối là sắc vi tế. Nếu so sánh giữa pháp cõi Dục và pháp cõi Sắc thì pháp cõi Dục thuộc về sắc thô, pháp cõi Sắc thuộc sắc vi tế. Ngoài ra, Đại chúng bộ cho rằng cõi Vô sắc tuy gọi là vô sắc nhưng thực ra thì vẫn có sắc chất cực kì nhỏ nhiệm.
tế sử trá
(際史咤) Phạm: Jyaiwỉha. Pàli:Jeỉỉha. Cũng gọi Thệ sắt tra, Nễ sắt tra. Hán dịch: Mạnh hạ. Chỉ cho tháng 3 theo lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch. (xt. Thập Nhị Nguyệt Danh, Thệ Sắt Tra).
tế thi
(蔽尸) Phạm:Pezì. Cũng gọi Bế thi, Bề thi, Bệ thi. Hán dịch: Nhục đoạn, Ngưng kết, Nhuyến cốt, Nhục đoàn. Chỉ cho giai đoạn thứ 3 trong 5 giai đoạn từ lúc thụ thai đến khi thai nhi thành hình. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 1, từ lúc thụ thai đến tuần lễ thứ 3, thai nhi kết tụ thành cục thịt(nhục đoàn) mềm nhũn, nếu là thai con trai thì có hình phía trên rộng, phía dưới hẹp; nếu là thai con gái thì có hình phía trên hẹp, phía dưới rộng. Ngoài ra, theo Du già lược toản quyển 1, người các nước Tây vực cũng gọi tiết lợn là Tế thi, vì 2 thứ giống nhau. [X. luận Câu xá Q.9; luận Tập dị môn túc Q.9].
tế thế
To save the world.
tế tâm
Carefully, in detail.
; Còn gọi là “Tiểu Tâm,” có nghĩa là cẩn thận—Carefully—In detail.
tế tông bát đại thế
(濟宗八大勢) Chỉ cho 8 cơ pháp vận tác tự do mà các Thiền sư tông Lâm tế sử dụng để dẫn dắt người học. Tám cơ pháp ấy là: 1. Thiên chân đại thế: Phương pháp thiên chân(tự nhiên), tự do tự tại, không tạo tác, không nhờ phương tiện. 2. Bí mật đại thế: Cơ pháp không dùng lời nói mà âm thầm vận dụng. 3. Bình thường đại thế: Cơ pháp chỉ dựa theo những việc làm bình thường hằng ngày để thấy suốt bản tính chân như của mọi người. 4. Trực thị đại thế: Cơ pháp không quanh co, trực tiếp dùng yếu chỉ Tức tâm là Phật để mở bày tâm Phật của đối phương. 5. Trình tự đại thế: Cơ pháp không nhờ ngôn ngữ văn tự mà trực tiếp dùng các vật bên mình như phất trần, nắm tay... để hiển bày đại đạo. 6. Thu phóng đại thế: Cơ pháp vận dụng tự như, tùy nắm tùy buông, tùy co, tùy duỗi để mở bày cho người học. 7. Quyền thiết đại thế: Cơ pháp phương tiện, quyền biến. 8. Tỉnh ngộ đại thế: Cơ pháp sử dụng phất trần, nắm tay, đánh, hét... khiến người học ngay đó mà khai ngộ.
tế tông tam khốc
(濟宗三哭) Chỉ cho 3 trường hợp trong đó người tu Thiền pháp kêu khóc do tông Lâm tế nêu bày. Đó là: 1. Hữu thất chính tông khốc: Khóc vì không thấu suốt được tông chỉ. 2. Tương phù chính tông khốc: Khóc do tu hành kết quả, khế ngộ, phù hợp với tông chỉ. 3. Hữu vi chính tông khốc: Khóc vì vấn đáp không đúng, trái với tông chỉ mà bậc thầy đã chỉ dạy. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng].
tế tông tam tiếu
(濟宗三笑) Ba trường hợp người tu Thiền pháp bật cười do tông Lâm tế nêu ra. Đó là: 1. Tương phù chính tông tiếu: Cười to khi cả 2 sư gia và người học khế hợp nhau. 2. Hữu thất chính tông tiếu: Khi người học trả lời trái với điều bậc thầy hỏi, thầy trò đều cười. 3. Ngộ thuận chính tông tiếu: Sau khi ngộ, người học được xác định là phù hợp với tông chỉ mà cười.
tế tông thất sự tùy thân
(濟宗七事隨身) Bảy năng lực tự tại của 1 Thiền sư ưu tú thuộc tông Lâm tế. Đó là: 1. Sát nhân đao: Dao giết người, tức năng lực cắt đứt tất cả những gì mà người học bị vướng mắc. 2. Hoạt nhân kiếm: Gươm cứu sống người, tức năng lực làm cho tất cả kiến giải của người học trở thành linh hoạt, sống động. 3. Cước đạp thực địa: Chân dẵm trên thực địa, tức tất cả hành vi đều khế hợp Phật đạo. 4. Hướng thượng quan lệ tử: Hướng tới chỗ then chốt, tức đạt được điểm tột cùng của tông chỉ hướng thượng. 5. Cách ngoại thuyết thoại: Nói năng vượt tầm thường, tức không suy nghĩ tính lường việc thế gian mà chỉ bàn về Phật đạo. 6. Nạp tăng ba tị: Nắm cái mũi của nạp tăng, tức năng lực mạnh mẽ, có cơ pháp sắc bén, có thể chuyển mê khai ngộ cho người học. 7. Thám can ảnh thảo: Huơ cây sào dưới bóng bè cỏ, tức có năng lực phân biệt rõ ràng sự chân ngụy. Thất sự tùy thân vốn chỉ cho 7 thứ vũ khí mà ông tướng ra trận phải có đủ bên mình để hộ vệ bản thân và công kích quân địch, đó là: Cung, tên, dao, kiếm, áo giáp, mũ sắt và cái mác. Thiền gia dùng 7 thứ trên để chỉ cho 7 việc mà bậc thầy phải có. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng].
tế tông tụng ngữ
(濟宗頌語) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hán nguyệt Pháp tạng soạn vào đời Minh, được thu vào phần Ngũ tông nguyên phụ lục trong Vạn tục tạng tập 114. Trong lời tựa Tiếu nham tập, ngài Tam tế Quảng thông thuộc tông Lâm tế đời Minh cho rằng từ Tào khê về sau, các chi phái phụ đều vọng xưng là chính tông, cho nên, muốn tìm về nguồn gốc, phải lập Tào khê làm chính phái. Do đó, ngài Pháp tạng mới soạn sách này để ấn chứng sự truyền thừa pháp mạch của tông Lâm tế và bác bỏ sự sai lầm của ngài Quảng thông. Trong sách có nêu những công án của các Thiền sư thuộc pháp mạch ngài Mã tổ như: Đại giác, Hưng hóa, Ngũ tổ, Viên ngộ, Đại tuệ..., mỗi công án có phụ thêm lời bình ngắn và tụng ngữ để nêu cao tông phong Lâm tế.
tế tông tứ sự tùy thân
(濟宗四事隨身) Chỉ cho 4 năng lực tự tại của vị Thiền sư ưu tú trong tông Lâm tế. Đó là: 1. Sát hoạt trụ trượng tử: Cây gậy giết người hoặc cứu sống người, tức là năng lực dẫn dắt người học một cách tự do tự tại. 2. Kim cương nhãn tình: Con mắt kim cương, tức năng lực phân biệt rõ ràng sự hơn kém của người học. 3. Sư tử trảo nha: Nanh vuốt của sư tử, tức năng lực vượt trội và cơ phong sắc bén. 4. Cước cân điểm địa: Gót chân bén đất, tức các uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm đều khế hợp Phật đạo. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng].
tế tông tứ đại thế
(濟宗四大勢) Chỉ cho 4 cơ dụng mà các Thiền sư tông Lâm tế dùng để tiếp hóa người học: 1. Chính lợi đại thế: Chỉ thẳng Phật pháp, không dùng phương tiện tiếp hóa quanh co. 2. Bình thường đại thế: Không dùng phương pháp tiếp hóa đặc biệt kì lạ. 3. Chân giả đại thế: Dùng lời nói tương phản để hiển bày chân thực. 4. Bản phận đại thế: Không dùng chi tiết ngành ngọn mà tiếp hóa từ phần gốc, tự nhiên đạt đến Phật đạo. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.thượng].
tế tư
(祭司) Chỉ cho người chuyên trách các việc cúng tế thần linh, trong giai đoạn hoạt động tông giáo nguyên thủy đã phát triển tương đối đến mức hoàn bị. Thông thường, Tế tư được xem là có chức năng làm môi giới giữa thần và người. Nghĩa là một mặt đại biểu cho người để dâng lễ vật cúng tế thần; mặt khác, đại diện thần truyền dụ cho người. Từ thời Trung cổ trở về trước, Tế tư thường là trọng thần của Quốcvương. Thời hiện đại, trong một số ít tông giáo vẫn còn duy trì chế độ Tế tư. Tại Ấn độ, người chủ trì việc tế tự trong Bà la môn giáo, được gọi là Tế quan.
tế tỉnh
(際醒) (1741-1810) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Thanh, là Tổ thứ 12 của Liên tông, người ở Phong nhuận, tỉnh Hà bắc, họ Mã, tự Triệt ngộ, Nột đường, hiệu Mộng đông. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, tinh thông kinh sử, năm 22 tuổi, nhân lâm bệnh mà sư thể ngộ được lẽ vô thường của kiếp người, bèn đến ngài Vinh trì ở am Tam thánh tại Hà bắc cầu xuất gia, năm sau thụ giới Cụ túc ở chùa Tụ vân. Sau đó, sư lần lượt tham yết ngài Long nhất chùa Hương giới, ngài Tuệ ngạn chùa Tăng thọ, ngài Biến không chùa Tâm hoa, ngài Túy như chùa Quảng đông... học tất cả yếu chỉ tính, tướng như: Viên giác, Pháp hoa, Lăng nghiêm, Kim cương, Duy thức... Sau, sư ngộ được Thiền chỉ và nối pháp ngài Túy như. Về sau, khi ngài Túy như dời đến trụ trì chùa Vạn thọ, sư kế nhiệm trụ trì chùa Quảng thông, xiển dương tông phong Thiền Tịnh Song Tu. Năm Gia khánh thứ 5 (1800), sư lui về ở ẩn tại chùa Tư phúc núi Hồng loa (tỉnh Liêu ninh), chuyên giảng thuyết Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, được người đời gọi là Hồng loa Triệt ngộ. Người được sư giáo hóa rất nhiều, khắp cả Bắc nam. N ă m G i a khánh 15 (1810), tháng Chạp, sư biết giờ lâm chung đã đến, liền nhóm chúng niệm Phật và thị tịch, thọ 70 tuổi, 49 tuổi đạo. Sư có các tác phẩm: Niệm Phật già đà, Triệt ngộ thiền sư ngữ lục. [X. Triệt ngộ thiền sư hành lược].
tế tỉnh đại sư
Chi-Sun—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Tế Tỉnh Đại Sư là vị Tổ thứ 12 của Tịnh Độ Tông Trung Hoa. Ngài tự là Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường, con nhà họ Mã ở huyện Phong Nhuận. Người đời nhà Thanh. Thuở còn bé, ngài đã thông thuộc kinh sử. Sau khi xuất gia, lại đi tham học các nơi, rộng suốt hai tông Tánh và Tướng. Chỗ sở đắc của ngài là môn Thập Thừa Tam Quán của Kinh Pháp Hoa. Kế đó, ngài lại tham phỏng với Thiền Sư Tụy Như Thuần ở Quảng Thông, tỏ ngộ thấu suốt, được đắc truyền “Tâm Pháp Ấn.” Sau khi Thuần Sư về an dưỡng nơi chùa Vạn Thọ, thì ngài lên kế nhiệm ở Quảng Thông, sách tiến hàng hậu lai tu học, tông phong rất thạnh. Bình nhựt, ngài thường bảo rằng: “Ngài Vĩnh Minh nguyên là bậc Tông Tượng trong chốn Thiền Môn mà còn quy tầm về Tịnh Độ thay. Huống chi nay là thời kỳ mạt pháp, chúng ta lại càng phải nên tuân theo hơn nữa.” Do đó nên ngài chuyên tu tịnh nghiệp, chủ trương liên tông. Mỗi ngày đại sư hạn chế thời gian dạy chúng hoặc tiếp khách nội trong khoảng một cây hương mà thôi, ngoài ra chỉ chuyên tâm niệm Phật. Đại sư thường dạy rằng: “Thật vì Sanh Tử, Phát lòng Bồ Đề. Dùng Tín, Nguyện sâu, Trì danh hiệu Phật.” Mười sáu chữ nầy chính là cương tông của pháp môn Tịnh Độ vậy. Niên hiệu Gia Khánh thứ 15, vào tháng hai, đại sư dự biết trước ngày lâm chung chẳng còn bao xa, nên đi từ giả những người ngoại hộ (những người lo việc cơm nước cho chư Tăng) mà căn dặn rằng: “Duyên hư huyễn chẳng bền lâu, giờ sống thừa nên hối tiếc. Các vị nên cố gắng niệm Phật, ắt ngày kia sẽ cùng gặp nhau nơi cõi Liên Bang. Đến ngày mồng hai tháng chạp, đại sư cảm chút bệnh nhẹ. Khi ngài đang ngồi chí tâm niệm Phật, bỗng thấy có vô số tràng phan, bảo cái từ phương Tây bay tới, liền nhìn các môn đồ mà nói rằng: “Cảnh Tịnh Độ đã hiện, ta sắp về cõi Tây Phương.” Nói xong bảo đại chúng luân phiên nhau trợ niệm. Sang ngày 17, vào giờ Thân, ngài nói với đại chúng rằng: “Hôm qua tôi thấy ba vị Đại Sĩ Văn Thù, Quán Âm, và Thế Chí Bồ Tát quang lâm đến. Hiện giờ lại được Đức Phật tự thân tiếp dẫn nữa. Tôi đi đây!” Đại chúng nghe nói niệm Phật càng thêm chí thiết. Đại sư ngồi thẳng, chắp tay hướng về Tây, bảo: “Xưng một câu hồng danh, thấy một phần tướng hảo.” Dứt lời, ngài kiết ấn mà thị tịch. Lúc ấy tất cả đại chúng đều nghe được mùi hương lạ ngạt ngào, bay tỏa khắp nơi. Quan tài của ngài để hở nấp bảy ngày mà dung sắc vẫn tươi y như lúc sống. Lúc trà tỳ, được hơn 100 hạt xá lợi màu sắc sáng chói lóng lánh. Đại sư hưởng thọ 70 tuổi, Tăng lạp 49—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Master Chi-Sun was the twelfth Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His self-given name was Ch'e-Wu with Dharma name Nạp Đường. His family name was Mã from Phong Nhuận district. He lived during the Ch'ing Dynasty. From childhood he already mastered the sutra teachings. After being ordained as a Bhiksu, he traveled abroad to learn more about Buddhism and broadly learned both schools of Theory and Practice. The Dharma Door he penetrated most deeply was the “Ten Vehicles and the Three Ways of Spiritual Penetration” taught in the Dharma Flower Sutra. Next, he studied with Zen Master Tụy Như Thuần in the Quang Thông region. He became awakened and attained enlightenment as he received approval from his master for fully grasping the essence of this particular Zen Tradition. Therefore, after Master Thuần retired to the Ten-Thousand Life Temple, he assumed the headmaster position to guide Buddhists of the future generations to learn and to cultivate Buddhism. Under his direction, this Zen tradition flourished. Each day the Great Master often said: "Originally Great Master Yung-Ming, the Sixth Patriarch of Chinese Pureland Buddhism, was a highly important figure in Zen Buddhism and yet, eventually, he turned to Pureland. In this Dharma Ending Age, it has become even more necessary for us to follow this path. Thus, he began to focus on cultivating pure karma mainly practicing the Lotus School Pureland Buddhism. Each day he limited the amount of time he taught his disciples or visited with guests to approximately the time it takes for an incense stick to burn. Otherwise, he focused his time to practice Buddha Recitation. He often taught: “Because of Life-Death, Develop the Bodhi Mind, Use Faith, deep Vow, Maintain Reciting Buddha's Name.” These sixteen words define the essence of the Pureland Dharma Door. During February of the fifteenth year of the Gia Khánh reign period, he realized the day of his death was near. He went and bade farewell to all those who had supported him on his cultivated path advising them: “Life's destinies are like illusions and so fleeting. Treasure the time you have left and give your best efforts to practice Buddha Recitation; perhaps one day we will meet again in the Lotus Pureland.” Then on December 12th of that year, he came down with a minor illness. As he sat in single-minded Buddha Recitation, he suddenly saw infinite numbers of long flowing flags and heavenly parasols from the West flying toward him; he looked at his disciples and said: “The Pureland Realm has appeared, I will soon go West.” He then told the great assembly to aid his Buddha Recitation by joining him in recitation. During the monkey hours of the seventeenth, he said to the great assembly: “Yesterday I was visited the three Greatly Enlightened Majusri, Avalokitesvara, and Mahasthamaprapta Maha-Bodhisattvas. Currently Buddha has appeared to rescue and deliver me. I am leaving now. ” Hearing this, the great assembly recited Buddha's name more sincerely and wholeheartedly. He put his palms together to face the West, then said: “With each virtuous name chanted, a Buddha glorious image will be seen.” After speaking, he immediately entered a deep samadhi state and passed away. At that time, the great assembly sensed an extraordinary incense lingering in the air throughout the area. The Great Master was placed in an open casket for seven days but his appearance remained fresh as if he were still alive. After he was cremated, he left behind 100 Caris with radiant colors reflecting clearly. The Great Master was 70 years old with a Dharma Age of 49.
tế tứ tướng
Bốn tướng vi tế sanh trụ dị diệt—The four finite states-See Tứ Tướng.
tế văn
Văn tế đọc và đốt tại đám ma—The prayer or statement read and burnt at a funeral.
; (祭文) Cũng gọi Trai văn. Bài văn được đọc lúc cúng tế thần linh, phúng điếu người chết, hoặc đọc trong lễ cầu mưa, hay xua đuổi tà mị, cầu bình an hạnh phúc... Trong Thiền lâm, Tế văn do vị Tang tư thư kí soạn. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].
Tế Xuyên Thắng Nguyên
(細川勝元, Hosokawa Katsumoto, 1430-1473): vị Võ Tướng sống dưới thời đại Thất Đinh; tên lúc nhỏ là Thông Minh Hoàn (聰明丸); biệt danh là Lục Lang (六郎); giới danh là Long An Tự Điện Tông Bảo Nhân Vinh Đại Cư Sĩ (龍安寺殿宗寶仁榮大居士); thân phụ là Tế Xuyên Trì Chi (細川持之, Hosokawa Mochiyuki). Ông đã trải qua ba lần làm quan Quản Lãnh, là người thừa kế của Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政, Ashikaga Yoshimasa). Ông chính là người đã tạo ra các cuộc phân tranh giữa dòng họ Cối Sơn (畠山, Hatakeyama) và dấy lên vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂). Với tư cách là vị Chủ Tướng của Đông Quân, ông đấu tranh Sơn Danh Tông Toàn (山名宗全, Yamana Sōzen) ở phía Tây. Chính ông là người đã sáng kiến ra Long An Tự (龍安寺, Ryūan-ji).
Tế Xuyên Thắng Ích
(細川勝益, Hosokawa Katsumasu, ?-1502): vị Võ Tướng sống trong khoảng thời gian từ thời đại Thất Đinh đến Chiến Quốc; thông xưng là Tam Lang (三郎); con của Tế Xuyên Trì Ích (細川持益, Hosokawa Mochimasu). Vào năm 1288 (Ứng Nhân [應仁] nguyên niên), ông kế thừa chức quan Thủ Hộ vùng Thổ Tá(土佐, Tosa), rồi làm quan đại diện cho Tế Xuyên Thắng Nguyên (細川勝元, Hosokawa Katsumoto) và dần dần mở rộng thế lực của ông. Đến năm 1501 (Văn Quy [文龜] nguyên niên), để cầu nguyện cho ông cố Tế Xuyên Lại Ích (細川頼益, Hosokawa Yorimasu) siêu độ, ông phát tâm cúng dường trang viên để kiến lập Thọ Xương Tự (桂昌寺).
Tế Xuyên Trì Chi
(細川持之, Hosokawa Mochiyuki, 1400-1442): Võ Tướng và là quan Thủ Hộ Đại Danh dưới thời đại Thất Đinh; tên lúc nhỏ là Di Cửu Lang (彌九郎); thân phụ là Tế Xuyên Mãn Nguyên (細川滿元, Hosokawa Mitsumoto). Ông làm các chức quan như Trung Vụ Thiếu Phụ (中務少輔), Hữu Kinh Đại Phu (右京大夫); và thủ hộ các tiểu quốc Nhiếp Tân (攝津, Settsu), Đơn Ba (丹波, Tamba), Tán Kì (讚岐, Sanuki), Tá Độ (佐渡, Sado). Sau vụ thảo phạt dòng họ Xích Tùng (赤松, Akamatsu), ông từ chức Quản Lãnh và xuất gia và qua đời ở độ tuổi 42.
Tế xúc dục
xem Ba sự ham muốn.
tế ý thức
The vijnàna of detailed, unintermitting attention.
; Ý thức vi tế, còn gọi là tế tâm, tức là nhận thức vi tế về sự sống chết, tiếp nối nhau không đứt đoạn (theo Luận Thành Duy Thức, về chuyện sống chết, Hữu Dư Bộ có nhận thức vi tế, hành tướng nương theo nhau, không thể làm đứt đoạn được, đây là thức thứ tám)—The vijnana of detailed, unintermitting attention.
; (細意識) Phạm: Zùkwma-mano-vijĩàna. Cũng gọi Tế tâm. Chỉ cho tâm thức nhỏ nhiệm. Thượng tọa bộ chủ trương từ vô thủy đến nay, tâm thức này vẫn giữ trạng thái đồng nhất, liên tục không gián đoạn. Còn Kinh lượng bộ thì gọi nó là Nhất vị uẩn. Phổ thông cho rằng tâm thức này là chủ thể luân hồi của con người, mở đường cho tư tưởng A lại da của tông Duy thức. Lại như Căn bản thức của Căn bản Đại chúng bộ, Cùng sinh tử uẩn của Hóa địa bộ, Quả báo thức của Chính lượng bộ, Hữu phần thức của Thượng tọa bộ... đều là chỉ cho Tế ý thức. Ngoài ra, các phái như: Thí dụ giả, Phân biệt luận sư cho rằng trong định Vô tâm có Tế tâm tương tục bất diệt. Chủ trương này cũng giống như thuyết Tế ý thức. [X. luận Đại tì bà sa Q.152; luận Thành duy thức Q.3, Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần đầu; Dị bộ tông luân luận sớ thuật kí].
tế đàn
Altar.
Tế độ
濟度; C: jì dù; J: saido;|»Cứu giúp và độ thoát«. Dẫn dắt chúng sinh mê muội đến nơi tự do giải thoát. Đưa chúng sinh vượt biển khổ đến bờ giải thoát »bên kia«. Sự cứu độ.
tế độ
To ferry the living across the sea of reincarnation to the shore of nirvàna; to save sinners from the sea of misery.
; 1) Giúp đỡ: To aid—To help—To relieve. 2) Đưa chúng sanh qua biển luân hồi sanh tử để sang bờ Niết Bàn bên kia: To ferry the livings across the sea of reincarnation to the shore of nirvana.
; (濟度) Cứu độ quần mê từ trong biển khổ sinh tử đến bờ giải thoát. Tức là giáo hóa dắt dẫn chúng sinh mê vọng chứng vào cảnh giới giác ngộ. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].
tế độ phương tiện
(濟度方便) Phương tiện nghĩa là phương pháp tiện lợi, thích hợp. Tức nhà Phật dùng những phương pháp khéo léo, quyền biến để cứu độ chúng sinh.
Tế độ 濟度
[ja] サイド saido ||| "Aid and liberate." To guide deluded sentient beings to their emancipation in the enlightened condition. To ferry sentient beings across the sea of suffering to the "other shore." Salvation. => 'Cứu giúp và độ thoát'. Dẫn dắt chúng sinh mê muội đến nơi tự do giải thoát. Đưa chúng sinh vượt biển khổ đến bờ giải thoát 'bên kia'. Sự cứu độ.
Tế 濟
1. Qua sông, cứu tế. 2, Chỗ cạn, nơi có thể vượt qua được. 3. Giúp đỡ, cứu giúp. 4. Làm xong, hoàn thành. 5. Gia tăng.
Tế 祭
[ja] サイ sai ||| (1) To sacrifice or make offerings to one's ancestors. (2) A festival; to participate in a festival. => 1. Lễ hiến cúng, dâng cúng tổ tiên. 2. Lễ cúng; tham dự lễ hiến cúng.
tết nguyên đán
Lunar New Year.
Tết Trung Thu
(中秋節): đây là ngày Tết truyền thống của nhân dân các nước Đông Á, vốn khởi nguồn từ Trung Quốc, nhằm vào ngày rằm tháng 8 Âm Lịch hằng năm. Theo Âm Lịch Trung Quốc, tháng Tám là tháng thứ hai của mùa Thu; xưa kia gọi là Trọng Thu (仲秋); sau này dân gian gọi là Trung Thu (中秋), Thu Tịch (秋夕), Bát Nguyệt Tiết (八月節), Bát Nguyệt Bán (八月半), Nguyệt Tịch (月夕), Nguyệt Tiết (月節). Hơn nữa, do vì vào lúc này mặt trăng tròn đầy, tượng trưng cho sự đoàn viên, nên có tên là Đoàn Viên Tiết (團圓節). Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, các nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v., cũng xem Tết Trung Thu như là ngày Tết truyền thống của quốc gia. Từ ngữ “Trung Thu” được tìm thấy sớm nhất trong các thư tịch Chu Lễ (周禮), Lễ Ký (禮記), v.v. Như trong chương Nguyệt Lịnh (月令) của Lễ Ký có ghi rằng: “Trung Thu chi nguyệt dưỡng suy lão, hành mi chúc ẩm thực (仲秋之月養衰老、行糜粥飲食, tháng của giữa Thu dưỡng tuổi già, nấu cháu kê mà ăn uống).” Từ thời nhà Đường (唐, 618-907) trở về sau, Tết Trung Thu trở thành ngày Têt cố định. Truyền thuyết cho rằng vua Đường Huyền Tông Lý Long Cơ (唐玄宗李隆基, tại vị 658-762) mộng thấy đi chơi trên cung trăng, thưởng thức nhạc trời gọi là Nghê Thường Vũ Y Khúc (霓裳羽衣曲), từ đó dân gian bắt đầu thịnh hành tập tục Tết Trung Thu. Thông thường, người ta vẫn cho rằng lễ Tết này bắt đầu thịnh hành dưới thời nhà Tống (宋, 960-1279). Đến cuối thời nhà Nguyên (元, 1271-1368), khi khởi binh, Chu Nguyên Chương (朱元璋, tại vị 1368-1398) có bí mật lấy bánh Trung Thu làm tín hiệu “bát nguyệt thập ngũ nhật sát Thát Tử (八月十五日殺韃子, ngày Rằm tháng Tám giết quân Mông Cổ)”; cho nên vào năm 1368 (Hồng Võ [洪武] nguyên niên), Chu Nguyên Chương cho lấy bánh Trung Thu làm bánh ngọt thiết đãi quần thần. Vào thời nhà Minh (明, 1368-1644) và Thanh (清, 1616-1636), Tết Trung Thu đã trở thành một trong những ngày Tết truyền thống lớn nhất của Trung Quốc. Bộ Chánh Đức Giang Ninh Huyện Chí (正德江寧縣誌) có ghi lại rằng vào đêm Trung Thu, người dân Nam Kinh thường thưởng thức trăng Thu, cả nhà cùng nhau ngắm trăng được gọi là khánh đoàn viên (慶團圓), ngồi quanh quần ăn uống vui vẻ gọi là viên nguyệt (圓月), ra ngoài đi chơi các phố phường gọi là tẩu nguyệt (走月). Một trong những truyền thuyết nổi tiếng về nguồn gốc của Tết Trung Thu là Thường Nga Bôn Nguyệt (嫦娥奔月, Thường Nga [Hằng Nga] đùa giỡn với trăng). Tương truyền từ thời cổ đại xa xưa, anh hùng bắn mặt trời là Hậu Nghệ (后羿) cưới Hằng Nga làm vợ, trở thành đế vương, thường thi hành chính sách hung bạo, ác độc. Có một hôm nọ, Hậu Nghệ xin được một bao thuốc trường sinh bất tử từ tay Tây Vương Mẫu (西王母). Hậu Nghệ mang thuốc về nhà và cất vào trong một cái hộp. Hằng Nga biết được, sợ rằng sau khi uống thuốc này vào thì Hậu Nghệ sẽ trở thành trường sinh bất tử, làm cho muôn dân càng thống khổ hơn, bèn lấy toàn bộ thuốc ấy uống sạch, sau đó biến thành tiên nữ, bay lên trên cung trăng. Bá tánh sau khi biết Hằng Nga thành tiên bay lên cung trăng rồi, thiết bàn hương án dưới mặt trăng, cầu xin tiên nữ ban cho bình an, cát tường. Vì vậy có phong tục lạy mặt trăng vào dịp Tết Trung Thu. Mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều có những tập tục trong dịp Tết Trung Thu. Tại Trung Hoa, có một số phong tục chính như ngắm trăng Trung Thu, ăn Bánh Trung Thu, treo hay rước lồng đèn, đốt tháp đồ mã, v.v. Tập tục ngắm trăng được xem như là một trong những hoạt động truyền thống vào dịp này. Trong Lễ Ký có từ “Thu mộ tịch nguyệt (秋暮夕月)”, ý là bái tế Thần Mặt Trăng; vào lúc này thì thiết hương án để nghinh đón mùa lạnh và tế mặt trăng. Như trong Đông Kinh Mộng Hoa Lục (東京夢華錄) có ghi rằng: “Trung Thu dạ, quý gia kết sức đài tạ, dân gian tranh chiếm tửu lâu ngoạn nguyệt (中秋夜、貴家結飾台榭、民間爭占酒樓玩月, vào đêm Trung Thu, nhà cao sang thì trang trí đài cao, dân gian thì tranh nhau chiếm quán rượu để ngắm trăng).” Về Bánh Trung Thu, dân gian Trung Quốc có câu rằng: “Bát nguyệt thập ngũ nhật chánh viên, Trung Thu nguyệt bính hương hựu điềm (八月十五日正圓、中秋月餅香又甜, ngày Rằm tháng Tám trăng thật tròn, ăn bánh Trung Thu hương ngọt thơm).” Trong Mộng Lương Lục (夢梁錄) của Ngô Tự Mai (吳自牧, ?-?) nhà Nam Tống cho biết rằng Bánh Trung Thu đương thời là một loại thực phẩm điểm tâm. Sau này, loại bánh này được đem dùng ăn ngắm trăng và đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào dịp lễ hội này. Đồng thời, Bánh Trung Thu cũng là lễ vật để liên lạc cảm tình giữa bằng hữu với nhau trong dịp Tết Trung Thu. Ngoài các loại bánh thông thường ra, tại Triết Giang (江浙) còn có Bánh Trung Thu Thịt Tươi (鮮肉月餅, Tiên Nhục Nguyệt Bính). Riêng tập quán đốt tháp vàng mã rất thịnh hành ở các vùng nông thôn của Phúc Kiến (福建), Giang Tây (江西), Quảng Đông (廣東), Quảng Tây (廣西), v.v. Thân của tháp được kết thành bởi những miếng gạch vỡ vụn, thân cây, cỏ bện; hình tròn, trên nhỏ dưới to, bên trong rỗng. Tại bán đảo Triều Tiên, lễ hội này được gọi là Thu Tịch (秋夕), Trọng Thu Tiết (仲秋節), Gia Bài (嘉俳), Trọng Thu (仲秋), Gia Bài Nhật (嘉俳日), Trọng Thu Giai Tiết (仲秋佳節). Nhân ngày này, người dân ở đây có phong tục thường đi tảo mộ, lấy các loại sản phẩm thu hoạch được để cúng tế tổ tiên, trở về quê thăm người thân, v.v. Đối với Nhật Bản, Tết Trung Thu được gọi là Thập Ngũ Dạ (十五夜, jūgoya), Trung Thu Danh Nguyệt (中秋の名月, chūshū-no-meigetsu), Vu Danh Nguyệt (芋の名月, imo-no-meigetsu). Người Nhật cũng có phong tục ngắm trăng gọi là nguyệt kiến (月見, tsukimi) và ăn loại bánh gọi là tsukimidango (月見團子, nguyệt kiến đoàn tử). Đặc biệt đối với Việt Nam, Tết Trung Thu đã trở thành ngày Tết long trọng của trẻ em, còn được gọi là Tết Trông Trăng hay Tết Thiếu Nhi, Tết Nhi Đồng. Trẻ em Việt Nam rất mong đợi được đón Tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước, v.v., rồi các thứ bánh như bánh nướng, bánh dẻo. Ở một số nơi, người ta còn tổ chức Múa Lân, Múa Sư Tử, Múa Rồng để các em vui chơi thỏa thích. Thi sĩ Tản Đà (傘沱, 1889-1939) có làm bài thơ về Trung Thu rằng: “Có bầu có bạn can chi tủi, cùng gió cùng mây thế mới vui, rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám, tựa nhau trông xuống thế gian cười.” Hay trong bài hát Rước Đèn Tháng Tám có câu như: “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường, lòng vui sướng với đèn trong tay, em múa ca trong ánh trăng rằm, đèn ông sao với đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn bướm bướm, em rước đèn này đến cung trăng, đèn xanh lơ với đèn tím tím, đèn xanh lam với đèn trắng trắng, trong ánh đèn rực rỡ muôn màu.” Tết Trung Thu là một đề tài vô cùng phong phú cho các thi hào, văn sĩ. Như trong bài Thu Tiêu Nguyệt Hạ Hữu Hoài (秋宵月下有懷) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Thu không minh nguyệt huyền, quang thái lộ triêm thấp, kinh thước thê vị định, phi oanh quyển liêm nhập (秋空明月懸、光彩露沾濕、驚鵲棲未定、飛螢捲簾入, trời Thu trăng sáng tỏ, rực rỡ sương thấm ướt, chim khách không bến đậu, đóm bay cuộn rèm thưa).” Thi nhân Trương Cửu Linh (張九齡, 678-740) nhà Đường lại diển tả một sắc thái khác qua bài Vọng Nguyệt Hoài Viễn (望月懷遠): “Hải thượng sanh minh nguyệt, thiên nhai cọng thử thời, tình nhân oán dao dạ, cánh tịch khởi tương tư (海上生明月、天涯共此時、情人怨遙夜、竟夕起相思, trên biển vừng trăng sáng, bờ trời cùng lúc này, tình nhân đêm não nuột, trọn buổi ôm tương tư).” Trong bài Bát Nguyệt Thập Ngũ Nhật Dạ Bồn Đình Vọng Nguyệt (八月十五日夜湓亭望月), thi hào Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường đã gởi gắm cả nỗi niềm hoài vọng của ông rằng: “Tích niên bát nguyệt thập ngũ dạ, Khúc Giang trì bạn hạnh viên biên, kim niên bát nguyệt thập ngũ dạ, Bồn phố sa đầu thủy quán tiền, Tây Bắc vọng hương hà xứ thị, Đông Nam kiến nguyệt kỷ hồi viên, tạc phong nhất xuy vô nhân hội, kim dạ thanh quang tợ vãng niên (昔年八月十五夜、曲江池畔杏園邊、今年八月十五夜、湓浦沙頭水館前、西北望鄉何處是、東南見月幾回圓、昨風一吹無人會、今夜清光似往年, năm xưa đêm Rằm tháng Tám ấy, cạnh hồ Khúc Giang vườn mơ thơm, năm nay đêm Rằm tháng Tám đến, sông Bồn bãi cát quán nước còn, Tây Bắc trông quê nào chốn nhỉ, Đông Nam trăng ngắm mấy lần tròn, gió thổi hôm qua đâu ai gặp, đêm nay sáng tỏ tợ năm nào).” Vương Kiến (王建, ?-?), thi nhân nhà Đường, cũng chia xẻ cùng nỗi niềm qua bài Thập Ngũ Dạ Vọng Nguyệt (十五夜望月): “Trung đình địa bạch thọ thê nha, lãnh lộ vô thanh thấp quế hoa, kim dạ nguyệt minh nhân tận vọng, bất tri Thu tư lạc thùy gia (中庭地白樹棲鴉、冷露無聲濕桂花、今夜月明人盡望、不知秋思落誰家, giữa sân nền sáng quạ trên xa, sương lạnh im lìm ướt quế hoa, đêm nay trăng tỏ người ngắm trọn, nào hay Thu niệm rụng ai nhà).” Trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 30 có đoạn rằng: “Phỉ tấn phỉ tu siêu Thập Địa, vô văn vô đắc việt Tam Kỳ, Trung Thu ngọc thố đoàn đoàn thạnh, bán dạ khuê đồng toàn toàn khuy, nhập hải ba tư tham bất dĩ, nghĩ tương từ khí hoán Ma Ni (匪進匪修超十地、無聞無得越三祇、中秋玉兔團團盛、半夜圭桐旋旋虧、入海波斯貪不已、擬將瓷器換摩尼, chẳng tiến chẳng tu qua Mười Địa, không nghe không chứng vượt Ba Kỳ, Trung Thu trăng sáng tròn vành vạnh, đêm nửa ngô đồng gió vút vi, vào biển sóng cồn tham chẳng dứt, nghĩ đem đồ sứ đổi Ma Ni).” Hay trong Hoàn Khê Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (環溪惟一禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1388) quyển Thượng lại có câu: “Kiểu khiết Trung Thu nguyệt, thanh quang xứ xứ đồng (皎潔中秋月、清光處處同, sáng rực Trung Thu nguyệt, trong vắt chốn chốn cùng).”
tề
1) Bằng phẳng: Even—Level. 2) Cùng một lúc: At the same time. 3) Hoàn toàn: Complete—Perfect. 4) Nhất tề: giống nhau—Uniform—Alike—Altogether. 5) Tỉnh lặng: To tranquilize—To equalize.
tề an thiền sư
Zen master Qi-An—Thiền sư Tề An sanh năm 750 tại Hải Môn, đệ tử của Thiền sư Mã Tổ—Zen master Xi-An was born in 750 in Hai-Men, was a disciple of Ma-Tsu. • Có vị Tăng đến hỏi: “Thế nào là bổn thân Phật Tỳ Lô Giá Na?” Sư bảo: “Đem cái bình đồng kia đến cho ta.” Vị Tăng liền lấy tịnh bình đem lại. Sư bảo: “Đem để lại chỗ cũ.” Vị Tăng đem bình để lại chỗ cũ rồi, bèn hỏi lại câu trước. Sư bảo: Phật xưa đã quá khứ lâu rồi.”—A monk asked: “What is the true body of Vairocan Buddha?” Qi-An said: “Bring me that pitcher of pure water.” The monk brought him the pitcher. Qi-An then said: “Now put it back where it was before.” The monk returned the bottle to its former position. The he asked his previous question again. Qi-An said: "The ancient Buddhas are long gone.” • Có vị giảng sư đến tham vấn. Sư hỏi: “Tọa chủ chứa chất sự nghiệp gì?” Giảng sư đáp: “Giảng Kinh Hoa Nghiêm.” Sư hỏi: “Có mấy thứ pháp giới?” Vị giảng sư nói: “Nói rộng thì có thứ lớp không cùng, nói lược có bốn thứ pháp giới.” Sư dựng đứng cây phất tử , hỏi: “Cái nầy là pháp giới thứ mấy?” Giảng sư trầm ngâm lựa lời để đáp: “Sư bảo: “Suy mà biết, nghĩ mà hiểu là kế sống nhà quỷ, ngọn đèn cõi dưới trời quả nhiên mất chiếu.”—A scholar monk came to visit Zen Master Qi-An. Qi-An asked him: “What do you do?” The monk said: “I expound the Flower Garland Sutra.” Qi-An said: “How many different Dharma realms. But they can be reduced to four types.” Qi-An held his whisk upright and said: “What type of Dharma realm is this?” The monk sank into reflection. Qi-An said: “Knowing by thinking, resolving through consideration, these are the startegies of a devil house. A single lamp, when it's put beneath the sun, it really isn't bright.” • Sư gọi thị giả: “Đem cái quạt tê ngưu lại đây.” Thị giả thưa: “Rách rồi.” Sư nói: “Nếu quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta!” Thị giả không đáp được. Đầu Tử trả lời dùm thị giả nói: “Con không ngại đem con tê lại cho sư, nhưng con e rằng nó chưa mọc đủ sừng.”—Qi-An called to his attendant, saying: “Bring me the rhinoceros fan.” The attendant said: “It's broken.” Qi-An said: “If the fan is broken, then bring me the rhinoceros.” The attendant didn't answer. T'ou-Tzi answered on behalf of the attendant, saying: “I don't mind to bring the rhinoceros, but I'm afraid that he doesn't have all his horns. • Thiền sư Pháp Không đến thưa hỏi những nghĩa lý trong kinh, mỗi mỗi sư đều đáp xong. Sư bèn bảo: “Từ Thiền Sư lại đến giờ, bần đạo thảy đều không được làm chủ nhơn.” Pháp Không thưa: “Thỉnh Hòa Thượng làm chủ nhơn lại.” Sư bảo: “Ngày nay tối rồi hãy về chỗ cũ nghỉ ngơi, đợi sáng mai sẽ đến.” Sáng sớm hôm sau, sư sai sa Di đi mời Thiền sư Pháp Không. Pháp Không đến, sư nhìn Sa Di bảo: “Bậy! Ông sa Di nầy không hiểu việc, dạy mời Thiền sư Pháp Không, lại mời cái người giữ nhà đến.” Pháp Không chẳng đáp được—A Zen master named Fa-Kong came to visit Qi-An and inquired about some ideas expressed in the Buddhist sutras. Qi-An answered each question in turn. When they had finished, Qi-An said: “Since the master arrived here, I haven't been able to play the host.” Fa-Kong said: “I invite the master to take the role of host.” Qi-An said: “It's late today, so let's go back to our quarters and take a rest. Tomorrow come here again.” Fa-Kong then went back to his room. The next morning, Qi-An sent a novice monk to invite Fa-Kong for another meeting. When Fa-Kong arrived, Qi-An looked at the novice monk and said: “Aiee! This novice can't do anything! I told him to go get Zen master Fa-Kong. Instead he went and got this temple maintenance man!” Fa-Kong was speechless. • Viện chủ Pháp Hân đến tham vấn. Sư hỏi: “Ông là ai?” Pháp Hân đáp: “Pháp Hân.” Sư nói: “Tôi không biết ông.” Pháp Hân không đáp được—The temple director named Fa-Xin, came to see Qi-An (when he was ill). Qi-An said: “Who are you?” The temple director said: “Fa-Xin.” Qi-An said: “I don't know you.” Fa-Xin couldn't respond. • Sau sư bệnh, ngồi an nhiên thị tịch. Vua ban hiệu “Ngộ Không Thiền Sư”—Later, the master became ill and he calmly passed away in 839. He received the posthumous title “Zen Master Enlightened Emptiness.”
tề chỉnh
Neatly attired.
tề duyên thân
See Tề Nghiệp Thân.
; (齊緣身) Đối lại: Tề nghiệp thân. Chỉ cho thân Phật nhập diệt khi duyên đã hết. Tháp chùa Tây vực Thông giáo của tông Thiên thai cho rằng thân Tề duyên là thân huyễn hóa, là không chứ chẳng phải thật, nếu cơ duyên giáo hóa chúng sinh đã hết thì thân này liền ẩn, khi có cơ duyên thì lại thị hiện độ sinh. Trái lại, Tạng giáo thì chủ trương thân Phật là do nghiệp lực quá khứ biểu hiện, nên phải đợi hết nghiệp mới vào Niết bàn, thân Phật này được gọi là Tề nghiệp thân. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.7 hạ].
tề kỷ
(齊己) Thiền sư thi sĩ Trung quốc sống vào cuối đờiĐường đầu đời Ngũ đại, người ở Ích dương, tỉnh Hồ nam, họ Hồ, hiệu là Hoành nhạc sa môn. Thủa nhỏ, sư xuất gia ở chùa Đồng khánh núi Qui sơn, học tập luật nghi, tính thích ngâm vịnh, không cầu danh lợi. Sau, sư vào cửa ngài Khánh chư ở núi Thạch sương tại Đàm châu, trông coi việc tăng. Niên hiệu Long đức năm đầu (921), vua Trang tông nhà Hậu Đường thỉnh sư làm chức Tăng chính, sư làm 15 bài thơ Chử cung mạc vấn (được thu vào Bạch liên tập quyển 5) để bày tỏ ý chí của mình. Sư ưa thích núi sông, không muốn gần bậc Vương hầu, thường xướng họa với ẩn sĩ Trịnh cốc núi Hoa sơn. Có lần Trịnh cốc đổi chữ Sổ chi khai trong bài thơ Tảo mai của sư thành chữ Nhất chi khai, sư rất thán phục và bái tạ, người đờibèngọi Trịnh cốc là Nhất tự sư. Thơ của sư có khí điệu thanh đạm, được đặt ngang hàng với ngài Quán hưu bậc thi tăng đàn anh nổi tiếng lúc đương thời. Sư và ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch từng trụ ở viện Quán âm tại Dự chương. Thơ sư làm về sau được Tôn quang biến thu chép thành Bạch liên tập 10 quyển. Có một số bài như Chúc sớ, Lăng vân phong Vĩnh xương thiền viện kí được thu vào Toàn đường văn quyển 921. Cứ theo Thích thị nghi niên lục quyển 5 thì sư thị tịch vào khoảng cuối năm Trường hưng (930-933) đời Hậu Đường, thọ hơn 70 tuổi. [X. Tống cao tăng truyện Q.30; Thích thị kê cổ lược Q.3; Thông chí lược Q.22; Đại thanh nhất thống chí Q.369].
tề nghiệp thân
1) Thân cuối cùng khi đã chấm dứt hết mọi tiền nghiệp: The final body which brings to an end all former karma. 2) Thân Phật đã rũ sạch tiền nghiệp và nhập niết bàn: The final body or the body of a Buddha which brings to an end all former karma before entering nirvana.
; (齊業身) Đối lại: Tề duyên thân. Chỉ cho thân Phật nhập diệt khi nghiệp đời trước đã hết. Theo giáo lí Tam tạng giáo của tông Thiên thai thì tất cả muôn vật đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh, vốn không có thực ngã, chỉ do nghiệp phiền não của đời trước mà hiển hiện; thân Phật cũng do túc nghiệp mà cảm được, phải đợi khi nghiệp báo đời trước hết mới vào Niết bàn. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.7 hạ]. (xt. Tề Duyên Thân).
tề thuyết tề văn
Nói và nghe cùng một lúc—Speaking and hearing together, or at the same time.
; (齊說齊聞) Đồng nghĩa: Câu tuyên câu thính. Đều nói đều nghe. Thực Đại thừa chủ trương 1 sắc 1 hương đều là trung đạo, như nói màu núi là pháp thân thanh tịnh, tiếng suối là tướng lưỡi rộng dài, vạn hữu đều nói đều nghe pháp thực tướng mầu nhiệm, cũng chính là hiển bày ý nghĩa pháp thân nói và nghe. Sự mầu nhiệm của cảnh giới này không thể tìm cầu bằng lời nói, tư tưởng, không thể dùng trí hiểu biết của phàm tình mà tính lường được. Đó là pháp môn Đại tổng tướng vắng lặng mà thường chiếu soi, là cảnh giớiPháp thân sâu thẳm không thể nghĩ bàn. [X. điều Tái đáp Thái thiền sư tam vấn trong Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.4].
tề tư di
(齊思貽) (1918- ) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người ở Bắc bình. Ông lần lượt đậu các văn bằng Cử nhân ở trường Đại học Nam khai, Thạc sĩ ở trường Đại học Oxford và Tiến sĩ Triết học ở trường Đại học Cambridge, nước Anh. Năm 1964, ông sang Hoa kì dạy môn Ngữ văn ở trường Đại học Đông phương tại Indiana, đồng thời làm chủ biên học báo Triết học Phật giáo. Ông sử dụng phù hiệu La tập(Luận lí học) Tây phương hiện đại để giải thích ngôn ngữ, danh tướng của Phật giáo. Ông cũng thường tham dự các hội nghị Phật giáo quốc tế. Ông có các tác phẩm: A Comparative Study of Propositions in the Western and Indian Logic, 1972 (Nghiên cứu so sánh các mệnh đề Nhân minh Ấn độ và Luận lí học Tây phương), A Semantic, Study of Propositions, East and West, 1976 (Nghiên cứu ngữ ý các mệnh đề giữa Đông và Tây), Buddhist Formal Logic, 1969 (Luận lí học hình thức Phật giáo)...
Tể Lôn Siêu Vĩnh
(霽崙超永, Sairin Chōei, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Tể Lôn (霽崙), người biên tập bộ Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書), xuất thân Huề Lý (擕李, Huyện Gia Hưng, Phủ Gia Hưng, Tỉnh Triết Giang), họ Diêu (姚). Ban đầu, ông theo học Nho Giáo, đến khi biến loạn trong khoảng thời gian niên hiệu Sùng Trinh (崇禎, 1628-1645), ông gặp phải đạo tặc sắp nguy hại đến tính mạng nhưng may mắn thoát nạn. Về sau, nhân đọc cuốn Kim Túc Dung Ngữ Lục (金粟容語錄) của vị tăng nọ, ông cảm ngộ, nên vào mùa hạ năm thứ 7 (1650) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đến lễ bái Thâm Vân Quả (深雲果) ở Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang) và xuống tóc xuất gia với vị này. Cũng vào mùa thu năm này, ông đến tham yết Bách Ngu Tịnh Tư (百愚淨斯), rồi sau đó viếng qua các nơi như Thiên Đồng Sơn (天童山), Kính Sơn (徑山), Báo Ân Tự (報恩寺), Kim Túc Tự (金粟寺), v.v. Vào mùa xuân năm thứ 9 (1652) niên hiệu Thuận Trị, ông đến tham yết An Điền Tĩnh (安田靜) ở Phước Nguyên (福源), và vào ngày mồng 8 tháng 12, ngày Phật thành đạo, ông được vị này thọ ký cho. Sau đó, ông đã từng sống qua và giáo hóa tại một số nơi khác như Tây Sơn Thánh Cảm Tự (西山聖感寺) ở Bắc Kinh (北京), Huyện Bình Hồ (平湖縣) thuộc Tỉnh Triết Giang (浙江省), Thượng Hải (上海), Gia Hưng (嘉興), Thiểm Tây (陝西), Huyện Vĩnh Gia (永嘉縣) thuộc Tỉnh Triết Giang, v.v. Vào năm thứ 32 (1693) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông biên tập bộ Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書), 120 quyển. Ngoài ra, theo ký lục của đệ tử của ông là Minh Thành (明誠) cho biết rằng ông còn có các trước tác khác như Tể Lôn Siêu Vĩnh Thiền Sư Ngữ Lục (霽崙超永禪師語錄) 20 quyển, Thâm Tuyết Thảo Đường Tập (深雪草堂集) 30 quyển, Pháp Uyển Anh Hoa (法苑英華), Độc Thư Tùy Ký (讀書隨記), Cổ Kim Tăng Thi (古今僧詩) 60 quyển.
Tể quan
(宰官): (1) Dưới thời nhà Chu (周, 1046 ttl.-256 ttl.), đây là tên của vị quan dưới quyền cai quản của Tể Tướng. (2) Chỉ chung cho các quan lại. Như trong bài thơ Đề Duy Cán Thượng Nhân Phòng (題惟幹上人房) của Cảnh Vi (耿湋, ?-?) nhà Đường có câu: “Thằng sàng mao ốc hạ, độc tọa vị nhàn an, khổ hạnh vô đồng tử, vong cơ tỵ tể quan (繩床茅屋下、獨坐味閑安、苦行無童子、忘機避宰官, bên giường mái tranh dưới, một mình hưởng an nhàn, khổ hạnh không thị giả, cơ duyên tránh tể quan).” (3) Đặc biệt chỉ cho quan Huyện. Trong Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ (法華經授手, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 623) có giải thích rằng: “Tể quan giả vị Tam Thai, dĩ công năng tể chính, ư chủ Quận Huyện, diệc xưng tể quan; tể tức chủ nghĩa, quan nãi công năng nghĩa dã (宰官者謂三台、以功能宰政、於主郡縣、亦稱宰官、宰卽主義、官乃功能義也, tể quan được gọi là Tam Thai, lấy công năng để coi sức chính sự, làm chủ các Quận, Huyện, cũng gọi là tể quan; tể nghĩa là làm chủ, quan nghĩa là có công năng).” Trong Từ Thọ Hoài Thâm Thiền Sư Quảng Lục (慈受懷深禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1451) quyển 3 có đoạn rằng: “Cánh năng ư tố quan chi xứ, chủng chủng phương tiện, ngoại hộ pháp môn, hiện tể quan thân, hành Bồ Tát hạnh (更能於做官之處、種種方便、外護法門、現宰官身、行菩薩行, lại có thể ở nơi chỗ làm quan, với các loại phương tiện, pháp môn ngoại hộ, hiện thân quan lại, thực hành hạnh Bồ Tát).”
; (宰官): có ba nghĩa chính: (1) Dưới thời nhà Chu (周, 1046-256 ttl.), đây là tên của vị quan dưới quyền cai quản của Tể Tướng. (2) Chỉ chung cho các quan lại. Như trong bài thơ Đề Duy Cán Thượng Nhân Phòng (題惟幹上人房) của Cảnh Vi (耿湋, ?-?) nhà Đường có câu: “Thằng sàng mao ốc hạ, độc tọa vị nhàn an, khổ hạnh vô đồng tử, vong cơ tỵ tể quan (繩床茅屋下、獨坐味閑安、苦行無童子、忘機避宰官, bên giường mái tranh dưới, một mình hưởng an nhàn, khổ hạnh không thị giả, cơ duyên tránh tể quan).” (3) Đặc biệt chỉ cho quan Huyện. Trong Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ (法華經授手, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 623) có giải thích rằng: “Tể quan giả vị Tam Thai, dĩ công năng tể chính, ư chủ Quận Huyện, diệc xưng tể quan; tể tức chủ nghĩa, quan nãi công năng nghĩa dã (宰官者謂三台、以功能宰政、於主郡縣、亦稱宰官、宰卽主義、官乃功能義也, tể quan được gọi là Tam Thai, lấy công năng để coi sức chính sự, làm chủ các Quận, Huyện, cũng gọi là tể quan; tể nghĩa là làm chủ, quan nghĩa là có công năng).” Trong Từ Thọ Hoài Thâm Thiền Sư Quảng Lục (慈受懷深禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1451) quyển 3 có đoạn rằng: “Cánh năng ư tố quan chi xứ, chủng chủng phương tiện, ngoại hộ pháp môn, hiện tể quan thân, hành Bồ Tát hạnh (更能於做官之處、種種方便、外護法門、現宰官身、行菩薩行, lại có thể ở nơi chỗ làm quan, với các loại phương tiện, pháp môn ngoại hộ, hiện thân quan lại, thực hành hạnh Bồ Tát).”
Tể, tế 宰
[ja] サイ sai ||| (1) rule, govern, conduct, manage, direct. (2) Ruler, manager, director. (3) Family head, chieftain. (4) Butcher, cook. (5) The Buddha, as opposed to his audience or followers. => 1. Cai trị, cầm quyền, điều khiển, quản lý, chỉ đạo. 2. Chủ tể, người quản lý, giám đốc. 3. Chủ gia đình, thủ lĩnh. 4. Giết thịt, làm thịt. 5. Chỉ cho Đức Phật, khác với thính chúng đệ tử.
tệ bạc
Ungrateful—Bad.
tệ lậu
Very bad.
tệ thi
Pesi (skt)—Bế Thi—Tỳ La Thi—Tỳ Thi—Thai nhi thời kỳ thứ ba trong năm thời kỳ, cái thai đến ngày thứ 37, kết lại thành hòn thịt—The embryo in the third of its five stages, a thirty-seven days' foetus, a lump of flesh.
tệ tập
Bad habits.
tệ tục
Vicious customs.
tệ đoan
Corrupt practices.
Tệ-ca-lan-đà 弊迦蘭陀
[ja] ヘイカランタ beikaranta ||| A transcription of the Sanskrit vyākaraṇa, which means the prediction of future buddhahood, given by the Buddha toward one of his disciples; most commonly translated as 授記 and 受記. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Phiên âm chữ vyākaraṇa trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là lời Đức Phật báo trước cho đệ tử sẽ thành tựu quả vị Phật trong tương lai, thường dịch là thụ ký (授記, 受記). Là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Tư 伺 [ja] シ shi ||| (1) To seek, inquire, ask about, question. (2) (vicāra): 'analysis.' Also written as 觀. One of the four undetermined (nature) elements in the doctrine of the Yogācāra 瑜伽行派 school. One of the eight undetermined elements listed in the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論. The mental function of examining the principle of a thing in detail. The complement of . See also => Có các nghĩa: 1. Tìm kiếm, thẩm sát, hỏi về, nghi ngờ. 2. Suy nghĩ, phân tích (s: vicāra). Còn được gọi là Quán. Một trong 4 bất định pháp theo giáo lý của Du Già Hành Tông. Một trong 8 bất định pháp theo Câu Xá Luận. Là tâm hành muốn tìm biết nguyên lý chi tiết của một vật. Thường đi đôi với Tầm 尋. Xem Tứ tầm 伺尋..
tỉ
Ghràna (S). Nose, the organ of smell.
tỉ cách thiền sư
Dhyàna master with nose (and other organs) shut off from sensation, i.e. a stupid mystic.
tỉ căn
The organ of smell.
Tỉ Duệ sơn
比叡山; J: hieizan;|Một ngọn núi gần Kinh Ðô (kyōto), nơi Ðại sư Tối Trừng (j: saichō) xây dựng Nhất Thừa Chỉ Quán viện (sau được đổi tên là chùa Diên Lịch) của tông Thiên Thai Nhật Bản vào thế kỉ thứ 9. Chùa này trở thành một trung tâm quan trọng của Phật giáo Nhật Bản trong thời trung cổ và đã từng đón nhiều Cao tăng của các trường phái khác như Chân ngôn tông (j: shingon) và Thiền tông (j: zen-shū).
tỉ duệ sơn
Mt. Hiei, Hiei-zan (J).Được gọi là mẫu sơn vì là nơi phát sanh ra các tông phái Tịnh Đ, Mật tông, và Nhật Liên của Nhật). Đây là tổng đàn của Thiên Đài (Tendai) tông Nhật.
Tỉ duệ sơn 比叡山
[ja] ヒエイザン Hieizan ||| Hieizan. A temple-mountain located in Shiga prefecture in Japan, near Kyoto. One of the oldest Buddhist centers in Japan, with a long history of eminent teachers who held great influence over Japanese Buddhism, especially during the Heian and Kamakura periods. It is the headquarters of the Japanese Tendai school 天台宗. => (j: Hieizan) Một ngôi sơn tự toạ lạc tại quận Shiga gần Kyoto, Nhật Bản. Là một trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Nhật Bản, với bề dày lịch sử và những vị cao tăng có những ảnh hưởng quan trọng trong Phật giáo Nhật Bản, đặc biệt trong thời Bình An (Heian) và Kiếm Thương (Kamakura). Chùa là trung tâm của tông Thiên Thai Nhật Bản.
Tỉ dụ 比喩
[ja] ヒユ hiyu ||| Allegory, metaphor, parable, simile (upamāna). 〔正法華經 263.9.127b15〕 => Biểu tượng, lời phúng dụ, phép ẩn dụ, ngụ ngôn, sự ví von (s: upamāna).
Tỉ lượng 比量
[ja] ヒリョウ hiryō ||| (1) Reasoning, inference, deduction, presumption; also includes the meaning of proof, or demonstration (anumāna). In Buddhist psychology this contains two aspects: inference for oneself and proof for others. (2) Wŏnhyo divides this into the two aspects of positing the truth 立正 and refuting the false 破邪. 〔二障義HPC 1.812c〕(3) In the early school of Hetu-vidyā 因明 the ability to know about a first thing because of a second thing. For instance, seeing smoke, we know there is fire. Anumāna is one of three kinds of cognitive operation 三量. => Lập luận, sự suy diễn, sự diễn dịch, điều giả định; còn bao hàm nghĩa bắng chứng, chứng minh (s: anumāna). Trong Tâm lý học Phật giáo, thuật ngữ nầy gồm 2 phương diện: tự mình suy luận và chứng minh cho người khác. Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo) chia thuật ngữ nầy thành 2 khía cạnh là lập chính 立正và phá tà 破邪. Theo trường phái cổ Nhân minh, có nghĩa là khả năng biết một vật nhờ vào vật kia. Chẳng hạn khi thấy có khói, biết có lửa. Anumāna là một trong Tam lượng 三量.
tỉ lễ đa
Xem quỉ đói.
tỉ nhập
Organ and sense of smell.
tỉ thức
The sensation or perception of smell.
Tỉ tri 比知
[ja] ヒチ hichi ||| Inference, deduction. (anumāna). Same as 比量. => Suy luận ra, sự diễn dịch (s: anumāna). Đồng nghĩa với Tỉ lượng 比量.
Tỉ trí 比智
[ja] ヒチ hichi ||| Particular wisdom. The knowledge of particular things that works at removing the defilements of the form realm and formless realm. An earlier Chinese translation equivalent to 類智 (Skt. anvaya-jñāna; Tib. rjes su śes pa). One of the three kinds of wisdom 三智.〔阿毘曇毘婆沙論 T 1546.28〕 => Trí huệ đặc thù. Trí huệ từ một pháp riêng biệt nào đó có được khi giải trừ mọi phiền não trong cõi Sắc và Vô sắc. Cựu dịch tương đương là Loại trí 類智 (s: anvaya-jñāna; t: rjes su śes pa). Một trong 3 loại Trí huệ (Tam trí 三智).
tỉ tê
To talk incessantly.
tỉ tức
The breath of the nostrils; also the perception of smell.
Tỉ ấm
(庇廕): hay tỉ ấm (庇蔭), tỉ âm (庇陰), nghĩa là bóng râm, bóng mát, sự bảo hộ, che chở. Trong phần Văn Công Thất Niên (文公七年) của Tả Truyện (左傳) có đoạn: “Chiêu Công tương khử quần công tử. Lạc Dự viết: 'Bất khả. Công tộc, công thất chi diệp dã; nhược khử chi, tắc căn bổn vô sở tỉ ấm hỉ (昭公將去羣公子。樂豫曰:'不可。公族、公室之枝葉也、若去之、則本根無所庇陰矣, Chiêu Công định xả bỏ các công tử. Lạc Dự nói rằng: 'Không được. Hàng công tộc là cành lá của công thất; nếu bỏ đi, tất không có nơi che chở cho gốc rễ').” Trong bài thơ Sơ Táng Thôi Nhi Báo Vi Chi Hối Thúc (初喪崔兒報微之晦叔) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Văn chương thập chật quan Tam Phẩm, thân hậu truyền thùy tỉ ấm thùy (文章十帙官三品、身後傳誰庇廕誰, Văn chương mười quyển quan Tam Phẩm, thân sau truyền ai che chở ai ?).” Hay trong phần Miễn Học (勉學) của Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓) có đoạn rằng: “Phụ huynh bất khả thường y, hương quốc bất khả thường bảo, nhất đán lưu ly, vô nhân tỉ ấm, đương tự cầu chư thân nhĩ (父兄不可常依、鄉國不可常保、一旦流離、無人庇廕、當自求諸身耳, Cha anh không thể thường nương tựa, nước nhà không thể thường bảo hộ, một mai xa lìa, không người che chở, nên phải từ cầu ở bản thân mình vậy).”
Tỉ-khâu
比丘; S: bhikṣu; P: bhikkhu;|Danh từ chỉ một nam giới xuất gia, sống cuộc đời không nhà. Theo quan điểm nguyên thuỷ, chỉ có những người sống viễn li mới có thể đạt được Niết-bàn. Hoạt động chính của những vị này là thiền định và giảng dạy giáo pháp, không được thụ hưởng cuộc đời và chịu sống lang thang không nhà. Giới luật của tỉ-khâu là đời sống nghèo khổ, không vợ con và thực hành từ bi, được đề ra trong Luật tạng.|Cuộc sống cơ hàn của tỉ-khâu được thể hiện trong chiếc Tam y của các vị đó, gồm có ba phần (s: tri-cīvara) và do vải vụn kết lại. Vật dụng hàng ngày chỉ gồm bát khất thực, dao cạo, kim chỉ, đồ lọc nước và gậy kinh hành. Tỉ-khâu không được nhận tiền bạc hay các vật dụng khác. Thức ăn là do cúng dường, thuốc men chủ yếu là nước tiểu thú vật.|Ðầu tiên, tỉ-khâu thường sống một cuộc đời lang thang. Trong mùa mưa, các vị đó thường buộc phải an trú trong một tinh xá (精舍; s, p: vihāra). Lí do là vì nếu đi lại trong mùa mưa, các vị có thể gây tai hại cho động vật và cây cối. Vì vậy, các vị chỉ được rời tu viện vì lí do đặc biệt trong mùa này. Mùa An cư này được chấm dứt bằng buổi lễ Tự tứ (自恣; p: pravāraṇā), trong đó các vị cùng sống chung trong thời gian qua kiểm điểm lại lỗi lầm hay thiếu sót với nhau. Qua năm tháng, tỉ-khâu ít đi vân du, các vị sống nhiều trong các tu viện, tuy nhiên, tục đi hành hương chiêm bái vẫn còn được giữ đến ngày nay. Ngày nay, các tỉ-khâu phần lớn vẫn còn giữ tập tục như hồi đức Phật còn tại thế, nhưng mặt khác, họ phải thích nghi với đời sống xã hội và điều kiện địa lí. Ví dụ như các tỉ-khâu Trung Quốc thường hay làm công việc đồng áng, đó là điều mà tỉ-khâu ngày xưa không được làm vì sợ giết hại sinh mệnh côn trùng. Trong một vài trường phái của Tây Tạng và Nhật Bản, tỉ-khâu có thể lập gia đình, có vợ con. Các quy định về khất thực cũng thay đổi nhiều qua thời gian.
Tỉ-khâu-ni
比丘尼; S: bhikṣuṇī; P: bhikkhunī;|Nữ giới xuất gia. Theo truyền thuyết, tỉ-khâu-ni đoàn được kế mẫu của Ðức Phật sáng lập với sự ủng hộ của A-nan-đà (s: ā-nanda). Vì điều này mà A-nan-đà bị công kích nặng nề trong lần Kết tập thứ nhất. Chính đức Phật cũng lo ngại sự có mặt của nữ giới sẽ làm Tăng-già khó tu hành và dự đoán là giáo pháp vì lí do đó, thay vì tồn tại 1000 năm, chỉ còn 500 năm.|Quy định về đời sống của tỉ-khâu-ni khắc nghiệt hơn nhiều so với nam giới. Trong khi tu học, tỉ-khâu-ni luôn luôn phải tuân thủ quyết định của các vị đồng tu nam giới. Không bao giờ một tỉ-khâu ni được xem là ngang hàng với tỉ khâu, một vị ni lớn tuổi cũng phải tỏ vẻ cung kính đối với một vị tăng nhỏ tuổi hơn mình. Quy định bị trục xuất ni giới hết sức ngặt nghèo, ni giới không bao giờ đóng một vai trò gì trong Tăng-già.
Tỉ-khưu 比丘
[ja] ビク biku ||| A transcription of the Pali bhikkhu and Sanskrit bhikṣu, which means "one who begs for food." The term was originally used in India to refer to the fourth stage of the brahmanistic life, wherein the householder would renounce the world, become a beggar and seek enlightenment. In Buddhism, it came to refer to a Buddhist (male) monk; a practitioner who has renounced the secular world and received the precepts. Roughly equivalent to the term śramaṇa 沙門. In his commentary to the Diamond Sutra, Zongmi gives three definitions of the term bhikṣu: (1) bumo 怖魔 "menacer of demons," (2) qishi 乞士 "begging knight" and (3) jingjie 淨戒 "pure in the precepts." => Phiên âm chữ bhikkhu trong tiếng và chữ bhikṣu trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là 'người khất thực'. Thuật ngữ vốn thường được dùng ở Ấn Độ chỉ cho giai đoạn thứ tư trong cuộc đời của người theo đạo Ba-la-môn, trong đó người chủ gia đình rời bỏ đời sống gia đình, sống bằng hạnh khất thực và tìm cầu chân lý giải thoát. Trong Phật giáo, thuật ngữ có nghĩa là một tăng sĩ Phật giáo; người từ bỏ cuộc sống thế tục, thọ lãnh giới luật. Gần tương đương với thuật ngữ Sa-môn (s: śramaṇa 沙門). Trong luận giải về kinh Kim Cương, Tông Mật (c: Zongmi) đã đưa ra 3 định nghĩa về thuật ngữ tỷ-khưu: Bố ma (c: bumo 怖魔): 'mối lo sợ của ma quỷ'. Khất sĩ (c: qishi 乞士); “sống bằng hạnh khất thực”. Tịnh giới (c: jingjie 淨戒); 'giới luật thanh tịnh'.
tỉnh
To awake, to wake up.
; 1) To be static (tỉnh điện). 2) 2) To awake—To wake up—To regain (recover) consciousness (tỉnh dậy). 3) Province. 4) Cái giếng nước: A well. 5) Tỉnh thành: A province. 6) Xem xét: To look into minutely—To inspect—To examine.
tỉnh am đại sư
See Thiệt Hiền Đại Sư.
tỉnh dậy
See Tỉnh (2).
tỉnh giác
Sampajaṣṣa (S).
; Sampajanna (p)—sampasjnanin (skt)—Biết rõ ràng—Clarity of awareness—Clear awareness.
tỉnh giấc
See Tỉnh (2).
tỉnh hoa
The flower of the water.
; (井華) Cũng gọi Hoa thủy. Chỉ cho nước giếng vào lúc cuối đêm. Hoa nghĩa là trong sạch, vì lúc cuối đêm, nước giếng rất trong sạch, vẫn chưa sinh các loại trùng, cho nên gọi là Tỉnh hoa. [X. Chân ngôn tu hành sao Q. 1].
tỉnh hà
Giống như cái giếng và con sông, ám chỉ sự vô thường của cuộc sống. Cái giếng nói về câu chuyện của một anh chàng đang chạy tránh voi điên bị té xuống giếng, bám được vào một cành cây, nhưng vẫn bị gió thổi bay đi—Like the well and the river, indicating the impermanence of life. The “well” refers to the legend of the man who running away from a mad elephant fell into a well; the “river” to a great tree growing on the river bank, yet blown over by the wind.
; (井河) Từ ngữ gọi chung Tỉnh dụ và Hà dụ. Thí dụ cái giếng và thí dụ con sông. Hai thí dụ này được dùng để nói rõ thân người là vô thường. 1. Dụ cái giếng(cũng gọi Dụ chuột trắng): Kinh Tân đầu lô đột la xà vị Ưu đà diên vương thuyết pháp nói: Thuở xưa có người bị voi dữ rượt đuổi giữa cánh đồng trống, vì sợ hãi nên bám lấy rễ cây men theo xuống giếng để trốn. Lúc ấy, ở miệng giếng có 4 con rắn độc, ở đáy giếng lại có con rồng độc lớn, đồng thời có 2 con chuột đen và trắng đang gặm nhấm rễ cây, làm cho rễ cây rung động sắp đứt, trên cây bên cạnh giếng lại có tổ ong, từ trên tổ ong có 5 giọt mật rơi vào miệng người ấy và đàn ong bu vào đốt, trong khi lửa ở đồng hoang bốc cháy.Trong câu chuyện này, đồng hoang dụ cho sinh tử, người bị rượt đuổi dụ cho phàm phu, voi dụ cho vô thường, giếng dụ cho thân người, rễ cây dụ cho mệnh sống, 2 con chuột dụ cho ngày đêm, chuột nhấm rễ cây dụ cho niệm niệm nối nhau sinh diệt, 4 rắn độc dụ cho tứ đại, 5 giọt mật dụ cho ngũ dục, đàn ong dụ cho ác giác quán, lửa ở đồng hoang dụ cho sự già, rồng độc lớn dưới đáy giếng dụ cho cái chết. 2. Dụ con sông: Kinh Niết bàn nói: Ở bờ sông hiểm có một cây lớn, gặp cơn gió lốc ắt phải ngã đổ. Cũng thế, ví dụ người già đứng bên bờ vực sâu, chốc lát chết đến ắt phải rơi vào vòng luân hồi.
tỉnh hành đường
Tên khác của Diên Thọ Đường hay Niết Bàn Đường—Another name for “Long-Life” Hall or the Nirvana Hall—See Diên Thọ Đường.
tỉnh hồn
To collect one's wit.
tỉnh lại
See Tỉnh (2).
tỉnh mộng
To loose one's illusion about sth.
; To be disillusioned.
Tỉnh Nguyên Tây Hạc
(井原西鶴, Ihara Saikaku, 1642-1693): nhà trước tác loại tiểu thuyết Phù Thế Thảo Tử (浮世草子, Ukiyozōji), nhà Haiku sống vào đầu thời đại Giang Hộ, tên thật là Bình Sơn Đằng Ngũ (平山藤五, Hirayama Tōgo); biệt hiệu là Hạc Vĩnh (鶴永), Nhị Vạn Ông (二萬翁); đến cuối đời lấy tên là Tây Hạc (西鶴); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka). Ông theo thọ giáo với Tây Sơn Tông Nhân (西山宗因, Nishiyama Sōin), học về phong cách hài hước Đàm Lâm (談林), rồi chỉ trong một ngày đêm mà ông đã tạo ra kỷ lục làm được 23.500 câu, và được đặt tên khác là Tây Hạc Hòa Lan (西鶴和蘭). Sau khi Thầy qua đời, ông sáng tác loại tiểu thuyết Phù Thế Thảo Tử. Trước tác của ông thường lấy chủ đề miêu tả khí chất dũng mãnh của những nhà Võ Tướng, cảnh sắc của thế giới hưởng lạc, cuộc sống kinh tế của dân quê ở thôn xóm, v.v. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông như Háo Sắc Nhất Đại Nữ (好色一代女), Háo Sắc Ngũ Nhân Nữ (好色五人女), Võ Đạo Truyền Lai Ký (武道傳來記), Nhật Bản Vĩnh Đại Tàng (日本永大藏), Thế Gian Hung Toán Dụng (世間胸算用), Bản Triều Nhị Thập Bất Hiếu (本朝二十不孝), Tây Hạc Chức Lưu (西鶴織留), v.v.
tỉnh ngộ
Understood---Awakening. 1) Hiểu ra: To come to one's senses. 2) Hiểu ra vấn đề gì sau một thời gian hành động hay suy nghĩ ngu muội—To become sensible after acting or thinking foolishly.
tỉnh ngủ
1) To be a light sleeper. 2) To wake up.
tỉnh niệm
(省念) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào thời Ngũ đại, người Lai châu (nay là tỉnh Sơn đông), họ Địch, hiệu Thủ sơn.Thuở nhỏ, sư xuất gia ở chùa Nam thiền. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư liền đi khắp các tùng lâm tham học và thường tu hạnh đầu đà, tụng thầm kinh Pháp hoa, do đó, người đời gọi sư là Niệm pháp hoa. Sư thờ ngài Phong huyệt Diên chiểu làm thầy và được truyền tâm yếu, nổi tiếng khắp nơi. Về sau, sư khai pháp tại Thủ sơn thuộc Nhữ châu, rồi lần lượt trụ ở viện Quảng giáo tại núi Bảo sơn, huyện Diệp thuộc Nhữ châu và viện Bảo ứng ở Hạ thành. Ngày mồng 4 tháng 12 năm Thuần hóa thứ 3 (992), sư thướng đường nói kệ rằng (Đại 51, 304 hạ): Năm nay tuổi đã sáu mươi bảy, Lão, bệnh tùy duyên sống qua ngày; Bây giờ ghi lấy việc năm tới, Năm tới lại nhớ việc sáng nay. Ngày mồng 4 tháng 12 năm sau, sư thướng đường từ biệt đại chúng, lại nói kệ như sau (Đại 51, 305 thượng): Thân màu vàng thế giới trắng ngần, Hữu tình, phi tình cùng là chân; Sáng, tối hết rồi đều chẳng chiếu, Mặt trời sau ngọ thấy toàn thân. Nói xong, sư ngồi yên thị tịch, thọ 68 tuổi.[X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Ngũ đăng hội nguyên Q.11].
tỉnh thường
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Tỉnh Thường là vị Tổ thứ bảy của Tịnh Độ Tông Trung Quốc. Ngài tự là Thứu Vi, người đời nhà Tống, con của họ Nhan ở quận Tiền Đường. Khi lên bảy tuổi, ngài gặp duyên lành xuất gia tu tập. Đến năm 17 tuổi đã thọ xong cụ túc giới. Trong niên hiệu Thuần Hòa, ngài về trụ trì tại chùa Chiêu Khánh. Vì mến vi phong của Lô Sơn, nên ngài tạo tượng Phật A Di Đà, kết hợp bạn sen, thành lập Liên Xả. Sau đó ngài lại chích máu tả phẩm “Tịnh Hạnh” trong kinh Hoa Nghiêm. Do nhân duyên ấy nên mới đổi tên Liên Xả thành là Tịnh Hạnh Xả. Các hàng sĩ phu có đến 120 người dự vào hội niệm Phật. Ngoài ra các hàng nam nữ thiện tín khác, số đông có đến hàng vạn, tất cả đều xưng là “Tịnh Hạnh Đệ Tử.” Trong đó có quan Tướng Quốc Vương Văn Đán làm hội thủ. Riêng phần Tỳ Kheo Tăng, đại sư độ được hơn 1.000 người, tất cả đều tu theo môn niệm Phật. Năm Thiên Hy thứ tư, ngày 12 tháng giêng. Theo thường khóa, đại sư ngồi kiết già niệm Phật. Giây phút sau đó, ngài bỗng nói to lên rằng: “Đức A Di Đà Thế Tôn đã đến.” Rồi ngài ngồi lặng yên mà thoát hóa. Ngài hưởng thọ 62 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Sun-Shang was the Seventh Patriarch of Chinese Pureland Buddhism. His given name was Thứu-Vi, a son of the Nhan family of the Tsien-T'ang Disrict. He lived during the Sung Dynasty. When he turned seven, he encountered a blessed opportunity and left home to join the order. When he was seventeen, he had completed the Bhiksu Precepts. During the Thuần Hòa regin period, he became headmaster of Chiêu-Khánh Temple. Because of his fondness for the past tradition at Mount Lu, he had a statue of the Amitabha Buddha sculpted and gathered fellow Pureland cultivators to form a Lotus Congregation. Thereafter, he pricked blood to use as ink to hand-write the “Pure Conducts” chapter of the Avatamsaka Sutra. Ultimately, this was the reason for the change of name from Lotus Congregation to Pure Conducts Congregation. There were a total of 120 superiorly educated and highly influential people who took part in this Buddha Recitation Congregation. Additionally, there were several thousand other virtuous and faithful men and women who called themselves “Pure-Conduct Disciples.” The leader among lay people was the high ranking imperial magistrate, or Prime Minister Wang-Wen-Tan. Specifically as to the Bhiksus, the Great Master taught and guided more than 1,000 monks, all of whom practiced Pureland Buddhism. In December of the fourth year of T'ien-His reign period, as usual, the master sat in the lotus position, engaging in Buddha Recitation. Moments thereafter, he suddenly said aloud: “Amitabha Buddha is here.” He then sat there in a perfect erect position and passed away into Nirvana. He was 62 years old.
; (省常) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Tống, người ở Tiền đường (nay là tỉnh Chiết giang), họ Nhan, tự Tạo vi, là Tổ thứ 7 của Liên tông. Sư xuất gia năm lên 7 tuổi và thụ giới Cụ túc năm 17 tuổi, giữ gìn giới hạnh nghiêm cẩn. Về sau, sư trụ ở chùa Chiêu khánh tại Tây hồ thuộc Hàng châu. Vì kính mộ phong cách Bạch liên xã ở Lô sơn khi xưa, nên sư kết Bạch liên xã bên cạnh Tây hồ, chuyên tu tịnh nghiệp, sau theo ý nghĩa của phẩm Tịnh hạnh trong kinh Hoa nghiêm mà đổi tên Bạch liên xã thành Tịnh hạnh xã. Tể tướng Vương đán là người đứng đầu, cùng với 123 vị sĩ đại phu đều làm thơ tụng, tự xưng là đệ tử Tịnh hạnh xã, còn có hơn 1.000 vị tỉ khưu tham dự; sự hưng thịnh của Bạch liên xã ở Lô sơn ngày trước, giờ đây lại tái hiện. Năm Thiên hit hứ 4 (1020), sư thị tịch, thọ 62 tuổi. Nhục thân của sư được an táng bên cạnh mộThiền sư Điểukhòa tại núi Linh ẩn. Người đời gọi sư là Tiền đường Bạch liên xã chủ, lại hiệu là Chiêu khánh viên tịnh pháp sư. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26; Lô sơn liên tông bảo giám Q.4].
tỉnh thức
Sata (S), Mindfulness Viên, Tròn.
; Jagarati (p)—Jagrati (skt)—Awakened—Awakening—Wakefulness—Waking—Đạt được sự nhận thức sâu xa về nghĩa của Phật và làm sao thành Phật. Hiểu biết chơn tánh của vạn hữu. Tuy nhiên, chỉ sau khi thành Phật mới thật sự đạt được Vô Thượng Chánh Giác—Achieving a complete and deep realization of what it means to be a Buddha and how to reach Buddhahood. It is to see one's Nature, comprehend the True Nature of things, the Truth. However, only after becoming a Buddha can one be said to have truly attained Supreme Enlightenment.
tỉnh trung lao nguyệt
Vớt trăng từ giếng; chuyện kể về một bầy khỉ khi thấy rơi xuống giếng (trăng hiện dưới mặt giếng), sợ rằng sẽ không còn ánh sáng trăng nữa, nên tìm cách vớt trăng lên. Khỉ chúa tay đu cành, rồi một con nắm đuôi khỉ chúa và các con khác cứ nối đuôi nhau, nhưng cành gẫy cả bọn chết đuối—Like ladling the moon out of the well; the parable of the monkeys who saw the moon fallen into a well, and fearing there would be no more moonlight, sought to save it; the monkey king hung on to a branch, one hung on to his tail and so on, but the branch broke and all were drowned.
; (井中撈月) Mò trăng đáy giếng, ví dụ việc dùng tà kiến để dắt dẫn người khác. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 7, thuở xưa, có 500 con khỉ đang vui chơi trong khu rừng gần thành Ba la nại, bỗng thấy bóng trăng hiện dưới đáy giếng, khỉ chúa bèn nói với bầy khỉ (Đại 22, 284 thượng): Hôm nay trăng chết rơi xuống giếng, chúng ta hãy cùng vớt trăng lên, chớ để thế gian tăm tối. Bầy khỉ liền bàn bạc tìm cách, khỉ chúa lại nói: Ta biết cách đem trăng lên, bây giờ ta nắm cành cây các ngươi nắm lấy đuôi ta, cứ thế tiếp nối nhau thành một chuỗi dài thì đưa trăng lên được. Bàn bạc xong, bầy khỉ nối nhau xuống giếng vớt trăng, vì quá nặng nên cành cây yếu bị gãy, tất cả bầy khỉ bị rớt xuống giếng. Phật bảo cáctỉkhưu: Khỉ chúa bấy giờ nay chính là Đề bà đạt đa, còn bầy khỉ kia chính là Lục quầntỉkhưu.
tỉnh trưởng
Tse Drung (T).
tỉnh trụ
Calm abiding
tỉnh táo
Wide-awake—Waking.
tịch
Śānta (S)Tịch tịnhMột trong 4 hành tướng của Diệt đế: Diệt, Tĩnh, Diệu, Ly.
; Prasama; vivikta; sànti (S). Still, silent, quiet, solitary, calm, tranquil, nirvàna.
; 1) Nơi cô tịch hẻo lánh: Sama (p)—Prasama, Vivikta, or Santi (skt)—Calmness—Quietude—Quietism—Tranquility—Still—Silent—Quiet—Solitary—Secluded—Rustic—Nirvana. 2) Tà vạy: Perverse—Incorrect—Wrong.
; (寂) Cũng gọi: Diệt. Tên khác của Niết bàn, là cảnh giới xa lìa sinh tử, vắng lặng vô vi. Trong các Tăng truyện, tăng ni qua đời gọi là Tịch, Tịch diệt, nghĩa là vào Niết bàn. Mật giáo cũng gọi cảnh giới tự chứng của đức Đại Nhật Như Lai là Tịch. Cuốn sổ ghi tên tuổi tăng chúng trong Thiền lâm. Như sổ ghi tên an cư, trong đó ghi họ, tên và tháng, năm sinh của mỗi người. Ghi danh vào sổ an cư của tùng lâm, gọi là Quải tịch, đồng nghĩa với Quải tích, hoặc cũng được dùng để thay cho an cư. Còn xóa bỏ họ tên trong sổ thì cũng tức là tước bỏ tư cách tăng sĩ, gọi là Tước tịch.[X. môn Tội trách trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Niết Bàn, Tịch).
Tịch Chiếu
(寂照, Jakushō, 1660-1736): vị Tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu và giữa thời Giang Hộ, húy Tịch Chiếu (寂照), tự là Chánh Hạnh (正行), hiệu là Tức Tâm (卽心), xuất thân Cao Lương Sơn (高良山), Trúc Hậu (筑後, Chikugo, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), họ Lật Cốc (栗谷). Năm 12 tuổi, ông nhập môn tu học với Tịch Nguyên (寂源, Jakugen) ở Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji). Đến năm 1678, ông thọ pháp Quán Đảnh, rồi theo hầu Linh Không (靈空, Reikū), Diệu Lập (妙立, Myōritsu) và tu học Thiên Thai Giáo Quán. Năm 1687, ông thọ giới với Trí Viên (智圓, Chien) ở Đại Tể Phủ (大宰府, Dazaifu); sau đó theo học Tịnh Độ Giáo với Nhẫn Trừng (忍澂, Ninchō). Vào cuối đời, ông đến trú tại Cực Lạc Vô Thường Viện (極樂無常院) ở vùng Trúc Hậu, nguyện được vãng sanh về cõi Tịnh Độ, nên chuyên tâm niệm Phật.
tịch chiếu
Nirvàna-illumination; ultimate reality shining forth.
; Tịch là như như bất động, chiếu là chiêu soi các nơi. Vì thể dụng của tự tánh cùng khắp không gian và thời gian, tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch, tịch chiếu bất nhị.
; Cái thể của chân lý gọi là “tịch,” cái dụng của chân lý gọi là “chiếu.” Bậc tu hành dứt được phiền não, trở nên tịch tĩnh thì tâm trí quang minh chói rạng—Nirvana-illumination; ultimate reality shining forth.
; (寂照) Nghĩa là vắng lặng (tịch)và chiếu soi (chiếu). Bản thể của trí là rỗng lặng, có tác dụng chiếu soi, tức là đương thể của tọa thiền, chỉ quán. Đại thừa vô sinh phương tiện môn (Đại 85, 1274 trung) nói: Vắng lặng (tịch) mà thường có tác dụng, có tác dụng mà thường vắng lặng; tức tác dụng tức vắng lặng, lìa tướng là vắng lặng, vắng lặng chiếu soi chiếu soi vắng lặng.Vắng lặng mà chiếu soi thì từ tính mà khởi tướng; chiếu soi mà vắng lặng thì nhiếp tướng về tính.
tịch chiếu huệ
Một trong sáu loại trí tuệ—One of the six kinds of Buddha-wisdom, the wisdom which comprehends nirvana reality and its functioning—See Lục Huệ (6).
tịch chiếu minh tịnh
Xem định huệ.
tịch chiếu thần biến tam ma địa kinh
Chi-chao shen-pien san-mo-ti ching (C)Tên một bộ kinh.
; (寂照神變三摩地經) Cũng gọi Tịch chiếu tam ma địa kinh, Tịch chiếu thần biến kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Huyềntrang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc lúc đức Phật trụ ở núi Linh thứu, bồ tát Hiền hộ thưa hỏi đức Phật về các pháp của Bồ Tát như y xứ, đại tuệ trí, phương tiện hóa độ... Đức Phật bèn chỉ dạy môn Tam ma địa tịch chiếu thần biến bao gồm Phật địa mà Bồ tát tu hành. Nếu Bồ tát an trụ trong Tam ma địa này thì đối với tất cả pháp đều được viên mãn. Ngoài ra, đức Phật cũng nói rõ về ý nghĩa, đức tính... của Tam ma địa này. Kinh này tương đương với bộ thứ nhất trong 3 bộ của bản dịch Tây tạng.
Tịch chiếu thần biến tam ma địa kinh 寂照神變三摩地經
[ja] ジャクショウジンヘンサンマチキョウ Jakushō jinben sanmaji kyō ||| The Jizhao shenbian sanmodi jing Praśānta-viniśaya-prātihārya-samādhi sūtra (Sutra on the Samādhi of Singularly Radiant Spiritual Alterations). One fascicle, T 648.15.723-727. Translated by Xuanzang in 663. => (c: Jizhao shenbian sanmodi jing; s: Praśānta-viniśaya-prātihārya-samādhi sūtra; e: Sutra on the Samādhi of Singularly Radiant Spiritual Alterations). Kinh, Một quyển. Huyền Trang dịch năm 663.
tịch chiếu đường cốc hưởng tập
(寂照堂穀響集) Gọi tắt: Cốc hưởng tập. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Bạc như Vận sưởng người Nhậtbản soạn, được thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 149.Nội dung gồm 672 hạng mục giải thích những nghi vấn về truyện cổ Phật giáo. Trong đó, quyển 1 gồm 60 hạng mục, thu chép các truyện như Ngưu vương bảo ấn,... quyển 2 thu chép 60 hạng mục như Pháp thân tháp..., quyển 3 có 58 hạng mục như Hợp sát,... quyển 4 có 65 hạng mục như Pháp thân kệ,... quyển 5 có 68 hạng mục như Kiện đà cốc tử ca sa,... quyển 6 có 68 hạng mục như Yết ma kim cương,... quyển 7 có 81 hạng mục như Hiền bình,... quyển 8 có 72 hạng mục như Bất động vương bản thệ nhị tụng,... quyển 9 có 61 hạng mục như Chiêu hồn pháp,... quyển 10 có 77 hạng mục như Khổng tước bối... Sách được hoàn thành vào năm 1689. Ngoài ra, cũng vào năm 1689, tác giả còn soạn Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập 10 quyển, gồm 614 hạng mục, cũng được thu vào Đại Nhật Phật giáo toàn thư quyển 149. [X. Chư tông chương sớ lục Q.3].
Tịch chiếu 寂照
[ja] ジャクショウ jakushō ||| Silent and luminous: a description of the characteristics of suchness. Also a reference to the two kinds of meditation of śamatha and vipaśyanā 止觀. Also written 照寂. 〔二障義HPC 1.805b〕 => Tịch lặng và toả chiếu: mô tả đặc tính của chân như. Còn đề cập đền hai dạng thiền xa-ma-tha (s: śamatha) và chỉ quán (止觀s: vipaśyanā). Còn viết là Chiếu tịch 照寂.
tịch chí quả kinh
(寂志果經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm Vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật theo lời thưa hỏi của vua A xà thế mà nói rõ về sự sinh hoạt hằng ngày của sa môn và quả báo thù thắng mà sa môn thụ hưởng trong đời hiện tại; do đó đã khiến vua A xà thế ăn năn về tội giết cha và xin qui y đức Phật. Qua kinh này ta cũng có thể biết được tư tưởng sinh hoạt của người Ấnđộ ở thời đại Phật và tư tưởng của phái Lục sư ngoại đạo ở Ấnđộ vào thời đó. Kinh này tương đương với kinh Sa môn quả thứ 2 trong Trường bộ tiếngPàli, là bản dịch khác của kinh Sa môn quảthứ 27 trong Trường a hàm Hán dịch.
tịch chủng
The Nirvàna-class.
; Chủng tính của các bậc Tiểu thừa (Thanh Văn Duyên Giác) chỉ vui thích với sự tịch diệt của niết bàn tiểu thừa, chứ không có ý hướng cứu độ chúng sanh—The nirvana class, i.e. the Hinayanists who are said to seek only their own salvation.
; (寂種) Chỉ cho chủng tính Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác. Vì Nhị thừa ưa thích vào Niết bàn tịch tĩnh. Luận Biện Hiển Mật nhị giáo quyển thượng (77, 375 thượng) nói: Hàng Tịch chủng mắc bệnh trầm trọng (cao hoang), bậc Y vương cũng phải khoanh tay. (xt. Chủng Tính).
tịch căn bồ tát
Santendriya (S)Tên một vị Bồ tát.
tịch cốc
To abstain from food—To fast.
tịch diêt chân đế
The truth about Nirvàna.
Tịch diệt
寂滅; J: jakumetsu;|Một cách dịch nghĩa khác của danh từ Niết-bàn (s: nirvāṇa; p: nibbāna); »Tịch diệt« mô tả một tâm trạng tịch tĩnh tuyệt đối, vượt khỏi sinh tử, thành hoại, không gian và thời gian, vượt qua tất cả mọi sự lệ thuộc, mô tả trạng thái tâm thức của một Bậc Giác ngộ, một vị Phật. Trạng thái này không thể được trình bày bởi vì nó nằm ngoài tư duy (Bất khả tư nghị) và ngôn ngữ (Bất khả thuyết). Những lời xác định tâm trạng này chính là sự cố gắng nhọc nhằn vô ích, ví như nhét vào khuôn khổ cái »Vô biên.« Những lời duy nhất có thể sử dụng được là những câu phủ định (Tứ cú bách phi) như »Không phải cái này, không phải cái kia« (s: neti, neti!) hoặc »Vượt qua« tất cả những khái niệm, suy tư.|Theo giáo lí tuyệt đỉnh của đạo Phật – như Kim cương thừa (s: vajrayāna) và Thiền tông – thì Tịch diệt hoàn toàn không khác biệt với Luân hồi (saṃsāra). Cái »Vô biên«, »Vô vi«, »Vô tướng« chính là cái »Hữu biên«, Hữu vi«, là thế giới hiện hữu. Nếu Niết-bàn đã vượt qua mọi khái niệm thì sự đồng nhất của Niết-bàn và Luân hồi cũng không thoát khỏi sự »Bất khả tư nghị«, »bất khả thuyết« và chỉ có thể trực nhận được khi đã giác ngộ. Vô thượng chính đẳng chính giác (a-nuttara samyaksaṃbodhi) có nghĩa là, một vị Phật sống ngay trong thế giới hiện hữu với một tâm trạng tịch tịnh, không phải chỉ nhập Niết-bàn, bước qua một cách tồn tại khác sau khi thoát khỏi thân do Tứ đại hợp thành.
tịch diệt
Jakumetsu (J)Xem niết bàn.
; Nirvàna (S). Cessation of the process of becoming. Eternal Peace. Calmness and extinction.
; Parinirvana or Prasama (skt)—Niết bàn tịch diệt, hay Đại Niết Bàn—Tranquility—Extinction—The great nirvana—Calmness and extinction.
; (寂滅) Phạm: Vyupazama. Pàli:Vùpasama. Gọi tắt: Diệt. Vượt thoát sinh tử, tiến vào cảnh giới vắng lặng, vô vi. Cảnh giới này xa lìa cõi mê hoặc, được an vui, nên gọi là Tịch diệt vi lạc. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 23 (Đại 2, 672 trung) nói: Tất cả hành vô thường Có sinh ắt có diệt Chẳng sinh thì chẳng diệt Diệt này là vui nhất. [X. kinh Tạp a hàm Q.22; kinh Niết bàn Q.10 (bản Bắc); luận Du già sư địa Q.50; luận Đại trí độ Q.94]. (xt. Niết Bàn).
Tịch diệt bình đẳng 寂滅平等
[ja] ジャクメツビョウドウ jakumetsu byōdō ||| The extinction of all differences in the equality of emptiness. => Sự tiêu diệt mọi ý niệm phân biệt bình đẳng như hư không.
tịch diệt chi pháp
Xem Tịch diệt tuệ.
; Viviktadharma-matibuddhi (S). Also tịch diệt tuệ, tịch tịnh pháp.
tịch diệt nhẫn
Nirvàna-patience (suppression of all passion).
; Một trong ngũ nhẫn, đức nhẫn nhục của bậc đắc đạo—One of the five kinds of tolerance, Nirvana patience, the patience of the nirvana—The suppression of all passion—See Ngũ Nhẫn (5).
tịch diệt pháp
Vikiktadharma (skt)—Cái tĩnh lặng thường hằng—The nirvana-method, the solitary, the eternal serene.
tịch diệt tuệ
Viviktadharma-matibuddhi (S), Viviktadhamma (P), Viviktadharma (S)Tịch diệt chi pháp.
tịch diệt tướng
Nirvàna considered independently of the phenomenal.
; Tướng của Niết bàn là xa rời hay độc lập với chư tướng—Nirvana considered independently of the phenomenal.
; (寂滅相) Chỉ cho tướng Niết bàn, vì Niết bàn xa lìa tướng của tất cả pháp nên gọi là Tịch diệt tướng(Tướng vắnglặng). Luận Đại trí độ quyển 87 (Đại 25, 668 trung) nói: Niết bàn tức làtịch diệt tướng. Còn xa lìa tất cả tướng sai biệt thì gọi là Tịch diệt vô nhị. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; kinh Viêngiác]. (xt. Niết Bàn).
tịch diệt vi lạc
Vupasama-sukha (S).
; (寂滅爲樂) Pàli: Vùpasama sukha. Tịch diệt là vui, chỉ cho cảnh giới xa lìa cõi mê. Tịch diệt cũng là dịch ngữ của Niết bàn (Phạm:Nirvàịa). Cảnh giới tịch diệt so với cõi mê sinh tử xoay chuyển bất an, thì yên vui vô cùng, cho nên gọi là Tịch diệt vi lạc. [X. kinh Niết bàn Q.14 (bản Bắc)].
tịch diệt vô nhị
Nirvàna as absolute without disunity or phenomena.
; Bậc chứng đắc niết bàn xa rời tất cả sự phân biệt các tướng—Nirvana as absolute without disunity or phenomena.
; (寂滅無二) Niết bàn xa lìa tất cả tướng sai biệt, cho nên gọi là Tịch diệt vô nhị. Kinh Viên giác (Đại 17, 915 thượng) nói: Viên giác chiếu khắp, vắng lặng không hai(tịch diệt vô nhị).
tịch diệt đạo tràng
Đạo tràng của Hóa Thân Phật chứng được Hữu Dư Niết Bàn, nơi Đức Phật Thích Ca chứng đạo (dưới Kim Cương Tòa nơi gốc cây Bồ Đề bên cạnh sông Ni Liên Thiền, dưới chân núi Ca Da, nước Ma Kiệt Đà)—The place where a Buddha attains the truth of nirvana, especially where Sakyamuni attained it—See Bồ Đề Đạo Tràng.
tịch diệt đạo trường
(寂滅道場) Cũng gọi A lan nhã pháp bồ đề tràng. Gọi tắt: Tịch diệt tràng, Tịch tràng. Chỉ cho tòa Kim cương, dưới cây Bồ đề, ở phía nam thành Già da, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, là nơi đức Thích tôn thành đạo. Cây bồ đề ở đây cũng được gọi là Tịch diệt thụ, Tịch tràng thụ. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 2 thì Tịch diệt có 4 nghĩa: 1. Chướng diệt: Tức tính diệt và trị diệt. 2. Chứng diệt: Tức chứng ngộ lí tịch diệt.3. Hiển kì diệt đức: Hiển bày công đức của Diệt. Tức thị hiện 10 thân Phật và pháp Phổ hiền. 4. Ích vật thành diệt: Tức diệt để thành tựu lợi ích. Nhưng trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) thì Tịch diệt đạo tràng được dịch là A lan nhã pháp bồ đề tràng. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 4 giải nghĩa là: A lan nhã là vắng lặng; Bồ đề tràng, Bồ đề tức là giác; nghĩa là chứng ngộ được cảnh giới đại trí tròn sáng rốt ráo; Tràng là nơi chứng ngộ bồ đề. Ngoài ra, về các pháp hội giảng nói kinh Hoa nghiêm thì xưa nay có thuyết Thất xứ bát hội(7 chỗ 8 hội), nhưng Hoa nghiêm đại nghĩa cương mục của ngài Trí nghiễm và Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1, hạ của ngài Trí khải thì đều cho rằng Tịch diệt đạo tràng là nơi tổng hội của Hoa nghiêm. [X. Pháphoa huyền nghĩa Q.10, thượng, 10 hạ; Pháp hoa văn cú Q.2 thượng, 9 thượng, 9 hạ; Hoa nghiêm du ý; Hoa nghiêm kinh lược sách].
Tịch diệt định
(hay Đại tịch diệt định): một trong Thất chủng vô thượng của đức Như Lai, tức Trụ vô thượng, nghĩa là đức Như Lai tuy thị hiện trong khắp các cõi phàm thánh, trời người, nhưng vốn thường an trụ trong Tịch diệt định. Đây là điều mà ngoài Phật ra không ai có thể hơn được, nên gọi là Trụ vô thượng. Nay đức Như Lai sắp thị hiện Niết-bàn nên trước hết thị hiện cho Đại chúng thấy ngài nhập Tịch diệt định, nhưng thật ra ngài vẫn thường an trú trong phép định này.
tịch diệt định
Xem Tịch diệt Tam muội.
Tịch diệt 寂滅
[ja] ジャクメツ jakumetsu ||| To become tranquil. Quiet, peaceful, silent. The perfect stillness of the mind when the flames of affliction are extinguished. Returning to stillness, separated from all manifestations. Nirvāna, Buddhahood, enlightenment, realization of the truth (vyupaśama, nirodha, nirvrta, praśānta). => Trở nên lặng lẽ. Yên tĩnh, thanh thản, tịch mịch. Trạng thái hoàn toàn yên tĩnh của tâm khi lửa phiền não đã dứt sạch. Trở về với sự vắng lặng, không còn mọi sự biểu hiện. Niết-bàn, Phật tính, giác ngộ, chứng ngộ (s: vyupaśama, nirodha, nirvrta, praśānta).
tịch dụng trạm nhiên
Lý thể của chân như, rời bỏ các tướng hữu vi, nên gọi là tịch, nhưng lại là thiện pháp sinh thế gian nên gọi là dụng—Character (nirvana-like) and function concomitant in the absolute and relative, in being and becoming, etc.
; (寂用湛然) Tịch và dụng lặng yên, thường trụ bất diệt.Tịch là thể tính của chân như lìa các tướng hữu vi; Dụng là công năng sinh ra các thiện pháp thế gian và xuất thế gian. Tịch và Dụng này chính là Thể đại và Dụng đại trong Tam đại nói trong luận Đại thừa khởi tín. Từ Thể khởi động thành Dụng, nhưng Dụng không lìa thể, cả 2 đều thường trụ bất diệt, vì thế gọi là Trạm nhiên. Quán kinh huyền nghĩa phần (Đại 37, 246 thượng) nói: Hằng sa công đức, tịch dụng trạm nhiên.
Tịch Hộ
寂護; S: śāntarakṣita; 750-802; |Cao tăng Ấn Ðộ thuộc Trung quán tông, người truyền bá Phật pháp sang Tây Tạng thời kì đầu. Quan niệm của Sư là Trung quán nhưng có tính chất dung hoà với Duy thức và vì vậy, Sư và đệ tử giỏi là Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla) được xem là đại biểu của hệ phái Trung quán-Duy thức (madhyamaka-yogācāra). Một trong những trứ tác quan trọng của Sư mang tên Chân lí tập yếu (s: tat-tvasaṃgraha).|Sư không phải là Cao tăng đầu tiên sang Tây Tạng hoằng hoá, nhưng là người đầu tiên để lại dấu vết đến bây giờ. Sư quê tại Bengal (Ðông Bắc Ấn) và có giữ một chức giảng sư tại viện Na-lan-đà (nālandā). Nhận được lời mời của vua Tây Tạng là Tri-song Ðet-sen (Hán Việt: Ngật-lật-sang Ðề-tán; t: trhisong detsen [khrisroṅ ldebtsan]), Sư liền thu xếp hành lí đến Tây Tạng. Cuộc hành trình của Sư đến Tây Tạng đầy vất vả chướng ngại và điều quan trọng nhất là rất nhiều thiên tai xảy ra trong thời điểm này. Những dấu hiệu này được quần chúng xem là dấu hiệu chống đối Phật pháp của các thần linh tại miền núi cao và nghe lời vua Tri-song Ðet-sen, Sư trở về Ấn Ðộ và khuyên vua nên thỉnh cầu Liên Hoa Sinh đến giáo hoá. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Liên Hoa Sinh đặt chân đến Tây Tạng với tư cách của một người chinh phục tà ma, gây ấn tượng lớn và thuyết phục được niềm tin của người xứ này.|Sau khi được Liên Hoa Sinh dọn đường, Sư đến Tây Tạng một lần nữa và cùng với Liên Hoa Sinh thành lập ngôi chùa Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng, đó là chùa Tang-duyên (t: samye [nsam-yas]), nằm phía Ðông nam thủ đô Lha-sa. Sư là người đầu tiên thực hành nghi lễ Thụ giới cho người Tây Tạng. Sư hoằng hoá 13 năm tại chùa Tang-duyên và trong thời gian này, rất nhiều kinh sách được phiên dịch từ Phạn ngữ (sanskrit) sang tiếng Tây Tạng. Theo các nhà Ấn Ðộ học thì Sư mất năm 802 vì bị móng ngựa (hoặc lừa) đạp.
tịch hộ
Śāntarakṣita (S)(700 - 760). Sáng lập Du già Trung quán, biên soạn Luận Nhiếp Chân thật.
; (寂護) Phạm:Zànta-rakwita. Cao tăng kiêm học giả Ấnđộ, trụ chùa Na lan đà, là người sáng lập phái Du già Trung quán của Phật giáo Đại thừa. Năm 747, nhận lời thỉnh của vua Tây tạng là Khất lật song đề tán (Tạng:Khrisroí-lde-bstan) sư và các vị Liên hoa sinh thượng sư (Phạm: Padma-saôbhava) và Ca ma la thập la (Phạm: Kamala-zìla) cùng đến Tây Tạng truyền bá Chân ngôn Mật giáo. Sư sáng lập chùa Tang diên (Tạng:Bsam-yas, cũng gọi chùa Tang da) ở phía nam thủ phủLha-sacủa Tây tạng, phỏng theo kiểu chùa Uddaịđapura ở Trung Ấn độ, đồng thời giữ chức Kham bố(Trụ trì) đầu tiên của chùa này. Sư thỉnh 12 vị tăng thuộc Hữu bộ và Liên hoa sinh thượng sư cùng hoằng pháp. Sư soạn luận Chân thực (Phạm: Tatta-saôgraha) gồm 4000 bài kệ để luận phá học thuyết của các phái, mang ý nghĩa rất lớn trong lịch sử Phật giáo. Sư thị tịch vào năm 760, thọ 61 tuổi.
tịch hữu
(寂友) Vị tăng người nước Đổ hóa la đến Trung quốc dịch kinh vào đời Đường. Sư xuất gia từ nhỏ, đến các nước thuộc Ấnđộ, học rộng các kinh luận. Sư đến Trung quốc vào thời Vũhậu, cùng dịch kinh Đại thừa nhập lăng già với ngài Thực xoa nan đà và kinh Vô cấu quang đà la ni với ngài Pháptạng. Sau khi hoàn tất việc dịch kinh, sư cáo từ trở về nước, Vũhậu ban sắc tiễn đưa rất trọng thể. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.2].
tịch kiến
Tà kiến—Perverse, incorrect, or depraved views.
; (僻見) Tức ác kiến. Chỉ cho những kiến giải tà vạy không đúng với chân lí như 5 kiến: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Giới thủ kiến và Kiến thủ kiến, là 1 trong các phiền não căn bản. Loại ác kiến này khiến người ta chấp trước ngã, phủ định lí nhân quả, hoặc cho rằng giữ các tà giới như giới bò (bắt chước bò ăn cỏ), giới chó(bắt chước chó ăn phân),... là hạnh tu sẽ đạt đến Niết bàn!Luận Câu xá quyển 18 (Đại 29, 49 trung) nói: Trong 5 Tịch kiến thì tà kiến là nặng nhất.
tịch liêu
Calm—Tranquil—Quiet.
tịch lưu minh bồ tát
Sivavahavidyā (S)Tên một vị Bồ tát.
; (寂留明菩薩) Tịch lưu minh, Phạm: Zivàvahavidya. Hán âm: Thi phạ phạ ha vĩ địa dã, Thi sa phạ ha, Thấp phạ ma ca. Vị tôn hiện tướng phẫn nộ, được xếp ở ngôi thứ 7 hàng thứ 2 trong viện Quán âm thuộc Liên hoa bộ, trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, mật hiệu là Định quang kim cương. Vị tôn nàytiêubiểu cho Định môn, vì lấy theo nghĩa tịch tĩnh tâm lưu nên gọi là Tịch lưu minh. Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, hình tượng vị tôn này có thân màu da người, đầu đội mũ kim tuyến, ngón trỏ tay trái duỗi thẳng, co 4 ngón còn lại đặt ở trước ngực, bàn tay phải đưa lên cao và hướng ra ngoài. Mình mặc áo cõi trời, 2 chéo áo bay phấp phới, đầu gối bên trái dựng đứng, ngồi trên hoa sen màu đỏ. Chủng từ là (sa). Hình Tam muội da là hoa sen nở. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; phẩm Chân ngôn tướng trong kinh Tô tất địa yết la Q. thượng; Chư thuyết bất đồng kí Q.3; Thai tạng giới thất thập Q. thượng].
tịch mặc
Mauneya (S), Mauna (S), Mauni (S), Mauna (S).
tịch mặc ngoại đạo
Một trong sáu loại ngoại đạo, thề nguyền sống nơi vắng vẻ—One of the six kinds of Ascetics who vowed to silence who dwell among tombs or in solitude—See Lục Khổ Hạnh (5).
; (寂默外道) Ngoại đạo trụ ở những nơi nhưrừng lạnh (chỗ bỏ xác chết), nghĩa địa để tu tập thiền định, họ thường giữ im lặng nên gọi là Tịch mặc ngoại đạo, là 1 trong 6 thứ ngoại đạo khổ hạnh ở Ấnđộ đời xưa. [X. kinh Niết bàn Q.16 (bản Bắc)]. (xt. Lục Chủng Khổ Hạnh Ngoại Đạo).
tịch mệnh trí
Buddha-knowoledge of the transmigratory forms of all beings.
; Phật trí dưới hình thức di trí của mọi chúng sanh (trí nầy cũng luân chuyển khi chúng sanh luân chuyển)—Buddha-knowledge of the transmigratory forms of all beings.
tịch nghiệp sư tử
The lion of nirvàna, Sàkyamuni.
; Sư tử nơi Niết Bàn, ám chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—The lion of nirvana, Sakyamuni.
; (寂業師子) Cũng gọi Thích sư tử cứu thế, Thích ca sư tử cứu thế. Tôn hiệu của đức Thíchca. Thích ca, Phạm: Sàkya, nguyên ý là Năng nhân(người ưa làm điều nhân từ). Nhưng giải thích theo tự môn thì Zàcó nghĩa là tất cả pháp tính vốn vắng lặng (Tịch); Kya có nghĩa là tất cả pháp đều do tạo tác(nghiệp), cho nên gọi là Tịch nghiệp; còn Sư tử thì là lời khen ngợi công đức của Phật.Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 619 hạ) nói: Tịch nghiệp sư tử là bậc thường dùng thần thông tự tại để cứu thế gian. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.5]. (xt. Thích Ca).
tịch ngạn
The shore of peace, nirvàna.
; Bến bờ an nhiên tự tại, hay Niết Bàn—The shore of peace—Nirvana.
; (寂岸) Bờ vắng lặng. Tức chỉ cho bờ bên kia tịch diệt vô vi. Cũng chính là chỉ cho Niết bàn.[X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. (xt. Niết Bàn). Bồ Tát Tịch Lưu Minh (Mạn đồ la Thai tạng giới)
tịch nhiên
In calmness, quietude, silence; undisturbed.
; Trạng thái lặng lẽ vô tư lự đối với cảnh—Quietude, in calmness, undisturbed, silence.
; (寂然) Lặng lẽ an nhiên, chỉ cho trạng thái tịch tĩnh vô sự, hoặc chỉ cho cảnh giới rỗng rang bình lặng hiện bày trong tâm. Phẩm Đệ tử kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 540 thượng) nói: Các pháp thường tịch nhiên, vì đã diệt hết các tướng. [X. kinh Chính pháp hoa Q.1].
tịch nhiên giới
The Hìnayàna nirvàna-realm or border.
; (寂然界) Cảnh giới lặng lẽ an nhiên. Chỉ cho cảnh giới chứng ngộ 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới không vô tính, thấu suốt lí các pháp tức không mà lìa bỏ một phần pháp chấp; là cảnh giới chứng ngộ của các Bồtát Tam thừa cộng học. Vì không bị năng chấp, sở chấp đối với Uẩn, Xứ, Giới làm lay động, cho nên gọi là Tịch nhiên giới. Khi đã chứng được Tịch nhiên giới này thì sẽ dần dần vượt qua cảnh giới Nhị thừa. Còn các Bồ tát an trụ ở cảnh giới này thì gọi là Tịch nhiên giới bồ tát. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2].
tịch nhiên hộ ma
(寂然護摩) Tịch nhiên, Phạm: Zàtika. Hán âm: Phiến để ca. Cũng gọi: Tức tai hộ ma. Trong Mật giáo, khi thực hành quán đính thì tu pháp Hộ ma tức tai để diệt tội cho các đệ tử, gọi là Tịch nhiên hộ ma, 1 trong 5 pháp tu của Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8]. (xt. Ngũ Chủng Tu Pháp).
tịch nhiên kim cang
Vajramuni (S)Tên một vị Bồ tát.
tịch nhiên quả
Quả vị Niết Bàn Giới của Tiểu Thừa Giáo—The Hinayana nirvana-realm or border.
Tịch nhiên 寂然
[ja] ジャクネン jakunen ||| Quiescent, silent, still. Silently, serenely. => Yên lặng, lặng lẽ, tịch mịch.
Tịch Nhân
(寂因, Jakuin, 1068-1150): vị Tăng của Thiên Thai Tông sống vào khoảng cuối thời Bình An, húy là Tịch Nhân (寂因), xuất thân vùng Kyoto. Sau khi xuất gia, ông đến sống ở Tây Tháp Viện (西塔院) trên Tỷ Duệ Sơn, chuyên tu giáo học Thiên Thai và có tài năng về luận nghĩa. Sau đó ông đến dựng một am nhỏ ở Tịnh Độ Cốc (淨土谷) thuộc vùng Sơn Khi (山崎, Yamazaki) và chuyên tâm đọc tụng Pháp Hoa Kinh cũng như tu niệm Phật.
tịch nhẫn
Calmness and endurance, quiet patience.
; Tịch tĩnh và nhẫn nhục, hay sự nhẫn nhục tịch tĩnh—Calmness and endurance, quiet patience.
; (寂忍) I. Tịch Nhẫn. Vắng lặng vô vi và chịu đựng mọi khó khăn trong im lặng. Lời tựa trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao (Đại 46, 705 thượng) nói: Mặc áo tịch nhẫn, ở nhà đại từ. II. Tịch Nhẫn (?-?) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế sống vào đời Thanh, người ở huyện Nghi lương, tỉnh Vân nam, họ Cốc, hiệu Mật hạnh. Năm 14 tuổi, sư theo ngài Thuận ngữ chùa Trúclâm, núi Trúctử xuất gia, năm 19 tuổi, sư tham học ngài Đức hải trong 5 năm, sau đó, sư đến núi La tạng ở phủ Trừng Giang (Vân Nam) tu niệm Phật. Rồi sư lại đến huyện Lương Sơn, tỉnh Tứ Xuyên tham lễ ngài Phá Sơn Hải Minh, năm Thuận Trị 13 (1656), sư đắc pháp. Về sau,sư từng hoằng pháp ở nhiều nơi trong các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Hà Bắc... Sư có trứ tác: Ngữ lục 3 quyển.
tịch niệm
Calm thoughts; to calm the mind; contemplation.
; Suy nghĩ một cách lặng lẽ an nhiên, không để cho tham sân si xen vào—Calm thoughts; to calm the mind—Contemplation.
; (寂念) Chỉ cho thiền định. Vì lúc vào thiền định thì các ý niệm đều vắng lặng, nên gọi Tịch niệm. Kinh Viêngiác (Đại 17, 918 trung) nói: Đối với Đà la ni không mất tịch niệm và các tuệ tĩnh lặng.
Tịch niệm 寂念
[ja] ジャクネン jakunen ||| Silenced thought; meditative concentration. => Tâm niệm an tĩnh, an định tâm ý.
Tịch quang
(寂光): sự tịch tĩnh của chân lý và sự chiếu sáng của chân trí làm cho chúng sanh được giải thoát. Cho nên người ta thường gọi thế giới của chư Phật thường trú là Tịch Quang Độ (寂光土) hay Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土).
tịch quang
Calm and illuminating as are Truth and Knowledge; the hidden truth illuminating.
; 1) Chân lý tịch tĩnh và chân lý chiếu rọi—Calm and illuminating as are Truth and Knowledge. 2) Chỗ tịch lý được ánh sáng chiếu rọi: The hidden truth illuminating.
; (寂光) I. Tịch Quang. Gọi đủ: Thường tịch quang độ. Cũng gọi: Tịch quang độ. Chỉ cho Tịnh độ, nơi an trụ của đức Tì lô giá na Nhưlai, là 1 trong 4 độ do tông Thiên thai thành lập. (xt. Thường Tịch Quang Độ). II. Tịch Quang. Vắng lặng và chiếu soi, tức chỉ cho lí đức và trí đức. Tịch là chân lí vắng lặng; Quang là chân trí chiếu soi. Chứng ngộ được cảnh giới của chân lí và chân trí này gọi là Tịch quang điền địa. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. III. Tịch Quang (1580-1645). Cao tăng Trung quốc thuộc Luật tông, sống vào đời Minh, Tổ của phái Thiên hoa, người ở Quảng Lăng (huyện Giang Tô, tỉnh Giang Tô), họ Tiền, tự Tam muội. Sư xuất gia năm 21 tuổi, theo ngài Tuyết lãng Hồng ân học giáo quán của ngài Hiền thủ. Sau khi thấu suốt tông thừa, sư đi tham yết khắp các bậc danh túc, được các ngài Tử bá Chân khả và Vân thê Châu hoành coi trọng. Đồng thời y vào ngài Tuệ vân Như hinh thụ giới Cụ túc, chuyên nghiên cứu Tì ni. Sau, sư lên Lô sơn, được thỉnh trụ trì chùa Đông lâm. Bấy giờ sen trắng trong ao không trồng mà tự mọc, phù hợp với lời sấm Tuệ viễn tái lai. Sư còn kiến lập Đại hội Long hoa giảng giới luật trên núi Ngũ đài, xây dựng lại chùa Thạch tháp ở Duy dương (Dương châu). Sư cũng xây lại chùa Long xương ở núi Bảo hoa tại Kim lăng, lập Thiên hoa đại xã, người về học rất đông. Niên hiệu Hoằng quang năm đầu (1645), sư thiết lập giới đàn ở Kim lăng, được vua ban cho áo đỏ, các quan văn võ đều đến chùa cung nghinh tôn là Quốc sư. Tháng 6 niên hiệu Hoằng quang năm đầu, sư ngồi ngay thẳng thị tịch ở núi Bảo hoa, thọ 66 tuổi. Vua ban tấm biển Quang Minh Kim Cương, thụy hiệu Tịnh Trí Luật Sư.Sư có trứ tác: Phạmvõng kinh trực giải 4 quyển, Thập lục quán sám pháp. [X. Bảo hoa sơn chí Q.7; Tân tục cao tăng truyện Q.28].
tịch quang hải hội
(寂光海會) Chỉ cho đại chúng nhóm họp ở cõi Thường tịch quang. Tịch quang tức cõi Thường tịch quang, là Tịnh độ của đức Phật Tì lô giá na an trụ; Hải hội là sự nhóm họp của chư tôn Thánh chúng. Thánh chúng từ khắp 10 phương về hội họp ở cõi Thường tịch quang, giống như muôn nghìn dòng sông tuôn chảy về biển cả, cho nên gọi là Tịch quang hải hội. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.4]. (xt. Thường Tịch Quang Độ).
Tịch Quang Tịnh Độ
(寂光淨土): xem thường tịch quang (常寂光) bên trên.
tịch quang tịnh độ
The Pure Land of calm light.
tịch quang độ
The land (of Buddha) where is calm illumination.
; Còn gọi là Thường Tịch Quang Độ—The land of Buddhas where is calm illumination.
tịch tai
Niệm chú trừ tai—To quell calamities by spells or ceremonies.
Tịch Thiên
寂天; S: śāntideva;|Cao tăng thuộc phái Trung quán. Truyền thuyết cho rằng Sư là một vương tử miền Nam Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 7, 8, và hoạt động tại viện Na-lan-đà. Sư là tác giả của hai tác phẩm quan trọng là (Ðại thừa) Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuccaya) và Nhập bồ-đề hành luận (bodhicaryāvatāra). Một tác phẩm thứ ba cũng thường được nhắc đến là Tập kinh luận (s: sūtrasamuccaya) đã thất truyền (theo Thánh Nghiêm thì được dịch ra Hán ngữ dưới tên Ðại thừa thật yếu nghĩa luận). Nhập bồ-đề hành luận rất thông dụng trong Phật giáo Tây Tạng, là kinh điển giáo khoa.|Nhập bồ-đề hành luận trình bày các bước tu học vị Bồ Tát, từ lúc phát Bồ-đề tâm (bodhicitta) cho đến lúc đạt trí Bát-nhã (prajñā), dựa trên Lục độ (pāramitā). Nhập bồ-đề hành luận là tác phẩm nhằm hướng dẫn cho Cư sĩ hay người mới nhập môn. Tịch Thiên giảng giải trong tác phẩm này hai phương pháp nhằm giúp vị Bồ Tát tương lai nhận biết tại sao mình lại cứu độ cho người và xuất phát từ đó các hành động cần thiết. Một mặt hành giả phải tu học phép quán chiếu cái nhất thể giữa mình và người (parātmasamatā), mặt khác phải học phép hoán đổi mình và người (parātmaparivar-tana, xem thêm Bất hại) giữa, tức là đặt mình vào địa vị của chúng sinh để thấu rõ tâm trạng của Hữu tình (s: sattva).
; 寂天; S: śāntideva; »Kẻ lười biếng«;|Tịch Thiên theo truyền thống 84 vị Tất-đạt của Ấn Ðộ và cũng là người viết Nhập bồ-đề hành luận.|Tịch Thiên là một vương tử được thụ giới Tỉ-khâu tại Ðại học Phật giáo Na-lan-đà. Trong lúc các bạn đồng học tập trung học tập thì Sư chỉ thích ngủ nghỉ, vì thế bạn bè khinh khi, đặt tên là »lười biếng« (s: bhusuku), có nghĩa người chỉ biết thực hiện ba việc: ăn, ngủ và bài tiết. Thời đó tại Na-lan-đà, các học viên thường phải đọc thuộc lòng Kinh điển trước đại chúng, lần đó đến lượt Tịch Thiên. Vị giáo thụ xem chừng Sư không thuộc bài, khuyên Sư nên ra khỏi Tăng-già, nhưng Sư không chịu. Tới ngày phải tụng đọc, Sư thành tâm cầu khẩn Bồ Tát Văn-thù giúp đỡ, quả nhiên Văn-thù hiện ra hứa giúp. Lúc Sư lên giảng đường tụng đọc, mọi người tề tựu đông đủ, kể cả nhà vua Thiên Hộ (s: devapāla), ai cũng nghĩ Sư sẽ bị một vố ê chề. Thế nhưng Sư đọc một bài kinh hoàn toàn mới, gồm có 10 chương, đó là tập Nhập bồ-đề hành luận (s: bodhicāryāvatāra) vô song, còn truyền đến ngày nay. Ðến chương thứ chín thì người Sư lơ lửng trên không, mọi người đều ngạc nhiên kinh hoàng. Sau đó không ai gọi Sư là »lười biếng« nữa mà đặt tên là »Pháp sư« Tịch Thiên, mời Sư làm Viện trưởng của Na-lan-đà.|Sau đó Sư rời Na-lan-đà ra đi không lời từ giã, lấy một thanh gỗ biến thành gươm và đi làm kiếm sĩ cho nhà vua xứ Ðô-ri-ki (s: dhokiri). Sau, Sư vào rừng ẩn cư và làm thợ săn. Bị nhiều người chê trách là đã tu mà còn giết hại sinh vật, Sư dùng thần thông làm chúng sống lại cả và bảo:|Con nai trên bàn ăn,|chưa hề sống, hề chết,|chẳng bao giờ vắng bóng.|Ðã không gì là Ngã,|sao lại có thợ săn|hay thịt của thú rừng?|Ôi, người đời đáng thương,|mà các ngươi lại gọi,|ta là người »lười biếng«!|Sư sống trên trăm năm và đưa nhiều người trở về chính pháp. Phật giáo Tây Tạng rất coi trọng Tịch Thiên, bộ Nhập bồ-đề hành luận là sách giáo khoa tại đó. Chứng đạo ca của Sư có những lời sau:|Trước ngày thật chứng ngộ,|ta biết nhiều hương vị,|trong khắp cõi luân hồi,|ta xa lánh đức Phật.|Tới lúc thật chứng rồi,|Sinh tử và Niết-bàn |hợp nhất thành Ðại lạc,|ta trở thành viên ngọc|sáng trong biển vô tận.
tịch thiên
Śamathadeva (S), Shantideva (S), Santideva (S)Phái Trung quánXem Sa môn.
; (寂天) I. Tịch Thiên. Phạm:Zravaịà. Cũng gọi Tịch mẫu thiên, Nữ tú, Nhĩ thông tú. Sao Thiên tịch, 1 trong 28 vì sao, được đặt ở vị tríthứ3 bên phải, phía bắc Ngoại viện trong Bắc đẩu mạn đồ la, hoặc ở phía tây của Ngoại viện thuộc Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Kinh Khổng tước ghi là Thất la mạt noa, Hán dịch là Thính văn, Học vấn. Về hình tượng thì trong Bắc đẩu Mạn đồ la, vị tôn này có thân màu da người, hiện tướng Bồ tát, mặc áo yết ma, ngồi trên lưng chim cánh vàng, có 4 tay, tay phải tay trái thứ nhất đều cầm vỏ ốc (tù và) trong tư thế đang thổi; 2 tay thứ 2 thì đều đưa lên cao, tay bên phải cầm hạt châu màu lục, tay trái cầm bánh xe. Trong Hiện đồmạn đồ la Thai tạng giới thì cánh tay phải của vị tôn này duỗi thẳng, bàn tay hướng về bên phải, ngón cái hơi co lại, bàn tay trái dựng thẳng, các ngón trỏ, ngón giữa và ngón vô danh co lại,cầm hoa sen trên đó có hạt châu màu đỏ, ngồi tréo chân trên chiếu nệm hình tròn, hình Tam muội da là ngôi sao trên hoa sen. II. Tịch Thiên. Phạm:Zàntideva. Tạng: Shi balha. Cao tăng kiêm học giả Ấnđộ sống vào khoảng thế kỷ VIII Tây lịch, là Vương tử nước Tô la thất sa (Phạm:Sauràwỉra), tên là Tịchkhải (Phạm:Zàntivarman). Thuở nhỏ, sư đã theo ngài Nhất tu phất giả học tập Khoái lợi văn thù sư lợi thành tựu pháp (Phạm: Tìkwịa-maĩjuzrìsàdhana), cảm ứng được tôn dung của bồ tát Văn thù sư lợi. Đêm trước ngày đăng quang nối ngôi phụ vương sau khi vua băng, Bồ tát Văn thù sư lợi báo mộng bảo sư đến chùa Na lan đà theo ngài Thắng thiên (Phạm: Javadeva). Sư y theo lời mộng liền đến chùa Na lan đà lễ ngài Thắng thiên cầu xuất gia và đổi tên là Tịch thiên. Về sau, sư đến chùa Thất lợi đạt thức na (Phạm:Zrìdakwiịa) ở Nam Ấn độ luận phá ngoại đạo, rồi đến miền Tây nước Ma yết đà biện luận với Bà la môn Thương yết la thiên (Phạm: Zaíkaradeva) và nhận sự qui y của vua Già đặc tì ha la (Phạm:Khatavihàra) và dân chúng. Sư có các tác phẩm: - Đại thừa tậpbồ tát học luận (Phạm: Zikwà-samuccaya). - Bồ đề hành kinh (Phạm:Bodhisattvacaryàvatàra). - Chư kinh yếu tập (Phạm: Sùtrasamuccaya). - Câu sinh ca (Phạm: Sahaja-gìtà). - Thánh mệnh chung trí kinh kí (Phạm: Aryàtyaya-jĩàna-nàma-mahàyàna= sùtra-vftti). [X. History of Buddhism by Bu-ston (E.Obermiller); Aspeets of Mahàyàna Buddhism and its Relation to Hìnayàna (N.Dutt); The History of Buddhist Thought (E.J. Thomas)].
tịch thâu
To seize—To confiscate—To forfeit.
tịch thường
Peace eternal—Eternal nirvana.
; (寂常) Thường vắng lặng, chỉ cho Niết bàn. Tịch nghĩa là không có phiền não; Thường có nghĩa là không sinh diệt. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 09 thượng nói: Bạch Thếtôn! Nay chúng con bị 2 chướng trói buộc, đều bởi không biết tâm tính tịch thường.
Tịch Thất Nguyên Quang
(寂室元光, Jakushitsu Genkō, 1290-1367): vị Thiền Tăng của Phái Đại Giác (大覺派) thuộc Lâm Tế Tông, xuất thân vùng Cao Điền (高田), Mỹ Tác (美作, Mimasaka, thuộc Okayama-ken [岡山縣]), đạo hiệu Thiết Thuyền (鉄船), Tịch Thất (寂室), thụy hiệu Viên Ứng Thiền Sư (圓應禪師); họ là Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Năm lên 13 tuổi, ông xuất gia, rồi theo hầu Vô Vi Chiêu Nguyên (無爲昭元) ở Tam Thánh Tự (三聖寺) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, Kyoto-fu [京都府]), sau đó thì thọ Cụ Túc Giới. Năm 16 tuổi, ông đi theo hầu Ước Ông Đức Kiệm (約翁德儉) ở Thiền Hưng Tự (禪興寺) thuộc vùng Tương Mô (相模, Sagami, Kanagawa-ken [神奈川縣]), đến các chùa như Kiến Nhân (建仁), Kiến Trường (建長), Nam Thiền (南禪). Vào năm thứ 2 (1320) niên hiệu Nguyên Ứng (元應), ông cùng với Khả Ông Tông Nhiên (可翁宗然), Độn Am Tuấn Đẳng (鈍庵俊等) sang nhà Nguyên cầu pháp. Tại đó ông đã từng đến tham yết Tông Phong Minh Bổn (宗峰明本) ở Thiên Mục Sơn (天目山), rồi kế đến một số bậc Thiền Tăng nổi tiếng đương thời như Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端), Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Thanh Chuyết Chánh Trừng (清拙正澄), Linh Thạch Như Chi (靈石如芝), Tuyệt Học Thế Thành (絕學世誠), Vô Kiến Tiên Đỗ (無見先覩), Đoạn Nhai Liễu Nghĩa (斷崖了義), v.v., rồi sau đó trở về nước. Vào năm đầu (1334) niên hiệu Kiến Võ (建武), có người cư sĩ họ Bình ở vùng Bị Hậu (僃後, Bingo, thuộc Okayama-ken) xây dựng nên Vĩnh Đức Tự (永德寺) rồi thỉnh ông đến đây trú trì. Sau đó ông lánh xa thế tục mà sống ẩn cư suốt trong vòng 25 năm, và rồi vào năm thứ 2 (1351) niên hiệu Quán Ứng (觀應), ông lại đến sống ở Phước Nghiêm Tự (福嚴寺) thuộc vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), cũng như Vãng Sanh Tự (徃生寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Đến năm đầu (1361) niên hiệu Khang Nguyên (康元), thể theo lời thỉnh cầu của vị Quốc Chủ vùng Cận Giang là Tá Tá Mộc Thị Lại (佐々木氏賴, Sasaki Ujiyori), ông đến làm Tổ khai sơn của Vĩnh Nguyên Tự (永源寺, Eigen-ji). Khi ấy tương truyền rằng đồ chúng của ông đến cầu pháp lên đến hơn 2000 người. Vào ngày mồng 1 tháng 9 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Trị (貞治), ông thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 63 pháp lạp. Vào năm 1395, ông được ban thụy hiệu là Viên Ứng Thiền Sư. Trước tác của ông có bộ Vĩnh Nguyên Tịch Thất Hòa Thượng Ngữ Lục (永源寂室和尚語錄) 2 quyển.
; 寂室元光; J: jakuhitsu genkō; 1290-1367; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, sau Thiền sư Lan Khê Ðạo Long hai đời.|Sư xuất gia năm 12 tuổi, thụ giới cụ túc năm 15 tuổi và sau đó tham học với Thiền sư Ước Ông Ðức Kiệm (yakuō tokken, 1244-1320), một môn đệ đắc pháp của Thiền sư Lan Khê Ðạo Long. Một hôm, Sư thỉnh Ước Ông nói lời cuối (mạt ngữ; j: matsugo). Ước Ông không nói gì, chỉ dùng tay tát Sư một cái. Sư nhân đây đại ngộ, vào năm 18 tuổi.|Nghe lời khuyên của thầy, Sư yết kiến nhiều vị Thiền sư khác và đặc biệt là Sư thường tham học với các vị Thiền sư Trung Quốc giáo hoá tại Nhật, trong đó có Nhất Sơn Nhất Ninh. Nơi Nhất Sơn, Sư lưu lại hai năm để học cách làm thơ (thi pháp học) và chính vì vậy, các bài thơ, kệ tụng của Sư được đánh giá rất cao, nếu không nói là nổi danh nhất của thời đại này.|Sau, Sư đến Trung Quốc học hỏi nơi Thiền sư Trung Phong Minh Bản và nhiều vị khác. Cuộc du học này kéo dài sáu năm và sau khi trở về Nhật, Sư tiếp tục cuộc đời du tăng của mình, 25 năm liền không trụ trì chùa nào. Năm 1361, Sư nhận lời thỉnh cầu, khai sơn trụ trì chùa Vĩnh Nguyên (eigen-ji). Nhiều ngôi chùa lớn tại Kinh Ðô (kyōto) và Liêm Thương (kamakura) thỉnh Sư về trụ trì nhưng Sư đều từ chối.|Lối sống đơn giản, cơ hàn không phụ thuộc, bác bỏ coi thường những nghi lễ long trọng, những ngôi chùa to lớn, từ chối những chức vụ cao quý, đó chính là những đức tính làm cho Sư nổi bật lên trong những vị Thiền sư thời bấy giờ. Mặc dù tên của Sư không nổi tiếng bằng những vị khác đồng thời, nhưng những phong cách cao quý trên nêu rõ tinh thần Thiền thuần tuý của Sư.|Sư tịch năm 1367.
tịch thất nguyên quang
Jakushitsu Genko (J)Tên một vị sư.
tịch tri chỉ thể
(寂知指體) Tịch tri là cái biết rỗng rang, vắng lặng, là cái Linh tri; Tịch tri chỉ thể nghĩa là chúng sinh từ vô thủy vốn lấy Tịch tri làm bản thể. Đây là giáo nghĩa cốt lõi của hệ phái Hà trạch Thần hội (670-762) thuộc Thiền Nam tông. Tức chủ trương mọi người đều có cái biết rỗng lặng tiên thiên, là bản thể của phàm thánh. Theo Viên giác kinh đại sớ sao của ngài Tông mật thì muôn pháp đều không, tâm thể vốn lặng, lặng tức pháp thân (bản thể của các pháp), rõ biết được cái lí thể rỗng lặng này thì tức là chân trí, cũng chính là Bồ đề, Niết bàn, Chân như, đó chính là nguồn tâm của chúng sinh, là pháp sẵn có tự nhiên. Nói theo phương diện bản chất của tâm tính con người thì Thức sinh ra vạn pháp là cái vọng niệm, nếu phủ định vọng niệm thì còn lại là tâm rỗng lặng, không có bất cứ hoạt động phân biệt nào. Tâm tính này là cái linh tri bất muội, gọi là Không tịch tri gọi tắt Tịch tri, hoặc gọi là Niết bàn, Chân như, Bồ đề, Chân tri, Pháp thân, Phật tính, là cái tâm tính linh tri ai ai cũng có. Bản chất của sự tu tập Phật đạo là sự thấy biết trực tiếp, hiểu rõ cái tịch tri sẵn có của chính mình, không cần phải tìm Phật ngoài tâm, cho nên chủ trương một chữ Tri là cửa của mọi sự mầu nhiệm. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.2].
tịch triển
Thành Tịch Triển gần thành Turfan—Pidjan or Pi-Chang, near Turfan.
tịch tĩnh
Jakujō (J)Xem Chỉ.
; Xa rời phiền não là tịch, dứt hết mọi khổ đau là tĩnh. Tịch tĩnh là cái lý của Niết Bàn—Calm and quiet; free from temptation and distress; nirvana.
; (寂靜) I. Tịch Tĩnh. Trạng thái tĩnh lặng bình đẳng khi tâm an trụ ở một chỗ. Xa lìa tinh thần dao động do bản năng sinh khởi, gọi là Tịch; đoạn trừ nguyên nhân gây ra tất cả cảm giác khổ đau, hiển hiện trạng thái tĩnh lặng, gọi là Tĩnh. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.13; luận Lục môn giáo thụ tập định; luận Vãng sinh]. II. Tịch Tĩnh. Chỉ cho sự tịch diệt vô tướng của Niết bàn. Không sinh tức là Tịch; không diệt tức là Tĩnh. Cảnh giới Niết bàn xa lìa các khổ, yên lặng thường trụ, không sinh không diệt, nên gọi là Tịchtĩnh. Luận Du già sư địa quyển 50 nêu ra 4 thứ Tịch tĩnh của Hữu dư y và Vô dư y như sau: 1. Hữu dư y: a. Khổ tịch tĩnh: Dứt hết các lậu và đoạn trừ các khổ của Hậu hữu, làm cho pháp đương lai không sinh. b. Phiền não tịch tĩnh: Đoạn trừ tất cả phiền não, được pháp vĩnh viễn không sinh. c. Bất tổn não hữu tình tịch tĩnh: Dứt hẳn các phiền não, không tạo ác, tu tập tất cả pháp lành. d. Xả tịch tĩnh: Thường ở trong tính xả, không mừng không lo, chẳng vui chẳng buồn, an trụ nơi chính niệm chính tri. 2. Vô dư y: a. Số giáo tịch tĩnh: Dứt các số lượng và ngôn giáo. b. Nhất thiết y tịch tĩnh: Xa lìa 8 y(từ Thi thiết y đến Hậu biên y trong Hữu dư y). c. Y y khổ tịch tĩnh: Dựa theo 8 y nói trên, mà diệt hẳn các khổ cho chúng sinh. d. Y y khổ sinh nghi lự tịch tĩnh: Dựa theo 8 y nói trên, không sinh khởi nghi ngờ về khổ. [X. Pháp uẩn túc luận Q.4, 6; luận Bát nhã đăng Q.2; luận Thập bát không; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.1; Du già luận kí Q.24].
tịch tĩnh (an lạc)
Sànti (S). Calm and quiet; tranquility, calmness.
tịch tĩnh chân ngôn
(寂靜真言) Tịch tĩnh, Phạm:Zàntika. Hán âm: Phiến để ca. Đồng nghĩa: Tịch tai, Tịch nhiên, Tức tai.Cũng gọi Tịch tai chân ngôn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 8 thì chân ngôn này là: Nam ma (Nama#, qui mệnh) tam mạn đa (samanta, phổ biến) bột đà nẫm (buddhànàm, chư Phật) a (à#, chủng tử) ma ha phiến để nghiệt đa (maha= zantigaỉa, đại tịch thệ) phiến để yết ra (Zàntikara, tịch) bát ra thiểm ma đạt ma trở nhã đa (prasama-dharmanijàta, tối thắng chứng tịch pháp sinh) a bà phạ (abhàva, vô tự tính) tát hạ bà phạ đạt ma (sarvabhàvadharma, nhất thiết tự tính) tam mạn đa (samanta, phổ biến, tức bình đẳng) bát ra bát đa (prapa, hoạch đắc) sa ha (svàhà, thành tựu). Vì chân ngôn này lấy chữ A đầu tiên để làm thể, A nghĩa là các pháp vốn không sinh, đầy đủ tuệ hạnh, có năng lực tiêu trừ tất cả chướng cái, đượcđạiNiết bàn, cho nên gọi là Tịch tĩnh chân ngôn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.27].
tịch tĩnh hành
Giới luật hành trì đưa đến niết bàn của Tiểu thừa giáo—Hinayana discipline to ensure nirvana.
; (寂靜行) Hành pháp do Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tu tập để hướng tới Niết bàn tịch tĩnh. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 5 (Đại 35, 211 trung) nói: Tịch tĩnh hạnh có 3 nghĩa: 1. Hàng nhị thừa tu hành xa lìa sinh tử ồn ào, tạp loạn. 2. Khiến người tu hành chứng nhập nhân không tịch tĩnh. 3. Niết bàn vô dư gọi là tịch tĩnh, tu tập pháp ấy nên gọi là Tịch tĩnh hạnh.
tịch tĩnh hạnh
Hìnayàna discipline to ensure nirvàna.
tịch tĩnh môn
Nirvàna, or the absolute nhất thiết chư pháp, as the door of release from trouble and suffering.
; See Tịch Tịnh Môn.
; (寂靜門) Chỉ cho tất cảcác pháp. Tất cả các pháp xưa nay đều vốn không, đó là tính chất của sự Tịch tĩnh, cho nên gọi là Tịch tĩnh môn. Tất cả lời nói cũng chỉ là Tịch tĩnh môn hiển bày tính chất tịch tĩnh của Tịch tĩnh môn. Kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển thượng (Đại 14, 471 thượng) ghi: Ngài Vănthù: Thiện nam tử! Nếu tìm cầu các pháp trong 10 phương đều không được thì đó là môn nào? Đáp rằng: Thưabồ tát Vănthù! Đều không có môn. Ngài Vănthù lại hỏi: Thiện nam tử! Như vậy, Tịch tĩnh cũng không có môn sao?Đáp: Thưabồ tát Vănthù! Tịch tĩnh này cũng không có môn. Ngài Vănthù nói: Này thiện nam tử! Chính vì lẽ ấy mà ta nói các pháp là Tịch tĩnh môn, tất cả lời nói chỉ là Tịch tĩnh môn hiển bày tính chất tĩnh lặng của Tịch tĩnh môn mà thôi.
tịch tĩnh niết bàn
(寂靜涅槃) Chỉ cho pháp quán tưởng 5 chữ (ía), (ĩa), (ịa), (na), (ma), mỗi chữ đều có thêm cái chấm Niết bàn (a#), được phân bố ở rốn. Khi thực hành pháp quán phân bố các chữ này thì dùng ấn Tam bộ tự luân gia trì ở rốn, kế đến tụng Chân ngôn: Nẵng mạc (nama#, qui mệnh) tam mãn đa (samanta, phổ biến) một đà nẫm (buddhànàm, chư Phật) niết ra phạ noa (nirvàịa, viên tịch) ác (a#, chủng tử) nạ nhạ nặc na mạc (ía# ĩa# ịa# na# ma#) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu). [X. phẩm Tự luân kinh Đại nhật Q.5].
tịch tĩnh pháp
Pháp diệt trừ tai họa để được an nhiên tịch tĩnh—Ceremonies for restoring peace from calamity.
tịch tĩnh tương ưng chân ngôn
(寂靜相應真言) Chỉ cho chân ngôn tương ứng với Tịch tĩnh pháp(Tức tai pháp). Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7, nếu trong chân ngôn có các chữ như Nạp ma, Sa phạ ha... thì đó là chân ngôn tương ứng với Tam ma địa tịch tĩnh. Kinh Yếu lược niệm tụng cũng nói rằng: Chân ngôn tương ứng với Tịch tĩnh pháp, đầu tiên dùng chữ Án, sau cùng dùng chữ Sa phạ ha. Trong đó, Nạp ma được dùng trong Thai tạng giới, còn chữ Án thì được dùng trong Kim cương giới.
tịch tĩnh âm dạ thiên
(寂靜音夜天) Phạm:Prazànta-ruta-sàgaravatì. Cũng gọi Tịch tĩnh Hải âm. Chỉ cho vị thiện tri thức đã nói cho Đồng tử Thiện Tài nghe về 37 loại chúng sinh và 37 pháp môn giáo hóa, là vị thiện tri thức thứ 36 trong 55 vị thiện tri thức nói trong kinh Hoa nghiêm. [X. kinh Hoa nghiêm Q.71 (bản dịch mới)].
Tịch tĩnh 寂靜
[ja] ジャクジョウ jakujō ||| Stillness, quiescence, mental equipoise. A synonym for enlightenment, or nirvana (Skt. śama, śānti; Pali sama). 〔起信論疏 1844.44.213c〕 (2) Stabilizing meditation, or calm abiding, in Sanskrit śamatha. Transcribed as 奢摩他, translated as 止 and 定. => 1. Sự tịch lặng, sự yên lặng, sự bình thản của tâm. Đồng nghĩa với giác ngộ hay niết-bàn (Skt. śama, śānti; Pali sama). 2. Trạng thái ổn định trong thiền định, an định, tiếng Sanskrit là śamatha. , Phiên âm là xa-ma-tha, dịch là chỉ 止và định 定.
Tịch tịnh
寂淨; J: jakujō;|Chỉ sự an lành, tịch tịnh trong tâm, sự thoát khỏi sự trói buộc của Vô minh với những Phiền não (j: bonnō), chướng ngại hệ thuộc. Danh từ này miêu tả trạng thái Tịch diệt (j: jakumetsu).
tịch tịnh
Vivitta (P), Vivikta (S), Vivitta (P), Santi (S), Quiet, Secluded Vắng lặngCòn là tên Tịch Tĩnh Mẫu, một vị thiênXem Tịch, Xem Vô cấu.
; Niết bàn tịch tịnh—Eternal peace, eternal nirvana. Những lời Phật dạy về “Tịch Tịnh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Eternal peace” in the Dharmapada Sutra: 1) Kẻ ngu muội vô trí, dù làm thinh cũng không gọi được là tịch tịnh—A man who is dull and ignorant, by silence alone, does not become a sage (Dharmapada 268). 2) Kẻ trí tuệ sáng suốt như bàn cân, biết cân nhắc điều thiện lẽ ác mà chọn lành bỏ dữ, mới gọi là người tịch tịnh. Biết được cả nội giới và ngoại giới nên gọi là người tịch tịnh—A wise man is the one who weighs what is thought worthy to be weighed. One who understands both worlds, is called a sage (Dharmapada 269).
tịch tịnh hải vân chú dạ thần
Night Spirit Sea of Still and Quiet Sound.
tịch tịnh môn
Còn gọi là Niết Bàn, nơi mà hết thảy chư pháp đều bị tịch diệt—Nirvana—The absolute—All things are served as the door of release from trouble and suffering.
tịch tịnh tuyệt đối
Absolute state.
Tịch tịnh 寂淨
[ja] ジャクジョウ jakujō ||| Quiet. Calmness of mind. The enlightened world. To become peaceful (sama, śānti). => Yên tĩnh. Tâm tĩnh lặng. Cảnh giới giác ngộ. Trở nên yên tĩnh (s: sama, śānti).
tịch tịnh, (cô quạnh)
Vivikta (S). Secluded, solitary.
tịch tử phác kính
(寂子撲鏡) Tên công án trong Thiền tông. Tịch tử đập gương. Nội dung công án này nói về việc ngài Ngưỡngsơn Tuệtịch đập vỡ chiếc gương làm lí do chỉ dạy đệ tử. Cứ theo Thiền uyển mông cầu quyển trung thì sau khi nhận được chiếc gương do thầy mình là Thiền Sư Qui Sơn Linh Hựu gửi đến, ngài Tuệ Tịch liền lên Pháp đường hỏi đại chúng rằng (Vạn tục 148, 120 thượng): Hãy nói đây là gương của Qui sơn hay gương của Ngưỡng Sơn? Nếu nói là của Qui sơnthì tại sao gương lại ở trong tay Ngưỡng Sơn? Nếu nói là gương củaNgưỡng Sơn thì tại sao Qui Sơn lại gửi đến? Hễ nói được thì không đập vỡ, còn không nói được thì đập vỡ. Sư hỏi đại chúng 3 lần, không ai đáp được, sư liền đập vỡ chiếc gương.
tịch tử đảm hoà
(寂子擔禾) Tên công án trong Thiền tông. Ngài Tịch QuangTuệ tịch gánh lúa. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch và thầy của mình là Thiền sư Qui sơn Linhhựu để xét nghiệm khả năng chứng ngộ của đệ tử. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 9 (Đại 51, 265 trung) ghi: Sư hỏi Ngưỡng sơn: Ông vừa ở đâu về? Ngưỡngsơn đáp: Từ ngoài đồng về ạ. Sư hỏi: Lúa gặt được chưa? Ngưỡng Sơn đáp: Gặt được rồi ạ! Sư nói: Thấy xanh, thấy vàng hay thấy không xanh không vàng? Ngưỡng Sơn hỏi: Sau lưng Hòa thượng là cái gì thế ạ? Sư hỏi lại: Ông thấy cái gì? Ngưỡng Sơn cầm một bông lúa đưa lên, nói: Hòa thượng đâu từng hỏi cái này? Sư nói: Đây chính là ngỗng chúa chọn sữa.Ngỗng chúa chọn sữa nghĩa là sữa hòa lẫn với nước lã, ngỗng chúa chỉ lựa lấy sữa để uống, ví dụ khả năng phân biệt thật, giả của người ta. Ở đây ví dụ sự hiển bày Phật pháp chân thực.
tịch vọng
Thoát khỏi phiền não—To set free from illusion.
tịch vọng cứu lược thuyết
(闢妄救略說) Cũng gọi: Thiên đồng hòa thượng tịch vọng cứu lược thuyết. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Mật vân Viênngộ (1566-1642) soạn vào đời Minh, thị giả là Chânkhải biên chép, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Đệ tử nối pháp của Thiền sư Mật vân Viênngộ là ngài Hánnguyệt Pháp tạng chủ trương 1 cái vòng tròn O(Viên tướng) là Tổ của nghìn Phật muôn Phật được trình bày trong tác phẩm Ngũ tông nguyên. Ngài Viênngộ cho rằng đây là kiến giải sai lầm, vì Thiền tông không lập văn tự, cũng chẳng chủ trương tướng tròn O là Tổ của nghìn Phật muôn Phật. Nếu có 1 tướng tròn O này thì tuệ mệnh của Thiền tông sẽ có xu thế đoạn tuyệt. Để cứu các đệ tử của Thiền môn đời sau khỏi rơi vào lưới tà kiến, vọng nhận tướng tròn O mà không tự ngộ, cho nên ngài soạn bộ sách này để nêu tỏ đại ý của Phật pháp. (xt. Ngũ Tông Nguyên).
tịch ý bồ tát
Santi-mati (S)Tên một vị Bồ tát.
tịch định
Tranquil concentration; contemplation in which disturbing illusion is liminated.
; Sự định tĩnh tịnh tịch, trong đó những ảo tưởng loạn động đều bị tận diệt—Tranquil concentration; contemplation in which disturbing illusion is eliminated.
; (寂定) Phạm: Samàdhi. Chỉ cho cảnh giới thiền định. Nghĩa là không khởi lên vọng tưởng vọng niệm đối với các pháp. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Khiến cho tịch định rộng khắp mà tiến sâu vào Pháp tạng của Bồ tát. Trong Mật giáo thì Tịch định là chỉ cho Tam muội tĩnh lặng mát mẻ. Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 622 hạ) nói: Ở phương bắc quán Phật Bất động, hiện tướng lìa nóng bức được mát mẻ, trụ trong Tịch định.
tịch định pháp vương
The great tranquil dharma king—The great nirvana dharma king.
Tịch định 寂定
[ja] ジャクジョウ jakujō ||| Meditation, concentration, calm abiding; samādhi. => Thiền định, an trú trong định; samādhi.
Tịch 寂
[ja] ジャク jaku ||| (1) To become quiet. Peaceful, extinguished (śānti, sama, samana, viviktatā). (2) nirvāna. (3) Quiescence. => 1. Trở nên yên lặng. Yên tĩnh, làm tiêu tan (śānti, sama, samana, viviktatā). 2. Niết-bàn (s: nirvāna). 3. Sự tĩnh lặng.
Tịnh
淨; C: jìng; J: jō; S: śuddhi, śuddha, viśuddhi, pariśuddha|1. Trong sạch, sạch sẽ, thanh khiết; 2. Không nhiễm ô hoặc phiền não; 3. Không còn sinh khởi vọng tưởng; 4. Cõi Tịnh độ; 5. Pháp tu tập đưa đến vãng sinh Tịnh độ; 6. Dịch nghĩa chữ brahman từ tiếng Phạn và Pāli.
tịnh
Vimala (S). Clean, pure, spotless, unstained; to cleanse, purrify; chastity. Also Vô cấu.
; Vimala (skt). 1) Nhà cầu: Latrine. 2) Sánh đôi: Together—To go in pair. 3) Thanh khiết: Clean—Pure—To cleanse—To purify—Chastity—Purity (n). 4) Trong Phật giáo, “tịnh” ám chỉ nơi để tẩy uế: In Buddhism, Vimala also has reference to the place of cleansing.
tịnh ba la mật
The fourth pàramità of the Nirvàna sùtra thường, lạc, ngã, tịnh.
; Tứ Ba La Mật trong kinh Niết Bàn—The fourth paramita of the Nirvana sutra: 1) Thường: Pemanent. 2) Lạc: Joy. 3) Ngã: Great soul. 4) Tịnh: Pure.
Tịnh Bang
(淨邦): tên gọi khác của Tịnh Độ (淨土), chỉ cho một quốc độ trang nghiêm, thanh tịnh, nơi chư Phật thường cư trú. Như trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, CBETA No. 1215) có đoạn: “Tịnh Bang quốc độ diệu vô cùng, thất bảo trang thành Cực Lạc Cung, xứ xứ Ca Lăng tiền cổ vũ, song song Khổng Tước hậu lâm trung, liên khai Thượng Phẩm nan vi tỷ, hoa thổ u hương cánh bất đồng (淨邦國土妙無窮、七寶妝成極樂宮、處處迦陵前鼓舞。雙雙孔雀後林中、蓮開上品難為比、花吐幽香更不同, Tịnh Bang quốc độ tuyệt vô cùng, bảy báu tạo thành Cực Lạc Cung, chốn chốn Ca Lăng chim cổ vũ, nơi nơi Khổng Tước hót trong rừng, sen bày Thượng Phẩm sao sánh được, hoa tỏa hương thơm chốn nào bằng).” Hay như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 1 cũng có câu: “Ta Bà uế độ tiềm tiêu Ngũ Trược chi căn, Cực Lạc Tịnh Bang tảo hạ Cửu Liên chi chủng (娑婆穢土潛消五濁之根、極樂淨邦早下九蓮之種, Ta Bà cõi nhớp dần tiêu Năm Trược căn nguyên, Cực Lạc Tịnh Bang sớm gieo Chín Sen hạt giống).”
tịnh bang
Xem Tịnh độ.
; See Tịnh Độ.
Tịnh Bình
(淨瓶): bình bằng gốm sứ hay kim thuộc, đựng nước sạch để uống hoặc rửa, còn gọi là Thủy Bình (水瓶), Tháo Bình (澡瓶), Phạn ngữ là kuṇḍikā, âm dịch là Quân Trì (君持、君遲、軍遲), là vật dụng thường mang bên mình của vị Tỷ Kheo. Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (勅修百丈清規) có giải thích rằng: “Tịnh Bình, Phạm ngữ Quân Trì, thử vân bình, thường trữ thủy tùy thân, dụng dĩ tịnh thủ (淨瓶、梵語軍遲、此云瓶、常貯水隨身、用以淨手, Tịnh Bình, tiếng Phạn là Quân Trì, Tàu gọi là bình, thường đựng nước mang theo bên mình, dùng để rửa sạch tay).” Đặc biệt Tịnh Bình này cũng là vật mang bên mình của Phạm Thiên, Bồ Tát Quán Thế Âm Ngàn Tay, v.v. Hình tượng đức Bồ Tát Quán Thế Âm cầm Tịnh Bình và nhành Dương Liễu rất phổ biến ở Việt Nam và các nước Phật Giáo Đại Thừa thuộc Châu Á. Trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼) có đề cập đến Tịnh Bình như là một trong 40 vật cầm trên tay của đức Quan Âm Ngàn Tay. Hơn nữa, trong chư tôn của Thai Tạng Giới Khinh Trà La (胎藏界輕茶羅), Di Lặc Bồ Tát (彌勒菩薩) của Bát Diệp Viện (八葉院) ở giữa, Bất Không Quyên Sách Bồ Tát (不空羂索菩薩) cũng như Tỳ Câu Chi Bồ Tát (毘倶胝菩薩) của Quan Âm Viện (觀音院), Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát (十一面觀自在菩薩) của Tô Tất Địa Viện (蘇悉地院), và Hỏa Thiên (火天) của Kim Cang Bộ (金剛部), v.v., đều cầm Quân Trì. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của thi hào Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có đoạn rằng: “Tiết đầu thu lập đàn giải thoát, nước Tịnh Bình rưới hạt dương chi, muôn nhờ Đức Phật từ bi, giải oan cứu khổ độ về Tây Phương.” Hay như trong Chánh Nguyên Lược Tập (正源略集, CBETA No. 1587) quyển 15 có câu: “Hồ hải Thiền lưu, thập phương cọng tập, Quan Âm y cựu Tịnh Bình, Thế Chí biệt khai sanh diện (湖海禪流、十方共集、觀音依舊淨瓶、勢至別開生面, hồ biển dòng Thiền, mười phương cùng gặp, Quan Âm như cũ Tịnh Bình, Thế Chí riêng bày mặt thật).”
tịnh bình
Xem Thủy bình.
; Kunda (S). Nectar jug. Also Quân đồ lị, thủy bình, quân trì.
tịnh bất động đạo kinh
Sàmagàmasuttanta (P). Also Xa di thôn kinh.
tịnh bồ đề tâm
Pure bodhi mind, or mind of pure enlightenment, the first stage of the practitioner in the esoteric sect.
; Các vị hành giả Chân Ngôn Tông mới nhập vào sơ địa, kiến pháp minh đạo, đắc được vô cái chướng tam muội—Pure bodhi mind, or mind of pure enlightenment, the first stage of the practitioner in the esoteric sect.
tịnh bồ đề tâm môn
(淨菩提心門) Hành giả Chân ngôn đầu tiên vào Sơ địa(Tịnh bồ đề tâm địa), thấy pháp rõ đạo, được tam muội Vô cái chướng(không bị ngăn che), gọi là Tịnh bồ đề tâm. Tâm bồ đề thanh tịnh này là Tam ma địa của đức A súc Nhưlai ở phương Đông, là nhân chính để thành Phật của tất cả chúng sinh, để chứng nhập cảnh giới của tất cả Nhưlai, vì thế gọi là Môn(cửa vào), tức Tịnh bồ đề tâm môn. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1; Bí tạng kí Q. cuối].
tịnh chiếu minh
(Tam muội)
tịnh chiếu minh tam muội
Alaṁkāraśurā (S).
Tịnh chí
淨志; C: jìngzhì; J: jōshi;|Hán dịch chữ samaṇa trong tiếng Pāli và chữ śramaṇa trong tiếng Phạn. Sa-môn (沙門).
tịnh chí
xem sa-môn.
; Purity of mind.
Tịnh chí 淨志
[ja] ジョウシ jōshi ||| A Chinese translation of the Pali samaṇa and the Sanskrit śramaṇa. See shamen 沙門. => Hán dịch chữ samaṇa trong tiếng Palivà chữ śramaṇa trong tiếng Sanskrit. Xem Sa-môn (沙門).
tịnh chúng
Pure assembly, the company of the chaste, the body of monks.
; Chúng thanh tịnh—Pure assembly (the body of monks)—The company of the chaste.
tịnh chúng tông
(淨衆宗) Cũng gọi Tịnh chúng phái. Tên một tông phái Thiền ở Trung quốc vào thời kì đầu do ngài Vôtướng (684-762) khai sáng vào đời Đường tại chùa Tịnh chúng(cũng do ngài Vôtướng sáng lập), phủ Thành đô, tỉnh Tứ xuyên. Tông chỉ của phái thiền này là 3 từ ngữ: Vô ức (không nhớ), Vô niệm (không nghĩ) và Mạc vong(chớ quên), được phối hợp với 3 học xứ: Giới, Định và Tuệ, khuyên răn người học chớ nhớ lại quá khứ, chớ nghĩ trước vị lai và chớ quên lúc nào cũng phải tương ứng với trí này (trí vô ức, vô niệm). Trong 3 từ ngữ trên, quan trọng nhất là Vô niệm. Ngài Vô Tướng rất coi trọng pháp nghi lễ tán trang nghiêm, nên đã phỏng theo hành nghi thụ giới Cụ túc của quan đàn để kiến lập đạo tràng, dạy chúng tăng theo tiếng niệm Phật để thôi nghĩ. Pháp hệ của phái này, trên thừa kế chư tổ Hoằngnhẫn, Trítân, Xửtịch, dưới truyền đến ngài Bảođường Vôtrụ. Một đệ tử khác của ngài Vôtướng là ngài Thần hội ở chùa Tịnh chúng, truyền pháp cho các vị Nam ấn, Đạoviên, ngài Khuêphong Tông mật cũng kế thừa hệ thống này. Lại một vị đệ tử nữa là ngài Thầnthanh ở chùa Tuệ nghĩa, soạn Bắc sơn lục, nói về sự quan hệ giữa Tam giáo. [X. Tống cao tăng truyện Q.19; Thiền môn sư tư thừa tập đồ; Viên giác kinh đại sớ sao Q.3 hạ; Đốn ngộ Đại thừa chính lí quyết; Thiền học tư tưởng sử thượng (Hốt hoạt Cốc khoái thiên)]. (xt. Vô Tướng).
Tịnh Chúng Tự
(淨眾寺, Jōshū-ji): hiện tọa lạc tại Huyện Thành Đô (城都縣), Phủ Thành Đô (城都府), Ích Châu (益州), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), căn cứ địa của Tịnh Chúng Tông (淨眾宗), còn gọi là Vạn Phước Tự (萬福寺). Nhân vật ở Huyện Thành Đô quy y theo vị tăng người Tân La (新羅) là Vô Tướng (無相), và sáng lập ra các chùa như Tịnh Chúng Tự (淨眾寺), Đại Từ Tự (大慈寺), Ninh Quốc Tự (寧國寺), v.v. Vô Tướng, Tịnh Chúng Thần Hội (淨眾神會), Quy Tín (歸信), v.v., đã từng sống qua ở chùa này. Trong khuôn viên chùa có một cái chuông rất lớn.
tịnh chư căn
Undefiled senses; i.e. undefiled eye, ear, mouth, nose, body.
; Chư căn thanh tịnh—Undefiled senses, i.e. undefiled eye, ear, mouth, nose, body, etc.
Tịnh chư nghiệp chướng
淨諸業障; C: jìng zhū yè zhàng; J: jōshogō-shō;|Tên của một trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như 1 đương cơ trong phẩm thứ 9 kinh Viên Giác.
Tịnh Chư Nghiệp Chướng 淨諸業障
[ja] ジョウショゴウショウ jōshogōshō ||| 'Purifier of All Karmic Hindrances.' One of the twelve bodhisattvas who appears as an interlocutor in the ninth chapter of the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經). T 17.842. => Một trong 12 vị Bồ-tát xuất hiện như một đương cơ trong phẩm thứ chín của kinh Viên Giác.
tịnh chỉ
Samatha (S), shinay (T), Tranquility meditation,
tịnh chỉ thiền
shinay (T), Samatha meditation Tranquility meditation
tịnh chỉ định
Appana samādhi (S), Absorption concentration.
tịnh chủ
The donor of chastity, i.e. of an abode for monks or nuns.
; The donor of chasity, i.e. of an abode for monks and nuns.
tịnh căn
Undefiled senses.
Tịnh cư
淨居; C: jìngjū; J: jōgo;|Nơi ở thanh tịnh, cảnh giới thanh tịnh của tâm.
tịnh cư
Retreat Nhập thất, Ẩn cư, Tịch cốc, Nhập cốc.
tịnh cư thiên
The five heavens of purity, in the fourth dhyàna heaven, where the saints dwell who will not return to another rebirth.
; 1) Cõi Trời Tịnh Cư—Heavens of Pure dwelling: Năm cõi Trời Tịnh Thiên. Cõi trời thứ tư nơi chư Thánh cư ngụ sẽ tái sanh vào cõi khác—The Pure abode heaven—The five heavens of purity, in the fourth dhyana heaven, where the saints dwell who will not return to another rebirth—See Đại Tự Tại Thiên (B)-2. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, Tịnh Cư Thiên là tên của một vị Trời hộ pháp, theo hộ trì Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và cuối cùng được Phật cho quy-y Tam Bảo—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Suddhavasadeva (skt) is a deva who served as guardian angel to Sakyamuni and brought about his conversion.
tịnh cư thiên tử
Chư Thiên đã chấm dứt dâm dục trong cõi trời sắc giới—Heavenly beings who have ended sexually desires. They exist in the Form Heavens (No-Thought, No Affliction, No-Heat, Good-View, Ultimate Form).
Tịnh cư 淨居
[ja] ジョウゴ jōgo ||| A pure abode, a pure state of mind. => Nơi ở thanh tịnh, cảnh giới thanh tịnh của tâm.
Tịnh Cảnh
(淨境): cảnh giới thanh tịnh, tên gọi khác của Tịnh Độ. Như trong bài thơ Phụng Hòa Cửu Nguyệt Cửu Nhật Đăng Từ Ân Tự Phù Đồ Ứng Chế (奉和九月九日登慈恩寺浮圖應制) của Phàn Thầm (樊忱) nhà Đường có câu: “Tịnh cảnh Trùng Dương Tiết, tiên du vạn thừa lai, sáp du đăng Thứu Lãnh, bả cúc tọa Phùng Đài, Thập Địa tường vân hợp, tam thiên thoại cảnh khai, thu phong từ cánh viễn, thiết biện lạc khang tai (淨境重陽節、仙遊萬乘來、插萸登鷲嶺、把菊坐蜂臺、十地祥雲合、三天瑞景開、秋風詞更遠,竊抃樂康哉, Cảnh tịnh Cảnh Trùng Dương Tiết, tiên về vạn xe bay, thù du lên Đỉnh Thứu, mang cúc ngắm Phùng Đài, Mười Địa mây lành khai, gió thu về xa tít, vui mừng khôn xiết thay).” Hay như trong Mộng Du Tập (夢遊集) quyển 33 của Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清, 1546-1623) nhà Thanh có câu: “Thổ bổn vô tịnh uế, tịnh uế tùng tâm biến, tâm cấu nhược tiêu trừ, tịnh cảnh ứng tâm hiện (土本無淨穢、淨穢從心變、心垢若消除、淨境應念現, đất vốn không sạch bẩn, sạch bẩn từ tâm biến, tâm bẩn nếu tiêu trừ, cảnh tịnh theo tâm hiện).” Trong Kim Cang Bát Nhã Kinh Tập Nghiệm Ký (金剛般若經集驗記, CBETA No. 1629) cũng có đoạn: “Công tự ngôn hữu hóa nhân lai nghênh, đương trú Tây Phương Tịnh Cảnh, nhân dữ thân thích quyết biệt, ngôn ngật nhi chung (公自言有化人來迎、當徃西方淨境、因與親戚訣別、言訖而終, ông tự bảo rằng có người hiện đến rước đi, sẽ về cõi Tịnh Cảnh ở phương Tây, nhân đó chia tay bà con thân thích, nói xong rồi đi).”
tịnh danh
Xem Duy ma Cật.
; Vimalakìrti (S). Name of person. Also Duy ma cật, Tì ma la cật.
; Vimalakirti (skt)—Pure Name—Duy Ma Cật—Một vị cư sĩ tại gia vào thời Đức Phật còn tại thế, là một Phật tử xuất sắc về triết lý nhà Phật. Nhiều câu hỏi và trả lời giữa Duy Ma Cật và Phật vẫn còn được ghi lại trong Kinh Duy Ma—A layman of Buddha's time who was excellent in Buddhist philosophy. Many questions and answers between Vimalakirti and the Buddha are recorded in the Vimalakirti-nirdesa. ** For more information, please see Vimalakirti in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tịnh danh huyền luận
(淨名玄論) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 38. Nội dung luận này nói về yếu chỉ của kinh Tịnh danh (kinh Duy ma). Đây là sách do ngài Cáttạng soạn lúc về già. Trước hết trình bày lí do soạn luận, kế đến là chia ra 3 khoa: Danh đề, Tông chỉ, Hội xứ. Trong sách trích dụng hơn 30 bộ kinh luận như: Đại phẩm Bát nhã, Pháp hoa, Niết bàn, luận Đại trí độ,... đồng thời ghi chép thuyết của các vịLuận sư miền Bắc như: Đạoan, Cưu ma la thập, Tăng triệu, Đạosinh,... Về sách chú thích thì có Tịnh Danh huyền luận lược thuật 7 quyển. [X. Tam luận tông chương sớ; Đông vực truyền đăng mục lục Q. thượng].
Tịnh Danh kinh
淨名經; C: jìngmíng jīng; J: jōmyōkyō;|Hán dịch nhan đề kinh Duy-ma-cật sở thuyết kinh (s: vimalakīrti-nirdeśa-sūtra).
tịnh danh kinh
Vimalakìrtinirdesa-sùtra (S)
; (淨名經) Thường gọi: Duy ma cật kinh. Duy ma cật, Phạm: Vimalakìrti. Hán dịch: Tịnh Danh. Tên gọi khác của kinh Duy ma cật. Chẳng hạn như ngài Cát tạng soạn 2 bộ luận sớ về kinh Duy ma thì 1 bộ gọi là Tịnh danh huyền luận, bộ kia thì gọi là Duy ma kinh nghĩa sớ. Còn ngài Huyền trang thì dịch Duy ma cật kinh là Vô cấu xưng kinh, sau thời ngài Huyền trang thì đều gọi là Tịnh danh kinh. xt. Duy Ma Kinh).
tịnh danh kinh tập giải quan trung sớ
(淨名經集解關中疏) Cũng gọi Quan trung tập giải, Quan trung sớ, Quan trung sao. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Đạo dịch biên tập vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Tác phẩm này do cắt bỏ những chỗ rườm rà, bù vào những chỗ thiếu sót trong bộ Chú duy ma cật kinh của ngài Tăng triệu đời Hậu Tần mà thành. Đầu quyển thượng có bài tựa của tác giả và bài tựa kinh Duy ma cật của ngài Tăngtriệu, sau đó là chú thích tên kinh và 4 phẩm từ phẩm Phật quốc đến phẩm Bồ tát. Quyển hạ chú thích 10 phẩm, từ phẩm Văn thù sư lợi vấn tật trở xuống. So sánh đối chiếu giữa bộ sớ này của tác giả Đạo dịch và Chú duy ma cật kinh của ngài Tăng triệu thì thấy đối với chú giải của 3 vị đại sư Cưu ma la thập, Tăng triệu và Đạo sinh trong Chú duy ma cật kinh, tác giả Đạo dịch đã cắt bớt khoảng 500 điều chú giải của ngài Cưu ma la thập, khoảng 300 điều chú giải của ngài Tăng triệu vàkhoảng 450 điều chú giải của ngài Đạo sinh. Còn phần mới bù vào thì không thu chép những điều giải thích của các ngài Tăng duệ và Thiên thai trong Chú duy ma cật kinh và văn khoa tiết cũng có nhiều chỗ thêm phần giải thích của chính tác giả. Truyện kí về tác giả Đạo dịch không rõ, cứ theo các tư liệu có liên quan thì biết vào những năm đầu trong khoảng thời gian từ năm Thượng nguyên đến năm Trinh nguyên (760-804), ngài Đạo dịch trụ ở chùa Tư thánh hoặc chùa Tây minh tại Trường an, chuyên việc dịch kinh và thuyết giảng. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Chư tông chương sớ lục Q.2; Phật điển chương sớ lục Q. thượng; Đôn hoàng kiếp dư lục Q.3; Minh sa dư vận giải thuyết (Thỉ xuyKhánh huy)].
Tịnh Danh kinh 淨名經
[ja] ジョウミョウキョウ Jōmyōkyō ||| Jingming jing A Chinese translation of the title of the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra (Weimojie jing 維摩結經). => (j: Jōmyōkyō; c: Jingming jing) Hán dịch nhan đề kinh Duy-ma-cật kinh (維摩結經s: Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra; c: Weimojie jing ).
Tịnh diệu
淨妙; C: jìngmiào; J: jōmyō;|Trong sạch, thanh tịnh (s: accha).
tịnh diệu
Māyādevī (S)Tên của Mẹ đức Phật.
Tịnh diệu 淨妙
[ja] ジョウミョウ jōmyō ||| Clear, pure (accha). 〔二障義 HPC 1.800a〕 => Trong sạch, thanh tịnh (accha).
tịnh duệ
1) Xuất thân từ dòng dõi thanh tịnh: Of pure descent, or line. 2) Một người Bà La Môn trẻ: A young Brahman. 3) Một người tu tịnh hạnh: An ascetic in general.
tịnh gia
The Pure Land sect—See Tịnh Độ Tông in Vietnamese-English Section.
tịnh giác
Pure enlightenment.
; 1) Sự giác ngộ thanh tịnh: Pure enlightenment. 2) Tên của một nhà sư Trung Quốc, tác giả của nhiều bộ sách: Name of a monk in China, author of several works.
; (淨覺) I. Tịnh Giác. Tên khác của Phật. Tâm thể không nhiễm ô gọi là Tịnh; đối cảnh không mê đắm gọi là Giác. Phật, tiếng Phạm (Buddha), Hán dịch là Giác(tĩnh biết); thể của Phật tự nhiên thanh tịnh, cho nên thông thường dùng Tịnhgiác làm tên khác của Phật.II. Tịnh Giác (683-750) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, họ Vi, là em người thứ phi của vua Đường trung tông. Tuy được vua dự định phong cho tước Hầu, nhưng sư lại trốn đi khất thực, vào núi Thái hàng, xuất gia thụ giới Cụ túc. Sư trụ trong một lan nhã cũ của một vị Thiền sư, hổ dữ đến liếm chân, rắn độc phủ ấm thân, hoặc thần núi dâng cúng trái cây, thiên nữ rải hoa, nhưng không hề vui hay sợ hãi. Sư từng thờ ngài Thần tú thuộc thiền Bắc Tông làm thầy, sau khi ngài Thần tú thị tịch, nghe ở Đông kinh có ngài Huyền trách, sư liền đến xin ngài chỉ dạy, sư giữ giới luật trang nghiêm, kinh luận hiểu thấu đáo.Sau đó, sư trụ ở hang Linh tuyền, núi Thái hàng soạn bộ Lăng già sư tư kí, rồi sư lại trụ chùa Đại an quốc tại Trường an.Sau, sư thị tịch ở chùa Đại an quốctại Trường an năm 750. Đệ tử có 70 vị. Sư có trứ tác: Chúbátnhã tâm kinh. [X. Lăng già sư tư kí tự; Thiền thông sử nghiên cứu (Vũtỉnh Bá họ)]. III. Tịnh Giác (992-1064) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Thiên thai, sống vào đời Bắc Tống, người Điệp xuyên (nay là huyện Ngô hưng tỉnh Chiết giang), họ Khương, tên Nhân nhạc, tự Tịch tĩnh, hiệu tiềm phu, hiệu ban là Tịnh Giác. Sư từng hầu ngài Tứ minh Tri lễ trong 10 năm, tìm hiểu hết nghĩa sâu kín của ngài, đến lúc cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại dần dần trở nên kịch liệt, sư mới giúp ngài Tri lễ phản đối phái Sơn ngoại, sư đã cố gắng rất nhiều. Sau vì bệnh nên sư an tọa trong tĩnh thất, bừng tỉnh như vừa thức giấc, mới biết sở học củamìnhtừ trước đến nay là sai lầm, liền xin thụ giáo ngài Tuân thức và biện luận với ngài Tri lễ, tự thành lập một phái riêng, người đời tôn sư là sao Bắc đẩu của phái Tạp truyền, hoặc phái Hậu sơn ngoại. Sư trụ trì chùa Chiêu khánh và chùa Thạch bích, Linh chi, Tuệ an, Thanh tu, rồi làm chủ Tịnh xã ở Vĩnh gia trong 10 năm, giáo hóa rất rộng, sau sư trở về quê trụ chùa Tường phù. Về già, sư chuyên tu tịnh nghiệp, đốt 3 ngón tay cúng dường Phật, giữ gìn giới luật tinh nghiêm. Niên hiệu Trị bình năm đầu(1064), sư an tọa thị tịch, thọ 73 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Đại luận tiết văn 12 quyển; Lăng nghiêm tập giải 10 quyển; Lăng nghiêm văn cú huân văn kí 5 quyển; Lăng nghiêm văn cú phát chẩn sao 2 quyển; A di đà kinh sớ; A di đà kinh sớ chỉ qui; Kim cương Bát nhã kinh sớ; Thập gián thư; Tạp lục danh nghĩa 55.[X. Phật tổ thống kỉ Q.21; Thích môn chính thống Q.5].
tịnh giác thiện trì
Thiền Sư Tịnh Giác Thiện Trì—Zen Master Tịnh Giác Thiện Trì—Thiền sư người gốc Hoa, đến xã Linh Phong, quận Phù Cát, tỉnh Bình Định lập am Dũng Tuyền tu tập. Đến năm 1733, chúa Nguyễn Phước Trú ra lệnh cho quan chức địa phương trùng tu chùa và đặt tên lại là Linh Phong Thiền Tự. Năm 1741, chúa Nguyễn Phước Khoát cho triệu hồi ngài về kinh đô giảng pháp cho hoàng gia. Sau đó ngài trở về Linh Phong tự và thị tịch tại đây vào năm 1785—A Chinese Zen Master who came to Vietnam in around 1702. He went to Linh Phong, Phù Cát, Bình Định to build a thatch small temple named Dũng Tuyền. In 1733, Lord Nguyễn Phước Trú ordered his local officials to rebuild this temple and renamed it Linh Phong Temple. In 1741, Lord Nguyễn Phước Khoát sent an Imperial Order to summon him to the capital to preach Buddha Dharma to the royal family. Later, he returned to Linh Phong Temple and passed away there in 1785.
Tịnh giới
淨戒; C: jìng jiè; J: jōkai;|1. Giới luật thanh tịnh. Giới luật mà chư tăng ni phải tu tập; 2. Sự thanh tịnh trong giới luật. Trì giữ giới luật; 3. Một cách dịch nghĩa chữ Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu).
tịnh giới
The pure commandments (precepts), or to keep them in purity.
; Giới hạnh thanh tịnh trong sạch (giới hạnh đầy đủ của một bậc xuất gia)—Pure commandments, or to keep them in purity.
; (淨戒) I. Tịnh giới. Chỉ cho giới hạnh thanh tịnh. PhẩmTựa kinh Pháp Hoa (Đại 9, 4 hạ) nói: Tinh tiến giữ tịnh giới, như giữ hạt minh châu. II. Tịnh giới. Một trong 17 thứ tạp cúng dường được sử dụng trong pháp Kim cương giới thuộc Mật giáo, tức là Giới ba la mật, 1 trong 6 độ. Thực hành 6 độ để bày tỏ sự cúng dường, gọi là Lục chủng cúng dường, thuộc về 17 thứ tạp cúng dường. Nếu y theo tên của Ấn khế thì gọi là Hương thân khế. Hương thân nghĩa là dùng hương thoa lên mình thì tiêu trừ nhiệt não, có tác dụng mát mẻ; giới có công năng ngăn chặn điều sai quấy, xấu ác, đồng nghĩa với thoa hương, cho nên dùng đồ hương (hương xoa) làm Tịnh giới. Ấn tướng là Tam muội da đồ hương. [X. Liên hoa bộ tâm nghi quĩ; kinhLược xuất niệm tụng Q.4].
tịnh giới thiền sư
Zen Master Tịnh Giới (?-1207)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Giang Mão, Bắc Việt. Ngài xuất gia năm 26 tuổi. Lúc đầu ngài học Luật. Về sau, ngài trở thành đệ tử của Thiền sư Bảo Giác ở chùa Viên Minh. Ngài là Pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sau khi Thầy ngài thị tịch, ngài trở về làng trùng tu chùa Quảng Thánh và trụ tại đây hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch năm 1207—A Vietnamese Zen master from Giang Mão, North Vietnam. He left home to become a monk at the age of 26 after a serious illness. First, he studied Vinaya. Later, he became a disciple of Zen master Bảo Giác at Viên Minh Temple. He became the Dharma heir of the tenth generation of Wu-Yun-T'ung Zen Sect. After his master passed away, he returned to his home village to rebuild Quảng Thánh Temple and stayed there to expand Buddhism until he passed away in 1207).
Tịnh giới 淨戒
[ja] ジョウカイ jōkai ||| (1) The pure precepts. The moral disciplines practiced by members of the sangha. (2) Purity in the precepts. To hold closely to moral discipline. (3) One Chinese rendering of the term bhikṣu 比丘 (biqiu). HPC 7.22a21 => 1. Giới luật thanh tịnh. Giới luật mà chư tăng ni phải tu tập. 2. Sự thanh tịnh trong giới luật. Trì giữ giới luật. 3. Một cách dịch nghĩa chữ tỷ-khưu (比丘; s: bhikṣu; c: biqiu).
tịnh hoa chúng
The pure flower multitude, i.e. those who are born into the Pure Land by means of a lotus flower.
; Những người tu hành vãng sanh Tịnh Độ bằng hoa sen—The pure flower multitude, i.e those who are born in the Pure Land by means of a lotus flower.
; (淨華衆) Chỉ cho chúng Bồ tát, chúng Thanh văn trụ ở Tịnh độ của Phật A di đà. Tức là lúc sinh về Tịnh độ không cần phải nhờ gá vào thai mẹ mà trực tiếp hóa sinh từ trong hoa sen thanh tịnh mà ra, có đủ 7 pháp thanh tịnh, vì thế nên các bậc Thánh ở Tịnh độ được gọi là Tịnh hoa chúng. [X. Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ].
tịnh hoa túc vương trí như lai
Kāmaladala-vimalanakchatraradja-samkusu-mita-bhidja (S)Một vị Phật đồng thời với Phật Thích Ca, thế giới của Ngài ở phía đông cõi ta bà, tên là Tịnh quang Trang nghiêm cõi.
tịnh huệ pháp nhãn văn ích thiền sư
Zen master Jing-Hui Fa-Yan-Wen-Yi—See Văn Ích Thiền Sư.
Tịnh hành
淨行; C: jìngxíng; J: jōgyō;|1. Hạnh (tư cách đạo đức) thanh tịnh, đặc biệt trong ý nghĩa không dính líu đến việc dâm dục (s: brahma-cārya); 2. Người an trú trong các công hạnh thanh tịnh; 3. Tên của vị Bồ Tát thứ 3 trong 4 vị Bồ Tát xuất hiện trong phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp Hoa.
tịnh hành
(淨行) Vị tăng Việt Nam. Sư họ Lê. Xuất gia năm 17 tuổi, sư lần lượt theo học các trường Trung, Cao đẳng phổ thông và tốt nghiệp Đại học Vạn hạnh Phật giáo tại Nam Việt nam. Năm 1962, sư trụ trì hội Phật giáo tỉnh Gia định Nam Việt, năm sau sư được bầu làm Hội trưởng hội Phật giáo Gia định. Năm 1968, sư được chính phủ Việt nam cấp học bổng du học Đài loan, năm sau sư đến Đài, theo học các ban Thạc sĩ và Tiến sĩ tại sở Nghiên cứu thuộc Đại học Sư phạm. Trong thời kì theo học, sư từng được các học bổng khen thưởng của Trung quốc (Đài loan) và Hoa kì. Năm Dân quốc 17 (1981), sư đạt học vị Tiến sĩ Văn học quốc gia Trung quốc, năm sau sư được nhập tịch Trung hoa Dân quốc. Năm Dân quốc 68, sư sáng lập Linh sơn giảng đường ở Đài bắc để đào tạo nhân tài cho sự nghiệp hoằng pháp. Năm Dân quốc 69, sư lập thêm sở Nghiên cứu Phật học Linh sơn, giảng dạy vào buổi tối, dành cho những người học Phật tại chức có thì giờ nghiên cứu và tiến tu Phật pháp. Năm Dân quốc 70, sư xuất bản nguyệt san Phật giáo hiện đại. Năm Dân quốc 72, sư giữ chức Bí thư liên lạc hội Tăng già Phật giáo thế giới cho đến nay. Năm Dân quốc 73, sư mở rộng Phân viện Linh sơn tại Trung lịch. Năm Dân quốc 74, sư được bầu làm Phó hội trưởng hội Phật giáo Linh sơn thế giới, đồng thời, sáng lập học viện Sư phạm Phật giáo Trung quốc ở chùa Quảngthiêntại làng Thanh bộ thuộc Trung lịch.
tịnh hành giả
1) Người tu hành phạm hạnh: One who observes ascetic practices. 2) Phạm Chí: One of pure or celibate conduct. 3) Bà La Môn: A Brahman.
tịnh hạnh
Viśuddhacaritra (S)Tên một vị sư Xem Phạm hạnh
; Pure conduct.
; Pure conduct.
tịnh hạnh bồ tát
Viśuddhacaritra (S)Tên một vị Bồ tát cùng vô số Bồ tát khác đến núi Kỳ sà Quật ủng hộ Phật Thích ca diễn kinh Pháp Hoa.
tịnh hạnh giả
Xem Phạm chí.
; One who observes ascetic practices; one of pure or celibate conduct; a Brahman.
tịnh hạnh nơi khẩu
Pure conduct of the actions of the mouth—Tịnh hạnh nơi khẩu là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta tiểu trừ được tứ ác (nói dối, nói lời thô lỗ cộc cằn, nói lời độc ác, và nói lưỡi hai chiều)—Pure conduct of the actions of the mouth is one of the most important entrances to the great enlightenment; for it eliminates the four evils of lying, harsh speech, wicked speech, and two-faced speech.
tịnh hạnh nơi tâm
Pure conduct of the actions of the mind—Tịnh hạnh nơi tâm là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta tận diệt được tam độc, tham, sân, si—Pure conduct of the actions of the mind is one of the most important entrances to the great enlightenment; for it eliminates the three poisons of greed, hatred and ignorance.
tịnh hạnh tôn giả
Xem Phạm chí.
Tịnh hạnh 淨行
[ja] ジョウギョウ jōgyō ||| (1) Practices (behavior) of purity, especially pure in terms of absence of sexual excess (brahma-cārya). (2) One who abides in pure practices (behavior) (vrttin). (3) The name of the third out of the four bodhisattvas who appear in the 從地踊出 chapter of the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.40a24〕 => 1. Hạnh (tư cách đạo đức) thanh tịnh, đặc biệt trong ý nghĩa không dính líu đến việc dâm dục (s: brahma-cārya). 2. Người an trú trong các công hạnh thanh tịnh. 3. Tên của vị Bồ-tát thứ ba trong bốn vị Bồ-tát xuất hiện trong phẩm Tùng địa dũng xuất ở kinh Pháp Hoa.
tịnh hải
(淨海) Danh tăng Trung quốc, người ở Vũ tiến, tỉnh Giang tô, họ Viên. Năm 9 tuổi, sư nương vào Pháp sư Chước nhiên ở am Phục hưng, tỉnh Giang tô, xuất gia. Năm Dân quốc 35 (1946), sư thụ giới Cụ túc ở chùa Long xương, núi Bảo hoa, năm sau, sư đến theo học ở viện Phật học chùa Thiên minh tại Vũ tiến. Năm Dân quốc 38 (1949), sư đến Đài loan gần gũi Pháp sư Từ hành. Năm Dân quốc 49 (1960), sư đến Thái lan học tiếng Thái vàPàli, đồng thời vào nghiên cứu tại trường Đại học Chu lạp long công. Năm Dân quốc 59 (1970), sư đến Nhật bản nghiên cứu tại trường Đại học Lập chính ở Đông kinh (Tokyo), 2 năm sau, sư được học vị Thạc sĩ. Năm Dân quốc 61 (1972), sư đến Hoa kì hoằng pháp, trụ ở chùa Báo ân tại New York. Hiện nay, sư trụ trì Hoa nghiêm liên xã ở Đài bắc, Đài loan.Sư có tác phẩm: Nam truyền Phật giáo sử, dịch phẩm: Chân lí đích ngữ ngôn, Phật đà họa truyện.
tịnh khiết ngũ dục
The five pure desires, or senses, i.e. of the higher worlds in contrast with the coarse senses of the lower worlds.
; Ngũ dục thanh tịnh, như nơi thượng giới, đối lại với những giác quan thô thiển trong hạ giới—The five pure desires or senses, i.e. of the higher worlds in contrast with the coarse senses of the lower worlds.
Tịnh Không
淨空; 1091-1170|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 10. Sư kế thừa Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư người gốc Trung Quốc, họ Ngô, quê ở Phúc Châu (Phúc Kiến). Ban đầu, Sư đến viện Sùng Phúc xuất gia và Thụ giới cụ túc.|Năm lên 30, Sư Hành cước đến phương Nam, đến chùa Khai Quốc phủ Thiên Ðức dừng lại trụ trì. Ở đây, Sư chuyên tu theo hạnh Ðầu-đà, ngồi hoài không nằm, mỗi khi nhập Ðịnh nhiều ngày mới xuất. Mọi người xung quanh rất kính trọng, đem lễ vật cúng dường chất cao như núi.|Một hôm, một vị thiền khách đến chùa hỏi thăm sự tu hành. Vị này biết Sư chưa ngộ yếu chỉ bèn chỉ đến Thiền sư Ðạo Huệ tham học. Sư bèn giao chùa đi thẳng đến Ðạo Huệ.|Ðến nơi, Sư hỏi Ðạo Huệ: »Nơi này có tông chỉ Thiền tông chăng?« Ðạo Huệ đáp: »Nơi đây tông chỉ chẳng phải không, nhưng Xà-lê làm sao đảm nhận?« Sư suy nghĩ trả lời, Ðạo Huệ nạt: »Ngay trước mặt đã lầm qua rồi!« Sư liền lĩnh hội ý chỉ, ở lại hầu thầy ba năm.|Sau, Sư về chùa cũ trụ trì hoằng hoá. Năm thứ 8 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng đời vua Lí Anh Tông, Sư từ giã chúng và căn dặn: »Các ngươi khéo tự giữ gìn như lúc ta còn, chớ nhiễm thế gian sinh ra quyến luyến.« Ðến giữa đêm, Sư ngồi Kết già thị tịch.
tịnh không thiền sư
Zen Master Tịnh Không (?-1170)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phúc Xuyên, Bắc Việt. Đầu tiên ngài tới chùa Sùng Phước thọ cụ túc giới. Ngài là Pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Đến năm 30 tuổi ngài du phương về Nam và ghé lại chùa Khai Quốc ở Thiên Đức tu tập khổ hạnh vài năm. Về sau, ngài trở về chùa Sùng Phước và trụ tại đây hoằng hóa cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1170—A Vietnamese Zen master from Phúc Xuyên, North Vietnam. First, he came to Sùng Phước Temple to receive complete precepts. He was the Dharma heir of the tenth generation of Wu-Yun-T'ung Zen Sect. When he was thirty years old, he wandered to the South and stopped by Khai Quốc Temple in Thiên Đức and stayed there to practice ascetics for several years. Later, he went back to Sùng Phước Temple and stayed there to expand Buddhism until he passed away in 1170.
tịnh khẩu nghiệp chân ngôn
(淨口業真言) Thần chú làm cho nghiệp miệng được thanh tịnh, gồm 14 chữ: Tu lị tu lị ma ha tu lị tu tu lị tát bà ha. Cứ theo Tiêu thích kim cương khoa nghi hội yếuchúgiải quyển 2, người tụng trì chân ngôn này thì tất cả nghiệp miệng đềuđược thanh tịnh, còn nếu không trì tụng chân ngôn này thì cho dù có dùng hết nước sông Hằng để súc miệng cũng không được thanh tịnh.
tịnh khởi
Cùng khởi lên một lượt—To arise together.
tịnh kiểm
(淨檢) Ni sư Trung quốc, sống vào đời Tây Tấn, người ở Bành thành (Đồng sơn-Giang tô), họ Trọng, tên là Lệnh nghi. Ni sư là con gái của Thái thú Đản ở Vũ uy, thuở nhỏ rất ham học, sau lập gia đình, nhưng chồng mất sớm. Trong năm Kiến hưng (313-316) đời Tây Tấn nghe sa môn Pháp thủy giảng pháp, ni sư có chỗ tỉnh ngộ, xem kinh Phật hiểu được ý chỉ sâu xa. Thời ấy, pháp Tỉ khưu ni ở Trung quốc vẫn chưa được đầy đủ, ni sư từng bái yết vị sa môn người Tây vực là ngài Trí Sơn, thưa hỏi về pháp Tỉ khưu ni, sau đó cạo tóc xuất gia, theo Hòa thượng nhận lãnh 10 giới, là Ni chúng đầu tiên ở Trung quốc. Ni sư xây cất chùa Trúclâm ở cửa Tây cung thành Kiến khang và trụ tại đó. Niên hiệu Thăng bình năm đầu (357), ni sư thỉnh ngài Đàm ma yết đa kiến lập giới đàn Tỉ khưu ni ở Lạc dương, rồi ni sư và 3 vị ni khác cùng thụ giới Cụ túc, ngày làm pháp yết ma có mùi hương lạ ngào ngạt, mọi người nghe mùi đều vuimừng kính ngưỡng. Vào những năm cuối niên hiệu Thăng Bình ni sư thị tịch, thọ 70 tuổi. [X. Tỉ khưu ni truyện Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.36].
tịnh loã loã
(淨裸裸) Cũng gọi Xích lỏa lỏa, Xích sái sái. Tiếng dùng trong thiền lâm. Sạch sẽ, trần trụi. Từ ngữ chỉ cho trạng thái buông bỏ mọi việc, thân tâm rỗng rang, thiên chân ngời sáng, không dính mảy may tình trần. Cũng có nghĩa là toàn chân hiển lộ, thoát thể hiện thành, hiện thành công án.Thung dung lục tắc 31 (Đại 48, 348 thượng) nói: Một luồng ánh sáng thần diệu(trên chống trời, dưới chọi đất), ngay từ đầu, không che giấu(sạch sẽ, trần trụi), vượt khỏi cái thấy tầm thường, phải mà chẳng phải.
tịnh luân
Viśuddhacakra (S).
tịnh lưu li thế giới
The pure crystal realm in the eastern region, the paradise of Phật Dược Sư; it is the Bhaisajyaguruvaidùrya-prabhàsa.
; (淨琉璃世界) Cũng gọi Dượcsưtịnh độ. Tịnh độ của đức Dượcsư Nhưlai. Vì đất của thế giới này là lưu li, hoặc vì thế giới này và bản thân vị Giáo chủ đều thanh tịnh như lưu li, nên gọi là thế giới Tịnh lưu li. Kinh Dượcsư Lưuliquang Nhưlai bản nguyện công đức (Đại 14, 405 thượng) nói: Cách cõi này về phíađông hơn 10 lần số cát sông Hằng cõi Phật, có một thế giới tên là Tịnh lưu li,đức Phật hiệu là Dược sư lưu liquang Như lai, Ứng chính đẳng giác, Minh hạnh viên mãn. Đại nguyện thứ 2 trong 12 đại nguyện của kinh này (Đại 14, 405 thượng) nói: Nguyện khi tôi chứng đượcbồ đề ở đời vị lai thì thân nhưlưuli, trong ngoài sáng suốt, sạch không vết nhơ, ánh sáng rộng lớn, công đức vòi vọi. Theo kinh Dược sư Như lai bản nguyện do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy, cõi nước của đức Phật ấy không có người nữ,không có các dục xấu xa và tất cả âm thanh đau khổ của ác đạo, đất đai toàn bằng lưu li, thành quách, rường cột, đẩu củng, mành lưới bao quanh,…... đều được cấu thành bằng 7 thứ báu, hệt như cõi nước Cực lạc, trong đó có 2 vị Bồ tát là Nhật quang và Nguyệt quang là bậc Thượng thủ. Tín ngưỡng Dược sư Như lai thịnh hành ở Trung quốc từ đời Lưu Tống về sau, biến tướngTịnh độ Dược sư cũng theo đà ấy mà được tạo lập. Trong các bản kinh chép tay xưa đào được ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng thì thấy biến tướng Tịnh độ Dược sư, chính giữa là Phật, 2 bên là 2 vị Bồ tát, phía trước có 7 chúng thánh tấu nhạc, nhảy múa, chính giữa mặt chính dựng 4 cây cột tròn làm cửa, 2 bên phía sau bức tranh biến tướng đều có vẽ một cung điện, đây có lẽ là tác phẩm thời Lục triều. Bức biến tướng thứ 36(số hiệu của The Thousand Buddhas) trong các bức biến tướng do học giả người Anh là ông Stein Mark Aurel tìm được là bản lụa nhiều màu, có lẽ đã được vẽ vào khoảng các đời Đường, Tống. [X. kinh Dượcsư lưu li quang thất Phật bản nguyện công đức Q. thượng; Kinh Quán Đính Q.12].
tịnh lưu ly thế giới
Cõi nước Tịnh Độ hay Đông Độ của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai—The pure crystal realm in the eastern region, the paradise of Yao-Shih Buudha; it is the Bhaisajyaguruvaidurya-prabhasa
Tịnh lữ
(淨侶): chỉ cho chư tăng thanh tịnh. Như trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 17, phần La Sơn Pháp Hải Tự Tu Tịnh Độ Sám Sớ (羅山法海寺修淨土懺疏), có đoạn: “Tư La Sơn Pháp Hải Tự nhĩ Hòa Thượng nhân, nãi kết chư tịnh lữ, đồng tu thử pháp, phổ vị Tứ Ân Tam Hữu, bố Tịnh Độ chi nhân, tác vãng sanh chi duyên (茲羅山法海寺爾和上人、乃結諸淨侶、同修此法、普爲四恩三有、布淨土之因、作往生之緣, nay Hòa Thượng ấy ở Chùa Pháp Hải, La Sơn, bèn kết chúng tăng thanh tịnh, cùng tu pháp này, khắp vì Bốn Ơn Ba Loại, rãi Tịnh Độ giống nhân, gieo vãng sanh duyên lành).” Hay trong Lễ Niệm Di Đà Đạo Tràng Sám Pháp (禮念彌陀道塲懺法, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1467) quyển 2 cũng có đoạn: “Thử phương sanh duyên ký tạ, bỉ giới diệu cảnh tức hiện, tường vân hậu phủng, tịnh lữ tiền nghênh, Sát Na khoảnh tức đắc vãng sanh, Tăng Kỳ kiếp thường cư An Dưỡng (此方生緣旣謝、彼界妙境卽現、祥雲後捧、淨侶前迎、剎那頃卽得往生、僧祇劫常居安養, phương này sanh duyên đã tạ, cõi kia cảnh lạ hiện ra, mây lành nâng đón, tăng chúng đón nghinh, Sát Na khoảnh khắc được vãng sanh, vô lượng kiếp thường sống An Dưỡng).”
tịnh lữ
The company of pure ones, i.e. monks or nuns.
; Bạn lữ đồng tu thanh tịnh, như chư Tăng Ni—The company of pure ones (monks and nuns).
tịnh lự
Xem định.
; The cultivation of quiet consideration.
tịnh lực thiền sư
Zen Master Tịnh Lực (1112-1175)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Cát Lăng, Vũ Bình, Bắc Việt. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Đạo Huệ. Ngài là Pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Lúc đầu, ngài thường trụ trong rừng sâu tu hành khổ hạnh và thiền định. Về sau, ngài lên núi Vũ Ninh cất am tu hành. Ngài thị tịch năm 1175—A Vietnamese Zen master from Cát Lăng, Vũ Bình, North Vietnam. He left home and became a disciple of Đạo Huệ. He was the Dharma heir of the tenth generation of Wu-Yun-T'ung Zen Sect. First, he always stayed in the deep forest to practise ascetics and meditation. Later, he went to Mount Vũ Ninh to build a thatched small temple named Vương Trì. He passed away in 1175.
tịnh minh cú
MŪlamadhyamakavatti prisanna-pada nāma (S)Tên một vị sư. Sách chú thích Bộ Trung Luận của ngài Long Thọ.
tịnh môn
Gate of purity to nirvàna; one of the lục diệu pháp môn.
; Cửa thanh tịnh đi vào Niết Bàn (tâm thanh tịnh không dính mắc vào đâu), một trong Lục Diệu Môn—Gate of purity to nirvana, one of the six wonderful doors. ** For more information, please see Lục Diệu Môn.
tịnh mệnh
Pure livelihood chính mệnh, i.e. that of the monk.
; 1) Chính Mệnh: Cuộc sống thanh tịnh của chư Tăng Ni (xa lìa bốn loại tà mệnh)—Pure livelihood, i.e. that of the monks and nuns (stay away from the four improper ways of obtaining a living)—See Tứ Tà Mệnh. 2) Lấy tâm thanh tịnh làm đời sống: The life of a pure or unperturbed mind.
; (淨命) I. Tịnh Mệnh. Sự sống trong sạch. Tỉ khưu xa lìa 4 cách sống tà vạy mà sống một cách thanh tịnh, tức làchính mệnh trong Bát chánh đạo.Theo phẩm Bồ tát trong kinh Duy ma cật thì chân chính tu hành thiện pháp bắt đầu từ Tịnh mệnh. Còn theo Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ quyển thượng thì Thế giới Tịnh độ Dược sư đào được ỏ Đôn hoàng. Tịnh mệnh là hạnh thiểu dục tri túc (ít ham muốn, luôn biết đủ). II. Tịnh Mệnh. Phạm: Àyuwmat. Cũng gọi: Cụthọ, Trưởng lão. Chỉ cho các bậccao tăng Đại đức. Nghĩa là các bậc có đủ tuệ mệnh xuất thế và trường mệnh thế gian. (xt. CụThọ).
tịnh nghiêm
(淨嚴) Cao tăng Nhật bản, thuộc tông Chân ngôn, người Hà nội (phủ Đại bản). Sư xuất gia tại núi Cao dã, học tập các dòng Dũ trạch ở chùa Nhân hòa, tập đại thành các dòng phái này mà lập ra dòng mới ở chùa An tường. Sư còn nghiên cứu giáo học của các tông và Tất đàn, nghi quĩ. Vì thương cảm cho sự suy vi của giới luật, nên sư đề xướng Như pháp Chân ngôn luật, lấy chùa Diên mệnh ở quê nhà làm đạo tràng căn bản. Sư lại sáng lập chùa Linh vân ở Giang hộ, có các chư hầu như Tướng quân Cương cát,... qui y sư. Đệ tử của sư có hơn 400 vị như ngài Khế xung,... Năm Nguyên lộc 15 (1702) sư thị tịch, thọ 64 tuổi, Tác phẩm của sư có hơn 100 bộ như: Tất đàn tầm mật sao, Chư chân ngôn yếu tập,…... [X. Tịnh nghiêm đại hòa thượng niên phổ; Tục Nhật bảncao tăng truyện Q.1; Hòa Hán tam đài đồ hội Q.67].
tịnh nghiệp
Pure karma.
; Good karma; also the deeds which lead to birth in the Pure Land.
; Thiện nghiệp thanh tịnh. Những nghiệp thanh tịnh nơi thân khẩu ý (phù hợp với giới luật) dẫn chúng sanh đến vãng sanh Tịnh Độ—Pure karma—Good karma—Deeds that lead to birth in the Pure Land.
; (淨業) Cũng gọi Thanh tịnh nghiệp. Chỉ cho các hành nghiệp trong sạch. Tức là 3 thứ phúc nghiệp: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. Cứ theo kinh Quán vôlượngthọ thì 3 phúc nghiệp ấy là: 1. Hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, có lòng thương xót, không giết hại chúng sinh, tu 10 nghiệp thiện. 2. Thụ trì 3 qui y, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi. 3. Phát tâmbồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến khích mọi người tu hành tinh tiến. Ba thứ phúc này là chính nhân vãng sinh của chúng sinh, cũng là nhân tu vô lậu để làm thanh tịnh cõi nước Phật của Bồ tát, cho nên gọi là Tịnh nghiệp. Lại câu Đế quán bỉ quốc tịnh nghiệp thành giả(Hãy quán xét kỹ sự thành tựu tịnh nghiệp ở nước kia)trong văn kinh Quán vô lượng thọ, các nhà đều giải thích khác nhau: 1. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng của ngài Tuệviễn đời Tùy thì Bỉ quốc là chỉ cho y báo của cõi kia, Tịnh nghiệp thành giả thì chỉ cho chính báo gồm Phật, Bồ tát và những người vãng sinh ở cõi kia. 2. Cứ theo Quán vôlượngthọ Phật kinh nghĩa sớ quyển trung của ngài Nguyên chiếu đời Nguyên thì y báo và chính báo của cõi kia đều do Tịnh nghiệp tạo thành. 3. Quán kinh tự phần nghĩa của ngài Thiên đạocho rằng căn cơ chúng sanh có 2 loại là Định và Tán, Như lai mới phương tiện mở bày 3 phúc để thích ứng với căn cơ tán động, còn câu Dục sinh bỉ quốc (muốn sinh về cõi nước kia)là nhằm nêu rõ ý nghĩa sở qui(nơi chỗ quay về), câu Đương tu tam phúc (nên tu 3 phúc) thì đặc biệt nêu rõ ý nghĩa Hành môn (môn tu hành). [X. kinh Quán Di lặcbồ tát thướng sinh Đâu suất thiên; Quán vô tượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng)].
Tịnh nghiệp chướng kinh
淨業障經; C: jìng yèzhàng jīng; J: jō gōshō kyō;|1 quyển. Dịch giả khuyết danh, nhưng kinh có lẽ được dịch vào đời Tây Tần (西秦) khoảng từ năm 350-430. Kinh kể chuyện 2 vị tăng tên Vô Cấu Quang (無垢光) và Dũng Thí (勇施) bị phạm tội trọng, nhưng chuyển hoá được ác nghiệp nhờ nhận ra được bản tính vô sinh của các pháp. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh (佛説淨業障經).
tịnh nghiệp chướng kinh
(淨業障經) Cũng gọiTịnh nghiệp bộ kinh, Tịnh trừ nghiệp chướng kinh. Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được dịch vào khoảng đời Tiền Tần, Tây Tần (351-431), thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này chia làm 3 đoạn, đều dùng nhân duyên phạm giới dâm, giới sát củatỉ khưu Vôcấuquang vàtỉ khưu Dũngthí để nói rõ rằng thấy biết tất cả pháp xưa nay vốn thanh tịnh là căn bản để thanh tịnh hóa nghiệp chướng. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.13; Khai nguyên thích giáo lục Q.12].
Tịnh nghiệp chướng kinh 淨業障經
[ja] ジョウゴウショウキョウ Jō gōshō kyō ||| The Jing yezhang jing; one fascicle, T 1494.24.1095b-1100b. The translator is unknown, but the text is thought to have been translated during the Western Qin 西秦, thus around 350-430. This scripture tells the stories of two monks named Spotless Radiance無垢光 and Heroic Giving 勇施 who committed serious crimes, but overcame their bad karma through a deep realization of the non-arisen nature of all existences. The full title of this sutra is 佛説淨業障經. => (c: Jing yezhang jing); 1 quyển. Dịch giả vô danh, nhưng kinh có lẽ được dịch vào đời Tây Tần (西秦e: Western Qin), khoảng từ năm 350-430. Kinh kể chuyện 2 vị tăng tên Vô Cấu Quang 無垢光 và Dũng Thí 勇施 bị phạm tội trọng, nhưng chuyển hoá được ác nghiệp nhờ nhận ra được bản tính vô sinh của các pháp. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh 佛説淨業障經.
tịnh nguyệt
Śuddhacandra (S)Một trong 10 Đại Luận sư chú thích bộ "Duy thức Tam Thập Luận" của ngài Thế Thân.
; Suddhacandra (S). Name.
; (淨月) Phạm: Zuddha-candra. Hán âm: Thú đà chiếu đạt la. Cao tăng Ấn độ, 1 trong 10 vị Đại luận sư Duy thức, sống cùng thời đại với ngài An tuệ (khoảng thế kỷ VIII). Sư là người giải thích Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, chú thích luận Đại thừa A tì đạt ma tập của ngài Vô trước và luận Thắng nghĩa thất thập của ngài Thế thân. Căn cứ vào tác dụng của Thức mà nhận xét thì học thuyết của sư giống với học thuyết của ngài Nan đà, cũng chủ trương thuyết Kiến phần, Tướng phần. Nhưng điểm khác nhau là ngài An tuệ chủ trương thức thứ 8 thường hằng không chuyển biến, có khả năng tự lập, cho nên không có Câu hữu y; còn ngài Tịnh Nguyệt thì lại cho rằng thức thứ 8 lấy thức thứ 7 làm Câu hữu y. [X.luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần cuối].
tịnh ngữ
Pure words; words that express reality.
; Pure words—Words that express reality.
tịnh nhiên tạp kiến hiện nhập địa
Xem Càn Huệ Địa.
tịnh nhân
Pure Person.
; (淨人) Cũng gọi Đạo nhân, Khổ hạnh, Tự quan. Người thanh tịnh. Nghĩa là người chưa cạo tóc xuất gia, chỉ làm các việctịnh nghiệp trong chùa viện. Từ Tịnh nhân bắt nguồn ở Ấn độ. Trong thiền lâm, chức sự phục vụ cơm cháo ởTăng đường; hoặc vị hành giả trông nom về nhà tắm, cũng gọi là Tịnh nhân. [X. Văn qui kính trong Thiền uyển thanh qui Q.8; Bách trượng quithằng tụng trong Thiền uyển thanh qui Q.10]
Tịnh nhãn
淨眼; C: jìngyăn; J: jōgen;|1. Con mắt thanh tịnh, hay con mắt thanh tịnh của Đức Phật nhìn thấu suốt mọi hiện tượng; 2. Tên một người con của một vị Bồ Tát vương xuất hiện trong kinh Pháp Hoa.
tịnh nhãn
The clear or pure eyes that behold, with enlightened vision, things not only as they seem but in their reality.
; 1) Pháp Nhãn hay con mắt thanh tịnh, thấy được sự lý của chư pháp: Dharma-eye—The clear or pure eyes that behold, with enlightened vision, things not only as they seem but in their reality. 2) Pháp Nhãn là tên của người con trai thứ hai của Diệu Trang Nghiêm Vương trong Kinh Pháp Hoa: Vimalanetra, second son of Subhavyuha in the Lotus Sutra. **For more information, please see Ngũ Nhãn
tịnh nhãn hoàng tử
Xem Tịnh Thân Như Lai.
tịnh nhãn luận sư
(淨眼論師) Một trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa, chấp Niết bàn là thường trụ, là quảvô phiền não. Cứ theo phẩm Phá thường trong Bách luận quyển hạ thì Tịnhnhãn luận sư chủ trương Niết bàn là quả vô phiền não, tức là nơi không có 3 việc: Phược, Khả phược và Phương tiện. Phược nghĩa là phiền não trói buộc; Khả phược nghĩalàchúng sanh bị phiền não trói buộc; còn Phương tiện thì chỉ cho Bát chính đạo. [X.luậnNgoại đạotiểu thừaniết bàn; Trung quán luận sớ Q.10, phần đầu; Bách luận sớ Q. hạ].
tịnh nhãn như lai
Xem Tịnh Thân Như Lai.
tịnh nhãn vô ngại
The sphere of one's unobstructed eyes was pure. **For more information, please see Ngũ Nhãn
Tịnh nhãn 淨眼
[ja] ジョウゲン jōgen ||| (1) The pure eye, or pure vision of the Buddha which sees through phenomena. (2) The name of the son of a bodhisattva-king who appears in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.59c5〕 => 1. Con mắt thanh tịnh, mắt thanh tịnh của Đức Phật nhìn thấu suốt mọi hiện tượng. 2. Tên một người con của một vị Bồ-tát vương xuất hiện trong Kinh Pháp Hoa.
tịnh nhập nguyện tâm
(淨入願心) Ba thứ trang nghiêm của Tịnh độ cực lạc được thành tựu bởi 48 tâm nguyện thanh tịnh màđức Phật A di đà phát khởi khi Ngài còn là Tỉ khưu Pháp tạng ở địa vị tu nhân. Từ ngữ trên có xuất xứ từ bộ Tịnh độ luận chú của ngài Đàmloan; quyển hạ của sách này chia làm 10 khoa để giải thích văn nghĩa,trong đó, Tịnh nhập nguyện tâm là tựa đề của khoa thứ 4, có nhiều cách giải thích. Có chỗ cho rằng Tịnh là 3 thứ thanh tịnh trang nghiêm, nguyện tâm là 48 tâm nguyện thanh tịnh của tỉkhưu Pháp tạng; Nhập là thù nhập, nghĩa là đền đáp 3 thứ trang nghiêm, 48 nguyện tâm mà thành. [X. Tịnh độ luận chú (Lương trung); Tịnh độ luận chú tư kí (Viên không); Tịnh độ luận chú thính kí (Thiệnnhượng)].
tịnh nhục
Pure flesh, the kind which may be eaten by a monk without sin, three, five, and nine classes being given.
; Thịt thanh tịnh mà chư Tỳ Kheo có thể dùng được—Pure flesh which may be eaten by a monk without sin. ** For more information, please see Tam Tịnh Nhục and Ngũ Tịnh.
; (淨肉) Đối lại: Bất tịnh nhục. Chỉ cho loại thịt thanh tịnh. Nghĩa là loại thịt tỉ khưu được phép ăn mà không ngài Tịnh nguyệt phạm giới cấm. Có 3 trường hợp: 1. Thấy:Loại thịt mình không thấy vì mình mà con vật bị giết. 2. Nghe:Loại thịt nghe người đáng tin cậy nói không phải vì mình mà con vật bị giết.3. Ngờ:Loại thịt không nghi ngờ vì mình mà con vật bị giết. Loại thịt không thuộc 3 trường hợp thấy, nghe, ngờ trên đây mới là Tịnh nhục, trái lại là Bất tịnh nhục. Ngoài 3 thứ Tịnh nhục nói trên, nếu kể thêm loại thịt chim thú đã tự chết và thịt do mãnh thú ăn còn thừa, thì là Ngũ chủng tịnh nhục (5 thứ tịnh nhục). Ngũ chủng tịnh nhục, nếu lại thêm 4 thứ nữa là: Thịt không phải vì mình mà giết, thịt con vật chết tự nhiên và qua nhiều ngày đã tự khô, thịt không do hẹn trước, chỉ tình cờ gặp mà ăn và thịt chẳng phải bây giờ vì mình mà giết mà là thịt đã giết trước đó thì thành Cửu chủng tịnh nhục (9 thứ tịnh nhục). Vì thế nên tỉ khưu được phép ăn loại thịt có được khi khất thực hoặc khi nhận cúng dường, nhưng ngoài những trường hợp nói trên, chỉ có các tỉ khưu bị bệnh mới được tự động xin ăn thịt, còn các trường hợp khác đều bị cấm chỉ ăn thịt.Nhưng, đối với Phật giáo Đại thừa thì như kinh Niết bàn, kinh Lăng già,...… đều cho rằng ăn thịt là trái với tinh thần đại từ bi, cho nên cấm không được dùng tất cả thứ thịt và định ra 10 lỗi của việc ăn thịt.Thịt của 5 loài động vật là người, voi, ngựa, rồng, chó, lại thêm thịt loài quạ, ó, lợn, khỉ, sư tử thì thành 10 thứ Bất tịnh nhục(nhưng cũng có khi trừ rồng, quạ, ó mà thay bằng rắn, lừa, chồn; hoặc trừ quạ, ó, sư tử mà thay bằng rắn, quỷ, bò), bất luận trường hợp nào cũng đều không được phép ăn. [X.luật Tứ phần Q.42;phẩm Già thực nhục kinh Nhập Lăng già Q.8; phẩm Như Lai tính trong kinh Đại bát niết bàn Q.4 (bản Bắc); Đại bát niết bànkinh nghĩa kí Q.2].
tịnh nột
(淨訥) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Minh, người ở An nhân, Hành châu (Hồ nam), họ Vương, hiệu Thả chuyết, người đời gọi sư là Thả chuyết Tịnh nột, Vân tông Tịnh nột thiền sư. Sư mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, nhân vào chùa thấy tướng hảo trang nghiêm của Đại Phật, cảm ngộ mà xuất gia. Năm 26 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở ngọn Kinh tử thuộc rặng núi Nam nhạc, lại đến Biền sơn thuộc Hồ châu (Chiết giang) tham yết ngài Thụy bạch Minh tuyết, ngay nơi lời nói liền ngộ và được ấn khả. Sư bèn trở về Nghi dương thuộc Sở châu (Hồ nam) mở pháp ở núi Đại nghĩa. Sau, sư nhận lời thỉnh của mọi người, trụ trì núi Biền sơn.Tháng 4 năm Khang hi 12 (1673), sư thị tịch, thọ 64 tuổi, 54 tuổi đạo. Sư có tác phẩm: Bảo kính tam muội nguyên tông biện mậu thuyết 1 quyển.
tịnh oánh
(淨瑩) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào cuối thời Minh đầu đời Thanh, người huyện Giang đô, tỉnh Giang tô, họ Trang, hiệu Mục đường, tự guyên khiết, người đời gọi sư là Nguyênkhiết Tịnh oanh thiền sư. Sư xuất gia năm 20 tuổi. Năm sau, sư đến viện Báoân ở Hàng châu lễ yết gài Thụy bạch Minh tuyết. Năm 24 tuổi, sư theo hầu ngài Minhtuyết, dời đến trụ chùa Hộquốc tại Thiên thai, thụ giới Cụ túc, đồng thời được ấn khả. Năm Thuận trị thứ 10 (1653), sư trụ chùa Anậu ở Hồng đô (Giang tây), rồi lần ượt trụ các chùa Sở thượng phương, chùa Long hoa ở Biền sơn, chùa Thê kinh ở Giang nam, chùa Vô trụ ở Hồng đô, chùa Từ vân ở Lễ châu, chùa Vô trụ ở Ninh châu, chùa Hiển thánh, núi Vân môn, Việt châu, chùa Hộ quốc tại Thiên thai…... Tháng 7 năm Khang hi 11 (1672), sư thị tịch, thọ 61 tuổi, 41 tuổi đạo. Sư có tác phẩm: Nguyên khiết Oanh thiền sư ngữ lục 10 quyển.[X. Ngũ đăng toàn thư Q.13].
tịnh pháp
Pure dharma.
; (淨法) I. Tịnh Pháp. Pháp thanh tịnh. Nghĩa là pháp như thực và xa lìa tội chướng. Tức là pháp cấm ngăn, hạn chế và qui định các việc liên quan đếntỉkhưu như đi đứng, ăn mặc,...… Cứ theo sự qui định ấy mà tu hành đúng như pháp thì không sợ phạm tội. Tuân hành pháp này gọi là Tác tịnh, hay Tịnh. Luật Tứ phần quyển 43 nêu 5 cách ăn trái cây đúng với Tịnh pháp: 1. Đốt, chưng bằng lửa gọi là Hỏa tịnh. 2. Dùng dao cắt hoặc gọt gọi là Đao tịnh.3. Trái cây có chỗ hư thối gọi là Sang tịnh.4. Trái cây bị chim mổ ăn gọi là Điểu trác phá tịnh. 5. Loại trái cây không thể dùng làm hạt giống thì gọi là Bất trúng chủng tịnh. Còn nói có 5 thứ Tịnh, đó là vỏ bị trút, vỏ bị gọt, vỏ bị thối, vỏ bị vỡ và vỏ bị khô héo. Luật Ngũ phần quyển 26 nêu 5 thứ tịnh về ăn quả cây, 5 thứ tịnh về ăn củ, rễ cây và 3 thứ tịnh về ăn thân cây. Về tịnh pháp ăn trái cây, các luật nói đều có hơi khác nhau. Tịnh pháp về áo, theo luật Thập tụng quyển 15, nếutỉkhưu được áo màu xanh, màu đen, màu đỏ,…...thì thực hành 2 thứ tịnh; nếu được áo màu vàng, màu đỏ, màu trắng thì thực hành 3 thứ tịnh. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 22 thì áo Ca hi na có 4tịnh pháp là Tiệt tịnh (rạch, xé), Nhiễm tịnh (nhuộm), Điểm tịnh (chấm) và Đao tịnh(cắt). Ngoài ra, cũng luật dẫn trên quyển 18 thì căn cứ vào các loại áo khác nhau mà nêu ra các tịnh pháp bất đồng. Còn đối với chỗ ở và giới hạnh của tỉkhưu thì luật Ma ha tăng kì quyển 32 nêu ra 5 thứ Tịnh pháp: TứcChế hạn tịnh, Phương pháp tịnh, Giới hạnh tịnh, Trưởng lão tịnh và Phong tục tịnh. Luật Thập tụng quyển 56 thì liệt kê các tịnh pháp như: Tăng phường tịnh pháp(nơi ở của chúng tăng), Lâm tịnh pháp (rừng), Phòng xá tịnh pháp, Thời tịnh pháp, Phương tịnh pháp (thời gian và phương sở), Quốc độ tịnh pháp (đất nước) và Y tịnh pháp (áo). [X. Hữu bộtìnại da Q.36;luật Ngũ phần Q.9]. II. Tịnh Pháp. Pháp thanh tịnh. Tức chỉ cho Chính pháp do đức Phật giảng nói. Vì Chính pháp của Phật có công năng giúp chúng sinh đạt được giải thoát, ra khỏi 3 cõi, thân tâm được thanh tịnh, cho nên gọi là Tịnh pháp. (xt. Chính Pháp).
tịnh pháp giới
The realm of pure dharma, the unsullied realm.
; Bhutatathata (skt)—Thanh Tịnh Pháp Giới—Cái thể của chân như xa lìa hết thảy cấu nhiễm (chỗ sở y của tất cả công đức thế gian đều thanh tịnh)—The realm of pure dharma—The unsullied realm, i.e. the bhutatathata.
tịnh pháp nhãn
Pure dharma-eye.
tịnh phát
To cleanse the hair, i.e. to shave the head as do the monks.
; Công việc cắt tóc của nhà sư. Phép cắt tóc của nhà sư (nửa tháng một lần)—To cleanse the hair, i.e. shave the head as do the monks (once every 15 days).
; (淨發) Cũng gọi Thế phát. Cạo tóc. Tức cạo bỏ râu tóc, xuất gia theo Phật. Cứ theo luật Tứ phần quyển 51 thì các tỉ khưu phải cạo bỏ râu tóc, không được để dài quá 2 ngón tay, 2 tháng cạo tóc một lần.Theo luật Ngũ phần quyển 14, tỉ khưu ni, thức xoa ma na và sa di ni, nửa tháng cạo tóc một lần. Ngoài tóc ở trên đầu và râu, lông tóc ở các chỗ khác trên thân thể thì không nên cạo. Tịnh phát là phong tục đặc biệt của Phật giáo và ở Ấnđộ rất nhiều lời gièm pha về việc này. Kinh Gia lâu ô đà di trong Trung A hàm ghi rằng:Ngoại đạo chê các tỉ khưu là Thốc đầu sa môn, Thốc sa môn(thầy tu trọc đầu). Tại Trung quốc thì như luận Mâu tử lí hoặc, luận Diệt hoặc,...… cho rằng cạo tóc là làm thương tổn thân thể, không hợp với đạo hiếu. (xt. ThếPhát).
tịnh phù
(淨符) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người ở Lô lăng (nay là tỉnh Giang tây), họ Lưu, hiệu Vịtrung, người đời gọi sư là Vị trung Tịnh phù thiền sư. Ban đầu, sư tham yết ngài Thụy bạch Minh tuyết ở Biền sơn, không khế ngộ, bèn trở về quê cũ. Một hôm, tình cờ sư trông thấy con chim ngậm cành lê đang bay bỗng rơi xuống đất, sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Sư lại xem Truyền đăng lục, thấy có vị tăng hỏi ngài Cửu phong (Đại 51, 329 trung): Thế nào là tự kỉ của người học? Ngài Cửu phong nói: Còn hỏi ai? Sư bỗng nhiên đại ngộ. Liền đến tham yết ngài Bảo thọ Thạch vũ Minh phương, trình chỗ mình tỏ ngộ và được nối pháp. Năm Sùng trinh 14 (1641), vì ưa mến cảnh u tịch của núi sông Chiết giang, nên sư ra trụ chùa Bạchnham ở Tiền đường, chỉ trong vài năm chùa đã trở thành ngôi đại tùng lâm.Năm Khang hi thứ 6 (1667), sư soạn Pháp môn sừ qũi. Năm Khang hi 11 (1672), sư lại soạn Tổ đăng đại thống để sửa chữa chỗ sai lầm nói về Tổ thống. Sau khi 2 bộ sách này được in ra, tiếng tăm sư vang khắp trong nước, chư tăng các nơi về học rất đông. Sư khai đường thuyết pháp ở đây suốt 30 năm, hoằng dương Thiền phong, hóa độ vô số người mê lầm. Về sau, sư truyền pháp cho đệ tử là Hương mộc Trí đàn. Sư có các trứ tác: Pháp môn sừ quĩ, Tổ đăng đại thống, Nhân thiên nhãn mục khảo, 1 quyển; Tụng thạch trích châu, 1 quyển; Tông môn niêm cổ vậng tập, 45 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.10; Chính nguyên lược tập Q.7].
tịnh phương
The Pure Land of Amitàbha.
; Tịnh Độ—Cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà—The Pure Land of Amitabha—See Tịnh Độ.
tịnh phạm vương
Bràhma, as the pure divine ruler.
; Braham (skt)—The pure divine ruler—See Tịnh Phạn Vương.
tịnh phạn
Suddhodāna (P)Phụ thân của Thái tử Tất đạt Đa.
Tịnh Phạn vương
淨飯王; S: suddhodhana; C: jìngfàn wáng; J: jōbanō;|Thân phụ của Phật Thích-ca Mâu-ni. Ông là vua trị vì vương quốc Ca-tì-la-vệ Ấn Độ. Tên ông còn được phiên âm là Thủ-đồ-đà-na (首圖駄那).
tịnh phạn vương
Suddhodana (S). The father of the Buddha.
; Suddhodana (skt & p). 1) Vị vua cai trị thanh tịnh: A pure divine ruler. 2) Tịnh Phạn được giải thích là “Thức Ăn Thanh Tịnh,” ông là vua nước Ca Tỳ La Vệ, chồng của Hoàng Hậu Ma Da, phụ vương của Đức Phật Thích Ca và là tộc trưởng của bộ tộc Thích Ca. Ông là vua một vương quốc nhỏ, bây giờ là một phần của Nepal, kinh đô là Ca Tỳ La Vệ: Suddhodana, interpreted as “Pure-Food,” king of Kapilavastu, husband of Mahamaya, and father of Prince Siddhartha and was a chieftain of the Sakya tribe. He was the king of a small kingdom in the foothills of Himalayas, northern India, now is part of Nepal, with its capital at Kapilavastu (Kapilavattu-p)—For more information, please see Kapilavastu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (淨飯王) Tịnh phạn, Phạm: Zuddhodana. Pàli: Suddhodana. Hán âm: Thủ đồ đà na, Thâu đầu đàn na, Duyệt đầu đàn. Cũng gọi: Bạch tịnh vương, Chân tịnh vương. Quốc vương thành Ca tì la (Phạm: Kapilavastu) ở Trung Ấnđộ, là thân phụ củađức Thíchtôn. Cứ theo kinh Khởi thế quyển 10 thì Tịnhphạn vương là con trưởng của vua Sư tử giáp (Phạm: Siôhahanu). Đại sử (Mahàvaôsa, ii) tiếngPàli và Đại sự (Mahàvastu, ii) tiếng Phạm cho rằng bà Ma da (Pàli:Màgà) và bà Ma ha ba xà ba đề (Pàli:Mahàpajàpatì) là vợ của vua Tịnhphạn. Đức Thíchtôn là con của bà Ma da. Về già, vua Tịnh phạn sống cô đơn hiu quạnh, sau cũng thành kính qui y đức Phật, trở thành người ngoại hộ cho đức Phật và các đệ tử của Ngài. Vua băng hà năm 76 tuổi(có thuyết nói 97 tuổi). Cứ theo kinh Tịnhphạn vương Bát niết bàn thì lúc vua lâm chung, Phật trở về thành Ca tì la để tỏ lòng hiếu kính sâu xa. Còn phẩm Vương tử dĩ nhục tế phụ mẫu duyên trong kinh Tạpbảo tạng quyển 1 và phẩm Hiếu dưỡng trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 1 đều có nói về bản sinh đời quá khứ của vua. [X.phẩm Hiền kiếp vương chủng trong kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; kinh Thái tử thụy ứng bản khởi Q. thượng].
tịnh phạn vương bát niết bàn kinh
(淨飯王般涅槃經) Cũng gọi Tịnh phạn vương niết bàn kinh, Tịnh phạn vương kinh. Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Thư cừ Kinh thanh dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật và ngài Nan đà,…...làm lễ tống táng vua Tịnhphạn để nêu cao lòng hiếu đạo, đồng thời dạy cho người đời biết thế gian đều vô thường, khổ, vô ngã,...… chẳng có gì tồn tại mãi mãi.
Tịnh Phạn vương tử
淨飯王子; C: jìngfàn wángzí; J: jōbanōshi;|Con của vua Tịnh Phạn, tức đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Tịnh Phạn Vương tử 淨飯王子
[ja] ジョウハンオウシ Jōbanōshi ||| The "son of King Suddhodhana"--Śākyamuni Buddha. => Con của vua Tịnh Phạn – Đức Phật Thích-ca Mâu-ni .
Tịnh Phạn vương 淨飯王
[ja] ジョウハンオウ Jōbanō ||| Literally "pure rice." King Suddhodhana, the father of Śākyamuni. He was king of the Indian state of Kapilavastu. His name is also transliterated into Chinese as 首圖駄那 Shou-t'u-to-na. => Phụ thân của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni . Ông là vua trị vì vương quốc Kapilavastu Ấn Độ. Tên ông còn được phiên âm là Thủ-đồ-đà-na (首圖駄那 Shou-t'u-to-na).
tịnh phật
Pure Buddha, perfect Buddhahood, of the dharmakàya nature.
; Tịnh Phật là vị Phật đã đắc Chánh Đẳng Chánh Giác—Pure Buddha—The perfect Buddhahood of the dharmakaya nature.
; (淨佛) Phật rốt ráo chân thực, gọi là Tịnh Phật. Đây là thuyết của Đại nhật kinh sớ. Đại nhật kinh sớ quyển 8 (Đại 39, 661 trung) ghi: Nói về Tịnh Phật thì trong pháp Thanh văn, A la hán cũng gọi là Phật.Các kinh chưa liễu nghĩa khác của Đại thừa cũng có nói về nghĩa thành Phật, nhưng không thể gọi là Già Phật. Ở đây, điểm chính yếu là nói rõ về Thường Phật của bản tâm, cho nên mới dùng chữ Tịnh để phân biệt. Lại như các nhà Thiên thai chê việc thành Phật của các nhà Pháp tướng là Báo Phật hữu vi, là quyền quả trong mộng.
tịnh quang minh tam muội
Vimalaprabhā-samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
tịnh quang phật
Śuddharasmiprabhā-buddha (S), Pure Light Buddha.
; Suddharasmiprabha-Buddha (S).
tịnh quang tam muội
Vimalanirbhāṣā (S).
tịnh quang trang nghiêm cõi
Vairocanarami-pratimandita (S)Cõi giới của Tịnh hoa Túc vương trí Như lai, phía đông cõi ta bà.
tịnh quang tâm sở
Sobhana cetasika (S).
tịnh quán
Pure contemplation, such as the sixteen mentioned in the Vô lượng thọ kinh.
; Phép quán thanh tịnh, một trong 16 phép quán trong Kinh Vô Lượng Thọ (muốn ít khổ do tham dục thì phải tu tịnh quán)—Pure contemplation, one of the sixteen kinds of contemplation in the Infinite Life Sutra. ** For more information, please see Thập Lục Quán.
tịnh quán địa
Xem Càn Huệ Địa.
tịnh quốc
The pure land, i.e.Buddha-land.
; Tịnh Độ—The pure land—Buddha-land.
tịnh sát
Pure ksetra, i.e. Buddha-land.
; Pure ksetra (Buddha-land).
tịnh sư tử
Śuddhasiṃha (S)Tăng kỳ mậu đà ta haXem Tam tạng Thiện vô úy.
; Subhàkarasimha (S). Also Thiện Vô Úy, Vô Úy Tam Tạng.
Tịnh sắc
淨色; C: jìng sè; J: jōshiki;|Sắc pháp thanh tịnh. Thể chất thuần thanh tịnh. Năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Tịnh sắc 淨色
[ja] ジョウシキ jōshiki ||| (rūpa prasāda). Pure material existence. Transparently pure substance. The five organs of eye, ear, nose, tongue and body. => (s: rūpa prasāda). Sắc pháp thanh tịnh. Thể chất thuần thanh tịnh. Năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
tịnh tam nghiệp ấn
(淨三業印) Cũng gọi Liên hoa hợp chưởng ấn, Bản tam muội da ấn. Ấn làm sạch 3 nghiệp, 1 trong 18 khế ấn của Mật giáo. Khi kết ấn này thì cả 10 ngón tay đều dựng đứng, lòng bàn tay áp sát vào nhau. Đây là ấn đầu tiên để trang nghiêm hành pháp, cũng là ấn khế biểu thị ý nghĩa cho 3 nghiệp thân, khẩu, ý của hành giả được thanh tịnh. Đây vốn là ấn mà chúng ta kết khi còn ở trong thai, có tính chất Lí trí bất nhị, Bản địa tự chứng, cho nên cũng gọi là Bản tam muội da ấn. Còn 10 ngón tay của 2 tay là dấu hiệu tượng trưng hoa sen tức Lí, mà đã có Lí thì ắt có Trí, cho nên 2 tay được dùng để tượng trưng Lí và Trí, 2 tay chắp lại thì biểu thị ý nghĩa Lí, Trí chẳng hai. Cứ theo kinh Nhiếp vô ngại thì 5 ngón tay trái tượng trưng 5 trí của Thai tạng giới, 5 ngón tay phải tượng trưng 5 trí của Kim cương giới, còn 1 ngón thì biểu thị ý nghĩa 10 độ, hoặc 10 pháp giới, 10 chân như. Trong đó, về việc 10 độ phối hợp với 10 ngón tay thì có các thuyết khác nhau. Theo thuyết trong Liên hoa bộ tâm quĩ thì 5 ngón tay phải được phối hợp với 5 độ: Thí, giới, nhẫn, tinh tiến và thiền định; còn 5 ngón tay trái thì phối hợp với 5 độ: Bát nhã, phương tiện, nguyện lực và tuệ; cũng có thuyết phối 5 ngón tay trái với Thí,... và phối 5 ngón tay phải với Bát Nhã,... Còn 10 pháp giới thì được phối hợp với 5 phàm, 5 thánh; 10 chân như thì phối hợp với 10 chân như do hàng Thập địa chứng được. Ngoài ra, khi hành giả kết ấn Liên hoa hợp chưởng thì thành 1 pháp giới; 10 ngón tay bung ra dáng như ấn hoa sen hoan hỉ thì thành nhiều pháp giới, có vô lượng tên gọi. Khi kết ấn này thì miệng tụng chân ngôn Tịnh tam nghiệp: Án tát phạ bà phạ du đà tát phạ đạt ma tát phạ bà phạ du độ hàm, nghĩa là qui mệnh tự tính thanh tịnh tất cả pháp tự tính thanh tịnh ngã. Nhờ gia trì chân ngôn này nên tự tính sẵn có hiển hiện, 3 nghiệp thân, khẩu, ý của thân ta đều thanh tịnh. [X. Bí tạng kí Q. đầu; Bí tạng kí bản sao Q.6]. (xt. Thập Bát Khế Ấn, Thập Chỉ).
tịnh thiên
Sudhavasa (P), Pure Abodes Tên một vị sư.
; Pure heaven, or pure devas; srota-àpannas to pratyeka-buddhas are so called. Tịnh thiên nhãn, the pure deve eye, which can see all things small and great, near and far, and the forms of all beings before their transmigration.
; 1) Tịnh Thiên, một trong bốn loại trời: Pure heaven—Pure devas, one of the four devas—See Tứ Thiền Thiên. 2) Những bậc tu hành đắc quả từ Tu-Đà-Hoàn đến Bích Chi Phật (những bậc đắc quả trong hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác): From Srota-apannas to Pratyeka-buddhas.
tịnh thiên nhãn
Mắt thanh tịnh của chư Thiên, có thể thấy mọi vật từ nhỏ đến lớn, từ gần đến xa, và thấy luôn cả những kiếp luân hồi của chúng sanh—The pure deva eye, which can see all things small and great, near and far, and the forms of all beings before their transmigration.
Tịnh Thiền
淨禪; 1121-1193|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 17, nối pháp Thiền sư Ðạo Lâm.|Sư tên Phí Hoàn, quê ở làng Cổ Giao, quận Long Biên. Ban đầu, Sư cùng bạn là Tịnh Không thờ Thiền sư Ðạo Lâm ở chùa Long Vân làm thầy. Sư ngày ngày tu tập chuyên cần nên thâm nhập huyền chỉ, được Ðạo Lâm ấn chứng. Khi Ðạo Lâm qua đời, Sư chu du đây đó học hỏi thêm ở các Thiện tri thức. Khi thấy đã đủ duyên, đạo hạnh thuần thục, Sư trở về quê nhà trùng tu chùa Long Hoa và trụ trì nơi đây.|Sư tịch năm Quý Sửu, ngày 12 tháng 8 niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 8, thọ 73 tuổi.
tịnh thiền thiền sư
Zen Master Tịnh Thiền (1121-1193)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Long Biên, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Đạo Lâm ở chùa Long Vân. Ngài là Pháp tử đời thứ 17 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sau khi Thầy thị tịch, ngài trở thành du Tăng khất sĩ. Về sau, ngài trở về trùng tu chùa Long Vân và trụ tại đây hoằng hóa Phật giáo cho đến khi thị tịch vào năm 1193, thọ 73 tuổi—A Vietnamese Zen master from Long Biên, North Vietnam. He was a disciple of Zen master Đạo Lâm at Long Vân Temple. He was the Dharma heir of the seventeenth generation of Vinitaruci Zen Sect. After his master passed away, he became a wandering monk. Later, he rebuilt Long Hoa Temple and stayed there to expand Buddhism until he passed away in 1193, at the age of 73.
tịnh thánh
Pure saints, the superior class of saints.
; Vị Thánh thanh tịnh, vị Thánh ở đẳng cấp cao nhất—Pure saint—The superior class of saints.
Tịnh thân
淨身; C: jìngshēn; J: jōshin;|1. Làm cho thân được thanh tịnh; 2. Làm cho con người được thanh tịnh.
tịnh thân
(淨身) I. Tịnh Thân. Chỉ cho thân thanh tịnh, hoặc làm cho thân thanh tịnh. Tông kính lục quyển 25 nói rằng: rõ biết nhân không, pháp không, chân tâm tự hiện, tức là Tịnh thân. II. Tịnh Thân. Chỉ cho pháp quán của Mật giáo tu để làm cho chính báo được thanh tịnh. Lúc tu pháp, sau khi quán tưởng chữ (raô) và pháp tịnh địa thì kết ấn khế, tụng chân ngôn của pháp quán này. Quán chữ Raô làm cho y báo và chính bao đều thanh tịnh; Tịnh địa thì đặc biệt làm cho y báo thanh tịnh, Tịnh thân thì đặc biệt làm cho chính báo thanh tịnh. Tuy đã tịnh địa mà thân bất tịnh thì cũng khó cảm được Phật đức, vì thế phải tu pháp này. Nhờ quán chữRaô mà đốt sạch các phiền não tội chướng của thân tâm mình và người mà chứng được tính tự thân xưa nay vốn trong sạch như hoa sen. Kết ấn này ở trước ngực, hoặc gia trì ở 4 chỗ là ngực, trán, cổ, đỉnh đầu và quán tưởng tất cả pháp xưa nay tự tính thanh tịnh, 3 nghiệp của thân ta đều thanh tịnh. Ấn tướng là Liên hoa hợp chưởng. Chân ngôn là: Sa phạ bà phạ (Svabhava, tự tính) truật đà (suddha, thanh tịnh) tát phạ đạt ma (sarva dharma#, tất cả pháp); nghĩa là tất cả pháp tự tính thanh tịnh, vắng lặng.[X. Liên hoa bộ tâm nghi quĩ].
tịnh thân như lai
Vimalanetra (S)Tịnh Nhãn Như LaiTịnh Nhãn hoàng tử: Tiền thân của Dược Vương Bồ tát, một vị hoàng tử con vua Diệu Trang nghiêm thời Vân Lôi Âm Túc Vương HoaTrí Phật bỏ ngôi theo Phật tu trì và thành đạo.
tịnh thân phật
Vimalanetra-Buddha (S).
Tịnh thân 淨身
[ja] ジョウシン jōshin ||| (1) To purify the body; purify the person. (2) A pure body. => 1. Làm cho thân được thanh tịnh. Làm cho con người được thanh tịnh.
tịnh thí
Vikalpana (S)Sự bố thí trong sạch.
; Pure charity, which does not seek fame or blessing in this world.
; Còn gọi là Hỷ Xả hay Tịnh Xả, đây là một trong hai loại bố thí. Thanh tịnh bố thí là loại bố thí mà người cho không mong đền trả, không mong được tiếng tăm hay phước báu trong cõi nhân thiên, chỉ mong gieo trồng chủng tử Niết Bàn—Pure charity in which the giver expects no return, nor fame, nor blessing in this world, but only desire to sow Nirvana-seed, one of the two kinds of charity. ** For more information, please see Nhị Bố Thí.
; (淨施) Phạm: Vikalpana. Pàli: Vikappana. Cũng gọi: Thuyết tịnh. Sự bố thí trong sạch. Theo luật, nếu có tỉkhưu A cho tỉ khưu B một vật dư(tỉkhưu được phép cất giữ 3 tấm áo, 1 chiếc bát, ngoài ra gọi là vật dư),tỉ khưu B không được trực tiếp nhận lãnh, mà phải bố thí vật ấy ngược lại chotỉkhưu A; hoặc giả đem vật ấy cho tỉkhưu C, rồi sau lại nhận của A hoặc C bố thí lại, lúc đótỉkhưu B mới có được vật ấy, như thế gọi là Tịnh thí, còn A hoặc C thì gọi là người Tịnh thí. Lại vì tỉ khưu B đối với ngườitịnh thí nói rõ ý chỉ của sự bố thí, nên Tịnh thí cũng gọi là Thuyết tịnh. Tịnh thí là biện pháp tạm thời được thi hành để trừ bỏ lòng tham muốn của tỉ khưu đối với tài vật, thể hiện lí tưởng của người xuất gia lấy ít muốn, biết đủ làm nguyên tắc cuộc sống. Phần Nhân duyên chế giới trong luật Tứ phần quyển 16 (Đại 32, 676 thượng) ghi: Lúc bấy giờ, đức Phật đang ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kì đà tại nước Xá vệ. Lúc ấy, nhóm gồm 6 tỉ khưu (Lục quần tỉ khưu)đã thực sự bố thí áo cho 1 tỉ khưu thân thiết, sau đó, không nói với chủ, tự động lấy lại áo để mặc. Các tỉ khưu biết được việc này, trong số đó, có vị tỉ khưu ít muốn, biết đủ, thực hành hạnh đầu đà, ưa thích học giới, biết hổ thẹn, chê trách nhóm gồm 6 tỉ khưu rằng: Vì sao các ông đã bố thí áo cho vị tỉ khưu thân thiết, sau đó không cho vị ấy biết mà tự động lấy áo lại mặc? (...…). Bấy giờ, đức Thế tôn dùng vô số phương tiện mắng trách nhóm 6 tỉ khưu kia, rồi Ngài dạy các tỉ khưu rằng: Kẻ ngu si này có nhiều chỗ hữu lậu, là kẻ phạm giới đầu tiên, từ nay về sau, kết giới cho các tỉ khưu, gom 10 cú nghĩa, cho đến chính pháp trụ lâu nơi đời; người muốn thuyết giới thì nên nói như vầy: Nếu tỉ khưu cho áo tỉ khưu, tỉ khưu ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, sau không nói với chủ mà tự động lấy lại áo để mặc thì phạm tội Ba dật đề.Luật Tứ phần quyển 16 và luận tạng Pàli...… chia Tịnh thí làm 2 loại là Chân thực tịnh thí (Pàli:Sammukhà-vikappanà) và Triển chuyển tịnh thí (Pàli:Parammukhàvikappanà). [X. Sa di tắc ngũ phần giới bản;Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.4;luật Ngũ phầnQ.5; luật Ma ha tăng kìQ.19;luật Tứ phần Q.9; Luật Thập tụng Q.16; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, 1, Q. trung, 2].
tịnh thất
House of chastity, i.e. a monastery or convent.
; Nơi an trụ thanh tịnh, như đạo tràng tu pháp, đàn tràng tinh diệu, hay tự viện (tu viện) của Tăng và Ni—A place for pure, or spiritual, cultivation—A pure abode—The abode of the celibate—House chastity, i.e. a monastery, nunnery, or convent.
tịnh thắng ý lạc địa
Suddhy-Adhyasaya-Bhumi (S)Tịnh Tâm Địa.
tịnh thổ
Land of Nirvāṇa.
tịnh thủy
Pure water.
; Calm (pure) water.
tịnh thừa
Śamathayāna (S).
tịnh thực
(淨食) Thức ăn thanh tịnh. Đức Phật chế giới cấm tỉ khưu ăn rau sống, quả tươi...… mà phải dùng lửa nấu chín, dùng dao gọt hoặc móng tay lột bỏ vỏ, hột, rồi sau mới ăn, gọi là Tịnh thực. (xt. Tịnh Pháp).
tịnh trai
Strict abstinence.
tịnh trí tướng
Pure wisdom.
tịnh trị
(淨治) Cũng gọi Tịnh trị đạo lộ,Tịnh trị lộ, Trị lộ. Trừ bỏ các chướng ngại làm cho đạo tràng thanh tịnh. Trong pháp tu của Mật giáo, trước khi triệu thỉnh Bản tôn và Thánh chúng giáng lâm đạo tràng thì phải làm cho hư không và đường đi thanh tịnh bằng cách tụng chân ngôn quét sạch các chướng ngại. Trong Tô tất địa quĩ lần lượt ghi chân ngôn của Phật bộ, Liên hoa bộ, Kim cương bộ và cho rằng chân ngôn Tịnh trị lộ của Kim cương bộ được dùng chung cho cả 3 bộ.
tịnh trụ
A pure rest, or abode of purity, a term for a Buddhist monastery.
; Nơi thanh tịnh, một trong mười tên chùa—A pure rest—Abode or purity—A term for a Buddhist monastery, one of the ten names for a monastery.
; (淨柱) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động, sống vào đời Minh, người ở Long khê, tỉnh Phúc kiến, họ Trần, Hiệu Viễn môn, người đời gọi là Viễn môn Tịnh trụ thiền sư. Thân mẫu của sư nằm mộng thấy 2 con rồng lượn quanh giường, sau đó bà thụ thai và sinh ra sư. Từ nhỏ sư đã ham thích nội điển, tính không ưa trần tục. Sau khi xuất gia thụ giới Cụ túc, nhờ đọc Đăng sử mà có cảm ngộ, sư liền đến tham yết ngài Giác lãng Đạo thịnh ở chùa Viênthông; sau đó sư đến tham yết ngài Ngọ tinh Tịnh cảnh ở Thúy nham, có chỗ tỉnh ngộ; sư lại đến tham bái ngài Thạch vũ Minh phương ở núi Bảo thọ tại Hàng châu, nhận được yếu chỉ sâu xa và được nối pháp. Ban đầu sư khai đường thuyết giảng ở Long đường tại Hàng châu, sau sư kế thừa pháp tịch núi Bảo thọ. Năm Thuận trị 11 (1654) đời Thanh, sư thị tịch, thọ 54 tuổi, pháp lạp 22. Sư có tác phẩm: Ngũ đăng hội nguyên tục lược 8 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.109].
tịnh trụ tử
(淨住子) Gọi đủ: Tịnh trụ tử tịnh hạnh pháp môn. Tác phẩm, 20 quyển, do Văn tuyên vương ở Cánh lăng là Tiêu tử lương soạn vào đời Nam Tề. Nội dung sách này nói về yếu chỉ tu hành Phật đạo, dựa trên tinh thần luân lí của Nho gia Trung quốc, giải thích sự thực hành Phật giáo trong đời sống hằng ngày. Đây là bộ sách nhập môn cho những người mới bước vào ngưỡng cửa đạo Phật. Khi giải thích từ ngữ Tịnh trụ tử, bài tựa đầu sách cho rằng, nếusa môn làm cho 7 chi của thân, khẩu thanh tịnh, không khởi các điều ác, nuôi lớn gốc lànhbồ đề, tu tập như thế thì chắc chắn thành Phật, nối tiếp được hạt giống Phật 3 đời, làm con của Phật, cho nên gọi là Tịnh trụ tử. Sách này vốn đã thất truyền, chỉ còn những đoạn rời rạc trong bản Đôn hoàng do ông M.A. Stein người Anh thu chép và trong Thống lược tịnh trụ tử tịnh hạnh pháp môn do ngài Đạotuyên sao lược vào đời Đường (được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 27 trong Đại chính tạng tập 52). Cứ theo Thống lược tịnh trụ tử tịnh hạnh pháp môn thì sách này gồm 31 điều: Hoàng giác biện đức môn, Khai vật qui tín môn, Địch trừ tam nghiệp môn, Tu lí lục căn môn, Sinh lão bệnh tử môn, Khắc trách thân tâm môn, Kiểm phúc tam nghiệp môn, Ha cật tứ đại môn, Xuất gia thuận thiện môn, Tại gia tòng ác môn, Trầm minh địa ngục môn, Xuất gia hoài đạo môn, Tại gia hoài thiện môn, Tam giới nội khổ môn, Xuất tam giới ngoại lạc môn, Đoạn tuyệt nghi hoặc môn, Thập chủng tàm quí môn, Cực đại tàm quí môn, Thiện hữu khuyến tưởng môn, Giới pháp nhiếp sinh môn, Tự khánh tất cố chỉ tân môn, Đại nhẫn ác đối môn, Duyên cảnh vô ngại môn, Nhất chí nỗ lực môn, Lễ xá lợi bảo tháp môn, Kính trọng chính pháp môn, Phụng dưỡng tăng đường môn, Khuyến thỉnh tăng tiến môn, Tùy hỉ vạn thiện môn, Hồi hướng Phật đạo môn và Phát nguyện trang nghiêm môn. Sách này đặt nặng vấn đề sám hối, trích dẫn rất nhiều kinh luận, như kinh Lục sư kết thệ, kinh Tự ái, kinh Pháp cú, kinh Bào thai, kinh Niết bàn, kinh Xuất gia Công đức, luận Đại trí độ...… Ở đầu sách là bài tựa của ngài Đạo tuyên, kế đó là 31 điều Tịnh trụ tử của Tiêutử lương và sau mỗi điều đều có 1 bài tụng do Vương dung soạn. [X. Xuấttamtạng kí tập Q.12; Ngạn tông lục Q.3; Đường thư kinh tịch chí hạ; Hán Ngụy lục triều bách tam danh gia tập Q.57 (Trương phổ); Minh sa dư vận giải thuyết (Thỉ xuyKhánh huy)].
tịnh trụ xã
(淨住社) Đoàn thể tăng tục nhóm họp để cùng tu hành pháp Tịnh trụ, do Cánh lăng Văn tuyênvương Tiêutửlương sáng lập vào đời Nam Tề, gọi là Tịnh trụ xã. Tịnh trụ là dịch ý từ chữ Bố tát (Phạm: Powadha), tức mỗi nửa tháng một lần nhóm họpđại chúng giảng nói giới bản, nếu có ai phạm giới thì ra trước đại chúng giải bày sám hối, khiến cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh đúng như pháp mà an trụ. Việc kết xã (lập đoàn thể) trong Phật giáo bắt đầu từ Bạch liên xã (đoàn thể hoa sen trắng) do ngài Tuệ viễn kết tập vào đời Đông Tấn.[X. Đạitống tăng sử lược Q. hạ].
tịnh trừ tội cái ngô nhạc phật pháp kinh
(淨除罪蓋娛樂佛法經) Cũng gọi Ngũ khổ chương cú kinh, Ngũ khổ kinh, Ngũ đạo chương cú kinh, Đạo chương khổ kinh, Chư thiên ngũ khổ kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về 5nỗi khổ trong 5 đường trời, người, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, đồng thời khuyên chúng sanh nhanh chóng ra khỏi vòng luân hồi sinh tử trong 3 cõi, 5 đường.
tịnh tài
(淨財) Tài vật trong sạch. Ở đây, không phải nói về tài vật trong sạch hay không trong sạch, mà là chỉ cho cách sử dụng tài vật. Nếu tài vật do người xa lìa tham muốn có được thì gọi là Tịnh tài. Từ ngữ này thông thường được dùng để chỉ cho tài vật do những người có lòng tin thanh tịnh như các tín đồ(đàn việt) bố thí, hỉ xả.
tịnh tâm
Viśuddha-citta (S).
; The pure heart or mind, which is the original Buddha-nature in everyman. Tịnh tâm trụ, the pure heart stage, the third of the six resting places of a bodhisattva, in which all illusory views are abandoned.
; 1) Bản tánh thanh tịnh của con người vốn đầy đủ. Tâm thanh tịnh thì thân nghiệp và khẩu nghiệp cũng thanh tịnh: Pure heart—Pure mind, which is the original Buddha-nature in every man—Purification of the mind—To purify one's mind. 2) Tịnh tâm là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không bị nhiễm trược—Pure mind is one of the most important entrances to great enlightenment; for with it, there is no defilement.
; (淨心) Phạm: Vizuddha-citta. Tạng: Rnam-par-dag-pa#i sems. Cũng gọi: Thanh tịnh tâm. Tâm thanh tịnh. Chỉ cho tâm tín ngưỡng thanh tịnh, tâm trong sáng xa lìa cấu uế, hoặc chỉ tâm tự tính thanh tịnh sẵn có của chúng sanh. Theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháphoa quyển 4 thì trong đời vị lai, nếu thiện nam thiện nữ nào được nghe phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa mà tịnh tâm kính tin, không sinh ngờ vực thì sẽ không bị rơi vào đường địa ngục, ngã quỉ, súc sinhmà sinhở trước chư Phật trong 10 phương. Kinh Phật bát nê hoàn quyển thượng có liệt kê 3 tâm: Tịnh tâm, Tư tâm và Trí tâm. Tịnh tâm tức Thi đại, Tư tâm tức Tam ma đề, Trí tâm tức Băng mạn nhã. Thi đại là tâm không dâm, không giận, không tham; Tam ma đề là thu nhiếp tâm không để tán loạn; Băng mạn nhã là trong tâm không ái dục, thường giữ gìn giới cấm của Phật. Trong 10 tâm sâu xa (thâm tâm) được nêu trong kinh Hoa nghiêm quyển 35 (bản dịch mới) cũng có Thanh tịnh tâm (Phạm: Zuddha-citt’àzaya-manasikàra, Tạng: Dag-pa#i sems-kyi bsam-pa yid-la bya-ba, nghĩa là tâm thanh tịnh thường ở trong định). Thiên Thích danh trong Tịnh tâm giới quán pháp của ngài Đạo tuyên đời Đường nói rằng: Tịnh tâm nghĩa là đối với các phiền não hiện hành, các thứ bệnh hoạn,…... luôn tu tập đối trị, tức thời được giải thoát từng phần, những ô nhiễm giảm dần, tâm trở thành trong sáng, phát sinh định tuệ, khởi tín tâm Đại thừa thanh tịnh, hướng tới trụ xứ chủng tính bồ đề, nhờ nhân mầu nhiệm ngày nay, mai sau sẽ cảm được quả. [X. kinh Hoa nghiêm Q.73 (bản dịch mới);kinh Đạitát già ni kiền tử sở thuyết Q.7; kinh Kim cương tam muội].
tịnh tâm bồ tát
(淨心菩薩) Bồ tát trụ nơi tâm địa thanh tịnh. Về địa vị Bồ tát, có các thuyết khác nhau. 1. Theo luận Địa trì quyển 10, từ nhân vị đến quả vị có lập 7Trụ, trong đó, Tịnh tâm thứ 3 tương đương với Bồ tát Địa thứ nhất. 2. Theo luận Kim cương bát nhã quyển thượng(ngài Vôtrước soạn),có lập 3 Địa là: Tín tâm, Tịnh tâm và Như lai, trong đó, Tịnh tâm trụ là Địa thứ nhất trở lên đến Địa thứ 10. Hai thuyết trên đây đều cho rằng từ Địa thứ nhất trở lên chứng được 1 phần lí chân như, cho nên gọi là Tịnh tâm. 3. Theo Vãng sinh luận chú quyển hạ,từ Địa thứ nhất đến Địa thứ 7 trở xuống là hàng Bồ tát chưa chứng được Tịnh tâm, từ Địa thứ 8 trở lên mới là hàng Bồ tát tịnh tâm. Đó là vì từ Địa thứ 7 trở xuống thuộc về địa vị Hữu công dụng, còn Địa thứ 8 trở lên thì thuộc về địa vị Vô công dụng, được tự nhiên không làm mà làm, nên gọi là Bồ tát tịnh tâm. Theo luận Đại trí độ quyển 50, 74 thì từ Địa thứ 7 trở xuống thuộc thân Phần đoạn của nhục thân, còn từ Địa thứ 8 trở lên thì thuộc thân Biến dịch của pháp tính sinh thân.Theo thuyết này thì pháp tính sinh thân chính là Bồ tát tịnh tâm an trụ nơi lí pháp tính bình đẳng.
Tịnh tâm giới quán pháp
淨心戒觀法; C: jìngxīn jièguān fă; J: jōshin kaikan hō;|Tác phẩm của Đạo Tuyên (道宣).
tịnh tâm giới quán pháp
(淨心誡觀法) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Đạo tuyên soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 45. Nội dung sách này chỉ dạy người học con đường tự tu và giáo hóa người khác. Tịnh tâm nghĩa là gột sạch sự cáu bẩn trong tâm, khiến cho tâm trong sạch sáng suốt; Giới quán nghĩa là xa lìa tội lỗi, quán xét chân lí một cách thấu đáo. Toàn sách chia làm 30 thiên: Thích danh, Tự tông, Ngũ đình tâm, Giáo lượng, Tự khánh, Thiện căn, Phá giới, Tà mệnh, Cuống Phật, Tạo quá, Giải thoát, Thực duyên, Lưu chuyển, Bất động, Quá hoạn, Tâm trược, Nhị báo, Kết sử, Duyên sinh, An ban, Tương tư, Nhân quả, Chỉ kiếp, Nhất đế, Tâm hành, Bồ đề, Giáo hóa, Phật tính, Phúc điền và Thụ trì. Về các sách chú thích tác phẩm này thì có: Phátchân sao 3 quyển và Khoa 1 quyển của ngài Doãnkham đời Tống. [X. Tân biên chư tông giáo tạngtổng lục Q.2; Chư tông chương sớ lục Q.2].
Tịnh tâm giới quán pháp 淨心戒觀法
[ja] ジョウシンカイカンホウ jōshin kaikan hō ||| The Jingxin jieguan fa by Daoxuan 道宣; T 1893.45.819b-834a. => (c: Jingxin jieguan fa); tác phẩm của Đạo Tuyên (c: Daoxuan 道宣).
tịnh tâm trụ
Nơi trụ tâm, giai đoạn thứ ba trong sáu giai đoạn trụ tâm của một vị Bồ Tát, trong đó các ngài buông bỏ hết thảy vọng tưởng—The pure heart stage, the third of the six resting place of a Bodhisattvas, in which all illusory views are abandoned.
tịnh tâm tịnh độ
Pure Minds-Pure Lands—See Tâm Thanh Tịnh Phật Độ Thanh Tịnh.
Tịnh Tâm Tự
(淨心寺, Jōshin-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 2-4-25 Hirano (平野), Kōtō-ku (江東區), Tokyo-to (東京都), hiệu là Pháp Uyển Sơn (法苑山), là ngôi mạt tự (ngôi chùa trực thuộc sự quản lý của ngôi chùa bản sơn trung tâm) của Cửu Viễn Tự (久遠寺) ở Giáp Châu (甲州). Người khai sơn chùa là Nhật Nghĩa Thánh Nhân (日義聖人); người khai cơ là Lão Nữ Tam Trạch (老女三澤) của chính quyền Mạc Phủ; cho nên hiệu chùa cũng được lấy theo hiệu của bà này. Khi bà qua đời vào năm 1656 (Minh Lịch [明曆] 2), tương truyền kiến trúc của ngôi điện Cát Điền (吉田) cũng như tiền bán khu đất ở địa phương Thâm Xuyên (深川, Fukagawa) được dâng cúng để tạo dựng nên ngôi già lam này. Sáu ngôi viện con xưa kia gồm Ngọc Tuyền Viện (玉泉院), Bổn Lập Viện (本立院), Thiện Tâm Viện (善心院), Viên Long Viện (圓隆院), Xướng Hành Viện (昌行院) và Nhất Thừa Viện (一乘院) nằm theo thứ tự trong khuôn viên chùa. Còn Viên Châu Viện (圓珠院), Tuyên Minh Viện (宣明院) thì tọa lạc ở phía Đông chùa. Chánh Điện lại nằm ở phía Tây chùa, Tổ Sư Đường thì nằm ở phía Bắc. Khách Điện cũng như Nhà Kho thì nằm ở phía Nam; trong khi đó, Triều Sư Đường (朝師堂), Quỷ Tử Mẫu Thần Đường (鬼子母神堂), Thất Diện Đường (七面堂), Diệu Kiến Đế Thích Đường (妙見帝釋堂), v.v., thì nằm kéo dài từ Tây sang Đông. Trong khuôn viên chùa còn có khá nhiều ngôi mộ của các nhân vật nổi tiếng đương thời.
Tịnh tâm địa
淨心地; C: jìng xīndì; J: jōshinji;|Thuật ngữ dùng trong luận Đại thừa khởi tín, chỉ cho giai vị đầu tiên của hàng Thập địa Bồ Tát.
tịnh tâm địa
(淨心地) Phạm: Zuddhy-adhyàzaya-bhùmi. Cũng gọiTịnh tâm trụ, Tịnh thắng ý lạc địa. Chỉ cho địa vị chứng được tâm thanh tịnh vô lậu, là giai vị thứ nhất trong các giai vị tu hành của Phật giáo Đại thừa, 1 trong 7 Địa,địa thứ1trong 10 Địa, 1 trong 12 Trụ, đồng với Hoan hỉ địa. Đối lại với Giải hành trụ thuộc Địa tiền (các địa vị dưới Thập địa) chưa chứng tịnh tâm, hàng Sơ địa(địa vị thứ nhất của Thập địa) đã đoạn trừ các phiền não trói buộc, chứng được sự giải thoát thanh tịnh, gọi là Tịnh tâm địa. Còn theo Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ thì người sinh về Tịnh độ được thấy Phật A di đà, tuy chưa chứng Bồ tát tịnh tâm nhưng cũng đồng với Bồ tát tịnh tâm, chứng được pháp thân bình đẳng. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan cho rằng: Pháp thân bình đẳng là Bồ tát pháp tính sinh thân của Địa thứ 8 trở lên. Từ Địa thứ 7 trở xuống là hàng Bồ tát chưa chứng tịnh tâm; tịnh tâm là tâm vô lậu, từ Địa thứ 8 trở lên thuần là vô lậu nối tiếp nhau, cho nên gọi là Tịnh tâm bồ tát. Thuyết này cho rằng Tịnh tâm là từ Địa thứ 8 trở lên, khác với thuyết Sơ địa chủ trương Địa thứ nhất đã chứng được tịnh tâm. Ngoài ra, Tịnh tâm địa trong Thiền tông là chỉ cho tâm địa, tâm tính. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Đại thừa khởi tín; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
Tịnh tâm địa 淨心地
[ja] ジョウシンチ jōshinji ||| A term used in the Awakening of Faith 起信論 for the first stage of the ten bhūmis. => Thuật ngữ dùng trong luận Đại thừa khởi tín, chỉ cho giai vị đầu tiên của hàng Thập địa Bồ-tát.
tịnh tín
Pure faith.
; Niềm tin thanh tịnh—Pure faith.
tịnh tông
See Tịnh Độ.
tịnh tú
(淨秀) VịNi sư Trung quốc sống vào thời Nam triều, người ở Ô thị, An định (huyện Nam trịnh, tỉnh Thiểm tây), họ Lương. Thủa nhỏ, Ni sư đã có tuệ ngộ, từ tâm tu định, tụng kinh hành đạo, ăn chay trường, sống cuộc đời đạm bạc. Sau khi thụ 5 giới, Ni sư vâng giữ không hề trái phạm. Tính Ni sư ưa thích giới luật, mọi cử chỉ đi đứng ngồi nằm đều tuân theo phép tắc. Ni sư từng thỉnh Luật sư Diệu giảng luật, sau lại thỉnh ngài Pháp dĩnh giảng dạy luật Thập tụng. Lúc bấy giờ, ni tăng các chùa phần nhiều không đúng pháp, Ni sư thường than thở, nên tự thực hành pháp sám hối, lại theo ngài Pháp dĩnh thụ giới ở chùa Nam viên, ni chúng các chùa ở kinh đô nhân đó cũng bảo nhau đi thụ giới. Công chúa Nam xương đời Lưu Tống và Hoàng tu nghi rất kính ngưỡng đức hạnh của Ni sư nên cúng đất xây tinh xá. Năm Đại minh thứ 8 (464), chùa Thiên lâm được sáng lập và Ni sư đích thân tham dự công trình xây cất. Năm Vĩnh minh thứ 10 (466) đời Nam Tề,Ni sư nghe biết ngài Tăng già Bạt đà la dịch bộ Thiện kiếnluậttìbà sa 18 quyển tại Quảng châu,Ni sư liền đến tận nơi thỉnh được bộ luật này đưa về kinh đô, đính lễ, xem đọc, kính chép, lưu truyền rất rộng rãi.Đến đời Lương, vua Vũ đế rất kính trọngNi sư, vìNi sư tuổi cao, đi đứng không vững nên vua cho phép Ni sư ngồi xe vào cung. Năm Thiên giám thứ 5 (506), Ni sư bảo các đệ tử là mình sắp sinh lên cõi trời Đâu suất, nói xong liền thị tịch, thọ 89. [X. Tỉ khưu ni truyện Q.4; Quảng hoằng minh tập Q.23].
Tịnh tạng
淨藏; C: jìngzàng; J: jōzō;|Kho tàng thanh tịnh. Cùng với Tịnh Nhãn (淨眼), là 2 người con của Diệu Trang Nghiêm Vương (妙莊嚴王), được nhắc đến tronh kinh Pháp Hoa.
tịnh tạng
Vimalagarba (S). Eldest son of Subhavyùha in the Lotus sùtra.
; Vimalagarbha (skt)—Con trai cả của Diệu Trang Nghiêm Vương trong Kinh Pháp Hoa—Eldest son of Wonderfully Adorned King (Subhavyuha) in the Lotus Sutra.
tịnh tạng bồ tát
Xem Tịnh tạng Như lai.
tịnh tạng như lai
Vimalagarbha (S)Tịnh tạng Tam muội, Tịnh Tạng Bồ tát1- Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội. 2- Tịnh Tạng: Tên một vị hoàng tử con vua Diệu Trang nghiêm thơi Vân Lôi Âm Túc Vương HoaTrí Phật, bõ ngôi theo Phật tu trì mà thành đạo. Phật hiệu của Dược Thượng Bồ tát.
tịnh tạng tam muội
Vimalagarbha-samādhi (S)Xem Tịnh tạng Như lai.
tịnh tạng tịnh nhãn
(淨藏淨眼) Tịnh Tạng (Phạm: Vimala-garbha) và Tịnh nhãn (Phạm: Vimala-netra), tên của 2 bồ tát Dược vương và Dược thượng khi còn ở địa vị tu nhân trong đời quá khứ.Cứ theo phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa quyển 7 thì trong đời quá khứ cách nay vô lượng vô biêna tăng kì kiếp không thể nghĩ bàn, có đức Phật ra đời hiệu là Vân lôi âm tú vương hoatrí, trong giáo pháp của Ngài có vị vua tên là Diệu trang nghiêm, phu nhân của vua tên Tịnh đức, sinh được 2 người con là Tịnh tạng và Tịnh nhãn, 2 người này tu đạo Bồ tát đã lâu, có đầy đủ phúc đức, trí tuệ, thông suốt cáctam muội(thiền định). Vì vua cha tin theo pháp Bà la môn nên 2 vị từng hiện các thầnbiến khiến ông qui y Phật pháp. [X.kinh Dượcvương Dược thượng nhị bồ tát; Pháphoa nghĩa kí Q.8]. (xt. Dược Vương BồTát).
Tịnh Tạng 淨藏
[ja] ジョウゾウ jōzō ||| Pure Treasure. Along with Pure Eyes 淨眼, the son of the king marvelous adornment 妙莊嚴王. 〔法華經 T 262.9.59c5〕 => Cùng với Tịnh Nhãn淨眼, là 2 người con của Diệu Trang Nghiêm Vương妙莊嚴王.
tịnh tịch
Tranquil—Calm—Quiet—As tranquil as space.
tịnh tọa
To sit in deep meditation (contemplation).
Tịnh Từ Pháp Nhãn Thiền Sư Tông Môn Thập Quy Luận
(淨慈法眼禪師宗門十規論, Jōjihōgenzenjishūmonjukkiron): xem Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論, Shūmonjukkiron) bên dưới.
Tịnh Từ Tự
(淨慈寺, Jinzu-ji, Jōji-ji): hiện tọa lạc tại Nam Bình Sơn (南屛山), Huyện Tiền Đường (錢塘縣), Phủ Hàng Châu (杭州府), Tỉnh Triết Giang (浙江省), còn gọi là Nam Sơn Tịnh Từ Tự (南山淨慈寺), ngôi chùa đứng hàng thứ 4 trong Ngũ Sơn, được kiến lập bởi Ngô Việt Vương (呉越王) vào năm đầu (954) niên hiệu Hiển Đức (顯德) thời Ngũ Đại. Sau Trung Ý Vương (忠懿王) đặt tên chùa là Huệ Nhật Vĩnh Minh Viện (慧日永明殿) và thỉnh Đạo Tiềm (道潛) từ Cù Châu (衢州) đến làm trú trì đời thứ nhất. Vị trú trì thứ 2 là Diên Thọ (延壽) cũng do sự thỉnh cầu của vị vua này đến đây sống trong vòng 15 năm kể từ năm thứ 2 (961) niên hiệu Kiến Long (建隆) đầu thời nhà Tống. Trước tác đồ sộ của Diên Thọ, Tông Kính Lục (宗鏡錄) 100 quyển, ban đầu được soạn ra ở chùa này; bên trái Chánh Điện chùa có Tông Kính Đài (宗鏡台), nơi tôn thờ mộ tháp của ông. Vua Thái Tông nhà Tống đổi tên chùa thành Thọ Ninh Thiền Tự (壽寧禪寺). Dưới thời vua Nhân Tông, Viên Chiếu Tông Bổn (圓照宗本), Đại Thông Thiện Bổn (大通善本), Pháp Chơn Thủ Nhất (法眞守一) của Vân Môn Tông, rồi Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨), Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡), v.v., cũng đã từng trú trì chùa này và hoạt động giáo hóa rất mạnh mẽ. Đến năm thứ 9 (1139) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), chùa được ban sắc ngạch là Tịnh Từ Báo Ân Quang Hiếu Thiền Tự (淨慈報恩光孝禪寺). Đây là lần đầu tiên tên gọi Tịnh Từ Tự được dùng đến. Trong khoảng thời gian niên hiệu Hồng Võ (洪武, 1368-1398) nhà Minh, niên hiệu Chánh Thống (正統, 1436-1449), chùa mấy lần bị hỏa tai. Ngôi Chánh Điện hiên tại là kiến trúc do Tông Diệu (宗妙) xây dựng lại trong khoảng thời gian niên hiệu Chánh Thống và được trùng tu lại qua 3 lần của các niên hiệu Thuận Trị (順治), Khang Hy (康熙), Ung Chính (雍正) nhà Thanh.
tịnh từ tự
(淨慈寺) Chùa ở núi Nam bình, ngoại ô phía nam huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, do vua nước Ngôviệt là Tiềnhoằngthúc sáng lập vào niên hiệu Hiểnđức năm đầu (954) đờiHậu Chu.Ban đầu, chùa có tên là Tuệ nhật vĩnh minh, do ngài Đạo tiềm ở Cù châu được rước đến làm vị Tổ khai sáng thứ nhất. Ngài Đạo tiềm định đúc tạo 18 pho tượng La hán, vua chưa được biết việc này nhưng đã mộng thấy 18 người to lớn, nên vua giúp sư hoàn thành chí nguyện tạo tượng và xây La hán đường để thờ. Năm Kiến long thứ 2 (961) đời Bắc Tống, ngài Đạo tiềm thị tịch, vua lễ thỉnh ngài Diên thọ chùa Linh ẩn về trụ trì chùa này. Ngài Diên thọ trụ tại đây 15 năm, phát triển Phật pháp, giáo hóa tín chúng, độ 1700 đệ tử, truyền giới Bồ tát cho 7 chúng, thời khóa hằng ngày gồm 108 Phật sự, ngày đêm xưng niệm danh hiệu Phật A di đà 10 vạn tiếng, đức hóa thấm nhuần khắp trong nước, người đời gọi sư là Vĩnh minh Diên thọ. Nhà vua xây điện Hương nghiêm để đền đáp chí nguyện của sư. Đồng thời, sư soạn bộ Tông kính lục gồm 100 quyển, trong khuôn viên chùa xây 1 tòa nhà gọi là Tông kính đài(cũng gọi Tông kính đường). Thời vua Tốngtháitông, chùa được đổi tên là Thọ Minh thiền viện, sau lại gọi là Tịnh từ tự. Về sau, chùa bị cháy trong 1 trận hỏa hoạn. Đến thời vua Caotông nhà NamTống, chùa được xây cất lại và đắp 500 tượng La hán bằng đất. Trong năm Hồngvũ đời Minh, chùa có đúc 1 quả chuông nặng 2 vạn cân, tiếng chuông vang rền, vọng đến tận hang núi, đây chính là tiếng chuông chiều Nam bình trong 10 cảnh của Tây hồ. Trong sách Tham thiên thai ngũ đài sơn kí quyển 1, vị tăng Nhật bản là ngài Thành tầm ghi rằng chùa có viện Ngũ bách La hán, tháp đá 9 tầng (mỗi tầng đều có khắc 500 vị La hán)rất tráng lệ. Về sau, có các thiền sư như Viên chiếu Tông bản, Đại thông Thiện bản,...… đến đây phát huy thiền phong, cảnh chùa rất thịnh. Lại có ngài Pháp chân Thủ nhất cùng với bạn đồng tu và tín đồ, dùng 7 thứ báu vàng, bạc, chân châu, san hô, hổ phách, xà cừ và mã não tạo lập tượng Phật A di đà. Năm Vạn lịch 20 (1592) đời Minh, ngài Châu hoành trụ ở chùa này giảng pháp. Về sau, qua các niên hiệu Thuận trị, Khang hi, Ung chính đời Thanh, chùa này đều được xây dựng lại, nhờ thế nên tồn tại cho đến ngày nay. Chùa hiện có các kiến trúc như: Đại điện, Tông kính đài, Diên thọ mộ tháp, Lôi phong tháp(tháp bằng gạch gồm 7 tầng nhưng chỉ còn 5 tầng),…... Năm trăm pho tượng La hán bằng đất, được đắp vào đời Tống, hiện nay không còn. [X. Vĩnh minh đạo tích; Truyền pháp chính tông kí Q.8; Tông môn thống yếu tục tập Q.20; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 110; Chức phương điển thứ 948].
tịnh từ yếu ngữ
(淨慈要語) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Cổ sơn Nguyênhiền soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 108. Nội dung sách này thu chép các yếu ngữ về niệm Phật, phóng sinh. Tịnh từ là tên ngôi am của ngài Văn cốc Quảng ấn - thầy của tác giả. Sách này dựa theo đó mà lập Tịnh môn và Từ môn. Tịnh môn nói rõ về sự hiểu và thực hành tam muội niệm Phật, còn Từ môn thì răn cấm sát sinh và khuyên dạy phóng sinh. Tác giả Nguyên hiền tham yết ngài Quảng ấn, được giới bản của ngài Vân thê Châu hoành, kế thừa thuyết Thiền, Tịnh, Giới nhất trí, chủ trương dùng tam muội niệm Phật thu nhiếp tất cả muôn hạnh, cho rằng giới không sát sinh đứng đầu các điều thiện. [X. Thiền tổ niệm Phật tập Q. hạ].
Tịnh Từ Đàm Mật
(淨慈曇密, Jinzu Donmitsu, 1120-1188): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Thiên Thai (天台), Triết Giang (浙江), họ Lô (盧), hiệu Hỗn Nguyên (混源). Năm 12 tuổi, ông xuất gia, theo hầu Tư Phước Đạo Vinh (資福道榮), đến năm 16 tuổi thọ Cụ Túc giới, học tập giáo pháp Thiên Thai. Sau đó, ông đến tham vấn Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Tuyết Sào Pháp Nhất (雪巢法一), Thử Am Cảnh Nguyên (此庵景元) ở Kính Sơn (徑山). Ông còn tham học với Hối Am Di Quang (晦庵彌光) ở Tuyền Nam (泉南) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 7 (1171) niên hiệu Càn Đạo (乾道), ông dừng chân trú tại Thượng Phương Tự (上方寺) vùng Điều Khê (苕溪) và sau đó sống qua một số chùa khác như Tử Trạch (紫擇), Hồng Phúc (鴻福), Vạn Niên (萬年), v.v. Vào năm thứ 11 (1184) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông được sắc chỉ trú trì Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và đến năm thứ 15 thì thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 54 hạ lạp. Trước tác của ông có Hỗn Nguyên Mật Hòa Thượng Ngữ Yếu (混源密和尚語要) 1 quyển.
tịnh tự tâm hiện lưu
Svacittadṛśya-dhārāvisuddhi (S).
tịnh uế bất nhị
(淨穢不二) Tịnh, Phạm: Zuddha, Zubha. Uế, Phạm: Azuddha, Azubha. Sạch, dơ chẳng hai. Các pháp có trong sạch và nhơ nhớp khác nhau. Tuy nhiên, nói theo chỗ cùng tột của tư tưởng Phật giáo Đại thừa thì tất cả các pháp đều không có thực tính cố định bất biến, trong tịnh không có thực tính tịnh; trong uế chẳng có thực tính uế, tịnh uế đều do nhân duyên sinh, là không tính bình đẳng, cả hai đều hòa nhập vào biển chân như Phật pháp viên mãn, vì thế gọi là Bất nhị. [X.phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma; Phẩm Quán điên đảo trong Trung luận Q.4].
tịnh uế tứ tướng
(淨穢四相) Bốn tướng sạch, dơ được nói trong Hoa Nghiêm kinh sớ quyển 1. Tức chỉ cho cõi nước thanh tịnh hoặc ô uế màđức Phật an trụ khi giảng nói kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1 thìtịnh uế có 4 tướng như sau: 1. Duy nhiễm: Nhiễm tức nhớp nhúa. Đức Phật giảng thuyết kinh Hoa nghiêm ở nước Ma yết đà thuộc thế giới Sa bà...…, ẩn tướng tịnh đi, nên gọi là Duy nhiễm. 2. Duy tịnh: Tịnh tức trong sạch. Đức Phật tuyên thuyết kinh Hoa nghiêm ở thế giới Hoatạng. Thế giới Hoatạng không có tướng nhiễm, nên gọi là Duy tịnh. 3. Nhiễm tịnh câu: Có cả nhiễm lẫn tịnh. Đức Phật giảng nói kinh Hoa nghiêm ở một nơi nào đó, nhưng vì căn cơ của chúng sinhkhác nhaunên chỗ thấy hoặc nhiễm hoặc tịnh bất đồng, vì thế gọi là Nhiễm tịnh câu. 4. Phi nhiễm tịnh: Chẳng phải nhơ, chẳng phải sạch.Đức Phật tuyên thuyết kinh Hoanghiêm ở một nơi nào đó, người có căn cơ Đại thừa không thấy tướng nhiễm tịnh mà thấy là pháp giới đồng nhất, nên gọi là Phi nhiễm tịnh.
tịnh viên giác tâm
Pure and perfect enlightened mind: the complete enlightenment of the Buddha.
; Tâm thanh tịnh và toàn giác—Pure and perfect enlightened mind—The complete enlightenment of the Buddha.
Tịnh vô kí
淨無記; C: jìng wújì; J: jō muki;|Đồng nghĩa với Vô phú vô kí (無覆無記).
Tịnh vô ký 淨無記
[ja] ジョウムキ jō muki ||| Same as 無覆無記. => Đồng nghĩa với Vô phú vô ký無覆無記.
tịnh vương
The Supreme Pure King.
Tịnh Vức
(淨域): tên gọi khác của Tịnh Độ (淨土), là quốc độ thanh tịnh mà chư Phật cũng như Bồ Tát thường cư trú. Như trong bài Du Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (游嵩山少林寺) của Đường Thuận Chi (唐順之, 1507-1560) nhà Minh có câu: “Tịnh Vức long nham thượng, hương đài Thứu Lãnh biên (淨域龍岩上、香臺鷲嶺邊, Tịnh Vức trên đỉnh núi, đài hương Non Thứu bên).” Hay trong Truyện Ẩn Dật (隱逸傳) quyển hạ, phần Dữu Sân (庾詵), của Nam Sử (南史) có câu: “Thượng Hạnh Tiên Sanh dĩ sanh Di Đà Tịnh Vức hỉ (上行先生已生彌陀淨域矣, Tiên Sanh Thượng Hạnh đã vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật Di Đà rồi).”
; (淨域): tên gọi khác của cõi Tịnh Độ, sau được dùng để chỉ cho tự viện Phật Giáo. Như trong Nam Sử (南史), Phần Ẩn Dật Truyện (隱逸傳), Dữu Sân (庾詵), có câu: “Thượng Hành tiên sinh dĩ sanh Di Đà Tịnh Vức hĩ (上行先生已生彌陀淨域矣, Thượng Hành tiên sinh đã sanh về cõi Tịnh Độ của Phật Di Đà rồi !).” Hay trong bài tựa của Tịnh Độ Toàn Thư (淨土全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1176) quyển 1 có đoạn: “Tắc thử thư thành vi phá chướng chi tiền trận, cát hoặc chi lợi phong, Tịnh Vức chi bảo phiệt, nhập Thánh chi yếu tân (則此書誠為破障之前陣、割惑之利鋒、淨域之寶筏、入聖之要津, thời sách này thật sự là phá chướng ngại tiền tận, cắt nghi ngờ dao bén, Tịnh Vức ấy bè báu, nhập Thánh ấy bến bờ).” Hoặc trong Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2060) quyển 3 lại có câu: “Sái Cam Lộ ư Thiền lâm, chuyển Pháp Luân ư Tịnh Vức (灑甘露於禪林、轉法輪於淨域, rưới Cam Lộ nơi Thiền lâm, chuyển Xe Pháp nơi Tịnh Vức).”
Tịnh Vức tự 淨域寺
[ja] ジョウイキジ Jōiki ji ||| The Jingyu si temple in Changan, which was the residence of the Sanjie 三階教 adherent Fazang 法藏 (637-714). => (j: Jōiki ji; e: Jingyu si) Ngôi chùa ở Tràng An, bản doanh của Tam giai giáo, có liên quan đến Pháp Tạng (c: Fazang 法藏; 637-714).
tịnh vực
The Pure Lands of all Buddhas.
; Cõi tịnh độ của chư Phật—The Pure Lands of all Buddhas.
Tịnh Vực tự
淨域寺; C: jìngyù sì; J: jōiki ji;|Ngôi chùa ở Tràng An, bản doanh của Tam giai giáo (三階教), có liên quan đến Pháp Tạng (法藏; 637-714).
tịnh xá
Tarama (S), Vihāra (S),Monastery (S, P), Tarama (S), Samgharama (S)Tăng già lam, Tăng viên, Đại tựđại tự, là ngôi nhà thanh tịnh nơi các sư học đạo và tham thiền. Ngoài Kỳ thọ cấp cô độc là tinh xá do ông Cấp cô độc mua cúng dường giáo hội, còn có những tinh xá khác của vua quan cúng dường đức Phật vào thời ấy như: - Trúc lâm Tinh Xá gần thành Vương xá do vua Tần bà sa la cúng dường. - Ni câu đà Tinh xá, gần thành Câu tỳ la vệ, là quê hương của Phật. - Tinh xá Ghosavati-arama gần thành Câu đàm di. - Tinh gần ao Nhĩ hầu thành Tỳ xá ly - Tinh xá Đông viên phía đông thành Vương xá. - Lộc dã Tinh xá gần thành Ba la nại.
; Vihara (skt)—Monastery—See Tịnh Thất.
tịnh xá cấp cô độc
Anāthapiṇḍika vihāra (S) Tên một ngôi chùa.
tịnh xá trung tâm
Tịnh Xá Trung Tâm, thuộc Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam, tọa lạc trong quận Bình Thạnh, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Hệ phái Khất Sĩ Việt Nam do Tổ Sư Minh Đăng Quang sáng lập. Tịnh Xá được Hòa Thượng Thích Giác Nhiên xây vào tháng tư năm 1966, trên một khuôn viên rộng 5.490 thước vuông. Hiện tại tịnh xá đang được Thượng Tọa Thích Giác Toàn trùng tu và mở rộng. Chánh điện có xây Pháp Tháp hình bát giác, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca, bên trong tám vách có 8 bức phù điêu, mỗi bức cao 2,2 mét, dài 4,5 mét, giới thiệu cuộc đời Đức Phật do điêu khắc gia Minh Dung thực hiện. Tịnh xá là trụ sở chính của Hệ phái Khất Sĩ Việt Nam. Bên trong tháp có tôn tượng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Tháp cao 6 mét, hình vuông mỗi cạnh 4 mét. Trên đỉnh tháp là 13 tầng tháp nhỏ tiêu biểu cho 13 nấc tiến hóa của chúng sanh (lục phàm, tứ Thánh, tam Tôn). Tháp được làm bằng gỗ đàn hương, chung quanh có hình sen chạm nổi do ông Thiện Ngộ và nhóm thợ trường Mỹ Nghệ Long An thực hiện—Name of Central Vihara, located in Bình Thạnh district, Saigon City, South Vietnam. The monastery belongs to the Vietnamese Sangha Bhiksu Buddhist Sect (Vietnamese Medicant Sect was founded by Patriarch Minh Đăng Quang). It was built in April 1966 by Most Venerable Thích Giác Nhiên in an area of 5,490 square meters. It has been rebuilding and expanding by Venerable Thích Giác Toàn. In the Main Hall, there is an octagonal Dharma stupa where the statue of Sakyamuni Buddha is worshipped. Surrounding the walls of the stupa are eight bas-reliefs, 2.20 meters wide and 4.50 meter long for each. The bas-reliefs, carved by Sculptor Minh Dung, described the life of Sakyamuni Buddha. The Central Vihara is used as the Main Office of the Vietnam Medicant Sect. Sakyamuni Buddha statue is worshipped in the stupa. It is a four-sided stupa, 6 meter high, 4 meters wide each side. The tower itself is 4.4. meters high with each side 2.25 meters wide. The spire was built with thirteen storeys representing thirteen periods of Human Beings' evolution (six laymen, four sages and three Buddhas). The stupa was made of Sandalwood surrounded by a lotus bas-relief. On the upper part, there are twenty bas-reliefs illustrating the life of Sakyamuni Buddha. The Buddha stupa was created by Mr. Thiện Ngộ and his group of craftsmen from Long An School of Fine Art.
tịnh xúc
(淨觸) Cũng gọi Tịnh trược. Trong sạch và dơ bẩn. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 nói rằng: Nước có tịnh, xúc, bình có 2 cái, nước sạch thì đựng trong bình bằng sành, sứ; nước dơ thì tùy ý chứa trong bình đồng, hoặc sắt; nước sạch dùng để uống lúc phi thời, còn nước dơ thì dùng để rửa lúc đại tiểu tiện; nước sạch thì tay phải sạch sẽ mới được cầm đến, và phải được để ở chỗ sạch; còn nước dơ thì tùy tay bẩn hoặc sạch đều cầm lấy được và phải để ở chỗ bẩn.Ngoài ra còn có các danh xưng Tịnh trù, Xúc trù, Tịnh dũng, Xúc dũng,…... Nhà tắm ở các chùaThiền cũng có đặt những cây sào tre sạch (tịnh can) để máng áo sạch (tịnh y)s ào tre dơ (xúc can) thì dùng để máng áo dơ (xúc ý). Về sau, chữ Tịnh được dùng để chỉ cho người có tâm địa trong sáng, còn chữ Xúc thì chỉ cho người ác tâm, tà niệm. [X.điềuThư trạng trong Thiền uyển thanh qui Q.3; Khí vật môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tịnh xả
See Tịnh Thí.
tịnh y
(淨衣) Áo thanh tịnh. I. Tịnh y. Áo nhận được từ người bố thí. Áo do tỉ khưu tự canh tác, trồng trọt chế ra nguyên liệu để may, hoặc dùng tiền lời do sự buôn bán mà có để mua sắm...… đều bị luật ngăn cấm; còn áo do thí chủ bố thí cho thì không phạm tội, nên gọi là Tịnh y. [X. Đại tỉkhưu tam thiên uy nghi Q. thượng]. II. Tịnh y. Áo pháp mặc khi thực hành pháp tu trong Mật giáo, tùy theo các pháp tu khác nhau mà có các màu sắc bất đồng. III. Tịnh y. Áo của người tinh tiến thụ trì trai giới thanh tịnh sử dụng.
tịnh y gia trì
(淨衣加持) Cũng gọi Ca sa gia trì. Pháp gia trì y phục của người tu hành sử dụng để mặc. Có nhiều pháp gia trì:Hoặc tụng chân ngônTịnh tam nghiệp 3 biến, 7 biến; hoặc tụng chân ngôn Án bát lí phạra đá đá phạ nhật lí ni hồng; hoặc tụng chân ngôn Án ma ni vi bố lê địa lí địa lí hồng phấn tra 7 biến; hoặc kết ấn khế, nắm cả 2 tay lại, rồi tụng chân ngôn Án phì ma la bả lí bá lật đa bá lí triết lí hồng. [X. Tô tất địa quĩ Q. thượng; kinh Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q. trung; Quán tự tại đại bi thành tựu du già liên hoa bộ niệm tụng pháp môn].
tịnh ý ưu bà tắc sở vấn kinh
(淨意優婆塞所問經) Cũng gọi Tịnh ý vấn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 17.Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật theo lời thưa hỏi củaưu bà tắc Tịnh ý đâu nê da tử mà nói về sự quan hệ nhân quả của các nghiệp báo khác nhau như chết yểu, sống lâu, cho đến ngu si, trí tuệ…...
tịnh đạo
The pure enlightenment of Buddha.
; Sự giác ngộ thanh tịnh của Đức Phật—The pure enlightenment of Buddha.
tịnh đầu
The monk who controls the latrines.
; Vị sư trông coi nhà xí (nhà cầu) trong chùa—The monk who controls the latrines.
; (淨頭) Cũng gọi Thanh đầu, Trì tịnh. Chức vụ coi về việc quét tước nhà xí trong Thiền lâm. Điều liệt chức tạp vụ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng) nói: Tịnh đầu quét đất thắp hương, đổi thẻ cọ rửa, đun thêm nước nóng phải cho đúng giờ, hơi thấy bừa bãi phải dọn dẹp ngay. Phải xem xét,thay đổi khăn tay, thùng đựng nước để luôn được sạch sẽ. Người làm chức vụ này đều là tự phát đạo tâm. Tăng đường thanh qui quyển 5 nói: Chức vụ này không ai ép buộc phải làm, trước khi bàn giao, Duy na treo tấm bảng nhỏ ở nơi nhà xí, trên bảng viết: Kì này thiếu người phát tâm làm chức Tịnh đầu, nếu ai muốn kết duyên, xin ghi tên mình vào bảng. Nếu không có ai tình nguyện thì chúng tăng hẹn nhau vào ngày Khai dục (ngày tắm gội) sẽ theo thứ tự tuổi hạ mà đảm nhận công việc. Đời xưa, các Tổ sư phát tâm vào đạo thường thích làm công việc này, chẳng hạn như ngài Tuyết đậu Trùng hiển khi ở trong chúng, từng đã lãnh chức vụ này ở chùa Linh ẩn tại Hàng châu, cho nên đến nay nhà xí được gọi bằng mĩ danh Tuyết ẩn. Ngoài ra, nơi chức Tịnh đầu ở gọi là Tịnh đầu liêu. [X. chương Lưỡng tự trong Bách trượng tùng lâm thanh qui chứng nghĩa kí Q.6; Toát nhương tập Q. thượng; Đình huấn vãng lai cụ chú sao; Xích tố vãng lai; An trai tùy bút Q.18; môn Chức vị trong thiền lâm tượng khí tiên].
tịnh đẳng chí
Śuddha-samāpatti (S).
tịnh địa
Pure locality, i.e. where a chaste monk dwells.
; Nơi Tỳ Kheo có thể ở mà không phạm giới—Pure place where a chaste monk dwells.
; (淨地) I. Tịnh Địa. Khu đất thanh tịnh, tỉ khưu được phép cư trú tại đó mà không phạm giới. II. Tịnh Địa. Chỉ cho pháp quán đặc biệt trong Mật giáo được tu để thanh tịnh hóa cõi nước Y báo. Vì nếu đất không thanh tịnh thì tu pháp khó được linh nghiệm, cho nên cần phải làm cho chỗ đất ấy thanh tịnh. Khi tu pháp, sau khi quán chữ (raô), thường kết tụng ấn minh(kết ấn khế và tụng chân ngôn) của pháp quán này. Quán chữraô thì làm thanh tịnh cả Y báo và Chính báo, còn quán đất sạch (tịnh địa) thì chỉ làm sạch riêng Y báo mà thôi. Vì lửa trí chữraô đốt hết các thứ nhớp nhúa, uế độ liền trở thành tịnh độ Mật nghiêm hoa tạng; ở trước ngực kết các ấn tướng tịnh địa Kim cương hợp chưởng, Hỏa luân ấn, quán tưởng tất cả pháp xưa nay vốn xa lìa bụi bẩn; nếu kết tụng ấn ngôn này thì khí thế giới được thanh tịnh. Ấn tướng nói trong Kim cương vương niệm tụng nghi quĩ là 2 bàn tay xòe ra như hoa sen nở, gọi là Tịnh khí giới chân ngôn ấn. Tức dùng hoa sen biểu thị nghĩa bản tính thanh tịnh. Chân ngôn là: La nho (rajo, bụi) ba nga đa (pagata#, lìa) tát phạ đạt mạc (sava dharma#, tất cả pháp). Tức tất cả pháp đều vắng lặng và xa lìa bụi nhơ.[X. kinh Đại giáo vương Q. thượng (bản 3 quyển)].
tịnh địa mê nhân
(淨地迷人) Tiếng dùng trong thiền lâm. Đất sạch khiến người ta mê. Tuy đạt đến cảnh giới ra khỏi phiền não sinh tử, nhưng nếu bám chặt vào đó thì sẽ bị mê hoặc. Thung dung lục tắc 16 (Đại 48, 256 trung) nói: Muôn dặm không một tấc cỏ, đất sạch khiến người mê; tám hướng không một sợi mây, trời quang lóa mắt. Tuy dùng nêm để khử nêm, nhưng chẳng ngại nắm lấy hư không treo lên hư không, đánh một dùi sau ót, chớ coi đó là phương tiện!.
Tịnh Độ
(淨土): xứ sở thanh tịnh tu thành bồ đề, tức chỉ nơi chư Phật thường cư trú, gọi chung là Thanh Tịnh Độ (清淨土), Thanh Tịnh Quốc Độ (清淨國土), Thanh Tịnh Phật Sát (清淨佛刹), hay gọi tắt là Tịnh Sát (淨刹), Tịnh Giới (淨界), Tịnh Quốc (淨國), Tịnh Vức (淨域), Tịnh Thế Giới (淨世界), Tịnh Diệu Độ (淨妙土), Phật Sát (佛刹), Phật Quốc (佛國), v.v. Chư Phật đã chứng quả Niết Bàn thường ở cõi Tịnh Độ này giáo hóa chúng sanh, cho nên nơi nào chư Phật trú xứ thì nơi đó được gọi là Tịnh Độ. Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) quyển thượng, A Súc Phật Quốc Kinh (阿閦佛國經) quyển thượng, Phóng Quang Bát Nhã Kinh (放光般若經) quyển 19, v.v., đều cho rằng Tịnh Độ là thế giới trang nghiêm thanh tịnh mà chư Phật đã từng hành Bồ Tát đạo, thành tựu thệ nguyện của chúng sanh và tích lũy công đức trong vô lượng kiếp mà kiến lập nên. Phẩm Phật Quốc của Duy Ma Kinh (維摩經) quyển thượng cho rằng tâm thanh tịnh thì quốc độ thanh tịnh, cõi Ta Bà này là Thường Tịch Quang Tịnh Độ (淨寂光淨土); cho nên nếu tâm chúng sanh không trong sạch thì cõi này trở thành cõi nhơ nhớp. Cõi Linh Sơn Tịnh Độ (靈山淨土) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經), Liên Hoa Tạng Thế Giới (蓮華藏世界) của Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經), Mật Nghiêm Tịnh Độ (密嚴淨土) của Đại Thừa Mật Nghiêm Kinh (大乘密嚴經), v.v., đều lấy tư tưởng tâm tịnh thế giới tịnh làm căn bản. Hơn nữa, trong Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經) có dạy rằng ngoài cõi Ta Bà này còn có Tịnh Độ, và có cõi Tịnh Độ thành tựu trong tương lai khi sẽ thành Phật. Như vậy cả hai cõi này là quốc độ được hoàn thành nương theo bản nguyện của chư vị Bồ Tát và trải qua tu hành để thành Phật, và cũng là nơi mà chúng sanh nguyện sanh về. Cõi Tịnh Độ ở phương khác có Cực Lạc Thế Giới ở phương Tây của A Di Đà Phật, Diệu Hỷ Thế Giới ở phương Đông của A Súc Phật (阿閦佛), Tịnh Lưu Ly Thế Giới ở phương Đông của Dược Sư Phật, v.v. Trên thế giới Ta Bà này có các cõi Tịnh Độ của chư Phật ở những vị trí nhất định của nó, cho nên gọi là Mười Phương Tịnh Độ. Bên cạnh đó, Cực Lạc Thế Giới (s: Sukhāvatī, 極樂世界) còn là cõi Tịnh Độ ở phương Tây mà Tịnh Độ Tông rất xem trọng. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của thi hào Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) có câu rằng: “Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh Độ, phóng hào quang cứu khổ độ u, khắp trong tứ hải quần chu, não phiền trút sạch oán thù rửa trong.” Như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh có câu: “Túc hạ thời thời du Tịnh Độ, tâm đầu niệm niệm tuyệt Ta Bà (足下時時遊淨土、心頭念念絕娑婆, dưới chân luôn luôn chơi Tịnh Độ, trong tâm mỗi niệm dứt Ta Bà).”
; (淨土, Jōdo): hai chữ lấy từ câu “Thanh Tịnh Quốc Độ (清淨國土)” của bản Hán dịch Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經). Theo Thỉ Hoàng Bổn Kỷ (始皇本紀) của Sử Ký (史記), Thanh Tịnh (清淨, trong sạch) nghĩa là “(quốc độ) trong ngoài thanh tịnh”. Bên cạnh đó, từ này còn gọi là Tịnh Sát (淨刹). Chữ sát (刹) trong trường hợp này là âm tả của tiếng Sanskrit kṣetra, nghĩa là thế giới vĩnh viễn có phước đức trong sạch; đối xứng với thế giới này là thế giới hiện thực Uế Độ (穢土). Nếu cho rằng Uế Độ là thế giới của kẻ phàm phu thì Tịnh Độ là thế giới của chư Phật (thường được gọi là Phật Độ [佛土], Phật Quốc [佛國], Phật Giới [佛界], Phật Sát [佛刹]). Trong lịch sử tư tưởng Phật Giáo, Tịnh Độ được chia thành 3 loại: Lai Thế Tịnh Độ (來世淨土), Tịnh Phật Quốc Độ (淨佛國土) và Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). Lai Thế Tịnh Độ là cõi Tịnh Độ sau khi chết, được lập ra cho đời sau, tưởng định ở bốn hướng đông tây nam bắc như thế giới Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) của A Di Đà Phật (s: Amitābha Buddha, 阿彌陀佛), Đông Phương Diệu Hỷ Quốc (東方妙喜國) của A Súc Phật (s: Akṣobhya Buddha, 阿閦佛) là nổi tiếng nhất. Nguyên lai, cõi này được nghĩ ra theo hướng sung bái đức Phật và vốn phát xuất từ tư tưởng chư phật ở quốc độ khác đời sau. Nói tóm lại, đức Phật của cõi hiện tại không có, nhưng nếu sau khi mạng chung đời sau được sanh về thế giới khác thì sẽ được gặp chư Phật. Tín ngưỡng vãng sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc của A Di Đà Phật rất thịnh hành ở Nhật Bản, từ đó phát sanh tín ngưỡng ngay lúc lâm chung có A Di Đà Phật đến tiếp rước (lai nghênh [來迎]). Những tín ngưỡng này được giáo lý hóa và tư tuởng Tịnh Độ Niệm Phật phát triển mạnh, từ đó tranh vẽ về các đồ hình Tịnh Độ Biến Tướng cũng như Lai Nghênh xuất hiện. Tịnh Phật Quốc Độ có nghĩa là “làm trong sạch quốc độ Phật”. Nguyên lai, Phật Quốc Độ (s: buddha-kṣetra, 佛國土) ám chỉ tất cả thế giới do chư Phật thống lãnh, nhưng ở đây muốn nói đến thế giới hiện thực; cho nên Tịnh Phật Quốc Độ còn có nghĩa là Tịnh Độ hóa thế giới hiện thực. Nói cách khác, đây là cõi Tịnh Độ của hiện thực. Trong kinh điển Đại Thừa có thuyết rằng chư vị Bồ Tát thường nỗ lực giáo hóa trong Tịnh Phật Quốc Độ, vì vậy thế giới được lập nên với sự nỗ lực của vị Bồ Tát luôn tinh tấn thực hành Phật đạo trong cõi hiện thực chính là Tịnh Phật Quốc Độ. Từ đó, thông qua sự hoạt động của hàng Phật Giáo đồ Đại Thừa trong xã hội hiện thực, đây là cõi Tịnh Độ được nghĩ ra đầu tiên. Thường Tịch Quang Độ là cõi Tịnh Độ tuyệt đối vượt qua tất cả hạn định, nếu nói một cách tích cực thông qua tín ngưỡng, đây là cõi Tịnh Độ ngay chính trong hiện tại, bây giờ, ở đây. Với ý nghĩa đó, đây là cõi Tịnh Độ tồn tại ngay trong hiện thưc này. Chính Thiên Thai Trí Khải (天台智顗) có thuyết về thế giới này, như trong Duy Ma Kinh Văn Sớ (維摩文疏) có lập ra 4 quốc độ, đặt Thường Tịch Quang Độ là cõi Tịnh Độ tuyệt đối, cứu cánh cuối cùng, cõi có Phật thân là Pháp Thân Độ (法身土), hay còn gọi là Pháp Tánh Độ (法性土). Cách gọi tên Thường Tịch Quang Độ được lấy từ Quán Phổ Hiền Kinh (觀普賢經), phần kết kinh của Pháp Hoa Kinh (法華經). Thế giới hiện thực còn được gọi là thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), cõi Thường Tịch Quang Độ vốn có trong thế giới Ta Bà, cho nên xuất hiện câu “Ta Bà tức Tịch Quang (娑婆卽寂光)”. Ba loại thuyết về Tịnh Độ vừa nêu trên đôi khi có mâu thuẩn, đối lập nhau. Tỷ dụ như, Lai Thế Tịnh Độ là cõi hạn định và tương đối nhất, là thuyết phương tiện cho hạng có căn cơ thấp kém; nhưng thuyết chân thật thì cho cõi này là Thường Tịch Quang Độ—Tịnh Độ tuyệt đối vượt qua khỏi mọi giới hạn của nơi này và nơi kia, sống và chết; cho nên pháp môn Tịnh Độ Niệm Phật dựa trên cơ sở của Lai Thế Tịnh Độ bị phê phán không ít và sự tuyệt đối hóa chính cõi Lai Thế Tịnh Độ cũng được thử nghiệm xem sao. Từ lập trường khẳng định hiện thực của tư tưởng Bản Giác, v.v., Thường Tịch Quang Độ rất được hoan nghênh. Tuy nhiên, khi lâm chung, con người vẫn có nguyện vọng được vãng sanh. Với một sự thật không thể nào chối từ được như vậy, ngay như Trí Khải—người từng cho rằng Lai Thế Tịnh Độ là cõi thấp đi chăng nữa, vẫn có niệm nguyện được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật Di Đà lúc ông lâm chung. Tại Nhật Bản, cho đến nay tín ngưỡng Lai Thế Tịnh Độ vẫn tiếp tục cắm sâu gốc rễ và bối cảnh của tín ngưỡng này có liên quan đến tâm tình giống như trường hợp Trí Khải.
Tịnh độ
淨土; S: buddhakṣetra; C: jìngtǔ; J: jōdo; nguyên nghĩa Phạn ngữ là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh;|Trong Ðại thừa, người ta hiểu mỗi cõi Tịnh độ thuộc về một vị Phật và vì có vô số chư Phật nên có vô số Tịnh độ. Ðược nhắc nhở nhiều nhất là cõi Cực lạc (s: sukhāvatī) của Phật A-di-đà (s: amitābha) ở phương Tây. Tịnh độ phía Ðông là cõi Phật Dược Sư (s: bhaiṣajyaguru-buddha), có khi cõi đó được gọi là Ðiều hỉ quốc (s: abhirati) của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya). Phía Nam là cõi của Phật Bảo Sinh (s: ratnasambhava), phía Bắc là cõi của Phật Cổ Âm (s: dundubhisvara). Ðức Phật tương lai Di-lặc (s: maitreya), là vị đang giáo hoá ở cõi Ðâu-suất (s: tuṣita), sẽ tạo một Tịnh độ mới.|Tịnh độ được xem là »hoá thân« của thế giới, là cõi xứ của người tu hành muốn được tái sinh. Muốn đạt được cõi này, hành giả không phải chỉ trau dồi thiện Nghiệp mà còn phải nguyện cầu các đức Phật của các cõi đó cứu độ được tái sinh. Trong nhân gian, người ta thường hiểu Tịnh độ là một nơi có vị trí địa lí nhất định, nhưng thật ra Tịnh độ là một dạng của tâm thức giác ngộ, không bị ô nhiễm và các phương hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc chỉ có tính chất hình tượng. Tịnh độ không phải là mục đích cuối cùng trên con đường tu tập – chỉ là nơi được xem là cõi cuối cùng mà hành giả phải tái sinh để rồi đạt Niết-bàn (Tịnh độ tông).
tịnh độ
Pure LandXem Cực lạc quốc.
; Buddha-land of Peace and Bliss Pureland.
; Sukhàvati (S). The Pure Land, or Paradise of the West, presided over by Amitàbha. Other Buddhas have their Pure Lands; seventeen other kinds of pure land are also described, all of them of moral or spiritual conditions of development, e.g. the pure land of patience, zeal, wisdom, etc.
; Sukhavati (skt)—Giáo lý chính của phái Tịnh Độ là tất cả những ai niệm danh hiệu Phật A Di Đà với lòng thành tín nơi ơn cứu độ lời nguyền của Ngài sẽ được tái sanh nơi cõi Tịnh Độ an lạc của Ngài. Do đó phép tu quán tưởng quan trọng nhất trong các tông phái Tịnh Độ là luôn luôn trì tụng câu “Nam Mô A Di Đà Phật” hay “Tôi xin gửi mình cho Đức Phật A Di Đà.”—The central doctrine of the Pure Land sects is that all who evoke the name of Amitabha with sincerity and faith in the saving grace of his vow will be reborn in his Pure Land of peace and bliss. Thus, the most important practice of contemplation in the Pure Land sects is the constant voicing of the words “Namo Amitabha Buddha” or “I surrender myself to Amitabha Buddha.” (A) Lịch sử Tịnh Độ tông—The history of the Pure Land School: Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy: 1) Các bản thích luận về Thập Địa Kinh (Dasabhumi sutra) của các ngài Long Thọ và Thế Thân là những tác phẩm Ấn Độ được Tịnh Độ tông nhìn nhận có thẩm quyền. Con đường dễ dàng và “tha lực” đã được chỉ định và minh giải trong các bộ nầy: Nagarjuna's Dasabhumi Sutra and Vasubandhu's commentary on it are Indian authorities recognized by the Pure Land School. The easy way and the 'power of another' are already indicated and elucidated by them. 2) Tại Trung Quốc, những thẩm quyền về tín ngưỡng nầy rất nhiều, nhưng chỉ có bốn dòng truyền thừa sau đây được nhìn nhận—In China the authorities of the faith are many, but only four lines of transmission are generally recognized: a) Dòng truyền thừa thứ nhất của Phật Đồ Trừng—The first line of transmission of Fu-T'u-Chêng: Phật Đồ Trừng là người Ấn ở Trung Hoa vào khoảng từ 310 đến 348—Fu-T'u-Chêng, an Indian in China between 310 and 348 A.D. • Đạo An (584-708): T'ao-An (584-708). • Huệ Viễn: Hui-Yuan. b) Dòng truyền thừa thứ hai của Bồ Đề Lưu Chi—The second line of transmission of Bodhiruci: Bồ Đề Lưu Chi là người Ấn ở Trung Hoa khoảng 503-535—Bodhiruci, an Indian in China between 503 and 535 A.D. • Huệ Sủng: Hui-Ch'ung. • Đạo Tràng: T'ao-Ch'ang. • Đàm Loan (476-542): T'an-Luan (476-542). • Đại Hải: T'a-Hai. • Pháp Thượng (495-580): Fa-Shang (495-580). c) Dòng truyền thừa thứ ba của Bồ Đề Lưu Chi—The third line of transmission of Bodhiruci. • Đàm Loan: T'an-Luan. • Đạo Xước (?-645): T'ao-Ch'o (?-645). • Thiện Đạo (?-681): Shan-T'ao (?-681). • Hoài Cảm: Huai-Kan. • Thiếu Khang: Shao-K'ang. d) Dòng truyền thừa thứ tư của Từ Mẫn—The fourth line of transmission of Tz'u-Min: Từ Mẫn là người Trung Hoa, sang Ấn trong đời nhà Đường (618-709) và tiếp nhận tín ngưỡng Di Đà tại Kiện Đà La—Tz'u-Min was a Chinese, who went to India during the T'ang Dynasty (618-709 A.D.) and received the Amita-pietism in Gandhara. 3) Ở Nhật có rất nhiều thẩm quyền và lịch sử về Tịnh Độ tông rất dài mặc dù Nguyên Tín (942-1017) và Pháp Nhiên (1133-1212) là những nhà tiền phong truyền xướng giáo thuyết nầy. Theo truyền thuyết thì Thánh Đức thái tử vào triều đại của Nữ hoàng Suy Cổ (539-628) cũng tin Phật Di Đà. Dầu sao người ta cũng tìm thấy một trong các bản Nghĩa Thích của Thái tử có nhắc đến Tây Phương Cực Lạc. Huệ An, mọt Tăng sĩ Đại Hàn, từng giảng thuyết Kinh Vô Lượng Thọ cho hoàng triều. Vào thời đại Nara (710-793), có người cho là Hành Cơ đã từng vân du để quảng bá tín ngưỡng nầy trong quần chúng. Giám Chân, một luật sư Trung Hoa, từng đến Nara năm 754, truyền thọ tín ngưỡng Di Đà cho đệ tử người Nhật là Vinh Duệ vào đêm trước ngày của vị đệ tử nầy tại Quảng Đông. Nhưng trong thời đại Nara, tín ngưỡng Di Đà không được giảng dạy có hệ thống, mặc dù chắc chắn có có vài người theo tín ngưỡng nầy một cách riêng rẻ. Thiên Thai tông bắt đầu sùng bái Phật Di Đà và đề xướng như là một tín ngưỡng bao quát tất cả. Chính Viên Nhân là Tam Tổ là người đã sáng lập nên hai cách thức tụng niệm danh hiệu A Di Đà, đứng và ngồi, và giới thiệu một nhạc điệu lấy Kinh A Di Đà Tiểu Bổn làm khóa tụng hằng ngày: In Japan there are many authorities and the history of the Pure Land School is very long, though Genshin (942-1017) and Honen (1133-1212) are the pre-eminent promoters of the doctrine. Prince Shotoku, in the reign of the Empress Suiko (593-628 A.D.), is said to have believed in Amita. At any rate, a reference to the Western Land of Bliss is found in one of his commentaries. Ein, a Korean monk, lectured in 640 A.D. on the Sutra of the Land of Bliss before the Throne. In the Nara period (710-794 A.D.) Giôgi is said to have traveled about and propagated the faith among the people. Kanjin, a Chinese Vinaya master who came to Nara in 754 A.D., imparted the worship of Amita to his Japanese pupil, Eiei, on the eve of the latter's death near Kuang-Tung. But in the Nara period the Amita-pietism was not systematically taught, though there must have been some followers who privately adhered to it. In the T'ien-T'ai School the Amita worship was taken up and promoted as an all-inclusive faith. It was Jikaku (Ennin), the third patriarch, who instituted the two forms of repeating the Amita formula, standing and sitting and introduced music relating to the Land of Bliss. Even now adherents read the smaller Sukhavati text in the daily service. (B) Nghĩa của Tịnh Độ: The meanings of the Pure Land—Tịnh nghĩa là thanh tịnh, tịnh độ là cõi nước không có ô nhiễm, triền phược. Các Đức Phật vì chúng sanh đã phát tâm tu hành, trồng nhiều căn lành, kiến lập một chỗ nơi, tiếp độ chúng sanh mọi loài lìa khỏi thế giới ô trược sanh đến cõi ấy. Cảnh trí rất là trang nghiêm thanh tịnh, chúng sanh đến cõi nầy chuyên tâm nghe pháp tu tập, chóng thành đạo quả Bồ Đề/Bodhiphala. Chư Phật vô lượng, cõi tịnh cũng vô lượng—Pure Land is a paradise without any defilements. For the sake of saving sentients beings, through innumerable asankhya, all Buddhas cultivated immeasurable good deeds, and established a Pure Land to welcome all beings. Beings in this paradise strive to cultivate to attain Buddhahood. (C) Những đặc điểm của Tịnh Độ—Some special characteristics of the Pure Land: 1) Một sắc thái độc đáo của Tịnh Độ là trong khi các tông phái khác của Phật giáo Đại Thừa chuyên chú về tự giác, thì các tông phái Tịnh Độ lại y chỉ theo Phật lực: A unique aspect of the Pure Land is that while other schools of Mahayana insist on self-enlightenment, Pure Land sects teach sole reliance on the Buddha's power. 2) Đức Phật của các tông phái Phật giáo khác là Đức Thích Ca Mâu Ni trong khi Đức Phật của các tông phái Tịnh Độ là A Di Đà, hay Vô Lượng Quang, hay Vô Lượng Thọ: The Buddha of all other exoteric schools is Sakyamuni, while the Buddha of Pure Land sects is Amita or Infinite Light (Amitabha), or Infinite Life (Amitayus). 3) Tín đồ của các tông phái Phật giáo khác tu tập để đạt được giác ngộ tối thượng là thành Phật, trụ nơi Niết Bàn, trong khi tín đồ Tịnh Độ cầu vãng sanh Tịnh Độ, tức là quốc độ của Đức Phật A Di Đà nơi cõi Tây Phương: Followers of other Mahayana Buddhist schools cultivate to seek to become Buddha and abide in Nirvana, while followers of Sukhavati sects cultivate to seek rebirth in the Pure Land, Amitabha's Bliss Land which is laid in the Western Quarter. 4) Tịnh Độ là thế giới mà chúng sanh được sanh bằng hóa thân trong hoa sen. Những hoa sen nầy mọc trong ao thất bảo: The Buddha's Pureland is the world where the sentient beings are born through the transformation of lotus flowers. These flowers grow in a lake formed from combinations of seven jewels (gold, silver, lapis, lazuli, crystal, mother-of-pearl, red pearl, and carnelian) or lake of seven jewels—See Thất Bảo (A). (D) Các cõi Tịnh Độ—Different Pure Lands: 1) Cõi Tây Phương Tịnh Độ chủ trì bởi Đức Phật A Di Đà: Pure Land, Paradise of the West, presided over by Amitabha—Cảnh duyên ở Tây Phương Cực Lạc rất thù thắng, có nhiều sự kiện thuận lợi cho chúng sanh nơi cõi nầy hơn các Tịnh Độ khác, mà tâm lượng của phàm phu trong tam giới không thể thấu hiểu được: The environment and conditions of the Western Pure Land are most exalted. That realm provides sentient beings with many more advantageous circumstances than other Pure Lands, which ordinary beings in the Triple World cannot fully understand. a) Cảnh nơi Tây Phương Cực Lạc rất ư thù thắng nên có thể khích phát lòng mong mến và quy hướng của loài hữu tình: The environment of the Western Pure Land is exalted, and can awaken the yearning and serve as a focus for sentient beings. b) Duyên nơi Tây Phương Cực Lạc thật mầu nhiệm, nên có thể giúp người vãng sanh dễ tiến mau trên đường tu chứng. Vì thế cõi đồng cư Tịnh Độ mười phương tuy nhiều, song riêng cõi Cực Lạc có đầy đủ thắng duyên, nên các kinh luận để chỉ quy về đó: The conditions of the Western Pure Land are unfathomable and wonderful and can help those who are reborn to progress easily and swiftly along the path of enlightenment. For these reasons, although there are many common residence Pure Lands in the ten directions, only the Western Pure Land possesses all auspicious conditions in full. This is why sutras and commentaries point toward rebirth in the Western Pure Land. 2) Những Đức Phật khác đều có tịnh độ của các ngài: Other Buddhas have their Pure Lands. 3) Các loại tịnh độ khác như Nhẫn Tịnh Độ, Tinh Tấn Tịnh Độ, Trí Huệ Tịnh Độ, vân vân—There are several other pure lands such as the pure land of patience, zeal, wisdom, etc. (E) Đức Phật dạy về cõi Tịnh Độ của chư Bồ Tát—The Buddha taught about the Bodhisattvas' Pure Lands: Theo Kinh Duy Ma Cật, Đức Phật nhắc Bồ Tát Bảo Tích về các Tịnh Độ của chư Bồ Tát như sau—According to the Vimalakirti Sutra, the Buddha reminded Ratna-rasi Bodhisattva about Bodhisattvas' Pure Lands as follows: a) Trực tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không dua vạy sẽ được sanh sang nước đó: The straightforward mind is the Bodhisattva's pure land, for when he realizes Buddhahood, beings who do not flatter will be reborn in his land. b) Thâm tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó: The profound mind is the Bodhisattva's pure land, for when he realizes Buddhahood living beings who have accumulated all merits will be reborn there. c) Bồ Đề tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm Đại Thừa sanh sang nước đó: The Mahayana (Bodhi) mind is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood all living beings seeking Mahayana will be reborn there. d) Bố Thí là Tịnh Độ của Bồ Tát khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó: Charity (dana) is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings who can give away (to charity) will be reborn there. e) Trì Giới là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành, hạnh nguyện đầy đủ sanh sang nước đó: Discipline (sila) is the Bodhisattva's pure land, for when he realizes Buddhahood living beings who have kept the ten prohibitions will be reborn there. f) Nhẫn Nhục là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đủ 32 tướng tốt trang nghiêm sanh sang nước đó: Patience (ksanti) is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings endowed with the thirty-two excellent physical marks will be reborn there. g) Tinh Tấn là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng năng tu mọi công đức sanh sang nước đó: Devotion (virya) is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings who are diligent in their performance of meritorious deeds will be reborn there. h) Thiền Định là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó: Serenity (dhyana) is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings whose minds are disciplined and unstirred will be reborn there. i) Trí Tuệ là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước đó: Wisdom (prajna) is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings who have realized samadhi will be reborn there. j) Tứ Vô Lượng Tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh thành tựu từ bi hỷ xả sanh sang nước đó: The four boundless minds (catvari apramanani) are the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings who have practiced and perfected the four infinites: kindness, compassion, joy and indifference, will be reborn there. k) Tứ Nhiếp Pháp là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước đó: The four persuasive actions (catuh-samgraha-vastu) are the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings who have benefited from his helpful persuasion will be reborn there. l) Phương Tiện là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo dùng được phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước đó: The expedient methods (upaya) of teaching the absolute truth are the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings conversant with upaya will be reborn there. m) Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, sanh sang nước đó: The thirty-seven contributory states to enlightenment (bodhipaksika-dharma) are the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood living beings who have successfully practiced the four states of mindfulness (smrtyu-pasthana), the four proper lines of exertion (samyakpra-hana), the four steps towards supramundane powers (rddhipada), the five spiritual faculties (panca indriyani), the five transcendental powers (panca balani), the seven degrees of enlightenment (sapta bodhyanga) and the eightfold noble path (asta-marga) will be reborn in his land. n) Hồi Hướng Tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, được cõi nước đầy đủ tất cả công đức: Dedication (of one's merits to the salvation of others) is the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood his land will be adorned with all kinds of meritorious virtues. o) Nói Pháp Trừ Bát Nạn là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có ba đường ác và bát nạn: Preaching the ending of the eight sad conditions is the Buddhahood his land will be free from these evil states. p) Tự Mình Giữ Giới Hạnh-Không Chê Chỗ Kém Khuyết Của Người Khác là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có tên phạm giới cấm: To keep the precepts while refraining from criticizing those who do not in the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood his country will be free from people who break the commandments. q) Thập Thiện là Tịnh Độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống lâu, giàu to, phạm hạnh, nói lời chắc thật, thường dùng lời dịu dàng, quyến thuộc không chia rẽ, khéo hòa giải việc đua tranh kiện cáo, lời nói có lợi ích, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó: The ten good deeds are the Bodhisattva's pure land, for when he attains Buddhahood he will not die young, he will be wealthy, he will live purely, his words are true, his speech is gentle, his encourage will not desert him because of his conciliatoriness, his talk is profitable to others, and living beings free from envy and anger and holding right views will be reborn in his land. ** For more information, please see Pure Land.
; (淨土) Gọi đủ: Thanh tịnh độ, Thanh tịnh quốc độ, Thanh tịnh Phật sát. Cũng gọi: Tịnh sát, Tịnh giới, Tịnh phương, Tịnh vực, Tịnh thế giới,Tịnh diệu độ, Diệu độ, Phật sát, Phật quốc. Đối lại: Uế độ, Uế quốc. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh, là nơi an trụ của Phật. Trái lại, những nơi mà chúng sinh cư trú có các phiền não ô uế nên gọi là Uế độ, Uế quốc. Tịnh độ là giáo thuyết nói trong các kinh Đại thừa, còn Tiểu thừa thì lấy Niết bàn vô dư thântro trí bặt làm lí tưởng nên không có thuyết này. Vì Phật giáo Đại thừa cho rằng Niết bàn có tác dụng tích cực, chư Phật đã được Niết bàn, mỗi vị đều ở Tịnh độ của mình giáo hóa chúng sinh, cho nên hễ nơi nào có Phật an trụ thì đó là Tịnh độ. Kinh A súc Phật quốc quyển thượng, kinh Phóng quang bát nhã quyển 19, kinh Vô lượng thọ quyển thượng,... đều cho rằng Tịnh độ là thế giới thanh tịnh trang nghiêm do chư Phật kiến lập bằng những công đức đã được tích lũy trong vô lượng vĩnh kiếp khi các Ngài hành đạo Bồ tát ở địa vị tu nhân, đã khởi thệ nguyện tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng thì cho rằng hễ tâm tịnh thì độ tịnh, thế giới Sa bà tức là tịnh độ Thường tịch quang. Nếu tâm chúng sinh bất tịnh thì cõi này chính là cõi uế ác bất tịnh, còn chỗ Phật thấy thanh tịnh thì trở thành vô lượng công đức trang nghiêm. Tịnh độ Linh sơn của kinh Pháp hoa, thế giới liên hoa tạng của kinh Hoa nghiêm, Tịnh độ Mật nghiêm của kinh Đại thừa mật nghiêm... đều lấy thuyết Tâm tịnh độ tịnh làm gốc. Còn kinh Vô lượng thọ thì nói rằng ngoài thế giới Sa bà ra còn có các Tịnh độ khác, cũng có Tịnh độ ở vị lai được thành tựu mỗi khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật, 2 loại Tịnh độ này đều là các cõi nước được hoàn thành sau khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật qua giai đoạn tu nhân theo bản nguyện của mình, là nơi chúng sinh nguyện sinh về. Còn các Tịnh độ ở các phương khác thì có thế giới Cực lạc ở phương Tây của đức Phật A di đà, thế giới Diệu hỉ ở phương Đông của đức Phật A súc, thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông của đức Phật Dược sư,... Vì các Tịnh độ của chư Phật nói trên cách thế giới Sa bà với một phương vị nhất định nên gọi là Thập phương tịnh độ.Thế giới Cực lạc (Phạm: Sukhàvatì) cũng gọi Diệu lạc, An lạc, An dưỡng, Lạc bang, là Tịnh độ ở phương Tây rất được tông Tịnh độ xem trọng. Tịnh độ này là chỉ cho Báo độ do Bồ tát tu nhân hạnh mà cảm được quả báo; hoặc chỉ cho Ứng hóa độ mà đức Phật giả hiện ra để cứu độ chúng sinh; hoặc chỉ cho Tịnh độ có thật ở phương Tây cách thế giới Sa bà hơn 10 vạn ức Phật độ; hoặc lại chỉ cho Tịnh độ hiện ra trong tâm chúng sinh. Ngoài ra, Tịnh độ còn có Biên địa, Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới,... là Hóa độ dành cho các người còn hoài nghi Phật trí sinh đến. Tông Tịnh độ cho rằng Báo độ thực tại ở phương Tây, những người sinh về cõi này sẽ được hưởng 10 điều lợi lạc sau đây: 1. Thánh chúng đến đón: Lúc lâm chung được đức Phật A di đà và 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đến đón về Tịnh độ. 2. Hoa sen vừa mới nở: Gá sinh trong hoa sen sinh về Tịnh độ, cho nên lúc hoa sen vừa mới nở thì liền được thấy cõi Tịnh độ rất trang nghiêm thanh tịnh. 3. Thân tướng có thần thông: Thân được 32 tướng tốt đẹp và 5 thứ thần thông như Thiên nhãn,... 4. Năm cảnh giới vi diệu: Được 5 cảnh thù thắng sắc, thanh, hương, vị, xúc. 5. Vui sướng vô lượng: Được hưởng các niềm vui vô tận. 6. Tiếp dẫn kết duyên: Được những ân nhân kết duyên từ trước thân đến Tịnh độ đón tiếp. 7. Thánh chúng cùng hội họp:Các chúng Bồ tát đều đến nhóm họp ở một chỗ.8. Thấy Phật nghe pháp: Sinh về Tịnh độ được thấy đức Phật và nghe Ngài nói pháp. 9. Tùy tâm cúng dường Phật: Tùy tâm cúng dường chư Phật ở 10 phương. 10. Tăng tiến Phật đạo: Tu hành tinh tiến, cuối cùng chứng được quả Phật. Về vị trí Tịnh độ, sự trang nghiêm, chủng loại dân cư,... các kinh nói không giống nhau, vì khi còn ở địa vị tu nhân, các vị Bồ tát phát nguyện không đồng. Nếu đứng trên lập trường sử học mà nhận xét sự miêu tả khác nhau giữa Tịnh độ của Phật A súc và Tịnh độ của Phật A di đà thì có thể thấy được sự biến thiên của một loại phát triển, như cõi Phật A súc có người nữ, nhân dân đều mặc y phục được lấy ra từ cây, có 3 đường thềm báu đi suốt đến cõi trời Đao lợi, có thể xem đây là tư tưởng tương đối sớm. Tịnh độ của đức Phật A di đà thì không có người nữ, đều là hóa sinh, được thân thể hư vô tự nhiên. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ thì cho Tịnh độ là xứ sở vi diệu ở ngoài 3 cõi. So sánh sự hơn, kém khác nhau giữa các Tịnh độ của chư Phật, trong các kinh đều có ghi chép. Về chủng loại Tịnh độ, ở thời đại ngài Vô trước (khoảng thế kỷ IV, V) có thuyết 3 thân là Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân. Thân biến hóa của Phật thị hiện 8 tướng ở Uế độ,thân Thụ dụng trụ trong thế giới Liên hoa tạng có 18 thứ viên mãn thanh tịnh, tức tùy theo Báo thân, Hóa thân của Phật mà có thanh tịnh, ô uế khác nhau. Luận Duy thức quyển 10 có thuyết Tứ thân tứ độ(4 thân 4 cõi); Đại thừa nghĩa chương quyển 19 chia Tịnh độ làm 3 loại là Sự tịnh độ, Tướng tịnh độ và Chân tịnh độ; Duy ma kinh lược sớ quyển 1 thì lập 4 loại Tịnh độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và Thường tịch quang độ. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, y cứ vào sự bất đồng giữa Tam thừa và Nhất thừa mà nói các Tịnh độ khác nhau. (xt. Phật Độ, Cực Lạc Thế Giới).
tịnh độ biến tướng
(淨土變相) Cũng gọi Tịnh độ biến, Tịnh độ đồ. Thường gọi Tịnh độ mạn đồ la. Đối lại: Địa ngục biến tướng. Chỉ cho bức vẽ hoặc điêu khắc miêu tả Phật, Bồ tát,Thánh chúng và các loại thi thiết trang nghiêm ở Tịnh độ để trình bày cảnh tượng của Tịnh độ. Biến có 2 nghĩa: 1. Nghĩa động: Bức tranh bất động mà vẽ ra những tướngđộngở Cực lạc nên gọi là Biến tướng. 2. Nghĩa biến hiện: Vẽ các tướng ở Tịnh độ và làm cho các tướng ấy biến hiện. Tịnh độ biến tướngsản sinh do sự lưu hành tín ngưỡng Tịnh độ, tùy theo sự thịnh hành của các tín ngưỡng Dược sư, Quán âm, Di lặc,...mà cũng xuất hiện nhiều chủng loại Tịnh độ biến. Biến tướng có thể chia làm các loại sau đây:1. Lô xá na tịnh độ biến: Tức thế giới Hoa tạng lấy đức Phật Lô xá na làm trung tâm.2. Linh sơn tịnh độ biến: Chỉ cho bức vẽ đức Thích tôn nói kinh Pháp hoa ở núi Linh thứu(núi Kì xà quật). 3. Dược sư tịnh độ biến: Bức vẽ miêu tả thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông. 4. Di lặc tịnh độ biến: Tức bức vẽ miêu tả cảnh cung trời Đâu suất của Bồ tát bổ xứ sẽ thành Phật. Ngoài ra còn có Bổ đà lạc tịnh độ biến của Bồ tát Quán thế âm, nhưng Tịnh độ biến tướng được lưu truyền phổ biến nhất là Tịnh độ biến của đức Phật A di đà ở phương Tây. Ở Trung quốc, từ các đời Tùy, Đường đã rất thịnh hành Tịnh độ biến tướng, theo truyền thuyết, ngài Thiện đạo đời Đường đã tự vẽ 300 bức Tịnh độ biến tướng phương Tây. Nay còn hơn 20 di phẩm đào được ở Đônhoàng. Còn ở vùng Trung á thì các mảnh rời rạc của Tịnh độ biến tướng cũng đã được tìm thấy, vì thế nên biết Tịnh độ biến tướng cũng được lưu hành ở vùng này. Tại Nhậtbản, thông thường có Tịnh độ Tam mạn đồ la, tức chỉ cho Đương ma mạn đồ la, Trí quang mạn đồ la và Thanh hải mạn đồ la. [X. Lạc bang văn loại Q.2; Lịch đại danh hoạ kí Q.3].
tịnh độ bố tát giới
(淨土布薩戒) Gọi đủ: Tịnh độ bố tát đốn giáo Nhất thừa viên thực đại giới. Cũng gọi: Tịnh độ bố tát nhất thừa giới. Giới bố tát do tông Tịnh độ Nhật bản truyền. Tức giới bố tát thực hành tha lực phổ tế trưởng dưỡng, lấy Phật A di đà làm giới thể, danh hiệu làm giới tướng, vãng sinh làm giới dụng, căn cứ theo tác phẩm Tịnh độ bố tát nghi thức(tương truyền do Tổ của tông Tịnh độ Nhậtbản là ngài Nguyênkhông soạn). [X. Bố tát giới giảng nghĩa Q. thượng (Đạihuyền)].
Tịnh độ chân tông
淨土真宗; J: jōdo-shin-shū;|Một nhánh của Tịnh độ tông tại Nhật do Thân Loan (1173-1262) sáng lập. Tông này đặt cơ sở trên Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh (s: sukhāvatīvyūha), là kinh với 48 đại nguyện của Phật A-di-đà. Giáo pháp của tông này là chuyên trì tụng danh hiệu A-di-đà, với hi vọng sẽ được tái sinh trong Cực lạc Tịnh độ, nhờ sức cứu độ của Phật. Vì vậy, yếu tố quan trọng nhất trong tông phái này là niềm tin kiên cố nơi Phật A-di-đà.|Chân tông là một giáo phái gồm Cư sĩ tại gia. Một đặc trưng quan trọng của tông này là các vị đứng đầu được quyền trao quyền cho con. Ngày nay, Chân tông là tông phái mạnh nhất ở Nhật với hai bộ phái nhỏ: tani và Honganji, đều đặt chính tự tại Kinh Ðô (kyōto). Hai bộ phái này được tách ra trong thế kỉ thứ 17 nhưng thật ra chỉ khác nhau trong cách tụng niệm thờ cúng. Cả hai đều thành lập các viện đại học lớn.
tịnh độ chân tông
Jōdō ShinshŪ (J)Tên một tông pháiXem Chơn Tông.
; Chân Tông, một trong 20 tông phái Phật Giáo ở Nhật. Theo Chân Tông, niệm Phật chỉ là một thái độ tri ân hay một cách biểu lộ lòng tri ân, sau khi một Phật tử được Phật lực gia trì Chân tông chỉ thờ độc nhất Phật A Di Đà, và thậm chí Phật Thích Ca cũng không chịu thờ. Tịnh Độ Chân Tông cấm đoán chặt chẽ không cho cầu nguyện vì bất cứ những tư lợi nào. Tông nầy chủ trương xóa bỏ đời sống Tăng lữ để lập thành một cộng đồng gồm toàn những tín đồ tại gia—The Jodo-Shin, or Shin sect of Japan, one of the twenty Buddhist sects in Japan. According to the Shin Sect, the recitation of Amitabha Buddha's name is simply an action of gratitude or an expression of thanksgiving, after one's realizing the Buddha's power conferred on one. The Shin School holds the exclusive worship of the Amitabha, not allowing even that of Sakyamuni. This sect has the strict prohibition of prayers in any form on account of personal interests, and the abolition of all disciplinary rules and the priestly or monastic life , thus forming a community of purely lay believers, i.e., householders.
tịnh độ chân tông giáo điển chí
(淨土真宗教典志) Cũng gọi Chân tông giáo điển chí. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Huyền trí (1734-1794) người Nhật bản soạn. Nội dung sưu tập các sách vở thuộc Chân tông. Quyển 1 thu chép các sách ghi lời dạy của Phật tổ và các bậc Tông chủ, quyển 2 thu chép chương sớ do các vị tăng của tông này soạn thuật, quyển 3 thu chép sao kí của các môn khác.
Tịnh độ chân tông 淨土眞宗
[ja] ジョウドシンシュウ Jōdo shinshū ||| The Jōdo shinshū--True Pure Land School, often referred to simply as 眞宗. Founded by Shinran 親鸞 as an outgrowth of the original Pure Land school 淨土宗. It differs from the original school by the fact of its relaxing on the code of discipline and allowing its priests to marry and lead lay lifestyles, as well as the eating of meat. There is also less stress on the practice of nenbutsu 念佛 and more stress on simple faith in Amitābha 阿彌陀. => (j: Jōdo shinshū;e: True Pure Land School) Thường được gọi đơn giản là Chân tông. Thân Loan (j: Shinran 親鸞) sáng lập như là một sự phát triển tự nhiên từ Tịnh độ tông. Tông này khác với Tịnh độ tông ở điểm nới lỏng giới luật, cho phép tu sĩ lấy vợ và lãnh đạo đời sống tu tập của hàng cư sĩ, cũng như được ăn thịt. Còn có sự nhấn mạnh vào niềm tin mộc mạc ở Đức Phật A-di-đà hơn là chú trọng vào công phu thực hành niệm Phật (j: nenbutsu 念佛).
Tịnh Độ Chơn Tông
(淨土眞宗, Jōdoshin-shū): tên gọi của một tông phái thuộc tịnh độ giáo do Thân Loan (親鸞, Shinran) sáng lập. Vào năm đầu (1201) niên hiệu Kiến Nhân (建仁), sau khi từ bỏ Thánh Đạo Giáo tự lực, Thân Loan quy y theo Tịnh Độ Giáo tha lực dưới trướng của Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (法然房源空, Hōnenbō Genkū). Tin tưởng vào pháp môn Chuyên Tu Niệm Phật do nguyên không khải sáng, ông có ý muốn tự mình lập ra một tông phái riêng. Tịnh Độ Chơn Tông là cách xưng hô do Thân Loan đặt ra theo tông chỉ của Nguyên Không. Trong Cao Tăng Hòa Tán (高僧和讚), ông có khẳng định rằng: “Từ sức mạnh của ánh sáng trí tuệ, bổn sư Nguyên Không hiện ra, khai mở Tịnh Độ Chơn Tông, theo chân Tuyển Trạch Bổn Nguyện”. Tông phái này cũng theo giáo lý của Nguyên Không, nhưng lập trường tôn giáo của Thân Loan cũng được thể hiện qua tác phẩm Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証) và ông nhấn mạnh rằng nhờ tin vào bản nguyện của đức Phật A Di Đà mà được cứu độ. Ông cho rằng ngay cả người ác cũng là đối tượng cứu độ của ngài. Cũng có trường hợp ông ví những người ác đó là giai cấp xã hội đặc biệt như võ sĩ, thương nhân hay người đánh cá, thợ săn, v.v., để họ có thể hiểu được lập trường của ông. Trong Chánh Tượng Mạt Hòa Tán (正像末和讚), ông khẳng định rằng: “Nếu quay về với Tịnh Độ Chơn Tông, bằng tất cả tâm chân thật, cái hư giả không thật nơi thân ta đây, cũng trở thành tâm chân thật”. Cho nên chính bản thân ông cũng tự xem mình là kẻ ác không có tâm thanh tịnh và hết thảy tồn tại, hành vi của thế giới hiện thực đều là hư giả. Ngay từ trong cái hư giả ấy, cần phải tìm cầu cái chân thật thông qua sự tự giác và đáp ứng sự khẩn thỉnh đó đấng chân thật là đức Phật A Di Đà xuất hiện. Trong Thán Dị Sao (歎異抄), ông đã nói về yếu chỉ cơ duyên của người ác rằng: “Chúng ta những kẻ đầy đủ phiền não, trong bất cứ việc làm nào, đều ngầm chứa đựng mầm sanh tử; nếu với bổn ý mà phát khởi nguyện lực, để cho người ác cũng được thành Phật, người ác nương tựa vào tha lực, sẽ trở thành nhân chính để vãng sanh; người tốt nếu được vãng sanh, người ác cũng vậy thôi”. Những người niệm Phật lấy nhân cách và giáo thuyết của Thân Loan làm trung tâm, dần dần gia tăng và bắt đầu nhân giống cho việc hình thành giáo đoàn. Tuy nhiên, ông lại tuyên bố rằng “Thân Loan ta không có một người đệ tử nào (Thán Dị Sao)” để phủ định mối quan hệ giữa thầy và đệ tử. Tự thân ông cho rằng những người cùng niệm Phật là “đồng hành đồng bạn” để phủ định việc cấu thành giáo đoàn theo quan hệ thầy trò trên dưới. Tuy nhiên, vào cuối đời Thân Loan, Thiện Loan (善鸞, Zenran), con trai của ông và cũng là người được xem như kế thừa cha mình, đã phản lại lời dạy của cha, tạo nên sự kiện làm hỗn loạn giáo đoàn Đông Quốc (東國, Tōgoku). Nhân đó, Thân Loan bắt đầu đề xướng rằng những người Niệm Phật phải tăng cường củng cố liên đới nhằm bảo vệ chánh pháp. Từ việc bảo trì tín ngưỡng chánh thống, đối ứng với sự phê phán từ phía các tông phái khác, v.v., dần dần thể chế của giáo đoàn được chỉnh bị. Sau khi được ân xá lưu đày ở vùng Việt Hậu (越後, Echigo), Thân Loan dời đến Quan Đông (關東, Kantō) và trải qua hơn 20 năm truyền đạo tại trung tâm tiểu quốc Thường Lục (常陸). Chính vì vậy, số lượng người niệm Phật thọ nhận giáo nghĩa của Thân Loan ở địa phương Đông Quốc (東國, Tōgoku) rất đông. Trong Thân Loan Thánh Nhân Môn Lữ Giao Danh Điệp (親鸞聖人門侶交名牒) có ghi 48 người gồm: Thường Lục (常陸) 20, Hạ Tổng (下總, Shimōsa) 4, Hạ Dã (下野, Shimotsuke) 6, Võ Tàng (武藏, Musashi) 1, Lục Áo (陸奥, Mutsu) 7, Việt Hậu (越後, Echigo) 1, Viễn Giang (遠江) 1, Kinh Đô (京都, Kyōto) 8. Tuy nhiên, ngoài Giao Danh Điệp ra, trong các thư trạng của Thân Loan có ghi thêm 30 người nữa, như vậy tổng cọng gần trăm người. Hơn nữa, các môn đệ này là những người trực tiếp thọ nhận sự chỉ dạy của Thân Loan; mỗi người còn có vài mươi môn đồ, nếu tính vào thì số lượng sẽ đông hơn nhiều. Sau khi Thân Loan kết thúc truyền đạo vùng Đông Quốc và quay trở về Kinh Đô, giáo đoàn Niệm Phật ở Đông Quốc đã kết tập những môn đệ có thế lực làm trung tâm, và lấy tên địa danh của họ để gọi tên môn đồ. Tỷ dụ như tập đoàn lấy Chơn Phật (眞佛, Shinbutsu), Hiển Trí (顯智, Kenchi) ở Cao Điền (高田, Takada) thuộc tiểu quốc Hạ Tổng làm trung tâm được gọi là Môn Đồ Cao Điền (高田門徒). Sau khi Thân Loan qua đời, môn đệ Đông Quốc cùng với người con gái út của ông là Ni Giác Tín (覺信, Kakushin) tiến hành xây dựng ngôi Đại Cốc Miếu Đường (大谷廟堂) ở Đông Sơn (東山, Higashiyama), Kyōto. Giác Như (覺如, Kakunyo), người canh giữ miếu đường đời thứ 3, gọi nó là Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), biến nơi đây thành chùa làm trung tâm với mưu đồ thống lãnh toàn bộ giáo đoàn. Thế nhưng, môn đồ ở các nơi phản đối ý đồ của Giác Như; mỗi người tự lâp ra pháp phái hệ phổ riêng mang đậm sắc thái của giáo đoàn tự lập. Trong số các giáo đoàn địa phương, Môn Đồ Cao Điền (Chuyên Tu Tự Phái [專修寺派]) là giáo đoàn có thế lực nhất, sau này phân chia thành Võ Tàng Quốc Hoang Mộc Môn Đồ (武藏國荒木門徒) và Tam Hà Quốc Hòa Điền Môn Đồ (三河國和田門徒). Môn Đồ Hòa Điền đã kết hợp được Tín Tịch (信寂), Tịch Tĩnh (寂靜) làm trung tâm, từ đó xuất hiện Như Đạo (如道, Nyodō) để truyền bá pháp môn Niệm Phật đến tiểu quốc Việt Hậu (越後, Echigo) như Sơn Nguyên Phái (山元派, Yamamoto-ha), Tam Môn Đồ Phái (三門徒派, Sanmonto-ha), Thành Chiếu Tự Phái (誠照寺派, Jōshōji-ha). Liễu Nguyên (了源, Ryōgen), người lôi kéo Môn Đồ Hoang Mộc, sáng lập một ngôi chùa ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina), Kyōto, mở ra cơ đồ cho Phật Quang Tự Phái (佛光寺派, Bukkōji-ha). Giáo đoàn này phát triển từ vùng Cận Kì (近畿, Kinki) đến Trung Quốc (中國, Chūgoku), Tứ Quốc (四國, Shikoku). Cùng thời điểm đó, Cẩm Chức Tự (錦織寺, Kinshoku-ji, Mộc Biên Phái [木邊派, Kibe-ha]) của Từ Không (慈空, Jikū) ở vùng Mộc Biên (木邊, Kibe) thuộc tiểu quốc Cận Giang (近江, Ōmi) cũng từ vùng Cận Giang triển khai đến tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato). Đến thời Liên Như (蓮如, Rennyo), vị tổ đời thứ 8 của Bổn Nguyện Tự, giáo tuyến của ông đã trải rộng khắp toàn quốc và hấp thu môn đồ ở các nơi. Trong đó, từ Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji) phân phái thành Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji), lôi kéo hơn nữa chùa con về phía Bổn Nguyện Tự (vào năm thứ 9 [1876] đời vua Minh Trị [明治, Meiji], Hưng Chánh Phái [興正派, Kōshō-ha] độc lập). Đến đầu thời Giang Hộ (江戸, Edo), Bổn Nguyện Tự lại phân liệt thành đông và tây. Tại đó, cơ sở của 10 phái Chơn Tông được hình thành. Trước kia, không có cách xưng hô của giáo đoàn như Nhất Hướng Tông (一向宗), Môn Đồ Tông (門徒宗), v.v.; nhưng vào năm thứ 3 (1774) niên hiệu An Vĩnh (安永), giáo đoàn đã thỉnh nguyện lên chính quyền Mạc Phủ các xưng hô công khai của tông phái là Tịnh Độ Chơn Tông. Tuy nhiên, họ đã gặp phải sự phản đối của Tịnh Độ Tông, cuối cùng sự thỉnh nguyện đó không được thực hiện. Đến năm thứ 5 niên hiệu Minh Trị, tên gọi Chơn Tông đã được chấp thuận và vào năm thứ 21 (1946) niên hiệu Chiêu Hòa (昭和), Bổn Nguyện Tự Phái (本願寺派, Honganji-ha) được gọi là Tịnh Độ Chơn Tông. Hiện tại theo bản Tôn Giáo Niên Giám (宗敎年鑑, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản cho biết rằng sau 700 năm từ khi lập giáo khai tông, vào năm 1923 (Đại Chánh [大正] 12), các phái của Tịnh Độ Chơn Tông đã liên hợp thành một đoàn thể thống nhất và có 10 phái chính (liệt kê theo thứ tự tên phái, chùa bản sơn trung tâm, số lượng chùa tùng thuộc), gồm: (1) Tịnh Độ Chơn Tông Bổn Nguyện Tự Phái (淨土眞宗本願寺派, Jōdoshinshūhonganji-ha), Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji), khoảng 10.500; (2) Chơn Tông Đại Cốc Phái (眞宗大谷派, Shinshūōtani-ha), Đông Bổn Nguyện Tự (東本願寺, Higashihongan-ji), khoảng 8.900; (3) Chơn Tông Cao Điền Phái (眞宗高田派, Shinshūtakada-ha), Chuyên Tu Tự (專修寺, Senjū-ji), khoảng 640; (4) Chơn Tông Phật Quang Tự Phái (眞宗佛光寺派, Shinshūbukkōji-ha), Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji), khoảng 390; (5) Chơn Tông Hưng Chánh Phái (眞宗興正派, Shinshūkōshō-ha), Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji), 500; (6) Chơn Tông Mộc Biên Phái (眞宗木邊派, Shinshūkibe-ha), Cẩm Chức Tự (錦織寺, Kinshoku-ji), khoảng 200; (7) Chơn Tông Xuất Vân Lộ Phái (眞宗出雲路派, Shinshūizumoji-ha), Hào Nhiếp Tự (亳攝寺, Gōshō-ji), 60; (8) Chơn Tông Thành Chiếu Tự Phái (眞宗誠照寺派, Shinshūjōshōji-ha), Thành Chiếu Tự (誠照寺, Jōshō-ji), 70; (9) Chơn Tông Tam Môn Đồ Phái (眞宗三門徒派, Shinshūsanmonto-ha), Chuyên Chiếu Tự (專照寺, Senshō-ji), 36; và (10) Chơn Tông Tam Nguyên Phái (眞宗山元派, Shinshūsangen-ha), Chứng Thành Tự (證誠寺, Shōjō-ji), 21. Hơn nữa, từ cuối thời Minh Trị (明治, Meiji, 1868-1911) trở đi, trong Tịnh Độ Chơn Tông có một số phân phái khác như Chơn Tông Tịnh Hưng Tự Phái (眞宗淨興寺派, Shinshūjōkō-ha), Chơn Tông Trường Sanh Phái (眞宗長生派, Shinshūchōsei-ha), Chơn Tông Bắc Bổn Nguyện Tự Phái (眞宗北本願寺派, Shinshūkitahonganji-ha), Tịnh Độ Chơn Tông Tịnh Quang Tự Phái (淨土眞宗淨光寺派, Jōdoshinshūjōkōji-ha), Môn Đồ Tông Nhất Vị Phái (門徒宗一味派, Montoshūichimi-ha), (淨土眞宗遣迎院派, Jōdoshinshūkengōin-ha), v.v.
tịnh độ cảnh quán yếu môn
(淨土境觀要門) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoài tắc soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nói rất rõ về nghĩa Ước tâm quán Phật của ngài Tứ minh Trilễ, vị cao tăng thuộc tông Thiên thai sống vào đời Tống. Quán pháp của tông Thiên thai có 2 thứ là Nội quán và Ngoại quán. Các đệ tử của ngài Trilễ ở đời sau đã từng tranh luận về vấn đề quán tưởng Phật A di đà thuộc về Nội quán hay Ngoại quán? Sách này thảo luận, trình bày về các vấn đề tranh luận trên. [X. Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. thượng].
tịnh độ của chư bồ tát
Pure lands of Bodhisattvas—See Tịnh Độ (E). Tịnh Độ Là Pháp Môn Khó Nói Khó Tin, Nhưng Lại Dễ Tu Dễ Chứng. Tịnh Độ Là Cửa Pháp Thậm Thâm Giúp Hành Giả Giải Thoát Luân Hồi Và Đi Sâu Vào Phật Tánh Một Cách Từ Từ Nhưng Chắc Chắn: The Pure Land is a dharma-door which is difficult to explain and to believe in, but an easy method to practice and to achieve enlightenment. The Pure Land is the profound Dharma-door which helps practitioners to escape the cycle of births and deaths and to enter deeply into the Buddha-nature, slowly but surely.
tịnh độ cửu phẩm
(淨土九品) Chỉ cho 9 bậc vãng sinh Tịnh độ. Tức Thượng phẩm, Trung phẩm, Hạ phẩm và trong 3 phẩm này, mỗi phẩm lại được chia làm Thượng phẩm, Trung phẩm, Hạ phẩm, cộng chung là 9phẩm. [X. kinh Quán vô lượng thọ]. (xt. Cửu Phẩm Vãng Sinh).
tịnh độ giáo bản
(淨土教版) Chỉ cho các kinh sách, tổ lục có liên quan đến Tịnh độ giáo được khắc bản ở các nơi, trong đó, kinh đô (Kyoto), Nhật bản là trung tâm, từ thời đại Liêm thương về sau và được Đằng đường Hựu phạm đặt tên là Tịnh độ giáo bản. Trong các di phẩm hiện còn thì kinh Vô lượng thọ, được khắc bản vào năm Kiến nhân thứ 4 (1204) và Hòa ngữ đăng lục của Hắc cốc thượng nhân, được khắc bản vào niên hiệu Nguyên hanh năm đầu (1321) là xưa nhất.
tịnh độ giáo mĩ thuật
(淨土教美術) Nền mĩ thuật của Tịnh độ giáo. Theo với đà phát triển của tư tưởng Tịnh độ, nền nghệ thuật tạo hình như hội họa, điêu khắc... cũng thịnh hành theo. Những văn hiến có liên quan đến việc tạo tượng đức Phật A di đà xuất hiện sớm nhất vào thế kỉ IV đến đầu thế kỉ VI thì tượng Phật Vô lượng thọ ở Long môn thuộc tỉnh Hà nam đã rất nổi tiếng. Đến thế kỉ VII, sau sự đề xướng của ngài Thiện đạo thì Tịnh độ giáo đã phát triển mạnh 1 thời, các Tịnh độ biến lấy đức Phật A di đà trụ ở Tịnh độ cực lạc phương Tây làm chủ đề trung tâm cũng xuất hiện. Các bích họa ở các chùa viện như Tây phương biến (Ngô đạo tử vẽ)ở viện Tịnh độ, Tịnh độ biến(Triệu vũ đoan vẽ) ở chùa Vân hoa tại Trường an, Tịnh độ kinh biến (Úy trì Ất tăng vẽ)ở chùa Đại vân, Thập lục quán (Lưu a tổ vẽ) ở vách tây Đại điện chùa Kính ái tại Lạc dương... đều do các danh gia vẽ, nhưng hiện nay đều không còn. Bích họa ở Đôn hoàng còn nhiều như A di đà Tịnh độ biến(hang 33, 70, 114, 139A)hoặc Tây phương biến... được vẽ từ đời Đường đến đời Tống. Về kiểu dáng, thông thường được chia làm 2 loại là A di đà tịnh độ biến và Quán kinh biến tướng (Tây phương biến là chỉ chung cho 2 loại này); A di đà tịnh độ biến vẽ cảnh Phật A di đà thuyết pháp ở Tịnh độ cực lạc trang nghiêm phương Tây, còn Quán kinh biến tướng thì căn cứ theo kinh Quán vô lượng thọ, bối cảnh vẽ lầu gác đẹp đẽ trang nghiêm lộng lẫy ở Tịnh độ cực lạc và Tam tôn Di đà, Quan âm, Thế chí, Thánh chúng vây quanh, cảnh phía trước thì có ao sen. Ở 2 bên và phần dưới bức họa cũng có thêm bài tựa kinh hoặc 16 pháp quán. Ngoài ra, ở động 130 tại Đônhoàng còn sót lại bức tranh Cửu phẩm lai nghinh. Ở vùng Trungá cũng có các di phẩm Tịnh độ biến tướng, Lai nghinh đồ... Mĩ thuật Tịnh độ giáo ở Nhật bản chịu ảnh hưởng Trung quốc được truyền vào từ Hàn quốc, các bức bích họa trong Phụng hoàng đường ở viện Bình đẳng, A di đà đường và Bạch thủy A di đà đường ở chùa Tịnh lưu li hiện nay, đều là những tác phẩm tiêu biểu ở thời đại Bình an. Các tác phẩm ở thời đại Nại Lương (Nara) chịu ảnh hưởng đời Tùy và Đường, hiện nay vẫn còn Trí quang mạn đồ la và Đương ma mạn đồ la thỉnh từ Trung quốc (đời Đường) về.
tịnh độ hạnh
Pure Land practices.
tịnh độ luận
(淨土論) I. Tịnh Độ Luận. Gọi đủ: Vô lượng thọ kinh Ưu bà đề xá nguyện sinh kệ. Cũng gọi: Vãng sinh tịnh độ luận. Luận, 1 quyển, do ngài Thếthân soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 36. Đây là 1 trong 3 bộ kinh và 1 bộ luận của Tịnh độ giáo. Nội dung luận này gồm các bài kệ nguyện sinh Tây phương, theo ý nghĩa trong kinh Vô lượng thọ, tán thán sự trang nghiêm của Tịnh độ, nói rõ về Ngũ niệm môn, khuyên người niệmPhật cầu vãng sinh Tây phương. (xt. Vãng Sinh Luận). II. Tịnh Độ Luận. Cũng gọi Ca tài tịnh độ luận. Luận, 3 quyển, do ngài Catài soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Tác giả Ca tài và Đại sư Thiện đạo đều là những bậc cao tăng sống trong cùng 1 thời đại và cùng thừa kế Tịnh độ giáo của ngài Đạo xước. Luận này sửa chữa hoàn bị bộ An lạc tập của ngài Đạo xước, dùng thể tài vấn đáp để trình bày pháp nghĩa của Tịnh độ giáo và nêu rõ tư tưởng trong Bức vẽ cảnh Tịnh độ phương Tây ở Đôn hoàng T 6147 An lạc tập. Nội dung đánh giá về báo hóa của Tịnh độ cực lạc và các cơ phẩm vãng sinh,... nêu ra lí chứng cùng với các trường hợp có thật để nói về khả năng vãng sinh của phàm phu. Toàn sách chia ra 9 chương. Tín đồ Tịnh độ giáo ở Trung quốc và Nhật bản phần đông sử dụng bộ sách này.[X. Đông vực truyền đăng lục Q. hạ; Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục; Tịnh độ chân tông giáo điển lục Q.1].
Tịnh độ môn
淨土門; C: jìngtǔmén; J: jōtomon;|Giáo lí Tịnh độ, khuyên tìm cầu sự cứu độ thông qua nguyện lực của Đức Phật A-di-đà.
tịnh độ môn
(淨土門) Gọi đủ: Vãng sinh tịnh độ môn. Pháp môn vãng sinh Tịnh độ, xa lìa sinh tử. Các nhà phán giáo Tịnh độ chia Phật đạo làm 2 môn: Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. Thánh đạo môn là nuơng vào tự lực tu hành mong cầu thành Phật; còn Tịnh độ môn thì nương vào nguyện lực của đức Phật A di đà để niệm Phật, mong cầu vãng sinh.An lạc tập của ngài Đạo xước đời Đường nói: Hiện nay là đời có 5 thứ ác trược, lí nghĩa của Thánh đạo sâu xa khó thực hành, không hợp thời cơ, chỉ có Tịnh độ môn là con đường trọng yếu mà mọi người có thể cùng vào. Chư Phật khuyên chúng sinh nên cầu Tịnh độ, cho dù 1 đời tạo ác, nhưng lúc lâm chung mà định ý chuyên tinh, xưng danh hiệu Phật 10 niệm liên tục, tất cả tội chướng tự nhiên tiêu trừ, nhất định được vãng sinh. Đây là Tha lực dị hành đạo. Sau khi thuyết này được truyền vào Nhậtbản thì ngài Nguyên không lại chia nhỏ ra thành 2 thứ là Chính minh vãng sinh tịnh độ giáo và Bàng minh vãng sinh tịnh độ giáo. Còn ngài Thân loan thì chia làm 2 thứ là Chân thực (Hoành siêu) và Phương tiện (Hoành xuất). (xt. Thánh Tịnh Nhị Môn).
Tịnh độ môn 淨土門
[ja] ジョウトモン jōtomon ||| The teaching of Pure Land, which advises the seeking of salvation through the power of Amitābha Buddha 阿彌陀. => Giáo lý Tịnh độ, khuyên tìm cầu sự cứu độ thông qua nguyện lực của Đức Phật A-di-đà.
tịnh độ ngũ hội niệm phật lược pháp sự nghi tán
(淨土五會念佛略法事儀贊) Gọi tắt: Ngũ hội pháp sự tán. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Phápchiếu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này chia làm 2 phần: Lời tựa và bản văn. Đối lại với Quảng bản (Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi), sách này ghi chép sơ lược những nghi tắc của Ngũ hội niệm Phật, nhưng Quảng bản chia ra 10 môn để trình bày, còn Lược bản thì không có chương đoạn. Quảng bản chủ trương người thực hành pháp sự phải tụng kinh A di đà và có chép văn kinh, nhưng Lược bản thì không. Chú sớ sách này có Diễn để 5 quyển (Đông nhật), Thám trách 1 quyển (Đông nhật), Danh số 2 quyển (Lương nghĩa). [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.2, 3; Tịnh độ y bằng chương sớ mục lục; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. thượng]. TỊNH ĐỘ NGŨ HỘI NIÊM PHẬT TỤNG KINH QUÁN HÀNH NGHI Gọi tắt: Ngũ hội pháp sự nghi. Tác phẩm, hiện còn 2 quyển, do ngài Phápchiếu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung sách này nói rộng về những hành nghi của Ngũ hội niệm Phật, đây là Quảng bản. Sách này vốn có 3 quyển, thất truyền đã lâu. Vào năm 1908, học giả người Pháp là ông P.Pelliot, mới tìm thấy 2 quyển trung và hạ. Trong 2 quyển này ghi chép 21 thứ văn tán, hoàn toàn giống với văn tán (37 thứ) được chép trong Lược bản.[X. Minh sa dư vận giải thuyết; Kim cương giáo thụ hoàn lịch kí niệm luận văn tập (Thiện đạo đại sư đích di văn, Vọng nguyệt Tín hanh)]. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật).
tịnh độ ngũ tổ
(淨土五祖) Chỉ cho 5 vị Tổ sư truyền đăng Tịnh độ của Trung quốc, đó là các ngài: Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Hoài cảm và Thiếu khang. Trung quốc vốn có thuyết Tịnh độ Ngũ tổ, nếu trước ngài Đàm loan thêm ngài Bồ đề lưu chi thì thành Lục tổ. Tức ngài Bồ đề lưu chi là người phiên dịch luận Vãng sinh của ngài Thế thân, rồi lại trao kinh Quán vô lượng thọ cho ngài Đàm loan. Ngài Đàm loan đầu tiên chú giải luận vãng sinh, lại y cứ vào Thập trụ tì bà sa của ngài Long thụ mà lập giáo phán Nan hành đạo và Dị hành đạo; ngài Đạo xước nương theo di đức của ngài Đàm loan mà lập riêng giáo phán Thánh đạo môn và Tịnh độ môn mà mở rộng pháp môn niệm Phật. Ngài Thiện đạo kế thừa ngài Đạo xước phán bản nguyện danh hiệu là chính định nghiệp, đề xướng ý nghĩa thân phàm phu được vãng sinh, mà phát triển pháp môn Tịnh độ; ngài Hoài cảm thờ ngài Thiện đạo làm thầy, y cứ vào pháp tướng mà giải thích tông nghĩa Tịnh độ; sau ngài Hoài cảm có ngài Thiếu khang hoằng dương Tịnh độ, được người đời gọi là Hậu thiện đạo. [X. Pháp nhiên thượng nhân truyện kí Q.2 hạ; Thập di cổ đức truyện hội từ Q.4; Tịnh độ pháp môn nguyên lưu].
tịnh độ ngũ tổ hội truyện
(淨土五祖繪傳) Truyện tranh, 1 quyển, được cất giữ ở chùa Quang minh tại Liêm thương, Nhật bản. Nội dung sách này vẽ tượng 5 vị Tổ của Tịnh độ giáo Trung quốc, đồng thời có phụ thêm phần truyện kí của các ngài bằng Hán văn. Cuối sách có ghi năm Gia nguyên thứ 3 (1305)..
tịnh độ ngũ tổ tượng
(淨土五祖像) Tượng vẽ 5 vị Tổ sư Tịnh độ giáo Trung quốc là các ngài Đàmloan, Đạoxước, Thiện đạo, Hoàicảm và Thiếu khang do ngài Nguyênkhông, vị tăng Nhật bản chọn. Tương truyền, bức vẽ này do ngài Trọng nguyên đến Trung quốc (đời Tống) thỉnh về Nhật bản theo ý muốn của ngài Nguyên không. Hiện nay, viện Nhị tôn có cất giữ 1 bức Tịnh độ ngũ tổ tượng, chùa Mạn đồ la thì cất giữ 5 bức Tịnh độ ngũ tổ tượng.
tịnh độ nhị hoành
Hai cách giải thoát trong Tịnh Độ Tông—Two ways of attaining liberation in the Pure Land Sect: 1) Hoành Xuất: Bằng trì trai giữ giới và tu hành thiền định mà hành giả được sanh vào cõi hóa độ phương tiện—By discipline to attain to temporary nirvana. 2) Hoành Siêu: Nghe bản nguyện của Đức Phật A Di Đà mà phát tín tâm niệm hồng danh của ngài sẽ được vãng sanh vào cõi báo độ chân thực—Happy salvation to Amitabha's paradise through trust in him.
tịnh độ nhị tạng nhị giáo lược tụng
(淨土二藏二教略頌) Cũng gọi Tịnh độ lược tụng. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Liễu dự Thánhcương, người Nhậtbản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Ngài Thánhcương lập giáo phán Nhị tạng nhị giáo nhị đốn, cho rằng giáo pháp một đời của đức Phật được chia làm 2 tạng (nhị tạng)là Thanh văn tạng và Bồ tát tạng. Bồ tát tạng được chia làm 2 giáo(nhị giáo) là Đốn giáo và Tiệm giáo. Tác phẩm này lược tụng ý nghĩa trọng yếu của 2 tạng 2 giáo trên, trong đó, Đốn giáo được chia ra Tính đốn và Tướng đốn, phán định Tịnh độ giáo là Tướng đốn. Đây là điểm sáng tạo của tác phẩm này. Toàn sách gồm có 166 bài tụng. [X. Liễu dự thượng nhân truyện; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. hạ].
tịnh độ pháp môn
Pure Land School.
tịnh độ pháp môn nguyên lưu chương
(淨土法門源流章) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhậtbản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Nội dung sách này nói sơ lược về sự truyền bá Tịnh độ giáo ở Ấn độ, Trung quốc, Nhật bản và dị nghĩa của 5 vị đệ tử ngài Pháp nhiên (Hạnh tây, Long khoan, Chứng không, Thánh quang, Giác minh) từ sau khi ngài Pháp nhiên khai sáng tông Tịnh độ. Tác phẩm này là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Tịnh độ giáo.
tịnh độ quần nghi luận
(淨土群疑論) Cũng gọi Thích tịnh độ quần nghi luận, Quần nghi luận, Quyết nghi luận. Tác phẩm, 7 quyển, do ngài Hoài cảm soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Mục đích của sách này là giải đáp những điều hồ nghi về việc vãng sinh Tịnh độ được nêu ra trong Nhiếp luận, Tam giai giáo, Duy thức học,...từ các đời Trần, Tùy về sau, là bộ Bách khoa toàn thư của tông Tịnh độ đương thời. Cứ theo lời tựa ở đầu quyển do ngài Bình xương Mạnh tiển soạn, khi bản thảo luận này vẫn chưa được soạn xong thì ngài Hoài cảm đã thị tịch, về sau do đồng môn là ngài Hoài uẩn tiếp tục bổ sung để hoàn thành. Về tên sách thì ở Trung quốc xưa nay thường gọi là Quần nghi luận, Tống cao tăng truyện gọi là Quyết nghi luận, Thụy ứng san truyện gọi là Vãng sinh quyết nghi luận. Toàn sách gồm 116 chương, được viết theo hình thức hỏi đáp. Ngài Hoàicảm vốn là học giả tông Pháp tướng, về sau, sư theo ngài Thiện đạo tu hạnh niệm Phật, chứng được tam muội niệm Phật. Kiến giải trong sách này và thích nghĩa của ngài Thiệnđạo, từ xưa đã được gọi là thuyết Thập ngũ đồng thập tam dị. Chỗ đặc sắc của sách này là đứng trên quan điểm Duy thức để giải thích những điều nghi.[X. luận Niệm Phật tam muội bảo vương quyển trung, Vãng sinh tây phương tịnh độ thụy ứng san truyện; Đông vực truyền đăng mục lục].
tịnh độ sinh vô sinh luận
(淨土生無生論) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Truyền đăng soạn vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này sử dụng ý nghĩa then chốt trong các kinh luận để nói rõ về việc sinh, vô sinh trong giáo nghĩa Tịnh độ, gồm 10 môn: Nhất chân pháp giới môn, Thân độ duyên khởi môn, Tâm độ tương tức môn, Sinh Phật bất nhị môn, Pháp giới vi niệm môn, Cảnh quán tương thôn môn, Tam quán pháp nhĩ môn, Cảm ứng nhậm vận môn, Bỉ thử hằng nhất môn và Hiện vị hỗ tại môn. Sách này cùng với Tịnh độ thập nghi luận của ngài Tríkhải đời Tùy, Niệm Phật tam muội bảo vương luận hợp thành Tịnh độ tam luận. Về các sách chú sớ luận này thì có Tịnh độ sinh vô sinh luận chú của ngài Chính tịnh đời Minh, Tịnh độ sinh vô sinh luận thân văn kí của ngài Thụ giáo đời Minh, Tịnh độ sinh vô sinh luận hội tập của ngài Đạt mặc.
Tịnh độ sinh vô sinh luận 淨土生無生論
[ja] ジョウトショウムショウロン jōdo shoumushou ron ||| The Jingtu sheng wusheng lun by 傳燈; T 1975.47.381a-384a. => (c: Jingtu sheng wusheng lun), của Truyền Đăng傳燈.
tịnh độ song lục
(淨土雙六) Một trò chơi vui được lưu hành ở thời đại Giang hộ tại Nhậtbản, lấy tư tưởng Tịnh độ làm nội dung, vẽ các hành vị như châu Nam diêm phù đề (nơi sinh sống của loài người),cõi trời, Bồ tát cho đến cảnh giới Diệu giác của Phật; cũng có vẽ các cõi ngã quỉ, súc sinh, địa ngục,... Lại có một con xúc xắc, mỗi mặt theo thứ tự khắc 6 chữ Nam mô phân thân chư Phật. Phương pháp thi đấu là lấy châu Nam diêm phù đề làm khởi điểm, lần lượt gieo con xúc xắc, hễ nó nhập được vào Diệu giác là thù thắng nhất, cònrơi vào địa ngục là thấp kém nhất.
Tịnh độ tam bộ kinh
淨土三部經; C: jìngtŭ sānbùjīng; J: jōdo sanbukyō;|Ba bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông: Vô lượng thọ kinh (無量壽經), Quán Vô lượng thọ kinh (觀無量壽經) và A-di-đà kinh (阿彌陀經).
tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa tập
(淨土三部經音義集) Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Tín Thụy người Nhậtbản biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 57. Nội dung sách này chú thích những tiếng Phạm và các chữ, câu, danh tướng... khó hiểu trong 3 bộ kinh Tịnh độ. [X. Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. thượng; Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.2].
Tịnh độ tam bộ kinh 淨土三部經
[ja] ジョウドサンブキョウ Jōdo sanbukyō ||| The three principal texts of the Pure Land tradition: the Wuliangshou jing 無量壽經, the Guan wuliangshou jing 觀無量壽經, and the Amituo jing 阿彌陀經. => Ba bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông: Vô lượng thọ kinh (c: Wuliangshou jing 無量壽經), Quán Vô lượng thọ kinh (c: Guan wuliangshou jing 觀無量壽經) và A-di-đà kinh (c: Amituo jing 阿彌陀經).
tịnh độ tam muội kinh
(淨土三昧經) Kinh, 1 quyển, do ngài Đàm diệu dịch vào đời Bắc Ngụy. Người đời sau ngờ kinh này do người khác mượn tên ngài Đàmdiệu mà ngụy tạo. Kinh này và kinh Đề vị của ngài Đàm tĩnh là các tác phẩm cùng thời đại. Nội dung kinh Tịnh độ tam muội nói rằng thụ trì trai giới sẽ được các vị thiện thần giữ gìn, che chở, nhất là vào 6 ngày trai và 8 ngày vua, nếu giữ gìn giới pháp nghiêm cẩn, thì được sống lâu, thêm phúc, sau khi chết được sinh lên cõi trời. Kinh này có bản Đôn hoàng và bản được thu vào Đại Nhật bản tục tạng kinh. Ngoài ra, kinh luật dị tướng, Chư kinh yếu tập, Pháp uyển châu lâm... phần nhiều có trích dẫn kinh này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.14].
tịnh độ tam thập ích
(淨土三十益) Ba mươi lợi ích vi diệu của sự vãng sinh Tịnh độ phương Tây. Cứ theo Lô sơn Liên tông bảo giám quyển 9 do ngài Phổ độ soạn vào đời Nguyên và luận Tịnh độ quần nghi của ngài Thiênthai Trí khải, việc vãng sinh Tịnh độ phương Tây có 30 điều lợi ích nhiệm mầu sau đây: 1. Được sanh về cõi Phật. 2. Được niềm vui chính pháp to lớn. 3. Được gần gũi chư Phật. 4. Được đến khắp 10 phương cúng dường chư Phật. 5. Đích thân được nghe Phật nói pháp. 6. Tư lương phúc tuệ chóng được trọn đủ.7. Mau chứng được bồ đề. 8. Các trời, người cùng được nhóm họp ở một chỗ. 9. Không còn chuyển lui. 10. Tăng tiến vô lượng hạnh nguyện. 11. Được nghe chim anh vũ, xá lợi tuyên dương pháp âm. 12. Được nghe tiếng nhạc khi gió thổi qua các hàng cây. 13. Được nghe suối nước ma ni diễn nói về khổ, không. 14. Được nghe các khúc nhạc âm vang nhiệm mầu. 15. Được hưởng trọn vẹn 48 nguyện của đức Phật A di đà. 16. Được thân màu vàng ròng chói lọi. 17. Được hình tướng đẹp đẽ trang nghiêm. 18. Được đầy đủ 6 thần thông. 19. Thường trụ định tụ. 20. Không có các việc bất thiện. 21. Tuổi thọ lâu dài. 22. Y phục và thức ăn uống tự nhiên đầy đủ. 23. Chỉ hưởng các điều vui. 24. Được 32 tướng tốt đẹp. 25. Cõi nước không có người nữ. 26. Không có Tiểu thừa. 27. Xa lìa 8 nạn. 28. Được Tam pháp nhẫn. 29. Thân thường có ánh sáng. 30. Được sức mạnh của thân Na la diên.
tịnh độ thiền
Jo do (J), Pure Land meditation, Amidism Tên một tông phái.
tịnh độ thuật văn sao
(淨土述聞鈔) Gọi tắt: Thuật văn sao. Sớ sao, 1 quyển, do ngài Tịnh tuệ Lương Hiểu người Nhật bản soạn. Nội dung sách này trình bày về 10 nghĩa tông yếu của Tịnh độ do ngài Lương trung truyền, đồng thời bác bỏ vấn nạn Tịnh độ thập lục cá điều nghi vấn đáp (trả lời 16 điều hoài nghi về Tịnh độ)của Danh việt lưu.[X. Tịnh độ y chính kinh luận thư tịch mục lục; Liên môn loại tụ kinh luận thư tịch lục Q. hạ].
tịnh độ thánh hiền lục
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục ghi lại mười một vị Tổ của Tông môn Tịnh Độ. Về sau nầy tại đạo tràng Linh Nham, ngài Ấn Quang Đại Sư nhóm họp các hàng liên hữu Tăng, Tục lại và suy tôn ngài Hành Sách Đại Sư vào ngôi vị Tổ thứ 10, tôn ngài Thiệt Hiền Đại Sư làm Tổ thứ mười một, và ngài Triệt Ngộ Đại Sư làm Tổ thứ mười hai. Sau khi ngài Ấn Quang Đại Sư vãng sanh, chư liên hữu xét thấy ngài đức hạnh trang nghiêm và có công lớn với tông phái Tịnh Độ, nên họp nhau đồng suy tôn ngài vào ngôi vị Tổ thứ mười ba. Theo truyền thống Tịnh Độ, các đại sư chỉ thuần về bi, trí và lợi sanh nên không bao giờ các ngài tự xưng là Tổ. Chỉ khi các ngài viên tịch rồi, để lại kỳ tích hoặc có thoại tướng vãng sanh, người đời sau mới căn cứ vào đó mà suy tôn các ngài vào ngôi vị Tổ. Nội dung của Tịnh Độ Thánh Hiền Lục trước sau đều ghi lại những chứng tín và hiện chứng lượng xác thực nhất của Pháp Môn Tịnh Độ cho những ai còn nghi ngờ về pháp môn nầy. Hầu hết các bậc tôn đức vãng sanh được ghi danh trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, đều đã nương theo pháp môn niệm Phật mà trực vãng Tây Phương, dự vào nơi chín phẩm sen của miền Cực Lạc. Tịnh Độ Thánh Hiền Lục trước kia được Hòa Thượng Thích Trí Tịnh phiên dịch với tên Đường Về Cực Lạc, và sau nầy được Hòa Thượng Thích Thiền Tâm chuyển dịch và bố cục lại một lần nữa, đề tên là Mấy Điệu Sen Thanh—Biographies of Pure Land Sages and Saints, or Enlightened Saints of Pureland Buddhism, which recorded eleven Patriarchs for the Pureland Dharma Tradition. Eventually, at Linh Nham Congregation, the Great Venerable Master Yin-Kuang had a convention for Pureland Cultivators, both lay people and clergy, to promote Great Venerable Sinh-So as the Tenth Patriarch, Great Venerable Master Sua-Sen as the Eleventh Patriarch, and Great Venerable Master Che-Wu as the Twelfth Patriarch. After the Great Venerable Master Yin-Kuang gained rebirth in the Pureland, Pureland cultivators carefully examined his life and made the following observations: His conduct and practice were pure and adorning. He made significant contributions to the Pureland Buddhism. Thus, after their meeting, they honored him as the Thirteenth Patriarch. According to the tradition of Pureland Buddhism, the Great Venerable Masters followed the path of compassion, wisdom, and benefitting others; therefore, they never proclaimed themselves as Patriarchs. Only after they passed away, leaving behind significant and extraordinary artifacts, such as caris, upon death they were received by Buddha, Maha-Bodhisattvas, etc, or having outward characteristics of gaining rebirth, did future generations, relying on these evidences, bestowed upon them as Patriarchs. The Biographies of Pure Land Sages is a collection of real life stories of Pureland cultivators, lay and ordained Buddhists, who gained rebirth to provide concrete evidence and serve as testimony to the true teachings of the Buddha and Pureland Patriarchs for those who may still have doubts and skepticism. Almost all the virtuous beings recorded in the Biographies of Pureland Sages relied on the dharma door of Buddha Recitation to gain rebirth and earn a place in one of the nine levels of Golden Lotus in the Western Pureland. The Pureland text, “The Road to the Ultimate Bliss World” was first translated into Vietnamese by the Most Venerable Thích Trí Tịnh, and, later, it was translated and explained again by the late Great Dharma Master Thích Thiền Tâm with the title “Collection of Lotus Stories.”
; (淨土聖賢錄) Truyện kí, 9 quyển, do cư sĩ Bành hi Tốc soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung sách này nói về đức giáo chủ cõi Tịnh độ là PhậtA di đà và chúng Thánh xiển giáo như các vị Đạibồ tát Quánâm, Thế chí, Vănthù, Phổhiền, đồng thời thu chép sự tích của các vị tỉ khưu, tỉ khưu ni hoằng dương pháp môn Tịnh độ qua nhiều đời, tất cả có 500 vị. Toàn sách lập 10 môn như sau: 1. Giáo tổ Tịnh độ. 2. Chúng thánh hoằng giáo. 3. Tỉ khưu vãng sinh. 4. Tỉ khưu ni vãng sinh 5. Vua chúa vãng sinh 6. Đại thần vãng sinh 7. Cư sĩ vãng sinh 8. Dân chúng vãng sinh 9. Người nữ vãng sinh 10. Loài vật vãng sinh. Những sự tích vãng sinh trên đây phần nhiều được chọn ra từ các tư liệu như: Cao tăng truyện nhiều đời, Phật tổ thống kỉ, Phật tổ thông tải,... ở cuối mỗi truyện đều có ghi điển cứ. Ngoài ra, cư sĩ Hồ Đĩnh đời Thanh có soạn bộ Tịnh độ thánh hiền lục tục biên 4 quyển, thể thức lấy Tịnh độ thánh hiền lục làm tiêu chuẩn, năm tháng ghi chép bắt đầu từ đầu đời Thanh, chia làm 7 khoa: Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Vương thần, Cư sĩ, Tạp lưu, Nữ nhân và Vật loại, trình bày sự tích của 175 vị. [X. Tịnh độ tông toàn thư Q.18; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. thượng].
tịnh độ thập nghi
(淨土十疑) Mười điều nghi về Tịnh độ. Ngài Thiênthai Trí khải đời Tùy, y cứ vào giáo nghĩa vãng sinh Tịnh độ, nêu ra 10 điều hoài nghi, đồng thời giải thích rõ 10 điều nghi để khuyên mọi người cầu vãng sinh Tịnh độ. Đó là: 1. Giải thích điều nghi rằng cầu sinh về Tịnh độ là không có tâm từ bi. 2. Giải thích điều nghi rằng cầu sinh về Tịnh độ là trái với lí vô sinh bình đẳng. 3. Giải thích điều nghi rằng thiên cầu vãng sinh Cực lạc là trái với pháp tính bình đẳng. 4. Giải thích điều nghi tại sao chỉ niệm danh hiệu Phật A di đà? 5. Giải thích điều nghi tại sao hàng phàm phu còn bị phiền não trói buộc vẫn được vãng sinh? 6. Giải thích điều nghi rằng tại sao vãng sinh tức là được bất thoái? 7. Giải thích điều nghi rằng tại sao không cầu vãng sinh về cõi trời Đâu suất? 8. Giải thích điều nghi rằng tại sao chỉ niệm 10 niệm được vãng sinh? 9. Giải thích điều nghi tại sao người nữ, người thiếu các căn, hàng Nhị thừa không được vãng sinh. 10. Giải thích điều nghi phải tu hạnh nghiệp gì để được vãng sinh? [X. luận Tịnh độ thập nghi].
tịnh độ thập thắng
(淨土十勝) Mười việc thù thắng của Tịnh độ(thế giới Cực lạc), do Đại sư Từ ân thành lập. Đó là: 1. Hóa chủ sở cư: NơiHóa chủ an trụ. 2. Sở hóa mệnh thường: Dân cư sống lâu.3. Quốc phi giới hệ: Không bị 3 cõi ràng buộc. 4. Tịnh phương vô dục: Không có dục nhiễm. 5. Nữ tử bất cư: Không có người nữ. 6. Tu hành bất thoái: Tu hành tiến tới chứ không trở lui. 7. Tịnh phương phi uế: Thanh tịnh, không nhơ uế. 8. Quốc độ trang nghiêm: Cõi nước đẹp đẽ. 9. Niệm Phật nhiếp tình: Niệm Phật để tập trung tâm ý. 10. Thập niệm vãng sinh: Mười niệm được vãng sinh. [X. A di đà kinh thông tán sớ Q. trung].
tịnh độ thập thắng tiết tiên luận
(淨土十勝節箋論) Cũng gọi Tịnh độ thập thắng luận. Tác phẩm, 14 quyển, do ngài Trừng viên (1283-1372), người Nhậtbản soạn. Nội dung sách này cho rằng Tịnh độ giáo hơn hẳn các kinh sách, niệm Phật vượt trên muôn hạnh. Toàn sách gồm 10 thiên, chia nhỏ thành 110 hạng mục, nói rõ về sự thù thắng của Tịnh độ giáo. [X. Liên tông loại tụ kinh tịch lục Q. hạ].
tịnh độ thập yếu
(淨土十要) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trí húc biên soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 108. Tựa đề phụ là Linh phong Ngẫu ích Đại sư tuyển định Tịnh độ thập yếu.Sách này biên tập các bộ luận nói về giáo nghĩa Tịnh độ thành 10 loại. Từ quyển 1 A di đà kinh yếu giải 1 quyển(Trí húc đời Minh) đến quyển 10 Tây phương hợp luận quyển 1(Viên hoành đạo đời Minh). Trong đó có thu chép Vãng sinh tịnh độ sám nguyện nghi và Vãng sinh tịnh độ quyết nghi hành nguyện nhị môn của ngài Tuân thức đời Tống, Quán vô lượng thọ Phật kinh sơ tâm tam muội môn và Thụ trì Phật thuyết A di đà kinh hành nguyện nghi của ngài Thànhthời đời Minh, Tịnh độ thập nghi luận của ngài Tríkhải đời Tùy, Niệm Phật tam muội bảo vương luận của ngài Phitích đời Đường, Tịnh độ hoặc vấn của ngài Thiệnngộ đời Nguyên, Bảo vương tam muội niệm Phật trực chỉ của Diệu thập đời Minh, Tây trai tịnh độ thi của Phạm kì đời Nguyên, Tịnh độ sinh vô sinh luận và Tịnh độ pháp ngữ của ngài Truyền đăng đời Minh. Căn cứ theo thứ tự biên tập thì 3 yếu đầu tiên là giải thích văn kinh, đồng thời nói về hạnh nguyện nghi tắc phải noi theo, kế đến 7 yếu còn lại từ luận Tịnh độ thập nghi trở xuống thì biên tập theo thứ tự thời đại Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh.
tịnh độ thật tông
Shin-shŪ (J), Shin school Jodo-shin shu (J)Còn gọi là Tịnh độ Thật tông. Một tông phái Phật giáo ở Nhật do Thân Loan (1173-1262) sáng lập. Môn đồ tông phái sống như những người thế tục, họ không muốn tạo dựng sự ngăn cách giữa họ với thế giới chung quanh.
tịnh độ thụy ứng truyện
(淨土瑞應傳) Gọi đủ: Vãng sinh Tây phương tịnh độ thụy ứng san truyện. Truyện kí, 1 quyển, do các ngài Văn thẩm và Thiếukhang (?-805) cùng soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung tác phẩm này thu chép truyện kí của 48 vị nguyện sinh Tây phương từ ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn đến những vị sống vào giữa đời Đường. Sự ghi chép và trình bày trong sách này tuy rất đơn giản nhưng là bộ sách không thể thiếu đối với những người muốn nghiên cứu Tịnh độ giáo Trung quốc. Việc soạn thuật truyện vãng sinh đại khái đã bắt đầu từ đầu đời Đường, trước sách này đã có Vãng sinh tịnh độ truyện của ngài Phi tích đời Đường, Đạiđường vãng sinh truyện ghi trong Trường tây lục và Tinh châu vãng sinh kí thấy rải rác trong Tam bảo cảm ứng yếu lược, nhưng hiện nay đều đã bị thất lạc, chỉ còn có sách này được lưu truyền đến nay, cho nên rất được trân trọng. Tịnh độ vãng sinh truyện của ngài Giới châu đời Tống, Vãng sinh tập và Tân vãng sinh truyện của ngài Châu hoành đời Minh, có rất nhiều chỗ tham khảo sách này. Về sự thành lập sách này, có nhiều điểm còn ngờ, chẳng hạn như: 1. Vấn đề tên sách phải là Thụy ứng truyện hay là Thụy ứng san truyện. 2. Vạn tục tạng kinh cho rằng sách này do ngài Đạotân soạn vào thời Ngũ đại, vì trong truyện ngài Đạihạnh được thu chép trong sách này, có đề cập đến việc của vua Hitông (ở ngôi 874-887), cho nên có thể suy đoán tác giả sách này là người sống sau thời ngài Thiếukhang. Về vấn đề này, giữa các học giả có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó, ông Tiểu lạp nguyên tuyên tú người Nhậtbản, y cứ vào các thuyết nêu trên mà chủ trương Thụy ứng truyện là gọi nguyên bản do các ngài Vănthẩm và Thiếukhang cùng biên tập, còn Thụy ứng san truyện, là bộ truyện do ngài Đạotân đã cắt xén(san) thêm bớt mà soạn lại.
tịnh độ truyện đăng tổng hệ phả
(淨土傳燈總系譜) Hệ phổ, 3 quyển, do ngài Loantú người Nhậtbản soạn. Đây là hệ phổ chư Tổ truyền đăng Tịnh độ của Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản.Nội dung sách này chia làm 3 phần: Thiên trúc hoằng truyền, Chấn đán hoằng truyền và Nhật bản hoằng truyền. [X. Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. hạ].
tịnh độ trấn lưu tổ truyện
(淨土鎮流祖傳) Cũng gọi Tịnh độ bản triều cao tăng truyện. Truyện kí, 8 quyển, do ngài Tuyên dự Tâma, người Nhậtbản soạn. Nội dung sách này ghi thuật sự tích các vị Tổ sư vàcao tăng của phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ Nhậtbản. Tất cả gồm 200 vị, đứng đầu là ngài Thiệnđạo. Đồng thời có phụ thêm 5 thiên: Tông danh chí, Tứ bản sơn chí, Đàn lâm chí, Cửu bộ chí và Nhị độc chí. [X. Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. hạ].
tịnh độ tây phương xứ
Xem Cực lạc.
Tịnh Độ Tông
(淨土宗, Jōdo-shū): tông phái tin vào bản nguyện của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀佛), và tuyên thuyết rằng nhờ xưng danh hiệu của đức Phật ấy mà tất cả chúng sanh đều được vãng sanh về thế giới Cực Lạc Tịnh Độ (極樂淨土). Vị tông tổ là Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (法然房源空, Hōnenbō Genkū). Tổng Bản Sơn (ngôi chùa tổ) của tông phái này là Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in), hiện tọa lạc tại Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市). Vào tháng 3 năm đầu (1175) niên hiệu An Nguyên (安元), khi đang tu hành trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), Nguyên Không nhân đọc được bản Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ (觀無量壽經疏) của Thiện Đạo (善導), có được niềm tin sâu xa, nên ông quay về với pháp môn Chuyên Tu Niệm Phật. Sau đó, ông hạ sơn, chuyển đến Tây Sơn Quảng Cốc (西山廣谷), nhưng không bao lâu sau lại dời về vùng Cát Thủy (吉水, Yoshimuzu), Lạc Đông (洛東, Rakutō) và chuyên tâm bố giáo tại đây. Đến năm thứ 9 (1198) niên hiệu Kiến Cửu (建久), ông soạn bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) để thể hiện lập trường cứu độ kẻ phàm phu, lấy 3 bộ Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經), A Di Đà Kinh (阿彌陀經) cũng như Vãng Sanh Luận (徃生論) của Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) làm kinh luận y cứ cho tông phái, và chọn việc an tâm, khởi hành, tác nghiệp làm phương pháp tu hành. Tư tưởng của ông đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với xã hội đương thời. Đặc biệt, nó đã kích động các tông phái của Phật Giáo cũ, làm gia tăng số lượng người ủng hộ pháp môn Niệm Phật và tạo ác cảm không ít. Sự đàn áp từ sự kiện của Trú Liên (住蓮) cũng như An Lạc Phòng Tuân Tây (安樂房遵西) ngày càng trở nên mãnh liệt, dẫn đến đình chỉ Niệm Phật; vì vậy vào năm đầu (1207) niên hiệu Thừa Nguyên (承元), từ Nguyên Không trở xuống cho đến nhóm đệ tử Thân Loan (親鸞, Shinran) đều bị lưu đày (gọi là Pháp Nạn Thừa Nguyên); nhưng từ đó số lượng người ủng hộ như hàng võ sĩ, nông dân lại tăng lên cao hơn. Vào năm thứ 2 (1212) niên hiệu Kiến Lịch (建曆), khi Nguyên Không qua đời, vị môn hạ trưởng lão Pháp Liên Phòng Tín Không (法蓮房信空) lên kế thừa, muốn thống lãnh giáo đoàn, nên về mặt đối ngoại ông đã tạo sự luận tranh đối kháng với vị tổ của Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) là Long Khoan (隆寬). Chính vì vậy, giáo đoàn gặp Pháp Nạn Gia Lộc (嘉祿法難), miếu thờ của Nguyên Không bị phá hoại, Long Khoan thì bị lưu đày đến địa phương Lục Áo (陸奥, Mutsu); nhưng kết quả việc này đã tạo sự khích lệ vô cùng to lớn cho sự phát triển Tịnh Độ Giáo ở vùng Quan Đông (關東, Kantō). Dòng phái của Long Khoan vốn chủ trương Đa Niệm Nghĩa (多念義) thì được nhóm Trí Khánh (智慶) thọ dung; riêng Hạnh Tây (幸西), người chủ trương Nhất Niệm Nghĩa (一念義), thì bị lưu đày đến Nhất Khi (壱岐), nhưng lại được nhóm Minh Tín (明信) ủng hộ. Dòng phái của Trường Tây (長西), người chủ trương Chư Hạnh Bổn Nguyện Nghĩa (諸行本願義) cũng hưng thạnh một thời, nhưng dần dần suy tàn. Mặt khác, vị tổ của môn đồ vùng Tử Dã (紫野, Murasakino) là Nguyên Trí (源智) lại khuyến khích triển khai hoạt động báo ân cho Nguyên Không, tạc bức tượng Phật A Di Đà (hiện an trí tại Ngọc Quế Tự [玉桂寺] thuộc Shiga-ken) để kết duyên với mọi người, nỗ lực phục hưng Tri Ân Viện và có được số lượng tín đồ khá đông. Bên cạnh đó, Chứng Không (証空), vị tổ của Tây Sơn Nghĩa (西山義), thì hoạt động dựa trên bối cảnh thế lực của Từ Viên (慈圓), làm cho Tịnh Độ Giáo thẩm thấu vào trong tầng lớp võ sĩ và quý tộc. Như vậy, sau khi Nguyên Không qua đời, giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật đã phân hóa thành từng nhóm khác nhau và trở thành thời đại không thống nhất về mặt chính trị cũng như tổ chức giáo đoàn. Lương Trung (良忠), đệ tử của Biện Trường (辨長)—vị tổ của Trấn Tây Nghĩa (鎭西義) vốn hoạt động ở vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū), đã đi qua vùng kinh đô Kyōto, Tín Nùng (信濃, Shinano), xuống Quan Đông (關東, Kantō), được cả dòng họ Thiên Diệp (千葉, Chiba) quy y theo và giáo hóa khắp các nơi; nhưng trở thành bất hòa từ vấn đề kinh tế tại đây nên ông tiến về vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), được Đại Phật Triêu Trực (大佛朝直) quy y theo, sáng lập Ngộ Chơn Tự (悟眞寺) và xác lập cơ sở ở địa phương này. Ngay như tu sĩ của các tông phái khác cũng tín nhiệm ông, nên ông rất nổi tiếng; nhưng vì cao tuổi và để sửa đổi lại những điều không thống nhất trong giáo nghĩa Tịnh Độ Tông, ông xuống Kyōto và cùng hòa hợp với Tín Huệ (信慧), đệ tử của Nguyên Trí (源智). Từ đó, ông thống nhất với môn đồ vùng Tử Dã, tạo thành cứ địa cho Dòng Trấn Tây Chánh Thống. Sau khi Lương Trung qua đời, Lương Hiểu (良曉) của Bạch Kỳ Phái (白旗派), Tánh Tâm (性心, tức Tánh Chơn [性眞]) của Đằng Điền Phái (藤田派), Tôn Quán (尊觀) của Danh Việt Phái (名越派, cả ba được gọi là Ba Phái Quan Đông), Nhiên Không (然空) của Nhất Điều Phái (一條派), Đạo Quang (道光) của Tam Điều Phái (三條派), Từ Tâm (慈心) của Mộc Phan Phái (木幡派, cả ba được gọi là Ba Phái Kinh Đô) phân hóa rõ rệt, mỗi người tự nỗ lực mở rộng giáo tuyến cho giáo phái mình. Khi chủ trương này càng lúc càng mạnh mẽ, ba đời của Tịnh Độ Tông gồm Nguyên Không, Biện Trường, Lương Trung càng được xác định rõ và Dòng Trấn Tây trở thành dòng phái chính của Tịnh Độ Tông. Riêng cuộc luận tranh giữa Danh Việt Phái và Bạch Kỳ Phái vẫn tiếp diễn cho đến thời đại Minh Trị (明治, Meiji). Danh Việt Phái lấy Fukushima-ken (福島縣) làm cứ địa để mở rộng giáo tuyến ở vùng đông bắc, còn Bạch Kỳ Phái thì mở rộng bố giáo ở trung tâm vùng Quan Đông. Đặc biệt, đến thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), có vị học tăng Tây Liên Xã Liễu Dự Thánh Quynh (西蓮社了譽聖冋) xuất hiện, đưa ra thuyết Ngũ Trùng Tương Truyền (五重相傳) để hệ thống hóa lại toàn bộ huyết mạch cũng như giáo nghĩa và tạo quyền uy đối với các tông phái khác. Sau đó, đệ tử ông là Đại Liên Xã Tây Dự Thánh Thông (大蓮社西譽聖聰) đã sáng lập Tăng Thượng Tự (増上寺) để nuôi dưỡng nhân tài. Hành Liên Xã Đại Dự Khánh Trúc (行蓮社大譽慶竺), đệ tử của Thánh Thông, tiến về kinh đô Kyōto và trú tại Tri Ân Tự (知恩寺, Chion-ji). Nhóm đệ tử của Thông Liên Xã Thán Dự Lương Triệu (聰蓮社嘆譽良肇), người khai sáng Hoằng Kinh Tự (弘經寺) ở Phạn Chiểu (飯沼), tiến về địa phương Tam Hà (三河, Mikawa), sáng lập Đại Ân Tự (大恩寺, Daion-ji), Đại Thọ Tự (大樹寺, Daijū-ji), Tín Quang Minh Tự (信光明寺, Shinkōmyō-ji), lấy những nơi này làm bàn đạp tiến về kinh đô Kyōto; cuối cùng Bạch Kỳ Phái làm chủ thế lực chiếm cứ toàn bộ vùng này. Sau đó, Tri Ân Viện và Tri Ân Viện tranh giành ngôi vị chủ tôn. Tịnh Hoa Viện (淨華院), căn cứ địa của Dòng Nhất Điều, được sự hộ trì của dòng họ Vạn Lý Tiểu Lộ (萬里小路) và trở nên hưng thịnh, nhưng lại bị quý tộc hóa. Trong lúc đó, Lương Như (良如)—đệ tử của Kính Pháp (敬法)—cũng tận lực giáo hóa hàng thứ dân ở địa phương Việt Tiền (越前, Echizen), còn Long Nghiêu (隆堯)—đệ tử của Định Huyền (定玄)—thì giáo hóa tại vùng Cận Giang (近江, Ōmi) và mở rộng giáo tuyến của họ. Như vậy, Tịnh Độ Tông đã được tổ chức hóa về mặt giáo nghĩa, tại các địa phương đều hình thành cơ sở hoạt động, nhưng không thống nhất. Nhân vật tổng hợp thống nhất toàn bộ những thế lực phân tán như vậy là Trinh Liên Xã Nguyên Dự Tồn Ứng (貞蓮社源譽存應), người từng lấy quyền lực của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) làm thế lực. Tồn Ứng chế ra Chế Độ Đàn Lâm (檀林制度), dựa trên Pháp Độ Nguyên Hòa (元和法度, các pháp độ của Tịnh Độ Tông) để xác lập Chế Độ Bản Mạt (本末制度, chế độ chùa tổ chùa con) và lập ra giáo đoàn mang tính hữu cơ. Tuy nhiên, dần dần nảy sinh hiện tượng sa đọa, phóng túng và thế tục hóa trong giáo đoàn. Đến thời Trung Kỳ của thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), lại xuất hiện những vị tăng xa lìa thế tục như Đàn Thệ (彈誓), Tồn Dịch (存易), cuộc vận động hành trì giới luật của nhóm Linh Đàm (靈潭) cũng bộc phát và đã đem lại tính cách cách tân cho giáo đoàn. Về mặt giáo học, có nhóm Lương Định (良定), Văn Hùng (文雄) xuất hiện, tạo sự chú tâm của mọi người, nhưng cuối cùng cũng không có ảnh hưởng nào. Khi chính phủ Duy Tân (維新) ra đời, giáo đoàn đã gặp phải làn sóng Phế Phật Hủy Thích. Chế Độ Tri Ân Viện Môn Tích (知恩院門跡制度) bị phế chỉ và phải chịu biết bao thử thách đồng dạng với các tông phái khác. Tuy nhiên, nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của nhóm Phước Điền Hành Giới (福田行誡), giáo đoàn đã vượt qua thời kỳ hỗn loạn. Đến hậu bán thời đại Minh Trị (明治, Meiji), Tịnh Độ Tông đã xác lập thể chế với tư cách là giáo đoàn cận đại. Về mặt học vấn, có những học giả lãnh đạo giới Phật Giáo Học như Vọng Nguyệt Tín Hanh (望月信亨), Độ Biên Hải Húc (渡邊海旭) xuất hiện, đã tạo nên thời đại hoàng kim của Tịnh Độ Tông từ niên hiệu Đại Chánh (大正, Taishō, 1912-1926) đến Chiêu Hòa (昭和, Shōwa, 1926-1989). Ngoài ra, cuộc vận động tín ngưỡng bắt đầu dấy khởi như Cọng Sanh Hội (共生會) của Chuy Vĩ Biện Khuông (椎尾辨匡), Quang Minh Hội (光明會) của Sơn Khi Biện Vinh (山崎辨榮), v.v., tập trung sự quan tâm của đa số quần chúng. Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, phát sanh vấn đề độc lập phân phái trong Tịnh Độ Tông và cuối cùng vào năm thứ 36 (1961) niên hiệu Chiêu Hòa thì tông phái này đã thống nhất thành một thể. Hiện tại theo bản Tôn Giáo Niên Giám (宗敎年鑑, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản, còn lại các phái như sau: Tịnh Độ Tông (淨土宗) có 7080 ngôi chùa, Tịnh Độ Tông Trấn Tây Thâm Thảo Phái (淨土宗鎭西深草派) có 283 ngôi chùa, Tịnh Độ Tông Tây Sơn Thiền Lâm Tự Phái (淨土宗西山禪林寺派) có 372 ngôi chùa, và Tây Sơn Tịnh Độ Tông (西山淨土宗) có 603 ngôi chùa. Một số ngôi tự viện trung tâm, nổi tiếng của tông phái này có Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in, Kyōto-shi); Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji, Kyōto-to); Kim Giới Quang Minh Tự (金戒光明寺, Konkaikōmyō-ji, Kyōto-shi); Bách Vạn Biến Tri Ân Tự (百萬遍知恩寺, Hyakumanbenchion-ji, Kyōto-shi); Thanh Tịnh Hoa Viện (清淨華院, Shōjōkein, Kyōto-shi); Thiện Đạo Tự (善導寺, Zendō-ji, Fukuoka-ken); Quang Minh Tự (光明寺, Kōmyō-ji, Kanagawa-ken); Thiện Quang Tự (善光寺, Zenkō-ji, Nagano-ken); Thiền Lâm Tự (禪林寺, Zenrin-ji, Kyōto-shi); Thệ Nguyện Tự (誓願寺, Seigan-ji, Kyōto-shi), v.v.
Tịnh độ tông
淨土宗; C: jìngtǔ-zōng; J: jōdo-shū; có khi được gọi là Liên tông;|Trường phái được lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam do Cao tăng Trung Quốc Huệ Viễn (c: huìyuǎn; 334-416) sáng lập và được Pháp Nhiên (j: hōnen) phát triển tại Nhật. Mục đích của Tịnh độ tông là tu học nhằm được tái sinh tại Tây phương Cực lạc (s: sukhāvatī) Tịnh độ của Phật A-di-đà. Ðặc tính của tông này là lòng tin nhiệt thành nơi Phật A-di-đà và sức mạnh cứu độ của Ngài, là vị đã thệ nguyện cứu độ mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài. Vì thế chủ trương tông phái này có khi được gọi là »tín tâm«, thậm chí có người cho là »dễ dãi« vì chỉ trông cậy nơi một lực từ bên ngoài (tha lực) là Phật A-di-đà.|Phép tu của Tịnh độ tông chủ yếu là niệm danh hiệu Phật A-di-đà và quán tưởng Cực lạc. Phép tu này cũng được nhiều tông phái khác thừa nhận và hành trì. Các kinh quan trọng của Tịnh Ðộ tông là Lạc hữu trang nghiêm hay Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), A-di-đà kinh (s: amitābha-sūtra) và Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna-sūtra). Ngày nay Tịnh độ tông là tông phái Phật giáo phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam.|Năm 402, Huệ Viễn thành lập Bạch Liên xã, trong đó tăng sĩ và cư sĩ tụ tập trước tượng A-di-đà và nguyện thác sinh về cõi Cực lạc phương Tây. Như thế, Huệ Viễn được xem là sơ tổ của Tịnh độ tông. Sau đó Ðàm Loan (曇鸞; 476-542) là người phát triển tích cực tông Tịnh độ. Sư cho rằng trong thời mạt pháp thì tự lực không còn đủ sức để giải thoát, Sư từ chối con đường »gian khổ« của những tông phái khác và chấp nhận giải pháp »dễ dãi« là dựa vào một tha lực là đức A-di-đà. Theo Sư, chỉ cần nhất tâm quán niệm danh hiệu A-di-đà là đủ để sinh về cõi của Ngài. Sư viết nhiều luận giải về Quán vô lượng thọ kinh. Trong thời này tông Tịnh độ được truyền bá rộng rãi – vì so với các môn phái khác, tông này xem ra »dễ« hơn.|Mục đích của phép niệm danh hiệu A-di-đà là tìm cách chế ngự tâm. Thường thường hành giả tự đặt cho mình một chỉ tiêu niệm bao nhiêu lần. Phép quán niệm này được xem là có thể giúp hành giả »thấy« được A-di-đà và hai vị Bồ Tát tả hữu là Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara) và Ðại Thế Chí (s: mahāsthāmaprāpta) và biết trước được giờ chết của mình. Phép niệm này có thể thực hiện bằng cách đọc to hay đọc thầm, không nhất thiết phải có tranh tượng A-di-đà. Ðó là cách tu thông thường nhất. Ngoài ra hành giả có thể thực hiện phép thứ 16 trong Vô lượng thọ kinh, bằng cách tạo linh ảnh của A-di-đà và thế giới Cực lạc, xem như hiển hiện trước mắt. Phép tu cao nhất của tông này là tự xem thể tính của mình chính là A-di-đà. Tất cả mọi hành giả của Tịnh độ tông đều mong muốn được thấy A-di-đà trong một linh ảnh, đó là bằng chứng chắc chắn nhất sẽ được tái sinh trong cõi Cực lạc. Niệm danh hiệu và tạo linh ảnh là điều kiện »bên ngoài«, lòng tin kiên cố nơi A-di-đà là điều kiện »bên trong« của phép tu này, với hai điều kiện đó thì hành giả mới được tái sinh nơi cõi Cực lạc.|Tịnh độ tông Nhật Bản vốn có nguồn gốc từ Tịnh độ tông Trung Quốc, được Viên Nhân (圓仁; j: ennin, 793-864) truyền sang Nhật song song với giáo lí của Thiên Thai và Mật tông mà sư đã hấp thụ trong thời gian du học tại Trung Quốc. Sư là người truyền bá phương pháp Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà. Những vị nổi danh của tông này trong thời gian đầu là Không Dã Thượng Nhân (空也上人; j: kūya shōnin, 903-972), cũng được gọi là Thị Thánh (市聖), »Thánh ở chợ« và Nguyên Tín (源信; j: genshin, 942-1017). Trong thời này, niệm Phật là một thành phần trong việc tu hành của tất cả các tông phái tại Nhật, đặc biệt là Thiên Thai và Chân ngôn tông.|Trong thế kỉ 12, Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen; 1133-1212) chính thức thành lập tông Tịnh độ. Sư muốn mở một con đường tu tập mới, »dễ đi« trong thời mạt pháp cho những người sống đau khổ. Sư rất thành công trong việc thuyết phục quần chúng và rất nhiều người quy tụ lại, thành lập một trường phái rất mạnh. Vì sư tự tôn giáo lí mình – cho rằng đó là giáo lí tột cùng – nên không thoát khỏi sự tranh chấp dèm pha. Sư bị đày ra một vùng hoang vắng năm 74 tuổi.|Giáo lí cơ sở của Pháp Nhiên dựa trên các bộ kinh Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), A-di-đà kinh (s: amitābha-sūtra) và Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna-sūtra). Cách tu hành của tông này chỉ là việc tụng câu »Nam-mô A-di-đà Phật« (j: namu amida butsu). Việc niệm danh Phật rất quan trọng để phát triển lòng tin nơi Phật A-di-đà, nếu không thì hành giả không thể nào thác sinh vào cõi của Ngài, mục đích chính của việc tu hành của tông này. Ngược với Tịnh độ chân tông, hành giả của tông này sống một cuộc đời tăng sĩ.|Không Dã Thượng Nhân là người đầu tiên tín ngưỡng đức A-di-đà và truyền bá công khai việc niệm Phật giữa chợ và vì vậy mang biệt hiệu là Thị Thánh. Sư nhảy múa ở ngoài đường và ca tụng danh hiệu A-di-đà theo nhịp gõ của bình bát trên tay.|Lương Nhẫn (良忍; ryōnin), một Cao tăng thuộc Thiên Thai tông đã nổi danh trong việc tín ngưỡng và tán tụng đức A-di-đà trong những bài hát. Sư chịu ảnh hưởng mạnh của hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm và trên cơ sở này, Sư phát triển một cách »Dung thông niệm Phật« (融通念佛): Nếu một người nào đó niệm Phật thì công đức này sẽ đến với tất cả những người khác và ngược lại, ai cũng có phần của mình trong việc tụng niệm danh Phật. Cách diễn giảng giáo lí của sư như trên thuyết phục được nhiều người trong vương triều và sau khi tịch, giáo lí này được các vị đệ tử kế thừa.|Nguyên Tín (源信; genshin), một Cao tăng trên núi Tỉ Duệ (比叡) – trung tâm của các trường phái tín ngưỡng A-di-đà – tin chắc rằng, có một con đường đưa tất cả chúng sinh đến giải thoát. Sư trình bày phương pháp tu tập của mình trong Vãng sinh yếu tập (往生要集), một quyển sách nói về niềm tin nơi đức A-di-đà. Trong sách này, Sư trình bày trong mười phẩm những hình phạt khủng khiếp dưới Ðịa ngục và ích lợi của cách tu hành niệm Phật. Sư tự tin là mình đã tìm biết được hai tính chất đặc thù của con người là: tâm trạng sợ hãi kinh khiếp địa ngục và lòng khao khát được tái sinh vào cõi Cực lạc. Quyển sách này là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất trong truyền thống tín ngưỡng Phật A-di-đà tại Nhật. Sư không những viết sách phổ biến giáo lí của mình mà còn sử dụng hội hoạ, nghệ thuật tạc tượng để truyền bá tông phong của mình đến những người ít học. Nhưng đến đây, việc tôn thờ A-di-đà Phật vẫn chưa là một trường phái độc lập, mà chỉ là một thành phần tu học của những tông phái tại đây.|Với Pháp Nhiên, Tịnh độ tông chính thức được hình thành. Sư quan niệm rằng, đa số con người không thể đi con đường khó, hoàn toàn tin vào tự lực trong thời mạt pháp và cơ hội duy nhất của họ là tin vào sự hỗ trợ của Phật A-di-đà, tin vào tha lực.
tịnh độ tông
Jodo-shin shŪ (J), Jodo-shŪ (J), Pure Land SchoolMột tông phái Phật giáo ở Nhật do Honen (1133-1212) sáng lập Tịnh độ tông được hệ thống hoá ở Trung quốc do các Ngài T'an-luan (Donran), Tao-ch'o (Doshaku) và Shan-Tao (Zendo), còn ở Nhật do các Ngài Honen (người thành lập tông Jodo) và Sinran (người thành lập tông Jodo-Shin) cùng với Ippen (người thành lập tông Ji).
; Pure Land sect, whose chief tenet is salvation by faith in Amitàbha.
; Sukhavati sect. (A) Tịnh Độ tông Trung Quốc—Chinese Pure Land Buddhism: (A) Nguồn gốc và lịch sử của Tịnh Độ Tông—The origin of the Pure Land Sect: 1) Tịnh Độ vốn dịch nghĩa từ chữ Phạn “Sukhavati” có nghĩa là Cực Lạc Quốc Độ—Pure Land is a translation of a sanskrit word “Shukavati” which means Land of Bliss. 2) Tông phái Tịnh Độ, lấy việc niệm Phật cầu vãng sanh làm trọng tâm. Ai là người tin tưởng và tinh chuyên niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà sẽ thác sanh vào nơi Tịnh Độ để thành Phật. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, tông phái nầy có tên Liên Hoa Tông, được ngài Huệ Viễn dưới triều đại nhà Tần (317-419) phổ truyền, và Ngài Phổ Hiền là sơ tổ. Sau đó, vào thế kỷ thứ 7, ngài Đàm Loan dưới thời nhà Đường chính thức thành lập Tịnh Độ Tông—The Pure Land sect, whose chief tenet is salvation by faith in Amitabha (Liên Hoa Tông in Japan—The Lotus sect). Those who believe in Amitabha Buddha and continuously recite his name will be born in the Pure Land to become a Buddha. In China and Japan, it is also called the Lotus sect, established by Hui-Yuan of the Chin dynasty (317-419), it claims P'u-Hsien (Samantabhadra) as founder. Later, Tan-Lan officially founded the Pure Land (Sukhavativyuha) in the seventh century A.D. under the reign of the T'ang dynasty. (B) Triết lý của Tịnh Độ tông—The philosophy of the Pure Land: 1) Tông phái nầy cho rằng thế giới Tây Phương là nơi ở của Đức Phật A Di Đà và đặt niềm tin vào “cứu độ nhờ đặt sự tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng từ bên ngoài.” Họ đặt nặng việc khấn nguyện hồng danh Đức Phật A Di Đà, xem đây là việc quan trọng của một tín đồ, nhằm tỏ lòng biết ơn đối với Đức Phật cứu độ—According to the doctrine of the Pure Land, the Western Heaven is the residence of the Amitabha Buddha. This sect bases its belief on the formula that salvation is to be attained “through absolute faith in another's power,” and lays emphasis on the recitation of the name of Amitabha Buddha, or Namo Amitabha Buddha, which is regarded as a meritorious act on the part of the believer. The recitation of the Buddha's name is looked upon as the expression of a grateful heart. 2) Các bản luận về Thập Địa Kinh của các ngài Long Thọ và Thế Thân là những tác phẩm Ấn Độ được Tịnh Độ Tông nhìn nhận vì con đường “dễ dàng” và “tha lực” đã được minh giải trong các bộ luận nầy. Ngài Long Thọ đã cả quyết rằng có hai phương tiện đạt đến Phật quả, một “khó” (ý nói các tông khác) và một “dễ” (ý nói Tịnh Độ tông). Một như là đi bộ còn một nữa là đáp thuyền. Tín ngưỡng Di Đà sẽ là tối thượng thừa trong các thừa để cho tất cả những ai cần đến—Nagarjuna's Dasabhumi Sutra and Vasubandhu's commentary on it are the Indian authorities recognized by the Pure Land School because the “easy way” and “power of another” are indicated and elucidated by them. Nagarjuna asserted that there were two ways for entering Buddhahood, one difficult (other sects) and one easy (the Pure Land sect). One was traveling on foot and the other was passage by boat. Amitabha-pietism will be the greatest of all vehicles to convey those who are in need of such means. 3) Ý tưởng được cứu độ được coi như là mới mẻ trong Phật giáo. Khi vua Milinda (một vị vua Hy Lạp trị vì tại Sagara vào khoảng năm 115 trước Tây Lịch) đã hỏi luận sư Na Tiên (Nagasena) rằng thật là vô lý khi một người ác lại được cứu độ nếu y tin tưởng nơi một vị Phật vào đêm hôm trước ngày y chết. Tỳ Kheo Na Tiên đáp rằng: “Một hòn đá, dầu nhỏ cách mấy, vẫn chìm trong nước; nhưng ngay cả một tảng đá nặng trăm cân, nếu đặt trên tàu, cũng sẽ nổi bồng bềnh trên mặt nước.”—The idea of being saved is generally considered new in Buddhism. But King Milinda (a Greek ruler in Sagara, about 115 B.C.) questioned a learned priest Nagasena, saying that it was unreasonable that a man of bad conduct could be saved if he believed in a Buddha on the eve of his death. Nagasena replied: “A stone, however small, will sink into the water, but even a stone weighing hundreds of tons if put on a ship will float.” 4) Trong lúc các tông phái khác của Đại thừa chuyên chú về tự giác, thì Tịnh Độ Tông lại dạy y chỉ nơi Phật lực. Đức Phật của những tông phái khác là Thích Ca Mâu Ni, trong lúc Đức Phật của Tịnh Độ tông là A Di Đà hay Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ. Quốc độ của Ngài ở Tây phương thường được gọi là Tây Phương Tịnh Độ—While all other schools of Mahayana insist on self-enlightenment, Pure Land Sects teach sole reliance on the Buddha's power. The Buddha of all other exoteric schools is Sakyamuni while the Buddha of the Pure Land Sects is Amita, or Infinite Light (Amitabha), or Infinite Life (Amitayus) whose Land is laid in the Western Quarter, often designated as the Western Pure Land. 5) Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ là một vị Phật đã được lý tưởng hóa từ Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Theo Giáo Sư Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, nếu Phật A Di Đà chỉ thuần là lý tưởng trên nguyên tắc, đơn giản đó là “Vô Lượng.” Vô Lượng như thế sẽ là một với Chân Như. Vô Lượng nếu miêu tả xét theo không gian, sẽ là Vô Lượng Quang; nếu xét theo thời gian là Vô Lượng Thọ. Đấy là Pháp Thân. Pháp thân nầy là Báo thân nếu Phật được coi như là Đức Phật 'giáng hạ thế gian.' Nếu ngài được coi như một vị Bồ Tát đang tiến lên Phật quả, thì Ngài là một vị Phật sẽ thành như tiền thân Đức Phật là Bồ Tát Cần Khổ. Chính Đức Thích Ca Mâu Ni đích thân mô tả hoạt động của Bồ tát Pháp Tạng như một tiền thân của Ngài. Thệ nguyện của vị Bồ Tát đó hay ngay cả của Đức Thích Ca Mâu Ni, được biểu lộ đầy đủ bằng 48 lời nguyện trong kinh—The Amitabha or Amitayus is a Buddha idealized from the historical Buddha Sakyamuni. According to Prof. Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, if the Buddha is purely idealized, he will be simply the Infinite in principle. The infinite will then be identical with Thusness. The Infinite, if depicted in reference to space, will be the Infinite Light; and if depicted in reference to time, will be the Infinite Life. This is Dharma-kaya or ideal. This dharma-kaya is the sambhoga-kaya or the Reward-body or body of enjoyment if the Buddha is viewed as a Buddha 'coming down to the world.' If he is viewed as a Bodhisattva going up to the Buddhahood, he is a would-be Buddha like the toiling Bodhisattva (Sakyamuni). It is Sakyamuni himself who describes in the Shukavati-vyuha the activities of the would-be Buddha, Dharmakara, as if it had been his former existence. The vow, original to the would-be Buddha or even to Sakyamuni Buddha himself, is fully expressed in forty-eight vows in the text. 6) Triết lý của Tịnh Độ tông căn cứ vào những lời nguyện quan trọng của Phật A Di Đà—The philosophy of the Pure Land is based on Amitabha's most important vows: a) Thệ nguyện của vị Bồ Tát đó hay ngay cả của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, được biểu lộ đầy đủ bằng 48 lời nguyện trong kinh. Nguyện thứ 12 và 13 nói về Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ rằng: “Nếu ta không chứng được Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ, ta sẽ không thành Phật.” Khi Ngài thành Phật, Ngài có thể tạo nên cõi Phật tùy ý. Một Đức Phật, lẽ dĩ nhiên là Ngài trụ tại “Niết Bàn Vô Trụ,” và do đó Ngài có thể ở bất cứ nơi nào và khắp ở mọi nơi. Nguyện của Ngài là lập nên một cõi Cực Lạc cho tất cả chúng sanh. Một quốc độ lý tưởng trang nghiêm bằng bảo vật, có cây quý, có ao quý để tiếp nhận những thiện tín thuần thành—Vows 12 and 13 refer to the Infinite Light and Infinite Life. “If he cannot get such aspects of Infinite Light and Life, he will not be a Buddha.”If he becomes a Buddha he can constitute a Buddha Land as he likes. A Buddha, of course, lives in the “Nirvana of No Abode,” and hence he can live anywhere and everywhere. His vow is to establish the Land of Bliss for the sake of all beings. An ideal land with adornments, ideal plants, ideal lakes or what not is all for receiving pious aspirants. b) Nguyện thứ 18 được xem là quan trọng nhất, hứa cho những ai y chỉ hoàn toàn nơi Phật lực với trọn tấm lòng thanh tịnh và chuyên niệm trì Phật hiệu, sẽ được thác sinh vào cõi Cực Lạc nầy—The eighteenth vow which is regarded as most important, promises a birth in his Land of Bliss to those who have a perfect reliance on the Buddha, believing with serene heart and repeating the Buddha's name. c) Nguyện thứ 19, nguyện tiếp dẫn trước giờ lâm chung những ai có nhiều công đức—The nineteenth vow promises a welcome by the Buddha himself on the eve of death to those who perform meritorious deeds. d) Nguyện thứ 20 nói rằng ai chuyên niệm danh hiệu Ngài với ý nguyện thác sanh vào nơi quốc độ của Ngài thì sẽ được như ý—The twentieth vow further indicates that anyone who repeats his name with the object of winning a birth in his Land will also be received. (C) Kinh điển chính của Tịnh Độ Tông—The Pure Land's main texts: Kinh A Di Đà hay Tiểu Bản Shukavati-vyuha là một bản toát yếu hay trích yếu của Đại Phẩm Shukavati-vyuha hay Đại Vô Lượng Thọ Kinh. Bộ chót trong số ba kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh cho chúng ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh Độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. A Xà Thế, thái tử thành Vương Xá, nổi loạn chống lại vua cha là vua Bình Sa Vương và hạ ngục nhà vua nầy. Hoàng hậu Vi Đề Hy cũng bị giam vào một nơi. Sau đó Hoàng hậu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xãy ra như vậy. Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho bà thấy tất cả các Phật độ. Bà đã chọn quốc độ của Đức Phật A Di Đà vì bà coi như là tối hảo. Đức Phật bèn dạy cho bà cách tụng niệm về quốc độ nầy để sau cùng được thác sanh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài và đồng thời Ngài cũng giảng giáo pháp của Đức Phật A Di Đà. Cả hai giáo pháp cuối cùng chỉ là một điều nầy ta có thể thấy rõ theo những lời Ngài đã dạy A Nan ở đoạn cuối của bài pháp: “Nầy A Nan Đà! Hãy ghi nhớ bài thuyết pháp nầy và lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo nầy, ta gọi đấy là Kinh A Di Đà.” Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng đối tượng của bài thuyết pháp nầy là sự tôn thờ Đức Phật A Di Đà. Như vậy, giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cuối cùng cũng không khác với của Đức Phật A Di Đà chút nào—The smaller text of Shukavati-vyuha is a resume or abridged text of the larger one. The last of the three texts, the Amitayus-dhyana Sutra, tells us the origin of the Pure Land doctrine taught by the Buddha Sakyamuni. Ajatasatru, the prince heir-apparent of Rajagriha, revolted against his father, King Bimbisara, and imprisoned him. His consort, Vaidehi, too was confined to a room. Thereupon the Queen asked the Buddha to show her a better place where no such calamities could be encountered. The World-Honoured One appeared before her and showed all the Buddha lands and she chose the Land of Amita as the best of all. The Buddha then taught her how to meditate upon it and finally to be admitted there. He instructed her by his own way of teaching and at the same time by the special teaching of Amita. That both teachings were one in the end could be seen from th words he spoke to Ananda at the conclusion of his sermons. “Oh Ananda! Remember this sermon and rehearse it to the assembly on the Vulture Peak. By this sermon, I mean the name of Amitabha.” From this we can infer that the object of the sermon was the adoration of Amita. Thus, we see that Sakyamuni's teaching was after all not different from that of Amitabha. (II) Tịnh Độ tông Nhật Bản—Japanese Pure Land Buddhism: (A) Tịnh Độ tông Jodo Nhật Bản được Genku sáng lập vào năm 1175. Ông nổi tiếng dưới tên Honen. Chủ thuyết của ông dựa một phần lớn trên chủ thuyết của Thiện Đạo (Shan-Tao), một trong các luận sư nổi tiếng của trường phái A Di Đà tại Trung Hoa. Về sau, tông Tịnh Độ Jodo-Shin do Shinran sáng lập, đã có những sự cải cách quan trọng so với tông Jodo. Tông Yuzunenbutsu do Ryonin (1072-1132) sáng lập và tông Ji do Ippen (1239-1289) sáng lập: The Jodo sect was founded in 1175 by Genku. He is better known as Honen. His doctrine was based largely upon that of Shan-Tao (613-681), one of the most famous teachers of the Amitabha school in China. Later, Shinran established the Jodo-Shin sect with several important reforms in the Jodo sect. The Yuzunenbutsu was founded by Ryonin (1072-1132) and the Ji sect by Ippen (1239-1289). (B) Triết lý Tịnh Độ tông Nhật Bản—The philosophy of the Pure Land Buddhism in Japan: a) Genku chọn bộ kinh Tịnh Độ (Sukhavativyuha-sutra), cả hai tiểu bản và đại bản, và kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayurdhyana-sutra) làm kinh sách giáo điển, thuyết giảng về những lợi ích của lòng tin vào Phật A Di Đà. Theo tín ngưỡng chủ thuyết của ông thì Phật A Di Đà từng mong muốn rằng mọi người sau khi chết sẽ được sanh vào cõi Tịnh Độ của ngài. Do đó, với lòng tin tưởng vào Phật A Di Đà, khi đến cuối đời, người ta có thể đến được vùng tịnh độ mà mình mong ước. Hệ tín ngưỡng nầy rất đơn giản và thích hợp với đại đa số quần chúng. Niệm Phật hay việc tụng niệm tên Đức Phật A Di Đà là việc làm tự nhiên của các tín đồ phái nầy, nhưng cần nhấn mạnh vào lòng tin hơn là vào việc tụng niệm. Dù sao thì cũng không được xem việc tụng niệm Phật là kém quan trọng. Thậm chí những người quá bận rộn công việc làm ăn, không thể đi sâu vào giáo lý đạo Phật cũng sẽ được tái sanh vào cõi của Phật A Di Đà nếu như họ có lòng tin chân thành khi niệm Phật. Các giáo lý của Honen được đông đảo quần chúng yêu thích và tông phái Jodo nhờ đó mà trở thành một trong những tông phái có ảnh hưởng mạnh nhất tại Nhật Bản: Genku selected the Sukhavativyuha-sutra, both the larger and the smaller editions, and the Amitayurdhyana-sutra as canonical texts, teaching the benefits of faith in the Amitabha Buddha. His principal belief was that the Amitabha who had willed that every one should, after death, be born in his paradise called Sukhavati. Hence it was by believing in Amitabha that one could, at the end of life, gain access to the pure land of one' desire. The system, being a simple one, is suited to the common people. Nenbutsu or the recitation of the name of Amitabha Buddha is a natural practice among the followers of this faith, but the emphasis is on the belief rather than on practical recitation. Nonetheless, Nenbutsu should not be considered to be of secondary importance. It is held that even those who are too preoccupied with their work to go deeply into the doctrines of Buddhism will be born in the heaven of Amitabha if they have implicit faith in his name. Honen's teachings found great favour among the masses and the Jodo thus became one of the most influential in Japan. b) Theo thuyết của Shinran, mọi chúng sanh đều được cứu vớt theo ý nguyện của Phật A Di Đà. Do đó, việc tụng niệm tên Phật, như mọi việc làm khác trong đời sống thường ngày, chỉ là sự bày tỏ lòng biết ơn mà thôi. Shinran đã đưa vào nhiều cải cách quan trọng trong việc tổ chức Giáo Hội, với mục đích xóa bỏ sự phân chia giữa người thế tục và Tăng lữ. Ông không thừa nhận bất cứ sự khác biệt nào giữa hai công việc nầy. Theo ông, tất cả mọi người đều có thể được tái sanh như nhau trong miền Tịnh Độ của Đức Phật, không có thầy và trò. Trước Phật thì tất cả đều là bạn bè anh em. Shinran cũng như nhiều người khác trong tông phái nầy, sống một cuộc sống bình thường giữa mọi người và không tự xem mình là thầy dạy, mà chỉ là một người đi theo con đường của Phật A Di Đà. Do quan điểm phóng khoáng của Shinren nên tông phái Jodo-Shin nhanh chóng được nhiều người theo, đặc biệt là các tá điền, nông dân. Sự tự do tôn giáo mà các tín đồ học được nơi ông đã thúc đẩy họ tìm kiếm sự tự do về xã hội và chính trị: According to Shinran, all living beings shall be saved on account of the vow taken by Amitabha Buddha. Hence, the recitation of the name of the Buddha, as also other practices in ordinary life, is but the expression of a grateful heart. Shinran introduced several important reforms in the organization of the temple, the object of which was to remove the division between the clergy and the laity. He did not recognize any difference between the two occupations. All human beings are equally capable of being reborn in the pure land of the Buddha. “There were to be no masters or disciples. All were to be friends and brothers before the Buddha.” Shinran, as others belonging to this sect, led an ordinary life among people and considered himself not a preceptor, but merely a follower of Amitabha's way. Because of Shinran's liberal outlook, the Jodo-Shin rapidly became popular among the people, especially among the farmers and the peasants. The religious freedom which his followers learned from him impelled them to seek political and social freedom. c) Chủ thuyết của Ryonin chịu ảnh hưởng của triết lý Hoa Nghiêm (Kegon): The doctrine of Ryonin was influenced by the Kegon philosophy. d) Chủ thuyết của Ippen thì chịu ảnh hưởng của Phật giáo Thiền tông: The doctrine of Ippen was influenced by Zen Buddhism.
; (淨土宗) Tông phái Phật giáo lấy việc vãng sinh Tịnh độ cực lạc làm mục đích, 1 trong 13 tông của Trung quốc, 1 trong 13 tông của Nhậtbản. Tịnh độ là chỉ cho cõi nước thanh tịnh, cõi nước trang nghiêm, tức là xứ sở được trang nghiêm bằng các công đức thanh tịnh. Tịnh độ tông cũng gọi là Liên tông, vì ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn kết Bạch liên xã(hội sen trắng)ở Lô sơn, lấy ý nghĩa người sinh về Tịnh độ phương Tây đều hóa sinh trong hoa sen, do đó, cõi nước Cực lạc cũng gọi là Liên bang(cõi nước hoa sen). Tông này đặc biệt lấy việc xưng niệm Phật làm pháp tu hành, chủ yếu nhờ vào tha lực của bản nguyện Di đà, cầu mong được sinh về Tịnh độ cực lạc phương Tây, vì thế nên còn được gọi là Niệm Phật tông.Tư tưởng Tịnh độ là y cứ vào 3 bộ kinh do đức Phật Thích ca giảng thuyết. Đó là kinh Vô lượng thọ do Phật giảng nói ở núi Kìxà quật; kinh Quán vô lượng thọ Phật nói ở thành Vương xá và kinh A di đà Phật nói ở vườn Kì thụ Cấp cô độc. Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 900 năm, ngài Thiên thân soạn luận Vãng sinh tịnh độ, rồi đến các vị Luận sư Mã minh, Long thụ trình bày ý nghĩa then chốt của 3 bộ kinh trên mà hoằng truyền tông Tịnh độ. Niên hiệu Vĩnh bình năm đầu (508) đời Bắc Ngụy, ngài Bồ đề lưu chi đến Trung quốc, dạy kinh Quán vô lượng thọ cho ngài Đàm loan, trao truyền đầy đủ kinh luận Tịnh độ, mở ra 1 thời đại mới cho sự tiến triển của pháp môn Tịnh độ ở Trung quốc. Về việc truyền dịch kinh điển Tịnh độ ở Trung quốc thì đầu tiên là các ngài Chi lâu ca sấm và Trúc phật sóc cùng dịch kinh Bát chu tam muội (năm 179), ngài Chi khiêm đời Tam quốc dịch kinh Đại A di đà 2 quyển, ngài Trúc pháp hộ đời Tây tấn dịch kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác 2 quyển. Ngoài ra còn có kinh Tuệ ấn tam muội và kinh Vô lượng môn vi mật trì do ngài Chi khiêm dịch; kinh Đức quang thái tử, kinh Quyết định tổng trì và A di đà Phật kệ... do ngài Trúc pháp hộ dịch. Năm Hoằng thủy thứ 3 (401) đời Diêu tần, ngài Cưu ma la thập dịch kinh A di đà, luận Thập trụ tì bà sa,... nói qua về sự trang nghiêm của Tịnh độ cực lạc, là các bộ kinh luận được đọc tụng thịnh hành nhất xưa nay. Về sau tiếp tục có ngài Đàm vô sấm đời Bắc Lương dịch kinh Bi hoa 10 quyển (năm 419), Ngài Bảo vân đời Lưu Tống dịch kinh Tân vô lượng thọ 2 quyển (năm 421), ngài Cương lương da xá đời Lưu Tống dịch kinh Quán vô lượng thọ 2 quyển (năm 424). Người đời sau gọi chung kinh Quán vô lượng thọ, kinh Vô lượng thọ và kinh A di đà là Tịnh độ tam bộ kinh. Đến đây, sự truyền dịch kinh điển Tịnh độ đã được hoàn bị. Pháp môn tịnh độ ở Trung quốc chủ yếu là Di lặc tịnh độ và Di đà tịnh độ. Về tín ngưỡng tịnh độ Di lặc thì đầu tiên là ngài Đạo an đời Tây Tấn, ngài có soạn luận Tịnh độ 6 quyển, nguyện sinh tịnh độ Di lặc ở cõi Đâu suất; các ngài Huyền trang và Khuy cơ đời Đường cũng hành trì và quy y tịnh độ Di lặc. Nhưng từ đó về sau, vì ít người tu và người hoằng dương cũng ít nên tịnh độ Di lặc dần dần suy vi, nhường chỗ cho sự hưng thịnh của tín ngưỡng Di đà và tịnh độ Di đà bèn trở thành đại biểu cho tịnh độ của chư Phật. Người hoằng dương tịnh độ Di đà mạnh nhất là ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn, ngài kết Bạch liên xã ở Lô sơn, cùng với mọi người chuyên tu tam muội Niệm Phật, theo yếu chỉ kinh Bát chu tam muội để mong được vãng sinh thấy Phật. Đây là tổ chức kết đoàn niệm Phật đầu tiên ở Trung quốc và cũng là dòng chính của Tịnh độ Trung quốc. Thời Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, ngài Bồ đề lưu chi dịch Vô lượng thọ kinhưu ba đề xá nguyện sinh kệ của ngài Thế thân, ngài Đàm loan chú giải, soạn thuật Vãng sinh luận chú, lại y cứ vào luận Thập trụ tì bà sa của ngài Long thụ mà nêu rõ sự khác nhau giữa Nan hành đạo(đạo khó thực hành) và Dị hành đạo(đạo dễ thực hành), giữa Tự lực và Tha lực, cho rằng nương nhờ vào bản nguyện tha lực là đạo phương tiện dễ thực hành trong cõi đời có 5 thứ nhơ nhớp, xấu ác, bắt đầu mở ra nghĩa căn bản của việc lập giáo Tịnh độ, đồng thời chuyên chú trọng việc trì danh niệm Phật để cầu sinh Tịnh độ. Đến đời Đường, các ngài Đạo xước, Thiện đạo,... noi theo giáo chỉ của ngài Đàm loan hết sức đề cao năng lực bản nguyện, lại chủ xướng tư tưởng mạt pháp để vạch ra con đường then chốt thích ứng với thời giáo. Ngài Đạo xước soạn An lạc tập, bác bỏ kiến giải sai lầm của những người khác, mở ra con đường trọng yếu cho chúng sinh trong thời mạt pháp, đồng thời căn cứ vào thuyết Dị hành đạo và Nan hành đạo của ngài Đàm loan mà lập giáo phán Tịnh độ môn và Thánh đạo môn. Ngài Thiện đạo soạn Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ, nêu rõ các kiến giải sai lầm xưa nay, xác định giáo nghĩa và giáo tướng Tịnh độ; đồng thời, theo các ngài Đàm loan, Đạo xước mà lập Chính hạnh, Tạp hạnh để đặt vững nền tảng cho hệ thống giáo nghĩa độc lập của Tịnh độ. Về sau, ngài Hoài cảm soạn luận Thích tịnh độ quần nghi; ngài Thiếu khang mở rộng tông này. Từ ngài Đàm loan đến ngài Thiếu Khang được gọi là Chấn đán ngũ tổ(5 vị Tổ sư Tịnh độ Trung quốc). Thời bấy giờ, các vị Đại sư ở Trường an mỗi vị cũng có soạn chú sớ các kinh A di đà, Quán vô lượng thọ,... sự nghiên cứu kinh điển Tịnh độ đã đạt đến điểm cao. Vào đầu năm Khai nguyên đời Đường, ngài Tuệ nhật từ Ấn độ trở về Trung quốc, thấy các Thiền gia đương thời coi Tịnh độ là Thuyết phương tiện để dẫn dắt người ngu nên đã cực lực phản đối và đề xướng sự cần thiết phải niệm Phật cầu vãng sinh. Ngài Tuệ nhật chủ trương trì giới và niệm Phật cùng thực hành, Thiền định và Tịnh độ đều tu, Giáo và Thiền hợp nhất, hồi hướng tất cả công đức tu hành nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ. Các ngài Thừa viễn, Pháp chiếu, Phi tích,... kế thừa thuyết này, lấy tam muội niệm Phật làm pháp môn thiền định sâu xa mầu nhiệm không gì hơn, cực lực bài xích sự tọa thiền để lòng trống rỗng của thiền tăng. Do đó, tông Tịnh độ Trung quốc ở đời Đường có thể chia làm 3 hệ thống, đó là hệ thống ngài Tuệ viễn(phái Luận lí, có tính thường thức), hệ thống ngài Thiện đạo (phái Phật nguyện, đặt nặng tín ngưỡng) và hệ thống ngài Từ mẫn Tuệ nhật(phái Diệu hữu, không bỏ muôn hạnh). Bấy giờ, Thiền tăng có những vị chủ trương gần giống với phái ngài Tuệ nhật, như ngài Tuyên thập học trò Ngũ tổ đề xướng phái Nam sơn niệm Phật môn thiền tông, ngài Nam dương Tuệ trung đệ tử Lục tổ đề xướng Giải hành kiêm tu(hiểu vàlàmcùng tu). Đến ngài Vĩnh minh Diên thọ là cháu đích tôn ngài Pháp nhãn đời Hậu Chu lại tận lực hoằng dương Thiền tịnh song tu, tăng tục đời Tống đều kế thừa di phong này của ngài Diên thọ. Tông Thiên thai cũng có nhiều vị kính tin Tịnh độ và hiểu nghĩa Tịnh độ, trong đó, ngài Tứ minh Tri lễ đời Tống là nổi tiếng nhất với bộ Quán kinh sớ diệu tông sao do ngài soạn, thuyết Ước tâm quán Phật của ngài chính là Thai Tịnh dung hợp luận vốn được các nhà Thiên thai xem trọng. Từ đời Nguyên về sau, phong cách Thiền tịnh song tu lại càng thịnh hành hơn, các ngài Trung phong Minh bản, Thiên như Duy tắc,... đều qui tâm Tịnh độ. Đến đời Minh, các vị như Sở sơn Thiệu kì, Không cốc Cảnh long, Nhất nguyên Tông bản, Vân thê Châu hoành, Hoành sơn Đức thanh, Cổ sơn Nguyên hiền,... nối tiếp nhau đề xướng thuyết Thiền Tịnh hợp hành. Nhất là ngài Vân thê Châu hoành chuyên tu tam muội niệm Phật, chú giải kinh A di đà, soạn các sách hoằng dương ý chỉ Thiền Tịnh nhất trí, cảm hóa được giới Phật giáo nói chung rất rộng rãi. Các nhà Thiên thai cũng có những vị như Cừ am Đại hựu, U khê Truyền đăng, Linh phong Trí húc đề xướng luận thuyết Tam học nhất nguyên, chủ trương tam học Thiền, Giáo, Luật đều qui về pháp môn Tịnh độ. Bấy giờ, các vị cư sĩ như Trang quảng hoàn, Viên hoành đạo... cũng đều soạn sách để hoằng truyền Tịnh độ. Đến đời Thanh, tín ngưỡng Tịnh độ phần nhiều do các cư sĩ đề xướng, Bành thiệu thăng, cha con Hi tốc, biên soạn Vãng sinh truyện và Chỉ tán tây phương. Khoảng các năm Khang hi, Càn long, ngài Thực hiền Tư tề, kế thừa di phong của ngài Châu hoành, kết Liên xã ở Hàng châu, giáo hóa rất rộng, tôn các ngài Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo là 3 vị Tổ sư Tịnh độ đầu tiên, được mọi người kính ngưỡng. Vào đầu đời Dân quốc, trừ cư sĩ Dương nhân sơn tận lực đề xướng, ngài Ấn quang còn chủ trương pháp môn Tịnh độ là bản hoài xuất thế của đức Phật, ra sức làm các việc cứu giúp xã hội, tăng tục các nơi lần lượt làm sống lại phong trào kết xã niệm Phật. Tại Nhật bản, ngài Nguyên không (1133-1212) có soạn bộ Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, trong sách này ngài đã dự định tuyên ngôn khai tông. Đặc biệt tôn sùng Tam kinh nhất luận (ba bộ kinh Tịnh độ và luận Tịnh độ)và giáo thuyết của ngài Thiện đạo thuộc Tịnh độ giáo Trung quốc, cho nên đề cao luận thuyết Thiên y Thiện đạo(nương riêng vào ngài Thiện đạo).Trong 3 cặp đối lập: Nan hành và Dị hành, Thánh đạo và Tịnh độ, Tự lực và Tha lực thì chỉ chọn lấy Dị hành, Tịnh độ và Tha lực niệm Phật. Năm thừa An thứ 5 (1175), ngài Nguyên không từ núi Tỉ duệ dời đến ở Cát thủy, đề cao chuyên tu niệm Phật, chủ trương hạnh tu an tâm (lòng tin), sau đó khởi hành (trong 5 chính hạnh lấy hạnh niệm Phật làm chủ yếu)rồi đến tác nghiệp(tứ tu), đồng thời nhấn mạnh tính chất quan trọng của việc xưng niệm danh hiệu Phật. Tông phái này tuy phủ định công đức của giới luật và việc xây chùa tháp, nhưng nói chung vẫn xem trọng giới hạnh. Sau khi ngài Nguyênkhông thị tịch, đệ tử chia làm 5 phái: 1. Phái Trấn tây của ngài Biệna: Chủ trương nghĩa Chư hạnh vãng sinh. 2. Phái Tây sơn của ngài Chứng không: Chủ trương nghĩa các hạnh bản nguyện. 3. Phái chùa Trườnglạc của ngài Long khoan: Chủ trương nghĩa vãng sinh hóa sinh.4. Phái chùa Cửu phẩm của ngài Trườngtây:Chủ trương nghĩa các hạnh bản nguyện. 5. Nghĩa nhất niệm của ngài Hạnh tây:Chủ trương nghĩa Nhất niệm nghiệp thành. Tông Tịnh độ lấy 3 kinh 1 luận (kinh A di đà, kinh Vô lượng thọ, kinh Quán vô lượng thọ và luận Vãng sinh) làm điển cứ trọng yếu để thành lập tông. Về chú thích 3 kinh 1 luận thì có Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa (giải thích sơ lược kinh Vô lượng thọ), Vãng sinh luận chú(chú thích luận vãng sinh) do ngài Đàm loan soạn, An lạc tập(căn cứ theo kinh Quán vô lượng thọ trình bày nghĩa cốt yếu của việc vãng sinh Tịnh độ)do ngài Đạo xước soạn, Quán vô lượng thọ kinh sớ(phát huy nghĩa sâu kín của Quán kinh và giải thích câu văn trong kinh này), do ngài Thiện đạo soạn. Ngoài ra, Pháp sự tán, Vãng sinh lễ tán, Quán niệm pháp môn bát chu tán cũng do ngài Thiệnđạo soạn, qui định hành nghi vãng sinh Tịnh độ, đều là căn cứ vào yếu điểm của tông này và cũng nổi tiếng một thời.Tông nghĩa của tông này là lấy hành nghiệp trong tâm hành giả (người tu Tịnh độ) làm nhân bên trong, lấy nguyện lực của Phật Di đà làm duyên bên ngoài, nếu nhân trong, duyên ngoài ứng hợp nhau thì sinh về cõi nước an lạc. (xt. Niệm Phật, Đâu Suất Vãng Sinh, Tịnh Độ).
tịnh độ tông toàn thư
(淨土宗全書) Tác phẩm, 20 tập, do hội ấn hành tông điển Tịnh độ tông Nhậtbản biên tập. Đây là bộ tùng thư thu tập các sách vở của Ấn độ hoặc của Trung quốc có liên quan đến giáo nghĩa tông Tịnh độ và các sách sớ thích Tịnh độ do các sư Nhật Bản soạn. Sách này bắt đầu được ấn hành từ năm Minh trị 40 (1907) đến năm Đại chính thứ 3 (1914) mới hoàn thành. Nội dung sách này chia làm 10 loại: Sở y kinh luận, Chấn đán tổ thích, Chấn đán chư sư, Tuyển trạch lập tông, Tông nghĩa hiển chương, Yếu nghĩa giải thích, Tiên đức thuật tác, Viên giới chương sớ, Truyện kí hệ phổ và Tự chí tông sử.
Tịnh độ tông 淨土宗
[ja] ジョウトシュウ Jōdo shū ||| The Jingtu zong, or Pure Land school of East Asian Buddhism, whose chief tenet is salvation by faith in Amitābha 阿彌陀 Buddha. The Pure Land school, which taught relatively simple methods of recitation of the Buddha's name (念佛) for the purpose of attaining rebirth in the Western Heaven (Pure Land), became the most popular form of Buddhism among the common people and lay practitioners in East Asia. One of the most important early figures in the history of the Pure Land school was Huiyuan 慧遠 who is usually associated with the founding of a Pure Land society in 402. The next important figure in the movement was Tanluan 曇鸞 (476-542) from near Wutai shan, who is credited to be the first to actively propagate Pure Land doctrines to society. The leaders considered most fully responsible for the spread of the school in China were Daojo 道綽 and his disciple Shandao 善導 (613-681). Shandao's principal work was the 観無量壽佛經疏, where he wrote that the five main activities that could lead to rebirth in the Pure Land were (a) uttering the name of the Buddha (b) chanting the sutras, (c) meditating on the Buddha, (d) worshipping images of the Buddha and (e) singing praises of the Buddha. Later on, the primary practices would become the recitation of the Buddha's name and the chanting of the Pure Land Sutra. (2) The Pure Land teaching was transmitted to Korea as Ch'ŏngto chong during the 5-7th centuries. Korea's most important Buddhist scholar, Wŏnhyo 元曉, would late in his career give up his writing and take to the streets spreading the Pure Land teaching among the common people. Although Pure Land would never really become established in Korea as a distinct sect, its teachings remained popular with the common people throughout the history of Buddhism in Korea. (3) The Pure Land sect in Japan (Jōdo shū)was founded by Hōnen 法然 in 1175, when he was converted to Pure Land Buddhism upon reading Shandao's Sanzen-gi. Before this time Pure Land teachings had been present in Japan, but it had not existed as a distinct sect. Hōnen's Senjaku hongan nenbutsu shū 選擇本願念佛集 (T 2608) became the fundamental text of the Japanese Jōdo sect. In it he teaches that anyone who believes in Amitābha's original vow and recites his name, will be reborn in the Pure Land. Hōnen chose as the main scriptures of the school: the Wuliangshou jing 無量壽經, the GuanWuliangshou jing 觀無量壽經, the Amituo jing 阿彌陀經 and the Ching-t'u lun 淨土論. => (c: Jingtu zong;e: Pure Land school) 1. Giáo lý chủ yếu là sự cứu độ qua niềm tin vào Đức Phật A-di-đà. Tịnh độ tông, chủ trương phương pháp niệm Phật đơn giản với mục đích được vãng sinh ở cõi Tịnh độ ở Tây phương, đã trở thành một hình thức thông dụng của đạo Phật cho người bình dân và hàng cư sĩ ở các nước Á đông. Một trong những nhân vật quan trọng trước đây trong lịch sử Tịnh độ tông là Huệ Viễn (c: Huiyuan 慧遠), thường được liên hệ đến việc thành lập Tịnh độ tông (Liên xã) năm 402. Nhân vật chủ yếu kế tiếp là Đàm Loan (c: Tanluan 曇鸞; 476-542) ở gần Ngũ Đài sơn (c: Wutai shan), là người có công lớn nhất trong việc truyền bá giáo lý Tịnh độ tông. Bậc thượng thủ được xem là có trách nhiệm nhất trong việc truyền bá Tịnh độ tông ở Trung Hoa là Đạo Xước (c: Daojo 道綽) và đệ tử của ngài là Thiện Đạo (c: Shandao 善導 ; 613-681). Tác phẩm chính của Thiện Đạo là Quán Vô lượng thọ kinh sớ, trong đó sư trình bày năm công hạnh chính có thể đưa đến vãng sinh Tịnh độ là: Niệm danh hiệu Phật. Tụng kinh. Quán tưởng tượng Phật. Tôn kính thờ phụng tượng Phật. Xưng tán Đức Phật. Về sau, công phu chủ yếu chỉ gồm niệm danh hiệu Phật và tụng các kinh Tịnh độ. 2. Tịnh độ tông được truyền sang Cao Ly gọi là Ch'ŏngto chong vào thế kỷ thứ 5-7. Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉), tăng sĩ học giả quan trọng nhất của Cao Ly, đến cuối đời mình, sư viết người tác phẩm và dùng đường phố để truyền bá Tịnh độ tông cho giới bình dân. Mặc dù Tịnh độ tông chưa bao giờ được chính thức xem như một tông phái Phật giáo riêng biệt ở Cao Ly, nhưng giáo lý của tông nầy vẫn thông dụng khắp giới bình dâẳphát triển quá trình lịch sử Phật giáo Cao Ly. 3. Tịnh độ tông ở Nhật Bản (Jōdo shū) do ngài Pháp Nhiên (j: Hōnen 法然) sáng lập năm 1175, Sư chuyển sang Tịnh độ tông Phật giáo khi đọc tác phẩm Quán Vô lượng thọ kinh sớ (j: Sanzen-gi) của Thiện Đạo (Shandao). Trước đó, giáo lý Tịnh độ tông đã có ở Nhật Bản, nhưng không được xem là một tông phái độc lập. Tác phẩm Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập (j: Senjaku hongan nenbutsu shū 選擇本願念佛集) của ngài Pháp Nhiên trở thành kinh văn căn bản của Tịnh độ tông Nhật Bản. Trong tác phẩm nầy, sư dạy rằng ai có niềm tin vào bản nguyện của Đức Phật A-di-đà và niệm danh hiệu ngài thì sẽ vãng sinh về cõi Tịnh độ. Sư chọn ba kinh văn chính cho Tịnh độ tông là: Vô lượng thọ kinh, Quán vô lượng thọ kinh, A-di-đà kinh và Tịnh độ luận (c: Ching-t'u lun 淨土論).
tịnh độ tùng thư
(淨土叢書) Tùng thư, 20 tập, do ngài Đạo an và các cư sĩ Maodịchviên, Trầntửbình biên soạn vào năm Dân quốc 61 (1972) và do nhà in kinh Đàiloan phát hành. Nội dung tùng thư này thu chép 300 loại sách vở liên quan đến Tịnh độ, chia thành 8 bộ: Kinh luận, Chú sớ, Tinh yếu, Trứ thuật, Soạn tập, Thi kệ, Hành nghi và Sử truyện, được xếp theo từng loại căn cứ vào thứ tự năm tháng,triều đại soạn dịch.
tịnh độ vu lan bồn kinh
(淨土盂蘭盆經) Cũng gọi Đại bồntịnh độ kinh, Đại bồn kinh. Kinh, 1 quyển. Nội dung kinh này nói về sự tích ngài Mụcliên cứu mẹ, dõi tìm nhân duyên về quá khứ, còn có thêm sự tích quốc vương dâng bồn(chậu)vàng cúng dường Phật, tăng để cứu cha mẹ 7 đời. Kinh này ở đầu đời Đường bị nghi là kinh giả, y cứ vào kinh Vu lan bồn làm bản gốc mà được biên soạn thành. Soạn giả Khai nguyên thích giáo lục là ngài Trí thăng nói rằng kinh này không thấy được chép trong các bộ kinh lục mới cũng như cũ. Bản hoàn chỉnh của kinh này được tìm thấy trong văn hiến Đôn hoàng là bản của Pelliot mang số hiệu thứ 2185. Kinh này không thấy được thu trong Đại chính tạng.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.18; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.28].
tịnh độ vãng sinh truyện
(淨土往生傳) I. Tịnh Độ Vãng SinhTruyện. Cũng gọi Vãng sinh Tịnh độ truyện, Giớichâu truyện. Truyện kí, 3 quyển, do ngài Giới châu (985-1077) soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này do lựa chọn, biên chép sự tích những người vãng sinh Tịnh độ trong các truyện Cao tăng của các đời Lương, Đường và Tống mà thành, thu tập tất cả 75 vị từ ngài Tănghiển đời Tây Tấn đến ngài Ngộân đời Bắc Tống. Cứ theo lời tựa của chính tác giả ở đầu quyển thì tác giả đã y cứ vào các bộ truyện kí do 12 nhà như ngài Tuệkiểu đời Lương, ngài Đạo tuyên đời Đường,...… soạn và Tống cao tăng truyện do ngài Tánninh soạn vào đời Tống mà chọn ra 75 vị từ ngài Tăng hiển trở xuống mà biên thành sách này. Nhưng 62 vị khác như ngài Tuệminh,…... vì không có sự tích đến đón rước lúc lâm chung nên không thu chép. II. Tịnh Độ Vãng SinhTruyện. Gọi tắt: Vãng sinh truyện. Từ ngữ gọi chung loại sách thu chép truyện kí của những người tín ngưỡng Phật A di đà được sinh về Tịnh độ phương Tây. Điều Hiện đắc vãng sinh nhân tướng mạo trong luận Tịnh độ quyển hạ của ngài Ca tài đời Đường có câu (Đại 47, 97 thượng): Tăng, tục được vãng sinh Tịnh độ lược có 20 vị và phần Di đà bộ cảm ứng duyên thuộc thiên Kính Phật trong Pháp uyển châu lâm quyển 15 do ngài Đạo thế soạn vào niên hiệu Tổng chương năm đầu (668) đời Đường có liệt kê 10 vị tăng ni và cư sĩ vãng sinh Tịnh độ, đây có thể được xem là những Vãng sinh truyện đầu tiên. Còn những bản ấn hành thành tập riêng để lưu thông thì do 2 ngài Vănthẩm và Thiếukhang biên tập vào khoảng năm Trinhnguyên (785-804) đời Đường. Về sau, đến đờiHậu Đường thì bộ Vãng sinh tây phươngtịnh độ thụy ứng san bổ truyện 1 quyển của ngài Đạotân là loại Vãng sinh truyện sớm nhất. Ở đương thời,Vãng sinh truyện khác vớicao tăng truyện nói chung, vì Vãng sinh truyện đồng thời có thể bao hàm truyện kí của tăng ni và nam nữ tại gia; Vãng sinh truyện cũng khác với truyệncảm ứng trong Minh tường kí, hoặc loại Thần dị truyện,…... vì Vãng sinh truyện chỉ nói một cách có giới hạn về những vị được vãng sinh Tịnh độ mà thôi. Nhưng Cao tăng truyện và loại Cảm ứng thần dị truyện là những tư liệu chủ yếu của Vãng sinh truyện. Vãng sinh truyện của Trung quốc gồm có: Vãng sinhtây phươngtịnh độ thụy ứng san truyện, Tịnh độ vãng sinh truyện, Tân tutịnh độ vãng sinh truyện, Vãng sinh tập, Tịnh độ thánh hiền lục, Tịnh độ thánh hiền lục tục biên, Tâyphưởng vậng chinh, Tu tây văn kiến lục. Về Vãng sinh truyện của Nhậtbản cũng có thể liệt kê: Nhậtbản vãng sinh cực lạc kí, Tục bản triều vãng sinh truyện, Thập di vãng sinh truyện…... Ngoài ra, loại sách như Tịnh độ lập giáo chí trong Phật tổ thống kỉ quyển 26 đến quyển 28 cũng tức là1loại Vãng sinh truyện. Còn có nhiều loại sáchVãng sinh đã thất lạc như: Vãng sinh tây phương 1 quyển của ngài Tuânthức đời Tống, Vãng sinhtịnh độ lược truyện 1 quyển của ngài Thanhnguyệt đời Tống, Tịnh độ vãng sinh truyện 12 quyển của ngài Nam hải đời Tống, Tùy thuận vãng sinh tập 20 quyển của ngài Phitrược đời Liêu. [X. Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. hạ; Vãng sinh truyện thành lập khảo (Tiểu lạp nguyên tuyên tú, Long cốc sử đàn thập lục)]. (xt. VãngSinhTruyện).
tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục
(淨土依憑經論章疏目錄) Cũng gọi Trường tây lục. Mục lục, 1 quyển, hoặc 2 quyển, do ngài Trườngtây thuộc tông Tịnh độ Nhật bản biên soạn. Sách này là mục lục các kinh luận chương sớ có liên quan đến Tịnh độ giáo.Nội dung chia làm 10 khoa: Quần kinh, Chư luận,Thính giác, Tập nghĩa, Biệt xuất, Tu hành, Tán tụng, Truyện kí, Tạp thuật và Ngụy vọng. Sách này không những là mục lục thư tịch của Tịnh độ giáo sớm nhất mà còn liệt kê nhiều sách đã bị thất lạc từ xưa như: A di đà kinh thuật tán của ngài Khuy cơ đời Đường, Xưng tán tịnh độ kinh sớ của ngài Tĩnh mại đời Đường,…... [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q. hạ].
tịnh độ đạo
Pure Land Path.
Tịnh độ 淨土
[ja] ジョウト jōdo ||| sukhāvatī "pure land." (1) A pure, paradisiacal place, which is inhabited by buddhas and/or bodhisattvas who have thoroughly destroyed their afflictions. (2) More specifically refers to a heaven in the Western Land, such as that described in the Wuliangshou jing 無量壽經 where practitioners who demonstrate faith in Amitābha 阿彌陀 Buddha may be reborn. => (s: sukhāvatī; e: pure land) 1. Cõi Cực lạc, cõi Tịnh độ, nơi chư cư trú Phật và Bồ-tát đã hoàn toàn chuyển hoá sạch mọi phiền não. 2. Thường đề cập một cách cụ thể hơn về cảnh giới Tây phương, như được mô tả trong kinh Vô Lượng Thọ (c: Wuliangshou jing 無量壽經 ), hành giả biểu hiện niềm tin về Đức Phật A-di-đà sẽ được vãng sinh về đó.
Tịnh đức
淨德; C: jìngdé; J: jōtoku;|Đức hạnh thanh tịnh. Một trong Tứ đức (四德)
tịnh đức phu nhân
Vimaladatta (S)Tiền thân của Quang chiếu trang nghiêm tướng Bồ tát trong hội Pháp hoa, vợ vua Diệu Trang Nghiêm.
tịnh đức tam muội
Vimaladatta-samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muộiXem Tịnh Đức phu nhân.
Tịnh đức 淨德
[ja] ジョウトク jōtoku ||| The virtue of purity. One of the four virtues 四德. 〔華嚴經 T 278.9.670a3〕 => Đức hạnh thanh tịnh.
Tịnh Ảnh Tự
(淨影寺, Jōei-ji): hiện tọa lạc tại Tây An (西安), Thiểm Tây (陝西), do Tùy Văn Đế (隨文帝) sáng lập. Sau khi nhà Tùy thống nhất thiên hạ, triều đình rất tín sùng Phật Giáo. Lúc bấy giờ Huệ Viễn (慧遠) là trung tâm, thống lãnh hơn 200 vị tăng hoằng dương Phật pháp ở Đại Hưng Thiện Tự (大興善寺), Trường An (長安). Do vì chùa này nhỏ hẹp, không thể chứa số lượng người đông như vậy, cho nên người ta kiến lập Tịnh Ảnh Tự vào năm 587. Huệ Viễn đã từng thuyết giảng Niết Bàn Kinh (涅槃經), Thập Địa Luận (十地論), v.v., giáo hóa rất hưng thịnh, lại vâng sắc chỉ phiên dịch kinh điển, san định từ nghĩa và cuối cùng thị tịch tại đây. Để phân biệt với Huệ Viễn ở Lô Sơn (廬山), đời sau thường gọi ông là Tịnh Ảnh Tự Huệ Viễn. Từ đó về sau, chùa này trở thành nơi trú xứ của những học tăng hệ giáo học Niết Bàn thuộc môn hạ của Huệ Viễn. Dưới thời nhà Đường, khi Bất Không (不空) từ bên Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka) sang Trung Hoa, ông đã từng tham gia công tác dịch kinh tại đây.
tịnh ảnh tự
(淨影寺) Chùa ở Tây an, Thiểmtây, do vua Văn đế nhà Tùy sáng lập. Sau khi thống nhất Trung quốc, nhà Tùy đặc biệt tôn sùng Phật giáo. Bấy giờ, ngài Tuệ viễn (523-592) hướng dẫn hơn 200 vị tăng hoằng dương Phật pháp ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an. Vì chùa Đại hưng thiện nhỏ hẹp, nên phải xây thêm chùa Tịnh ảnh (587). Ngài Tuệ viễn từng ở chùa này giảng kinh Niết bàn, luận Thập địa... việc giáo hóa rất hưng thịnh. Sư cũng vâng sắc phiên dịch và san định từ nghĩa của các bản dịch, rồi thị tịch ở chùa này. Để phân biệt với ngài Tuệ viễn ở Lô sơn, nên người đời sau gọi sư là Tịnh ảnh tự Tuệ viễn(Tuệ viễn chùa Tịnh ảnh). Về sau, chùa này trở thành nơi cư trú của các vị học tăng, đệ tử ngài Tuệ viễn, thuộc hệ thống giáo học Niết bàn. Vào đời Đường, ngài Bất không từ Tích lan đến Trung quốc lần thứ 2, từng ở chùa này chuyên việc dịch kinh. Hiện nay, chùa đã hoang phế.
tịnh ấn pháp môn kinh
(淨印法門經) Cũng gọi Hải ý bồ tát sở vấn tịnh ấn phápmôn kinh, Hải ý bồ tát pháp môn kinh. Kinh, 18 quyển, do ngài Duy tịnh dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 13. Đây là bản dịch khác của phẩm thứ 5 (phẩm Đại tuệ bồ tát) trong kinh Đại phương đẳng đại tập. Nội dung kinh này chỉ rõ nghĩa căn bản của Đại thừa, cho rằng nếu Bồ tát trụ trong Tịnh ấn tam ma địa thì sẽ mau chứng Bồ đề, đồng thời nói về phương pháp để đạt được Tịnh ấn tam ma địa này và về những pháp mà Bồ tát nên tu trì.
tịnh ốc
(淨屋) Chỉ cho căn nhà thanh tịnh tỉ khưu được phép ở mà không có tội. Thí chủ cókhả năng làm cho nhà ở trở thànhtịnh ốc thì gọi là Tịnh chủ. Cứ theo luật Thiện kiến quyển 17 thì khi xây cất Tịnh ốc, trước phải đào lỗ chôn cột, đặt cây cột gần cái lỗ đã đào, các tỉ khưu đứng xung quanh nâng cây cột và nói 3 lần Xây cất tịnh ốc cho chúng tăng ở, nói xong thì cây cột cũng đã được dựng thẳng, cứ làm như thế cho đến cây cột thứ 4. Khi ngôi nhà đã được làm xong, nếu muốn nó trở thành tịnh ốc thì phải gọi chủ nhà đến và bảo họ nói Tịnh ốc này bố thí cho chúng tăng, tùy ý thụ dụng, lúc đó ngôi nhà mới trở thành tịnh ốc. Trong trường hợp nhà không có thí chủ thì mời các vị lão túc trong làng xóm làm lễ tác tịnh. Khi ngôi nhà đã trở thành tịnh ốc thì các tỉ khưu được tùy ý sử dụng, có thể cất giữ thức ăn uống và nấu nướng trong nhà mà không phạm tội.
Tịnh 淨
[ja] ジョウ jō ||| (śuddhi, śuddha, viśuddhi, pariśuddha). (1) Clear, clean, pure. (2) Without taint or defilement. (3) Not arising deluded thought. (4) The Pure Land 淨土. (5) The practice that leads to rebirth in the Pure Land. (6) A translation for the Sanskrit and Pali brahman. => (s: śuddhi, śuddha, viśuddhi, pariśuddha). 1. Trong sạch, sạch sẽ, thanh khiết. 2. Không nhiễm ô hoặc phiền não. 3. Không còn sinh khởi vọng tưởng. 4. Cõi Tịnh độ. 5. Pháp tu tập đưa đến vãng sinh Tịnh độ 6. Dịch nghĩa chữ Brahman từ tiếng Sanskrit và Pali.
tọa
Nisad, nisanna (S). Sit, rest, situated.
; Nisad or nisanna (skt). 1) Chủ tọa: To preside—To take the chair. 2) Nghỉ ngơi: To rest. 3) Ngồi: To sit—A seat. 4) Tòa: Throne. 5) Tọa lạc: To situate.
tọa (tòa)
Asana (S). A seat; throne; classifier of buiding etc.
tọa chủ
A chairman, president; the head of the monks; an abbot. Also Tọa thượng, tọa thủ, tọa nguyên.
; Còn gọi là Thủ Tọa, Thượng Tọa, hay Tọa Nguyên, là vị chủ một nhóm cử tọa đại chúng hay vị Thượng Tọa trụ trì tự viện—Master of a temple, a chairman, president, the head of the monks, an abbot.
tọa chủ nô
Vị trụ trì chỉ hiểu biết giáo điển mà không có thực hành nên không được sự kính trọng của Tăng chúng—Archpriest—A master of a temple who understands Buddhism only intellectually, without practicing; thus lacks of respect from the Sangha.
tọa chứng
Dhyàna contemplation.
; Một từ khác cho thiền quán—Another term for dhyana contemplation.
tọa cụ
Niṣīdāna (S), Zafu (J), Meditation cushion.
; Nisìdana (S). An article for sitting on, said to be a cloth or mat. Also Ni sư đàn.
; Nisidana (skt)—Dụng cụ (bằng vải hay bằng chiếu cối) để ngồi thiền—An article for sitting on (made of cloth or mat) when practicing meditation.
tọa cửu thành lao
To accomplish one's labour by prolonged sitting, as did Bodhidharma.
; Ngồi lâu mà thành tựu như Ngài Bồ Đề Đạt Ma—To accomplish one's labour by prolonged sitting, as did Bodhidharma.
Tọa hóa
(坐化): tín đồ Phật Giáo ngồi ngay ngắn, an nhiên mà chết, gọi là tọa hóa. Thuật ngữ này thường xuất hiện trong các thư tịch Phật Giáo. Như trong Tây Quy Trực Chỉ (西歸直指, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1173) quyển 4, phần Cửu Pháp Hoa (久法華), có đoạn: “Cư Minh Châu, thường tụng Pháp Hoa, nguyện sanh Tịnh Độ, thời hiệu Cửu Pháp Hoa; Thiên Hựu bát niên, niên bát thập nhất, tọa hóa, tam nhật hậu phục tô (居明州、常誦法華、願生淨土、時號久法華、天祐八年、年八十一、坐化、三日後復蘇, ông sống ở Minh Châu, thường tụng kinh Pháp Hoa, nguyện sanh về Tịnh Độ, đương thời gọi ông là Cửu Pháp Hoa; vào năm thứ 8 [911] niên hiệu Thiên Hựu, lúc 81 tuổi, ông ngồi an nhiên ra đi, ba ngày sau thì sống lại).” Hay trong Chỉ Nguyệt Lục (指月錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 83, No. 1578) quyển 6, phần Ngưu Đầu Sơn Trí Uy Thiền Sư (牛頭山智威禪師), lại có đoạn: “Đại Lịch tứ niên lục nguyệt thập ngũ nhật, tập tăng Bố Tát ngật, mạng thị giả tịnh phát dục thân, chí dạ hữu thụy vân phú kỳ Tinh Xá, thiên nhạc tứ văn, cật đán di nhiên tọa hóa (大曆四年六月十五日、集僧布薩訖、命侍者淨髮浴身、至夜有瑞雲覆其精舍、天樂四聞、詰旦怡然坐化, vào ngày rằm tháng 6 năm thứ 4 [769] niên hiệu Đại Lịch, Thiền Sư tập trung tăng chúng Bố Tát xong, bảo thị giả cạo tóc tắm rửa thân thể sạch sẽ, đến đêm có đám mây lành che phủ Tinh Xá của ngài, nhạc trời nghe khắp bốn phía, sáng sớm hôm sau thì Thiền Sư ngồi an nhiên ra đi).” Hoặc trong Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Bỉnh Phất Ngữ Lục (爲霖道霈禪師秉拂語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1438) quyển Hạ, phần Tháp Chí (塔誌), lại có đoạn: “Ư Thanh Thuận Trị Đinh Dậu cửu nguyệt sơ nhất nhật thị vi dạng, thập nguyệt sơ thất nhật Tý thời thuyết kệ từ chúng, nguy nhiên tọa hóa, xuân thu bát thập, Lạp tứ thập hữu nhất (於清順治丁酉年九月初一日示微恙、十月初七日子時說偈辭眾、危然坐化、春秋八十、臘四十有一, vào ngày mồng một tháng 9 năm Đinh Dậu [1657] niên hiệu Thuận Trị nhà Thanh, Thiền Sư nhuốm bệnh nhẹ; đến giờ Tý ngày mồng 7 tháng 10, sư nói kệ từ giã đại chúng, ngồi ngay ngắn an nhiên ra đi, hưởng thọ 80 tuổi đời, 41 Hạ Lạp).”
tọa hưởng
To enjoy.
tọa hạ
Tọa Lạp—Varsa (skt)—Tên gọi khác của “An Cư Kiết Hạ.” Tăng đoàn vâng theo lời chỉ dạy của Phật mà tọa vũ an cư hay an cư kiết hạ về mùa mưa (để giảm thiểu sự tổn hại các loài côn trùng, đồng thời nhập thất tịnh tu)—The retreat or rest during the summer rains (based on the instruction of the Buddha).
tọa hạ do
Giấy chứng nhận “An Cư Kiết Hạ” cấp cho một vị du tăng—A certificate of “retreat” given to a wandering monk.
tọa hạ, tọa lạp
Varsà (S). The retreat or rest during the summer rains.
tọa lạc
To be located (situated).
tọa lạp
The end of the summer retreat; the monastic end of the year.
; Cuối mùa an cư kiết hạ, hay cuối năm của tự viện Phật giáo—The end of the summer retreat; the monastic end of the year—See Tọa Hạ.
tọa pháp
Āsana (S)Một trong 8 pháp thật tu có đề cập trong Du già kinh.
; To transgress law.
tọa quang
The halo behind the throne of an image; a halo throne.
; See Quang Tọa.
tọa tham
The evening meditation at a monastery (preceding instruction by the abbot).
; Cuộc tham vấn trước buổi thiền tọa đầu hôm—The evening meditation at a monastery (preceding instruction by the abbot).
tọa thiền
Zazen (J), Meditation.
; Zazen (J). To sit in dhyàna, i.e. abstract meditation.
; Phàm tĩnh tọa quán tưởng, chú tâm một chỗ khiến vọng tưởng chẳng khởi mà đạt đến tâm trí yên định, đều gọi là tọa thiền.
; Ngồi tu thiền. Thiền là chữ tắt của “Thiền Na” có nghĩa là tư duy tĩnh lự. Đây là một trong những nghệ thuật dập tắt dòng suy tưởng của tâm, để làm sáng tỏ tâm tính. Thiền được chính thức giới thiệu vào Trung Quốc bởi Tổ Bồ Đề Đạt Ma, dầu trước đó người Trung Hoa đã biết đến, và kéo dài cho tới thời kỳ của các tông phái Thiên Thai. Theo Kinh Duy Ma Cật, cư sĩ Duy Ma Cật đã nói với ông Xá Lợi Phất khi ông nầy ở trong rừng tọa thiền yên lặng dưới gốc cây như sau: “Thưa ngài Xá Lợi Phất! Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi thiền. Vả chăng ngồi thiền là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi thiền; không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi, mới là ngồi thiền; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là ngồi thiền; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi thiền; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi thiền; không đoạn phiền não mà vào Niết Bàn mới là ngồi thiền. Nếu ngồi thiền như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận) vậy—To sit in dhyana (abstract meditation, fixed abstraction, contemplation). Its introduction to China is attributed to Bodhidharma, though it came earlier, and its extension to T'ien-T'ai. According to the Vimalakirti Sutra, Vimalakirti reminded Sariputra about meditation, saying: “Sariputra, meditation is not necessarily sitting. For meditation means the non-appearance of body and mind in the three worlds (of desire, form and no form); giving no thought to inactivity when in nirvana while appearing (in the world) with respect-inspiring deportment; not straying from the Truth while attending to worldly affairs; the mind abiding neither within nor without; being imperturbable to wrong views during the practice of the thirty-seven contributory stages leading to enlightenment: and not wiping out troubles (klesa) while entering the state of nirvana. If you can thus sit in meditation, you will win the Buddha's seal.” ** For more information, please see Thiền Định and Dhyana.
tọa thiền hội
Một cuộc hội họp tu tập của các thiền sinh, với mục đích nghe thuyết giảng về thiền và thực tập thiền quán. Thường thì họ tập hợp mỗi tuần một lần—A gathering of Zen practitioners with the purpose of listening to the Zen lectures and practicing meditation. Usually they gather for one day a week.
Tọa thảo
(坐草): ngồi trên cỏ. Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō No. 125) có câu: “Sở vị Ưu Đa La Tỳ Kheo thị hằng tọa thảo nhục, nhật phước độ nhân (所謂優多羅比丘是、恒坐草蓐、日福度人, Tỳ Kheo tên Ưu Đa La là người thường ngồi trên cỏ nhục, hằng ngày làm phước độ người).” Bên cạnh đó, như trong tác phẩm Kinh Hiệu Sản Bảo (經效產寶) của Tàm Ân (昝殷, 797-859) nhà Đường cho biết rằng từ này còn là tên gọi khác của lâm bồn, lâm sản, chuyển bụng sinh con. Vì tương truyền ngày xưa người phụ nữ khi chuyển bụng thì ngồi trên loại cỏ nhục để sinh con, nên có tên gọi như vậy. Như trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn của Tô Thức nhà Tống trước tác, có câu: “Hoài thai thập nguyệt, tọa thảo tam triêu (懷胎十月、坐草三朝, mang thai mười tháng, nằm cỏ ba hôm).” Hoặc trong kinh Thiên Huyền Võ (天玄賦), Chương Lục Giáp (六甲章) của Đạo Giáo có câu: “Giao trùng bạch hổ, nãi tri tọa thảo vô ngu (交重白虎、乃知坐草無虞, giao nhằm hổ trắng, mới biết sinh nở chẳng lo).” Cả đoạn văn “lâm bồn hữu khánh, tọa thảo vô ngu (臨盆有慶、坐草無虞, lâm bồn tốt đẹp, sinh nở không lo)” của lòng văn sớ trên được tìm thấy trong Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經) của Đạo Giáo như: “Thỉnh tụng thử kinh, tức đắc Cửu Thiên vệ phòng, Thánh Mẫu mặc dữ bão tống; cố năng lâm bồn hữu khánh, tọa thảo vô ngu (請誦此經、卽得九天衛房、聖母默與抱送、故能臨盆有慶、坐草無虞, thỉnh tụng kinh này, tức Cửu Thiên sẽ bảo vệ phòng, Thánh Mẫu sẽ ngầm che chở; cho nên khi lâm bồn tốt đẹp, sinh nở chẳng lo).” Hay như trong Kim Bình Mai (金瓶梅) hồi thứ 30 của Lan Lăng Tiếu Tiếu Sanh (蘭陵笑笑生) nhà Minh, cũng có đoạn tương tợ như vậy: “Yếu kỳ mẫu tử bình an, lâm bồn hữu khánh, tọa thảo vô ngu (要祈母子平安,臨盆有慶,坐草無虞, cầu mong mẹ con bình an, lâm bồn tốt đẹp, sinh nở chẳng lo).”
tọa đường
A sitting room, the assembly room of the monks.
; 1) Phòng thiền hay Thiền đường: A sitting room. 2) Phòng họp của chư Tăng Ni: The assembly room of the monks.
tọc mạch
Curious.
tọng
To cram—To stuff.
tỏ
1) Bright—brilliant—Luminous. 2) To display—To express—To declare.
tỏ bày
To make known—To state—To express—To set forth.
tỏ ra
To show—To exhibit.
tỏ rõ
Clearly—Plainly.
tỏ tường
See Tỏ Rõ.
tỏ ý
To express one's intention.
tỏ ý tán đồng
To express one's agreement.
tỏa
1) Phong tỏa: To blockade. 2) Ống khóa: Lock—Chain. 3) Tỏa ra: To spread—To scatter—To diffuse.
tỏa ra
To emit—To exhale—To give off.
tỏa thược
Ống khóa và chìa khóa—Lock and key.
tỏm
Rớt tỏm—To fall into the water.
Tố
泝; C: sù; J: so; |1. Bơi ngược dòng, trở về nguồn; 2. Quay về nguồn cội, trở về dĩ vãng; 3. Chạm trán, đối diện.
tố
1) Lụa trắng—White silk. 2) Màu trắng: White. 3) Nắn nót: To model in clay.
tố cáo
To inform against someone—To accuse—To denounce.
tố cụ
Đã chuẩn bị—Already prepared.
; (素具) Tố nghĩa là sẵn, tức chuẩn bị sẵn các đạo cụ trước khi tu pháp trong Mật giáo, gọi là Tố cụ. Đạinhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 624 trung) nói: Phải lo chuẩn bị mọi thứ phụ thuộc cho sẵn sàng đầy đủ(tố cụ), chớ để lúc đến việc thì thiếu thốn mà sinh nghi hoặc.
tố giác
See Tố cáo.
tố hoài
(素懷) Niềm hi vọng từ trước đến nay. Chỉ cho lòng mong đợi vãng sinh của các hành giả niệm Phật. Truyện ngài Tríthủ trong tục cao tăng truyện quyển 22 (Đại 50, 614 thượng) nói: Thời gian hơn 3 năm mới toại lòng mong đợi bấy lâu(Tố hoài).
tố hào
Tức tướng bạch hào, hay lông trắng ở giữa hai lông mày—The urna, or white curl between the Buddha's eyebrows.
; (素毫) Chỉ cho sợi lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày, 1 trong 32 tướng của Như lai. [X. Bài tựa Thànhduy thức luận thuật kí].
tố khổ
To denounce someone, especially used-to-be superior, before the people's court for their wrong-doing or injustice in the past.
tố nữ
1) Beautiful girl. 2) Name of a goddess.
tố pháp thân
Dù lăn trôi trong ba đường thấp nhất vẫn có “Pháp Thân”—Possessing the fundamental dharmakaya nature though still in sin, i.e. the beings in the three lowest orders of transmigration.
; (素法身) Chỉ cho pháp thân của chúng sinh hữu tình còn mộc mạc, chưa được trang nghiêm, vì chưa tu đầy đủ các công đức. Đây là thuyết của tông Thiên thai, tương đương với Lí tức Phật trong Lục tức vị do tông Thiên thai phán lập. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 thượng (Đại 33, 775 hạ) nói: Tất cả chúng sinh đều có pháp thân, thể pháp thân này còn mộc mạc, nếu tu học Định, Tuệ mà trang nghiêm pháp thân thì mọi người trông thấy đều cung kính. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng) nói: Nay tuy là Phật nhưng cũng là Tố pháp thân, vì chưa được trang nghiêm.
tố phược lý nã
See Suvarna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tố quyên
(素絹) Cũng gọi Thô quyên, Sơ quyên. Lụa sống, 1 trong các loại áo pháp. Vì người xuất gia quí thực chất mộc mạc, không chú trọng hình thức bề ngoài, nên luật Phật cấm cáctỉkhưu không được dùng ca sa may bằng lụa dệt có hoa văn tốt đẹp. Loại ca sa này có các màu hồng, trắng, đen... tùy theocấp bậc của chưtăng mà khác nhau. [X. Hiển Mật uy nghi tiện lãmQ.hạ].
tố quyến
Lụa mỏng—Thin silk—Plain silk lustring.
tố soạn
(素饌) Đồng nghĩa: Tố thực. Cơm chay. Chỉ cho thức ăn thanh khiết, thô sơ, không xen lẫn mùi vị cá thịt. Phật pháp Đại thừa vốn đem tinh thần cứu khổ, ban vui củađức Phật đối với hết thảy chúng sinh, không nỡ thấy chúng sinh chịu khổ bị nấu nướng, giết hại nên đề xướng Tố thực. (xt. Tố Thực).
tố thực
Những thức ăn trong sạch, không pha tạp mùi vị của thịt cá—Vegetarian food.
; (素食) Ăn chay. Tố thực là loại thức ăn lấy thực vật làm chính, đối lại vớiNhục thực là loại thức ăn lấy thịt các động vật làm chủ yếu. Phật pháp Đại thừa vốn đem tinh thần Yêu mến cho vui, thương xót cứu khổ của đức Phật đối với tất cả chúng sinh, lại vì bảo vệ sự sống mà chế giới luật cấm sát sinh. Giới sát này chính là sự thực hiện tinh thần từ bi, cho nên đề xướng Tố thực. Phẩm Già thực nhục trong kinh Nhập lăng già (Đại 16, 561 trung) ghi: Này Đại tuệ! Ta quán xét thấy chúng sinh từ vô thủy đến nay, vì thói quen ăn thịt, tham đắm mùi vị thịt, lại giết hại lẫn nhau, xa lìa hiền thánh, chịu khổ sinh tử; người xả bỏ mùi vị thịt, nghe mùi vị chánh pháp, ở vào địa vị Bồ tát, như thật tu hành, mau được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phẩm Bồ tát tâm địa giới trong kinh Phạmvõng cũng nói (Đại 24, 1005 trung): Nếu Phật tử ăn thịt của chúng sinh thì dứt mất hạt giống Phật tính đại từ bi; tất cả chúng sinh trông thấy người ăn thịt thì đều tránh xa, vì thế Bồ tát không được ăn thịt của tất cả chúng sinh, nếu ăn thì mắc vô lượng tội. Cùng kinh Phạmvõng còn nói (Đại 24, 1004): Này Phật tử! Nếu tự mình giết, bảo người khác giết, phương tiệngiết, khen ngợi giết, thấy người khác giết mà vui theo, cho đến giết bằng trù ếm, nhân giết, duyên giết, nghiệp giết, cho đến tất cả chúng sinh có sự sống đều không được cố giết. Tức chúng sinh hình thể tuy khác nhưng giác tính thì không khác, bản năng tham sống sợ chết giống hệt con người, không nên ăn thịt để tránh làm hại tình cảm của chúng sinh, cho nên cấm sát sinh mà ăn chay là một trong các pháp phương tiện thể hiện tinh thần từ bi của đức Phật. Kinh Đạithừanhậplănggià quyển 6 (Đại 16, 624 thượng) nói: Những người sát sinh phần nhiều là người ăn thịt, nếu không ăn thịt thì không sát sinh, cho nên ăn thịt và sát sinh đều mắc tội. Nghĩa là cấm sát sinh và ăn chay là 2 mặt của 1 sự kiện.Phật giáo Nam truyền vẫn theo chế độ xưa khất thực nuôi thân, cho nên chỉ giữ nghiêm giới bất sát; còn Phật giáo Trung quốc thì vì ở phương bắc không đi khất thực, phần đông sống tập cư, tự nấu nướng lấy thức ăn, cho nên bỏ việc ăn thịt, đề xướng ăn chay.
tố tâm
Pure heart.
tố tâm vân khai
Shou-Tsinh-Yun-Kai—See Vân Khai Tố Tâm.
tố tượng
(塑像) Chỉ cho tượng Phật được đắp bằng đất, hoặc chỉ cho cách đắp tượng Phật bằng đất.Phong tập tố tượng bắt nguồn từ Tây vực, tuy nhiên, ngay ở thời kì Phật giáo bộ phái tại Ấnđộ cũng đã có nói đếntố tượng, như:Hữu bộtìnại da tạp sự quyển 11 (Đại 24, 255 trung) ghi: Ví như người thợ đắp tượng, hoặc học trò của người ấy, trước hết dùng các thanh gỗ làm khuôn để tạo hình dáng, sau đó dùng dây buộc lại rồi mới đổ đất bùn vào để làm thành tượng. Điều Phạm diễn na quốc trong Thích ca Phương chí quyển thượng (Đại 51, 953 hạ) cũng nói: Chùa có tố tượngniết bàn, dài hơn nghìn thước, được trang nghiêm bằng vàng báu. Những năm gần đây, ở vùng Trung Á, các nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy một số lượng lớn di phẩm tố tượng, trong đó có đầu tượng của các vị trời được đắp tạo vào khoảng các thế kỷ II, III, tượng Phật và tượng Bồ tát đứng được đắp tạo vào khoảng thế kỷ VII, VIII. Những ghi chép sớm nhất về tượng Phật đắp bằng đất ở Trung quốc được thấy trong phần Pháp uyển tạp duyên nguyên thủy tập mục lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 12, trong đó có 19 chữ: Tống minh đế Trần thái phi tạo Pháp luân tự đại nê tượng tinh tuyên phúc ngọa tượng kí (Bà Thái phi của vua Minh đế nhà Tống xây chùa Pháp luân và đắp tượng Phật niết bàn bằng đất rất lớn để cầu phúc). Về sau, phong tập đắp tượng Phật rất thịnh qua nhiều đời. Hiện nay, trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng, tỉnh Cam túc, Trung quốc, còn có rất nhiều di phẩm tượng Phật được đắp bằng đất vào thời Đường, Tống. Ở Nhật bản, khoảng năm Thiênbình là thời kì đắp tượng thịnh nhất, trong các di phẩm nổi tiếng còn được lưu truyền đến nay thì có các tượng đắp trong tháp 5 tầng ở chùa Pháplong, tượng 2 vịbồ tát Nhậtquang, Nguyệtquang, tượng Chấp kim cương thần trong Tam nguyệt đường của chùa Đông đại, tượng 12 thần tướng... ở chùa Tân Dược sư...Về phương pháp đắp tượng bằng đất thông thường được thực hiện như sau: Trước dùng gỗ, tre làm cốt, rồi sử dụng đất nhào với loại cỏ giấy(papyrus) đắp một lớp dày lên cốt, mặt ngoài thì bôi một lớpđất vân mẫu(mica) thật mịn láng. Những phần nhỏ nhắn như các ngón tay thì dùng dây và gai cuốn tròn lại để làm cốt. Sau khi tượng Phật đã thành, chờ cho khô rồi dùng ơn quét lên mặt ngoài và thếp vàng, sau đó tô màu. Phương pháp này rất hợp cho việc tạo tượng Phật tả chân. Tượng Phật Tượng đắp vào đời Đườnghoàn thành bằng phương pháp này cũng gọi là Nê tượng, Thổ tượng, Niệp tượng, Chiếp tượng... [x.phần Chiêu nghini tự trong Lạc dương già lam kíQ.1; Tây vực kí (Huệ sinh); Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 9 đến 94; thiên Điêu tố trong Chi na mĩ thuật sử].
tố tụng
Lawsuit.
tố ý
Những ý nghĩ bình thường—Ordinary thoughts, or hopes; the common purpose of the mind.
tố đát lãm
Sutra (skt)—Còn gọi là Tô Đát Lãm hay Tu Đa La—Canon (giáo pháp).
tốc
Nhanh—Haste—Quick—Speedily—Urgent.
tốc hành
Fast—Express.
tốc hành tâm
Javana (S).
tốc hương
Loại nhang rẻ tiền cháy nhanh—Quickly burnt inferior incense.
tốc thành
Hoàn thành một cách nhanh chóng—Speedily completed.
tốc tật kim cang
Vajravega (S)Tên một vị thiên.
tốc tật quỷ
Một loài quỷ La Sát lật đật—A kind of hurrying demon, raksasa.
tốc đắc
Đạt được một cách nhanh chóng—Speedily obtain, or ensure.
tối
Most, very, superlative.
; Cao nhất—Superlative—Most—Very.
tối cao
Para (S), Other shore Bỉ ngạn, Tha.
; Supreme—Maximum—Highest.
tối cao hiển quảng nhãn tạng như lai
Xem Đại nhựt Như lai.
; The Tathagata who, in the highest reveals the far-reaching treasure of his eye—The Sun—See Vairocana, Đại Nhựt Giác Vương, and Đại Nhựt Kinh.
tối cao phật đảnh
Xem Cao Phật đảnh.
tối cao thiện
(最高善) Cũng gọi: Chí thiện. Điều thiện tột bậc. Tức chỉ cho mục đích cùng tột và lí tưởng cao nhất của đời sống con người. Từ Tối cao trong Phật giáo tương đương với tiếng PhạmPara, tức là chân lí tối cao, mục đích tối cao, Thắng nghĩa đế (Phạm:Paramàrtha, cũng gọi là Đệ nhất nghĩa đế). Chân lí, mục đích, thiện, lạc (vui) chính là Niết bàn. (Phạm: Niravàịa). (xt. NiếtBàn).
tối chánh giác
Sự giác ngộ chân chính cao nhất hay diệu trí năng giác của chư Phật—Supreme perfect enlightenment, i.e. Buddhahood.
Tối chánh giác 最正覺
[ja] サイショウカク saishōgaku ||| Most true awakening; most correct enlightenment ( agra-bodhi ). 〔法華經T 262.9.39c1〕 (s: agra-bodhi). => Chân chính giác ngộ tuyệt đối. Giác ngộ chân chính nhất.
Tối chính giác
最正覺; C: zuìzhèngjué; J: saishōgaku; S: agra-bodhi. |Chân chính giác ngộ tuyệt đối. Giác ngộ chân chính nhất.
tối chính giác
Supreme perfect enlightenmen; Buddhahood.
; (最正覺) Phạm: Abhisambuddha. Chỉ cho Phật quả cao tột. Vì trí tuệ của Phật khế hợp với chân lí nên gọi là Chính giác. Bồ-tát tuy có Chính giác tùy phần nhưng địa vị chưa cao tột, nên không được gọi là Tối; chỉ có Phật là có diệu trí năng giác toàn phần, cho nên gọi là Tối chính giác.Phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp Hoa quyển 5 (Đại 9, 41 trung) nói: Ta ở thành Giàda Ngồi dưới cây Bồ đề; Thành bậc Tối chính giác, Chuyển pháp luân vô thượng. [X.kinhVôlượngthọ Q.thượng; Phát bồđềtâm kinh luậnQ.thượng; Hoanghiêm kinh sớQ.1; Hoanghiêmkinhthámhuyền kíQ2].
tối hậu
The last of all, ultimate; final, finally, at death.
; Cuối cùng—The last of all—Ultimate—Final—Finally—At death.
tối hậu niệm
Xem Tối hậu tâm.
; See Tối Hậu Tâm.
tối hậu phẩm vô minh
(最後品無明) Chỉ cho vô minh cực kì nhỏ nhiệm. Nói theo thứ lớp sinh khởi thì gọi là Vô thủy vô minh, căn bản vô minh, Nguyên phẩm vô minh..., còn nói theo thứ lớp chiết phục đoạn trừ thì gọi là Tối hậu phẩm vô minh. Thuyết Viên giáo của tông Thiên thai chiaVô minh làm 42 phẩm, được dứt trừ ở 42 giai vị tu hành từSơ trụ trở lên đến quả Phật, trong đó, phẩm Vô minh thứ 42 được đoạn trừ sau cùng bởi tríThủy giác, vì thế gọi là Tối hậu phẩm vô minh. [X. Maha chỉ quán Q.6 thượng]. (xt. Vô Minh).
tối hậu sinh
See Tối Hậu Thân.
Tối hậu thân
最後身; C: zuìhòushēn; J: saigoshin; |Thân sau cùng sinh ở thế giới Sa-bà, nghĩa là thân của một A-la-hán, bậc đã dập tắt mọi phiền não và không tái sinh nữa (s: antima-deha, antima-sarīra). |Trong cùng một ý nghĩa, tuỳ thuộc ngữ cảnh khác, thuật ngữ nầy có thể được dùng uyển chuyển hơn, đề cập đến thân sau cùng của một Đức Phật hay một bậc giác ngộ như Bích-chi Phật hay Bồ Tát.
tối hậu thân
xem thân sau cùng.
; The final body, or rebirth, that of an arhat, or a bodhisattva in the last stage.
; Cái thân hay kiếp tái sinh cuối cùng trong cõi sinh tử của các vị A La Hán hay Bồ Tát—The final body, or rebirth, that of an arhat, or a bodhisattva in the last stage.
; (最後身) Phạm, Pàli: Antima-deha. Cũng gọi: Tối hậu sinh, Tối hậu hữu, Tối hậu mạt thân. Chỉ cho thân cuối cùng trong các thân sanh tử. Theo Tiểu thừa thì Tối hậu thân là chỉ cho bậc A la hán đã dứt tất cả phiền não Kiến, Tư, chứng Niết bàn vô dư y; còn theo Đại thừa thì Tối hậu thân là chỉ cho hàng bồ tát Đẳng giác sắp chứng quả Phật. Về sự dị đồng(khác nhau và giống nhau) giữa bồ tát Tối hậu thân và bồ tát Nhất sinh sở hệ(bồ tát Nhất sinh bổ xứ) có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 171 thì thân Phật Thích ca mâu ni sinh ra trong cung vua Tịnh phạn khi Ngài từ cõi trời Đổ-sử-đa(Đâu suất) giáng sinh xuống nhân gian chính là Tối hậu thân bồ tát, thân trụ ở cõi trời Đổ sử đa là Nhất sinh sở hệ bồ tát. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 7, phần đầu, trong quá trình 3 a tăng kì kiếp, từ khi Bồ tát tu hành đến lúc thành quả Phật thì hàng Địa tiền ở a tăng kì kiếp thứ nhất là đời thứ nhất, hàng Sơ địa đến Thất địa trong a tăng kì kiếp thứ 2 là đời thứ 2, từ Bát địa trở lên trong a tăng kì kiếp thứ 3 là đời thứ 3, cho nên từ Thất địa về trước thuộc Nhất sinh sở hệ bồ tát, còn từ Bát địa về sau thì thuộc Tối hậu thân bồ tát. [X.kinh Đại thiệnkiếnvương trong TrungahàmQ.14; phẩm Phương tiện kinh PháphoaQ.1; phẩm Thụ kí Q.3; kinhBồ tát địa trìQ.10; luận CâuxáQ.5; luận Du giàsưđịaQ.37, 47; luận Hiểndươngthánh giáoQ.8; Đạithừanghĩa chươngQ.17; Du già luậnlượctoảnQ.11; Pháphoa kinh huyền nghĩaQ.4 hạ; Thành duy thức luận thuật kíQ.5, phần cuối].
tối hậu thân Bồ Tát
xem Bồ Tát thọ thân sau cùng.
Tối hậu thân 最後身
[ja] サイゴシン saigoshin ||| The final body taken in the world of saṃsāra, referring to the body of an arhat 阿羅漢, who has extinguished all afflictions and will not be reborn (antima-deha, antima-sarīra). In the same sort of sense, depending on the context, it can be used more loosely to refer to the final body of a buddha, or an enlightened sage such as a pratyekabuddha or bodhisattva. 〔瑜伽論 T 1579.30.399a28〕 => Thân sau cùng sinh ở thế giới ta-bà, nghĩa là thân của một A-la-hán, bậc đã dập tắt mọi phiền não và không tái sinh nữa (s: antima-deha, antima-sarīra). Trong cùng một ý nghĩa, tuỳ thuộc ngữ cảnh khác, thuật ngữ nầy có thể được dùng uyển chuyển hơn, đề cập đến thân sau cùng của một Đức Phật hay một bậc giác ngộ như Bích chi Phật hay Bồ-tát.
tối hậu thập niệm
To call on Amitàbha ten times when dying.
; Niệm Phật A Di Đà mười lần trước khi chết—To call on Amitabha ten times when dying.
tối hậu tâm
The final mind, or ultimate thought, on entering final Nirvàna.
; Tối hậu niệm hay cái tâm ở sát na cuối cùng hủy thân diệt trí, sắp nhập vào vô dư niết bàn—The final mind, or ultimate thought, on entering final nirvana.
; (最後心) Cũng gọi Tối hậu niệm, Mạt tâm. Tâm ở sát na sau cùng, tức tâm ở sát na cuối cùng khi sắp vào Niết bàn vô dư của bậc A la hán đã khôi thân diệt trí(đã dứt bặt thân tâm). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 10, 32 thì trong 3 cõi, khi bậc A la hán ở cõi Vô sắc, trụ trong Tối hậu tâm, vì tất cả sắc pháp đều dứt bặt nên Ngài thành tựu Phi trạch diệt nhiều nhất. Ngoài ra, lúc vào Niết bàn vô dư thì thân tâm đều diệt, không còn tâm tương tục, cho nên Tối hậu tâm của bậc A la hán chỉ có ý căn... chứ không có tướng Đẳng vô gián duyên. [X.luận Đạitì bàsaQ.21; luận Câuxá Q.7; luận Thành duy thứcQ.7; Câuxá luận quang kíQ.7].
tối khẩn
Most immediate.
tối mật
Top secret.
Tối Nột
最吶; C: zuìnà; J: saitotsu; K: ch'oenul, 1717-1790|Thiền sư Triều Tiên, tác giả của Chư kinh hội yếu (諸經會要, k: chegyŏng hoeyo).
Tối Nột 最吶
[ja] サイトツ Saitotsu ||| Ch'oenul (1717-1790), Chosŏn Sŏn monk, author of the Chegyŏng hoeyo 諸經會要. => k: Ch'oenul (1717-1790) Thiền sư Triều Tiên, tác giả của Chư kinh hội yếu (k: Chegyŏng hoeyo 諸經會要).
tối thiểu
Minimum.
tối thánh bồ tát
Parama-caryā (S)Phạm Sư Bồ tát, Thượng Quỹ Bồ tátTên một vị Bồ tát.
tối thượng
Supreme, superlative.
; To be ultimate—Supreme—To be paramount.
Tối thượng bí mật na nã thiên kinh
最上祕密那拏天經; C: zuìshàng mìmì nănátiān jīng; J: saijō himitsu nadaten gyō; S: śravanasyaputranaḍagupilāya-kalparāja; |3 quyển, viết tắt là Na-nã thiên kinh (那拏天經), Pháp Hiền (法賢) dịch.|Tối thượng đại thừa kim cương đại giáo bảo vương kinh|最上大乘金剛大教寶王經; C: zuìshàng dàshèng jīngāng dàjiào băowáng jīng; J: saijō daijō kongō daikyō hōō kyō; s: vajragarbha-ratnarāja-tantra.|2 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch.
Tối thượng bí mật na-nã đại kinh 最上祕密那拏天經
[ja] サイジョウヒミツナナテンキョウ Saijō himitsu nadaten gyō ||| The Zuishang mimi nanatian jing; Skt. Śravanasyaputranaḍagupilāya-kalparāja (King of Ritual Procedures for the God Naḍa). 3 fasc. (T 1288.21.358-367), abbreviated as Naḍa Sūtra 那拏天經, trans. Faxian 法賢. => (c: Zuishang mimi nanatian jing; s: Śravanasyaputranaḍagupilāya-kalparāja ; e: King of Ritual Procedures for the God Naḍa). 3quyển; Viết tắt là Na nã đại kinh (k: Naḍa Sūtra 那拏天經). Pháp Hiền (c: Faxian 法賢) dịch.
tối thượng thiên
Niḥsreyaśa (S).
tối thượng thắng phật
Xem Tối thắng Phật.
tối thượng thừa
The supreme vehicle, teaching.
; Giáo pháp cao nhất hay giáo pháp rốt ráo nhất (các tông phái đều cho tông nghĩa của phái mình là tối thượng thừa)—The Supreme Vehicle.
tối thượng thừa luận
(最上乘論) Luận, 1 quyển, do ngài Hoằng nhẫn soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 48, bên trong đề là Phàm thú Thánh đạo ngộ giải chân tông tu tâm yếu luận. Nội dung luận này chia làm 2 môn là Quả môn và Hành môn, sử dụng phương thức hỏi đáp gồm 14 điều để bàn giải về các vấn đề như: Tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, chẳng sinh chẳng diệt, Bản sư, chúng sinh và Phật cùng một thể, giữ gìn tâm bản chân là gốc của Niết bàn, cửa then chốt để vào đạo, tông chỉ của 12 bộ kinh, Tổ của chư Phật 3 đời và ý nghĩa của tâm vô kí, tâm ngã sở diệt, chân tâm... cùng các tình hình thuộc về Quả môn và Hành môn. Những kinh điển được trích dẫn trong luận này gồm có:kinhThậpđịa, kinh Duyma, kinh Kim cương, kinh Tâm vương, kinh Niết bàn, kinh Pháp hoa, kinh Quán vô lượngthọ... Bản Đôn hoàng của luận này gồm 8 bộ (bộ do A.Stein tìm được, đánh số 2669, 3558, 4064. Bộ do P.Pelliot tìm được, đánh số 3434, 3559, có 2 bản, 1 ở Vũ tứ thuộc Bắc kinh, 1 ở Đại học Long cốc tại Nhật bản), trong đó, hoặc đề là Kì châu Nhẫn hòa thượng đạo phàm thú thánh ngộ giải thoát tông tu tâm yếu luận, hoặc đề là Nhất thừa hiển tự tâm luận, 1 bộ trong số đó được thu vào Thiếu thất dật thư, so sánh với bản Chính đức do ni sư Diệu nghiêm người Nhật bản khắc lại thì hơi khác nhau về mặt văn tự. Ngoài ra, trong Thiền môn toát yếu quyển thượng do chùa Phạm ngư ở Triều tiên khai bản vào năm Long hi thứ 2 (1908) cũng có ghi chép luận này.[X. Lăng già sư tư kí; Tông kính lục Q.97; Thiền học tư tưởng sử Q.thượng; (Hốt hoạt cốc khoái thiên); Đôn hoàng kiếp dư lụcQ.13].
tối thượng thừa thiền
(最上乘禪) Cũng gọi: Như lai thanh tịnh thiền, Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội. Một trong 5 loại thiền do ngài Khuê phong Tông mật phân chia. Chỉ cho loại thiền do ngài Bồ đềđạtma truyền. Ngài Tông mật chia thiền làm 5 loại và để phân biệt với Tứ thiền bát định của Đại, Tiểu thừa như Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền... nên gọi pháp Thiền do Tổ Đạt ma Tối Thắng Tử truyền là Tối thượng thừa thiền. Cứ theo Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng thì đốn ngộ tự tâm xưa nay vốn thanh tịnh, vốn không phiền não, vốn tự đầy đủ trí tính vô lậu, tâm này là Phật, rốt ráo không khác, nương theo đó mà tu gọi là Tối thượng thừa thiền. Tối thượng thừa thiền này là gốc của Tam muội, nếu có thể tu tập dần dần thì tự nhiên chứng được trăm nghìn tam muội. (xt. Ngũ Vị Thiền).
Tối thượng đại thừa kim cương đại giáo bảo vương kinh 最上大乘金剛大教寶王經
[ja] サイジョウダイジョウコンゴウダイキョウホウオウキョウ Saijō daijō kongō daikyō hōō kyō ||| The Zuishang Dasheng jingang dajiao baowang jing; (Vajragarbharatnarāja-tantra). 2 fasc. (T 1128.20.542), trans. Fatian 法天. => (c: Zuishang Dasheng jingang dajiao baowang jing; s: Vajragarbharatnarāja-tantra). 2 quyển; Pháp Thiên (c: Fatian 法天) dịch.
tối thượng đại tất địa
The stage of supreme siddhi or wisdom, Buddhahood.
; Phật quả—The stage of supreme siddhi, or wisdom—Buddhahood.
Tối thắng
最勝; C: zuìshèng; J: saishō; |Xuất sắc nhất, vĩ đại nhất, tốt nhất, cao cấp nhất (s: parama, paramatā, agra, pravara; t: gtso bo). Nổi bật nhất; có uy thế nhất.
tối thắng
Vasistha (S)Bà tư Tra1- Một trong những đệ tử của đức Phật. 2- Một trong bảy đại tiên. Một trong mười đại tiên hay một trong hai mươi tám bộ chúng của Quán Thế Âm Bồ tát.
; Jina, vìjaya (S). Conquering, all conquering, pre eminent, peerless, supreme.
; Jina or Vijaya (skt)—Chế ngự tất cả, không còn ai bì kịp—Conquering—All conquering—Pre-eminent—Peerless—Supreme.
tối thắng chiếu minh bồ tát
Utamadyuti (S)Tên một vị Bồ tát.
tối thắng chân tử bồ tát
Xem Tối Thắng Tử.
tối thắng cừu
Jinatrāta (S)Tên một vị sư.
tối thắng giảng
(最勝講) Một trong 3 pháphộigiảng kinh của Phật giáo Nhậtbản. Pháp hội này do triều đình chọn ngày lành vào tháng 5 hàng năm, thỉnh chưtăng chùa Đông đại, chùa Hưng phúc, chùa Diên lịch, chùa Viên thành vào điện Thanh lương ở trong cung thuyết giảng kinh Kim quangminhtốithắngvương để cầu nguyện cho nước nhà được bình an, thịnh vượng. Tối thắng giảng được cử hành trong 5 ngày, sớm chiều 2 thời, mỗi thời giảng 1 quyển. Từ năm Khoan hoằng thứ 6 (1009) về sau, Tối thắng giảng trở thành thông lệ hàng năm. Niên hiệu Vĩnh cữu năm đầu (1113) trở đi, Tối thắng giảng và Tiên độngtối thắng giảng do viện Điểu vũ cử hành cùng với Ngự bát giảng ở chùa Pháp thắng được gọi chung là Tam giảng, Tam giảng này và Tam hội ở Nam kinh, Bắc kinh đều là thứ tự để cho cấp bậc của chưtăng tiến lên. Sau biến cố Ứng nhân, hình thức thuyết giảng này bị tạm ngưng nửa chừng, chỉ còn các chùa thuộc hệ thống Cao dã sơn là vẫn vâng sắc cử hành Tối thắng giảng. [X.điềuTối thắng giảng trong Sơ lệ sao quyển hạ; Nguyên hanh thích thư Q.25; Thập giới saoQ.hạ].
tối thắng học phái
Xem Thắng Luận phái.
tối thắng hội
(最勝會) Cũng gọi: Dược sư tự tối thắng hội. Một trong 3 hội ở Nam kinh (Nam đô), Nhật bản, là hội thuyết giảng kinh Kim quang minh tối thắng vương để cầu nguyện cho đất nước thanh bình, nhân dân an vui, Đế vương muôn tuổi, được cử hành ở chùa Dược sư tại Nam đô, trong thời gian từ ngày mồng 7 đến ngày 13 tháng 3 hằng năm. Tối thắng hội được cử hành sớm nhất tại Nhật bản là hội giảng kinh trong cung vua vào năm Trì thống thiên hoàng thứ 7 (693). Một trăm ba mươi bảy năm sau, tức vào tháng 3 năm Thiên trường thứ 7 (830) đời Thuần hòa thiên hoàng, theo lời tâu xin của Trung nạp ngôn trực thế vương (có thuyết cho là của Luật sư Trung Kế), Thiên hoàng ban sắc cử hành Tối thắng hội ở chùa Dược sư. Từ đó về sau, trong thời gian 7 ngày, từ ngày mồng 7 đến ngày 13 tháng 3 mỗi năm, chùa đều vâng sắc tổ chức Tối thắng hội. Tối thắng hội, Duy ma hội và Ngự trai hội, gọi chung là Tam hội.Ngoài ra, trong 5 ngày, bắt đầu từ ngày 19 tháng 2 năm Vĩnh bảo thứ 2 (1082), chùa Viên tông ởKinh đô (Kyoto) cũng cử hành Tối thắng hội; cùng với Pháphoa hội chùa Viên tông và Đại thừa hội chùa Pháp thắng được gọi chung là Tam hội, cũng gọi là Thiênthaitam hội. [X. Kim tích vật ngữ thứ 12; Diên hỉ thức thứ 21; Trần thiêm ái nang sao thứ 15]. (xt. TamHội).
tối thắng hữu
Tathāgatamitra (S)Tên một vị sư.
tối thắng kim cang
Xem Kim Cang Điều Phục thiên.
tối thắng kim cang bồ tát
Xem Hàng Tam Thế Minh Vương.
tối thắng manh nha bồ tát
Jinakura (S)Tên một vị Bồ tát.
tối thắng nhậm trì bồ tát
Jinadhara (S)Tên một vị Bồ tát.
tối thắng phật
Ādi-Buddha (S), Primordial Buddha Bổn sơ Phật, Tối thượng thắng Phật, A đề Phật, Bổn sơ giác giả, Bổn sơ bổn Phật, Đệ nhất giác, A đề Phật đàThường dùng ở Tây tạng và Nepal để gọi Bổn sơ Phật (Primordial Buddha). Trong Kim Cang thừa cũ, Adi-Buddha là Samantabhadra, một hoá thân khác của Phật Thích Ca. Trong Kim Cang thừa sau này, Vajradhara (Kim Cang Thủ Bồ tát) là hóa thân Phật. Trong PG đại thừa nguyên thủy, đức Đại Nhật Như Lai chính là Adi-Buddha. Ngài thống lãnh tất cả Thiền na Phật và Thiền na Bồ tát.
tối thắng phật đảnh
Uṣnīṣavyaya (S)Tên một vị Bồ tát. Xem Cao Phật đảnh.
tối thắng quang bồ tát
Xem Kim Cang Quang Bồ tát.
tối thắng thiện thân
(最勝善身) Thân tốt lành hơn hết. Chỉ cho thân thụ sinh vào cõi người và được nghe Phật pháp. Trong 6 đường: Địa ngục, ngã quỉ, súc sanh,atula, người và trời thì sinh vào cõi người làtối thắng sinh; lại trong cõi người mà 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đầy đủ, được thấy Phật nghe pháp, gọi là Tối thắng thiện thân. [X. chương Xuất gia công đức trong Chínhphápnhãntạng].
tối thắng thái tử
(最勝太子) Cũng gọi: Như ý thắng vương, Như ý thiên vương, Camlộthái tử. Vị thiện thần giữ gìn Phật pháp, che chở quốc gia. Có thuyết cho rằng Thái tử Tối thắng và Thái tử Na tra của Thiên vương Tì sa môn ở phương bắc là cùng một vị tôn. Hình tượng vị tôn này rất đáng sợ, có 4 mặt 8 tay, mặt chính hiện tướng Bồtát đầy đặn, tròn trịa; mặt bên trái màu xanh sạm, mồm há to, có 2 nanh tréo nhau, mắt tròn trợn trừng, lông mày dựng ngược; mặt bên phải hiện tướng trời Tự tại, màu đỏ, phía trên của mặt chính thì hiện tướng Dược xoa cực ác, mắt đỏ như máu, răng nanh nhọn hoắt. Toàn thân màu đỏ sậm, tóc xanh biếc, trên đỉnh đầu có 7 mặt trời cùng chiếu một lượt, chân dẵm trên tảng đá lớn. Trong 8 tay thì tay thứ nhất của cả 2 bên đều cầm dao, tay thứ 2 của cả 2 bên đều cầm phược chiết la xoa, tay thứ 3 của cả 2 bên chắp lại đặt trước ngực, tay thứ 4 của cả 2 bên đều cầm thương. Áng mây 5 màu rủ xuống làm lọng, chư thiên quyến thuộc vây quanh. Ấn tướng là 2 tay chắp lại, đặt ở trước ngực, 2 ngón cái giao nhau (ngón cái bên phải đè lên ngón cái bên trái), cắm vào lòng bàn tay, 2 ngón trỏ dựng đứng, 3 ngón còn lại giao nhau thành nắm tay. Chủng tử là (ra). Chân ngôn là: Án na tra câu phạt la sa phạ ha. Pháp tu thờ Thái tử Tối thắng làm Bản tôn đề cầu hòa bình hoặc trấn áp loạn quân, gọi là Tối thắng thái tử pháp. Theo truyền thuyết, thời vua Huyền tông nhà Đường, Luật sư Đạo tuyên từng nương theo bí pháp của vị tôn này mà bình định được cuộc nổi loạn. [X. Nhiếp đại nghiquĩ Q.2]. (xt. Na Tra TháiTử).
tối thắng thân
Janabandhu (S)Tên một vị sư.
tối thắng thừa
The supreme vehicle, Mahàyàna.
; Đại Thừa—The supreme vehicle—Mahayana.
tối thắng trưởng giả
The Elder Most Supreme.
tối thắng tôn
Themost honoured one, Buddha.
; Bậc đáng tôn quý nhất hay Đức Phật—The most honourable one—Buddha.
; (最勝尊) Tiếng tôn xưngđức Phật, bậc cao quí và thù thắng nhất trong các bậc tôn. Vì Phật đã thành tựu Nhất thiết trí, dứt hết tất cả phiền não, trong hết thảy chúng sinh như người, trời... Ngài là bậc tối thắng, nên gọi là Tối thắng tôn. Kinh Vôlượngthọ quyển thượng (Đại 12, 269 trung) nói: Nguyện sức công đức của con bằng bậc Tối thắng tôn này. [X.phẩm Dịhành trong luận Thậptrụ tìbàsaQ.5; luận ĐạitríđộQ.27].
Tối Thắng Tử
最勝子; C: zuìshèngzǐ; J: saishōshi; S: jina-putra, sau thế kỉ thứ 6-?.|Còn được phiên âm là Chân-na-phất-đán-la (慎那弗呾羅) và Chấn-đa-phất-đa-la (辰那弗多羅), viết tắt là Thắng tử (勝子). Là một tăng sĩ thuộc Du-già hành tông Ấn Độ, là môn đệ của Hộ Pháp (s: dharmapāla), và là tác giả của Du-già sư địa luận thích (瑜伽師地論釋, s: yogācārabhūmi-śāstra-kārikā). Sư còn viết luận giải về Duy thức tam thập tụng của Thế Thân (唯識三十頌, s: triṃsikā).
tối thắng tử
Jinaputra (S)Tối Thắng Chân Tử Bồ tát, Thần Na Thất Đa LaTác giả quyển Du già Sư địa Thích luận. Một trong 10 Đại Luận sư chú thích bộ "Duy thức Tam Thập Luận" của ngài Thế Thân.
; (最勝子) Phạm: Jinaputra. Hán âm: Thận na phất đát la, Thần na phất đa la. Gọi tắt: Thắng tử. Cao tăng Ấn độ, sống vào khoảng cuối thế kỷ VI, là 1 trong 10 vị Đại luận sư Duy thức, đệ tử ngài Hộpháp. Sư từng soạn Du già sư địa luận thích, tức là Du già sư địa luận thích 1 quyển được lưu truyền hiện nay. Sư còn giải thích Duy thức tam thập tụng của ngài Thế t h â n , nhưng khi ngàiHuyền trang dịch luận Thành duy thức, tổng hợp các chú thích của 10 vị Đại luận sư thì bộ luận thích này đã bị thất truyền. Sư còn soạn Bồ tát giới phẩm thích, Tập luận thích. Phổ thông cho rằng bản dịch Tây tạng của Tập luận thích là do sư soạn, còn bản dịch của ngài Huyền trang thì được xem là do ngài Sư tử giác soạn. [X. Đạiđườngtâyvực kíQ.11; Đạitừ ântựtamtạngpháp sư truyệnQ.4; Thành duy thức luận thuật kíQ.1, phần đầu;Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2].
Tối Thắng Tử 最勝子
[ja] サイショウシ Saishōshi ||| Jinaputra (late 6c. ?), also transcribed as 慎那弗呾羅, and 辰那弗多羅, abbreviated as 勝子. An early Indian master of Yogācāra, who was a student of Dharmapāla 護法, and the author of the Yogācārabhūmi-śāstra-kārikā 瑜伽師地論釋. He also wrote a commentary on Vasubandhu's Triṃsikā 唯識三十頌. 〔大唐西域記〕 => (j: Saishōshi; s: Jinaputra (sau thế kỷ thứ 6 - ?), còn được phiên âm là Chân-na-phất-đán-la慎那弗呾羅, và Chấn-đa-phất-đa-la辰那弗多羅, viết tắt là Thắng tử勝子. Là một tăng sĩ thuộc Du-già hành tông Ấn Độ, là môn đệ của Hộ Pháp (s: Dharmapāla 護法), và là tác giả của Du-già sư địa luận thích (s: Yogācārabhūmi-śāstra-kārikā 瑜伽師地論釋). Sư còn viết luận giải về Duy thức tam thập tụng của Thế Thân (s: Triṃsikā 唯識三十頌).
tối thắng âm phật
Most Victorious Sound Buddha, Dundubhisvranir-ghosha-Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Dundubhisvaranirghosa-Buddha.
tối thắng điện
Vejayanta (P).
Tối thắng 最勝
[ja] サイショウ saishō ||| Most excellent, greatest, best, superior (Skt. parama, paramatā, agra, pravara; Tib. gtso bo).〔二障義HPC 1.796a24〕. The most predominant; the most influential. => Xuất sắc nhất, vĩ đại nhất, tốt nhất, cao cấp nhất (s: parama, paramatā, agra, pravara; t: gtso bo). Nổi bật nhất; có uy thế nhất.
Tối Thừa Tự
(最乘寺, Saijō-ji): ngôi chùa con trực thuộc vào Tổng Trì Tự của Tào Động Tông, hiệu là Đại Hùng Sơn (大雄山), hiện tọa lạc tại số 1157 Daiyū-chō (大雄町), Minamiashigara-shi (南足柄市), Kanagawa-ken (神奈川縣); thông thường được gọi là Đạo Liễu Tôn (道了尊), Tiểu Điền Nguyên Đạo Liễu Tát Đỏa (小田原道了薩埵). Đây là một trong ba ngôi chùa lớn nổi tiếng của vùng này. Vào năm 1394 (Ứng Vĩnh [應永] nguyên niên), Thiền sư Liễu Am Huệ Minh (了庵慧明) khai sơn chùa này. Thiền sư là người Quận Đại Trú (大住郡), Tương Mô (相模, Sagami), theo xuất gia tu hành với Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈), rồi dựng Thảo Am ở vùng đất Thượng Tằng Ngã (上曾我) thuộc Quận Túc Bính Thượng (足柄上郡). Tương truyền rằng có một hôm khi đang phơi y Ca Sa, Thiền sư bỗng thấy một con chim đại bàng bay đến, cắn lấy áo Ca Sa ấy, rồi đem bỏ nơi cành cây tùng già ở Đại Hùng Sơn. Khi đuổi theo con chim ấy đến dưới gốc cây tùng, Thiền sư bèn ngồi tọa Thiền dưới cây ấy, bỗng nhiên có một trận gió lớn thổi bay y Ca Sa rơi xuống ngay vai Thiền sư. Thấy điều lạ như vậy, Thiền sư nhìn quanh thì quả thấy nơi đây rất linh hiển, u dật, nên mới dựng nên một ngôi chùa ở tại vùng đất này. Nhờ có sự trợ lực của đệ tử Thiền sư là Đạo Liễu Tát Đỏa (道了薩埵), nên ngôi chùa mới hoàn thành. Tát Đỏa hiệu là Diệu Giác (妙覺), và tương truyền ông có thần thông. Nhân có lần thầy nhờ ông đào giếng lấy nước uống, thì ông đào được cái ấn sắt, bên dưới dòng nước rất trong suốt, mát mẻ. Từ đó, ấn này trở thành bảo vật linh thiêng nhất của chùa, còn nước suối thì gọi là Kim Cang Thủy (金剛水). Tương truyền rằng sau khi thầy qua đời, Đạo Liễu Tát Đỏa lập ra 5 điều thệ nguyện lớn, hai tay cầm cây luân trượng hàng ma và sợi dây trói ma, hai bên vai mọc cánh, cỡi lên con sói trắng, bay vào không trung và biến mất dạng. Từ đó ông được gọi là Đạo Liễu Đại Quyền Hiện (道了大權現), và được tôn thờ như vị thần bảo vệ chùa. Mỗi tháng vào 2 ngày 27, 28 là ngày cúng tế nhỏ của chùa; đặc biệt hai ngày này của tháng 1, 5, 9 là ngày cúng tế lớn. Tín đồ ở các tỉnh thành lân cận cũng như khắp nơi trong nước tập trung về tham dự pháp hội và cầu nguyện qua đêm.
tối trác
(tối trác) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ví dụ cơ nghi của thầy và trò ứng họp nhau. Học trò thỉnh cầu thầy khai thị ví như tối, thầy khai thị cho học trò ví như trác. Theo Thiền lâm bảo huấn âm nghĩa thì tối trác giống như gà ấp trứng, khi đủ ngày, gà con muốn ra thì dùng mỏ gại vào vỏ trứng thành tiếng, gọi là Tối; gà mẹ muốn cho con ra thì dùng mỏ mổ vỏ trứng nứt làm đôi để gà con chui ra, gọi là Trác. Cho nên cơ duyên giữa thầy và trò trong Thiền lâm ứng hợp nhau thì thường mượn từ tối trác để thí dụ. Bích nham lục tắc 16 (Đại 48, 156 thượng) nói: Đã là người hành cước(đi tham học) thì phải có con mắt tối trác đồng thời, có cái dụng tối trác đồng thời mới gọi là nạptăng. Nếu mẹ muốn mổ(trác) thì con không thể không gại (tối), nếu con muốn gại thì mẹ không thể không mổ. (...) Vì thế cơ tối trác đều là gia phong của cổ Phật.
Tối Trừng
(最澄, Saichō, 767-822): vị tăng sống dưới thời Bình An (平安, Heian), vị tổ sư khai sáng ra Thiên Thai Tông Nhật Bản, tục danh là Tam Tân Thủ (三津首), tên hồi nhỏ là Quảng Dã (廣野), húy là Tối Trừng (最澄), thông xưng là Căn Bổn Đại Sư (根本大師), Sơn Gia Đại Sư (山家大師), Duệ Sơn Đại Sư (叡山大師), người vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]), cha là Tam Tân Thủ Bách Chi (三津首百枝), mẹ không rõ họ tên. Dòng họ Tam Tân Thủ là dòng họ di cư sang Nhật, tương truyền là hậu duệ của Hiếu Hiến Đế nhà Hậu Hán. Năm 7 tuổi, ông đến trường làng học các môn âm dương, y phương, công xảo. Đến năm 12 tuổi, ông theo làm đệ tử của Đại Quốc Sư Hành Biểu (行表, Gyōhyō) ở Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji), chuyên tu học về Duy Thức cũng như Thiền pháp. Năm 15 tuổi, ông xuất gia, chính thức trở thành vị tăng của Quốc Phận Tự và lấy hiệu là Tối Trừng. Vào mùa xuân năm thứ 4 (785) niên hiệu Diên Lịch (延曆), ông tham gia giới đàn ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), thọ Cụ Túc giới; rồi vào trung tuần tháng 7 năm này, ông quán sát sự vô thường của cuộc đời, nên vào trong núi Nhật Chi Sơn (日枝山) dựng thảo am ở trong vòng 7 năm trường, biến thảo am ấy thành chùa và lấy tên là Nhất Thừa Chỉ Quán Viện (一乘止觀院). Đến năm thứ 23 (804) niên hiệu Diên Lịch, ông được ban sắc chỉ cho nhập Đường cầu pháp và năm sau thì trở về nước. Từ đó ông bắt đầu nỗ lực xiển dương giáo pháp Thiên Thai Tông. Vào năm 806, ông dâng biểu lên triều đình để xin chấp nhận cho Thiên Thai Tông là một trong những tông phái chính đương thời, và cuối cùng được hứa khả. Rồi đến năm thứ 10 (819) niên hiệu Hoằng Nhân (弘仁), ông cũng dâng biểu xin thành lập giới đàn Đại Thừa trên Tỷ Duệ Sơn. Nhưng vì các tông phái khác phản đối kịch liệt, nên trong khi còn sinh tiền thì cái mộng kiến lập giới đàn của ông vẫn không trở thành sự thật. Tuy nhiên, sau khi ông thị tịch được 7 ngày thì nhận được chiếu chỉ chấp thuận cho thành lập giới đàn. Vào năm thứ 13 (822) niên hiệu Hoằng Nhân, ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi. Vào năm thứ 8 (866) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông được ban cho thụy hiệu là Truyền Giáo Đại Sư (傳敎大師, Denkyō Daishi). Về mối quan hệ với Thiền, vào năm thứ 20 (804) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông thọ nhận từ Tiêu Nhiên (翛然) dòng huyết mạch phú pháp của hai nước Đại Đường và Thiên Trúc và pháp môn của Ngưu Đầu Sơn (牛頭山); cho nên sau khi trở về nước, vào năm thứ 10 (819) niên hiệu Hoằng Nhân, ông viết cuốn Nội Chứng Phật Pháp Tương Thừa Huyết Mạch Phổ (內證佛法相承血脈譜). Tông phong của ông là sự dung hợp của 4 tông Viên Mật Giới Thiền, đã đem lại ảnh hưởng to lớn cho sự hưng khởi của Thiền Tông dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) sau này. Trước tác của ông có Thủ Hộ Quốc Giới Chương (守護國界章) 3 quyển, Chiếu Quyền Thật Kính (照權實鏡) 1 quyển, Sơn Gia Học Sinh Thức (山家學生式), Hiển Giới Luận (顯戒論) 3 quyển, Pháp Hoa Tú Cú (法華秀句) 3 quyển, Truyền Giáo Đại Sư Toàn Tập (傳敎大師全集) 5 quyển, v.v.
; 最澄; J: saichō; C: zuìchéng; 767-822; cũng được gọi là Truyền Giáo Ðại sư;|Người thành lập tông Thiên Thai Nhật Bản. Sư lưu tâm đến Phật pháp từ lúc mới 12 tuổi, sư trở thành đệ tử của Hành Biểu (行表, j: gyōhyō) trú trì chùa Quốc Phân (國分寺, j: kokubunji) ở Cận Giang (近江, j: ōmi) vào lúc 14 tuổi, và sau khi thụ giới cụ túc vào năm 19 tuổi tại chùa Đông Đại (東大寺, j: tōdaiji), sư đến núi Tỉ Duệ (比叡山, j: hiei) để tu tập thiền quán và nghiên cứu về Hoa Nghiêm tông. Nhưng sư say mê nhất giáo lí của tông Thiên Thai, điều mà sư trở nên quen thuộc qua đọc các tác phẩm của ngài Trí Khải. Sư nổi tiếng là một học giả uyên bác đến mức sư được Hoàng đế Kammu ban tặng cho một cơ hội sang Trung Hoa nghiên cứu Phật pháp với mục đích tạo dựng nên một sắc thái Phật giáo tương ứng với bản sắc Nhật Bản. Sư đáp thuyền đi năm 804 cùng với người bạn đồng hành là Không Hải (空海, j: kūkai). Tại Trung Hoa, sư trở thành môn đệ của Ngưu đầu thiền với Thiền sư Tiêu Nhiên (翛禪). Sư nghiên cứu tông Thiên Thai với ngài Đạo Thuý (道邃), nghiên cứu Chân ngôn tông (眞言) với ngài Thuận Hiểu (順曉), trong đó không có giáo lí nào còn tồn tại như một tông phái độc lập ở Nại Lương. Sư trở về Nhật Bản vào năm sau, và vào năm 806, sư chính thức thành lập Thiên Thai tông Nhật Bản. Nhưng mặc dù chịu ảnh hưởng giáo lí tông Thiên Thai nhiều nhất, nhưng qua mối quan hệ với ngài Không Hải, sư vẫn có quan tâm sâu sắc đến Chân Ngôn tông. Thế nên hệ thống giáo lí riêng của sư có khuynh hướng là một giáo lí hoà hợp. Sư dành thời gian còn lại của đời mình để truyền bá kiến thức Phật học của mình cho Phật tử quanh vùng núi Tỉ Duệ, nhưng gặp phải sự chống đối thường xuyên với những tông phái đã được thành lập từ trước, đặc biệt là về những cải cách mà sư đang nỗ lực thực hiện, như việc sư tìm kiếm sự hợp lí hoá một vài nghi thức truyền thụ giới pháp Đại thừa. Sư trứ tác rất nhiều, một trong những tác phẩm quan trọng là Thủ hộ quốc giới chương (守護國界章, j: shugo kokkaishō), Pháp Hoa tú cú (法華秀句, j: hokkeshūku) và Hiển giới luận (顯戒論, j: kenkai ron).|Chủ trương của Thiên Thai tông tại Nhật không khác gì với Thiên Thai Trung Quốc. Ðó là quan điểm đặt cơ sở trên kinh Diệu pháp liên hoa, trên lời thuyết pháp thật sự của đức Phật. Sư cho rằng các tông phái khác hay dựa trên các luận giải, chứ không phải trên kinh điển chính thức của đức Phật nên Thiên Thai tông ưu việt hơn. Sư cũng có quan điểm khác với các tông phái khác và nhấn mạnh đến tính thống nhất và bao trùm của Thiên Thai tông. Tính bao trùm thể hiện trong luận điểm, mọi chúng sinh đều có khả năng giác ngộ và thành Phật. Tính này cũng thể hiện trong Phật tính, là tính chất chung nhất của mọi chúng sinh. Ðối với Sư, muốn đạt Phật quả, hành giả phải sống một đời sống trong sạch và tu tập Chỉ-Quán.|Sư quan tâm giữ gìn mối quan hệ với hoàng gia đương thời. Núi Tỉ Duệ được xem là »Trung tâm bảo vệ quốc gia« của Nhật và xem Ðại thừa Phật giáo là người bảo vệ đất nước Nhật. Sư chia tăng sĩ học trong thiền viện mình ra làm nhiều hạng: những người xuất sắc nhất được xem là »bảo vật của quốc gia« và phải ở trong chùa, phụng sự đất nước. Những người kém hơn thì cho vào các công sở, dạy học hoặc làm nhà nông, nói chung là phục vụ xã hội.
tối trừng
Saicho (jap)—Tối Trừng là Sơ Tổ của tông Thiên Thai ở Nhật Bản. Ông là đệ tử của Đạo Toại (Đạo Toại là đệ tử của Trạm Nhiên—See Trạm Nhiên, and Thiên Thai Cửu Tổ). Tối Trừng còn được gọi là Truyền Giáo Đại Sư. Vào tuổi 20, Tối Trừng đến Nara để học về giáo lý Thiên Thai với một vài học giả cùng đến Nhật với luật sư Chân Giám và học tập ba tách phẩm của Trí Khải. Khi ông đang đọc nửa chừng những tác phẩm nầy lần thứ hai, ông nhận được lệnh của Nhật Hoàng sang Trung Quốc để học Phật. Tại Trung Quốc, ông được Đạo Toại truyền thọ học thuyết Thiên Thai và Bồ Tát giới, được Thuận Giáo truyền thọ học thuyết Chân Ngôn, và Tu Nhiên truyền cho Thiền tông. Sau một năm lưu trú ở Trung Hoa, ông về nước thiết lập tông Thiên Thai Nhật Bản và giảng Kinh Pháp Hoa, lập Chân Ngôn Mật giáo, Thiền tông và Luật tông. Trung tâm giảng huấn trên núiTỉ Duệ do Tối Trừng thiết lập và trở thành trung tâm lớn của ngánh giáo học Phật giáo Nhật Bản. Một thời đã có đến 3.000 tự viện làm túc xá cho học chúng, quy tụ tất cả mọi ngành Phật học hiển và mật. Hiện tại có ba chi phái của tông Thiên Thai. Đó là Sơn Môn, Tự Môn, và Chân Thạnh. Chi phái sau cùng là Tịnh Độ. Những tự viện thuộc ba chi phái nầy hiện thời tính khoảng trên 4.000: Saichô was the founder of the T'ien-T'ai School in Japan. He was a pupil of Tao-Sui (Tao-Sui was a pupil of Chan-Jan—See Trạm Nhiên, and Thiên Thai Cửu Tổ). When he was twenty, Saichô went to Nara and studied the T'ien-T'ai doctrine under some scholars who came to Japan with the vinaya master Kanjin, and read the three great works of Chih-I. When he was halfway through in his second perusal of those works, he received an Imperial order to go to China for Buddhist study. He received the T'ien-T'ai doctrine and the Bodhisattva ordination from Tao-Sui, the mystic doctrine (mantra) from Shun-Chiao, and the Zen meditation from Hsiu-Jan. On his return after one year's sojourn in China, he founded the T'ien-T'ai School and taught the Lotus doctrine, the Shingon mysticism, the Zen meditation and Vinaya practices. The educational headquarters on the Mount Hiei was established by Saicho and became the greatest center of Buddhist learning in Japan. Once there were some 3,000 monasteries to house the students thronging there from all branches of Buddhism, exoteric and esoteric. At present there are three branches of the T'ien-T'ai School; namely, Sammon, Jimon and Shinsei, the last being an Amita-peitism. The monasteries belonging to the three branches number more than 4,000 at the present time.
; (最澄) Cao tăng Nhậtbản, Tổ khai sáng tông Thiên thai, người ở Cận giang (huyện Tư hạ) họ Tam tân thụ. Sư xuất gia năm 14 tuổi, đến học ở Nam đô (Nara), sau thụ giới Cụ túc ở chùa Đông đại. Tính sư ưa thích núi rừng, do đó mới đến núi Tỉ duệ và soạn văn phát nguyện. Sư chuyên tâm nghiên cứu kinh luận của các tông phái trong Phật giáo, đặc biệt tôn sùng tư tưởng Nhất thừa. Sau, sư sáng lập Căn bản trung đường, gọi là Tỉ duệ sơn tự, hiệu là Nhất thừa chỉ quán viện. Pháp hội do sư cử hành được Thiên hoàng Hoàn vũ và các vị cao tăng các chùa tham dự, do đó mà sư trở nên nổi tiếng. Sư từng phát nguyện viết chép Đại tạng kinh, đồng thời tu Pháp hoa thập giảng và diễn thuyết giáo nghĩa tông Thiên thai.Năm Diên lịch 23 (804) Sư và ngài Không hải theo vị Tăng dịch kinh là ngài Nghĩa chân đến Trung quốc để tìm hiểu sâu giáo nghĩa Nhất thừa Pháp hoa. Sư theo các ngài Đạo thúy và Hành mãn học giáo nghĩa Thiên thai, theo ngài Tiêu nhiên ở núi Thiên thai học thiền Ngưu đầu, đồng thời thụ giới bồ tát Đại thừa nơi ngài Đạo thúy, sau đó, sư theo ngài Thuận hiểu thụ Mật pháp. Năm sau, sư trở về nước, thiết lập đài Quán đính ở chùa Cao hùng sơn để truyền bá Mật giáo, mở đầu cho pháp Quán đính bí mật ở Nhật bản. Năm Diên lịch 25 (806), sư được phép thiết lập Niên phần độ giả(xem xét số người xuất gia của các tông, các chùa lớn theo hạn định hàng năm) cho tông Thiên thai. Ngoài các vị thuộc 6 tông là Hoa nghiêm, Luật, Tam luận, Thành thực, Pháp tướng và Câu xá, nay lại có thêm 2 vị thuộc tông Thiên thai. Từ đây, tông Thiên thai Nhật bản chính thức độc lập. Sau, sư luận về pháp yếu với học tăng ở Nam đô, đặc biệt y cứ vào Phật tính sao do ngài Pháp tướng Đức nhất soạn phán định Pháp hoa là Quyền giáo, sư soạn Chiếu quyền thực kính 1 quyển và Thủ hộ quốc giới chương để luận phá thuyết ấy, rất nổi tiếng. Lại nữa, vì sư chủ trương giới Đại, Tiểu thừa không nên hòa hợp tu chung, nên sư soạn Sơn gia học sinh thức, dâng biểu xin kiến lập giới đàn Đại thừa viên đốn, bị Tăng cương và các Đại đức ở Nam đô phản đối. Sư lại soạn luận Hiển giới 3 quyển và Hiển giới luận duyên khởi 2 quyển để bác bỏ, nhưng cho mãi đến sau khi sư thị tịch, tông Thiên thai Nhật bản mới được phép thiết lập giới đàn Đại thừa ở núi Tỉ duệ. Năm Hoằng nhân 13 (822), sư thị tịch ở viện Trung đạo tại núi Tỉ duệ, thọ 56 tuổi.Có thể nói cuộc đờisư là một tấm gương cho tinh thần đổi mới, chống lại các mối tệ của các tông phái cũ. Vì tông Thiên thai dosư sáng lập là Viên Mật nhất trí, cho nên chủ trương 4 tông(Viên giáo, Mật giáo, Thiền, Giới) hợp nhất, có ảnh hưởng sâu xa đối với sự hưng khởi của Thiền tông vào thời đại Liêm thương ở Nhậtbản. Thiên hoàng Thanhhòa truy tặngsư thụy hiệu là Truyền Giáo Đại Sư. Người đời gọisư là Duệ Sơn Đại Sư, Căn Bản Đại Sư, Sơn Gia Đại Sư, Trừng Thượng Nhân. Sư soạn thuật rất nhiều, tác phẩm củasư có tới hơn 280 bộ, hoặc hơn 400 bộ. Hiện còn 160 bộ, nhưng trong đó có một số không rõ chân ngụy. Tác phẩm: Pháphoa tú cú 3 quyển, Nội chứng Phật pháp tương thừa huyết mạch phổ 1 quyển, Đường quyết tập 1 quyển... đều được thu vào truyền giáo Đại sư toàn tập.[X. Duệsơnđạisư truyện; Tốitrừng đại sư nhất sinh kí; Nội chứng Phật pháp tương thừa huyết mạch; Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi Q.2, 3].
Tối Trừng 最澄
[ja] サイチョウ Saichō ||| Saichō (767-822) the founder of the Japanese Tendai school 天台宗. His involvement with Buddhism began at the age of 12, when he became the disciple of Gyōhyō 行表 of Kokubunji 國分寺 temple in Ōmi 近江, receiving initial instruction in the disciplines of the Northern school of Ch'an. He formally entered the sangha at 14, and after receiving the full precepts at the age of 19 at Tōdaiji 東大寺, he moved on to Mt. Hiei 比叡山 where he pursued the practice of meditation and the study of Huayan. But he was most enamored with the teachings of T'ien-t'ai, to which he became acquainted through the readings of the texts of Chih-i 智顗;. His reputation as a scholar-monk spread to the extent that he was offered the opportunity for a temporary travel grant from the emperor Kammu to study Buddhism in Tang China for the purpose of settling on a form of Buddhism appropriate for Japan. He embarked in 804, in a fleet of ships which also carried his famous colleague Kūkai 空海. In China, Saichō became the pupil of the Niutou 牛頭 Chan master Hsiao-jan 翛禪. He studied Tiantai under Daosui 道邃, Zhenyan (Jap. Shingon 眞言) under Shunxiao 順曉, none of which had yet existed as independent sects in Nara. He returned to Japan the following year, and in 806, officially established the Japanese Tendai sect. But although mostly influenced by Tendai doctrine, he also had, through his relationship with Kūkai, a strong interest in Shingon, and so his own system tended to be a blend of teachings. Saichō spend the remainder of his days in the propagation of his own understanding of Buddhism in and around the Mt. Hiei area, but meeting with frequent opposition from the earlier established schools, especially in regard to reforms that he attempted, as he sought to rationalize some of the Mahāyāna ordination ceremonies. He wrote prolifically, some of his more important works being the Shugo kokkaishō 守護國界章, the Hokkeshūku 法華秀句 and the Kenkai ron 顯戒論. => j: Saichō (767-822). Người thành lập tông Thiên Thai Nhật Bản. Sư lưu tâm đến Phật pháp từ lúc mới 12 tuổi, sư trở thành đệ tử của ngài Hành Biểu (j: Gyōhyō 行表) trú trì chùa Quốc Phân (j: Kokubunji 國分寺) ở Cận Giang (j: Ōmi 近江) vào lúc 14 tuổi, và sau khi thụ giới cụ túc vào năm 19 tuổi tại chùa Đông Đại (j: Tōdaiji 東大寺), sư đến núi Tỉ Duệ (j: Hiei 比叡山) để tu tập thiền quán và nghiên cứu về Hoa Nghiêm tông. Nhưng sư say mê nhất giáo lý của tông Thiên Thai, điều mà sư trở nên quen thuộc qua đọc các tác phẩm của ngài Trí Khải. Sư nổi tiếng là một học giả uyên bác đến mức sư được Hoàng đế Kammu ban tặng cho một cơ hội sang Trung Hoa nghiên cứu Phật pháp với mục đích tạo dựng nên một sắc thái Phật giáo tương ứng với bản sắc Nhật Bản. Sư đáp thuyền đi năm 804 cùng với người bạn đồng hành là Không Hải (j: Kūkai 空海). Tại Trung Hoa, sư trở thành môn đệ của Ngưu đầu thiền với Thiền sư Tiêu Nhiên (c: Hsiao-jan 翛禪) !. Sư nghiên cứu tông Thiên Thai với ngài Đạo Thuý (c: Daosui 道邃), nghiên cứu Chân ngôn tông (c: Zhenyan j: Shingon 眞言) với ngài Thuận Hiểu (c: Shunxiao 順曉), trong đó không có giáo lý nào còn tồn tại như một tông phái độc lập ở Nại Lương. Sư trở lại Nhật Bản vào năm sau, và vào năm 806, sư chính thức thành lập Thiên Thai tông Nhật Bản. Nhưng mặc dù chịu ảnh hưởng giáo lý tông Thiên Thai nhiều nhất, nhưng qua mối quan hệ với ngài Không Hải, sư vẫn có quan tâm sâu sắc đến Chân tông, thế nên hệ thống giáo lý riêng của sư có khuynh hướng là một giáo lý hoà hợp. Sư dành thời gian còn lại của đời mình để truyền bá kiến thức Phật học của mình cho Phật tử quanh vùng núi Tỉ-duệ, nhưng gặp phải sự chống đối thường xuyên với những tông phái đã được thành lập từ trước, đặc biệt là về những cải cách mà sư đang nỗ lực thực hiện, như việc sư tìm kiếm sự hợp lý hoá một vài nghi thức truyền thụ giới pháp Đại thừa. Sư trứ tác rất nhiều, một trong những tác phẩm quan trọng là Thủ hộ quốc giới chương (j: Shugo kokkaishō 守護國界章), Pháp Hoa tú cú (j: Hokkeshūku 法華秀句 ) và Hiển giới luận (j: Kenkai ron 顯戒論).
tối tân
Advanced—Most up-to-date—Modern.
tối tăm
Obscure—Dark.
Tối tự tại
最自在; C: zuìzìzài; J: saijizai; |Tự do tột cùng; hoàn toàn tự tại.
Tối tự tại 最自在
[ja] サイジザイ saijizai ||| Greatest freedom; complete mastery. 〔法華經 T 262.9.19a06〕 => Tự do tột cùng; hoàn toàn tự tại.
Tối vô tỉ kinh
最無比經; C: zuì wúbĭ jīng; J: sai muhi kyō; |Huyền Trang dịch năm 649 tại Từ Ân tự, gồm 1 quyển. Nội dung kinh Đức Phật giảng giải công đức của tam quy, ngũ giới, và cụ túc giới cho A-nan-đà. Tên đầy đủ là Phật thuyết tối vô tỉ kinh (佛説最無比經).
Tối vô tỉ kinh 最無比經
[ja] サイムヒキョウ Sai muhi kyō ||| The Zui wubi jing (Supreme Incomparable Sutra). Translated by Xuanzang 玄奘 in 649 at Dacien Monastery. One fascicle, T 691. The Buddha explains the merits of the three reliances 三歸, five precepts 五戒, and complete precepts 具足戒 for Ānanda 阿難. Full title is 佛説最無比經. => (c: Zui wubi jing Supreme; e: Incomparable Sutra). Huyền Trang dịch năm 649 tại Từ Ân tự, gồm 1 quyển. Nội dung kinh Đức Phật giảng giải công đức của tam quy, ngũ giới, và cụ túc giới cho A-nan. Tên đầy đủ là Phật thuyết tối vô tỉ kinh 佛説最無比經.
Tốn
(巽): tên gọi của 1 trong 8 quẻ dịch (Càn, Khảm, Chấn, Cấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài), tượng trưng cho gió. Nó còn là 1 trong 64 quẻ bốc dịch, với ý nghĩa mềm mại. Nó chỉ phương vị Đông Nam, màu xanh. Cho nên Tốn thủy có nghĩa dòng sông ở phía Đông Nam.
tốn
Sun (C)Quẻ thứ năm trong bát quái.
; 1) Hao tốn: Expensive—Consumption. 2) Khiêm tốn: Nhường nhịn—Modest—To yield—To accord.
tốn bà minh vương pháp
(遜婆明王法) Pháp tu của Mật giáo. Tức người tu pháp này miệng tụngmật ngôn Nhất tự tâm của Kim cương tát đỏa, nơi tự thân an trí các vị tôn thuộc 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới, đồng thời quán tưởng thân như hình Phật.Tốnbàminhvương là tên khác của minh vương Hàng tam thế, cho nên Tốn bàminhvương pháp tức là Hàng tamthế minh vương pháp. [X.phẩm Kim cương tát đỏabồ đề tâm nội tác nghiệp quán đính tất địa trong kinh Du Kì].
tốn công
To waste (lose) one's labour.
tốn của
To lose (waste) one's money.
tốn kém
Costly—Expensive.
tống
1) Biếu: To send—To give as a present. 2) Hộ tống: To escort—To give as a present. 3) Nhà Tống bên Tàu từ năm 960 đến 1280: The Sung dynasty, 960-1280 A.D. 4) Tống biệt: To see someone off. 5) Tống khứ: To drive out, or away.
tống biệt
To see someone off.
tống bà
Xem Hàng Tam Thế Ma vương.
tống bản đại tạng kinh
(宋板大藏經) Gọi tắt: Tống bản. Đại tạng kinh được khắc bản in vào đời Tống, Trung quốc, gồm có 5 loại như sau:1. Thục bản: Bản do vua ban sắc khắc in được bắt đầu ở Thành đô, tỉnh Tứ xuyên vào khoảng thời gian từ năm Khai bảo thứ 4 (971, có thuyết nói năm thứ 5 - 972) đến năm Thái bình Hưng quốc thứ 8 (983) đời Tống, là bộ Đại tạng kinh Hán dịch được khắc bản in đầu tiên. Theo phần chú thích trong Bắc sơn lục quyển 10 và Phật tổ lịch đại thông tải quyển 26 thì bản gỗ khắc lần này gồm hơn 13 vạn bản. Sau khi khắc xong được 4 năm thì truyền đến Nhật bản. Cứ theo Nguyên hanh thích thư quyển 16 của Nhật bản thì lúc bấy giờ tổng số có 5.048 quyển. Bốn năm sau, bản này lại được Hàn ngạn chi thỉnh về Cao li và theo Cao li sử quyển 93 thì gồm có 481 hòm, 2.500 quyển. Trong đó, 5.048 quyển giống với số quyển được ghi trong Khai nguyên thích giáo lục Nhập tạng lục; còn 481 hòm có lẽ là 480 pho ghi trong lục này và thêm mục lục 1 pho. Còn 2.500 quyển ghi trong Cao li sử thực ra là truyền lầm, vì Thục bản đã dùng Khai nguyên nhập tạng lục làm bản gốc để khắc bản in. Lại căn cứ vào những bản lẻ hiện còn thì được biết hình thức của Thục bản là bản xếp nửa tờ giấy (tức 1 trang) 6 dòng, mỗi dòng 14 chữ, không có đường kẻ ở mép. Lại có bản cuốn (quyển tử bản) mỗi mặt 5 dòng, mỗi bản 25 dòng và bản cuốn mỗi bản 23 dòng... Bản Tạng này, ngoài việc truyền đến Nhật bản, Cao li, còn truyền bá đến các nước như Đông nữ chân, Tây hạ... 2. Phúc châu Đông thiền tự Đẳng giác viện bản (cũng gọi Phúc châu bản, Mân bản, Việt bản): Bản của viện Đẳng giác, chùa Đông thiền, Phúc châu. Đây là bản tư, được gọi là Sùng ninh vạn thọ Đại tạng, do ngài Trùng chân trụ trì viện Đẳng giác, chùa Đông thiền phát khởi, xây cất viện mới để in Tạng kinh, bắt đầu khắc bản in vào năm Nguyên Phong thứ 3 (1080), với sự giúp sức quyên góp kinh phí của các ngài Tuệ vinh, Trí hoa, Liễu nguyên, Trí hiền, Khế chương, Phổ minh..., đến mùa Đông năm Sùng trinh thứ 2 (1103) công việc mới được hoàn thành. Tháng 11 năm ấy, vua sắc ban tên gọi là Phúc Châu Đông Tiệm Kinh Tạng Sùng Ninh Vạn Thọ Đại Tạng. Từ hòm chữ Thiên đến hòm chữ Quần gồm 479 hòm. Nay so sánh mục lục ghi trong Chiêu hòa pháp bảo tổng mục lục của Nhật bản với mục lục ghi trong Nhất thiết kinh mục lục hiện còn ở Đông tự và trong Khai nguyên thích giáo lục lược xuất thì số hòm rất giống nhau. Lại trong bản này cũng có nhiều bản gỗ được khai bản sau Khai nguyên nhập tạng. Xét trong khoảng thời gian 97 năm từ năm Nguyên phong thứ 3 (1080) đến năm Thuần hi thứ 3 (1176), viện in tạng kinh của chùa Đông thiền đã in được 595 hòm, 1450 bộ kinh. Hình thức bản này và Thục bản đều là bản xếp, trên và dưới đều có một đường kẻ, nửa tờ 6 dòng, mỗi dòng 17 chữ, mỗi hòm đều có phụ thêm một tờ âm thích. Riêng Thiên thai bộ chương sớ gồm 10 hòm từ chữ Cánh trở xuống là mỗi dòng 19 chữ. 3. Phúc châu khai nguyên tự bản: Cũng là bản tư, do các vị Thái tuấn thần, Bản minh, Bản ngộ... chung sức khắc tạo bản gỗ. Công việc được bắt đầu từ năm Chính hòa thứ 2 (1112) đến đầu năm Thiệu hưng (1129) thì đã khắc xong 400 hòm. Bấy giờ, có vị Trụ trì chùa Khai nguyên là Duy trùng đến Thủ đô quyên góp để giúp Thái tuấn thì công việc mới được tiếp tục. Đến năm Thiệu hưng 18 (1148), vị Trụ trì chùa Khai nguyên là Đại sư Tuệ thông Liễu nhất được sự cúng dường của các ông Tuyên cán, Phùng tiếp mới hoàn thành sự nghiệp. Đến năm Thiệu hưng 24 (1154), khắc được tất cả 564 hòm từ chữ Thiên đến chữ Vật, gồm 1429 bộ. Chẳng những kiểu bản giống với kiểu bản của chùa Đông thiền mà thể chữ cũng rất giống thể chữ của bản chùa Đông thiền. Hiện nay, Nhật bản cũng còn giữ được nhiều loại bản khắc này, như Tạng bản ở thư viện Cung nội tỉnh, chùa Đông, chùa Thượng đề hồ, viện Tri ân, viện Khuyến học ở núi Cao dã... 4. Tư khê bản (cũng gọi Tư khê tạng, Chiết bản), được chia thành 2 bản: a. Tư khê Viên giác tạng (cũng gọi Hồ châu bản, Viên giác tạng tiền tư khê tạng): Do Vương vĩnh tòng ở Hồ châu phát nguyện khắc bản, các vị Tịnh phạm, Hoài thâm... phát tâm khuyến hóa, quyên góp tài vật, khoảng năm Thiệu hưng thứ 2 (1132) đời vua Cao tông nhà Nam tống được khắc bản ở Viên giác thiền tự tại Tư khê thuộc Hồ châu (nay là huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang). Như trên đã nói, ngài Tịnh phạm đảm nhiệm việc quyên góp kinh phí khắc bản, theo Phật tổ thông kỉ quyển 14 thì ngài thị tịch vào niên hiệu Kiến viêm năm đầu (1127). Căn cứ theo đây mà suy đoán thì bản gỗ của Tư khê Viên giác tạng phải được khắc trước năm Thiệu hưng thứ 2 (1132). b. Tư khê Tư phúc tạng(cũng gọi Hậu tư khê tạng, Tư phúc tạng): Thời gian khắc bản là sau Tiền tư khê tạng, mãi đến năm Thuần hi thứ 2 (1175) đời vua Hiếu Tông vẫn còn đang khắc, địa điểm khai bản là Tư phúc thiền tự ở Tư khê thuộc châu An cát (nay là huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang). Viên giác tạng và Tư phúc tạng được gọi chung là Tư khê tạng. Nhưng theo sự nghiên cứu của học giả Vương quốc duy sống vào cuối đời Thanh và Pháp sư Đạo an thời Dân quốc thì Tư phúc tạng không phải là một Tạng kinh hoàn toàn độc lập, mà chỉ là phần khắc tiếp theo của tạng Viên giác. An cát châu chính là Hồ châu, Tư phúc thiền viện chính là Viên giác thiền viện, đó là vì vào niên hiệu Bảo khánh năm đầu (1225), vua Lí tông nhà Tống đổi lại tên đất, tên chùa nói trên nên mới có sự hiểu lầm của người đời sau đối với tạng kinh này. Như vậy, 2 tạng Tiền tư khê và Hậu tư khê cũng nên được xem như một tạng. An cát châu Tư khê pháp bảo Tư phúc thiền tự Đại tạng kinh mục lục 2 quyển hiện nay được cất giữ ở thư viện Đại học Đế quốc tại Kyoto, Nhật bản, cũng được thu vào Chiêu hòa pháp bảo tổng mục lục. Qua mục lục, người ta được biết, Tư khê tạng từ chữ Thiên đến chữ Tối gồm 599 hòm, 1464 bộ. Trong đó, số hòm của 479 hòm từ chữ Thiên đến chữ Quần đại khái giống với Khai nguyên thích giáo lục lược xuất. Còn 31 hòm từ chữ Anh trở xuống đến chữ Cốc thì hoàn toàn giống với bản Phúc châu. Nhưng hòm chữ Anh thì loại bỏ Đại đường Trinh nguyên tân định mục lục và thay vào đó là Thích âm tinh nghiêm tập; rồi lại bổ sung thêm Tán pháp giới tụng vào hòm chữ Lộ. Từ hòm chữ Chấn trở xuống thì giữa 2 tạng có nhiều chỗ dị đồng. Kiểu bản của 2 tạng này hoàn toàn giống với bản Phúc châu. Hiện nay, tạng Tư khê đang được cất giữ ở chùa Tăng thượng tại Kyoto, Nhật bản, ở viện Hỉ đa tại Hà việt thuộc Vũ tạng, Nhật bản. Trong đó, tạng bản chùa Tăng thượng được truyền vào niên hiệu Kiến Trị năm đầu (1275) là do ngài Truyền hiểu người Nhật ở chùa Quản sơn, tại Cận giang, Nhật bản, mang từ Trung quốc (đời Tống) về và hiện được Nhật bản xếp vào loại quốc bảo. 5. Tích sa diên thánh viện bản (cũng gọi Diên thánh tự bản, Tích sa tạng): Đây là Tạng bản thuộc tư nhân do các vị Triệu an quốc, Pháp âm... phát tâm quyên góp kinh phí, được khắc ở viện Tích sa Diên thánh, tại phủ Bình giang (nay là huyện Ngô, tỉnh Giang tô) vào khoảng niên hiệu Đoan bình năm đầu (1234) đời vua Lí tông nhà Nam Tống. Theo mục Thức ngữ trong phần Đoan bình nguyên niên trong Bình giang phủ Tích sa Diên thánh viện tân điêu Đại tạng kinh luật luận mục lục quyển thượng (được thu vào Chiêu hòa pháp bảo tổng mục lục quyển 1 do thư viện Đại học Đế quốc ở Kyoto, Nhật Bản cất giữ) thì có rất nhiều tín đồ đã góp phần mình vào việc khắc in Tạng bản này. Mục lục này cũng có ghi niên hiệu Đoan bình năm đầu (1234), như vậy tất nhiên nó đã được khắc bản từ 1234 trở về trước. Từ chữ Thiên đến chữ Hợp gồm 548 hòm, 1.429 bộ. Trong đó, 539 hòm từ chữ Thiên trở xuống đến chữ Khúc và 7 hòm từ chữ Đán đến chữ Hợp về đại thể thì giống, nhưng về chi tiết thì có khác với bản Tư khê. Đến năm Đại đức thứ 5 (1301) đời vua Thành Tông nhà Nguyên, Tạng bản này từng được khắc lại. Từ năm Đại đức thứ 10 (1306) về sau nó lại tiếp tục được khắc bản ấn hành. Kiểu bản của Tạng này cũng hoàn toàn giống với bản Phúc châu. Trong các Tạng bản nói trên, nay di phẩm của Thục bản có từ 2 đến 3 thếp, các bản khác đều còn một số, đều có các bản lẫn lộn vào, không một bản nào hoàn hảo. Ngoài các bản kể trên, Vũ di tân tập quyển 6 do Dương ức soạn vào đời Tống có ghi: Đầu năm Chí đạo (995- 997) đời vua Thái Tông, chùa Khai nguyên ở Vụ châu in Đại tạng kinh. Đây có lẽ là Đại tạng kinh bản đời Tống ngoài 5 bản đã ghi ở trên, nhưng sự thực thế nào thì chưa rõ. Trung hoa Đại tạng kinh tập 1 ấn hành ở Đài loan vào năm 1961, có thu Tích sa tạng và Tống tạng di trân(bản in chụp) là tập thành Đại tạng kinh bản đời Tống. [X. Duyên sơn tam Đại tạng tổng mục lục; Cao dã sơn kiến tồn tạng kinh mục lục; Trung quốc Đại tạng kinh phiên dịch khắc ấn sử (Đạo an): Trung hoa Đại tạng kinh thủ biên tập thượng (Tích sa tạng và Tống tạng di trân biên mục thuyết minh); Đại tạng kinh điêu ấn khảo (Thường bàn Đại định, Triết học tạp chí 314-316); Phật giáo thánh điển khái luận]. (xt.Trung Văn Đại Tạng Kinh, Thục Bản).
Tống Cao Tăng Truyện
(宋高僧傳, Sōkōsōden): 30 quyển, do Tán Ninh (贊寧), v.v., nhà Tống soạn, được thành lập vào năm đầu (988) niên hiệu Đoan Củng (端拱) nhà Tống. Phụng sắc chỉ của vua Thái Tông, nhóm Tán Ninh chịu trách nhiệm soạn tập, bắt đầu từ năm thứ 7 (982) Thái Bình Hưng Quốc (太平興國), trải qua 6 năm và hình thành vào năm đầu niên hiệu Đoan Củng. Mặc dầu được gọi là Tống Cao Tăng Truyện, nội dung bộ này gồm truyền ký của chư vị cao tăng nhà Lương, Đường, trong đó chủ yếu là những cao tăng nhà Đường. Bắt chước theo phương pháp phân loại 10 khoa của Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳), bộ này có 532 truyện chính và 125 truyện phụ, cũng được chia thành 10 khoa gồm Dịch Kinh (譯經), Nghĩa Giải (義解), Tập Thiền (習禪), Minh Luật (明律), Hộ Pháp (護法), Cảm Thông (感通), Di Thân (遺身), Độc Tụng (讀誦), Hưng Phước (興福), Tạp Khoa Thanh Đức (雜科聲德).
tống cao tăng truyện
(宋高僧傳) Cũng gọi: Đại tống cao tăng truyện. Tăng truyện, 30 quyển, do ngài Tán ninh (919-1002) soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Trong sách này, tiếp theo Tục cao tăng truyện đời Đường, thu chép truyện kí của các vị cao tăng sống trong khoảng 343 năm từ giữa năm Trinh quán (627-649) đời vua Thái tông nhà Đường đến niên hiệu Đoan Củng năm đầu (988) đời vua Thái tông nhà Tống thì dừng. Vì sách này được biên soạn, sửa chữa và hoàn thành ở chùa Tả nhai Thiên thọ, nên còn được gọi là Thiên thọ sử. Bài tựa trong sách gốc nói chính truyện 533 vị, phụ thêm 130 vị, nhưng thực thì chính truyện 531 vị, phụ thêm 125 vị. Nội dung noi theo thể lệ của Lương cao tăng truyện chia làm 10 khoa: 1. Dịch kinh: Ba mươi hai vị (phụ thêm 12 vị). 2. Nghĩa giải: Bảy mươi hai vị (phụ thêm 22 vị). 3. Tập thiền: Một trăm linh ba vị (phụ thêm 29 vị). 4. Minh luật: Năm mươi tám vị (phụ thêm 10 vị). 5. Hộ pháp: Mười tám vị (phụ thêm 21 vị). 6. Cảm thông: Tám mươi chín vị (phụ thêm 23 vị). 7. Di thân:Hai mươi hai vị (phụ thêm 2 vị).8. Độc tụng:Bốn mươi hai vị (phụ thêm 8 vị).9. Hưng phúc: Năm mươi vị (phụ thêm 6 vị).10. Tạp khoa: Bốn mươi lăm vị (phụ thêm 12 vị). Sách này thu dụng các sử liệu trực tiếp như các bài minh bia hoặc dã sử... đó là điểm đặc sắc của sách này. Trong đó, khoa Tập thiền, ngoài vị Tổ khai sáng tông Vân môn là ngài Văn môn Văn yển ra, những nhân vật trọng yếu của các phái Thiền tông đều có truyện kí riêng, đối với những việc tranh cãi trong nội bộ Thiền tông cũng không che giấu, tránh né. Đây là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử Thiền tông. Nhưng trong sách đã không nói rõ một cách thích đáng về quá trình thành lập Thiền tông, có lẽ vì các sử liệu liên quan đã bị hủy hoại trong Pháp nạn Hội xương. Tuy nhiên, có điều không thể không nói là vì ngài Tán ninh vốn thuộc hệ thống Nam sơn luật tông nên đối với Thiền tông cũng còn có một thứ thiên kiến nào đó chăng? Ngoài ra, sách này do vâng mệnh vua mà được biên soạn thành vào thời đại Trung quốc mang sắc thái Phật giáo rất sâu đậm, nên ta có thể thấy trong đó Phật pháp thuận theo lập trường của vương pháp. Hơn nữa, trong một tác phẩm khác của mình là bộ Đại tống tăng sử lược, ngài Tán ninh có ý định hướng lí luận Phật giáo theo học thuyết luân lí Nho gia để dung hòa tư tưởng Nho Phật. Sách này cùng với Lương cao tăng truyện, Tục cao tăng truyện và Đại minh cao tăng truyện được gọi chung là Cao tăng truyện tứ tập. Sách này không được thu vào tạng Cao li, chỉ thấy trong 3 bản Tống, Nguyên và Minh mà thôi. [X. Phật tổ thống kỉQ.43; Phật tổ lịch đại thông tảiQ.26; Thích thị kê cổ lược Q.4].
Tống cao tăng truyện 宋高僧傳
[ja] ソウコウソウデン Sō kōsō den ||| Song gaoseng zhuan; The (Sung version of the Biographies of Eminent Monks). 30 fasc., by Zanning 賛寧et. al.; T 2061.50.709a-900a. Includes biographies of 533 people, and incidental biographies of 133 others, covering the period from the beginning of the Tang to the year 967. Can be seen as a continuation of the Xu gaoseng chuan 續高僧傳. => (c: Song gaoseng zhuan; e: The (Sung version of the Biographies of Eminent Monks). 30 quyển của Tán Ninh (c: Zanning 賛寧) và các tác giả khác. Nội dung gồm tiểu sử của 533 vị, và phụ lục tiểu sử của 133 vị khác, bao quát thời kỳ từ đầu đời Đường đến năm 967. Có thể xem là phần tiếp tục của Tục cao tăng truyện (續高僧傳c: Xu gaoseng chuan).
tống chân tông
(宋真宗) Con thứ 3 của vua Tống Thái Tông. Sau khi lên ngôi vào năm 998, ông tôn kính Phật pháp, hưng long Tam giáo. Ông từng nhận lời mời của vị tăng dịch kinh người Tây vực là ngài Pháp hiền mà viết bài tựa Kế thánh giáo để ở sau bài tựa Thánh giáo của vua Thái tông. Nhà vua còn soạn Sùng thích luận, chú giải kinh Tứ thập nhị chương và kinh Di giáo. Ông còn kế thừa di nghiệp của vua Thái tông, dịch nhiều kinh điển, mở rộng việc học tập tiếng Phạm, các vị sa môn người Ngũ Thiên trúc đua nhau nhóm họp ở kinh thành, xưa nay chưa từng có phong khí hoằng pháp hưng thịnh như vậy. Tất cả kinh, luật, luận được dịch từ năm Thái bình Hưng quốc về sau, gồm 413 quyển đều biên vào Đại tạng. Trong một năm, vua cho phép hơn 23 vạn người xuất gia làm tăng, quan Thị độc các Vương phủ là Tôn thích tâu vua xin giảm bớt việc sửa chùa và độ tăng, nhưng vua cho rằng đạo Phật và đạo Lão đều có công giáo hóa người đời nên không chấp nhận lời tâu xin. Đồng thời, vua ban lệnh cho các châu quận trong nước, nếu tăng ni và đạo sĩ phạm công tội thì được chuộc tội, còn nếu các quan hoặc thường dân vô cớ hủy nhục tăng ni thì sẽ bị cách chức hoặc lưu đày nghìn dặm. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8; Bổ tục cao tăng truyện Q.2; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27].
tống cổ
To turn someone out of the door.
tống giam
To imprison.
tống hoả
(送火) I. Tống Hỏa. Đốt lửa tiễn đưa. Phật giáo Nhật bản cử hành pháp hội Vu lan bồn bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 (hoặc 16 tháng 8) hàng năm. Đến ngày cuối cùng, lúc chạng vạng tối, dân chúng đốt lửa để tiễn đưa hương linh của tổ tiên. Ngoài ra, lửa được đốt lên lúc đón rước hương linh của tổ tiên về thì gọi là Nghinh hỏa. II. Tống Hỏa. Trong nghi thức chôn cất người chết, sau khi quan tài được đưa ra khỏi cửa, thì người ta đốt lửa ở trước cửa, cũng gọi là Tống hỏa.
tống huy tông
(宋徽宗) Con thứ 11 của vua Tống Thần tông, lên ngôi kế vị anh là vua Triết tông. Ông là người hiểu biết rộng, nhiều tài nghề, nhưng hay ganh ghét và thích gần gũi kẻ dua nịnh, dùng Thái kinh làm Tể tướng, chính trị trong nước hỗn loạn. Thái kinh lại tiến cử đạo sĩ Lâm linh tố, mê hoặc xúi dục nhà vua nên xảy ra việc phế Phật năm Tuyên hòa, đổi danh hiệu Phật thành Đại giác Kim tiên, Bồ tát là Tiên nhân đại sĩ, tăng gọi là Đức sĩ, y phục mặc theo kiểu đạo sĩ. Chỉ trong một thời gian ngắn, kinh tượng pháp khí và các ngôi chùa danh tiếng, to lớn bị phá hủy gần hết, tai họa lần này nặng nề hơn tai họa do Tam Vũ nhất Tông gây ra. Về sau, ông đánh nhau với quân Kim, thua trận, bị bắt rồi chết ở miền Bắc vào năm Thiệu hưng thứ 5 (1135). Ông làm vua 25 năm, ở tù 10 năm, thọ 54 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.46; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29].
tống khứ
To turn out—To expel.
tống khứ quỷ
To cast out devils.
Tống Liêm
(宋濂, Sōren, 1309-1380): nhân vật sống dưới thời nhà Minh, xuất thân Phố Giang (浦江), Tỉnh Triết Giang (浙江省), tự Cảnh Liêm (景濂), hiệu là Tiềm Khê (潛溪), Vô Tướng Cư Sĩ (無相居士), Long Môn Tử (龍門子), Tiên Hoa Sanh (仙華生), Bạch Ngưu Sanh (白牛生), Nam Cung Tán Lại (南宮散吏), Nam Sơn Tiều Giả (南山樵者). Lúc nhỏ ông theo học Nho Giáo với Ngô Lai (呉萊), Liễu Quán (柳貫), Hoàng Tiềm (黃潛), v.v., thông hiểu các kinh sử. Trong khoảng thời gian niên hiệu Chí Chánh (至正, 1341-1367), ông được ban tặng hiệu Hàn Lâm Học Sĩ, nhưng sau lui ẩn cư ở Long Môn Sơn (龍門山), chuyên viết sách trong vòng hơn 10 năm. Đến đầu thời nhà Minh, biên tu các sử thư nhà Nguyên, nghiên cứu sâu các điển tịch của thánh hiền, cho nên phần lớn các quy định về lễ nhạc dưới thời nhà Minh đều do ông làm ra. Ông cũng thường đọc Đại Tạng Kinh, khi rảnh rang thì tu tập Thiền quán, cùng với nhà vua thường đàm luận áo nghĩa của kinh điển. Vào năm thứ 13 (1380) niên hiệu Hồng Võ (洪武), nhân chuyện cháu ông là Tống Thận (宋愼) có tội nên bị liên lụy, cả nhà ông phải dời đến Mậu Châu (茂州), khi đi qua Cù Đường (瞿塘), đêm về cùng với vị tăng hàn huyên đạo vị, ông ngồi ngay ngắn y nhiên mà ra đi, hưởng thọ 72 tuổi. Đến thời Võ Tông, ông được ban cho thụy hiệu là Văn Hiến (文憲). Sau này, Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏) thâu tập các văn thư của ông thành cuốn Hộ Pháp Lục (護法錄). Ngoài ra, ông có trước tác Tống Học Sĩ Toàn Tập (宋學士全集) 33 quyển, Long Môn Tử (龍門子), Phố Dương Nhân Vật Ký (浦陽人物記), Thiên Hải Loại Biên (篇海類編), Tiềm Khê Tập (潛溪集), v.v.
tống liêm
(宋濂) Cư sĩ Phật giáo Trung Quốc, sống vào đời Minh, người ở huyện Phố giang, tỉnh Chiết giang, tự Cảnh liêm, hiệu Tiềm khê, Vô tướng cư sĩ, Long môn tử, Tiên hoa sinh, Bạch ngưu sinh, Nam cung tán lại, Nam sơn tiều giả. Thủa nhỏ, ông theo học các vị Ngô lai, Liễu quán, Hoàng tiềm..., thông hiểu kinh sử. Khoảng năm Chí chính (1341-1367) đời Nguyên, ông giảng dạy tại Hàn lâm học sĩ, sau ở ẩn tại núi Long môn, viết sách hơn 10 năm. Đầu đời Minh, ông được giới Nho học ở Giang nam đề cử, sửa chữa lịch sử đời Nguyên, nghiên cứu sâu các sách Thánh học, chế định lễ nhạc đời Minh... Ông thường xem Đại tạng, khi nhàn rỗi, tu tập thiền quán, nghiên cứu, thảo luận ý nghĩa sâu xa trong kinh Phật với vua. Năm Hồng vũ 13 (1380), vì cháu đích tôn của ông là Tống thận phạm tội nên ông bị liên lụy, cả nhà đều bị đày đi Mậu châu. Trên đường lưu đày, ông đi qua Cù đường, gặp một vị tăng, ban đêm đang ngồi nói chuyện, bỗng ông qua đời một cách an nhiên tự tại, hưởng thọ 72 tuổi. Thời vua Vũ tông, ông được truy tặng thụy hiệu Văn Hiến. Ông để lại các tác phẩm: Tống học sĩ toàn tập 33 quyển, Long môn tử, Phố dương nhân vật kí, Thiên hải loại biên, Tiềm khê tập.Về sau, ngài Vân thê Châu hoành thu chép các văn của ông thành bộ Hộ pháp lục.[X. Cư sĩ truyệnQ.37; Tống nguyên học án Q.82; Minh sử cảo Q.123].
tống lạt ba
Tsongkhapa (S), Tso-kha-pa (T), Je Tsongkhapa Tông cáp ba, Tôn Khách BaNhà cải cách đạo Lạt ma giáo Tây tạng (1357 - 1419), đồng thời cũng là người sáng lập phái mũ vàng (Gelougs-pas), hóa thân của Văn thù Sư Lợi Bồ tát. Chính đức Phật cũng đã tuyên đoán sự hiện diện của Ngài ở Tây tạng. Tổ Tống lạt Ba đã hồi phục tinh túy Phật giáo và tỏ rõhiệu năng của phương cách thực hành Phật học chính thống.
tống lục đại tụng cổ
(宋六大頌古) Từ ngữ gọi chung các bài tụng xưa do 6 vị Đại Thiền sư đời Tống sáng tác. Tụng cổ là dùng phương thức kệ tụng để niêm bình các cổ tắc công án do các Thiền sư nhiều đời để lại, trong đó cũng đồng thời tuyên dương gia phong của mình hoặc đại ý của một tông. Lục đại tụng cổ đời Tống là: 1. Phần dương tụng cổ: Một trăm tắc tụng cổ do ngài Thiệnchiêu ở Phần dương sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 998 đến 1022. 2. Tuyết đậu tụng cổ: Một trăm tắc tụng cổ do ngài Trùnghiển ở núi Tuyết đậu sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1017 đến năm 1021. 3. Đan hà tụng cổ: Một trăm tắc tụng cổ do ngài Đanhà Tửthuần sáng tác vào khoảng thời gian từ năm 1102 đến năm 1106. 4. Hoành trí tụng cổ: Một trăm tắc tụng cổ do ngài Hoànhtrí Chínhgiác sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1131 đến năm 1162. 5. Vô môn tụng cổ: Sáu mươi tư tắc tụng cổ do ngài Vômôn Tuệkhai sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1228 đến năm 1233. 6. Hư đường tụng cổ: Một trăm tắc tụng cổ do ngài Hưđường Tríngu sáng tác trong khoảng thời gian từ năm 1265 đến năm 1274. Trong 6 tụng cổ trên đây thì Tuyết đậu tụng cổ được thu chép trong Bích nham lục, Hoành trí tụng cổ được thu chép trong Thung dung lục và Vô môn tụng cổ được thu chép trong Vô môn quan... Chỉ cho những kinh điển quí hiếm được tuyển chọn từ tạng Kim để in chụp và xuất bản. Năm Dân quốc 23 (1934), sa môn Phạm thành định in chụp tạng Tích sa, nên mới đi tìm những kinh sách còn thiếu. Khi đến chùa Quảng thắng, huyện Triệu thành, tỉnh Sơn tây, ngài Phạm thành phát hiện Tạng kinh được khắc vào đời Kim, do chùa Thiên minh ở Giải châu, tỉnh Sơn tây quyên góp tài vật để khắc in vào khoảng năm Hi tông đến Thế tông (1148-1173) đời Kim mà giới Phật giáo gọi là Kim tạng. Tạng kinh mà ngài Phạm thành phát hiện có 4950 quyển. Bấy giờ, hội in chụp tạng Tích sa ở Thượng hải chọn lấy những bản kinh tạng Kim mà bản in Đại tạng đời Tống không có, rồi vậng tập để ấn hành vào năm Dân quốc 24 (1935), đặt tên là Tống tạng di trân (Những kinh quí hiếm mà tạng bản đời Tống bỏ sót) và chia làm 3 tập, 12 hòm, 120 quyển (tập thượng 4 hòm 40 quyển, tập trung 6 hòm 60 quyển, tập hạ 2 hòm 20 quyển), tất cả gồm 47 bộ kinh sách Phật. Trong đó, các sách như: Tào hầu khê Bảo lâm truyện, Truyền đăng ngọc anh tập, Cảnh hựu Thiên trúc tự nguyên, Nhân minh luận lí môn thập tứ quá loại sớ... đều chưa được thu vào Đại chính tạng và Vạn tục tạng. Tân văn phong xuất bản công ti ở Đài loan có in chụp để phát hành.
tống nguyên nhập tạng chư đại tiểu thừa kinh
Bộ Kinh Tạng được nhận vào Kho Kinh Điển Trung Quốc từ Ấn Độ, kể cả Tiểu lẫn Đại Thừa, vào thời Bắc Tống Nam Tống (960-1127 và 1127-1280 sau Tây Lịch) và thời nhà Nguyên (1280-1368 sau Tây Lịch)—Sutras of the Hinayana and Mahayana admitted into the canon during the Northern and Southern Sung 960-1127 and 1127-1280 A.D., and Yuan 1280-1368 A.D. dunasties.
tống ra
To eject—To drive out (away).
tống tiền
To blackmail.
tống triều
Sung dynasty.
tống táng
Tiển đưa linh cửu người chết đến mộ huyệt—To escort for burial; to escort the deceased, or the departed to the grave.
tống tửu
To offer wine.
tống vong
To escort or take the departed to the grave.
; (送亡) Cũng gọi: Tống táng, Tân tống. Tiễn đưa người chết đến nơi an táng. Phương pháp an táng người chết phổ biến nhất là chôn xuống đất(thổ táng), nhưng trong Phật giáo thì lại đốt (hỏa táng) là đúng pháp hơn cả. Ngoài ra cũng có pháp Tống vong bằng cách bỏ thây người chết ở trong rừng (lâm táng) hoặc thả xuống sông cho trôi đi (thủy táng). Hiện nay, tín đồ Ấn độ giáo ở Ấn độ và tín đồ Phật giáo ở Tây tạng vẫn còn thực hành phương pháp Lâm táng, tức bỏ xác chết trong rừng cho chim thú ăn; còn thủy táng thì tín đồ Ấn độ giáo đem thả xác người chết xuống sông Hằng cho trôi đi. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Đại Đường Tây vực kí Q.2; môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên].
tống vân
Song Yun (C)Sa môn Trung quốc thế kỷ thứ 6.
; Song-yun (C).
; (宋雲) Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Bắc Ngụy, người Đôn hoàng, là Sứ thần của vua Hiếu minh đế nhà Bắc Ngụy. Tháng 11 niên hiệu Thần qui năm đầu (518, có thuyết nói niên hiệu Hi bình năm đầu, hoặc Chinh quang năm thứ 2), sư vâng mệnh Hồ thái hậu, cùng với các sa môn Pháp lực, Tuệ sinh (có chỗ nói Huệ sinh), xuất phát từ Lạc dương, đi qua các xứ Xích lãnh, Thổ cốc hồn, Thiện hiện, Mạt thành, Hãn ma, Vu điền, Chu câu ba, Hán bàn đà, Bát hòa, Hát thát, Ba tư, Xa di... Tháng 12 năm sau, sư đến nước Ô trường, yết kiến vua nước này, đồng thời nói về đạo đức của Khổng, Mạnh, Lão, Trang và phương thuật thần tiên cho vua nghe. Trung tuần tháng 4 niên hiệu Chính quang năm đầu (520), Sư đến nước Càn đà la. Sau đó, sư lại đi về phía tây, vượt qua sông Tân đầu (tức sông Ấn độ), chiêm bái các Phật tích như tháp Tước li, Đại tháp... Tháng 2 năm sau (có thuyết nói năm 522 hoặc 523), sư trở lại Lạc dương, mang về 170 bộ kinh điển Đại thừa bằng tiếng Phạm. Sau khi về nước, sư y cứ vào những điều mắt thấy tai nghe khi đi qua các nước vùng Tây vực mà soạn thành cuốn Tống vân hành kỉ, về sau, sách này được thu vào Lạc dương già lam kí quyển 5. Ngoài ra, truyền thuyết Chích lí tây qui, Chích lí Đạt ma(ngài Bồ đề đạt ma cầm một chiếc giày về Ấn độ) rất nổi tiếng trong lịch sử Thiền tông Trung quốc, chính là sự tích truyền kì về việc ngài Tống vân và Sơ tổ Thiền tông Trung quốc là ngài Bồ đề đạt ma gặp nhau ở Thông lĩnh. Cứ theo Bảo lâm truyện quyển 8, chương Bồ đề đạt ma trong Lịch đại pháp bảo kí và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 thì ngài Bồ đề đạt ma đến Trung quốc truyền pháp trong nhiều năm, sau, vào năm Thái hòa 19 (495) đời vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy, sư ngồi an nhiên thị tịch, được mai táng ở núi Hùng nhĩ. Ba năm sau, ngài Tống vân hoàn thành chuyến du hành qua Tây vực, trên đường trở về Trung quốc, sư bỗng gặp tổ Bồ đề đạt ma ở Thông lĩnh, tay cầm một chiếc giày, một mình bước đi thoăn thoắt. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51,220 trung) ghi: Tống vân hỏi: Sư về đâu? Sư nói: Về Tây thiên. Rồi bảo Tống vân: Chúa của ông đã qua đời. Tống vân nghe nói trong lòng hoang mang, từ biệt sư rồi vội đi về phía đông. Đến khi phục mệnh thì vua Minh đế đã băng hà, vua Hiếu trang lên nối ngôi. Tống vân thuật lại việc gặp ngài Đạt ma cho vua nghe, vua liền ban lệnh khai mồ và mở quan tài ra xem thì chỉ thấy còn một chiếc giày, cả triều đình kinh ngạc, vâng mệnh vua đem chiếc giày còn lại về chùa Thiếu lâm cúng dường. Truyền thuyết này thấy được ghi chép trong tất cả truyện kí về ngài Bồ đề đạt ma, nhưng theo sự khảo chứng của người đời sau thì Tống vân gặp gỡ ngài Bồ đề đạt ma ở Thông lãnh chưa chắc đã là người có thật mà là mượn tên Tống vân sứ thần Bắc Ngụy để hư cấu nên truyền thuyết này; vả lại, trong Tống vân hành kỉ không thấy một câu một chữ nào về sự tích này. [X. chương Bồ đề Đạt ma trong Truyền pháp bảo kì; chương Bồ đề đạt ma trong Tổ đường tập Q.2; Lạc dương già lam kí Q.5; Bắc Ngụy tăng Huệ sinh sứ Tây vực kí; Thích ca phương chí quyển hạ; Phật tổ thống kỉ Q.38; Ngụy thư Tây vực truyện; Ngụy thư thích lão chí; Hà nam thông chí Q.33; Buddhist Records of the Western World, Introduction by S.Beal; Voyage de Song Yun dans l’Udyàna et le Gandhàra, 518-522 BEFEO, 1905 par E.Chavannes (bản văn này có bản dịch tiếng Hán, Phùng thừa quân dịch và chú thích, đề tựa là Tống vân hành kỉ tiên chú, được thu vào Tây vực nam hải sử địa khảo chứng dịch tùng mậu tập, Thương vụ ấn thư quán ấn hành)].
tống vân đại sư
Song-yun (C)Nhà sư người Tàu, được phái đi Tây vực thỉnh kinh năm 518, về nước năm 523, thỉnh 170 quyển kinh. Ngài đi sau ngài Pháp Hiển (cuối thế kỷ thứ tư) và trước ngài Huyền Trang (đầu thế kỷ thứ 7). Khi Ngài Tống Vân về nước thì Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã tịch tại núi Tung sơn (năm 529).
tống văn minh
Sung wen-ming (C), Song Wenming Một nhà văn và cải cách của Đạo gia vào thế kỷ thứ 6, đã truyền bá tư tưởng độc thân của Phật giáo trong hàng Đạo chúng.
tống đạt
To deliver—To serve.
tống đế vương
Vị chúa ngục thứ ba trong thập điện ngục vương, cai quản “Hắc Thằng” địa ngục—The third of the ten rules of Hades, who presides over the Kalasutra, the hell of black ropes.
; (宋帝王) Vị vua thứ 3 trong 10 vị vua ở âm phủ. Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương thì bản địa của vị vua này là bồ tát Văn thù, là vị quan cõi âm trị tội người tà dâm. Vong hồn những người sau khi chết, xuống âm phủ được 21 ngày thì phải đến đại điện của vị vua này để tiếp nhận sự phán xét về các việc thiện ác mà mình đã làm lúc còn sống. Trước điện vua, đàn mèo dữ đến tụ tập, những rắn lớn bò ra, cùng lúc cắn xé vú của người chết và quấn quanh thân người chết khiến họ chịu nhiều khổ sở. Điện thứ 3 ở cõi âm mà vị vua này cai quản là đại địa ngục Hắc thằng nằm dưới tảng đá Ốc tiêu phía đông nam dưới đáy biển lớn. Địa ngục này mỗi bề rộng 500 do tuần, có 16 địa ngục nhỏ phụ thuộc. (xt. Diêm La Thập Điện).
tốp
Group.
tốt
Good.
tốt bụng
Kind (good)-hearted.
tốt duyên
Happy marriage.
tốt hơn
Better.
tốt khách vô tốt chủ
(卒客無卒主) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tốt nghĩa là đột nhiên. Tốt khách vô tốt chủ nghĩa là người khách đến thình lình, đặt chủ nhà vào tình thế bất ngờ nên tiếp đãi không được hoàn hảo, đối đáp không được khéo léo. Thời Nam triều, Sơ tổ Thiền tông Đông độ Bồ đề đạt ma thình lình từ Ấn độ đến Trung quốc, vua Lương vũ đế lại không phải là bậc thượng trí lợi căn, cho nên không thể khế hợp với vị khách hiếm có đến một cách bất ngờ này. Thung dung lục tắc 2 (Đại 48, 228 trung) nói: Ánh sáng rọi thẳng vào mặt người trong đêm tối, chẳng ai không án kiếm đề phòng; khách tốt chủ không tốt, hợp giả chẳng hợp thật, của báu quí giá không nắm được, chỉ vớ được con mèo chết để lên đầu đi ra.
tốt khốc kị
(卒哭忌) Cũng gọi: Xuất khổ kỵ, U hồi kỵ. Cúng vong linh người chết ngày thứ 100. Vào ngày này, thân bằng quyến thuộc làm các việc phúc thiện, cúng dường để cầu diệt tội cho người chết. Theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 5 và kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 3, làm thiện cầu phúc cho người chết có năng lực giúp họ không bị đọa vào đường quỉ đói, mà được sinh lên cõi trời, cõi người, thường hưởng phúc đức. [X. Truy kị danh số chi thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui Q.4].(xt. Niên Kị).
tốt la
(窣羅) Phạm,Pàli:Surà. Cũng gọi: Tôla, Tốtlợi. Hán dịch: Tửu, Mễ tửu, Cốc tửu. Chỉ cho rượu nấu bằng ngũ cốc. Theo Pháp uẩn túc luận quyển 1, nếu dùng các vật liệu như gạo, lúa mì... chưng nấu đúng phương pháp, khuấy chung với men rượu và các vị thuốc, ủ lâu ngày thì thành loại rượu có màu sắc đẹp, hương vị thơm ngon vào bậc thượng hạng, gọi là Tốt la tửu. Ngoài ra, trong Chú duy ma cật kinh quyển 1, danh từ Asura (A tu la) bị dịch lầm là Vô tửu, đó là vì lầm sura (tu la) và surà (tốt la) như nhau. [X. luận Thuận chính lí Q.38; luận Câu xá Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].
tốt lành
Good—Fine.
tốt lộ đa a bán na
Srota-apanna (skt)—See Tứ Thánh Quả in Vietnamese-English Section, and Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tốt lộ đà a bát nang
Srota-apanna (skt)—See Tứ Thánh Quả in Vietnamese-English Section, and Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tốt lộc cần na quốc
(窣祿勤那國) Tốt lộc lặc na, Phạm:Zrughna. Tên một nước thời xưa ở Trung Ấn độ, nằm về phía đông bắc nước Tát tha nê thấp phạt la, thuộc thượng lưu sông Diêm mâu na, tức vùng Tốc khố (Sugh) ở gần Ca tạp đức lợi (Jagàdhri) thuộc tiểu bang A-mẫuphạlạp (Ambala). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì nước Tốt lộc lặc na chu vi hơn 6.000 dặm,đông giáp sông Hằng,bắc giáp Đại sơn, sông Diêm mâu na chảy qua chính giữa nước. Đô thành chu vi hơn 20 dặm, phía đông gần sông Diêm mâu na, tuy đã rất hoang vu nhưng nền thành vẫn còn chắc chắn. Sản vật và phong thổ nước này giống với nước Tát tha nê thấp phạt la. Tính người chất phác, sùng tín ngoại đạo, xem trọng học vấn và quí chuộng phúc tuệ; có 5 ngôi già lam với hơn 1.000 tăng chúng, phần nhiều học Tiểu thừa, ít học các bộ khác. Ngoài ra, có 100 ngôi đền thờ trời, ngoại đạo rất đông. [X. kinh Phật mẫu khổng tước chú vương Q.trung; kinh Khổng tước chú Q.thượng; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Ancient Geography of India by A.Cunningham.
tốt mã
To have a good look (appearance).
tốt phước
Fortunate—Happy.
tốt tiếng
1) Beautiful voice. 2) Good reputation (name).
tốt đẹp
Fine.
Tốt Đổ Ba
(窣堵波): âm dịch của chữ stūpa (s.) và thūpa (p.). Chữ này còn có các âm dịch khác như Tốt Đổ Bà (窣覩婆), Suất Đô Bà (率都婆), Tô Thâu Bà (蘇偸婆), Tư Thâu Ba (私鍮簸), Đẩu Đẩu Ba (藪斗波), Đâu Bà (兜婆), Thâu Bà (偸婆), v.v. Bên cạnh đó, còn có một số ý dịch của nó như cao hiển xứ (高顯處), công đức tụ (功德聚), phương phún (方墳), viên trũng (圓塚), phún lăng (墳陵), miếu (廟), trũng (塚), Phật đồ (佛圖), phù đồ (浮圖), v.v. Đây là kiến tạo vật được xây lên cao để an trí xá lợi của Phật, v.v., tức là tháp. Cũng có trường hợp tháp được xem giống như Chi Đề (s: caitya, p: cetiya, Chi Đề [支提、枝提], Chế Đa [制多]). Trong Ma Ha Tăng Kỳ Luật (s: Mahāsaṅghavinaya,摩訶僧祇律) 33 có ghi rằng: “Hữu xá lợi giả danh tháp, vô xá lợi giả danh Chi Đề (有舍利者名塔、無舍利者名枝提, cái có xá lợi gọi là tháp, cái không có xá lợi gọi là Chi Đề)”, nhưng sự phân biệt này không mang tính tuyệt đối.
tốt đổ ba đại cát tường bồ tát
(窣覩波大吉祥菩薩) Tốt đổ ba đại cát tường, Phạm:Stùpamahàzrì. Hán âm: Tốt đổbamahathilợi. Cũng gọi: Tháp đại cát tường bồ tát, Tát đỏa đại cát tường bồ tát. Trong Mạn đồla do AxàlêThiện vô úy truyền gọi là Đới thápđứcbồtát, Đới tháp cát tường bồ tát, tức vị bồ tát ngồi ở ngôi thứ 2, hàng thứ 2, viện Quán âm trong Hiện đồ Mạn đồla Thai tạng giới, Mật giáo, là 1 trong 7 vị Bạch cát tường. Mật hiệu là Lợi ích kim cương. Về hình tượng, vị bồ tát này thân màu da người, 2 tay đặt ở trước ngực, trong tay cầm hoa sen, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, hình Tam muội da là hoa sen nở rộ. Có thuyết cho rằng vị tôn này chính là bồ tát Di lặc, biểu thị Bồ tát kế thừa ngôi vị Phật, hoặc vì dùng tay kết ấn Tốt đổ ba, hoặc vì trên đỉnh kế có đặt tháp nên gọi là Đới tháp cát tường bồ tát. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.16, phần đầu; Thai tạng đồ tượng Q.thượng; Chư thuyết bất đồng kí Q.3].
tồi
Bad.
tồi bại
Bad—Depraved.
Tồi toái 摧碎
[ja] ザイサイ saisai ||| Break, smash, crush, pulverize. => Bẻ gãy, đập vỡ ra từng mảnh, nghiền nát, làm thành bột.
Tồi Tà Luân
(摧邪輪, Zaijarin): thư tịch phản luận lại bộ Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập (選擇本願念佛集) do Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (源空) soạn, do Minh Huệ Phòng Cao Biện (明惠房高辨) trước tác, gồm 3 quyển; thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1212 (Kiến Lịch [建曆] nhị niên). Vào ngày 22 tháng 6 năm sau, bản Tồi Tà Luân Trang Nghiêm Ký (摧邪輪莊嚴記), 1 quyển, bổ túc về sở luận của bộ này, được hình thành. Tên gọi đầy đủ của bộ này là Ư Nhất Hướng Chuyên Tu Tuyển Trạch Tập Trung Tồi Tà Luân (於一向專修選擇集中摧邪輪). Từ lập trường của Cao Biện, thư tịch này đã phê phán những ý nghĩa sai lầm từ trong Tuyển Trạch Tập (選擇集) và nêu lên 2 luận điểm chính. Thứ nhất là sai lầm triệt bỏ đi Bồ Đề Tâm, thứ hai là sai lầm tỷ dụ Thánh Đạo Môn như lũ giặc. Ngoài ra, còn có 5 diều sai lầm khác nữa. Nếu nhìn từ yếu chỉ tông môn của Cao Biện, Bồ Đề Tâm là căn bản cầu Phật đạo và không khác với tín tâm trong Tịnh Độ Giáo. Trong Hoa Nghiêm Kinh, Bồ Đề Tâm được đặc biệt tuyên xướng; cho nên đương nhiên khi xem Tuyển Trạch Tập, Cao Biện đã dùng lời lẽ rất mãnh liệt để phê phán. Tả bản có Bản Nhân Hòa Tự (仁和寺本, quyển Thượng và Trung thuộc thời đại Liêm Thương) và bản của Cao Dã Sơn Đại Học Đồ Thư Quán (高野山大學圖書館). San bản lưu hành ghi năm 1626 (Khoan Vĩnh [寛永] thứ 3).
tồi tà luân
(摧邪輪) Tác phẩm, 3 quyển, do vị tăng tông Hoa nghiêm, Nhật bản, là Mai vĩ Cao biện soạn. Nội dung sách này phê bình luận điểm trong Tuyển trạch tập của ngài Nguyên không, vị Tổ khai sáng tông Tịnh độ Nhật bản, ấn hành vào năm Kiến lịch thứ 2 (1212), tức là sau khi ngài Nguyên không thị tịch. Cùng năm ấy, ngài Cao biện soạn Tồi tà luận để chỉ trích quan điểm của ngài Nguyên không, mạnh mẽ phê phán và bác bỏ chủ trương loại trừ tâm bồ đề căn bản của Phật giáo và thí dụ Thánh đạo môn là bọn giặc mà Tuyển trạch tập đã trình bày. [X. Cao sơn tự Minh huệ thượng nhân hành trạng Q.hạ; Chư tông chương sớ lục Q.2; Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3].
tồi tàn
In bad shape (state)—Disreputable.
tồi tệ
Miserable—Mean.
tồn
Bảo Tồn—To keep—To maintain—To preserve.
Tồn Giác
(存覺, Zonkaku, 1290-1373): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng ở hai thời đại Liêm Thương và Nam Bắc Triều, húy là Quang Huyền (光玄) Hưng Thân (興親), Thân Huệ (親惠), tên lúc nhỏ là Quang Nhật Lữ (光日麿), thông xưng là Trung Nạp Ngôn (中納言), hiệu là Tồn Giác (存覺), con trai đầu của Giác Như (覺如, Kakunyo), vị Tổ đời thứ 3 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji); mẹ ông là con của một vị Tăng Giáo Hoằng (敎弘). Từ năm 1311 trở đi, ông theo cha lên vùng Việt Tiền (越前, Echizen), Vĩ Trương (尾張, Ōwari) để giáo hóa. Sau đó, ông có ý đối lập với phụ thân mình, nên cũng đã trãi qua mấy lần tuyệt giao rồi hòa giải lẫn nhau. Ông đã cùng với tông đồ của Nhật Liên (日蓮, Nichiren) đối luận, rồi nhiếp hóa ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu), Hà Nội (河內, Kawachi). Ông dựng Thượng Lạc Đài ở Đại Cung (大宮), Kyoto, rồi dời về vùng Tiểu Lộ hiện tại, và chuyên tâm vào việc trước tác. Ông đã tiêu hóa toàn bộ giáo nghĩa của Thân Loan, rồi chỉnh đốn giáo học của giáo đoàn Bổn Nguyện Tự thời kỳ đầu, và tận lực làm cho giáo đoàn phát triển. Trước tác của ông có Tồn Giác Nhất Kỳ Ký (存覺一期記) 1 quyển, Đại Yếu Sao (大要抄) 10 quyển, Tịnh Độ Chơn Yếu Sao (淨土眞要抄) 2 quyển, Chư Thần Bổn Hoài Tập (諸神本懷集), 2 quyển, Thán Đức Văn (歎德文) 1 quyển, Tồn Giác Tụ Nhật Ký (存覺袖日記), Tồn Giác Pháp Ngữ (存覺法語).
tồn hoại tứ cú
(存壞四句) Đối lại: Ẩn hiển tứ cú. Bốn ngữ cú do tông Hoa nghiêm sử dụng để phân biệt và nói về sự tồn, hoại (hữu, vô) của Tam thừa. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, ngài Pháptạng dùng Tứ cú để phân biệt thuyết Tam tức Nhất (Tam thừa tức Nhất thừa) trong Bất dị môn thuộc Nhất thừa cai nhiếp môn của Biệt giáo, rồi lại sử dụng Tứ cú này để bàn về sự tồn hoại(hữu vô) của Tam thừa, vì thế gọi là Tồn hoại tứ cú. Đó là: 1. Do tức nhất nên không đợi hoại. 2. Do tức nhất nên không ngại tồn. 3. Do tức nhất nên không bất hoại. 4. Do tức nhất nên không thể tồn. Trong 4 câu thì 2 câu đầu hiển bày lí Tam thừa tức Nhất thừa nên Tam tướng (thừa) rõ ràng, điều này khiến cho cơ Tam thừa có chỗ nương; hai câu cuối thì nói rõ vì Tam thừa tức Nhất thừa, cho nên Tam tướng tiêu mất, điều này giúp cho cơ Tam thừa vào được Nhất thừa. Tuy có chia ra 4 câu để phân biệt nhưng đều là tức nhất, vì thế chỉ có Nhất thừa, chứ không có thừa nào khác. Tóm lại, Tam thừa và Nhất thừa không khác, tức nhất, cho nên sai biệt tức không sai biệt, bình đẳng tức sai biệt, do đó, cái đương thể của Tam tướng tiêu mất chính là Tam tướng rõ ràng. (xt. Ẩn Hiển Tứ Cú).
tồn kiến
Ôm giữ tà kiến—To keep to wrong views.
tồn mệnh
Bảo tồn sinh mệnh—To preserve one's life—To preserve alive.
Tồn Như
(存如, Zonnyo, 1396-1457): vị tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ thứ 7 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Viên Kiêm (圓兼), thường gọi là Trung Nạp Ngôn (中納言), hiệu là Tồn Như (存如), con trai đầu của Xảo Như (巧如), vị Tổ đời thứ 6 của Bổn Nguyện Tự. Năm 1436, ông kế thế trú trì Bổn Nguyện Tự. Từ thời Xảo Như trở đi, ông tiếp tục thay cha giáo hóa vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku), rồi tạo những cứ điểm truyền giáo ở khắp nơi như Quang Đức Tự (光德寺), Bổn Tuyền Tự (本泉寺) Chuyên Quang Tự (專光寺), ở vùng Gia Hạ (加賀, Kaga), Bổn Thệ Tự (本誓寺) ở vùng Năng Đăng (能登, Noto), v.v. Rồi ông còn sao chép lại những Tông điển như An Tâm Quyết Định Sao (安心決定抄) ông sao thành Chánh Tín Kệ (正信偈), và cùng với tác phẩm Tam Thiếp Hòa Tán (三帖和讚) đã làm phổ cập trong mọi người. Trong khoảng thời gian này, ông còn xây dựng thêm A Di Đà Đường, Ảnh Đường ở Bổn Nguyện Tự.
tồn tam thủ nhất nhập như lai thiền
(存三守一入如來禪) Từ ngữ nói rõđiểmđặc sắc của thiền Nhưlai. Tồn tam nghĩa là còn lại 3 thứ giải thoát: Hư không,kim cương,bátnhã; Thủ nhất nghĩa là giữ lại nhất tâm như như bất động; Nhập Nhưlai thiền nghĩa là vào cảnh giới vắng lặng, thanh tịnh tuyệt đối.
tồn tâm
To tame the mind—Còn gọi là Tu Tâm, nghĩa là gìn giữ tâm, không cho nó phóng túng kiêu ngạo—Also called to cultivate the mind, or to maintain and watch over the mind, not letting it get out of control, become egotistical, self-centered, etc.
tồn tưởng
(存獎) Thiền sư Trung quốc sống vào cuối đời Đường, người ở huyện Kế, tỉnh Hà bắc, họ Khổng. Sư theo ngài Hữu viện Hiểu phương ở Bàn sơn xuất gia. Năm Đại trung thứ 5 (851), sư thụ giới Cụ túc ở Bàn sơn. Sau, sư theo ngài Nghĩa huyền ở viện Lâm tế tại Trấn châu. Sư đi khắp các tùng lâm ở phương nam, cũng từng đến Chung lăng tham yết ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch. Về sau, Sư theo ngài Lâm tế Nghĩa huyền dời đến phủ Ngụy, tỉnh Hà bắc, trụ ở thiền viện Giang tây tại chùa Quán âm, được nối pháp ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Năm Càn phù thứ 2 (875), nhận lời Tồn Tưởng thỉnh của quan Tiết độ sứ U châu là Đổng khuếch, sư định trở về Bàn sơn, nhưng do lời khuyên của người chú là ông Hàn ở phủ Ngụy nên sư trụ chùa Hưng hóa tại phủ Ngụy, phát huy tông phong ngài Lâm tế Nghĩa huyền, được các sĩ phu 6 châu phụ cận tôn sùng. Người đương thời gọi sư là Hưng hóa Tồn tưởng. Sau, có lần vua Trang tông nhà Đường triệu sư vào cung thưa hỏi về Phật pháp, ban cho áo và hiệu, nhưng sư khiêm nhường từ tạ, không nhận. Niên hiệu Vănđức năm đầu,sư thị tịch, thọ 59 tuổi.Vua ban thụy là Quảng Tế Đại Sư, hiệutháp là Thông Tịch. Đệ tử nối pháp của Sư có các vị Tạnghuy, Hành giản... Sư có tác phẩm: Hưng Hóathiền sư ngữ lục, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 5, các ngữ lục khác còn thấy rải rác trong Tổ đường tập quyển 20, Cảnh đức truyền đăng quyển 12, Liên đăng hội yếu quyển 10...[X. Ngũ đăng hội nguyênQ.11; Ngũ gia chính tông tán Q.2: Đại quang minh tạng Q.hạ; Thiền tông chính mạch quyển 11; Thiền môn niệmtụng tậpQ.19; Tông thống biên niên Q.16; Tông môn chính đăng lục Q.3; Văn uyển anh hoa Q.868; Ngụy châu cố thiền đại đức Tưởng công tháp bi (Công thừa ức)].
tồn tại
To survive—To endure—To last—To exist.
tồn vong
To exist and to disappear.
Tồn Ứng
(存應, Zonō, Zonnō, 1544-1620): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; húy là Từ Xương (慈昌), thông xưng là Quán Trí Quốc Sư (觀智國師); tự Tồn Ứng (存應); hiệu là Trinh Liên Xã (貞蓮社), Nguyên Dự (源譽); thụy hiệu là Phổ Quang Quán Trí Quốc Sư (普光觀智國師); xuất thân vùng Do Mộc (由木, Yūki), Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]); con trai thứ 2 của Do Mộc Lợi Trùng (由木利重, Yūki Toshishige). Năm lên 10 tuổi, ông theo xuất gia với Liên A (蓮阿) của Bảo Đài Tự (寶台寺) thuộc Thời Tông ở vùng Võ Tàng. Sau đó, ông chuyển sang Tịnh Độ Tông, tu học với Tồn Trinh (存貞) ở Đại Trường Tự (大長寺) cùng tiểu quốc trên. Vào năm 1584, ông được bổ nhiệm làm Trú Trì Tăng Thượng Tự (增上寺, Zōjō-ji) ở Giang Hộ (江戸, Edo); rồi được Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) quy y theo, nên ông biến chùa này thành nơi chuyên cầu nguyện cho dòng họ Đức Xuyên. Hơn nữa, ông còn làm chức Thủ Tòa của 18 ngôi trường Đàn Lâm ở vùng Quan Đông (關東, Kantō) và đã lấy Tăng Thượng Tự làm trung tâm để xác lập cơ sở phát triển Tịnh Độ Tông thời Cận Đại. Môn hạ của ông có Quách Sơn (廓山), Liễu Đích (了的), Thôn Am (吞庵), v.v. Trước tác ông để lại có Luận Nghĩa Tịnh Độ Quyết Trạch Tập (論義淨土決擇集) 1 quyển, Tịnh Độ Luận Tàng Tập (淨土論藏集) 1 quyển, Thập Bát Thông Tư Ký (十八通私記), v.v.
tổ
Patriarch.
; Grandfather, ancestor; patriarch; founder.
; 1) Thủy tổ: Original founder. 2) Tổ phụ: Grandfather. 3) Tổ sư: Patriarch—Founder—People of the present as well as people of the past. 4) Tổ tiên: Ancestors—Forefathers.
Tổ Bá
(祖柏) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, người ở Tứ minh, cư ngụ tại Gia định, tự là Tửđình. Sư tính tình phóng khoáng, thích nay đây mai đó, rất giỏi về thi họa, đặc biệt thích vẽ hoa lan và nổi tiếng là thơ hay. Sư có tác phẩm: Bất hệ chu tập. [X. Nguyên thi kỉ sự Q.34].
Tổ Chức Giảng
(講, kō): tập đoàn kết chúng tập trung lại với nhau để đath thành mục đích về mặt tôn giáo, kinh tế cũng như xã giao, nên mới lấy tên là Giảng. Nếu truy tìm nguyên gốc từ Giảng này, ta thấy nó vốn phát xuất từ dụng ngữ của Phật Giáo. Có nghĩa rằng ban đầu nó là hội nghiên cứu về việc thuyết giảng kinh điển Phật Giáo của những Tăng sĩ có học thức, hay là pháp hội Phật sự làm cho uyên nguyên việc giảng đọc kinh điển, chấp hành nghi lễ Phật Giáo. Từ hội Pháp Hoa Giảng (法華講), Duy Ma Giảng (維摩講), Thắng Man Giảng (勝鬘講), cho đến Tối Thắng Giảng (最勝講), Nhân Vương Giảng (仁王講), Đà La Ni Giảng (陀羅尼講), Dược Sư Giảng (藥師講), Di Lặc Giảng (彌勒講), v.v., đều phát xuất từ đây. Nguồn khế cơ phát sanh hội này vốn có từ thời đại sơ truyền của Phật Giáo. Sự du nhập của Phật Giáo bắt đầu bằng những vật tượng trưng như tượng Phật, phan cái, kinh điển, v.v.; nhưng đương nhiên sự thọ dung đúng nhất vẫn là việc lý giải về giáo nghĩa cũng như nghi lễ. Nỗ lực này được thể hiện qua bộ Tam Kinh Nghĩa Sớ (三經義疏) do Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) biên soạn vào đầu thế kỷ thứ 7. Đương nhiên cũng có nghi vấn cho rằng đây không phải là trước tác của Thái Tử; nhưng nếu ta xét về điểm thành lập của triều đại Suy Cổ (推古, Suiko), thì phần lớn đều nhất trí. Như vậy việc giảng cứu Phật điển ban đầu là trung tâm hoạt động của tự viện, rồi truyền thống này được bảo trì một thời gian lâu dài; và đến thế kỷ thứ 8 dưới triều đại Nại Lương (奈良, Nara, 710-794) thì nó đạt đến đỉnh cao. Tuy nhiên, việc giảng nghĩa những kinh điển Phật Giáo vốn có tính giáo học sâu xa thì lại được tiến hành song song với nghi lễ tôn giáo. Cho nên, nghi lễ còn được gọi là Pháp Hội. Chính các tổ chức như Thích Ca Hội (釋迦會) nhằm lễ tán thánh đức của Phật, Dược Sư Hội (藥師會) nhằm tán thán công đức của Phật Dược Sư; Di Lặc Hội (彌勒會) nhằm cầu nguyện Phật Di Lặc hạ sanh, v.v., đều phát xuất từ đây. Ba bộ kinh hộ quốc quan trọng gồm Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經), Nhân Vương Bát Nhã Kinh (仁王般若經), Pháp Hoa Kinh (法華經) vốn được xem như là những kinh điển hộ trì quốc gia, tất yếu phải được sử dụng tại các pháp hội ở những ngôi chùa quan, chùa lớn, chùa có định ngạch. Từ đó xuất hiện Tối Thắng Giảng Hội (最勝講會), Nhân Vương Giảng Hội (仁王講會) và Pháp Hoa Giảng Hội (法華講會). Trên cơ sở của ba hội chính này, các hội khác lần lượt ra đời như Duy Ma Giảng Hội (維摩講會), Thắng Man Giảng Hội (勝鬘講會), v.v., với khá nhiều hình thức và nội dung phong phú. Nhưng mãi cho đến cuối thế kỷ thứ 9 dưới thời Bình An, việc biên tập và quy định hình thức giảng nhất định mới hình thành. Vào khoảng đầu thời Bình An, tín ngưỡng đáng chú ý nhất về Pháp Hoa được hoằng truyền từ trong tầng lớp Tăng Ni tại các tự viện cho đến xã hội thế tục bên ngoài, từ tầng lớp quý tộc trong cung đình cho đến lớp quan binh, và lan truyền đến tận dân chúng bên ngoài, trở nên rất sùng tín. Đặc biệt là các hoạt động của những người trì Kinh Pháp Hoa vốn được xem như là những người truyền giáo cuồng tín, thì quá nhiều. Ta có thể tìm thấy những hình thức hoạt động như thế này thông qua bộ Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記) cũng như Bản Triều Pháp Hoa Nghiệm Ký (本朝法華驗記), v.v. Trong đó, hội Pháp Hoa Bát Giảng (法華八講) là thịnh hành nhất từ trong cung nội cho đến ngoài dân dã. Hội này được Cần Tháo (勤操, Gonzō) ở Thạch Uyên Tự (石淵寺) vùng Đại Hòa (大和, Yamato) khởi xướng vào năm 796, sau đến đầu thế kỷ thứ 9 mới thịnh hành ngoài dân gian. Đây là pháp hội lấy 8 quyển Kinh Pháp Hoa, mỗi ngày sáng tối hai thời đọc tụng cúng dường 2 quyển, và kéo dài trong vòng 4 ngày. Ban đầu, pháp hội này được tiến hành tại Thạch Uyên Tự, nhưng dần dần người dân thường cũng tổ chức pháp hội này tại cung đình cũng như dinh phủ quan, với động cơ nhằm cúng dường truy tiến cho linh hồn người chết, hay cầu sống lâu trường thọ, hoặc kỳ nguyện vãng sanh. Với đà thịnh hành của hội Pháp Hoa Giảng này, nó đã tạo ảnh hưởng rất lớn cho các hội khác ra đời. Một số hội như Dược Sư Giảng (藥師講), Di Lặc Giảng (彌勒講), Thích Ca Giảng (釋迦講), Nhân Vương Giảng (仁王講), Tối Thắng Giảng (最勝講), v.v., lần lượt bỏ đi tên gọi pháp hội mà lấy tên Giảng. Thuận theo xu hướng thời đại, các tổ chức như A Di Đà Giảng (阿彌陀講), Bồ Đề Giảng (菩提講), Vãng Sanh Giảng (徃生講), Thập Nhị Bồ Tát Lai Nghênh Giảng (十二菩薩來迎講), Địa Tạng Giảng (地藏講), Thập Trai Giảng (十齋講), v.v., cũng liên tiếp xuất hiện. Khi những tổ chức này được phổ cập hóa, thẩm thấu vào dân gian thì chúng có nhiều cơ hội tiếp xúc với tín ngưỡng dân gian; cho nên các tập đoàn tín ngưỡng địa phương vốn dựa trên cơ sở sùng bái tự nhiên như núi, sông, nước, đá, cây, v.v., được gọi là Sơn Thần Giảng (山神講), Thủy Thần Giảng (水神講), Thạch Thần Giảng (石神講). Còn những tập đoàn tế tự, sùng bái thiên nhiên như mặt trời, mặt trăng, mưa, gió, sấm, sét, v.v., có tên gọi là Nhật Đãi Giảng (日待講), Nguyệt Đãi Giảng (月待講), Long Thần Giảng (龍神講), Phong Thần Lôi Thần Giảng (風神雷神講). Hơn nữa, tư tưởng Bản Địa Thùy Tích (本地垂迹, Honjisuijaku) chính là diểm trọng yếu đã tạo khế cơ cho việc thế tục hóa cũng như dân gian hóa Phật Giáo. Tại Nhật Bản, trong các lễ tế tự ở những đền thờ Thần Xã, truyền thống từ ngàn xưa vẫn được duy trì, và thể chế tượng trưng mang tính tôn giáo của tập đoàn dân tộc được hình thành. Có nghĩa rằng tập đoàn tế tự được cấu thành với hạt nhân trung tâm là đền thờ Thần Xã để phát huy cơ năng tôn giáo. Nguyên nhân các tổ chức tế tự như thế này lấy tên Giảng của Phật Giáo, vốn phát xuất từ trào lưu thời đại của Thần Phật Tập Hợp. Vì thế trong các đền thờ Thần Xã được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ 10, ta thấy có xuát hiện bóng dáng của Phật Giáo. Phần lớn các Thần sự đều được tổ chức dưới hình thức Giảng, và đó cũng là khế cơ nảy sinh mối giao lưu Thần Phật. Cho nên các tổ chức như Thị Thần Giảng (氏神講), Trấn Thủ Giảng (鎭守講), Quyền Hiện Giảng (權現講), Cung Tòa Giảng (宮座講), cho đến Xuân Nhật Giảng (春日講), Trú Cát Giảng (住吉講), Bát Phan Giảng (八幡講), Hùng Dã Giảng (熊野講), Y Thế Giảng (伊勢講), Tam Sơn Giảng (三山講), Tam Xã Giảng (三社講), v.v., dần dần xuất hiện trong thần đạo. Đến cuối thời Trung Đại, hoạt động sinh sản của con người phân hóa, phương hướng tạo nên cơ cấu tổ chức Giảng cũng thay đổi với lý do không những chỉ vì động cơ tín ngưỡng tôn giáo, mà còn vì lý do xã hội cũng như kinh tế. Đến thời Trung Đại, tại các tự viện có các hội như Lại Mẫu Tử Giảng (賴母子講) nhằm dung thông lẫn nhau tiền vàng, vật phẩm giữa Tăng Ni; Quân Vương Giảng (君王講) của Mộc Địa Sư (木地師), Hoang Thần Giảng (荒神講), v.v. Khuynh hướng này được kéo dài cho đến thời Cận Đại, phát huy thành nhiều hình thức Giảng mới như Điền Thần Giảng (田神講) của nông dân, Sơn Thần Giảng (山神講) của những người làm nghề sơn lâm, Hải Thần Giảng (海神講), Long Cung Giảng (龍宮講), Huệ Mỹ Tu Giảng (惠美須講) nhằm cầu nguyện cho được nhiều cá và thuận buồm xuôi gió; thêm vào đó, còn có rất nhiều tổ chức Giảng ở thành phố. Từ thời Trung Đại đến Cận Đại, biển với đất liền phát triển giao thông mạnh mẽ, người ta đi du lịch các nơi trở nên dễ dàng hơn, và mọi người có nhiều cơ hội trở về cố hương mình. Đặc biệt việc tham bái các thánh địa cũng như hành hương những ngôi già lam, đền miếu, càng lúc càng hưng thịnh; chính vì lẽ đó, tổ chức Tham Nghệ Giảng (參詣講) được hình thành. Tỷ dụ như Thiện Quang Tự Giảng (善光寺講), Thành Điền Giảng (成田講), Tam Phong Giảng (三峰講), Đại Sơn Giảng (大山講), Y Thế Giảng (伊勢講), Xuất Vân Giảng (出雲講), Bạch Sơn Giảng (白山講), v.v.
tổ giác
(祖覺) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người ở Long du thuộc Gia châu, họ Dương, hiệu là Siam. Sư thông minh từ thuở nhỏ, đọc sách một lần là thuộc lòng. Sau khi xuất gia,sư nghiên cứu tông chỉ Hoa nghiêm, nương vào ngài Viênngộ ở Chung phụ, người đời gọisư là Giáchoanghiêm. Sau,sư trụ chùa Trungnham tại Mi châu, hoằng dương giáo pháp ngài Thanh lương (Hoa nghiêm). Sư từng sửa chữa bộ Tăng sử đời Bắc Tống, soạn Hoanghiêm tập giải, Kim cương kinh chú... Sư thị tịch vào năm Thiệu hưng 20 (1150) thọ 64 tuổi.
tổ khâm
Tsu chin (C)Tên một vị sư.
; (祖欽) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, thuộc chi phái Phá am trong phái Dương kì, tông Lâm tế, người Vụ châu (Chiết giang), hiệu Tuyết nham, người đời gọi sư là Tuyết nham Tổ khâm thiền sư. Sư xuất gia làmsa di từ lúc lên 5 tuổi, năm 16 tuổi được độ làm tăng, lần lượt tham yết các ngài Đoảnbồng viễn và Diệuphong Chi thiện chùa Song lâm, Diệtông Văn lễ chùa Tịnh từ. Sư lại đến Kính sơn tham yết Thiền sư Vôchuẩn Sưphạm, về sau được nối pháp củangài. Niên hiệu Bảo hựu năm đầu (1153), sư trụ chùa Long hưng ở Đàm châu, sau lại lần lượt trụ các chùa Đạo lâm ở Tương tây, Phật nhật thiền tự, Hộ thánh thiền tự, Quang hiếu thiền tự ở Chiết giang và Ngưỡng sơn thiền tự ở Giang tây. Sư được vua ban áo đỏ, nổi tiếng một thời. Năm Chínguyên 24 (1287) đời vua Thế tổ nhà Nguyên,sư thị tịch. Sư có tác phẩm: Tuyếtnhamhòa thượng ngữ lục 4 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.5; Ngũ đăng toàn thư Q.49; Tục thích thị kê cổ lượcQ.1].
tổ khả
(祖可) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người ở Đơn dương, họ Tô, tự là Chínhbình, trụ ở núi Lô sơn. Ban đầu, sư học Nho, có tài thơ văn. Sau khi xuất gia, sư chuyên tu thiền, tinh tiến hơn người. Vì sư bị bệnh ghẻ nên người đời gọi sư là Lại khả. Sư có các tác phẩm: Đông khê tập, Bạo truyền tập.
tổ mẫu
Grandmother.
tổ nan đề
Xem Phật Đà Nan Đề.
tổ nguyên
(祖元) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, Tổ của phái Phật quang thuộc Thiền tông, Nhậtbản, người huyện Ngân, phủ Khánh nguyên. Minh châu (nay là tỉnh Chiết giang), họ Hứa, tự Tửnguyên, biệt hiệu Vôhọc. Năm 12 tuổi,sư theo cha viếng thăm chùa, năm sau, sư lễ ngài Bắc giản Cưgiản chùa Tịnh từ ở Hàng châu cầu xuất gia thụ giới. Sư lưu lại chùa Tịnh từ trong 5 năm, sau đó, sư xin ngài Bắcgiản Cưgiản đến Kính sơn tham yết ngài Vôchuẩn Sưphạm, lập chí tham cứu trong 5 năm. Sau khi ngài Vô chuẩn thị tịch,sư lần lượt tham yết các ngài Yển khê Quảng văn và Hư đường Trí ngu ở núi Dục vương, sau đó sư trở về quê cũ cư trú 2 năm. Một hôm, Sư ra giếng kéo nước, lúc tay kéo ròng rọc thì bỗng nhiên khai ngộ. Tháng 10 năm Hàm thuần thứ 5 (1269), sư làm Tọa chủ chùa Chân như ở Thai châu. Niên hiệu Đức hựu năm đầu (1275), quân Nguyên đến đánh phá, sư phải lánh nạn đến chùa Năng nhân tại Ôn châu. Năm Cảnh viên thứ 2 (1277), sư về Tứ minh, đến núi Thiên đồng tham phỏng ngài Hoàng khê Duy nhất. Năm Tường hưng thứ 2 (1279), Bắc điều Thời tông của Nhật bản phái 2 vị Đức thuyên và Tông anh đến Trung quốc thỉnh sư sang Nhật bản. Mùa thu năm 1279, sư đến Liêm thương, Nhậtbản, trụ ở chùa Kiến trường. Về sau,Thời tông sáng lập chùa Viên giác ở Liêm thương, thỉnh sư làm Tổ khai sơn đời thứ nhất. Tháng 9 năm 1286, sư viết di chúc, viết xong an nhiên thị tịch, thọ 61 tuổi. Vua ban thụy hiệu Phật Quang Thiền Sư, Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư. Sư có để lại một số ngữ lục. [X. Vô họcthiền sư hành trạng; Diên bảo truyền đăng lụcQ.2).
tổ phụ
Grandfather.
Tổ sư
(祖師): chỉ cho vị khai sáng một tông, một phái, gọi là Khai Tổ (開祖); hay người truyền thừa giáo pháp của mình cho hậu thế, gọi là Liệt Tổ (列祖). Khai Tổ thì có khác nhau về Tông Tổ (宗祖), Phái Tổ (派祖). Tỷ dụ, thông thường Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨, ?-495) được mọi người tôn xưng là Tông Tổ của Thiền Tông; Nghĩa Huyền (義玄, ?-866), Lương Giới (良价, 807-869) là Phái Tổ của Lâm Tế Tông (臨濟宗) và Tào Động Tông (曹洞宗). Các tông phái Phật Giáo đều xem trọng sự truyền thừa của Liệt Tổ; tỷ dụ như Thiền Tông có 28 vị Tổ Ấn Độ, 6 vị Tổ Trung Hoa; Thiên Thai Tông (天台宗) có 9 Tổ, 17 Tổ Trung Hoa; Hoa Nghiêm Tông (華嚴宗) có 5 Tổ, 7 Tổ, 10 Tổ; Chơn Ngôn Tông (眞言宗) có 8 Tổ; Tịnh Độ Tông (淨土宗) có 5 Tổ, 16 Tổ, v.v. Cũng như người Nhật tôn xưng Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên [法然, Hōnen, 1133-1212]) là Tông Tổ của Tịnh Độ Tông; Chứng Không (證空, Shōkū, 1177-1247) là Phái Tổ của Phái Tây Sơn (西山派). Tịnh Độ Tông Nhật Bản tôn xưng Thiện Đạo (善導, 613-681) là Cao Tổ (高祖), Nguyên Không là Nguyên Tổ (元祖). Tịnh Độ Chơn Tông (淨土眞宗) Nhật Bản tôn xưng Nguyên Không là Nguyên Tổ, Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262) là Tông Tổ hay Cao Tổ. Nơi an trí tượng Tổ sư gọi là Tổ Sư Đường (祖師堂), gọi tắt là Tổ Đường (祖堂). Trước tác của Tổ sư gọi là Tổ thư (祖書), Tổ điển (祖典). Ngọn núi nơi Tổ sư ở gọi là Tổ sơn (祖山). Như trong Thiền Lâm Loại Tụ (禪林類聚, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1299) quyển 4, phần Tổ Giáo (祖敎), có đoạn: “Triệu Châu Thẩm Thiền Sư, tăng vấn: 'Như hà thị Tổ sư Tây lai ý ?' Sư vân: 'Đình tiền bá thọ tử.' (趙州諗禪師、僧問如何是祖師西來意、師云庭前柏樹子, Thiền Sư Triệu Châu Tùng Thẩm, có vị tăng hỏi rằng: 'Thế nào là ý của Tổ sư [Đạt Ma] từ Tây [Ấn Độ] đến ?' Thiền Sư đáp: 'Cây bá trước sân.').” Hay trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 30, phần Tiêu Chỉ Lục Kệ Tinh Tự (標指六偈幷敘), lại có đoạn: “Chư Phật xuất thế, vô pháp thị nhân, Tổ sư Tây lai, vô đạo khả chỉ, duy đàm tự ngộ (諸佛出世。無法示人。祖師西來。無道可指。唯談自悟, chư Phật ra đời, không pháp dạy người, Tổ sư Tây đến, không đườn chỉ dẫn, chỉ nói tự ngộ).”
; 祖師; J: soshi;|Thường được hiểu là những vị Tổ trong Thiền tông. Tổ sư là những Ðại sư đã thấu hiểu Phật pháp, đã được truyền tâm ấn qua cách »Dĩ tâm truyền tâm« và truyền lại cho những Pháp tự. Biểu tượng của việc »Truyền tâm ấn« là pháp y và Bát, gọi ngắn là »y bát«. Theo truyền thuyết, 28 vị Tổ sư Ấn Ðộ kế thừa nhau sau đức Phật Thích-ca để truyền bá Thiền tông và Bồ-đề Ðạt-ma – vị Tổ thứ 28 tại đây – được xem là Tổ thứ nhất của Thiền Trung Quốc.|Vị Tổ thứ 6 tại Trung Quốc là Huệ Năng không chính thức truyền y bát lại cho ai và vì vậy, biểu tượng này và với nó là danh hiệu Tổ sư thất truyền. Nhưng Huệ Năng lại có năm vị đệ tử đắc pháp xuất sắc – được thời nhân gọi là Ngũ đại tông tượng –, là những vị đã khai sáng và phát triển nhiều nhánh thiền quan trọng.|Năm vị Ðại Thiền sư được tôn là Ngũ đại tông tượng của Lục tổ: 1. Thanh Nguyên Hành Tư; 2. Nam Nhạc Hoài Nhượng; 3. Nam Dương Huệ Trung; 4. Vĩnh Gia Huyền Giác và 5. Hà Trạch Thần Hội.|Trong những nhánh thiền này (Ngũ gia thất tông), những vị Thiền sư xuất sắc được các tăng ni cũng như giới Cư sĩ tôn sùng và gọi là Tổ sư.
tổ sư
Soshigata (P), Busso (J), Patriarch Phật giáo Ấn độ có 28 vị tổ như sau: 1- Ma ha Ca Diếp (Mahākāśyapa) 2 - A Nan (Ānanda) 3- Thương na hoà tu (Śānavāsin) 4- Ưu ba cúc đa (Upagupta) 5- Đề đa ca (Dhrītaka) 6- Di già Ca (Miśaka, Micchaka) 7- Bà tu Mật (Vasumitra) 8-Phật đà nan đề (Buddhanandi) 9- Phật đà mật đa (Buddhamitra) 10- Hiếp Tôn Giả (Pārśva) 11) Phú na dạ xa (Puṇyayaśa) 12- Mã Minh (Aśvaghoṣa) 13- Ca tỳ ma la (Kapimala) 14-Long Thọ (Nāgārjuna) 15- Ca na đề bà (Kāṇadeva) hay Thánh Thiên (Āryadeva) 16- La hầu la da (Rahulabhadra) 17- Tăng già nan đề (Saṃghanandi) 18- Tăng già da xá (Saṃghayathata) 19- Cưu ma la đa (Kumāralāta) 20- Xà dạ đa (Śayata) 21- Thế Thân Bồ tát (Vasubandhu) 22- Ma nô la (Manotata) 23- Hạc lặc na (Haklenayaśa) 24- Sư tử Tỳ kheo (Siṃhabodhi) 25- Bà xá tư đa (Baśaṣita) 26- Bất như mật đa (Puṇyamitra) 27- Bát nhã đa la (Prajadhāra) 28- Bồ đề đạt ma (Bodhidharma). Thấy Phật giáo Ấn độ không còn đứng vững được, Tổ Bồ đề đạt ma đem Phật giáo truyền vào Trung hoa. Ngài đến Trung hoa năm 520, thành lập Thiền tông và làm sơ tổ Thiền tông. Từ đó Thiền tông Trung Hoa có 6 vị Tổ: - Bồ Đề Đạt Ma - Huệ Khả (Hoei-Keu) - Tăng Xan (Seng-tsan) - Đạo Tín (Tao-sinn) - Hoằng Nhẫn (Houng-Jenn) - Huệ Năng (Hoei-Neng). Huệ Năng có hai đệ tử đại danh: Hoài Nhượng Thiền Sư và Hạnh Tư Thiền Sư. Đệ tử hai vị này chia làm 5 phái: Lâm tế, Tào động, Vĩ ngưỡng, Vân môn, Pháp nhãn. Từ đời này về sau Thiền tông chia thành 5 phái.
; Sư phụ của các tông phái, có đủ năng lực truyền pháp cho đệ tử, thông thường Phật giáo đồ gọi vị ấy là Tổ sư.
; Tổ hay tổ sư là những bậc thầy vĩ đại đã nhận và đã chính thức truyền bá Phật pháp. Vị Tổ đầu tiên là ngài Đại Ca Diếp, được Phật tâm chứng. Tâm chứng nầy gọi là 'Tâm truyền tâm' và tiếp tục lưu truyền mãi về sau. Có 28 vị tổ ở Ấn Độ và 6 vị ở Trung Quốc. Từ vị Tổ thứ nhất đến Lục Tổ Huệ Năng gồm 32 vị. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, người ta đặc biệt nói đến Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma—Patron saint—Founder—Patriarch—The first teacher, or leader, or founder of a school (sect) or the great masters who have received and formally transmitted the Buddha's Dharma. The First Indian Patriarch who received “mind approval” from the Buddha was Maha-Kasyapa. The act was called “Mind to mind” transmission, and had been passed on down the line. There are twenty-eight patriarchs in India and six in China. From the First Patriarch to Hui-Neng, there were thirty-two. However, in China, it has particular reference to Bodhidharma. ** For more information, please see Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ, and Lục Tổ Trung Hoa.
; (祖師) Chỉ cho người khai sáng một tông, một phái(khai tổ), hoặc người truyền thừa giáo nghĩa của tông, phái ấy(liệt tổ). Khai tổ có Tông tổ và Phái tổ khác nhau, chẳng hạn như ngài Bồ đề đạt ma thông thường được tôn là Tông tổ Thiền tông, còn các vị Nghĩa huyền, Lương giới thì lần lượt được tôn là Phái tổ của tông Lâm tế và tông Tào động. Các tông phái Phật giáo đều xem trọng sự truyền thừa cho nhau giữa các Tổ, chẳng hạn như Thiền tông có 28 vị Tổ Tây thiên, 6 vị Tổ Đông độ; tông Thiên thai có 9 vị Tổ, 17 vị Tổ Đông độ; tông Hoa nghiêm có 5 vị Tổ, 7 vị Tổ, 10 vị Tổ; tông Chân ngôn có 8 vị Tổ; tông Tịnh độ có 5 vị Tổ, 16 vị Tổ…... Cũng như người Nhật bản tôn ngài Nguyên không là Tông tổ tông Tịnh độ, tôn ngài Chứng không là Phái tổ phái Tây sơn. Tông Tịnh độ Nhật bản thì tôn ngài Thiện đạo làm Cao tổ, ngài Nguyên không làm Nguyên tổ; Tịnh độ Chân tông Nhật bản tôn ngài Nguyên không làm Nguyên tổ, ngài Thân loan là Tông tổ hoặc Cao Tổ; tông Nhật liên Nhật bản thì tôn xưng ngài Nhật liên Vô học Tổ nguyên là Cao tổ. Ngoài ra, đối với 5 Tổ, 7 Tổ, 9 Tổ…... và các Tổ sư quan trọng thuộc giáo hệ của các ngài thì đặc biệt được tôn sùng. Còn tòa nhà thờ tượng các Tổ sư gọi là Tổ sư đường, gọi tắt là Tổ đường. Tác phẩm của Tổ sư, gọi là Tổ thư, Tổ điển. Quả núi trong đó Tổ sư cư trú, gọi là Tổ sơn.[X. Thích thị yếu lãm Q. thượng; Phật tổ thống kỉ Q.6; Loại tụ danh vật khảo Q.23]. (xt. Tương Thừa).
tổ sư bồ đề đạt ma
Patriarch Bodhidharma.
tổ sư hội
(祖師會) Pháp hội cúngdường Tổ sư, hoặc được coi là đồng với Tổ sư kị. Trong Thiền lâm, vào ngày đầu năm mới, có trưng bày di tượngliệtTổ và Thưhọa của các ngài để mọi người lễ bái, chiêm ngưỡng.
tổ sư kị
(祖師忌) Cũng gọi Tổ kị. Pháp hội được cử hành vào ngày giỗ Tổ sư. Trong chương Tôn tổ của Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 có nêu Đạt ma kị, Bách trượng kị, Tự pháp sư kị và Khai sơn lịch đại tổ kị. Ngoài ra, trong Chư hồi hướng thanh qui thức quyển 1 của Nhật bản cũng nêu Đạt ma kị túc kị bán trai, Tổ sư trúc kị bán trai(túc kị nghĩa là hôm trước ngày kị chính thức) và Tổ sư kị bán trai. Trong văn hồi hướng của sách này có câu (Đại 81, 634 hạ): Ngày Quốc sư đại hòathượng khai sơn(tên là...), hoặc Đại thiền sư(tên là...…) trước trụ ở núi này thị tịch. Căn cứ vào câu nói trên mà biết được Tổ sư kị là chỉ cho pháp hội được cử hành trong ngày kị Tổ sư nhiều đời của các tông phái và Tổ sư nhiều đời khai sơn các chùa viện. Pháp hội ngày kị Khai tổ các tông ở Nhật bản hiện nay thông thường được gọi chung là Tổ sư kị. Ngoài ra, Đạt ma kị, Lâm tế kị và Khai sơn kị trong tông Lâm tế Nhật bản được gọi chung là Tam tổ kị, thêm Bách trượng kị thì gọi là Tứ tổ kị. (xt. KhaiSơnKị).
tổ sư quan
(祖師關) Cánh cửa Tổ sư phải đi qua, tức không qua cửa này thì không thể trở thành Tổ sư. Tổ sư quan là một cảnh giới đốn ngộ, cái then chốt để mở cánh cửa này là một chữ Vô; tham cứu thấu suốt được cửa này mới có thể dứt hẳn con đường của tâm thức mà được diệu ngộ, sánh ngang hàng với các Tổ sư nhiều đời. [X.Vô môn quan tắc 1].
tổ sư thiền
Patriarch's Meditation.
; Patriarchal Meditation—The Zen of the Patriarchs—Zen Patriarchate. 1) Lịch sử của Thiền Tông vẫn còn là một huyền thoại. Truyền thuyết cho rằng một ngày nọ, thần Phạm Thiên hiện đến với Đức Phật tại núi Linh Thứu, cúng dường Ngài một cánh hoa Kumbhala và yêu cầu Ngài giảng pháp. Đức Phật liền bước lên tòa sư tử, và cầm lấy cành hoa trong tay, không nói một lời. Trong đại chúng không ai hiểu được ý nghĩa. Chỉ có Ma Ha Ca Diếp là mỉm cười hoan hỷ. Đức Phật nói: “Chánh Pháp Nhãn Tạng nầy, ta phó chúc cho ngươi, này Ma Ha Ca Diếp. Hãy nhận lấy và truyền bá.” Một lần khi A Nan hỏi Ca Diếp Đức Phật đã truyền dạy những gì, thì Đại Ca Diếp bảo: “Hãy đi hạ cột cờ xuống!” A nan liền ngộ ngay. Cứ thế mà tâm ấn được truyền hừa. Giáo pháp nầy được gọi là “Phật Tâm Tông.”—The history of Zen is mythical. It is said that one day Brahma came to the Buddha who was residing at the Vulture Peak, offered a Kumbhala flower, and requested him to preach the Law. The Buddha ascended the Lion seat and taking that flower touched it with his fingers without saing a word. No one in the assembly could understand the meaning. The venerable Mahakasyapa alone smiled with joy. The world-Honoured One said: “The doctrine of the Eye of the True Law is hereby entrusted to you, Oh Mahakasyapa! Accept and hand it down to posterity.” Once when Ananda asked Mahakasyapa what the Buddha's transmission was, Mahakasyapa said: “Go and take the banner-stick down!” Ananda understood him at once. Thus the mind-sign was handed down successively. The teaching was called the 'school of the Buddha-mind.' 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Thiền của Tổ Sư không phải là phương pháp phân tách như khoa học, cũng không phải là một phương pháp tổng hợp như triết học. Đây là một hệ thống tư duy không tư duy theo thông tục, nó siêu việt tất cả những phương pháp của luận chứng hợp lý. Tư duy không cần phương pháp tư duy là để tạo cơ hội cho sự thức tỉnh của tuệ giác. Hành giả có thể áp dụng những phương pháp tu thiền của Tiểu Thừa, của Du Già Luận (bán Đại Thừa), pháp chỉ quán của tông Thiên Thai, hay Du Già bí mật của tông Chân Ngôn nếu hành giả thích, nhưng thật ra tất cả những phương pháp nầy đều không cần thiết. Quan điểm của Thiền tông có thể tóm tắt như sau: “Dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật,” hay “Thử tâm tức Phật.” Bạch Ẩn Thiền Sư đã phát biểu ý kiến nầy rất rõ trong bài kệ về pháp 'tọa thiền': “Chúng sanh vốn là Phật; cũng như băng (cơ duyên hiện tại của chúng ta) và nước (Phật tánh ẩn tàng), không có nước thì không có băng. Chính thế gian nầy là liên hoa cảnh giới và thân nầy là Phật.”—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the meditation of the patriarchal Zen was not an analytical like science, nor was it a synthetical method like philosophy. It was a method of thinking without ordinary thinking, transcending all methods of logical argument. To think without any method of thinking is to give opportunity for the awakening of the intuitional knowledge or wisdom. All methods of meditation as taught by Hinayana, by Yogacara (quasi-Mahyana), by the abrupt method of calmness and insight (samathavipasyana) of T'ien-T'ai, or by the mystical yoga of Shingon can be used if the aspirant likes, but are in no way necessary. The ideas peculiar to Zen may be summarized as follows: “from mind to mind it was transmitted, not expressed in words or written in letters; it was a special transmission apart from the sacred teaching. Directly point to the human mind, see one's real nature and become an enlightened Buddha.” The idea was very well expressed in Hakuin's hymn on sitting and meditating: “All beings are fundamentally Buddhas; it is like ice (which represents our actual condition) and water (which represents an underlying Buddha-nature); without water there will be no ice, etc. This very earth is the lotus-land and this body is Buddha.”
; (祖師禪) Đối lại: Như Lai thiền. Cũng gọi: Nam tông thiền. Đặc biệt chỉ cho pháp Thiền do Sơ tổ của Thiền tông là ngài Bồ đề đạt ma truyền đến, cho đến Ngũ gia thất tông thuộc hệ thống Lục tổ Tuệ năng. Vì pháp Thiền này chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự, không nương vào lời nói, do thầy trực tiếp truyền cho đệ tử, các Tổ truyền nối nhau, dùng tâm in vào tâm, thấy tính thành Phật, cho nên gọi là Tổ sư thiền. Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, ngài Tôngmật chia Thiền ra làm 5 loại từ cạn đến sâu, đó là Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượngthừathiền. Trong đó Tối thượng thừa thiền cũng gọi là Nhưlai thiền; Thiền do ngài Đạt ma truyền chính là Tối thượng thừa thiền này. Nhưng người tu thiền đời sau không cho Nhưlai thiền của ngài Tông mật là Tối thượngthừathiền, trái lại chỉ coi đó là loại thiền 5 vị xen lẫn và chủ trương thiền chân thực do Tổ sư truyền mới là thiền một vị thanh tịnh, đặc biệt gọi là Tổ sư thiền. Tên gọi này có lẽ đã bắt đầu từ ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch. Chương Ngưỡng sơn Tuệ tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 12 (Đại 51, 283 trung) ghi: Sư nói: Ông chỉ mới được Nhưlai thiền chứ chưa được Tổ sư thiền. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.11; Ngũ đăng toàn thư Q.5; Cổ tôn túc ngữ lục Q.3].
tổ sư tây lai ý
(祖師西來意) Cũng gọi Tây lai tổ sư ý, Tây lai ý, Tổ ý. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ý của Tổ sư(Bồ đề đạt ma) từ Ấn độ đến.Từ ngữ này và Phật pháp đích đại ý (đại ý của Phật pháp) đều biểu thị nghĩa sâu xa của Phật pháp, tinh tủy của Thiền lí. Sưtổ của Thiền tông là ngài Bồ đề đạt ma, từ nước Ấn độ phương tây đến Trung quốc truyền bá pháp Thiền, đối với vấn đề cái ý đích thực của Ngài là gì ta phải phản tỉnh khảo xét thật kĩ để thấy rõ được tinh thần căn bản ngộ đạo của chư Phật liệt tổ, đây là cơ ngữ khai ngộ của Thiền tông, xưa nay thường được sử dụng trong các công án.
tổ sư tây thiên
Indian Patriarch. The twenty eight Buddhist Patriarchs as stated by the Mahàyànists. The Thiên Thai school reckons twenty three, or twenty four but Thiền Tông reckons twenty eight:(1) Đại Ca diếp. Mahà-Kasyapa (S). (2) A nan. Ananda. (3) Thương na hòa tu. Sànakavàsa. (4) Ưu ba cúc đa. Upagupta. (5) Đề ca đa. Dhrtaka. (6) Dị già ca. Mikkaka, or Micchaka. (7) Bà tu mật. Vasumitra. (8) Phật đà nan đề. Buddhanandi (9) Phật đà mật đa. Buddhamitra. (10) Hiếp tôn giả. Pàrsva, or Pàrsvika. (11) Phú na dạ xa. Punyayasas. (12) Mã Minh. Asvaghosa. (13) Ca tì ma la. Kapimala. (14) Long Thụ. Nàgàrjuna. (15) Ca na đề bà. Kànadeva. (16) La hầu la đa. Rahùlata. (17) Tăng già nan đề. Samghanandi. (18) Tăng già da xá. Samghayasas. (19) Cưu ma la đa. Kumàrata. (20) Xà dạ đa. Jayata. (21) Bà tu bàn đầu. Vasubhandu. (22) Ma nô la. Manorhita. (23) Hạc lặc na. Haklena. (24) Sư tử tì kheo. Aryasimha. (25) Bà xá tư đa. Basiasita. (26) Bất như mật đa. Punyamitra. (27) Bát nhã đa la. Prajnàtàra. (28) Bồ đề đạt ma. Bodhidharma.
tổ sư đông độ
Chinese Patriarch. (1) Bồ đề đạt ma. Bodhidharma (S). (2) Huệ Khả. Hoei Keu (C). (3) Tăng Xán. Seng Tsan (C). (4) Đạo Tín. Tao Sinn (C). (5) Hoằng Nhẫn. Houng Jenn (C). (6) Huệ Năng. Hoei Neng (C).
tổ sư đường
(祖師堂) Cũng gọi Ảnh đường, Tổ đường. Chỉ cho toà nhà dùng để thờ di tượng của Tôngtổ, Khai sơn, Liệttổ…... Trong Thiền lâm, đặc biệt gọi nơi thờ tượngngài Đạtma là Tổ sư đường.
tổ tiên
Forefathers---Ancestors.
tổ tiên sùng bái
(祖先崇拜) Tôn sùng, lễ bái đối với vong linh tổ tiên. Tại Ấn độ, dân chúng cư trú ở một vùng nào đó, sinh sống bằng nghề làm ruộng hoặc nghề buôn bán, do đó mà đất đai và phương pháp sản xuất trở thành việc cha truyền con nối, kết quả đã hình thành phong tập xem trọng việc sùng bái tổ tiên. Người Ấn độ từ nghìn xưa đã tin rằng người chết mà thân tộc không cúng tế thì linh hồn người chết chắc chắn phải chịu khổ, cho nên việc cúng tế để đưa vong hồn người chết đến cảnh giới linh thiêng của tổ tiên (Phạm:Pitf) trở thành là nghĩa vụ của người sống. Việc cúng tế tổ tiên có 2 thứ là: Tổ tiên tế (Phạm:Saràdha) của tư nhân và Tổ tiên phụng kính tế (Phạm: Priịđapitf-ajĩa) của công chúng. Tổ tiên tế được cử hành vào ngày trăng tròn mỗi tháng, gia chủ mời vài vị Bà la môn lên đàn tế, vừa rưới nước lên cỏ, vừa xướng tụng lời tế, đồng thời dâng các vật cúng như thức ăn uống, hương hoa, đèn nến, y phục... Tổ tiên phụng kính tế là dâng bánh lên cúng tổ tiên vào sau giờ Ngọ ngày đầu tháng. Phật giáo nguyên thủy chủ trương Tổ tiên sùng bái cũng là sự tôn kính cúng dường đối với cha mẹ. Trong Tăng chi bộ kinh thuộc Nam truyền có một số đoạn kinh văn ghi: Nếu đối với cha mẹ, tổ tiên (Pàli:Pubba-purisa), cho đến người tu hành, Bà la môn, các thần... tôn kính cúng dường đúng như pháp thì sau khi chết chắc chắn sẽ được hưởng phúc lạc ở cõi trời. Hình thức tín ngưỡng Tổ linh được cụ thể hóa chính là Tổ tiên sùng bái, đây là đặc trưng cơ bản của Tông giáo ở Trung quốc và Nhật bản; loại tín ngưỡng dân tộc này là một trong các nhân tố quan trọng khiến cho Phật giáo truyền sang phía đông được đón nhận một cách dễ dàng. Cho nên người ta thấy rất nhiều hình thái trong đó tín ngưỡng dân tộc cố hữu và Tổ tiên sùng bái của Phật giáo đã dung hợp nhau. Ở Trung quốc, lập trường của Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo tuy không giống nhau, nhưng thông thường trong các nghi thức mà 3 giáo thực hành đều có bao hàm yếu tố tín ngưỡng dân tộc đã hình thành một thứ tín ngưỡng phức hợp mà đặc trưng của nó là Tổ linh bất diệt; Tổ linh sẽ đích thân đến trong gia tộc hiện tại, giúp đỡ con cháu để kế thừa công lao, danh dự, địa vị của Tổ linh lúc còn sống. Còn việc sùng bái, cúng tế đối với Tổ linh là nghĩa vụ của con cháu, đó là đạo lí giống như cung phụng cha mẹ lúc sinh tiền. Sự sùng bái này được coi là khuôn phép duy trì nền trật tự của gia tộc. Tại Trung quốc, từ xưa đến nay, người ta tin rằng linh hồn người chết có thể dọa nạt người sống, để tránh bị họ dọa nạt và làm điều mờ ám nên có việc cúng tế. Nhưng do sự phát triển của tư tưởng hồn phách và chế độ gia tộc của nhà Nho nên về mặt đạo đức thì có hiếu được sống lâu, sùng bái tổ tiên đã trở thành chế độ hóa, đồng thời các qui định cúng tế phức tạp cũng được đặt ra. Trong hoàn cảnh chế độ xã hội hoàn bị ấy thì sự du nhập của Phật giáo không những chỉ nhằm hóa độ cá nhân làm chính mà còn phải đồng hóa với phong tục dân gian Trung quốc, cho nên tín ngưỡng cúng dường cầu phúc cho cha mẹ 7 đời đã kết hợp với sự sùng bái Tổ linh. Nho gia thì lấy việc hiếu thảo với cha mẹ đời hiện tại làm trọng điểm, khác hẳn với việc cúng dường đối với những người đã chết ở đời quá khứ. Hình thái sùng bái phần nhiều là sùng bái theo tín ngưỡng phong tục dân gian. Việc cầu phúc của Phật giáo ở thời kì đầu là lấy việc xây chùa, tạo tượng làm chính, nhưng đến đời Đường thì tinh thần sùng bái Tổ tiên của Nho gia và Phật giáo đã có ý nghĩa giống nhau. Về sau, thông thường sử dụng hình thái tống táng và tư tưởng tang điếu của Nho gia và Đạo giáo mà có nhất chu kị, tam hồi kị như Tiểu tường, Đại tường..., hoặc lấy mộc chủ làm bài vị; hoặc các ngày trai để tang được kết hợp với trai hội (Phạm: Upowadha, nghĩa là bố tát) của Phật giáo; hoặc mỗi 7 ngày 1 lần sau khi người chết đều phải tụng kinh và cúng dường tăng. Từ đời Tống về sau, các nghi thức này thường được hợp làm một, nên mang hình thái phức tạp. Mặt khác, sự hỏa táng của Phật giáo, tín ngưỡng thân trung ấm trong 49 ngày và các pháp sự như tụng kinh... cũng dung hòa vào trong đó.
tổ tâm
(祖心) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Hoàng long, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người ở thủy hưng, Quảng đông, họ Ổ, hiệu là Hối Đường. Năm 19 tuổi, sư theo học ngài Tuệ toàn chùa Long sơn, năm sau, thi kinh được độ, trụ ở viện Thụ nghiệp vâng giữ giới luật. Sau, sư tham yết ngài Vân phong Văn duyệt, hầu ngài trong 3 năm; không bao lâu, sư đến tham yết ngài Tuệ nam ở núi Hoàng bá, lưu lại hầu ngài 4 năm; sau, sư trở về ngài Văn duyệt, bấy giờ ngài Văn Duyệt đã thị tịch, sư bèn nương tựa ngài Thạch sương Sở viên. Một hôm, sư xem truyền đăng Lục, khi đọc đến lời Thiền sư Đa phúc thì sư liền ngộ. Sau, sư theo ngài Tuệ nam dời đến núi Hoàng long, sau khi ngài Tuệ Nam thị tịch, sư kế thừa pháp tịch Hoàng long, ở đó 12 năm. Sau, sư đến kinh đô, Phò mã Đô úy Vương sân đón rước sư rất trọng thể, nhưng sư chỉ cất am ở ngoài Quốc môn. Về già, sư dời am vào sâu trong rừng, không giao tiếp hơn 20 năm. Tháng 11 năm Nguyên phù thứ 3 (1100) đời Tống, sư thị tịch, thọ 76 tuổi, thụyhiệu Bảo Giác ThiềnSư.Đệ tử nối pháp có 47 vị như Hoànglong Ngộtân, Hoànglong Duytân, Lặcđàm Thiệnthanh…...Sư có các tác phẩm: Bảo giác Tổ tâm thiền sư ngữ lục 1 quyển, Minh xu hội yếu 3 quyển. [X. Thiền lâm bảo huấn Q.1; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.23; Ngũ đăng hội nguyên Q. 17; Thích thị kê cổ lược Q.4].
tổ tâm hối đường hoàng long
Thiền sư Tổ Tâm Hối Đường—Zen master Hui-T'ang-Tsu-Hsin (1025-1100). • Thiền sư Tố Tâm Hối Đường sanh năm 1025 tại tỉnh Quảng Đông. Năm mười chín tuổi sư bị mù, cha mẹ nguyện cho sư xuất gia, liền đó mắt sư sáng lại. Sau khi tòng học ba năm với vị thầy thiền đầu tiên của sư là thiền sư Vân Duyệt ở Vân Phong, sư bèn từ giả thiền sư Vân Duyệt ra đi. Sư Vân Duyệt bảo sư nên đến nương với Sư Huệ Nam ở Hoàng Bá. Sư đến Hoàng Bá ở bốn năm, nhưng không kết quả, sư lại trở về Vân Phong; tuy nhiên lúc ấy sư Vân Duyệt đã thị tịch, nên sư tìm đến với sư Thạch Sương—Zen master Tsu-Hsin-Hui-T'ang-Huang-Lung was born in 1025 in Kuang-T'ung province. After he was blind at the age of nineteen, his parents vowed to let him to leave home and to join the order. His eyes were back to normal again. After studying for three years with his first Zen teacher, Wen-Yueh in Yun-Feng, he left Yun-Yueh. Master Wen-Yueh advised him to go to see Zen master Hui-Nan at Huang-Bo. Tsu-Hsin then went to study under Hui-Nan; however, he returned to Yun-Feng after four years without gaining any clarity. Tsu-Hsin-Hui-Tang discovered that Wen-Yueh had passed away, so he stayed with Shih-Shuang. • Một hôm sư đọc Truyền Đăng Thực Lục đến đoạn “Tăng hỏi Thiền sư Đa Phước: Thế nào là một vườn tre của Đa Phước? Đa Phước đáp: Một cây hai cây nghiêng. Tăng thưa: Chẳng hiểu. Đa Phước nói: Ba cây bốn cây cong.” Khi ấy sư liền giác ngộ hiểu rõ được hai thầy. Sư liền đi thẳng đến Hoàng Bá. Vừa mới trải tọa cụ, Huệ Nam cười nói: Ngươi vào thất của ta. Sư cũng thích thú vui mừng thưa: Việc lớn xưa nay như thế, Hòa Thượng cần gì dạy người khán thoại đầu và rán hết sức vạch tìm ra ý nghĩa ? Huệ Nam đáp: Nếu chẳng dạy ông tầm cứu như thế, đến chỗ không dụng tâm tự thấy tự nhận, là ta đã chôn vùi ngươi vậy.”—One day he was reading A Lamp Record, when he came upon the passage, “A monk asked Zen master T'o-Fu, 'What is T'o-Fu's bamboo grove?' T'o-Fu replied, 'One stalk, two stalk slanted.” The monk said, 'I don't understand.' T'o-Fu then said, 'Three stalks, four stalks crooked.” Upon reading these words Tsu-Hsin-Hui-T'ang experienced great awakening and finally grasped the teaching of his previous two teachers. Tsu-Hsin returned to see Huang-Bo. When he arrived there and prepared to set out his sitting cushion, Huang-Bo said, “You've already entered my room.”Tsu-Hsin jumped up and said, “The great matter being thus, why does the master teach koans to the disciples and study the hundred cases of the koan collections?” Huang-Bo said, “If I did not teach you to study in this manner, and you were left to reach the place of no-mind by your own efforts and your own confirmation, then I would be sinking you.” • Một hôm quan Thái Sử Hoàng Sơn Cốc là một nhà nho, một nhà thơ, đến gõ cửa sư xin học Thiền. Sư nói: “Có một đoạn sách Nho ắt ngài đã nằm lòng dạy đúng như Thiền dạy. Ngài nhớ lại coi có phải Thánh Khổng nói 'Ông nghĩ rằng tôi có điều dấu ông. Nầy các ông ơi, thật tôi không dấu diếm điều gì hết.' Nhà Nho toan đáp, nhưng sư một mực nói: “Không! Không!” khiến cho quan Thái sử không mở miệng được, bối rối cả tâm thần, nhưng không biết thưa thốt gì. Sau đó hai người có dịp đi chơi núi. Gặp mùa hoa quế rừng nở rộ, hương thơm ngát cả một vùng. Sư hỏi: “Ngài có ngửi thấy mùi hương không?” Quan Thái sử đáp: “Vâng.” Sư tiếp: “Đó, tôi có dấu gì ngài đâu?” Câu nói tức thì mở tâm quan Thái sử. Thật hiển nhiên 'ngộ' há phải từ bên ngoài đến, hay do người khác cưỡng ép vào ta đâu, mà chính tự nó mọc lên ở trong ta? Dầu vị thầy không có dấu gì ta hết, nhưng ta phải ngộ mới thấy được, và tin quyết rằng không gì thiếu hết trong chính ta—One day Huang-Shan-Ku, a Confucian poet and a mandarin, came to Hui-T'ang to be initiated into Zen. Hui-T'ang said: “There is a passage in the text you are so thoroughly familiar with which fully describes the teaching of Zen. Did not Confucius declare: 'Do you think I am holding back something from you, O my disciples? Indeed, I have held nothing back from you?' Huang-Shan-Ku tried to answer, but Hui-T'ang immediately made him keep silence by saying: “No! No!” The mandarin felt trouble in mind, and did not know how to express himself. Some time later they were having a walk in the mountain. The wild laurel was in full bloom and the air was redolent. Hui-T'ang asked: “Do you smell it?” Huang-Shan-Ku said: “Yes!” Hui-T'ang said: “There, I have kept nothing back from you!” This suggestion from the master at once led to the opening of Huang-Shan-Ku's mind. Is it not evident now that enlightenment is not a thing to be imposed upon another, but that it is self-growing from within? Though nothing is kept away from us, it is through enlightenment that we become cognizant of the fact, being convinced that we are all sufficient unto ourselves. • Một lần sư thượng đường đọc kệ—One time, he entered the hall to read this verse: “Tích nhơn khứ thời thị kim nhật Kim nhật y nhiên nhơn bất lai Kim ký bất lai tích bất vãng Bạch vân lưu thủy phong bồi hồi. Not going, Not leaving, Thoughts of South Mountain and Mount T'ien-T'ai, The silly white cloud with no fixed place, Blown back and forth by the wind. (Người xưa ra đi ngày nay thực, Ngày nay như cũ người chẳng về, Nay đã chẳng về xưa chẳng đến, Mây trắng nước trôi gió quẩn quanh. Thích Thanh Từ dịch). • Sư thị tịch năm 1100. Cốt của sư được đưa vào phía đông của “Phổ Giác Tháp.” Ngài được vua ban hiệu “Bảo Giác” Thiền Sư—Tsu-Hsin died in 1100. His remains were intered on the east side of the “Universal Enlightenment Stupa.” The master received the posthumous title “Zen Master Precious Enlightenment.”
tổ tông
See Tổ tiên in Vietnamese-English Section.
tổ tăng xán
Seng-t'san (C), Sengcan (C), Sosan (J)Tổ thứ ba dòng thiền Trung quốc, mất vào khoảng năm 606 (?). Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Huệ Khả và là thầy của Đạo Tín.
tổ tượng
(祖像) Cũng gọi Tổ ảnh, Tổ sư tượng. Tranh ảnh chân dung Tổ sư, hoặc tượng chạm trổ chân dung Tổ sư. Lại chân dung này xưa nay rất thịnh hành ở Trung quốc. Cứ theo Phật Tổ thống kí quyển 53 thì vua Trung tông nhà Đường từng sai họa sĩ vẽ tượng các vị tăng dịch kinh trên mặt vách điện Lâm quang. Bài tựa chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng cũng nói: Chính giữa nhà thờ Tổ nên an vị tượng Sơ tổ Đạt ma, bên phải tôn trí tượng Thiền sư Bách trượng, bên trái đặt tượng Tổ sư khai sơn.
tổ ý
(祖意) Gọi đủ: Tổ sư tây lai ý. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ý chỉ Phật pháp do các vị Tổ sư nhiều đời trong Thiền lâm truyền lại; vì các Tổ truyền trao cho nhau, chỉ thẳng tâm ấn gọi là Tổ ý. Lạivì giáo vàThiền đối nhau, cho nên ý của các nhà như Thiên thai, Chân ngôn... gọi là giáo ý; còn thiền chỉ truyền riêng ngoài giáo gọi là Tổ ý.
tổ đình kiềm chuỳ lục
(祖庭鉗錘錄) Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Phíẩn Thông dung soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Nội dung sách này biên tập các ngữ yếu mà các Tổ sư nói ra đề dắt dẫn, rèn luyện người học, có thêm phần chỉ dạy thân thiết và bày tỏ ý kiến của tác giả. Toàn sách thu chép hơn 50 điều khuyên bảo của các ngài Linh nguyên Duy thâm, Hối am Duy quang cho đến Đại tuệ Tông cảo... mỗi điều đều có xướng họa, đồng thời khám nghiệm. Cuối quyển có chép thêm Tông môn tạp lục gồm 4 điều: Niêm hoa, Tự thông thiền sư vấn Đạt quan Dĩnh hòa thượng(gồm 5 câu hỏi), Giác mộng đường trùng giếu ngũ gia tông phái tự, Nhất hát phân ngũ giáo.
Tổ Đình Sự Uyển
(祖庭事苑, Soteijien): 8 quyển, do Mục Am Thiện Khanh (睦庵善卿) nhà Tống trước tác, trùng san vào năm thứ 24 (1154) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興). Vốn là tác phẩm nêu lên khoảng hai ngàn mấy trăm hạng mục về các cố sự ngoài đời cũng như trong Phật Giáo, thành ngữ, danh số, nhân danh, tục ngữ, phương ngữ, v.v., từ các Ngữ Lục của chư vị tổ sư, ghi rõ xuất xứ các điển cứ ấy và thêm vào phần chú giải, bộ này được xem như là thư tịch trân quý trong số những thư tịch Thiền xưa nay. Đầu quyển có lời tựa của Pháp Anh (法英), cuối quyển có đề ngôn của Trọng Hề (仲奚); ngoài ra còn có cả lời bạt lẫn hậu tựa của Tế Sư Giám (際師鑑) và Tử Vân (紫雲) trong lần tái san của niên hiệu Thiệu Hưng. Tại Nhật Bản, có bản san hành vào đầu thời kỳ Thất Đinh (室町, Muromachi), bản hoạt tự trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa (元和) và Khoan Vĩnh (寬永, 1615-1628), bản năm thứ 4 (1647) niên hiệu Chánh Bảo (正保), bản năm thứ 8 (1758) niên hiệu Bảo Lịch (寳曆), v.v. Bên cạnh đó, Phổ Giác Quốc Tôn Nhất Nhiên Kiến Minh (普覺國尊一然見明, mất năm 1289) của Triều Tiên cho rằng bộ Tổ Đình Sự Uyển có 30 quyển, nhưng nội dung không rõ.
tổ đình sự uyển
(祖庭事苑) Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Mục am Thiệnkhanh biên soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 113. Nội dung sách này có hơn 2.400 hạng mục, giải thích các ngữ nghĩa khó hiểu, nêu rõ các điển cứ sự duyên, đồng thời sửa chữa các câu chữ đã bị sót mất... trong ngữ lục của các ngài Vânmôn Vănyển, Tuyếtđậu Trùnghiển... Đầu quyển có bài tựa của ngài Phápanh, trong đó có nói rõ lí do soạn sách này. Đây là 1 trong các bộ từ điển được sử dụng rộng rãi cho người mới học trong các tùng lâm xưa nay. Cuối quyển có lời bạt của Tiết độ sứKiến vũ quân soạn vào tháng 8 năm Đại quan thứ 2 (1108), lời bạt khi tái bản dotỉkhưu Tậnam Sư giám soạn vào năm Thiệu hưng 24 (1154) và lời bạt củatỉkhưu Ngọctân Tửvân soạn vào tháng 6 cùng năm Thiệu hưng 24 (1154). [X. Thiền tịch chíQ.hạ; Thiền tịch mục lục].
tổ đăng
(祖燈) Ngọn đèn pháp của liệt tổ. Nghĩa là Tổ sư các đời thầy trò truyền thừa cho nhau, từ thế hệ này qua thế hệ khác, giống như lửa của ngọn đèn nối tiếp nhau không dứt.[X. Bích nham lục tắc 20].
Tổ Đăng Đại Thống
(祖燈大統, Sotōdaitō): 98 quyển và mục lục 2 quyển, do Bạch Nham Tịnh Phù (白巖淨符, ?-?) biên, lời tựa của tác giả ghi năm thứ 11 (1672) niên hiệu Khang Hy (康熙), hiện tàng trữ tại Đông Dương Văn Hóa Nghiên Cứu Sở (東洋文化研究所, Tōyōbunkakenkyūsho) của Đại Học Đông Kinh (東京大學, Tōkyō Daigaku). Bộ Ngũ Đăng Nghiêm Thống (五燈嚴統) của Phí Ẩn Thông Dung (費隱通容) thuộc cuối thời nhà Minh chủ trương rằng môn hạ của Thanh Nguyên (青原) thì chỉ có Tào Động Tông mà thôi, còn 4 tông phái khác đều thuộc môn hạ của Nam Nhạc (南岳); thế nhưng tác phẩm này có thâu lục chư vị Thiền sư thuộc những môn phái khác, cho rằng tất cả đều thuộc môn lưu của Đạt Ma (達磨), bỏ đi cách gọi môn hạ Thanh Nguyên, Nam Nhạc và gọi chung là môn hạ của Thiếu Lâm (少林). Bộ này được biên tập công phu, dựa trên sự tham khảo một số Đăng Sử như Kế Đăng Lục (繼燈錄) được thành lập từ bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) vào cuối thời nhà Minh, hay Tư Trị Thông Giám (資治通鑑), v.v. Nội dung của gồm các lời tựa của Kì Hùng Giai (祁熊佳), Nghiêm Hãng (嚴沆), Lục Cầu Khả (陸求可), lời tự tựa của Tịnh Phù, mục lục, 7 vị Phật thời quá khứ, 28 vị Tổ Tây Thiên, 6 vị Tổ Đông Độ, cơ ngữ của 40 đời chư vị Tổ sư thuộc môn hạ Thiếu Lâm dưới thời nhà Minh, và một số nhân vật không rõ thuộc pháp hệ nào.
tổ đăng đại thống
(祖燈大統) Tác phẩm, 100 quyển, trong đó có 2 quyển mục lục do vịtăng thuộc tông Tào động làVịtrung Tịnhphù biên soạn vào năm Khang hi11 (1672) đời Thanh. Trong bộ Ngũ đăng nghiêm thống, ngài Phíẩn Thôngdung, vịtăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh cho rằngdưới phái ngài Thanh nguyên Hành tư chỉ có tông Tào động, còn 4 tông khác là Lâm tế, Qui ngưỡng, Pháp nhãn và Vân môn đều thuộc nhượng. Còn sách này thì chủ trương hễ người nào tu thiền thì đều thuộc về dòng phái Bồ đềđạt ma, cho nên xóa bỏ các danh từ Thanhnguyên hạ(thuộc dòng phái ngài Thanhnguyên), Namnhạc hạ(thuộc dòng phái Namnhạc) mà qui tất cả về hệ thống Thiếu lâm. Sách này do tham khảo các Đăng sử từ Cảnh đức truyền đăng lục đời Tống đến Kế đăng lục thành lập vào đời Minh và các sử tịch như Tư trị thông giám... mà biên soạn thành. Nội dung thu chép sự tích 7 đức Phật đời quá khứ, 28 vị Tổ Tây thiên, 6 vị Tổ Đông độ cho đến đời thứ 40 thuộc hệ thống Thiếu lâm đời Minh thì dừng và số ít ngữ cú cơ duyên không rõ người nối pháp. (xt. Ngũ Gia Thất Tông, Thanh Nguyên Hạ, Nam Nhạc Hạ).
tổ đường
Patriarchs' Hall.
Tổ Đường Tập
(祖堂集, Sodōshū): 20 quyển, do Tĩnh (靜) và Quân (筠) cùng trước tác, Văn Đăng (文僜) biên lời tựa, Bản Triều Tiên được san hành vào năm thứ 32 (1245) đời vua Cao Tông, Cao Lệ. Là bộ sách truyền đăng của Thiền Tông do hai nhân vật Tĩnh và Quân ở Chiêu Khánh Tự (招慶寺), Tuyền Châu (泉州) trước tác vào năm 952 (Nhâm Tý), tác phẩm này xuất hiện trước Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) hơn 50 năm. Nội dung của nó có nhiều điểm dựa trên cơ sở bộ Bảo Lâm Truyện (寳林傳), thâu lục đầy đủ các truyền ký của chư tôn túc, có khá nhiều bài thuộc loại ca tụng, vào cuối mỗi truyện đều có bài tán của Thiền Sư Tĩnh Tu (靜修), liệt kê chư vị tổ sư mà không phân biệt Tây Thiên hay Đông Độ với những sự thật lịch sử; cho nên đây là thư tịch vô cùng quý giá về lịch sử Thiền Tông. Bản hiện tồn được vua Cao Tông của Cao Lệ san hành làm phần phụ lục của Đại Tạng Kinh vào năm Ất Tỵ (1245). Trước đây, Trường Đại Học Hoa Viên (花園大學, Hanazono Daigaku) có san hành ấn bản bằng dầu và gần đây bản này được chụp lại và cho xuất bản.
tổ đường tập
(祖堂集) Tác phẩm, 20 quyển, do 2 ngài Tĩnh và Quân chùa Chiêu khánh tại Tuyền châu biên soạn vào năm Bảo đại thứ 10 (952) đời Namđường thời Ngũđại. Đây là một trong các bộ sử truyện Thiền tông ở thời kì đầu tại Trung quốc. Nội dung sách này thừa kế thuyết Tổ thống trong Bảo lâm truyện. Đầu quyển có bài tựa do thầy của 2 vị Tĩnh, Quân là ngài Văn đặng soạn, bài kí Hải đông tân khai ấn bản và phần mục lục do ngài Khuông huề soạn. Từ quyển 1 đến quyển 20 thu chép sự tích hơn 250 vị, từ 7 đức Phật quá khứ, Sơ tổ Đại ca diếp đến Tổ thứ 33 Đại giám Tuệ năng, đến đời thứ 8 thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên, pháp tôn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn, đời thứ 7 thuộc hệ thống ngài Nam nhạc, pháp tôn ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Các pháp ngữ cơ duyên được ghi chép theo thứ tự tương thừa của Phật tổ truyền đăng; thuyết Truyền đăng này trở thành căn cứ cho các Đăng sử đời sau. Sách này ra đời sớm hơnCảnh đức truyền đăng lục (1004) 50 năm là bộ sử truyện Thiền tông tổng hợp xưa nhất hiện còn. Nhưng sách này xếp hệ thống ngài Thanh nguyên trước, hệ thống ngài Nam nhạc sau, còn Cảnh đức truyền đăng lục thì ngược lại. Sách này biên chép ngữ yếu của các Thiền sư bằng thái độ lập truyện theo sự thực lịch sử, có thể nói đây là tập đại thành các cổ tắc công án, nhất là có các cơ phong mà trong các Đăng sử khác không có, đồng thời thu chép các văn học Thiền như kệ tụng, ca hành... và sử liệu về Thiền tông Triều tiên.Từ thời Bắc tống trở đi, sách này thất lạc, các tư liệu hữu quan không còn, nhưng rất may mắn trong thời kì đầu truyền đến Triều tiên, sách này đã được lưu giữ trong Đại tạng kinh bản Cao li. Đầu tiên, vào năm Cao tông 32 (1245), ở đảo Nam hải, đạo(tỉnh) Khánh xương có thiết lập Phân ti Đại tạng đô giám để bắt đầu khắc bản gỗ của sách này, lại vì tránh tên húy của vua Trang Tựa của Tổ đường tập Thái tổ nước Cao li là Vương kiến, nên chữ Kiến trong sách phải viết thiếu nét. Đến năm Lí Thái vương thứ 2 (1865) đời Lí, sách này được đưa vào bản bổ túc Đại tạng kinh khắc lại của Cao li. Vào năm 1912, bộ sách này mới được tìm thấy ở chùa Hải ấn núi Già da và được công bố rộng rãi, rất được giới học thuật coi trọng. Sách này chẳng những là sử liệu Thiền tông quan trọng, đã giữ gìn được ngôn ngữ lưu hành ở đương thời, mà còn là tư liệu quí báu cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, tư tưởng... của thời Ngũ đại. [X. Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Báthọ)Q.2, 3; Triềutiên Hảiấntự kinh bản khảo (Đạiốc Đứcthành).
tổ đạo tín
Tao-hsin (C), Doshin (J), Daoxin (C)(580-651) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Tăng Xán. Tên tộc của ngài là Tư Mã, người tỉnh Hà nam.
Tổ ấn
(祖印): Pháp ấn của Tổ sư, tức là những ấn tượng đáng nhớ, hành trạng, giáo thuyết cũng như Tông phong của chư vị Tổ sư lúc sinh tiền lưu lại cho hậu thế noi theo. Vì thế, trong Thiền môn thường dùng câu Tổ ấn trùng quang (祖印重光, pháp ấn của chư Tổ vẫn sáng tỏ mãi). Câu này thường được treo ở Nhà Tổ. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 4 có câu: “Phục nguyện, Luật phong vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang, giới hương phân phức ư Cửu Châu, pháp vũ triêm nhu ư Thất Chúng (伏願、律風永振、祖印重光、戒香芬馥於九州、法雨沾濡於七眾, cúi mong Luật phong mãi chấn chỉnh, Tổ ấn luôn sáng ngời, hương giới thơm phức khắp Chín Châu, mưa pháp rưới nhuần nơi Bảy Chúng).” Hay trong Vô Chuẩn Hòa Thượng Tấu Đối Ngữ Lục (無準和尚奏對語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1383) có đoạn: “Phục nguyện, Phật chủng bất đoạn, thế thế kiến quang minh tràng, Tổ ấn thân truyền, nhân nhân khai vô tận tạng (伏願、佛種不斷、世世建光明幢、祖印親傳、人人開無盡藏, cúi mong giống Phật chẳng dứt, đời đời dựng cờ sáng tỏ, Tổ ấn truyền thừa, người người mở kho vô tận).”
; (祖印): Pháp ấn của Tổ sư, tức là những ấn tượng đáng nhớ, hành trạng, giáo thuyết cũng như Tông phong của chư vị Tổ sư lúc sinh tiền lưu lại cho hậu thế noi theo. Vì thế, trong Thiền môn thường dùng câu Tổ ấn trùng quang (祖印重光, pháp ấn của chư Tổ vẫn sáng tỏ mãi). Câu này thường được treo ở Nhà Tổ. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 4 có câu: “Phục nguyện, Luật phong vĩnh chấn, Tổ ấn trùng quang, giới hương phân phức ư Cửu Châu, pháp vũ triêm nhu ư Thất Chúng (伏願、律風永振、祖印重光、戒香芬馥於九州、法雨沾濡於七眾, cúi mong Luật phong mãi chấn chỉnh, Tổ ấn luôn sáng ngời, hương giới thơm phức khắp Chín Châu, mưa pháp rưới nhuần nơi Bảy Chúng).” Hay trong Vô Chuẩn Hòa Thượng Tấu Đối Ngữ Lục (無準和尚奏對語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1383) có đoạn: “Phục nguyện, Phật chủng bất đoạn, thế thế kiến quang minh tràng, Tổ ấn thân truyền, nhân nhân khai vô tận tạng (伏願、佛種不斷、世世建光明幢、祖印親傳、人人開無盡藏, cúi mong giống Phật chẳng dứt, đời đời dựng cờ sáng tỏ, Tổ ấn truyền thừa, người người mở kho vô tận).”
tổ ấn cư nạp
Zen master Tổ Ấn Cư Nạp—Zen master Tsu-Yin-Chu-Ne—Thiền sư Trung Hoa, sống giữa khoảng thế kỷ thứ 11, là một học giả lớn, tinh thông kinh Pháp Hoa và những tông phái khác của triết học Phật giáo; thậm chí những bậc trưởng lão cũng muốn học hỏi với sư. Sư có vẻ không hay biết gì về Thiền. Một hôm có một người khách có tiếp xúc với các hoạt động của Thiền ở phương Nam. Người ấy bảo rằng toàn thể thế gới Phật giáo của Trung Hoa đều được thâu tóm vào pháp môn của Đạt Ma và Mã Tổ, một trong những hậu duệ tài ba nhất của Đạt Ma, hình như thỏa mãn một sấm ngôn của Bát Nhã Đa La và có ảnh hưởng lớn đối với các học giả Phật giáo của xứ nầy, đến nỗi cả những người có học và hiểu , nổi danh khắp các vùng đất như Thục như Lượng Công và Giám Công, họ đã từ bỏ môn đệ hay đốt cháy kho sách luận giải của mình để chứng đạt pháp môn Thiền. Cư Nạp rất xúc động về tường thuật của ông bạn Thiền này. Người ấy khuyên sư hãy bước ra với đời và tự mình chứng kiến mọi việc. Cư Nạp từ giả quê quán và du hành khoảng vài năm ở Kinh và Sở, nhưng không thấy có kết quả nào. Sau đó sư tiếp tục dời bước về đông và ngụ tại Tương Châu, trải qua mười năm với Thiền sư Động Sơn. Một hôm, sư đang đọc một bản luận giải về kinh Hoa Nghiêm và xúc động sâu xa về đoạn văn sau đây, nhờ thế mà sư tỏ ngộ đạo lý của Thiền: “Núi Tu Di nổi lên giữa biển cả cao 84.000 do tuần, đỉnh của nó không phải là chỗ vin tay đặt chân mà lên được. Đây chỉ cho ngọn núi của 84.000 trần lao nổi lên từ đại dương của phiền não. Khi chúng sinh đạt đến chỗ vô tư vô vi đối với hết thảy các pháp, phiền não sẽ khô cạn. Trần lao giờ đây chuyển thành ngọn núi Nhất Thiết Trí, và phiền não trở thành biển Nhất Thiết Trí. Trái lại, nếu khởi tâm tư lự tức có những vướng víu. Rồi ra phiền não càng thêm sâu, đường lên đỉnh núi của Phật Trí bị ngăn chặn lại.” Cư Nạp bèn nhận xét: “Thạch Cũng nói rằng 'không có chỗ ra tay,' và Mã Tổ 'vô minh từ quá khứ vô thủy nay đã tiêu tan hết thảy.'” Đây thực không phải là lời nói hư dối—Chinese Zen master, who lived in the middle part of the eleventh century, was a great scholar versed in the Avatamsaka Sutra and other schools of Buddhist philosophy, and even elderly scholars were willing to study under him. Evidently he did not know anything of Zen. One day he had a visitor who was acquainted with the doings of Zen in the south. He said that the entire Buddhist world of China was then taken up by the teaching of Bodhidharma, and that of Ma-Tsu, one of his ablest descendants, who appeared to fulfill the prophecy of Prajnatala, had exercised great influence over the Buddhist scholars in the country, so that even men of learning and understanding who were renowned throughout the province of Shu, such as Liang and Chien, either gave up their own pupils or burned their library of the commentaries, on order to master the teaching of Zen. Chu-Ne was very much impressed with the report of his Zen friend. Advised strongly by him to go out into the world and see the state of affairs by himself, Chu-Ne left his native province and wandered about some years in Ching and She but without seeing and result. He then moved further west and stayed in Hsiang-Chou for ten years under Tung-Shan Yung. One day he was reading a treatise on the Avatamsaka Sutra and was deeply impressed by the following passage, which opened finally his mind to the truth of Zen: “Mount Sumeru towers in the great ocean attaining the altitude of 84,000 yojanas, and its summit is not to be scaled by means of hands and legs. This illustrates that the mountain of 84,000 human woes is rising from the great ocean of passions. When beings attain the state of consciousness in which they cherish no thoughts of relativity and from which all strivings vanish, even when confronting this world of multiplicities, their passions will naturally be drained off. All the worldly woes now turn into the mountain of all-knowledge and the passions into the ocean of all-knowledge. On the contrary, when the mind is filled with thoughts and reflections of relativity, there are attachments. Then the greater grow worldly and the deeper the passions, and a man is barred from reaching the summit of knowledge which makes up the essence of Buddhahood.” Chu-Ne then observed: “According to Shih-Kuang, 'not a cue to get hold of,' and according to Ma-Tsu, 'ignorance since the beginningless past has melted away today.'” These are indeed no lies.
tổ ấn mật hoằng
Zen Master Tổ Ấn Mật Hoằng (1735-1835)—Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng, quê ở Phù Cát Bình Định, Trung Việt. Ngài xuất gia vào tuổi 15. Ngài thọ cụ túc giới với Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc tại chùa Từ Ân ở Tân Khai, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Ngài là Pháp tử đời thứ 36 dòng Lâm Tế. Vào năm 1773, ngài trụ trì tại chùa Đại Giác. Vào năm 1802, vua Gia Long sai quan địa phương trùng tu lại chùa Đại Giác. Đến năm 1815, vua Gia Long gừi sắc chỉ triệu hồi ngài về kinh đô Huế để thuyết giảng cho nhà vua và hoàng gia. Sau đó ngài về làm tăng cang chùa Thiên Mụ. Ngài thị tịch năm 1835, thọ 101 tuổi—A Vietnamese monk from Phù Cát, Bình Định, Central Vietnam. He left home and became a monk at the age of 15. He received complete precepts with Most Venerable Phật Ý Linh Nhạc at Từ Ân Temple in Tân Khai, Tân Bình, Gia Định. He was the Dharma heir of the 36th generation of the Linn-Chih Zen Sect. In 1773, he stayed at Đại Giác Temple. In 1802, King Gia Long ordered his local mandarins to rebuild Đại Giác Temple. In 1815 King Gia Long sent an Imperial Order to summon him to Hue capital to preach the Buddha Dharma to the King and the royal family. Later, he became a royal-recognized monk at Thiên Mụ temple. He passed away at Quốc Ân Temple in Huế in 1835, at the age of 101.
tổn
1) Tổn hại: To spoil—To hurt—To damage. 2) Tổn phí: Cost—Expenses.
Tổn diệt chấp 損滅執
[ja] ソンメツシュウ sonmetsushū ||| Attachment to the view of nihīism, or non-existence, to which followers of the prajñāpāramitā teachings on emptiness 空 are especially prone. 〔二障義 HPC 1.814a〕 => Chấp trước vào quan niệm hư vô, không hiện hữu, mà đặc biệt những môn đệ của giáo lý Bát-nhã về tính không bị trượt vào.
Tổn diệt 損滅
[ja] ソンメツ sonmetsu ||| To negate, get rid of, annihīate. Nihīistic.〔二障義 HPC 1.814a〕 => Phủ nhận, trừ bỏ, thủ tiêu. Hư vô.
tổn hại
To cause damage.
Tổn hại 損害
[ja] ソンガイ songai ||| To harm, damage, wound, incapacitate (Skt. vyābādhana, Tib. gtod pa). 〔瑜伽論 T 1579.30.348b19〕 => Gây tai hại, làm thiệt hại, gây tổn thương, làm bất lực (s: vyābādhana, t: gtod pa).
Tổn não 損惱
[ja] ソンノウ sonnō ||| To suffer; to be in want. (upaghāta, aviheṭhanā) To cause suffering, pain, etc.〔二障義HPC 1.790c, 瑜伽論T 1579.30.303a〕 => Chịu đựng, trong tình trạng thiếu thốn (s: upaghāta, aviheṭhanā). Gây nên khổ đau v.v...
tổn phục đoạn
Tạm thời ép chặt hay dùng đạo hữu lậu mà đoạn diệt phiền não (khi gặp duyên nó lại hiện hành trởi lại)—To spoil, subject and destroy the passions.
; (損伏斷) Đối lại: Tất cánh đoạn. Hạt giống phiền não tạm thời bị đè ép là nhờ năng lực củađạo hữu lậu, nhưng nếu gặp duyên(điều kiện thuận lợi) thì lập tức chúng hiện hànhtrở lại, vì thế gọi là Tổn phục đoạn. Đây là thuyết do Kinh bộ lập ra. TÔNG Chữ Tất đàm (vaô), là chủng tử của Đạinhật Nhưlai thuộc Kim cương giới, hiển bày trí chân thực của Đạinhật Như laitríphápthân, biểu thị cho cội nguồn của tất cả các pháp, là bản thể của muôn pháp và pháp giới tháp bà do Ngũ luân tạo thành. Chữ Tông bao hàm vô lượng nghĩa như: Nước đại bi, biểu thị rửa sạch hết tất cả phiền não nhơ nhớp của 160 tâm; Tự tính lìa nói năng, biểu thị trí chân thật của Đại nhật pháp thân... Ngoài ra, trong Tông tự nghĩa của Hưnggiáo Đại sư người Nhậtbản, có nêu 16 môn như Li ngôn, Thủy luân, Tháp bà, Đại bi... để giải thích ý nghĩa sâu xa của chữ này. [X. phẩm Tựa kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì Q.thượng; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.thượng; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụngQ.1; kinh Đại nhậtQ.7; Phật đính tôn thắng tâm phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật tam thân Phật quả tam chủng tất địa chân ngôn nghi quĩ].
Tổn phục 損伏
[ja] ソンフク sonfuku ||| To be weakened and overcome, which is what happens to the defilements in the course of religious practice.〔二障義HPC 1.807a〕 => Bị yếu và bị hàng phục, là những điều xảy ra đối với phiền não nhiễm ô trong quá trình tu tập.
tổn thương
To hurt (wound).
tổn thất
Loss.
tổn thọ
To shorten one's life.
Tổn 損
[ja] ソン son ||| To lose that which one possesses. (apavāda, saṃlekha) => Mất đi những gì mình vốn có (s: apavāda, saṃlekha).
tổng
Sàdhàrana (S). Altogether, all, whole, general; certainly.
; Sadharana (skt)—Cùng nhau—Toàn thể—Altogether—Whole—General—All.
tổng biệt
Chung và riêng—General and particular.
; (總別) Tổng thể và cá biệt, là sự phân chia giữa cái chung và cái riêng. Bao nhiếp toàn thể, gọi là Tổng; chỉ riêng từng phần, gọi là Biệt. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 31, các pháp có 2 tính, một là Tổng tính, hai là Biệt tính. Tổng tính như vô thường, khổ, không, vô ngã, vô sinh, vô diệt, vô lai, vô khứ, vô nhập, vô xuất... Còn Biệt tính thì như tính biết của tâm, tính nóng của lửa, tính ướt của nước... Lại như người thích làm các việc ác thì gọi là tính ác; ưa làm các điều thiện thì gọi là tính thiện. Suy rộng ra thì các pháp đều có tổng tướng và biệt tướng khác nhau. Như ngựa là Tổng tướng; còn ngựa trắng thì là Biệt tướng. Về mặt quán tưởng, quán niệm thì có Tổng quán và Biệt quán đối nhau. Lại các tông phái đều lấy kinh làm sở y (chỗ y cứ), gọi là Tổng y; nhưng lấy riêng một bộ kinh nào đại biểu cho tông ấy thì gọi là Biệt y. Ngoài ra còn có các loại pháp tổng, biệt đối nhau, như Tổng tướng niệm xứ, Biệt tướng niệm xứ, Tổng báo, Biệt báo, Tổng ngã, Biệt ngã, Tổng tướng quán, Biệt tướng quán, Tổng nguyện, Biệt nguyện, Tổng an tâm, Biệt an tâm, Tổng hồi hướng, Biệt hồi hướng, Tổng luận, Biệt luận, Tổng thích, Biệt thích... [X. luận Đại trí độ Q.23; luận Trung biên phân biệt Q.thượng; luận Câu xá Q.25, 26; luận Thành duy thức Q.1, 10; Đại thừa nghĩa chương Q.9].
tổng biệt nhị nghĩa an tâm
(總別二義安心) Hai nghĩa an tâm chung và riêng. An tâm là nhờ sự thể nghiệm việc tu đạo hoặc sự hiểu thấu đối với giáo pháp mà để tâm an trụ ở một chỗ, hầu đạt đến cảnh giới an định bất động. Tổng an tâm là chỉ cho pháp môn an tâm của toàn thể Phật giáo; còn Biệt an tâm thì chỉ cho pháp môn an tâm đặc biệt riêng khác. 1. Hai nghĩa an tâm của tông Thiên thai:Trong thuyết Thập thừa quán pháp của tông Thiên thai có nói đến nghĩa Thiện xảo an tâm chỉ quán, nghĩa là không phân biệt chủng loại khác nhau giữa những người tu hành mà chỉ nói chung về cách dùng pháp Chỉ, Quán để khiến họ an trụ trong đế lí pháp giới, gọi là Tổng an tâm. Nhưng nếu vì căn cơ của những người tu hành có chỗ sai khác, tuy muốn dùng pháp Chỉ, Quán để khiến họ an trụ, nhưng trái lại càng làm cho họ tán loạn thêm. Trong trường hợp này thì nên tùy theo căn cơ khác nhau của mỗi người mà giải thích cho họ nghe, hoặc trước khiến họ tư duy, hoặc dạy họ tu một bên Chỉ, hoặc dạy họ tu một bên Quán, tùy theo căn cơ của mỗi người mà an lập tâm cho họ, gọi là Biệt an tâm. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 hạ; Maha chỉ quán Q.5 thượng]. 2. Hai nghĩa an tâm của phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ Nhật bản:Phái này lấy tâm Yếm hân, tâm Bồ đề làm Tổng an tâm, còn lấy Chí thành tâm, Thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm làm Biệt an tâm.[X. Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1 (Lương trung); Thích tịnh độ nhị tạng nghĩa Q.11].
Tổng biệt 總別
[ja] ソウベツ sōbetsu ||| The general and specific aspects present in a discussion about a phenomenon or doctrine. For example five types of affliction might each have distinctive 別 characteristics, but still be generally the same 總, in their all being affliction. Similar in usage to 通別. => Phương diện tổng quát và riêng bịêt hiện thời trong khi bàn về một hiện tượng hoặc một giáo lý. Chẳng hạn, năm loại phiền não có thể sẽ có những nét riêng biệt, nhưng đại thể vẫn có điểm chung (tổng 總). Cách dùng tương tự với Thông biệt 通別.
tổng báo
General retribution.
tổng báo biệt báo
(總報別報) Cũng gọi: Tổng quả biệt quả. Tổng báo và Biệt báo, 1 trong các giáo nghĩa do tông Pháp tướng thành lập. Quả của thức thứ 8 gọi là Tổng báo (quả báo chung); quả của 6 thức trước gọi là Biệt báo (quả báo riêng), 2 thứ quả này gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Vì sức nghiệp dẫn của thức thứ 8 có năng lực dắt dẫn chúng sinh cảm được tổng thể của dị thục như Ngũ thú (5 đường), Tứ sinh (4 loài).. nên gọi là Tổng báo; còn sức nghiệp mãn của 6 thức trước do dị thục sinh cảm nhận được thì đều khác nhau, chẳng hạn như chi thể (tay chân...), các căn (mắt, tai...) mỗi thứ đều tự có khác, nên gọi là Biệt báo.Ví như quả báo của cả nhân loại cùng sinh vào thế giới loài người, gọi là Tổng báo; còn trong nhân loại thì sự nghèo giàu, đẹp xấu, trí ngu... của mỗi người đều khác nhau, gọi là Biệt báo.[X. luận Đại tì bà sa Q.20; luận Câu xá Q.17; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.8, phần cuối; Lược thuật pháp tướng nghĩa Q.thượng; Hoa nghiêm nguyên nhân luận giải Q.hạ]. (xt. Quả Báo).
tổng báo nghiệp
General karma determining the species, race, and dountry into which one is born. Biệt nghiệp is the particular karma relating to one's condition in that species, e.g. rich, poor, well, ill, etc.
; Quả báo chung quyết định chủng loại và xứ sở mà người ta sanh vào (chúng sanh lục căn đẹp xấu, mệnh thọ dài ngắn, giàu, nghèo, bệnh, khỏe, v.v. là biệt báo)—The principal or integral direction of karma—General karma determining the species, race, and country into which one is born (The particular relating to one's condition in that species, i.e. rich, poor, well, ill, etc.).
Tổng báo nghiệp 總報業
[ja] ソウホウゴウ sōhōgō ||| See 總報 above. => Xem Tổng báo 總報 .
Tổng báo 總報, 惣報
[ja] ソウホウ sōhō ||| 'Species reward', 'general reward.' In contrast to 別報 'specific reward.' A term referring to the aspect of the commonality of the reward of a very broad nature, such as the species that a living being is born as. For example, whether or not a being will be reborn as a human, dog, or horse is determined by this kind of karma, but whether one will be reborn as male or female, rich or poor, weak or strong, will be determined by specific reward karma. Also written in Chinese as 滿業 and as 引業. => Ngược với Biệt báo, thuật ngữ chỉ cho khía cạnh chung nhất của tính chất đại cương, như chủng loại mà chúng sinh được sinh ra. Chẳng hạn, bất luận chúng sinh được sinh ra làm thân người, chó, hoặc ngựa, thì dứt khoát đều do dạng tổng báo nghiệp nầy, còn nếu bất luận Con người được sinh ra là đàn ông hay đàn bà, giàu hay nghèo, yếu hay mạnh đều do biệt báo nghiệp. Còn được dich sang tiếng Hán là Mãn nghiệp 滿業 và Dẫn nghiệp 引業.
tổng cung
(總供) Pháp cúng dường chung tất cả Thánh chúng. Trong Mật giáo, khi tu pháp, hành giả dâng 5 thứ: Hương bột, hoa, hương đốt, thức ăn uống và đèn sáng để cúng dường Bản tôn trước, gọi là Biệt cúng (cúng dường riêng). Sau đó, lại dùng ấn minh (ấn khế và chân ngôn) để thực hành pháp phổ cúng, từ ấn minh này sinh ra vô lượng vô biên vật cúng vi diệu để cúng dường tất cả hải hội Thánh chúng, gọi là Tổng cúng.
tổng cúng
Cúng dường hay thờ hết thảy các vị Thần, đối lại với việc thờ phượng một vị Thần đặc biệt nào đó—A general offer to all spirits, in contrast with specific worship.
Tổng danh 總名
[ja] ソウミョウ sōmyō ||| A general (generic) name or term for something. 〔瑜伽論 T 1579.30.279a23〕 => Tên gọi, đặc điểm chung cho mọi loàii.
tổng hợp (a)
Integrated—(n): Collection.
tổng kết
Summarize—To recapitulate.
Tổng kết 總結
[ja] ソウケチ sōketsu ||| Summary; to sum up. => Nội dung tổng quát, tóm tắt.
tổng kệ
Sagāthā (S).
tổng lí chúng kinh mục lục
(綜理衆經目錄) Cũng gọi Phù tần sa môn Thích đạ oan Tổng lí chúng kinh mục lục, An pháp sư soạn lục, Thích đạo lục, Đạ oan lục, An công lục, An lục. Mục lục, 1 quyển, do ngài Đạoan (314- 385) soạn vào đời Đông Tấn. Nội dung sách này thu chép các kinh Phật Hán dịch và các tác phẩm chú thích kinh trong khoảng 200 năm từ đời Hậu Hán đến năm Ninh khang thứ 2 (374) đời Đông Tấn, là bộ sách mục lục kinh Phật đầu tiên ở Trung quốc. Sách này đã bị thất lạc từ lâu, nhưng quyển 2 đến quyển 5 trong Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu đời Lương đã lấy sách này làm gốc để bổ sung thêm, cho nên có thể y cứ vào các quyển ấy mà thấy sơ lược đại cương của sách này. Nội dung toàn sách được chia làm 8 phần: 1. Tuyển xuất kinh, luật, luận lục: Chọn ra những kinh, luật, luận. 2. Dị xuất kinh lục: Chỉ ra những kinh khác nhau. 3. Cổ dị kinh lục: Nêu các kinh khác nhau được dịch từ xưa. 4. Thất dịch kinh lục: Ghi những kinh mất tên người dịch. 5. Lương thổ dị dịch kinh lục: Những kinh dịch khác ở đất Lương. 6. Quan trung dị kinh lục: Những kinh khác ở Quan trung. 7. Nghi kinh lục: Ghi những kinh còn ngờ.8. Chú kinh cập tạp kinh chí: Ghi những sách chú thích kinh và các tạp kinh. Trong 8 loại trên đây có thu chép tất cả 639 bộ, 886 quyển kinh Phật.Về tiêu đề của sách này thì trong các tác phẩm của ngài Đạ oan và Tăng hựu đều không có ghi, nhưng đến đời Tùy thì điều Đạo an trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 8 của cư sĩ Phí trường phòng mới nêu tên gọi Tổng lí chúng kinh mục lục, nhưng Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15 lại gọi là Thích đạ oan lục và xếp vào 1 trong 24 gia lục chưa từng thấy.[X. Pháp kinh lục Q.7; Đại đường nội điển lục Q.3].
tổng minh luận
A name for the Abhidharma-kosa.
; Tên khác của Câu Xá Luận—Another name for Abhidharma Kosa.
tổng nguyện
Xem Tứ hoằng thệ nguyện.
; Universal vows common to all Buddhas, in contrast with Biệt nguyện specific vows, e.g. the forty eight of Amitàbha.
; Thệ nguyện chung của chư Phật và chư Bồ Tát như Tứ Hoằng Thệ Nguyện và Thập Nguyện Phổ Hiền Bồ Tát, đối lại với thệ nguyện riêng như 48 nguyện của Đức Phật A Di Đà—Universal vows common to all Buddhas and Bodhisattvas, e.g. the four magnanimous vows, and the ten great vows of Samantabhadra Bodhisattva; in contrast with specific vows, e.g. forty-eight of Amitabha. ** For more information, please see Tứ Hoằng Thệ Nguyện, Mười Đại Nguyện Của Bồ Tát Phổ Hiền and Tứ Thập Bát Nguyện in Vietnamese-English Section.
tổng nguyện biệt nguyện
(總願別願) Nguyện chung và nguyện riêng. Tổng nguyện chỉ cho thệ nguyện chung của chư Phật, Bồ tát, như 4 thệ nguyện rộng lớn, 10 đại nguyện của Bồ tát Phổ hiền...; còn Biệt nguyện là thệ nguyện được phát khởi do ý thích riêng của mỗi đức Phật, mỗi vị Bồ tát, như 48 nguyện của đức Phật A di đà, 12 nguyện của đức Phật Dược sư... Phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã quyển 3 (Đại 8, 20 thượng) ghi: Bồ tát vì chúng sinh mà phát đại thệ nguyện rằng: Ta sẽ tự thực hành đầy đủ 6 Ba la mật, cũng sẽ giáo hóa người khác khiến họ thực hành đầy đủ 6 Ba la mật. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 trung) ghi: Ta phát nguyện vượt thế gian, chắc chắn đến đạo Vô thượng; nếu nguyện này chẳng đầy đủ, Ta thề không thành Chính giác. Vì thế biết chư Phật, Bồ tát khi mới phát tâm đều dốc chí cầu bồ đề Vô thượng, lấy việc tế độ hết thảy chúng sinh làm nguyện, đó là Hoằng thệ, cũng gọi là Tổng nguyện. Như 4 thệ nguyện rộng lớn, 20 đại thệ nguyện, 18 nguyện Phổ hiền... đều thuộc Tổng nguyện. Đồng thời chư Phật, Bồ tát phát nguyện thành tựu chúng sinh, làm cho cõi Phật thanh tịnh; hoặc nguyện thành Phật ở cõi nước ô uế để cứu độ các chúng sinh ương ngạnh, khó giáo hóa. Những thệ nguyện này y cứ vào ý thích riêng của mỗi đức Phật, mỗi vị Bồ tát mà được lập ra, nên gọi là Biệt nguyện. Như 20 nguyện của Phật A súc, 24 nguyện, 36 nguyện, 48 của Phật A di đà, 12 nguyện, 44 nguyện của Phật Dược sư, cho đến 18 nguyện của bồ tát Văn thù, 40 nguyện của bồ tát Sư tử hương... đều thuộc Biệt nguyện. (xt. Bản Nguyện).
tổng số
Grand total.
Tổng tham
總參; J: sōsan;|Một dạng của Tham thiền (j: san-zen), là một buổi họp mặt với đầy đủ những nghi lễ, trong đó một thiền sinh đã Kiến tính trình bày kinh nghiệm của mình và sẵn sàng bước vào một cuộc Pháp chiến (j: hossen) với những người muốn thử tài, trắc nghiệm mức độ kiến tính của mình. Buổi Tổng tham này thỉnh thoảng được tổ chức với sự hiện diện của những vị Thiền sư cùng một dòng trước khi một thiền sinh chính thức được công nhận là đã đạt đạo, được Ấn khả.|Danh từ Tổng tham cũng được sử dụng để chỉ một buổi thuyết trình, giải đáp những câu hỏi của thiền sinh về việc tu hành mà không mang tính cách của một buổi Ðề xướng (j: teishō).
tổng tham
(總參) Tham học chung.Tức toàn thể học chúng nhập môn trong Thiền lâm, khi nghe chuông báo hiệu thì theo thứ tự vào trong thất của thầy để đích thân được sự chỉ dạy của sư gia; lúc đó không một ai được vắng mặt nên gọi là Tổng tham. [X.điều Nhập thất trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.2].
Tổng thuyết 總説
[ja] ソウセツ sōsetsu ||| (1) To explain generally; a general term; a general definition. To be put into one group. => 1. Giải thích đại khái; nghĩa chung chung; định nghĩa tổng quát. Xếp thành một nhóm.
Tổng trì
tức là đà-la-ni, phiên âm từ Phạn ngữ là dhraṇi, nghĩa là nắm giữ trọn vẹn tất cả, hàm ý có thể nắm giữ được vô lượng pháp Phật không để mất đi.
tổng trì
Tsung Chih (C)Tên một vị sư. (Đệ tử của Đạt Ma)Xem đà la ni.
; Dhàrani (S) Entire control; absolute control over good and evil passions and influences.
; Tổng tất cả pháp, trì tất cả nghĩa. Tổng trì tất cả pháp nghĩa, chẳng thiếu sót một pháp một nghĩa.
; Dharani (skt)—Niệm lực có thể tổng nhiếp và trì giữ hết thảy các pháp (thiện ác) mà không thể mất—Entire control or absolute control over good and evil passions and influences. ** For more information, please see Đà La Ni in Vietnamese-English Section, and Dharani in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (總持) Cũng gọi: Ni Tổng trì. Vị Ni sư Trung Quốc, sống vào thời Nam Bắc triều, họ Tiêu, tên Minh luyện, là con gái vua Lương vũ đế, sau khi xuất gia hiệu là Tổng trì. Ni sư thờ ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ của Thiền tông, làm thầy. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3, sau khi trụ ở chùa Thiếu lâm được 9 năm, ngài Đạt ma muốn trở về Ấn độ, nên gọi các học trò đệ tử là Đạo phó, Ni Tổng trì, Đạo dục, Tuệ khả... đến và bảo mỗi vị trình bày sở đắc của mình,bấy giờ, Ni sư Tổng Trì trình bày sở đắc của mình như sau (Đại 51, 219 hạ): Nay, theo chỗ con hiểu, như ngài Khánh hỉ thấy cõi Phật Asúc, khi đã thấy rồi không còn thấy lại nữa. Tổ Đạ ma liền ấn khả rằng: Ngươi được phần thịt của ta. Các sự tích khác về Ni sư không được rõ, chỉ biết ngôi tháp thờ Ni sư cách chùa Thiếu lâm 5 dặm, chữ trên bia tháp do ông Chử tuân vọng viết. [X. chương Bồ đề Đạt ma trong Lịch đại pháp bảo kí; Bảo lâm truyện Q.8; Tổ đường tập Q.2; Tổ đình sự uyển Q.8].
Tổng trì bảo quang minh kinh 總持寶光明經
[ja] ソウジホウコウミョウキョウ Sōji hōkōmyō kyō ||| The Zongchi baoguangming jing, abbreviated title of the Dafangguang zongchi baoguangming 大方廣總持寶光明經. => (c: Zongchi baoguangming jing), Gọi tắt của Đại phương quảng tổng trì bảo quang minh kinh (c: Dafangguang zongchi baoguangming 大方廣總持寶光明經).
tổng trì môn
The esoteric or Tantric sects and methods.
; Pháp môn tổng trì, tức là dùng niệm lực để thâu nhiếp và chấp trì chư pháp không để cho mất—The esoteric or Tantric sects and methods. ** For more information, please see Tứ Chủng Tổng Trì.
; (總持門) I. Tổng Trì Môn. Pháp môn Tổng trì. Tổng trì là dịch ý của tiếng PhạmDhàraịi, là sức niệm tuệ có khả năng thâu tóm, ghi nhớ vô lượng Phật pháp, khôngđể quên mất. Có 4 thứ Tổng trì: Pháp tổng trì, Nghĩa tổng trì, Chú tổng trì và Nhẫn tổng trì. Nhưng Mật giáo gọi Tổng trì là đặc biệt chỉ cho Chú tổng trì. (xt. Đà La Ni). II. Tổng Trì Môn. Chỉ cho Mật giáo. [X.kinh Đại thừa lí thú lụcba la mật Q.thượng].
Tổng Trì Tự
(總持寺, Sōji-ji): ngôi Đại Bản Sơn của Tào Động Tông, hiện tọa lạc tại số 1-1 Tsuruminichōme (鶴見二丁目), Tsurimi-ku (鶴見區), Yokohama-shi (横浜市), Kanagawa-ken (神奈川縣); hiệu là Chư Nhạc Sơn (諸嶽山), người đời thường gọi là Hạc Kiến Tổng Trì Tự (鶴見總持寺). Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai. Nguyên lai chùa này là ngôi tự viện của Luật Tông, nằm ở tiểu quốc Năng Đăng (能登, Noto, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]); nhưng sau đó vào năm 1321 (Nguyên Hanh [元亨] nguyên niên), Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) được nhường ngôi chùa này lại, rồi ông đổi tên chùa và làm vị Tổ khai sơn chùa này. Song đến năm 1898 (Minh Trị [明治] 31) thì chùa gặp phải hỏa hoạn, bị cháy toàn bộ; nên vị Quán Chủ đương thời là Thạch Xuyên Tố Đồng (石川素童) mới dời chùa về vị trí hiện tại. Chùa sánh ngang hàng với Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji) ở Fukui-ken (福井縣), và trở thành một trong hai ngôi Đại Bản Sơn nổi tiếng của Tào Động Tông Nhật Bản. Kiến trúc nổi bậc nhất của chùa là Sắc Sứ Môn (敕使門), nơi Chánh Môn có hoa văn hình hoa cúc, biểu tượng cho đạo tràng cầu nguyện được sắc phong của Hoàng Thất. Kiến trúc trung tâm của chùa có Đại Tổ Đường (大祖堂), Điện Phật (佛殿), Đài Hương Tích (香積臺), Đài Tử Vân (紫雲臺), v.v. Đại Tổ Đường là tòa kiến trúc đồ sộ mới được xây dựng vào năm 1965 (Chiêu Hòa [昭和] 40), nhân dịp húy kỵ lần thứ 600 của Thiền sư Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩). Tử Vân Đài là tòa viện dùng để tiếp thượng khách, phía sau là khu đình viên rất thanh nhã, một kiệt tác của Tùng Vĩ Tông Kiến (松尾宗見). Mặc dầu nằm gần trung tâm kinh đô Kyoto, nhưng khi đến đây tham bái, người ta có cảm giác như đi vào một thế giới khác, hoàn toàn thanh tịnh, u nhã; cho nên chùa rất tự hào với vẽ mỹ quan của mình. Tuy nhiên, không chỉ với vẻ ngoại quan mà thôi, chùa còn có đến 15000 ngôi chùa con trực thuộc, với trăm vạn tín đồ quy y theo nữa. Đặc biệt Đại Tăng Đường là đạo tràng tu hành nghiêm mật của chư tăng Vân Thủy thường xuyên quy tụ về đây. Hiện chùa vẫn còn lưu giữ khá nhiều bảo vật như tượng tranh Đề Bà Đạt Đa (提婆達多), tranh họa hai vợ chồng Tiền Điền Lợi Gia (前田利家, Maeda Toshiie), tượng tranh Hòa Thượng Thiệu Cẩn, v.v.
Tổng Trì tự
總持寺; J: sōji-ji;|Một trong hai Thiền viện chính của tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) tại Nhật Bản. Thiền viện này được một vị Cao tăng tên Hành Cơ (j: gyōgi) sáng lập, với tính cách là một ngôi chùa của tông Pháp tướng (j: hossū-shū). Ngôi chùa này ban đầu nằm tại tỉnh Ishikawa. Từ khi Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn trụ trì ở đây, chùa này trở thành một thiền viện. Năm 1898, Tổng Trì tự được dời về tỉnh Yokohama sau một cơn hoả hoạn. Thiền viện chính thứ hai của tông Tào Ðộng là Vĩnh Bình tự (j: eihei-ji), được Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền sáng lập.
tổng trì vương bồ tát
Uniting and Holding King Bodhisattva Tên một vị Bồ tát.
Tổng trì 總持
[ja] ソウジ sōji ||| To hold to the good, trying not to give rise to evil. To completely retain the Buddhist teachings (dhāraṇī). 'Total retention.' => (s: dhāraṇī). Giữ lấy điều thiện, cố gắng không sinh khởi điều ác. Nhớ được toàn thể giáo lý Phật pháp.
tổng tông
(總宗) Đối lại: Biệt tông. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tổng là toàn bộ. Chỉ cho toàn thểTông (mệnh đề) trong tác pháp 3 chi của Nhân minh. Trong Nhân minh đại sớ, Tổng tông cũng được gọi là Tông thể. (xt. Biệt Tông, Tông Thể).
tổng tướng
Universal characteristics of all phenomena, in contrast with Biệt tướng specific characteristics.
; Tướng chung của hết thảy các pháp hữu vi là vô thường vô ngã, đối lại với biệt tướng như cứng, mềm, v.v.—Universal characteristics of all phenomena (impermanence, non-ego), in contrast with specific characteristics (hard, soft, etc.).
tổng tướng giới
The general precepts for all disciples in contrast with the Biệt tướng giới, e.g. the 250 monastic rules.
; Giới chung cho hết thảy mọi đệ tử Phật như Thập Giới, đối lại với giới riêng như 250 cho Tỳ Kheo và 348 cho Tỳ Kheo Ni—The general commandments for all disciples, i.e. the ten commandments, in contrast with the specific or complete 250 commandments for monks, or 348 for nuns (monastic rules)
; (總相戒) Giới tướng chung. Chỉ cho Thập thiện giới.Cứ theo luận Đại trí độ quyển 46 thì Giới ba la mật thu tóm tất cả giới pháp, ví như biển cả thu tóm các dòng sông; như Thập thiện giới là cội gốc của tất cả giới pháp, gọi là Tổng tướng giới, còn các giới khác như 5 giới, 8 giới, 10 giới, giới Cụ túc... đều thuộc Biệt tướng giới.
tổng tướng quán biệt tướng quán
(總相觀別相觀) Từ ngữ gọi chung Tổng tướng quán và Biệt tướng quán. Như quán chung tướng sắc thân của Phật gọi là Tổng tướng quán; còn chỉ quán một phần tướng sắc thân của Phật thì gọi là Biệt tướng quán. Trong vãng sinh yếu tập quyển trung, phần đầu của ngài Nguyên tín người Nhật bản, chia sự tu tập về quán sắc tướng làm 3 loại là Biệt tướng quán, Tổng tướng quán và Tạp lược quán. Trong đó, Biệt tướng quán lại được chia ra 2 thứ: Trước quán tòa hoa, kế là quán tướng hảo. Lại theo thứ tự quán từ tướng nhục kế trên đỉnh đầu Phật xuống đến dưới chân, gọi là Thuận quán, còn quán từ chân ngược lên đỉnh đầu thì gọi là Nghịch quán. Về Tổng tướng quán thì trước hết quán hoa sen rộng lớn được trang nghiêm bằng mọi thứ báu, kế đến quán Phật Adiđà ngồi trên đài hoa, thân sắc như trăm nghìn muôn ức lượng vàng diêm phù đàn, thân cao 60 vạn ức nadotha hằng hà sa do tuần. Bấy giờ, người tu quán chỉ thấy có Phật Adiđà, còn các sắc tướng khác đều không thấy, các núi Tudi, Thiết vi lớn nhỏ đều không hiện, biển cả, sông ngòi, đất đai, rừng núi... cũng đều không hiện. Vì thế nên biết, nếu cứ theo 42 tướng từ nhục kế, bạch hào, cho đến gót chân, mu bàn chân của Phật mà quán từng tướng một thì gọi là Biệt tướng quán, còn nếu quán chung thân tướng sáng rỡ của Phật thì gọi là Tổng tướng quán. [X. Vãng sinh yếu tập nghĩa kí Q.5; Vãng sinh yếu tập thuyên yếu; Vãng sinh yếu tập lược tán Q.4].
tổng tướng đế
Xem Đồng.
tổng tưởng quán
(總想觀) Cũng gọi: Lâu tưởng quán, Bảo lâu quán, Tổng quán. Quán tưởng chung, là pháp quán thứ 6 trong 16 pháp quán của kinh Quán vô lượng thọ. Pháp quán này dùng lầu gác báu để quán tưởng toàn thể Báo độ. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 hạ) nói: Cõi nước Chúng bảo, trên mỗi cõi có 500 ức lầu báu, trong các lầu gác ấy có vô lượng chư thiên trổi các kĩ nhạc, lại có nhạc khí treo ở hư không, như cờ báu cõi trời, trống không đánh tự kêu. Trong các thứ âm nhạc này đều nói về niệm Phật, niệm pháp, niệm tỉ khưu tăng. Pháp quán tưởng này thành rồi là thấy cây báu, ao báu, đất báu ở thế giới Cực lạc về phần thô, đó là Tổng tưởng quán. (xt. Thập Lục Quán).
tổng tập thần chú
Arthava Veda (S)Kinh điển Vệ đà.
tổng tức biệt danh
(總即別名) Tên chung tức tên riêng. Nghĩa là dùng tên gọi toàn thể để chỉ cho tên gọi bộ phận trong toàn thể ấy, gọi là Tổng tức biệt danh. Như Tịnh độ vốn chỉ chung cho cõi nước của chư Phật trong mười phương, nhưng cũng chuyển sang chỉ riêng cho thế giới Cực lạc ở phương Tây. Lại như Lục tổ vốn là Tổ thứ 6 chung của các tông, nhưng nay cũng chuyển sang chỉ cho Lục tổ Đại sư Tuệ năng. Ngoài ra, Tam tạng pháp sư tức chỉ cho Pháp sư Huyền trang. [X.luận Câu xá Q.1, 6; Câu xá luận quang kí Q.1]. TỔNG TƯỚNG BIÊT TƯỚNG Tướng chung và tướng riêng. Tướng trạng bao gồm toàn thể, gọi là Tổng tướng, tướng trạng chỉ cho cá biệt, đặc thù, gọi là Biệt tướng. Chẳng hạn như các tướng vô thường, vô ngã... là tướng chung của tất cả pháp hữu vi, gọi là Tổng tướng, còn tướng ướt của nước, tướng nóng của lửa... thì gọi là Biệt tướng. Thí dụ như pháp Quán Phật, quán tưởng toàn thể sắc thân của Phật, gọi là Tổng tướng quán, còn chỉ quán tưởng một phần sắc thân Phật thì gọi là Biệt tướng quán. Luận Đại trí độ quyển 31 (Đại 25, 293 thượng) ghi: Về tự tướng không thì tất cả pháp có 2 thứ tướng là Tổng tướng và Biệt tướng, vì không nên gọi là tướng không. Hỏi: Thế nào là Tổng tướng và thế nào là Biệt tướng? Đáp: Tổng tướng như vô thường; còn Biệt tướng thì các pháp tuy đều vô thường, nhưng mỗi pháp đều có biệt tướng, như đất là tướng cứng, lửa là tướng nóng. Vì thế nên biết tất cả muôn vật đều có 2 tướng Tổng và Biệt. Lấy ngựa trắng làm thí dụ thì ngựa là Tổng tướng, trắng là Biệt tướng của Tổng tướng kia. Tổng tướng là 1 trong 6 tướng. Sáu tướng là: Tổng tướng, Biệt tướng, Đồng tướng, Dị tướng, Thành tướng và Hoại tướng. Về nghĩa 6 tướng viên dung thì Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 có nói như sau (Đại 45, 507 hạ): Gọi là Tổng tướng là vì một tướng bao hàm nhiều đức; gọi là Biệt tướng vì nhiều đức chẳng phải ở trong một tướng. Biệt nương tựa vào Tổng, vì Tổng kia đầy đủ. Đây chính là tông Hoa nghiêm nói rõ về Tổng tướng và Biệt tướng từ lập trườngPháp giới duyên khởi, Vô tận viên dung. [X. kinh Thập trụ Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản 60 quyển); kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản 80 quyển); kinh Tiệm bịnhất thiết trí đức Q.1; kinh Thập địa Q.1; Thập địa kinh luận Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.3; Hoa nghiêm thám huyền kí Q.9; Hoa nghiêm kinh sư tử chương]. (xt. Lục Tướng Viên Dung; Tổng Tướng Quán Biệt Tướng Quán).
tổng đế
Xem Đồng.
Tổng 總
[ja] ソウ sō ||| (1) Overall, in general, generally speaking (piṇḍa-artha). (2) Undiscriminated, undifferentiated. (3) The whole (body) all, complete(ly). (4) Together, in combination, in total. (5) A nature or quality shared in common (Skt. sāmānya; Tib. spyi). (6) An abbreviation of 總持 (dhāraṇī). => 1. Toàn bộ, toàn thể; chung; nói chung (s: piṇḍa-artha). 2. Không tách bạch, không phân biệt được. 3. Toàn thể, trọn vẹn. 4. Cùng với nhau, kết hợp với nhau; toàn bộ. 5. Bản chất hoặc phẩm tính dự chung phần với nhau (Skt. sāmānya; Tib. spyi). 6. Viết tắt của Tổng trì 總持 (dhāraṇī).
Tộc
族; C: zú; J: zoku;|Một thị tộc, bộ lạc, dòng họ (s: anvaya). Một tầng lớp; tập trung lại cùng nhau. Tiêu diệt toàn thể gia đình vì một người phạm tội.
tộc
Family.
tộc phổ
Family tree.
tộc tính tử
(族姓子) Phạm: Kula-putra. Hán âm: Củ la bổ đát la Cũng gọi: Tộc tính nam. Danh từ đẹp dùng để gọi những người thuộc nam giới tin Phật, nghe pháp, tu hành nghiệp thiện, giống như trong kinh thường dùng từ ngữ Thiện nam tử vậy. Ở Ấnđộ có 4 giai cấp, nếu người con sinh vào dòng họ Bàlamôn thì được coi là cao quí hơn hết, nên gọi là Tộc tính tử(con nhà dòng dõi). Ngoài ra, Tộc tính tử thông thường chỉ cho hàng tín đồ tại gia, nhưng cũng có khi được dùng để gọi hàngtỉkhưu xuất gia. Còn đối với phụ nữ thì gọi là Tộc tính nữ, tức cũng như gọi Thiện nữ nhân vậy.[X. kinh Tăng nhất ahàm quyển 19; kinh Văn thùchilợiphổsiêutammuội Q.trung; kinh Chính pháp hoa, Q.1; Đại nhậtkinhsớ,Q.5] (xt.ThiệnNam Thiện Nữ).
Tộc 族
[ja] ゾク zoku ||| (1) A clan, a tribe, a family (anvaya). (2) A class; to collect together. (3) To destroy the whole family for one member's crime. => 1. Một thị tộc, bộ lạc, dòng họ (anvaya). 2. Một tầng lớp; tập trung lại cùng nhau. 3. Tiêu diệt toàn thể gia đình vì một người phạm tội.
tội
Varjya (S), Vajja (P)Phạm điều tà ác, tổn người, hại vật, phá giới hạnh. Các thứ tội đều qui về tội ngũ nghịch hay Thập ác.
; That which is blameworthy and brings about bad karma; entangled in the net of wrong doing; sin, crime; misdemeanour, offence. Có tội với cha mẹ, to fail in one's duty to one's parents. Có tội với trời, to sin against heaven. Làm thiện được phúc, làm ác phải tội, good deeds are rewarded and evil deeds punished.
; 1) Những gì đáng trách và đem lại nghiệp xấu: That which is blameworthy and brings about bad karma; entangled in the net of wrong-doing. 2) Tội—Theo Phật giáo, chúng sanh sanh ra không có mặc cảm sợ hãi về tội lỗi, và không sợ Thượng đế trừng phạt cho việc làm sai trái. Tuy nhiên, sợ nghiệp báo theo luật nhân quả. Khi chúng ta làm sai là chúng ta lãnh quả cho việc làm sai trái ấy, và bằng cách nầy chúng ta phải chịu đau khổ cho chính tội lỗi của chúng ta---Offence—According to Buddhism, sentient beings born have without any feeling of guilt in the sense of fear of a God who will punish him for his wrong-doing. However, they feel guilty by the law of karma. When you do some wrong-doing, you will receive the effects of your wrong-doing and in this way suffer the effect of your own sin.
; (罪) Cũng gọi: Cữu. Hành vi xấu ác trái vớiđạo lí, xúc phạm giới cấm chuốc lấy quả báo khổ đau, gọi là Tội. Cũng có khi gọi phiền não là tội, nhưng đại để thì ác hạnh(nghiệp) do thân thể, ngôn ngữ, ý chí(tức thân, khẩu, ý) tạo ra, gọi là Tội nghiệp. Tội là hành vi xấu ác nên gọi là Tội ác; vì nó có công năng làm trở ngại Thánh đạo, cho nên gọi là Tội chướng; lại vì nó là hành vi ô uế nên gọi là Tội cấu. Lại do hành vi tộiác thường dẫn đến khổ báo, cho nên cũng gọi là Tội báo. Lại nữa, vì hành vi ấy là căn bảnđưađến tội báo, cho nên cũng gọi là Tội căn. Tội cóNgũ nghịch tội và Thập ác tội, gọi chung là Nhị tội. Hành vi tội ác thuộc về bản chất, gọi là Tính tội; còn về mặt bản chất hoàn toàn vô tội, mà chỉ vi phạm các giới cấm dođức Phật chế thì gọi là Già tội.Theo Tátbàđatìnitìbàsa quyển 2, căn cứ vào tính chất nặng, nhẹ khác nhau, tất cả tội màtỉkhưu,tỉkhưu ni phạm phải được chia làm 5 thiên là: 1. Tội Baladi:Gồm 4 giớitrọngcấm là dâm dục, trộm cắp, giết hại và nói dối. 2. Tội Tăng tàn: Gồm 13 việc như cố ý làm xuất tinh... 3. Tội Badậtđề:Gồm 30 Xả đọa và 90 Đơn đề. 4. Tội Đềxáni: Gồm 4 việc, chẳng hạn nhưthụthực ở chỗ lannhã... 5. Tội Độtcátla: Gồm 2 loại là 100 Tối Trừng phápChúng học và 7 phápDiệt tránh. Ngoài ra, theo luận Đạitìbàsa quyển 116, trong 3 nghiệp thân, khẩu, ý thì điều ác của ý nghiệp là tội nặng nhất; trong tất cả phiền não thì tà kiến là tội nặng nhất; trong tất cả hành vi xấu ác thì phá tăng hòa hợp là tội nặng nhất. [X.kinh PhạmvõngQ.hạ; luận Du già sư địaQ.99; luận CâuxáQ.18; luận Đại trí độQ.13)]. (xt. Giới).
tội báo
The retribution of sin, its punishment in suffering.
; Báo đáp lại những tội lỗi đã gây tạo (tùy theo tội trạng mà phải nhận sự khổ sở tương ứng. Theo Kinh Niết Bàn, hễ có tội, tức là có tội báo, không ác nghiệp, ắt không tội báo)—The retribution of sin, its punishment in suffering.
; (罪報) Quả báo phải chịu do tội nghiệp tạo ra ở đời hiện tại hay đời vị lai. Chẳng hạn như chínhđức Phật đã do nghiệp đời quá khứ mà từng chịu khổ báo, đó là 9 thứ tội báo nói trong luận Đại trí độ quyển 9: 1. Bị cô gái Phạmchí tên Tônđàlợi vu báng, 500 vị Lahán cũng bị vu báng. 2. Bị cô gái Bà lamôn tên Chiên già độn cái chậu bằng gỗ vào bụng, giả làm bụng chửa để vu báng. 3. Bị Đềbàđạtđa xô đá từ trên núi xuống đè chân Phật chảy máu. 4. Bị cọc gỗ nhọn đâm vào chân. 5. Vua Tìlưu li đem quân đánh giết những người dòng họ Thích, Phật bị nhức đầu.6. Nhận lời thỉnh của Bà la môn A tì đạt đa mà phải ăn lúa mạch dành cho ngựa. 7. Gió lạnh thổi thì Phật bị đau lưng. 8. Chịu khổ hạnh trong 6 năm. 9. Vào làng Bàlamôn khất thực không được, mang bát không trở về. Nếu theo lí nhân quả thuận nhau, hễ tạo tội ác hạ phẩm thì đời sau sẽ phải chịu quả báo trong đường súc sinh, tội ác trung phẩm thì chịu quả báo trong đường ngạ quỉ, còn tội ác thượng phẩm thì sẽ là quả báo ở địa ngục. Ngoài ra, nếu phạm tội Ngũ nghịch báng pháp thì sẽ bị đọa vào địa ngục A tị; giả sử cùng sinh làm người thì cũng có quả báo khác nhau như nghèo cùng, xấu xí, các căn không đầy đủ.. [X.kinh Đạibátniết bànQ.20 (bản Bắc); luận Đại trí độQ.7].
tội chướng
The veil, or barrier of sin, which hinders the obtaining of good karma, and the obedient hearing of the truth.
; 1) Tội ác là chướng ngại cho thiện nghiệp: The veil, or barrier of sin, which hinders the obtaining of good karma. 2) Tội ác cũng là chướng ngại cho việc nghe và hành trì chánh pháp: The veil, or barrier of sin, which also hinders the obedient hearing of the truth.
; (罪障) Tội ác chướng ngại Thánh đạo, ngăn trở việc chứng đắc thiện quả, cho nên gọi làTội chướng. Kinh Tùycầu tứcđắcđạitựtạiđàlani thầnchú (Đại 20, 640 hạ) ghi: Tỉkhưu ấy nhờ năng lực của thần chú này mà tội chướng tiêu diệt, liền được sinh lên cõi trời Ba mươi ba.
tội chướng khó tiêu trừ
Karmic obstructions are difficult to eradicate.
tội căn
The root ođ sin, i.e. unenlightenment or ignorance.
; Căn bản của tội ác là sự không giác ngộ và vô minh—The root of sin, i.e. unenlightenment or ignorance.
; (罪根) Gốc tội. Nghĩa là gốc rễ tội ác đã trồng sâu không thể nhổ lên được. Có thuyết cho hành vi tội ác là gốc rễ đưa đến tội báo, cho nên gọi là Tội căn. (xt. Tội).
tội cấu
The filth of sin, moral defilement.
; The filth of sin, moral defilement.
tội hành
Hành động đầy tội lỗi—Sinful acts, or conduct.
tội hạnh
Sinful acts, or conduct.
tội lỗi
Accaya (P), Sin.
tội nghiệp
That which sin does, its karma, producing subsequent suffering.
; 1) Thương hại tội nghiệp ai: To have pity (mercy) on someone. 2) Nghiệp tội đưa đến quả khổ đau phiền não: That which sin does, its karma, producing subsequent suffering.
; (罪業) Phạm: Nigha. Chỉ cho tội ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra. Cứ theo kinh Đạibátniết bàn quyển 20 (bản Bắc) thì tội ác do tất cả chúng sinh tạo ra có 2 thứ: Một là nhẹ, hai là nặng; các tội do tâm và miệng tạo ra thuộc về tội nhẹ, các tội do thân, miệng và tâm tạo ra thuộc về tội nặng. (xt. TộiÁc).
Tội nghiệp 罪業
[ja] ザイゴウ zaigō ||| Evil activity; crime, fault, sin . . . carried out through the three media of word, thought and deed. (aśukla-karman, karma-āvarana) 〔二障義、 HPC 1.795c〕 => Việc ác; tội ác, lỗi lầm, tội lỗi v.v... phát sinh từ 3 phương tiện lời nói, tư tưởng và việc làm (s: aśukla-karman, karma-āvarana).
tội nghiệt
Sins—Crimes.
tội nhân
Cause of sin. Criminal, culprit, offender.
; (罪人) Phạm:Pàpin. Chỉ cho người tạo tội. Trong quan niệm nhân quả của Phật giáo có nhấn mạnh những hành vi thiện ác đều có quả báo, chúng sanh tạo ác, khi chết đọa địa ngục, chịu khổ rất lớn. Kinh Địatạngbồtát bản nguyện quyển thượng (Đại 13, 782 trung) nói: Hoặc có địa ngục moi tim tội nhân cho quỉ Dạxoa ăn; hoặc có địa ngục nấu thân tội nhân trong vạc nước sôi sùng sục. [X.kinh Quánvôlượngthọ; kinh Quán PhậttammuộihảiQ.5].
tội nhẹ
Minor (petty—small) offence.
tội phúc
Sinfulness and blessedness.
; Tội và phúc (ngũ nghịch, thập ác là tội; ngũ giới, thập thiện là phúc)—Sinfulness and blessedness.
; (罪福) Tội và phúc. Các nghiệp thiện như 5 giới, 10 điều thiện(thiện hạnh)...có năng lực đưa đến quả báo yên vui, gọi làPhúc, Phúc đức. Trái lại, các nghiệp ác như 5 tội nghịch, 10 điều ác... có năng lực mang lại quả báo khổ đau, gọi làTội,Tội ác.
tội phúc vô chủ
Sinfulness and blessedness have no lord, or governer, i.e. we induce them ourselves.
; Tội và phúc không do ai làm chủ, chỉ tự mình xui khiến lấy—Sinfulness and blessedness have no lord, or governor, i.e. we induce them ourselves.
; (罪福無主) Tội và phúc không có chủ thể. Đứng về phương diện lí thực tướng của các pháp mà nói thì tội và phúc đều không có chủ cố định, chắc thực, mà đều thuộc về bình đẳng, rỗng lặng. Kinh Quánphổhiềnbồtát (Đại 9, 392 hạ) nói: Tâm ta tự không, tội phúc vô chủ, tất cả pháp đều như thế.
Tội phước 罪福
[ja] ザイフク zaifuku ||| Punishment and reward, evil karma and good karma. (dharma-adharma〔中論T 1564.30.012c06-09〕) Hình phạt và phần thưởng, nghiệp ác và nghiệp lành (s: dharma-adharma). [ja] バツ batsu ||| (1) Crime, offense. (2) To punish, to fine. Punishment. => 1. Tội , tội ác; sự phạm tội. 2. Trừng phạt. Làm cho trong sạch. Sự trừng phạt.
tội phạm
Criminal.
tội trọng đại quả
(罪重大果) Tội trọng là tội nặng nhất trong các nghiệp ác, tức lời nói lừa dối để phá tăng, là tội nặng nhất trong các tội. Còn đại quả là quả lớn nhất trong các nghiệp thiện thế gian tức tư nghiệp cảm được quả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, là quả lớn nhất trong các quả. Luận Đạitìbàsa quyển 116 nói rằng: Lời lừa dối để phátăng có thể chiêu cảm quả báo sống lâu một kiếp trong địa ngục Vô gián, như Đềbà đạtđa nói lời dối trá nhằm mục đích phátăng, pháp cho là phi pháp, chê bai giáo pháp của Phật, ngăn trở đạo giải thoát sinh thiên của người đời, cố ý nhiễu loạn đại chúng, phá hoại chuyển pháp luân, do đó chuốc lấy quả báo sống lâu một kiếp trong địa ngục Vô gián, cho nên là tội nặng nhất. [X. luận Câu xá Q.18; luận Đại trí độ Q.7].
tội tính
A sinful nature; the nature of sin.
; Bản tính của tội nghiệp (bản tánh ấy vốn không và bất khả đắc, không thật, nghĩa là theo đúng lẽ chân như, tội không có thực, mà phúc cũng chẳng có thực)—A sinful nature; the nature of sin.
tội vi cảnh
Petty offense.
tội ác
Sin and evil.
; Atrocity—Evil and sin.
; (罪惡) Phật giáo chủ trương tâm tính của loài người vốn thanh tịnh(tâm tính bản tịnh, bản tính thanh tịnh), cái làm cho tâm tính ô nhiễm là 3 độc tham, sân, si; thời xưa gọi 3 độc này là Tội (Pàli:Sàvajja), hàm ýlà phải chịu trách phạt, nếu lìa bỏ 3 độc thì tâm tính được thanh tịnh. Đây là giáo thuyết của Phật giáo nguyên thủy. Nhưng Phật giáo Đại thừa thì không cho Tham là trọng tội. Kinh Ưubàli sở vấn (Phạm: Upàli-paripfccà) cho rằng tội do Sân tạo ra nặng hơn so với tội do Tham tạo ra, đó là vì phiền não trói buộc chúng sinh, chứ đối với Bồtát mà nói thì chẳng những không có tội ác mà cũng chẳng có tổn thất. Kinh Phươngtiệnthiệnxảo cũng cho rằng: Nói theo Bồ tát thì có 2 thứ tội cực nặng: Một là tội doSân sinh khởi, hai là tội do Si sinh khởi. Còn nói theo tội của tỉ khưu thì tiếng Phạm lààpatti, động từ của chữ này lààpadhàm ý lá rơi xuống; theo đó thì tỉ khưu do lỗi lầm mà bị đọa lạc, tức là phá giới.Chữ Tội nói trên đây, nếu biểu hiện về mặt hiện thực thì gọi là Tội báo (Pàli: Vajja); thông thường có nghĩa là được quả báo ác là do làm ác. Tăng chi bộ kinh thuộc Nam truyền nêu ra 2 loại quả báo là quả báo đời hiện tại và quả báo đời vị lai. Quả báo đời hiện tại chỉ cho hình phạt do vương quyền(hoặc luật pháp) gia hại trên thân thể, còn quả báo vị lai thì chỉ cho báo ứng trong đời vị lai bị đọa vào đường ác do các việc ác mà thân, khẩu, ý đã gây ra. Người ta nên sợ hãi tội báo hiện tại và vị lai. Nếu thấy tội báo mà sinh tâm sợ hãi thì người ta chắc chắn có thể thoát khỏi tất cả tội ác. Nguyên ngữ chữ Tội có bao hàm ý nghĩa cần phải lìa bỏ. Phật giáo ở thời kì đầu chủ trương có thể xa lìa, nhưng tội báo không phải là điều có thể xa lìa hoàn toàn, vì sau khi phạm tội, người ta ắt sinh tâm sợ hãi, cho nên đến thời kì Phật giáo Đại thừa không còn dùng từ ngữ có thể xa lìa với hàm ý mô hồ ấy nữa, mà lập thuyết chinh phục (Pàli:Patì), do động từ này mà sinh ra danh từ atyaya(tội, khổ não, nguy cơ, chết, tan vỡ) có tính chất rất mãnh liệt. Kinh Kim quang minh cho rằng chư Phật có lòng từ bi rất sâu xa đối với tất cả chúng sinh, chư Phật giải cứu chúng sinh ra khỏi hố sâu sợ hãi của tội ác. Con người phạm tội trong tình huống bất đắc dĩ, bị cái ác chinh phục, đối mặt với sự khổ não của nguy cơ tan vỡ, chết chóc... lúc ấy đã cảm thấy các tội không thể tránh khỏi, bèn nói cho mọi người biết về tội lỗi và nỗi sợ hãi này, nhưng không có cách nào giải thoát được; chỉ có tuyệt đối qui y chư Phật mới mong được các Ngài nhiếp thụ. Chỉ có khi nào ý thức tự ngã sợ hãi tội ác hoàn toàn ở vào trạng thái không vô thì nỗi sợ hãi tội ác mới tiêu tan. Đây là đạo lí được Phật giáo Đại thừa đề cao.
Tội 罪
[ja] ザイ zai ||| (1) Sin, crime, offense, fault, blame, misconduct. (2) To charge, to sentence, to punish. The result of evil activity--punishment.(3) To act contrary to the Way (adharma, avadya); killing, lying, stealing, etc. => 1. Tội lỗi, tội ác, sự phạm tội, sự sai lầm, lỗi, hạnh kiểm xấu. 2. Buộc tội, lên án, phạt. Hậu quả của việc ác--sự buộc tội, hình phạt.
tột bực
Highest degree.
tới
To attain—To come—To arrive.
tới bến
To reach the shore.
tới cùng
To (till) the end.
tới gần
To come near—To approach—To come close.
tới lui
To frequent.
tới nơi
To arrive—To come.
tới tấp
Repeatedly. Châm Ngôn Tục Ngữ—Precepts and proverbs: Danh vọng là hơi thoảng qua, thịnh vượng thì có thời và giàu sang chẳng qua chỉ là ảo ảnh; lắm kẻ hôm nay hớn hở, ngày mai lại nguyền rủa; duy có phẩm đức là trường tồn bất biến: Fame is like vapor, prosperity an accident and riches take swing; those who cheer today, may curse tomorrow; only one thing endures: moral character. Cười người chớ khá cười lâu; cười người hôm trước hôm sau người cười: He who laughs today may weep tomorrow. Ác giả ác báo (làm ác gặp ác): As the call, so the echo. Ai cũng có cái ngu của mình: Everyman has a fool in his sleeve. Ai làm nấy chịu: Who breaks, pays.
tới đất
Down to the ground.
tụ
Samasa (skt)—Tụ họp—Assemble—Collect—An assemblage.
tụ chúng
To assemble—To gather.
tụ họp
Tụ tập—To cluster—To flock (meet—come) together—To assemble.
tụ lạc gian tịnh
Gamantarapappa (P)Một trong 10 hành vi mà các tỳ kheo thành Phệ xa ly (Vesali) chủ trương là thích hợp giới luật.
tụ mạt
Thế giới hiện tượng hay các pháp vô thường được ví với bọt nước, có đó rồi mất đó—The phenomenal world likened to assemble scum, or bubbles.
tụ tập
See Tụ Họp.
tụ đế
Samudaya (skt)—Diệu Đế thứ nhì trong Tứ Diệu Đế, tức “tập đế,” hay khổ đau phiền não gây ra bởi dục vọng—The second of the four dogmas, that of “accumulation,” i.e. that suffering is caused by the passions—See Tứ Diệu Đế.
Tục
俗; C: sú; J: zoku;|Có các nghĩa sau: 1. Thói quen, tập quán, thông lệ, lệ thường, tục lệ; 2. Thế gian, trần tục, thế tục, thông tục. Đồng nghĩa với thế gian (世間), phản nghĩa với Xuất thế gian (出世間; s: vyavahāra); 3. Người thế gian, cư sĩ, khác với người đã xuất gia sống trong Tăng đoàn; 4. Hèn hạ, thường, đê tiện.
tục
Common, ordinary, usual, vulgar.
; 1) Trần tục: Common—Ordinary—Usual—Vulgar—Secular. 2) Tiếp tục: To continue—To join on—To add—Supplementary—A supplement.
Tục Cao Tăng Truyện
(續燈正統, Zokutōshōtō): 42 quyển, do Biệt Am Tánh Thống (別庵性統, khoảng hậu bán thế kỷ 17) nhà Minh biên tập, san hành vào năm thứ 30 (1691) niên hiệu Khang Hy (康熙). Bộ này được biên tập với ý muốn nối tiếp bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元). Đây là tác phẩm ghi lại những mẫu chuyện hành trạng của khoảng 2.300 vị cao tăng thuộc hai dòng phái Lâm Tế, Tào Động trong vòng 600 năm, từ cuối thời Nam Tống cho đến thời nhà Minh.
Tục cao tăng truyện 續高僧傳
[ja] ゾクコウソウデン Zoku kōsō den ||| Xu gaoseng zhuan; (Continuation of The Biographies of Eminent Monks) T 2060.50.425a-707a. => Zoku kōsō den (j); Xu gaoseng zhuan (c); Continuation of The Biographies of Eminent Monks) (e); T 2060.50.425a-707a.
Tục cổ kim dịch kinh đồ ký 續古今譯經圖紀
[ja] ゾクコゴンヤクキョウズキ Zoku kogon yakukyō zuki ||| Xu gujin yijing tuji t'u-chi; by Zhisheng 智昇. 1 fasc., T 2152.55 => Sách, Zoku kogon yakukyō zuki (j); Xu gujin yijing tuji t'u-chi (c); của Trí Thăng (c: Zhisheng 智昇). 1 quyển. của Trí Thăng 智昇
tục danh
Nickname.
tục giới
The common precepts for the laity.
; Giới dành cho Phật tử tại gia (ngũ giới hay bát giới, còn gọi là hữu lậu giới, đối lại với đạo cụ giới hay cụ túc giới của người xuất gia)—The common commandments for the laity, in contrast with commandments for monks and nuns.
Tục Hoa Nghiêm kinh lược sớ san định ký 續華嚴經略疏刊定記
[ja] ゾクケゴンキョウリャクソカンジョウキ Zoku kegonkyō ryakuso kanjōki ||| Xu Huayan jing lue shou kan ding ji, HTC vol. 5; Z 221, vol. 3. A continuation written by Huiyuan 慧苑 to the commentary on the eighty fascicle Huayan jing 華嚴經 written by Fazang 法藏. Since Fazang died before finishing his work, Huiyuan 慧苑tried to finish it for him. However, since he deviated from some of Fazang's ideas, he was later criticized by Chengguan 澄觀, the fourth patriarch of the Huayan lineage. See Sakamoto Yukio, Kegon kyōgaku no kenkyū, pp. 248-250. This text is commonly known by the abbreviated title of Kan ding ji 刊定記. => Sok hwaŏmgyŏng yakso kanjŏnggi (k); Zoku kegonkyō ryakuso kanjōki (j); Xu Huayan jing lue shou kan ding ji (c); Là phần tiếp tục luận giải kinh Hoa Nghiêm bản 80 quyển của Pháp Tạng (c: Fazang 法藏) do Huệ Uyển (c: Huiyuan 慧苑) viết, Vì Pháp tạng viên tịch trước khi hoàn thành việc nầy, nên Huệ Uyển thay thế nỗ lực hoàn thành công việc. Tuy vậy, do sư đi trệch ý tưởng của Pháp Tạng nên về sau sư bị ngài Trừng Quán (Chengguan 澄觀), tổ thứ tư của tông Hoa Nghiêm phê phán. Xem Kegon kyōgaku no kenkyū trang 248-250 của Sakamoto Yukio. Bản văn nầy thường được gọi tắt là San định ký (c: Kan ding ji 刊定記)
tục hình
Vẻ trần tục của người tại gia—Ordinary appearance. (the laity).
Tục Khai Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu
(續日本紀, Shokunihongi): một trong Lục Quốc Sử (六國史), 40 quyển, gọi tắt là Tục Kỷ (續紀). Đây là bộ sử thư theo thể biên niên, kế tiếp bộ Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki), biên tập lịch sử trong vòng 95 năm kể từ thời Văn Võ Thiên Hoàng (文武天皇, Mommu Tennō, tại vị 697-707) cho đến Hoàn Võ Thiên Hoàng (桓武天皇, Kammu Tennō, tại vị 781-806). Vâng sắc mệnh của Hoàn Võ Thiên Hoàng, nhóm Đằng Nguyên Kế Thằng (藤原繼繩, Fujiwara-no-Tsugutada) và Quản Dã Chơn Đạo (菅野眞道, Sugano-no-Mamchi) tiến hành biên soạn và hoàn thành vào năm 797 (niên hiệu Diên Lịch [延曆] thứ 16).
tục lưu
The common run or flow.
; Những nguyên tắc hay tư tưởng trần tục, đối lại với sự chân thực—The common flow or run—Common principles, or axioms; normal unenlightened ideas, in contrast with reality.
tục lụy
Wordly bondage.
; Troubles of the world.
tục mệnh
Phép cầu đảo cho cuộc sống tiếp tục bằng Thần Phan Ngũ Sắc—Prayer for continued life, for which the flag of five colours is displayed.
tục mệnh thần phan
See Tục Mệnh.
tục ngã
The popular idea of the ego or soul, i.e. the empirical or false ego giả ngã composed of five skandhas, this is to be distinguished from the true ego chân ngã or thật ngã, the metaphysical substratum from which all empirical elements have been eliminated.
; Giả ngã (đối lại với chân ngã hay thực ngã) bao gồm ngũ uẩn—The popular idea of the ego or soul (false ego—giả ngã), composed of the five skandhas (this is to be distinguished from the true ego).
tục ngữ
Proverb.
tục nhân
Gṛhin (S), Gihin (P), Gihī (P)Cư sĩ.
; Grhastha (S). An ordinary householder; an ordinary man; the laity.
; Grhastha (skt)—Nga La Sa Tha—Người tu tại gia—An ordinary householder—An ordinary man—The laity.
tục nhãn
Unenlightened eyes; ordinary eyes.
Tục Nhật Bản Hậu Kỷ
(續日本後紀, Shokunihonkōki): một trong Lục Quốc Sử (六國史), 20 quyển, gọi tắt là Tục Hậu Kỷ (續後紀). Sau bộ Nhật Bản Hậu Kỷ (日本後紀), đây là bộ sử thư được viết theo dạng biên niên trong vòng 18 năm (833~850) dưới thời Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō). Phụng sắc mệnh của Văn Đức Thiên Hoàng (文德天皇, Montoku Tennō), nhóm Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa), Đằng Nguyên Lương Tướng (藤原良相, Fujiwara-no-Yoshimi), Bạn Thiện Nam (伴善男, Tomo-no-Yoshio), Xuân Trừng Thiện Thằng (春澄善繩) bắt đầu biên tập bộ này vào năm 855 (niên hiệu Tề Hành [齊衡] thứ 2) và hoàn thành vào năm 869 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 11).
Tục Nhật Bản Kỷ
Xem Tục Nhật Bản Hậu Kỷ
tục pháp đế
The worldly truth, in contrast with the superior truth (Thắng pháp đế).
tục truyền
Tradition.
Tục truyền đăng lục 續傳燈録
[ja] ゾクデントウロク Zoku dentō roku ||| Xu chuandeng lu; The Transmission of the Lamp. T 2077.51.469a-714c. => Sok chŏndŭng nok (k); Zoku dentō roku (j); Xu chuandeng lu (c); The Transmission of the Lamp (e); T 2077.51.469a-714c.
Tục trí
俗智; C: súzhì; J: zokuchi; |Có các nghĩa sau: 1. Trí thế gian, trí thông tục. Còn gọi là Thế tục trí (世俗智); 2. Trí huệ khi nhìn các hiện tượng, sự kiện, xuất phát từ sự phân biệt chủ thể-khách thể; Đối lại là Chân trí (眞智) và Thánh trí (聖智); 3. Hữu lậu trí (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
tục trí
Common or worldly wisdom.
; Cái trí thiển cận của phàm phu hay thường trí, do bởi ảo tưởng tô vẻ làm mê mờ bản tâm (trí hiểu biết tục đế hay trí hữu lậu tạp nhiễm)—Common or worldly wisdom, which by its illusion blurs or colours the mind, blinding it to reality.
Tục trí 俗智
[ja] ゾクチ zokuchi ||| (1) Wordly wisdom; mundane wisdom. Also expressed as 世俗智. (2) The wisdom in regard to phenomenal events that is derived from subject/object discrimination, the opposite of "true wisdom" 眞智 and "sagely wisdom" 聖智. 〔二障義、 HPC 1.790a〕(3) Defiled wisdom. See 二智. => Có các nghĩa sau: 1. Trí thế gian, trí thông tục. Con gọi là Thế tục trí. 2. Trí tuệ khi nhìn các hiện tượng, sự kiện, xuất phát từ sự phân biệt chủ thể/khách thể; Đối lại là Chân trí và Thánh trí (e: sagely wisdom)
; [ja] ゾクチ zokuchi ||| (1) Wordly wisdom; mundane wisdom. Also expressed as 世俗智. (2) The wisdom in regard to phenomenal events that is derived from subject/object discrimination, the opposite of "true wisdom" 眞智 and "sagely wisdom" 聖智. 〔二障義、 HPC 1.790a〕(3) Defiled wisdom. See 二智. => Có các nghĩa sau: 1. Trí thế gian, trí thông tục. Con gọi là Thế tục trí. 2. Trí tuệ khi nhìn các hiện tượng, sự kiện, xuất phát từ sự phân biệt chủ thể/khách thể; Đối lại là Chân trí và Thánh trí (e: sagely wisdom)
tục trần
Common dust, earthly pollution.
; Bụi bặm của phàm tục, nói về tất cả các việc của thế gian—Common dust, earthly pollution—The world.
tục tình
Wordly love, vulgar love.
tục tằn
Rude—Rough—Coarse.
tục tỉu
Obscene.
tục tử
Vulgar, ordinary people; uninitiated person.
Tục vọng chân thật tông
俗妄眞實宗; C: súwàng zhēnshí zōng; J: zokubōjinjitsushū; |Giáo lí cho rằng, tất cả những sự việc thế tục đều là hư vọng, chỉ Phật pháp mới là chân thật.
Tục Đăng Chánh Thống
(續燈錄, Zokutōroku): xem Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, Kenchūseikokuzokutōroku) ở trên.
Tục Đăng Lục
(續開古尊宿語要, Zokukaikosonshukugoyō): 6 quyển, do Hối Thất Sư Minh (晦室師明) biên soạn, san hành vào năm thứ 2 (1238) niên hiệu Hỷ Hy (喜熙). Tiếp theo việc san hành bộ Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) do Trách Tạng Chủ (賾藏主) ở Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến) thâu tập các Ngữ Lục của 20 vị Thiền sư dưới thời nhà Tống, tác phẩm này thâu lục 80 Ngữ Lục của những Thiền kiệt đương thời. Hiện có truyền bản của Bản Ngũ Sơn, tất cả được lưu hành kết hợp với Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu. Nội dung của nó gồm Tập I có Lâm Tế (臨濟), Phần Dương Chiêu (汾陽昭), Lang Da Giác (瑯瑘覺), Từ Minh Viên (慈明圓), Thúy Nham Chơn (翠巖眞), Hoàng Long Nam (黃龍南), Tử Tâm Tân (死心新), Hối Đường Tâm (晦堂心), Lặc Đàm Anh (泐潭英), Đâu Suất Duyệt (兜率悅), Thảo Đường Thanh (草堂清), Linh Nguyên Thanh (靈源清), Trạm Đường Chuẩn (湛堂準), Trường Linh Trác (長靈卓); Tập II có Pháp Nhãn Ích (法眼益), Vân Môn Yển (雲門偃), Pháp Xương Ngộ (法昌遇), Tuyết Đậu Hiển (雪竇顯), Thiên Y Hoài (天衣懷), Tào Sơn Tịch (曹山寂), Đầu Tử Thanh (投子青), Phù Dung Giai (芙蓉楷), Chơn Hiết Liễu (眞歇了), Hoằng Trí Giác (宏智覺), Cổ Nham Bích (古巖璧), Thiên Chương Sở (天章楚), Chơn Tịnh Văn (眞淨文), Ẩn Sơn Xán (隱山璨), Diệu Trạm Huệ (妙湛慧), Kim Túc Trí (金粟智); Tập III có Dương Kì Hội (楊岐會), Bạch Vân Đoan (白雲端), Bảo Ninh Dũng (保寧勇), Ngũ Tổ Diễn (五祖演), Nam Đường Hưng (南堂興), Phật Nhãn Viễn (佛眼遠), Viên Ngộ Cần (圜悟勤), Khai Phước Ninh (開福寧), Phật Tánh Thái (佛性泰), Nguyệt Am Quả (月菴果), Phục Am Phong (復菴封); Tập IV có Phật Tâm Tài (佛心才), Sơn Đường Tuân (山堂洵), Biệt Phong Trân (別峰珍), Vân Cái Bổn (雲蓋本), Hổ Kheo Long (虎丘隆), Ứng Am Hoa (應菴華), Mật Am Kiệt (密菴傑), Tùng Nguyên Nhạc (松源岳), Tào Nguyên Sanh (曹源生), Thiết Tiên Thiều (鐵鞭韶), Phá Am Tiên (破菴先), Tiếu Am Ngộ (笑菴悟, phụ thêm Hối Ông Minh [晦翁明]), Vô Thị Kham (無示諶), Tâm Văn Phần (心聞賁), Từ Hàng Phác (慈航朴); Tập V có Đại Huệ Cảo (大慧杲), Hối Am Quang (晦菴光), Thử Am Tịnh (此菴淨), Lãn Am Nhu (懶菴需), Phật Chiếu Quang (佛照光), Thùy Am Diễn (誰菴演), Độn Am Diễn (遯菴演), Trúc Nguyên Nguyên (竹原元), Mông Am Nhạc (蒙菴岳), Thạch Am Chiêu (石菴玿), Thối Am Tiên (退菴先), Hỗn Nguyên Mật (混源密), Không Tẩu Ấn (空叟印), Mộc Am Vĩnh (木菴永), Bá Đường Nhã (柏堂雅); Tập VI có Tuyết Đường Hành (雪堂行), Trúc Am Khuê (竹菴珪), Hối Am Quang (晦菴光), Biệt Phong Ấn (別峯印), Thối Am Kì (退菴奇), Đông Sơn Không (東山空), Quảng Giám Anh (廣鑑英), Thủy Am Nhất (水菴一), Biệt Phong Vân (別峰雲), Hoặc Am Thể (或菴體).
Tục đế
xem Đệ nhất nghĩa.
; 俗諦; C: súdì; J: zokutai;|Chân lí thế gian, Chân lí thế tục. Thật tại được nhìn nhận từ người chưa giác ngộ. Chư Phật vận dụng chân lí nầy như 1 pháp phương tiện để dẫn dắt chúng sinh thể nhập chân lí tuyệt đối, hoặc được giác ngộ (s: saṃvṛti-satya, vyavahāra).
tục đế
kun sop(T), Conventional truth, Relative truth Chân lý tương đối Tự tánh bất nhị chẳng thể diễn tả, nay vì muốn đ người thế tục nên miễn cưỡng chia làm hai mặt (bề mặt và bề trái) để diễn tả. Việc dùng lời nói phương tiện diễn tả bề trái như ẹbất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm phi hữu, phi vô v.v...ế gọi là tục đế.
; Common principles, or axioms; normal unenlightened idea, in contrast with reality.
; Tự tánh bất nhị chẳng thể diễn tả, nay vì muốn độ người thế tục nên miễn cưỡng chia làm hai mặt (bề mặt và bề trái) để diễn tả. Việc dùng lời nói phương tiện để diễn tả bề trái, như bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, phi hữu, phi vô… gọi là Tục đế.
; Thế đế—Samvrti-satya (skt)—Ordinary categories in contrast with categories of reality (chân đế)—Common or ordinary statement, as if phenomena were real—See Nhị Đế.
tục đế tính
Xem Thế đế tính.
Tục đế 俗諦
[ja] ゾクタイ zokutai ||| The secular truth; the worldly truth. Reality as it is perceived by unenlightened people. The Buddhas need to utilize this truth as an expedient method in order to lead sentient beings to the absolute truth, or enlightenment. (samvrti-satya, vyavahāra). => Chân lý thế gian, Chân lý thế tục. Thực tại được nhìn nhận từ người chưa giác ngộ. Chư Phật vận dụng chân lý nầy như 1 pháp phương tiện để dẫn dắt chúng sinh thể nhập chân lý tuyệt đối, hoặc được giác ngộ(s:samvrti-satya, vyavahāra).
Tục 俗
[ja] ゾク zoku ||| (1) Habit, custom, practice, usage, convention. (2) Worldly, secular, profane, colloquial. Synonymous with 世間 which is the opposite of 出世間 (vyavahāra). (3) A secular person, as opposed to someone belonging to a religious order. (4) Mean, base, mundane. => Có các nghĩa sau: 1. Thói quen, tập quán, thông lệ, lệ thường, tục lệ. 2. Thế gian, trần tục, thế tục, thông tục. Đồng nghĩa với thế gian, phản nghĩa với Xuất thế gian (s:vyavahāra). 3. Người thế gian, cư sĩ, khác với người đã xuất gia sống trong Tăng đoàn. 4. Hèn hạ, thường, đê tiện, Tục vọng chân thật tông 俗妄眞實宗 [ja] ゾクボシンジツシュウ zokubōjinjitsushū ||| The teaching that says all secular things are illusory, only Buddhist teachings are true. Tục 俗 [ja] ゾク zoku ||| (1) Habit, custom, practice, usage, convention. (2) Worldly, secular, profane, colloquial. Synonymous with 世間 which is the opposite of 出世間 (vyavahāra). (3) A secular person, as opposed to someone belonging to a religious order. (4) Mean, base, mundane. => Có các nghĩa sau: 1. Thói quen, tập quán, thông lệ, lệ thường, tục lệ. 2. Thế gian, trần tục, thế tục, thông tục. Đồng nghĩa với thế gian, phản nghĩa với Xuất thế gian (s:vyavahāra). 3. Người thế gian, cư sĩ, khác với người đã xuất gia sống trong Tăng đoàn. 4. Hèn hạ, thường, đê tiện,
tụm
To gather together by goups of several people.
tụm năm tụm bảy tán gẩu
To gather together by groups of several people for idle talk.
Tụng
頌; J: ju; cũng được dịch theo âm là Kệ-đà; dịch nghĩa từ chữ Gāthā của Phạn ngữ (sanskrit);|Là cách trình bày giáo pháp dưới dạng thơ, dạng chỉnh cú.
tụng
Juko (J), To recite, To chant Kệ, Xem phúng tụng, Xem Tán. Thí dụ: Tụng kinh, tụng chú.
; Geyya (S).To murmur, recite, intone, memorize by repeating in a murmur.
; Geya (skt)—Già Tha—Kệ Đà—Kệ Tha—Tụng kinh—To recite (chant) prayers—To murmur, recite, intone, memorize by repeating in a murmur—Hymns, songs, verses, stanzas, the metrical part of a sutra.
Tụng Cổ
(頌古, Juko): nghĩa là lấy những kệ tụng của chư vị tổ sư để lại mà nêu rõ tông ý một cách giản lược. Trong khoảng niên hiệu Thiên Hy (天禧, 1017-1021), bản tụng cổ 100 tắc công án do Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭) biên soạn được xem như là khởi đầu cho Tụng Cổ này.
tụng giới ba la đề mộc xoa
To recite Pratimoksa, usually twice a month for Bhikshu and Bhikshuni.
tụng giới bồ tát
To recite the Bodhisattva precepts.
tụng kinh
To recite the Buddhist sutra—To intone sutras. Những lời Phật dạy về “Tụng Kinh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Sutra Reciting” in the Dharmapada Sutra: 1) Dù tụng nhiều kinh mà buông lung không chịu thực hành theo, thì chẳng hưởng được phần ích lợi của Sa-môn, khác nào kẻ chăn bò, chỉ lo đếm bò cho người khác (để lấy công, chứ sữa thịt của bò thì không hưởng được)—The heedless man even if he can recite many sacred sutras, but fails to act accordingly; he has no share in the fruits of the monastic life, but is like a cowherd who counts the cows of the master, but has none of his own (Dharmapada 19). 2) Tuy tụng ít kinh mà thường y giáo hành trì, hiểu biết chân chánh, diệt trừ tham sân si, tâm hiền lành thanh tịnh, giải thoát và xả bỏ thế tục, thì dù ở cõi nầy hay cõi khác, người kia vẫn hưởng phần ích lợi của Sa-môn—Even if a man recites few sutras, but acts in accordance with the teaching, overcoming all lust, hatred and ignorance, with true knowledge and serene mind, clinging to nothing here and hereafter, he shares the fruits of a monastic life (Dharmapada 20). 3) Tụng đến ngàn câu vô nghĩa, chẳng bằng một câu có nghĩa lý, nghe xong tâm liền thanh tịnh—A recitation composed of a thousand words without sense, is no better than one single beneficial word upon hearing which one is immediately pacified (Dharmapada 100). 4) Tụng đến ngàn câu kệ vô nghĩa, chẳng bằng một câu kệ có nghĩa lý, nghe xong tâm liền thanh tịnh—One beneficial line by hearing it one is immediately pacified is better than a thousand verses with words without sense (Dharmapada (101). 5) Tụng đến trăm câu kệ vô nghĩa, chẳng bằng một pháp cú, nghe xong tâm liền thanh tịnh—One single word of the Dharma by hearing it one is immediately pacified, is better than a hundred stanzas, comprising senseless words (Dharmapada 102).
tụng kinh cầu an
To recite the Buddhist sutra for peace and security.
tụng kinh cầu quốc thái dân an
Recitation for the welfare of the nation and the security of the people.
tụng kinh hoa nghiêm
Avatamsaka Sutra Recitation.
tụng kinh quan thế âm
Kuan Shi Yin Sutra Recitation.
tụng kinh đầu năm
New Year Mantra Recitation.
tụng niệm
To chant the sùtra and recite the Buddha's name.
; To pray and to meditate.
tụng trì
To chant and maintain the sùtra and the mantra.
; Assiduously recite.
tủi phận
To deplore one's lot.
Tứ
伺; C: sì; J: shi;|Có các nghĩa: 1. Tìm kiếm, thẩm sát, hỏi về, nghi ngờ; 2. Suy nghĩ, phân tích (s: vicāra). Còn được gọi là Quán (觀). Một trong 4 bất định pháp theo giáo lí của Du-già hành tông. Một trong 8 bất định pháp theo Câu-xá luận (倶舎論). Là tâm hành muốn tìm biết nguyên lí chi tiết của một vật. Thường đi đôi với Tầm (尋). Xem Tứ tầm (伺尋).
tứ
Vicāra (S), Vicāra (P), Vicaya (P), Investigation, Sustained thoughtTâm sát, TrạchQuán sát sự lý vi tế.
; Catur (S). Four.
; 1) Bốn: Catur (skt)—Four. 2) Tên của tâm sở (quán): Vicara (p & skt). • Dò xét: Investigation. • Cân nhắc: Deliberation. • Quan sát: xamination. • Suy xét: Consideration. • Tầm chân lý: Search for truth. • Tư duy biện luận: Discursive thinking.
tứ chủng phong luân
Four kinds of atmosphere—Đại Thiên thế giới nầy chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự mà được thành tựu; phải do vô lượng duyên, vô lượng sự mới được thành. Những là nổi giăng mây lớn, tuôn xối mưa lớn. Tất cả đều do cộng nghiệp của chúng sanh và thiện căn của chư Bồ Tát phát khởi, làm cho tất cả chúng sanh trong đó đều tùy sở nghi mà được thọ dụng. Do vô lượng duyên như vậy mới thành Đại Thiên thế giới. Pháp giới như vậy không có sanh giả, không có tác giả, không có tri giả, không có thành giả, nhưng Đại Thiên thế giới vẫn được thành tựu. Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện (38), có bốn thứ phong luân làm sở y—It is as a billion-world universe is not formed just by one condition, not by one phenomenon; it can be formed only by innumerable conditions, innumerable things. That is to say the rising and spreading of great clouds and showering of great rain produce four kinds of atmosphere, continuously making a basis. All are produced by the joint actions of sentient beings and by the roots of goodness of enlightened beings, enabling all sentient beings to get the use of what they need. Innumerable such causes and conditions form the universe. It is such by the nature of things, there is no producer or maker, no knower or creator, yet the worlds come to be. 1) Năng trì phong luân, có khả năng cầm giữ đại thủy: The holder, which can hold the great waters. 2) Năng tiêu phong luân, có khả năng làm tiêu đại thủy: The evaporator, which can evaporate the great waters. 3) Kiến lập phong luân, có khả năng kiến lập tất cả xứ sở: The structure, which sets up all places. 4) Trang nghiêm phong luân, có khả năng làm trang nghiêm và phân bố các điều thiện xảo: The arrangement, which can arrange and distribute all skillful and good deeds.
tứ a hàm
The four Agamas, or divisions of the Hìnayàna scriptures: Trường A Hàm dirghàgamas, long works, cosmological; Trung A Hàm madhyamàgamas, metaphysical;
; Bốn bộ kinh A Hàm—The Four Agamas or four divisions of the Hinayana scriptures: 1) Trường A Hàm: Dirghagamas (skt)—22 quyển, tập hợp những kinh văn dài—Long work scriptures—Cosmological, 22 books. 2) Trung A Hàm: Madhyamagamas (skt)—60 quyển, tập hợp kinh văn không dài không ngắn—Middle Work—Metaphysical, 60 books. 3) Tạp A Hàm: Samyuktagama (skt)—50 quyển, hổn hợp của các kinh A Hàm khác—General on dhyana, trance, etc, 50 books. 4) Tăng Nhứt A Hàm: Ekottarikagamas (skt)—51 quyển, sưu tập số của pháp môn—Numerical Arranged Subjects, 51 books.
tứ a la hán quả
Four Fruits of the Arhat.
tứ an lạc
The four means of happy contentment—See Tứ An Lạc Hành.
tứ an lạc hành
Theo Kinh Pháp Hoa, có bốn an lạc hạnh hay bốn phương cách để đạt được hạnh phúc—According to The Lotus Sutra, there are four means of attaining to a happy contentment: 1) Thân An Lạc Hành: An lạc bằng những thiện nghiệp của thân—To attain a happy contentment by proper direction of the deeds of the body. 2) Khẩu An Lạc Hành: An lạc bằng những thiện nghiệp của khẩu—To attain a happy contentment by the words of the mouth. 3) Ý An Lạc Hành: An lạc bằng những thiện nghiệp của ý—To attain a happy contentment by the thoughts of the mind. 4) Thệ Nguyện An Lạc Hành: An lạc bằng cách giảng dạy kinh pháp—To attain a happy contentment by the will to preach all sutras.
tứ an lạc hạnh
The four means of attaining to a happy contentment, by proper direction of the deeds of the body thân an lạc hạnh; the words of the mouth khẩu an lạc hạnh; the thoughts of the mind ý an lạc hạnh; and the resolve (of the will) to preach to all the Lotus sùtra thệ nguyện an lạc hạnh.
tứ ba
See Tứ Ba La Mật Bồ Tát.
tứ ba la di
The four pàràjikas, or grievous sins of monks or nuns: (1) dâm giới abrahmacarya, sexual immorality, or bestiality; (2) đạo giới adattàdàna, stealing; (3) sát giới vadha(himsà), killing; (4) đại vọng ngữ giới taramanusvadharma-pralàpa, false speaking. Also tứ trọng, tứ cực trọng hoặc đọa tội.
; Tứ Trọng—Tứ Khí—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—See Tứ Đọa.
tứ ba la mật
The four paramitas—See Thường Lạc Ngã Tịnh.
tứ ba la mật bồ tát
Bốn vị nữ Bồ Tát thân cận của Đức Đại Nhật Như Lai ở Kim Cang Giới, đều do Đức Đại Nhật Như Lai lưu xuất, mỗi vị là mẹ năng sinh của các vị Phật ở bốn hướng—The four female attendants on Vairocana in the Vajradhatu, evolved from him, each of them a mother of one of the four Buddhas of the four quarters. 1) Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát: Vajra-Paramita Bodhisattva. 2) Bảo Ba La Mật Bồ Tát: Ratna-Paramita Bodhisattva. 3) Pháp Ba La Mật Bồ Tát: Dharma-Paramita Bodhisattva. 4) Nghiệp Ba La Mật Bồ Tát: Karma-Paramita Bodhisattva. ** For more information, please see Tứ Phật.
tứ ba-la-di
xem ba-la-di.
Tứ ba-la-di 四波羅夷
[ja] シハライ shi harai ||| The four grave offenses, the commission of which will lead to the expulsion of a monk or nun from the sangha. See 四重罪. => Bốn sự phạm giới nghiêm trọng, dẫn đến việc tẫn xuất vị tăng hoặc ni vi phạm phải ra khỏi tăng đoàn.
tứ binh
xem bốn binh.
; Catur-angabalakàya (S). The four divisions of a cakravarti's troops: tượng binh hastikàya, elephant; mã binh asvakàya, horse; xa binh rathakàya, chariot; bộ binh pattikàya, foot.
; Catur-angabalakaya (skt)—The four divisions of a cakravarti's troops: 1) Tượng Binh: Hastikaya (skt)—Elephants. 2) Kỵ Binh (Mã Binh): Asvakaya (skt)—Horses. 3) Xa Binh (Thiết Giáp Binh): Rathakaya (skt)—Chariot. 4) Bộ Binh: Pattikaya (skt)—Foot.
tứ biên tội
Bốn tội nặng mà khi phạm phải Tăng Ni sẽ vĩnh viễn bị khai trừ khỏi giáo đoàn (trở thành người ở bên ngoài Phật Pháp)—Four serious sins of expulsion from the order. 1) Dâm Dục: Committing sexual intercourse. 2) Sát Sanh: Killing. 3) Trộm Cắp: Stealing. 4) Vọng Ngữ: Lying.
tứ biện tài vô ngại
See Tứ Vô Ngại in Vietnamese-English Section.
Tứ biện 四辨
[ja] シベン shiben ||| (A) The 'four analytical knowledges.' These are the same as the siwuaizhi 四無礙智 and the siwuaibian 四無礙辯. (B) The 'four unobstructed knowledges.' (1) To be unobstructed in the knowledge concerning the meaning of the teachings. (2) To be unobstructed in the knowledge of dharmas. (3) To be unobstructed in the knowledge about various languages. (4) To be unobstructed in preaching. => (A) Đồng nghĩa với Tứ vô ngại trí (四無礙智c: siwuaizhi) và Tứ vô ngại biện(四無礙辯c: siwuaibian). (B) Tứ vô ngại giải: 1. Pháp vô ngại giải; 2. Nghĩa vô ngại giải; Từ vô ngại giải và Biện vô ngại giải. Tứ biện 四辯 [ja] シベン shiben ||| See siwuaibian 四無礙辯. => Xem Tứ vô ngại biện 四無礙辯.
tứ bách
Bốn trăm—Four hundred.
tứ bách giới
Theo Kinh Dược Sư, Bồ Tát có 400 giới luật—Bốn trăm giới—The four hundred disciplinary laws of a Bodhisattva, referred to in the Medicine Buddha (Bhaishajya-Guru) Sutra.
tứ bách tán
Catuhsataka Stotra (S)Phật truyện bằng tiếng PhạnXem Quảng Bách Luận Bổn.
tứ bách tứ bệnh
Theo Đại Trí Độ Luận, có bốn trăm lẽ bốn bệnh nơi thân—According to the Sastra on the Prajna Sutra, there are four hundred and four ailments of the body: 1) Một trăm lẽ một bệnh sốt nóng gây ra bởi Địa Đại—One hundred one fevers caused by the Earth element. 2) Một trăm lẽ một bệnh sốt nóng gây ra bởi Hỏa Đại: One hundred one fevers caused by the Fire element. 3) Một trăm lẽ một bệnh rét (lạnh) gây ra bởi Thủy Đại: One hundred one chills caused by the water element. 4) Một trăm lẽ một bệnh rét (lạnh) gây ra bởi Phong Đại: One hundred one chills caused by the Wind element.
tứ bát
Bốn bình bát bằng đá rất nặng được bốn vị trời dâng hiến cho Phật Thích Ca và được ngài nhồi lại thành một một cách kỳ diệu và dùng như một bình bát thường—The four heavy stone begging-bowls offered to Sakyamuni by the four devas, which he miraculously combined into one as used as if ordinary material.
tứ bát nhã trí
Four wisdom.
tứ bát tướng
Ba mươi hai tướng tốt của Phật—The thirty-two marks of a Buddha—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng của Phật and Dvatrimshadvara-Lakshana.
tứ bình gia
Bốn vị đại học giả trong số năm trăm vị A La Hán, những người đã viết ra bộ Luận Vi Diệu Pháp—The four great scholars among the 500 arhats who made the Vibhasa-sastra, a critical commentary on the Abhidharma. Their names are: 1) Thế Hữu: Vasumitra. 2) Diệu Âm: Ghosa. 3) Pháp Cứu: Dharmatrata. 4) Giác Thiên: Buddhadeva.
tứ bình đẳng
A fourfold sameness—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Ta nói trong chúng hội giáo lý thâm mật về bốn bình đẳng rằng xưa kia Ta đã từng là Đức Phật Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, hay Ca Diếp.” Bốn loại bình đẳng đối với những ai tu tập đời sống phạm hạnh—According to The Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “We talk of this in the assembly because of the secret teaching of fourfold sameness, that I was in ancient days the Buddha Krakucchanda, Kanakamuni, or Kasyapa.” Four sorts of sameness for those who disicpline themselves in religious life. 1) Danh Tự Bình Đẳng—Bình đẳng về chữ nghĩa là danh hiệu Phật được nêu như nhau cho hết thảy chư Như Lai, không có sự phân biệt nào trong chư vị trong phạm vi của chữ PHẬT: By “sameness in letters” is meant that the title Budha is equally given to all Tathagatas, no distinction being made among them as far as these letter BUDDHA go. 2) Ngôn Từ Bình Đẳng—Bình đẳng về ngôn từ nghĩa là tất cả chư Như Lai đều nói sáu mươi bốn âm giai hay âm thanh khác nhau mà ngôn ngữ của Phạm Thiên phát âm, và nghĩa là ngôn ngữ của chư Như Lai nghe ra giống như âm giai của loài chim Ca Lăng Tần Già: By “sameness in words” is meant that all the Tathagatas speak in sixty-four different notes or sounds with the language of Brahma is pronounced, and that their language sounding like the notes of Kalavinka bird is common to all the Tathagatas. 3) Nghĩa Bình Đẳng—Bình đẳng về thân nghĩa là tất cả các Đức Như Lai đều không khác biệt khi được xét về Pháp Thân (Dharmakaya), về đặc trưng thuộc về thân thể hay sắc tướng (rupalakshana), và các nét cao đẹp phụ hay hảo tướng. Tuy vậy, chư Như Lai khác nhau khi được nhìn bởi chúng sanh khác nhau mà chư vị đang điều ngự dạy bảo: By “sameness in body” is meant that all the Tathagatas show no distinction as far as their Dharmakaya, their corporal features (rupalakshana) and their secondary marks of excellentce are concerned. They differ, however, when they are seen by a variety of beings whom they have the special design to control and discipline. 4) Pháp Bình Đẳng—Bình đẳng về chân lý có nghĩa là tất cả chư Như Lai đều đạt cùng một sự thể chứng nhờ vào ba mươi bảy phần chứng ngộ: By “sameness in the truth” is meant that all Tathagatas attain to the same realization by means of the thirty-seven divisions of enlightenment.
Tứ bạo (bộc) lưu 四暴流
[ja] シボウル shibōru ||| The four raging currents--a synonym for the four kinds of outflow 四漏 (Skt. catvāra oghāḥ, catur-ogha; Pali cattāro-oghā). These are the raging currents of desire 欲暴流, existence 有暴流, ignorance 無明暴流, and false views 見暴流. 〔瑜伽論 T 1579.30.314c18〕 => Đồng nghĩa với Tứ lậu (四漏 s: catvāra oghāḥ, catur-ogha; p: cattāro-oghā). Đó là: dục bạo lưu, hữu bạo lưu, vô minh bạo lưu và kiến bạo lưu.
tứ bạo hà
xem bốn con sông hung bạo.
Tứ bạo lưu 四暴流
[ja] シボル shiboru ||| The "four raging currents." Four afflictions which agitate the originally quiescent mind: desire 欲, existence 有, opinion 見 and ignorance 無明. => Bốn thứ phiền não khuấy động bản tâm vốn thường thanh tịnh: dục, hữu, kiến và vô minh.
tứ bạo thủy
Four violent torrents of water.
tứ bản chỉ quán
The four books of Thiên Thai on meditation: Ma ha chỉ quán,Thiền ba la mật, Lục diệu môn, Tọa thiền pháp yếu.
tứ bảo
Four kinds of jewels, Four jewels Phật Pháp Tăng Tôn sư.
; Four treasures.
tứ bất hoại tín
Bốn đức tin không hư hoại—The four objects of unfailing faith: 1) Tin Phật: Believe in Buddha. 2) Tin Pháp: Believe in the Dharma. 3) Tin Tăng Believe in the Sangha. 4) Tin nơi Giới Luật Phật: Believe in Moral precepts.
tứ bất hoại tịnh
The four objects of unfailing purity—See Tứ Bất Hoại Tín.
tứ bất hành xứ hạnh
Agata-gamanani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn bất hành xứ hạnh (hành xử sai trái)—According to the Sangiti Sutta in he Long Discourses of the Buddha, there are four ways of going wrong: 1) Tham dục bất hành xứ hạnh: Chanda (p)—One goes wrong through desire. 2) Sân bất hành xứ hạnh: One goes wrong through hatred. 3) Si bất hành xứ hạnh: One goes wrong through delusion. 4) Bố úy bất hành xứ hạnh: One goes wrong through fear.
tứ bất khả khinh
1. Thái tử dù nhỏ sẽ làm quốc vương, nên bất khả khinh. 2. Con rắn dù nhỏ, đc hay giết người, nên bất khả khinh. 3. Ngọn lửa dù nhỏ hay sanh hỏa hoạn, nên bất khả khinh. 4. Sa di dù nhỏ hay chứng thánh quả là rất bất khả khinh.
; The four that may not be treated lightly: a prince though young, a snake though small, a fire though tiny, anf above all a "novice" though a beginner, for he may become an arhat.
; 1. Thái tử dù nhỏ sẽ làm Quốc vương, nên bất khả khinh. 2. Con rắn dù nhỏ, độc hay giết người, nên bất khả khinh. 3. Ngọn lửa dù nhỏ, hay sanh hỏa hoạn, nên bất khả khinh. 4. Sa di dù nhỏ hay chứng Thánh quả, nên bất khả khinh.
; Theo Kinh A Hàm, có bốn thứ chẳng thể khinh thường—According to the Agama Sutra, there are four things that may not be treated lightly: 1) Thái tử tuy còn nhỏ, nhưng tương lai sẽ làm quốc vương, nên chẳng thể khinh thường: A prince though young now, but he may become a king in the future, so not to treat him lightly. 2) Rắn tuy nhỏ, nhưng nọc độc có thể làm chết người, nên không thể khinh thường: A snake though small, but its venom can kill people, so not to treat it lightly. 3) Tia lửa tuy nhỏ, nhưng có thể đốt cháy núi rừng đồng cỏ lớn, nên không thể khinh thường: A fire though tiny, but it may be able to destroy a big forest or meadow, so not to treat it lightly. 4) Sa Di tuy nhỏ, nhưng có thể thành bậc Thánh, nên không thể khinh thường: A novice though a beginner, but he may become an arhat, so not to treat him lightly.
tứ bất khả ký phụ
Bốn thứ không còn được giao phó cho điều gì nữa cả—The four to whom one does not entrust valuables: 1) Người Già: The old. 2) Cái Chết Gần Kề: Death is near. 3) Xa xôi: The distant, lest one has immediate need of them. 4) Quỷ quái: The evil, or the strong; lest the temptation be too strong for the last two.
tứ bất khả thuyết
1. Sanh bất khả thuyết. 2. Sanh bất sanh bất khả thuyết. 3. Bất sanh sanh bất khả thuyết. 4. Bất sanh bất sanh bất khả thuyết.
tứ bất khả tư nghì
Four inconceivables. (A) Trong Kinh Tăng Nhứt A Hàm, có bốn điều không thể nghĩ bàn nơi chư Phật—In the Ekottaragama, there are four indescribables—The four things of a Buddha which are beyond human conception: 1) Thế giới bất khả tư nghì: The world—The Buddha's world is beyond human conception. 2) Chúng sanh bất khả tư nghì: The living beings—His teaching about living beings' circumstances is beyond human conception. 3) Thiên long bất khả tư nghì: Dragons or Nagas—His nagas are beyond human conception. 4) Phật độ cảnh giới bất khả tư nghì: The size of the Buddha-lands—The bound of his Buddha realm is beyond human conception. (B) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, ngài Quán Thế Âm Bồ Tát đã bạch với Đức Thế Tôn về bốn thứ bất tư nghì: “Bạch Thế Tôn! Ngoài mười bốn thứ vô úy, tu chứng vô thượng đạo, lại có thể được bốn bất khả tư nghì, vô tác diệu đức.”—In the Surangama Sutra, Avalokitesvara Bodhisattva reported to the Buddha about the four inconceivables: “World Honored One! Because I obtained perfect penetration and cultivated to certification of the unsurpassed path, I also became endowed with four inconceivable and and effortless wonderful virtues.” 1) Một là do tôi trước được diệu văn tâm, tâm linh thoát bỏ văn căn, kiến văn giác tri không thể phân cách, thành một viên dung thanh tịnh bảo giác, cho nên tôi có thể hiện ra nhiều diệu dụng, có thể nói vô biên bí mật thần chú; trong đó hoặc hiện một cho đến tám vạn bốn ngàn đầu, tay, mắt, hoặc từ hoặc uy, hoặc định, hoặc tuệ để cứu hộ chúng sanh được tự tại: First, as soon as I obtained the miraculous wonder of hearing the mind, the mind became essential and the hearing was forgotten; therefore, there was no distinction between seeing, hearing, sensation, and knowing. I achieved a single, perfect fusion, pure precious enlightenment. For this reason, I am able to manifest many wonderful appearances and can proclaim boundless secret spiritual mantras. For example, I may take appear one head, three heads, five heads, seven heads, nine heads, eleven heads, and so forth, until there may be a hundred and eight heads, a thousand heads, ten thousand heads, or eighty-four thousand vajra heads; two arms, four arms, six arms, eight arms, ten arms, twelve arms, fourteen, sixteen, eighteen arms, or twenty arms, twenty-four arms, and so forth until there may be a hundred and eight arms, a thousand arms, ten thousand arms, or eighty-four thousand mudra arms; two eyes, three eyes, four eyes, nine eyes, and so forth until there may be a hundred and eight eyes, a thousand eyes, ten thousand eyes, or eighty-four thousand pure and precious eyes, sometimes compassionate, sometimes awesome, sometimes in samadhi, sometimes displaying wisdom to rescue and protect living beings so that they may attain great self-mastery. 2) Hai là bởi tôi tu tập văn tư, thoát khỏi sáu trần, như cái tiếng vượt qua tường, chẳng bị ngăn ngại, nên tôi thần diệu có thể hiện mỗi mỗi hình, tụng mỗi mỗi chú, hình và chú có thể lấy vô úy ban cho các chúng sanh. Cho nên mười phương quốc độ nhiều như bụi nhỏ đều gọi tên tôi là Thí Vô Úy: Second, because of hearing and consideration, I escape the six defiling objects, just as a sound leaps over a wall without hindrance. And so I have the wonderful ability to manifest shape after shape and to recite mantra upon mantra. These shapes and these mantras dispel the fears of living beings. Therefore, throughout the ten directions, in as many lands as there are fine motes of dust, I am known as one who bestows fearlessness. 3) Ba là bởi tôi tu tập bản diệu viên thông, thanh tịnh bản căn, nên đi chơi các thế giới, đều khiến chúng sanh bỏ trân bảo của mình, cầu tôi thương xót: Third, because I cultivated fundamental, wonderful, perfect penetration and purified the sense-organ, everywhere I go in any world I can make it so that living beings renounce their physical and material valuables and seek my sympathy. 4) Bốn là tôi được Phật tâm, chứng quả hoàn toàn, có thể lấy các trân bảo đem cúng dường mười phương Như Lai, và giúp chúng sanh trong lục đạo, khắp pháp giới cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu sống lâu được sống lâu, như vậy cho đến cầu đại Niết Bàn được đại Niết Bàn: Fourth, I obtained the Buddhas' mind and was certified as having attained the ultimate end, and so I can make offerings of rare treasures to the Thus Come Ones of the ten directions and to living beings in the six paths throughout the dharma realm. If they seek a spouse, they obtain a spouse. If they seek children, they can have children. Seeking samadhi, they obtain samadhi; seekin long life, they obtain long life, and so forth to the extent that if they seek the great Nirvana, they obtain great Nirvana.
tứ bất khả tư nghị
The four things of a Buddha which are beyond human conception: thế giới his world, chúng sinh his living beings, long his nàgas, and Phật độ cảnh giới the bounds of his Buddha-realm.
tứ bất khả đắc
The four unattainables, perpetual youth, no sickness, perennial life, no death.
; Bốn điều không thể đạt được—The four unattainables: 1) Thường Thiếu Bất Khả Đắc: Trẻ mãi không già—Perpetual youth. 2) Vô bệnh Bất Khả Đắc: Không ốm đau bịnh hoạn—No sickness. 3) Trường Thọ Bất Khả Đắc: Sống lâu—Perennial life. 4) Bất Tử Bất Khả Đắc: Không chết—No death.
tứ bất kiến
The four invisibles - water to fish, wind (or air) to man, the nature (of things) to the deluded, and the không void to the ngộ enlightened, because he is in his own element, and the void is beyond conception.
; Bốn điều không thể thấy được—The four invisibles: 1) Cá không thể thấy nước: water to fish. 2) Người không thấy không khí hay gió: Air or wind to man. 3) Kẻ mê muội mờ mịt không thể thấy được thực chất của vạn pháp: The nature of things to the deluded. 4) Người giác ngộ không thể thấy được cái không vì nhân tố của chính người ấy và tánh không đã vượt ra ngoài ý niệm: The void to the enlightened, because he is in his own element, and the void is beyond conception.
tứ bất sinh
That a thing is not born or not produced of itself, of another, of both, of neither.
; Four “not-born.” 1) Bất Khả Tự Sinh: Pháp chẳng tự thân mà sanh ra—A thing is not born or not produced of itself. 2) Bất Khả Tha Sinh: Pháp chẳng do tha nhân mà sanh ra—A thing is not produced of another or of a cause without itself. 3) Bất Khả Bất Sinh: Bất Cộng Sanh—Pháp chẳng do cộng nhân tự tha mà sanh—A thing is not “not self-born” when it is time to produce the fruit of karma (of both 1 & 2). 4) Bất Khả Bất Hạ Sinh: Pháp chẳng do vô nhân mà sanh ra, một khi nghiệp nhân đủ đầy là chồi đâm trái trổ—A thing is not “not born” when it is time to produce the fruit of karma (of no cause).
tứ bất thành
Four forms of a siddha or incomplete statement, part of the thirty three fallacies in logic.
; Bốn thứ bất thành trong ba mươi ba lỗi của nhân minh—Four forms of asiddha or incomplete statement, part of the thirty-three fallacies in logic.
tứ bất thối
Theo Tịnh Độ Tông, có bốn thứ bất thối—According to the Pure-Land sect, there are four kinds of Non-backslidings: 1) Từ (1) đến (3), xin xem Tam Bất Thối: From (1) to (3), please see Tam Bất Thối. 4) Không thối chuyển từ nơi thanh tịnh đã đạt được: Never receding from place or abode attained.
tứ bất tư nghì
Four inconceivables.
Tứ bất định pháp 四不定法
[ja] シフジョウホウ shi fujōhō ||| The four indeterminate elemental constructs (in terms not being disposed to good, evil or quality) in the 100 Yogācāra elemental constructs 百法. They are: drowsiness 睡眠, remorse 惡作, (coarse) investigation 尋 and (fine) analysis 伺. Also see .〔大乘百法明門論 T 1614.31.855b〕 => Bốn tâm sở pháp bất định (trong trường hợp không có khuynh hướng thiện, ác hoặc đẳng phần) trong 100 pháp do tông Duy thức lập ra. Đó là: thuỳ miên, ác tác, tầm và tứ. Xem Bất định pháp 不定法.
Tứ bất định 四不定
=> Xem Tứ bất định pháp 四不定法.
tứ bệnh
The four aliments, or mistaken ways of seeking protection: tác bệnh, works or effort; nhiệm bệnh, laissez-faire; chỉ bệnh, cessation of all mental operation; diệt bệnh, annihilation (of all desire).
; Bốn bệnh được nói đến trong Kinh Viên Giác—The four ailments, or mistaken ways of seeking perfection, mentioned in The Complete Enlightenment Sutra: 1) Tác Bệnh: sanh tâm tạo tác (hay tu hành để cầu viên giác là tác bệnh vì tánh viên giác chẳng phải do tạo tác mà được)—Works or effort (for the purpose to seek perfection is an ailment). 2) Nhiệm Bệnh: Tùy duyên nhiệm tính (phó mặc cho sanh tử để cầu viên giác thì gọi là nhiệm bệnh vì viên giác chẳng phải do tùy duyên)—Laissez-faire. 3) Chỉ Bệnh: Chỉ vọng tức chân (tịch niệm để cầu viên giác là chỉ bệnh, vì viên giác chẳng phải do chỉ niệm mà được)—Cessation of all mental operation. 4) Diệt Bệnh: Diệt phiền não nơi thân tâm để cầu viên giác gọi là diệt bệnh, vì tánh viên giác chẳng phải do tịch diệt mà được)—Anniilation of all desire.
tứ bố thí
Bốn loại bố thí—Four kinds of dana or charity: 1) Bút Thí: Thấy ai phát tâm sao chép kinh điển liền phát tâm Bố Thí viết để giúp duyên cho họ chép kinh—Giving of pens to write the sutras. 2) Mặc Thí: Thấy người viết kinh liền Bố Thí Mực để giúp thiện duyên—Giving of ink. 3) Kinh Thí: Bố Thí Kinh để người có phương tiện đọc tụng—Giving of the sutras themselves. 4) Thuyết Pháp Thí: Bố Thí bằng cách Thuyết pháp cho người nghe để người tu hành giải thoát—Preaching the sutras for sentient beings so that they can cultivate to liberate themselves.
tứ bối
(A) Tứ Chúng—Bốn hạng đệ tử của Phật—The four kinds of disciples—See Tứ Chúng. (B) 1) Nhân: Người—Men. 2) Thiên: Trời—Devas. 3) Long: Rồng—Nagas. 4) Quỷ: Ghosts.
Tứ bối 四輩
[ja] シハイ shihai ||| The four groups of Buddhist disciples: monks 比丘, nuns 比丘尼, laymen 優婆塞 and laywomen 優婆夷 (catur-parṣad). => Bốn nhóm đệ tử của Phật: tỷ-khưu, tỷ-khưu ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.
tứ bồ tát
The four bodhisattvas: Quán Thế Âm Avalokitesvara, Di Lặc Maitreya, Phổ Hiền Samantabhadra, Văn Thù Manjusri. Also the four chief bodhisattvas in the Garbhadhàtu. There are also the Bản hóa tứ bồ tát of the Lotus sùtra named Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, and An Lạc Hạnh.
; Bốn vị Bồ Tát—The four Bodhisattvas: 1) Quán Thế Âm Bồ Tát: Avalokitesvara. 2) Di Lặc Bồ Tát: Maitreya. 3) Phổ Hiền Bồ Tát: Samantabhadra. 4) Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Manjusri.
tứ bồ tát hành
Catuḥ-saṃgraha-vastu (S)- dana: cho người khác những gì họ thích nhằm hướng dẫn họ nhận thực chân lý, - priyavacana: nói lời ưa thích nhằm hướng dẫn người khác nhận thực chân lý, - arthakṛtya: làm lợi lạc người khác nhằm hướng dẫn họ nhận thực chân lý, - samanarthata: hợp tác với người khác nhằm hướng dẫn họ nhận thực chân lý,.
tứ bổn chỉ quán
Bốn quyển kinh nói về thiền quán của tông Thiên Thai—The four books of T'ien-T'ai on meditation: 1) Ma Ha Chỉ Quán: Maha-samadhi. 2) Thiền Ba La Mật: Dhyana-paramita. 3) Lục Diệu Môn: Six Wonderful Gates to Meditation. 4) Tọa Thiền Chỉ Yếu: Guidelines for Meditation.
tứ bổn tướng
Bốn tướng căn bản—The four fundamental states: 1) Sinh: Birth. 2) Trụ: Stay. 3) Dị: Change. 4) Diệt: Extinction.
tứ bộ
Bốn quả Thánh (Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán)—The four classes (srota-apanna, sakrdagamin, anagamin, and arhat)—See Tứ Đạo and Tứ Thánh Quả.
Tứ bộ chi chúng 四部之衆
Tứ bộ chi hội 四部之會 Tứ bộ chúng hội 四部衆會 Tứ bộ chúng 四部衆 Tứ bộ đệ tử 四部弟子 [ja] シブノシュウ shibu no shū ||| The four groups of Buddhist disciples. See 四輩. => Bốn chúng đệ tử của Phật. Xem Tứ bối 四輩.
Tứ bộ chúng
xem Bốn bộ chúng.
tứ bộ chúng
Four kinds of disciples of the Buddha.
; See Tứ Chúng.
tứ bộ kinh
Four Discourses.
; Bốn bộ kinh—Từ Ân Đại Sư lấy bốn bộ kinh làm bản kinh của Tịnh Độ—The four sutras of the Pure Land, according to Tz'u-Ên: 1) Vô Lượng Thọ Kinh: The Infinite Life Sutra. 2) Quán Vô Lượng Thọ Kinh: The Contemplation on the Infinite Life Sutra. 3) A Di Đà Kinh: Amitabha Sutra. 4) Cổ Âm Thanh Đà La Ni Kinh: The Drum Sound Dharani Sutra.
tứ bộ luật
See Tứ Luật Ngũ Luận.
tứ bộ thần
Four kinds of Deities.
tứ bộ tăng
See Tứ Chúng.
tứ bộ đệ tử
Four classes of disciples—See Tứ Chúng.
tứ bộc lưu
Four floods—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn bộc lưu (lũ lụt)—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four floods: 1) Dục Bôc Lưu: Flood of sensuality. 2) Hữu Bộc Lưu: Flood of becoming or existence. 3) Tà Kiến Bộc Lưu: Flood of wrong views. 4) Vô Minh Bộc Lưu: Flood of ignorance.
tứ chi
The four limbs: 1) Đầu: Head. 2) Mình: Trunk (body). 3) Tay: Arms. 4) Chân: Legs.
tứ chiếng
Everywhere.
Tứ Chánh Cần
(s: catvāri prahāṇāni, p: cattāri sammappadhānāni, 四正勤): hay còn gọi là Tứ Chánh Đoạn (四正斷), Tứ Ý Đoạn (四意斷), Tứ Chánh Thắng (四正勝), gồm có:(1). Siêng năng tinh tấn đoạn trừ các điều ác đã sanh,(2). Siêng năng tinh tấn làm cho không sanh khởi các điều ác chưa sanh,(3). Siêng năng tinh tấn làm cho sanh khởi các điều thiện chưa sanh,(4). Siêng năng tinh tấn làm cho tăng trưởng các điều thiện đã sanh, Lấy sự nhất tâm, tinh tấn để hành trì 4 pháp này cho nên được gọi là Tứ Chánh Cần.
Tứ chánh cần
xem Bốn chánh cần.
tứ chánh cần
Sammāppadhana (P), Samyak-prahāṇa (S), Four Right Exertions, Four right endeavours, Catvari-samyak-pradhanani (S)Điều ác đã sinh, cần siêng năng đoạn diệt. Điều ác đã sinh, cần siêng năng đừng để sinh thêm. Điều thiện đã làm, phải tinh tấn làm thêm. Điều thiện chưa sinh, cần siêng năng làm cho mau sinh.
; Catvari-Samyakprahanani (skt)—Sammappadhana (p)—Tứ Ý Đoạn—Tứ Chánh Đoạn—Bốn phép siêng năng diệt trừ tội ác và phát triển điều thiện—Four right (great) efforts (exertions)—Right effort of four kinds of restrain, or four essentials to be practiced vigilantly: 1) Tinh tấn phát triển những điều thiện lành chưa phát sanh—Endeavor to start performing good deeds: Điều thiện chưa sanh, phải tinh cần làm cho sanh. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi—Effort to initiate virtues not yet arisen—Bringing forth goodness not yet brought forth (bring good into existence)—To produce merit—To induce the doing of good deeds. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to produce unarisen wholesome mental states. 2) Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều thiện lành đã phát sanh—Endeavor to perform more good deeds: Điều thiện đã sanh, phải tinh cần khiến cho ngày càng phát triển. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm với mục đích khiến cho các thiện pháp đã sanh có thể được tăng trưởng, được quảng đại viên mãn—Effort to consolidate, increase, and not deteriorate virtues already arisen—Developing goodness that has already arisen (develop existing good)—To increase merit when it was already produced—To encourage the growth and continuance of good deeds that have already started. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to maintain wholesome mental states that have arisen, not to let them fade away, to bring them to greater growth, to the full perfection of development. 3) Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh—Endeavor to prevent evil from forming: Điều dữ chưa sanh, phải tinh cần làm cho đừng sanh. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm với mục đích khiến cho các ác pháp từ trước chưa sanh không cho sanh—Effort not to initiate sins not yet arisen—Preventing evil that hasn't arisen from arising (to prevent any evil from starting or arising)—To prevent demerit from arising. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to prevent the arising of unarisen evil unwholesome mental states. 4) Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sanh—Endeavor to eliminate already-formed evil: Điều dữ đã sanh, phải tinh cần dứt trừ đi. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm với mục đích khiến cho các ác pháp đã sanh được diệt trừ—Effort to eliminate sins already arisen—Putting an end to existing evil—To abandon demerit when it arises—To remove any evil as soon as it starts. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to overcome evil unwholesome mental states that have arisen.
tứ chánh thắng
Xem Tứ chánh cần.
tứ chánh đoạn
Xem Tứ chánh cần.
; See Tứ Chánh Cần in Vietnamese-English Section.
Tứ chánh đế
xem Bốn chân đế.
tứ chân đế
See Tứ Diệu Đế and Tứ Thánh Đế.
Tứ chân đế 四眞諦
[ja] シシンタイ shishintai ||| The Four Noble Truths. See 四諦.=> Xem Tứ đế 四諦.
Tứ Châu
(s: catvāro dvīpāḥ, p: cattāro dīpā, 四洲): theo thế giới quan của Ấn Độ thời cổ đại cho rằng bốn phương núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山), trong biển lớn giữa Thất Kim Sơn (七金山) và Đại Thiết Vi Sơn (大鐵圍山) có 4 châu lớn. Căn cứ vào Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 1, Câu Xá Luận Quang Ký (倶舍論光記) quyển 8, v.v, 4 châu lớn này là (1) Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲): xưa gọi là Đông Phất Bà Đề (東弗婆提), Đông Tỳ Đề Ha (東毘提訶), hay Đông Phất Vu Đãi (東弗于逮), gọi tắt là Thắng Thân (勝身), do vì người ở châu này có thân hình thù thắng nên có tên gọi như vậy, địa hình nơi đây như mặt trăng một nửa, mặt người cũng như nửa mặt trăng; (2) Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲), tên gọi ngày xưa là Nam Diêm Phù Đề (南閻浮提), từ Thiệm Bộ (s: jampu, 贍部) nguyên là âm dịch tên gọi của loại cây Bồ Đào, cho nên châu này lấy cây này đặt thành tên, địa hình của nó như thùng xe, và mặt người cũng như vậy; (3) Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲), xưa gọi là Tây Cù Da Ni (西瞿耶尼), do vì nơi đây người ta dùng trâu bò để giao dịch mua bán nên có tên gọi như vậy, địa hình của nó tròn như mặt trăng và khuôn mặt con người cũng vậy; và(4) Bắc Cu Lô Châu (s: Uttara-kuru, 北倶盧洲), xưa gọi là Bắc Uất Đơn Việt (北鬱單越), Cu Lô nghĩa là nơi tuyệt vời, thù thắng, cho nên có tên như vậy, địa hình vuông vức như ao hồ, và mặt người cũng như vậy.
tứ châu
Catur-dvipa (S). The four inhabited continents of every universe; they are situated S. E. W. and N. of the central mountain Sumeru: Nam Thiệm bộ châu Jambùdvìpa, Đông thắng thần châu, Pùrva-videha, Tây ngưu hóa châu, Apara-godànìya, Bắc câu lư châu, Uttara kuru.
; Catur-dvipa (skt)—Theo khoa cổ vũ trụ học Phật Giáo, có bốn châu trong thế giới Ta Bà, tứ hướng xung quanh núi Tu Di—Four Saha Continents or four great continents of a world—According to ancient Buddhist cosmology, there are four inhabited continens of every universe. They are land areas and situated in the four directions around Mount Sumeru: 1) Bắc Cu Lô (Câu Lư) Châu: Uttarakuru (skt)—Còn gọi là Uất Đan Việt Châu—The Northern of the four continents of a world—See Uttarakuru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Nam Thiệm Bộ Châu: Jambudvipa (skt)—Còn gọi là Châu Diêm Phù Đề—The Southern continent—See Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Nam Thiệm Bộ Châu in Vietnamese-English Section. 3) Tây Ngưu Hóa Châu: Godana, Aparagodana, or Avaragodanuyah (skt)—Còn gọi là Cồ Da Ni. Tây Ngưu Hóa Châu hay Tây Lục Địa, nơi mà trâu bò sinh sản rất đông và được dùng như tiền tệ; lục địa có hình tròn và dân trên đó cũng có gương mặt hình tròn (ở cõi nầy dân sống thọ đến 500 tuổi)—West Continent, where oxen are used as money; the western of the four continents of every world, circular in shape and with circular-faced people. 4) Đông Thắng Thần Châu: Purva-Videha (skt)—Còn gọi là Bổ La Phược Vĩ Nễ Hạ, Phất Bà Đề, hay Phất Vu Đại, một trong bốn đại châu, châu nầy ở trong biển Hàm Hải, về phía đông núi Tu Di, hình bán nguyệt. Lục địa chế ngự ma quỷ, có hình bán nguyệt, dân trên đó cũng có khuôn mặt hình bán nguyệt (chu vi của cõi nầy là 21.000 do tuần, dân trong cõi nầy có thân hình tốt đẹp hơn hết, và sống thọ đến 600 tuổi)—East—The eastern of the four great continents of a world, east of Mount Meru, semicircular in shape. The continent conquering spirits, semi-lunar in shape; its people having faces of similar shape.
Tứ châu 四州
[ja] シシュウ shishū ||| The four great continents located in the oceans around Mt. Sumeru. They are Jambu-dvīpa, Pūrva-videha, Aparagodānīya, and Uttara-kuru. Jambu-dvīpa is the continent that we are said to live on. The term can also mean "all worlds." => Bốn đại lục nằm trong những đại dương bao quanh núi Tu-di. Đó là Diêm-phù-đề (s: Jambu-dvīpa), Thắng thần châu (s: Pūrva-videha), Ngưu hoá châu (s: Aparagodānīya), và Câu-lư châu (s: Uttara-kuru). Diêm-phù-đề là châu chúng ta đang sinh sống. Thuật ngữ nầy cũng có nghĩa là “mọi thế giới”
Tứ chính cần
四正勤|Bốn tinh tiến.
tứ chính cần
Samyakprahàna (S). The four right efforts: (1) điều dữ đã sinh trừ dứt đi, to put an end to existing evil; (2) điều dữ chưa sinh khiến cho chẳng sinh, prevent evil arising; (3) điều lành chưa sinh khiến cho sinh ra, bring good into existence; (4) điều lành đã sinh khiến cho thêm lớn, develop existing good.
Tứ chính cần 四正勤
[ja] シショウゴン shishōgon ||| The 'four correct endeavors.' (1) getting rid of existing evil; (2) working not to produce evil; (3) To work at nurturing goodness; (4) to destroy pre-existent evil. => Bốn điều tinh tấn chân chính: 1. Lìa xa các việc ác; 2. Không tạo nên nghiệp ác; 3. Làm cho việc thiện tăng trưởng 4. Đoạn trừ việc ác đã sanh.
tứ chính đoạn
Xem tứ chính cần.
Tứ Chúng
(s: catasraḥ parṣadaḥ, p: catasso parisā, 四眾): Bốn Chúng; còn gọi là Tứ Bối (四輩), Tứ Bộ Chúng (四部眾), Tứ Bộ Đệ Tử (四部弟子); có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho 4 hạng người, hay 4 hạng đệ tử hình thành nên giáo đoàn Phật Giáo, gồm Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞), Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷). Hay chỉ cho bốn chúng xuất gia là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌) và Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerī, 沙彌尼). Như trong Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 2 có câu: “Nhất ngôn huýnh xuất thanh tiêu ngoại, Tứ Chúng vân trăn tiếu điểm đầu (一言迥出青霄外、四眾雲臻笑點頭, một lời buông tận trời xanh thẳm, Bốn Chúng về đây cười gật đầu).” Hay trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 19, phần Huệ Thông (慧聰), lại có đoạn: “Pháp Hoa Kinh Thường Bất Khinh Bồ Tát, bất chuyên độc tụng kinh điển, đản hành lễ bái Tứ Chúng, thượng đắc Lục Căn thanh tịnh, ngã hà vi bất lễ chư Phật Thế Tôn. (法華經常不輕菩薩、不專讀誦經典、但行禮拜四眾、尚得六根清淨、我何爲不禮諸佛世尊, Bồ Tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa, không chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ thực hành lễ bái Bốn Chúng, mà được sáu căn thanh tịnh, ta sao lại không lễ bái các đức Phật Thế Tôn).” (2) Chỉ cho 4 loại đại chúng ngồi nghe đức Phật thuyết pháp, gồm: (a) Phát Khởi Chúng (發起眾), tức là những người có thể biết được thời cơ lúc nào bắt đầu tập hội, hoặc phát khởi tướng kỳ lạ, vấn đáp, v.v., để sắp xếp cho đức Phật thuyết pháp. (b) Đương Cơ Chúng (當機眾), chỉ cho những người có túc duyên thuần thục, chín muồi, thích hợp để nghe chánh giáo, và ngay trong hội đó được xuất gia. (c) Ảnh Hưởng Chúng (影響眾), chỉ chư Phật, Bồ Tát xưa kia, từ phương khác đến giúp đỡ đức Phật giáo hóa, giấu đi quả vị của họ mà thị hiện hình tướng của chúng căn cơ hiện tại, như bóng theo hình, như âm vang ứng với tiếng, để phò trợ đấng Pháp Vương và làm trang nghiêm pháp tòa. (d) Kết Duyên Chúng (結緣眾), chỉ cho những người có phước thiện đời trước mỏng manh, căn cơ lại thấp kém, tuy chưa chứng ngộ được gì, nhưng nhờ nhân duyên gặp được Phật và nghe pháp, mà kết nhân duyên tương lai sẽ xuất gia tu học. (3) Dưới thời đại vua A Dục (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育), đại chúng Phật pháp được phân chia thành 4 loại; 4 chúng này nhân nghị luận về 5 việc của Tỳ Kheo Đại Thiên (s, p: Mahādeva, 大天) mà hình thành nên Thượng Tọa Bộ (s: Sthaviravāda, p: Theravāda, 上座部) và Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部). (a) Long Tượng Chúng (龍象眾), còn gọi là Đại Quốc Chúng (大國眾), chỉ cho dòng phái của Đại Thiên, tức những người phát sinh luận tranh. (b) Biên Bỉ Chúng (邊鄙眾), còn gọi là Ngoại Biên Chúng (外邊眾), chỉ cho môn đồ của Đại Thiên. (c) Đa Văn Chúng (多聞眾), chỉ cho hạng phàm phu chuyên giữ giới, học rộng. (d) Đại Đức Chúng (大德眾), là Thánh chúng chứng 4 quả vị. (4) Chỉ cho 4 chúng là người, trời, rồng và quỷ.
Tứ chúng
(四眾): bốn hạng người hình thành nên giáo đoàn Phật Giáo, gồm Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞), Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷). Như trong Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, CBETA No. 1417) quyển 2 có câu: “Nhất ngôn huýnh xuất thanh tiêu ngoại, Tứ Chúng vân trăn tiếu điểm đầu (一言迥出青霄外、四眾雲臻笑點頭, một lời buông tận trời xanh thẳm, Bốn Chúng về đây cười gật đầu).”
; xem Bốn bộ chúng.
tứ chúng
Fourfold assembly Four groups of followers of the Buddha.Gồm chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di.
; The four varga (groups, or orders), i.e. tì khưu bhiksu, monks; tì khưu ni bhiksuni, nuns; ưu bà tắc upàsaka, male devotees; and ưu bà di upàsikà, female devotees.
; Varga (skt)—Fourfold disciples (assemblies—groups—orders)—The assembly of monks, nuns, laymen and laywomen: (A) Tứ Chúng Tăng Già—The fourfold Assembly in the order: 1) Tỳ Kheo: Bhiksu (skt)—Monk—See Tỳ Kheo. 2) Tỳ Kheo Ni: Bhiksuni (skt)—Nuns—See Tỳ Kheo Ni. 3) Ưu Bà Tắc: Upasaka—Laymen—Male devotees—See Ưu Bà Tắc. 4) Ưu Bà Di: Upasika—Lay women—Female devotees—See Ưu Bà Di. (B) Tứ Chúng theo tông Thiên Thai—The fourfold assembly, according to the T'ien-T'ai sect: 1) Phát Khởi Chúng: Chúng hội mà Ngài Xá Lợi Phật đã ba lần cung thỉnh khiến cho Đức Thế Tôn khởi thuyết Kinh Pháp Hoa—The assembly which, Sariputra stirred the Buddha to begin his Lotus Sutra sermons. 2) Đương Cơ Chúng: Chúng hội nghe hiểu Pháp Hoa, tự mình thọ nhận và hành trì những gì Phật dạy trong đó—The pivotal assembly, those who were responsive to him. Those hearers of the Lotus who were adaptable to its teaching, and received it. 3) Ảnh Hưởng Chúng: The reflection assembly, those like Manjusri, who reflected on or drew out the Buddha's teaching. 4) Kết Duyên Chúng: Những chúng sanh kết duyên được thấy và nghe Phật thuyết pháp, nên nhân duyên chứng ngộ của họ sẽ được về đời sau nầy—Those who only profited in having seen and heard a Buddha, and therefore whose enlightenment is delayed to a future life. (C) Tứ Chúng Xuất Gia—The fourfold assembly of a monastery: 1) Tỳ Kheo: Bhiksu (skt)—Monk—See Tỳ Kheo. 2) Tỳ Kheo Ni: Bhiksuni (skt)—Nun—See Tỳ Kheo Ni. 3) Sa Di: Sramanera (skt)—A novice monk—See Sa Di. 4) Sa Di Ni: Sramanerika (skt)—A novice nun—See Sa Di Ni.
tứ chơn đế
Xem Tứ diệu đế.
tứ chấp
The four erronous tenets. Also tứ tà, tứ mê.
; Bốn thứ câu chấp—The four erroneous tenets: (A) Bốn thứ câu chấp của ngoại đạo—The four tenets of the outsiders or non-Buddhists: 1) Tà Nhân Tà Quả: Ngoại đạo nói rằng tứ đại tại thiên, thiên sanh ra vạn vật—Heretical (dị giáo) theory of causation—Creation by a Creator. 2) Vô Nhân Hữu Quả: Chấp muôn vật không nhân, tự nhiên mà có (không có nhân mà có quả)—Effect independent of cause—Creation without a cause, or spontaneous generation. 3) Hữu Nhân Vô Quả: Đoạn kiến cho rằng chỉ có hiện tại, chứ không có đời sau, không có hậu quả gì trong tương lai đối với việc làm hiện tại—Cause without effect—No future consequences as a result of past or current karma. 4) Vô Nhân Vô Quả: Tà kiến phủ nhận hết thảy nhân quả, cho rằng không có nghiệp nhân thiện ác có thể thụ quả sướng khổ—Neither cause nor effect—Rewards and punishments are independent of morals. (B) Bốn loại chấp mà Ngài Long Thọ đã luận—Four-phased system elucidated by Master Nagarjuna: 1) Chấp Hữu (chấp có): Attachment to existence. 2) Chấp Vô (chấp không): Attachment to non-existence. 3) Chấp Diệc Hữu Diệc Không (chấp có cả hai): Attachment to both existence and non-existence. 4) Chấp Phi Hữu Phi Không (chấp không có cả hai): Attachment to neither. (C) Bốn thứ chấp trước cho cả nội lẫn ngoại đạo, Phật tử lẫn Bà La Môn—The four erroneoustenets of the insiders and outsiders, Buddhists and Brahman: 1) Ngoại đạo chấp chẳng lý nhị không: Outsiders who do not accept either the cause nor the dharma ideas of void. 2) Nội đạo chấp giữ vào A Tỳ Đạt Ma Luận mà thừa nhận rằng có nhân không, nhưng không có pháp không (đã chứng lý vô ngã nhưng còn chấp vào pháp hữu tính): Insiders who hold the Abhidharma or Sarvastivadah tenet, which recognizes human impersonality, but not the unreality of things. 3) Thành Thực Tông lại phân biệt hai nghĩa của 'không' nhưng lại phân biệt không rõ ràng: Those who hold the Satyasiddhi tenet which discriminates the two meanings of 'void' but not clearly. 4) Đại Thừa lại chấp vào cứu cánh thực tế—Those in Mahayana who hold the tenet of the 'realists.'
tứ chấp kim cang
Bốn vị Kim Cang Chủ của tứ đại—The four Vajra-rulers of the four elements: 1) Địa Kim Cang Chủ ở về phía Đông Nam: The Earth Vajra-ruler, of the Southeast. 2) Thủy Kim Cang Chủ ở về phía Tây Nam: The Water Vajra-ruler, of the Southwest. 3) Hỏa Kim Cang Chủ ở về phía Tây Bắc: The Fire Vajra-ruler, of the Northwest. 4) Phong Kim Cang Chủ ở về phía Đông Bắc: The Wind Vajra-ruler, of the Northeast.
tứ chấp kim cang thần
See Tứ Chấp Kim Cang.
tứ chấp thủ
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có bốn loại Chấp Thủ—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are four kinds of clinging: 1) Dục Chấp Thủ: Clinging to sensual pleasure. 2) Kiến Chấp Thủ: Clinging to views. 3) Giới Cấm Chấp Thủ: Clinging to rules and vows. 4) Ngã Luận Chấp Thủ: Clinging to a doctrine of self.
tứ chỉ kinh
Xem Tiểu Vô lượng thọ Kinh.
Tứ chỉ kinh 四紙經
[ja] シシキョウ Shishikyō ||| See 阿彌陀經. => Xem A-di-đà kinh 阿彌陀經.
tứ chủ
Bốn vị chúa tể của thế giới mà phạm vi trải từ Đông, Nam, Tây, sang đến Bắc của dãy Hy mã Lạp Sơn—The four Lords of the world, whose domain were supposed to stretch from East, South, West, to North of the Himalayas: 1) Đông Phương Nhân Chủ: The Lord of men in the East. 2) Nam Phương Tượng Chủ: The Lord of elephants in the South, the southern division of India. 3) Tây Phương Báu Chủ: The Lord of jewels or precious things in the West. 4) Bắc Phương Mã Chủ: The Lord of horses in the North.
tứ chủng
Four kinds. Xem tứ tính.
tứ chủng a tu la
Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, và theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, có bốn loại A Tu La—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, and according to the Surangama Sutra, book Nine, there are four kinds of asura. 1) Noản Sanh A Tu La: Egg-born asuras or ghosts—Thứ nương quỷ đạo, dùng sức hộ pháp, thừa thần thông mà vào hư không. A Tu La đó do trứng sanh ra, thuộc về quỷ thú—Those in the path of ghosts who use their strength to protect the dharma and who can ride their apiritual penetrations to enter into emptiness are asuras born from eggs; they belong to the destiny of ghosts. 2) Thai Sanh A Tu La: Womb-born asuras—Thứ ở cõi trời, mất đức bị đọa vào chỗ gần mặt trời, mặt trăng. A Tu La đó do thai sinh ra, thuộc về loài người—Those who have fallen in virtue and have been dismissed from the heavens dwell in places near the sun and moon. They are asuras born from wombs and belong to the destiny of humans. 3) Hóa Sanh A Tu La: Transformation-born asuras—Thứ A Tu La vương gìn giữ thế giới, sức mạnh không kinh sợ, hay tranh quyền với Phạm Vương, Trời Đế Thích và Tứ Thiên Vương. A Tu La đó do biến hóa sinh ra, thuộc về cõi Trời—There are Asura kings who uphold the world with a penetrating power and fearlessness. They fight for position with the Brahma Lord, the god Sakra, and the four heavenly kings. These Asuras come into being by transformation and belong to the destiny of gods. 4) Thủy Sanh A Tu La: Water-born asuras—Thứ A Tu La ở đáy biển, dưới hang nước. A Tu La đó do thấp khí sinh, thuộc về súc sanh thú—There is another baser category of asura. They have thoughts of the great seas and live submerged in underwater caves. During the day they roam in emptiness; at night they return to their watery realm. These Asuras come into being because of moisture and belong to the destiny of animals. ** For more information, please see A Tu La.
tứ chủng biến thường
Four theories regarding pervasive permanence—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, phần Thập Hành Ấm Ma, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về bốn thứ biến thường như sau: “Ông A Nan! Các người thiện nam trong tam ma địa, chính tâm yên lặng sáng suốt. Ma chẳng tìm được chỗ tiện cùng tột căn bản của 12 loài sinh. Xem xét trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong viên thường khởi so đo chấp trước. Nguời ấy bị đạo vào luận bốn thứ biến thường.”—According to the Surangama Sutra, book Nine, in the part of the ten states of the formation skandha, the Buddha reminded Ananda as follows: “Ananda, in his practice of samadhi, the good person'' mind is unmoving, clear, and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate on its pervasive constancy, he could fall into error with four theories of pervasive permanence.” 1) Một là người đó nghiên cứu cùng tột tâm cảnh, tính chất đều không có nhân. Tu tập có thể biết trong hai vạn kiếp, mười phương chúng sanh sinh diệt, đều là xoay vần, chẳng hề tan mất, rồi chấp cho là thường: First, as this person throroughly investigates the mind and its states, he may conclude that both are causeless. Through his cultivation, he knows that in twenty thousand eons, as beings in the ten directions undergo endless rounds of birth and death, they are never annihilated. Therefore, he speculates that the mind and its states are permanent 2) Hai là người ấy nghiên cứu cùng tột căn nguyên của tứ đại, tính thường trụ. Tu tập có thể biết trong bốn vạn kiếp mười phương chúng sanh sanh diệt đều là hằng thường, chẳng hề tan mất. Rồi từ đó chấp cho là thường: Second, as this person thoroughly investigates the source of the four elements, he may conclude that they are permanent in nature. Through his cultivation, he knows that in forty thousand eons, as living beings in the ten directions undergo births and deaths, their substances exist permanently and are never annihilated. Therefore, he speculates that this situation is permanent. 3) Ba là người đó nghiên cứu cùng tột lục căn, mạt na chấp thụ, trong tâm ý thức, về chỗ bản nguyên, tính hằng thường. Tu tập có thể biết trong tám vạn kiếp tất cả chúng sanh xoay vần chẳng mất, bản lai thường trú, đến cùng tính chẳng mất, rồi chấp cho là thường: Third, as this person thoroughly investigates the sixth sense faculty, the manas, and the consciousness that grasps and receives, he concludes that the origin of the mind, intelect, and consciousness is permanent. Through his cultivation, he knows that in eighty thousand eons, all living beings in the ten directions revolve in transmigration, this origin is never destroyed and exists permanently. Investigating this undestroyed origin, he speculates that it is permanent. 4) Bốn là người đó đã cùng tột cái căn nguyên của tưởng, hết cái sinh lý, lưu chỉ xoay vần; sinh diệt tưởng tâm, nay đã dứt bặt, tự nhiên thành cái lý bất sanh diệt. Nhân tâm so đo chấp trước cho là thường. Vì chấp thường, mà mất chánh biến tri, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề: Fourth, since this person has ended the source of thoughts, there is no more reason for them to arise. In the state of flowing, halting, and turning, the thinking mind, which was the cause of production and destruction, has now ceased forever, and so he naturally thinks that this is a state of nonproduction and nondestruction. As a result of such reasoning, he speculates that this state is permanent. Because of these speculation of permanence, he will lose proper and pervasive knowledge, fall into externalism, and become confused about the Bodhi nature.
Tứ chủng báng 四種謗
[ja] シシュホウ shishuhō ||| The four kinds of errors according to Wŏnhyo 元曉 in his commentary on the Awakening of Faith 起信論. Belief in existence; belief in non-existence; belief in both; belief in neither. => Bốn thứ sai lầm, theo Nguyên Hiểu (元曉 k: Wŏnhyo) trong luận giải về luận Đại thừa khởi tín của sư. Đó là: tin vào có, tin vào không, tin cả hai, và không tin cả hai.
tứ chủng bố thí
Bốn loại bố thí—Four kinds of dana or charity—See Tứ Bố Thí.
Tứ chủng chướng 四種障
[ja] シシュショウ shishushō ||| Four kinds of hindrances taught in the Ratnagotravibhāga. The hindrance of the marks of conditions 縁相, the hindrance of the marks of causes 因相, the hindrance of the marks of arising 生相, and the hindrance of the marks of destruction 壞相. 〔寶性論T 1611.31.830b2-10〕 => Bốn loại chướng ngại đề cập trong Thật tính luận (s: Ratnagotravibhāga). Đó là: Duyên tướng, Nhân tướng, Sinh tướng, và Hoại tướng.
tứ chủng căn bản tội
The four deadly sins. Xem tứ chủng tam muội da.
tứ chủng căn bổn tội
Tứ Ba La Di Tội—Bốn tội căn bản—The four deadly sins: 1) Sát sanh: Killing. 2) Trộm cắp: Stealing. 3) Ham muốn nhục dục: Carnality. 4) Nói dối: Lying.
tứ chủng hành nhân
Bốn loại hành nhân—Four grades of earnest doers, who follow the bodhisattva discipline and attain to the following: 1) Thập Trụ: Ten Stages—See Thập Trụ. 2) Thập Hạnh: Ten necessary activities—See Thập Hạnh. 3) Thập Hồi Hướng: Ten Dedications—See Ten Kinds of Dedications Expounded by the Buddhas of Past, Present and Future & Ten Kinds of Dedications of Roots of Goodness of Great Enlightening Beings. 4) Thập Trụ: Ten Grounds—See Thập Trụ.
tứ chủng hạnh phúc
Trong Kinh Tăng Nhứt A Hàm, Đức Phật đã giảng về bốn loại hạnh phúc của người cư sĩ như sau—In the Anguttara Nikaya Sutra, the Buddha commented on the four kinds of bliss a layman enjoy as follow: 1) Hạnh phúc có vật sở hữu: Atthisukha (p)—Hạnh phúc của người có vật sở hữu nhờ sự nỗ lực cố gắng, nhờ sức lực của chân tay và mồ hôi, sở hữu một cách hợp pháp. Khi nghĩ như vậy, người kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc có được vật sở hữu—Herein a clansman has wealth acquired by energetic striving, amassed by strength of arm, won by sweat, and lawfully gotten. At this thought, bliss and satisfaction come to him. This is call the bliss of ownership. 2) Hạnh phúc được có tài sản: Bhogasukha (skt)—Người kia tạo nên tài sản do nơi cố gắng nỗ lực. Bây giờ chính mình thọ hưởng tài sản ấy, hoặc dùng nó để gieo duyên tạo phước. Khi nghĩ như vậy, người ấy cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc có được tài sản—Herein a clansman by means of wealth acquired by energetic striving, both enjoys his wealth and does meritorious deeds. At this thought, bliss and satisfaction come to him. This is called the bliss of wealth. 3) Hạnh phúc không nợ nần: Ananasukha (skt)—Người kia không thiếu ai món nợ lớn nhỏ nào. Khi nghĩ như vậy người kia cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc không mang nợ—Herein a clansman owes no debt, great or small, to anyone. At the thought, bliss and satisfaction come to him. This is called the bliss of debtlessness. 4) Hạnh phúc không bị khiển trách: Anavajjasukha (p)—Bậc Thánh nhân không bị khiển trách về thân khẩu ý. Khi nghĩ như vậy, người ấy cảm thấy thỏa thích và mãn nguyện. Đó là hạnh phúc không bị khiển trách—Herein the Aryan disciple is blessed with blameless action of body, blameless action of speech, blameless action of mind. At the thought, bliss and satisfaction come to him. This is called the bliss of blamelessness.
tứ chủng hộ ma
Four kinds of brazier—See Hộ Ma (2).
tứ chủng hữu biên
Four theories regarding finiteness—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, phần Thập Hành Ấm Ma, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về bốn thứ hữu biên như sau: “Nầy A Nan! Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản cùa các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong phận vị, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào luận bốn thứ hữu biên.”—In the Surangama Sutra, book Nine, in the part of the ten states of the formation skandha, the Buddha reminded Ananda about the four theories regarding finiteness as follows: “Ananda! Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate about the making of certain distinctions, he could fall into error with four theories of finiteness.” 1) Một là người đó tâm chấp cái sinh nguyên lưu dụng chẳng dứt. Chấp quá khứ và vị lai là hữu biên và chấp tương tục là vô biên—First, this person speculates that the origin of life flows and functions ceaselessly. He judges that the past and the future are finite and that the continuity of the mind is infinite. 2) Hai là người đó quán sát trong tám vạn kiếp thì thấy chúng sanh; nhưng trước tám vạn kiếp thì bặt không thấy nghe gì cả. Nên chỗ không thấy nghe thì cho là vô biên, còn chỗ thấy nghe lại cho là hữu biên—Second, as this person contemplates an interval of eighty thousand eons, he can see living beings; but earlier than eighty thousand eons is a time of stillness in which he cannot hear or see anything. He regards as infinite that time in which nothing is heard or seen, and as finite that interval in which living beings are seen to exist. 3) Ba là người đó chấp cái ngã khắp biết được tính vô biên, tất cả mọi người đều bị ngã biết, mà ngã không hay họ có tính biết riêng, nên cho là họ không có tính vô biên, họ chỉ là tính hữu biên—Third, this person speculates that his own pervasive knowledge is infinite and that all other people appear within his awareness. And yet, since he himself has never perceived the nature of their awareness, he says they have not obtained an infinite mind, but have only a finite one. 4) Bốn là người đó cùng tột cái hành ấm không, do cái chỗ sở kiến, tâm lộ tính xem xét, so sánh tất cả chúng sanh, trong một thân đều có một nửa sinh, một nửa diệt. Rõ biết mọi vật trong thế giới đều một nửa hữu biên, một nửa vô biên. Vì so đo chấp trước hữu biên, vô biên, nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, this person thoroughly investigates the formations skandha to the point that it becomes empty. Based on what he sees, in his mind he speculates that each and every living being , in its given body, is half living and half dead. From this he concludes that everything in the world is half finite and half infinite. Because of these speculations about the finite and the infinite, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature.
tứ chủng khổ
Four kinds of sufferings—See Tứ Khổ.
tứ chủng liên hoa
Four kinds of lotus—See Liên Hoa.
Tứ chủng ma
xem Bốn ma.
tứ chủng mạn đà la
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, tông Chân Ngôn có bốn thứ Mạn Đà La hay bốn vòng tròn Mạn Đà La chỉ định năng lực hiệu nghiệm của tam mật. Những hình ảnh, hình vẽ, hay điêu khắc cho thấy thân mật của Phật; văn tự là mật ngữ của Phật; và các vật tiêu xí chỉ cho bản thệ, tứ mật ý của Phật—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Shingon Sect has four kinds of Mandala. The fourfold circle indicates the efficacious power of the three mysteries. The figures, painted or sculptured, show the mystery of the body of the Buddha; the letters show the mystery of speech of the Buddha; and the symbol indicates the “original vow,” or the thought of the Buddha. 1) Đại Mạn Đà La: Maha-mandala (skt)—Là vòng tròn của Đức Phật và các tùy tùng được trình bày bằng hình ảnh hay tranh vẽ, tức trình bày trong mặt phẳng—The Great Circle is the circle of the Buddha and his companions represented by pictures or painted figures, i.e., a plane representation. 2) Tam Ma Da Mạn Đà La: Samaya-mandala (skt)—Vòng tròn của cùng hội chúng nầy được biểu thị bằng những dụng cụ tượng trưng cho mỗi vị. Tam Ma da trong Phạn ngữ có nghĩa là “bản thệ,” nhưng được trình bày bằng vật tiêu biểu cho mỗi vị cầm tay—The Symbol Circle is the circle of the same assembly represented by symbols or an article possessed by each. Samaya in Sanskrit means the “original vows,” but here it is represented by an article borne by each. 3) Pháp Mạn Đà La: Dharma-mandala (skt)—Là lọạ Mạn Đà La bằng văn tự, trình bày toàn thể các Thánh giả—The La Circle is the circle of letters (bija-aksara) representing all the saintly beings. 4) Kiết Ma Mạn Đà La: Karma-mandala (skt)—Là Mạn Đà La bằng những hình ảnh điêu khắc. Ở Nhật và các nước Đông Á không có Mạn Đà La điêu khắc, nhưng vô số tượng Phật ở Java được xem như là thuộc loại nầy. Karma trong Phạn ngữ có nghĩa là “nghiệp” hay “hành động,” ở đây đặc biệt có nghĩa là nghệ thuật trình bày bằng vật rắn—The Artcraft Circle is the circle of sculptured figures. In Japan and East Asian countries, there are no artcraft circles of sculptured figures, but the multitude of Buddhistic images of Java is said to be of this kind. Karma in Sanskrit means “action” or “work,” here it especially means the artistic work of solid representation. ** For more information, please see Mandala in English-Vietnamese Section.
tứ chủng nghiệp
Kammacatukkam (p)—Four types of karma—See Bốn Loại Nghiệp.
Tứ chủng ngã kiến 四種我見
[ja] シシュガケン shishu gaken ||| The "four kinds of view of a self:" (1) The view of a self arising from discrimination 有分別我見, which is arisen by those who perceive reality in a non-Buddhist manner; (2) the view of a self arisen in the process of coming to be born 倶生我見, which can be arisen by animals as well as human beings; (3) the view of self arisen by each person based on his understanding of himself 自依止我見 and (4) the view of self which arises in dependence on one's relationship with others 縁他依止我見.〔瑜伽論T 1579.30.779c10-14〕 => Bốn loại quan niệm về Ngã: 1. Hữu phân biệt ngã kiến: do phân biệt các pháp đều thực có, sinh khởi từ hàng ngoại đạo khi nhận thức về thực tại. 2. Câu sinh ngã kiến: ngã kiến phát sinh trong tiến trình thọ sinh, có trong loài súc sinh cũng như con người. 3.Tự y chính ngã kiến: ngã kiến sinh khởi do con người khi y cứ vào sự hiểu biết của chính họ. 4. Duyên tha y chính ngã kiến: ngã kiến sinh khởi do nương vào sự tương quan với kẻ khác.
tứ chủng nhân
Four types of persons—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại người—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four types of persons: (A) Bốn loại người thứ nhất—The first four types of persons: 1) Loại người tự mình làm khổ mình và siêng năng làm khổ mình: Attan-tapo-hoti (p)—A certain man who torments himself or is given to self-tormenting. 2) Loại người làm khổ người khác và siêng năng làm khổ người khác: Paran-tapo-hoti (p)—A certain man who torments others or is given to torment others. 3) Loại người làm khổ mình, siêng năng làm khổ mình; làm khổ người, và siêng năng làm khổ người: A certain man who torments himself, is given to self-tormenting; torments others, is given to torment others. 4) Loại người không làm khổ mình, không siêng năng làm khổ mình; không làm khổ người, không siêng năng làm khổ người. Nên ngay cuộc sống hiện tại, vị nầy sống ly dục, tịch tịnh, thanh lương, an lạc thánh thiện: A certain man who torments neither himself nor others. Thereby he dwells in this life without craving, released, cool, enjoying bliss, becomes as Brahma. (B) Bốn loại người khác—Four more types of persons: 1) Loại người hành tự lợi, không hành tha lợi. Đây là loại người chỉ phấn đấu loại bỏ tham, sân si cho chính mình, mà không khuyến khích người khác loại bỏ tham sân si, cũng không làm gì phúc lợi cho người khác: Here a man's life benefits himself, but not others (who works for his own good, but not for the good of others). It is he who strives for the abolition of greed, hatred and delusion in himself, but does not encourage others to abolish greed, hatred and delusion, nor does he do anything for the welfare of others. 2) Loại người hành tha lợi, không hành tự lợi. Đây là loại người chỉ khuyến khích người khác loại bỏ nhược điểm và phục vụ họ, nhưng không tự đấu tranh để loại bỏ nhược điểm của chính mình (năng thuyết bất năng hành): Here a man's life benefits others, but not himself (who works for the good of others, but not for his own good). It is he who encourages others to abolish human weaknesses and do some services to them, but does not strive for the abolition of his own. 3) Loại người không hành tự lợi, mà cũng không hành tha lợi. Đây là loại người không đấu tranh để loại bỏ nhược điểm của chính mình, cũng chẳng khuyến khích người khác loại bỏ nhược điểm, cũng không phục vụ người khác: Here a man's life benefits neither himself nor others (who works neither for his own good nor for the good of others). It is he who neither strives for the abolition of his own weaknesses, nor does he encourage others to abolish others weaknesses, nor does he do any service to others. 4) Loại người hành tự lợi và hành tha lợi. Đây là loại người phấn đấu loại bỏ những tư tưởng xấu trong tâm mình, đồng thời giúp người khác làm điều thiện: Here a man's life benefits both himself and others (who works for his own good as well as for the good of others). It is he who strives for the abolition of evil houghts from mind and at the same time help others to be good. (C) Bốn loại người khác—Four more types of persons: 1) Loại sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối: Here a man who lives in darkness and bounds for drakness. 2) Loại sống trong bóng tối, nhưng hướng đến ánh sáng: Here a man who lives in darkness, but bounds for the light. 3) Loại người sống trong ánh sáng, nhưng hướng đến bóng tối: Her a man who lives in the light, but bounds for drakness. 4) Loại sống trong ánh sáng và hướng đến ánh sáng: Here a man who lives in the light and bounds for the light. (D) Bốn hạng người khác—Four more types of people: 1) Hạng người không ai hỏi về cái tốt của mình mà cứ nói, huống hồ chi là có hỏi! Đây là lỗi tự khoe khoang mình, rất là tổn đức, chỉ có kẻ tiểu nhơn mới làm như vậy, chứ bậc đại trượng phu quân tử được khen cũng không cần ai công bố ra: Those who are not asked by anyone of their wholesome deeds, and yet they speak of them voluntarily, let alone if someone did ask. This represents those who are constantly bragging and boasting himself or herself. Only a petty person would do such a thing because true greatness will be praised without having necessary to announce it to the world. 2) Hạng người có ai hỏi đến cái tốt của người khác, thì chỉ ngập ngừng, bập bẹ như con nít mới học nói, huống hồ chi là không hỏi! Đây là lỗi dìm che điều tốt của người, để cho thấy mình tốt, lỗi nầy rất là tổn phước, chỉ có kẻ tiểu nhơn mới làm như vậy: Those who when asked of others' wholesome deeds, will speak incompletely, sometimes incoherently much like a child who had just learned to speak, let alone if they were not asked! This condition represents people who hide other people's wholesome deeds, so they would look good in the process. It is an act of a petty person. 3) Hạng người không ai hỏi đến cái xấu của kẻ khác, mà cứ nói, huống chi là có hỏi! Đây là lỗi giết hại người mà không dùng đao kiếm, rất là tổn hại, chỉ có kẻ âm hiểm ác độc mới làm như vậy: Those who are not asked of others' unwholesome deeds but speak of them anyway, let alone if they were asked. These are people who kill without weapons. This is to expose other people's mistakes and transgressions, or to ridicule others to make one's self look good. Such an act is a sign of wickedness and evil. 4) Hạng người có ai hỏi đến cái xấu của mình thì che dấu, huống là không hỏi! Đây là lỗi dối trá, xảo quyệt, lừa gạt cho người ta tưởng mình là bậc Thánh. Hạng người nầy được gọi là người không biết tàm quí: Those who keep their unwholesome deeds hidden, lying about it when anyone asks about them, let alone if these deeds were not asked, then certainly their wickedness would never be revealed. This condition represents people who are pretenders, those who tricked others into believing they are saints. They are people of no shame in self or before others. (E) Bốn loại người khác—Four more types of persons: 1) Bất Động Sa Môn: Samana-acalo (p)—The unshakeable ascetic. 2) Thanh Liên Hoa Sa Môn: The “Blue-lotus” ascetic. 3) Bạch Liên Hoa Sa Môn: The “White-lotus” ascetic. 4) Diệu Thiện Sa Môn: Samana-sukhumalo (p)—The subly-perfect ascetic.
tứ chủng nhập thai
Theo Kinh Tự Hoan Hỷ trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại nhập thai—According to the Sampasadaniya Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four modes of rebirth: 1) Có loại không biết mình nhập, trú và xuất bụng người mẹ: One descends into the other's womb unknowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing. 2) Có loại biết mình nhập bụng người mẹ, nhưng không biết mình an trú trong bụng nguời mẹ và không biết mình ra khỏi bụng người mẹ: One enters the womb knowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing. 3) Có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ, nhưng không biết mình ra khỏi bụng người mẹ: One enters the womb knowing, stays there knowing, but leaves it unknowing. 4) Có loại biết mình nhập bụng người mẹ, biết mình an trú trong bụng người mẹ và biết mình ra khỏi bụng người mẹ: One enters the womb knowing, stays there knowing, and leaves it knowing.
Tứ chủng niết-bàn 四種涅槃
[ja] シシュネハン shishu nehan ||| 'Four kinds of Nirvāna.' In the teachings of the Yogācāra school, nirvāna is divided into four types. The first is the nirvāna of the originally pure self-nature, the original thusness of all existence. The second refers to the thusness expressed in the extinction of the hindrances due to defilement, and is called "nirvāna with remainder." The third is "nirvāna without remainder"; in this nirvāna the hindrances due to defilement in the mind are cut off, and the body in which the five skandhas was united is extinguished. In the fourth, both the hindrances due to defilement and the hindrances of knowing are cut off, and a deep wisdom is attained wherein saṃsāra and nirvāna are not distinguished. Not abiding in nirvāna nor disliking saṃsāra, one teaches sentient beings yet does not become attached to the world. This condition of complete separation from delusion is called "nirvāna with no abode." => Theo giáo lý của tông Duy thức, niết-bàn được phân thành 4 loại: 1. Tánh tịnh niết-bàn, tánh chân như của mọi hiện hữu. 2. Hữu dư niết-bàn: chân như biểu hiện qua đoạn sạch phiền não nhiễm ô. 3. Vô dư niết-bàn: phiền não nhiễm ô trong tâm đã trừ sạch, thân ngũ ấm cũng hoại diệt. 4. Vô trụ xứ niết-bàn: phiền não chướng và sở tri chướng đều đoạn diệt, chứng đắc trí tuệ thâm sâu, thấy luân hồi và niết-bàn không khác, giáo hoá chúng sinh mà không dính mắc thế gian.
tứ chủng niệm phật
Four methods of Buddha Recitation—See Tứ Môn Niệm Phật.
tứ chủng oai nghi
Four kinds of demeanors—Oai nghi có nghĩa là cốt cách và cử chỉ của người xuất gia, cần phải đoan chánh đàng hoàng, đúng theo phép tắc, khiến cho người chung quanh khi nhìn thấy phong cách của mình thì tự nhiên sanh lòng kính phục. Có bốn loại oai nghi—Demeanors mean the conducts and expressions of a religious figure in Buddhism. They must be power and act appropriately according to the Dharma teachings, so when those around them see their demeanors these people will be respectful automatically. There are four main demeanors: 1) Đi: Walking. 2) Đứng: Standing. 3) Nằm: Lying down. 4) Ngồi: Sitting. ** Cụ Túc Giới Tỳ Kheo.
Tứ chủng phiền não 四種煩惱
[ja] シシュボンノウ shishu bonnō ||| The four kinds of afflictions related to the view of self, which are concomitant with the manas (seventh) consciousness 末那識. They are self 我 and its three functions of view of person 薩迦耶見, self-pride 我慢, and self-love 我愛. Same as 任運煩惱. 〔瑜伽論 T 1579.30.651c21〕 => Bốn loại phiền não liên quan với Ngã kiến, đi đôi với mạt-na thức. Đó là Ngã, Tát-ca-da kiến, ngã mạn, và ngã ái. Đồng nghĩa với Nhậm vận phiền não任運煩惱.
tứ chủng pháp giới
The four dharma-realms—See Tứ Pháp Giới.
Tứ chủng pháp huân tập 四種法熏習
[ja] シシュホウクンシュウ shishuhōkunshū ||| Four kinds of perfumation of dharmas (from the 大乘起信論): (1) jingfa 淨法 (眞如) (2) yiqieranyin 一切染因 (無明) (3) wangxin 妄心 (wangxin) (業識); (4) wangjingjie 妄境界 (六塵). => Bốn pháp huân tập (từ luận Đại thừa khởi tín): 1. Tịnh pháp (chân như). 2. Nhất thiết nhiễm nhân (vô minh). 3. Vọng tâm (nghiệp thức). 4. Vọng cảnh giới (lục trần).
tứ chủng phật
Four types of the Buddha. 1) Tam Tạng Phật: Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề của xứ Ma Kiệt Đà, dùng cỏ tươi làm đệm, dứt bỏ hoặc kiến tư mà giác ngộ—The Buddha of the Tripitaka who attained enlightenment on the base ground under the bodhi-tree. 2) Thông Phật: Ở ngôi nhân vị đã dứt bỏ kiết sử và nghi hoặc , ngồi dưới gốc bồ đề thất bảo của xứ Ma Kiệt Đà, dùng áo trời làm đệm, dứt bỏ tâm tư mà thành chánh giác—The Buddha on the deva robe under the bodhi-tree of the seven precious things. 3) Biệt Phật: Dứt bỏ 12 phẩm vô minh nhập vào ngôi vị Diệu Giác, ngồi ở chính tòa đại bảo hoa, dưới gốc cây bồ đề thất bảo của Liên Hoa Tạng thế giới, mà hiện báo thân viên mãn, đây chính là Đức Tỳ Lô Giá Na nói đến trong Kinh Phạm Võng—The Buddha on the great precious Lotus throne under the Lotus realm bodhi-tree. This is the Vairocana mentioned in the Brahma Net Sutra. 4) Viên Phật: Dứt bỏ phẩm vô minh mà thành thanh tịnh pháp thân, an trụ cõi thường tịch quang, lấy hư không làm chỗ ngồi, tức là Đức Tỳ Lô Giá Na nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm—The Buddha on the throne of space, in the realm of eternal rest and glory, where he is a Vairocana mentioned in the Flower Adornment Sutra.
tứ chủng phật âm
Four voices of Buddha—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện (37), chư đại Bồ Tát biết âm thanh của Đức Như Lai chẳng phải lượng, chẳng phải vô lượng, chẳng phải chủ, chẳng phải không chủ, chẳng phải thị giáo, chẳng phải không thị giáo. Ví như thế giới lúc sắp hoại, không chủ không làm, tự nhiên âm thanh của Đức Như Lai phát ra bốn thứ. Bốn thứ âm thanh trên đây không chủ, không làm, mà chỉ do thiện nghiệp của chúng sanh mà phát sanh—According to The Flower Adornment Scripture, Chapter Manifestation of Buddha (37), great enlightening beings should know that Buddha's voice is neither quantified nor unquantified, neither has a master nor lacks a master, neither communicates nor does not communicate. It is as when the world is about to disintegrate, there is no master, no maker, yet it spontaneously emits four voices. These voices have no master or maker, they are just produced by the power of good practices of sentient beings. 1) Âm thanh thứ nhất nói, “Mọi người nên biết sơ thiền an lạc, rời những lỗi dục nhiễm vượt khỏi cõi dục.” Chúng sanh nghe rồi tự nhiên được thành tựu sơ thiền, bỏ thân cõi dục sanh lên Phạm Thiên: The first voice says, “You all should know that the well-being of the first meditation stage, free from the ills of desire, surpasses the realm of desire.” The sentient beings hearing this are naturally able to accomplish the first meditation stage, reliquish the body of the realm of desire and be reborn in Brahma heaven 2) Âm thanh thứ hai nói, “Mọi người nên biết nhị thiền an lạc, không giác, không quán, vượt hơn Phạm Thiên.” Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu nhị thiền, bỏ thân Phạm Thiên sanh lên cõi trời Quang Âm Thiên: The second voice says, “You should know that the well-being of the second meditation stage, without reflection and rumination, surpasses the Brahma heaven.” The sentient beings hearing this naturally manage to accomplish the second meditation stage, relinquish the body of Brahma heaven, and are born in the light-sound heaven. 3) Âm thanh thứ ba nói, “Mọi người nên biết tam thiền an lạc không lỗi lầm, vượt hơn Quang Âm Thiên.” Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu tam thiền, bỏ thân Quang Âm Thiên sanh lên Biến Tịnh Thiên: The third voice says, “You should know the well-being of the third meditation stage has no flaws and surpasses the light-spund heaven.” Hearing this, the sentient beings are naturally able to achieve the third meditation stage, relinquish the body of the light-sound heaven, and are born in the heaven of universal purity. 4) Âm thanh thứ tư nói, “Mọi người nên biết tứ thiền tịch tịnh hơn Biến Tịnh Thiên.” Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu tứ thiền, bỏ thân Biến Tịnh Thiên sanh lên Quảng Quả Thiên: The fourth voice says, “You should know that the tranquility of the fourth meditation stage surpasses the heaven of universal purity.” Hearing this, the sentient beings are naturally able to achieve the fourth meditation stage, relinquish the body of the heaven of universal purity, and are born in the heaven of vast results.
tứ chủng quán hành
Theo Từ Bi Thủy Sám, có bốn loại quán hành, một phương pháp sám hối tu tập để làm phương tiện diệt tội—Four kinds of examination, a method of repentance as a way to get rid of any sin: 1) Quán Nhân Duyên: To study the cause of the sin, which lies in ignorance, or lack of clear understanding. 2) Quán Quả Báo; To study its ineviatable effect or its karma. 3) Quán Tự Thân: To study oneself or introspection. 4) Quán Như Lai Thân: To tudy the Tathagata in his perfec character, and saving power.
tứ chủng quả báo
Có bốn loại báo ứng—There are four kinds of retribution: 1) Thuận Hiện Nghiệp Định Quả: Hành động gây ra báo ứng tức khắc—Action to receive retribution immediately. 2) Thuận Hiện Nghiệp Bất Định Quả: Hành động gây báo ứng trong đời hiện tại (không nhứt định thời gian)—Action to receive retribution in the present life. 3) Thuận Sinh Nghiệp: Hành động gây báo ứng trong đời sống kế tiếp—Action to receive retribution in the life to come. 4) Thuận Hậu Nghiệp: Hành động gây báo ứng trong các đời sau, không nhứt định thời gian—Action to receive retribution in one of the lives following the next.
tứ chủng sanh
Xem tứ sanh.
tứ chủng sanh tử
Four kinds of rebirths dependent on present deeds—See Bốn Loại Sanh Tử.
tứ chủng sinh tử
Four kinds of rebirth dependent on present deeds: from obscurity and poverty to be reborn in the same condition; from obscurity and poverty to be reborn in light and honour; from light and honour to be reborn in obscurity and poverty; from light and honour to be reborn in heavens.
tứ chủng tam muội
Theo Liễu Dư Đại Sư, một cao tăng trong tông phái Tịnh Độ Trung Quốc, người niệm Phật khi đi đến chỗ tuyệt đỉnh tận cùng duy có một định thể là niệm Phật tam muội. Đây là cảnh hư linh sáng lặng, vọng giác tiêu tan, hành giả duy còn trụ tâm nơi tướng hảo hoặc hồng danh của Phật. Nhưng tuy nói trụ mà thật ra vô trụ, vì âm thanh sắc tướng đương thể như huyễn, chính đó là không. Tướng tam muội ấy như thế nào? Khi hành giả chuyên nhứt niệm Phật, quên hết thân tâm ngoại cảnh, tuyệt cả thời gian không gian, đến lúc sức lực cực công thuần, ngay nơi đương niệm trần vọng bỗng thoạt tiêu tan, tâm thể bừng sáng, chứng vào cảnh giới “Vô niệm vô bất niệm.” Cảnh ấy như hư không mây tan, trời xanh một vẻ, niệm, mà không niệm, không niệm mà niệm, không thấy biết mới là sự thấy biết chân thật, có thấy biết tức lạc theo trần. Đến đây thì nước bạc non xanh đều là chân đế, suối reo chim hót toàn diễn diệu thừa, tâm quang bao hàm muôn tượng mà không trụ một pháp, tịch mà chiếu, chiếu mà tịch, đều còn đều mất, tuyệt đãi viên dung. Cảnh giới tam muội đại để là như thế, khó tả nên lời, duy chứng mới thể nghiệm được. Niệm Phật tam muội vẫn là một thể, nhưng để đi vào định cảnh ấy, người xưa đã căn cứ theo kinh, y nơi ý nghĩa và oai nghi hành trì mà chia thành bốn loại tam muội—According to Great Master Liu-Yu, a noted Chinese monk in the Pure Land School, when the practitioner assiduously recites the Buddha's name with one-pointedness of mind, oblivious to body, mind and the external world, transcending time and space, and when he has exerted the utmost effort and reached the goal, right in the midst of present thought, worldly delusions suddenly disappear, the mind experiences sudden Enlightenment, attaining the realm of “No-Thought, No No-Thought.” That realm is like empty space, all clouds have dissipated, the sky is all blue, reciting is not reciting, not reciting is reciting, not seeing and knowing is truly seeing and knowing, to see and to know is to stray towards worldly dusts. At this stage, the silver water and green mountains are all Ultimate Truth, the babbling brooks and singing birds all express the wonderful Dharma. The light of the Mind encompasses ten thousand phenomena but does not dwell on any single dharma, still-but-illuminating, illuminating-but-still, existing and lost at the same time, all is perfect. The realm of samadhi is, in general, as just described. It is difficult to express in words, and only when we attain it do we experience it. Buddha Recitation Samadhi is always the same state. However, the ancients distinguished four variants: 1) Bát Chu Tam Muội: Pratyutpanna Samadhi (skt)—Bát Chu có nghĩa là “Phật lập.” Hành trì môn tam muội nầy có ba oai lực phù trợ: Oai lực của Phật, oai lực của pháp tam muội, và oai lực công đức của người tu. Khi thực hành Bát Chu Tam Muội, phải lấy chín mươi ngày làm một định kỳ. Trong thời gian ấy, ngày đêm hành giả chỉ đứng hoặc đi, tưởng Đức Phật A Di Đà hiện thân đứng trên đảnh mình đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp; hay miệng thường niệm danh hiệu Phật, tâm thường tưởng Phật không xen hở. Khi công thành trong tam muội hành giả thấy Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương hiện ra đứng trước mình khuyến tấn khen ngợi. Bát Chu Tam Muội cũng gọi là “Thường Hành Đạo.” Người tu khi đi, mỗi bước mỗi tiếng đều không rời danh hiệu Phật, ba nghiệp hành trì không gián đoạn như dòng nước chảy. Pháp nầy công đức rất cao, song chỉ bậc thượng căn mới kham tu trì, hạng người trung hạ và tinh lực yếu kém không thể thực hành nổi—When practicing this samadhi, the cultivator has three powers to assist him: the power of Amitabha Buddha, the power of the samadhi and the power of his own virtues. The unit of practice of this samadhi should be ninety days. In that span of time, day and night the practitioner just stands or walks around, visualizing Amitabha Buddha appearing as a body standing on the practitioner's crown, replete with the thirty-two auspicious marks and the eighty beautiful characteristics. He may also recite Amitabha Buddha's name continuously, while constantly visualizing Him. When practice is perfected, the cultivator, in samadhi, can see Amitabh Buddha and the Buddhas of the ten directions standing in front of him, praising and encouraging him. Pratyupanna is also called the “Constantly Walking Samadhi.” As the practitioner walks, each step, each word is inseparable from the name of Amitabha Buddha. His body, speech and mind are always practicing Buddha Recitation without interruption, like a continuous flow of water. This method brings very lofty benefits, but only those of high capacity have the endurance to practice it. Those of limited or moderate capacities or lacking in energy cannot pursue this difficult practice. 2) Nhất Hạnh Tam Muội: Single-Practice Samadhi—Nhất Hạnh có nghĩa là chuyên nhất về một hạnh. Khi tu môn tam muội nầy, hành giả thường ngồi và chỉ chuyên nhất quán tưởng, hoặc niệm danh hiệu Đức A Di Đà. Lại tuy chỉ tu một hạnh mà được dung thông tròn đủ tất cả hạnh, nên “Nhất Hạnh” cũng gọi là “Viên Hạnh.” Từ pháp tam muội nầy cho đến hai môn sau, ba hạng căn cơ đều có thể tu tập được—Single-Practice means specializing in one practice. When cultivating this samadhi, the practitioner customarily sits and concentrates either on visualizing Amitabha Buddha or on reciting His name. Although he actually cultivates only one practice, in effect, he achieves proficiency in all other practices; consequently, single-practice is also called “Perfected Practice.” This samadhi as well as the following two samadhis, can be put into practice by people of all capacities. 3) Pháp Hoa Tam Muội: Lotus-Blossom Samadhi—Đây là một trong mười sáu môn tam muội trong kinh Pháp Hoa, phẩm Diệu Âm Bồ Tát đã trần thuật. Theo ý chỉ của tông Thiên Thai, thì ba để viên dung là “Pháp,” quyền thật không hai là “Hoa.” Ví như hoa sen khi cánh hoa quyền chưa nở, mà gương sen thật đã thành, gương với cánh đồng thời; nơi một đóa hoa mà gồm đủ ý nghĩa quyền và thật vậy. Nói theo tông Tịnh Độ thì tức niệm là Phật, tức sắc là tâm; một câu niệm Phật gồm đủ tất cả ba đế, nhiếp cả thật quyền. Nếu tỏ ngộ lý nầy mà niệm Phật, gọi là tu hạnh Pháp Hoa Tam Muội. Khi tu môn tam muội nầy, hành giả dùng hai oai nghi ngồi và đi mà thay đổi để quán Phật hoặc niệm Phật, kỳ cho đến khi nào chứng nhập vào chánh định. Pháp nghi tu tập nầy lại có phần dễ hơn Nhất Hạnh Tam Muội—This is one of the sixteen samadhis explained in Chapter 24 of the Lotus Sutra. According to the T'ien-T'ai School, the 'three truths' (emptiness, conditional existence, the Middle Way) perfectly fused, are “Dharma,” while the Expedient and the True, being non-dual, are “blossom.” For example, when the petals (the Expedient) of the lotus blossom are not yet opened, its seeds (the True) are already formed; the seeds and the petals exist simultaneously. Thus, in a single flower, the full meaning of the True and the Expedient is examplified. In Pure Land terminology, we would say, “recitation is Buddha,” “form is Mind,” and one utterance of the Buddha's name includes the “three truths,” encompassing the True and the Expedient. If we recite the Buddha's name while understanding this principle, we are practicing the Lotus Blossom Samadhi. In cultivating this samadhi, the practitioner alternates between sitting and walking while visualizing Amitabha Buddha or reciting His name, to the point where he enters samadhi. This technique is somewhat easier than the Single-Practice Samadhi described above. 4) Tùy Tự Ý Tam Muội: Following One's Inclinations Samadhi—Pháp thức nầy có nghĩa là tùy tâm hoặc đi đứng, hoặc nằm ngồi, đều nhiếp niệm không rời danh hiệu Đức A Di Đà để tu chứng vào tam muội. Hành nghi đây lại còn có tên là “Lưu Thủy Niệm Phật.” Ví như dòng nước nơi sông cứ liên tục chảy mãi, dù gặp cây đá ngăn cản, nó chỉ dội lại rồi tìm lối chảy tiếp. Thông thường người tu theo môn nầy, cứ mỗi buổi khuya lễ Phật A Di Đà bốn mươi tám lạy, Quán Âm, Thế Chí và Đại Hải Chúng mỗi danh hiệu đều bảy lạy, kế quỳ xuống sám hối. Rồi từ đó cho đến tối, lúc đi đứng nằm ngồi đều niệm Phật, hoặc lần chuỗi ghi số, hoặc niệm suông, đến trước khi đi ngủ, lại lễ Phật một lần nữa và đem công đức tu trong ngày, mà phát nguyện hồi hướng vãng sanh. Trong khi hành trì nếu có tiếp xúc với các duyên, khi qua rồi vẫn trở lại niệm Phật. Pháp tu nầy tuy tùy tiện dễ dàng, nhưng phải khéo tránh bớt duyên và tâm bền bĩ mới mong thành tựu—With this technique, we walk or stand, lie down or sit up as we wish, constantly focussing our thoughts and never abandoning the sacred name Amitabha Buddha, attaining samadhi in the process. This practice is also called “Flowing Water Buddha Recitation.” It is like water continuously flowing in a river; if it encounters an obstacle such as a rock or a tree, it simply bounces back and continues to flow around it. Normally, the practitioner of this method, early each morning, bows forty-eight times to Amitabha Buddha, and seven times each to the Bodhisattva Avalokitesvara, the Bodhisattva Mahasthamaprapta, and the Ocean-Wide Assembly. He then kneels down to seek repentance. From then on until nightfall, whether walking, standing, lying down, or sitting up, he recites the Buddha's name, either fingering the rosary or simply reciting. Before going to bed, he bows once more to Amitabha Buddha and dedicates the merits of the whole day's practice toward rebirth in the Pure Land. If he is distracted during practice, he should resume recitation as soon as the circumstances of the distraction have passed. This method is flexible and easy, but the cultivator should minimize distracting conditions and have a good deal of perseverance.
tứ chủng tam muội da
The four samaya, i.e. the four pàràjanikas: killing, stealing, carnality, lying.
tứ chủng thiên
Bốn loại chư Thiên—Four classes of devas: 1) Từ 1 đến 3 cũng giống như Tam Chủng Thiên: From 1 to 3 are similar to that of the three classes of devas—See Tam Chủng Thiên. 4) Nghĩa Thiên: Tất cả Bồ Tát từ Thập trụ trở lên có thể ngộ giải được thâm nghĩa của Đại Thừa—All Bodhisattvas above the ten stages.
tứ chủng thiền định
Bốn loại thiền định—Four kinds of dhyana: (A) 1) Dục thần túc: Chanda-rddhi-pada, desire, or intensive longing, or concentration. 2) Cần thần túc: Virya-rddhi-pada—Energy or intensified effort. 3) Tâm thần túc: Citta-rddhi-pada—Memory or intense holding on to the position reached. 4) Quán thần túc: Mimamsa-rddhi-pada—Meditation or survey, the state of dhyana. (B) Theo Kinh Lăng Già—According to the Lankavatara Sutra: 1) Quán Sát Nghĩa Thiền: Thiền định nhằm quán sát ý nghĩa—Dhyana that surveys the meanings. 2) Ngu Phu Hành Thiền: Thiền định do phàm phu thực hành—Dhyana practiced by the ignorant. 3) Như Như Thực Pháp Thiền: Thiền định dựa vào như như—Dhyana depending on suchness. 4) Như Lai Thiền: Thiền định tính thuần của Như Lai—The Tathagata's pure Dhyana.
tứ chủng thành tựu pháp
The four kinds of altar-worship of the esoteric sect for: (1) averting calamities from self and others; (2) seeking good fortune; (3) seeking the love and protection of Buddhas; (4 subduing enemies. Also tứ chủng đàn pháp, tứ chủng tất địa.
Tứ chủng thụ ký 四種授記
[ja] シシュジュキ shisujuki ||| The four kinds of prediction of Buddhahood. In the Shoulengyan sanmei jing 首楞嚴三昧經 these are: (1) The prediction for those who have not yet arisen the mind of enlightenment. (2) The prediction for those who are at the point of arising the mind of enlightenment. (3) The secret prediction. (4) The prediction for those who have attained the level of unarisen tolerance. (See T vol. 15 p. 638c.) => Bốn loại thụ ký thành Phật. Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm tam muội, đó là: 1. Thụ ký cho người chưa phát tâm Vô thượng Bồ-đề. 2.Thụ ký cho người ngay khi vừa phát tâm Vô thượng Bồ-đề. 3. Thụ ký ngầm. 4. Thụ ký cho người đã đạt Vô sanh pháp nhẫn.
tứ chủng tà mệnh
Có bốn thứ tà mệnh—There are four improper ways of obtaining a living on the part of a monk: 1) Hạ Khẩu Thực: Trồng trọt, làm vườn, chế thuốc hay làm việc bằng tay chân để kiếm sống—To earn a livelihood by doing work with his hands. 2) Ngưỡng Khẩu Thực: Làm nghề chiêm tinh hay ngước lên trời xem tinh tú, mặt trời, mặt trăng, xem gió mưa sấm sét—To earn a livelihood by astrology (looking up in the sky to talk about stars). 3) Phương Khẩu Thực: Luồn cúi nịnh bợ (những nhà quyền thế giàu có để được họ ban cho ân huệ)—To earn a livelihod by flattery (rich people or powerful people). 4) Duy Khẩu Thực: Dùng chú thuật, bói toán lành dữ để kiếm cơm áo—To earn a livelihood by magic, spells, or by fortune-telling.
tứ chủng táng
Four forms of burial—See Tứ Táng.
tứ chủng tâm vương
Catubbidha-citta (p)—Four classes of consciousness—See Bốn Loại Tâm Vương.
tứ chủng tín tâm
The four kinds of faith given in the Khởi tín luận the Awakening of Faith: (1) in the Chân như, as the teacher of all Buddhas and fount of all actions; (2) in Buddha, or the Buddhas; (3) in the Dharma; and (4) in the Sangha.
; Bốn loại tín tâm theo Khởi Tín Luận—Four kinds of faith given in the Awakening of Faith—See Tứ Tín Tâm in Vietnamese-English Section.
Tứ chủng tịnh trí 四種淨智
[ja] シシュジョウチ shishu jōchi ||| See 〔二障義 HPC 1.806a7〕 => Xem Tứ trí 四智.
tứ chủng tịnh độ
Four kinds of Pure Land—See Bốn Cõi Tịnh Độ.
tứ chủng tổng trì
The four kinds of dhàrani.
; Bốn Loại Đà La Ni—Four kinds of Dharani: 1) Pháp Đà La Ni: Pháp Tổng Trì—Dharma Dharani. 2) Nghĩa Đà La Ni: Nghĩa Tổng Trì—Meaning Dharani. 3) Chú Đà La Ni: Chú Tổng Trì (Phật Giáo Tây Tạng)—Mantra Dharani (Tibetan Buddhism). 4) Nhẫn Đà La Ni: Nhẫn Tổng Trì—Patience Dharani.
Tứ chủng vô ký 四種無記
[ja] シシュムキ shishu muki ||| See 四無記. => Xem Tứ vô ký 四無記.
tứ chủng vũ trụ
Đạo Phật chủ trương rằng không có cái được tạo độc nhất và riêng rẽ. Vạn hữu trong vũ trụ, tâm và vật, khởi lên đồng thời; vạn hữu trong vũ trụ nương tựa lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và do đó tạo ra một bản đại hòa tấu vũ trụ của toàn thể điệu. Nếu thiếu một, vũ trụ sẽ không toàn vẹn; nếu không có tất cả, cái một cũng không. Khi toàn thể vũ trụ tiến tới một bản hòa âm toàn hảo, nó được gọi là “Nhất Chân Pháp Giới,” vũ trụ của cái một và cái thực, hay “Liên Hoa Tạng.” Trong vũ trụ lý tưởng đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong hòa điệu toàn diện, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của các hữu khác. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, mặc dù quan niệm viên dung và đồng khởi là vũ trụ, nó là một thuyết pháp giới duyên khởi, bản tính của hiện khởi là vũ trụ, nó là một thứ triết lý toàn thể tính của tất cả hiện hữu, hơn là triết học về nguyên khởi. Theo thuyết nầy, người ta phân biệt có bốn hạng vũ trụ—Buddhism holds that nothing was created singly or individually. All things in the universe, matter or mind, arose simultaneously, all things in its depending upon one another, the influence of each mutually permeating and thereby making a universe symphony of harmonious totality. If one item were lacking, the universe would not be complete; without the rest, one item cannot be. When the whole cosmos arrives at a harmony of perfection, it is called the “universe One and True,” or the “Lotus Store.” In this ideal universe all beings will be in perfect harmony, each finding no obstruction in the existence and activity of another. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, although the idea of the interdependence and simultaneous rise of all things is called the Theory of Universe Causation, the nature of the rise being universal, it is rather a philosophy of the totality of all existence than a philosophy of origination. According to this theory, four states of the universe are to be distinguished: 1) Sự Pháp Giới, thế giới của đời sống hiện thực, hay thế giới kiện tính: The real, or the world of actual life, the factual world. 2) Lý Pháp Giới, thế giới lý tưởng của định luật hay nguyên lý: The ideal, or the world of law or principle. 3) Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới, thế giới thể hiện lý trong sự; sự và lý cùng hòa điệu: The idea realized, or the world in which the principle is applied in actual life, or the fact and the principle harmonized. 4) Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới, thế giới tương giao hòa điệu giữa chính các sự, các hiện thực. Trong thế giới hiện thực, sự pháp giới, chủ nghĩa cá nhân có cơ nổi bật; cạnh tranh, xung đột, tranh luận và tranh chấp cũng sẽ làm rối loạn sự hòa điệu. Coi xung đột như chuyện đương nhiên, là đường lối của các nền triết học xưa nay. Đạo Phật dựng lên một thế giới trong đó đời sống hiện thực đạt tới chỗ hòa điệu lý tưởng: The real harmonized, or the world in which actuality attains harmony in itself. In the actual world individualism is apt to predominate, and competition, conflict, dispute and struggle too often will disturb the harmony. To regard conflict as natural is the way of usual philosophies. Buddhism sets up a world in which actual life attains an ideal harmony. ** For more information, please see Tứ Pháp Giới.
tứ chủng âm thanh quảng đại của đức như lai
Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện (37), âm thanh của Đức Như Lai không chủ không làm, không có phân biệt, chẳng phải nhập chẳng phải xuất, chỉ từ pháp lực công đức của Như Lai mà phát sanh bốn thứ âm thanh quảng đại—According to The Flower Adornment Scripture, Chapter Manifestation of Buddha (37),The voice of Buddha is without master or maker, without discrimination, not entering, not emerging, yet producing four great voices from the power of the virtuous qualities of Buddha. 1) Âm thanh quảng đại thứ nhất nói, “Đại chúng nên biết tất cả hành pháp đều là khổ. Những là địa ngục khổ, súc sanh khổ, ngạ quỷ khổ, không phước đức là khổ, chấp ngã và ngã sở là khổ (chấp cái tôi và cái của tôi), tạo những ác hạnh là khổ. Muốn sanh lên cõi trời hay nhơn gian phải gieo căn lành, sanh trong nhơn thiên rời khỏi các chỗ nạn.” Chúng sanh nghe xong bỏ lìa điên đảo tu những hạnh lành, rời khỏi những chỗ nạn mà sanh lên cõi nhơn thiên: The first great voice says, “You all should know that all conditioned states are miserable. There is the misery of hells, the misery of animality, the misery of hungry ghosthood, the misery of lack of virtue, the misery of clinging to self and possessions, the misery of evildoing. If you want to be born human or divine, you should plant roots of goodness. Born in the human world or in a heaven, you will leave all situations in which enlightenment is difficult.” Sentient beings, having heard this, give up error and perversity, practice good actions, leave all difficulties behind, and are born in the human world or in heaven. 2) Âm thanh quảng đại thứ hai nói, “Đại chúng nên biết tất cả hành pháp tràn đầy những khổ như hòn sắt nóng, hành pháp vô thường, là pháp diệt mất. Niết Bàn tịch tịnh vô vi an lạc lìa xa khốn khổ, tiêu sạch nhiệt não.” Chúng sanh nghe xong siêng tu pháp lành, nơi Thanh Văn thừa được tùy thuận âm thanh nhẫn: The second great voice says, “You should know that the myriad pains of all conditioned states are as searing as balls hot iron. Conditioned states are impermanent and pass away. Nirvana is tranquil, unfabricated well-being, beyond all burning, extinguishing all inflaming afflictions.” Having heard this, sentient beings diligently practice good principles, and in the vehicle of listeners to Buddha's voice attain the tolerance of conformity to the message. 3) Âm thanh quảng đại thứ ba nói, “Đại chúng nên biết Thanh Văn thừa do lời người khác mà được tỏ ngộ, trí huệ hẹp kém. Lại có Độc Giác thừa tỏ ngộ chẳng do thầy, đại chúng nên học.” Những người thích thắng đạo nghe lời nầy xong liền bỏ Thanh Văn thừa mà tu Độc Giác thừa: The third great voice says, “You should know that those in the vehicle of listeners follow the words of others to understand; their knowledge and wisdom is narrow and inferior. There is a higher vehicle called the vehicle of the individually awakened, whose enlightenment does not depend on a teacher. You should learn it.” Those inclined to a superior path, having heard this voice, give up the path of listeners and cultivate the vehicle of the individually awakened. 4) Âm thanh quảng đại thứ tư nói, “Đại chúng nên biết hơn hàng nhị thừa còn có thắng đạo gọi là Đại thừa, là chỗ tu hành của Bồ Tát thuận sáu môn Ba La Mật, chẳng dứt hạnh Bồ Tát, chẳng bỏ tâm Bồ Đề, ở vô lượng sanh tử mà chẳng mỏi nhàm, hơn hàng nhị thừa, gọi là Đại thừa, là đệ nhứt thừa, là thắng thừa, là tối thắng thừa, là thượng thừa, là vô thượng thừa, là thừa lợi ích tất cả chúng sanh.” Nếu có chúng sanh nào lòng tin hiểu rộng lớn, căn khí mạnh lẹ, đời trước gieo căn lành, được thần lực của Đức Như Lai gia hộ, có chí nguyện thù thắng mong cầu Phật quả, nghe lời nầy xong liền phát tâm Bồ Đề (see Bồ Đề Tâm): The fourth great voice says, “You should know that there is an even higher path beyond the ranks of these two vehicles, which is called the great vehicle, practiced by enlightening beings, following the six transcendent ways, not stopping enlightening practice, not relinquishing the determination for enlightenment, being in the midst of infinite birth and death without getting sick of it. Going beyond the two vehicles of individual liberation, it is called the Great Vehicle, the foremost vehicle, the preeminent vehicle, the supreme vehicle, the highest vehicle, the unexcelled vehicle, the vehicle of benefiting all sentient beings.” If there are any sentient beings whose resolve is very great, whose faculties are strong and keen, who have planted roots of goodness in the past, who are spiritually empowered by the Buddhas, who have superior inclinations and seek Buddhahood, once they have heard this voice they arouse the determination for enlightenment.
tứ chủng điên đảo
Four upside-down theories—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, phần Thập Hành Ấm Ma, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về bốn thứ điên đảo như sau: “Nầy A Nan! Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng tìm được chỗ tiện, cùng tột căn bản của 12 loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong tự và tha, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào bốn cái thấy điên đảo, một phần vô thường, một phần thường luận.”—In the Surangama Sutra, book Nine, in the part of the ten states of the formation skandha, the Buddha reminded Ananda about the four upside-down theories as follows: “Ananda! Further, in his practice of samadhi, the good person's mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate about self and others, he could fall into error with theories of partial impermanence and partial permanence based on four distorted views.” 1) Một là, người đó quán sát cái tâm diệu minh, khắp các cõi mười phương, trạm nhiên, cho là thần ngã hoàn toàn, từ đó chấp là thần ngã khắp mười phương, yên lặng, sáng suốt, chẳng động. Tất cả chúng sanh trong thần ngã, tâm tự sinh tự chết. Thì tính cách của ngã tâm là thường. Còn kia sinh diệt, thật là tính cách vô thường—First, as this person contemplates the wonderfully bright mind pervading the ten directions, he concludes that this state of profound stillness is the ultimate spiritual self. Then he speculates , “My spiritual self, which is settled, bright, and unmoving, pervades the ten directions. All living beings are within my mind, and there they are born and die by themselves. Therefore, my mind is permanent, while those who undergo birth and death there are truly impermanent." 2) Hai là, người đó chẳng quán sát cái tâm, chỉ xem xét khắp cả mười phương hằng sa quốc độ, thấy cái chỗ kiếp bị hư, gọi là chủng tính vô thường hoàn toàn. Còn cái chỗ kiếp chẳng bị hư, gọi là thường hoàn toàn—Second, instead of contemplating his own mind, this person contemplates in the ten directions worlds as many as the Ganges' sands. He regards as ultimately impermanent those worlds that are in eons of decay, and as ultimately permanent those that are not in eons of decay. 3) Ba là, người đó chỉ quán sát cái ngã tâm của mình, tinh tế nhỏ nhiệm, ví như vi trần lưu chuyển mười phương, tính không dời đổi. Có thể khiến thân nầy liền sinh liền diệt, mà nói là tính chẳng hoại, và gọi là ngã tính thường—Third, this person closely examines his own mind and finds it to be subtle and mysterious, like fine motes of dust swirling in the ten directions, unchanging in nature. And yet it can cause his body to be born and then to die. He regards that indestructible nature as his permanent intrinsic nature, and that which undergoes birth and death and flows forth from him as impermanent. 4) Bốn là, người đó biết tưởng ấm hết, thấy hành ấm còn lưu động. Hành ấm thường lưu động, nên chấp làm tính thường. Các ấm sắc, thụ, tưởng đã hết, gọi là vô thường. Vì so đo chấp trước một phần vô thường, một phần thường như trên, nên đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, knowing that the skandha of thinking has ended and seeing the flowing of the skandha of formations, this person speculates that the continuous flow of the skandha of formations is permanent, and that the skandhas of form, feeling, and thinking which have already ended are impermanent. Because of these speculations of impermanence and permanence, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature.
Tứ chủng điên đảo 四種顛倒
[ja] シシュテンドウ shishutendō ||| Four kinds of errors; which are four kinds of inverted understandings of reality: perceiving permanence when one should perceive impermanence; perceiving a self when one should perceive no-self; perceiving pleasure when one should be perceiving suffering and perceiving purity when one should be perceiving impurity. 〔寶性論T 1611.31.813a-848a〕 => Bốn loại sai lầm, bốn thứ nhận thức nghịch đảo về thực tại: lẽ ra là vô thường mà nhận thức là thường; lẽ ra là vô ngã mà nhận thức là ngã; lẽ ra là khổ mà nhận thức là vui; lẽ ra là bất tịnh mà nhận thức là thanh tịnh.
tứ chủng đàn pháp
Tứ Chủng Tất Địa—Tứ Chủng Thành Tựu Pháp—Bốn loại đàn pháp của Mật giáo—The four kinds of altar-worship of the esoteric sect: 1) Tức Tai Pháp: Tu pháp tu trừ ác sự cho mình và người khỏi bị bệnh hoạn tai ương—Averting calamities from self and others. 2) Tăng Ích Pháp: Tu pháp để tăng thêm phúc đức trí tuệ cho mình và người—Seeking good fortune for self and others. 3) Kính Ái Pháp: Tu pháp cầu đảo cho mình và người được chư Phật và Bồ Tát ái hộ—Seeking the love and protection of Buddhas and Bodhisattvas for self and others. 4) Hàng Phục: Điều Phục Pháp, hay phép cầu đảo cho mình và người để điều phục oán địch hay ác nhân—Subduing enemies.
tứ chủng độc
xem bốn thứ độc.
; Xem tứ độc.
tứ cá đại thừa
Bốn tông phái Đại Thừa—The four Mahayanas—The four Great Schools: (A) 1) Hoa Nghiêm: Hua-Yen or Avatamsaka. 2) Thiên Thai: T'ien-T'ai. 3) Chân Ngôn: Shingon—Esoteric—Chên-Yen. 4) Thiền: Zen—Ch'an—Intuitive School. (B) 1) Pháp Tướng: Mahayana-Dharmalaksana School. 2) Tam Luận: Madhyamika School of Nagarjuna. 3) Thiên Thai: T'ien-T'ai. 4) Hoa nghiêm: Hua-Yen or Avatamsaka.
tứ công đức
Four bases of virtue, Four virtues.
tứ cõi
Four realms—See Bốn Cõi.
Tứ cù 四衢
[ja] シク shiku ||| 'Four crossings.' An intersection (Huayan Wu jiao zhang). Another term for the Four Noble Truths. => Chỗ giao nhau. Tên gọi khác của Tứ diệu đế.
Tứ Cú
(四句): bốn câu. Nguyên tắc hình thành 4 câu này không quan hệ đến số lượng chữ để hình thành nên các bài kệ, bao hàm yếu nghĩa, triết lý của kinh luận; cho nên kinh dạy rằng nếu dùng 4 câu này để giáo hóa mọi người, hay tự mình thọ trì thì sẽ có công đức lớn. Đại Thừa Bản Sanh Tâm Địa Quán Kinh (大乘本生心地觀經) quyển 2 có dạy rằng: “Khuyên các chúng sanh, cùng phát tâm này, nên lấy pháp chơn thật, một kệ bốn câu, ban cho một chúng sanh, khiến cho hướng đến vô thượng chánh đẳng Bồ Đề; đó là chơn thật Ba La Mật Đa.” Từ Tứ Cú này có một số thuật ngữ liên quan như Tứ Cú Kệ (四句偈), Tứ Cú Thành Đạo (四句成道), Tứ Cú Niệm Phật (四句念佛), Tứ Cú Suy Kiểm (四句推檢), Tứ Cú Bách Phi (四句百非), v.v. Như bài Tứ Cú Kệ do quỷ La Sát thuyết cho đức Phật khi còn là tiên nhân tu trong núi Tuyết Sơn là: “Chư hành vô thường, hữu sinh hữu diệt, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc (諸行無常、有生有滅、生滅滅已、寂滅爲樂, các hành vô thường, có sinh có diệt, sinh diệt diệt hết, vắng lặng an vui”. Hay như trong Kim Cang Kinh (s: Vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, 金剛經) có Tứ Cú Kệ về 4 quả vị là “Ngộ đắc sơ cú, y nghĩa tu hành, tiện chứng Dự Lưu, Tu Đà Hoàn quả (悟得初句、依義修行、便證預流、須陀洹果, ngộ được câu đầu, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Dự Lưu, Tu Đà Hoàn quả)”; “Ngộ nhị cú ý, y nghĩa tu hành, tiện chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả (悟二句意、依義修行、便證一來、斯陀含果, câu hai ý ngộ, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả)”; “Ngộ tam cú ý, y nghĩa tu hành, tiện chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả (悟三句意、依義修行、便證不來、阿那含果, Câu ba ý ngộ, theo nghĩa tu hành, bèn chứng Nhất Lai, Tư Đà Hàm quả)”; “Ngộ tú cú ý, y nghĩa tu hành, sử chứng Vô Sanh, A La Hán quả (悟四句意、依義修行、使證無生、阿羅漢果, ngộ ý câu bốn, theo nghĩa tu hành, khiến chứng Vô Sanh, A La Hán quả)”. Tứ Cú Thành Đạo là bài kệ gồm 4 câu do vị A La Hán tụng lên khi thành đạo: “Chư lậu dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu (諸漏已盡、梵行已立、所作已辨、不受後有, các lậu đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng chịu thân sau)”. Hay Tứ Cú Niệm Phật là “Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát, Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (南無阿彌陀佛、南無觀世音菩薩、南無大勢至菩薩、南無清淨大海眾菩薩)”.
tứ cú
Catushkotika (S)Là có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Phàm tương đối đều ở trong tứ cú như chân, giả, nói, nín v.v... (chân, giả, chẳng chân chẳng giả, cũng chân cũng giả; nói, nín, chẳng nói chẳng nín, cũng nói cũng nín). Tất cả tri kiến tư tưởng của người đời đều chẳng ra ngoài tứ cú này.
; The four terms, phrases, or four-line verses.
; Là: có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Phàm tương đối đều ở trong Tứ cú, như chân, giả, nói, nín… (chân, giả, chẳng chân chẳng giả, cũng chân cũng giả; nói, nín, chẳng nói chẳng nín, cũng nói cũng nín). Tất cả tri kiến tư tưởng của người đời đều chẳng ra ngoài Tứ cú này.
; 1) Kệ bốn câu của Phật—Four lines of a Buddhist verse or gatha—The four terms, phrases or four line verses. 2) See Tứ Cú Phân Biệt.
tứ cú chấp
Catushkotika (skt)—Bốn thứ câu chấp của ngoại đạo—The four tenets held by various non-Buddhist schools: 1) Thường Cú: Câu Thường—Ngoại đạo chấp cái 'ngã' trong quá khứ tức là cái 'ngã' trong hiện tại, tương tục chẳng gián đoạn, nên gọi là thường kiến hay thường cú—The permanence of ego, i.e. that the ego of past lives is the ego of the present. 2) Vô Thường Cú: Câu Vô Thường—Ngoại đạo cho rằng cái 'ngã' đến đời nay mới sanh, chẳng phải sanh do cái nhân trong quá khứ, đây là đoạn kiến hay vô thường cú—Its permanence, i.e. that the present ego is of independent birth, not the result from the past causes. 3) Diệc Thường Diệc Vô Thường Cú: Chấp rằng 'ngã' thường, 'thân' vô thường (nếu chấp như vậy thì lìa thân không có ngã)—Both permanent and impermanent, that the ego is permanent, the body is impermanent. 4) Phi Thường Phi Vô Thường Cú: Ngoại đạo cho rằng thân có khác nên là phi thường; ngã thì không khác nên là phi vô thường—Neither permanent nor impermanent; that the body is impermanent, but the ego not impermanent.
tứ cú kệ
Gàtha (S). A stanza of four-line verses.
Tứ cú kệ 四句偈
[ja] シクゲ shikuge ||| A four-line (Chinese) verse (catuṣ-pādikā gāthā). => (s: catuṣ-pādikā gāthā). Bài kệ gồm bốn dòng (tiếng Hán).
Tứ cú phân biệt
四句分別; S: catuṣkoṭika; J: shiku fumbet-su;|Chỉ bốn cách lí luận, đó là : 1. Có (有; hữu); 2. Không (無; vô); 3. Vừa có vừa không (亦有亦無; diệc hữu diệc vô), 4. Không phải có cũng không phải không (非有非無; phi hữu phi vô).|Tứ cú phân biệt này tương ưng với bốn trường hợp của luận lí học ngày nay là: 1. Khẳng định; 2. Phủ định; 3. Chiết trung và 4. Hoài nghi (xem thêm Tứ liệu giản của Thiền sư Lâm Tế).
tứ cú phân biệt
Catuṣkoṭikā (S), Shiku fumbetsu (P).
; The four terms of differentiation, e.g. of all things into hữu the existing; không non existing; diệc hữu diệc không both; bất hữu bất không neither; or phenomenal, noumenal, both, neither. Also double, single, both, neither; and other similar applications.
; Catushkotika (skt)—Bốn câu phân biệt của vạn pháp—The four terms of differentiation of all things (four points of argumentation). (A) Tứ Cú Tam Luận Tông—The four points of argumentation of the Madhyamika School: 1) Hữu: Hữu nhi bất không. Nếu chúng ta diễn tả câu trả lời, nó phải là “Phải”—The existing. If we express our answer, it must be “Yes.” 2) Không: Không nhi bất hữu. Nếu chúng ta diễn tả câu trả lời, nó phải là “Không phải”—Non-existing. If we express our answer, it must be “No.” 3) Diệc Hữu Diệc Không: Vừa Hữu vừa Không. Nếu chúng ta diễn tả câu trả lời, nó phải là “Vừa phải vừa không phải”—Both existing and non-existing. If we express our answer, it must be “Either yes or no according to circumstances.” 4) Phi Hữu Phi Không: Chẳng phải có mà cũng chẳng phải không. Nếu chúng ta diển tả câu trả lời, nó phải là “Vừa không phải, vừa không không phải,” nghĩa là không đề cập đến câu hỏi hay không cần phải trả lời—Neither existing nor Non-existing. If we express our answer, it must be “Neither yes nor no,” i.e., having nothing to do with the question or no use answering. (B) Tứ Cú Thành Thật Tông—See Tứ Cú Phân Biệt (A). 1) Lý: Noumenal. 2) Sự: Phenomenal. 3) Vừa Lý vừa Sự: Both Noumenal and Phenomenal. 4) Phi Lý phi Sự: Neither Noumenal nor Phenomenal. (C) 1) Lưỡng: Double. 2) Đơn: Single. 3) Vừa Lưỡng vừa Đơn: Both Double and Single. 4) Phi Lưỡng phi Đơn: Neither Double nor Single.
Tứ cú phân biệt 四句分別
[ja] シクフンベツ shiku funbetsu ||| The fourfold negation. A, not-A, both A and not-A, neither A nor not-A (catuṣ-koti). Or, empty, not empty, both empty and not empty, neither empty nor not empty. => (s: catuṣ-koti). Bốn phủ định: A (không cái nào không là A), chẳng phải A, vừa A vừa chẳng phải A, vừa không phải A vừa chẳng phải không phải A. Hoặc là, không, chẳng không, vừa không vừa chẳng không, vừa chẳng không vừa chẳng phải chẳng không.
tứ cú suy kiểm
Dùng bốn câu để phân loại chư pháp—The four phrase classification of all phenomena: 1) Tự Nhân: Self-caused. 2) Tha Nhân: Caused by another. 3) Cộng Nhân: Caused by both (self and another). 4) Vô Nhân: Caused by neither. ** For more information, please see Tứ Bất Sinh.
tứ cú tam luận tông
Theo Tam Luận Tông, tứ cú là căn bản của mọi luận chứng—According to the San-Lun School, four points of argumentation are the bases of all arguments—See Tứ Cú Phân Biệt (A).
tứ cú thành đạo
The swan-song of an arhat, who has attained to the perfect life. "Chư lậu dĩ tận, Phạm hạnh dĩ lập, Sở tác dĩ biện, Bất thụ hậu hữu". All rebirths are ended, The noble life established, My work is accomplished, No further existence is mine.
; Bốn câu thành đạo của một vị A La Hán, dựa vào vô sinh trí mà tụng đọc bốn câu kệ nầy—The swan-song of an arhat, who has attained to the perfect life: Các lậu đã hết, All rebirths are ended, Phạm hạnh đã lập; The noble life established; Việc làm đã xong. My work is accomplished. Chẳng thụ hữu lậu. No further existence is mine.
Tứ cú 四句
[ja] シク shiku ||| "Four phrases," meaning gāthā (偈, 伽陀). A gāthā is usually made up of four sets of eight Chinese characters. Also written 四句偈. There are other more specific uses of the term, such as in 四句分別, 四句推撿, etc. Một bài kệ bốn câu, gọi là kệ, già-đà (偈, 伽陀s: gāthā). Một bài kệ thường tạo thành bởi 1đoạn 4 câu gồm 8 chữ Hán. Còn gọi là Tứ cú kệ. Ngoài ra còn có những cách dùng chuyên biệt về thuật ngữ nầy, như Tứ cú phân biệt, Tứ cú suy kiểm,v.v...
tứ cúng dường
Four kinds of offerings. 1) Hợp Chưởng: Anjali (skt)—Salutation with joined palms—See Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Dâng Nước Thơm: Argha (skt)—Offering of fragrant water. 3) Chân Ngôn Ấn Khế: Manual signs for the Buddha true words—See Ấn Khế. 4) Vận Tâm: Vận tâm thành Phật—To practice one's mind toward the Buddhahood.
tứ căn bổn tánh
See Tứ Trụy Lạc Pháp.
tứ căn bổn tội
See Tứ trụy Lạc Pháp.
tứ cấm
Parajika (S). Xem tứ ba la di.
tứ cổ
Bốn kim cang chùy—The four-armed svastika or thunderbolt.
tứ cực trọng cảm đọa tội
Tứ Ba La Di—Tứ Trọng—Tứ Khí—See Tứ Đọa Lạc.
tứ di giới
Bốn tội Ba La Di—See Tứ Đọa.
tứ di tội
Bốn tội Ba La Di—See Tứ Đọa.
tứ diện tỳ lô giá na
Bốn mặt của Đức Tỳ Lô Giá Na, Pháp thân trí tuệ của Ngài—The four-faced Vairocana, his dharmakaya of Wisdom.
Tứ diệu đế
xem Bốn chân đế.
; 四妙諦; S: catvāri ārya-satyāni; P: cattāri ari-ya-saccāni; cũng gọi là Tứ thánh đế (四聖諦).|Bốn chân lí cao cả, là gốc cơ bản của giáo pháp đạo Phật. Bốn chân lí đó là: |1. Khổ đế (苦諦; s: duḥkhasatya), chân lí về sự Khổ; 2. Tập khổ đế (集苦諦; s: samu-dayasatya), chân lí về sự phát sinh của khổ; 3. Diệt khổ đế (滅苦諦; s: duḥkhanirodha-satya), chân lí về diệt khổ; 4. Ðạo đế (道諦; s: mārgasatya), chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ.|Chân lí thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (五蘊; s: pañcaskandha; p: pañcakhan-dha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.|Chân lí thứ hai cho rằng nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: ta-ṇhā), tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (輪迴; s, p: saṃsāra).|Chân lí thứ ba nói rằng một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.|Chân lí thứ tư cho rằng phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh (無明; s: avi-dyā; p: avijjā).|Theo truyền thuyết, thông qua sự khám phá Tứ diệu đế, Ðức Phật đạt Giác ngộ (覺悟; s, p: bodhi). Ngài bắt đầu giáo hoá chúng sinh bằng giáo pháp này, tại Lộc uyển.|Phật thuyết như sau về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân (bản dịch của Thích Minh Châu):|»Này các tỉ-khâu, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ; thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.|Này các tỉ-khâu, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỉ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.|Này các tỉ-khâu, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả li, giải thoát, tự tại đối với các ái.|Này các tỉ-khâu, đây chính là Ðạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường thánh tám ngành: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.«
tứ diệu đế
Catvāri-āryasatyāni (S).
; Xem tứ đế.
; Bốn chân lý nhiệm mầu trong giáo lý nhà Phật, nói rõ vì đâu có khổ và con đường giải thoát. Người ta nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng bài pháp đầu tiên về “Tứ Diệu Đế” trong vườn Lộc Uyển, sau khi Ngài giác ngộ thành Phật. Trong đó Đức Phật đã trình bày: “Cuộc sống chứa đầy đau khổ, những khổ đau đó đều có nguyên nhân, nguyên nhân của những khổ đau nầy có thể bị hủy diệt bằng con đường diệt khổ.”—Four Truths—The Four Noble Truths—The Four Philosophies—A fundamental doctrine of Buddhism which clarifies the cause of suffering and the way to emancipation. Sakyamuni Buddha is said to have expounded the Four Noble Truths in the Deer Park in Sarnath during his first sermon after attaining Buddhahood. The Buddha organized these ideas into the Fourfold Truth as follows: “Life consists entirely of suffering; suffering has causes; the causes of suffering can be extinguished; and there exists a way to extinguish the cause.” 1) Khổ Đế: Duhkha-satya (skt)—Sự thật về khổ—Mọi hiện hữu đều có bản chất khổ chứ không mang lại toại nguyện (sự khổ vô biên vô hạn, sanh khổ, già khổ, bịnh khổ, chết khổ, thương yêu mà phải xa lìa khổ, oán ghét mà cứ gặp nhau là khổ, cầu bất đắc khổ, vân vân. Khổ đeo theo ngũ uẩn như sắc thân, sự cảm thọ, tưởng tượng, hình ảnh, hành động, tri thức)—Suffering or the pain—The truth of suffering—All existence entails suffering—All existence is characterized by suffering and does not bring satisfaction. 2) Tập Đế: Samudhaya-satya (skt)—Sự thật về căn nguyên của cái khổ—The truth of accumulation. • Tập Đế là sự thật rõ ràng về nguồn gốc của những nỗi khổ—Truth of the causes of suffering: Theo giáo lý nhà Phật, tham ái là nguyên nhân của đau khổ. Những dục vọng xấu xa nảy nở từ những việc vụn vặt trong gia đình, lan ra ngoài xã hội, và nổ lớn thành chiến tranh giữa các chủng tộc, giữa các quốc gia, hay giữa những phe nhóm của các quốc gia trên thế giới—According to Buddhist tenets, craving or desire is the cause of suffering. It creates dissension in the family and society that degenerates into war between races, nations, and groups of nations in the world. • Ngu si là nguyên nhân của mọi cái khổ (sự ham sống làm cho chúng sanh cứ mãi chết đi sống lại, hễ ham sống tất ham vui sướng, ham quyền thế, ham tài sản, càng được càng ham)—The truth of the origin of suffering or causes of suffering, or its location—All sufferings are caused by ignorance, which gives rise to craving and illusions (craving or grasping the wrong things), i.e. craving for life, for pleasure, for power, for wealth; the more he earns, the more he wants. 3) Diệt Đế: Nirodha-satya (skt)—Chân lý diệt khổ—Cứu cánh diệt khổ là Niết bàn tịnh tịch (nếu chịu hạ lòng tham xuống rồi bỏ nó đi, hay trục nó ra khỏi mình thì gọi là diệt)—The truth of the cessation of suffering (its cessation)—The truth of dissolution—Extinction of suffering—There is an end to suffering, and this state of no suffering is called Nirvana. 4) Đạo Đế: Marga-satya (skt)—Chân lý về con đường diệt khổ, ấy là thực hành Bát Thánh đạo. Đức Phật đã dạy rằng: “Bất cứ ai chấp nhận Tứ Diệu Đế và chịu hành trì Bát Chánh Đạo, người ấy sẽ hết khổ và chấm dứt luân hồi sanh tử.”—The truth of the PATH that leads to the cessation of suffering (the way of cure)—The truth of the right way—The way of such extinction—To practice the Eight-fold Noble Truths—Buddha taught: “Whoever accepts the four dogmas, and practises the Eighfold Noble Path will put an end to births and deaths.
tứ duy
xem bốn phương phụ.
; Bốn hướng phụ—The four half points (corners) of the compass: 1) Đông Bắc: North-East. 2) Tây Bắc: North-West. 3) Đông Nam: South-East. 4) Tây Nam: South-West.
tứ duyên khởi
See Tứ Duyên Sanh.
tứ duyên sanh
Tứ Duyên Khởi—Theo giáo thuyết tông Hoa Nghiêm, có bốn loại duyên khởi—According to the doctrine of the Hua-Yen sect, there are four principal uses of conditional causation: 1) Nghiệp Cảm Duyên Khởi: Giáo lý duyên khởi của Tiểu Thừa, dưới ảnh hưởng của nghiệp điều kiện tái sanh nẩy sanh—The conditional causation of the Hinayana, i.e. under the influence of karma the conditions of reincarnation arise—See Duyên Khởi (III) (1). 2) Lại Da Duyên Khởi: Thủy giáo của Đại Thừa, tất cả vạn sự vạn vật đều khởi lên từ A Lại Da Thức hay Tàng Thức—The doctrine of the conditional causation of the Mahayana, that all things arise from the Alaya or fundamental store—See A Lại Da Thức, and Duyên Khởi (III) (2). 3) Như Lai Tạng Duyên Khởi hay Chân Như Duyên Khởi: Chung Giáo của Đại Thừa, tất cả vạn sự vạn vật đều khởi lên từ Như Lai Tạng hay chân như—The doctrine of conditional causation of the advancing Mahayana, that all things arise from the Tathagata-Garbha or Bhutatathata—See Như Lai Tạng, and Duyên Khởi (III) (3). 4) Pháp Giới Duyên Khởi: Viên Giáo (trừ Đốn Giáo vì loại nầy theo tông chỉ 'vô tướng ly ngôn'), trong đó một là tất cả, tất cả là một—The doctrine of conditional causation of Complete Mahayana, in which one is all and all are one, each being a universal cause—See Pháp Giới Duyên Khởi, and Duyên Khởi (III) (4).
Tứ duyên 四縁
[ja] シエン shien ||| 'four conditions', 'four causes.' {I} In the Consciousness-only 唯識 school, a broad division into four types, of the causes that produce all things. In this case, the ideograph yuan 縁 has the meaning of yin 因. This classification is used especially in explaining the "nature of dependent arising 依他起性." The explanation of the relationship of these four causes to the "six causes" 六因 differs between Consciousness-only and Abhidharma-kośa. The four are: (1) yinyuan 因縁 (hetu-pratyaya) a direct internal cause that produces a result. Refers to newly producing the fruit of a person--seeds and their manifestation. The production by the seeds in the ālaya Consciousness of the world cognized through the seven consciousnesses. (2) dengwujianyuan 等無間縁 (saṃanantara-pratyaya) Since the prior instant of mind/mental functioning gives rise directly to the succeeding instant of mind, there is no gap in their leading into one another. Also called cidiyuan 次第縁. (3) suoyuanyuan 所縁縁 'Object as condition' (ālambana-pratyaya). For the mind to arise, its object must be present, so every object becomes a cause for the mind. These objects are discriminated into the two types of 親 and 疎. (4) zengshangyuan 増上縁 (adhipati-pratyaya) 'Causes beyond direct empowerment.' This group includes all indirect causes outside the above three. Not only those things which give power to the production of results, but things which merely do not impede or hinder. {II} In the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經, the Four Elements (四大). {III} In the Vajrasaṃādhi-sūtra, the four causes are: (1) 作擇滅力取縁; (2) 本利根淨所集起縁; (3) 本慧大悲力縁; (4) 一覺通智力縁. (T vol. 9, p. 370c) => Bốn duyên I. Theo tông Duy thức., phân chia rộng thành 4 loại, các duyên sinh hết thảy các pháp. Trong trường hợp nầy, chữ duyên (yuan 縁) có ý nghĩa như chữ nhân (yin 因). Sự phân loại nầy đặc biệt dùng để giải thích “ tánh y tha khởi” (依他起性). Sự giải thích về mối tương quan của 4 duyên nầy với “lục nhân” có khác nhau giữa Duy thức và A-tỳ-đạt-ma Câu-xá. Bốn duyên là: 1.Nhân duyên (因縁 c: yinyuan; s: hetu-pratyaya): nguyên nhân trực tiếp bên trong tạo nên kết quả. Như việc người ta tạo ra quả--từ hạt giống và sự biểu hiện (nẩy mầm). Sự phát sinh nhờ hạt giống trong thức A-lại-da được xem là thông qua thức thứ 7. 2. Đẳng vô gián duyên (等無間縁 c: dengwujianyuan; s: saṃanantara-pratyaya); Do vì niệm trước của tâm, tâm sở sinh khởi ngay trong sự tương tục của tâm, không có một khoảng hở trong khi niệm này diệt rồi phát sinh niệm khác. Còn gọi là Thứ đệ duyên (c: cidiyuan 次第縁). 3. Sở duyên duyên (所縁縁c: suoyuanyuan; s: ālambana-pratyaya). Vì khi tâm sinh khởi, đối tượng của tâm phải hiện hữu, thế nên mọi đối tượng đều trở thành nhân của tâm và tâm sở. Những đối tượng nầy được phân biệt thành hai loại là thân và sơ. 4. Tăng thượng duyên (増上縁c: zengshangyuan; s: adhipati-pratyaya): Nhóm nầy bao gồm mọi mọi nguyên nhân trực tiếp bên ngoài vượt trên cả 3 duyên trước. Không những các duyên trợ lực cho kết quả mà kể cả các duyên không gây chướng ngại. II. Theo kinh Viên Giác, Tứ duyên là Tứ đại. III. Theo kinh Kim Cương Tam muội (s: Vajrasaṃādhi-sūtra), Tứ duyên là: 1. Tác trạch diệt lực thủ duyên; 2. Bản lợi căn tịnh sở tập khởi duyên; 3. Bản huệ đại bi lực duyên; 4. Nhất giác thông trí lực duyên.
tứ dân
The four classes of people in the feudal society: 1) Sĩ: Scholars. 2) Nông: Farmers. 3) Công: Craftsmen. 4) Thương: Merchants.
tứ dạ bát trú
The four hours of the night and the eight hours of the day: (A) Tứ Dạ từ 7 giờ tối đến 3 giờ sáng—The four hours of the night from 7:00 PM to 3:00 AM: 1) Giờ Tuất (từ 7 đến 9 giờ tối): The hours of the Dog from 7:00 PM to 9:00 PM. 2) Giờ Hợi (từ 9 đến 11 giờ tối): The hours of the Pig from 9:00 PM to 11:00 PM. 3) Giờ Tý (từ 11 giờ tối đến 1 giờ sáng): The hours of the Rat from 11:00 PM to 1:00 AM. 4) Giờ Sửu (từ 1 đến 3 giờ sáng): The hours of the Buffalo (or the Ox) from 1:00 AM to 3:00 AM. (B) Bát Trú từ 3 giờ sáng đến 7 giờ tối—The eight hours of the day from 3:00 AM to 7:00 PM: 1) Giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng): The hours of the Tiger from 3:00 AM to 5:00 AM. 2) Giờ Mẹo (từ 5 đến 7 giờ sáng): The hours of the Cat (or the Rabbit) from 5:00 AM to 7:00 AM. 3) Giờ Thìn (từ 7 đến 9 giờ sáng): The hours of the Dragon from 7:00 AM to 9:00 AM. 4) Giờ Tỵ (từ 9 đến 11 giờ sáng): The hours of the Serpent from 9:00 AM to 11:00 AM. 5) Giờ Ngọ (từ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa): The hours of the Horse from 11:00 AM to 1:00 PM. 6) Giờ Mùi (từ 1 đến 3 giờ trưa): The hours of the Goat from 1:00 PM to 3:00 PM. 7) Giờ Thân (từ 3 đến 5 giờ chiều): The hours of the Monkey from 3:00 PM to 5:00 PM. 8) Giờ Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối): The hours of the Cock from 5:00 PM to 7:00 PM.
tứ dụ
The four metaphors (of infinity, etc.): sơn cân the weight of all mountains in pound; hải the drops in the ocean; địa trần the atoms of dust in the earth; không giới the extent of space.
; Bốn dẫn dụ—The four metaphors of infinity: 1) Sơn Cân: The weight of all the mountains in pounds. 2) Hải Trích: The drops in the ocean. 3) Địa Trần: The atoms of dust in the earth. 4) Không Giới: The extent of space.
tứ dục
The four desires or passions: tình dục sexual love; sắc dục sexual beauty or attractiveness; thực dục food; dâm dục lust.
; Four desires or passions: 1) Tình Dục: Bị lôi cuốn bởi tình dục—Sexual love. 2) Sắc Dục: Bị lôi cuốn bởi sắc đẹp—Attractiveness or Sexual beauty. 3) Thực Dục: Tham ăn ngon—craving, or lust for good food. 4) Dâm Dục (nhục dục): Lust.
Tứ dục 四欲
[ja] シヨク shiyoku ||| The four desires:qing 情 emotional love; se 色 sexual attraction; shi 食 food; yin 婬 lust. => Bốn loại ham muốn: tình, sắc, thực, dâm.
tứ dự lưu hướng chi
Sotapattiyangani (p)—Four factors of Stream-Attainment—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn Dự Lưu Quả Chi—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four factors of Stream-Attainment: 1) Thiện nhân thân cận (đi lại với thiện hữu tri thức): Sappurisa-samseva (p)—Association with good people. 2) Diệu Pháp thính thọ (nghe Chánh Pháp): Hearing the true Dharma. 3) Như lý tác ý: Thorough attention. 4) Pháp tùy pháp hành (thực hành giáo pháp liên tục): Practicing of the Dharma in its entirety.
tứ dự lưu quả chi
Four characteristics of a Stream-Winner—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn Dự Lưu Quả Chi—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four characteristics of a Stream-Winner: 1) Thành Tựu Lòng Tin Tuyệt Đối Với Phật: Ở đây Thánh đệ tử thành tựu lòng tin tuyệt đối với Phật, đây là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật—Here, the Ariyan disciple is possessed of unwavering confidence in the Buddha, this: “This Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha, endowed with wisdom and conduct, the Well-Farer, Knower of the worlds, incomparable Trainer of men to be tamed, Teachers of gods and humans, enlightened and blessed. 2) Thành Tựu Lòng Tin Tuyệt Đối Với Pháp: Vị nầy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp, đây là Pháp được Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, Pháp ấy là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, chỉ người có trí mới tự mình giác hiểu—He is possessed of unwavering confidence in the Dharma, thus: “Well-proclaimed by the Lord is the Dharma, visible here and now, timeless, inviting inspection, leading onward, to be comprehended by the wise each one for himself.” 3) Thành Tựu Lòng Tin Tuyệt Đối Nơi Giáo Đoàn: Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối nơi chúng Tăng. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ diệu hạnh, đầy đủ trực hạnh, đầy đủ như lý hạnh, đầy đủ chánh hạnh; đây là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời—He is possessed of unwavering confidence in the Sangha, thus: “Well-directed is the Sangha of the Lord's disciples, of upright conduct, on the right path, on the perfect path; that is to say the four pairs of persons, the eight kinds of men. The Sangha of the Lord's disciples is worthy of veneration, an unsurpassed field of merit in the world.” 4) Thành Tựu Giới Đức Được Các Vị Thánh Ái Mộ: Vị nầy thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị hư hoại, không bị tì vết, được thực hành liên tục, không bị khiếm khuyết, khiến con người tự tại, được bậc Thánh tán thán, không bị nhiễm ô, hướng đến thiền định—He is possessed of morality dear to the Noble Ones, unbroken, without defect, unspotted, without inconsistency, liberating, praised by the wise, uncorrupted, and conducive to concentration.
tứ eá
Bốn màn che phủ—The four films or things that becloud: 1) Mưa Mây: Rain-clouds. • Biểu tượng của tham dục: Emblematic of desire. 2) Bão Cát: Dust-storms. • Biểu tượng của sân hận: Emblematic of hate. 3) Khói: Smoke. • Biểu tượng của vô minh: Emblematic of ignorance. 4) Nhật Thực hay Nguyệt Thực: Asuras—Eclipse of sun and moon. • Biểu tượng của ngã mạn cống cao: Emblematic of pride.
tứ gia hạnh
Xem tứ thiện căn.
; 1) The four good roots—See Tứ Thiện Căn (B). 2) Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc ngài A Nan về tứ gia hạnh như sau: “Ông A Nan! Người thiện nam đó, thảy đều thanh tịnh, 41 tâm gần thành bốn thứ diệu viên gia hạnh.”—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda as follows: “Ananda! When these good men have completely purified these forty-one minds, they further accomplish four kinds of wonderfully perfect additional practices.” a) Noãn Địa: The level of heat—Lấy Phật giác để dùng làm tâm mình, dường như hiểu rõ Phật giác mà kỳ thật chưa hiểu rõ. Ví dụ như khoang cây lấy lửa, lửa sắp cháy lên, mà chưa thật sự cháy. Đây gọi là noãn địa—When the enlightenment of a Buddha is just about to become a function of his own mind, it is on the verge of emerging but has not yet emerged, and so it can be compared to the point just before wood ignites when it is drilled to produce fire. Therefore, it is called 'the level of heat.' b) Đỉnh Địa: Level of the summit—Lại lấy tâm mình thành đường lối đi của Phật, dường như nương mà chẳng phải nương. Như lên núi cao, thân vào hư không, dưới chân còn chút ngại. Gọi là Đỉnh Địa—He continues on with his mind, treading where the Buddhas tread, as if relying and yet not. It is as if he were climbing a lofty mountain, to the point where his body is in space but there remains a slight obstruction beneath him. Therefore it is called 'the level of the summit.' c) Nhẫn Địa: Level of patience—Tâm và Phật đồng nhau, thì khéo được trung đạo. Như người nhẫn việc, chẳng phải mang sự oán, mà cũng chẳng phải vượt hẳn sự ấy. Đó gọi là nhẫn địa—When the mind and the Buddha are two and yet the same, he has well obtained the middle way. He is like someone who endures something when it seems impossible to either hold it in or let it out. Therefore it is called ''he level of patience.'' d) Thế đệ nhất địa: Level of being first in the world—Số lượng tiêu diệt, trung đạo giữa mê và giác, đều không còn tên gọi. Đây gọi là thế đệ nhất địa—When numbers are destroyed, there are no such designations as the middle way or as confusion and enlightenment; this is called the 'level of being first in the world.' ** For more information, please see Tứ Thiện Căn.
tứ gia hạnh pháp
tứ thiện cănGồm: Noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất pháp.
Tứ gia đại thừa. 四家大乘
[ja] シケダイジョウ shike daijō ||| Four schools of Mahāyāna: (1) Huayan 華嚴 , Tiantai 天台, Zhenyan 眞言 and Chan 禪. (2) Faxiang 法相, Sanlun 三論, Tiantai and Huayan. => Bốn tông phái Đại thừa. Có hai cách sắp xếp: 1. Hoa nghiêm; Thiên thai; Chân ngôn; và Thiền. 2. Pháp tướng, Tam luận, Thiên thai và Hoa nghiêm.
tứ giai cấp ấn độ
Bốn giai cấp ở Ấn Độ vào thời Đức Phật còn tại thế. Chế độ giai cấp bất bình đẳng của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ gây nên áp bức, nghi kỵ, và thù hiềm lẫn nhau; từ đó phát sinh những phong trào chống đối và cải cách. Đây là sự kiện khiến Phật giáo xuất hiện. Ngoài bốn giai cấp kể trên, còn có một hạng người thuộc giai cấp Chiên Đà La, bị các giai cấp trên coi như giai cấp thấp nhất, gờm nhớp mà không ai dám đụng tới, bị đối xử tàn nhẫn như thú vật—Four classes or castes in India at the time of the Buddha. The hierarchical structure of the Hindu old society resulted in oppression, suspicion, resentment and hostility. From there sprung opposition movements and hostility. This is why Buddhism had come out as a spiritual counter-force. Apart from these four castes, there is still a fifth category of people called Candala, the lowest one, regarded by the other castes as untouchables who are mistreated and exploited: 1) Bà La Môn: Brahman (skt)—Giai cấp tu sĩ tịnh hạnh (họ chuyên về lễ nghi tế tự, họ cậy vào thế lực Ấn Độ Giáo—Hinduism, luôn luôn củng cố địa vị và quyền lợi ăn trên ngồi trước của họ). Họ tạo ra nhiều huyền thoại để củng cố địa vị của mình. Theo Kinh Vệ Đà thì hạng Bà La Môn đời đời nối nghiệp giữ đạo cổ truyền trong sạch của cha ông, người giảng giải kinh Vệ Đà, thầy dạy về kiến thức tôn giáo, và chủ chăn hay là gạch nối giữa con người, thế giới và Thượng đế. Những vị nầy phải giữ gìn tịnh hạnh như ăn chay, cử rượu, vân vân—One who observes ascetic practices. They created so many legends to strengthen and consolidate their powers. According to the Vedics, Brahmans were traditionally the custodians, interpreters, and teachers of religious knowledge, and as priests, acted as intermediaries between humans, the world, and God. They were expected to maintain pure conduct and observe dietary rules, e.g. vegetarianism, abstinence from alcohol, etc. • Họ cho rằng Bà La Môn sanh ra từ miệng của Phạm Thiên: Brahman, born from the mouth of Brahma or Lord of the heavens. • Sát Đế Lợi sanh ra từ vai của Phạm Thiên: Ksattriya, born from the shoulders of Brahma. • Phệ Xá sanh ra từ hông của Phạm Thiên: Vaisya, born from the flanks of Brahma. • Thủ Đà La sanh ra từ bàn chân của Phạm Thiên: Sudra, born from the feet of Brahma. 2) Sát Đế Lợi: Ksattriya (skt)—Giai cấp quý tộc (giữ quyền thống trị đất nước về quân sự và hành chánh)—Military and ruling. 3) Phệ Xá: Vaisya (skt)—Giai cấp thương nhân và địa chủ (họ chuyên buôn bán và làm chủ các sở đất)—Traders and landlords. 4) Thủ Đà La: Sudra (skt)—Nông nô hay giai cấp nông dân và tôi mọi (họ là những người bị dân tộc Nhã Lợi An—Aryan chinh phục, sai khiến, và bắt buộc làm nô lệ cho ba giai cấp vừa kể trên)—Farmers and serfs.
tứ giai thành phật
The four Hinayana steps for attaining Buddhahood—See Tứ Giai Thành Đạo.
Tứ giai thành Phật 四階成佛
[ja] シカイジョウブツ shikaijōbutsu ||| The 'four stages in the attainment of buddhahood': (1) The myriad practices of the three great incalculable eons; (2) The hundred kalpas practice of good marks; (3) The cutting off of doubts in the first eight bhūmi; (4) Sitting in meditation and arising the 34 mindfulnesses to cut off all non-conceptual doubts and become a Buddha. => Bốn giai đoạn tu hành thành Phật: 1. Tu tập vô số công hạnh trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp. 2. Tu tạo tướng hảo trong 100 kiếp. 3. Trừ sạch các hoặc trong tám địa (bhūmi) đầu tiên. 4. Toạ thiền phát khởi 34 chính niệm trừ sạch các Kiến hoặc, Tư hoặc và thành Phật.
tứ giai thành đạo
Tứ Giai Thành Phật—Bốn bậc đều thành đạo hay việc thành đạo của Tiểu Thừa có bốn bậc—The four Hinayana steps for attaining Buddhahood: 1) Tam Kỳ: The myriad deeds of the three asankhyeya kalpas. 2) Trăm Kiếp: The continually good karma of a hundred great kalpas. 3) Thân cuối cùng đoạn trừ phiền não của tám địa dưới: In the final body the cutting off of the illusions of the lower eight states. 4) Tam Thập Tứ Tâm Đoạn Phi Tưởng Hoặc: Ba mươi bốn tâm đoạn trừ phi tưởng hoặc—The taking of one's seat on the bodhi-plot for final enlightenment, and the cutting off of the thirty-four forms of delusive thought.
tứ giác
The four "intelligences, or apprehensions" of the Awakening of Faith Khởi Tín Luận: bản giác, tương tự giác, tùy phần giác and cứu kính giác.
; Bốn thứ giác ngộ theo Đại Thừa Khởi Tín Luận—The four intelligences or apprehensions mentioned in the Awakening of Faith (Khởi Tín Luận): 1) Bổn Giác: Tự tánh thanh tịnh tâm của hết thảy chúng sanh vốn dĩ lìa vọng niệm và có đức chiếu minh—The original apprehension. 2) Tương Tự Giác: Giác được tri kiến và tư hoặc mà lìa được chúng—Resembling to apprehension. 3) Tùy Phần Giác: Từng phần đoạn vô minh, từng phần giác chân giáo—Partial apprehension. 4) Cứu Cánh Giác: Đã đoạn hết căn bản vô minh, chứng được chân giác cứu cánh—Enlightened apprehension.
tứ giáo
Bốn giáo—Four teachings, doctrines or schools: (A) Quang Trạch Tứ Giáo của Ngài Pháp Vân ở chùa Quang Trạch đời Lương mượn ba xe kề cửa và trâu trắng lớn ngoài đường trong nhà lửa đang cháy được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The four schools of Fa-Yun of the Kuang-Chai monastery are the four vehicles referred to in the burning house parable of the Lotus Sutra: 1) Thanh Văn Thừa Giáo: Chỉ việc Phật thuyết pháp Tứ Đế—Sravaka and the Buddha's preaching of the doctrine of the Four Noble Truths. 2) Duyên Giác Thừa Giáo: Chỉ việc Phật thuyết pháp mười hai nhân duyên—Pratyeka-buddha and the Buddha's preaching of the twelve nidanas. 3) Bồ Tát Thừa Giáo: Chỉ việc Phật thuyết Lục Độ Ba La Mật—Bodhisattva and the Buddha's preaching of the six paramitas. 4) Nhất Phật Thừa Giáo: Chỉ Thực Giáo—Buddhayana—The final or one vehicle. (B) Thiên Thai Tứ Giáo—The T'ien-T'ai four vehicle teaching: 1) Tạng Giáo: Chính thống Tiểu thừa—The tripitaka doctrine or orthodox Hinayana. 2) Thông Giáo: The Intermediate or Interrelated doctrine, such as Hinayana-cum-Mahayana. 3) Biệt Giáo: Biệt Giáo như Nguyên Thủy Đại Thừa—The Differentiated or separated doctrine, such as Early Mahayana. 4) Viên Giáo: Viên giáo hay toàn giáo được tìm thấy trong Kinh Pháp Hoa—The Perfect teaching or the last is being found in the final or complete doctrine of the Lotus Sutra. (C) Hiểu Công Tứ Giáo: Do Nguyên Hiểu ở chùa Hải Đông lập ra—Founded by Yuan-Hsiao of the Hai-Tung monastery: 1) Tam Thừa Biệt Giáo: Tiêu biểu bởi Tứ Đế Duyên Khởi Kinh—The Differentiated doctrine of Three Vehicles, represented by the Sutra of Arising Causes in the Four Noble truths. 2) Tam Thừa Thông Giáo: Tiêu biểu bởi Kinh Bát Nhã (cả ba Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát cùng học)—The Intermediate doctrine of the Three Vehicles, represented by the Prajna Sutra. 3) Nhất Thừa Phần Giáo: Tiêu biểu bởi Kinh Phạm Võng (Bồ Tát chẳng học cùng với Nhị Thừa)—The Partial doctrine of the One Vehicle, represented by the Brahma Net Sutra. 4) Nhất Thừa Mãn Giáo: Tiêu biểu bởi Kinh Hoa Nghiêm—The complete doctrine of the One Vehicle, represented by the Flower-Adornment Sutra (Hua-Yen). (D) Uyển Công Tứ Giáo—The group of Hi-Yuan: 1) Mê Chân Dị Chấp Giáo: Phàm phu ngoại đạo mê muội về chân tính nên khởi lên nhiều dị chấp—The school of unbelievers, who are misled and mislead. 2) Chân Nhất Phần Bán Giáo: Chỉ Thanh Văn và Duyên Giác, chỉ chứng được một phần sự (hiện tượng) chân như hay một phần của “tùy duyên bất biến của chân như.”—The school of sravakas and pratyeka-buddhas who know only the phenomenal bhutatathata. 3) Chân Nhất Phần Mãn Giáo: Bồ Tát sơ tâm chỉ chứng được một phần lý chân như hay một phần “bất biến” mà chẳng được “tùy duyên.”—The school of the novitiate Bodhisattvas who know only the noumenal bhutatathata. 4) Chân Cụ Phần Mãn Giáo: Bồ Tát hiểu rõ cả hai “tùy duyên” và “bất biến”—The school of fully developed Bodhisattvas, who know both. (E) Long Thọ Tứ Giáo—Bồ tát Long Thọ dùng bốn môn để phân tách và giải thích Kinh Luận—Nagarjuna's division of the canon: 1) Hữu Môn: Chỉ về bộ Kinh A Hàm (hết thảy nhân quả đều thực hữu)—The school of existence, dealing with existence or reality, represented by the Agama Sutra. 2) Không Môn: Tiêu biểu bởi Kinh Bát Nhã (thuyết về chân lý không thực tướng để trừ bỏ tánh chấp trước của chúng sanh)—The school of Void, represented by the Prajna Sutra. 3) Diệc Hữu Diệc Không Môn: Tiêu biểu bởi Kinh Thâm Mật (thuyết về tính không tướng hữu)—The school of both Existence and the Void, represented by the Sutra of Secret and Profound Meaning. 4) Phi Hữu Phi Không Môn: Tiêu biểu bởi Trung Luận (phá bỏ cả hữu lẫn không)—The school of neither Existence nor Void, represented by the Madhyamika Sastra.
tứ giáo nghi
Tác phẩm sáu quyển của Ngài Trí Khải của Tông Thiên Thai sáng tác tác vào đời nhà Tùy—A work of six books of Chih-I of T'ien-T'ai, during the Suy dynasty.
Tứ giáo nghi 四教義
[ja] シキョウギ Shikyōgi ||| The Sijiaoyi, T 1929.46.721a-769a. A twelve fascicle work by Zhiyi 智顗, the founder of Tiantai Buddhism. This treatise is devoted to the detailed and systematic exposition of the Four Teachings (one of the schemes by which the Buddhist sutras and treatises are arranged in the Tiantai tenet classification system). The four teachings are: (1) sancang 三藏the Tripitaka teaching; (2) tong 通 the Pervasive or 'shared' teaching; (3) bie 別 the Distinct teaching and (4) yuan 圓 the Complete teaching. Originally it formed a part of his commentary on the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經, which he finished in 595 C.E. => Tác phẩm gồm 12 quyển của Trí Khải (智顗c: Zhiyi ), tổ sáng lập Phật giáo Thiên Thai. Chuyên luận nầy cống hiến chi tiết và hệ thống toàn thể về Tứ giáo (một trong các hệ thống trong đó kinh luận Phật giáo được sắp xếp theo phán giáo của tông Thiên Thai). Tứ giáo nghi là: 1. Tam tạng ; 2. Thông; 3. Biệt; 4. Viên. Khởi thuỷ, sự phán giáo nầy đã tạo nên phần đầu trong luận giải về kinh Duy-ma-cật do ngài biên soạn xong vào năm 595.
tứ giáo ngũ thời
Thiên Thai Tứ Giáo Ngũ Thời—The T'ien-T'ai doctrine of the four developments of the Buddha's own teaching (four main doctrinal schools) and the five periods of the above developments: (A) Thiên Thai Tứ Giáo: The T'ien-T'ai four developments of the Buddha's own teaching—See Tứ Giáo (B). (B) Thiên Thai Ngũ Thời: The T'ien-T'ai five periods of the Buddha's teaching—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo and Ngũ Thời Giáo.
tứ giáo tam mật
Thiên Thai Tứ Giáo Chân Ngôn Tam Mật—The T'ien-T'ai's four open schools and the Shingon three esoteric teaching: (A) Thiên Thai Tứ Giáo: The T'ien T'ai four open schools—See Tứ Giáo (B). (B) Chân Ngôn Tam Mật: The Shingon three esoteric teachings: 1) Chân Ngôn Thân Mật: The Shingon esoteric teaching (special function) of the body. 2) Chân Ngôn Khẩu Mật: The Shingon esoteric teaching (special function) of the mouth. 3) Chân Ngôn Ý Mật: The Shingon esoteric teaching (special function) of the mind.
tứ giáo tam quán
Thiên Thai Tứ Giáo Tam Quán—The T'ien-T'ai four main doctrinal divisions and its three kinds of meditation: (A) Thiên Thai Tứ Giáo: The T'ien-T'ai four main doctrinal divisions—See Tứ Giáo (B). (B) Thiên Thai Tam Quán: The T'ien-T'ai three kinds of meditation—See Tam Quán.
tứ giáo tứ môn
The four sects four doors—See Tứ Môn and Thiên Thai Tam Giáo.
tứ giáo địa
Four stages of the four four developments of the Buddha's own teaching—See Tứ Giáo (B).
tứ giới
(A) Tứ Pháp Giới—The realms—See Tứ Pháp Giới. (B) Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có Tứ Đại—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four elements: 1) Đất: Pathavi-dhatu (p)—Earth. 2) Nước: Apo-dhatu (p)—Water. 3) Lửa: Tejo-dhatu (p)—Fire. 4) Gió: Vayo-dhatu (p)—Wind or Air. (C) Bốn loại giới luật—Four stages in moral development: 1) Giải Thoát Giới: Giới từ bỏ thế tục để trở thành tu sĩ—Morality of release or deliverance from the world on becoming a monk. 2) Định Công Giới: Khi nhập tứ thiền định thì thân sanh giới thể có công năng phòng ngừa điều sai và ngăn chặn điều ác—Morality that arising from the four meditations on the realms of form. 3) Đạo Cộng Giới: Loại giới của những bậc từ kiến đạo hay sơ Bồ Tát trở lên, chứng được đạo vô lậu có khả năng phòng phi chỉ ác—Morality of those who are in or above the stage of beholding the truth (the first stage of Bodhisattva). 4) Đoạn Giới: Loại giới giúp hành giả đoạn tận tham sân si để thành đạo quả—Morality which help practictioners end allmoral evil and cease all delusions. (D) Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về bốn giới quan trọng—According to the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about the four important precepts. 1) Đoạn Dâm—Cutting off lust: a) Nếu các chúng sanh trong các thế giới ở lục đạo, mà tâm chẳng dâm, thì không bị sinh tử nối tiếp: If living beings in the six paths of any mundane world had no thoughts of lust, they would not have to follow a continual succession of births and deaths. b) A Nan! Ông tu tam muội, gốc để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm chẳng trừ, thì không thể ra được: Ananda! Your basic purpose in cultivating is to transcend the wearisome defilements. But if you don't renounce your lustful thoughts, you will not be able to get out of the dust. c) Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, nhưng chẳng đoạn dâm, thì quyết bị lạc về ma đạo: Even though one may have some wisdom and the manifestation of Zen Samadhi, one is certain to enter demonic paths if one does not cut off lust. d) Thượng phẩm là ma vương, trung phẩm là ma dân, hạ phẩm là ma nữ: At best, one will be a demon king; on the average, one will be in the retinue of demons; at the lowest level, one will be a female demon. e) Các ma kia cũng có đồ chúng, đều tự xưng mình thành vô thượng đạo: These demons have their groups of disciples. Each says of himself he has accomplished the unsurpassed way. f) Sau khi tôi diệt độ, trong đời mạt pháp, phần nhiều các ma dân ấy xí thịnh trong đời, hay làm việc tham dâm, làm bậc thiện tri thức, khiến các chúng sanh lạc vào hầm ái kiến, sai mất đường Bồ Đề: After my extinction, in the Dharma-Ending Age, these hordes of demons will abound, spreading like wildfire as they openly practice greed and lust. Calming to be good knowing advisors, they will cause living beings to fall into the pit of love and views and lose the way to Bodhi. g) A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, trước hết phải đoạn dâm: Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must first of all sever the mind of lust. h) Ấy gọi là lời dạy rõ ràng thanh tịnh, quyết định thứ nhứt của Như Lai: This is the first clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come Ones and the Buddhas of the past, World Honored Ones. i) Vì cớ đó nếu chẳng đoạn dâm mà tu thiền định, ví như nấu cát muốn thành cơm, trải qua trăm nghìn kiếp chỉ thấy cát nóng mà thôi: Therefore, Ananda, if cultivators of Zen Samadhi do not cut off lust, they will be like someone who cooks sand in the hope of getting rice, after hundreds of thousands of eons, it will still be just hot sand. j) Tại sao? Bởi vì cát không phải là bản nhân của cơm: Why? It wasn't rice to begin with; it was only sand. k) A Nan! Nếu ông đem cái thân dâm mà cầu diệu quả của Phật, dù được diệu ngộ, cũng đều là dâm căn, căn bản thành dâm, luân chuyển trong ba đường, quyết chẳng ra khỏi: Ananda! If you seek the Buddha's wonderful fruition and still have physical lust, then even if you attain a wonderful awakening, it will be based in lust. With lust at the source, you will revolve in the three paths and not be able to get out. l) Do đường lối nào tu chứng Niết Bàn của Như Lai? Quyết khiến thân tâm đều đoạn cơ quan dâm dục, đoạn tính cũng không còn, mới có thể trông mong tới Bồ Đề của Phật: Which road will you take to cultivate and be certified to the Thus Come One's Nirvana? You must cut off the lust which is intrinsic in both body and mind. Then get rid of even the aspect of cutting it off. At that point you have some hope of attaining the Buddha's Bodhi. m) Như thế tôi nói, gọi là Phật thuyết. Nói chẳng đúng thế, tức là ma Ba Tuần thuyết: What I have said here is the Buddha's teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan. 2) Đoạn Sát—Cutting off killing: a) A Nan! Nếu các chúng sanh trong các thế giới ở lục đạo, mà tâm chẳng sát, thì không bị sanh tử nối tiếp: Ananda! If living beings in the six paths of any mundane world had no thoughts of killing, they would not have to follow a continual succession of births and deaths. b) A Nan! Ông tu tam muội, gốc để vượt khỏi trần lao, nếu sát tâm chẳng trừ, thì không thể ra khỏi được: Ananda! Your basic purpose in cultivating samadhi is to transcend the wearisome defilements. But if you do not remove your thoughts of killing, you will not be able to get out of the dust. c) A Nan! Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, nhưng chẳng đoạn nghiệp sát, thì quyết lạc về thần đạo: Ananda! Even though one may have some wisdom and the manifestation of Zen Samadhi, one is certain to enter the path of spirits if one does not cease killing. d) Thượng phẩm là đại lực quỷ, trung phẩm làm phi hành dạ xoa, các quỷ soái, hạ phẩm là địa hành la sát. Các quỷ thần ấy cũng có đồ chúng, đều tự tôn mình thành vô thượng đạo: At best, a person will become a mighty ghost; on the average, one will become a flying yaksha, a ghost leader, or the like; at the lowest level, one will become an earth-bound rakshasa. These ghosts and spirits have their groups of disciples. Each says of himself that he has accomplished the unsurpassed way. e) Sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp, nhiều quỷ thần ấy xí thịnh trong đời, tự nói: “Ăn thịt cũng chứng được Bồ Đề.”—After my extinction, in the Dharma-Ending Age, these hordes of ghosts and spirits will aboud, spreading like wildfire as they argue that eating meat will bring one to the Bodhi Way. f) A Nan! Tôi khiến các Tỳ Kheo ăn ngũ tịnh nhục, thịt đó đều do tôi thần lực hóa sinh, vẫn không mạng căn, vì rằng về đất Bà La Môn, phần nhiều ẩm thấp, lại thêm nhiều đá, nên cây cỏ và rau không sinh. Tôi dùng thần lực đại bi giúp, nhân đức từ bi lớn, giả nói là thịt. Ông được ăn các món đó: Ananda! I permit the Bhikshus to eat five kinds of pure meat. This meat is actually a transformation brought into being by my spiritual powers. It basically has no life-force. You Brahmans live in a climate so hot and humid, and on such sandy and rocky land, that vegetables will not grow. Therefore, I have had to assist you with spiritual powers and compassion. Because of the magnitude of this kindness and compassion, what you eat that tastes like meat is merely said to be meat; in fact, however, it is not. g) Thế sau khi Như Lai diệt độ rồi, các Thích tử lại ăn thịt chúng sanh?—After my extinction, how can those who eat the flesh of living beings be called the disciples of Sakya? h) Các ông nên biết: người ăn thịt đó, dù được tâm khai ngộ giống như tam ma địa, cũng đều bị quả báo đại la sát. Sau khi chết quyết bị chìm đắm biển khổ sinh tử, chẳng phải là đệ tử Phật. Những người như vậy giết nhau, ăn nhau, cái nợ ăn nhau vướng chưa xong thì làm sao ra khỏi được tam giới?—You should know that these people who eat meat may gain some awareness and may seem to be in samadhi, but they are all great rakshasas. When their retribution ends, they are bound to sink into the biter sea of birth and death. They are not disciples of the Buddha. Such people as they kill and eat one another in a never-ending cycle. How can such people transcend the triple realm? i) A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, phải đoạn nghiệp sát sanh: Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must also cut off killing. j) Ấy gọi là lời dạy rõ ràng, thanh tịnh và quyết định thứ hai của Như Lai: This is the second clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come Ones and the Buddhas of the past, World Honored Ones. k) Vì cớ đó, nếu chẳng đoạn sát mà tu thiền định, ví như người bịt tai nói to, muốn cho người đừng nghe. Nhu thế gọi là muốn dấu lại càng lộ: Therefore, Ananda, if cultivators of Zen Samadhi do not cut off killing, they are like one who stops up his ears and calls out in a loud voice, expecting no one to hear him. It is to wish to hide what is completely evident. l) Các Tỳ Kheo thanh tịnh cùng các Bồ Tát lúc đi đường chẳng dẫm lên cỏ tươi, huống chi lấy tay nhổ: Bhikshus and Bodhisattvas who practice purity will not even step on grass in the pathway; even less will they pull it up with their hand. m) Thế nào là đại bi khi lấy chúng sanh huyết nhục để làm món ăn: How can one with great compassion pick up the flesh and blood of livign beings and proceed to eat his fill? n) Nếu các Tỳ Kheo chẳng mặc các đồ tơ lụa của đông phương, và những giày dép, áo, lông, sữa, phó mát, bơ của cõi nầy. Vị đó mới thật là thoát khỏi thế gian. Trả lại cái nợ trước hết rồi, chẳng còn đi trong ba cõi nữa: Bhikshus who do not wear silk, leather boots, furs, or down from this country or consume milk, cream, or butter can truly transcend this world. When they have paid back their past debts, they will not have to re-enter the triple realm. o) Tại sao? Dùng một phần thân loài vật, đều là trợ duyên sát nghiệp. Như người ăn trăm thứ lúa thóc trong đất, chân đi chẳng dời đất: Why? It is because when one wears something taken from a living creature, one creates conditions with it, just as when people eat the hundred grains, their feet cannot leave the earth. p) Quyết khiến thân tâm không nỡ ăn thịt hay dùng một phần thân thể của chúng sanh, tôi nói người đó thật là giải thoát: Both physically and mentally one must avoid the bodies and the by-products of living beings, by neither wearing them nor eating them. I say that such people have true liberation. q) Tôi nói như vậy, gọi là Phật nói. Nói không đúng thế, tức là ma Ba Tuần thuyết: What I have said here is the Buddha's teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan. 3) Đoạn Đạo—Cutting off stealing: a) A Nan! Nếu các chúng sanh trong các thế giới ở lục đạo, mà tâm chẳng thâu đạo, thì chẳng theo nghiệp ấy bị sanh tử tương tục: Ananda! If living beings in the six paths of any mundane world had no thoughts of stealing, they would not have to follow a continuous succession of births and deaths. b) A Nan! Ông tu tam muội, cốt để thoát khỏi trần lao, nếu cái “thâu tâm” chẳng trừ thì quyết không thể ra khỏi được: Ananda! Your basic purpose in cultivating samadhi is to transcend the wearisome defilements. But if you do not renounce your thoughts of stealing, you will not be able to get out of the dust. c) A Nan! Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, , như chẳng đoạn đạo nghiệp, quyết lạc về tà đạo. Thượng phẩm làm loài tinh linh, trung phẩm làm loài yêu mị, hạ phẩm làm người tà, bị mắc cái yêu mị: Ananda! Even though one may have some wisdom and the manifestation of Zen Samadhi, one is certain to enter a devious path if one does not cease stealing. At best, one will be an apparition; on the average, one will become a phantom; at the lowes level, one will be a devious person who is possessed by a Mei-Ghost. d) Các loại tà ấy cũng có đồ chúng, đều tự tôn mình thành vô thượng đạo: These devious hordes have their groups of disciples. Each says of himself that he has accomplished the unsurpassed way. e) Sau khi tôi diệt độ, trong đời mạt pháp, nhiều loài tà mị ấy xí thịnh trong đời, dấu diếm sự gian trá, xưng là thiện tri thức. Họ tự tôn mình được pháp của bậc thượng nhân, dối gạt những kẻ không biết, khủng bố khiến người kia mất cái tâm, đi đến đâu làm nhà cửa của người bị hao tổn: After my extinction, in the Dharma-Ending Age, these phantoms and apparitions will abound, spreading like wildfire as they surreptitiously cheat others. Calling themselves good knowing advisors, they will each say that they have attained the superhuman dharmas. Enticing and deceiving the ignorant, or frightening them out of their wits, they disrupt and lay watse to households wherever they go. f) Tôi dạy các Tỳ Kheo đi các nơi khất thực, khiến bỏ cái tham, thành đạo Bồ Đề: I teach the Bhikshus to beg for their food in an assigned place, in order to help them renounce greed and accomplish the Bodhi Way. g) Các ông Tỳ Kheo chẳng tự nấu chín mà ăn, tạm ở đời cho qua cái sống thừa, ở trọ tạm ba cõi, chỉ một mặt đi qua, rồi không trở lại (nhất lai): The Bhikshus do not prepare their own food, so that, at the end of this life of transitory existence in the triple realm, they can show themselves to be once-returners who go and do not come back. h) Thế nào cái người giặc, mượn y phục của tôi, buôn bàn pháp của Phật để nuôi mình, tạo các nghiệp, đều nói là Phật pháp: How can thieves who put on my robes and sell the Thus Come One's dharmas, saying that all manner of karma one creates is just the Buddhadharma? i) Trở lại chê người xuất gia, giữ giới cụ túc là đạo tiểu thừa: They slander those who have left the home-life and regard Bhikshus who have taken complete precepts as belonging to the path of the small vehicle. j) Bởi vậy làm nghi lầm vô lượng chúng sanh, kẻ đó sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián: Because of such doubts and misjudgments, limitless living beings fall into the Unintermittent Hell. k) Nếu sau khi tôi diệt độ, có ông Tỳ Kheo phát tâm quyết định tu tam ma đề, có thể đối trước hình tượng Phật, nơi thân phần, làm một cái đèn, hoặc đốt một ngón tay, và trên thân đốt một nén hương. Tôi nói người ấy một lúc đã trả xong các nợ trước từ vô thủy, từ giả luôn thế gian, thoát khỏi các hoặc lậu. Dù chưa liền nhận rõ đường vô thượng giác, người ấy đã quyết định tâm với pháp: I say that Bhikshus who after my extinction have decisive resolve to cultivate samadhi, and who before the images of Thus Come Ones can burn a candle on their bodies, or burn off a finger, or burn even one incense stick on their bodies, will in that moment, repay their debts from beginningless time past. They can depart from the world and forever be free of outflows. Though they may not have instantly understood the unsurpassed enlightenment, they will already have firmly set their mind on it. l) Nếu chẳng làm chút nhân nhỏ mọn bỏ thân như vậy, dù thành đạo vô vi, quyết phải trở lại sinh trong cõi người, để trả nợ trước. Như tôi ăn lúa của ngựa ăn không khác. A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, sau sự đoạn dâm, đoạn sát, phải đoạn thâu đạo: If one does not practice any of these token renunciations of the body on the causal level, then even if one realizes the unconditioned, one will still have to come back as a person to repay one's past debts exactly as I had to undergo the retribution of having to eat the grain meant for horses. Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must also cease stealing. m) Ấy gọi là lời dạy rõ ràng, thanh tịnh, quyết định thứ ba của Như Lai: This is the third clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come One and the Buddhas of the past, World Honored Ones. n) A Nan! Bởi vậy nếu chẳng đoạn thâu đạo mà tu thiền định, ví như người đổ nước vào chén vỡ, muốn cho đầy chén, dù trải qua nhiều kiếp, không bao giờ đầy: Therefore, Ananda, if cultivators of Zen Samadhi do not cease stealing, they are like someone who pours water into a leaking cup and hopes to fill it. He may continue for as many eons as there are fine motes of dust, but it still will not be full in the end. o) Nếu các Tỳ Kheo, ngoài y bát ra, một phân một tấc cũng chẳng nên chứa để. Đồ ăn xin được, ăn thừa, ban lại cho chúng sanh đói. Giữa chúng nhóm họp, chắp tay lễ bái, có người đánh và mắng, xem như là khen ngợi. Quyết định thân tâm, hai món đều dứt bỏ. Thân thịt cốt huyết, cho chúng sanh dùng: If Bhikshus do not store away anything but their robes and bowls; if they give what is left over from their food-offerings to hungry living beings; if they put their palms together and make obeisance to the entire great assembly; if when people scold them they can treat it as praise: if they can sacrifice their very bodies and minds, giving their flesh, bones, and blood to living creatures. p) Chẳng đem quyền nghĩa của Phật nói, xoay làm kiến giải của mình, để lầm kẻ sơ học. Phật ấn chứng cho người ấy được chân tam muội: If they do not repeat the non-ultimate teachings of the Thus Come One as though they were their own explanations, misrepresenting them to those who have just begun to study, then the Buddha gives them his seal as having attained true samadhi. q) Tôi nói như vậy, gọi là Phật thuyết. Nói chẳng đúng thế, gọi là ma thuyết: What I have said here is the Buddha's teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan. 4) Đoạn Vọng—Cutting off false speech: a) A Nan! Như các chúng sanh trong mọi thế giới ở lục đạo, dù thân tâm không có sát, đạo, dâm, ba hạnh ấy đã viên mãn. Nếu đại vọng ngữ thì tam ma địa chẳng được thanh tịnh, thành ái kiến ma, mất giống của Như Lai: Ananda! Though living beings in the six paths of any mundane world may not kill, steal, or lust either physically or mentally, these three aspects of their conducts thus being perfect, yet if they tell lies, the samadhi they attain will not be pure. They will become demons of love and views and will lose the seed of the Thus Come One. b) Gọi là: chưa được nói là được, chưa chứng nói là chứng. Hoặc cầu được tôn quý thứ nhất trong đời. Nghĩa là trước mọi người nói: “Tôi đã chứng sơ quả, nhị, tam quả, A La Hán, Duyên Giác, Bồ tát trước và sau Thập Địa.” Cầu cho người lễ bái sám hối. Tham những món cúng dường: They say that they have attained what they have not attained, and what they have been certified when they have not been certified, perhaps they seek to be foremost in the world, the most vererated and superior person. To their audiences they say that they have attained the fruition of a Shrotaapanna, the fruition of a Sakridagamin, the fruition of an Anagamin, the fruition of an Arhat, the Pratyeka Buddha vehicle, or the various levels of Bodhisattvahood up to and including the ten grounds, in order to be revered by others and because they are greedy for offerings. c) Ấy là một loại “tín bất cụ,” tiêu diệt giống Phật, như người lấy dao cắt cây đa la: These Icchantikas destroy the seeds of Buddhahood just as surely as a Tala tree is destroyed. d) Phật ghi rằng người ấy trọn mất căn lành, không còn tri kiến, chìm ba biển khổ, chẳng thành tam muội: The Buddha predicts that such people sever their good roots forever and lose their knowledge and vision. Immersed in the sea of the three sufferings, they cannot attain samadhi. e) Sau khi tôi diệt độ, khiến các vị Bồ tát cùng A La Hán nên ứng thân sinh trong đời mạt pháp, hiện các hình tướng, để độ các kẻ bị luân chuyển. Hoặc làm sa môn, cư sĩ, nhân vương, tể quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến dâm nữ, quả phụ, kẻ cắp, vân vân đồng sự với người đời, tán thán Phật thừa. Khiến giúp họ thân tâm được vào tam ma địa: I command the Bodhisattvas and Arhats to appear after my extinction in response-bodies in the Dharma-Ending Age, and to take various forms in order to rescue those in the cycle of rebirth. They should either become Shramanas, elite-robed lay people, kings, ministers or officials, virgin youths or maidens, and so forth, even prostitutes, widows, profligates, thieves, butchers, or dealers in contraband, doing the same things as these kinds of people while they praise the Buddha Vehicle and cause them to enter samadhi in body and mind. f) Không bao giờ nói: “Tôi thật là Bồ Tát, thật là A La Hán,” tiết lộ mật nhân của Phật, và khinh kẻ chưa học: But they should never say of themselves, 'I am truly a Bodhisattva;' or 'I am truly an Arhat,' or let the Buddha's secret cause leak out by speaking casually to those who have not yet studied. g) Trừ ra khi chết, bí mật có di chúc cho Phát tử. Thế nào là người nói láo mê loạn chúng sanh thành tội vọng ngữ?—How can people who make such claims, other than at the end of their lives and then only to those who inherit the Teaching, be doing anything but deluding and confusing living beings and indulging in a gross false claims? h) A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, sau chót phải đoạn trừ các đại vọng ngữ, ấy gọi là lời dạy rõ ràng, thanh tịnh, quyết định thứ tư của Như Lai: Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must also cease all lying. This is the fourth clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come Ones and the Buddhas of the past, World Honored Ones. i) Bởi vậy, nếu chẳng đoạn đại vọng ngữ, như lấy phân người khắc thành hình hương chiên đàn, muốn được mùi thơm, không có lẽ ấy: Therefore, Ananda, one who does not cut off lying is like a person who carves a piece of human excrement to look like Chandana, hoping to make it fragrant. He is attempting the impossible. j) Tôi dạy Tỳ Kheo rằng: Trực Tâm là Đạo Tràng,” với bốn uy nghi, trong tất cả hạnh, không có hư giả: I teach the Bhikshus that the straight mind is the Bodhimanda and that they should practice the four awesome deportments in all their activities. Since they should be devoid of all falseness, how can they claim to have themselves attained the dharmas of a superior person? k) Thế nào tự xưng được pháp thượng nhân. Ví dụ người nghèo khó, mạo xưng là đế vương, tự cầu lấy cái chết. Huống chi pháp vương, thế nào lại hư vọng? Nhân địa chẳng chân chính, kết quả bị cong queo. Cầu Phật Bồ Đề, như người cắn rún, không thể nào được: That would be like a poor person falsely calling himself an emperor; for that, he would be taken and executed. Much less should one attempt to upsurp the title of dharma king. When the cause-ground is not true, the effects will be distorted. One who seeks the Buddha's Bodhi in this way is like a person who tries to bite his own navel. Who could possibly succeed? l) Nếu các Tỳ Kheo Tâm Thẳng như Dây Đàn, tất cả chân thật, vào tam ma địa, trọn không bao giờ có sự ma. Tôi ấn chứng người ấy thành tựu Bồ Đề vô thượng trí giác. Nói như tôi nói, gọi là Phật thuyết. Nói chẳng đúng thế, tức là ma thuyết: If Bhikshus' minds are as straight as lute strings, true and real in everything they do, then they can enter samadhi and never be involved in the deeds of demons. I certify that such people will accomplish the Bodhisatvas' unsurpassed knowledge and enlightenment. What I have said here is the Buddha's teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan.
tứ giới hối quá
Patidesaniya (skt)—Theo Tôn Sư Minh Đăng Quang trong Luật Nghi Khất Sĩ, chữ Patidesaniya là gốc chữ Bắc Phạn, có nghĩa là phát lồ xưng ra sự vi phạm luật xuất gia trước Giáo Hội. Bốn giới Ba La Đề Xá Ni là những vi phạm mà hình phạt phải được Giáo Hội quyết định—According to Most Honorable Master Minh Đăng Quang in The Rules for Mendicant Bhiksus, the word Patidesaniya is a Sanskrit word means a confession of an offence or some sort of transgression of monastic rules which ought to be confessed before the Order, and the punishments for these offences are decided by the Order. 1) Cấm chẳng đau mà ăn nhờ đồ của Tỳ Kheo Ni xa lạ: A monk should not eat or partake of solid food or soft food, having accepted it with his own hand from the hand of a nun who is not a relation. 2) Cấm chẳng từ chối Tỳ Kheo Ni nói với thí chủ đãi cơm cho mình (khi thí chủ mời chư Tăng đến nhà thiết đãi Trai Tăng. Nếu có một vị Tỳ Kheo Ni đến bên bảo thí chủ đem đến cho chư Tăng món cà ri, món cơm, vân vân. Vị Tăng phải quở trách ngay vị Tỳ Kheo Ni ấy “Ni sư nên đứng qua một bên khi chư Tăng đang thọ dụng.” Nếu không là phạm phải tội Ba La Đề Xá Ni): When a householder invites a monk to come to the family. If a nun comes to be standing as though giving directions, saying: “Here give curry, give cooked rice here,” that nun should be rebuked by the monk, saying: “Stand aside, sister, while the monks eat.” If not, the monk violates the Patidesaniya. 3) Cấm xin mãi một nhà, làm cho người ta nghèo túng: A monk should not keep begging for foods at the same house to cause them to be poor because of their continuous offerings. 4) Cấm sư ẩn cư ở chỗ nguy hiểm, để có sự nguy hại cho thí chủ khi đem cơm tới cho mình: A monk should not reside in those jungle lodgings that are dangerous and frightening for donators who travel to offer foods and drinks.
tứ giới nhiếp trì
Tứ đại là phần vật chất trì giữ chư pháp—The four elements (earth, water, fire, wind) are the substance and upholders of all things.
tứ hoa
The four (divine) flowers: mạn đà la mandàra, ma ha mạn đà la mahàmandàra, mạn thù sa manjùsaka, ma ha mạn thù sa mahàmanjùsaka. Also pundarìka, utpala, padma, and kumuda, or white, blue, red, and yellow lotuses.
; Bốn loại hoa—The four divine flowers: (A) 1) Hoa Mạn Đà La: Sen trắng nhỏ—Mandara—Small white lotuses. 2) Hoa Ma Ha Mạn Đà La: Sen trắng lớn—Mahamadara—Large white lotuses. 3) Hoa Mạn Thù Sa: Sen đỏ nhỏ—Manjusaka—Small red lotuses. 4) Hoa Ma Ha Mạn Thù Sa: Sen đỏ lớn—Mahamanjusa—Large red lotuses. (B) 1) Hoa Phân Đà Lợi: Sen trắng—Pundarika—White lotuses. 2) Hoa Ưu Bát La: Sen xanh—Utpala—Blue lotuses. 3) Bát Đặc Ma: Sen hồng—Padma—Red lotuses. 4) Câu Vật Đầu: Sen vàng—Kumuda—Yellow lotuses.
Tứ hoạn 四患
[ja] シカン shikan ||| 'four afflictions.' In the Nirvāna-sūtra these are: impermanence, suffering, no-self and impurity. => Bốn mối lo, bốn phiền não. Theo kinh Niết-bàn, đó là: Vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh.
Tứ hoằng thệ nguyện
四弘誓願; J: shiguseigan;|Là bốn thệ nguyện rộng lớn, dựa trên Tứ diệu đế mà phát sinh. Tứ hoằng thệ nguyện gồm có: 1. Chúng sinh vô lượng thệ nguyện độ (眾生無量誓願渡), dựa vào Khổ đế mà phát nguyện; 2. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn (煩惱無盡誓願斷), dựa vào Tập đế mà phát nguyện; 3. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học (法門無量誓願學), dựa vào Ðạo đế mà phát; 4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (佛道無上誓願成), dựa vào Diệt đế mà phát sinh.
tứ hoằng thệ nguyện
Tổng nguyện- Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. - Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. - Pháp môn vô biên thệ nguyện học. - Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
; The four universal vows of a Buddha or bodhisattva: Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, to save all living beings without limit; Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, to put an end to all passions and delusions however numerous; Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, to study and learn all methods and means without end; Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành, to become perfect in the Supreme Buddha Law. The four vows are considered as arising one by one out of the Four Noble Truths Tứ Diệu Đế.
; Bốn phổ nguyện lớn của Phật và Bồ Tát—The four universal vows of a Buddha or Bodhisattva (four magnanimous Vows or four all-encompassing vows): (A) Theo Phật Giáo Đại Thừa—According to the Mahayana Buddhism: 1) Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ: Nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh—Vow to save all living beings without limits—Sentient beings are numberless (countless), I vow to save them all. 2) Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Nguyện đoạn tận hết thảy phiền não dục vọng—Vow to put an end to all passions and delusions, though inumerous—Afflictions (annoyances) are inexhaustible (endless), I vow to end (cut) them all. 3) Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Nguyện học hết vô lượng pháp môn—Vow to study and learn all methods and means without end—Schools and traditions are manifold, I vow to study them all—The teachings of Dharma are boundless, I vow to learn them all. 4) Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành: Nguyện chứng thành Phật đạo vô thượng—Vow to become perfect in the supreme Buddha-law—The Buddha-Way (Truth) is supreme (unsurpassed) , I vow to complete (realize) it. (B) Theo Lục Tổ Huệ Năng—According to the Sixth Patriarch Hui-Neng: • I vow to take across the limitless living beings of my own mind. • I vow to cut off the inexhaustible afflictions of my own mind. • I vow to study the immeasurable Dharma-doors of my own nature. • I vow to realize the supreme Buddha Way of my own nature. 1) Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, tự tâm phiền não vô biên thệ nguyện đoạn, tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học, tự tánh Vô Thượng Phật đạo thệ nguyện thành.” Nầy thiện tri thức! Cả thảy đâu chẳng nói: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, nói thế ấy, vả lại không phải là Huệ Năng độ.” Nầy thiện tri thức! Chúng sanh trong tâm, chỗ gọi rằng tâm tà mê, tâm cuống vọng, tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm ác độc, những tâm như thế trọn là chúng sanh, mỗi người nên tự tánh tự độ, ấy gọi là chơn độ. Sao gọi là tự tánh tự độ? Tức là trong tâm những chúng sanh tà kiến, phiền não, ngu si, mê vọng, đem chánh kiến mà độ. Đã có chánh kiến bèn sử dụng trí Bát Nhã đánh phá những chúng sanh ngu si mê vọng, mỗi mỗi tự độ, tà đến thì chánh độ, mê đến thì ngộ độ, ngu đến thì trí độ, ác đến thì thiện độ, độ như thế gọi là chơn độ—Good Knowing Advisors, did all of you not just say, “I vow to take across the limitless beings? What does it mean? You should remember that it is not Hui-Neng who takes them across. Good Knowing Advisors, the 'living beings' within your mind are deviant and confused thoughts, deceitful and false thoughts, unwholesome thoughts, jealous thoughts, vicious thoughts: and these thoughts are 'living beings' The self-nature of each one of them must take itself across. That is true crossing over. What is meant by 'the self-nature taking across?' It is to take across by means of right views the living beings of deviant views, affliction, and delusion within your own mind. Once you have right views, use Prajna Wisdom to destroy the living beings of delusion, confusion, and falsehood. Each one takes itself across. Enlightenment takes confusion across, wisdom takes delusion across, goodness takes evil across. Such crossong over is a true crossing. 2) Lại phiền não vô biên thệ nguyện đoạn, đem tự tánh Bát Nhã trí trừ hư vọng tư tưởng tâm ấy vậy—Further, 'I vow to cut off the inexhaustible afflictions.' That is to use the Prajna Wisdom of your own self-nature to cast out the vain and false thoughts in your mind. 3) Lại pháp môn vô tận thệ nguyện học, phải tự thấy tánh của mình, thường hành chánh pháp, ấy gọi là chơn học—Further, 'I vow to study the immeasurable Dharma-door.' You must see your own nature and always practice the right Dharma. That is true study. 4) Lại vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành, đã thường hay hạ tâm hành nơi chơn chánh, lìa mê, lìa giác, thường sanh Bát Nhã trừ chơn trừ vọng, tức thấy được Phật tánh, liền ngay nơi lời nói, liền thành Phật đạo, thường nhớ tu hành, ấy là pháp nguyện lực--Further, 'I vow to realize the supreme Buddha Way,' and with humble mind to always practice the true and proper. Separate yourself from both confusion and enlightenment, and always give rise to Prajna. When you cast out the true and the false, you see your nature and realize the Buddha-way at the very moment it is spoken of. Always be mindful; cultivate the Dharma that possesses the power of this vow.”
tứ hoặc
See Tứ phiền não.
Tứ hoặc 四惑
[ja] シワク shiwaku ||| Four kinds of fundamental afflictions: (1) Self-ignorance 我癡, self-view 我見, self-pride 我慢 and self-love 我愛. These are understood to be originated in the manas consciousness 末那識. => Bốn loại căn bản phiền não: 1.Ngã si; 2. Ngã kiến; 3. Ngã mạn;4. Ngã ái. Những phiền não nầy được xem có nguồn gốc ở mạt-na thức 末那識.
tứ huệ
Bốn loại trí huệ—Four kinds of wisdom: (A) Tán Tuệ—Trí tuệ có được từ tán tâm—Wisdom obtained from the scattering mind: 1) Sinh Đắc Tuệ: Bẩm sinh trí tuệ—Wisdom received by birth or nature. 2) Văn Tuệ: Trí tuệ do nghe và trau dồi mà có—Wisdom by hearing or being taught. 3) Tư Tuệ: Trí tuệ đạt được do suy tư mà có—Wisdom by thoughts. (B) Định Tuệ—Trí tuệ có được từ định tâm—Wisdom obtained from the mind of concentration: 4) Tu Tuệ: Trí tuệ do thiền định mà có—Wisdom by dhyana meditation.
tứ hà
Bốn con sông ở Ấn Độ nổi tiếng cùng phát nguồn từ hồ A Na Bà Đáp Ta (trung bộ Thiệm Châu) bên Tây Tạng—The four rivers in India which reputed to arise out of a lake in Tibet, Anavatapta: 1) Hằng Hà: Sông Hằng, phát nguồn từ phía đông hồ, chảy ra biển phía đông nam—Ganges, originated from the east of the lake, then flows to the sea in the southeast. 2) Ấn Hà: Tín Độ—Tân Đầu—Phát nguồn phía Nam hồ, chảy ra biển phía Tây Nam—Sindhu (Indus), originated from the South of the lake, then flows to the sea in the Southwest. 3) Phọc Xô: Phọc Xoa, phát nguồn từ phía Tây hồ, chảy ra biển phía Tây Bắc—Vaksu (Oxus), originated from the West of the lake, flows to the sea in the Northwest. 4) Tỷ-Đa: Tư Đà, phát nguồn từ phía Bắc hồ, chảy ra biển hướng Đông Bắc—Tarim, originated from the North of the lake, then flows to the sea in the Northeast.
tứ hàm
The four agami sutras—See Tứ A Hàm.
tứ hành
The four disciplinary processes: enlightenment; good deeds; wisdom; and worship.
; Four kinds of progress—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại hành—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four kinds of progress: (A) 1) Khổ Hành Trì Chứng: Painful progress with slow comprehension. 2) Khổ Hành Tốc Chứng: Painful progress with quick comprehension. 3) Lạc Hành Trì Chứng: Pleasant progress with slow comprehension. 4) Lạc Hành Tốc Chứng: Pleasant progress with quick comprehension. (B) Bốn loại hành khác—Four more kinds of progress: 1) Bất Kham Nhẫn Hành: Akkhama-patipada (p)—Progress with impatience. 2) Kham Nhẫn Hành: Khama-patipada (p)—Patient progress. 3) Điều Phục Hành: Dama-patipada (p)—Controlled progress. 4) Tịch Tịnh Hành: Sama-patipada (p)—Calm progress.
tứ hành tướng
Bốn hạnh tướng trong quán tưởng hay thiền quán—To meditate upon the implications or disciplines of: 1) Khổ: Pain or suffering. 2) Không: Unreality, or emptiness. 3) Vô Thường: Impermanence. 4) Vô Ngã: Non-ego.
tứ hóa pháp
See Tứ Vô Ngại.
Tứ hướng
xem Bốn hướng.
tứ hướng
Gồm: Tu đà hoàn hướng, tu đà hàm hướng, A na hàm hướng, A la hán hướng.
; The four stages in Hìnayàna sanctity: tu đà hoàn srota-àpanna, tư đà hàm sakrdàgàmin; a na hàm, anàgàmin; and a la hán, arhan.
; Bốn Thánh quả trong Tiểu Thừa—The four stages in Hinayana sanctity: 1) Tu Đà Hoàn: Srota-Apanna (skt). 2) Tư Đà Hàm: Sakrdagamin (skt). 3) A Na Hàm: Anagamin (skt). 4) A La Hán: Arhan (skt). ** For more information please see Tứ Thánh Quả (B).
Tứ hướng tứ quả. 四向四果
[ja] シコウシカ shikōshika ||| The four accesses and four accomplishments (lit. "fruits") of the śrāvaka path (catvāri-phalani): (1) xutuo 須陀 "stream-enterer" [預流]; (2) situojin 斯陀今 "once-returner" [一來]; (3) anajin 阿那含 "non-returner" [不還, 不來]; (4) aluohan 阿羅漢 "arhat" [無學]. Each stage is seen as having two aspects: that of ascent into the stage, indicated by 向, and consummation of the stage, indicated by 果. The stream-enterer succeeds in eradicating conceptual disturbances 見惑 of the three realms (also called the eighty-eight defilements 八十八使), experiences the fifteen minds 十五心 of the Path of Seeing 見道, and finishing this task, enters the Path of Cultivation 修道, thus consummating this stage. Entering into the stage of once-returner, the practitioner removes the first six of the nine qualities 九品 of afflictions removable in the Path of Cultivation 修惑and thus consummates this stage. One then proceeds to enter the level of non-returner, where one eliminates the remaining three afflictions removable in the Path of Cultivation. In the final stage of arhat, all defilements have been permanently eradicated, and one is capable of entry into nirvana. 〔倶舎論、 T 1558.29.17b〕 => (s: catvāri-phalani): 1. Tu-đà-hoàn (Dự lưu). 2. Tư-đa-hàm (Nhất lai). 3. A-na-hàm(Bất hoàn, Bất lai). 4. A-la-hán (Vô học). Mỗi quả vị được xem như có hai bậc: chuẩn bị chứng nhập quả vị, gọi là Hướng, và đã thể nhập quả vị rồi, gọi là Quả. Tu-đà-hoàn (Dự lưu) hoàn tất việc trừ sạch các Kiến hoặc trong tam giới (còn gọi là 88 sử), chứng được Ngũ thập tâm trong Kiến đạo, xong giai đoạn nầy gọi là Dự lưu hướng, thể nhập địa vị Tu đạo, là đạt Dự lưu quả. Tiến vào giai vị Nhất lai, hành giả phải giải trừ 6 phẩm đầu trong 9 phẩm phiền não Tu hoặc, là chừng được quả vị nầy. Rồi hành giả tiến vào giai vị Bất lai, phải giải trừ sạch ba phẩm phiền não Tu hoặc. Trong giai vị A-la-hán cuối cùng, hành giả giải trừ vĩnh viễn mọi phiền não, và thể nhập niết-bàn.
Tứ hướng 四向
[ja] シコウ shikō ||| The four accesses in the stages of the śrāvaka path. See . => Bốn giai vị thú hướng đến các quả vị Thanh văn. Xem Tứ hướng tứ quả 四向四果.
tứ hạnh
Bốn hạnh—The four disciplinary processes: (A) 1) Bồ Đề: Enlightenment. 2) Phúc Đức hay Thiện nghiệp: Good deeds. 3) Trí Tuệ: Wisdom. 4) Lễ Bái: Worship. (B) Theo Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma—According to the first patriarch Bodhidharma: 1) Báo Oán Hạnh—How to requite hatred? Báo oán hạnh nghĩa là gì? Người tu hành khi gặp cảnh khổ nên tự nghĩ như vầy: “Ta từ bao kiếp trước buông lung không chịu tu hành, nặng lòng thương ghét, gây tổn hại không cùng. Đời nay tuy ta không phạm lỗi, nhưng nghiệp dữ đã gieo từ trước nay kết trái chín, điều ấy nào phải do trời hoặc người tạo ra đâu, vậy ta đành nhẫn nhục chịu khổ, đừng nên oán trách chi ai. Như kinh đã nói 'gặp khổ không buồn.' Vì sao vậy? Vì đã thấu suốt luật nhân quả vậy. Đây gọi là hạnh trả oán để tiến bước trên đường tu tập.”—What is meant by 'How to requite hatred?' Those who discipline themselves in the Path should think thus when they have to struggle with adverse conditions: “During the innumerable past eons I have wandered through multiplicity of existences, never thought of cultivation, and thus creating infinite occasions for hate, ill-will, and wrong-doing. Even though in this life I have committed no violations, the fruits of evil deeds in the past are to be gathered now. Neither gods nor men can fortell what is coming upon me. I will submit myself willingly and patiently to all the ills that befall me, and I will never bemoan or complain. In the sutra it is said not to worry over ills that may happen to you, because I thoroughly understand the law of cause and effect. This is called the conduct of making the best use of hatred and turned it into the service in one's advance towards the Path. 2) Tùy Duyên Hạnh—To obedient to karma: Chúng sanh đều do duyên nghiệp mà chuyển thành, chứ chẳng có cái 'tôi.' Mọi nỗi khổ vui đều do nhân duyên sanh. Nếu nay được quả báo tốt, hưởng đủ vinh dự, ấy là do nhân lành thuở trước cảm nên, nay mới được vậy. Hễ duyên hết thì lại hoàn không, mừng vui nỗi gì? Được mất gì đều tùy theo duyên, nhưng tâm người thì không vì vậy mà được thêm hay bớt mất cái gì. Nếu thấu đáo được như vậy thì gió vui chẳng động, lặng lẽ mà thuận đạo, nên nói là tùy thuận theo duyên nghiệp vậy—Being obedient to karma, there is not 'self' (atman) in whatever beings that are produced by the interplay of karmic conditions; pain and pleasure we suffer are also the results of our previous action. If I am rewarded with fortune, honor, etc., this is the outcome of my past deeds which, by reason of causation, affect my present life. When the force of karma is exhausted, the result I am enjoying now will disappear; what is then the use of being joyful over it? Gain or loss, let us accept karma as it brings us the one or the other; the spirit itself knows neither increase nor decrease. The wind of gladness does not move it, as it is silently in harmony with the Path. Therefore, his is called 'being obedient to karma.' 3) Vô Sở Cầu Hạnh—Not to seek after anything:Người đời mãi mãi đắm mê, việc gì cũng tham trước, thế gọi là cầu. Bậc trí ngộ lẽ chân, chuyển ngược thế tục, nên an tâm trụ nơi vô vi, thân hình tùy nghi mà vận chuyển. Muôn vật đều là không, có gì vui mà cầu được. Hễ có công đức thì liền có hắc ám đuổi theo. Ở lâu trong ba cõi khác nào như trong nhà lửa. Có thân có khổ, được gì mà vui? Thông suốt được vậy ắt buông hết sự vật, dứt tường, chẳng cầu. Kinh nói: 'Còn cầu còn khổ. Hết cầu mới được vui. Xét biết không cầu mới thực là đạo hạnh nên nói là hạnh không cầu mong—By 'not seeking after anything' is meant this: “Men of the world, in eternal confusion, are attached everywhere to one thing or another, which is called seeking. The wise, however, understand the truth and are not like the vulgar. Their minds abide serenely in the uncreated while the body turns about in accordance with the laws of causation. All things are empty and there is nothing desirable and to be sought after. Wherever there is nothing merit of brightness there follows the demerit of darkness. The triple world there one stays too long is like a house on fire; all that has a body suffers, and who would ever know what is rest? Because the wise are thoroughly acquainted with this truth, they get neer attached to anything that becomes, their thoughts are quieted, they never seek. Says the sutra: 'Wherever there is seeking, there you have sufferings; when seeking ceases you are blessed. Thus we know that not to seek is verily the way to the truth. Therefore, one should not seek after anything.” 4) Xứng Pháp Hạnh—To be in accord with the Dharma: Cái lý thanh tịnh của tự tánh gọi là pháp. In hiểu lý ấy thì mọi hình tướng hóa thành không. Không nhiễm không trước, không bỉ không thử. Kinh nói: 'Pháp không có chúng sanh, hãy lìa chúng sanh cấu. Pháp không có tướng ngã, hãy lìa ngã cấu.' Bậc trí ví như tin hiểu được vậy thì tùy xứng theo pháp mà hành. Bổn thể của pháp vốn không tham lận cho nên dầu đem thân mạng và của cải ra mà bố thí vẫn không hối tiếc. Thấu rõ ba cái không thì không còn ỷ lại và chấp trước. Chỉ cần gạn trừ trần cấu, tùy nghi mà giáo hóa chúng sanh, nhưng không mắc phải hình tướng, thế tức là tự hành, đã lợi người lại thêm trang nghiêm đạo Bồ Đề. Bố thí đã vậy thì năm độ Bát Nhã khác cũng thế. Vì dứt trừ vọng tưởng mà hành pháp tu lục độ, nhưng thật không gì gọi là hành cả, nên nói là hạnh tùy xứng theo pháp—By 'being in accord with the Dharma; is meant that the reason in its essence is pure which we call the Dharma, and that this reason is the principle of emptines in all that is manifested, as it is above defilements and attachments, and as there is no 'self' or 'other' in it. Says the sutra: 'In the Dharma there are no sentient beings, because it is free from the stains of being; in the Dharma there is no Self because it is free from the stain of selfhood. When the wise understand this truth and believe in it, their conduct will be in accordance with the Dharma. As the Dharma in essence has no desire to possess, the wise are ever ready to practise charity with their body, life, property, and they never begrudge, they never know what in ill grace means. As they have a perfect understanding of the threefold nature of emptiness they are above partiality and attachment. Only because of their will to cleanse all beings of their stains, they come among them as of them, but they are not attached to the form. This is known as the inner aspect of their life. They , however, know also how to benefit others, and again how to clarify the path of enlightenment. As with the virtue of charity, so with the other five virtues in the Prajnaparamita. That the wise practise the six virtues of perfection is to get rid of confused thoughts, and yet they are not conscious of their doings. This is called 'being in accord with the Dharma.'
tứ hạnh niệm phật
Four practices of Buddha Recitation—Sở thích và căn túc của chúng sanh vẫn thường sai biệt, cho nên tuy đồng tu hạnh niệm Phật, sự hành trì không khỏi có sự khác biệt nhau. Vì thế, trên đường Tịnh Độ, cổ nhân đã khái ước chia thành bốn hạnh là Thiền Tịnh, Giáo Tịnh, Mật Tịnh và Thuần Tịnh—Sentient beings usually differ in preferences and innate capacities. Therefore, although they may engage in the common practice of Buddha Recitation, they are bound to differ somewhat in their practice. For this reason, ancient masters have summarized four types of practice: Zen-Pure Land; Sutra Recitation-Pure Land; Esotericism-Pure Land; Exclusive Pure Land Practice. 1) Những vị niệm Phật làm chánh, tham thiền làm phụ, thuộc về hạnh Thiền Tịnh. Đây cũng là lối thiền tịnh song tu, nhưng lại lấy sự vãng sanh Tịnh Độ làm yếu điểm chung cuộc, còn việc thấy tánh ngộ đạo chỉ thuộc phần tùy duyên: The first category of cultivators comprises those who engage primarily in Buddha Recitation but practice Zen as well. They are said to practice Zen-Pure Land, also called dual practice of Zen and Pure Land. Here, rebirth in the Pure Land is the principal goal, while seeing the True Nature and becoming enlightened to the Way is a secondary matter which depends on the individual practitioner's good roots and conditions. 2) Những vị lấy niệm Phật làm chánh, tụng kinh làm phụ, gọi là Giáo Tịnh. Về phần kinh giáo, có người thích tụng kinh Kim Cang hay Di Đà; có vị thích tụng Hoa Nghiêm hay Pháp Hoa, hoặc phẩm Phổ Môn hay Phổ Hiền Hạnh Nguyện chẳng hạn: The second category comprises those whose main practice is Buddha Recitation with Sutra Recitation as an ancillary practice. They are said to practice Sutra Recitation-Pure Land. As for the sutras chanted, some prefer the Diamond Sutra or the Amitabha Sutra, while others prefer the Avatamsaka Sutra or Lotus Sutra, or else individual chapters, such as the “Avalokitesvara Chapter” in the Lotus Sutra (chapter 25), or the Chapter on Samantabhadra's Practices and Vows in the Avatamsaka Sutra (chapter 40). 3) Những vị lấy niệm Phật làm chánh, trì chú làm phụ, đó là tu về Mật Tịnh. Trong sự trì chú, mỗi người lại ưa thích riêng mỗi môn đà la ni như Đại Bi, Chuẩn Đề, Vãng sanh, Công Đức Bảo Sơn, Văn Thù Ngũ Thanh thần chú, Lục Tự Đại Minh chân ngôn, hoặc các đà la ni khác: The third category is composed of those who engage in Buddha Recitation as their primary practice and Mantra Recitation as an ancillary one. They follow the practice of Esotericism-Pure Land. The mantras vary with the practitioner and include such dharani as the Great Compassion Mantra, the Thousand-Armed Avalokitesvara Dharani, the Rebirth Dharani, etc. 4) Những vị chỉ chuyên niệm Phật, không xen tạp môn nào khác, thuộc về các hành giả tu hạnh Thuần Tịnh. Trong đây các vị căn cơ cao thì theo Thập Lục Quán, còn đại đa số chỉ chuyên về hạnh trì danh: The fourth category of cultivators comprises those who practice Buddha Recitation diligently and exclusively without cultivating other methods. Within this group, those of high capacities practice the sixteen Meditations as taught in the Meditation Sutra, while the great majority only practice oral recitation of the Buddha's name. • Hòa Thượng Thiện Đạo chỉ dạy chuyên tu niệm Phật để tiếp dẫn hàng trung và hạ căn. Đây là lối dạy về chuyên tu niệm Phật: The Pure Land Patriarch Shan-Tao taught diligent Buddha Recitation alone, which is designed to help those of limited or moderate capacities and belng to the exclusive Pure Land practice. • Vĩnh Minh Thiền Sư bên Trung Hoa, ngoài việc niệm mười muôn câu niệm Phật, còn tu các hạnh khác, tất cả gồm 108 môn. Lối nầy dùng để khuyến tấn các bậc thượng thượng căn, thuộc về “Viên Tu.”: Master Yung-Ming's method, totalling of 108 in all, aims specifically to encourage those of the highest capacity, and belongs to the Perfect Practice.
Tứ Hải
(四海): (1) Trong biển lớn của bốn phương. (2) Bốn biển lớn ở các phương: Đông Hải (東海), Tây Hải (西海), Nam Hải (南海) và Bắc Hải (北海); từ đó, nó có nghĩa là thế giới. Trong dân gian thường có thuật ngữ “tứ hải huynh đệ (四海兄弟, bốn biển khắp nơi là anh em)”, “tứ hải đồng bào (四海, khắp nơi trên thế giới là đồng bào)”; như trong Luận Ngữ (論語), phần Nhan Uyên (顔淵) có câu: “Tứ hải chi nội, giai huynh đệ dã (四海之內、皆兄弟也, trong bốn biển đều là anh em).” Hay thuật ngữ “tứ hải vi gia (四海爲家, bốn biển là nhà)” để ám chỉ rằng trong bốn biển lớn, tức trên khắp thế giới, nơi đâu cũng là nhà, với ý nghĩa thể hiện sự cai trị của đế vương cùng khắp thiên hạ. Như bài Tây Kinh Phú (西京賦) của Trương Hành (張衡, 78-139) nhà Hán có câu: “Phương kim Thánh thượng, đồng thiên hiệu ư Đế Hoàng, yểm tứ hải nhi vi gia (方今聖上、同天號於帝皇、掩四海而爲家, như nay Thánh thượng, cùng hiệu Trời làm Hoàng Đế, thâu bốn biển mà làm nhà).” Hoặc trong bài Ngâm Kiếm Thi (吟劍詩) của Hồng Tú Toàn (洪秀全, 1814-1864) nhà Thanh lại có câu: “Thủ trì tam xích định sơn hà, tứ hải vi gia cọng ẩm hòa (手持三尺定山河、四海爲家共飲和, tay cầm tấc kiếm định sơn hà, bốn biển là nhà cùng uống qua).”
tứ hải
Bốn biển quanh núi Tu Di—The four oceans around Mount Sumeru.
tứ hải luận chủ
Tôn hiệu của nhà sư Kính Thoát đời Tùy—Honorific title of the monk Ching-T'o of the Suy dynasty.
tứ hệ phược
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có bốn Hệ Phược—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are four knots: 1) Tham Thân Hệ Phược: The bodily knot of covetousness. 2) Sân Thân Hệ Phược: The bodily knot of ill-will. 3) Giới Cấm Thủ Hệ Phược: The bodily knot of distorted grasp of rules and vows. 4) Chấp Chân Lý Hệ Phược: Chấp đây là chân lý—The bodily knot of adherence to dogmatic assertion of truth.
tứ hối
See Ngũ Hối (A) bỏ đi phần đầu (Sám Hối)—See Ngũ Hối (A) and omit the first.
tứ hộ thế
Xem tứ thiên vương.
tứ hữu
See Tứ Hữu Vi Tướng.
tứ hữu lậu
Four principal poisonous outflows. 1) Dục Lậu: Kama (skt)—Sự ham muốn—Lust. 2) Hữu Lậu: Bhava (skt)—Sự bám víu lấy đời sống—Clinging to life. 3) Kiến Lậu: Drishti (skt)—Kiến giải phàm phu—Ordinary speculation. 4) Vô Minh Lậu: Avidya (skt)—Ignorance. ** For more information, please see Asrava in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tứ hữu vi tướng
The four functioning forms: sinh birth, trụ stay, dị change, diệt extinction.
; Bốn loại hữu vi tướng—The four forms of activity: 1) Sinh: Coming into existence. 2) Trụ: Abiding. 3) Dị: Change. 4) Diệt: Extinction.
tứ khí
Tứ Ba La Di—Tứ Trọng—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Bốn tội Ba La Di đưa đến việc bị khai trừ khỏi giáo đoàn—The four parajika sins resulting in excommunication—See Tứ Đọa.
tứ khô tứ vinh
Khi Đức Phật nhập diệt, bốn trong tám cây Ta La bị héo khô, còn bốn cây khác vẫn tươi, đây là dấu hiệu của bốn pháp bị hoại diệt, trong khi bốn pháp khác tiếp tục hưng thịnh—When the Buddha died, four of the eight sala-trees surrounding him are said to have withered, while the other four continued in full leaf, a sign that a four doctrines were to perish and the other four were to flourish. (A) Tứ Khô: Bốn pháp bị hoại diệt—The four doctrines that were to perish: 1) Khổ: The suffering. 2) Không: The void. 3) Vô Thường: Impermanence. 4) Vô Ngã: Impermanence. (B) Tứ Vinh: Bốn pháp tiếp tục hưng thịnh—The four doctrines (the transcendent bodhisattva doctrines) that were to flourish: 1) Thường: Permanence. 2) Lạc: Joy. 3) Ngã: Personality. 4) Tịnh: Purity.
tứ không
See Tứ Không Xứ.
tứ không thiên
See Tứ Không Xứ.
Tứ không thiên 四空天
[ja] シクウテン shigūten ||| See 四無色. => Xem Tứ vô sắc 四無色.
tứ không xứ
Catur-àrùpya (brahma) loka (S). The four immaterial or formless heavens, arùpa-dhàtu, above the eighteen brahmalokas: (1) không vô biên xứ àkàsàmantyàyatana, the sate or heaven of boundless space; (2) thức vô biên xứ vijnànanàntyàyatana, of boundless knowledge; (3) vô sở hữu xứ àkincanyàyatana, of nothing or non existence; (4) phi tưởng phi phi tưởng xứ naivasanjnànà-sanjnàyatana, the state of neither thinking nor not thinking.
; Catur-arupya (skt)—Brahma-lokas (skt). (A) Tứ Vô Sắc, Tứ Vô Sắc Giới, Tứ Không Định, hay Tứ Không Thiên theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa—The four Immaterial or Formless Heavens, arupa-dhatu, above the eighteen brahmalokas, according to the point of views of Mahayana Buddhism: 1) Không Vô Biên Xứ: Akasanantya-yatanam (skt)—Hư Không Xứ—Không xứ đầu tiên trong Tứ Không Xứ. Khi cái tâm được tách khỏi cảnh giới hình và chất, được đặc biệt đưa thẳng đến không gian vô biên thì nó được gọi là đang trú trong không vô biên xứ. Để đạt đến cõi nầy, hành giả đã đạt tới tầng thiền thứ năm trong sắc giới có thể trau dồi thiền vô sắc, bắt đầu gom tâm vào điểm sáng phát ra từ đề mục hay đối tượng (kasina), cho đến khi nào điểm sáng ấy lớn dần đến bao trùm toàn thể không gian. Đến đây hành giả không còn thấy gì khác ngoài ánh sáng nầy, cùng khắp mọi nơi. Từ ngữ Không Vô Biên Xứ hay không gian đầy ánh sáng nầy không có thực, không phải là một thực tại, mà chỉ là một khái niệm (không gian phát huy từ đối tượng). Đây là cõi trời vô biên nơi mà tâm trở nên vắng lặng và vô tận như hư không. Thọ mệnh trong cõi trời nầy có thể dài đến 20.000 đại kiếp—The first of the four immaterial jhanas. When the mind, separated from the realm of form and matter, is exclusively directed towards infinite space, it is said to be abiding in the Akasanantya-yatanam. To reach this, a meditator who has mastered the fifth fine-material jhana based on a “kasina” object spreads out the counterpart sign of the “kasina” until it becomes immeasurable in extent. The he removes the “kasina” by attending only to the space it pervaded, contemplating it as “infinite space.” The expression “base of infinite space,” strictly speaking, refers to the concept of infinite space which serves as the object of the first immaterial-sphere consciousness. This is the state or heaven of boundless space, where the mind becomes void and vast like space. Existence in this stage may last 20,000 great kalpas. 2) Thức Vô Biên Xứ: Vijnananantyayatanam (skt)—Sau khi đạt được trạng thái “Không Vô Biên Xứ,” hành giả tiếp tục gom tâm vào sơ thiền vô sắc cho đến lúc phát triển nhị thiền vô sắc, hay khi cái tâm vượt khỏi cái không gian vô biên mà tập trung vào sự vô biên của thức. Đây là cõi trời vô tận trí nơi mà khả năng hiểu biết và thẩm thấu là vô tận. Thọ mệnh trong cõi trời nầy có thể kéo dài đến 40.000 đại kiếp—After attaining the state of the base of infinite space, meditator continues to concentrate on this state of “infinite space” until he takes as object the consciousness of the base of infinite space, and contemplates it as “infinite consciousness” until the second immaterial absorption arises, or when the mind going beyond infinite space is concentrated on the infinitude of consciousness it is said to be abiding in the Vijnananantya. This is the state or heaven of boundless knowledge. Where the powers of perception and understanding are unlimited. Existence in this stage may last 40,000 great kalpas. 3) Vô Sở Hữu Xứ: Akincanyatanam (skt)—Đề mục của tầng thiền vô sắc thứ ba là “không có gì hết,” nơi đây hành giả phải chú ý vào sự vắng mặt của “thức” trong nhị thiền vô sắc. Khi mà tâm của hành giả vượt khỏi cả cái cảnh giới của thức mà thấy không có chỗ nào riêng để trú, thì nó đạt được cái định gọi là “Không biết chỗ nào để hiện hữu.” Đây là cõi trời vô hữu nơi không còn sự phân biệt. Thọ mệnh trong cõi trời nầy có thể kéo dài đến 60.000 đại kiếp—The third immaterial attainment has its object the present non-existence or voidness. Meditators must give attention to the absence of that consciousness in the second immaterial-sphere consciousness. When the mind going even beyond the realm of consciousness finds no special resting abode, it acquires the concentration called “knowing nowhere to be.” This is the state or heaven of nothing or non-existence. Where the discriminative powers of mind are subdued. Existence in this stage may last 60,000 great kalpas. 4) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Naivasam-jnanasanjnayatanam (skt)—Gọi là “Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ” vì ở trạng thái nầy, “tưởng” không thể được bao gồm mà cũng không thể bị loại trừ. mà cũng không có “không tưởng.” Bản chất của cái định nầy là không ở trong cảnh giới hoạt động của tâm thức mà cũng không ở ngoài cảnh giới ấy. Đây là cõi trời vô tưởng, nơi chỉ còn trí trực giác chứ không còn suy tưởng nữa. Thọ mệnh trong cõi trời nầy có thể kéo dài đến 80.000 đại kiếp—This fourth and final immaterial attainment is so called because it cannot be said either to include perception or to exclude perception. The nature of this concentration is neither in the sphere of mental activities nor out of it. This is the state or heaven of neither thinking nor not thinking which may resemble a state of intuition. The realm of consciousness or knowledge without thought is reached (intuitive wisdom). Existence in this stage may last to 80,000 great kalpas. (B) Tứ không xứ hay bốn cảnh trời vô sắc, là quả cho những hành giả đắc được bốn bậc thiền vô sắc—Four formless realms which are the fruits of practitioners who have reached the four arupa jhanas: 1) Không Vô Biên Thiên: Akasanancayatana (p)—The infinity of space. • Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “không vô biên thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells in the infinity of space. 2) Thức Vô Biên Thiên: Vinnanancayatana (p)—The infinity of consciousness. • Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “thức vô biên thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells on the infinity of consciousness. 3) Vô Sở Hữu Thiên: Akincannayatana (p)—Nothingness. • Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “vô sở hữu thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells on nothingness. 4) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên: N'eva sanna n'asannayatana (p)—Neither perception, nor non-perception. • Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “phi tưởng phi phi tưởng thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells in the neither perception nor non-perception.
Tứ không xứ 四空處
[ja] シクウショ shi kūsho ||| The 'four locations in the formless realm.' Four spheres of existence within the formless realm. Also written siwushi 四無色. Those who practice the four formless concentrations are born here. See . => Bốn cõi giới trong cõi Vô sắc. Cũng gọi là Tứ vô sắc, Những hành giả tu tập Tứ vô sắc định sẽ sinh ở cõi nầy. Xem Tứ vô sắc 四無色.
tứ không định
See Tứ Không Xứ.
Tứ không 四空
[ja] シクウ shikū ||| See 四無色. => Xem Tứ vô sắc 四無色.
Tứ Khố Toàn Thư
(四庫全書, Shikozensho): thư danh. Vào năm thứ 37 (1772) niên hiệu Càn Long (乾隆) nhà Thanh, thể theo sắc mệnh của nhà vua, hơn 300 học giả đã biên tập nên toàn tập thư tịch của Trung Quốc trong vòng 10 năm. Tất cả đều được chép bằng tay, phân loại thành 4 bộ: Kinh (經), Sử (史), Tử (子) và Tập (集) nên được gọi là Tứ Khố (四庫). Bộ này được phân thành 7 nhóm, mỗi nhóm được thâu nạp vào thư khố ở trong cung nội hay ở những Ly Cung tại các địa phương. Mỗi nhóm như vậy ước khoảng 94.034 quyển.
tứ khổ
The four miseries, or sufferings, sinh birth; lão age; bệnh disease; and tử death.
; Bốn nỗi khổ của con người—Four miseries—Four universal sufferings—The four afflictions that are the lot of every man: 1) Sanh khổ: Birth is suffering. 2) Già khổ: Old age is suffering. 3) Bịnh khổ: Disease (illness) is suffering. 4) Chết khổ: Death is suffering. ** For more information, please see Bát Khổ.
Tứ khổ bát khổ 四苦八苦
[ja] シクハック shikuhakku ||| The four and eight kinds of suffering taught by Śākyamuni in his exposition of the Four Noble Truths 四諦. These include the four basic forms of suffering: birth 生, aging 老, sickness 病 and death 死, along with the four derivative forms of suffering: separation from that which we love 愛別離苦, association with that which we hate 怨憎會苦, Ina-Zbility to fulfill our desires 求不得苦 and the suffering from the instability of the five skandhas 五陰盛苦. Since there are eight forms of suffering in total, they are often referred to more simply as such 八苦. 〔瑜伽論T 1579.30.289b〕 => Bốn loại và tám loại khổ được Đức Phật giảng trong Tứ đế. Gồm bốn thứ khổ căn bản: sinh, lão, bệnh, tử; cùng với 4 dạng phát sinh: ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ ấm thạnh khổ. Do vì có tất cả 8 món khổ, nên thường được gọi tắt là Bát khổ.
tứ khởi (tứ ái sanh)
Bốn thứ làm khởi dậy ái dục cho chư Tăng Ni—Four sources of affection for a bhiksu or bhiksuni: 1) Food: Ăn. 2) Clothes: Mặc. 3) Bedding: Ở. 4) Gifts: Quà cáp.
tứ kim cang
The four maharajas—See Tứ Thiên Vương.
tứ kinh vệ đà
Bốn bộ kinh Vệ Đà ở Ấn Độ—Four Veda Sutras in India—The four Vedas: 1) Độc Tụng Vệ Đà: Gồm những bài ca tụng thần thánh—Rig Veda. 2) Ca Vịnh Vệ Đà: Gồm những bài ca trong khi hành lễ—Sama Veda. 3) Tế Tự Vệ Đà: Những bài nghị thức tế lễ—Yajur Veda. 4) Nhương Tai Vệ Đà: Gồm những bài chú để cầu nguyện—Atharva Veda.
tứ kiên tín
Bốn niềm tin không hoại diệt—The four firm or indestructible beliefs: 1) Kiên tín nơi Phật: Firm belief in the Buddha. 2) Kiên tín nơi Pháp: Firm belief in the Law. 3) Kiên tín nơi Tăng: Firm belief in the Order (Sangha). 4) Kiên tín nơi giới luật: Firm belief in the commandments.
Tứ kiến 四見
[ja] シケン shiken ||| (1) Four perspectives, four views, four understandings. For example, to a human being, water is something to drink; to a fish, it is the surrounding environment, to the gods it is a jewel, and to a hungry ghost it is bloody pus. (2) Equivalent to "four phrases"--see 四句. (3) In Yogācāra, the four kinds of attached views held by non-Buddhists that are associated with the manas consciousness 末那識: the view of existence of the person 有身見; the view of attachment to extremes 邊執見; evil view 邪見, and view of attachment to views 見取見. These are the same as the five views 五見, without the view of attachment to precepts. (4) In the Sanlun 三論 doctrine, four kinds of attachment associated with four kinds of teaching. => 1. Bốn khuynh hướng, bốn quan niệm, bốn nhận thức. Chẳng hạnh, đối với loài người, nước là thứ để uống, đối với loài cá, thì nước là môi trường chung quanh; đối với chư thiên thì đó là châu báu, còn đối với ngạ quỷ thì nước là máu mủ. 2. Tương đương với Tứ cú. 3. Theo tông Duy thức., đó là 4 thứ kiến chấp của ngoại đạo liên kết với mạt-na thức. Đó là Hữu thân kiến, Biên chấp kiến, Tá kiến và Kiến thủ kiến 4. Theo giáo lý Tam luận tông, đó là 4 loại chấp trước kết hợp với bốn loại giáo lý.
tứ kiếp
Bốn thời kỳ trong một kỳ kiếp: - thành kiếp - trụ kiếp - hoại kiếp - không kiếp.
; The four kalpas, or epochs, of a world, thành kiếp that of formation and completion; trụ kiếp existing or abiding; hoại kiếp destruction; and không kiếp annihilation, or the succeeding void.
tứ kiếp (tứ trạng)
Theo Câu Xá Luận, có bốn trạng thái hay bốn kiếp, mỗi kiếp gồm 20 tiểu kiếp qua các thời kỳ thành, trụ, hoại, không—According to the Kosa Sastra, there are four kalpas or epochs, or periods of time, each consisting of twenty small kalpas, during which worlds go through formation, existing, destruction, and annihilation: 1) Thành Kiếp: Vivarta-kalpa (skt)—Thành kiếp gồm 20 tiểu kiếp trong lúc các thế giới và chúng sanh được thành lập—Kalpa of formation—Formation or completion which consists of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed. 2) Trụ Kiếp: Vivarta-siddha (skt)—Trụ kiếp trong đó mặt trời mặt trăng mọc lên, giới tính phân biệt, anh hùng khởi dậy, bốn giai cấp được thành lập, và cuộc sống xã hội tiến hóa—Kalpa of existing—Existing or abiding or existence, sun and moon rise, sexes are differentiated, heroes arise, four castes are formed, social life evolves. 3) Hoại Kiếp: Samvarta kalpa (skt)—Hoại kiếp gồm 64 tiểu kiếp trong đó lửa, nước và gió tàn phá tất cả mọi thứ, ngoại trừ Tứ Thiền Thiên—Kalpa of destruction or decay—Destruction consists of sixty-four small kalpas when fire, water and wind destroy everything except the Fourth Dhyana. 4) Không Kiếp: Samvarta-siddha kalpa (skt)—Sự hủy diệt kế tiếp bởi không kiếp, trong giai đoạn nầy không thứ gì có thể tồn tại được. Đây là giai đoạn hoàn toàn hoại diệt—Kalpa of annihilation—Annihilation or the succeeding void, during which nothing exists, or the final annihilation.
tứ kính
Thể tướng bổn giác có bốn nghĩa tương tự như một cái kính—The four resemblances between a mirror and the bhutatathata in the Awakening of Faith: 1) Như Thực Không Kính (Không Chân Như): Thể của chân như bản lai không tịch lên mọi vọng tướng, giống như không kính lìa mọi thể ngoại vật—The bhutatathata, like the mirror, is independent of all beings. 2) Nhân Huân Tập Kính (Bất Không Chân Như): Giáo thể chân như có đủ vô lượng đức tính, là nhân của tịnh pháp, giống như thể tính của gương, có khả năng thể hiện muôn vạn hình tượng—The bhutatathata, like a mirror, reveals all objects. 3) Pháp Xuất Ly Kính (Thể Chân Như): Giác thể chân như chân giám trong phiền não của chúng sanh, gọi là Như Lai Tạng, nay lìa khỏi mọi tiềm cấu phiền não, thuần nhứt trong sáng giống như tịnh kính (tấm gương trong lau chùi thì sạch bụi bặm)—The bhutatathata, like a mirror, is not hindered by objects. 4) Duyên Huân Tập Kính (Dụng Chân Như): Lúc giác thể chân như lìa khỏi triền phược thì có vô biên diệu dụng, nhưng do huân tập vọng tâm của chúng sanh từ bên ngoài hay huân tập ngoại duyên như gương sáng trên đài mà thu dụng—The bhutatathata, like a mirror, serves all beings.
tứ ký
Bốn phương pháp Phật trả lời câu hỏi—The Buddha's four methods of dealing with questions: 1) Trả lời thẳng: Direct answer. 2) Trả lời bằng cách phân biệt: Discriminating answer. 3) Trả lời bằng cách hỏi lại: Questioning in return. 4) Giữ im lặng: Remaining silent.
tứ ký tâm
Theo Kinh Tự Hoan Hỷ trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại ký tâm sai khác—According to the Sampasadaniya Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four ways of teaching Dhamma in regard to the telling of thought: 1) Loại Ký Tâm Thứ Nhất—The firs way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có hạng tự lộ bằng hình tướng, nói rằng: “Ý của ngươi thế nầy, ý của ngươi là như vậy, không phải gì khác.”—One tells by a visible sign by saying: “This is what you think, this is in your mind, you thought is like this.” An however much one declares, it is so and not otherwise. 2) Loại Ký Tâm Thứ Hai—The second way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, nhưng tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiện: “Ý của ngươi là như thế, ý của ngươi là như vậy, tâm của ngươi là như thế nầy. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thì sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.”—One tells not by a visible sign, but through hearing a sound made by humans, non-humans, or devas (the rest remains the same as in Tứ Ký Tâm 1). 3) Loại Ký Tâm Thứ Ba—The third way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có loại không tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi nhân, phi nhân hay chư Thiên, mà tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý, phát ra từ sự suy tầm, tư duy—One tells neither by a visible sign nor by a sound uttered, but by applying one's mind and attending to something conveyed by sound (the rest remains the same as in Tứ Ký Tâm 1). 4) Loại Ký Tâm Thứ Tư—The fourth way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có loại không tự tỏ lộ bằng hình tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra từ nhân, phi nhân và chư Thiên, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rõ ràng và hợp lý phát ra từ sự suy tầm và tư duy, nhưng khi chứng được định, không tầm, không tứ, có thể biết được tâm người khác với tâm của mình: “Tùy ý nguyện hợp ý hành của vị nầy, vị nầy sẽ hướng đến tâm nầy. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải gì khác.”—One tells, not by any of the above mentioned means in 1, 2, and 3, but when one has attained a state of mental concentration without thinking and pondering, by divining another's thoughts in one's mind, and one says: “As far as so-and-so's mind-force is directed, so his thoughts will turn to that thing.”
tứ kết
The four knots, or bonds, samyojana, which hinder free development.
; Samyojana (skt)—Thân Hệ Phược—Theo Thanh Tịnh Đạo, có bốn mấu kết làm ngăn che sự phát triển. Sở dĩ gọi là kết vì chúng buộc kết cái thân tâm lý vào cái thân vật lý—According to The Path of Purification, there are four knots or bonds which hinder free development. They are so called because they tie the mental body and the material body. 1) Tham Kết: The bodily tie of covetousness. 2) Sân Kết: The bodily tie of ill-will. 3) Giới Cấm Thủ Kết: The bodily tie of adherence to rites and rituals. 4) Tà Giải Kết: Cho rằng cái mình giải thích mới là sự thật—The bodily tie of misinterpreting (that this only is the truth). ** For more information, please see Tứ Ế and Tứ Phược.
tứ linh
Bốn linh vật—The four supernatural creatures: 1) Long: Dragon. 2) Lân: Unicorn. 3) Quy: Tortoise. 4) Phụng: Phoenix.
tứ liên hoa
Four kinds of lotus—See Liên Hoa.
Tứ liệu giản
四料簡|Lâm Tế Nghĩa Huyền
tứ liệu giản
A summary of the Lâm Tế tông in reference to subjective, objective, both, neither.
; Đoạt cảnh chẳng đoạt nhân, Đoạt nhân chẳng đoạt cảnh, Cảnh nhân đều đoạt, Cảnh nhân đều chẳng đoạt.
; (A) Bốn cách cân nhắc trong giáo tướng của tông Lâm Tế—A summary of Lin-Chi school, an offshoot of the Ch'an: 1) Chủ Quan: Bỏ người chẳng bỏ cảnh—Subjective. 2) Khách Quan: Bỏ cảnh chẳng bỏ người—Objective. 3) Cả Chủ Quan lẫn Khách Quan: Bỏ cả người lẫn cảnh—Both subjective and objective. 4) Chẳng Chủ Quan chẳng Khách Quan: Chẳng bỏ người chẳng bỏ cảnh—Neither subjective nor objective. (B) Trong thời Đại Sư Diên Thọ, người đời còn đang bị phân vân, ngờ vực giữa Thiền tông và Tịnh Độ, chưa biết phải tu môn nào để được kết quả chắc chắn, nên ngài Diên Thọ đã làm bài kệ TỨ LIỆU GIẢN để so sánh với Thiền Tông—During the time of Den Suu, many Buddhists were skeptical and unclear about the differences between Zen and Pureland, not knowing which tradition to practice to obtain guaranteed results; therefore, Den-Suu wrote a poem entitled “Four Clarifications” to make comparisons. 1) Hữu Thiền Vô Tịnh Độ, thập nhân cửu thác lộ. Ấm cảnh nhược hiện tiền, miết nhĩ tùy tha khứ (Có Thiền không Tịnh Độ, mười người chín lạc đường. Ấm cảnh khi hiện ra, chớp mắt đi theo nó): Having Zen but not having Pureland, nine out of ten cultivators will be lost. When life images flash before death, in a split second, must follow that karma. 2) Vô Thiền Hữu Tịnh Độ, vạn tu vạn nhơn khứ. Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất khai ngộ (Không Thiền có Tịnh Độ, muôn tu muôn thoát khổ. Vãng sanh thấy Di Đà, lo gì không khai ngộ): Without Zen but having Pureland, thousand cultivators, thousand find liberation. Gain rebirth, witness Amitabha Buddha, what worry is there for not becoming awakened! 3) Hữu Thiền Hữu Tịnh Độ, do như đái giác hỗ. Hiện thế vi nhân sư, lai sanh tác Phật Tổ (Có Thiền có Tịnh Độ, như thêm sừng mãnh hổ. Hiện đời làm thầy người, về sau thành Phật Tổ): Having Zen and having Pureland, is similar to giving horns to a tiger. Present life one will be the master of men; in the future one will become Buddha and Patriarch. 4) Vô Thiền Vô Tịnh Độ, thiết sàng tinh đồng trụ. Vạn kiếp dữ Thiên sanh, một cá nhơn y hổ (Không Thiền không Tịnh Độ, giường sắt cột đồng lửa. Muôn kiếp lại ngàn đời, chẳng có nơi nương tựa): Without Zen and without Pureland, iron beds and copper poles await. In tens and thousands of lifetimes, having nothing to lean on.
tứ loại chúng sanh
See Four Kinds of Sentient Beings in English-Vietnamese Section.
tứ luân
Theo Câu Xá Luận, có tứ luân tạo nên thế giới—According to the Kosa Sastra, there are four wheels on which the earth rests: (A) Đại Địa Tứ Luân—The four wheels on which the earth rests: 1) Hư Không Luân: The Space wheel. 2) Thủy Luân: The Water wheel—See Thủy Luân. 3) Phong Luân: The Wind (Air) wheel. 4) Kim Luân: The Metal wheel. (B) Bốn hình tượng của tứ luân—Four images with wheels: 1) Màu vàng quan hệ tới vàng hay kim loại—Yellow associated with metal or gold. 2) Màu trắng với nước: White with water. 3) Màu đỏ với lửa: Red with fire. 4) Màu đen với gió: Black with wind. (C) Tứ Phật Luân—The four dhyani-buddhas: 1) Kim Cang Luân với A Súc Bệ Phật: Vajra-Wheel with Aksobhya Buddha. 2) Bảo Luân với Bảo Tướng Phật: Ratna-Wheel with Ratnasambhava Buddha. 3) Pháp Luân với A Di Đà Phật: Dharma-Wheel with Amitabha Buddha. 4) Yết Ma Luân với Nam Phật: Amoghasiddhi. (D) Tứ Luân của Tứ Thiên Vương—The four wheels of the Cakravartin kings: 1) Kim Luân (vàng): Gold wheel. 2) Ngân Luân (bạc): Silver wheel. 3) Đồng Luân: Copper wheel. 4) Thiết Luân (sắt): Iron wheel.
tứ luân vương
Bốn loại Tứ Thiên Vương—The four kinds of Cakravartin kings—See Tứ Luân (D).
tứ luận
Four famous sàstras: (1) Trung quán luận Prànyamùla-sàstratìka by Long Thọ Nàgàrjuna; (2) Bách luận Sata-sàstra by Đề Bà Devabodhisattva; (3) Thập nhị môn luận Dvàdasanikàya-(mukha)-sàstra by Nàgàrjuna; (4) Đại trí độ luận Mahàprajnàparàmità-sàstra by Nàgàrjuna.
; Bốn bộ luận nổi tiếng—The four famous sastras: 1) Trung Quán Luận (bốn quyển): Pranyamula-sastratika by Nagarjuna (Long Thọ), four books. 2) Bách Luận (hai quyển): Sata-sastra by Devabodhisattva, two books. 3) Thập Nhị Môn Luận (một quyển): Dvadasanikaya-mukha-sastra by Nagarjuna, one book. 4) Đại Trí Độ Luận (100 quyển): Mahaprajnaparamita-sastra by Nagarjuna, one hundred books.
tứ luận chứng
Bốn luận chứng mà ngài Thế Thân đã trích dẫn từ nền văn học Luận Tạng. Trong đó Thế Thân tán đồng quan điểm của Thế Hữu (3) là hợp lý nhất trong số bốn luận chứng, dù ông không hoàn toàn thỏa mãn với nó—The four arguments which Vasubandhu quoted from the Exegetic Literature. Vasubandhu prefers Vasumitra's opinion (3) as the best of the four arguments though he was not entirely satisfied with it. 1) Luận chứng của Pháp Cứu, bàn về sai biệt giữa phẩm loại hay kết quả, như một thoi vàng có thể được làm thành ba thứ đồ dùng, nhưng mỗi thứ vẫn giữ y bản chất của vàng: Dharmatrata's argument from the difference of kind or result, as a gold piece may be made into three different articles, yet each retains the real nature of gold. 2) Luận chứng của Diệu Âm, bàn về sai biệt tướng dạng hay kiện tố, như cùng một công việc có thể đạt đến được bằng ba nhân công khác nhau: Shosa's argument from the difference of mark or factor as the same service can be obtained from three different employees. 3) Luận chứng của Thế Hữu, bàn về sai biệt nhiệm vụ hay vị trí, như trong kế toán, cùng một con số có thể được dùng để diễn tả ba giá trị khác nhau, ví dụ như một đơn vị số có thể là một hay chỉ cho 10, hay cho 100 (1 mét=10 deci-mét=100 centi-mét). Theo luận chứng nầy thì ta có thể đưa ra nhiều giá trị khác nhau cho mỗi một trong ba thời (quá khứ, vị lại, và hiện tại): vị lai là giai đoạn chưa hiện hành, hiện tại là giai đoạn đang hiện hành thực sự, và quá khứ là giai đoạn mà hiện hành đã chấm dứt. Do bởi những sai biệt về giai đoạn, nên ba thời phân ly rõ rệt, và tất cả các pháp trong đó đều là những thực thể có thực. Do đó có công thức “Tam Thế Thực Hữu, Pháp Thể Hằng Hữu” (ba giai đoạn của thời gian đều có thực và do đó thực thể của tất cả các pháp đều liên tục là thực hữu): Vasumitra's argument from the difference of function or position in accounting where the same numeral may be used to express three different values, for instance, the numeral one may by 1 or the index of 10 or of 100 (1 meter=10 decimeters=100 centimeters). According to this argument, it is possible to give different values to each of the three periods of time, the future is the stage which has not come to function, the present is the actually functioning stage, and the past is the stage in which the function has come to an end. Owing to the differences in stages, the three periods are distinctly separate, and all things or elements in them are real entities. Hence the formula: “The three periods of time, are real and so is the entity of all elements at any instant.” 4) Luận chứng của Giác Thiên, sai biệt về quan điểm hay tương quan; như một người đàn bà có thể cùng một lúc vừa là con gái, là vợ và bà mẹ, tùy theo sự tương quan với mẹ, với chồng hay với con của mình: Buddhadeva' argument from the difference of view or relation, as a woman can at once be daughter, wife, and mother according to the relation she holds to her mother, her husband, and her child. ** For more information, please see Nhất Thiết Hữu Bộ (B).
Tứ Luận Tông
(四論宗, Shiron-shū): tên gọi của học phái nghiên cứu dựa trên 4 bộ luận chính: 3 bộ của Tam Luận Tông và bộ Đại Trí Độ Luận hay Đại Phẩm Bát Nhã (s: Mahāprajñāpāramitā-śāstra, 大智度論 hay 大品般若) 100 quyển của Long Thọ, do Cưu Ma La Thập dịch.
tứ luận tông
Four-discourse school.
; Tứ Luận Tông được thành lập vào đời nhà Tùy, chủ thuyết dựa trên bộ Tứ Luận được soạn bởi Ngài Long Thọ và Đề Bà Bồ Tát. Vì lúc ấy Tam Luận Tông quá thiên trọng về duy tâm luận phủ định, nên nảy lên một phái tích cực là Tứ Luận Tông, bằng cách thêm vào một tác phẩm thứ tư của Ngài Long Thọ, đó là Đại Trí Độ Luận, trong đó chúng ta thấy rằng ông thiết lập quan điểm “Nhất Nguyên” của mình một cách xác quyết hơn trong bất cứ tác phẩm nào khác. Vì Tam Luận hay Tứ Luận đều từ tay Ngài Long Thọ, nên khuynh hướng tổng quát của những luận chứng siêu hình cũng gần giống nhau. Tuy nhiên, khi Tam Luận Tông chiếm ưu thế hơn, Tứ Luận tông đành nhượng bộ và mất hẳn khỏi môi trường tranh luận tánh không—The Four-Sastra Sect, which formed during the Sui dynasty, its doctrines based on those four sastras composed by Nagarjuna and Devabodhisattva. As the Madhyamika School is much inclined to be negativistic idealism, there arose the more positive Four-Treatise School or Shih-Lun which adds a fourth text by Nagarjuna, namely, the Prajnaparamita Sastra in which we see that he establishes his monistic view much more affirmatively than in any other text. Because all being from Nagarjuna's hand, the general trend of metaphysical argument is much the same. However, as the Madhyamika School carried the day, the Four Treatise School gave way to it and soon disappeared from the arena of Sunyata controversy. ** For more information, please see Tứ Luận, and Tam Luận Tông.
tứ luật ngũ luận
Bốn Luật Năm Luận—The four Vinaya and the five Sastras: (A) Bốn Luật—The four Vinaya or disciplinary regulations: 1) Thập Tụng Luật: Bộ Thập Tụng Luật được Ngài Phật Nhược Đà La đời Hậu Tần dịch ra Hoa Ngữ gồm 61 quyển—Sarvastivada-version, translated into Chinese in 61 books by Punyatara. 2) Tứ Phần Luật: Bộ Tứ Phần Luật được Ngài Phật Đà Da Xá đời Diêu Tần dịch ra Hoa Ngữ 60 quyển—Dharmagupta's version, translated into Chinese by Buddhayasas in 60 books. 3) Tăng Kỳ Luật: Bộ Tăng Kỳ Luật được Ngài Phật Đà Bạt Đà La đời Đông Tấn dịch ra Hoa ngữ, 40 quyển—Samghika-version or Mahasamghika-version, translated into Chinese in 40 books by Buddhabhadra. 4) Ngũ Bộ Luật: Sa Di Tắc Bộ Hòa Hê Ngũ Phần Luật (Mahisasaka-nikaya-pancavargavinaya)—Bộ Ngũ Bộ Luật do Ngài Phật Đà Thập đời Tống dịch ra Hoa ngữ, 30 quyển—Mahisasaka-version, translated into Chinese in 30 books by Buddhajiva. (B) Ngũ Luận—The five sastras: 1) Tì Ni Mẫu Luận: 2) Ma Đắc Lặc Già Luận: 3) Thiện Kiến Luận: 4) Tát Bà Đa Luận: 5) Minh Liễu Luận:
tứ ly ách
Four unyokings—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn ly ách—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four unyokings: 1) Ly Dục Ách: Unyoking from sensuality. 2) Ly Hữu Ách: Unyoking from becoming. 3) Ly Kiến Ách: Unyoking from wrong views. 4) Ly Vô Minh Ách: Unyoking from ignorance.
tứ lô
The four furnaces, or altars of the esoteric cult, each differing in shape: earth, square; water, round; fire, triangular; wind, half-moon shape.
; Bốn loại hỏa lò hay bàn thờ của Mật Giáo, mỗi thứ đều có hình thể khác nhau—The four furnaces, or altars of the esoteric cult, each differing in shape: 1) Địa Lô: Lò đất hình vuông—Earth furnace, square in shape. 2) Thủy Lô: Lò nước hình tròn—Water furnace, round in shape. 3) Hỏa Lô: Lò lửa hình chữ nhật—Fire furnace, triangular in shape. 4) Phong Lô: Lò gió hình bán nguyệt—Wind furnace, half-moon in shape.
Tứ Lăng-già kinh 四巻楞伽經
[ja] シカンリョウガキョウ Shikanryōgakyō ||| The four fascicle version of the Lankāvatāra-sūtra: Sijuan lengqie jing 楞伽阿跋多羅寶經, trans. by Gunabhadra 求那跋陀羅; translated into English by Daisetsu Suzuki T 670.16.480a-514b. cf. T 671, 672; T 1789. This version of the sutra has proven to be the most influential version in East Asia. => Bản dịch kinh Lăng-già gồm bốn quyển, nhan đề Lăng-già A-bạt-đa-la bảo kinh (楞伽阿跋多羅寶經 c: Sijuan lengqie jing; s: Lankāvatāra-sūtra), do Cầu-na bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: Gunabhadra) dịch. Bản dịch tiếng Anh của Daisetsu Suzuki. Bản kinh Lăng-già bốn quyển nầy được xem là bản dịch có uy tín nhất ở Đông Á.
tứ lưu
The four currents (that carry the unthinking along); i.e. the illusions of kiến seeing things as they seem, not as they really are; dục desires; hữu existence, life; vô minh ignoranve, or an unlightened condition.
; Bốn dòng suy tưởng, tức những thứ phiền não khiến chúng sanh trôi dạc, chìm đắm trong dòng thác luân hồi sanh tử—Four currents that carry the thinking along. These are the defilements that sweep away the wholesome dharmas and cause sentient beings to drift and drown in the torrential stream of Samsara: 1) Kiến Lưu: Tà kiến hay những suy tưởng ảo ảnh hay kiến hoặc của tam giới—Wrong views, or the ilusion of seeing things as they seem, not as they really are. 2) Dục Lưu: Suy tưởng dục vọng hay các hoặc của dục giới—Desires, or thinking of desires. 3) Hữu Lưu: Suy tưởng về sự có của đời sống hay ủa báo sinh tử chẳng mất—Samsaric existence, or thinking of existence or life. 4) Vô Minh Lưu: Suy tưởng mê muội hay vô minh của tam giới—Ignorance, or Unenlightened thinking or condition.
Tứ lưu 四流
[ja] シル shiru ||| See simuliu 四暴流 [py] sipaoliu . => Xem Tứ bạo lưu 四慕流.
tứ lương dược
The four good physicians or medicines—See Tứ Thánh Hành and Tứ Y (A).
tứ lạc pháp
See Tứ Đọa.
Tứ lậu 四漏
[ja] シロ shiro ||| The four kinds of outflow: (1) the three kinds of outflow 三漏, plus the outflow of views 見漏. (2) See 四暴流. 〔北本大般涅槃經卷二十二, 大毘婆沙論卷四十八〕 => 1. Tam lậu cộng thêm Kiến lậu見漏. 2.Xem Tứ bạo lưu四暴流.
tứ lực
The four powers for attaining enlightenment: tự lực independent personal power; tha lực power derived from others; nhân duyên lực power of past good karma; phương tiện lực power arising from environment.
; (A) Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn lực—According to the Sangiti Sutta, there are four powers: 1) Tinh tấn lực: Energy. 2) Niệm lực: Mindfulness. 3) Định lực: Concentration. 4) Tuệ lực: Wisdom. (B) Bốn loại lực giúp ta đạt được giác ngộ—Four powers for attaining enlightenment: 1) Tự lực: Tự mình tinh tấn dũng mãnh phát tâm Bồ Đề—Independent personal power. 2) Tha lực: Do lực giáo giới của người khác tác động vào nên phát tâm Bồ Đề—Power derived from others. 3) Nhân Lực: Nhờ thiện nghiệp lực từ quá khứ mà đời nay phát tâm Bồ Đề: Power of past good karma. 4) Phương Tiện Lực: Do lực từ hoàn cảnh bên ngoài hay từ những phương tiện thiện xảo mà phát tâm Bồ Đề: Power arising from environment.
tứ lực vương
Maitribalarāja (S).
tứ ma
Gồm: - ma phiền não - ma ngũ ấm - tử ma - thiên ma.
; Trong Phật giáo, ma nói về những chướng ngại cho việc giác ngộ. Có bốn loại ma chính—In Buddhism, demons refer to obstructions of enlightenment—There are four major sources of distraction and delusion: 1) Ma ngũ uẩn: The demons of the mind-body clusters (form, sensation, perception, condition, consciousness). 2) Ma phiền não: The demons of afflictions. 3) Ma tử: The demons of death. 4) Ma thiên: The demons of heaven—Wish to be in the realm of desire and thus blocks transmundane goodness.
tứ ma thất
Sima (skt)—Biệt trụ của chư Tăng Ni và khách thập phương—A boundary, a separate dwelling or dwellings for monks and visitors.
tứ minh
Four Chân ngôn Shingon emblems, aids to Yoga-possession by a Buddha or bodhisattva; they are câu a hook, thằng a cord, tỏa a lock, and linh a bell; the hook for summoning, the cord for leading, the lock for firmly holding, and the bell for resultant joy. Also the four Veda sàstras: Thọ Minh, Rig-Veda; Tự Minh,Yajur-Veda; Bình Minh, Sama-Veda; Thuật Minh, Artharva-Veda.
; Four Shingon emblems, aids to Yoga-possession by a Buddha or Bodhisattva: 1) Câu Minh: A hook, for summoning. 2) Tác Minh (sách minh): A cord, for leading. 3) Tỏa Minh: A lock, for firmly holding. 4) Linh Minh: A bell, for the resultant joy.
tứ minh gia
Phái chính thống của tông Thiên Thai—Ssu-Ming school in the direct line of T'ien-T'ai.
tứ minh sơn
Dãy núi ở Ninh Phụ nơi có thể thấy được Tứ Minh—A mountain range in Ningpo perfecture where the four emblems are clearly seen: 1) Nhựt Sơn: The Sun. 2) Nguyệt Sơn: The Moon. 3) Tinh Sơn: The Stars. 4) Đại Hùng Tinh Sơn: The Constellations.
Tứ Minh Tri Lễ
(四明知禮, Shimei Chire, 960-1028): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ Kim (金), tự là Ước Ngôn (約言). Năm lên 7 tuổi, ông đã để tang mẹ, bèn phát nguyện xuất gia, và năm 15 tuổi thì thọ Cụ Túc giới, chuyên tâm nghiên cứu về Luật tạng. Năm 20 tuổi, ông theo Bảo Vân Nghĩa Thông (寳雲義通) học giáo điển Thiên Thai, được 1 tháng sau thì có thể giảng Tâm Kinh được. Vào năm thứ 2 (991) niên hiệu Thuần Hóa (純化), ông đến trú trì Càn Phù Tự (乾符寺). Đến năm đầu (995) niên hiệu Chí Đạo (至道), ông chuyển đến sống ở Bảo Ân Viện (保恩院) thuộc Tứ Minh Sơn (四明山). Vào năm thứ 2 (1009) niên hiệu Tường Phù (祥符), công việc trùng kiến ngôi Bảo Ân Viện được hoàn thành, và năm sau thì được ban sắc ngạch chùa là Diên Khánh Tự (延慶寺). Chính nơi đây ông đã chuyên tâm sám hối trong vòng hơn 40 năm và học chúng theo ông rất đông. Ông là nhân vật trung tâm của Phái Sơn Gia (山家派), đối lập với hệ thống Phái Sơn Ngoại (山外派) của Ngộ Ân (晤恩) và các môn hạ của nhân vật này như Hồng Mẫn (洪敏), Nguyên Thanh (源清), Trí Viên (智圓), Khánh Chiêu (慶昭), v.v., trong vòng 40 năm trường. Cả hai phái này kéo dài luận tranh và phần lớn các nghị luận đều do Tri Lễ làm ra và những văn thư trao đổi qua lại giữa hai phái này được thâu lục vào trong Thập Nghĩa Thư (十義書), Quán Tâm Nhị Bách Vấn (觀心二百問), v.v. Trong đó tác phẩm tiêu biểu là Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao (十不二門指要鈔), ngoài ra còn có một số bản chú sớ về các tác phẩm của Trí Khải (智顗). Môn hạ của ông chia thành 3 dòng, hưng thịnh qua các triều đại không hề dứt tuyệt. Vua Chơn Tông nhà Tống cảm niệm công đức của ông, bèn tặng cho hiệu là Pháp Trí Đại Sư (法智大師). Sau này ông được tôn xưng là vị tổ thứ 17 của Thiên Thai Tông. Vì ông thường trú tại Tứ Minh Diên Thọ Tự, nên người đời thường gọi ông là Tứ Minh Tôn Giả (四明尊者), Tứ Minh Đại Sư (四明大師). Vào năm thứ 6 niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ông niệm A Di Đà Phật mấy trăm biến rồi an nhiên thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Bình sanh ông tập trung vào việc trước tác, giảng diễn và sám hối, kể từ năm thứ 2 (999) niên hiệu Hàm Bình (咸平), ông giảng Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義) 7 lần, Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) 8 lần, Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀) 8 lần, Đại Niết Bàn Kinh (大涅槃經) 1 lần, Tịnh Danh Kinh Sớ (淨名經疏) 2 lần, Kim Quang Minh Kinh Huyền Sớ (金光明經玄疏) 10 lần, Quan Âm Biệt Hành Huyền Sớ (觀音別行玄疏) 7 lần, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (觀無量壽佛經疏) 7 lần, v.v. Môn đồ của ông có rất nhiều, trong đó có những nhân vật xuất chúng như Thượng Hiền (尚賢), Bổn Như (本如), Phạn Trăn (梵臻), v.v. Trước tác của ông để lại có Kim Quang Minh Kinh Văn Cú Ký (金光明經文句記), Giải Báng Thư (解謗書), Đại Bi Sám Pháp (大悲懺法), Tu Sám Yếu Chỉ (修懺要指), Quang Minh Sám Nghi (光明懺儀), Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Dung Tâm Giải (觀無量壽佛經融心解), Quán Âm Biệt Hành Huyền Nghĩa Ký (觀音別行玄義記), Quán Âm Biệt Hành Sớ Ký (觀音別行疏記), Thích Thỉnh Quán Âm Sớ Trung Tiêu Phục Tam Dụng (釋請觀音疏中消伏三用), Vấn Mục Nhị Thập Thất Điều Đáp Thích (問目二十七條答釋), Nhị Thập Vấn (二十問), Biệt Lý Tùy Duyên Nhị Thập Vấn (別理隨緣二十問), v.v.
tứ minh tôn giả
Pháp Tri Lễ đời nhà Tống, ở núi Tứ Minh hoằng truyền chánh pháp của tông Thiên Thai, có hiệu là Tôn Giả Tứ Minh—Chih-Li of the Sung dynasty is known as the honoured one of the Ssu-Ming.
Tứ Minh tôn giả giáo hạnh lục 四明尊者教行録
[ja] シミョウソンシャキョウコウロク Shimyō sonsha kyōkō roku ||| Siming zunzhe jiaoxing lu; 7 fasc., by Zongxiao 宗曉. T 1937.46.856a-934a. => Gồm 7 quyển, của Tông Hiểu (c: Zongxiao 宗曉).
tứ minh vương
Bốn vị thiên vương hộ pháp trong các tự viện—The four deva kings of the four quarters (guardians in a monastery)—See Tứ Thiên Vương.
Tứ Minh Đàm Tú
(四明曇秀, Shimei Donshū, ?-?): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, pháp từ của Tiếu Ông Diệu Kham (笑翁妙堪). Ông đã từng sống ở vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang). Chính ông là người biên tập bộ Nhân Thiên Bảo Giám (人天寳鑑) 2 quyển vào năm thứ 3 (1230) niên hiệu Thiệu Định (紹定).
tứ mã
Bốn loại ngựa để ví với bốn loại Tỳ Kheo—Four kinds of horses, likened to four classes of monks: 1) Loại ngựa hay nhất: Loại cứ theo bóng soi mà dong ruổi, nhanh chậm tả hữu tùy theo ý chủ—The first ones are those that respond to the shadow of the whip. 2) Loại ngựa thứ nhì: Roi chạm lông đuôi, xét ý người cưỡi mà theo ý đó—The second ones are those that respond to the lightest touch of the whip. 3) Loại ngựa thứ ba: Roi vọt chạm vừa phải là làm theo ý chủ—The third ones are those that respond to the mild application of the whip. 4) Loại ngựa thứ tư: Phải lấy vùi sắt đâm vào thân thấu đến tận xương mới chịu làm theo ý chủ—The fourth ones are those that need the spur to bite the bone.
tứ mê
See Tứ Chấp.
tứ môn
Bốn môn—The four doors, or schools of thought, or theories: 1) Hữu Môn: Tam tạng Giáo cho rằng thế giới hiện tượng có thật—The phenomenal world is real. 2) Không Môn: Thông giáo cho rằng thế giới hiện tượng không có thật—The phenomenal world is unreal. 3) Diệc Hữu Diệc Không Môn: Biệt giáo cho rằng thế giới hiện tượng cũng là hữu mà cũng là không—The phenomenal world is both real and unreal. 4) Phi Hữu Phi Không Môn: Viên giáo cho rằng thế giới hiện tượng chẳng phải hữu mà cũng chẳng phải không—The phenomenal world is neither real nor unreal. ** For more information, please see Thiên Thai Tam Giáo.
tứ môn du quán
Đức Phật Thích Ca khi còn là Thái Tử Tất Đạt Đa, do chơi thăm bốn cửa thành mà nhìn thấy bốn cảnh khổ—The four distresses observed during his wandering by the Buddha when he was a prince: 1) Sanh: Birth. 2) Lão: Old age. 3) Bệnh: Sickness—Diseases. 4) Tử: Death.
Tứ môn du quán 四門遊觀
[ja] シモンユウカン shimonyūkan ||| Same as 四門出遊. => Đồng nghĩa với Tứ môn xuất du 四門出遊.
tứ môn mật giáo
Bốn giai đoạn tu hành trong Mật tông—The four stages in esoteric symbolism: 1) Phát Tâm: Xuất Gia—The stage of Initiation. • Đông Khai: Liên hệ với phương Đông—Associated with the East. • Xuân Ôn: Liên hệ với mùa Xuân ấm áp—Associated with the warm season. 2) Tu Hành: The stage of development. • Nam Tu Hành: Liên hệ với phương Nam—Associated with the South. • Thị Hạ Nhiệt: Liên hệ với mùa Hạ nóng nực—Associated with the hot season. 3) Bồ Đề: Giác ngộ đạo Bồ Đề—The stage of enlightenment. • Tây Ngộ: Liên hệ với phương Tây—Associated with the West. • Thu Lãnh Liên hệ với mùa Thu mát mẽ—Associated with the season of coolness. 4) Niết Bàn: The stage of Nirvana. • Bắc Niết Bàn: Liên hệ với phương Bắc—Associated with the North. • Nhập Đông Hàn: Liên hệ với Đông mùa lạnh lẽo—Associated with the cold season.
tứ môn niệm phật
Four methods of Buddha Recitation—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, niệm Phật không chỉ chuyên về miệng niệm, mà còn dùng tâm để tưởng niệm. Cho nên trong môn niệm Phật, ngoài phương pháp “Trì Danh Niệm Phật” còn có ba pháp môn khác—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in Pure Land Buddhism in Theory and Practice, Buddha Recitation does not consist of oral recitation alone, but also includes contemplation and meditation. Therefore, within the Pure Land School, in addition to oral recitation, there are three other methods. They are: 1) Thật Tướng Niệm Phật: Thật tướng niệm Phật là nhập vào đệ nhất nghĩa tâm, niệm tánh Phật bản lai của chính mình. Đây chính là quán pháp thân thật tướng của Phật, kết quả sẽ chứng được 'Chân Như Tam Muội.' Phương pháp nầy thuộc về thiền định, nhưng cảnh giới do tâm thiền hiển lộ lại là 'Tịnh Độ.' Pháp nầy không gồm thâu những bậc trung hay hạ căn, nếu không phải là bậc thượng thượng căn, tất không thể ngộ nhập. Vì thế trong Tịnh Độ Tông ít có người đề xướng, mà phần hoằng hóa lại thuộc về các vị bên Thiền tông. Theo thiển ý, khi còn đi trên đoạn đường hành trì chưa đạt đến địa vị viên giác, thì tất cả các pháp môn đều là phương tiện, niệm Phật cũng là phương tiện, mà tham thiền cũng là phương tiện. Theo tam kinh Tịnh Độ, Đức Thích Tôn mở phương tiện chỉ bày cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, khuyên chúng hữu tình nên niệm Phật cầu sanh về thế giới ấy để không còn bị luân hồi, mượn cảnh duyên thắng diệu để tiếp tục tu hành mau tiến lên Phật quả. Niệm Phật tinh chuyên cũng tỏ ngộ như bên Thiền tông, nhưng điểm chánh yếu của môn niệm Phật là cầu vãng sanh, còn tỏ ngộ được bao nhiêu cũng thuộc về thứ yếu. Cho nên pháp Thật Tướng Niệm Phật luận về chỗ cứu cánh mà vẫn nhiếp thuộc Tịnh Độ. Nhưng nếu nói đến phương tiện vãng sanh thì pháp nầy vẫn chưa chính thức thuộc về Tịnh Độ, như ý nghĩa trong tam kinh Tịnh Độ mà Đức Phật đã đề xướng. Có lẽ vì vậy mà chư tổ bên Tịnh Độ tông chỉ đề cập để cho rộng thêm về nghĩa lý Tịnh Độ, mà không rộng tuyên hóa để khuyên người tu chăng?—'Real Mark' or 'Self-Nature' Buddha Recitation. This entails penetrating the Mind's foremost meaning, reciting our own original Buddha Nature. It is to contemplate the Real Mark Dharma Body of the Buddhas, resulting in attainment of True Thusness Samadhi. This method is really a Zen practice; however, since the realm revealed by the meditational mind is the Pure Land, it also qualifies as a Pure Land practice. This method is not for those of limited or moderate capacities. If the practitioner is not of the highest capacity, he cannot become enlightened and enter into it. For this reason, few Pure Land teachers promote it and the proponents of the method are found chiefly within the Zen tradition. Incidentally, I would venture to say here that while we are still treading the path of practice, not having reached the sage of Perfect Enlightenment, all Dharma methods are expedients. Buddha Recitation is an expedient and so is Zen. According to the three Pure Land sutras, Buddha Sakyamuni provided the expedient teaching of the Western Pure Land, and urged sentient beings to recite Amitabha Buddha's name seeking rebirth there. Within this method, they can escape Birth and Death, avail themselves of that wonderful, lofty realm to pursue cultivation, and swiftly attain Buddhahood. Diligent Buddha Recitation also leads to Awakening, as in Zen; however, the principal goal of the Pure Land School is rebirth in the Land of Ultimate Bliss, while the degree of Awakening achieved is a secondary consideration. Thus, the goal of Real Mark Buddha Recitation falls within Pure Land teachings. However, from the standpoint of an expedient leading to rebirth in the Land of Ultimate Bliss, it does not trully qualify as a Pure Land method within the meaningof the Three Pure Land sutras taught by Buddha Sakyamuni. This is, perhaps, the reason why Pure Land Patriarchs merely referred to it to broaden the meaning of Buddha Recitation, but did not expound it widely. 2) Pháp Quán Tưởng Niệm Phật: Quán tưởng niệm Phật là chiếu theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ để quán tưởng y báo chánh báo nơi cõi Cực Lạc. Trong kinh nầy có dạy 16 phép quán, nếu quán hạnh được thuần thục, thì lúc mở mắt hay nhắm mắt hành giả đều thấy cảnh Cực Lạc hiện tiền, tâm thần dạo chơi nơi cõi tịnh, khi mạng chung quyết định sẽ vãng sanh. Công đức của pháp nầy lớn lao không thể nghĩ bàn, nhưng vì cảnh quán quá vi tế sâu mầu, nên ít người hành trì được thành tựu. Bởi đại để có năm điều khó, ít có người được đầy đủ, nên phép quán tưởng nầy thuộc về môn khó hành trì—Contemplation by Thought Recitation. This entails meditation on the features of Buddha Amitabha and His Land of Ultimate Bliss, in accordance with the Meditation Sutra (the sutra teahces a total of 16 contemplations). If this practice is perfected, the cultivator will always visualize the Pure Land before him. Whether his eyes are open or closed, his mind and thoughts are always coursing through the Pure Land. At the time of death, he is assured of rebirth there. The virtues obtained through this method are immense and beyond imagination, but since the object of meditation is too profound and subtle, few practictioners can achieve it. This is because, in general, the method presents five difficulties. Very few can avoid all five pitfalls. Thus upon reflection, this method also belongs to the category of difficult Dharma doors: a) Nếu độn căn, tất khó thành tựu: With dull capacities, one cannot easily succeed. b) Nếu tâm thô thiển, tất khó thành tựu: With a crude mind, one cannot easily succeed. c) Nếu không biết khéo dùng phương tiện xoay chuyển trong khi tu, tất khó thành tựu: Without knowing how to use expedient skillfully and flexibly during actual practice, one cannot easily succeed. d) Nếu ghi nhận ấn tượng không sâu, tất khó thành tựu: Without the ability to remember images clearly, one cannot easily succeed. e) Nếu tinh lực yếu kém, tất khó thành tựu: With low energy, one cannot easily succeed. 3) Quán Tượng Niệm Phật: Quán tượng niệm Phật là phương thức đem một bức tượng Phật A Di Đà để trước mặt, ghi nhận mọi nét của bức tượng ấy, rồi quán tưởng cho đến khi dù không có tượng, lúc mở mắt hay nhắm mắt đều thấy hình tượng Phật hiện rõ trước mắt. Phương pháp nầy cũng khó, vì cần phải có tinh lực mạnh, ký ức sâu, và trí phương tiện khéo. Đã có người áp dụng cách thức nầy, nhưng vì không khéo dùng phương tiện thay đổi, nên bị hư hỏa xông lên, mang chứng nhức đầu khó trị. Tuy nhiên, xét lại dùng phép quán tượng để vãng sanh, không thấy nói trong kinh điển. Đây chỉ là cách thức phụ giúp cho sự trì danh hiệu Phật, để hành giả tâm không tán loạn, dễ được chánh niệm mà thôi. Nếu người tu với lòng thành tín, cũng có thể được cảm ứng, tiêu tội nghiệp sanh phước huệ, từ nơi hình tượng giả mà thấy được Phật tướng thật và được vãng sanh—Contemplation of an Image Recitation. In this method, the practictioner faces a statue of Amitabha Buddha and impresses all the features of that statue in his memory, contemplating to the point where, even in the absence of a statue, and whether his eyes are open or closed, he clearly sees the image of Amitabha Buddha. This method is also difficult, because it requires a great deal of energy, a faithful memory and skillful use of expedients. There are cases of individuals who have practiced it in an inflexible way and have developed headaches difficult to cure. Moreover, upon examination, this method of seeking rebirth in the Pure Land is not mentioned in the Buddhist sutras. It is merely a technique to assist in the practice of Buddha Recitation, so that the practitioner can harness his mind and achieve right thought. Still, if we practice this method in a pure, devoted frame of mind, we can obtain a response, eradicate our bad karma, develop virtue and wisdom, and, through an illusory statue of Amitabha Buddha, awaken to His True Marks and achieve rebirth in the Pure Land. 4) Trì Danh Niệm Phật: Trì danh niệm Phật là phương pháp niệm ra tiếng hay niệm thầm bốn hoặc sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật.” Trì bốn chữ “A Di Đà Phật” được điểm lợi là dễ nhiếp tâm; nếu trì đủ sáu chữ thì được điểm lợi là dễ phát khởi sự kính thành cơ cảm. Phương pháp nầy trong Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Đức Thích Tôn đã đề xướng, hiện đang được thông dụng nhứt—Oral Recitation. In this method, the practitioner recites, aloud or silently, either “Nam Mo Amitabha Buddha” or “Amitabha Buddha.” The short form (Amitabha Buddha) has the advantage of easily focussing the cultivator's mind, while the longer version facilitates development of a truly earnest, respectful mind conducive to a response. This method, taught by Sakyamuni Buddha in the Shorter Amitabha Sutra, is the dominant form of Pure Land practice at the present time. ** For more information, please see Thập Chủng Trì Danh.
tứ môn tam muội
See Tứ Chủng Tam Muội.
Tứ môn xuất du 四門出遊
[ja] シモンシュツユウ shimonshutsuyū ||| The "excursions out of the four gates." According to legend, Gautama Siddhartha, becoming frustrated with his lack of experience with the world outside of his father's castle, eventually forced his father to allow him to travel outside. Despite the efforts of his father's retainers to clear the roadways of any problematic scenes, Gautama witnessed on four trips, a sick person, an extremely aged person, a corpse and a religious mendicant (śramaṇa). These experiences catalyzed his determination to renounce his worldly life and seek enlightenment. => Theo truyện ký, Thái tử Cồ-đàm Tất-đạt-đa trở nên buồn chán vì không biết được thế giớ bên ngoài hoàng cung của phụ thân mình, cuối cùng Thái tử buộc vua cha phải cho phép mình dạo chơi bên ngoài. Mặc dù nỗ lực của lính hầu đã dẹp sạch trên đường đi mọi cảnh tượng rắc rối, nhưng Thái tử Cồ-đàm vẫn chứng kiến được trong bốn lần dạo chơi bốn sự kiện: một người bệnh, một người già, một tử thi và một vị sa-môn. Những điều trải qua đã gây xúc tác đến quyết định xuất gia tìm con đường giải thoát của Thái tử.
tứ mẫu
Four Mothers Là bốn vị Phật nữ: Địa Tạng Phật đi cùng Phật Tỳ lô giá na, Mamaki Phật đi cùng Phật Bảo sanh, Bensarahi Phật đi cùng Phật A di đà và Tara Phật đi cùng Phật Bất Không Thành Tựu (TT).
Tứ nghi 四儀
[ja] シギ shigi ||| The Four Postures: walking, standing, sitting and lying down. Usually written 四威儀 (siweiyi). => Bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi và nằm. Thường viết Tứ oai nghi 四威儀 .
Tứ Nghiệp
(四業): bốn nghiệp, có hai nghĩa. (1) Chỉ cho Thi (詩), Thư (書), Lễ (禮) và Nhạc (樂). Như trong Tấn Thư (晉書), chương Hậu Phi Truyện Hạ (后妃傳下), phần Hiếu Võ Định Vương Hoàng Hậu (孝武定王皇后), có câu: “Thiên tánh nhu thuận, Tứ Nghiệp doãn bị (天性柔順、四業允僃, tánh trời nhu thuận, Bốn Nghiệp đầy đủ).” (2) Chỉ cho 4 công việc của người dân là Sĩ (士), Nông (農), Công (工) và Thương (商).
Tứ nghiệp 四業
[ja] シゴウ shigō ||| Four types of admixture of good and evil karma, with the logographs for white and black representing good and evil, respectively: (1) evil-evil-differently-matured karma 黒黒異熟業; (2) good-good-differently-matured karma 白白異熟業; (3) evil-good evil-good differently-matured karma 黒白黒白異熟業 and (4) neither-evil-nor-good not-differently-matured karma 非黒非白無異熟業. (Skt. catvāri-karmāṇi; Pali cattāri kammāni)〔倶舎論、 T 1558.29.83b〕 => (s: catvāri-karmāṇi; p: cattāri kammāni) Bốn loại nghiệp thiện ác lẫn lộn, với màu sắc trắng và đen biểu tượng cho nghiệp thiện và ác tương ứng với từng loại như sau: 1. Hắc hắc dị thục nghiệp 黒黒異熟業. 2. Bạch bạch dị thục nghiệp 白白異熟業. 3. Hắc bạch hắc bạch dị thục nghiệp黒白黒白異熟業. 4. Phi hắc phi bạch vô dị thục nghiệp非黒非白無異熟業.
tứ nhiếp bồ tát
The four Bodhisattvas in the Vajradhàtu with the hook, the rope, the chain and the bell whose office is to hóa tha convert the living. Also tứ nhiếp chúng, tứ nhiếp kim cương.
Tứ nhiếp pháp
xem Bốn pháp thâu nhiếp.
; 四攝法; S: catvāri-saṃgrahavastūni;|Bốn cách tiếp dẫn chúng sinh của Ðại thừa: 1. Bố thí (布施; s: dāna); 2. Ái ngữ (愛語; s: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để chinh phục người; 3. Lợi hạnh (利行; s: arthacaryā), hành động vị tha; 4. Ðồng sự (同事; s: samānārthatā), cùng chung làm với những người thiện cũng như ác để hướng dẫn họ đến bờ giác.
tứ nhiếp pháp
1. Bố thí nhiếp: đối với người ham tài thì bố thí tài, người ham pháp thì bố thí pháp. 2. ái ngữ nhiếp: dùng ngôn ngữ ôn hòa từ ái khiến người sanh tâm hoan hỉ. 3. Lợi hành nhiếp: dùng hành vi tổn mình lợi người để cảm hóa người. 4. Đồng sự nhiếp: tự hạ địa vị mình vì độ kẻ hạ tiện thì đồng sự với kẻ hạ tiện, vì độ kẻ ăn xin thì đồng sự với kẻ ăn xin, cho đến vì độ chó, heo thì đồng sự với chó, heo (đầu thai thành chó, heo).
; Catuh-samgraha-vastu (S). Four all-embracing (bodhisattva) virtues: (1) bố thí dàna, giving what others like, in order to lead them to love and receive the truth; (2) ái ngữ priyavacana, affectionate speech, with the same purpose; (3) lợi hành arthakrtya, conduct profitable to others, with the same purpose; (4) đồng sự samànàrthatà, co-operation with and adaptation of oneself to others, to lead them into the truth.
; 1. Bố thí: đối với người ham tài thì bố thí tài, ham pháp thì bố thí pháp. 2. Ái ngữ nhiếp: dùng ngôn ngữ ôn hòa từ ái khiến người sanh tâm hoan hỷ. 3. Lợi hành nhiếp: dùng hành vi tổn mình lợi người để cảm hóa người. 4. Đồng sự nhiếp: tự hạ địa vị mình vì độ kẻ hạ tiện thì đồng sự với kẻ hạ tiện, vì độ kẻ ăn xin thì đồng sự với kẻ ăn xin, cho đến vì độ chó, heo thì đồng sự với chó, heo (đầu thai thành chó, heo).
Tứ nhiếp pháp 四攝法
[ja] シショウホウ shishōhō ||| (catuh-saṃgraha-vastu); The 'four methods of winning (people) over.' Also written 四攝事. The four methods that bodhisattvas employ to approach and save people. They are: (1) bushi 布施, giving the gift of Dharma or something that people like; (2) aiyu 愛語 using kind words; (3) lixing 利行 acting for the purpose of benefit to them; (4) tongshi 同事 physically working together with them. => (s: catuh-saṃgraha-vastu); Bốn phương pháp mà hàng Bồ-tát ứng dụng để thân cận và cứu giupa mọi người . Đó là: 1. Bố thí: ban tặng giáo pháp hoặc mọi thứ mà chúng sinh ưa thích; 2. Ái ngữ: dùng lời nói nhu hoà để giáo hoá; 3. Lợi hành: làm việc vì mục đích đem lợi lác đến cho chúng sinh; 4. Đồng sự: Cùng làm việc chung với chúng sinh.
tứ nhân quán thế
The world from four points of view: that of men in general -its pleasure, thoughtlessly; of sràvakas and pratyekabuddhas, as a burning house, uneasily; of bodhisattvas as an empty flower; of Buddha, as mind, all things being for (or of) intelligent mind.
Tứ Như Ý Túc
(s: catur-ṛddhipāda, p: catu-iddhipāda, 四如意足): còn gọi là Tứ Thần Túc (四神足), là phần thứ 3 trong 37 phẩm trợ đạo nhằm đạt được mục đích giác ngộ của Phật Giáo, gồm có Dục Như Ý Túc, Tinh Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc, Tư Duy Như Ý Túc. Các pháp này tùy theo năng lực mong muốn, nỗ lực, tâm niệm, quán sát mà có được định và tùy theo cái định ấy mà có được các loại thần biến, cho nên được gọi là Tứ Thần Túc.
Tứ như ý túc
xem Bốn như ý túc.
tứ như ý túc
Catvari-ṛiddhipadah (S)Gồm: Dục như ý túc, Niệm như ý túc, Tiến như ý túc, Tuệ như ý túc.
; Rddhipàda (S). The four steps to rddhi, or supernatural powers, making the body independent of ordinary or natural law. The four steps are said to be tứ chủng thiền định four kinds of dhyàna, but there are several definitions e.g. dục như ý túc chanda-rddhi-pàda, desire (for intensive longing, or concentration); cần như ý túc vìrya-r-p., energy (or intensified effort); tâm như ý túc citta-r-p., memory (or intense holding on to the position reached); quán như ý túc mimàmsa-r-p., meditation (or survey, the state of dhyàna). Also tứ thần túc.
tứ nhất
The four "ones", or the unity contained (according to Thiên Thai) in the Phương tiện phẩm of the Lotus sùtra; i.e giáo nhất its teaching of one vehicle; hành nhất the sole bodhisattva procedure; nhân nhất its men all and only as bodhisattva; lí nhất its one ultimate truth of the reality of all existence.
tứ niệm châu
The four classes of "prayer-beads" numbering 27, 54, 108, 1080.
tứ niệm trụ
Xem tứ niệm xứ.
Tứ Niệm Xứ
. (s: catvāri smṛti-upasthānāni, p: cattāro sati-patṭḥānāni, 四念處): từ gọi tắt của Tứ Niệm Xứ Quán (四念處觀), còn được gọi là Tứ Niệm Chỉ (四念止), Tứ Niệm Trú (四念住), Tứ Ý Chỉ (四意止), là bốn loại đầu tiên trong 37 phẩm trợ đạo mà Phật Giáo Tiểu Thừa có đề cập đến. Đây là bốn loại phương pháp nhằm để tập trung tâm vào một điểm, đề phòng tạp niệm vọng tưởng và đạt được chân lý. Tứ Niệm Xứ gồm có:(1) Thân Niệm Xứ (s: kāya-smṛty-upasthāna, p: kayekāyānupassi viharati atāpi sampajāno satimā, 身念處): quán thân thể là bất tịnh.(2). Thọ Niệm Xứ (s: vedanā-smṛty-upasthāna, p: vedanāsu vedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 受念處): quán sự thích ghét của các tác dụng thọ cảm, hết thảy đều là khổ.(3). Tâm Niệm Xứ (s: citta-smṛty-upasthāna, p: citte cittānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 心念處): quán tâm là sinh diệt, vô thường.(4). Pháp Niệm Xứ (s: dharma-smṛty-upasthāna, p: dhammesu dhammānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā, 法念處): quán hết thảy các pháp là vô ngã
Tứ niệm xứ
xem Bốn niệm xứ.
; 四念處; S: smṛtyupasṭhāna; P: satipaṭṭhāna; |Bốn niệm xứ
tứ niệm xứ
Catvari-sṃṛṭiupasṭhānani (S)Gồm: Thân niệm xứ, Thụ niệm xứ, Tâm niệm xứ, Pháp niệm xứ. Gồm: quán thân bất tịnh, quán thụ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.
; Smrti-upasthàna (S). The fourfold stage of mindfulness, or meditation that follows the Ngũ đình tâm quán fivefold procedure for quieting the mind. This fourfold method, or objectivity of thought, is for stimulating the mind in ethical wisdom. It consists of contemplating: (1) quán thân bất tịnh the body as impure and utterly filthy; (2) quán thụ thị khổ sensation, or consciousness, as always resulting in suffering; (3) quán tâm vô thường mind as impermanent, merely one sensation after another; (4) quán pháp vô ngã things in general as being dependent and without a nature of their own. The four negate the ideas of permanence, joy, personality and purity.
Tứ niệm xứ kinh
四念處經; S: smṛtyupasṭhāna-sūtra; P: sati-paṭṭhāna-sutta; |Bốn niệm xứ kinh.
Tứ niệm xứ 四念處
[ja] シネンジョ shinenjo ||| 'Four Mindfulnesses.' Same as sinianzhu 四念住sinianzhu and 四觀. => Đồng nghĩa với Tứ niệm trú 四念住 và Tứ quán 四觀.
tứ oai nghi
Four respect-inspiring forms of demeanour in walking, standing, sitting, lying.
Tứ oai nghi 四威儀
[ja] シギ shi-igi ||| The "four postures." Walking, standing, sitting and lying down. (2) The maintenance of correct deportment while in any of the four postures. => Bốn oai nghi. 1. Đi, đứng, nằm, ngồi. 2. Duy trì phong thái chững chạc trong bất kỳ bốn oai nghi trên.
tứ oán
The four enemies - the passions-and-delusions màras dục ma; death màra tử ma; the five-skandhas màra ngũ ấm ma; and the supreme màra-king thiên ma.
tứ phiền não
The four delusions in reference to the ego: ngã si ignorance in regard to the ego; ngã kiến holding to the ego ides; ngã mạn self-esteem, egotism, pride; ngã ái self-seeking, or desire, both the latter arising from belief in the ego.
tứ phong
xem Bốn loại gió.
tứ pháp
There are several groups of four dharmas:(I) (1) Giáo pháp, the teachinh of Buddha; (2) Lí pháp, its principles, or meaning; (3) Hạnh pháp, its practice; (4) Quả pháp, its fruit or rewards. (II) Another group relates to Bodhisattvas: (1) Bất xả Bồ đề tâm, their never losing the bodhi-mind; (2) Bất xả thiện tri thức or the wisdom attained; (3) Bất xả kham nhẫn ái, lạc, or perseverence in progress; (4) Bất xả a lan nhã, or the monastic forest life. (III) Also tín faith, giải discernment, hạnh performance, and chứng assurance. (IV) A "Lotus" division of tứ pháp is the answer to a question of Phổ Hiền Samantabhadra how the Lotus is to be possessed after the Buddha's demise, i.e. by thought (or protection) of the Buddha; the cultivation of virtue; enter into correct dhyàna; and having a mind to save all creatures.
tứ pháp bản mạt
The alpha and omega in four laws or dogmas - that nothing is permanent, that all things involve suffering, that there is no personality, andthat nirvàna is eternal rest.
tứ pháp giới
The four dharma-realms of Hoa Nghiêm school: (1) Sự pháp giới, the phenomenal realm, with differentiation; (2) Lí pháp giới, noumenal, with unity; (3) Lí sự vô ngại pháp giới, both lí noumenal and sự phenomenal are interdependent; (4) Sự sự vô ngại pháp giới, phenomena are also interdependent.
Tứ pháp giới 四法界
[ja] シホウカイ shihōkai ||| The four dharmadhātus, or four realms of reality as explicated by the masters of the Huayan school: (1) shi fajie 事法界 the realm of individual phenomena; (2) li fajie 理法界 the realm of the one principle (śūnyatā); (3) lishi wuai fajie 理事無礙法界 the realm of non-obstruction between principle and phenomena; (4) shishi wuai fajie 事事無礙法界 the realm of non-obstruction between phenomena. => Bốn pháp giới (s: dharmadhātus) do các bậc đạo sư tông Hoa nghiêm chủ trương; 1. Sự pháp giới; 2. Lý pháp giới; 3. Lý sự vô ngại pháp giới; 4. Sự sự vô ngại pháp giới.
tứ pháp y (y là căn cứ theo)
1. Y pháp bất y nhân. 2. Y nghĩa bất y ngữ. 3. Y trí bất y thức. 4. Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa.
tứ pháp ấn
The seal or impession of the four dogmas: suffering, impermanence, non ego, nirvàna.
tứ phương
Caturdisà (S). Belonging to the four directions.
Tứ phương dịch xứ 四方易處
[ja] シホウショ shihouisho ||| To be disoriented; to lose one's sense of direction. A simile which appears in Buddhist scriptures to describe the nature of ignorance. See, for example in the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經 (T 842.17.913b22), in the Awakening of Faith 起信論 (T 1666.38.577a3 ff. and 579c23) and in the Śūraṃgama-sūtra 首楞嚴經 (T 945.19.120b21-23). => Bị mất phương hướng; mất sự định hướng. Ví dụ trong kinh Phật diễn tả tính chất của vô minh. Xem ví dụ trong kinh Viên Giác, Khởi tín luận, kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Tứ Phạm trú
xem Bốn tâm vô lượng.
Tứ phạm trú
四梵住; S: catur-brahma-vihāra;|Bốn phạm trú
tứ phạm trụ
The noble stage of từ bi hỉ xả love, pity, joy and indifference
Tứ Phạm 四梵
[ja] シボン shibon ||| The "Four Brahman Heavens": (1) 梵 (2) 小梵無量 (3) 大梵 (4) 梵輔. Since the first is a general term, there are actually only three. => Bốn cõi trời Phạm thiên: 1. Phạm 梵; 2. Thiểu Phạm vô lượng 小梵無量; 3. Đại Phạm大梵; 4. Phạm phụ梵輔. Vì (Phạm) là tên gọi chung, thực ra chỉ có ba.
tứ phần
The Pháp tướng Dharmalaksana school divides the function of Thức consciousness into four, i.e. tướng phần mental phenoma, kiến phần discriminating such phenomena, tự chứng phần the power that discriminates, and chứng tự chứng phần the proof or assurance of that power. Another group is tín faith, giải liberty, hành action, and chứng assurance or realization.
tứ phần luật
Dharmagupta-vinaya (S)Ngài Đàm vô Đức soạn bộ Tứ phần luật phân làm 4 quyển: tỳ kheo pháp, tỳ kheo ni pháp, tư tứ đẳng pháp (cách đứng, ngồi, ăn, ngủ, an cư, xưng tội), phòng xá đẳng pháp (phép vê cất am thất, chùa).
; The four-division Vinaya or discipline of the Dharmagupta school, divided into four sections.
tứ phần luật đàm vô đức bộ
Dahrma-gupta-vinaya (S)Kinh căn bản của phái Luật tông bên Tàu.
Tứ phần luật 四分律
[ja] シブンリツ Shibunritsu ||| Vinaya of the Four Categories of the Dharmagupta sect. 60 fasc., trans. by Buddhayaśas 佛陀耶舎 and Zhu Fonian 竺佛念. T 1428.22.567b-1014b. => Bộ Luật tứ phần của phái Đat-ma Cập-đa, gồm 60 quyển, Phật-đà Da-xá 佛陀耶舎và Trúc Phật Niệm 竺佛念 dịch.
tứ phần tăng giới bản
Extracts from the Tứ phần luật for use on days when the discipline is recited.
Tứ phần yết-ma 四分羯磨
[ja] シブンケツマ shibunketsuma ||| An alternative title to the Four Part Vinaya 四分律. Wŏnhyo wrote a non-extant commentary to this work, entitled Sapun kalma so 四分羯磨疏. => Tên gọi khác của Tứ phần luật. Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo) đã viết một luận giải về bộ luận nầy, nhan đề Tứ phần yết-ma sớ (k: Sapun kalma so 四分羯磨疏), đã thất lạc.
Tứ phần 四分
[ja] シブン shibun ||| 'four aspects.' In the theory of the school of Consciousness-only, the mind and the mental function elements have four aspects. They are xiangfen 相分 objective aspect, jianfen 見分 subjective aspect, zizhengfen 自證分 the aspect of the self perceiving the object and zhengzizhengfen 證自證分 the awareness of the function of being aware of the object. ("rewitnessing aspect"). This theory was first elucidated by Dharmapāla. => Bốn phạm trù, bốn phương diện. Theo giáo lý tông Duy thức, tâm và tâm sở pháp có bốn lĩnh vực. Đó là Tướng phần 相分, Kiến phần 見分, Tự chứng phần 自證分và Chứng tự chứng phần 證自證分. Giáo lý nầy lần đầu tiên được ngài Pháp Hộ giải thích.
tứ phọc, phược
The four bandhana, or bonds: (1) desire, resentment, heretical morality, egoism; (2) desire, possession (or existence), ignorance, and unenlightened views.
Tứ Phủ
(四府): bốn phủ gồm Đại Tướng Quân Phủ (大將軍府), Thái Úy Phủ (太尉府), Tư Đồ Phủ (司徒府) và Tư Không Phủ (司空府). Có thuyết cho rằng Đại Phó Phủ (大傅府) thay cho Đại Tướng Quân Phủ. Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là 4 mùa xuân, hạ, thu và đông. Tuy nhiên, theo tín ngưỡng đạo Mẫu của Việt Nam, Tứ Phủ, còn gọi là Tứ Phủ Công Đồng (四府公同), gồm có: Thiên Phủ (天府, miền trời), có mẫu đệ nhất (Mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng làm mây mưa, gió bão, sấm chớp, v.v.; Nhạc Phủ (岳府, miền rừng núi), có mẫu đệ nhị (Mẫu Thượng Ngàn) quản lý miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sanh; Thủy Phủ (水府, miền sông nước), có mẫu đệ tam (Mẫu Thoải) thống lãnh các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước cũng như ngư nghiệp; và Địa Phủ (地府, miền đất đai), có mẫu đệ tứ (Mẫu Địa Phủ) cai quản tất cả đất đai, là nguồn gốc của mọi sự sống. Tứ Phủ được thờ tại hầu hết các tự viện ở miền Bắc Việt Nam. Tại Điện Hòn Chén, Thành Phố Huế, Thánh Mẫu Thiên Y A Na, nguyên là nữ thần của người Chăm, cũng được nhập vào hệ thống Tứ Phủ và tôn thờ làm Mẫu Thiên.
tứ quán đảnh
Catur-bhisheka (S), Fourth initiation.
Tứ quán 四觀
[ja] シカン shikan ||| Same as four bases of mindfulness 四念處. => Đồng nghĩa với Tứ niệm xứ 四念處.
Tứ quả
xem Bốn quả thánh.
tứ quả
Four fruits Gồm: quả Tu đà hoàn, quả tu đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán.
; The four phala, i.e. fruition, or rewards: tu đà hoàn quả srota-àpanna phala; tư đà hàm quả sakradàgàmi-phala; a na hàm quả anàgàmi-phala; a la hán quả arhat-phala.
Tứ quả 四果
[ja] シカ shika ||| The Four Fruits (of the śrāvaka path) (catvāri-phalani). See 四向四果. => Bốn quả vị của hàng Thanh văn (s: catvāri-phalani). Xem Tứ hướng tứ quả. 四向四果.
Tứ Quốc
(四國, Shikoku): tên gọi chung của 4 vùng là A Ba (阿波, Awa), Tán Kì (讚岐, Sanuki), Y Do (伊予, Iyo) và Thổ Tá (土佐, Tosa). Hiện tại là tên gọi chung của bốn huyện lớn gồm Tokushima (德島), Kagawa (香川), Ehime (愛媛) và Kōchi (高知).
Tứ Sanh
(s: catarso-yonayaḥ, p: catasso yoniyo, 四生): bốn hình thức sinh sản của chúng hữu tình trong Ba Cõi, Sáu Đường, gồm có Noãn Sanh (s, p: aṇḍaja-yoni, 卵生), Thai Sanh (s: jarāyujā-yoni, p: jalābu-yonija, 胎生), Thấp Sanh (s: saµsvedajā-yoni, p: saṃseda-yonija, 濕生) và Hóa Sanh (s: upapādukā-yoni, p: , opapātika, 化生). Noãn Sanh là loài sanh ra từ trứng như gà, rắn, cá, kiến, v.v. Thai Sanh loài hữu tình được sanh ra từ thai mẹ như người, voi, ngựa, trâu, khỉ, lợn, dê, v.v. Thấp Sanh là loài sanh ra từ những nơi khí ẩm thấp như nhà xí hôi hám, thịt thối, cỏ cây, v.v., như sâu bọ, mối, v.v. Hóa Sanh là loài do biến hóa mà sanh ra như chúng hữu tình trên cõi trời hay dưới Địa Ngục.Như trong Từ Bi Địa Tạng Sám Pháp (慈悲地藏懺法, CBETA No. 1487) quyển Thượng có câu: “Tùy thuận vọng tập, vãng phục Tứ Sanh, nghịch sanh tử lưu, mê luân khổ hải, vô giải thoát kỳ (隨順妄習、徃復四生、逆生死流、迷淪苦海、無解脫期, theo thói quen sai, qua lại bốn loài, ngược dòng sanh tử, trầm luân biển khổ, không kỳ giải thoát).”
tứ sanh
Caturyoni (S),Tứ chủng sanhGồm bốn cách sanh sản: - thai sanh - noãn sanh - thấp sanh - hoá sanh Xem cửu sanh.
Tứ sinh
四生; S: caturyoni;|Bốn cách sinh
tứ sinh
Catur-yoni (S). The four forms of birth: (1) thai sinh jaràyuja, viviparous, as with mammalia; (2) noãn sinh andaja, oviparous, as with birds; (3) thấp sinh samsvedaja, moisture, or water-born, as with worms and fishes; (4) hóa sinh aupapàduka, metamorphic, as with moths from the chrysalis, or with devas, or in the hells.
Tứ sát
伺察; C: sìchá; J: shisatsu;|Quán sát, tư duy sâu kín để thâm nhập vào cốt tuỷ của các pháp. Trong hầu hết các hệ thống Thiền minh sát (Quán 觀, s: vipaśya-nā), Tứ sát được xem là dạng vi tế nhất trong pháp Thiền phân tích.
tứ sơn
Like four closing-in mountains are birth, age, sickness, and death.
tứ sự
The four necessaries of a monk - clothing, victuals, bedding, medicines.
tứ sự cúng dường
xem bốn loại cúng dường.
; Four requisites, Four kinds of offering Gồm: y phục, thức ăn, đồ nằm, và thuốc men.
; The four offerings or provisions for a monk.
tứ sự pháp môn
Four methods of a bodhisattava's preparation for preaching the Law: -entry into meditation; into wisdom; into complete moral control; and into clear discernment or reasoning biện tài môn.
tứ thiên hạ
xem Bốn cõi thiên hạ.
; Gồm: Đông thắng thần châu, Nam thiện bộ châu, Tây ngưu hoá châu, Bắc câu lô châu.
; The four quarters or continents of the world.
Tứ Thiên Vương
(四天王): giữa lưng chừng núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山) có một ngọn núi tên là Do Kiền Đà La (由犍陀羅); núi ấy có 4 đỉnh, bốn vua trời đều ngự mỗi nơi, đều hộ trì một cõi thiên hạ, nên có tên là Hộ Thế Tứ Thiên Vương (護世四天王). Nơi các vị cư trú gọi là Tứ Vương Thiên (四王天), Tứ Thiên Vương Thiên (s: Caturmahārājakāyikās, 四天王天), là một trong Lục Dục Thiên (六欲天, 6 tầng trời Cõi Dục), là tầng đầu tiên của cõi trời; gồm có Trì Quốc Thiên (s: Dhṛitarāṣṭra, 持國天) ở phương Đông, Tăng Trưởng Thiên (s: Virūḍhaka, 增長天) ở phương Nam, Quảng Mục Thiên (s: Virūpākṣa, 廣目天) ở phương Tây và Đa Văn Thiên (s: Dhanada, Vaiśramaṇa, 多聞天) ở phương Bắc. Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 2, phần Hội Danh Bộ (會名部) thứ 2, dẫn lời của Kinh Trường A Hàm rằng: “Đông phương Thiên Vương danh Đa La Tra, lãnh Càn Thát Bà cập Tỳ Xá Xà thần tướng, hộ Phất Bà Đề nhân; Nam phương Thiên Vương danh Tỳ Lưu Ly, lãnh Cưu Bàn Trà cập Bế Lệ thần, hộ Diêm Phù Đề nhân; Tây phương Thiên Vương danh Tỳ Lưu Bác Xoa, lãnh nhất thiết chư long cập Phú Đơn Na, hộ Cù Da Ni nhân; Bắc phương Thiên Vương danh Tỳ Sa Môn, lãnh Dạ Xoa La Sát tướng, hộ Uất Đơn Việt nhân (東方天王名多羅吒、領乾闥婆及毘舍闍神將、護弗婆提人、南方天王名毘琉璃、領鳩槃荼及薜荔神、護閻浮提人、西方天王名毘留博叉、領一切諸龍及富單那、護瞿耶尼人、北方天王名毘沙門、領夜叉羅剎將、護鬱單越人, Thiên Vương ở phương Đông tên là Đa La Tra, thống lãnh thần tướng Càn Thát Bà và Tỳ Xá Xà, hộ trì người cõi Phất Bà Đề; Thiên Vương ở phương Nam tên là Tỳ Lưu Ly, thống lãnh thần Cưu Bàn Trà và Bế Lệ, hộ trì người cõi Diêm Phù Đề; Thiên Vương ở phương Tây tên là Tỳ Lưu Bác Xoa, thống lãnh hết thảy loài rồng và Phú Đơn Na, hộ trì người cõi Cù Da Ni; Thiên Vương ở phương Bắc tên là Tỳ Sa Môn, thống lãnh tướng Dạ Xoa, La Sát, hộ trì người cõi Uất Đơn Việt).” Tỳ Ni Chỉ Trì Hội Tập (毗尼止持會集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 39, No. 709) quyển 14 cho biết rằng: “Đông phương Trì Quốc Thiên Vương, vị năng hộ trì quốc độ, cố cư Tu Di Sơn hoàng kim đóa; Nam phương Tăng Trưởng Thiên Vương, vị năng linh tha thiện căn tăng trưởng, cố cư Tu Di Sơn Lưu Ly đóa; Tây phương Quảng Mục Thiên Vương, vị dĩ tịnh Thiên Nhãn thường quán ủng hộ thử Diêm Phù Đề, cố cư Tu Di Sơn Bạch Ngân đóa; Bắc phương Đa Văn Thiên Vương, vị phước đức chi danh văn tứ phương, cố cư Tu Di Sơn Thủy Tinh đóa (東方持國天王、謂能護持國土、故居須彌山黃金埵、南方增長天王、謂能令他善根增長、故居須彌山琉璃埵、西方廣目天王、謂以淨天眼常觀擁護此閻浮提、故居須彌山白銀埵、北方多聞天王、謂福德之名聞四方、故居須彌山水晶埵, Trì Quốc Thiên Vương ở phương Đông, được xem như hộ trì quốc độ, nên sống trên đống vàng ròng của núi Tu Di; Tăng Trưởng Thiên Vương ở phương Nam, được xem như có thể khiến cho căn lành của người khác tăng trưởng, nên sống trên đống ngọc Lưu Ly của núi Tu Di; Quảng Mục Thiên Vương ở phương Tây, được xem như lấy Thiên Nhãn thường quán sát ủng hộ cõi Diêm Phù Đề này, nên sống trên đống Bạch Ngân của núi Tu Di; Đa Văn Thiên Vương ở phương Bắc, được xem như tiếng tăm phước đức cùng khắp bốn phương, nên sống trên đống Thủy Tinh của núi Tu Di).” Trong Thiền môn có bài tán Tứ Thiên Vương rằng: “Tứ Thiên Vương Tướng, bát Kim Cang Thần, thọ Phật chúc phó trấn sơn môn, Hộ pháp an tăng luân, phong vũ điều thuận, can qua vĩnh thái bình (四天王將、八金剛神、受佛囑咐鎭山門、護法安僧倫、風雨調順、干戈永太平, bốn Thiên Vương Tướng, tám Kim Cang Thần, vâng Phật dặn bảo giữ sơn môn, Hộ pháp yên tăng thân, mưa hòa gió thuận, binh lửa mãi thái bình).”
; xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
Tứ thiên vương
四天王; S, P: caturmahārāja;|Ðược xem là bốn vị Hộ thế canh gác bốn phương trời, các vị là người giữ gìn thế giới và đạo Phật. Trước cổng chùa chiền, người ta hay thấy tượng các vị Thiên vương đó.
tứ thiên vương
Catum-mahārājikas (S),, Caturmahārājayikas (S) Catummahārājaka-devaloka (P), Heaven of the Four Kings, Four Great Kings.Tứ đại thiên vươngBốn vị cai quản bốn cõi trời dục giới miền trời Đao lợi (33 cảnh trời) thuộc quyền vua trời Đế Thích: - Trì quốc thiên vương: cai quản phương đông. - Quảng Mục thiên vương: cai quản phương tây. - Tăng trưởng thiên vương: cai quản phương nam. - Đa văn thiên vương: cai quản phương bắc.
; Catur-mahàràjàs, Lokapalas (S). The four deva-kings. Indra's external "generals" who dwell each on a side of Mount Meru, and who ward off from the world the attacks of malicious spirits, or asuras, hence their name Hộ thế Tứ Thiên Vương, the four deva-kings, guardians of the world. Their abode is the Tứ Thiên Vương thiên catur-mahàràjàs-kàyikas; and their titles are: (1) East, Trì quốc Thiên Vương Dhrtaràstra, Deva who keeps (his) kingdom, white. (2) South, Tăng trưởng Thiên Vương Virùdhaka, Deva of increase and growth, blue. (3) West, Quảng mục Thiên Vương Virùpaksa, the broad-eyed Deva, red. (4) North, Đa văn Thiên Vương Vaisravana or Dhadana, the Deva who hears much and is well versed, colour yellow. He is a form of Kuvera, the god of wealth.
Tứ thiên vương thiên 四天王天
[ja] シテンノウテン shitennōten ||| See 四天王. => Xem Tứ thiên vương 四天王.
Tứ Thiên Vương Tự
(四天王寺, Shitennō-ji): ngôi chùa trung tâm của Hòa Tông (和宗, Wa-shū), hiện tọa lạc tại số 1-11-18 Shitennōji (四天王寺), Tennōji-ku (天王寺區), Ōsaka-shi (大阪市), Ōsaka-fu (大阪府), hiệu là Hoang Lăng Sơn Kính Thiên Viện (荒陵山敬天院); còn gọi là Hoang Lăng Tự (荒陵寺, Arahaka-dera), gọi tắt là Thiên Vương Tự (天王寺, Tennō-ji). Tượng thờ chính của chùa là Cứu Thế Quan Âm Bồ Tát (救世觀音菩薩). Trước thời Chiến Quốc, nơi đây là Đại Bản Sơn của Thiên Thai Tông, và hiện tại cũng có mối qua hệ sâu xa với tông phái này. Chùa là một trong 33 nơi hành hương linh nghiệm của vùng Tây Quốc. Theo điều khoản ghi năm 587 của Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki), nguyên lai Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) có lập lời thệ nguyện rằng khi ông cùng Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako) đánh nhau với Vật Bộ Thủ Ốc (物部守屋, Mononobe-no-Moriya), nếu thắng trận thì ông sẽ khắc tượng Tứ Thiên Vương và lập chùa tôn thờ tượng này. Sau khi thắng trận, ngôi chùa này được kiến lập theo lời thệ nguyện của Thái Tử. Đây được xem như là ngôi chùa xưa nhất của nước Nhật. Khi đi vào cửa Tây của chùa, có một cổng lớn, trước đó có trụ đá ghi hàng chữ “Tứ Thiên Vương Tự ngôi chùa đầu tiên của Phật pháp Đại Nhật Bản.” Lúc ban đầu, đây là ngôi chùa kiêm học của cả 6 Tông phái. Cũng theo sách này, chùa được sáng lập vào năm 593 (đời Suy Cổ [推古] thứ 1). Già Lam được phối trí rất đặc biệt theo một đường thẳng từ Trung Môn (中門), Ngũ Trùng Tháp (五重塔), Kim Đường (金堂) đến Giảng Đường (講堂). Đương thời, trong khuôn viên chùa có Thí Dược Viện (施藥院), Liệu Bệnh Viện (寮病院), Từ Điền Viện (慈田院), Kính Điền Viện (敬田院). Đến năm 838 (Thừa Hòa [承和] 5), chức Biệt Đương (別當, Bettō) được đặt ra ở đây để quản lý việc chùa. Với tầm cỡ một ngôi chùa to lớn như thế này, tất nhiên bao lần hỏa tai đã xảy ra nơi đây; nhưng may mắn thay, chùa vẫn còn duy trì cho đến ngày nay. Dưới thời Bình An (平安, Heian), chùa bị sét đánh và hỏa tai, nhưng sau đó được phục hồi lại. Khi trào lưu phục hưng tín ngưỡng về Thái Tử trở nên hưng thạnh, vào khoảng thế kỷ thứ 11, 12, Hoàng Tộc cũng như triều thần văn võ liên tục đến đây tham bái. Trong khoảng thời gian này, chùa hướng mặt về cửa biển Ōsaka, Tây Môn của chùa được xem như là cửa của cõi Cực Lạc Tịnh Độ, cho nên cũng có người đã gieo mình xuống biển Nan Ba (難波, Naniwa) để cầu nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Trong số đó, trường hợp Tây Niệm (西念, Sainen)—người vịnh bài Cực Lạc Nguyện Vãng Sanh Ca (極樂願往生歌, 1142)—là nổi tiếng nhất. Năm 1576 (Thiên Chánh [天正] 4), Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) đốt cháy toàn bộ sơn môn; nhưng sau đó nhờ Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) mà chùa được tái kiến lại như cũ. Tiếp theo vào năm 1615 (Nguyên Hòa [元和] nguyên niên), chùa lại bị đốt cháy lần nữa; nhưng sau đó thì dòng họ Đức Xuyên (德川家康, Tokugawa) ra lệnh cho xây dựng lại, rồi đến năm 1664 (Khoan Văn [寛文] 4), Đức Xuyên Gia Cương (德川家綱, Tokugawa Ietsuna) cho tu bổ thêm lần nữa, và đã phục nguyên lại toàn bộ cảnh sắc như xưa. Về sau, nảy sinh sự cạnh tranh truyền thừa chức Biệt Đương (別當, Bettō) của chùa và nơi đây cũng thỉnh thoảng xảy ra hỏa hoạn. Vào năm 1945 (Chiêu Hòa [昭和] 20), toàn bộ kiến trúc của chùa phần lớn bị cháy tan tành trong cuộc ném bom dữ dội của Không Quân Mỹ. Còn lại một số kiến trúc như Bổn Phường Phương Trượng (本坊方丈), Ngũ Trí Quang Viện (五智光院), Lục Thời Đường (六時堂), Nguyên Tam Đại Sư Đường (元三大師堂), Thạch Vũ Đài (石雨臺), v.v., là những kiến trúc thuộc thời Giang Hộ. Tuy nhiên, khoảng 20 năm sau thì hầu như toàn bộ kiến trúc ngày xưa của chùa được phục hưng lại như cũ; tuy nhiên lần phục hưng này không phải bằng gỗ như xưa mà băng bê tông cốt sắt. Vào năm 1873 (Minh Trị [明治] 6), khuôn viên chùa được quy định làm công viên, song về sau quy định này được xóa đi; nhưng vì chùa nằm ngay trung tâm đô hội của thành phố Osaka, nên ngay nơi cửa Tây của chùa hiện có rất nhiều tiệm bán hàng đủ loại nằm san sát nhau. Tượng thờ chính của chùa là Như Ý Luân Quan Âm (如意輪觀音) bằng đồng vàng, hiện đang được tôn trí trong Kim Đường, tương truyền là do Quốc Vương nước Bách Tế (百濟, Kudara, tức Triều Tiên) làm ra. Ngoài ra còn có tượng Phật Di Lặc, tranh vẽ tượng Tứ Thiên Vương, Thập Nhị Thiên. Trong ngôi tháp 5 tầng, có tượng thờ Thích Ca Như Lai và Tứ Thiên Vương bằng gỗ. Nơi Giảng Đường tôn trí tượng Di Đà, Quan Âm, Thế Chí, Hư Không Tạng, Tứ Thiên Vương Đản Sanh. Lục Thời Đường là nơi hành trì lễ sám 6 thời trong 1 ngày, có tôn thờ rất nhiều tượng như Dược Sư, Nhật Quang, Nguyệt Quang, Thiên Thủ Quan Âm, Tứ Thiên Vương, Bất Động, Cát Tường Thiên Nữ, v.v. Tại Thái Tử Đường có an trí tượng Thái Tử lúc 16 tuổi, tượng Đại Thần Tô Ngã, Tứ Thiên Vương, v.v. Chùa hiện còn lưu giữ khá nhiều hình tượng, tranh vẽ cũng như bảo vật giá trị ngang tầm quốc bảo.
tứ thiên vương tự
Shitennoji (J).
Tứ thiên vương 四天王
[ja] シテンノウ shitennō ||| Also called 四天王天. The four heavenly kings (Catur-mahā-rājakāyikāḥ); four guardian gods who protect the four quarters of the universe. In the east Dhṛtarāṣṭra 持國天; in the south, Virūḍhaka 増長天; in the west 廣目天 Virūpākṣa, and in the north Vaiśravaṇa 多聞天. => Còn gọi là Tứ thiên vương thiên (s: Catur-mahā-rājakāyikāḥ), bốn vị vua ở 4 cõi trời; bốn vị thần trấn hộ bốn cõi nước. Phía Đông là Trì quốc thiên vương; phía Nam là Tăng trưởng thiên, phía Tây là Quảng mục thiên, phía Bắc là Đa văn thiên.
Tứ thiên 四天
[ja] シテン shiten ||| (1) The heavens of the four directions. (2) The kings of the four heavens--四天王. => Có 2 nghĩa: 1. Cõi trời bốn phương. 2. Tứ thiên vương.
Tứ thiền
四禪|Gọi đầy đủ là Tứ thiền định; chỉ bốn cấp thiền trong sắc giới (Ba thế giới), đó là:|1. Ðịnh sơ thiền: tâm tập trung vào một cảnh, tâm tầm (s, p: vitarka), tứ (s, p: vicāra), hoàn toàn li dục và không còn các Bất thiện Pháp. Người đạt sơ thiền cảm nhận trạng thái Hỉ (s: prīti), Lạc (s: sukha) và Xả (s: upekṣā); 2. Ðịnh nhị thiền: tâm không còn tầm, tứ. Nội tĩnh, Nhất tâm. Trạng thái này là Hỉ, Lạc, Xả; 3. Ðịnh tam thiền: lìa trạng thái Hỉ, chỉ còn trạng thái Xả và Lạc; 4. Ðịnh tứ thiền: lìa trạng thái Lạc, chỉ còn riêng cảm giác Xả và chính niệm.
tứ thiền
Caturtha dhyāna (S), Catuttha jhanna (P), Cetuttha (S)Gồm 4 đức: Xả thanh tịnh, Niệm thanh tịnh, Bất khổ bất lạc thọ, Tâm nhất cảnh tánh.
Tứ thiền bát định
四禪八定|bao gồm Tứ thiền (1-4) và bốn xứ của Vô sắc giới (s: arūpasamādhi; xem Ba thế giới) sau:|1. Ðịnh Không vô biên xứ (空無邊處定; s: ākāśanantyāyatana, p: ākāsanañcāyatana): hoàn toàn vượt khỏi sắc tướng (rūpa), đối ngại tưởng biến mất, và không tác ý đến những tưởng sai biệt. Với ý tưởng »Hư không là vô biên,« đạt Không vô biên xứ; 2. Ðịnh Thức vô biên xứ (識無邊處定; s: vijñānanantyāyatana, p: viññāṇañcāyata-na): vượt khỏi Không vô biên xứ, đạt Thức vô biên xứ với ý niệm »Thức là vô biên«; 3. Ðịnh Vô sở hữu xứ (無所有處; s: ākiṃ-canyāyatana, p: ākiñcaññāyatana): hoàn toàn vượt khỏi Thức vô biên xứ, đạt Vô sở hữu xứ với ý niệm »Vô sở hữu.« Lìa được trạng thái không quán, thức quán và tâm sở hữu; 4. Ðịnh Phi tưởng, phi phi tưởng xứ (非想非非想處定; s: naivasaṃjñā-nāsaṃjñā-yatana, p: nevasaññā-nāsaññāyatana): hoàn toàn vượt khỏi Vô sở hữu xứ, trú tại Phi tưởng, phi phi tưởng xứ.|Bốn định của vô sắc giới (無色界定; s, p: arūpasamādhi) này có thể được Phật thu thập từ truyền thống thiền của Ấn Ðộ trước đó và sau được hợp lại với Tứ thiền trở thành Bát định.
tứ thiền bát định
Là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; là bốn lớp thiền của cõi trời sắc giới. Tứ thiền cũng là tứ định, cộng thêm tứ định của cõi trời tứ không (vô sắc giới) thành bát định, gọi chung là tứ thiền bát định.
; The four dhyànas-concentrations, i.e. four on the form-realms, and four on the formless-realms.
; Là sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, là bốn lớp thiền của cõi trời Sắc giới. Có thiền là có định, nên Tứ thiền cũng là bốn thứ định, cộng thêm bốn thứ định của cõi trời Tứ không (Vô sắc giới) thành tám thứ định, gọi chung là Tứ Thiền Bát Định.
tứ thiền bệnh
Là tác (làm), chỉ (ngưng), nhậm (mặc kệ), diệt. Sự kiến tánh chẳng do tác, chẳng do chỉ, chẳng do nhậm, chẳng do diệt, nếu chấp vào thì thành bệnh. Nhưng người chưa kiến tánh thì có thể dùng làm thuốc.
tứ thiền thiên
The four dhyàna heavens, tứ tĩnh lự thiên, i.e. the division of the eighteen brahmalokas into four dhyànas; the disciple attain to one of these heavens according to the dhyàna he observes: (1) Sơ thiền thiên, the first region, "as large as one whole universe", comprises the three heavens: (a) Phạm chúng thiên, Brahma-pàrisadya; (b) Phạm phụ thiên Brahma-purohita; (c) Đại Phạm thiên, Mahàbrahma; the inhabitants are without gustatory or olfactory organs, not needing food, but possess the other four of the six organs. (2) Nhị thiền thiên, the second region, equal to "a small chiliocosmo", comprises the three heavens: (a) Thiểu quang thiên Parittabha, minor light; (b) Vô lượng quang thiên Apramànàbha, infinite light; (c) Quang âm thiên Abhàsvara, utmost light purity; the inhabitants have ceased to require the five physical organs, possessing only the organ of mind. (3) Tam thiền thiên, the third region, equal to "a midding chiliocosmo", comprises the three heavens: (a) Thiểu tịnh thiên Parittàsubha, minor purity; (b) Vô lượng tịnh thiên Apramànasubha, infinite purity; (c) Biến tịnh thiên Subhakrtsna, universal purity; the inhabitants still have the organ of mind and are receptive of great joy. (4) Tứ thiền thiên, the fourth region, equal to "a great chiliocosmo", comprises the remaining nine Brahmalokas, namely:(a) Phúc sinh thiên Punyaprasava, felicitous birth; (b) Vô vân thiên Anabhraka, cloudless; (c) Quảng quả thiên Brhatphala, large fruitage; (d) Vô phiền thiên Asanjnisattva, no vexations; (e) Vô nhiệt thiên Atapa, no heat. (f) Vô tưởng thiên Avrha, the heaven above thought; (g) Thiện kiến thiên Sudrsa, beutiful to see; (h) Thiện hiện Sudarsana, beautiful appearing; (i) Sắc cứu kính thiên Akanistha the end of form; the inhabitants of this fourth region still have mind. The number of the dhyàna heavens differs; the Sarvàstivàdins say 16, the Sùtra school 17, and the Sthaviràh 18.
Tứ thiền thiên 四禪天
[ja] シゼンテン shizenten ||| The 'four meditation heavens' in the realm of form. The four spheres one is born into depending upon one's level of meditation practice in the four meditative concentrations 四禪. There are various sources which describe these, but one of the most extensive is the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論, where they are discussed in connection with the term 四靜慮; the Zen gaku jiten cites a text called the Jietuodao lun 解脱道論. Those who practice the first meditative concentration in the present lifetime are born in the first meditation heaven into one of three different levels according to their proficiency in practice. Those of the lower level are born into heaven of Brahma followers 梵衆天; those of middling level are born into the heaven of Brahma's ministers 梵輔天 and those of the superior level are born into the great Brahma heaven 大梵天. In similar fashion, those who practice the second meditation in the present life are born into three grades of heavens according to their proficiency in practice: the heaven of limited light 少光天; the heaven of limitless light 無量光天 and the heaven of ultimate light and purity 極光淨天. In the third heaven there are again three: the heaven of limited purity 少淨天, the heaven of limitless purity 無量淨天 and the heaven of pervasive purity 遍淨天. The fourth heaven has eight levels: the first three of these, the cloudless heaven 無雲天 the heaven of blessed birth 福生天 and the heaven of extensive fruition 廣果天 are attainable by unenlightened sentient beings; the final five are attained only by Buddhist saints who have consummated the undefiled concentration of the fourth level: these are the heaven of no affliction 無煩天, the heaven of no heat 無熱天, the heaven of skillful manifestation 善現天, the heaven of skillful vision 善見天, and the heaven of ultimate form 色究竟天. 〔倶舎論、 T 1558.29.41a〕 => Bốn cảnh giới thiền định trong Sắc giới. Bốn cõi giới hành giả được sinh vào nhờ vào năng lực thực hành thiền định trong Tứ thiền. Có nhiều nguồn khác nhau mô tả các cảnh giới nầy. Nhưng một nguồn bao quát nhất là Câu-xá luận, trong đó đề cập đến thuật ngữ tương quan là Tứ tĩnh lự; Zen gaku jiten trích dẫn một bản văn nhan đề Giải thoát đạo luận. Hành giả tu tập đến Sơ thiền trong đời hiện tại sẽ được sinh vào Sơ thiền thiên, trong 3 tầng bực khác nhau tuỳ theo năng lực tu tập. Mức độ thấp sẽ sinh vào Phạm chúng thiên; bậc trung sinh vào Phạm phụ thiên; bậc thượng sinh vào Đại Phạm thiên. Trong một cách sắp xếp tương tự, hành giả tu tập đến Nhị thiền trong đời hiện tại sẽ được sanh vào ba cõi trời tuỳ thuộc năng lực tu hành của họ: Thiểu quang thiên; Vô lượng quang thiên; Cực quang tịnh thiên. Trong cõi trời thứ 3 lại chia 3 bậc: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, và Biến tịnh thiên. Cõi trời thứ tư có 8 bậc: 3 cõi đầu chúng sinh phàm phu có thể chứng đạt được là Vô vân thiên, Phước sinh thiên, và Quảng qủa thiên; 5 cõi còn lại chỉ có các bậc Thánh tăng đã hoàn tất định vô lậu trong tầng bậc thứ tư: đó là Vô phiền thiên; Vô nhiệt thiên, Thiện hiện thiên, Thiện kiến thiên và cõi trời Sắc cứu cánh.
Tứ thiền định 四禪定
[ja] シゼンジョウ shizenjō ||| The four meditations of the form realm. See 四禪. => Bốn cảnh giới thiền trong cõi Sắc. Xem Tứ thiền.
Tứ thiền 四禪
[ja] シゼン shizen ||| The 'four meditations.' Four progressively subtle stages of meditation which lead one out from the desire realm into rebirth in the four meditation heavens 四禪天 in the realm of form 色界 (catur-dhyāna). (1) In the first meditation the practitioner experiences the joy and pleasure of abandoning coarse desires 離生喜樂; (2) in the second, one dwells solely in the joy and pleasure produced by meditation 定生喜樂; (3) in the third, one attains sublime pleasure that transcends ordinary joy 離喜妙樂, and (4) in the fourth, one dwells in a state of mental stability free from various sensations of pain and pleasure 非苦非樂. => (s: catur-dhyāna). Bốn cảnh giới thiền định vi tế tăng tiến dần đưa hành giả thoát khỏi Dục giới sinh vào Tứ thiền thiên của Sắc giới: 1. Sơ thiền- Ly sinh hỷ lạc: hành giả đạt được sự hỷ lạc và không còn những tham dục thô trược. 2. Nhị thiền- Định sanh hỷ lạc: hành giả an trú trong hỷ lạc phát sinh nhờ thiền định. 3.Tam thiền- Ly hỷ diệu lạc: hành giả đạt được diệu lạc, vượt qua hỷ lạc phàm phu. 4. Tứ thiền- Phi khổ phi lạc: hành giả an trú trong cảnh giới tâm an định, tự tại với mọi khổ vui.
tứ thiền, bát định
xem bốn thiền, tám định.
tứ thiện căn
Xem tứ gia hạnh pháp.
; Catus-kusala-mùla (S). The four good roots, or source from which spring good fruit or development. In Hìnayàna they form the stage after Biệt tướng niệm trụ as represented by the Câu Xá and Thành Thật; in Mahàyàna it is the final stage of the Thập hồi hướng as represented by the Pháp Tướng Tông. There are also four similar stages connected with sravàka, pratyekabuddha and Buddha styled Tam Phẩm Tứ Thiện Căn. The four of the Câu Xá Tông are Noãn pháp, Đỉnh pháp, Nhẫn pháp and Thế đệ nhất pháp. The four of the Thành Thật Tông are the same. The Pháp Tướng Tông retains the same four terms but connects them with the four dhyàna stages of the Chân Duy Thức Quán in its four first Gia Hạnh developments.
Tứ thiện căn 四善根
[ja] シゼンコン shizenkon ||| The "four good roots" of the Yogācāra school. These are present at the final stage of the 'ten dedications of merit' (十廻向). Just at the point of finishing the tenth "dedication," one cultivates the four views of the fathoming mind, and the four views of absolute reality. In terms of the five stages (五位) this occurs at the second stage (加行位), 'preparation.' The four roots are 'warmth' (煖), The 'pinnacle' (頂), 'forbearance' (忍), and The 'highest worldly wisdom' (世第一法). => Tứ thiện căn vị theo giáo lý tông Duy thức. Tức là ở giai vị cuối cùng của Thập hồi hướng. Ngay khi vừa hoàn thành giai vị Thập hồi hướng, hành giả tu tập Tứ tầm tư quán và Tứ như thật quán. Theo trong Ngũ vị, Tứ thiện căn vị tức là giai vị thứ 2 (Gia hạnh vị). Tứ thiện căn là: noãn, đảnh, nhẫn và thế đệ nhất pháp.
Tứ Thánh
(四聖): bốn vị Thánh, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ 4 nhà thống trị anh minh như thánh, gồm chuyên húc (顓頊), vua Khốc (嚳), vua Nghiêu (堯), và vua Thuấn (舜). (2) Chỉ 4 nhà thống trị anh minh khác là vua Nghiêu, Thuấn, Vũ (禹) và Thang (湯). Như trong Dịch Lâm (易林), phần Phục Chi Đại Quá (復之大過), của Tiêu Cống (焦贛, ?-?) nhà Hán, có câu: “Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Tứ Thánh đôn nhân, doãn thí đức âm, dân an vô cùng (堯、舜、禹、湯、四聖敦仁、允施德音、民安無窮, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Bốn Thánh đôn hậu nhân từ, ban khắp âm đức, dân an vô cùng).” (3) Chỉ cho 4 vị vua Phục Nghi (伏羲), Hiên Viên (軒轅, tức Hoàng Đế [黃帝]), Cao Tân (高辛, tức vua Khốc) và Vũ. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籤) có đoạn rằng: “Phục Nghi thọ đồ, Hiên Viên thọ phù, Cao Tân thọ thiên kinh, Hạ Vũ thọ Lạc Thư; Tứ Thánh bẩm kỳ thần linh, Ngũ Lão hiện ư hà chử (伏羲受圖、軒轅受符、高辛受天經、夏禹受洛書、四聖稟其神靈、五老現於河渚, Phục Nghi nhận bản đồ, Hiên Viên nhận lá phù, Cao Tân nhận kinh trời, Hạ Vũ nhận Lạc Thư; Bốn Thánh vâng thần linh ấy, Năm Lão hiện nơi bãi sông).” (4) Chỉ cho Chu Công (周公), Thái Công (太公), Chiêu Công (召公) và Sử Dật (史佚). (5) Chỉ cho 4 vị vua anh minh như bậc thánh thời nhà Đường là Túc Tông (肅宗, tại vị 756-762), Đại Tông (代宗, tại vị 762-779), Đức Tông (德宗, tại vị 779-805) và Thuận Tông (順宗, tại vị 805). (6) Nhà y học gọi Hoàng Đế (黃帝), Kì Bá (岐伯), Tần Việt Nhân (秦越人, tức Biển Thước [扁鵲, 407-310 ttl.]) và Trương Cơ (張機, 150-219) là Tứ Thánh. (7) Khi Mười Giới phân ra phàm Thánh, Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺), Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) và Phật (s, p: buddha, 佛) được gọi là Tứ Thánh, còn các cõi kia là Lục Phàm (六凡, sáu hạng phàm phu). Các vị Thánh này đã xa lìa phiền não, đoạn tận khổ của luân hồi. (8) Chỉ cho 4 quả vị của Thanh Văn là Dự Lưu (預流), Nhất Lai (一來), Bất Hoàn (不還) và Vô Học (無學, tức A La Hán). (9) Chỉ 4 ngôi tôn kính được lễ bái trong Thiền Tông, gồm Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀), Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音), Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至) và đại hải chúng Bồ Tát. (1) Chỉ cho 4 cao đệ của Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) là Đạo Sanh (竺道生, 355-434), Tăng Triệu (僧肇, 384-414), Đạo Dung (道融, ?-?) và Tăng Duệ (僧叡, ?-?). Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 36 có đoạn rằng: “La Thập đệ tử hữu Sanh Triệu Dung Duệ, thời hiệu Quan Trung Tứ Thánh (羅什弟子有生肇融叡、時號關中四聖, đệ tử của La Thập có Đạo Sanh, Tăng Triệu, Đạo Dung và Tăng Duệ; đương thời gọi là Bốn Thánh của Quan Trung).” Trong Lạc Bang Văn Loại (樂邦文類, Taishō Vol. 47, No. 1969A) lại có đoạn rằng: “Tịnh nhi Tứ Thánh, nhiễm nhi Lục Phàm, ngô tâm chi Tứ Thánh Lục Phàm dã (淨而四聖、染而六凡、吾心之四聖六凡也, tịnh là Bốn Thánh, nhiễm là Sáu Phàm, đó là Bốn Thánh Sáu Phàm của tâm ta vậy).”
tứ thánh
Gồm: Thanh văn (La hán), Duyên giác, Bồ tát, Phật.
; The four kinds of holy men: thanh văn sràvakas, duyên giác pratyeka-buddhas, bồ tát bodhisattvas, Phật Buddhas.
tứ thánh hạnh
The four holy ways: phấn tảo y wearing rags from dust-heaps; khất thực begging for food; thụ hạ sitting under tress; and thân tâm tịch tĩnh entire withdrawal from the world.
Tứ thánh hạnh 四聖行
[ja] シショウギョウ shishōgyō ||| The "four holy actions": (1) To wear the monk's robe; (2) To beg for food; (3) To sit under a tree. (4) To still the mind and body. =>Bốn hành vi cao quý: 1. Mặc pháp y; 2. Khất thực; 3. Ngồi dưới gốc cây; 4. Thân tâm tịch tĩnh.
Tứ thánh quả
xem Bốn quả thánh.
Tứ Thánh thật
xem Bốn chân đế.
tứ thánh thật
Xem Tứ diệu đế.
tứ thánh tích
Gồm: - Nơi Bồ tát đản sanh (Lumbini) - Nơi Phật thành đạo (Buddha Gaya, 10 km cách nhà ga Gaya) - Nơi Phật chuyển pháp luân (Isipatana, nay là Sarnath) - Nơi Phật diệt độ (Kusinara, nay là Kasi, 40 cây số cách nhà ga Gorakhpur).
Tứ thánh đế
四聖諦|Tứ diệu đế
tứ thánh đế
Xem Tứ diệu đế.
; The four holy or noble truths.
Tứ thánh đế 四聖諦
[ja] シショウタイ shishōtai ||| The "four noble truths" (ārya-satya) which form the main content of the Buddha's first sermon given at Bārāṇasī. See 四諦. => (s: ārya-satya) Bốn sự thật cao quý, nội dung chính trong bài thuyết pháp của Đức Phật lần đầu tiên tại thành Ba-la-nại. Xem Tứ đế 四諦.
tứ tháp
The four stupas at the places of Buddha's birth, Kapilavastu; enlightenment Magadha; preaching, Benares; and parinirvàna, Kusinagara.
tứ thân
The four kàya, or "bodies". The Lankàvatàra sùtra gives Hóa Phật; Công Đức Phật; Trí Tuệ Phật; and Như Như Phật; the first is hóa thân nirmànakàya, the second and third báo thân sambhogakàya, and the fourth pháp thân dharmakàya. The Duy Thức Luận gives: Tự Tính Thân, Tha Thụ Dụng Thân, Tự Thụ Dụng Thân, and Biến Hóa Thân; the first being pháp thân, the second and third báo thân, and the fourth hóa thân. The Thiên Thai Tông gives: pháp thân, báo thân, ứng thân, hóa thân.
tứ thú
Durgati (S). The four evil directions, or destinations: hells, hungry ghosts, animals, and asuras.
tứ thư
Ssu-chu (C), Four books.
Tứ Thần
(四辰): đồng nghĩa với tứ thời (四時) nghĩa là sáng, trưa, chiều và tối (nghĩa trong bài); hay nó còn có nghĩa là bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. Như trong Tấn Cố Dự Chương Nội Sử Hạ Phủ Quân Lụy (晉故豫章內史夏府君誄) của Lục Vân (陸雲, 262-303) nhà Tấn có câu: “Hàn thử cùng hóa, Tứ Thần giao thác (寒暑窮化、四辰交錯, lạnh nóng đến cùng, Bốn Thời sai khác).”
Tứ thần túc
xem Bốn như ý túc.
tứ thần túc
Iddipada (P), Ṛddipada (S) Xem Như ý túc.
; Xem tứ như ý túc.
Tứ thần túc 四神足
[ja] シジンソク shijinsoku ||| The 'four bases of supernatural power.' These are: (1) 'desire power,' (yushenzu 欲神足), the desire to gain excellent meditation; (2) 'effort power' (qinshenzu 勤神足) the effort to gain excellent meditation; (3) 'concentration power' (xinshenzu 心神足) the gaining of control over thoughts and (4) 'wisdom power' (guanshenzu 觀神足), the good function of analytical meditation. => Bốn nền tảng của năng lực thần thông. 1. Dục thần túc欲神足: định đạt được do năng lực của ý dục. 2. Cần thần túc勤神足: định đạt được do năng lực tinh cần. 3. Tâm thần túc心神足: định đạt được do năng lực tâm niệm. 4. Quán thần túc 觀神足: định đạt được do năng lực tư duy.
tứ thập
Catvàrimsat (S) Forty
tứ thập bát nguyện
The forty eight vows of Amitabha Buddha.
tứ thập cửu nhật
The seven times seven days of funeral services; the forty ninth day.
tứ thập cửu tăng, đăng
The service to Dược Sư Phật the Master of Healing, when forty nine lamps are displayed and forty nine monks engaged; seven of his images are used, seven of the lamps being placed before each image.
Tứ thập nhị chương kinh
四十二章經; S: dvācatvāriṃśat-khanda-sūtra;|Kinh đầu tiên được dịch ra chữ Hán. Kinh này do một phái đoàn của Minh Ðế đi Ấn Ðộ mang về và được hai Cao tăng Ấn Ðộ là Ca-diếp Ma-đằng (迦葉摩騰; s: kāśyapa mātaṅga) và Trúc Pháp Lan (竺法蘭; go-bharaṇa hoặc dharmarakṣa) dịch trong năm 67. Kinh này là văn bản Phật giáo đầu tiên tại Trung Quốc, nói một số giáo pháp Tiểu thừa cũng như giảng về tính Vô thường (s: a-nitya) và Ái (s: tṛṣṇā). Có nhiều bản dịch của kinh này và nội dung cũng rất khác nhau.
tứ thập nhị chương kinh
Dvācatvāriṃśat-khanda sŪtra (S), Sutra of Forty-two chapters Tên một bộ kinh.
; Dvàchatvàrmsat-khanda-sùtra (S) The "Sùtra of Forty two sections "generally attributed to Kàsyapa Màtanga and Gobharana, the first Indian monks to arrive officially in China.
Tứ thập nhị chương kinh 四十二章經
[ja] シジュウニショウキョウ Shijūnishō kyō ||| Sishierzhang jing; the Sutra in Forty-two Chapters. One fascicle. Translation attributed to Kasyapamatanga and Mdran Dharmarakṣa. Considered to be the first sutra to be translated into Chinese. In order to introduce Buddhism in to China, basic Buddhist teachings were excerpted from various sutras and compiled as the forty-two entries in this text. => Kinh Bốn mươi hai chương, một quyển. Ca-diếp Ma-đằng và Trúc Pháp Lan dịch. Được xem là bộ kinh đầu tiên dịch sang tiếng Hán. Để giới thiệu Phật giáo cho người Trung Hoa, giáo lý Phật pháp căn bản được trích từ nhiều bộ kinh khác nhau, tập hợp lại trong 42 chương thành cuốn kinh nầy.
tứ thập nhị phẩm vô minh
The forty two species of ignorance which, according to Thiên Thai, are to be cut off seriatim in the forty two stages.
tứ thập nhị tự môn
The doctrine of the forty two Siddham letters as given in the Hoa Nghiêm and Bát Nhã kinh.
tứ thập nhị vị
The forty two stages, i.e. all above the thập tín of the fifty two stages.
tứ thập vị
The "forty bodhisattva positions" of the Phạm Võng Kinh. They are classified into four groups: (1) Thập phát thú, ten initial stages, i.e. the minds tâm of abandoning things of the world, of keeping the moral law, patience, zealous progress, dhyàna, wisdom, resolve, guarding (the Law), joy and spiritual baptism by the Buddha. These are associated with the thập trụ. (2) Thập trưởng dưỡng, ten stages in the nourishment of perfection, i.e. minds of kinfness, pity, joy, relinquishing, almsgiving, good discourse, benefiting, friendship, dhyàna, wisdom. These are associated with the thập hạnh.; (3) thập kim cương, ten "diamond" step of firmness, i.e. a mind of faith, remembrance, bestowing one's merits on others, understanding, uprightness, no-retreat, mahàyàna, formlessness, wisdom, indestructibility. These are associated with the thập hồi hướng. (4) Thập địa, xem thập địa.
tứ thủ
Catuh-paràmarsas (S). The four attachments, i.e. desire, unenlightened views, (fakir) morals, and ideas arising from the conception of the self.
Tứ thủ 四取
[ja] シシュ shishu ||| Four kinds of clinging, or grasping (Skt. catvāry upādānāni; Pali cattāri upādānāni): (1) clinging to desire 欲取, (2) clinging to mistaken views 見取, (3) clinging to a mistaken understanding of the precepts and their purpose 戒禁取, and (4) clinging ideas that arise from a notion of self 我語取. 〔成實論 T 1646.32.320b15〕 => Bốn loại chấp trước, dính mắc (Skt. catvāry upādānāni; Pali cattāri upādānāni): 1.Dục thủ: dính mắc vào ái dục. 2.Kiến thủ: dính mắc vào tà kiến. 3. Giới cấm thủ: chấp trước vào sự hiẻu biết sai lầm về giới luật và mục đích.của chúng. 4. Ngã ngữ thủ: chấp trước vào tư tưởng sinh khởi từ quan niệm có một bản ngã.
tứ thừa
The goat, deer and ox carts and the great white bullock cart of the Lotus sùtra. Xem tứ xa.
tứ thực
là bốn cách nuôi sống thân mạng của chúng sanh, bao gồm: chuyên thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Chuyên thực là ăn uống bằng cách nhai nuốt, chỉ chung cách ăn uống của chúng sanh Dục giới dùng sự nhai nuốt để tiêu hóa thức ăn. Xúc thực là nuôi sống thân mạng bằng sự xúc chạm, cảm xúc. Tư thực là nuôi sống thân mạng bằng tư tưởng, sự suy nghĩ. Thức thực là nuôi sống thân mạng bằng thức, nghĩa là sống trong cảnh giới của thức.
; The four kinds of food, i.e. đoàn thực for the body and its senses; xúc thực for the emotions; tư thực for thought; and thức thực for wisdom.
tứ thực thì
The four times for food, i.e. for the deva at dawn, of all Buddhas at noon, of animals in the evening, and of demons and ghosts at night.
Tứ thực 四食
[ja] シジキ shijiki ||| The four kinds of food. (1) Sequential food; physical food that enters the mouth piece by piece--fruits, meats, vegetables, etc. (2) Sensory food: the nourishment that one takes through the contacts of the five senses. (3) The nourishment one takes through thought. (4) The nourishment from the six consciousnesses. 〔楞嚴經 〕 => Bốn cách ăn: 1. Đoạn thực: thực phẩm bằng vật chất, dùng miệng ăn từng miếng—như trái cây, thịt, rau . . . 2. Xúc thực: chất bổ dưỡng hấp thu được qua sự tiếp xúc của năm giác quan. 3. Tư thực: chất bổ dưỡng hấp thu được qua tư tưởng. 4. Thức thực: chất bổ dưỡng hấp thu được qua sáu thức.
Tứ tinh tấn
xem Bốn chánh cần.
tứ tinh tấn
Xem Tứ chánh cần.
Tứ Trí
(s: catvāri jñānāni, 四智): 4 loại trí tuệ, có nhiều giải thích khác nhau. (1) Tứ Trí là quả vị Phật, được thiết lập bởi Duy Thức Tông; tức lấy thức thứ 8, thứ 7, thứ 6 và thứ 5 để chuyển thành 4 loại trí tuệ vô lậu; gồm Đại Viên Cảnh Trí (大圓境智), Bình Đẳng Tánh Trí (平等性智), Diệu Quan Sát Trí (妙觀察智) và Thành Sở Tác Trí (成所作智). Trong Mật Giáo có thêm vào Pháp Giới Thể Tánh Trí (法界體性智) và hình thành Ngũ Trí (五智). Ngoại trừ Pháp Giới Thể Tánh Trí biểu thị cho Đại Nhật Như Lai (大日如來) ở trung ương, 4 trí còn lại thể hiện cho 4 trí tuệ của 4 đức Phật. Theo Kim Cang Giới mà nói, Đại Viên Cảnh Trí biểu thị cho Đông Phương A Súc Phật (東方阿閦佛), Bình Đẳng Tánh Trí cho Nam Phương Bảo Sanh Phật (南方寳生佛), Diệu Quan Sát Trí cho Tây Phương Vô Lượng Thọ Phật (西方無量壽佛), và Thành Sở Tác Trí cho Bắc Phương Thiên Cổ Lôi Âm Phật (北方天鼓雷音佛). (2) Là 4 loại trí đạt được do Bồ Tát quán Duy Thức vô cảnh, và cũng là các loại trí do Duy Thức Tông lập ra để luận phá ngoại đạo chấp có thật ngã cũng như thật pháp. Theo Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論) quyển trung, Thành Duy Thức Luận (成唯識論) quyển 7, Tứ Trí gồm Tương Vi Thức Tướng Trí (相違識相智, tức quán cảnh tùy theo nghiệp lực của người, trời, quỷ, súc sanh, v.v., không giống nhau nên biến hiện cũng không đồng nhất, vì vậy cảnh không thật có); Vô Sở Duyên Thức Trí (無所緣識智, tức quán thức sanh ra đều do duyên của cảnh không thật thuộc quá khứ, tương lai, mộng, v.v., hết thảy cảnh giới đều do tâm hiện ra; cho nên quán chỉ có thức mà không có cảnh); Tự Ứng Vô Đảo Trí (自應無倒智, tức quan cảnh nếu là thật, tất hết thảy phàm phu đều làm thánh cả, do vì xưa nay chứng ngộ cảnh ngoài tâm là tự nhiên thành tựu mà không điên đảo; tuy nhiên, kẻ phàm phu cũng phải mượn công dụng của ngoại cảnh để đạt được giải thoát; vì vậy, cảnh cũng không có thật); Tùy Tam Trí Chuyển Trí (隨三智轉智, trí tuệ tùy theo ba loại trí để quán sát và chuyển cảnh tướng; Ba Trí là Tùy Tự Tại Giả Trí Chuyển Trí [隨自在者智轉智], Tùy Quán Sát Giả Trí Chuyển Trí [隨觀察者智轉智], và Tùy Vô Phân Biệt Trí Chuyển Trí [隨無分別智轉智]). (3) Là 4 loại trí tuệ của bậc La Hán, hay trí tuệ nội chứng Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦) của hàng Nhị Thừa, vô học thánh nhân. Theo Thắng Man Kinh Nhất Thừa Chương (勝鬘經一乘章), Thành Duy Thức Luận Thuật Ký (成唯識論述記) quyển 9, v.v., 4 loại trí này gồm: Ngã Sanh Dĩ Tận (我生已盡, chỉ đoạn tận khổ quả của tương lai, chấm dứt tái sanh, là trí tuệ đoạn trừ các nhân gây khổ đau), Phạm Hạnh Dĩ Lập (梵業已立, chỉ tu tập thành tựu thánh đạo vô lậu, đã an lập phạm hạnh, là trí tuệ tu đạo), Sở Tác Dĩ Biện (所作已辨, những việc cần làm đã làm xong, chỉ sự đoạn tận các chướng ngại), và Bất Thọ Hậu Hữu (不受後有, không còn tái sanh, tức bậc thánh nhân vô học đã dứt trừ các hoặc nghiệp sanh tử, không còn thọ các khổ quả trong đời sau, là trí tuệ đoạn khổ). (4) Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 27 có thuyết về 4 loại trí khác như: Đạo Tuệ (道慧, trí tuệ biết được đạo); Đạo Chủng Tuệ (道種慧, đạo có vô lượng sai biệt, trí tuệ này có thể thông đạt đạo vô lượng); Nhất Thiết Trí (一切智, không trí biết được tướng của các pháp là vắng lặng) và Nhất Thiết Chủng Trí (一切種智, trí tuệ biết được tướng của các pháp là vắng lặng, nhận rõ hết thảy các hành loại, sai biệt là có không, biến chiếu).
tứ trí
The four forms of wisdom of a Buddha according to the Pháp Tướng tông Dharmalaksana school: (1) Đại viên cảnh trí the great mirror wisdom of Aksokhya; (2) Bình đẳng tính trí the universal wisdom of Ratnaketu; (3) Diệu quan sát trí the profound observing wisdom of Amitàbha; (4) Thành sở tác trí the perfecting wisdom of Amoghasiddhi. There are various other groups.
; Duy Thức tông chuyển bát thức thành Tứ trí; chuyển Tiền ngũ thức thành 'Thành sở tác trí', chuyển thức thứ sáu thành 'Diệu quan sát trí', chuyển thức thứ bảy thành 'Bình đẳng tánh trí', chuyển thức thứ tám thành 'Đại viên cảnh trí'. Hoàn thành tác dụng mà chẳng phân biệt, gọi là Thành sở tác trí; quan sát thấu triệt mà chẳng qua sự tác ý, gọi là Diệu quan sát trí; phá hết ngã chấp, thấy các pháp bình đẳng, gọi là Bình đẳng tánh trí; như gương tròn soi khắp mười phương thế giới chẳng có thiếu sót, gọi là Đại viên cảnh trí.
Tứ trí 四智
[ja] シチ shichi ||| (1) The 'four wisdoms' of dharma, species, other mind and secular world (catvāri-jñāni). (2) In Yogācāra, The four kinds of wisdoms attained upon the full enlightenment of the Buddha. These are "Great Reflecting Wisdom" 大圓鏡智, "Wisdom of the Equality in Nature" 平等性智, "Subtle Observing Wisdom" 妙觀察智, and the "Wisdom of Fulfillment of Deeds" 成所作智. (3) The four kinds of wisdom that cut off delusion. These are: the wisdom that extinguishes the production of selfhood; the wisdom of establishing pure works; the wisdom of doing what should be done; the wisdom that keeps this existence from being reborn. => Bốn thứ trí huệ (s: catvāri-jñāni). Có các nghĩa sau: 1. Pháp, loại, tha tâm và thế tục. 2. Theo tông Duy thức, bốn thứ trí huệ chư Phật chứng ngộ có được. Đó là: Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tánh trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí. 3. Bốn loại trí tuệ chuyển hoá phiền não. Đó là: Ngã sinh dĩ tận. Phạm hạnh dĩ lập. Sở tác dĩ biện. Bất thọ hậu hữu.
Tứ trú địa 四住地
[ja] シジュウチ shijūji ||| Four positions; four kinds of affliction: (1) jianyiqiezhudi 見一切住地 mistaken view in regard to all things in the three realms. (2) yuaizhuchi 欲愛住持 attachment to objects in the desire realm. (3) seaizhuchi 色愛住持 attachment to things in the form realm. (4) youaizhuchi 有愛住持 attachment to objects in the formless realm. => Bốn nơi chốn; bốn loại phiền não: 1. Kiến nhất thiết trú địa: quan niệm sai lầm khi nhìn các hiện tượng trong tam giới. 2. Dục ái trú địa: tham đắm các cảnh trần trong cõi dục. 3. Sắc ái trú địa: dính mắc các pháp trong cõi sắc. 4. Hữu ái trú địa: dính mắc các pháp trong cõi vô sắc.
Tứ Trị Công Tào
(四値功曹): chỉ 4 vị thần được Đạo Giáo phụng thờ là Trị Niên (値年), Trị Nguyệt (値月), Trị Nhật (値日) và Trị Thời (値時); tương đương với Trị Ban Thần Tiên (値班神仙) trên cõi Trời. Trị Niên là thần Lý Bính (李丙), Trị Nguyệt là thần Hoàng Thừa Ất (黃承乙), Trị Nhật là thần Châu Đăng (週登), và Trị Thời là thần Lưu Hồng (劉洪). Như trong hồi thứ 5 của Tây Du Ký (西游記) có đoạn: “Ngọc Đế đạo não, tức sai Tứ Đại Thiên Vương, hiệp đồng Lý Thiên Vương tinh Na Tra Thái Tử, điểm Nhị Thập Bát Tú, Cửu Diệu Tinh Quan, Thập Nhị Nguyên Thần, Ngũ Phương Yết Đế, Tứ Trị Công Tào … khứ Hoa Quả Sơn vi khốn, định tróc hoạch na tư xử trị (玉帝大惱、卽差四大天王、協同李天王幷哪吒太子、點二十八宿、九曜星官、十二元辰、五方揭諦、四値功曹…去花果山圍困、定捉獲那廝處治, Ngọc Đế rất đau đầu, bèn sai Tứ Đại Thiên Vương, cùng với Lý Thiên Vương và Na Tra Thái Tử, đem thêm Nhị Thập Bát Tú, Cửu Diệu Tinh Quan, Thập Nhị Nguyên Thần, Ngũ Phương Yết Đế, Tứ Trị Công Tào …, đến vây hãm Hoa Quả Sơn, bắt cho được tên đó về xử trị).”
tứ trọng (cấm)
The four grave prohibitions, or sins. Tứ chủng tội pàràjikàs: killing, stealing, carnality, lying. All four of the esoteric sect. i.e. discarding the truth; discarding the bodhi-mind; being mean or selfish in regard to the supreme law; injuring the living.
tứ trọng bát trọng
The four pàràjikàs for monks and eight for nuns.
tứ trọng cấm
xem ba-la-di.
tứ trọng cấm giới
Four major prohibitions Bốn giới cấm: dâm dục, trộm cắp, sát giới, vọng ngữ.
Tứ trọng tội 四重罪
[ja] シジュウザイ shi jūzai ||| The four grave crimes (Skt. pārājika; Pali pārājika) of sexual intercourse, stealing, killing a human being and lying about one's spiritual attainments; transcribed as 波羅夷. The commission of one of these offenses by a member of the clergy can result in expulsion from the sangha. => Bốn tội nghiêm trọng (Skt. pārājika; Pali pārājika): đâm dục, trộm cắp, giết hại và nói dối mình đã chứng thần thông; phiên âm là ba-la-di. Một vị tăng khi phạm một trong bốn tội nầy sẽ bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn.
Tứ trọng 四重
[ja] シジュウ shijū ||| Four grave (crimes). See 四重罪. => Bốn điều nghiêm trọng (tội lỗi). Xem Tứ trọng tội 四重罪.
tứ trụ
The four abodes or stages in the Trí độ luận: (1) Thiên trụ, the devalokas, equivalents of charity, morality, abd goodness of heart; (2) Phạm trụ the brahmalokas, equivalents of benevolence, pity, joy, and indifference; (3) Thánh trụ, the abode of sràvakas, pratyekabuddhas and bodhisattvas, equivalent of the samàdhi of the immaterial realm, formless and still; (4) Phật trụ, the Buddha-abode, the equivalent of the samàdhi ođ the infinite.
tứ trụ địa
The four stages or conditions found in mortality, wherein are the delusions of misleading views and desires. They are: (1) Kiến nhất thiết trụ địa, the delusions arising from seeing things as they seem, not as they really are; (2) Dục ái trụ địa, the desires in the desire-realm; (3) Sắc ái trụ địa, the desires in the form-realm; (4) Hữu ái trụ địa, the desires in the formless-realm. When Vô minh trụ địa, the state of ignorance, is added we have the Ngũ trụ địa, five states.
tứ tuyệt
The four ideas to be got rid of in order to obtain the "mean" or ultimate reality, according to the trung luận; they are that things exist, do not exist, both, neither.
tứ tuệ
The four kinds of wisdom received: (1) by birth, or nature; (2) by hearing or being taught; (3) by thought; (4) by dhyàna motivation.
Tứ tâm 四心
[ja] シシン shishin ||| The 'four thoughts' used by Vasubandhu in his commentary to the Diamond Sutra (T 1511.25.781c-782a) to outline Section Two of the Diamond Sutra,dividing it into four distinct passages (T 236.8.753a). The title of each of the Four Thoughts is extracted from a verse of Asaṅga's Ode to the Diamond Sutra (T1514), of which the Vasubandhu commentary is an annotation. This exegetical scheme used by Vasubandhu is usually found summarized in the Chinese exegetical texts. The Four Thoughts, and the passages they refer to are [using Bodhiruci's translation, T236/T1511]: 1) The 'Broadly Extensive Thought' (廣大心). Corresponds to: "諸菩薩生如是心。所有一切衆生衆生所攝 ..." to .".. 所有衆生界衆生所攝。" (T236.8.753a1-4) 2) The 'Supreme Thought' (第一心). Corresponds to: "我皆令入無餘涅槃而滅度之。" (T236.8.753a4-5) 3) The 'Eternal Thought' (常心). Corresponds to: "如是滅度無量無邊衆生實無衆生得滅度者。何以故。 須菩提。若菩薩有衆生相即非菩薩。" (T236.8.753a1-7) Vasubandhu comments that the living beings are not different from the bodhisattva's own self, and so if a bodhisattva conceives of the living beings as being separate from himself then he is not a bodhisattva. "Thusly apprehending the myriad beings as his own body, the eternal is not abandoned." (T1511.25.782a) 4) The 'Undeluded Thought' (不顛倒). Corresponds to: "何以故非。須菩提。若菩薩起衆生相人相壽者相。 則不名菩薩。" (T236.8.753a7-8) Vasubandhu comments: "This makes plain the distant separation [of the bodhisattva] from, and accordingly the cessation of, a self which views the images of myriad beings, etc." (T 1511.25.782a) It should be noted that one must use a translation of the Diamond Sutra other than Kumārajīva's to follow the fourfold division, as Kumārajīva does not include the final conclusion to this section of the sutra. The commentary by Vasubandhu was translated into Chinese by Bodhiruci 菩提流支 (T1511-金剛般若波羅蜜經論) and Yijing 義淨 (T1513-能斷金剛般若波羅蜜多經論釋), and those two versions of the Diamond Sutra are used in each respectively. Yijing also extracted Asaṅga's Ode from a separate text (T1514). => Thuật ngữ do Thế Thân sử dụng trong luận giải về kinh Kim Cương, để vạch đề cương chương 2 trong kinh Kim Cương, ngài chia chương nầy thành 4 đoạn riêng. Tên của mỗi tâm được rút ra từ bài kệ tán thán kinh Kim Cương của Vô Trước mà Thế Thân chú giải. Luận giải có hệ thống do Thế Thân dùng nầy thường được tóm tắt vào kinh luận tiếng Hán. Tứ tâm và đoạn kinh văn mà các luận giải trên đề cập là: 1.'Quảng đại tâm' tương quan với : “chư Bồ-tát sinh như thị tâm, sở hữu nhất thiết chúng sinh chúng sinh sở nhiếp. . .” đến “.. .sở hữu chúng sinh giới chúng sinh sở nhiếp”. 2. 'Đệ nhất tâm' tương quan với : “Ngã giai linh nhập vô dư niết-bàn nhi diệt độ chi”. 3. 'Thường tâm' tương quan với : “ Như thị diệt độ vô lượng vô biên chúng sinh, thật vô chúng sinh đắc diệt độ giả. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát hữu chúng sinh tướng, tức phi Bồ-tát”. Thế Thân luận giải rằng chúng sinh vốn chẳng khác gì Bồ-tát, thế nên nếu Bồ-tát nhận thấy chúng sinh là một sinh thể khác biệt vời mình, thì đó không phải là một vị Bồ-tát. “Cho đến biết rõ có vô số chúng sinh như thân thể chính mình, đời đời không rời bỏ. ” 4. 'Bất sân đảo tâm' tương quan với “Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát khởi chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng, tắc bất danh Bồ-tát”. Thế Thân luận giải: “Điều nầy rõ ràng tạo nên khoảng cách của hàng Bồ-tát, và tuỳ thuộc vào sự chấm dứt bản ngã với quan niệm chúng sinh tướng...” Xin lưu ý nên dùng một bản dịch kinh Kim Cương khác ngoài bản dịch của Cưu-ma-la-thập để theo dõi Tứ tâm, vì bản dịch của Cưu-ma-la-thập không có chương tổng kết nầy. Luận giải của Thế Thân đã được Bồ-đề Lưu-chi dịch sang Hán văn nhan đề Kim cang Bát-nhã ba-la-mật kinh luận, và bản dịch của Nghĩa Tịnh nhan đề Năng đoạn Kim cang Bát-nhã ba-la-mật kinh luận thích, và hai bản dịch kinh Kim Cương đã được sử dụng riêng biệt trong mỗi bản dịch nầy. Nghĩa Tịnh cũng trích dẫn bài kệ tán thán kinh Kim Cương của Vô Trước từ một bản văn riêng biệt. Tứ niệm trú 四念住 [ja] シネンジュウ shinenjū ||| The 'four stations (or bases) of mindfulness'; also; the fourfold contemplation to be practiced after one has completed the exercise of tranquilizing one's mind: (1) shennianzhu 身念住, contemplating one's body as defiled; (2) shounianzhu 受念住, contemplating one's feelings as painful: even though there are agreeable sensations, they are deceptive, and there is no true pleasure in the world; (3) xinnianzhu 心念住, contemplating one's mind as constantly changing and (4) fanianzhu 法念住, contemplating things in general as devoid of inherent existence. The four bases of mindfulness are included in the thirty-seven elements of enlightenment (三十七道品). Also written 四念處. Tứ tâm 四心 [ja] シシン shishin ||| The 'four thoughts' used by Vasubandhu in his commentary to the Diamond Sutra (T 1511.25.781c-782a) to outline Section Two of the Diamond Sutra,dividing it into four distinct passages (T 236.8.753a). The title of each of the Four Thoughts is extracted from a verse of Asaṅga's Ode to the Diamond Sutra (T1514), of which the Vasubandhu commentary is an annotation. This exegetical scheme used by Vasubandhu is usually found summarized in the Chinese exegetical texts. The Four Thoughts, and the passages they refer to are [using Bodhiruci's translation, T236/T1511]: 1) The 'Broadly Extensive Thought' (廣大心). Corresponds to: "諸菩薩生如是心。所有一切衆生衆生所攝 ..." to .".. 所有衆生界衆生所攝。" (T236.8.753a1-4) 2) The 'Supreme Thought' (第一心). Corresponds to: "我皆令入無餘涅槃而滅度之。" (T236.8.753a4-5) 3) The 'Eternal Thought' (常心). Corresponds to: "如是滅度無量無邊衆生實無衆生得滅度者。何以故。 須菩提。若菩薩有衆生相即非菩薩。" (T236.8.753a1-7) Vasubandhu comments that the living beings are not different from the bodhisattva's own self, and so if a bodhisattva conceives of the living beings as being separate from himself then he is not a bodhisattva. "Thusly apprehending the myriad beings as his own body, the eternal is not abandoned." (T1511.25.782a) 4) The 'Undeluded Thought' (不顛倒). Corresponds to: "何以故非。須菩提。若菩薩起衆生相人相壽者相。 則不名菩薩。" (T236.8.753a7-8) Vasubandhu comments: "This makes plain the distant separation [of the bodhisattva] from, and accordingly the cessation of, a self which views the images of myriad beings, etc." (T 1511.25.782a) It should be noted that one must use a translation of the Diamond Sutra other than Kumārajīva's to follow the fourfold division, as Kumārajīva does not include the final conclusion to this section of the sutra. The commentary by Vasubandhu was translated into Chinese by Bodhiruci 菩提流支 (T1511-金剛般若波羅蜜經論) and Yijing 義淨 (T1513-能斷金剛般若波羅蜜多經論釋), and those two versions of the Diamond Sutra are used in each respectively. Yijing also extracted Asaṅga's Ode from a separate text (T1514). => Thuật ngữ do Thế Thân sử dụng trong luận giải về kinh Kim Cương, để vạch đề cương chương 2 trong kinh Kim Cương, sư chia chương nầy thành 4 đoạn riêng. Tên của mỗi tâm được rút ra từ bài kệ tán thán kinh Kim Cương của Vô Trước mà Thế Thân chú giải. Luận giải có hệ thống do Thế Thân dùng nầy thường được tóm tắt vào kinh luận tiếng Hán. Tứ tâm và đoạn kinh văn mà các luận giải trên đề cập là: 1.'Quảng đại tâm' tương quan với : “ chư Bồ-tát sinh như thị tâm, sở hữu nhất thiết chúng sinh chúng sinh sở nhiếp. . .” đến “.. .sở hữu chúng sinh giới chúng sinh sở nhiếp”. 2. 'Đệ nhất tâm' tương quan với : “Ngã giai linh nhập vô dư niết-bàn nhi diệt độ chi”. 3. 'Thường tâm' tương quan với : “ Như thị diệt độ vô lượng vô biên chúng sinh, thật vô chúng sinh đắc diệt độ giả. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát hữu chúng sinh tướng, tức phi Bồ-tát”. Thế Thân luận giải rằng chúng sinh vốn chẳng khác gì Bồ-tát, thế nên nếu Bồ-tát nhận thấy chúng sinh là một sinh thể khác biệt vời mình, thì đó không phải là một vị Bồ-tát. “Cho đến biết rõ có vô số chúng sinh như thân thể chính mình, đời đời không rời bỏ. ” 4. 'Bất sân đảo tâm' tương quan với “Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát khởi chúng sinh tướng, nhân tướng, thọ giả tướng, tắc bất danh Bồ-tát”. Thế Thân luận giải: “Điều nầy rõ ràng tạo nên khoảng cách của hàng Bồ-tát, và tuỳ thuộc vào sự chấm dứt bản ngã với quan niệm chúng sinh tướng...” Xin lưu ý nên dùng một bản dịch kinh Kim Cương khác ngoài bản dịch của Cưu-ma-la-thập để theo dõi Tứ tâm, vì bản dịch của Cưu-ma-la-thập không có chương tổng kết nầy. Luận giải của Thế Thân đã được Bồ-đề Lưu-chi dịch sang Hán văn nhan đề Kim cang Bát-nhã ba-la-mật kinh luận, và bản dịch của Nghĩa Tịnh nhan đề Năng đoạn Kim cang Bát-nhã ba-la-mật kinh luận thích, và hai bản dịch kinh Kim Cương đã được sử dụng riêng biệt trong mỗi bản dịch nầy. Nghĩa Tịnh cũng trích dẫn bài kệ tán thán kinh Kim Cương của Vô Trước từ một bản văn riêng biệt.
tứ tính
The four Indian castes: (1) Bà la môn bràhmana, priestly, born from the mouth; (2) Sát đế lợi ksatriya, military and ruling, born from the shoulders; (3) Phệ xá vaisya, farmers and traders, born from the flanks; and (4) Thủ đà la sùdra, serf, born from the feet of Brahmà.
tứ tính hạnh
The four kinds of conduct natural to a Bodhisattva, that arising from: (1) Tự tính hạnh his native goodness; (2) Nguyện tính hạnh his vow-nature; (3) Thuận tính hạnh his compliant nature, i.e. to the six pàramitàs; and (4) Chuyển tính hạnh his transforming nature, i.e. his powers of conversion or salvation.
Tứ tĩnh lự 四靜慮
[ja] シジョリョ shijōryo ||| A later rendering of the Sanskrit catur-dhyāna, meaning "four meditations." This is a later period translation for what was originally rendered as si chanding 四禪定. => Cựu dịch chữ catur-dhyāna từ tiếng Sanskrit, nghĩa là Tứ thiền. Đây là lối dịch từ xưa để diễn đạt ý nghĩa Tứ thiền định.
Tứ Tướng
(四相): các pháp sanh diệt, biến chuyển theo 4 tướng là Sanh (s: jāti, 生, còn gọi là Sanh Tướng [生相], tức là pháp hữu vi từ vị trí tương lai sanh đến vị trí hiện tại), Trụ (s: sthiti, 住, còn gọi là Trụ Tướng [住相], tức là pháp hữu vi an trụ ở vị trí hiện tại), Dị (s: anyathātva, 異, còn gọi là Dị Tướng [異相], tức là pháp hữu vi biến dị, suy tổn ở vị trí hiện tại), Diệt (s: anityatā, 滅, còn gọi là Diệt Tướng [滅相], tức là pháp hữu vi ở vị trí hiện tại diệt và chuyển sang vị trí quá khứ); còn gọi là Tứ Hữu Vi (四有爲), Tứ Hữu Vi Tướng (四有爲相), Tứ Bản Tướng (四本相). Theo thuyết của Tiểu Thừa Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (說一切有部), căn cứ vào Phát Trí Luận (發智論) quyển 2, Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論) quyển 38, 39, Câu Xá Luận (具舍論) quyển 5, v.v., tất cả các pháp hữu vi đều chịu sự chi phối của vô thường; tuy do năng lực của nhân duyên, từ vị trí tương lai, sanh đến vị trí hiện tại, nhưng chỉ trong thoáng chốc thì tiêu diệt mà trở thành vị trí của quá khứ. Pháp hữu vi sanh diệt biến chuyển này lưu chuyển ở trong ba đời tương lai, hiện tại và quá khứ. Hữu Bộ thì chủ trương sát na sanh diệt, cho nên Bốn Tướng này đều có mặt chỉ trong một sát na. Theo thuyết của Pháp Tướng Tông (法相宗) thuộc Đại Thừa, căn cứ vào Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) quyển 46, 51, 88, Thành Duy Thức Luận (成唯識論) quyển 2, v.v., tông phái này chủ trương “Tứ Tướng giả lập, quá vị vô thể (四相假立、過未無体, bốn tướng giả lập ra; quá khứ, vị lai không thực thể).” Nếu nói về sát na, các pháp hữu vi nương vào sức mạnh nhân duyên, do vì vốn là không nên nay có mặt; vì vậy mới gọi là Sanh. Tạm dừng ở vị trí Sanh, tức gọi là Trụ. Biến dị trước sau vị trí Trụ thì gọi là Dị. Vì tạm có rồi lại không, nên gọi khi diệt là Diệt vậy. Trong quá trình đó, ba tướng Sanh, Trụ, Dị là “có”, cùng thuộc hiện tại; tướng Diệt là “không”, thuộc về quá khứ. Bên cạnh đó, Tứ Tướng còn là 4 loại tướng do cá thể chúng sanh vọng chấp mà sanh ra, được thuyết trong Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh (金剛般若波羅蜜經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch, gồm: Ngã Tướng (我相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn [s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊] lầm xem có thật ta và cái của ta), Nhân Tướng (人相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn lầm xem cái ta sanh trong cõi người là người, vốn khác với các cõi khác), Chúng Sanh Tướng (眾生相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn lầm xem cái ta nương vào Năm Uẩn, Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức hòa hợp mà sanh ra) và Thọ Giả Tướng (壽者相, chúng sanh trong pháp Ngũ Uẩn lầm xem cái ta thọ nhận một chu kỳ thọ mạng, ngắn dài không thống nhất, khác nhau tùy theo mỗi người).
tứ tướng
The four avasthà, or states of all phenomena, sinh birth, trụ being, dị change (i.e. decay), diệt death, also tứ hữu vi tướng. There are several groups, e.g. quả báo tứ tướng birth, age, disease, death. Also tàng thức tứ tướng of the "Awakening of Faith" (Khởi tín luận), referring to the initiation, continuation, change, and cessation of the Alaya-vijnàna. Also ngã nhân tứ tướng. The ideas: (1) ngã tướng, that there is an ego; (2) nhân tướng, that man is different from other organism; (3) chúng sinh tướng, that all the living are produced by the skandhas; (4) thọ giả tướng, that life is limited to the organism.
tứ tượng
Ssu-hsiang (C), Four images.
tứ tất đàn
The four siddhànta. The Buddha taught by: (1) Thế giới tất đàn mundane or ordinary mode of expression; (2) Vị nhân tất đàn individual treatment, adapting his teaching to the capacity of his hearers; (3) Đối trị tất đàn diagnostic treatment of their moral diseases; (4) and Đệ nhất nghĩa tất đàn the perfect and highest truth.
Tứ tất-đàn 四悉檀
[ja] シシツダン shisitsudan ||| The four siddhāntas. Four modes whereby the Buddha preached the originally inexpressible dharma to all sentient beings. They are as follows: (1) shijiexitan 世界悉檀 Worldly siddhānta. Preaching which accords to the conventional understanding of the world. (2) gegeweirenxitan 各各爲人悉檀 Siddhānta for each individual. Preaching according to the abilities and levels of understanding of the people listening. (3) duizhixitan 對治悉檀 Special application siddhānta. Preaching aimed at destroying strong defilement or evil karma of certain beings. (4) diyiyixitan 第一義悉檀 Siddhānta of supreme truth. Preaching of reality as understood by the Buddha himself. => Bốn phương pháp mà Đức Phật giảng giải giáo pháp độc đáo bất khả tư nghì cho tất cả chúng sinh. Đó là: 1. Thế giới tất-đàn 世界悉檀 : giáo pháp phù hợp theo chân lý quy ước của thế gian. 2. Các các vị nhân tất-đàn 各各爲人悉檀: giáo pháp tuỳ theo căn tánh và năng lực hiểu biết của người nghe. 3.Đối trị tất đàn 對治悉檀: giáo pháp nhằm phá huỷ phiền não kiên cố hoặc ác nghiệp của từng loại chúng sinh. 4.Đệ nhất nghĩa tất-đàn 第一義悉檀: giáo pháp thực tế, chỉ chính Đức Phật mới nhận thức được.
tứ tầm tư quán
1. Danh tự tầm tư: truy cứu danh tự của tất cả pháp đều chẳng thật. 2. Sự tướng tầm tư: truy cứu mỗi mỗi sự tướng hiện tượng trên thế giới đều do tâm thức biến hiện, nhân duyên sở thành lìa thức chẳng có. 3. Tự tánh giả lập tầm tư: truy cứu tự tánh của danh tự và sự tướng, chỉ là phương tiện giả lập, tánh đc lập đều bất khả đắc. 4. Sai biệt giả lập tầm tư: truy cứu các tướng sai biệt của danh hoặc sự cũng đều giả lập chẳng thật.
; 1. Danh tự tầm tư: truy cứu danh tự của tất cả pháp đều chẳng thật. 2. Sự tướng tầm tư: truy cứu mỗi mỗi sự tướng hiện tượng trên thế giới đều do tâm thức biến hiện, nhân duyên sở hành lìa thức chẳng có. 3. Tự tánh giả lập tầm tư: truy cứu của danh tự và sự tướng, chỉ là phương tiện giả lập, tánh độc lập đều bất khả đắc. 4. Sai biệt giả lập tầm tư: truy cứu các tướng sai biệt của danh tự hoặc sự cũng đều giả lập chẳng thật.
tứ tầm từ quán
A study or contemplation of the Pháp Tướng Tông Dharmalaksana sect, on danh the terms used, nghĩa the meanings of the things or phenomena, tự tính the nature of the things, sai biệt their differentiation.
tứ tịnh độ
Four Pure Lands.
Tứ Tự
(四序): tức bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. Như trong bài thơ Đăng Nam Thần Quang Tự Tháp Viện (登南神光寺塔院) của Hàn Ốc (韓偓, 844-923) nhà Đương có câu: “Tứ Tự hữu hoa trường kiến vũ, nhất Đông vô tuyết khước văn lôi (四序有花長見雨、一冬無雪卻聞雷, bốn mùa có hoa mưa lâu gặp, Đông về chẳng tuyết lại sấm vang).” Hay như trong Thập Môn Biện Hoặc Luận (十門辯惑論, Taishō No. 2111) quyển Trung, có đoạn: “Phù Nhị Nghi phú tải, Tứ Tự sanh thành, Hạ khí trường luy, Lũng mạch dĩ chi tiều tụy; Thu phong thê khẩn, nham quế dĩ chi phương phi; Xuân nhật trì trì, vị khả sử cúc hoa vinh diệu; Đông sương lẫm lẫm, cự năng khiển tùng trinh diêu lạc (夫二儀覆載、四序生成、夏氣長羸、隴麥以之憔悴、秋風凄緊、巖桂以之芳菲、春日遲遲、未可使菊華榮曜、冬霜凜凜、詎能遣松貞搖落, phàm trời đất che chở, bốn mùa sinh thành; khí Hè yếu lâu, lúa Lũng theo đó tiều tụy; gió Thu thê thảm, quế núi nhờ vậy tốt tươi; ngày Xuân chầm chậm, chưa đủ khiến hoa cúc vươn mạnh; sương Đông buốt giá, sao lại khiến hoa tùng rơi rụng).”
tứ tự tại
The four sovereign powers: giới the moral law; thần thôngsupernatural powers; trí knowledge; and tuệ wisdom.
tứ tự xâm
The four self-raidings, or self-injuries: in youth not to study from morn till night; in advancing years not to cease sexual intercourse; wealthy and not being charitable; not accepting the Buddha's teaching.
tứ uy nghi
Catuririyāpatha (P).
Tứ vô ký 四無記
[ja] シムキ shi muki ||| The four kinds of [non-impedimentary] moral neutrality 無覆無記 which therefore cannot act as hindrances to liberation: those of (1) differing result 異熟無記; (2) mode of deportment 威儀無記, referring to the neutral quality of the thoughts that arise in connection with the moving into certain physical positions; (3) the arts and crafts 工巧無記; (4) the transformations, which refers to the neutrality of the occurrences that arise through the action of supernatural powers 變化無記. => Bốn loại Vô phú vô ký: không đóng vai trò chướng ngại cho việc giải thoát: 1. Dị thục vô ký; 2. Oai nghi vô ký; 3. Công xảo vô ký; 4. Biến hoá vô ký.
Tứ vô lượng
四無量; hoặc Tứ vô lượng tâm; S: catur-apra-māṇavihāra; P: catur-appamañña-vihāra;|Một tên khác của Bốn phạm trú.
tứ vô lượng
Catvàri-apramànàni (S). The four immeasurables, or infinite Buddha states of mind, also styled tứ đẳng the four equalities, or universals, and tứ phạm hạnh four noble acts or characteristics; i.e. four of the twelve thiền dhyànas (1) từ vô lượng tâm maitri, boundless kindness, or bestowing of joy and happiness; (2) bi vô lượng tâm karuna, boundless pity, to save from suffering; (3) hỉ vô lượng tâm mudità, boundless joy, or seeing others rescued from suffering; (4) xả vô lượng tâm upeksa, limitless indifference, i.e. rising above these emotions, or giving up all things, e.g. distinctions of friend anf enemy, love and hate, etc. Also styled the four sublime states: loving-kindness, compassion, sympathetic joy, equanimity.
Tứ vô lượng tâm
xem Bốn tâm vô lượng.
tứ vô lượng tâm
Catvari apramanani (S)Gồm: từ (maitri, boundless kindness), bi (karuna, boundless compassion), hỉ (mudita, bound-less joy), xả (upeksa, limitless indifference).
Tứ vô lượng tâm 四無量心
[ja] シムリョウシン shimuryōshin ||| The 'four immeasurable minds.' The immeasurable mind of love (maitri 慈無量), compassion (karuna 悲無量), sympathetic joy (mudita 喜無量) and impartiality (upekṣa 捨無量). They are four kinds of meditation to give bliss to, and to take away the suffering of sentient beings (catvāri-apramānāna). Four minds of immeasurable concern for others. => (s: catvāri-apramānāna). Bốn loại tâm vô lượng quan tâm đến chúng sinh. Bốn loại định mang đến sự an lạc, và giúp chuyển hoá mọi khổ đau cho chúng sinh: 1. từ vô lượng; 2. bi vô lượng; 3. hỷ vô lượng; 4. xả vô lượng.
Tứ vô ngại
xem Bốn trí không ngăn ngại.
Tứ vô ngại biện
xem Bốn trí không ngăn ngại.
Tứ vô ngại biện 四無礙辯
[ja] シムゲベン shimugeben ||| Four abilities of unhindered understanding and expression: (1) fawuai 法無礙 No mistake in teaching; (2) yiWuai 義無礙, No lack in regard to understanding the internal meaning of the teaching; (3) ciwuai 辭無礙 'unhindered speech,' that is, the understanding of all languages; (4) yueshuowuai 樂説無礙 'unhindered ease in explanation' which is the free use of the above three in the effort of saving all sentient beings. Bốn năng lực lý giải và diễn đạt vô ngại: => 1. Pháp vô ngại: thông đạt giáo pháp ; 2. Nghĩa vô ngại: tinh thông nghĩa lý uản áo của giáo pháp. 3. Từ vô ngại: tinh thông mọi ngôn ngữ. 4. Nhạo thuyết vô ngại: dùng ba phương tiện trên để giáo hoá chúng sinh vô ngại
Tứ vô ngại giải 四無礙解
[ja] シムゲゲ shimugege ||| Same as 四無礙辯. => Đồng nghĩa Tứ vô ngại biện.
Tứ vô ngại trí
xem Bốn trí không ngăn ngại.
tứ vô ngại trí
Pratisamvid (S). The four unhindered or unlimited bodhisattva powers of interpretation, or reasoning, i.e. (1) pháp vô ngại trí dharma, in the letter of the law; (2) nghĩa vô ngại trí artha, its meaning; (3) từ vô ngại trí nirukti, in any language, or form of expression; (4) lạc thuyết vô ngại trí pratibhàna, in eloquence or pleasure in speaking, or argument.
; 1. Thông đạt danh tự của các pháp vô ngại, gọi là Pháp vô ngại trí. 2. Thông đạt tất cả các nghĩa lý vô ngại, gọi là Nghĩa vô ngại trí. 3. Hay dùng đủ thứ từ ngữ phương tiện tùy nghi diễn thuyết, gọi là Từ vô ngại trí. 4. Nơi các pháp nghĩa viên dung vô ngại, khéo thuyết tự tại, khiến chúng sanh dễ được tín giải thọ trì, gọi là Khéo thuyết vô ngại trí. Nói chung gọi là Tứ vô ngại trí.
Tứ vô ngại trí 四無礙智
[ja] シムゲチ shimugechi ||| See si wuai bian 四無礙辯. => Xem Tứ vô ngại biện.
Tứ vô sắc thiên 四無色天
[ja] シムシキテン shi mushiki ten ||| See 四無色. => Xem Tứ vô sắc 四無色.
Tứ vô sắc uẩn 四無色蘊
[ja] シムシキウン shi mushiki un ||| The four skandhas outside of form: Feeling 受, perception 想, impulse 行 and consciousness 識.〔二障義HPC 1.791a〕 => Bốn uẩn nằm ngoài sắc: thọ, tưởng, hành và thức.
Tứ vô sắc xứ 四無色處
[ja] シムシキショ shi mushiki sho ||| See 四無色. => Xem Tứ vô sắc四無色.
tứ vô sắc định
The last four of the twelve dhyànas, the ecstatic entry into the four states represented by the four dhyàna-heavens, i.e. tứ không xứ. In the first, the mind becomes void and vast like space; in the second the powers of perception and understanding are unlimited; in the third, the discriminative powers of mind are subdued; in the fourth, the realm of consciousness without thought is reached, e.g. intuitive wisdom.
Tứ vô sắc định 四無色定
[ja] シムシキジョウ shimusikijō ||| The 'four formless concentrations.' Four states of concentration which lead to rebirth in the four formless heavenly realms: (1) concentration on infinite space 空無邊處; (2) concentration on infinite consciousness 識無邊處; (3) concentration on nothingness and 無所有處 (4) concentration on neither perception nor non-perception 非想非非想處.〔倶舎論、 T 1558.29.41a〕 => Bốn cảnh giới định đưa đến tái sinh trong bốn cõi trời vô sắc giới. 1. Không vô biên xứ (空無邊處 s: akāśa-anantya-āyatana). 2. Thức vô biên xứ (識無邊處s: vijñāna-anantya-āyatana). 3. Vô sở hữu xứ (無所有處 s: akiñcanya-āyatana). 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ (非想非非想處 s: naivasaṃjñāna-asaṃjña-āyatana)
Tứ vô sắc 四無色
[ja] シムシキ shimushiki ||| The four states (abodes, awarenesses, contemplations) of the formless realm: 1) kongwubianchu 空無邊處 akāśa-anantya-āyatana, the abode of limitless space; 2) shiwubianchu 識無邊處 vijñāna-anantya-āyatana, the abode of limitless consciousness; 3) wusuoyouchu 無所有處 akiñcanya-āyatana, the abode where nothing exists at all; 4) feixiangfeifeixiangchu 非想非非想處 naivasaṃjñāna-asaṃjña-āyatana, the abode of no thought or no non-thought. => Bốn cõi giới ở cõi vô sắc: 1. Không vô biên xứ (空無邊處 s: akāśa-anantya-āyatana). 2. Thức vô biên xứ (識無邊處s: vijñāna-anantya-āyatana). 3. Vô sở hữu xứ (無所有處 s: akiñcanya-āyatana). 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ (非想非非想處 s: naivasaṃjñāna-asaṃjña-āyatana).
Tứ vô sở uý 四無所畏
[ja] シムショイ shimushoi ||| The 'four forms of fearlessness' Four types of fearlessness, or utter conviction, in preaching the dharma. I. Those of a buddha are: (1) zhengdengjue wuwei 正等覺無畏, fearlessness in asserting that he has attained perfect enlightenment; (2) louyongjin wuwei 漏永盡無畏, fearlessness in asserting that he has destroyed all defilements; (3) shuozhangfa wuwei 説障法無畏, fearlessness in showing people those elements which hinder the realization of the Dharma, and (4) shuochudao wuwei 説出道無畏, fearlessness in expounding the method of liberation. II. Those of a bodhisattva are: (1) nengchi wuwei 能持無畏, fearlessness in expounding passages and phrases of the dharma which he has heard from the teacher and keeps in memory; (2) zhigenwuwei 知根無畏, fearlessness in expounding appropriate to people with a correct knowledge of their abilities; (3) jueyi Wuwei 決疑無畏, fearlessness in countering an opponent's attack on the Buddhist teaching, and clearing away his doubts, and (4) dabao wuwei 答報無畏, fearlessness in responding to the various questions asked of him. => (s: catvāri-vaisaradyani). Bốn sự tự tin, không sợ hãi khi thuyết pháp I.Tứ vô sở uý của Phật: 1.Chính đẳng giác vô uý. 2.Lậu vĩnh tận vô uý. 3.Thuyết chướng pháp vô uý. 4.Thuyết xuất đạo vô uý. II. Tứ vô sở uý của Bồ-tát : 1. Năng trì vô uý. 2.Tri căn vô uý. 3.Quyết nghi vô uý. 4. Đáp báo vô uý.
Tứ vô sở úy
xem Bốn đức chẳng sợ.
tứ vô thường kệ
Eight stanzas in the Nhân Vương Kinh, two each on Vô thường impermenence, Khổ suffering, Không the void, and Vô ngã non personaliy; the whole four sets embodying the impermanence of all things.
tứ vô uý
Four fearlessnesses, catvaravai-sharadya (S), mi jig pa (T).
Tứ Vô Úy
(s: catur-vaiśāradya, p: catu-vesārajja, 四無畏): bốn loại Vô Úy, còn gọi là Tứ Vô Sở Úy (四無所畏), là bốn loại đức có được của chư Phật Bồ Tát dùng trong khi thuyết pháp mà không sợ hãi gì cả. Bốn Vô Sở Úy của Phật là: (1) Nhất Thiết Trí Vô Sở Úy (一切智無所畏, đức Phật tuyên bố rõ rằng ta là bậc nhất thiết trí và không sợ bất cứ ai cả), (2) Lậu Tận Vô Sở Úy (漏盡無所畏, đức Phật tuyên bố rằng ta đã đoạn tận hết thảy phiền não và không còn sợ hãi gì cả), (3) Thuyết Chướng Đạo Vô Sở Úy (說障道無所畏, đức Phật thuyết về các pháp ngăn trở của các hoặc nghiệp, v.v., mà làm chướng ngại con đường Thánh đạo và không còn sợ hãi gì cả), (4) Thuyết Tận Khổ Đạo Vô Sở Úy (說盡苦道無所畏, đức Phật lấy tự tin để thuyết về con đường đúng đắn của giới định tuệ, v.v., để giúp diệt tận khổ não và không sợ người nào cả). Bên cạnh đó, Bốn Vô Sở Úy của vị Bồ Tát là: (1) Năng Trì Vô Sở Úy (能持無所畏, vị Bồ Tát không quên ý nghĩa những điều được nghe và không sợ hãi gì khi thuyết cho người khác nghe), (2) Tri Căn Vô Sở Úy (知根無所畏, vị Bồ Tát quán sát căn cơ của chúng sanh, thuyết pháp thích hợp với từng căn cơ ấy và không có sợ hãi gì cả), (3) Quyết Nghi Vô Sở Úy (決疑無所畏, vị Bồ Tát lấy tự tin để giải quyết những nghi nan và không có sợ hãi gì cả), và(4) Đáp Báo Vô Sở Úy (答報無所畏, vị Bồ Tát đối với bất cứ câu hỏi nào đều trả lời một cách rõ ràng, đúng đắn và không có sợ hãi gì cả).
Tứ vô úy
xem Bốn đức chẳng sợ.
tứ vô úy
The four kinds of fearlessness, or courage, of which there are two groups: Buddha-fearlessness arises from: (1) nhất thiết trí vô sở úy, his omniscience; (2) lậu tận vô sở úy, perfection of character; (3) thuyết chướng đạo vô sở úy, overcoming opposition; (4) thuyết tận khổ đạo vô sở úy, and ending of suffering. Bodhisattva-fearlessness arises from: (1) tổng trì bất vong, thuyết pháp vô úy, powers of memory; (2) tận tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục, tính tâm, thuyết pháp vô úy, of moral diagnosis and application of the remedy; (3) thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy, of ratiocination; (4) năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy, and of solving doubts.
tứ vị
The four "tastes", the Thiên Thai definition of the four periods of the Buddha's teaching preliminary to the fifth, i.e. that of the Lotus sùtra.
Tứ vị 四位
[ja] シイ shii ||| Four stages. 煗, 頂, 忍 and 生第一法. => Bốn giai vị: Noãn, đảnh, nhẫn và thế đệ nhất pháp
tứ xuyên
Szechwan (C).
Tứ xứ
四處 [ja] シショ shisho ||| (1) The four great locations of Śākyamuni's religious career: his birthplace at Lumbini;Magadha, the place of his enlightenment; the Deer Park at Bārāṇasī, where he preached his first sermon and Hiranyavati in Kuśinagara, where he entered nirvāna. (2) The four practices of wisdom, truth, detachment and equanimity. => Có 2 nghĩa: 1. Bốn vị trí lớn trong đời sống tu hành của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: nơi sinh ại vườn Lâm-tì-ni; Ma-kiệt-đà, nơi thành đạo; Lộc Uyển ở Ba-la-nại, nơi Ngài thuyết pháp lần đầu tiên và Hiranyavati ở thành Câu-thi-na, nơi ngài nhập niết-bàn. 2. Bốn pháp tu tập: trí huệ, chân thật, xả ly và an tĩnh.
tứ y
The four necessaries or things on which the religious rely. The four of ascetic practitioners: rag clothing; begging for food; sitting under trees; purgatives and diuretics as moral and spiritual means.
tứ y chi pháp
Xem Tứ y pháp.
tứ y pháp
Pamsukala (S)Tứ y chi pháp, Tứ y trụ, Hành tứ yBốn pháp phải theo: áo nạp, khất thực, ngồi gốc cây, thuốc cũ hư.
; The four dharmas on which the Buddhists rely: (1) Y pháp bất y nhân, the truth which is eternal, rather than man (2) Y nghĩa bất y ngữ, the meaning, or spirit, not the letter; (3) Y trí bất y thức, wisdom, i.e. Buddha wisdom rather than mere knowledge. (4) Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh, the sùtras of perfect meaning.
tứ y trụ
Xem Tứ y pháp.
Tứ y 四依
[ja] シエ shie ||| The "four reliances" (1) Four kinds of bodhisattvas. Four great teachers who instruct sentient beings after the passing away of the Buddha. In the Nirvana Sutra 涅槃經, the messenger of the Tathāgata, spreading the teaching of the end of the age, established the four kinds of bodhisattvas which people would depend upon, according to the four kinds of people. Depending upon which treatise one reads, the stages of the bodhisattva are divided up among these four in various ways. See the ninth chapter in the Nirvana Sutra entitled 四依品. (2) The four necessities of food, clothing, shelter and medicine. => Có 2 nghĩa: 1. Bốn loại Bồ-tát. Bốn bậc đại đạo sư giáo hoá chúng sinh sau khi Phật diệt độ. Theo kinh Niết-bàn, sứ giả Như Lai giáo hoá chúng sinh trong thời mạt pháp, chỉ dạy có bốn loại Bồ-tát mà chúng sinh có thể nương vào tùy theo căn tánh của bốn loại chúng sinh. Tuỳ theo giáo lý nào mà họ ưa thích, các hàng Bồ-tát hiện thân trong bốn loại nầy với nhiều phương tiện khác nhau. Xin xem phẩm thứ 9 nhan đề Tứ y trong kinh Niết-bàn. 2. Bốn thứ cần thiết đối với người xuất gia: thực phẩm, y phục, chỗ ở và thuốc thang.
tứ yết xuất bảo kinh
Ratana sutta (P)Tên một bộ kinh.
tứ yếu phẩm
The four most important chapters of the Lotus sùtra: Phương tiện phẩm, An lạc hạnh phẩm, Thọ lượng phẩm, and Phổ môn phẩm. This is Thiên Thai's selection.
tứ ác
The four evil directions—See Tứ Ác Thú or Tứ Thú.
tứ ác thú
Cũng như tứ ác đạo.
; Apaya (skt)—The four evil destinies: 1) Địc Ngục: Hells. 2) Ngạ Quỷ: Hungry ghosts. 3) Súc Sanh: Animals. 4) A Tu La: Asuras (which is sometimes evil sometimes good).
Tứ ác thú 四惡趣
[ja] シアクシュ shiakushu ||| The four evil destinies (negative forms of rebirth) 惡趣 of hell denizens 地獄, hungry ghosts 餓鬼, animals 畜生, and asuras 阿修羅. => Bốn đường ác (cõi giới tái sinh không lành): địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, và a-tu-la.
tứ ác tỳ kheo
1) Bốn vị Tỳ Kheo hung ác đã vứt bỏ giáo pháp của Phật Đại Trang Nghiêm sau khi Ngài nhập Niết Bàn—The four wicked Bhiksus who threw over the teaching of their Buddha, Ta-Chuang-Yen after his Nirvana. 2) Bốn vị Tỳ Kheo không tuân giáo pháp, nhưng nhờ thanh tịnh lâu đời nên được sanh làm bốn vị Phật ở bốn hướng (A Sấm, Bảo Tướng, Vô Lượng Thọ, Vi Diệu Thanh)—Four disobedient bhiksus who through much purgation ultimately became the Buddhas of the four points of the compass.
tứ ác đạo
The four apàya or evil destinies: the hells địa ngục, as hungry ghosts ngạ quỉ, animals súc sinh, or asuras a tu la. The asuras are sometimes evil, sometimes good, hence the term tam ác đạo three evil destinies excepts the asuras.
; The four evil destinies—See Tứ Ác Thú.
Tứ ác 四惡
[ja] シアク shiaku ||| An abbreviation of => Gọi tắt của Tứ ác thú 四惡趣..
tứ ách
Four yokes or fetters—See Tứ Ách Phược.
tứ ách phược
Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có bốn Ách Phược—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavago (Searches), there are four yokes or fetters: 1) Dục Ách Phược: Tham dục—Yoke of Desire or sensuality. 2) Hữu Ách Phược: Chấp hữu—Yoke of Possession or existence. 3) Kiến Ách Phược: Tà kiến—Yoke of Unenlightened or non-Buddhist views or wrong views. 4) Vô Minh Ách Phược: Si mê—Yoke of Ignorance.
tứ ái khởi
See Tứ Ái Sanh.
tứ ái sanh
(A) Bốn nguồn phát khởi sự tham ái—Four sources of affection: 1) Ăn: Cho hay nhận thức ăn—The giving or receiving of Food. 2) Mặc: Cho hay nhận quần áo—The giving or receiving of Clothing. 3) Ở: Cho hay nhận chỗ ở—The giving or receiving of bedding. 4) Quà: Cho hay nhận quà—The giving or receiving of gifts. (B) Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có bốn ái sanh—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four arousals of craving: 1) Do nhơn y phục mà vị Tỳ Kheo khởi lên lòng tham ái: Craving arises in a monk because of robes. 2) Do nhơn đồ ăn khất thực mà vị Tỳ Kheo khởi lên lòng tham ái: Craving arises in a monk because of alms. 3) Do nhơn phòng xá mà vị Tỳ Kheo khởi lên lòng tham ái: Craving arises in a monk because of lodging. 4) Do nhơn hữu và phi hữu mà vị Tỳ Kheo khởi lên lòng tham ái: Craving arises in a monk because of being and non-being.
Tứ Ân
Tuy nhiên, theo Đạo Giáo, quan niệm về Tứ Ân có hơi khác: ơn trời đất, ơn đức vua, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng. Sau mỗi thời khóa tụng kinh, tín đồ Phật Giáo thường phát nguyện câu: “Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, thượng báo Tứ Trọng Ân, hạ tế Tam Đồ khổ (願以此功德、莊嚴佛淨土、上報四重恩、下濟三途苦, nguyện đem công đức này, trang nghiêm Tịnh Độ Phật, trên báo Bốn Ơn nặng, dưới cứu Ba Đường khổ).” Như tại ngôi tháp phía đông của Dũng Tuyền Tự (湧泉寺), Cổ Sơn (鼓山), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), Trung Quốc, có bài minh ghi rằng: “Đương sơn Tỳ Kheo Đạo Càn vi Tứ Ân, Tam Hữu, pháp giới hàm sinh, đặc phát thành kính tạo Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật bảo tháp nhất tòa, an ư Đại Điện tiền, vĩnh vi Tứ Chúng chiêm lễ, nhiên nguyện thường lai thường trị. Thời Nguyên Phong ngũ niên, tuế thứ Nhâm Tuất cẩn đề, Giám Viện Tăng Nhã Quán, Trú Trì Truyền Pháp, Sa Môn Tải Văn, tượng nhân Cao Thành (當山比丘道乾爲四恩、三有、法界含生、特發誠敬造莊嚴劫千佛寶塔一座、安於大殿前、永爲四眾瞻禮、然願常來常值、時元豐五年、歲次壬戌謹題、監院僧若觀、住持傳法、沙門載文、匠人高成, Tỳ Kheo ở núi này tên Đạo Càn vì Bốn Ơn, Ba Loài, pháp giới các sinh linh, đặc biệt phát tâm thành kính tạo dựng một ngôi tháp báu Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật, an trí trước Đại Điện, thường để cho Bốn Chúng chiêm bái, mong sao các ngài thường đến thường hiện hữu. Lúc bấy giờ nhằm vào năm thứ 5 [1082] niên hiệu Nguyên Phong, năm Nhâm Thân kính cẩn ghi. Tăng Giám Viện Nhã Quán, Trú Trì Truyền Pháp là Sa Môn Tải Văn, thợ xây tháp Cao Thành).”
tứ ân
The four debts of gratitude: (1) Ân cha mẹ debt of gratitude to one's parents; (2) Ân chúng sinh debt of gratitude to all living creatures; (3) Ân quốc vương debt of gratitude to the rulers of the nation; (4) Ân Tam bảo debt of gratitude to the Triple Gems (Buddha, Sangha and Dharma).
; Bốn trọng ân—Four Great Debts: 1) Ân Tam Bảo: Nhờ Phật mở đạo mà ta rõ thấu được Kinh, Luật, Luận và dễ bề tu học. Nhờ Pháp của Phật mà ta có thể tu trì giới định huệ và chứng ngộ. Nhờ chư Tăng tiếp nối hoằng đạo, soi sáng cái đạo lý chân thật của Đức Từ Phụ mà ta mới có cơ hội biết đến đạo lý—The debt to the Triple Jewel (Buddha, Dharma, Sangha). 2) Ân cha mẹ Thầy tổ: Nhờ cha mẹ sanh ta ra và nuôi nấng dạy dỗ nên người; nhờ thầy tổ chỉ dạy giáo lý cho ta đi vào chánh đạo. Bổn phận ta chẳng những phải cung kính, phụng sự những bậc nầy, mà còn cố công tu hành cầu cho các vị ấy sớm được giải thoát—The debt to our parents and teachers. 3) Ân thiện hữu tri thức: Nhờ thiện hữu tri thức mà ta có nơi nương tựa trên bước đường tu tập đầy chông gai khó khăn—The debt to our spiritual friends. 4) Ân chúng sanh: Ta thọ ơn chúng sanh rất lớn. Không có người thợ mộc ta không có nhà để ở hay bàn ghế thường dùng; không có bác ông phu ta lấy gạo đâu mà ăn để sống; không có người thợ dệt, ta lấy quần áo đâu để che thân, vân vân. Ta phải luôn siêng năng làm việc và học đạo, mong cầu cho nhứt thiết chúng sanh đều được giải thoát—The debt we owe all sentient beings.
tứ ân hiếu nghĩa
See Phật Giáo Hòa Hảo (A).
tứ ân tông
Xem Pháp tướng tông.
Tứ ân 四恩
[ja] シオン shion ||| Four kinds of compassion. The compassion of parents; the compassion of sentient beings; the compassion of rulers; the compassion of the Three Treasures. => Bốn loại ân: ân cha mẹ; ân chúng sinh; ân quốc vương và ân Tam bảo.
tứ ý đoạn
Xem Tứ chánh cần.
tứ đao lợi giao hình
Sự giao hình (hay giao hợp) giữa nhất và nhị thiên, như giữ Tứ Thiên Vương và Đao Lợi Thiên—Copulation in the first and the second devalokas, i.e. the four heavenly kings (catur-maharajas) and the Trimyastrimsas: 1) Tam Thiên giao hình bằng cách ôm nhau: In the third, it is by embrace. 2) Tứ Thiên giao hình bằng cách nắm tay: In the fourth, by holding hands. 3) Ngũ Thiên giao hình bằng cách cùng cười: In the fifth, by mutual smiling. 4) Lục Thiên giao hình bằng cách cùng ngó nhau: In the sixth, by a mutual look.
tứ điên đảo
xem bốn điên đảo.
; The four viparvaya, i.e. inverted or false beliefs on regard to Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. There are two groups: (1) The common belief in the four above, denied by the early Buddhist doctrine that all is impermanent, suffering, impersonal, and impure; (2) The false belief of the Hìnayàna school that nirvàna is not a state of permanence, joy, personality, and purity.
; The four viparvaya—Four inverted, upside-down, or false beliefs—Bốn lối suy nghĩ điên đảo khiến cho chúng sanh xoay vần trong sanh tử. Trong bốn điên đảo nầy, mỗi điên đảo đều có thể được cảm thọ theo ba cách—Four ways of upside-down thinking that cause one to resolve in the birth and death. (A) 1) Thường: Vô thường mà cho là thường; thường mà cho là vô thường—Permanent (Buddhist doctrine emphasizes that all is impermanent. Only Nirvana is permanent—Mistaking the impermanent for the permanent. 2) Lạc: Khổ mà cho là lạc; lạc thì lại cho là khổ—Joy (All is suffering. Only Nirvana is joy—Mistaking what is not bliss for bliss. 3) Ngã: Vô ngã mà cho là ngã; hữu ngã mà cho là vô ngã—Self or personal (All is non-self or without a soul—Mistaking what is not self for self. 4) Tịnh: Bất tịnh mà cho là tịnh; tình mà cho là bất tịnh—Purity (All is impure. Only Nirvana is pure—Mistaking what is impure for pure. (B) 1) Tham: Greed. 2) Sân: Hatred. 3) Si: Stupidity. 4) Mạn: Pride. (D) Theo niềm tin thông thường của Phật giáo, nhưng bị truyền thống giáo lý nguyên thủy chối bỏ—According to the common Buddhist belief, which denied by the early Budhist doctrine: 1) Vô Thường: Impermanent—Trước hết chúng ta bị đánh lừa bởi những bộ mặt tạm bợ bên ngoài của sự vật. Chúng không lộ vẻ là đang thay đổi, chứng tỏ ổn định trước các giác quan hay các căn si muội của chúng ta. Chúng ta không cảm nhận những quá trình trong biến dịch sinh động mà chỉ cảm nhận những thực thể đang tiếp tục tồn tại như chúng ta tưởng. Sự tương tự, vì lẽ nó cho thấy một chuỗi biến dịch theo một hướng cho sẵn, nên thường bị nhận lầm là sự giống y. Nếu sự hiểu biết sai lạc nầy bén rễ vững chắc trong tâm ta, thì mọi sự chấp thủ và ham muốn sự vật và con người sẽ được hình thành và chúng sẽ được mang theo nhiều phiền muộn, vì nhìn sự vật và con người theo cách nầy thì chính là nhìn chúng qua một tấm gương méo mó. Đấy không phải là nhìn chúng một cách dúng đắn, đấy là nhìn chúng một cách điên đảo mà xem như là thường hằng vậy—We are deceived by the momentary exterior appearance of things. They do not appear to be changing; they appear to our delusion-dulled sense as static. We do not perceive processes in dynamic change but only as we think, entities which go on existing. Similarity, due to a line of change in a given direction, is often mistaken for sameness. If this misapprehension is firmly rooted in our mind, all sorts of attachments and cravings for things and people, including attachment to oneself will be formed and these bring them much sorrow, for to regard things and people in this way is to regard them as through a distorting glass. It is not seeing them correctly, it is seeing them invertedly as though permanent. 2) Khổ: Sufering—Khổ đau xuất hiện một cách điên đảo thành ra lạc thú. Như vậy con người phung phí nhiều đời sống quý báu của họ vào “lạc thú” này hay “lạc thú” khác vì họ không bao giờ thỏa mãn được những gì họ khao khát nên họ bị đẩy đưa từ sự việc này sang sự việc khác. “Lạc thú” có thể sản sinh ra những cảm thọ thoải mái nhất thời của hạnh phúc trần tục, nhưng chúng luôn luôn được nối tiếp bằng chán nản, hối tiếc, mong cầu một cảm xúc khác nữa, biểu thị sự vắng bóng của một thỏa mãn thật sự. Những ai thích thú trong tham, sân, si hiển nhiên là những kẻ đang nỗ lực một cách điên đảo để hưởng thọ những gì không thể hưởng thọ. Khổ đau đi liền với bất cứ trạng thái nào có tham, sân, si nhập vào. Không thể mong có được sự thỏa mãn khi có sự vận hành của ba căn bản bất thiện ấy, vì ba căn bản nầy luôn vận hành quanh những gì vốn tự bản chất đã là khổ đau—The unsatisfactory invertedly appears to be pleasant. Thus people fritter away much of their precious lives on this or that 'pleasure' and as they never actually get the satisfaction they crave for, so they are driven on from one thing to another. 'Pleasures' may produce temporary feelings of ease, of worldly happiness, but they are always linked to succeeding disappointment, regret, longing for some other emotion indicating an absence of real satisfaction. Those who actually rejoice in Greed, Aversion or Delusion are of course, invertedly trying to enjoy what is not enjoyable. Dukkha is linked to any mental state into which the above Three roots enter. Nothing really satisfactory can be expected where they operate as they certainly do in turning round what is by nature unsatisfactory and making it appear the opposite. 3) Vô Ngã: Impersonal—Theo Phật giáo, chúng sanh kể cả con người, có là do nhân duyên hòa hợp, một sự hòa hợp của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Khi năm uẩn tập hợp thì gọi là sống, khi năm uẩn tan rã thì gọi là chết. Điều nầy Đức Phật gọi là “vô ngã.”—Sentient beings including human beings come into being under the law of conditioning, by the union of five aggregates or skandhas (material form, feeling, perception, mental formation or dispositions, and consciousness). When these aggregates are combined together, they sustain life; if they disintegrate, the body will die. This the Buddha called “Impersonal.”—See Vô Ngã. 4) Bất Tịnh: Impure. ** For more information, please Tam Điên Đảo, Thất Điên Đảo, and Bát Điên Đảo in Vietnamese-English Section.
Tứ điên đảo 四顚倒
[ja] シテンドウ shitendō ||| The 'four falls'; four inverted views, which cause one to fall from the true path (viparyāsa-catuksa). They are: (1) the fall of permanence--taking the impermanent to be permanent; (2) Enjoyment--perceiving suffering as enjoyment; (3) Purity-- seeing the impure as pure; (4) Self--perceiving what is not a self to be a self. These can be found in the Vimalakīrti-nirdeśa-sūtra 維摩經, as well as the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舎論. Other texts list different groups of these four. => (s: viparyāsa-catuksa). Bốn quan niệm trái ngược, khiến người ta lạc mất con đường chân chính; Đó là: 1. Thường điên đảo: vô thường mà nhận thức là thường 2. Lạc điên đảo: khổ mà nhận thức là vui 3. Tịnh điên đảo: bất tịnh mà nhận thức là thanh tịnh 4. Ngã điên đảo: vô ngã mà nhận thức là ngã.
tứ điền
The four fields for cultivating happiness: animals; the poor; parents; the religion.
; Bốn mảnh ruộng phước điền—The four fields for cultivating happiness (blessing)—See Tứ phước điền: 1) To animals: Nơi súc sanh. 2) To the poor: Cho người nghèo. 3) To parents: Với song thân. 4) To the religion: Cho việc hoằng dương chánh pháp.
tứ đoạn
Four cuts—See Tứ Giới (D).
tứ đoạt niệm phật
Buddha Recitation and the Four Realizations—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, môn niệm Phật vãng sanh là giáo pháp viên đốn Đại thừa bởi người tu lấy sự giác ngộ quả địa làm điểm phát tâm ở nhân địa. Từ một phàm phu trong tứ sanh lục đạo, nhờ Phật tiếp dẫn mà lên ngôi Bất Thối, đồng hàng với bậc thượng vị Bồ Tát; nếu chẳng phải chính miệng Phật nói ra, ai có thể tin được? Bởi muốn vào vị sơ trụ lên ngôi Tín Bất Thối, người tu các giáo môn khác phải trải qua một muôn kiếp mà mỗi đời đều phải liên tục tinh tấn tu hành. Nếu nói đến vị Bất Thối, Hạnh Bất Thối, Niệm Bất Thối lại còn xa nữa! Về môn Tịnh Độ, hành giả đã tin Phật lực lại dùng hết tự lực, tất muôn người tu muôn người vãng sanh, siêu thoát khỏi luân hồi không còn thối chuyển. Nếu dùng hạnh niệm Phật để phát minh tâm địa, ngộ tánh bản lai, thì Tịnh Độ tông không khác với các tông phái kia. Còn dùng Tịnh Độ để vãng sanh cõi Phật thì Tịnh Độ lại có phần đặc biệt hơn. Tịnh Độ có môn Tứ Đoạt mà các tông khác không có. Chữ “Đoạt” có nghĩa là thông suốt lý thể. Bởi toàn thể pháp giới là nhất tâm, người và cảnh đều như huyễn, nếu thấy có người vãng sanh, có cảnh để sanh về, là còn chấp nhơn chấp pháp, phân biệt kia đây, nên gọi là không đoạt, tức không thông suốt lý thể. Và trái lại, tức là đoạt. Cổ đức nói: “Có niệm đồng không niệm. Không sanh tức là sanh. Chẳng phiền dời nửa bước. Thân đến giác vương thành” là ý nầy vậy. Người và cảnh đều đoạt là mức cao tuyệt của hành giả niệm Phật. Nhưng y theo ba kinh Tịnh Độ và Thiên Thân Luận (Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Vô Lượng Thọ, và Quán Vô Lượng Thọ—Thiên Thân Luận, Tứ Vãng Sanh Luận hay Vô Lượng Thọ Kinh Luận) thì nên lấy “người và cảnh đều không đoạt” làm tông, mới hợp với ý nghĩa của hai chữ vãng sanh. Bởi Đức Như Lai biết hàng phàm phu ở cõi ngũ trược, nhứt là vào thời mạt pháp nầy, nghiệp chướng sâu nặng, nên Ngài lập cảnh tướng để cho chúng sanh y theo đó trụ tâm tu hành, còn khó có kết quả nói chi đến việc lìa tướng? . Phàm phu thời mạt pháp trụ tướng mà tu tất hạnh nguyện dễ khẩn thiết, kết quả vãng sanh cũng dễ đoạt thành. Khi về Tây Phương chừng ấy lo gì không được chứng vào cõi vô sanh vô tướng? Nếu chưa phải là bậc thượng căn lợi trí, vội muốn cầu cao lìa tướng tu hành, tất tâm không nương vào đâu để sanh niệm khẩn thiết, nguyện đã không thiết làm sao được vãng sanh. Không vãng sanh thì làm sao thoát được cảnh luân hồi khổ lụy? Ấy là muốn mau mà trở thành chậm, muốn cao trái lại thấp, muốn khéo hóa ra vụng. Nhiều kẻ ưa nói huyền lý, thường bác rằng: “Niệm Phật cầu sanh là chấp tướng ngoài tâm tìm pháp, chẳng rõ các pháp đều duy tâm.” Những người nầy ý muốn diệu huyền, nhưng kỳ thật lại thành thiển cận. Bởi họ không rõ Ta Bà đã duy tâm thì Cực Lạc cũng duy tâm, tất cả đâu ngoài chân tâm mà có? Vậy thì niệm Phật A Di Đà là niệm Đức Phật trong tâm tánh mình, về Cực Lạc tức là về nơi cảnh giới của tự tâm, chớ đâu phải ở ngoài? Ta Bà và Cực Lạc đều không ngoài tâm, thì ở Ta Bà để chịu sự điên đảo luân hồi, bị ngọn lửa ngũ trược đốt thiêu, sao bằng về Cực Lạc an vui, hưởng cảnh thanh lương tự tại. Nên biết đúng tư cảnh để tôn sùng duy tâm tịnh độ, phải là bậc đã chứng pháp-tánh-thân, mới có thể tự tại trong mọi hoàn cảnh. Chừng đó dù trụ nơi Ta bà hay Cực Lạc cũng đều là Tịnh Độ, là duy tâm, là giải thoát cả. Bằng chẳng thế thì dù cho có nói huyền nói diệu thế nào vẫn không khỏi sự hôn mê khi cách ấm, rồi tùy nghiệp luân hồi chịu khổ mà thôi. Chính vì thế mà nói rằng Tịnh Độ đặc biệt hơn các tông phái khác. Người tu theo Tịnh Độ cũng nên nhớ lời cổ đức dạy về “Tứ Đoạt”—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, reciting the Buddha's name seeking rebirth in the Pure Land is a “perfect sudden” method in the Mahayana tradition, because the cultivator takes Enlightenment in the “effect stage” as his point of departure of awakening the mind in the “causal stage.” If it were not taught by Sakyamuni Buddha Himself, who would believe that a common mortal of the “Four Ways of Birth and Six Paths” could reach the stage of non-retrogression, equal to the higher level Bodhisattvas, thanks to Amitabha Buddha's power of “welcoming and escorting”? After all, cultivators following other methods would have to spend ten thousand eons in diligent, continuous cultivation to obtain such results. With the Pure Land method, since the cultivator has put his faith in the Buddha's power in addition to using all his “self power,” every single cultivator will be reborn in the Land of Ultimate Bliss, escape the cycle of Birth and Death and achieve non-retrogression. If we were to use Buddha Recitation to discover the Mind-Ground and awaken to our Original Nature, the Pure Land method would be no different from other methods. However, when we rely on Buddha Recitation to seek rebirth in the Pure Land, the Pure Land method has unique characteristics. The Pure Land has four statements explain the Four True Realizations of Pure Land teachings. True Realization means thorough comprehension of essence, or noumenon. Since the whole Dharma Realm or cosmos is only Mind, sentient beings and realms are illusory. If we conceive that there are sentient beings achieving rebirth in the Pure Land and that there are realms to go back to, we are still attached to beings and dharmas and are still making a distinction between hwere and there. This is not True Realization, i.e., not a completed understanding of essence and noumenon. The reverse is called the True Realization. The ancients have summarized the idea in the following stanza: “Recitation is equal to non-recitation. No Birth is Birth. Having reached that stage do not bother to move even half a step. You have arrived at the Enlightened Capital City.” True realization of beings and realms is the ultimate goal of Pure Land practitioners. Nevertheless, the doctrine taught in the Three Pure Land sutras and Commentary on Rebirth (not True Realization of Realms and Beings), which is consonant with seeking rebirth in the Pure Land. This is because Sakyamuni Buddha knew that common mortals in this world of the Five Turbidities, especially in this Dharma-Ending Age, would have heavy and deep karmic obstructions; establishing a realm of marks or the Pure Land, enabling them to anchor their minds and cultivate, would be difficult enough, not to mention abandoning all marks! If common human beings of this Dharma-Ending Age cultivate while grasping at marks, i.e., the Pure Land, their Practice and Vows will be more earnest and the final result of rebirth in the Pure Land is easier to achieve. Once reborn in the Pure Land, why worry about not attaining the state of No-Birth and No-Mark? For those who are not of the highest capacity or endowed with a sharp mind, hastening to achieve lofty goals and engaging in cultivation without marks leave the minds with no anchor. Earnestness and sincerity are then difficult to develop. If their Vows are not earnest, how can they achieve rebirth in the Pure Land, and without rebirth in that Land, how can they escape Birth and death? This is an instance of “haste makes watse,” climbing high but landing low, wanting to be clever and ending up clumsy and awkward! Many who like to voice lofty principles frequently reject the Pure Land method in these terms: “To recite the Buddha's name seeking rebirth in the Pure Land is to grasp at marks. Seeking the Dharma outside the Mind, failing to understand that all dharmas are Mind-Only.” These individuals, seeking the subtle and lofty, are in reality shallow and superficial! This is because they do not understand that if the Saha World is Mind-Only, then the Western Pure Land is also Mind-Only, and nothing can be found outside the True Mind. Thus, to recite Amitabha Buddha's name is to recite the Buddha of our own Nature and Mind; to be reborn in the Pure Land is to return to the realm of our own Mind, not to an outside realm! Since neither the Saha World nor the Pure Land is outside the Mind, how can remaining in the Saha World, enduring samsara, scorched and burn by the fire of the Five Turbidities, be compared with returning to the tranquil and blissful Pure Land, the pure and cool realm of freedom? We should realize that the ones truly in a position to honor the Mind-Only Pure Land are those who have attained the Dharma-Nature-Body, always free and at ease in all circumstances. At that time, whether in the Saha World or in the Land of Ultimate Bliss, they are in a “pure land,” in the state of Mind-Only, in the state of liberation. Otherwise, though they may discourse endlessly on the mystery and loftiness of the Pure Land, they cannot escape bewilderment and delusion in the “bardo stage,” and following their karma, revolving in the cycle of Birth and Death! Chính vì thế mà nói rằng Tịnh Độ đặc biệt hơn các tông phái khác. Người tu theo Tịnh Độ luôn nhớ về pháp môn Tứ Đoạt Niệm Phật—Thus, the Pure Land method has unique characteristics. Pure Land practitioners should always remember the “Buddha recitation and the Four Realizations.” 1) Đoạt cảnh chẳng đoạt người: True realization of realm, not of beings—Sanh tất quyết định sanh, về thật không có về—Birth in the Pure Land is definitely birth; however, return to the Pure Land is, in truth, no return. 2) Đoạt người chẳng đoạt cảnh: True realization of beings, not of realms—Về tất quyết định về, sanh không thật có sanh—return is definitely return; however, birth is, in truth, No Birth. 3) Cảnh người đều đoạt: True realization of both realms and beings—Về thật chẳng có về, sanh cũng thật không sanh—Return is, in reality, no return; birth is also, in truth, no birth. 4) Cảnh và người đều không không đoạt: Not a true realization of realms and beings—Về tất quyết định về, sanh cũng quyết định sanh—Return is definitely return; birth is definitely birth.
tứ đàn pháp
Four kinds of altar-worship—See Tứ Chủng Đàn Pháp.
tứ đáp
The Buddha's four methods of dealing with questions:
; The Buddha's four methods of dealings with questions—See Tứ Ký.
Tứ Đại
(s: catvāri mahābhūtāni, p: cattāri mahābhūtāni, 四大): bốn yếu tố lớn hình thành nên vật chất, gồm: (1) Địa Đại (地大, đất), bản chất của nó cứng rắn, có tác dụng bảo trì. (2) Thủy Đại (水大, nước), bản chất ẩm ướt, có tác dụng thâu nhiếp, tập trung. (3) Hỏa Đại (火大, lửa), bản chất ấm nóng, có tác dụng thành thục. (4) Phong Đại (風大, gió), bản chất động, có tác dụng sinh trưởng. Khi 4 yếu tố này hợp lại thì có thể hình thành nên vạn vật, và khi chúng tan biến thì vạn vật cũng theo đó mà tiêu diệt; cho nên, không có người sáng tạo ra vạn vật, mà cũng chẳng có vạn vật nào được sáng tạo cả; vì vậy, trong Phật Giáo vẫn thường dùng từ “Tứ Đại giai không (四大皆空, bốn đại đều không thật có).” Trong bài thơ Tâm Chi Sanh Hề (心之生兮) của Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) có câu: “Sanh tự vọng sanh tử vọng tử, Tứ Đại bổn không tùng hà khởi (生自妄生死妄死、四大本空從何起, sanh tự lầm sanh chết lầm chết, Bốn Đại vốn không từ đâu khởi ?).” Hay trong bài Phóng Cuồng Ngâm (放狂吟) của cùng tác giả trên, lại có câu: “Phóng Tứ Đại hề mạc bả tróc, liễu nhất sanh hề hưu bôn mang (放四大兮莫把捉、了一生兮休奔忙, buông Bốn Đại chừ chớ nắm bắt, tỉnh một đời chừ thôi bôn ba).” Trong bài Cái Văn cung tiến giác linh cũng có câu: “Cái văn: vô thường thị thường, Thế Tôn thượng Song Lâm diệt độ, tịch diệt phi diệt, Đạt Ma tằng chích lý Tây quy, sanh tự hà lai, tử tùng hà khứ. Cung duy mỗ Hòa Thượng Giác Linh, nhất tánh trạm nhiên, vạn duyên không tịch, thác Ngũ Ấm chi phi hữu, liễu Tứ Đại chi bổn không, thuận thế vô thường, yếm quy chơn giới, thâu Đàm Hoa ư thử độ, thục thiện quả ư Kỳ Viên, nguyện bằng nhất lũ chi hương vân, dụng trợ Tam Thừa chi giác lộ (蓋聞、無常是常、世尊尚雙林滅度、寂滅非滅、達磨曾隻履西歸、生自何來、死從何去、恭惟某和尚覺靈、一性湛然、萬緣空寂、托五陰之非有、了四大之本空、順世無常、奄歸眞界、收曇花於此土、熟善果於祇園、願憑一縷之眞香、用助三乘之覺路, Thường nghe: vô thường là thường, Thế Tôn còn Song Lâm diệt độ, tịch diệt chẳng diệt, Đạt Ma từng quảy dép về Tây, sanh đến từ đâu, chết đi về đâu. Cúi thưa: Giác Linh Hòa Thượng …, một tánh lắng trong, vạn duyên không vắng, gởi Năm Ấm vào chẳng có, ngộ Bốn Đại chính là không, thuận lẽ vô thường, quay về chơn giới, thu Đàm Hoa ở chốn này, chín quả thiện tại Kỳ Viên, nguyện nương một nén mây hương thơm, dùng giúp Ba Thừa lên đường giác).”
tứ đại
xem bốn đại.
; Xem Đại chủng.
; Mahàbhùta (S). The four elements of which all things are made: (1) Địa prithin, earth; (2) Thủy apas, water; (3) Hỏa tjas, fire; (4) Phong vayu, wind.
; Vật chất thuộc cố thể là địa đại, dịch thể là thủy đại, nhiệt độ là hỏa đại, khí thể là phong đại; nói chung là Tứ đại.
; Catudhatuvavatthana (p)—Mahabhuta (skt)— Four tanmatra—Bốn yếu tố lớn cấu tạo nên vạn hữu. Bốn thành phần nầy không tách rời nhau mà liên quan chặt chẽ lẫn nhau. Tuy nhiên, thành phần nầy có thể có ưu thế hơn thành phần kia. Chúng luôn thay đổi chứ không bao giờ đứng yên một chỗ trong hai khoảnh khắc liên tiếp. Theo Phật giáo thì vật chất chỉ tồn tại được trong khoảng thời gian của 17 chập tư tưởng, trong khi các khoa học gia thì cho rằng vật chất chỉ chịu đựng được 10 phần 27 của một giây. Nói gì thì nói, thân thể của chúng ta chỉ là tạm bợ, chỉ do nơi tứ đại hòa hợp giả tạm lại mà hành, nên một khi chết đi rồi thì thân tan về cát bụi, các chất nước thì từ từ khô cạn để trả về cho thủy đại, hơi nóng tắt mất, và hơi thở hoàn lại cho gió. Chừng đó thì thần thức sẽ phải theo các nghiệp lực đã gây tạo lúc còn sanh tiền mà chuyển vào trong sáu nẻo, cải hình, đổi xác, tiếp tục luân hồi không dứt—Four great elements of which all things are made (produce and maintain life). These four elements are interrelated and inseparable. However, one element may preponderate over another. They constantly change, not remaining the same even for two consecutive moments. According to Buddhism, matter endures only for 17 thought-moments, while scientists tell us that matter endures only for 10/27th of a second. No matter what we say, a human body is temporary; it is created artificially through the accumulation of the four elements. Once death arrives, the body deteriorates to return to the soil, water-based substances will gradually dry up and return to the great water, the element of fire is lost and the body becomes cold, and the great wind no longer works within the body. At that time, the spirit must follow the karma each person has created while living to change lives and be reincarnated into the six realms, altering image, exchange body, etc in the cylce of births and deaths—Four constituents: 1) Địa Đại (Kiên): Prithin (skt)—Pathavi (p)—Đất (tóc, răng, móng, da, thịt, xương, thận, tim, gan, bụng, lá lách, phổi, bao tử, ruột, phẩn, và những chất cứng khác). Địa Đại là thành phần vật chất mở rộng hay thể nền của vật chất. Không có nó vật thể không có hình tướng và không thể choán khoảng không. Tính chất cứng và mềm là hai điều kiện của thành phần nầy. Sau khi chúng ta chết đi rồi thì những thứ nầy lần lượt tan rã ra thành cát bụi, nên nó thuộc về Địa Đại—Earth—Solid matter. Prithin means the element of extension, the substratum of matter. Without it objects have no form, nor can they occupy space. The qualities of hardness and softness are two conditions of this element. After death, these parts will decay and deteriorate to become soil. For this reason, they belong to the Great Soil. 2) Thủy Đại (Thấp): Apas (skt)—Apo (p)—Nước (đàm, mủ, máu, mồ hôi, nước tiểu, nước mắt, nước trong máu, mũi dãi, tất cả các chất nước trong người nói chung). Không giống như địa đại, nó không thể nắm được. Thủy đại giúp cho các nguyên tử vật chất kết hợp lại với nhau. Sau khi ta chết đi rồi thì những chất nước nầy thảy đều cạn khô không còn nữa, nói cách khác chúng hoàn trả về cho nước—Water, fluidity, or liquid. Unlike the earth element it is intangible. It is the element which enables the scattered atoms of matter to cohere together. After death, these water-based substances will dry up. In other words, they have returned to water. 3) Hỏa Đại (Noãn): Tjas (skt)—Tejo (p)—Lửa (những món gây ra sức nóng để làm ấm thân và làm tiêu hóa những thứ ta ăn uống vào). Hỏa đại bao gồm cả hơi nóng lạnh, và chúng có sức mạnh làm xác thân tăng trưởng, chúng là năng lượng sinh khí. Sự bảo tồn và phân hủy là do thành phần nầy.Sau khi ta chết, chất lửa trong người tắt mất, vì thế nên thân xác dần dần lạnh—Fire or heat. Fire element includes both heat and cold, and fire element possesses the power of maturing bodies, they are vitalizing energy. Preservation and decay are due to this element. After death, the element of fire is lost and the body gradually becomes cold. 4) Phong Đại (Động): Vayu (skt)—Vayo (p)—Gió (những chất hơi thường lay chuyển, hơi trong bao tử, hơi trong ruột, hơi trong phổi). Gió là thành phần chuyển động trong thân thể. Sau khi ta chết rồi thì hơi thở dứt bặt, thân thể cứng đơ vì phong đại đã ngừng không còn lưu hành trong cơ thể nữa—Air, wind, motion, or energy of motion. Air element is the element of motion in the body. After death, breathing ceases, body functions become catatonic or completely rigid because the great wind no longer works within the body.
tứ đại bất điều
The inharmonious working of the four elements in the body, which causes the 440 ailments.
; Bốn yếu tố lớn không hòa hợp với nhau sẽ khiến cho cơ thể sanh ra 440 thứ bệnh hoạn—The inharmonious working of the four elements in the body, which causes the 440 ailments.
tứ đại bồ tát
Four Great Bodhisattva Tiêu biểu 4 đặc tính của Bồ tát gồm: Bồ tát Văn thù, Bố tát Phổ Hiền, Bồ tát Địa Tạng, Bồ tát Quán Thế Âm.
; The four great Bodhisattvas of the Lotus sùtra, i.e. Di Lặc Maitreya, Văn Thù Sư Lợi Manjusri, Quán Thế Âm Avalokitesvara, and Phổ Hiền Samantabhadra. Another list of previous Bodhisattvas is: Thượng Hạnh Visistacàritra, Vô Biên Hạnh Anantacàritra, Tịnh Hạnh Vasudhacàritra, and An Lập Hạnh Supratisthitacàritra.
tứ đại bồ tát trong kinh pháp hoa
Bốn vị Bồ Tát lớn trong Kinh Pháp Hoa—Four Great Bodhisattvas of Lotus Sutra: (A) 1) Di Lặc Bồ Tát: Maitreya. 2) Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Manjusri. 3) Quán Thế Âm Bồ Tát: Avalokitesvara. 4) Đại Thế Chí Bồ Tát: Samantabhadra. (B) 1) Thượng Hạnh: Visistacaritra. 2) Vô Biên Hạnh: Anantacaritra. 3) Tịnh Hạnh: Visuddhacaritra. 4) An Lập Hạnh: Supratisthitacaritra.
tứ đại bộ châu
The four great continents of the world—See Tứ Châu.
tứ đại bộ kinh
Four great sùtras: Hoa Nghiêm, Niết Bàn Nirvàna, Bảo Tích Mahàratnakùta, Bát Nhã Prajnà.
; Four great sutras: 1) Hoa Nghiêm: Avatamsaka Sutra—The Flower Ornament Scripture. 2) Bảo Tích: Maharatnakuta. 3) Bát Nhã: Prajna. 4) Niết Bàn: Nirvana.
tứ đại châu
Four continents.
; The four great continents of a world.
; The four great continents of the world—See Tứ Châu.
Tứ đại châu 四大洲
[ja] シダイシュウ shidaishū ||| The four continents make up the world in which humans, animals, etc exist. They are: 1) 南贍部洲 nánshànbùzhōu The Southern Continent of Jambuvīpa, 2) 東勝身洲 dōngshèngshēnzhōu the Eastern Continent of Pūrva-videha, 3) 西牛貨洲 xīniúhuòzhōu the Western Continent of Avara-godānīya, and 4) 北倶盧洲 bĕijùlúzhōu the Northern Continent of Uttara-kuru. These four continents are arranged around Mount Sumeru, which itself is ringed by a number of seas and mountain ranges. Below this world are the eight hells. => Bốn lục địa tạo nên thế giới mà con người, muông thú sinh sống. Đó là: 1. Nam thiêm bộ châu; 2. Đông thắng thần châu; 3. Tây ngưu hoá châu; 4. Bắc Câu-lư châu. Bốn châu nầy bao quanh núi Tu-di, được bao bọc quanh bởi vô số biển và nhiều dãy núi.
Tứ đại chủng
四大種; Yếu tố, Ðại chủng: s, p: mahābhūta; thường được gọi tắt là Tứ đại;|Là đất (地; địa; s: pṛthvī), nước (水; thuỷ; s: āp), lửa (火; hoả, s: tejah), gió (風; phong; s: vāyu). Chỉ bốn yếu tố hợp thành mọi vật thể: chất cứng (đất), chất lỏng (nước), hơi nóng (lửa) và yếu tố vận động (gió). Phân tích bốn yếu tố này để thấy vật thể cũng do hoà hợp mà thành là một phép quán thiền định quan trọng với mục đích đối trị Ngã kiến, để thấy mọi thân thể là Vô thường, Vô ngã và gây Khổ. Trong hệ thống Tan-tra, người ta còn kể thêm Hư không (虛空; s: ākāśa) là yếu tố thứ năm, gọi chung lại là Ngũ giới (五界; s: pañcadhātu).
tứ đại chủng
See Tứ Đại.
Tứ đại danh sơn
四大名山|chỉ bốn ngọn núi tại Trung Quốc, được xem là bốn trú xứ của các vị Bồ Tát: |1. Ngũ Ðài sơn, trú xứ của Văn-thù (s: mañjuśrī); 2. Phổ-đà sơn của Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara); 3. Nga Mi sơn của Phổ Hiền (s: samantabhadra) và 4. Cửu Hoa sơn của Ðịa Tạng (s: kṣitigarbha).
tứ đại danh sơn
The four famous "hills" or monasteries in China: Phổ Đà P'u T'o, for Quán thế Âm, element water; Ngũ Đài Wu T'ai, Văn thù, wind; Nga Mi O-mei, Phổ Hiền, fire; Cửu hoa Chiu hua, Địa tạng, earth.
; Bốn ngọn núi hay bốn tự viện nổi tiếng bên Trung Quốc—The four famous hills or monasteries in China: 1) Phổ Đà Sơn: Chỗ ở của Đức Quán Âm, tiêu biểu cho Thủy Đại—P'u-T'o Shan, for Kuan-Yin, element water. 2) Ngũ Đài Sơn: Chỗ ở của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tiêu biểu cho Phong Đại—Wu-T'ai Shan, for Manjusri (Wên-Shu), element Wind. 3) Nga Mi Sơn: Chỗ ở của Ngài Phổ Hiền, tiêu biểu cho Hỏa Đại—O-Mei Shan, for Samantabhadra (P'u-Hsien), element Fire. 4) Cửu Hoa Sơn: Chỗ ở của Ngài Địa Tạng Bồ Tát—Chiu-Hua Shan, for Earth-Store Bodhisattva (Ti-Tsang), element Earth.
tứ đại hà
xem bốn con sông lớn.
tứ đại hải
Four great oceans.
; The four great oceans in a world, around Sumeru, in which are the four great continents.
; Bốn biển lớn ở bốn phía của núi Tu Di, trong mỗi biển lớn đều có một đại châu—The four great oceans in a world, around Sumeru, in which are the four great continents. ** For more information, please see Tứ Châu.
tứ đại hộ pháp
The four great guardian devas of the four quarters: 1) Kim Cang Vô Thắng Kết Hộ: South Guardian deva. 2) Vô Úy Kết Hộ: East guardian deva. 3) Hoại Chư Bố Kết Hộ: North guardian deva. 4) Nan Giáng Phục Kết Hộ: West guardian deva.
tứ đại minh vương
Bốn vị thiên vương trị vì bốn hướng, thường hộ pháp trong các tự viện—The four deva-kings of the four quarters, guardians in a monastery—See Tứ Thiên Vương.
tứ đại nguyên vô chủ
Triệu Pháp Sư, đời Diêu Tần vào thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, lúc gần tịch có làm bài kệ—The verse uttered by Chao Fa-Shih when facing death under the Yao-Ch'in Emperor, fourth century AD: Tứ đại nguyên vô chủ, No master have the four elements, Ngũ uẩn giai không, Unreal are the five skandhas, Khi đầu đáo bạch đao, When my head meets the white blade, Mới biết mình đang xẻ gió Xuân. T'will be but slicing the spring wind.
tứ đại phiền não
Four fundamental evil passions—Bốn thứ nầy được xem là những phiền não căn bản bắt nguồn từ kiến giải cho rằng thực sự có một bản thể được gọi là ngã-linh hồn thường hằng—These four are regarded as the fundamental evil passions originating from the view that there is really an eternal substance known as ego-soul. 1) Ngã Kiến: Atmadrishti (skt)—Tin vào sự hiện hữu của một ngã thể—The belief in the existence of an ego-substance. 2) Ngã Si: Atmamoha (skt)—Sự mê muội về cái nhã—Ignorance about the ego. 3) Ngã Mạn: Atmamana (skt)—Kiêu mạn về cái ngã—Conceit about the ego. 4) Ngã Ái: Atmasukha (skt)—Tự yêu thương mình—Self-love.
tứ đại phật hộ viện
Nhóm thứ mười ba trong Thai Tạng Giới—The thirteen group of the Garbhadhatu.
tứ đại sư
Bốn vị sư đứng đầu trong tự viện, được nhà vua chính thức bổ nhiệm (dưới thời nhà Đường)—The four monastic heads imperially appointed during the T'ang dynasty.
tứ đại thanh văn
Bốn vị Thanh văn vào thời Đức Phật—The four great sravakas—See Tứ Đại Đệ Tử.
tứ đại thiên vương
Tchatur-mahārājakyikas (S)Xem Catumamaharajukas.
; Caturmahàràja, Lokapàla (S). The four deva-kings of the four quarters, guardians in a monastery. Xem tứ thiên vương.
; Catummaharajika (p)—Gồm bốn chi đối lại với bốn hướng; mỗi hướng được ngự trị bởi những Đại Thiên Vương và các á thần—The Realm of the Four Great Kings which has four divisions corresponding to the four directions (quarters); each is ruled over by its own guardian deity and inhabited by a different class of demi gods--See Tứ Thiên Vương.
tứ đại thiên vương thiên
Caturmahārājakayika-deva (S), Caturmahā-rājakayikas (S), Four Great Deva Kings Tứ Thiên VươngGồm: Trí Quốc, Tăng Trưởng, Quảng Mục, Đa Văn. Một trong 6 cảnh trời cõi dục giới: - Tứ thiên vương thiên gồm: - Đạo lý thiên - Dạ ma thiên - Đâu suất thiên - Hoá lạc thiên - Tha hoá tự tại thiên.
tứ đại tướng
Mahā-bhŪta-rŪpas (S)Ngũ đại chủng tướng.
tứ đại tứ vương
Catur-maharajas or Lokapalas (skt)—Bốn vị Thiên Vương trị vì quanh núi Tu Di, canh giữ sự tấn công của ác thần hay A-Tu-La, vì vậy có tên là Hộ Thế Tứ Thiên Vương—The four deva-kings. Indra's external 'generals' who dwell each on a side of Mount Meru, and who ward off from the world the attacks of malicious spirits, or asuras, hence they obtained their names as the four deva-kings or the guardians of the world—See Tứ Thiên Vương.
Tứ đại vương chúng thiên 四大王衆天
[ja]シダイオウシュテン shidaiōshuten ||| See => Xem Tứ thiên vương 四天王.
tứ đại vương thiên
Catur-maharaja-kayikas (skt)—Bốn cõi trời của bốn vị Thiên Vương—The four heavens of the four deva-kings--See Tứ Thiên Vương.
Tứ đại vương 四大王
[ja]シダイオウ shidaiō ||| See 四天王. => Xem Tứ thiên vương 四天王.
tứ đại đệ tử
The four great disciples of the Buddha: Xá lợi phất Sariputra, Mục kiền liên Mahà Maudgalyàyana, Tu bồ đề Subhùti, and Ma ha Ca diếp Mahà Kàsyapa.
; Bốn đệ tử lớn của Đức Phật—Four great disciples of the Buddha: (A) 1) Sariputra: Xá Lợi Phất (đệ nhứt trí huệ). 2) Mahamaudgalyayana: Ma Ha Mục Kiền Liên (đệ nhứt thần thông). 3) Subhuti: Tu Bồ Đề (đệ nhứt hạnh không). 4) Mahakasyapa: Ma Ha Ca Diếp (đệ nhứt khổ hạnh). (B) 1) Ma Ha Ca Diếp: Mahakasyapa. 2) Tân Đầu Lư: Pindola. 3) La Hầu La: Rahula. 4) Quân Đề Bạt Thán: Kaundinya.
tứ đại đệ tử phật
See Tứ Đại Đệ Tử.
Tứ đại 四大
[ja] シダイ shidai ||| (mahā-bhūta). The 'four gross elements.' 'Gross' (大) means 'element,' which all substances are composed of. These are: (1) tu 土 the earth element (prthivī dhātu), which has the basic quality of hardness and the function of protection; (2) shui 水 water (ab-dhātu), which has the function of gathering and storing wetness; (3) 火 fire (teja-dhātu), which is the nature of heat and has the function of warming; (4) feng 風 wind (vāyū-dhātu), which has the function of giving life to all living things. It is thought that when these are gathered, material substance is produced; therefore they are called the 'forms of creatability.' In India, there are other transmissions of ideology whose explanations resemble this one, and even within Buddhism there are other explanations, but in the explanation of Abhidharma Buddhism, the objects of consciousness of earth, wind, fire and water are provisional elements, since the true elements are imperceptible. => (s: mahā-bhūta) Bốn nguyên tố chính. Đại (大) có nghĩa là 'nguyên tố', các vật thể đều bao gồm trong các đại ấy. Đó là: 1. Đất (thổ 土; s: prthivī dhātu), phẩm chất căn bản là cứng rắn, có chức năng bảo hộ. 2. Nước (thuỷ 水 ( s: ab-dhātu), có chức năng dồn tụ và lưu giữ sự ẩm ướt. 3. Lửa (hoả: 火 (s:teja-dhātu), bản chất nóng, có chức năng giữ ấm. 4. Gió (phong 風 s: (vāyū-dhātu), có chức năng đem sự sống cho muôn loài. Khi những yếu tố nầy hội đủ, thì các hiện tượng vật chất hình thành; nên Tứ đại được gọi là 'hình thái tạo tác'. Ở Ấn Độ, lưu truyền nhiều hệ tư tưởng khác nhau giải thích từ đại tương tự như trên, ngay cả trong Phật pháp cũng có nhiều lối giải thích khác nhau, nhưng theo giải thích của A-tỳ-đạt-ma Phật giáo, nhận thức về đất, nước, lửa, gió đều là những yếu tố giả tạm, vì các nguyên tố chân thật thì không thể nhận thức được.
tứ đạo
Bốn con đường hay bốn cách tu hành dẫn đến Niết Bàn—The four modes of progress or stages—The “Tao” or road means the nirvana-road: 1) Gia Hạnh Đạo: Ra sức thực hành tam học vị, tam hiền, tứ thiện căn đến tam tu giới định tuệ. Giai đoạn nầy liên hệ tới Thánh quả dự lưu Tu Đà Hườn—Discipline or effort to cultivate from the four good roots to the three studies (morality, meditation and wisdom). This stage associated with the stage of a Srota-apanna. 2) Vô Gián Đạo: Hành vi phát chánh trí đoạn trừ phiền não sau khi công đức gia hạnh đã thành tựu. Giai đoạn nầy liên hệ tới giai đoạn của nhị Thánh Tư Đà Hàm—Uninterrupted progress to the stage in which all delusion is banished. This stage associated with the stage of a Sakrdagamin. 3) Giải Thoát Đạo: Hành vi sanh nhất niệm chánh trí và chứng ngộ chân lý sau khi đã thành tựu vô gián đạo. Giai đoạn nầy liên hệ tới giai đoạn của Tam quả A Na Hàm—Liberation or freedom, reaching the state of assurance or proof and knowledge of the truth. This stage associated with the stage of an Anagamin. 4) Thắng Tiến Đạo: Hành vi ngày càng tăng tiến để tăng trưởng định tuệ sau khi đã thành tựu giải thoát đạo. Giai đoạn nầy liên hệ tới giai đoạn thành tựu của bậc A La Hán—Surpassing progress in dhyana-wisdom. This stage associates with the stage of an Arhat.
Tứ đạo thánh nhân
Các vị tu tập vào bốn giai đoạn sắp chứng quả Niết-bàn. Tứ đạo được kể ra cụ thể là 4 giai đoạn tu tập sắp đạt đến sự giải thoát rốt ráo, đó là: Gia hành đạo (加行道- Phạn ngữ: prayoga-mrga), Vô vấn đạo (無間道- Phạn ngữ: nantarya-mrga), Giải thoát đạo (解脫道- Phạn ngữ: vimukti-mrga) và Thăng tiến đạo (勝進道- Phạn ngữ: viśeṣa-mrga).
Tứ đạo 四道
[ja] シドウ shidō ||| The four paths in Abhidharmakośa 倶舎論 doctrine. (1) The path of preparation 加行道--the stage at which one gathers the energy for the development of the three stages of worthiness and the four roots of goodness (三賢、 四善根), practicing śīla, samādhi and prajñā. (2) The path of non-obstruction 無間道-- the stage where defilements are destroyed by the awakening of correct wisdom. (3) The path of liberation 解脱道--wherein one thought-moment of correct wisdom one awakens to reality. (4) The path of superb advancement 勝進道. Having awakened, one enters anew onto the path of meditation and wisdom. => Bốn qúa trình tu đạo theo Câu-xá luận: 1. Gia hạnh đạo 加行道: giai đoạn tích tập năng lực để tiến đến Tam hiền và Tứ thiện căn, tu tập giới, định, huệ. 2. Vô gián đạo無間道: giai đoạn phiền não được trừ sạch nhờ trí giác ngộ chân chính. 3. Giải thoát đạo解脱道: từ trong một niệm- từ trí tuệ chân chính, giác ngộ được thực tại. 4. Thắng tiến đạo勝進道: đã được giác ngộ, hành giả lại thể nhập vào con đường thiền định và trí tuệ.
tứ đạt
Saindhava (skt)—Tiên Đà Bà—Bốn thứ cần thiết—The four neccesaries: 1) Muối cho thức ăn: Salt for food. 2) Nước để rửa rái: Water for washing. 3) Bình đựng nước: A utensil or a vessel to contain water. 4) Ngựa để làm phương tiện hoằng hóa: A horse for progress in spreading the Buddha-truth.
tứ đảo
xem bốn điên đảo.
; Xem tứ điên đảo.
; The four viparvaya (inverted or false beliefs)—See Tứ Điên Đảo.
tứ đẳng
The four virtues which a Buddha out of his infinite heart manifests equally to all. They are: từ, bi, hỉ, xả. Another group is Tự, Ngữ, Pháp, Thân, i.e. tự that all Buddhas have the same tittle or tittles; ngữ speak the same language; pháp proclaim the same truth; and thân have each the threefold body or trikàya. A third group is chư pháp all things are equally included in the bhùtatathatà; phát tâm the mind nature being universal, its field of action is universal; đạo đẳng the way or method is also universal; therefore từ bi the compassion (of the Buddha) is universal for all. Also tứ vô lượng tâm.
; (A) Chư Phật Tứ Đẳng: Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả)—The four virtues which a Buddha out of his infinte heart manifest equally to all: 1) Tự Đẳng: Chư Phật ba đời đều có một danh hiệu như nhau (đều được gọi là Phật)—All Buddhas have the same title or titles. 2) Ngữ Đẳng: Chư Phật ba đời đều dùng một thứ ngôn ngữ mà giảng thuyết (Phạn Ngữ)—All the Buddhas speak the same language (Sanskrit). 3) Pháp Đẳng: Chư Phật ba đời đều được ba mươi bảy phẩm trợ đạo như nhau—All Buddhas proclaim the same truth (thirty-seven aids to enlightenment)—See Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo. 4) Thân Đẳng: Chư Phật ba đời đều có ba thân (Pháp, Báo, Hóa) như nhau—All Buddhas have each the threefold body or trikaya. (B) 1) Chư Pháp Tứ Đẳng Kể Cả Chân Như: All things are equally included in the Bhutatathata. 2) Phát Tâm Đẳng: Lý tính sở y bình đẳng, nên tâm năng phát cũng bình đẳng—The mind nature being universal, its field of action is universal. 3) Đạo Đẳng: Phát tâm bình đẳng, nên đạo sở hành cũng bình đẳng—The way or method is also universal. 4) Từ Bi Đẳng: Đạo sở hành bình đẳng, nên đức từ bi được thể hiện ra khi đắc đạo cũng bình đẳng—The mercy of the Buddhas is universal for all.
Tứ Đế
(s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦): Đế (s: satya, p: sacca, 諦) ở đây nghĩa là chân thật, bất hư, chân lý. Tứ Đế chỉ cho 4 loại chân lý đúng dắn, không sai lầm, không hư dối, gồm: Khổ (苦), Tập (集), Diệt (滅) và Đạo (道); còn gọi là Tứ Chân Đế (四眞諦); 4 chân lý này do bậc thánh thấy được nên gọi là Tứ Thánh Đế (四聖諦), Tứ Diệu Đế (四妙諦). Đại thể, Tứ Đế là Phật Giáo dùng để giải thích hiện tượng vũ trụ theo quy nạp của thuyết Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), là đại cương giáo nghĩa của Phật Giáo Nguyên Thủy, là bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật. Theo thứ tự, 4 chân lý này là Khổ Thánh Đế (苦聖諦), Khổ Tập Thánh Đế (苦集聖諦), Khổ Diệt Thánh Đế (苦滅聖諦), Khổ Diệt Đạo Thánh Đế (苦滅道聖諦); hoặc Khổ Thánh Đế (苦聖諦), Khổ Tập Đế (苦習諦), Khổ Diệt Đế (苦滅諦), Khổ Diệt Đạo Thánh Đế (苦滅道聖諦); hay Khổ Đế (苦諦), Khổ Tập Đế (苦集諦), Khổ Tận Đế (苦盡諦), Khổ Xuất Yếu Đế (苦出要諦); hoặc Khổ Thánh Đế (苦聖諦), Tập Thánh Đế (集聖諦), Chơn Thánh Đế (眞聖諦), Đạo Thánh Đế (道聖諦). Trong đó, Khổ và Tập biểu thị quả và nhân của thế giới mê lầm; Diệt và Đạo biểu thị quả và nhân của thế giới chứng ngộ; nghĩa là quả của thế gian Hữu Lậu là Khổ Đế, quả của xuất thế gian Vô Lậu là Diệt Đế; nhân của thế gian Hữu Lậu là Tập Đế, quả của xuất thế gian Vô Lậu là Đạo Đế. Theo Trung A Hàm Kinh (中阿含經, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 7, Phân Biệt Thánh Đế Kinh (分別聖諦經), A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 77, Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (大乘阿毘達磨雜集論, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 7, v.v., cụ thể Tứ Đế là: (1) Khổ Đế (s: duḥkha-satya, p: dukkha-sacca, 苦諦), còn gọi là Khổ Thánh Đế (s: duḥkhārya-satya, 苦聖諦); khổ tức chỉ trạng thái bức bách thân tâm khổ não; mọi sự vật trên thế gian, dù hữu tình hay chẳng phải hữu tình, đều phải chịu khổ; hết thảy thế gian bản chất là khổ. Khổ Đế tức là chân lý về cái khổ thật sự liên quan đến vấn đề sanh tử. (2) Tập Đế (s: samudaya-satya, p: samudaya-sacca, 集諦), còn gọi là Tập Thánh Đế (s: samudayārya-satya, 集聖諦); tập đây nghĩa là sự thật về tất cả phiền não hoặc nghiệp thật sự có thể chiêu tập quả của khổ sanh tử trong Ba Cõi. Tập Đế là chân lý liên quan đến sự sanh khởi cũng như căn nguyên các nỗi khổ của con người trên cõi đời này. (3) Diệt Đế (s: nirodha-satya, p: nirodha-sacca, 滅諦), còn gọi là Diệt Thánh Đế (s: nirodhārya-satya, 滅聖諦); diệt ở đây nghĩa là tịch diệt, vắng lặng, thật sự đoạn trừ căn bản của khổ là ái dục thì sẽ được diệt khổ, có thể nhập vào cảnh giới Niết Bàn. Diệt Đế là chân lý liên quan đến sự diệt tận Khổ và Tập. (4) Đạo Đế (s: mārga-satya, p: magga-sacca, 道諦), còn gọi là Đạo Thánh Đế (s: mārgārya-satya, 道聖諦); đạo nghĩa là có thể thông suốt, tức là con đường diệt khổ, như Chánh Kiến (正見), Chánh Tư Duy (正思惟), v.v., của Bát Chánh Đạo (s: āryāṣṭāṇga-mārga, p: ariyāṭṭhaṅgika-magga, 八正道); nếu nương vào đây mà tu hành, tức có thể siêu thoát hai sự thật Khổ và Tập, đạt đến cảnh giới Niết Bàn vắng lặng. Đạo Đế là chân lý liên quan đến Bát Chánh Đạo ấy. Sau khi thành đạo, đức Phật thuyết Tứ Đế này cho 5 vị Tỳ Kheo, được xem như là lần chuyển Pháp Luân đầu tiên. Đây là giáo nghĩa căn bản nhất trong các giáo lý Phật Giáo, là phương pháp duy nhất dể giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Về sau, Tứ Đế được xem như là pháp của Thanh Văn; ngoại trừ Phật Giáo Nguyên Thủy thuyết về giáo lý này, trong các kinh điển của Phật Giáo Đại Thừa cũng có đề cập đến giáo thuyết này, tỷ dụ như Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (勝鬘獅子吼一乘大方便方廣經, Taishō Vol. 12, No. 353), Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 12, 13, v.v., không những có giải thích theo quan điểm Đại Thừa mà còn phát huy áo nghĩa của Tứ Đế nữa. Về tự tánh của Tứ Đế, các bộ phái đều có những dị thuyết. Căn cứ A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 77, các luận sư của A Tỳ Đạt Ma (s: Abhidharma, 阿毘達磨) lấy Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊) là Khổ Đế, nhân của Hữu Lậu là Tập Đế, pháp Trạch Diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha, p: patisaṅkhā-nirodha, 擇滅) là Diệt Đế, pháp Học, Vô Học là Đạo Đế. Về thứ tự hiện quán của Tứ Đế, theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 22, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 78 cho biết rằng trước quán Khổ Đế, kế đến quán Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế. Căn cứ vào Hiển Dương Thánh Giáo Luận (顯揚聖敎論, Taishō Vol. 31, No. 1602) quyển 7 Trung, Đại Thừa Phật Giáo lấy nội dung của Tứ Đế diễn thành 8 loại, gọi là Bát Đế (八諦, Tám Đế); gồm Hành Khổ Đế (行苦諦), Hoại Khổ Đế (壞苦諦), Khổ Khổ Đế (苦苦諦), Lưu Chuyển Đế (流轉諦), Tạp Nhiễm Đế (雜染諦, tương đương với Khổ Đế và Tập Đế), Lưu Tức Đế (流息諦, tương đương với Diệt Đế), Thanh Tịnh Đế (清淨諦, tương đương với Diệt Đế và Đạo Đế), Chánh Phương Tiện Đế (正方便諦, tương đương với Đạo Đế). Bên cạnh đó, Đại Sư Trí Khải của Thiên Thai Tông căn cứ vào thuyết của Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh, Đại Bát Niết Bàn Kinh lại lập ra 4 loại Tứ Đế có sâu cạn bất đồng, tương đương với 4 giáo tướng Tạng, Thông, Biệt, Viên; gồm: (1) Sanh Diệt Tứ Đế (生滅四諦), do Tạng Giáo (藏敎) thuyết ra, tùy theo việc sanh diệt Hữu Vi mà quán nhân quả của Tứ Đế là thật có sanh, diệt. (2) Vô Sanh Tứ Đế (無生四諦), hay Vô Sanh Diệt Tứ Đế (無生滅四諦), do Thông Giáo (通敎) thuyết ra, tùy theo nhân duyên các pháp tức là Không, Vô Sanh mà quán nhân quả mê ngộ của Tứ Đế, đều là không vô vốn chẳng có sanh diệt. (3) Vô Lượng Tứ Đế (無量四諦), do Biệt Giáo (別敎) thuyết ra, tùy theo trong cõi ngoài cõi với vô số sai biệt, vô số nhân, mà Tứ Đế cũng có vô lượng các tướng. (4) Vô Tác Tứ Đế (無作四諦), do Viên Giáo (圓敎) thuyết ra, tùy theo đương thể của mê ngộ tức là thật tướng, mà quán sự đối lập mâu thuẩn giữa mê với ngộ tức chẳng phải mâu thuẩn, và tất cả đều là thật tướng. Ngoài ra, Pháp Tướng Tông lấy Diệt Đế lập ra Ba Diệt Đế, gồm: Hữu Tự Tánh Diệt (有自性滅), Nhị Thủ Diệt (二取滅) và Bản Tánh Diệt (本性滅); đối với Đạo Đế thì lập ra Ba Đạo Đế, gồm: Biến Tri Đạo (徧知道), Vĩnh Đoạn Đạo (永斷道) và Tác Chứng Đạo (作證道). Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (圓覺經大疏釋義鈔, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) quyển 3 có đoạn rằng: “Hữu Khổ khả tri, hữu Tập khả đoạn, hữu Diệt khả chứng, hữu Đạo khả tu, mê tắc Khổ Tập diệt nhi chân đạo diệt, ngộ tắc Khổ Tập diệt nhi chánh đạo sanh, hữu khả sanh diệt, cố vân Sanh Diệt Tứ Đế (有苦可知、有集可斷、有滅可證、有道可修、迷則苦集生而眞道滅、悟則苦集滅而正道生、有可生滅、故云生滅四諦, có Khổ biết được, có Tập đoạn được, có Diệt chứng được, có Đạo tu được, mê thì Khổ Tập sanh mà chân đạo diệt, ngộ thì Khổ Tập diệt mà chánh đạo sanh, có khả năng sanh diệt như vậy, nên gọi là Sanh Diệt Tứ Đế).” Hay trong Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn (釋禪波羅蜜次第法門, Taishō Vol. 46, No. 1916) quyển 9 cũng có đoạn: “Niệm tử tức ngộ vô thường Tứ Đế, nhược Tam Giới bệnh tận tức đắc chứng đạo (念死卽悟無常四諦、若三界病盡卽得聖道, nghĩ nhớ bệnh là ngộ vô thường Tứ Đế, nếu Ba Cõi bệnh hết tức được chứng đạo).”
Tứ đế
xem Bốn chân đế.
tứ đế
Xem Tứ diệu đế.
; Catvàri-àrya-satyàni (S). The Four Noble Truths, the primary and fundamental doctrines of Sakyamuni. The four are: (1) Khổ đế dukkha-àrya-satya, The Noble Truth of Suffering; (2) Tập đế dukkha-samudaya-àrya-satya, The Noble Truth of the Cause of Suffering; (3) Diệt đế dukkha-nirodha-àrya-satya, The Noble Truth of the Cessation of Suffering; (4) Đạo đế dukkha-nirodha-màrga-àrya- satya, The Noble Truth of the Path leading to the Cessation of Suffering. Also tứ chân đế, tứ diệu đế, tứ thánh đế.
; Catvari-arya-satyani—Bốn giáo thuyết căn bản của Đức Phật Thích Ca, gồm có khổ, tập, diệt, đạo—The four dogmas or noble truths—The primary fundamental doctrine of Sakyamuni, including suffering, the cause of suffering, the possibility of its cure or extinction, and the way to extinction. ** For more information, please see Tứ Diệu Đế and Tứ Thánh Đế, and Bát Chánh Đạo in Vietnamese-English Section.
tứ đế kinh
Kinh Tứ Đế được Ngài An Thế Cao soạn, một quyển—The sutra of the four dogmas, composed by An-Shih-Kao, one book.
Tứ đế pháp 四諦法
[ja] シタイホウ shitaihō ||| The law of the four truths. See Four Noble Truths . 〔法華經、T 262.9.3c〕 => Pháp Tứ diệu đế. Xem Tứ đế 四諦.
Tứ đế thập lục hạnh tướng
xem Mười sáu hạnh.
Tứ đế 四諦
[ja] シタイ shitai ||| The "four noble truths" (ārya-satya) which form the main content of the Buddha's first sermon given at Bārāṇasī: the truth of suffering (duḥkha) 苦諦, the truth of the arising of suffering (samudaya) 集諦, the truth of the cessation of suffering (nirodha) 滅諦, and the truth of the path to the cessation of suffering (mārga) 道諦. Also rendered as 四聖諦. => (s: ārya-satya) Bốn sự thật cao quý, nội dung chính trong bài thuyết pháp của Đức Phật lần đầu tiên tại thành Ba-la-nại. Đó là: Khổ đế (苦諦s: duḥkha), Tập đế (集諦 s: samudaya), Diệt đế (滅諦 s: nirodha), và Đạo đế (道諦 s: mārga). Còn gọi là Tứ thánh đế 四聖諦.
tứ đề xá ni
Desaniya (S)Có 4 giới. Một đoạn trong 8 đoạn của 250 giới tỳ kheo.
tứ đệ nhứt kệ
Đệ nhứt nghĩa kệ bốn câu trong Trang Nghiêm Luận—A verse from the Chuang-Yen-Luan: Sức khỏe là tài sản đệ nhứt, Health is the best wealth, Tri túc là giàu có đệ nhứt, Contentment the best riches, Tình bằng hữu là liên hệ đệ nhứt, Friendship the best relationship, Niết Bàn là hỷ lạc đệ nhứt. Nirvana the best joy.
tứ định
Tứ Thiền Thiên và Tứ Thiền tương ứng—The four dhyana havens of form, and the four degrees of dhyana corresponding to them—See Tứ Thiền Thiên.
tứ đọa
Parajikas (skt)—Tứ Ba La Di—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Tứ Khí—Tứ Trọng—Những tội lỗi mà chư Tăng Ni có thể phạm phải được xếp theo mức độ nặng nhẹ. Các lỗi nặng nhất được xếp dưới tiêu đề Ba La Di (Parajika), khiến phải bị trục xuất ra khỏi Tăng Ni chúng. Chữ Parajika được lấy từ gốc chữ Bắc Phạn Para và Jika có nghĩa là ĐỌA. Tứ Đọa có nghĩa là bốn tội Ba La Di thoái đọa pháp phải bị khai trừ khỏi Tăng Chúng. Theo quan điểm xuất gia của Phật giáo thì những vi phạm nầy được xem là có tính chất nghiêm trọng. Bất cứ vị Tăng nào, bất kể thứ bậc và thâm niên trong Giáo Đoàn, hễ phạm phải một trong Tứ Ba La Di nầy sẽ bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn. Một khi bị trục xuất sẽ không bao giờ được phép trở lại Giáo Đoàn (bất cứ hệ phái nào trong Phật Giáo). Những vị nầy sẽ vĩnh viễn bị đọa lạc. Vì thế mà Đức Phật khuyến cáo chư Tăng Ni phải cẩn trọng đừng để vướng phải một trong Tứ Ba La Di nầy—The four grave prohibitions or sins—The offences that may be committed by monks and nuns have been classified according to their gravity. The worst offences grouped under the heading “Parajika,” which entailed the expulsion of the guilty from the community of monks and nuns. The word Parajika is derived from the Sanskrit root Para and Jika which means that makes DEFEAT. Four parajikas mean four causes of falling from grace and final excommunication or expulsion of a monk or nun. According to the monastic point of view, these offences are regarded as very serious in nature. Any monks, regardless of their ranks and years in the Order, violate any one of these offences, are subject to expulsion from the Order. Once they are expelled, they are never allowed to join the Order again. They are defeated forever. Therefore, the Buddha cautioned all monks and nuns not to indulge in any one of them: (A) Theo Đại Thừa và Tiểu Thừa—According to the Mahayana and Hinayana: 1) Sát: Giết hại chúng sanh—Vadha-himsa (skt)—Killing—See Sát Sanh. 2) Đạo: Trộm Cắp—Adattadana (skt)—Stealing—See Trộm Cắp. 3) Dâm Dục: Phạm tội thông dâm—Abrahmacarya (skt)—Adultery—Sexual immorality or bestiality—See Dâm. 4) Vọng: Vọng ngữ hay nói dối—Uttaramanusyadharma-pralapa (skt)—False speaking—Falsity—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc. (B) Theo Mật Giáo—According to the Esoteric sect: 1) Xả Chánh Pháp: Phế bỏ Chánh Pháp—Discarding the truth. 2) Xả Bồ Đề Tâm: Phế bỏ Bồ Đề tâm—Discarding the Bodhi-mind. 3) Khan Lận Thắng Pháp: Ích kỷ trong việc truyền bá Chánh Pháp—Being mean or selfish in regard to the supreme law. 4) Não Hại Chúng Sanh: Làm tổn hại đến chúng sanh—Injuring the living.
tứ đọa lạc pháp
See Tứ Đọa.
Tứ Độ
(四土): còn gọi là Tứ Phật Độ (四佛土), Tứ Chủng Phật Độ (四種佛土), Tứ Chủng Tịnh Độ (四種淨土), Tứ Chủng Quốc Độ (四種國土); nghĩa là 4 loại quốc độ Phật. Có nhiều thuyết khác nhau về quan niệm này. Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), Tổ sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, lập ra 4 loại Phật Độ là Phàm Thánh Đồng Cư Độ (凡聖同居土), Phương Tiện Hữu Dư Độ (方便有餘土), Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ (實報莊嚴土), Thường Tịch Quang Độ (常寂光土). (1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ, còn gọi là Nhiễm Tịnh Đồng Cư Độ (染淨同居土), Nhiễm Tịnh Quốc (染淨國); chỉ quốc độ cùng tồn tại chung của hạng phàm phu thuộc hai cõi Trời người và chư vị Thánh như Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺). Trong đó, cõi này được chia thành 2 loại là tịnh và uế, như thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆) là Đồng Cư Uế Độ (同居穢土), Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) là Đồng Cư Tịnh Độ (同居淨土). (2) Phương Tiện Hữu Dư Độ, còn gọi là Phương Tiện Độ (方便土), Hữu Dư Độ (有餘土); chỉ cho quốc độ của những bậc Thánh tu đạo phương tiện, đã đoạn tận Kiến, Tư, Hoặc như Bích Chi Phật (辟支佛), A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), v.v.; nên được gọi là phương tiện (s, p: upāya, 方便), nhưng chưa đoạn tận sự mê mờ về vô minh trần sa, mới có tên là hữu dư (有餘, vẫn còn dư, còn sót). Cõi này còn được gọi là Biến Dịch Độ (變易土). (3) Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, còn gọi là Thật Báo Độ (實報土), Quả Báo Độ (果報土), là quốc độ của chư vị Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) đã đoạn trừ một phần của Vô Minh (s: avidyā, p: avijjā, 無明), không có hàng phàm phu của Hai Thừa. Đây là quốc độ tự tại vô ngại của đạo chân thật, nên có tên gọi như vậy. (4) Thường Tịch Quang Độ, còn gọi là Lý Tánh Độ (理性土); là trú xứ của chư Phật đã đoạn tận căn bản Vô Minh, tức là quốc độ của chư Phật chứng quả Diệu Giác Cứu Cánh. Thường nghĩa là thường có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), vốn có thể thường trú; Tịch ở đây là giải thoát, tức hết thảy các tướng vĩnh viễn vắng lặng; Quang là Bát Nhã (s: prajñā, p: paññā, 般若), tức là trí tuệ chiếu soi các tướng; nên cõi này cũng là quốc độ của ba đức Thường Trú (Pháp Thân), Tịch Diệt (Giải Thoát) và Quang Minh (Bát Nhã). Ba đức này có tên là Bí Mật Tạng (秘密藏), là nơi nương tựa của chư Phật Như Lai; vì vậy mới được gọi là Thường Tịch Quang Độ. Bên cạnh đó, Pháp Thường (法常, 567-645), Trí Nghiễm (智儼, 602-668), Đạo Tuyên (道宣, 596-667) và Huyền Uẩn (玄惲, ?-?, tức Đạo Thế [道世], người soạn bộ Pháp Uyển Châu Lâm [法苑珠林]) có lập ra Tứ Độ khác do chư Phật cư trú, gồm: (1) Hóa Tịnh Độ (化淨土), do chư Phật biến hiện ra 7 loại báu, 5 Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc); nhờ thần lực của Phật mà mặt đất mềm mại, không có gò trũng, cát đá, v.v., giống như cõi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc, tùy theo tâm chúng sanh muốn thấy mà hóa hiện ra; và đây cũng là quốc độ của Hóa Thân (s: nirmāṇa-kāya, 化身). (2) Sự Tịnh Độ (事淨土), lấy 7 loại báu, 5 Trần làm hình tướng của quốc độ. Trong cõi này, có đầy đủ các loại trân bảo trang nghiêm vi diệu; giả như thế giới bị bốc lửa cháy rực, đức Như Lai trú trong đó vẫn đi kinh hành, vẫn an nhiên đi đứng nằm ngồi, cõi ấy tự nhiên từ trong đất hiện ra nước có Tám Công Đức, làm cho mát mẻ. Đây là quốc độ của Tha Thọ Dụng Thân (他受用身, tức Ứng Thân [s: nirmāṇa-kāya, 應身]). (3) Thật Báo Tịnh Độ (實報淨土), quốc độ lấy Hai Không là cửa, Ba Tuệ làm con đường ra vào; Xa Ma Tha (s: samatha, 奢摩他, Thiền Định), Tỳ Bát Xá Na (p: vipassanā, 毘鉢舍那, Quán) làm cỗ xe; Căn Bản Vô Phân Biệt Trí (根本無分別智) làm dụng. Đây là quốc độ của Tự Thọ Dụng Thân (自受用身, tức Báo Thân [s: sambhoga-kāya, 報身]). (4) Pháp Tánh Tịnh Độ (法性淨土), quốc độ lấy chân như làm thể, là cõi của Pháp Thân. Ngoài ra, Duy Thức Tông lại lập ra 4 loại quốc độ khác là: (1) Pháp Tánh Độ (法性土), còn gọi là Tự Tánh Thân Y Pháp Tánh Độ (自性法身依法性土). Tự Tánh Thân tức là Pháp Thân, lấy tự tánh chân như làm thân, thể không sai biệt, không bị sắc tướng thâu nhiếp, giống như hư không, biến khắp tất cả nơi. (2) Tự Thọ Dụng Độ (自受用土), còn gọi là Tự Thọ Dụng Thân Y Tự Thọ Dụng Độ (自受用身依自受用土), tức là Thật Báo Độ (實報土), là do đức Phật lấy Tương Ứng Tịnh Thức (相應淨識) tu mà thành tựu nên; từ khi mới thành Phật cho đến tận cùng tương lai, liên tục biến thành quốc độ Phật thuần tịnh, chu vi không giới hạn, các loại báu trang nghiêm. Tự Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú. (3) Tha Thọ Dụng Độ (他受用土), còn gọi là Tha Thọ Dụng Thân Y Tha Thọ Dụng Độ (他受用身依他受用土), cũng là Thật Báo Độ. Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của các Bồ Tát trong Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地) mà biến thành cõi Tịnh Độ. Tha Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú. (4) Biến Hóa Độ (變化土), còn gọi là Biến Hóa Thân Y Biến Hóa Độ (變化身依變化土). Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của chúng sanh có duyên mà biến hóa thành. Trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 có đoạn: “Tứ Độ Liên Hoa Tứ Độ hương, độ trung các các kiến Từ Vương, Quan Âm thường hoán si nhân tỉnh, Đại Thế tần thôi liên ngạc phương, tự tại nhàn vân Tam Muội đắc, thanh u Cam Lộ nhất tâm lương (四土蓮花四土香、土中各各見慈王、觀音常喚癡人醒、大勢頻催蓮萼芳、自在閒雲三昧得、清幽甘露一心涼, Bốn Cõi Hoa Sen Bốn Cõi thơm, cõi ấy mỗi mỗi thấy Từ Vương, Quan Âm thường gọi người mê tỉnh, Thế Chí luôn bày sen ngát hương, tự tại mây nhàn Tam Muội chứng, an lành Cam Lộ tâm mát trong).” Hay trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (靈峰蕅益大師選定淨土十要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 9 có câu: “Nhất chân pháp giới tánh, bất biến năng tùy duyên, Tam Thân cập Tứ Độ, tất do tâm biến khởi (一眞法界性、不變能隨緣、三身及四土、悉由心變起, tánh pháp giới nhất chân, chẳng biến thường tùy duyên, Ba Thân và Bốn Cõi, tất do tâm biến hóa).”
tứ độ
The four Buddha-ksetra, or realms, of Thiên Thai: (1) Phàm thánh đồng cư độ, realms where all classes dwell - men, devas, Buddhas, disciples, non-disciples; it has two divisions, the impure, e.g. this world, and the pure, e.g. the Western Pure land. (2) Phương tiện hữu dư độ, temporary realms, where the occupants have got rid of the evils of kiến tư unenlightened views and thoughts, but still have to be reborn. (3) Thật báo vô chướng ngại độ, realm of permanent reward and freedom for those who have attained to bodhisattva rank. (4) Thường tịch quang độ, realm of eternal rest and light (i.e. wisdom) and of eternal spirit (dharmakàya), the abode of Buddhas; but in reality all the others are included in this, and are only separated for convenience sake.
; Theo Tông Thiên Thai, có Tứ Phật Độ—According to the T'ien-T'ai Sect, there are four Buddha-ksetra, or realms: 1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ: Cõi Thánh phàm đồng cư—Cõi nước trong đó hạng Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật cùng ở chung với nhau—The land of common residence of beings and saints—Realms where all classes dwell (men, devas, Buddhas, disciples, non-disciples)—Lands where saints (Buddhas and Bodhisattvas) and ordinary people (six lower and six upper worlds) dwell together. 2) Phương Tiện Hữu Dư Độ: Chốn vãng sanh của chư A-la-hán và những vị Thánh còn kém bậc Bồ Tát, những bậc đã đoạn trừ kiến tư phiền não—Temporary realms, where the occupants have got rid of the evils of unenlightened views and thoughts, but still have to be reborn—The Land of Expediency—Land of Expedient Liberation, inhabited by Arhats and lesser Bodhisattvas. 3) Thực Báo Vô Chướng Ngại Độ: Nơi trụ của chư Bồ Tát sắp thành Phật—Realms of permanent reward and freedom, for those who have attained bodhisattva rank—The Land of Real Reward, inhabited by the highest Bodhisattvas. 4) Thường Tịch Quang Độ: Nơi thường trú của chư Phật—Realm of eternal rest and light (wisdom) and of eternal spirit (dharmakaya), the abode of Buddhas; but in reality all the others are included in this, and are only separated for convenience' sake—The Land of Eternally Quiescent Light, in which Buddhas dwell.
tứ độ gia hành
Bốn mức độ tiến tu trong Mật Giáo (trước kia muốn được truyền thụ tứ độ gia hành phải mất từ 800 đến 1000 ngày; bây giờ giảm xuống còn 200 ngày)—Advancement in four degrees of the esoterics (formerly extending over 800 or 1,000 days, later contracted to 200): 1) Thập Bát Đạo: The eighteen ways. 2) Thai Tạng: Garbhadhatu. 3) Kim Cang: Vajra. 4) Hộ Ma: Homa.
tứ độc tiễn
The four poisonous arrows: desire, anger, ignorance, pride.
tứ độc xà
Loài rắn có bốn thứ độc, là loài rắn độc hại nhất. Bốn thứ độc của chúng là: 1. Chỉ nhìn cũng đủ hại người (kiến độc) 2. Chỉ chạm vào cũng đủ hại người (xúc độc) 3. Cắn người có thể hại người (khiết độc) 4. Hơi gió phát ra cũng có thể hại người (hư độc).
; Four poisonous snakes (in the basket), e.g. the four elements earth, water, fire and air, of which a man is formed.
; Bốn con rắn độc trong giỏ ám chỉ tứ đại trong thân thể (tạo nên thân thể con người)—Four poisonous snakes in a basket which imply the four elements in a body (of which a man is formed): 1) Đất: Earth. 2) Nước: Water. 3) Lửa: Fire. 4) Gió: Air. ** For more information, please see Tứ Xà.
tứ động tâm
The four Buddhist Holy, Sacred Places, or Pilgrimage Sites in India—Theo truyền thống Phật giáo, hằng năm Phật tử thường hành hương về những trung tâm Phật giáo ở Ấn Độ và Népal có liên hệ với cuộc đời của Đức Phật. Theo Phật Giáo Nhìn Toàn Diện của Tỳ Khưu Bồ Đề, trong khi ngự tại rừng Long Thọ ở Câu Thi Na một vài tiếng đồng hồ trước khi Ngài nhập diệt, Đức Phật lúc ấy đã tám mươi tuổi, nói với Đại Đức A Nan, vị thị giả trung tín và quí mến nhất của Ngài về Tứ Động Tâm. Phật nói: “Những Phật tử thuần thành nên nhiệt tâm đến viếng với những cảm xúc gợi hứng.”—According to the Buddhist tradition, every year Buddhists often go on a pilgrim to the Buddhist centers in India and Nepal associated with the life of the Buddha. According to The Spectrum of Buddhism, written by Bhikkhu Bodhi, while staying in the Sala Grove at Kusinara a few hours before he attained parinirvana, the Supreme Buddha, at the age of eighty, addressing the Venerable Ananda, his most dutiful and beloved attendant about the four holy places of Buddhism. The Buddha said: “There are four places, Ananda, which devotees should visit with feelings of inspiration.” 1) Nơi Đức Phật Đản Sanh—Lumbini, the birth-place of the Buddha—Vườn Lâm Tỳ Ni mà bây giờ là Rummindei ở Né-Pal, nơi Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Phật) đản sanh. Vườn nằm về hướng bắc cách Ba La nại một trăm dặm Anh, và từ nơi đây người ta có thể nhìn thấy trọn vẹn dãy núi Hy Mã Lạp Sơn phủ tuyết trắng phao: Lumbini Park, now is known as Rummindei in Nepal which is the Birth Place of Prince Siddhattha (the Buddha). Situated one hundred miles north of Benares, the full range of the snow-crowned Himalayas can be seen—See Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Nơi Đức Phật Thành Đạo—Buddha-Gaya in India, where the Buddha attained Enlightenment—Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ nơi Phật giác ngộ, một thánh tích thiêng liêng nhất của người Phật tử trên khắp thế giới vì chính nơi nầy Phật đã giác ngộ đạo quả Tối Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác vào ngày trăng tròn tháng chạp, lúc mặt trời vừa ló dạng trên vùng trời phương Đông, lúc ấy Ngài vừa ba mươi lăm tuổi: Buddhagaya or Bodhi Gaya in India, the most sacred place to all the Buddhists in the world, where the Buddha became enlightened (the site of the Buddha's enlightenment) on the full moon day of December as the sun rose in a glowing eastern sky, at the the age of thirty-five—See Bồ Đề Đạo Tràng in Vietnamese-English Section. 3) Nơi Đức Phật Thuyết Pháp Đầu Tiên—Sarnath, where the Buddha preached his first sermon—Vườn Lộc Uyển (Isipatana) mà bây giờ gọi là Sarnath, nơi Phật chuyển Pháp Luân (thuyết thời pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế) vào ngày trăng tròn tháng bảy: Isipatana or presently Sarnath in India, where the Buddha set in motion the Wheel of the Dharma (preached his first sermon about the Four Noble Truths) on the full moon day of Asalha (July)—See Lộc Uyển. 4) Nơi Đức Phật Nhập Diệt—Kusinagara, where the Buddha passed away—Câu Thi Na nơi Phật nhập diệt (lúc Ngài 80 tuổi) trong rừng Ta La Song Thọ, nằm trong vùng Uttar Pradesh khoảng 120 dậm về phía Đông Bắc của Baranasi: Kusinara, presently Kusinagara in Northern India where the Buddha entered Nirvana (at the age of eighty) under the Tala trees. It is in Uttar Pradesh about 120 miles north-east of Baranasi—See Kusinagara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Câu Thi Na in Vietnamese-English Section.
tứ đức
The four nirvàna virtues, or values according to the Mahàyàna Nirvàna sùtra: (1) Thường permanence or eternity; (2) Lạc joy; (3) Ngã personality; (4) Tịnh purity. The four important terms, while denied in the lower realms, are affirmed by the sùtra in the transcendental or nirvàna-realm.
tứ đức (tứ pháp)
(A) Tứ Đức Niết Bàn theo Phật Giáo, hay bốn phẩm hạnh cao thượng của Như Lai được thuyết giảng trong Kinh Niết Bàn (đây là bốn phẩm hạnh rốt ráo của Đức Như Lai, có bốn đức nầy tức là đắc Đại Bát Niết Bàn của Đại Thừa)—The four nirvana virtues or characteristics in Buddhism, or four noble qualities of the Buddha's life expounded in the Nirvana Sutra: 2) Thường Đức: Thể của Niết Bàn thường hằng bất biến, không sinh diệt—Permanence (Eternity). 3) Lạc Đức: Lạc Ba La Mật—Thể của Niết Bàn tịch diệt vĩnh an—Joy—The paramita of joy. 4) Ngã Đức: Personality or Soul. 5) Tịnh Đức: Thể của Niết Bàn giải thoát khỏi mọi cấu nhiễm—Purity. (B) Bốn đức mà Đức Khổng Phu Tử đã chỉ giáo trong Khổng Học cho một người đàn bà—The four virtues a good woman must possess in Confucian teaching: 1) Công: Proper employment. 2) Dung: Proper demeanor. 3) Ngôn: Proper speech. 4) Hạnh: Proper behavior.
tứ đức ba la mật
The joyful realm or acme of the tứ đức, the nirvàna-realm, the abode of dharmakàya ođ the Tathàgata.
; The four transcendent paramitas—See Tứ Đức, and Tứ Đức Lạc Bang.
tứ đức lạc bang
Thế giới an lạc có đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, đó là cõi Niết Bàn—The joyful realm—The nirvana realm—The abode or dharmakaya of the Tathagata—See Tứ Đức.
tứ đức truyền thừa tổ tịnh độ
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Tịnh Độ không có sự truyền thừa y bát như chư vị Tổ sư bên Thiền Tông. Sở dĩ có chư Tổ Tịnh Độ là do các vị Tăng, Tục tu pháp môn niệm Phật đời sau họp lại chọn lựa ra những vị siêu xuất mà tôn lên làm Tổ. Sự siêu xuất đó được biểu lộ qua “Tứ Đức Truyền Thừa Tổ Tịnh Độ” hay bốn điểm chánh yếu sau đây—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Pureland Buddhism's Patriarchs do not have a tradition of 'handed-down' of robe and bowl, similar to the Patriarchs of Zen Buddhism. The reason there are Pureland Patriarchs is because in the generations following the death of a Great Master, various ordained and lay Buddhists who cultivate Pureland Buddhism would come together and selected Great Masters who were considered the most extraordinary and distinguished in their contributions to the Pureland Buddhism. There were four characteristics they used to determine whether a Great Master was most 'distinguished.' 1) Về phần kiến thức—With regard to knowledge and understanding: a) Phải là bậc thông hiểu thâm sâu cả tông lẫn giáo: The individual must be a person with a deep and profound grasp of the purpose and teachings of Buddhism. b) Phải giải ngộ Phật pháp đến mức thượng thừa: The person must be at the highest level in having insights and understanding of the Buddha Dharma. 2) Về phần đạo hạnh—With regard to religious conduct: a) Phải giữ giới phẩm tinh nghiêm, hoàn toàn thanh tịnh: Must maintain precepts purely in a most examplary manner. b) Phải tu hành tinh tấn: Must cultivate diligently and with great vigor. c) Lâm chung hiện rõ thoại tướng vãng sanh: Upon death, demonstrate clear signs and characteristics of gaining rebirth to the Amitabha Buddha's Pureland. 3) Về phần hoằng hóa—With regard to propagating Pureland Teachings: a) Phải có công lao lớn trong viêc tuyên dương pháp môn Tịnh Độ: Must have made significant contributions in propagating Pureland Buddhism. b) Phải hộ trì chánh pháp không tiếc thân mệnh: Must protect the Proper Dharma Teachings without any reservation. c) Phải khuyến dắt dẫn đạo đến ngàn muôn người niệm Phật: Must encourage and guide up to hundreds and thousands of people to practice Buddha recitation. 4) Về phần trước tác phiên dịch—With regard to literary works: a) Phải có trước tác biên soạn tối thiểu từ ba bộ sách khuyến dạy hoặc hoằng tuyên Tịnh Độ trở lên: Must have written a minimum of three books teaching and encouraging others or popularizing Pureland Buddhism. b) Phải có khả năng phiên dịch và chú sớ kinh điển đến mức thượng thừa: Must have the highest ability in translating and explaining the Sutra teachings.
Tứ đức 四徳
[ja] シトク shitoku ||| "four virtues." In the Nirvāna-sūtra, four attributes of nirvāna: permanence, bliss, self and purity. => Theo kinh Niết-bàn, bốn đức niết-bàn là: thường, lạc, ngã, tịnh.
tức
To draw up to, or near; approach; forthwith; to be; if, even if; united together; bất nhị not two; bất li not separate, inseparable.
tức chỉ
xem sa-môn.
tức cấm
Xem ba la di pháp.
Tức Hưu Khế Liễu
(卽休契了, Shikkyū Keiryō, 1269-1351): vị tăng của Phái Hổ Kheo thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, pháp từ của Hổ Nham Tịnh Phục (虎巖淨伏). Ông trú trì ở Kim Sơn (金山, Tỉnh Giang Tô). Khi Ngu Trung Châu Cập (愚中周及) ở Phật Thông Tự (佛通寺) của Nhật Bản làm thư ký hầu hạ trong thất của ông, có soạn bộ ký lục Tức Hưu Khế Liễu Thiền Sư Thập Di Tập (卽休契了禪師拾遺集) và ghi lời bạt cho bộ này vào năm thứ 10 (1350) lúc Khế Liễu 82 tuổi. Đến năm sau ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi.
tức hữu tức không
All things, or phenomena, are identical with the void, or the noumenon.
tức không tức giả tức trung
All things are void, or noumenal, are phenomenal, are medial, the three meditations tam quán of Thiên Thai tông.
tức li
Identity and difference, agreement and disagreement.
Tức Lự
息慮; tk. 12-13|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 14. Sư kế thừa Thiền sư Thông Thiền và sau truyền lại cho một vị Cư sĩ là Ứng Thuận Vương.|Sư quê ở Chu Minh, lúc nhỏ đã tỏ trí thông minh phi thường, đọc tất cả các sách ngoại điển. Bỗng một hôm, Sư bỏ tất cả những sở học, theo Thiền sư Thông Thiền tu học.|Một hôm, Sư đốn cây bắt được một con chim, đem về dâng thầy. Thông Thiền thấy vậy liền quở: »Ngươi đã làm tăng, sao lại phạm tội sát sinh? Làm sao tránh khỏi quả báo ngày sau?« Sư thưa: »Con chính khi ấy chẳng thấy có vật này, và cũng chẳng thấy có thân con, cũng chẳng biết có quả báo sát sinh, cho nên mới làm thế này.« Thông Thiền biết Sư là pháp khí thượng thặng liền gọi vào thất thầm dặn: »Ngươi nếu dùng đến chỗ đất ấy, dù có tạo tội Ngũ nghịch, thất giá cũng được thành Phật.« Có vị tăng nghe trộm lời này liền nói to: »Khổ thay, dù thế ấy tôi cũng chẳng nhận.« Thông Thiền lên tiếng bảo: »Trộm! Trộm! Ðâu nên, phi nhân sẽ gặp cơ hội tốt.« Sư nghe câu này liền lĩnh hội ý chỉ.|Sau, Sư trở về chùa Thông Thánh ở làng Chu Minh, phủ Thiên Ðức trụ trì.|Không biết Sư tịch năm nào, ở đâu.
tức phi
Identity and difference.
tức sự nhi chân
Phenomena are identical with reality, e.g. water and wave.
tức sự tức lí
The identity of phenomena with their underlying principle, e.g. body and spirit are a unity.
tức tai pháp
Sokusaiho (J).
Tức tai 息災
[ja] ソクサイ sokusai ||| The prevention of disasters and calamities--a power often attributed to the Buddhist teachings, especially to certain scriptures. 〔大方廣總持寶光明經 299.10.901a6〕 => Ngăn ngừa thảm hoạ tai ương--thường được gán cho năng lực của Phật pháp, đặc biệt là một bộ kinh nào đó (Đại phương quảng tổng trì bảo quang minh kinh大方廣總持寶光明經).
tức thân
The doctrine of Chân Ngôn tông that the body is also Buddha; in other words Buddha is not only tức tâm mind, but body; hence tức thân thành Phật. Tức thân bồ đề, the body is to become (consciously) Buddha by Yoga practice.
Tức Thân Thành Phật
(卽身成佛, Sokushinjōbutsu): theo lý tưởng tôn giáo của Mật Giáo, trong khi đang còn sống, người ta lấy ngay thân đang còn sống này mà đạt đến cảnh địa thành Phật, hoặc có khả năng thành Phật. Trong lập trường căn bản của đức Phật, lý tưởng tôn giáo của Phật Giáo là xuất gia, nhờ kiên trì phạm hạnh suốt đời mà thoát khỏi thế giới luân hồi và quy nguyên về cõi Niết Bàn. Tuy nhiên, chủ nghĩa xuất gia cấm dục nghiêm minh này không phải là chủ nghĩa cho hầu hết mọi người ai cũng có thể kham nhẫn được, nên từ đó với ý nghĩa nào đó sự vận động của Phật Giáo Đại Thừa nhằm khẳng định cuộc sống hiện thế của con người bắt đầu hưng khởi. Các tín đồ Đại Thừa đã giải thích rằng cuộc đời luân hồi mãi mãi trong quá khứ của chính bản thân đức Phật là điều tất yếu để thành Phật, lấy cảnh địa thành Phật giống như đức Phật làm lý tưởng tôn giáo. Nếu như hướng đến lý tưởng xa xăm ấy mà tu chỉnh cuộc sống hiện tại, thì có thể đạt đến cảnh địa thành Phật kia; và từ đó hình thành nên lý niệm Đại Thừa gọi là mài luyện trí tuệ, thực hành hạnh lợi tha của từ bi và tích lũy hạnh Bồ Tát trải qua trong ba kiếp. Tuy nhiên, đến thời kỳ Phật Giáo thối triều, những người mà không thể kham nhẫn được quan niệm thời gian lâu dài ba kiếp ấy, đã bị lôi cuốn theo bởi quan niệm thời gian gọi là trong khoảng còn sống hiện tại, rồi quên bẵng đi điểm chính yếu mà mình đang hướng đến Niết Bàn và tạo dựng nên phương hướng đạt đến thành Phật trong khoảng thời gian ấy. Rồi trong Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經), hành vi tượng trưng gọi là tụng chơn ngôn phát bồ đề tâm thay cho quá trình tịnh hóa bồ đề tâm trong ba kiếp được đưa ra, và từ đó Mật Giáo được thành lập. Sau đó, Phật Giáo Tantra triển khai và quy kết về hành pháp gọi là tuần lễ các Thánh địa làm mục tiêu cho cả một đời. Ở đây các tín đồ Mật Giáo, với hình thức vượt qua ý thức của chính bản thân mình từ việc trở về lại nguyên tắc ban sơ của đức Phật, đã thể hiện sự bất thành lập việc cấu tưởng Tức Thân Thành Phật này. Đối với Nhật Bản, người ta dựa trên cơ sở Tức Thân Thành Phật này mà thực hành pháp môn đoạn thực, không ăn cho đến chết, rồi để cho thân thể trở thành như xác ướp. Như vậy được gọi là Phật sống mà được sùng bái từ thời kỳ Bình An trở đi. Các hành giả của Chơn Ngôn Tông đã tiến hành không ăn với tất cả ý chí của mình trong khoảng thời gian còn sanh tiền và sùng bái việc biến thành xác ướp như là Tức Thân Phật. Việc sùng bái này đã được truyền từ Trung Quốc sang Đài Loan.
Tức thị 即是
[ja] ソクゼ sokuze ||| (1) Namely. A term indicating the complete identity of two things. (2) Is (copula). (3) Even, what if. => Có các nghĩa sau: 1. Là, ấy là. Thuật ngữ biểu thị tính hoàn toàn đồng nhất của 2 vật. 2. Là (copula). 3. Lại còn , Nếu... thì sao?
; [ja] ソクゼ sokuze ||| (1) Namely. A term indicating the complete identity of two things. (2) Is (copula). (3) Even, what if. => Có các nghĩa sau: 1. Là, ấy là. Thuật ngữ biểu thị tính hoàn toàn đồng nhất của 2 vật. 2. Là (copula). 3. Lại còn , Nếu... thì sao?
tức thời
Immediately, forthwith.
tức trung
The via media is that which lies between or embraces both the không and the giả, i.e. the void or noumenal, and the phenomenal.
Tức trừ trung yêu đà-la-ni kinh 息除中夭陀羅尼經
[ja] ソクジョチュウヨウダラニキョウ Sokujo chūyō darani kyō ||| The Xichu zhongyao tuoluoni jing (T 1347.21.860); an alternative translation of the Zhufo jihui tuo luo ni jing 諸佛集會陀羅尼經. => (c: Xichu zhongyao tuoluoni jing). Tên gọi khác của bản dịch Chư Phật tập hội đà-la-ni kinh (諸佛集會陀羅尼經c: Zhufo jihui tuo luo ni jing).
tức tâm
xem sa-môn.
; Of the mind, mental, i.e. all things are mental, and are not apart from mind.
tức tâm niệm phật
To remember, or call upon, Amtàbha Buddha within the heart, which is his Pure Land.
Tức Tâm Thành Phật
(卽心成佛): xem Tức Tâm Thị Phật (卽心是佛) bên dưới.
Tức Tâm Thị Phật
(卽心是佛): còn gọi là Tức Tâm Tức Phật (卽心卽佛), Tức Tâm Thành Phật (卽心成佛); ngay tâm này là Phật, nghĩa là tâm cảnh ngay trong hiện tại đồng nhất với tâm cảnh của Phật. Đây là một trong những giáo nghĩa chủ đạo của Thiền Tông Trung Quốc. Thiền Tông cho rằng tâm là chủ thể thành Phật, cho nên có đầy đủ tâm thanh tịnh thì đó chính là Phật. Như trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō No. 2076) quyển 7 có đoạn rằng: “Minh Châu Đại Mai Sơn Pháp Thường Thiền Sư giả, Tương Dương nhân dã; tánh Trịnh dã; ấu tuế tùng sư ư Kinh Châu Ngọc Tuyền Tự, sơ tham Đại Tịch, vấn: 'Như hà thị Phật ?' Đại Tịch vân: 'Tức tâm thị Phật.' Sư tức đại ngộ (明州大梅山法常禪師者、襄陽人也、姓鄭氏、幼歲從師於荊州玉泉寺、初參大寂、問如何是佛、大寂云、卽心是佛、師卽大悟, Pháp Thường Thiền Sư ở Đại Mai Sơn, Minh Châu, người vùng Tương Dương, họ Trịnh; lúc tuổi nhỏ đã theo thầy đến Ngọc Tuyền Tự ở Kinh Châu; ban đầu tham học với Đại Tịch, hỏi rằng: 'Thế nào là Phật ?' Đại Tịch đáp: 'Ngay tâm này là Phật.' Sư tức thì đại ngộ).” Hay như trong Đạt Ma Đại Sư Huyết Mạch Luận (達磨大師血脈論, CBETA No. 1218) cũng có giải thích rằng: “Nhất thiết thời trung nhất thiết xứ sở, giai thị nhữ bổn tâm, giai thị nhữ bổn Phật; tức tâm thị Phật diệc phục như thị; trừ thử tâm ngoại, chung vô biệt Phật khả đắc; ly thử tâm ngoại, mích Bồ Đề Niết Bàn, vô hữu thị xứ (一切時中一切處所、皆是汝本心、皆是汝本佛、卽心是佛亦復如是、除此心外、終無別佛可得、離此心外、覓菩提涅槃、無有是處, hết thảy các lúc, hết thảy nơi chốn, đều là bản tâm của ngươi, đều là Phật gốc của ngươi; ngay nơi tâm này là Phật cũng giống như vậy; trừ tâm này ra, cuối cùng không đạt được Phật nào cả; lìa tâm này ra, tìm cầu Bồ Đề Niết Bàn, không có việc ấy).”
tức tâm thị phật
The identity of mind and Buddha, mind is Buddha, the highest doctrine of Mahàyàna; the negative form is phi tâm phi Phật no mimd no Buddha, or apart from mind there is no Buddha.
Tức tâm tức Phật
(卽心卽佛): còn gọi là thị tâm tức Phật (是心卽佛), tâm tức thị Phật (心卽是佛); nghĩa là bất luận tâm phàm phu hay tâm Phật, thể của tâm ấy cùng với Phật không khác, tâm ấy chính là Phật. Nó vốn phát xuất từ tưởng “tâm Phật cập chúng sanh, thị tam vô sai biệt (心佛及眾生、是三無差別, tâm, Phật và chúng sanh, ba đối tượng này không khác nhau)” trong Phẩm Dạ Ma Thiên Cung Bồ Tát Thuyết Kệ (夜摩天宮菩薩說偈品) thứ 16 của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278). Như trong (善慧大士語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1335) quyển 3, bài tâm vương minh (心王銘), có đoạn rằng: “Tự quán tự tâm, tri Phật tại nội, bất hướng ngoại tầm, tức tâm thị Phật, tức Phật tức tâm (自觀自心、知佛在內、不向外尋、卽心是佛、卽佛卽心, tự quán tự tâm, biết Phật bên trong, không tìm bên ngoài, chính tâm là Phật, chính Phật là tâm).” Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 9 có đoạn: “Tức tâm tức Phật mạc vọng cầu, phi tâm phi Phật hưu biệt thảo, hồng lô diệm thượng tuyết hoa phi, nhất điểm thanh lương trừ nhiệt não (卽心卽佛莫妄求、非心非佛休別討、紅爐燄上雪花飛、一點清涼除熱惱, chính tâm là Phật chứ lầm cầu, chẳng tâm chẳng Phật tìm riêng đâu, lò hồng rực lửa hoa tuyết bay, một điểm mát tươi trừ nóng bức).”
Tức tâm 息心
[ja] ソクシン sokushin ||| (1) To do seated meditation. (2) A Chinese translation of the Pali samaṇa and the Sanskrit śramaṇa. See shamen 沙門. => Toạ thiền. 2. Hán dịch chữ samaṇa trong tiếng Pali và chữ śramaṇa từ tiếng Sanskrit. Xem Sa-môn (s: shamen 沙門).
tức tướng tức tâm
Both form and mind are identical, e.g. the Pure Land as a place is identical with the Pure Land in the mind or heart - a doctrine of the Pure Land or Jodo sect, Tịnh Độ.
tức ác
xem sa-môn.
tức đắc
Immediately to obtain, e.g. rebirth in the Pure Land, or the new birth here and now.
Tức 即
[ja] ソク soku, zoku ||| (1) To become one. As it is; just, exactly. Not two, not separate. Two things being different aspects of one thing, thus being inseparable. (2) Immediately, directly, now, then, accordingly. In terms of time shijianji 時間即 refers to a lack of any interval, while yishiji 異時即 refers to a lack of distinction between two things despite a time difference (anantaram). (3) In Tiantai teaching there are three types of 即. The first is the non-separateness in the unity of two things; two things being a unity (erwuxianghe 二物相合). The second is called beimianxiangfan 背面相翻 or the "relationship between front and back by turning over." This refers to something like a coin, which has the separate aspects of "heads" and "tails," depending upon each perspective, but the coin is originally one thing. The third expression of singularity is called dangtiquanshi 當體全是, the "essence is identical," which is exemplified by the fact that astringent persimmons and sweet persimmons are in essence, the same fruit; A, as it is, is B. This ideograph can also mean "absolutely the same," a usage which originally began in Tiantai writings. (4) Supposing, even if. => Có các nghĩa sau: 1. Trở thành một. Như là; chính là, đúng là. Không hai, không khác. Hai phần tử mang hai khía cạnh khác nhau của một thực thể, nên không thể tách rời. 2. Tức khắc, trực tiếp, bây giờ, rồi thì, theo đó. Trong thuật ngữ thời gian Thời gian tức 時間即c: shijianji, nghiã là không có bất kỳ một khoảng dừng nghỉ nào; trong khi Dị thời tức 異時即c: yishiji có nghĩa là không có sự phân biệt giữa hai phương diện cho dù trong một thời gian khác nhau (s: anantaram). 3. Theo giáo lý tông Thiên Thai, có ba loại Tức, thứ nhất là Nhị vật tương hợp; thứ nhì là Bối diện tương phiên: điều nầy giống như một đồng tiền có hai mặt 'trước' và 'sau' tuỳ theo mỗi mặt, nhưng đồng tiền vốn chỉ là một; thứ ba là Đương thể toàn thị, "thể tính là đồng nhất", dùng ví dụ quả hồng đắng và quả hồng ngọt trong bán chất từng loại, nhưng đều là trái cây; A, đúng như nó, chính là B. Câu nầy cũng có nghĩa là "hoàn toàn đồng nhất", một cách dùng vốn xuất phát từ kinh văn của tông Thiên Thai. 4. Giả sử, dù là.
Tức 息
[ja] ソク soku ||| (1) To become quiet, calm down, grow still, subside. Quiet, peaceful, tranquil (upaśamita, sama, uparama, śānti). (2) Breath, respiration. (3) A translation of the Pali samaṇa and the Sanskrit śramaṇa. See shamen 沙門. => 1. Trở nên yên lặng, trầm tĩnh, trở nên lặng lẽ, lắng đọng. Yên tĩnh, an bình, thanh thản (s: upaśamita, sama, uparama, śānti). 2. Hơi thở, sự hô hấp. 3. Hán dịch chữ samaṇa trong tiếng Pali và chữ śramaṇa từ tiếng Sanskrit . Xem Sa-môn (s: shamen 沙門).
Từ
慈; S: maitrī; P: mettā;|Một trong những đức hạnh cao quý tronng Phật giáo, thường được gọi chung với lòng Bi (s, p: karuṇā) là Từ-bi. Từ được xem là lòng thương yêu chúng sinh nhưng không có tính chất luyến ái. Từ là một trong những đối tượng thiền định của Thượng toạ bộ, được dùng để phát huy lòng thương yêu và đối trị sân hận. Trong phép quán này, mới đầu thiền giả hướng lòng từ đến các người thân cận, về sau mở rộng, hướng đến tất cả chúng sinh, kể cả kẻ đối nghịch. Quan niệm về lòng từ được trình bày rõ trong kinh Từ (bi) (p: mettāsutta). Từ là một trong Bốn phạm trú (s, p: brahma-vihāra).
từ
Akṣara (S), Syllable Akkhara (P)Chữ.
; Maitrì (S). Mother, loving-kindness. Affection (as that of a mother), tenderness.
Từ (bi) kinh
慈 (悲) 經; P: mettā-sutta;|Kinh Tiểu thừa nhằm phát huy lòng Từ bi. Kinh này được ghi lại bằng tiếng Pā-li và được phổ biến rất rộng rãi ở các nước theo truyền thống Thượng toạ bộ, được tăng ni tụng niệm hàng ngày.|Toàn văn kinh Từ bi (bản dịch của Thích Thiện Châu):|Ai khôn ngoan muốn tìm hạnh phúc|Và ước mong sống với an lành|Phải tài năng, ngay thẳng, công minh|Nghe lời phải, dịu dàng khiêm tốn.|Ưa thanh bần, dễ dàng chịu đựng|Ít bận rộn, vui đời giản dị|Chế ngự giác quan và thận trọng|Không liều lĩnh, chẳng mê tục luỵ.|Không chạy theo điều quấy nhỏ nhoi|Mà thánh hiền có thể chê bai|Ðem an vui đến cho muôn loài|Cầu chúng sinh thảy đều an lạc.|Không bỏ sót một hữu tình nào|Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh|Giống lớn to hoặc loại dài cao|Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.|Có hình tướng hay không hình tướng|Ở gần ta hoặc ở nơi xa|Ðã sinh rồi hoặc sắp sinh ra|Cầu cho tất cả đều an lạc|Với ai và bất luận ở đâu|Không lừa dối, chẳng nên khinh dễ|Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ|Ðừng mưu toan gây khổ cho nhau|Như mẹ hiền thương yêu con một|Dám hi sinh bảo vệ cho con|Với muôn loài ân cần không khác|Lòng ái từ như bể như non|Tung rãi từ tâm khắp vũ trụ|Mở rộng tình thương không giới hạn|Từng trên, phía dưới và khoảng giữa|Không vướng mắc oán thù ghét bỏ|Khi đi, khi đứng hoặc nằm ngồi|Hễ lúc nào tinh thần tỉnh táo|Phát triển luôn dòng chính niệm này|Là đạo sống đẹp cao nhất đời|Ðừng để lạc vào nơi mê tối|Ðủ giới đức, trí huệ cao vời|Và dứt bỏ lòng tham dục lạc|Ðược như thế thoát khỏi luân hồi.
từ ba la mật
Mettā Pāramitā (S).
Từ bi
慈悲; S: maitrī-karuṇā; P: mettā-karuṇā;|Hai đức hạnh chính của đạo Phật và cũng là cơ sở tâm lí của một vị Bồ Tát. Hai đức tính này được biểu hiện qua lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi luân hồi.|Người ta phân biệt ba loại Từ bi: 1. Tấm lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh theo lẽ thường; 2. Là kết quả của việc chứng ngộ được tính vô ngã của tất cả các pháp, là quả vị của tất cả những vị Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát khi bước vào địa vị thứ nhất của Thập địa; 3. Là tấm lòng Ðại từ đại bi (s: mahāmaitrī-karuṇā) của một đức Phật, một tấm lòng từ bi tuyệt đối vô phân biệt, vô điều kiện.
từ bi
Maitrī-karuṇā (S), Mettā-karuṇā (P), Compassion, Karuṇā (P), nying je (T)Phẩm hạnh cao quí của tất cả chư Phật và Bồ tát. Lòng từ bi trải rộng không phân biệt chúng sinh. Lòng từ bi phải luôn đi đôi với trí bát nhã (praja). Đại thừa rất chú trọng đến vấn đề phát triển lòng từ.
; Loving-kindness and compassion. Compassion and pity, merciful, compassionate.
; Từ là ban vui cho người, Bi là cứu khổ cho người. Phật pháp nói vô duyên từ, đồng thể bi. Vô duyên thì chẳng có năng sở, nên chẳng có năng thí sở thí. Đồng thể thì chẳng phân biệt mình với người, nên khổ của người tức là khổ của mình, vui của người tức là vui của mình.
từ bi quán
xem quán từ bi.
; Maitrīsmṛti (S).
; The compassion-contemplation, in which pity destroys resentment.
Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp
(慈悲三昧水懺法): hay còn gọi là Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法, Taishō No. 1910), 3 quyển, do Tri Huyền (知玄, 811-883) nhà Đường trước thuật, là bộ sách chỉ về phương pháp sám hối, hình thành từ bản Viên Giác Kinh Tu Chứng Nghi (圓覺經修證儀) của Tông Mật (宗密, 780-841), được thâu lục vào trong Taishō quyển 45. Dưới thời vua Ý Tông nhà Đường, quốc sư Ngộ Đạt Tri Huyền có mụt nhọt mặt người trên đầu gối, khuôn mặt ấy có đầy đủ lông mày, mắt, miệng, răng; cứ mỗi lần ăn uống thì cũng đút cho ăn, nó hả miệng nhai nuốt chẳng khác chi người thường cả. Tuy Ngộ Đạt có mời danh y đến chữa nhưng vô hiệu. Sau nhờ có tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp đỡ, ông thành tâm sám hối và dùng nước Tam Muội rửa mụt nhọt ấy, mụt mới lành. Nhân đó quốc sư bèn viết ra sách này để cho người đời sau nương đó mà sám hối. Hình thức của sách này cũng giống như các sách sám hối khác, trước hết đối trước chư Phật và Bồ Tát quy y, sau đọc văn sám hối, sám hối đối với hết thảy các phiền não chướng cũng như nghiệp chướng và báo chướng của Bốn Loài, Sáu Đường. Cuối cùng là văn hồi hướng phát nguyện. Nếu chúng sanh nào nương vào phương pháp sám hối này mà chí thành sám hối tội lỗi của mình, có thể làm cho tiêu tan những oan nghiệp trong đời trước. Cho nên phương pháp này được thịnh hành mãi cho đến ngày nay dưới tên gọi là Thủy Sám. Tại Việt Nam, hình thức này cũng được ứng dụng rộng rãi trong Thiền môn cũng như tầng lớp tại gia cư sĩ. Trong Từ Bi Thủy Sám Pháp có giải thích rằng: “Phù Tam Muội Thủy Sám giả, nhân Đường Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, ngộ Ca Nặc Ca Tôn Giả, dĩ Tam Muội thủy vi trạc tích thế oán cừu, Tri Huyền toại diễn Đại Giác chi chỉ, thuật vi sám văn (夫三昧水懺者、因唐悟達國師知玄、遇迦諾迦尊者、以三昧水爲濯積世怨讎、知玄遂演大覺之旨、述爲懺文, phàm Tam Muội Thủy Sám là nhân vì Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền nhà Đường, gặp Tôn Giả Ca Nặc Ca, lấy nước Tam Muội để rửa sạch các oán thù tích chứa xưa kia; Tri Huyền bèn diễn bày ý chỉ của đấng Đại Giác, thuật lại thành văn sám hối).” Bản chú giải về sám pháp này có Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Khoa Chú (慈悲道塲水懺法科註, CBETA No. 1496) của Long Trú (龍住).
từ bi thủy sám pháp
Bộ Kinh Sám do ngài Ngộ Đạt thiền sư đời Đường soạn, trọn bộ 3 quyển.
từ bi vạn hạnh
Tender compassion in all things, or with compassion all things succeed.
từ bi y
Compassionate garment, the monk's robe.
từ bi đạo tràng sám pháp
Bô kinh sám hối đời Lương do vua Võ Đế thỉnh chư tăng soạn để cầu siêu cho vợ ông ông bị đọa làm một con trăn.
Từ bi 慈悲
[ja] ジヒ jihi ||| The first character in this term is often written with the grass radical (#140) on top, and some dictionaries, such as the ZDG, list it that way. (1) Compassion, especially the selfless compassion of the buddhas and bodhisattvas, where self-benefit is fully abandoned for the sake of saving all sentient beings (karuṇā, maitrī). Transcribed as 迦樓那. (2) The two logographs in this word are some times separated into the meanings of "kindness" 慈 (maitrī) and "pity" 悲 (karuṇā). Kihwa gives a full analysis of this term in the Chapter of Maitreya 彌勒 in his Commentary on the Sutra of Perfect Enlightenment 圓覺經説誼. => 1. Đặc điểm của thuật ngữ nầy là thường được trình bày với the grass radical (#140) on top,(!) và trong một số Từ điển, như ZDG, trình bày như sau: 1. Lòng thương yêu, đặc biệt là lòng thương yêu vô ngã của chư Phật và Bồ-tát, nơi lòng vị kỷ hoàn toàn vắng bặt vì lợi ích cứu độ chúng sinh (s: karuṇā, maitrī). Phiên âm là ka-lâu-na 迦樓那. 2. Hai từ nầy có khi tách thành hai nghĩa 'Từ' (慈s:maitrī) và Bi (悲s: karuṇā). Kỷ Hoà phân tích đầy đủ thuật ngữ nầy trong luận giải của sư về kinh Viên Giác, phẩm Di Lặc.
từ bỏ
Abhisaṃhāra (S), Abandoned.
Từ dận
(嗣胤): con cháu đời sau. Như trong Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) quyển 95 có câu: “Khinh khí quốc bổn, bất cố từ dận, vong tổ tuyệt tông, đắc tội tông xã (輕棄國本、不顧嗣胤、忘祖絕宗、得罪宗社, từ bỏ gốc nước, chẳng đoái cháu con, quên tổ tuyệt tông, có tội giống nòi).” Hay trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục (開元釋敎錄, Taishō No. 2154) quyển 6 cũng có câu: “Kim Ô Trường Phạm Diễn vương đẳng tinh kỳ hậu dã, từ dận tương thừa vu kim bất tuyệt (今烏萇梵衍王等並其後也、嗣胤相承于今不絕, nay vua Phạm Diễn của nước Ô Trường đều là hậu duệ của vị ấy, con cháu kế thừa đến nay không dứt tuyệt).”
Từ Hoàn
(徐釻, 1636-1708): nhà chuyên sáng tác từ khúc, tự là Điện Phát (電發), hiệu Hồng Đình (虹亭), người Giang Tô (江蘇). Trước tác của ông để lại có Nam Châu Thảo Đường Tập (南州草堂集), Từ Uyển Tùng Đàm (詞苑叢談), Cúc Trang Từ (菊莊詞).
từ huyền
Tzu Hsuan (C), Chosui (J), Chosui (J)
Từ Huấn
(慈訓, Jikun, 691-777): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy Từ Huấn (慈訓), xuất thân vùng Hà Nội (河內, Kawachi, thuộc Ōsaka [大阪]). Ông theo học Pháp Tướng với Lương Mẫn (良敏, Ryōbin) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), Hoa Nghiêm với Thẩm Tường (審祥, Shinjō) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji) và trú tại Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji). Năm 740, lần đầu tiên thuyết giảng Hoa Nghiêm Kinh, ông làm giảng sư phụ, đến năm 742 mới chính thức làm giảng sư. Sau đó, ông làm giảng sư trong cung nội, thường khán bệnh cho Thánh Võ Thượng Hoàng (聖武上皇, Shōmu Jōkō), mở rộng thế lực ngang hàng với Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ (藤原仲麻呂, Fujiwara-no-nakamaro). Vào năm 756, ông được thăng chức Thiếu Tăng Đô (少僧都) và làm Quản Chưởng Hưng Phước Tự. Năm 760, ông cùng với nhóm Lương Biện (良辨, Rōben) tâu trình lên nhà vua xin cải cách tăng giai và tận lực quản lý tăng ni. Vào năm 763, ông bị Đạo Kính (道鏡, Dōkyō) giải nhiệm, đến năm 770, khi vị này qua đời ông mới được phục chức. Ông thâu tập khá nhiều kinh luận và thỉnh thoảng có thỉnh kinh từ nơi chép kinh về. Trong Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書, Genkōshakusho) có ghi lại ký sự lúc ông sang nhà Đường cầu pháp.
Từ hàng
(慈航): thuyền từ; chư Phật, Bồ Tát lấy tâm từ bi cứu độ chúng sanh, giống như thuyền bè đưa người thoát ly biển khổ sanh tử. Trong bài thơ Khai Thiện Tự Pháp Hội (開善寺法會) của Tiêu Thống (蕭統, 501-531) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Pháp luân minh ám thất, tuệ hải độ từ hàng (法輪明暗室、慧海度慈航, xe pháp sáng nhà tối, biển tuệ độ thuyền từ).” Hay trong bài Vị Thôn Thối Cư Ký Lễ Bộ Thôi Thị Lang Hàn Lâm Tiền Xá Nhân Thi Nhất Bách Vận (渭村退居寄禮部崔侍郎翰林錢舍人詩一百韻) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Đoạn si cầu tuệ kiếm, tế khổ đắc từ hàng (斷癡求慧劍、濟苦得慈航, đoạn ngu cầu kiếm tuệ, cứu khổ được thuyền từ).” Trong Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự (三時繫念佛事, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1464) có bài tán thán đức Phật Di Đà rằng: “A Di Đà Phật, vô thượng y vương, nguy nguy kim tướng phóng hào quang, khổ hải tác từ hàng, Cửu Phẩm Liên Bang, đồng nguyện vãng Tây phương (阿彌陀佛、無上醫王、巍巍金相放毫光、苦海作慈航、九品蓮邦、同願往西方, A Di Đà Phật, cao tột y vương, lồng lộng tướng báu phóng hào quang, biển khổ làm từ thuyền, Chín Phẩm Cõi Sen, cùng nguyện qua Tây phương).”
; (慈航): thuyền từ; chư Phật, Bồ Tát lấy tâm từ bi cứu độ chúng sanh, giống như thuyền bè đưa người thoát ly biển khổ sanh tử. Trong bài thơ Khai Thiện Tự Pháp Hội (開善寺法會) của Tiêu Thống (蕭統, 501-531) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Pháp luân minh ám thất, tuệ hải độ từ hàng (法輪明暗室、慧海度慈航, xe pháp sáng nhà tối, biển tuệ độ thuyền từ).” Hay trong bài Vị Thôn Thối Cư Ký Lễ Bộ Thôi Thị Lang Hàn Lâm Tiền Xá Nhân Thi Nhất Bách Vận (渭村退居寄禮部崔侍郎翰林錢舍人詩一百韻) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Đoạn si cầu tuệ kiếm, tế khổ đắc từ hàng (斷癡求慧劍、濟苦得慈航, đoạn ngu cầu kiếm tuệ, cứu khổ được thuyền từ).” Trong Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự (三時繫念佛事, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1464) có bài tán thán đức Phật Di Đà rằng: “A Di Đà Phật, vô thượng y vương, nguy nguy kim tướng phóng hào quang, khổ hải tác từ hàng, Cửu Phẩm Liên Bang, đồng nguyện vãng Tây phương (阿彌陀佛、無上醫王、巍巍金相放毫光、苦海作慈航、九品蓮邦、同願往西方, A Di Đà Phật, cao tột y vương, lồng lộng tướng báu phóng hào quang, biển khổ làm từ thuyền, Chín Phẩm Cõi Sen, cùng nguyện qua Tây phương).”
từ hàng
The bark of mercy. To cross the sea of sorrows.
Từ hối 慈誨
[ja] ジカイ jikai ||| Compassionate teaching. => Lời dạy từ bi, giáo pháp từ bi.
Từ Không
(慈空, Jikū, ?-1351): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, thuộc Phái Mộc Biên (木邊派), sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương và Nam Bắc Triều, húy là Từ Không (慈空), xuất thân vùng Shiga-ken (滋賀縣), con trai thứ 2 của Nguyện Minh (願明), người giữ chức Lưu Thủ của Cẩm Chức Tự (錦織寺, Kinshoku-ji) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ông kế thừa ngôi anh mình là Ngu Đốt (愚咄), quản lý Cẩm Chức Tự với chức vụ Lưu Thủ. Đến năm 1347, ông theo học giáo nghĩa Chơn Tông với Tồn Giác (存覺, Zonkaku) ở Bổn NguyệnTự (本願寺, Hongan-ji). Tương truyền khi lâm chung, ông có nguyện vọng trao ngôi chùa này cho Tồn Giác.
từ kính
Loving-reverence.
từ kỳ
Śitā (S)Tên một con sông ở cõi Diêm phù.
từ luận kinh
Xem Luận Kinh.
từ lực
Maitribala (S). Meciful virtue, or power.
từ lực vương
Maitrībāla (S).
; Maitribala-ràja (S). King of merciful power, a former incarnation of the Buddha.
từ minh
Tzu Ming (C), Jimyo (J), Ch'i-ming
; A noted monk of the Tống (Sung) dynasty.
Từ Minh Sở Viên
(慈明楚圓, Jimyō Soen): xem Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓, Sekisō Soen, 986-1039) bên trên.
từ môn
The gate of mercy, Buddhism.
Từ Môn tự 慈門寺
[ja] ジモンジ Jimon ji ||| The Cimen si; a temple of the Sanjiejiao 三階教 movement located in Changan. => (c: Cimen si; j: Jimon ji) một ngôi chùa của phong trào Tân giai giáo (Sanjiejiao 三階教), toạ lạc tại Trường An (c: Changan).
từ mẫu
Affectionate, loving mother.
từ nghiêm
Compassion and strictness, the maternal-cum-paternal spirit.
từ ngữ
Akkharapadani (P).
từ nhãn
The compassionate eye (of Buddha).
Từ Nhãn Tự
(慈眼寺, Jigen-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông, hiệu núi là Phổ Môn Sơn (普門山); hiện tọa lạc tại số 7-1 Oguratani (小倉谷), Minamiechizen-chō (南越前町), Nanjō-gun (南條郡), Fukui-ken (福井縣). Vào năm 1387 (Gia Khánh [嘉慶] nguyên niên), Thiền Sư Thiên Chơn Tự Tánh (天眞自性) khai sáng ra chùa. Tượng thờ chính của chùa là Thập Nhất Diện Quan Âm Bồ Tát. Vào thời kỳ hưng thịnh, chùa có đủ các kiến trúc già lam; trong khuôn viên chùa có 17 chùa con và quản lãnh trên toàn quốc cả hơn chùa con khác. Tuy nhiên, với dòng thời gian trôi qua của vô thường, trãi qua bao lần bị hỏa tai cũng như bị thâu hồi lãnh vức, chùa đã thay đổi diện mạo khá nhiều cho đến ngày nay.
từ nhẫn
Compassion and patience, compassionate tolerance.
Từ pháp
(嗣法): thuật ngữ của Thiền Tông, nghĩa là kế thừa pháp thống, dòng pháp; còn gọi là truyền pháp (傳法), từ tục (嗣續). Xưa kia, khi truyền pháp cho Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉), lời phó chúc của đức Phật vẫn còn ghi lại trong khá nhiều tác phẩm của Thiền Tông như Truy Môn Thế Phổ (緇門世譜, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1603), Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 79, No. 1559) quyển 1, Truyền Pháp Chánh Tông Luận (傳法正宗論, Taishō Vol. 51, No. 2080) quyển Hạ, Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1565) quyển 1, Ngũ Đăng Nghiêm Thống (五燈嚴統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1568) quyển 1, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 1, v.v., rằng: “Ngô dĩ thanh tịnh Pháp Nhãn, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu Chánh Pháp, tương phó ư nhữ, nhữ đương hộ trì (吾以清淨法眼、涅槃妙心、實相無相、微妙正法、將付於汝、汝當護持, ta lấy Pháp Nhãn thanh tịnh, Niết Bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, Chánh Pháp vi diệu, giao phó cho ngươi, ngươi hãy giữ gìn).” Dòng pháp thống này kéo dài mãi cho đến ngày nay, nối tiếp từ đời này sang đời khác, nên gọi là từ pháp. Nếu nói về nghĩa hẹp thì có nghĩa là đệ tử kế thừa giáo pháp của Thầy, nên có tên gọi là pháp từ (法嗣). Thông thường, khi truyền thừa giữa Thầy với trò, vị Thầy sẽ truyền trao cho trò sách kế thừa để làm vật chứng minh, nhưng người được truyền thừa chỉ giới hạn trong hàng ngũ Tăng sĩ xuất gia mà thôi. Trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 14 có đoạn: “Hoắc Sơn Hám Dư Xiêm Thiền Sư, Tây Sung Vương thị tử, tham biến tôn túc, mạt hậu nhập Tự Nhàn Hòa Thượng thất, thỉ từ pháp yên, xuất trú Tấn chi Hoắc Sơn (霍山憨余暹禪師、西充王氏子、參遍尊宿。末後入自閒和尚室、始嗣法焉、出住晉之霍山, Thiền Sư Hám Dư Xiêm ở Hoắc Sơn, là con nhà họ Vương ở Tây Sung, đi tham học khắp chư vị tôn túc, đến cuối cùng thì vào thất của Hòa Thượng Tự Nhàn, khi ấy mới được kế thừa dòng pháp, rồi trở ra trú tại Hoắc Sơn nhà Tấn).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 87 có câu: “Cẩm Quan Thảo Đường Hống Nhất Đẳng Thiền Sư, Vinh Xương Vương thị tử, từ pháp vu Đạm Trúc Mật, trú Cẩm Quan Thảo Đường Tự (錦官草堂吼一等禪師、榮昌王氏子、嗣法于澹竹密、住錦官草堂寺, Thiền Sư Thảo Đường Hống Nhất Đẳng ở Cẩm Quan, là con của dòng họ Vương ở Vinh Xương, truyền pháp cho Đạm Trúc Mật, trú tại Thảo Đường Tự, Cẩm Quan).” Trong Phật Tổ Chánh Truyền Cổ Kim Tiệp Lục (佛祖正傳古今捷錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1595) có đoạn ghi về Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn như sau: “Hàm Hưởng trung, truyền pháp Lô Năng, thị tịch ư Cao Tông Thượng Nguyên nhị niên Ất Hợi, thọ thất thập hữu tứ, thụy viết Đại Mãn, từ pháp nhất thập tam nhân (咸亨中、傳法盧能、示寂於高宗上元二年乙亥、壽七十有四、諡曰大滿、嗣法一十三人, trong khoảng niên hiệu Hàm Hưởng [670-674], Tổ truyền pháp cho Huệ Năng, thị tịch vào năm Ất Hợi, niên hiệu Thượng Nguyên thứ 2 [675] đời vua Cao Tông, hưởng thọ 74 tuổi, thụy hiệu là Đại Mãn, kế thừa dòng pháp 13 người).”
từ phước
Tzu fu (C), Shifuku (J).
từ phụ
Affectionate, fond father.
Từ quang
(慈光): chỉ cho ánh hào quang đại từ bi của chư Phật, Bồ Tát. Như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 40, phần Ngũ Đài Sơn Tạo Trầm Hương Văn Thù Bồ Tát Tượng Sớ (五臺山造沉香文殊菩薩像疏), có đoạn: “Trượng lục tổ chi từ quang, nhiếp Tứ Chúng chi cao nhân, kết thập phương chi thiện quả (仗六祖之慈光、攝四眾之高人、結十方之善果, nhờ sáu Tổ ấy từ quang, nhiếp Bốn Chúng bao cao nhân, kết mười phương muôn quả tốt).” Hay trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道場性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498), quyển 1, phần Bảng Văn (榜文), cũng có đoạn: “Thập phương thường trú, vô lượng Tam Bảo, Thủy Lục đại hội, u hiển Thánh phàm, đồng triển từ quang, chứng minh vi khổn (十方常住、無量三寶、水陸大會、幽顯聖凡、同展慈光、證明微悃, mười phương thường trú, vô lượng Tam Bảo, Thủy Lục đại hội, ẩn hiện Thánh phàm, cùng hiển từ quang, chứng minh thành khẩn).”
từ quang
Meciful light, that of the Buddhas.
Từ Quán
(慈觀, Jikan, 1334-1419): vị tăng của Chơn Tông Nhật Bản, thuộc Phái Mộc Biên (木邊派), sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ thứ 5 của Cẩm Chức Tự (錦織寺, Kinshoku-ji) húy là Cương Nghiêm (綱嚴), tên lúc nhỏ là Quang Uy Hoàn (光威丸), hiệu là Từ Quán (慈觀), thụy hiệu là Pháp Lâm Viện (法林院), xuất thân vùng Kyoto, con thứ 7 của Tồn Giác (存覺, Zonkaku). Năm 1343, ông xuất gia thọ giới với Kinh Nghiêm (經嚴) ở Tùy Tâm Viện (隨心院) thuộc Chơn Ngôn Tông, rồi tu học ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), sau đến sống ở Thanh Liên Viện (青蓮院) ở Kyoto, và được thăng cử đến chức Đại Tăng Đô. Ông đã từng học giáo nghĩa của Chơn Tông với cha mình là Tồn Giác, đến năm 1351 thì kế thừa Từ Không (慈空, Jikū) ở Cẩm Chức Tự làm trú trì chùa này. Năm 1363, ông được Tồn Giác truyền trao cho Lục Yếu Sao (六要抄), sau đó ông truyền thọ lại cho vị Tổ đời thứ 4 ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) là Thiện Như (善如, Zennyo). Đến năm 1383, ông viết quyển Cẩm Chức Tự Tông Môn Huyết Mạch Phổ (錦織寺宗門血脈譜) để làm sáng tỏ pháp hệ của chùa. Trước tác của ông có Cẩm Chức Tự Tông Môn Huyết Mạch Phổ 1 quyển, Chứng Đắc Vô Vi Pháp Thân Sao (証得無爲法身抄) 2 quyển, Tồn Giác Nhất Kỳ Ký (存覺一期記) 1 quyển.
từ thiện
Charity.
Từ Thị
xem Bồ Tát Di-lặc.
; 慈氏; S: maitreya; P: metteya;|Tên dịch nghĩa, dịch âm là Di-lặc.
từ thị
The compassionate one, Maitreya.
từ thị bồ tát
Maitreya Bodhisattva.
Từ Thị 慈氏
[ja] ジシ Jishi ||| A Chinese translation of the name of Maitreya 彌勒. => Hán dịch tên của Di Lặc (s: Maitreya 彌勒).
Từ Thọ Hoài Thâm
(慈受懷深, Jiju Eshin, 1077-1131): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, được gọi là Từ Thọ Thiền Sư (慈受禪師), xuất thân vùng Lục An (六安), Phủ Thọ Xuân (壽春府, Tỉnh An Huy), họ là Hạ (夏). Năm lên 14 tuổi, ông xuống tóc xuất gia, rồi vào năm đầu niên hiệu Sùng Ninh (崇寧, 1102-1106), ông đến Gia Hòa (嘉禾, Tỉnh Triết Giang), kế thừa dòng pháp của Trường Lô Sùng Tín (長蘆崇信) ở Tư Phước Tự (資福寺). Khi Sùng Tín chuyển đến Trường Lô, ông đi theo thầy và tại đây gặp được Phật Giám Huệ Cần (佛鑑慧懃). Vào ngày mồng 10 tháng 8 năm thứ 3 (1113) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết pháp tại Tư Phước Tự vùng Thành Nam (城南), Nghi Chơn (儀眞, Tỉnh Giang Tô). Sau do vì Thần Tiêu Cung (神霄宮) được sửa sang lại, nên ông chuyển đến Tương Sơn (蔣山) và sống tại Tây Am (西庵). Vào ngày mồng 6 tháng 9 năm thứ 7 cùng niên hiệu trên, thể theo lời thỉnh cầu ông đến trú trì Tiêu Sơn (焦山, Tỉnh Giang Tô). Rồi theo sắc chiếu vào năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), ông đến trú trì Huệ Lâm Thiền Viện (慧林禪院) ở Đại Tướng Quốc Tự (大相國寺) trên Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam). Vào ngày 22 tháng 5, ông khai đường thuyết pháp tại đây, đến năm thứ 2 (1127) niên hiệu Tĩnh Khang (靖康), ông xin phép rời khỏi Huệ Lâm Thiền Viện nhưng nhà vua không chấp thuận, lần thứ hai ông xin tiếp và bỏ đi. Ông đi qua Thiên Thai, đến Linh Nham (靈巖), sau đó lại trở về Tương Sơn, trãi qua mấy tháng tại đây, và cuối cùng lui về ẩn cư tại Bao Sơn (包山) ở Động Đình (洞庭). Vào ngày 20 tháng 4 năm thứ 2 niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 36 hạ lạp. Hiện còn lưu hành bản Từ Thọ Thâm Hòa Thượng Quảng Lục (慈受深和尚廣錄) 4 quyển.
từ thủy
Mercy as water fertilizing the life.
từ trí
Xem ý.
từ trời xuống
Gaganacārin (S), Coming from sky.
Từ tâm
(慈心): chỉ cho tâm từ bi, thương xót và luôn đem niềm vui đến cho mọi người và mọi loài; là một trong Tứ Vô Lượng Tâm (四無量心). Như trong Bát Quan Trai Kinh (八關齋經, Taishō Vol. 1, No. 89) giải thích rằng: “Do như A La Hán, tận hình thọ bất sát sanh, diệc bất giáo nhân sát sanh, vô oán hận tâm đương hoài tàm quý, hữu từ tâm mẫn nhất thiết chúng sanh (猶如阿羅漢、盡形壽不殺生、亦不敎人殺生、無怨恨心當懷慚愧、有慈心愍一切眾生, giống như A La Hán, suốt cả đời không giết hại sinh vật, cũng không bảo người giết hại sinh vật, không có tâm oán hận, phải luôn xấu hổ, có tâm từ thương tưởng hết thảy chúng sanh).” Hay trong Phật Thuyết Đại Thừa Nhật Tử Vương Sở Vấn Kinh (佛說大乘日子王所問經, Taishō Vol. 12, No. 333) cũng có câu: “Nhữ phát khởi từ tâm thọ trì giới hạnh, quảng lợi hữu tình (汝發起慈心受持戒行、廣利有情, ngươi phát khởi tâm từ thọ trì giới hạnh, đem lợi ích rộng khắp cho chúng hữu tình).”
từ tâm
Mettā (P), Maitrī (S), Kṛpātma (P), Pity, Loving kindness Mettā (P)Lòng thương chúng sanh mà muốn giúp họ được an vui. Trong Tứ vô lượng tâm, gồm: từ (maitri), bi (karuna), hỉ (mudita), xả (upeksa).
; A compassionate heart, loving-kind heart.
từ tâm ba la mật
Mettāpāramitā (P), Perfection of Loving Kindness.
từ tâm bất sát
Xem Bồ tát Quán thế âm.
; Lokecvra (S). Not killing because of the compassionate heart.
từ tâm bất sát bồ tát
Lokecvara (S)Xem Avalokitecvara.
từ tâm tam muội
Xem từ định.
; Contemplation on the compassionate mind, meditation to develop the compassionate heart.
Từ tâm 慈心
[ja] ジシン jishin ||| Compassion; compassionate mind (maitra-citta). 〔法華經 T 262.9.38a18〕 => Lòng thương yêu; tâm từ (s: maitra-citta).
từ tôn
The compassionate-honoured one, Maitreya.
Từ tôn 慈尊
[ja] ジソン Jison ||| A Chinese translation, according to the meaning, of the name of Maitreya 彌勒. 'A compassionate saint.' => Hán dịch theo nghĩa, danh xưng của Di Lặc (Maitreya 彌勒). 'Vị thánh của lòng từ .
Từ Tạng 慈藏
[ja] ジゾウ Jizō ||| Chajang (dates unclear). An early Silla monk who traveled to Tang China and studied in Zhongnan. He returned to Silla in 643, founding the Vinaya 戒律 school in Korea. He was a scholar of considerable merit in the areas of Kyeyul 戒律 and Wŏnyung 圓融, is credited for having been a major force in setting up the Korean sangha, and for helping to initiate the role of Buddhism as a national religion. => (k: Chajang)(không rõ năm sinh và mất). Tăng sĩ Tân La thời trước đã đến Trung Hoa vào đời Đường và tu học ở Chung Nam (c: Zhongnan). Sư trở về Trung Hoa năm 643, sáng lập Giới luật tông ở Cao Ly. Sư là một học giả đ xem là có công trong lĩnh vực Giới luật (k: Kyeyul 戒律) và Viên dung (k: Wŏnyung 圓融), có ảnh hưởng tạo thành một động lực chính trong việc lập nên Tăng già Cao Ly, và giúp cho vai trò ban đầu của Phật giáo như là một quốc giáo.
Từ tế quỷ 祠祭鬼
=> Hán dịch thuật ngữ Dạ-xoa (s: yakṣa 夜叉) trong tiếng Phạn.
từ tử
Sons of compassion, i.e. the disciples of Maitreya.
Từ tự 祠祀
[ja] シシ shishi ||| (1) Religious ceremony; religious ritual (yajña). 〔瑜伽論 T 1579.30.624a18〕(2) One of the ten virtues, which helps to overcome erroneous views. => 1. Cúng tế, lễ nghi tôn giáo (yajña). 2. Một trong Mười đức, giúp vượt qua những tà kiến.
Từ Viên
(慈圓, Jien, 1155-1225): ca nhân và vị Tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 62, 65, 69, 71; húy Đạo Khoái (道快), Từ Viên (慈圓), thông xưng là Cát Thủy Tăng Chánh (吉水僧正), Vô Động Tự Pháp Ấn (無動寺法印), thụy hiệu là Từ Trấn Hòa Thượng (慈鎭和尚), con của vị Quan Bạch Đằng Nguyên Lại Thông (藤原賴通, Fujiwara-no-Yorimichi), em của Cửu Điều Kiêm Thật (九條兼實, Kujō Kanezane). Năm 1182, ông thọ pháp Quán Đảnh với Toàn Huyền (全玄) ở Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) và kế thừa Dòng Thai Mật Tam Muội (台密三昧流). Từ năm 1192 trở về sau, thỉnh thoảng ông được bổ nhiệm làm Thiên Thai Tọa Chủ và sau đó làm vị tăng hộ trì cho Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇, Gotoba Jōkō). Được sự viện trợ của tướng Quân Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), ông mở hội Khuyến Học Giảng (勸學講) tại Đại Thừa Viện (大乘院) của Vô Động Tự (無動寺, Mudō-ji) và tận lực dưỡng thành học tăng. Trước tác Ngu Quản Sao (愚管抄) của ông là một tác phẩm trình bày quan điểm lịch sử độc đáo của bản thân ông trên cơ sở đạo lý. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng với tư cách là ca nhân, hoạt động đắc lực trong ca đàn do Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng chủ trì. Trước tác ông để lại có Ngu Quản Sao (愚管抄) 7 quyển, Thập Ngọc Tập (拾玉集) 7 quyển, Thiên Thai Quán Học Giảng Duyên Ký (天台觀學講緣記) 1 quyển, Tỳ Lô Giá Na Biệt Hành Kinh Sao (毘盧遮那別行經鈔) 2 quyển, v.v.
Từ vân
(慈雲): mây từ; tỷ dụ cho tâm từ bi rộng lớn của chư Phật, giống như đám mây lớn có thể che trùm chúng sanh dưới cõi trần. Như trong Kê Chích Tập (雞跖集) của Vương Tử Thiều (王子韶, ?-?) nhà Tống giải thích rằng: “Như Lai từ tâm, như bỉ đại vân, ấm chú thế giới (如來慈心、如彼大雲、蔭注世界, tâm từ của Như Lai, giống như đám mây lớn kia, che mát thế giới).” Hay trong bài Đại Pháp Tụng (大法頌) của vua Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Từ vân thổ trạch, pháp vũ thùy lương (慈雲吐澤、法雨垂涼, mây từ ban ân huệ, mưa pháp rưới mát tươi).” Trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 4 lại có câu: “Chấn pháp lôi kích pháp cổ, bố từ vân hề sái cam lộ (震法雷擊法鼓、布慈雲兮灑甘露, chấn sấm pháp đánh trống pháp, phủ mây từ chừ rưới cam lộ).” (2) Chỉ Từ Vân (964-1032), vị tăng nhà Tống; tên là Tuân Thức (遵式), tự Tri Bạch (知白); xuất thân vùng Ninh Hải (寧海), Triết Giang (浙江). Chính vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) đã ban cho ông hiệu Từ Vân. Tương truyền ông đã từng đốt một ngón tay trước tượng Bồ Tát Phổ Hiền ở Quốc Thanh Tự (國清寺), thề nguyện truyền bá giáo học Thiên Thai. Ông thị tịch vào năm đầu (1032) niên hiệu Minh Đạo (明道), hưởng thọ 69 tuổi. Hậu thế tôn xưng ông là Từ Vân Sám Chủ (慈雲懺主). Trước tác ông để lại có Vãng Sanh Tịnh Độ Sám Nghĩa (往生淨土懺儀), Kim Quang Minh Sám Pháp (金光明懺法), v.v.
từ vân
The over-spreading, fructifying cloud of compassion, the Buddha's heart. Also, the name of a noted Tống monk.
Từ Vân Tuân Thức
(慈雲遵式, Jiun Junshiki, 964-1032): vị tăng dưới thời nhà Tống, xuất thân Lâm Hải (臨海), Đài Châu (台州, Ninh Hải, Triết Giang), họ Diệp (葉), tự là Tri Bạch (知白). Ông theo xuất gia với Thiên Thai Nghĩa Toàn (天台義全), năm 18 tuổi xuống tóc, đến năm 20 tuổi thọ Cụ Túc giới tại Thiền Lâm Tự (禪林寺) và năm sau trở về chùa cũ học Luật. Ông thường đốt lóng tay mình trước tượng Phổ Hiền, thề nguyện sẽ truyền bá giáo pháp Thiên Thai. Vào năm đầu (984) niên hiệu Ung Hy (雍熙), ông theo Nghĩa Thông (義通) ở Bảo Vân Tự (寳雲寺) học các thư tịch của Thiên Thai Tông, thông hiểu tận cùng áo nghĩa và cùng với Tri Lễ (知禮) của Phái Sơn Gia (山家派) trở thành nhân vật trung tâm. Năm 28 tuổi, ông tuyên giảng các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, Niết Bàn, Kim Quang Minh, v.v., ở Bảo Vân Tự, rồi tập trung tăng tục chuyên tu Tịnh Độ. Sau đó, ông còn giảng kinh, tu tập sám hối ở các địa phương như Tô Châu (蘇州), Hàng Châu (杭州), v.v., học giả rất ngưỡng mộ. Vào năm đầu (1022) niên hiệu Càn Hưng (乾興) đời vua Chơn Tông (眞宗), ông được ban hiệu là Từ Vân (慈雲). Đến năm thứ 2 (1024) niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ông dâng sớ tâu xin biên nhập giáo học Thiên Thai vào Đại Tạng Kinh. Đến năm đầu niên hiệu Minh Đạo (明道) đời vua Nhân Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Soạn thuật và trước tác của ông rất nhiều như Đại Di Đà Kinh Sám Nghi (大彌陀經懺儀), Tiểu Di Đà Sám Nghi (小彌陀經懺儀), Vãng Sanh Tịnh Độ Sám Nguyện Nghi (徃生淨土懺願儀), Kim Quang Minh Tam Muội Nghi (金光明三昧儀), Đại Thừa Chỉ Quán Thích Yếu (大乘止觀釋要), Triệu Luận Sớ Khoa (肇論疏科), Kim Viên Tập (金園集), Thiên Trúc Biệt Tập (天竺別集), v.v. Vì ông là người đã soạn ra rất nhiều nghi thức sám hối, nên được gọi là Bách Bản Sám Chủ (百本懺主), Từ Vân Tôn Giả (慈雲尊者), Linh Ứng Tôn Giả (靈應尊者), Thiên Trúc Sám Chủ (天竺懺主). Sau này ông còn được truy tặng hiệu Pháp Bảo Đại Sư (法寳大師), Sám Chủ Thiền Tuệ Pháp Sư (懺主禪慧法師). Đệ tử kế thừa dòng pháp của ông có Diệu Quả Văn Xương (妙果文昌), Minh Trí Tổ Thiều (明智祖韶), Pháp Hỷ Thanh Giám (法喜清鑑), v.v.
Từ vô lượng
xem Bốn tâm vô lượng.
Từ vô ngại trí
xem Bốn trí không ngăn ngại.
Từ vũ
(祠宇): từ đường, miếu thần. Như trong bài Đông Phương Sóc Họa Tán (東方朔畫贊) của Hạ Hầu Thậm (夏侯湛, khoảng 243-291) nhà Tây Tấn có đoạn: “Bồi hồi lộ tẩm, kiến tiên sinh chi di tượng; tiêu dao thành quách, quán tiên sinh chi từ vũ (徘徊路寢、見先生之遺像、逍遙城郭、觀先生之祠宇, bồi hồi nơi sảnh đường, thấy tiên sinh ấy di tượng; tiêu dao chốn thành quách, nhìn tiên sinh ấy từ đường).” Hay trong bài thơ Sanh Từ (生祠) của Thẩm Khâm Kỳ (沉欽圻, ?-?) nhà Thanh có câu: “Thùy vi kiến từ vũ, duy lưu hậu nhân tư (誰爲建祠宇、惟留後人思, vì ai xây miếu vũ, cho người sau nhớ hoài).”
từ ái
To love tenderly; compassion.
từ ân
Compassion and grace, meciful favour. Name of a temple in Lạc Dương, under the Đường dynasty, which gave its name to Khuy Cơ, founder of the Pháp Tướng Tông, known also as Từ Ân tông and Duy Thức tông. He was a disciple of and collaborator with Huyền Trang.
từ ân tông
Xem Pháp tướng tông.
Từ Ân tông 慈恩宗
[ja] ジオンシュウ Jionshū ||| The Chaŭn chong, a Koryŏ extension of the Silla Pŏpsang 法相 school of Buddhism. => (k: Chaŭn chong), Cao Ly gọi chung Pháp tướng tông của Phật giáo Tân La (Silla Pŏpsang 法相).
Từ Ân 慈恩
[ja] ジオン Jion ||| (1) The compassionate blessings of Amitābha Buddha. (2) Cien--another name for Kuiji 窺基. Named for the temple in which he lived and taught 慈恩寺. => 1. Ân huệ do lòng từ của Đức Phật A-di-đà. 2. Cien—tên của Khuy Cơ (Kuiji 窺基). Danh xưng do ngôi chùa nơi Ngài trú trì và giáo hoá.
từ ý
The mind or spirit of compassion and kindness.
từ định
Maitreya-samādhi (S)Từ tâm tam muộiKhi nhập định, lòng từ trở nên một sức mạnh vô biên có thể điều phục những chúng sanh bạo ác cực điểm.
Từ 慈
[ja] ジ ji ||| To love; treat tenderly; take pity; be compassionate. Compassion, kindness, pity, mercy. True, pure, altruistic emotion that seeks nothing for oneself. One of the Four Unfathomable Minds. Pali; mettā; Sanskrit maitra. => Tình thương; đối xử tốt, nhân hậu; lòng thương xót; động lòng. Lòng trắc ẩn, lòng tốt, thương xót, lòng nhân từ. Mối xúc cảm chân thực, trong sáng, vị tha không mong cầu gì cho chính mình. Là một trong Tứ vô lượng tâm(p: mettā; s: maitra).
từ, bi, hỉ, xả
Loving kindness, Compassion, Joy, Equanimity.
Tử
死; S, P: maraṇa;|Là cái chết theo ý nghĩa thông thường; trong Phật giáo, danh từ Tử được dùng để chỉ sự sinh diệt, thăng trầm của tất cả các hiện tượng, các Pháp.|Sự »sinh đây diệt đó« hoặc »khoảnh khắc của hiện hữu« được vị Ðại luận sư Phật Âm (p: bud-dhaghosa) diễn tả rất hay trong bộ luận Thanh tịnh đạo:|»Theo chân lí tuyệt đối thì chúng sinh chỉ hiện hữu trong một thời gian rất ngắn, một thời gian ngắn như một khoảnh khắc của nhận thức (một ý niệm, Sát-na; s: kṣaṇa). Như một bánh xe, trong khi đang lăn cũng như đang đứng yên, chỉ chạm đất ở một điểm duy nhất, như thế, chúng sinh chỉ sống trong một khoảnh khắc của một nhận thức. Nhận thức này (ý niệm) mất đi, chúng sinh đó chết. Bởi vì chúng sinh của nhận thức vừa qua đã sống, không sống bây giờ và cũng sẽ không sống trong tương lai. Chúng sinh của nhận thức bây giờ đang sống, đã không sống và sẽ không sống trong tương lai. Chúng sinh của nhận thức trong tương lai sẽ sống, đã không sống và hiện tại không sống.«|Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 luận giải cụ thể hơn về cái chết như sau (trích từ luận giải của Ðạt-lại Lạt-ma về Bồ-đề đạo thứ đệ trung luận [t: lam rim 'bring] của Tông-khách-ba):|»… Nhiều người chết khi những nghiệp lực được tạo ra trong kiếp trước, điều kiện chính cho cuộc sống này, hoàn toàn bị dập tắt; những người khác chết bởi vì các nguyên nhân lưu trì cuộc sống này không còn đầy đủ… Người ta gọi như vậy là ›chết sớm‹ hoặc ›chết vì Công đức đã hết‹, bởi vì năng lực lưu giữ cuộc sống vẫn còn (因; nhân) nhưng những duyên (緣; điều kiện phụ) đạt được qua những thiện nghiệp trong đời trước đã hết…|Những người mang tâm bất thiện, hành động bất thiện thì khi chết, phần thân trên mất nhiệt trước, rồi sau đó những thân phần còn lại mới lạnh dần dần. Ngược lại, những người thường hay làm điều thiện thường mất nhiệt ở thân dưới, bắt đầu từ hai bàn chân. Trong cả hai trường hợp thì hơi nóng được gom tụ lại ở ngực (tâm) và từ nơi này, thần thức xuất thân…|Trực tiếp kế đó là trạng thái Trung hữu (中有; s: antarābhava). Chỉ những người tái sinh trong bốn xứ của vô sắc giới (Tứ thiền bát định, Ba thế giới) như Không vô biên xứ (ākāśanantyāyatana), Thức vô biên xứ (vijñānanantyāyatana), Vô sở hữu xứ (ākiṃcanyāyatana) và Phi tưởng phi phi tưởng xứ (naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana) mới không bước vào trạng thái trung hữu này; cuộc sống mới của họ bắt đầu ngay sau cái chết. Những người tái sinh trong Dục giới (kāmadhātu) và Sắc giới (rūpadhātu) phải trải qua quá trình trung hữu và trong quá trình này, thần thức tồn tại dưới dạng sau này sẽ tái sinh. Thân trung hữu có tất cả những giác quan thông thường, có Thiên nhãn thông, có thể vượt qua tất cả những chướng ngại và xuất hiện khắp nơi tuỳ ý. Thân này thấy được những thân trung hữu đồng loại – Ðịa ngục, Ngạ quỷ, súc sinh, nhân loài, A-tu-la và chư Thiên – và ngược lại, thân này cũng có thể được những người có thiên nhãn nhận ra.|Nếu thân trung hữu không tìm được nơi tái sinh tương ưng với những nghiệp đã tạo thì nó chết một cái chết nhỏ sau bảy ngày, bước vào một giai đoạn trung hữu khác. Quá trình này chỉ có thể lặp lại nhiều nhất là 6 lần và thần thức chỉ có thể ở trong giai đoạn trung hữu 49 ngày (7 tuần). Như vậy có nghĩa là, những thần thức tự nhận sau một năm chưa tìm được nơi xứng đáng để tái sinh không còn ở trong trạng thái trung hữu nữa mà đã tái sinh thành một oan hồn, ngạ quỷ.|Ai tái sinh thành người trở lại thì thấy cha mẹ tương lai đang nằm chung với nhau. Người nào tái sinh thành nam giới thì phát lòng ái mộ bà mẹ, căm ghét người cha khi thấy cảnh trên; người nào tái sinh thành nữ giới thì phát tâm ngược lại. Bị dục ái thúc đẩy, thân trung hữu nhào đến cảnh giới trên và tìm cách giao phối với người mình yêu thích. Nhưng khi đến nơi thì thần thức chỉ thấy được bộ phận sinh dục của người đó và vì thế trở nên phẫn nộ. Tâm trạng phẫn nộ này chính là yếu tố gián đoạn trạng thái trung hữu; thần thức đã bước vào tử cung của mẹ, một cuộc sống mới đã bắt đầu. Khi tinh của cha, huyết của mẹ và thần thức hợp lại nhau thì chúng phát triển thành những yếu tố tạo thành một con người mới…|Móc nối tiếp giữa cuộc sống hiện tại và tương lai được tạo dưới sự ảnh hưởng của Ba độc là tham, sân và Si. Khi ba độc này chưa được tiêu diệt thì con người còn bị trói buộc. Tái sinh có tốt có xấu, nhưng khi còn bị trói buộc, người ta phải mang gánh nặng của Ngũ uẩn… Nếu muốn diệt cái Khổ của sinh, lão, bệnh, tử thì trước hết, người ta phải diệt ba độc căn bản nêu trên. Nguồn gốc của chúng lại là Vô minh (avidyā) – là kiến giải sai lầm rằng, con người và những hiện tượng khác đều mang một tự tính, tự ngã. Những liều thuốc có thể giảm được phần nào những chứng bệnh bên ngoài, nhưng chúng không thể giải được vấn đề chính. Các cách tu tập nội tâm – ví dụ như tu luyện những cách chống đối lại tham, sân – có thể giúp ích hơn, nhưng chúng cũng chỉ là những phương tiện tạm thời. Chỉ khi nào vô minh – cội rễ của chúng – được đoạn diệt thì chúng mới tự huỷ diệt…«. (Xem thêm Cận tử nghiệp, Trung hữu, Tử thư).
tử
Cuti (S), Maraṇa (S), Dying, DeathChếtTrong: sanh (jati), lão (jara), bệnh (vyadhi), tử (marana).
; Marana, mrta (S). To die, death; dead.
Tử Bá Chơn Khả
(紫柏眞可, Shihaku Shinka, 1543-1603): tự là Đạt Quán (達觀), hiệu Tử Bá (紫柏), xuất thân Cú Khúc (句曲, Tỉnh Giang Tô), họ Trầm (沉). Năm 17 tuổi, ông xuống tóc xuất gia, đi du phương tham học, đến khi nghe câu kệ “đoạn trừ vọng tưởng trùng tăng bệnh, xu hướng chơn như diệc thị tà (斷除妄想重增病、趨向眞如亦是邪, đoạn trừ vọng tưởng càng thêm bệnh, chạy theo chơn như cũng là tà” của Trương Chuyết (張拙), ông hoát nhiên đại ngộ. Từ đó ông đến trú tại Thanh Lương Tự (清涼寺) ở Yến Kinh (燕京, Tỉnh Hà Bắc). Sau vì lời dèm pha vu khống, ông bị mắc tội và đến ngày 17 tháng 12 năm thứ 31 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 41 hạ lạp. Tháp của ông được an trí tại Văn Thù Đài ở Kính Sơn (徑山). Là Thiền sư chủ xướng Thiền Tịnh Song Tu như Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清) và Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏), ông có để lại một số trước tác như Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集) 29 quyển, Tử Bá Tôn Giả Biệt Tập (紫柏尊者別集) 4 quyển, Tử Bá Lão Nhân Thi Tập (紫柏老人詩集) 3 quyển, v.v. Hám Sơn Đức Thanh soạn bài minh bia tháp cho ông.
Tử cung
(紫宮): có ba nghĩa chính. (1) Tên ngôi sao, chỉ cho một sao trong nhóm Tử Vi (紫微). Như trong tác phẩm Ngô Việt Xuân Thu (吳越春秋), Câu Tiễn Quy Quốc Ngoại Truyện (勾踐歸國外傳), của Triệu Diệp (趙曄, ?-?) nhà Hán, có đoạn: “Ư thị Phạm Lãi nãi quán Thiên Văn, nghĩ pháp ư Tử Cung trúc tác tiểu thành, chu thiên nhất bách nhị thập nhị bộ (於是范蠡乃觀天文、擬法於紫宮築作小城、周千一百二十二步, nhân đó Phạm Lãi bèn xem xét Thiên Văn, nghĩ ra cách nơi Tử Cung dựng thành nhỏ, chu vi 1.122 bước).” (2) Chỉ cho cung cấm của đế vương. Như trong bài thơ Cảm Ngộ (感遇) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Tử cung khoa nga mi, tùy thủ hội điêu yết (紫宮誇蛾眉、隨手會凋歇, cấm cung khoe mày ngài, luôn tay vẽ không thôi).” Hay trong Tích Du Thiên (昔游篇) của Hà Cảnh Minh (何景明, 1483-1521) nhà Minh cũng có câu: “Tam thiên diễm nữ la tử cung, khuynh thành nhất tiếu dương song nga (三千豔女羅紫宮、傾城一笑揚雙蛾, ba ngàn mỹ nữ khắp cấm cung, nghiêng thành cười mĩm dương đôi mày).” (3) Chỉ cho nơi ở của Hoàng đế trong truyền thuyết. Như trong Hoài Nam Tử (淮南子), phần Thiên Văn Huấn (天文訓), giải thích rằng: “Tử Cung giả, Thái Nhất chi cư dã (紫宮者,太一之居也, Tử Cung là nơi ở của thần Thái Nhất).”
Tử Cống
(子貢, 520-? ttl.): đệ tử của Trọng Ni (仲尼, tức Khổng Tử), họ Đoan Mộc (端木), tên là Tứ (賜), tự là Tử Cống, sinh năm thứ 25 (520) đời Chu Cảnh Vương (周景王). Ông có tài hùng biện và bên cạnh đó còn có tài làm ra tiền, được Khổng tử gọi là “hồ liễn chi khí (瑚璉之器).” Hồ liễn (瑚璉) là một loại bát đĩa tôn quý đặc biệt chỉ dùng đựng đồ cúng tế thời cổ đại; nhà Hạ gọi nó là “hồ (瑚)”, nhà Ân gọi là “liễn (璉)”. Từ này được dùng để chỉ cho người có tài năng đặc biệt, có thể đảm đương đại sự, giống như Tử Cống. Ông được tôn sùng như là Thần Tài.
Tử Dung Minh Hoằng
明弘; tk. 17|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, pháp hệ thứ 34. Sư người tỉnh Quảng Ðông, đã cùng Thiền sư Nguyên Thiều Siêu Bạch sang miền Trung hoằng hoá. Nơi đây, Sư lập chùa Ấn Tông tại Huế (bây giờ là chùa Từ Ðàm) và truyền pháp cho một đệ tử người Việt trứ danh là Liễu Quán. Sư tịch tại Việt Nam nhưng không rõ năm nào.
tử hải
The ocean of mortality.
tử hỏa
Death is a fire disaster.
tử hồ lý tông
Tzu-hu Li-tsung (C), Zihu Lizong (C), Shiko Rishō (J)Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Nam Tuyền Phổ Nguyện.
Tử Hồ Lợi Tung
子湖利蹤; C: zǐhú lìzōng; J: shiko rishō; ~ 800-880; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Nam Tuyền Phổ Nguyện và bạn đồng học với hai vị Triệu Châu Tòng Thẩm và Trường Sa Cảnh Sầm.|Sư nổi danh vì tấm bia độc đáo trước am: »Tử Hồ có một con chó, trên cắn đầu người, giữa cắn lưng người, dưới cắn chân người, suy nghĩ ắt tan thân mất mệnh.« Có ai đến am tham vấn, Sư thường gọi lớn »Coi chừng chó!« Hễ quay đầu lại nhìn thì Sư lui vào phương trượng không tiếp. Ngoài ra Sư cũng được biết đến qua việc cho Lưu Thiết Ma – một vị nữ Thiền sư giác ngộ thâm sâu nếm mùi gậy.
Tử Hồ Lợi Túng
(子湖利蹤, Shiko Rishō, 800-880): người vùng Thiền Châu (澶州, thuộc Tỉnh Hà Bắc), họ là Chu (周). Ông xuất gia ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng U Châu (幽州, thuộc Tỉnh Hà Bắc), rồi năm lên 20 tuổi thì thọ Cụ Túc giới. Ông là người kế thừa dòng pháp của Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願). Vào năm thứ 2 (837) niên hiệu Khai Thành (開成) ông dựng lên nơi Tử Hồ Nham (子湖巖) một ngôi viện, và vào năm thứ 2 (861) niên hiệu Hàm Thông (咸通), ngôi viện này được sắc phong là An Quốc Thiền Viện (安國禪院). Ông thị tịch vào năm đầu niên hiệu Quảng Minh (廣明), hưởng thọ 81 tuổi và được ban cho thụy hiệu là Thần Lực Thiền Sư (神力禪師). Tập Tử Hồ Sơn Thần Lực Thiền Sư Ngữ Lục (子湖山神力禪師語錄) 1 quyển của ông được thâu lục vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) và Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄).
tử hổ
Tzuhu (C), Shiko (J).
tử khổ
The misery, or pain, of death.
Tử Kim Đài
(紫金臺): đài bằng vàng tía, vàng ròng. Từ này có xuất hiện trong Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh (佛說觀無量壽佛經, Taishō No. 365): “A Di Đà Phật dữ Quán Thế Âm cập Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng quyến thuộc vi nhiễu, trì Tử Kim Đài chí hành giả tiền ngôn: 'Pháp tử, nhữ hành Đại Thừa giải đệ nhất nghĩa, thị cố ngã kim lai nghênh tiếp nhữ', dữ thiên hóa Phật nhất thời thọ thủ; hành giả tự kiến tọa Tử Kim Đài, hiệp chưởng xoa thủ tán hoan chư Phật, như nhất niệm khoảnh, tức sanh bỉ quốc thất bảo trì trung (阿彌陀佛與觀世音及大勢至、無量大眾眷屬圍繞、持紫金臺至行者前讚言、法子、汝行大乘解第一義、是故我今來迎接汝、與千化佛一時授手、行者自見坐紫金臺、合掌叉手讚歎諸佛、如一念頃、卽生彼國七寶池中, A Di Đà Phật cùng với Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng quyến thuộc vây quanh, mang Đài Vàng Tía đến trước mặt hành giả nói rằng: 'Này pháp tử ! Ngươi thực hành Đại Thừa, hiểu nghĩa thứ nhất, cho nên nay ta đến tiếp rước ngươi', rồi cùng với hàng ngàn đức Phật hóa hiện đồng thời đưa tay ra; hành giả tự thấy mình ngồi trên Đài Vàng Tía, chấp tay xoa tay tán thán các đức Phật, như trong khoảnh khắc một niệm, tức sanh vào trong hồ có bảy thứ báu của nước kia).” Tương truyền thi sĩ Tô Đông Pha (蘇東坡) có làm một bài thơ thể hiện chỗ sở ngộ của ông và trình lên cho Thiền Sư Phật Ấn (佛印) xem, trong đó có hai câu rằng: “Bát Phong xuy bất động, đoan tọa Tử Kim Đài (八風吹不動、端坐紫金台, Tám Gió thổi chẳng động, ngồi yên Vàng Tía Đài).” Những tưởng Thiền Sư sẽ khen ngợi bài thơ hay của mình, ai ngờ khi nhận lại bài thơ, Đông Pha thấy có hai chữ “Phóng thí (放屁, đánh rấm)” phê trên đó. Thật quá bực mình, ông tức khắc lên thuyền qua sông, đến chỗ Thiền Sư Phật Ấn để hỏi cho ra duyên cớ. Tuy nhiên, ông đã thấy Thiền Sư đang đứng bên bờ sông đợi mình. Đến nơi, ông hỏi ngay hai chữ ấy có ngụ ý như thế nào. Phật Ấn cười nói rằng: “Đã gọi là Tám Gió thổi chẳng động mà sao mới có một tiếng đánh rấm thôi đã thổi ông qua tận đây rồi à ? Thế thì phải đổi lại là 'Bát Phong xuy bất động, nhất thí quá Giang Đông (八風吹不動、一屁過江東, Tám Gió thổi chẳng động, tiếng rấm qua Giang Đông)' mới được.” Đông Pha nghe lời này thì hoát nhiên đại ngộ.
Tử Lộ
(子路, 543-480 ttl.): đệ tử trứ danh của Trọng Ni (仲尼, tức Khổng Tử), một trong Thập Triết (十哲); tên là Trọng Do (仲由), tự Tử Lộ (子路), còn gọi là Quý Lộ (季路), người nước Lỗ (魯). người có dũng khí, rất tôn trọng tín nghĩa. Ông là người có đức hiếu cao cả, như trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Phụ Mễ Dưỡng Thân (負米養親, vác gạo nuôi song thân) của Tử Lộ (子路) có đoạn thơ rằng: “Phụ mễ cúng cam chỉ, ninh từ bách lí diêu, thân vinh thân dĩ một, do niệm cựu cù lao (負米供甘旨、寧辭百里遙、身榮親已沒、猶念舊劬勞, vác gạo nuôi cha mẹ, chẳng từ trăm dặm xa, giàu sang người đã mất, còn nhớ công ơn xưa).” Về sau ông phục vụ cho nước Vệ, nhưng do vì biến động, ông bị chết ở nước này.
tử ma
Death-màra.
tử ma vương
Maccu (S)Một trong 5 loại Ma vương.
Tử ma 死魔
[ja] シマ shima ||| (1) Death seen as an evil demon; one of the 'Four (or Five) demons.' (2) The demon that determines a person's time of death (marana-māra). => 1. Sự chết được xem như là ác ma; là một trong Tứ ma. 2. Ma quỷ quyết định thời gian chết của một người (s: marana-māra).
tử môn
The gate or border of death.
tử phong
The destroying wind in the final destruction of the world.
Tử Phưởng
(子昉, Shibō, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, hiệu là Phổ Chiếu (普照), người vùng Ngô Hưng (呉興). Ông xuất gia lúc còn trẻ, theo Tịnh Giác Nhân Nhạc (淨覺仁岳) học giáo lý Thiên Thai và được vị này mật truyền tâm ấn cho. Ông còn thông cả điển tịch ngoài đời, biện tài vô ngại. Lúc bấy giờ, Thiền Sư Khế Tung (契嵩) căn cứ vào Thiền kinh mà làm ra bản đồ chư tổ với 28 vị, nhân đó ông cho rằng thuyết truyền trao pháp tạng là ngụy tạo, không có thật. Tuy nhiên, bên Thiên Thai Tông thì lại y cứ vào thuyết truyền trao pháp tạng này, bèn viết sách chỉ rõ chỗ sai lầm của Khế Tung, như vậy trãi qua mấy năm trường. Nó đã trở thành một sự kiện trọng đại đối với giới tôn giáo đương thời.
Tử Phủ
(紫府): Đạo Giáo gọi Tử Phủ là nơi cư trú của tiên nhân. Như trong tác phẩm Bão Phác Tử (抱朴子), phần Khư Hoặc (祛惑) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có đoạn: “Cập chí thiên thượng, tiên quá Tử Phủ, kim sàng ngọc kỉ, hoảng hoảng dục dục, chơn quý xứ dã (及至天上、先過紫府、金牀玉几、晃晃昱昱、眞貴處也, lên tận trên trời, trước phải qua Tử Phủ, có sàng vàng ghế ngọc, sáng lạn, rực rỡ, đúng là chốn quý báu vậy).” Hay trong bài Ký Thiên Thai Đạo Hữu (寄天台道友) của Quán Hưu (貫休, 832-912) nhà Đường có câu: “Tử Phủ xưng phi viễn, thanh khê kính bất vu (紫府稱非遠、清溪徑不迂, Tử Phủ đâu xa lắm, khe trong lối cũng gần).” Trong bài Cổ Thanh Lương Truyện Tự (古清涼傳序) của Cổ Thanh Lương Truyện (古清涼傳, Taishō Vol. 51, No. 2098) có đoạn: “Tử Phủ danh sơn, thất Phật sư thê chơn chi xứ, Thanh Lương Thánh cảnh, vạn Bồ Tát mai tích chi phương (紫府名山、七佛師棲眞之處、清涼聖境、萬菩薩晦跡之方, Tử Phủ núi thiêng, ấy chốn bảy Phật thầy tu chơn, cảnh Thánh Thanh Lương, là nơi vạn Bồ Tát ẩn tích).” Hay trong Thiên Như Duy Tắc Thiền Sư Ngữ Lục (天如惟則禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1403) quyển 5, bài Tặng Đệ Nhân Viễn Nhập Kinh (贈弟仁遠入京) có đoạn: “Bạch vân phong tại tịch dương biên, mục tống Ngô vân nhập Sở thiên, nhữ đáo Yến Sơn khước hồi thủ, tam thiên lí ngoại hựu tam thiên, cẩm bào hoa ánh phụng trì minh, ngọc bội quang diêu Tử Phủ thanh, phú quý trước nhân như túy mộng, ỷ môn từ mẫu nhãn trường tinh [tỉnh] (白雲峰在夕陽邊、目送吳雲入楚天、汝到燕山卻回首、三千里外又三千、錦袍花映鳳池明、玉珮光搖紫府青、富貴著人如醉夢、倚門慈母眼長醒, mây trắng đỉnh non bóng xế chiều, trời Sở mây Ngô tiễn bước theo, người đến Yến Sơn quay đầu lại, ngoài ba ngàn dặm lại thêm nhiều, cẩm bào hoa rực hồ phụng sáng, ngọc bội rạng soi Tử Phủ xanh, giàu sang bao kẻ mau tỉnh mộng, tựa song từ mẫu dõi mắt trông).”
tử sinh
Death and life, mortality, transmigration.
Tử sinh 死生
[ja] シショウ shishō ||| Death and rebirth (cyuta-udbhava). (s:cyuta-udbhava). => Chết và tái sinh.
Tử thư
死書; T: bardo thodol [bar-do thos-grol]; nguyên nghĩa là »Giải thoát qua âm thanh trong Trung hữu«;|Là một bí lục, được xem là trứ tác của Ðại sư Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava), gồm những lời khai thị cho người sắp chết (Tử). Tử thư được tìm thấy khoảng thế kỉ thứ 14, đó là một Ter-ma. Giai đoạn của cái chết được chia làm ba phần, liên hệ chặt chẽ với Ba thân Phật:|1. Trong giai đoạn đầu ngay sau khi chết, Pháp thân (s: dharmakāya) xuất hiện dưới dạng Cực quang (s: ābhāsvara), ánh sáng rực rỡ;|2. Trong giai đoạn hai, Báo thân (cũng gọi là Thụ dụng thân; s: saṃbhogakāya) xuất hiện dưới dạng Ngũ Phật hay Phật gia (buddha-kula), gồm hình dáng các vị Phật với những màu sắc khác nhau;|3. Trong giai đoạn ba, Ứng thân (nirmāṇa-kāya) xuất hiện dưới dạng sáu đường tái sinh (Lục đạo) của Dục giới (Vòng sinh tử; s: bhavacakra).|Trong cả ba giai đoạn đó, thần thức của người chết có thể đạt giải thoát bằng cách lắng nghe lời khai thị để nhận ra tất cả là do tâm thức mình đang chiếu hiện mà nhờ vậy đạt Niết-bàn.|Giáo pháp Tử thư được tìm thấy trong Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug), Ðại cứu kính (t: dzogchen) và cả trong Bôn giáo của Tây Tạng. Ban đầu, đây là một phép tu (Nghi quỹ; s: sādhana) dành cho hành giả quán cảnh tượng cái chết, một phương pháp tu của Mật tông. Dần dần theo thời gian, Tử thư trở thành nội dung khai thị trong lễ cầu siêu cho người chết. Dựa trên Tử thư, lễ này chia làm nhiều giai đoạn, từ lúc mô tả cảnh tượng lúc chết, đến lúc xuất hiện các ánh sáng, phương thức chủ động lựa chọn nơi chốn đầu thai.|Quá trình chết được Tử thư mô tả như một giai đoạn dần dần rủ bỏ thân Tứ đại, các uẩn (Ngũ uẩn) dần dần hoại diệt. Khi cái chết vừa đến, thế giới ngoại quan vừa tan rã thì thể tính sâu kín nhất của tâm liền xuất hiện dưới dạng ánh sáng rực rỡ, được gọi là Cực quang (s: ābhāsvara). Nếu người chết không tự nhận biết thời điểm để tự »đồng hoá« với ánh sáng này đạt giải thoát thì sẽ »bất tỉnh ba bốn ngày« và sau đó tỉnh dậy với một thân được hình thành bằng ý thức – thức thân (s: manokāya) – thân này sẽ là chủ thể cảm nhận các kinh nghiệm tiếp theo.|Trong 14 ngày sau đó – khoảng thời gian được gọi là Pháp tính trung hữu (s: dharmatāntarābhava) – chủ thể đó sẽ thấy hiện ra Ngũ Phật và quyến thuộc (Phật gia), chứng kiến sự xuất hiện của 42 vị Hộ Thần dưới dạng tịch tịnh (s: śānta) và 58 vị dưới dạng phẫn nộ (s: krodha). Các vị Hộ Thần này xuất hiện trong phạm vi của một Man-đa-la và người ta có thể mô tả chính xác chư vị trong Tử thư được là vì sử dụng một Nghi quỹ (s: sādhana) với khả năng bao gồm, soi rọi tất cả những cảm xúc, tâm trạng của một cá nhân. Khía cạnh tính Không – tính trống rỗng của chư pháp – được biểu hiện qua các vị Hộ Thần dưới dạng tịch tịnh, khía cạnh sáng rõ được biểu hiện qua các vị phẫn nộ. Tử thư khai thị người chết rằng những hình ảnh không có thật chất – chúng chỉ là phản ánh, là những trình hiện của chính tâm thức.|Nếu thần thức cũng không trực chứng được điều này, thân trung hữu chuyển qua một giai đoạn khác kéo dài 28 ngày – được gọi là Trung hữu của sự trưởng thành và tái sinh (bhavāntarābhava). Trong 21 ngày đầu, trung hữu sẽ sống lại các Nghiệp mình đã tạo ra, 7 ngày sau là giai đoạn thần thức tìm một nơi tái sinh.
tử thư
Bardo thodol (T), Book of the death.
tử thần
Namuci (S), God of death Ñāṇa (P).
tử tâm
Cuti-citta (S), Dying-consciousness.
Tử Tâm Ngộ Tân
(死心悟新, Shishin Goshin, 1043-1114): xem Hoàng Long Ngộ Tân (黃龍悟新, Ōryū Goshin) bên trên.
; 死心悟新; C: sǐxīn wùxīn; J: shishin goshin; 1044-1115;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế dòng Hoàng Long. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Hối Ðường Tổ Tâm. Từ dòng của Sư, Thiền Lâm Tế được truyền sang Nhật Bản lần đầu qua Minh Am Vinh Tây.|Sư họ Vương, quê ở Khúc Giang Thiều Châu. Dáng người Sư cao lớn mặt đen giống như người Ấn Ðộ. Sư xuất gia tại viện Phật-đà, phong cách xuất chúng. Ban đầu Sư đến Thiền sư Tú Thiết Diện. Sau một Pháp chiến, Thiền sư Tú thừa nhận nhưng Sư chẳng lưu ý, phủi áo ra đi.|Ðến Hoàng Long, Sư yết kiến Thiền sư Bảo Giác. Sau một lúc đàm luận Bảo Giác thấy Sư chưa ngộ bèn nói: »Nếu tài năng chỉ thế, nói ăn đâu no bụng người?« Sư bế tắc không lời nói, tỏ rõ: »Con đến đây cung gãy tên hết, cúi mong Hoà thượng từ bi chỉ chỗ an lạc.« Bảo Giác liền dạy: »Một hạt bụi bay hay che trời, một hạt cải rơi hay phủ đất, chỗ an lạc tối kị Thượng toạ có bao nhiêu thứ tạp nhạp. Cần phải chết toàn tâm từ vô thuỷ kiếp đến nay mới nên vậy.«|Một hôm, Sư ngồi lặng lẽ dưới tấm bảng, chợt thấy Tri sự đánh Cư sĩ và khi nghe tiếng roi, Sư bỗng nhiên thông suốt, quên mang giày chạy đến Bảo Giác trình: »Người trong thiên hạ thảy là học được, con đã ngộ được rồi.« Bảo Giác cười nói: »Tuyển Phật được người đứng đầu bảng, ai dám đương.« Từ đây Sư được hiệu là Tử Tâm, chỗ ở của Sư có bản hiệu là »Tử Tâm thất.«|Sư ban đầu trụ Vân Nham, sau dời trụ tại Thuý Nham. Tại đây có miếu Thần, dân làng cúng rượu thịt liên miên. Sư sai tri sự đi phá miếu, tri sự không dám đi sợ chuốc hoạ. Sư bảo: »Nếu hay tác hoạ, ta tự làm đó.« Nói xong Sư đích thân đi huỷ miếu. Có con rắn to nằm đưa đầu như muốn mổ. Nghe Sư quở, nó trốn đi. Sư về nghỉ an ổn và không bao lâu, Sư trở về Vân Nham. Có một vị quan làm lời kí cho một Kinh tàng. Ông lấy lời ghi mộ của người thân khắc bên cạnh cái bia. Sư không hài lòng nói: »Cái mộ mà xem thường không sợ hoạ sao?« Sư nói chưa dứt, sét đánh nổ vỡ tấm bia.|Niên hiệu Chính Hoà thứ 5, ngày 13 tháng 12, buổi chiều Tiểu tham, Sư nói kệ. Ðến ngày rằm, Sư thị tịch, thọ 72 tuổi, 45 tuổi hạ.
tử tâm ngộ tân
Shishin goshin (J)Tên một vị sư.
Tử Tư
(子思, 429-434 ttl.): cháu của Khổng Tử, tên Cấp (伋), tự là Tử Tư. Ông đã từng theo học với Tằng Tử (曾子) và viết ra bộ Trung Dung (中庸) rất nổi tiếng.
tử tướng
The appearance of death.
tử tưởng
Death contemplation.
tử tặc
The robber death.
Tử Vi
(紫微): tên của một trong 15 ngôi sao nằm phía Đông Bắc của Bắc Đẩu. Theo truyền thuyết Thiên Văn của Trung Quốc, ngôi sao này là chỗ ở của Thiên Đế, còn các ngôi sao khác là các vị hạ thần hộ vệ. Từ đó, nó có nghĩa là vương cung.
Tử Vi Đại Đế
(紫微大帝): một trong Tam Quan (三官), gồm Thiên Quan (天官), Địa Quan (地官) và Thủy Quan (水官). Vị này là Thiên Quan, tức Thiên Quan Đại Đế (天官大帝), còn gọi là Thượng Nguyên Tứ Phước Thiên Quan Nhất Phẩm Tử Vi Đại Đế (上元賜福天官一品紫微大帝), Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên Quan Tử Vi Đại Đế (上元一品賜福天官紫微大帝), lệ thuộc Ngọc Thanh Cảnh (玉清境). Thiên Quan được kết thành bởi 3 khí xanh vàng và trắng, chủ quản các trời, đế vương. Sinh nhật của vị này nhằm ngày Rằm tháng Giêng. Vào ngày này, Thiên Quan xuống nhân gian, dò xét tội phước của con người và ban phước; nên có danh hiệu là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福).
Tử Vi Đẩu Số
(紫微斗數) có 2 loại pháp tắc là Đại Hạn (大限) và Tiểu Hạn (小限). Đại Hạn chỉ về trạng huống, vận thế của cá nhân trong khoảng thời gian 10 năm âm lịch. Tiểu Hạn là trạng huống, vận thế của cá nhân trong khoảng thời gian 1 năm âm lịch. Vận trình của 1 năm được gọi là Lưu Niên (流年). Sự lành dữ của Lưu Niên là căn cứ chủ yếu vào cung vị do Lưu Niên Thái Tuế (流年太歲) lâm vào. Tỷ dụ như tuổi Tân Tỵ (辛巳) thì Lưu Niên Thái Tuế của tuổi này là ở tại Tỵ và Lưu Niên Cung Mạng (流年宮命) tại cung Tỵ. Y cứ vào Lưu Niên mà sao biến hóa có tên là Lưu Diệu (流曜); như Lưu Lộc (流祿), Lưu Mã (流馬), Lưu Khôi (流魁), Lưu Việt (流鉞), Lưu Xương (流昌), Lưu Khúc (流曲), Lưu Dương (流羊), Lưu Đà (流陀), Lưu Hóa Lộc (流化祿), Lưu Hóa Quyền (流化權), Lưu Hóa Khoa (流化科), Lưu Hóa Kỵ (流化忌), v.v. Đại Hạn còn có cách gọi khác của cái chết, vận đến; như “Đại hạn vu Bính Tuất niên, thất nguyệt, nhị thập cửu nhật, Thân bài mạng chung (大限于丙戌年七月二十九日申牌命終, mất vào lúc giờ Thân, ngày 29 tháng 7 năm Bính Tuất).” Như trong Dụ Thế Minh Ngôn (喩世明言) có câu: “Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt, phu thê nghĩa trọng dã phân ly, nhân sanh tợ điểu đồng lâm túc, đại hạn lai thời các tự phi (父母恩深終有別、夫妻義重也分離、人生似鳥同林宿、大限來時各自飛, cha mẹ ơn sâu còn ly biệt, vợ chồng nghĩa trọng cũng rời tay, nhân sinh như chim cùng rừng trú, đại hạn đến thời mỗi tự bay).” Thay vì từ Đại Hạn này, đối với trường hợp người trẻ tuổi mất sớm thì có thể dùng từ “tử ư (死於, chết vào lúc)” hay “tốt vu (卒于, chết vào lúc)”, v.v. Đối với trường hợp là Phật tử, có thể dùng từ “vãng sanh ư (徃生於, vãng sanh vào lúc).”
tử vong
Dead and gone (or lost).
tử vương
Yama, as Lord of death and hell.
Tử Y
(紫衣, Shie): pháp y hay y màu đỏ tía do triều định ban tặng cho vị cao tăng có đức độ lớn, còn gọi là Tử Phục (紫服), Tử Ca Sa (紫袈裟). Vào năm đầu (690) niên hiệu Tải Sơ (載初) nhà Đường, Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) lấy Tử Y ban tặng cho nhóm Pháp Lãng (法朗) do đã có công trong việc phiên dịch Đại Vân Kinh (大雲經). Nguyên lai Phật chế không được dùng màu đỏ tía, mùa lụa đào; tuy nhiên ở Trung Quốc từ ngàn xưa đã cho phép các vị cao quan mặc triều phục màu hồng, đỏ tía, rồi chế ra loại dây thao màu đỏ, đỏ tía, xanh, đen, vàng, v.v., để phân biệt vị trí cao thấp của các quan; còn tu sĩ cũng bắt chước như vậy nhưng chỉ mang Tử Y mà thôi. Từ năm thứ 2 (969) niên hiệu Khai Bảo (開寳) nhà Tống cho đến năm thứ 4 (979) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國), cứ mỗi dịp đản sanh của Thiên tử, nhà vua cho mời chư tăng khắp thiên hạ đến cung điện, thi 10 điều về nghĩa của kinh luật luận, nếu người nào thông hết cả 10 điều thì được ban cho Tử Y. Người mà nhận được Tử Y từ chính tay Thiên tử trao được gọi là Thủ Biểu Tăng (手表僧). Sau đó, nảy sinh sự lạm phát nên tạm thời bị phế chỉ việc trao Tử Y, chỉ khi nào có sự tiến cử của Thân Vương, Tể Tướng, Trưởng Quan ở địa phương mới được công nhận. Tại Nhật Bản, người mang Tử Y đầu tiên là Huyền Phưởng (玄昉, Genbō). Vào năm thứ 2 niên hiệu Linh Quy (靈龜), tức năm thứ 4 (716) niên hiệu Khai Nguyên (開元) đời vua Huyền Tông (玄宗) nhà Đường, ông sang nhà Đường cầu pháp, được vua Huyền Tông cúng dường, tôn lên làm quan Tam Phẩm và mang Tử Y. Sau khi trở về nước, Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇) còn ban thêm cho Tử Ca Sa. Vị tăng của Thiền tông mang Tử Y đầu tiên là vào năm đầu (1249) niên hiệu Kiến Trường (建長). Đó chính là Đạo Nguyên (道元, Dōgen) của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), tổ khai sáng Tào Động Tông Nhật Bản, người được tặng cả danh hiệu Thiền Sư và Tử Y. Vị tăng Tịnh Độ Tông mang Tử Y đầu tiên là vào khoảng thời gian niên hiệu Kiến Trị (建治, 1275-1277). Nhiên A Lương Trung (然阿良忠) được mời vào cung nội truyền trao giới Viên Đốn Nhất Thừa và nhân đó được ban cho Tử Y cũng như pháp cụ. Thời xưa Tử Y ở vị trí cao nhất, kế đến là y lụa đào; nhưng đến thời Cận Đại thì cả hai được xếp ngang hàng với nhau. Trú trì những ngôi chùa tổ của các tông phái hay chư vị cao tăng đều có thể dùng 2 loại y này. Vào năm thứ 4 (1627) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), Hoàng Thất ban Tử Y cho các vị tăng ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) và Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), việc này gây xung đột với chính quyền Mạc Phủ và tạo thành “Sự Kiện Tử Y” nổi tiếng trong lịch sử Phật Giáo Nhật Bản.
tử úy
The fear of death.
Tử Đình Tổ Bách
(子庭祖柏, Shitei Sohaku, khoảng thế kỷ 13-14): vị tăng dưới thời nhà Nguyên, xuất thân vùng Tứ Minh (四明), tự là Tử Đình (子庭), có năng khiếu vẽ hoa lan, làm thơ, sống cuộc đời phóng lãng vân du đó đây. Trước tác của ông có Bất Hệ Chu Tập (不繫舟集).
Tử Đảo Tự
(子島寺, Koshima-dera): còn gọi là Tử Đảo Sơn Tự (子島山寺), Tử Đảo Sơn Thiên Thọ Viện (子島山千壽院), Quán Giác Tự (觀覺寺), Nam Thanh Thủy Tự (南清水寺), hiện tọa lạc tại Takatori-chō (高取町), Takaichi-gun (高市郡), Nara-ken (奈良縣). Vào năm 760 (niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự [天平寶字] thứ 4), Báo Ân (報恩) kiến lập chùa gần bên đền thờ Tử Đảo Thần (子島神); rồi nhờ Phản Thượng Điền Thôn Lữ (坂上田村麿) quy y, vị trú trì đời thứ 2 của chùa là Diên Trấn (延鎭) hiệp lực xây dựng Thanh Thủy Tự (清水寺, Kiyomizu-dera) ở vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama), kinh đô Kyoto, và sát lập chùa này thành chùa con của Thanh Thủy Tự. Trong thời gian niên hiệu Vĩnh Quán (永觀, 983-984), Chơn Hưng (眞興) làm trú trì chùa, thọ phép Quán Đảnh của Nhân Hạ (仁賀), và khai sáng Dòng Tử Đảo (子島流, hay Dòng Hồ Phản [壺坂流]). Chơn Hưng chuyển từ Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) đến chùa này, lập nên một ngôi viện của Quán Giác Tự để an trí tượng Đại Nhật Như Lai. Đó chính là vùng đất hiện tại. Dưới thời đại Nam Bắc Triều, chùa bị cháy rụi vì nạn bịnh hỏa; rồi sau đó nhờ sự hỗ trợ của Cao Thủ Thành Chủ (高取城主), chùa được phục hưng lại và trở thành ngôi Biệt Viện của Nhất Thừa Viện, trực thuộc Hưng Phước Tự. Đến thời Minh Trị Duy Tân, chùa chuyển sang Chơn Ngôn Tông. Chùa hiện lưu trữ 2 bức Tử Đảo Mạn Trà La, 1 bức tượng đứng Thập Nhất Diện Quan Âm rất cổ.
Tử 死
[ja] シ shi ||| (1) To die; death (marana). One of the four basic forms of suffering 四苦. (2) The dead (mrta). Unmoving. (3) To kill. => Chết, sự chết (s: marana). Một trong bốn thứ khổ chính (Tứ khổ 四苦). Chết, tắt ngấm (mrta). Bất động. Giết chết.
tự
Vihàra, Sanghàràma (S). An official hall, a temple, adopted by Buddhists for a monastery. Tự viện. Monastery grounds and buildings, a monastery.
tự chủ
Danti (P), Self-control.
tự chứng
Siddhanta (S), Svasiddhānta (S) Tất đàMột trong Thập lục đế của phái Chánh lý ở Ấn.
; The witness within, inner assurance.
tự chứng nội chứng
Xem Nội chứng.
tự chứng pháp
Pratyātmādharma (S), Dharma slef-recognition.
tự chứng pháp tánh
Pratyātmādharmata (S), Self-recognition on dharma nature.
Tự chứng phần 自證分
[ja] ジショウブン jishōbun ||| 'Self-witnessing aspect.' One of the four aspects of perception as explained in Consciousness-only theory by Dharmapāla 護法. The function of consciousness of subjectively knowing. According to this function, the subject cognizes the object. The ideograph 自 (zi) refers to the function of the self (subject: 見分). The witnessing of the functioning of the subjective aspect. => Một trong bốn phạm trù nhận thức do ngài Pháp Hộ giải thích trong giáo lý Duy thức. Là tác dụng của thức về chủ thể nhận biết. Theo chức năng nầy, chủ thể nhận thức đối tượng. Chữ Tự 自 (zi) có nghĩa là chức năng của ngã (chủ thể: kiến phần 見分). Là vật đối chứng cho phạm trù nhận biết của chủ thể.
tự chứng sở hành cảnh giới
Pratyātmāga-tigocara (S), Pratyātmāryajāna-gocara (S).
tự chứng thánh trí
Pratyàtmàryajnàna (S). Personal apprehension of Buddha-truth.
tự chứng thánh trí sở chứng
Svapratyāt-marya-jānadhigama (S)Xem Tự chứng trí.
tự chứng thân
A tittle of Vairocana, his dharmakàya of self-assurance, or realization, from which issues his retenue of proclaimers of the truth.
tự chứng trí
Svapratyātmajāna (S)Tự giác trí.
Tự do tự tại 自由自在
[ja] ジユジザイ jiyujizai ||| Free, unfettered, liberated; not trapped by compulsions. A synonym for the state of enlightenment. 〔碧巖録、 T 2003.48.144c〕 => Tự do,giải thoát, không bị trói buộc, không bị khó xử bởi cưỡng bách. Đồng nghĩa với trạng thái chứng ngộ.
Tự do 自由
[ja] ジユ jiyu ||| (1) Self-established; independently existent. (2) Free, unfettered, liberation; not trapped by compulsions. A synonym for the state of enlightenment. Same as 自在. 〔臨濟録; 六祖壇經〕 (3) To do as one pleases in a selfish manner. => 1. Tự lập, hiện hữu một các độc lập. 2. Tự do, không bị trói buộc, không bị khó xử bởi cưỡng bách.
Tự dư 自余
[ja] ジヨ jiyo ||| The others; the rest. => Những người khác, phần còn lại.
tự giác ngộ tâm
A mind independent of externals, pure thought, capable of enlightenment from within.
tự giác thánh trí
The uncaused omniscience of Vairocana. Also called pháp giới thể tính trí, kim cương trí.
tự giác trí
Avadhi (S).
tự giác tính
Svabuddhabuddhatā (S).
Tự giám 寺監
[ja] ジケン jiken ||| A temple superintendent. => Người trông coi công việc trong chùa.
Tự giới 自戒
[ja] ジカイ jikai ||| To observe the precepts; keep the precepts. => Tự giữ gìn giới luật, hộ trì các điều giới.
tự hành hóa tha
To discipline, or perform, oneself and (or in order to) convert or transform others. Xem tự lợi lợi tha.
Tự khiêm 自謙
[ja] ジケン jiken ||| 'Self-satisfaction.' => Tự hài lòng.
Tự kiến 自見
[ja] ジケン jiken ||| (1) Pride, arrogance. (2) The view of the body as an inherently existence self; synonymous with shenjian 身見. (3) To see for oneself, to see for itself. (4) One's own view or opinion. => 1. Kiêu hãnh, cao ngạo. 2. Quan niệm cho rằng thân thể là vốn tự tồn tại. Đồng nghĩa với Thân kiến (c: shenjian 身見). 3. Thấy về riêng mình, thấy chính nó. 4. Quan điểm riêng ý kiến riêng.
Tự kỷ 自己
[ja] ジコ jiko ||| (1) Oneself, ego. One's original self. (2) That which is born possessing the buddha-nature. => 1. Tự mình, chính mình. Ngã. Bản tâm. 2. Phật tính vốn có từ khi vừa mới sinh ra.
tự lợi
Atmahitam (S). Self-profit; beneficial to oneself.
tự lợi lợi tha
"Self-profit profits others", i.e. the essential nature and work of a bodhisattva, to benefit himself and benefit others, or himself press forward in the Buddhist life in order to carry others forward.
Tự lực
自力; J: jiriki;|Tự sức mình đạt Giác ngộ, chẳng hạn bằng phương pháp Toạ thiền (j: zazen). Ðối nghĩa với tự lực là Tha lực (他力; j: tariki), nghĩa là lực từ bên ngoài. Tha lực hay được dùng để chỉ quan niệm dựa vào một đức Phật, thí dụ Phật A-di-đà để sinh vào Tây phương Tịnh độ. Ngược lại, Thiền tông hay được xem là phương pháp dựa vào tự lực để giải thoát.|Tuy nhiên – như Thiền tông vẫn nhấn mạnh –, mỗi người đều mang sẵn Phật tính trong chính mình. Vì vậy nên sự phân biệt giữa tự lực và tha lực chỉ nói đến cách tu và thật ra cũng không cần thiết. Hành giả theo phép tu tha lực cũng phải tự lực, tinh tiến để mở được cánh cửa của tâm thức mà đến với tha lực nọ. Ngược lại, tự lực chẳng qua là biểu hiện cụ thể của tha lực đó.
tự lực
Self-power, Jiriki (J).
; One's own strength, as contrasted with tha lực the strength of another.
Tự lực 自力
[ja] ジリキ jiriki ||| Self-power. One's own abilities and efforts toward the attainment of enlightenment, which the Pure Land School 淨土宗 rejects as Ina-Zpplicable to the matter of attainment of salvation, recommending instead the reliance on the other power 他力 of Amitābha 阿彌陀 or another great Buddha or bodhisattva. => Năng lực của chính mình. Khả năng nỗ lực đạt đến giải thoát giác ngộ của người tu tập mà Tịnh độ tông từ khước như là điều không thích hợp cho sự cứu độ, thay vì vậy nên đề ra niềm tin vào tha lực cứu độ của Đức Phật A-di-đà hoặc một Đức Phật hay Đại Bồ-tát nào khác. [ja] ジジュ jiju ||| To receive by oneself; to receive for oneself. Often an abbreviation for 自受用.
tự mình thể nghiệm
Ehipassiko (S).
tự ngôn trị
Paṭiātakarana (P).
tự ngộ
Svartha (S).
tự nhiên
Svayambhù (S). Also tự nhĩ, pháp nhĩ. Self-existing, the self-existent; Self so, so of itself, natural, of course, spontaneous. Uncaused existence.
Tự nhiên huệ 自然慧
[ja] ジネンエ jinen'e ||| Natural wisdom; innate wisdom; self-originating wisdom. 〔法華經 T 262.9.13b22〕 => Trí huệ bản hữu, trí huệ bẩm sinh; trí huệ bản hữu.
tự nhiên hư vô thân
A Buddha's spiritual or absolute body, his dharmakàya; also those who are born in Paradise, i.e. who are spontaneously and independently produced there.
tự nhiên ngoại đạo
Sect of heretics denying Buddhist cause and effect and holding that things happen spontaneously.
tự nhiên ngộ đạo
Enlightenment by the inner light, independent of external teaching; to become Buddha by one's own power, e.g. Sàkyamuni who is called Tự nhiên Thích Ca.
Tự nhiên sinh 自然生
[ja] ジネンショウ shinenshō ||| The view that the production of things has its own substance. Spontaneously arisen, naturally arisen. => Quan niệm sự sinh khởi của các hiện tượng đều có bản chất riêng của chúng. Tự nhiên sinh ra, tự nhiên diệt đi.
tự nhiên thành phật đạo
Svayambhuvah (S). Independent attainment to Buddhahood.
tự nhiên thành tựu chơn ngôn
Arṣagāthā (S)A lị sa kệ.
tự nhiên thân
Ngo bo nyid sku (T), Svabhāvikakāya (S)Tự tính thân.
tự nhiên trí
The intuitive or inborn wisdom of a Buddha, untaught to him and outside the causal nexus.
Tự nhiên trí 自然智
[ja] ジネンチ jinenchi ||| Natural wisdom; knowledge born of itself; intuitive wisdom; self-originating wisdom (svayaṃbhu-jñāna). Wisdom that one possesses innately, which is not the result of conditioning. Synonymous with 自然本智 and 本智. 〔法華經 T 262.9.13b26〕 => (s: svayaṃbhu-jñāna). Trí huệ bản hữu, trí huệ bẩm sinh; trí huệ bản hữu. Trí huệ vốn có từ bẩm sinh, không phải có được do kết quả của điều kiện. Đồng nghĩa với Tự nhiên bản trí 自然本智 và Bản trí 本智.
tự nhiên từ
Intuitive mercy possessed by a bodhisattva, untaught and without causal nexus.
Tự pháp 嗣法
[ja] シホウ shihō ||| To succeed, or inherit the dharma from one's teacher [傳法]. The transmission of the dharma from teacher or disciple. => Kế nghiệp, kế thừa dòng pháp được lưu truyền từ thầy. Truyền pháp[傳法]. Sự truyền thừa pháp hệ từ thầy đến trò.
tự quái
Hsu-kua (C), Sequences of Hexagrams Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
Tự Siêu 自超
[ja] ジチョウ Jichō ||| Chach'o See 86-8 無學 Muhak. => c: Chach'o. Xem Tự Siêu Vô Học (無學 c: Muhak).
Tự tha bình đẳng 自他平等
[ja] ジタビョウドウ jita byōdō ||| The equlaity of self and other in their original nature. (ātma-para-samatā) 〔二障義HPC 1.705b〕 => Sự bình đẳng giữa mình và người khác trong bản tánh (s: ātma-para-samatā). 自余
Tự tha 自他
[ja] ジタ jita ||| Self and other. (Skt. ātma-para; Tib. bdag daṅ gshan) (Skt. ātma-para; Tib. bdag daṅ gshan) => Mình và người khác.
tự thiêu
Self-immolation.
tự thuyết kinh
Udana (S).
Tự thuyết kinh 自説經
[ja] ジセツキョウ jisetsukyō ||| Chinese translation of the Sanskrit udāna. See 優陀那. => Hán dịch từ tiếng Phạn udāna . Xem Ưu-đà-na 優陀那.
Tự thuyết 自説
[ja] ジセツ jisetsu ||| (1) To explain on one's own accord, without the prompt of a question. (2) Chinese translation of the Sanskrit udāna 優陀那, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => 1. Giảng thuyết do ý muốn riêng của mình, không do sự gợi ý của người khác. Hán dịch từ tiếng Phạn udāna 優陀那, là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經)
Tự Thư
(嗣書, Shisho): quyển thứ 16 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏), là phần Thị Chúng (示眾) tại Hưng Thánh Tự (興聖寺) vùng Vũ Trị (宇治, Uji), vào ngày 7 tháng 3 năm 1241. Đây là thiên nêu rõ việc kế thừa dòng pháp do chư Phật Tổ truyền thừa, rồi dựa trên cơ sở những điều nghe thấy khi sang cầu pháp bên nhà Tống, Đạo Nguyên đã ghi rõ các hình thức được truyền thừa như thế nào trong thất của các phái thuộc Ngũ Gia bên Trung Quốc.
Tự thể phần 自體分
[ja] ジタイブン jitaibun ||| One of the four aspects of Consciousness-only. The self-witnessing aspect. See zizhengfen 自證分. => Một trong bốn phạm trù nhận thức theo giáo lý Duy thức. Là Tự chứng phần. Xem Tự chứng phần 自證分).
Tự thể ái 自體愛
[ja] ジタイアイ jitaiai ||| Attachment to a self essence. Synonymous with 我愛. 〔對法論T 1606.31.714c1-5〕 => Chấp trước vào thân thể mình. Đồng nghĩa với Ngã ái 我愛.
Tự thể 自體
[ja] ジタイ jitai ||| (ātman, svabhāva, bhāva-svabhāva, ātma-bhāva). (1) Self, oneself, itself. Substance, entity, the thing in itself. Original nature, real character. (2) The condition of the self. The body. See Abhidharmakośa-bhāsya, vol. 5, p. 10-11; Yogācārabhūmi-śāstra (T. vol. 30, p. 396c). => (s: ātman, svabhāva, bhāva-svabhāva, ātma-bhāva). 1. Tự mình, chính mình, chính nó. Bản thể, thực thể, vật thể như chính nó. Tự tính, thực tính. 2. Thực trạng của ngã. Thân thể. Xem A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận cuốn 5, trang 10-11; Du-già sư địa luận (cuốn 30, trang 396c).
tự thệ thụ giới
To make the vows and undertake the commandments oneself (before the image of a Buddha), i.e. self-ordination when unable to obtain ordination from the ordained.
Tự Thọ Dụng Tam Muội
(自受用三昧, jujuyōzammai): cảnh giới trong đó đức Phật tự thọ dụng pháp lạc được thông qua chứng ngộ. Chính đây là cảnh giới của Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), nên người khác không thể nào biết được; và phương pháp Tọa Thiền của Phật Tổ chánh truyền chính là diệu thuật để đạt đến cảnh giới này. Như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taisho No. 2077) quyển 32 có đoạn: “Đề Hình Ngô Vĩ Minh cư sĩ tự Nguyên Chiêu, cửu tham Chơn Hiết Liễu Thiền Sư, đắc Tự Thọ Dụng Tam Muội vi cực trí (提刑吳偉明居士字元昭、久參眞歇了禪師、得自受用三昧爲極致, quan Đề Hình Ngô Vĩ Minh cư sĩ, tự là Nguyên Chiêu, tham học với Thiền Sư Chơn Hiết Thanh Liễu một thời gian lâu, đạt được Tự Thọ Dụng Tam Muội đến cùng tột).”
Tự thọ dụng thân 自受用身
[ja] ジジュヨウシン jijuyūshin ||| The personal enjoyment body.' One of the four bodies of the Buddha. The Buddha-body that is able to completely enjoy itself by continually illuminating the true principle through the clarity of the wisdom within the mind. => Một trong bốn thân của Đức Phật. Thân có thể hoàn toàn tự thọ dụng bằng sự liên tục xuyên phóng chiếu chân thể thông qua trí tuệ sáng suốt từ bản tâm.
Tự thọ dụng 自受用
[ja] ジジュユウ jijuyū ||| (1) To receive and experience, as a result of one's previous virtuous behavior and practices, the commensurate positive effects. 〔莊嚴經論、T vol. 31, p. 609b〕(2) The realm experienced by buddhas only, which is not attained to by practitioners of the two vehicles and non-Buddhist paths. => 1. Tiếp nhận và thọ hưởng, như là kết quả mà hành giả hưởng được nhờ vào công đức tu hành trong đời trước, tương xứng với hiệu quả tích cực. 2. Cảnh giới chỉ có Đức Phật mới thể nhập được, hàng nhị thừa và ngoại đạo không thể đến được.
tự thụ dụng thân
One of the two kinds of sambhogakàya, for his own enjoyment.
tự thụ dụng độ
The third of the four Buddha-ksetra or Buddha domains, that in which there is complete response to his teaching and powers.
tự thụ pháp lạc
The dharma-delights a Buddha enjoys in the above state.
Tự thừa quả 自乘果
[ja] ジジョウカ jijōka ||| The "results of the practices of each vehicle." In Consciousness-only theory, the separate viewpoints, or realms, to where each of the practitioners of the three different vehicles (三乘) arrives. => “Kết quả từ công phu tu tập của mỗi thừa.” Theo giáo lý Duy thức tông, mỗi quan niệm, hay cảnh giới riêng biệt là do nơi mỗi hành giả tu tập theo các thừa (tam thừa 三乘) đạt đến được.
Tự Tri Lục
(自知錄, Jichiroku): 2 quyển, do Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏) nhà Minh biên, san hành vào năm thứ 33 (1605) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), là sách tu dưỡng giải thích theo nghĩa Phật Giáo ý nghĩa Công Quá Cách (功過格) của Đại Vi Tiên Quân (大微仙君) và kèm theo nhật ký tu tập. Nó được chia thành 2 phần: Thiện Môn (善門, cửa thiện) và Quá Môn (過門, cửa sai lầm). Thiện Môn có trung hiếu, nhân từ, Tam Bảo công đức, tạp thiện. Quá Môn gồm 4 phần đối nghịch với Thiện Môn như không trung hiếu, v.v. Bộ này nêu lên sự nặng nhẹ của các loại việc làm thiện và ác, theo tiêu chuẩn đó ghi lại những hành vi thiện ác hằng ngày của mình, tổng kết vào mỗi tháng, mỗi năm để phản tỉnh và tu dưỡng.
Tự tri 自知
[ja] ジチ jichi ||| To know for oneself; to know true reality for oneself. One of the four knowledges 四知. => Biết chính mình; Biết rõ thực tại của chính mình. Là một trong Tứ trí 四知.
tự trí
Svabuddhi (S).
tự tài chủ bồ tát
Xem Phong Tài Bồ tát.
tự tác tự thụ
As one does one receives, every man receives the reward of his deeds, creating his own karma.
tự tánh
Self-nature Xem Pháp thể, Xem Tánh.
; Bản thể của tâm vô hình vô thanh cùng khắp thời gian không gian, cái dụng cũng cùng khắp như thế, chẳng cần qua tác ý mà ứng dụng tự động. Chúng sanh với chư Phật bình đẳng bất nhị.
tự tánh giới
Xem Nhiếp luật nghi giới.
tự tánh không
Xem Hữu pháp không.
tự tánh phân biệt
Svabhāva-vikalpa (S).
Tự tánh phân biệt 自性分別
[ja] ジショウブンベツ jishō funbetsu ||| Discrimination of self-nature. Mistakenly perceiving material and mental entities as possessing self nature. One of the eight kind of mistaken discrimination 八種分別. 〔顯揚論, T 1602.31.558b15〕 => Tác dụng phân biệt của tự tánh. Tác dụng phân biệt vốn có trong tâm thức về tâm pháp và sắc pháp. Một trong Bát chủng phân biệt 八種分別.
Tự tánh thanh tịnh 自性清淨
[ja] ジショウショウジョウ jishōshōjō ||| (prakrti-pariśuddhatva) 'Original purity.' True thusness, though tainted by the defilements attached to the mind of sentient beings, is originally pure. The purity existent in an original form of something. The original purity of the mind. One of the 'four pure elements' 四清淨法. => (s: prakrti-pariśuddhatva) Chân như, mặc dù bị nhiễm ô bởi phiền não chấp trước từ tâm chúng sinh, nhưng tự tánh vẫn thanh tịnh. Tính chất thanh tịnh hiện hữu trong tự thể của mọi vật. Thể tánh thanh tịnh của tâm. Là một trong 4 pháp thanh tịnh (Tứ thanh tịnh pháp 四清淨法.)
Tự tánh thân 自性身
[ja] ジショウシン jishōshin ||| (svabhāva-kāya); 'self-nature body.' The Buddha-body in its essential nature. Synonymous with dharma-kāya (法身). => (s: svabhāva-kāya). Thể tính của Phật thân. Đồng nghĩa với Pháp thân (s:dharma-kāya 法身).
tự tánh thọ
Svabhāva-vedaniyata (S).
Tự tánh vô ký 自性無記
[ja] ジショウムキ jishō muki ||| The karmic neutrality of the qualities of objects in the natural world, such as the color, smell, sound and taste of the trees, rivers and moutains. => Đặc tính vô ký của vật thể trong thế giới tự nhiên, như màu sắc, mùi hương, amm thanh, hương vị của cây cối, sông ngòi, núi non.
tự tánh đế
Xem Tánh.
Tự tánh 自性
[ja] ジショウ jishō ||| (1) Own-nature; self-nature; the definitive nature of something (svabhāva, dharmatā, tathatā). (2) As unchanging essence or principle, this notion is refuted by the Buddhist doctrine of emptiness 空. (3) Self-established, independent. => 1.Bản tánh; Tánh chất nhất định của một vật (s: svabhāva, dharmatā, tathatā). 2. Như là nguyên lý hoặc thể tính bất biến, giáo lý tánh không Phật giáo hoàn toàn phủ nhận ý niệm nầy. 3. Tự lập, độc lập.
tự tâm
Svacitta (S).
; Svacitta (S). Self-mind, one's own mind.
Tự tâm 自心
[ja] ジシン jishin ||| (1) One's own mind. (2) One's own thoughts. (3) Faith in Amitābha Buddha. (4) bodhi-mind. => 1. Bản tâm. 2. Tâm niệm của chính mình. 3. Niềm tin vào Đức Phật A-di-đà. 4. Tâm bồ-đề.
tự tín
Vaiśaradya (S).
Tự tính
自性; S: svabhāva; J: jishō;|Chỉ cái tính nằm sau mọi hiện tượng, cái ngã. Theo quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi sự đều không có tự tính (s: asvabhāva), vô ngã, tức là không có một cái gì chắc thật, riêng biệt đứng đằng sau các trình hiện. Ðiều đó không có nghĩa sự vật không có thật, chúng hiện diện nhưng chúng chỉ là dạng xuất hiện của tính Không, tự tính là tính Không (自性空; Tự tính không; s: svabhāva-śūnyatā). Ðây là quan điểm trung tâm của tư tưởng Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) và Trung quán (s: madhyamaka). |Tuy nhiên, trong Thiền tông và các tông phái của Ðại thừa tại Trung Quốc, biểu thị Tự tính (j: jishō) được dùng để chỉ cho bản thể thật sự của chúng sinh, vạn vật, đồng nghĩa với Phật tính (s: buddhatā; j: busshō) và nên phân biệt nó với cái tiểu Ngã mà Phật đã bác bỏ.
tự tính
Jishō (J).
; Own nature; of (its) own nature. As an intp. of Pradhàna (and resembling chân tính). As svabhàva, it is the self-substance, self nature, or unchanging character of anything.
tự tính giới
The ten natural moral laws, i.e. which are natural to man, apart from the Buddha's precepts; also tự tính thiện.
tự tính tam bảo
The Triratna, each with its own characteristic, Buddha being wisdom giác; the Law correctness chính; and the Order purity tịnh.
tự tính thanh tịnh
Xem Bản nhiên thanh tịnh.
Tự tính thanh tịnh tâm
自性清淨心; J: jishō-shōjō-shin; nghĩa là cái tâm thanh tịnh có sẵn trong mỗi chúng sinh;|Một biểu thị thường được dùng để chỉ sự hoàn hảo, Phật tính (s: buddhatā). Thanh tịnh tâm lúc nào cũng hiện diện nhưng chỉ một bậc Giác ngộ, Kiến tính mới tự biết được.
tự tính thanh tịnh tâm
Jishō-shōjō-shin (J).
tự tính thân
Xem Pháp thân.
tự tướng
Svalakṣaṇa (S).
tự tướng không
Svalakṣaṇa-śŪnyatā (S)Tướng khôngTướng tổng biệt, đồng dị của các pháp là không.
Tự tướng 自相
[ja] ジソウ jisō ||| (svātman). (1) Substance. The thing in itself. (2) Original quality. Special quality. The defining characteristic of something; A thing's or a person's original nature. (3) One's own body; oneself; itself (svātman). => (s: svātman). 1. Bản chất. Vật thể như chính nó. 2. Đặc tính nguyên thuỷ, phẩm tính đặc biệt. Đặc tính nhất định của một vật. Tự tánh của một người hay vật thể (s: svarūpa). 3. Tự thể của chính mình, chính mình, chính nó (s: svātman).
tự tướng, svalaksana (s)
Individuality, particular, personal as contrasted with cọng tướng genaral or common.
Tự Tại
(s: vaśitā, vaśitva, 自在): vaśitā có nghĩa là năng lực thuận theo ý một cách tự nhiên, trong khi đó, vaśitva là thuận theo ý một cách tự nhiên; thế nhưng, về mặt ngữ nguyên thì cả hai không khác nhau. Từ Hán ngữ “tự tại” cũng có nghĩa là thuận theo ý một cách tự nhiên, đồng nghĩa với tự do (自由), là sự hoạt dụng của thân tâm xa lìa hết thảy mọi ràng buộc, được tự do tự tại. Trong kinh điển Phật Giáo, từ này được dùng để chỉ cảnh giới cũng như năng lực vô ngại của chư Phật và Bồ Tát vốn đã xa lìa sự ràng buộc của phiền não. Về năng lực tự tại, có nhiều thuyết khác nhau như 2 loại tự tại, 4 loại tự tại, 5 loại tự tại, 8 loại tự tại, 10 loại tự tại, v.v. Trong Hoa Nghiêm Kinh (Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) quyển 26 có đề cập đến 10 loại năng lực tự tại được trang bị đầy đủ nơi vị Bồ Tát từ địa thứ 8 trở lên, gồm Mạng Tự Tại (命自在), Tâm Tự Tại (心自在), Tài Tự Tại (財自在), Nghiệp Tự Tại (業自在), Sanh Tự Tại (生自在), Nguyện Tự Tại (願自在), Tín Giải Tự Tại (信解自在), Như Ý Tự Tại (如意自在), Trí Tự Tại (智自在) và Pháp Tự Tại (法自在). Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經) quyển 68 liệt kê 5 loại năng lực tự tại của vị Bồ Tát có Pháp Thân là Thọ Mạng Tự Tại (壽命自在), Sanh Tự Tại, Nghiệp Tự Tại, Giác Quan Tự Tại (覺觀自在), và Chúng Cụ Quả Báo Tự Tại (眾具果報自在). Tại Trúc Khê Tự (竹溪寺) ở Phố Đài Nam (臺南市), Đài Loan (臺灣) có câu đối rằng: “Trúc mậu thành lâm quán tự tại, khê trừng vọng nguyệt ức cô viên (竹茂成林觀自在、溪澄望月憶孤園, trúc rậm thành rừng nhìn tự tại, khe trong trăng tỏ nhớ vườn xưa).” Hay tại Lý An Tự (理安寺) ở Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối diễn tả tâm cảnh tự tại thoát tục của đất trời như sau: “Sơn gian nhật nguyệt tự lai khứ, thiên tế phù vân vô thị phi (山間日月自來去、天際浮雲無是非, trong núi trời trăng tự đi đến, bên trời mây nỗi chẳng thị phi).”
tự tại
Attahita (P), Vaśavartana (S), Self-control Vasavattati (P), Welfare, Free, Independent, Comfort.
; Isvara (S). Can, king, master sovereign, independent, royal; intp. as free from resistance; also the mind free from delusion.
tự tại bồ tát
Xem Tự tại thiên.
tự tại nhân phật
Xem Tự Tại Thanh Phật.
tự tại pháp vương
Buddha.
tự tại thanh phật
Iśvaravana (S)Tự Tại Nhân PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
Tự Tại Thiên
(自在天): tức Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśavartin, p: Paranimmita-vasavattin, 他化自在天), âm dịch là Ba La Ni Mật Hòa Da Việt Trí (波羅尼蜜和耶越致), Ba La Duy Ma Bà Xà (波羅維摩婆奢), Ba La Ni Mật (波羅尼蜜), Ta Xá Bạt Đề (娑舍跋提); ý dịch là Tha Hóa Lạc Thiên (他化樂天) Tha Hóa Tự Chuyển Thiên (他化自轉天), Tự Tại Thiên (自在天), Tha Hóa Thiên (他化天), Đệ Lục Thiên (第六天). Cõi trời thứ 6 trong 6 Cõi Dục, vị trí cao nhất. Chúng hữu tình của cõi trời này tự tại thọ dụng cảnh dục do người khác hóa tác nên và tự mình thọ nhận sự vui sướng. Vì đây còn là trú xứ của Thiên Ma nên còn được gọi là Ma Thiên.
Tự tại thiên
dịch từ Phạn ngữ Maheśvara, phiên âm là Ma-hê-thủ-la, là vị thiên chủ ở cảnh trời cao nhất thuộc Sắc giới, cũng là cao nhất trong Ba cõi, cũng gọi là Đại tự tại thiên. Ngoại đạo cho rằng chính vị này tạo tác ra hết thảy chúng sanh trong ba cõi.
tự tại thiên
Iśvara (S)Tự Tại Bồ tát1- Vị tiên trưởng ở cảnh cao hơn hết trong cõi dục giới. 2- Cảnh trời tự tại thiên.
; Isvaradeva (S). A title of Siva, king of the devas, also known as Đại tự tại thiên. Mahesvara (S).
tự tại thiên vương
Vasavattati-devarāja (P), Vaśavartana-devarāja (S)Vị vua trời cai quản cõi trời Tha Hóa Tự Tại thiên.
tự tại trì
Xem Trì thục.
tự tại vương
A title of Vairocana.
tự tại vương phật
Xem Thế tự tại vương Phật.
; Lokisvara-Buddha (S). Also Thế tự tại vương Phật .
Tự tại định
xem siêu thiền.
Tự tại 自在
[ja] ジザイ jizai ||| (1) Translated into English as "freedom," "omnipotence," but it is difficult to find the adequate expression to deliver the meaning of zizai . What is being referred to by this term is the ability of a buddha to function throughout the universe in any way without impediment. For example, a buddha has all kinds of "supernatural powers" (神通), such as knowing the past and future, reading minds, etc. But in Buddhism, the reason such "powers" are possible is not because of the development of great personal power on the part of a buddha, but because of his/her realization of the world to be completely interpenetrated (通). Thus, the unhindered function of a buddha is nothing other than an expression of the reality of the universe. (2) The name of a god in the Lotus Sutra. 〔法華經 T 262.9.2a17〕 => 1. Được hiểu là sự tự do tuyệt đối, sức mạnh vạn năng, nhưng khó tìm được từ nào để diễn tả tương ứng với nghiã của thuật ngữ nầy. Ý nghĩa của thuật ngữ nầy là chỉ cho năng lực của Đức Phật có thể vận hành suốt khắp mọi cõi giới mà không hề chướng ngại. Chẳng hạn, một Đức Phật thường có đầy đủ năng lực thần thông (神通), như biết rõ quá khứ vị lai, biết rõ tâm niệm của người khác... Nhưng theo đạo Phật, nguyên do các năng lực thần thông nầy có được không phải vì sự phát huy một năng lực cá nhân của một vị Phật, mà do vì sự chứng ngộ của Ngài về thế giới là hoàn toàn xuyên suốt (thông 通), Do vậy, năng lực không ngăn ngại của Đức Phật chẳng khác gì hơn là thực tại của vũ trụ. 2. Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
tự tứ
có nghĩa là tùy ý. Trong khi chư tăng nhóm họp để bố-tát (tụng giới), người nào thấy mình có lầm lỗi thì tùy ý khai ra để sám hối, rồi chư tăng cũng tùy ý mà quyết định hình thức cần áp dụng cho người đã phạm.
; Pavārāna (P), Prāvarāṇa (S)Lễ tự tứNgày 15 tháng 7, ngày cuối mùa An cư. Ngày ra hạ. Ngày giải hạ.
; Pravàrana (S). To follow one's own bent, the modern term being tùy ý; it means the end of restraint, i.e. following a period of retreat.
tự tứ nhật
The last day of the annual retreat.
Tự Xã Phụng Hành
(寺社奉行, Jishabugyō): cơ quan hành chính tôn giáo của chính quyền Võ Gia từ thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1292-1573) đến Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867). Dưới thời Mạc Phủ Liêm Thương, Trung Nguyên Quý Thời (中原季時, Nakahara Suetoki) là người đầu tiên được bổ nhiệm làm chức đảm đương tố tụng của các tự viện và đền thờ Thần Xã. Chức quan này được hoàn chỉnh thành hệ thống dưới thời Hoằng An Đức Chính (弘安德政), được phối trí ở những ngôi tự viện Phật Giáo và đền thờ Thần Xã có thế lực đặc biệt. Dưới thời Mạc Phủ Thất Đinh, có vài vị quan Phụng Hành là Tăng sĩ cũng như Thần Chức, chịu trách nhiệm xử lý tố tụng. Đến thời Mạc Phủ Giang Hộ, đây là một trong 3 chức quan Phụng Hành, gồm Khám Định Phụng Hành (勘定奉行, Kanjōbugyō), Đinh Phụng Hành (町奉行, Machibugyō) và Tự Xã Phụng Hành; trở thành cơ quan có địa vị cũng như quyền năng cao nhất. Chế độ chức quyền của cơ quan này được quy định rõ vào năm 1635 (Khoan Vĩnh [寛永] 12), khi Tùng Bình Thắng Long (松平勝隆), An Đằng Trọng Trường (安藤重長), Quật Lợi Trọng (堀利重) được bổ nhiệm làm quan Phụng Hành Tố Tụng. Ban đầu, cơ quan này thuộc sự quản lý của Lão Trung (老中), nhưng đến năm 1662 (Khoan Văn [寛文] 2) thì trực thuộc Tướng Quân. Họ thống khoát toàn bộ các tự viện Phật Giáo cũng như đền thờ Thần Xã trên khắp toàn quốc, thậm chí luôn cả Tăng lữ, Thần Chức, tín đồ, v.v. Người nhậm chức quan Tự Xã Phụng Hành cuối cùng là Nội Đằng Chánh Thành (內藤正誠).
tự ái
Self-love, cause of all pursuit or seeking, which in turn causes all suffering.
tự điều tự tịnh tự độ
The sràvaka method of salvation by personal discipline, or "works": tự điều, self-progress by keeping the commandments; tự tịnh, self-purification by emptying the mind; tự độ, self-release by the attainment of gnosis, or wisdom.
Tự Đắc Huệ Huy
(自得慧暉, Jitoku Eki, 1097-1183): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thượng Ngu (上虞), Cối Kê (會稽, Tỉnh Triết Giang), họ là Trương (張). Lúc còn nhỏ, ông theo xuất gia với Trừng Chiếu Đạo Ngưng (澄照道凝) và thọ giới. Năm 20 tuổi, ông đến tham vấn Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了) ở Trường Lô Tự (長蘆寺), rồi theo hầu hạ Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), đốn ngộ Thiền chỉ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 7 (1137) niên hiệu Thiệu Định (紹定), ông khai mở đạo tràng thuyết pháp ở Bổ Đà (補陀), rồi sống các chùa khác như Vạn Thọ (萬壽), Cát Tường (吉祥), Tuyết Đậu (雪竇), v.v. Đến năm thứ 3 (1176) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông được cử đến trú trì Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Lâm An (臨安), nhưng 4 năm sau thì lại trở về Tuyết Đậu Tự. Vào ngày 29 tháng 11 năm thứ 10 cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi đời và 75 hạ lạp, được ban cho hiệu là Tự Đắc Thiền Sư (自得禪師). Ông có để lại bộ Linh Trúc Tịnh Từ Tự Đắc Thiền Sư Ngữ Lục (靈竹淨慈自得禪師語錄) 6 quyển.
tự đề cao thái quá
Attukkam sana paravambhana (P).
Tự 嗣
[ja] シ shi ||| (1) To connect; to inherit. (3) Heirs, posterity, afterwards. => Có 2 nghĩa: 1. Tiếp nối; kế thừa. 2. Người thừa kế, thế hệ nối tiếp, hậu duệ.
Tự 寺
[ja] ジ ji ||| (1) A Buddhist temple; monastery, nunnery. (2) An office. => 1. Chùa Phật giáo, Tu viện, Ni viện. 2. Công sở.
Tự 序
[ja] ジョ jo ||| (1) Precedence, order, orderly. (2) A preface. => 1. Ở trước, trật tự, thứ tự, 2. Lời tựa.
Tự 敍
[ja] jo . To write a preface. => Trò chuyện, nói. Kể lại, phát biểu, mô tả, tường thuật. Cuộc nói chuyện riêng, cuộc gặp gỡ. Sắp đặt, sắp xếp thứ bậc. Chi tiết, thứ bậc, nhóm loại.
Tự 祀
[ja] シ、ジ shi, ji ||| (1) A festival, celebration. (2) To deify, worship (a god), enshrine, consecrate. (3) A year. => Lễ, cúng tế. Sùng bái, thờ phụng (thần), trân trọng, tôn phong. Năm.
Tự 自
[ja] ジ ji ||| (1) Self, oneself. (2) by oneself, of itself, automatically, naturally. (3) From. (4) According to, accordingly. => 1. Bản thân, chính mình. 2. Do chính mình, của chính nó, tự động, tự nhiên. 3. Từ. 4. Theo, tuỳ theo; do đó.
Tựu 就
[ja] シュウ、ジュ shū, ju ||| (1) Then, thereupon; in consequence, according to. (2) At once; then. (3) To come to or go to; to complete; to follow. (4) At; regarding, concerning. concerning such-and-such. => 1. Rồi thì, do đó; do kết quả của, y theo. 2. Liền, ngay. 3. Đến, đi đến; thành tựu; theo. 4. Nhắm vào, về việc, về việc như thế.
tỳ bà
Một loại đàn có dây của Trung Quốc, tựa như đàn ghi-ta của tây phương—The P'i-P'a, a Chinese stringed musical instrument somewhat resembling a guitar of the West.
tỳ bà sa
Xem Phân biệt thuyết.
; Vibhasa (skt)—Đề Bà Sa—Tỳ Bà Thi—Tỳ Phả Sa—Tỵ Bà Sa—Quảng Thuyết—Thắng Thuyết—Dị Thuyết (Tỳ có nghĩa là “Quảng, Thắng, Dị;” Bà Sa có nghĩa là “Thuyết”)—Vibhasa means option, alternate, wider interpretation, or different explanation—See Tỳ Bà Thi.
tỳ bà sa bộ
Xem Phân biệt thuyết.
tỳ bà sa luận
Vibhāṣā-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.
; Vibhasa-sastra (skt)—Bộ Kinh Luận do Thi Đà Bàn Ni soạn, được ngài Tăng Già Bạt Trừng dịch sang Hoa ngữ vào khoảng năm 383 sau Tây Lịch. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có lẽ vào thế kỷ thứ II sau Tây Lịch, trước hay sau cuộc kiết tập kinh điển của triều đại Ca Sắc Nị Ca, chúng ta không thể nói được, một sớ giải vĩ đại và chi li mệnh danh Tỳ Bà Sa Luận (Aibhasa-sastra) được tập thành dựa trên tác phẩm của Ca Đa Diễn Ni Tử. Từ ngữ “Vibhasa” có nghĩa là “Quảng diễn,” hay những “Dị kiến,” và tiêu đề nầy tỏ ra rằng nhiều quan điểm của thời ấy được tập hợp và phê bình chi tiết, và một vài quan điểm riêng tư được tuyển chọn và ghi chép lại. Mục đích chánh của luận Tỳ Bà Sa là lưu truyền lời trần thuật chính xác của trường phái A Tỳ Đàm, từ đó trường phái nầy mới được gọi là phái Phân Biệt Thuyết (Vaibhasika)—A philosophical treatise by Katyayaniputra, translated into Chinese by Sanghabhuti around 383 A.D. According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, probably in the second century A.D., whether before or after the Buddhist Council of King Kaniska's reign, we cannot tell, a great and minute commentary named Vibhasa Sastra was compiled on Katyayaniputra's work. The word “Vibhasa” means an extreme annotation or various opinions, and this title indicates that many opinions of the time were gathered and criticized in detail and that some optional ones were selected and recorded. The main object of the Vibhasa commentary was to transmit the correct exposition of the Abhidharma School which has since then come to be called the Vaibhasika School.
tỳ bà sa luận bộ
Vaibhāṣika school (S), je trak ma wa (T), Saravastivadin (S).
tỳ bà sa luận sư
Những vị luận sư đệ tử của trường phái trung thực, mà giáo thuyết dựa vào bộ luận Tỳ Ba Sa—The Vaibhasikas were the followers of the Realistic school which based on the Vibhasa-sastra.
tỳ bà thi
Vipasyin (skt)—Tên của vị Phật đầu tiên trong bảy vị cổ Phật, mà Đức Thích Ca Mâu Ni là vị thứ bảy (Thắng Quan, Chủng Chủng Quan, Chủng Chủng Kiến. Hồi 91 kiếp sơ trước Hiền Kiếp, có vị Phật tên là Tỳ Bà Thi)—The first of the seven Buddhas of antiquity, Sakyamuni being the seventh. ** For more information, please see Thất Phật.
Tỳ Bà Thi Phật
(s: Vipaśyin-buddha, p: Vipassin-buddha, 毘婆尸佛): ý dịch là Tịnh Quán (淨觀), Thắng Quán (勝觀), vị đầu tiên trong 7 vị Phật thời quá khứ, xuất thân dòng dõi Sát Đế Lợi (刹帝利), họ là Câu Lợi Nhã (拘利若), cha tên Bàn Đầu (盤頭), mẹ là Bàn Đầu Bà Đề (盤頭婆提). Ngài xuất hiện lúc con người có tuổi thọ 80.000, thành đạo dưới cây Ba La (波羅), thuyết pháp 3 hội và độ chúng sanh được 348.000 người.
tỳ bà thi phật
Vipaśyin-buddha (S), Vipassin-buddha (P), Vipacyi (P), Vipaśyin (S), Vipassi (P), Vipassin-buddha (P), Vị Phật thứ 998 trong một ngàn đức Phật trong kỳ kiếp vừa qua, thuộc Trang nghiêm kỳ kiếp. Ngài dạy: 'Kiên nhẫn mà chịu những sự thống mạ, ấy là giới đầu tiên mà chư Phật đã ban ra. Bậc xuất gia mà còn hờn giận người khác thì không đáng mang tên là bậc xuất gia vậy.' Trong Hiền Kiếp (đại thiên niên kiếp) này, đức Ca la ca tôn đại Phật là Phật thứ nhất, đức Kim Tịch Phật là Phật thứ nhì, Ngài Tỳ bà Thi Phật là Phật thứ ba, đức Thích Ca là Phật thứ tư, đức Di Lặc là Phật thứ năm.
tỳ bà xa bà đề
Vibhajyavadins (skt)— 1) Trả lời chi tiết hay Phân biệt thuyết—Answerers in detail, interpreted as discriminating explanation, or particularizing. 2) Phân Biệt Thuyết Bộ: Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Bà Xa Bà Đề (Vibhajyacadins) là trường phái cho rằng chấp nhận A Tỳ Đạt Ma Luận Tạng là hợp lý, vì trong đó chứa cả bộ Tạng Pali—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vibhajyavadins, a school of logicians. It is reasonable to accept the view that the Abhidharma-Pitaka, as we have it in the Pali Canon, is the definite work of this school.
tỳ bà xá na
Xem HuệXem Quán.
; Vipasyana (skt). 1) Biện Biệt: Discernment 2) Quán: Insight. 3) Chánh Kiến: Correct perception, or views.
tỳ bà xá na-tỳ bà xá na
Vipasyana-Vipasyana (skt)—Thorough insight and perception.
tỳ bá ca
Vipaka (skt). 1) Thuần thục: Chín mùi—Ripeness—Maturity. 2) Trạng thái thay đổi: Change of state. 3) Tên khác của thức thứ tám: Another name for the eighth consciousness.
tỳ bá sa
Vipasa (skt)—Tên một con sông trong vùng Punjab—A river in the Punjab.
tỳ bát xá na
See Tỳ Bà Xá Na.
tỳ bạt da tư
Smrti-upasthana (skt)—The four department of memory—See Tứ Niệm Xứ.
tỳ bố la
Vipula (skt)—See Tỳ Phú La.
tỳ chiêm bát bổ la
Vichavapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Chiêm Bát Bổ La là kinh đô cổ của xứ Sindh—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vichavapura, the ancient capital of Sindh.
tỳ chỉ đa bà đa
Vijitavat (skt). 1) Một người chế ngự: A conqueror or one who has conquered. 2) Mặt trời: The sun.
tỳ câu chỉ
Bhrukuti (skt)—Tỳ Câu Tri. 1) Chân mày đan lại với nhau: Knitted brow. 2) Một trong những hình thức của Quán Thế Âm: One of the forms of Kuan-Yin.
tỳ cạt (ngật) la ma a điệt đa
Vikramaditya (skt). 1) Vượt qua mặt trời: Surpassing the sun. 2) Vị vua đã đánh đuổi dòng họ Sa Ca hay Scythians, mà trị vì vùng Bắc Ấn vào khoảng những năm 57 trước Tây Lịch—A celebrated king who drove out the Sakas, or Scythians, and ruled over northern India from 57 B.C. 3) Một vị thí chủ và một ân nhân của Phật Giáo: Vikramaditya, a patron of literature and famous benefactor of Buddhism (maybe the same person as in (2)).
Tỳ Da
(毘耶): từ gọi tắt của Tỳ Xá Ly (s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘舍離), thủ đô của nước Bạt Kì (s: Vṛji, p: Vajjī, 跋耆) do bộ tộc Ly Xa dựng nên. Là một trong những đô thị lớn nhất dưới thời đức Phật, nơi này đã từng có các giảng đường, lầu gác của tự viện Phật Giáo và đức Phật cũng thỉnh thoảng có dừng chân tại chốn này, phần nhiều thuyết pháp và chế giới. Sau khi Phật diệt độ, một phần xá lợi của ngài được tôn thờ tại đây, vì vậy nó trở thành một trong 8 thánh địa của Phật Giáo. Hơn nữa, sau khi Phật diệt độ được 100 năm, chính tại nơi này đã diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ 2. Cư Sĩ Duy Ma (s: Vimalakīrti, 維摩) như trong Kinh Duy Ma (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩經) có đề cập đến được xem như là vị trưởng giả của đô thị này. Quanh khu vực này có rất nhiều di tích Phật Giáo, hiện đang được tiến hành khai quật. Di tích của kinh đô cũ này được xác định nằm gần vùng Besārh, cách khoảng 27 dặm về phía bắc sông Hằng từ thành phố Patna của bang Bengal.
tỳ da sa
Vyasa (skt). 1) Người soạn thảo: A compiler. 2) Người sắp xếp: An arranger. 3) Phân phối: To distribute. 4) Sắp xếp: To arrange. 5) Tên của một vị Thánh, người đã soạn thảo bộ kinh Vệ Đà, người đã sáng lập ra luận triết Vedanta: A sage reputed to be the compiler of the vedas and founder of the Vedanta philosophy.
tỳ già la
Vyakarana (skt)—Tỳ Da Yết Lạt Nam—Tỳ Hà Yết Lợi Nã—Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Già Na (Vyakarana) là Thanh Minh Ký Luận, thuộc về thanh minh trong Ngũ Minh, là tên gọi chung của tục thư ngữ học; người ta nói đầu tiên một triệu bài được truyền cho Phạm Vương, tiếp theo Đế Thích tóm tắt lại thành 10 vạn bài, sau đó Ba Nệ Ni Tiên tóm tắt thành 8000 bài. Ba Nệ Ni Tiên cũng soạn lại thành 300 bài tụng—Grammatical analysis, grammar; formal prophecy. According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vyakarana is a record and discussion to make clear the sound; in other words, a grammar, or sutras to reveal right forms of speech; said to have been given first to Brahma in a million stanzas, abridged by Indra to 100,000 by Panini to 8,000, and later reduced by him to 300.
tỳ già la na
Xem Thọ ký kinh.
tỳ giá la
Vicara (skt)—Tầm hay trạng thái tâm trong giai đoạn đầu thiền định—Applied attention, interpreted as pondering, investigating; the state of mind in the early stage of dhyana meditation. ** For more information, please see Tỳ Đát Ca.
tỳ ha la
See Vihara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ ha la ba la
Viharapala (skt)—Vị hộ pháp giữ chùa—The guardian of a monastery.
tỳ ha la sa nhĩ
Viharasvamin (skt)—Vị thí chủ của tự viện—The patron or bestower of the monastery.
Tỳ Kheo
(s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘): hay Tỷ Kheo, còn gọi là Bí Sô (苾芻), Phức Sô (煏芻), Bị Sô (僃芻), Tỷ Hô (比呼); ý dịch là Khất Sĩ (乞士), Khất Sĩ Nam (乞士男), Trừ Sĩ (除士), Huân Sĩ (董士), Phá Phiền Não (破煩惱), Trừ Cẩn (除饉, trừ đói khát), Bố Ma (怖魔, làm cho ma quân sợ hãi); là một trong 5 chúng hay 7 chúng. Từ này chỉ cho người nam xuất gia và thọ giới Cụ Túc. Đối với người nữ thì gọi là Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼). Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 3, ngữ nghĩa của từ Tỳ Kheo có 5 loại: (1) Khất Sĩ (乞士): hành trì pháp môn khất thực để làm cho cuộc sống của bản thân được thanh tịnh, trong sạch. (2) Phá phiền não (破煩惱): đoạn trừ phiền não, hay còn gọi là phá ác (破惡). (3) Xuất gia nhân (出家人): là người thật sự xuất gia, ra khỏi 3 ngôi nhà của phiền não, thế tục và Ba Cõi. (4) Tịnh trì giới (淨持戒): hành trì giới pháp thanh tịnh. (5) Bố ma (怖魔): làm cho ma quân sợ hãi. Đặc biệt, Khất Sĩ là người nuôi sống bản thân bằng việc xin ăn. Sĩ (士) ở đây có nghĩa là người đọc sách. Tại Trung Quốc, người sinh sống bằng việc ăn xin được gọi là Khất Cái (乞丐), chứ không phải Khất Sĩ, khiến người ta thấy muốn tránh xa, khinh thường. Nhưng trường hợp Khất Sĩ của Ấn Độ thì có học vấn và đạo đức, được mọi người tôn kính. Đức Phật chế rằng tài sản của người xuất gia là ba y và một bình bát. Hạnh nguyện đi khất thực cũng là một hình thức tu hành, nhằm đoạn trừ tâm tham lam, dẹp bỏ tự ngã, kiêu mạn, cống cao, sân hận, nóng nảy; nuôi dưỡng tâm từ bi, tu tập hạnh bình đẳng, bố thí thiện nghiệp. Như cổ đức thường dạy rằng: “Nhất bát thiên gia phạn, cô tăng vạn lí du, vị liễu sanh tử sự, khất hóa độ xuân thu (一鉢千家飯、孤僧萬里遊、爲了生死事、乞化度春秋, bình bát cơm ngàn nhà, cô tăng vạn dặm chơi, liễu trọn chuyện sanh tử, xin khắp qua tháng ngày).” Hay như Hòa Thượng Bố Đại (布袋, Futei, ?-916) ở Huyện Phụng Hóa (奉化縣), Minh Châu (明州), được xem như là hóa thân của đức Phật Di Lặc, có bài kệ rằng: “Nhất bát thiên gia phạn, cô thân vạn lí du, thanh mục đổ nhân thiểu, vấn lộ bạch vân đầu (一鉢千家飯、孤身萬里遊、青目覩人少、問路白雲頭, bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt xanh xem người thế, mây trắng hỏi đường qua).” Đại Ngu Lương Khoan (大愚良寬, Daigu Ryōkan, 1758-1831), vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, cũng có làm bài thơ rằng: “Nhất bát thiên gia phạn, cô du vạn lí xuân, tích kinh Tam Giới mộng, y phất cửu cù trần, tự linh vô sự tẩu, bảo dục thăng bình thần (一鉢千家飯、孤游萬里春、錫驚三界夢、衣拂九衢塵、自怜無事叟、飽浴昇平辰, bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi vạn dặm xuân, tích chấn Ba Cõi mộng, áo phất chốn hồng trần, tự thân lão vô sự, ăn no hát nghêu ngao).”
tỳ kheo
Bhikkhu (P), Bhikṣu (S), gelong (T), Bhikṣu (S), A fully ordained monk Bhikkhu (P), gelong (T), Pigu (K), Biku (J)Nghĩa đen là thầy sãi ăn xin. Tu sĩ nam trong tăng đoàn, thoát ly gia đình và nhận lễ qui y toàn diện. Xưa, nhiệm vụ chính của tỳ kheo là thiền định và la hình ảnh tiêu biểu cho Phật pháp, họ không được phép làm việc, dứt hết nghề nghiệp sinh nhai, xin ăn ở người khác đặng nuôi sắc thân. Xin ăn ấy có nghĩa là xin cái đạo, cái pháp để nuôi lấy cái huệ mạng. Ngài Tao-An (Trung quốc, thế kỷ 4 AD) là tỳ kheo đầu tiên tự dùng họ Thích (Shih, TQ, Shaku: Jap), một cách gọi tắt của từ Sakya Muni để chỉ đệ từ của Phật Thích Ca. Kinh An Lạc chép sự khất thực của đức Phật đem lại 10 lợi ích cho chúng sanh: - dứt khổ - đặng vui - dứt kiêu ngạo - nguyện đầy bát - cúng thí phân phát - những chúng sanh bị ngăn ngại được găp Phật pháp - năng trì bát - làm nghi thức cho chúng sanh - dứt sự chê bai - trừ sự tham ái.
; Bhiksu (skt)—Bật Sô—Bức Sô. (I) Nghĩa của Tỳ Kheo—The meanings of Bhiksu: 1) Tỳ có nghĩa là phá, kheo nghĩa là phiền não. Tỳ kheo ám chỉ người đã phá trừ dục vọng phiền não—“Tỳ” (Bhi) means destroy and “Kheo” (ksu) means passions and delusions. Bhiksu means one who destroys the passions and delusions. 2) Người thoát ly gia đình, từ bỏ của cải và sống tu theo Phật. Người đã được thọ giới đàn và trì giữ 250 giới cụ túc—Bhiksu—Mendicant—Buddhist monk—A religious mendicant who has left home and renounced—Bhikkhu who left home and renounced all possessions in order to follow the way of Buddha and who has become a fully ordained monk. A male member of the Buddhist Sangha who has entered homeless and received full ordination. A Bhiksu's life is governed by 250 precepts under the most monastic code—Bhiksu is one who destroys the passions and delusions. 3) Tất cả chư Tỳ Kheo đều phải tùy thuộc vào của đàn na tín thí để sống tu, không có ngoại lệ—All Bhiksus must depend on alms for living and cultivation, without any exception. 4) Tất cả chư Tỳ Kheo đều thuộc chủng tử Thích Ca, dòng họ của Phật—All Bhiksus are Sakya-seeds, offspring of Buddha. 5) Tỳ kheo còn có nghĩa là người đã xuất gia, đã được giữ cụ túc giới. Tỳ Kheo có ba nghĩa—Bhiksu still has three meanings: a. Khất sĩ: Beggar for food or mendicant—Người chỉ giữ một bình bát để khất thực nuôi thân, không chất chứa tiền của thế gian—Someone who has just a single bowl to his name, accumulates nothing (no worldly money and properties), and relies exclusively on asking for alms to supply the necessities of life. b. Bố ma: Frightener of Mara (delusion)—Bố Ma là người đã phát tâm thọ giới, phép yết ma đã thành tựu, loài yêu ma phiền não phải sợ hãi—Someone who has accepted the full set of 250 disciplinary precepts. His karma has reached the level of development that he immediately fears delusion. c. Phá ác: Destroyer of Evil—Người dùng trí huệ chân chính để quán sát và phá trừ mọi tật ác phiền não; người chẳng còn sa đọa vào vòng ái kiến nữa—Someone who has broken through evil, someone who observes everything with correct wisdom, someone who has smashed the evil of sensory afflictions, and does not fall into perceptions molded by desires. ** For more information, please see Nhị Chủng Khất Sĩ. (II) Những lời dạy của Đức Phật về Tỳ Kheo trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Bhiksu in the Dharmapada Sutra: 1) Trong hết thảy nhơ cấu đó, vô minh cấu là hơn cả. Các ngươi có trừ hết vô minh mới trở thành hàng Tỳ Kheo thanh tịnh—The worst taint is ignorance, the greatest taint. Oh! Bhikshu! Cast aside this taint and become taintless (Dharmapada 243). 2) Người nào nghiêm giữ thân tâm, chế ngự khắc phục ráo riết, thường tu phạm hạnh, không dùng đao gậy gia hại sanh linh, thì chính người ấy là một Thánh Bà la môn, là Sa môn, là Tỳ khưu vậy—He who strictly adorned, lived in peace, subdued all passions, controlled all senses, ceased to injure other beings, is indeed a holy Brahmin, an ascetic, a bhikshu (Dharmapada 142). 3) Chỉ mang bình khất thực, đâu phải là Tỳ kheo! Chỉ làm nghi thức tôn giáo, cũng chẳng Tỳ Kheo vậy!—A man who only asks others for alms is not a mendicant! Not even if he has professed the whole Law (Dharmapada 266). 4) Bỏ thiện và bỏ ác, chuyên tu hạnh thanh tịnh, lấy “biết” mà ở đời, mới thật là Tỳ Kheo—A man who has transcended both good and evil; who follows the whole code of morality; who lives with understanding in this world, is indeed called a bhikshu (Dharmapada 267).
tỳ kheo giới
Muốn thọ giới Tỳ kheo, Tăng Ni phải thọ giới Sa di 5 năm, phải qua kỳ khảo hạch giới, luật, kinh điển.
tỳ kheo giới bản
Bhikṣupratimoksa (S).
tỳ kheo hải vân
Bhikshu Sea Cloud.
tỳ kheo hội
Tăng Già—Một hội đồng gồm ít nhất là bốn vị Tăng—An authoritative assembly of at least four monks.
tỳ kheo ni
Bhikkhuni (P), A fully ordained nun Bhikṣuni (S)Xem Ni cô.
; Bhiksuni (skt)—Nữ tu Phật giáo, người đã gia nhập giáo đoàn và nguyện trì giữ 348 hoặc 364 giới Tỳ kheo Ni. Ngoài ra, Tỳ Kheo Ni phải luôn vâng giữ Bát Kính Giáo—Bhiksuni—Nun—A female observer of all the commandments—A female mendicant who has entered into the order of the Buddha and observes the 348 or 364 precepts for nuns. In addition, a bhiksuni must always observe the eight commanding respect for the monks (Bát Kính Giáo).
tỳ kheo ni bát kính giáo
Tám điều mà Tỳ Kheo Ni phải luôn kính trọng một vị Tỳ Kheo—Bhiksunis' eight commanding respects for monks—See Bát Kính Giáo.
tỳ kheo ni chúng
Bhikkhunisaṃgha (P), The order of fully ordained nuns.
tỳ kheo ni giới
The nuns' 500 rules—See Giới Cụ Túc.
tỳ kheo ni kiền độ
Bhikṣunī-khandha (S).
tỳ kheo ni phần
Bhikhunivibhaṅga (S)Một trong hai phần của Kinh Phần trong Luận Tạng, dành cho Tỳ kheo ni.
tỳ kheo ni đầu tiên
Ngài A Nan đã khẩn khoản xin Phật cho mẹ là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, cũng là dì và nhũ mẫu của Đức Phật, được xuất gia làm Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Mười bốn năm sau ngày Đức Phật thành đạo, Ngài đã nhận dì của Ngài và các phụ nữ vào giáo đoàn đầu tiên, nhưng Ngài nói rằng việc nhận người nữ vào giáo đoàn sẽ làm cho Phật giáo giảm mất đi 500 năm—Ananda insisted the Buddha to accept his mother, Mahaprajapati, she was also the Buddha's aunt and step-mother, to be the first nun to be ordained. In the fourteenth years after his enlightenment, the Buddha yielded to persuation and admitted his aunt and women to his order of religious mendicants, but said that the admission of women would shorten the period of Buddhism by 500 years.
tỳ kheo phần
Xem Đại phần.
tỳ kheo thiện trụ
Bhikshu Good Dwelling.
tỳ kheo đức vân
Bhikshu cloud of Virtue.
tỳ la nã yết sa bà
Viranakacchapa (skt)—Con rùa—A tortoise—A turtle.
tỳ la san nã
Virasana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ La San Nã là một vương quốc cổ trong khu Doab giữa sông Hằng và Yamuna, bây giờ là Karsanah—According to Eitel in The Dictionary od Chinese-English Buddhist Terms, Virasana, an ancient kingdom and city in the Doab between the Ganges and the Yamuna. The modern Karsanah.
tỳ la trưởng lão
Kapimala (S)Cà lỳ ma laTổ thứ 13 trong 28 vị tổ sư Phật giáo tại Ấn. Tương truyền, lúc đầu ngài tu theo ngoại đạo, có tới ba ngàn đệ tử, do đàm luận với Mã Minh, tổ thứ 12, ngài bị khuất phục nên theo làm đệ tử.
tỳ lam bà
Pralamba (skt). 1) Tên của một loại bạo phong: Name of a strong wind. 2) Tên của một loại La sát Nữ: Name of one of the raksasis.
tỳ lam bà la sát nữ
Vilamba (S)Ly kiết La sát nữTên một vị thiên.
tỳ lam phong
Vairambha (skt). 1) Một loại gió lan khắp vũ trụ, khi thổi đến đâu thì nơi đó phải tan hoại: The great wind which finally scatters the universe. 2) Địa luân nằm bên trên phong luân hay vòng xoắn của gió, phong luân nầy lại nằm bên dưới thủy luân: The circle of wind under the circle of water on which the world rests.
tỳ ly
Xem Quảng nghiêm thành.
tỳ ly da
Xem Tinh tấn.
tỳ ly da tê na
Viryasena (skt)—Tên vị Thầy của Ngài Huyền Trang tại Tịnh Xá Hiền Kiếp—An instructor of Hsuan-Tsang at Bhadravihara
tỳ lâu bác xoa tỳ sa môn
Vairasana (S)Tỳ Sa Môn, Đa văn thiên vương.
tỳ lâu lặc xoa vương
Xem Trì quốc thiên vương.
tỳ lê da
Xem Tinh tấn.
; Virya (skt). 1) Năng lực: Strength—Energy. 2) Tinh Tấn: Ba la mật thứ tư trong mười Ba La Mật—Zeal—Pure progress, the fourth of the ten paramitas.
tỳ lê da ba la mật
Xem Tinh tấn Ba la mật.
tỳ lô giá na như lai
Vairocana-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
tỳ lô giá na phật
See Vairocana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ lô giá na thành phật kinh
Xem Đại Tỳ lô giá na Thành Phật thần biến gia trì kinh.
tỳ lô giá na thành đạo kinh
Vairocana-bhisaṃbodhitantra-pindartha (S)Tên một bộ kinh.
Tỳ Lô tánh hải
(毗盧性海): biển tánh Tỳ Lô, nghĩa là thể tánh của đức Phật Tỳ Lô Giá Na (s: Vairocana, 毘盧遮那) rộng lớn vô hạn, giống như biển lớn; còn gọi là Tỳ Lô Tạng Hải (毘盧藏海). Tỳ Lô là pháp thân như lai, nên Tỳ Lô tánh hải cũng thông cả Pháp Tánh Giới (法性界), Phật Tánh Giới (佛性界). Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, CBETA No. 1315) quyển 30 có câu: “Tỳ Lô tánh hải, tự tha vô ngại, mê ngộ ngộ mê, tương vong tương tại, nhất trần bách ức, bách ức nhất trần, bôn tẩu trần sát, bất động bản thân (毗盧性海、自他無礙、迷悟悟迷、相亡相在、一塵百億、百億一塵、奔走塵剎、不動本身, biển tánh Tỳ Lô, ta người không ngại, mê ngộ ngộ mê, cùng mất cùng còn, một trần trăm ức, trăm ức một trần, chạy khắp bụi trần, chẳng động bản thân).”
tỳ lăng già bảo
Xem Thích Ca Tỳ Lăng già Ma ni bảo.
tỳ lăng già ma ni bảo
Xem Thích Ca Tỳ Lăng già Ma ni bảo.
tỳ lư giá na
Xem Đại nhựt Như lai.
tỳ lư xá da
See Vairocana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ lưu ba xoa
Virupaksa (skt)—Tỳ Lưu Lâu Bát Xoa—Tỵ Lưu Ba A Xoa—Một trong Tứ Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương (có đôi mắt bất thường, ba mắt, mắt ác), hộ trì phương Tây, có màu đỏ—Irregular-eyed, or three-eyed like Siva, translated wide-eyed, or evil-eyed; one of the four maharajas, guardian of the West, lord of nagas, color red.
tỳ lưu ly
Xem Trì quốc thiên vương.
; Virudhaka (skt). 1) Một trong Tứ Thiên Vương, hộ trì phương Nam, màu xanh, còn được biết như là—One of the four maharajas, guardina of the South, colour blue, also known as: a) Lưu Ly Vương: Crystal king. b) Ác Sinh Vương: Ill-born king. 2) Tên của vua nước Câu Xá La (con trai vua Ba Tư Nặc), người đã tiêu diệt thành Ca Tỳ La Vệ: Name of a king of Kosala (son of Prasenajit), destroyer of Kapilavastu. 3) Tên vua Iksvaku, cha đẻ của bốn vị sáng lập của thành Ca Tỳ La Vệ: Iksvaku, father of the four founders of Kapilavastu.
Tỳ lưu ly 毘琉璃
[ja]ビルリ biruri|||Lapiz lazuli; a blue-green gem (vaiḍūrya). One of the seven jewels . Also written 琉璃. => (s: vaiḍūrya). Đá quý màu xanh. Lam ngọc. Một trong bảy loại châu báu. Còn viết Lưu ly 琉璃.
tỳ lặc
Pitaka (skt)—Một thuật ngữ của tông Thiên Thai để chỉ Tạng Giáo Tiểu Thừa—A T'ien-T'ai term for the Hinayana Pitaka.
tỳ lợi sai
Vrksa (skt). 1) Cây: A tree. 2) Ngạ quỷ: Hungry ghost. 3) Chó sói: A wolf.
tỳ ma
Bhima (skt). 1) Phu nhân của Durga: A form of Durga, his wife (the terrible). 2) Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Ma là một thành phố nằm về phía tây của Khotan, có một tượng Phật mà người ta nói đã tự di chuyển từ Udyana—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Bhima, a city west of Khotan, possessing a statue of Budha said to have transported itself from Udyana.
tỳ ma chất đa
Vimalacitra (skt)—Vua của loài A Tu La, cư ngụ nơi đáy biển, cha vợ của Trời Đế Thích—A king of asuras, residing at the bottom of the ocean, father of Indra's wife.
tỳ ma chất đa la a tu la vương
Vematchitra (S)Một vị vua trong loài A tu la.
tỳ ma la
Vimala (skt). 1) Vô Cấu: Unsullied—Pure. 2) Tên một con sông ở Ấn Độ: Name of a river in India. 3) Phu nhân của Thần Siva: Siva' wife.
tỳ ma la cật
Vimalakirti (skt)—See Vimalakirti and Vimalakirti-Sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ ma na
Xem Thiên cung sự.
tỳ ma túc kinh
Vekkhanasa-sutta (P)Tì ma na KinhTên một bộ kinh.
tỳ ma tự
Một tự viện nằm về phía Tây của Khotan, nơi mà những người Hung Nô đã được giáo hóa để quay về với đạo Phật—A monastery west of Khotan, where the Huns are said to have been converted to Buddhism.
tỳ mục cù sa
Vimuktaghosa (skt)—Tỳ Mục Đa La—Tiếng của Đức Phật giải thoát khỏi mọi sự sợ hãi—The Buddha's voice of liberation from all fear.
tỳ mục xoa
Vimoksa (skt)—Tỳ Mộc Để—Tỳ Mộc Xoa—Hữu vi Giải thoát (vô vi giải thoát là Mộc Xoa)—Liberation—Emancipation—Deliverance—Salvation.
tỳ mục đa la
See Tỳ Mục Cù Sa.
tỳ na dạ
Luật—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ na dạ ca
Vinayaka (skt)—Tỳ Na Da Ca—Tỳ Na Dã Ca—Phệ Na Dã Đát Ca—Thường Tùy Ma hay Chướng Ngại Thần, mình người mũi voi, là loại ác quỷ thần thường gây ra trở ngại hay tai nạn cho con người—A hinderer, the elephant god or Ganesa; a demon with a man's body and elephant's head, which places obstacles in the way.
tỳ na đa ca
Xem Kiền Dữ.
tỳ na đát ca
Vinataka (skt)—Tỳ Nê Tra Ca—Tỳ Na Dạ Ca. 1) See Tỳ Na Dạ Ca. 2) Núi thứ sáu trong 7 núi Kim Sơn: The sixth of the seven concentric circles around Mount Meru. 3) Bất cứ núi nào có hình dáng giống như Núi Tượng Đầu: Any mountain resembling an elephant.
tỳ nhã để
Vijnapti (skt)—Thức hay sự phân biệt rõ ràng—Knowledge—Understanding—Information—Report—Representation.
tỳ nhã để ma đát thích đa
Vijnaptimatrata (skt)—Duy Thức—Reality is nothing but representations or ideas. ** For more information, please see Tỳ Xa Na, Thức in Vietnamese-English Section, and Vijnana in Sanskri/Pali-Vietnamese Section.
tỳ ni luật
See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ ni đa lưu chi
Vinitaruci (?-594)—Ngài gốc người nam Ấn, sanh trưởng trong một gia đình Bà La Môn. Sau khi xuất gia, ngài du hành khắp các miền tây và nam Ấn Độ để học thiền. Ngài đến Trường An năm 574. Theo Hòa Thượng Thích Thanh Từ trong Thiền Sư Việt Nam, sau khi gặp và được Tổ Tăng Xán khuyến tấn, ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã sang Việt Nam, ngài là vị sơ tổ đã sáng lập ra dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi tại Việt Nam. Ngài đã hoằng hóa tại Việt Nam gần hai mươi năm cho đến khi thị tịch vào năm 594—He was from South India, from a Brhamin family. After he joined the Sangha, he travelled all over the west and south India to study meditation. He came to Chang-An in 574 A.D. According to the Most Venerable Thích Thanh Từ in the Vietnamese Zen Masters, after meeting the Third Patriarch in China, Seng-Ts'an, Vinitaruci went to Vietnam to establish a Zen Sect there. Vinitaruci was the first patriarch of the Vinitaruci Zen Sect in Vietnam. He spent almost twenty years to expand Buddhism in Vietnam until he passed away in 594.
tỳ nu nô bà
Vaisnava (S)Nghĩa: Sự di chuyển của mặt trời.
tỳ nại da
Xem Luật.
; Vinaya (skt). (A) Nghĩa của Tỳ Nại Da—The meanings of Vinaya: Giới luật mà Đức Phật đã giảng thuyết: Ordinances—Moral training; the disciplinary rules; the precepts and commands of moral asceticism and monastic discipline, said to have been given by Buddha. (B) Tác dụng của Tỳ Nại Da—The purposes of Vinaya: 1) Diệt tội: Destroying sin. 2) Điều phục thân khẩu ý: Subjugation of deed, word, and thought. 3) Ly hành ác nghiệp: Separation from evil action. ** For more information, please see Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ nại da tạng
Xem Luật tạng.
; Vinayapitaka (skt)—Phần thứ hai trong Tam Tạng Kinh Điển, người ta nói là được soạn bởi ngài Ưu Ba Li—The second portion of the Tripitaka, said to have been compiled by Upali.
tỳ nại da tỳ bà sa
Vinaya-vibhāṣā (S)Có 100.000 bài tụng để giải thích Luật tạng.
tỳ nữu nữ thiên
Vaisnavit (S).
tỳ nữu thiên
Viṣnu (S)Vi NữuMột trong ba ngôi trời của Ấn giáo: Phạm thiên, Tỳ nữu thiên và Đại tự tại thiên.
tỳ nữu thiên đạo
Vaishnavism, Vishnuism.
tỳ pháp giả
Dharmikasa (S)Chữ khắc trên đồng tiền do vua Di lan đà phát hành.
tỳ phú la
Vipula (skt)—Tỳ Bố La. 1) Quảng Đại: Sâu rộng vô bờ, không thể đo lường được—Large—Broad—Spacious—See Tỳ Phật Lược (1). 2) Một ngọn núi gần Kusagarapura, trong xứ Ma Kiệt Đà: A mountain near Kusagarapura, in Magadha.
tỳ phú la đại thừa phương đẳng kinh
Xem Đại thừa phương đẳng kinh.
tỳ phật lược
Vaipulya (skt). 1) Phương Quảng: Rộng rãi—Large—Spacious—Expanded—Enlarged. 2) Kinh Phương Quảng—Sutras of an expanded nature, especially expansion of the doctrine. a) Tiểu Thừa Phương Quảng: Kinh Trường A Hàm—Hinayana Sutras of expansion of the doctrine, i.e. the Agama Sutras. b) Đại Thừa Phương Quảng: Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Pháp Hoa—Mahayana Sutras of expansion of the doctrine, i.e. the Hua-Yen Sutra and the Lotus Sutra.
tỳ phật lược kinh
Xem Phương quảng.
tỳ phệ già
Viveka (skt). 1) Sự biện biệt hay “thanh biện”—Discrimination, a clear distinction or discrimination. 2) Bát Tỳ Phệ Già: Bhavaviveka (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Phệ Già (Bhavaviveka) là một đệ tử của ngài Long Thọ lui về hang đá ẩn tu chờ Đức Hạ sanh Di Lặc—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Bhavaviveka, a disciple of Nagarjuna, who retired to a rock cavern to await the coming of Maitreya.
tỳ phệ lưu ly
Vaidurya (skt)—See Tỳ Đầu Lợi (1).
tỳ sa bà phật
Xem Tỳ Xá Phù Phật.
tỳ sa môn
Xem Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn.Xem Phổ môn thiên.
tỳ sa môn ngũ đồng tử
Năm sứ giả của Tỳ Sa Môn—The five messengers of Vaisravana.
Tỳ Sa Môn Thiên
(s: Vaiśravaṇa, p: Vessavaṇa, 毘沙門天): âm dịch là Phệ Thất La Ma Noa (吠室羅摩拏), Tỳ Xá La Môn (毘舍羅門), Tì Sa Môn (鞞沙門), Tỳ Sa Môn (毘沙門); còn gọi là Phổ Văn Thiên (普聞天), Chủng Chủng Văn Thiên (種種聞天); là một trong Tứ Thiên Vương, một trong 12 vị trời, vị thần thủ hộ ở phương Bắc của Diêm Phù Đề. Vị này trú tại phía Bắc của tầng thứ tư Tu Di Sơn, thống lãnh chúng quỷ Dạ Xoa và La Sát, kiêm thủ hộ ba châu khác. Do thường thủ hộ đạo tràng, lắng nghe Phật pháp, nên vị này có tên là Đa Văn (普聞, nghe nhiều). Vị trời này được tôn thờ ở địa phương Tây Bắc Ấn Độ, cũng có khi được xem như là thần chiến thắng, nên được tôn sùng cao độ. Hình tượng phổ cập của Tỳ Sa Môn Thiên thể hiện hình thần vương, chân đạp lên hai con quỷ; tay trái cầm bảo tháp, tay phải cầm cây gậy báu. Ngoài ra, hình tượng của vị này còn có hai thân, 4 tay, 10 tay, v.v. Trong số tượng 12 vị trời, chỉ riêng tượng vị này được tôn sùng mà thôi. Bên cạnh đó, vị này còn ban cho phước đức, nên được kính ngưỡng là một trong 7 vị Phước Thần. Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō Tripitaka Vol. 19, No. 926) cho biết rằng: “Bắc phương Đa Văn Đại Thiên Vương, kỳ thân lục sắc chấp bảo xoa, thủ hộ bát Phật Bắc phương môn (北方多聞大天王、其身綠色執寶叉、守護八佛北方門, Đa Văn Đại Thiên Vương ở phương Bắc, thân màu xanh cầm chĩa báu, giữ gìn tám Phật cửa phía Bắc).” Hay Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經, Taishō Vol. 19, No. 982) quyển Thượng cho biết thêm rằng: “Bắc phương hữu đại Thiên Vương, danh viết Đa Văn, thị Dược Xoa chủ; dĩ vô lượng bách thiên Dược Xoa nhi vi quyến thuộc, thủ hộ Bắc phương (北方有大天王、名曰多聞、是藥叉主、以無量百千藥叉而爲眷屬、守護北方, phương Tây có vị Thiên Vương lớn, tên là Đa Văn, là chủ của Dược Xoa; lấy vô lượng trăm ngàn các loài Dược Xoa làm quyến thuôc, giữ gìn phương Bắc).” Căn cứ vào Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12 cho biết rằng nước Vu Điền (s: Ku-stana, 于闐) vô cùng tín ngưỡng vị trời này. Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 1 còn cho biết rằng trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bảo (天寶, 742-756) của vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, tại Trung Quốc cũng có tín ngưỡng này. Bức tượng Tỳ Sa Môn Thiên tại Thiên Phật Động ở Đôn Hoàng (敦煌) mặc áo lụa màu, vừa mới được khai quật. Về phía Nhật Bản, tại An Mã Tự (鞍馬寺, Kurama-dera) ở Kyoto có tượng Đâu Bạt Tỳ Sa Môn (兜跋毘沙門); sau khi Mật Giáo được truyền vào, tượng này được xem như vị thần đơn độc, nên được tôn sùng tối đa. Tượng Đa Văn Thiên (niên đại nhà Đường) hiện tồn tại Giáo Vương Hộ Quốc Tự (敎王護國寺, Kyōōgokoku-ji, tức Đông Tự [東寺, Tō-ji]) ở kinh đô Kyoto, tương truyền là tượng thủ hộ vương thành, nên được đặt trên lầu cổng La Thành.
tỳ sa môn thiên
Xem Dư Thiên vương.
tỳ sa môn thiên vương
Vaisravana (skt). 1) Đa Văn Thiên Vương, là một trong bốn vị Thiên Vương hộ thế. Vị trời này có tên “Đa Văn” là vì ngài thường hay bảo hộ đạo tràng của Như Lai và ưa nghe Phật thuyết pháp. Màu vàng: One of the four Maharajas, guardian of the north, king of Yaksas, has the title “universal or much hearing or learning, said to be so called because he heard the Buddha's preaching. Colour yellow. 2) Đối với Thai Tạng Mạn Đồ La thì vị nầy ở bên cửa Bắc: He resided in the north of the Garbhadhatu Mandala. 3) Đối với Kim Cang Tạng Mạn Đồ La thì vị nầy ở phương Tây: He resided in the west of the Vajradhatu Mandala. 4) Tỳ Sa Môn Thiên Vương là con trai nổi tiếng của Visravas—Vaisravana was son of Visravas, which is from Visru, to be heard of far and wide, celebrated, and should be understood in this sense. 5) Tỳ Sa Môn là vị Diêm Vương theo truyền thuyết của Ấn Độ, là vua của loài quỷ; về sau nầy là thần tài, ngự trị phương Bắc. Huyền Trang đã xây một ngôi đền cho ngài vào năm 753 sau Tây Lịch, từ đó ngài trở thành ông Thần Tài của dân Trung Quốc và hộ pháp tại cổng vào các tự viện. Tay phải cầm phướn, tay trái cầm một viên bảo châu, dưới chân ngài có hai con quỷ: Vaisravana is Kuvera, or Kubera, the Indian Pluto; originally a chief of evil spirit, afterwards the god of riches, and ruler of the northern quarter. Hsuan-Tsang built a temple to him in 753 A.D., since which he has been the god of wealth in China and guardian at the entrance of Buddhist temples. In his right hand he often holds a banner or a lance, in his left a pearl or shrine, or a mongoose out of whose mouth jewels are pouring; under his feet are two demons.
tỳ sa mật đa la
Viśvāmitra (S)Thể Quang GiápMột vị thầy dạy kinh Vệ đà cho thái tử Tất đạt đa từ lúc 8 tuổi.
tỳ sa nã
Visana (skt). 1) Độc giác: The single horn of the rhinoceros. 2) Danh hiệu của Độc Giác Phật: An epithet for a Pratyeka-buddha. 3) Duyên Giác: Buddhist Practitioner whose aim is his own salvation.
tỳ sái ca
Visakha (skt)—Một trong những quyến thuộc của Tỳ Sa Môn Thiên Vương—One of the retinue of vaisravana.
tỳ sê sa
Xem Mật Ngưu cung.
tỳ thi sa
Visesa (skt)—Giáo thuyết “Tinh Yếu Cá Biệt” của trường phái Vệ Thế Sư, được sáng lập bởi ngài Kanada—The doctrine of particular or individual essence, i.e. the nature of the nine fundamental substances; it is the doctrine of the Vaisesika school of philosophy founded by Kanada.
tỳ thê
Vidya (skt). 1) Kiến Thức: Knowledge—Learning—Philosophy. 2) Khoa Học: Science. 3) Minh Chú: Incantation to get rid of all delusion.
tỳ thấp bà
Tên của một loại gió, người ta nói đây là chuyển ngữ Phạn của Tỳ Xá—A wind, said to be a transliteration of Visva.
tỳ thủ yết ma
Visvakarman (skt)—Tỳ Thấp Phược Yết Ma. 1) Thợ Thuyền: Doers—Makers. 2) Đại thần của Trời Đế Thích, vị thần trông coi việc xây dựng. Tất cả thợ thuyền ở Tây Thiên Trúc đều xem ngài là vị Thần bảo hộ: A minister of Indra, and his director of works. He is the architect of the universe and patron of artisans.
tỳ trà
Bhida or Panca-nada (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, Tỳ Trà là tên một vương quốc cổ lấy tên theo tên kinh đô Tỳ Trà mà bây giờ thuộc vùng Punjab—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Bhida was an ancient kingdom called after its capital Bhida, the present Punjab.
tỳ xa mật đa la
Vicvamitra (S)Thầy dạy của Thái tử Tất đạt Đa.
; Visvamitra (skt)—Tên của một vị thầy dạy Đức Phật Thích Ca lúc còn nhỏ—Name of Sakyamuni's school teacher.
tỳ xa na
Vijnana (skt)—Tỳ Nhã Nam—Liễu biệt hay sự phân biệt rõ ràng—Consciousness or intellect—Knowledge—Perception—Understanding. ** For more information, please see Thức in Vietnamese-English Section, and Vijnana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ xá
Veśa (S)Giai cấp thứ ba trong xã hội Ấn ngày xưa.
; Vesa (skt). 1) Cửa vào: Entrance. 2) Nhà: House. 3) Trang sức: Adornment. 4) Gái giang hồ: Prostitute. 5) Giai cấp nông dân và thương nhân ở Ấn Độ: The third caste of farmers and traders in India.
tỳ xá chi
Pisaci (skt)—Tỳ Xá Giá—Nữ quỷ—Female sprites, or demons.
tỳ xá cà
Xem Đảm tinh quỉ.
tỳ xá da
Xem Phệ xá.
; Picasa (skt)—Đạm Tinh Khí Quỷ, loại quỷ hút máu và tinh khí—A type of evil god that suck blood and eats phlegm.
tỳ xá giá
See Tỳ Xá Chi.
tỳ xá khư
Xem Đại Mãn.
; Visakha or Vaisakha (skt)—Một trong những chòm sao mà người Trung Hoa diễn dịch là tên ngôi sao từ giữa tháng thứ hai đến giữa tháng thứ ba, tên là Trưởng Dưỡng—One of the constelations, similar to the third of the Chinese constellations, the Chinese inpterpret it as from the middle of their second to the middle of their third month.
tỳ xá khư mẫu
1) Lộc Mẫu: Con hươu mẹ—A female gazelle. 2) Tên của một người đàn bà giàu có, vợ của ngài Cấp Cô Độc, đã cùng chồng dâng hiến vườn Kỳ Thọ cho Phật: Viasakha, name of a wealthy matron who with her husband gave a vihara to Sakyamuni, wife of Anathapindika.
tỳ xá la
Visala (skt)—Một vị Thần hộ pháp đã bảo hộ tượng Phật và mang đến dâng lên vua Minh Đế đời nhà Hán—A deity who is said to have protected the image of Buddha brought to Ming-Ti of the Han dynasty.
tỳ xá la bà nô
Xem Dư Thiên vương.
Tỳ Xá Ly
(s: Vaiśālī, p: Vesālī, 毘舍離): âm dịch là Tỳ Da Ly (毘耶離), Phệ Xá Ly (吠舍離), Duy Da Ly (維耶離), gọi tắt là Tỳ Da (毘耶), ý dịch là Quảng Nghiêm, Quảng Bác, là thủ đô của nước Bạt Kỳ (s: Vṛji, p: Vajjī, 跋耆), do dòng dõi Ly Xa (p: Licchavi, 離車) kiến lập nên. Là một trong những đô thị nổi tiếng nhất dưới thời đức Phật, xưa kia nơi ấy đã từng có rất nhiều giảng đường của tự viện Phật Giáo, chính đức Phật thỉnh thoảng có lưu lại nơi này để thuyết pháp và chế giới. Sau khi đức Phật diệt độ một phần xá lợi của đức Phật đã được tôn thờ ở đây và nó đã trở thành một trong tám thánh địa của Phật Giáo. 100 năm sau khi đức Phật diệt độ cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai đã được diễn ra tại thành đô này. Duy Ma cư sĩ, người thuyết ra Kinh Duy Ma (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩經) được xem như là vị trưởng giả của đô thị này lân cận của đô thị này có rất nhiều di tích của Phật Giáo, hiện tại người ta vẫn đang còn khai quật. Di tích của kinh đô cũ này nằm ở phần phụ cận Besārh, cách 27 dặm về phía bắc sông Hằng từ thành phố Patna của tiểu bang Bengal.
tỳ xá ly
Vaicali (S)Tên một thành phố ngày xưa nơi có Phật đến hoằng pháp.Xem Quảng nghiêm thành.
; Vaisali (skt)—Tỳ Da Ly-Bề Xá Ly—Duy Da—Duy Da Ly—Bề Xá Lệ Dạ—Phệ Xá Ly—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Xá Ly là tên của kinh đô nước Quảng Nghiêm hùng mạnh, một vương quốc cổ ở Trung Ấn, nơi 700 vị Hiền Thánh đã kết tập kinh điển lần thứ hai, bây giờ gần Bassahar, thuộc Bihar, phía bắc Patna. Thành Tỳ Xá Ly từng là thành trì Phật giáo trong những ngày đầu. Các nhà hành hương Trung Hoa như Pháp Hiển và Huyền Trang, trên đường đi qua Ấn Độ đã ghé lại Tỳ Xá Ly. Huyền Trang mô tả thành phố nầy trải rộng trên một diện tích từ 10 đến 12 dậm vuông. Ông viết rằng bên trong bên ngoài và khắp nơi xung quanh thành phố, số đền chùa nhiều đến nỗi không sao kể hết. Tiếc thay, trên vùng đất nầy hiện nay hầu như không còn nhìn thấy một di tích đền chùa nào cả. Tại Kolhua, cách Raja Bisal ko Gadh hai dặm về phía tây bắc, có một trụ đá nguyên khối, dân địa phương gọi là Bhimsen, bằng sa thạch mài thật láng, bên trên có một đầu trụ hình chuông nâng đỡ một tượng sư tử đứng trên bệ vuông. Trụ nầy cao hơn mặt đất hiện nay khoảng 7 mét, một đoạn trụ dài bị chôn vùi dưới đất qua dòng thời gian. Nhìn kiểu dáng thì giống các trụ đá của vua A Dục, nhưng đào xới xung quanh thân trụ thì chẳng thấy một dòng chữ nào của vua A Dục cả. Tuy nhiên, có thể xác định đây là một trong các trụ đá của vua A Dục mà Huyền Trang đã nói đến tại Tỳ Xá Ly ngày xưa. Dãy dài các cây trụ thuộc quận Champaran và quận Muzaffarpur tại Ramapurva, LauriyaAraraj, Lauriya Nandagadh và Kolhua, được xem là đã đánh dấu các chặng đường trên con đường vua A Dục đi từ thành Hoa Thị (Pataliputra) đến Lâm Tỳ Ni khi ông lên ngôi được 20 năm. Cách một quảng ngắn về phía nam có một hồ nước nhỏ, có tên là Rama-kunda, đã được Cunningham xác định là hồ khỉ (Markata-hrada) ngày xưa, và người ta cho rằng hồ nầy do một bầy khỉ đào để lấy nước cho Đức Phật dùng. Về phía tây bắc có một gò đống đổ nát, nay chỉ còn cao độ 5 mét và dưới đáy có đường kính độ 20 mét, được xác định là những gì còn lại của ngôi tháp A Dục mà Huyền Trang đã nói đến. Trên đỉnh gò nầy có một ngôi đền bằng gạch kiểu mới bên trong có một tượng Phật thời Trung cổ. Theo lời kể lại thì Đức Phật đã đến viếng nơi nầy ba lần khi ngài còn tại thế. Cũng theo lời kể thì trong một lần đến đây, ngài đã được bầy khỉ dâng một chén mật, sự kiện được cho là một trong tám sự kiện lớn trong đời Đức Phật. Cũng tại nơi nầy, Đức Phật đã loan báo ngày sắp nhập diệt của mình, và sau khi ngài nhập Niết Bàn, người xứ Quảng Nghiêm đã dựng một bảo tháp trên phần chia xá lợi của Ngài. Hơn một trăm năm sau ngày diệt độ của Đức Phật, Nghị Hội Kết Tập lần hai đã diễn ra tại đây. Đối với Kỳ Na giáo thì Tỳ Xá Ly là nơi sinh ra của Mahavira, vị Tirthankara Kỳ Na giáo thứ hai mươi bốn. Raja Bisal Ka Gadh được xem là thành lũy của Tỳ Xá Ly. Đây là một gò đất lớn được lót gạch, cao khoảng hai mét rưỡi trên mặt bằng, có chu vi gần một dậm. Lúc đầu được bao bọc bởi một con mương, thành nầy có lối ra vào ở phía nam bằng con đường đất cao. Các cuộc khai quật đã làm lộ ra phần nền của những tòa nhà nằm trên một mặt bằng không đều, có thể có niên đại từ thời Gupta. Các phát hiện đáng kể là những con dấu chứng tỏ thành Tỳ Xá Ly đã từng là một đầu não hành chánh quan trọng trong thời kỳ Gupta, và một con dấu đáng chú ý, khắc chữ Maurya, thuộc về một tiền đồn tuần tra ở Tỳ Xá Ly—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vaisali, an ancient kingdom and city and the capital the powerful Licchavis, where the second synod was held with 700 famous learned monks, near Basarh (Bassahar), in Bihar, north of Patna. The city of Vaisali was a stronghold Buddhism in early days. The Chinese pilgrims, i.e., Fa-Hsien and Hsuan-Tsang, visited Vaisali in the course of their travels. Hsuan-Tsang described the city as covering an area of 10 to 12 square miles. He wrote that, within and without and all around the town of Vaisali, the sacred monuments were so numerous that it was difficult to mention them all. Unfortunately, the area is now practically denuded of any visible remains of religious edifices. At Kolhua, two miles to the north-west of Raja Bisal ka Gadh, there stands a monolithic, locally known as Bhimsen's Lath of highly sandstone surmounted by a bell-shaped capital that supported by a bell-shaped capital and supports on the sedent figure of a lion on a square abacus. It is about 22 feet above represent ground level, a considerable portion having sunk underground in the course of time. In Style it resembles the edict pillars of Asoka, but diggings round the shaft have failed to reveal any Asokan inscription. Nevertheless, it can be identified with one of the Asoka pillars mentioned by Hsuan-Tsang at the site of ancient Vaisali. The line of pillars in the Champaran and Muzaffarpur district, at Ramapurva, Lauriya Araraj, Lauriya Nandagadh, and Kolhua, is believed to have marked the stages of a royal journey from Pataliputra to Lumbini which Asoka undertook in the 20th year of his consecration. Nearby to the south, there is a small tank, called Rama-kunda, identified by Cunningham with the ancient Markata-hara or monkey's tank, believed to have been dug by a colony of monkeys for the use of the Buddha. To the northwest there is a ruined mound, at present only 15 feet high and with a diameter of about 65 feet at the base, which has been identified with the remains of the Asoka stupa mentioned by Hsuan-Tsang. On the summit of this mound stands a modern brick temple enshrining a medieval image of Buddha. The Buddha is said to have visited in three times during his life-time. In once of these visits, several monkeys are said to have offered the Buddha a bowl of honey, an incident mentioned among the eight great events in the life of the Buddha. It was here again that the Buddha announced his approaching nirvana, and after the nirvana the Licchavis are said to have errected a stupa over their share of the remains of the Buddha. A little over a hundred years after the nirvana, the Secon Buddhist Council was held here. To Jaina also, Vaisali was equally sacred, being the birth-place of Mahavira, the twenty-fourth Jaina Tirthankara. The site of Raja Bisal ka Gadh is believed to represent the citadel of Vaisali. It consists of large brick covered mound, about eight feet above the surrounding level and slightly less than a mile in circumference. Originally surrounded by a ditch, it was approached by a broad embanked causeway from the south. Excavations have exposed the foundations of old buildings of irregular plan which may date back to the Gupta period. Besides, the most interesting finds consist of a large number of clay seals. The official seals indicate the Vaisali was an important administrative headquarters in the Gupta period, and an interesting seal, engraved in characters of the Maurya period, refers to the patrol outpost at Vaisali. ** See Vaisali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ xá na
Tỳ Lư Xá Na—See Vairocana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỳ xá phù
Visvabhu (skt)—Tỳ Thấp Bà Bộ—Tỳ Thứ Bà Phụ—Tỳ Nhiếp La—Tỳ Thứ Sa Phó—Tỳ Nhiếp La—Tỳ Xá Bà. 1) Vị Phật thứ hai trong kiếp thứ 31: The second Buddha of the 31st kalpa. 2) Trong Kinh Trường A Hàm, Tỳ Xá Phù là Đức Phật thứ 1000 trong kiếp trước, vị Phật thứ ba trong bảy vị cổ Phật, bậc đã hai lần độ được 130.000 người: Acording to The Long Discourses of the Buddha, Visvabhu was the last 1,000th Buddha of the preceding kalpa, the third of the Sapta Buddha, who converted on two occasions 130,000 persons.
Tỳ Xá Phù Phật
(s: Viśvabhū-buddha, p: Vessabhū-buddha, 毘舍浮佛): âm dịch là Tỳ Xá Bà (毘舍婆), Tỳ Xá Phù (毘舍符), Tỳ Thấp Bà Bộ (毘濕婆部), Tỳ Nhiếp Phù (毘攝浮), Tùy Diệp (隨葉); ý dịch là Nhất Thiết Hữu (一切有), Nhất Thiết Thắng (一切勝), Biến Hiện (遍現), Biến Thắng (遍勝), Quảng Sanh (廣生), Thắng Tôn (勝尊), v.v. Đây là tên gọi của vị thứ 3 trong 7 vị Phật thoìư quá khứ, và còn được xem như là thân cuối cùng của vị Phật trong ngàn vị của quá khứ trang nghiêm kiếp. Từ hôm nay trở về 31 kiếp xa xưa, khi con người có tuổi thọ 60.000, ngài đã hạ sinh tại Thành Vô Dụ (無喩). Ngài xuất thân dòng dõi Sát Đế Lợi (刹帝利), họ là Kiều Trần Như (憍陳如), cha tên Thiện Đăng (善燈, tức Tu Ba La Đề Hòa [須波羅提和]), mẹ là Xưng Giới (稱戒). Sau ngài thành đạo dưới gốc cây Bà La (婆羅) và tuyên thuyết giáo pháp.
tỳ xá phù phật
VeśabhŪ (S), VessabhŪ (P), ViśvabhŪ-buddha (S), Vessabhu-buddha (P)Tỳ Sa Bà PhậtMột vị Phật quá khứ thuộc Trang nghiêm kỳ kiếp.
tỳ xá xa
Pisacah (skt)—Tỳ Xá Giá—Tỳ Xá Chi—Loài quỷ trong họ Trì Quốc Thiên—Demons or goblins in the retinue of Dhrtarastra.
tỳ xá xà
Xem Tỳ xá cà.
tỳ đa thâu
Vitasoka (skt)—Tên một người em trai của vua A Dục—Nam of a younger brother of king Asoka.
tỳ đà
Vedas (skt)—Bề Đà—Bì Đà—Vi Đà—Kinh Vệ Đà—Kinh sách của Bà La Môn—The vedas.
tỳ đà la
Vetala (skt)—Mê Đát La—Một phép thần chú dựng tử thi dậy và sai đi giết người (đây là một thứ thần chú của ngoại đạo Tây Thổ)—An incantation for raising a corpse and to order it to kill another person (this is an heretic incantation).
tỳ đà lê sơn vương
Vaidhari(-girirāja) (S)Chủng Chủng Trì Sơn vương.
tỳ đàm
Abhidharma (skt)—A Tỳ Đạt Ma.
Tỳ Đàm Tông
(毘曇宗, Bidon-shū): tên gọi một trong 13 tông phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc, dựa trên A Tỳ Đạt Ma (s: Abhidharma, 阿毘達摩, Đối Tỷ Pháp) và y cứ vào Luận Tạng mà thuyết giáo, còn gọi là Tát Bà Đa Tông (薩婆多宗, tức Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ), hay Số Luận (s: Sāṅkhya, p: Saṅkhyā, 數論), học phái chuyên nghiên cứu thắng pháp trong bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論) và pháp cứu trong Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận (雜阿毘曇心論), v.v., của Hữu Bộ. Tông phái này đã từng hưng thạnh nhờ Tăng Già Đề Bà (僧伽提婆), Đạo An (道安) của thời Tiền Tần và Huệ Viễn (慧遠) của thời Đông Tấn. Các giảng luận và chú thích của một số nhân vật như Huệ Thông (慧通) thời Lưu Tống, Đạo Thừa (道乘) nhà Lương, Huệ Bật (慧弼) nhà Trần, Huệ Tung (慧嵩) nhà Bắc Ngụy, Chí Niệm (志念) nhà Tùy, và Đạo Cơ (道基) nhà Đường, đã được triển khai mạnh mẽ. Đến khi mấy bộ tân dịch của Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường như Đại Tỳ Bà Sa Luận (大毘婆沙論), Phát Trí Luận (發智論), Câu Xá Luận (倶舍論) xuất hiện, thì tông phái này trở nên diệt vong một cách nhanh chóng. Ở Trung Quốc thì tông này hoằng giáo chủ yếu tại vùng Hoa Bắc, nhưng đến thời nhà Đường thì hấp thu tinh thần của Câu Xá Tông do Huyền Trang lập nên. Ở Nhật Bản, vào thời kỳ Phật Giáo Nại Lương thì Câu Xá Tông cũng có khi được gọi là Tỳ Đàm Tông.
tỳ đát ca
Vitarka (skt)—Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tỳ Đát Ca có nghĩa là “Tầm”, hay tìm hiểu một cách hời hợt; đối lại với “Tư” có nghĩa là quan sát kỹ lưỡng—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vitarka means initial attention, or cognition in initial application, search, or inquiry; in contrasted with Spying out, or careful examination.
tỳ đê la
Vikara (skt)—Tỳ Khư La—Một nữ quản gia cho dòng họ Thích Ca, người có rất nhiều chìa khóa quanh lưng. Bà luyến ái công việc đến nỗi không còn ao ước đến giác ngộ nữa—An old housekeeper with many keys round her waist who had charge of the Sakya household, and who loved her things so much that she did not wish to be enlightened.
tỳ đầu lợi
Vaidurya (skt). 1) Lưu Ly, một trong thất bảo—Lapis-lazuli, one of the seven precious things—See Thất Bảo. 2) Tên một ngọn núi gần Varanasi: Name of a mountain near Varanasi.
tỳ đề ha
Videha (skt)—Phật Đề Ba—Phất Ư Đãi. 1) Tên gọi tắt của Đông Đại Châu, nằm về phía đông của núi Tu Di: An abbreviation for Purvavideha, the continent east of Mount Meru. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì Tỳ Đề Ha là một tên gọi khác của thành Tỳ Xá Lê và vùng phụ cận Mathava bây giờ: According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Videha is another name for Vaisali and the region near Mathava.
Tỳ 毘
[ja] ビ bi ||| (1) To help, to aid. (2) To cast away. (3) Transcription Sanskrit vi sound. =>1. Giúp đỡ, trợ giúp. 2. Liệng bỏ. 3. Dùng để ký âm vi trong tiếng Sanskrit.
Tỳ-bà-sa luận 毘婆沙論
[ja] ビバシャロン Bibasharon ||| The Vibhāsā-śāstra was a philosophical treatise by Katyayaniputra. The Vaibhāsikas were followers of the school of existence. See Apitan piposha lun 阿毘曇毘婆沙論 (T 1545) and A-p'i-ta-mo ta-p'i-p'o-sha lun 阿毘達磨大毘婆沙論 (T 1546). => (j: Bibasharon; s: Vibhāsā-śāstra) Là một chuyên luận triết học của Ca-đa-diễn-ni tử (s: Kātyāyanīputra). Những người theo Đại Tỳ-bà-sa luận (s: Vaibhāsikas) vốn là đệ tử của phái Hữu bộ. Xem A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa luận (c: A-p'i-ta-mo ta-p'i-p'o-sha lun 阿毘達磨大毘婆沙論).
Tỳ-bà-sa 毘婆沙
[ja] ビバシャ bibasha ||| A transcription of the Sanskrit vibhāsā, meaning option, or alternative. A wider interpretation or a different explanation. => Phiên âm chữ vibhāsā trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là sự chọn lựa, hoặc cái nầy hay cái kia. Một lối diễn dịch rộng hơn và giải thích khác hơn.
tỳ-bà-xá-na
phiên âm từ Phạn ngữ Vipaśyan, thường được dịch với các nghĩa như: quán, kiến, chủng chủng quán sát.
Tỳ-bà-xá-na 毘婆舍那
[ja] ビバシャナ bibashana ||| A transcription of the Sanskrit vipaśyanā and Pali vipassanā, usually translated into Chinese as 觀. Observing, or analytical meditation, that is usually understood to be the next step in Buddhist meditative practice after śamatha, or "calm abiding." => Phiên âm từ chữ vipaśyanā trong tiếng Sanskrit và chữ vipassanā trong tiếng Pali. Hán dịch là Quán 觀. Là pháp thiền quán sát hay phân tích, thường được hiểu là bước kế tiếp trong pháp thiền Chỉ (s: śamatha) của Phật giáo.
Tỳ-bát-xá-na 毘鉢舎那
[ja] ビバッシャナ bibasshana ||| Also written 毘婆舎那. A transcription of the Sanskrit vipaśyanā, the "observing" or "analytical" (觀) meditation taught in Buddhism along with śamatha (stabilizing 止) meditation. => Còn gọi là Tỳ-bà-xá-na 毘婆舎那. Phiên âm chữ vipaśyanā trong tiếng Sanskrit, là pháp thiền quán chiếu hay phân tích theo giáo lý Phật pháp, đi cùng với pháp thiền Chỉ (止s: śamatha).
Tỳ-câu-chi 毘倶胝
[ja] ビグチ Biguchi ||| Bhrukuṭi. One of the 37 bodhisattvas of the garbha-dhātu 胎藏界. (s: Bhrukuṭi). => Một trong 37 vị Bồ-tát trong Thai tạng giới (s: garbha-dhātu 胎藏界)
Tỳ-da quật 毘耶窟
[ja] ビヤクツ biyakutsu ||| The "room at Vaiśāli," which refers to Vimalakīrti's room, which is commonly rendered in Chan literature as 方丈, or "one square chang (approximately nine square meters). This is a term of respect which indicates the room of a head monk, or the head monk himself. => 'Trượng thất tại thành Tỳ-da', chỉ cho căn phòng của Duy-ma-cật, trong văn học thiền thường dịch là phương trượng, “một trượng vuông” (tương đương chín mét vuông). Đây là thuật ngữ chỉ cho sự kính trọng đối với nơi ở của vị trú trì, hay đối với chính vị trú trì một thiền viện.
Tỳ-da 毘耶
[ja] ビヤ Biya ||| A reference to Vaiśāli, the home of Vimalakīrti (維摩). => (s: Vaiśāli), quê hương của Duy-ma-cật (s: Vimalakīrti 維摩).
Tỳ-da-khư-lê-na 毘耶佉梨那
[ja] ビヤキョリナ biyakyorina ||| A transcription of the Sanskrit vyākaraṇa, which means the prediction of future buddhahood, given by the Buddha toward one of his disciples; most commonly translated as 授記 and 受記. One of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. => Phiên âm chữ vyākaraṇa trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là sự báo trước tương lai sẽ thành Phật do Đức Phật bảo cho đệ tử, thường dịch là Thụ ký 授記 và 受記. Là một trong 12 thể loại truyền thống của kinh văn Phật giáo.
Tỳ-da-li
phiên âm từ Phạn ngữ là Vailỵ, cũng đọc là Tỳ-xá-li, Di-da-li, một đô thành lớn ở miền Trung Ấn Độ, dịch nghĩa là Quảng Nghiêm. Đây là nơi cư trú của Bồ Tát Duy-ma-cật, vị cư sĩ là Bồ Tát hiện thân thuyết pháp trong kinh Duy-ma-cật.
Tỳ-da-yết-thích-nam
xem Tỳ-già-la.
Tỳ-già-la
phiên âm từ Phạn ngữ là Vykaraṇa, cũng đọc là Tỳ-da-yết-thích-nam, Tỳ-già-la-na, hay Tỳ-hà-yết-lợi-nã, Hán dịch là Thanh minh ký luận (聲明記論), là một bộ luận về ngữ học của Ấn Độ từ thời cổ đại, không biết có từ bao giờ và cũng không biết ai là tác giả, nên có tương truyền là do đức Phạm thiên thuyết dạy. Đây là một bộ luận rất lớn, đề cập đến nhiều vấn đề và phương pháp biện luận nên hàng học giả Ấn Độ không có ai là không nghiên cứu, học tập. Tên gọi này cũng dùng chỉ chung các bộ luận về ngữ học của thế tục.
Tỳ-hà-yết-lợi-nã
xem Tỳ-già-la.
Tỳ-kheo ni Đại Ái Đạo
xem Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di.
Tỳ-kheo Thảo Hệ
vị tỳ-kheo này bị bọn cướp chặn đường giựt lấy áo và bát, rồi dùng thân cỏ tươi quấn vào tay chân. Thầy bị trói như vậy, chẳng dám cử động vì sợ làm trốc gốc rễ mà chết cỏ, thành ra phạm giới. Sau có người đi đường trông thấy, gỡ ra cho thầy. Do chuyện này nên người ta gọi thầy là tỳ-kheo Thảo Hệ (vị tỳ-kheo bị trói bằng cỏ).
Tỳ-kheo Xiển-đề
vị tỳ-kheo này tuy được gặp Phật mà phát tâm xa lìa ác nghiệp, xuất gia tu hành, nhưng về sau không tin nhân quả, nên người đương thời gọi là tỳ-kheo Xiển-đề.
Tỳ-lam-bà 毘藍婆
[ja] ビランバ Biranba ||| Vilambā. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a23〕 => (s: Vilambā) Một trong 10 la-sát nữ hộ trì Phật pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập la-sát nữ.
Tỳ-ly
tên nước, phiên âm từ Phạn ngữ Vṛji, cũng thường đọc là Tỳ-ly-tử, là một trong mười sáu nước lớn vào thời đức Phật, còn có rất nhiều cách phiên âm khác như Bạt-kỳ, Bạt-xà, Tỳ-lê-kỳ, Việt-kỳ, Phất-lật-thị... Thời Phật tại thế, vua A-xà-thế có lần muốn mang quân đánh nước này, sai đại thần là Vũ Xá (Varṣakra) đến thỉnh ý Phật. Phật đưa ra bảy điều để khuyên vua không nên đánh. Vua A-xà-thế nghe lời bãi binh. Theo Đại Đường Tây vực ký, quyển 7, thì nước này có chu vi hơn bốn ngàn dặm, nằm ở vị trí cao, đất đai cây cối xanh tốt, khí hậu rất lạnh, người dân đa phần tin theo ngoại đạo, ít người tin Phật pháp, chư tăng ở đây theo học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Trong kinh này gọi đây là nước ngoại đạo, chứng tỏ vào thời đức Phật thì dân nước này cũng đã tin theo ngoại đạo nhiều hơn theo Phật.
Tỳ-lê-da ba-la-mật
phiên âm từ Phạn ngữ là Vỵrya-pramit, tức là Tinh tấn ba-la-mật, một trong sáu pháp ba-la-mật, cũng gọi là Tinh tấn độ. Xem thêm ba-la-mật.
Tỳ-lê-da 毘梨耶
[ja] ビリヤ biriya ||| A transcription of the Sanskrit vīrya, which means to make effort, endeavor, strive. Usually written in Chinese as 勤 (qin) or 精進 jingjin. One of the six perfections liu boluomi 六波羅蜜. => Phiên âm chữ vīrya từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là nỗ lực, cố gắng, tinh tiến. Tiếng Hán thường dùng là Cần (勤c: qin) hoặc Tinh tiến (精進 c: jingjin). Là một trong sáu ba-la-mật.
Tỳ-lô-giá-na Phật 毘盧遮那佛
[ja] ビロシャナブツ biroshanabutsu ||| A transcription of the Sanskrit for Mahāvairocana (Tathāgata), the central buddha of Vajrayāna Buddhism. See 大日如來. => Phiên âm chữ Mahāvairocana (Tathāgata) trong tiếng Sanskrit, Đức Phật trung tâm của Kim Cương thừa Phật giáo. Xem Đại Nhật Như Lai大日如來.
Tỳ-lô-giá-na 毘盧遮那
[ja] ビロシャナ Biroshana ||| Mahāvairocana Buddha. See 大日如來. => (s: Mahāvairocana Buddha). Xem Đại Nhật Như Lai 大日如來.
Tỳ-lưu-ly
xem thái tử Lưu-ly.
Tỳ-ma-chất-đa-la 毘摩質多羅
[ja] ビマシッタラ Bimashittara ||| Vimalacitra; the name of an Asura king. 〔法華經 T 262.9.02b01〕 => (s: Vimalacitra) Tên một vị vua A-tu-la.
Tỳ-na-da 毘那耶
[ja] ビナヤ binaya ||| Chinese transcription of the Sanksrit/Pali vinaya, which is usually translated into Chinese as 律. The body of texts containing the precepts which serve as a guide for the behavior of Buddhist practitioners. Also transcribed as 毘奈耶. => Phiên âm chữ vinaya trong tiếng Sanksrit và Pali, Hán dịch là Luật. Phần kinh văn ghi rõ giới luật, như là chỉ dẫn cho mọi sinh hoạt hằng ngày của tăng sĩ Phật giáo. Còn phiên âm là Ty-nại-da 毘奈耶.
Tỳ-ni tạng 毘尼藏
[ja] ビニゾウ binizō ||| The vinaya-piṭaka; the portion of the Buddhist canon that enumerates the rules of discipline; see 律藏. => (s: vinaya-piṭaka) Tạng luật trong kinh tạng Phật giáo, nội dung gồm giới luật. Xem Giới luật.
Tỳ-ni 毘尼
[ja] ビニ bini ||| The vinaya, or system of moral discipline followed by members of the Buddhist sangha. See 戒律. => Hệ thống giới luật mà các tăng sĩ Phật giáo phải tuân thủ. Xem Giới luật戒律.
Tỳ-nại-da kinh 毘奈耶經
[ja] ピダイヤキョウ Binaya kyō ||| The Pinaiye jing (Vinaya Sutra). 1 fasc. (T 898.18.773-776). The "discipline" (vinaya 毘奈耶) of the title refers to a meditators' control over their six sensory functions. KI (mb) 3 => (c: Pinaiye jing;e: Vinaya Sutra). 1quyển. Chữ 'Giới luật' ( 毘奈; Tỳ-nại-da; s: vinaya) trong đề kinh chỉ cho sự kiềm chế 6 giác quan của người tu tập thiền định.
tỳ-nại-da tối thắng pháp thuyết
Vinaya-samukase (S)Tên một bộ luận kinh.
Tỳ-nại-da 毘奈耶
[ja] ビナヤ binaya ||| Chinese transcription of the Sanskrit/Pali vinaya, which is usually translated into Chinese as 律. The body of texts containing the precepts which serve as a guide for the behavior of Buddhist practitioners. Also transcribed as 毘那耶. => Phiên âm chữ Vinaya từ tiếng Sanskrit và Pali, Hán dịch là Luật. Phần kinh văn ghi rõ giới luật, như là chỉ dẫn cho mọi sinh hoạt hằng ngày của tăng sĩ Phật giáo.
Tỳ-phú-la
phiên âm từ Phạn ngữ là Vipula, tên một ngọn núi, có nghĩa là rộng lớn (quảng đại), thường được dùng để ví với những gì rất to lớn, không thể hình dung hết, không thể đo lường được (bất khả trắc lượng).
; (tên kinh): xem Tỳ-phật-lược.
Tỳ-phật-lược
phiên âm từ Phạn ngữ là Vaipulia, cũng đọc là Tỳ-phú-la, dịch nghĩa là Phương quảng kinh, xếp thứ mười trong 12 bộ kinh, dịch nghĩa là kinh Phương quảng, lấy nghĩa “phương chánh quảng đại” (ngay thẳng chân chánh và rộng lớn), tức là kinh điển Đại thừa. Xem thêm Mười hai bộ kinh.
Tỳ-phật-lược 毘佛略
[ja] ヒブツリャク hibutsuryaku ||| Transcription of the Sanskrit vaipulya, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經. These are works whose themes spread across a wide range of teachings. Usually translated into Chinese as 方廣. => Phiên âm chữ vaipulya trong tiếng Sanskrit, là một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Đây là những bản kinh mà đề tài trải rộng cho mọi căn cơ. Hán dịch là Phương quảng 方廣.
Tỳ-sa-môn 毘沙門
[ja] ビシャモン Bishamon ||| Vaiśravaṇa. See 多聞天. 〔法華經 T 262.9.59a7〕 => (s: Vaiśravaṇa). Xem Đa văn thiên 多聞天.
Tỳ-thế 毘世
[ja] ビセイ bisei ||| Transcription of the Sanskrit Vaiśeṣika; see 勝論. => Phiên âm chữ Vaiśeṣika trong tiếng Sanskrit. Xem Thắng luận 勝論.
Tỳ-thế-sư
xem Vệ-thế-sư.
tỳ-xá
xem bốn giai cấp.
Tỳ-xá 毘舍
[ja] ビシャ bisha ||| Transcription of the Sanskrit vaiśya, the third of the four Indian castes--the merchant caste. => Phiên âm chữ vaiśya trong tiếng Sanskrit, là giai cấp thứ 3 trong 4 giai cấp của xã hội Ấn Độ -- là giai cấp thương gia.
tỳ-xá-da
xem bốn giai cấp.
Tỳ-xá-khư
phiên âm từ Phạn ngữ là Vikh, là một vị ưu-bà-di (nữ cư sĩ) ở thành Xá-vệ. Đức Phật giao cho bà nhiệm vụ thông tin qua lại giữa các vị trong tăng đoàn tỳ-kheo và tỳ-kheo ni. Bà cũng là người đề đạt ý nguyện của các vị ưu-bà-di khác lên đức Phật.
Tỳ-xá-li
xem Tỳ-da-li.
Tỳ-xá-li quốc 毘舍離國
[ja] ビシャリコク bisharikoku ||| The Central Indian state of Vaiśālī, inhabited by the Licchavī people. One of the sixteen major states at the time of Śākyamuni Buddha. The capital, also called Vaiśālī 毘舍離城, the site of much Buddhist teaching activity, was located in the present-day Besarb, twenty-seven miles north of Patna. => Quốc gia Tỳ-xá-li (s: Vaiśālī) thuộc vùng Trung Ấn, chủng tộc Licchavī cư ngụ ở đó. Là 1 trong 16 quốc gia chính trong thời Đức Phật. Thủ đô còn gọi là thành Tỳ-xá-li, là nơi có nhiều Phật pháp lưu hành, ngày nay gọi là vùng Besarb, cách Patna 27 dặm về phía Bắc.
Tỳ-xá-li thành kết tập 毘舍離城結集
[ja]ビシャリジョウケツジュウ bisharijō ketsujū ||| The Second Buddhist Council, held at Vaiśālī. See 第二結集. => Kỳ kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ 2, được tổ chức tại thành Tỳ-xá-li. Xem Đệ nhị kết tập 第二結集.
Tỳ-xá-li thành 毘舍離城
[ja] ビシャリジョウ Bisharijō ||| The city of Vaiśālī, which was the venue for the Second Council , held one hundred years after Śākyamuni's death. => Thành Tỳ-xá-li (s: Vaiśālī), nơi tổ chức kỳ kết tập kinh điẻn lần thứ 2, được tổ chức 100 năm sau khi Đức Phật nhập niết-bàn.
Tỳ-xá-li 毘舍離
[ja] ビシャリ Bishari ||| Vaiśālī, the name of both a city 毘舍離城 and a state 毘舍離國 in Central India during the time of Śākyamuni Buddha. => (s: Vaiśālī) Tên của thành Tỳ-xá-li và nước Tỳ-xá-li ở vùng Trung Ấn trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế.
Tỳ-đà
phiên âm từ Phạn ngữ là Veda, cũng đọc là Vi-đà, Phệ-đà, một bộ luận rất cổ của đạo Bà-la-môn, có từ trước thời đức Phật.
Tỳ-đàm tông 毘曇宗
[ja] ビドンシュウ Bidonshū ||| The Pitanzong or Abhidharma School--one of the thirteen Chinese Buddhist sects. Not really a distinctly established school in East Asia, but refers to those who concentrated on the study of the texts of the Sarvāstivāda school 有部, such as the Za apitanxin lun 雜阿毘曇心論. => (c: Pitanzong) Tông A-tỳ-đạt-ma -- một trong 13 tông phái Phật giáo. Không thực sự là một tông phái Phật giáo đặc biệt thành lập ở Á Đông, nhưng đề cập đến những người chuyên tập trung nghiên cứu kinh luận của Hữu bộ, như Tạp A-tỳ-đàm tâm luận (c: Za apitanxin lun 雜阿毘曇心論).
Tỳ-đàm 毘曇
[ja] ビドン bidon ||| (1) An abbreviation of the the transcription of abhidharma, fully transcribed as 阿毘曇 and 阿毘達磨 and translated as 論. (2) A reference to the Abhidharmakośa-bhāsya 倶舍論. (3) A reference to lesser vehicle 小乘 scholars or scholarship. => Viết tắt từ Phiên âm chữ abhidharma, Phiên âm đầy đủ là A-tỳ-đàm 阿毘曇 và A-tỳ-đạt-ma 阿毘達磨, dịch là Luận (論). Thuật ngữ đề cập đến A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận (s: Abhidharmakośa-bhāsya 倶舍論). Đề cập đến học thuật hoặc học giả Tiểu thừa.
tỵ căn
Ghānappasada rŪpa (S), Organ of smelling sense, Ghranendriya (S)Một trong ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân căn).
tỵ giới
Ghāna-dhātu (S), Nose element.
tỵ thức
Ghāna-viāṇa (P), Smelling-consciousness.
tỷ
1) Lổ mũi: Ghrana (skt)—Lổ mũi là một trong ngũ căn, cũng là một trong lục thức—Nose, one of the five indriyas; the organ of smell; one of the six vijnanas, or perceptions, the sense of smell. 2) Màu tím—Purple—Dark red.
tỷ bà sa
Vibhasa (skt)—See Tỳ Bà Sa.
tỷ cách thiền sư
Vị thiền sư mà lổ mũi và các căn khác (ngũ căn) đã cắt đứt khỏi dòng cảm thọ—Dhyana master with nose and other organs shut off from sensation.
tỷ cô
Vị nữ Thần trú ngụ nơi hầm phẩn—The goddess of the cesspool.
tỷ căn
Lổ mũi—The organ of smell.
Tỷ Duệ Sơn
(比叡山, Hieizan): tên ngọn núi cao chót vót nằm ở phía Đông Bắc thành phố Kyoto (京都), Kyoto-fu (京都府), Shiga-ken (滋賀縣). Từ xưa nơi đây đã nổi tiếng với tư cách là ngọn núi linh thiêng để trấn hộ vương thành. Năm 785 (niên hiệu Diên Lịch [延曆] thứ 4), Tối Trừng (最澄, Saichō) lên núi này, lập nên Tỷ Duệ Sơn Tự (比叡山寺, Hieizan-ji), lấy đến thờ Nhật Cát Thần Xã (日吉神社, Hie-jinja) làm Địa Chủ Thần. Trên núi có hai chỗ rất cao, phía đông là ngọn Đại Tỷ Duệ (大比叡) hay còn gọi là Đại Nhạc (大岳), cao 848 mét; phía Tây là ngọn Tứ Minh Nhạc (四明岳), cao 839 mét. Ngay giữa phía đông có ngôi chùa trung tâm của Thiên Thai Tông là Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), tên gọi được sắcphong sau khi Tối Trừng qua đời; cho nên Tỷ Duệ Sơn còn là sơn hiệu của Diên Lịch Tự.
tỷ dụ
For instance—For example—Example.
tỷ kheo
See Tỳ Kheo.
tỷ kheo ni
See Tỳ Kheo Ni.
tỷ lượng
Người tu chánh pháp phải giác ngộ, dùng thí dụ để thuyết minh thực tướng của hiện lượng, khiến người phát khởi tín giải, gọi là Tỷ lượng.
; Inference, i.e. fire from smoke—See Nhị Lượng, and Tông Nhân Dụ.
tỷ lượng tương vi
Viruddha (skt)—Một trong chín lỗi trong Tông Pháp trong 33 lỗi của Nhân Minh như nói cái bình là thường hằng vĩnh cửu vì tính sở tác của nó (nhân)—A contradicting example or analogy in logic, such as the vase is permanent or eternal because of its nature; one of the nine , in the proposition, of the thirty-three possible fallacies in a syllogism.
tỷ lạc ba a xoa
Virupaksa (skt). 1) Một trong những vị thần canh giữ tứ phương quanh núi Tu Di: One of the lokapalas, or guardians of the four cardinal points of Mount Sumeru—See Lokapala in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Ở Trung Quốc, vị Thần nầy được xem như “Quảng Mục” Thiên Vương, da màu đỏ, tay phải cầm một cái tháp nhỏ, tay trái cầm một con rắn: In China known as “Wide-eyed” guardians, red in colour, with a small pagoda in his right hand, and a serpent in his left. 3) Người ta cũng thờ vị Thần nầy như một trong nhị thập tứ vị Thiên Tôn bên Trung Quốc: In China worshipped as one of the twenty-four Deva Arya. 4) Tên của Thần Ma Hê Thủ La: A name for Mahesvara or Rudra (Siva).
tỷ lệ
Proportion—Ratio.
tỷ ma
Tỷ Ma Kim—Vàng ròng—Pure gold.
tỷ ma kim
Vàng ròng—Pure gold.
tỷ ma nhẫn nhục
Hình tượng Phật, tĩnh lặng và hững hờ trước những sướng khổ của cuộc đời—The Buddha's image in atitude of calmness and indifference to pleasure and pain.
tỷ mạn
Unamāna (S)Đối với người quá ưu việt thì cho rằng mình chỉ là hơi kém.
tỷ na dạ
See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
tỷ như
See Tỷ Dụ.
tỷ nhập
Tỷ căn và tỷ thức—Organ and sense of smell.
tỷ thức
Tỷ thức phát triển trên những điều kiện của khứu giác. Tỷ thức tùy thuộc hoàn toàn nơi tỷ căn. Nơi một người mất khả năng khứu giác, thì khứu giác và mùi vị không bao giờ gặp nhau, do đó tỷ thức không khởi sanh. Người tu Phật phải cố gắng đóng bớt tỷ căn—The sensation or perception of smell—Smell consciousness—Nose consciousness—Olfactory consciousness—The nose consciousness develops immediately from the dominant condition of the nose faculty when it focuses on smell. Nose consciousness completely dependents on the nose faculty. Someone who lacks smelling capability, nose faculty and smell never meet, therefore, nose consciousness will never arise. Buddhist cultivators should always practise meditation to stop or close the nose consciousness.
tỷ tức
1) Hơi thở bằng mũi: The breath of the nostrils. 2) Tỷ thức: The perception of smell.
tỷ xa khư
Vaisakha (skt)—Tháng thứ hai của mùa xuân—The second month of spring. ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt (2) in Vietnamese-English Section.
tỷ y
Tỷ Phục—Y màu tím hay đỏ thẳm, mà người ta nói là dành riêng cho một số Tăng dưới thời nhà Đường—The purple robe, said to have been bestowed on certain monks during the T'ang dynasty.
tỷ đa
Cha—Father.
Tỷ 比
[ja] ヒ hi ||| (1) To compare, contrast; comparison. (2) A part, segment, ratio, percentage. Partial. (3) For example... An example; a figure of speech. (4) Be included in; the same type. (5) To draw (become) close to. (6) A period of time. (7) Contest, match. => 1. So sánh, đối chiếu; sự so sánh. 2. Phần, đoạn, tỷ lệ, tỷ lệ phần trăm. Từng phần. 3. Tỷ dụ...ví dụ; minh hoạ cho lời nói. 4. Bao gồm; cùng loại. 5. Trở nên gần gũi. 6. Một thời kỳ. 7. Cuộc thi, trận đấu.
u
Hidden; dark; dim; gloomy; gmysterious.
; 1) Đen tối bí mật: Hidden—Dark—Mysterious. 2) Dầy: Dense. 3) Lo lắng: Anxious.
u bát la
See Ưu Bát La.
u cư
To live in seclusion.
u cốc
Dark cavern (cave).
U hiển
(幽顯): ẩn hiện, giống như âm dương, cũng chỉ cho cõi dương và cõi âm. Như trong bài Vi Trình Xử Bậc Từ Phóng Lưu Biểu (爲程處弼辭放流表) của Trần Tử Ngang (陳子昂, 661-702) nhà Đường có đoạn: “Tồn giả lưu ly, vong giả ai thống, tân toan u hiển, vi thế sở bi (存者流離、亡者哀痛、辛酸幽顯、爲世所悲, người còn xa lìa, người mất đau xót, chua cay ẩn hiện, nỗi buồn của đời).” Hay trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1 cũng có đoạn: “Nhất thiết thánh chúng, hà sa phẩm loại, u hiển thánh phàm, tất trượng chơn hương, phổ đồng cúng dường (一切聖眾、河沙品類、幽顯聖凡、悉仗眞香、普同供養, hết thảy thánh chúng, hà sa các loài, ẩn hiện thánh phàm, đều nhờ chơn hương, khắp đồng cúng dường).”
u hiển
The under world and the world of the living.
u huyền
Enigmatic,
u kim
See Ưu Kim.
u linh
Invisible spirits, the spirits in the shades, the soul of the departed.
; Tinh linh của cõi u minh, thứ mà chúng sanh trong lục đạo không thể thấy được. Sau khi con người chết, hình thể của họ không thể thấy được nên gọi là u linh—Invisible spirits, the spirits in the shades, the souls of the departed.
U Minh
(幽冥): tối tăm, u ám; do đó từ này dược dùng để chỉ cho cõi Địa Phủ (地府), Địa Ngục (地獄), nơi tối tăm, u ám. Đạo giáo cho rằng người quản chưởng U Minh thế giới là Phong Đô Đại Đế (酆都大帝). Theo Phật Giáo, Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏) được xem như là giáo chủ cõi U Minh, là người thệ nguyện vào cõi Địa Ngục để cứu dộ chúng sanh như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412) có dạy rằng: “Địa Ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề (地獄未空誓不成佛,眾生度盡方證菩提, Địa Ngục chưa hết thề không thành Phật, chúng sanh độ tận mới chứng Bồ Đề).” Trong Thiền môn, thỉnh chuông buổi khuya, sáng sớm được gọi là “Thỉnh Chuông U Minh”, nghĩa là thỉnh chuông để cho các chúng sanh trong cõi tối tăm của Địa Ngục được nghe tiếng chuông mà xa lìa khổ đau, chứng quả giải thoát, như trong bài kệ nguyện chuông có dạy rằng: “Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành chánh giác (願此鐘聲超法界、鐵圍幽闇悉遙聞、聞塵清淨證圓通、一切眾生成正覺, nguyện tiếng chuông này vang pháp giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe, phiền não trong sạch chứng viên thông, hết thảy chúng sanh thành chánh giác)”, và “Văn chung thanh, phiền não khinh, trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh, ly Địa Ngục, xuất hỏa khanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh (聞鐘聲、煩惱輕、智慧長、菩提生、離地獄、出火坑、願成佛、度眾生, nghe tiếng chuông, phiền não buông, trí huệ lớn, Bồ Đề sanh, rời Địa Ngục, thoát lửa than, nguyện thành Phật, độ chúng sanh).”
u minh
Mysterious, beyond comprehension; the shades.
; 1) Nơi xa xôi u tối mà kiến thức bình thường không hiểu nổi: A dark, obscure, and mysterious which is beyond comprehension. 2) Cõi âm ty: The shades—Hells.
u minh giới
See U Minh and Minh Giới.
u mê
Stupid, idiot. Làm u mê, to stupefy, besot, deaden, bestialize.
u nghi
The mysterious form, the spirit of the dead.
; Thần thức của người chết—The mysterious form, the spirit of the dead, or the departed.
U quan
(幽關): cõi tối tăm, u ám, thường được dùng để chỉ cho cõi Âm Ty, Địa Ngục của người chết. Trong tác phẩm Kim Bình Mai (金瓶梅), chương 66 Lan Lăng Tiếu Tiếu Sanh (蘭陵笑笑生) nhà Minh có đoạn: “Thái Ất từ tôn giáng giá lai, dạ hác u quan thứ đệ khai, đồng tử song song tiền dẫn đạo, tử hồn thọ luyện bộ vân giai (太乙慈尊降駕來、夜壑幽關次第開、童子雙雙前引導、死魂受煉步雲階, Thái Ất đức từ hạ xuống đây, hang tối cõi u dần dần khai, đồng tử hai bên trước dẫn lối, hồn chết thọ luyện lên tầng mây).” Hay như trong bài Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進) của Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) nhà Minh có câu: “Cảnh sách tại thủ, tật khu nhi trường trì, phá tối hậu chi u quan (警策在手、疾驅而長馳、破最後之幽關, cảnh tỉnh và sách tấn vốn ở nơi tay mình, thúc chạy mau mà đuổi theo lâu dài, để phá cửa tối tăm cuối cùng).” Trong Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Xan Hương Lục (爲霖道霈禪師餐香錄CBETA No. 1439) cũng có câu: “U quan đốn phá, hiển thanh tịnh quang minh chi thân; Cực Lạc cao siêu, chứng A Bệ Bạt Trí chi địa (幽關頓破、顯清淨光明之身、極樂高超、證阿鞞跋致之地, nẻo u phá sạch, bày thanh tịnh sáng suốt ấy thân; Cực Lạc lên cao, chứng A Bệ Bạt Trí cảnh địa).” Cũng như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō No. 2077) quyển 19 có đoạn: “Vụ khởi giao nguyên long ngâm thành tế, phong sanh hạm ngoại hổ khiếu đình tiền, mộc đồng chàng xuất u quan, thạch nữ phách khai kim tỏa (霧起郊源龍吟城際、風生檻外虎嘯亭前、木童撞出幽關、石女擘開金鎖, sương nổi đầu nguồn rồng gầm ngoài thành, gió sanh ngoài hiên cọp thét trước đình, người gỗ đánh ra cửa u, gái đá bữa tung khóa vàng).” Câu “mộng đoạn Nam Kha, vĩnh cách u quan chi lộ (夢斷南柯、永隔幽關之路)” có nghĩa là khi giấc mộng Nam Kha chấm dứt thì vĩnh viễn cách xa con đường dẫn đến cõi u tối của Địa Ngục, Âm Ty.
u sầu
Secret sorrow (sad).
U thâm 幽深
[ja] ユウシン yūshin ||| 'Mysterious and deep.' => Huyền bí và sâu mầu.
U trí 幽致
[ja] ユウチ yūchi ||| Subtle. Sublime meaning. => Huyền ảo, vi tế. Ý nghĩa siêu phàm. U 幽 [ja] ユウ yū ||| (1) Obscure, obscured. (2) Dark, gloomy. (3) Secret, subtle, abstruse. (4) Death, the spirit of the dead. => 1. Tối, che mờ. 2. Tối tăm, u ám. 3. Bí ẩn, tinh tế, thâm thuý. 4. Cõi chết, linh hồn của người chết.
u uất
Oppressive.
u ám
Dark, gloomy, obcure, sombre. Mặt u ám, dismal, melancholy face. Tư tưởng u ám, dismal thoughts.
u đa la
Uttara (skt)—U Đảm La. 1) Hậu Quả: Subsequent—Result. 2) Cao Hơn: Thượng—Upper—Higher—Superior—Further. 3) Phía Bắc: North.
u đa la cứu lưu
Uttarakuru (skt)—U Đa La Câu Lâu. Còn gọi là Câu Lư Châu, hay là châu ở về phía Bắc núi Tu Di, hình vuông, dân cư ở đây cũng có mặt hình vuông—The northern of the four continents around Meru, square in shape, inhabited by square-faced people, described as: a) Cao Thượng Tác: Superior to or higher than other continents. b) Thắng: Superior. c) Thắng Sinh: Đời sống nơi nầy kéo dài đến cả ngàn năm và chúng sanh ở đây không phải sản xuất thực phẩm—Superior life because human life there was supposed to last a thousand years and food was produced without human effort. d) Nơi cư ngụ của chư Thiên, chư Thánh trong cõi Phạm Thiên—The dwelling of gods and saints in Brahmanic cosmology.
u đa la tăng già
Uttarasanga (skt)—Áo bên trên và phía ngoài của chư Tăng (áo thất điều mặc choàng qua vai trái)—An upper and outer garment; the seven-patch robe of a monk (the robe flung toga-like over the left shoulder).
u đa ma
Uttama (skt). 1) Chính Yếu: Chief. 2) Cao Nhứt: Highest. 3) Lớn Nhứt: Greatest.
u đà la la ma tử
Một vị Bà La Môn có nhiều thần thông, một thời là thầy dạy của Phật Thích Ca sau khi Ngài xuất gia—A Brahman ascetic, to whom miraculous powers are ascribed, for a time mentor of Sakyamuni after he left home.
u đảm la
See U Đa La.
U đồ
(幽途): con đường tối tăm, u ám, chỉ ba đường ác Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh luân hồi trong Sáu Đường. Trong bài Hòa Lang Gia Vương Y Cổ Thi (和瑯琊王依古詩) có câu: “Trọng Thu biên phong khởi, cô bồng quyến sương căn, bạch nhật vô tinh cảnh, hoàng sa thiên lí hôn, hiển quỹ mạc thù triệt, u đồ khởi dị hồn, thánh hiền lương dĩ hỉ, bão mạng phục hà oan (仲秋邊風起、孤蓬卷霜根。孤蓬卷霜根、白日无精景。白日無精景、黄沙千里昏。黃沙千里昏、显轨莫殊辙。顯軌莫殊轍、幽途岂异魂。幽途豈異魂、圣贤良已矣。聖賢良已矣、抱命复何怨。抱命復何怨, Giữa Thu gió xa dậy, bèo đơn góp hơi sương, ngày sáng không cảnh sắc, cát vàng muôn dặm buông, xe lăn nào thấy dấu, lối mờ buốt lạnh hồn, thánh hiền xưa nay vậy, giữ mạng lấy gì oan ?).” Hơn nữa, trong Tông Kính Lục (宗鏡錄) cũng có đoạn rằng: “Lục cảnh chi nội, phi Niết Bàn chi trạch cố, tá xuất dĩ khư chi nhĩ, thứ hi đạo chi lưu, phảng phất u đồ, thác tình tuyệt vức, đắc ý vong ngôn (六境之內、非涅槃之宅故、借出以祛之耳、庶希道之流、彷彿幽途、托情絕域、得意忘言, Trong sáu cảnh ấy, vì không phải là nhà của Niết Bàn, bèn mượn để đuổi ra khỏi đó vậy, những hạng người cầu đạo, phảng phất chốn u đồ, phó tình chốn tuyệt vọng, được ý rồi quên lời).”
u đồ
The dark paths, i.e. rebirth in purgatory or as hungry ghosts, or animals.
; Con đường tăm tối, sau khi chết phải đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh (con đường u minh mà thần thức sẽ phải đến để chịu sự phán quyết về tội phúc lúc sanh tiền; tùy theo tội phúc mà phải đọa vào ba đường dữ hay lên cõi trời, hoặc về cõi nhân gian)—The dark paths, i.e. of rebirth in purgatory or as hungry ghosts or animals.
u động
Deep and dark cavern (cave).
u ẩn
Hidden, secret, in seclusion. Sống u ẩn, to live in seclusion.
; Hidden—Secret.
u-ba-vac-ta-na
Upavartana (S)Tên một khu rừng gần thành Câu thi na thuộc vương quốc Mạt La, đây là chỗ đức Thích Ca Mâu ni đã nhập diệt.
U-pa-na-ha
S: upanaha; »Thợ đóng giày«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|U-pa-na-ha là người thợ đóng giày tại Sen-đô-na-ga (seṅdhonagar). Ngày nọ thấy một Du-già sư đi ngang, ông bỗng sinh lòng mến mộ, đi theo xin học Phật pháp. Vị này chỉ ông nguyên nhân của mọi cảnh Khổ trên đời và niềm vui khi thoát được sinh tử. Ông cầu xin phép tu tập để thoát khổ, vị Du-già sư Quán đỉnh cho ông và bảo:|Những chiếc chuông bé tí,|gắn trên hai đôi giày,|buông tiếng chuông dễ chịu.|Lắng nghe tiếng chuông đó,|và quán tưởng như sau:|Âm và Không là một.|Người thợ giày quán như thế chín năm trời. Dần dần các Ô nhiễm trong tâm ông tan biến, những thứ ô nhiễm che mất huệ giác của ông, làm trì trệ khả năng thật sự nơi ông. Ông sống thêm chín trăm năm nữa để giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Một trái tim thanh tịnh,|khi mong cầu điều gì,|điều đó liền hiển hiện.|Thật tại rất sinh động,|và cũng rất nhạy cảm,|những gì ta muốn có,|tức khắc thành sự thật.
U-đi-li-pa
S: udhilipa; »Người chim«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9 hoặc 11.||H 71: U-đi-li-pa (udhilipa) đang hoà mình vào không gian.|Ông thuộc giòng dõi vương tước, sống sung sướng trong cung điện xa hoa. Ngày nọ, ông thấy một con chim bay trên trời bỗng nhiên phát ý nguyện muốn bay được như chim. Lần nọ, vị Ma-ha Tất-đạt Thánh Thiên đến khất thực, ông cúng dường hậu hỉ rồi quì lạy xin học phép biết bay. Thánh Thiên cho ông nhập môn một Tan-tra đặc biệt, bảo ông phải đi đến 24 thánh địa, tìm kiếm 24 thuốc quý của 24 vị Không hành nữ (s: catuṣpīṭha-mahāyoginī-tan-tra), đọc thần chú của các vị đó hàng vạn lần. Ông vâng lời, hành hương và sau khi trở về gặp lại Thánh Thiên, ông được chỉ cách sắc thuốc. Sau 12 năm thì thuốc sắc xong, quả nhiên U-đi-li-pa bay được. Người đời gọi ông là »Du-già sư biết bay«. Bài thánh ca của ông như sau:|Chỉ điên mới theo đuổi,|dòng tư tưởng lao xao.|Bỏ đi thói quen đó,|Nghiệp sẽ dứt theo liền.|Ðừng rong ruổi nơi đâu,|tâm tự thấy điểm giữa.|Cố tìm nơi đâu khác,|chỉ phí hoài công thôi.|(Xem tên của 24 Thánh địa dưới Jô-gi-pa).
ujjaya
Ujjaya (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
un khói
To fill with smoke—To smoke out mosquitoes.
un đúc
Hun đúc—To form—To train—To forge.
ung dung
At leisure—Leisurely.
Ung 癰
[ja] ヨウ yō ||| A tumor, or boil, which is removed by a skillful doctor with a sharp knife. The Buddha removes afflictions in the same way. 〔瑜伽論 T 1579.30.625a26〕 => Khối u, nhọt, áp-xe, cần phải được bác sĩ tài giỏi giải phẩu bằng dao bén nhọn. Đức Phật điều phục phiền não của chúng sinh cũng bằng cách như vậy.
upakala
Upakala (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upanemi
Upanemi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upanita
Upanita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upasabha
Upasabha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
upasidari
Upasidari (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
usabha
Usabha (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
uy
Prabhava (skt)—Dáng vẻ uy nghi—Awe-inspiring majesty.
uy danh
Power and reputation—Prestige.
uy lực
Xem Gia trì.
; Power and influence.
Uy lực 威力
[ja] イリキ iriki ||| Supernatural powers; see 威神力. 〔法華經 T 262.9.36b18〕 => Năng lực thần thông. Xem uy thần lực.
uy nghi
(A) Nghĩa của Uy Nghi—The meanings of Respect-inspiring deportment: 1) Đi, đứng, ngồi, nằm, đều có uy nghi phép tắc. Có đến 3.000 uy nghi và 80.000 phép tắc về uy nghi nầy—Majestic—Solemnly—Respect-inspiring deportment, or dignity, i.e. in walking, standing, sitting, lying. There are said to be 3,000 and also 80,000 forms of such deportment. (B) Phân Loại Uy Nghi—Categories of Respect-inspiring deportment: a) Tứ Uy Nghi—Four forms of respect-inspiring deportment: 1) Đi: Walking. 2) Đứng: Standing. 3) Nằm: Lying. 4) Ngồi: Sitting. b) Tam Thiên Uy Nghi: Bao gồm 250 giới cụ túc Tiểu Thừa và tất cả những tế hạnh khác—Three thousand forms of respect-inspiring deportment, including the complete 250 commandments for Hinayana Bhikkhus and all other subtle behaviors. c) Tám Vạn Uy Nghi: Tám vạn tư uy nghi của Bồ Tát Đại Thừa, có nghĩa là nhiều uy nghi vô số kể cho hàng Bồ Tát—Eighty thousand forms of respect-inspiring deportment, meaning there are innumerable forms of respect-inspiring deportment for the Bodhisattvas. *** See Ba Ngàn Oai Nghi and Tám Muôn Tế hạnh.
Uy nghi lộ vô ký 威儀路無記
[ja] イギロムキ igiro muki ||| See 威儀無記. 〔瑜伽論 T 1579.30.668a7〕 =>Xem Uy nghi vô ký威儀無記.
Uy nghi lộ 威儀路
[ja] イギロ igiro ||| That which is related to the deportments 威儀. => Thuật ngữ liên quan đến Uy nghi.
uy nghi pháp sư
Uy Nghi Tăng—A master of ceremonies.
uy nghi tăng
See Uy Nghi Pháp Sư.
Uy nghi vô ký 威儀無記
[ja] イギムキ igi muki ||| The morally neutrality and non-impedimentary character of the four modes of deportment 威儀, which is one of the four kinds of non-impedimentary moral neutrality 四無記, originally taught by the Sarvāstivādins 有部. 〔倶舎論、 T 1559.29.181c26〕 =>Đạo đức trung tính và vô ký trong 4 uy nghi, là một trong 4 loại vô ký, thường được đề xướng bởi Hữu bộ.
Uy nghi 威儀
[ja] イギ igi ||| (1) Dignity (of demeanor); majesty; a sense of decorum, the kind of attitude that is appropriate at a sacred rite. (2) Behavior, conduct. Everyday activity. (3) Specifically speaking, the four deportments of walking 行, standing 住, sitting 坐, and lying down 臥 (īrya-patha). (4) Behavior according to proper rules of order; excellent behavior. (5) A synonym for the precepts 戒律. => 1. Phẩm cách (trong phong thái cử chỉ); vẻ oai nghiêm; ý thức về sự đoan nghiêm; phong cách tương ứng với các lễ nghi thiêng liêng. 2. Phong cách, hành vi sinh hoạt hằng ngày. 3. Nói chung là 4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm (s: īrya-patha). 4. Phong cách khế hợp với giới luật, phong cách ưu việt. 5. Đồng nghĩa với giới luật.
uy nghiêm
Imposing—Solemn—Grave.
uy nộ
Awe-inspiring; wrathful majesty.
uy nộ vương
Tên chung của chư vị Kim Cang Bộ hiện ra Phẫn Nộ Hộ Pháp trong Phật Giáo—The Wrathful Maharaja guardians of Buddhism.
Uy nộ vương niệm tụng pháp 威怒王念誦法
[ja] イヌオウネンショウホウ Inuō nenshō hō ||| The Weinuwang niansong fa (T 1214.21.73-76); abbreviated title of the Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa 聖閻曼德迦威怒王立成大神驗念誦法. => (c: Weinuwang niansong fa ); viết tắt của Thánh diệm mạn đức ca uy nộ vương lập thành đại Phật niệm tụng pháp (c: Sheng Yanmandejia weinuwang licheng dashen yan niansong fa 聖閻曼德迦威怒王立成大神驗念誦法).
uy quyền
Authority—Power.
uy thần
Anubhava (skt)—Uy đức của chư Thần—The awe-inspiring gods or spirits—Pervading power or grace.
uy thần lực
Adhisthana (skt)—See Gia Trì in Vietnamese-English Section, and Adhisthana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Uy thần lực 威神力
[ja] イジンリキ ijinriki ||| Majestic power; mighty divine powers (Skt. tejas, anubhāva). 〔法華經 T 262.9.56c10〕 => Năng lực oai nghiêm; năng lực siêu phàm (Skt. tejas, anubhāva).
uy tín
Prestige
uy âm vương
Bhisma-garjita-ghosa-svara-raja (skt)—Còn gọi là Uy Âm Vương Phật với âm thanh vi diệu, tên của vô lượng Đức Phật xuất hiện thời “Không Kiếp” (các ngài thị hiện làm sáng tỏ nghĩa thực tế với âm thanh vi diệu của các ngài)—The king with the awe-inspiring voice, the name of countless Buddhas successively appearing during the empty kalpa.
uy âm vương phật
Bhismagarjitasvararāja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Bhìsmagarjitasvara-ràja (S). A former Buddha.
Uy âm vương Phật 威音王佛
[ja] イオンオウブツ Ionō butsu ||| Bhīṣma-garjita-svara-rāja. The buddha Majestic Voice King, who lived in the extremely distant past. 〔法華經 T 262.9.50c3〕 => (s: Bhīṣma-garjita-svara-rāja). Đức Phật đầu tiên thời quá khứ.
uy đức
Uy nghi và đức hạnh (đáng tôn là uy nghi, đáng kính là đức hạnh)—Respect-inspiring virtue; dignified reverence and virtue.
uy đức thần thông
Majestic supernatural powers.
Uy đức tự tại 威德自在
[ja] イトクジザイ itoku jizai ||| 'Superb Power,' 'Superb Influence'; one of the twelve bodhisattvas of the Sutra of Perfect Enlightenment (圓覺經). T 842.17. => “Năng lực ưu việt”, “Tác dụng siêu việt”. Tên một trong 12 vị Bồ-tát trong kinh Viên Giác.
Uy đức 威德
[ja] イトク itoku ||| Power (in the sense of the authority held by a ruler) and virtue; which implies the possession of both of the qualities necessary to crush evil. 〔法華經 T 262.9.16c17〕 => Năng lực (trong ý nghĩa quyền lực của một người trị vì) và đức hạnh; hàm ý có được 2 phẩm tính cần thiết để tiêu trừ việc ác.
Uy 威
[ja] イ i ||| (1) Power, authority, influence. Severe, stern, majestic, awe-inspiring. (2) Awe, pomp, to overawe. => 1. Năng lực, uy lực, uy thế. Nghiêm khắc, nghiêm nghị, oai nghiêm, gây kinh hoàng. 2.Sự kính sợ, vẻ tráng lệ, quá kính nể.
uy-nhã-quốc
Ujunnā (P).
uyên
Chim uyên (đôi uyên ương, con trống gọi là uyên, con mái gọi là ương)—Drake of mandarin duck.
uyên ban
Đứng thành hàng đối mặt nhau lúc tụng kinh, như kiểu chim uyên đậu—Paired bands, i.e. to stand facing each other when reciting sutras.
uyên bác
Deep—Profound.
Uyên lộ
(鵷鷺, 鴛鷺): nguyên nghĩa là con chim phượng (鵷, uyên) và cò trắng (鷺, lộ). Hai loài chim này khi bay có đường lối chỉnh tề; từ đó nó có nghĩa là trăm quan của triều đình chỉnh tề hàng ngũ. Như trong bài Lạc Chương Nhị Ngự Điện Khánh Hạ Hòa Từ Nhu Ca (樂章二禦殿慶賀禾辭桑歌) của Thanh Sử Cảo (清史稿), quyển 72 có câu: “Quần thần hành lễ phổ bình phủ phất, Chiêu Văn ngưỡng đại quán, tung hô vạn tế hoan, uyên lộ thành hàng ủng bá quan (群臣行禮普平黼黻、昭文仰大觀、嵩呼萬歲歡、鵷鷺成行擁百官, quần thần làm lễ cùng khắp lễ phục, Chiêu Văn ngưỡng trông lên, tung hô vạn tuế, chỉnh tề thành hàng hộ vệ bá quan).”
uyên nho
Deeply learned scholar.
uyên thâm
See Uyên bác.
uyên áo
Mysterious.
uyển
Công viên—A park—Vườn Thượng Uyển—Imperial Park.
uyển công tứ giáo
Four doctrines, teachings or schools—See Tứ Giáo.
uïp
To fall down—To collapse.
uất
Dense, oppressive, anxious; translit u sounds.
uất ba la
Xem Thanh liên.
uất hận
Hidden spite.
uất đan việt
The northern of the four continents around Meru. Also Bắc cu lô châu.
uất đà ca la la
Ārāḍa-Kālāma (S), Ālāra-Kālāma (P), Alārāma Kālāma (P), Arāda-Kālāma (S)A lam, A la la, A la ra ca lam.Tên vị đạo sĩ, thầy dạy thứ nhất của đức Phật, tu đạt đến cảnh giới Vô sở hữu xứ thiên.
uất đà ca la ma tử
Udraka-Ramaputra (S), Uddaka-Ramaputta (P)Vị thầy thứ hai ma Thái tử Tất Đạt Đa có học đạo sau khi xuất gia Vị thầy thứ nhì, nhờ đó đức Phật đắc Đệ bát thiền vô sắc, thuộc cảnh giới phi tưởng phi phi tưởng, không còn tri giác mà cũng không có không tri giác. Vào thuở này không ai đắc quả thiền nào cao hơn.
uất đà già
Xem Uất đà la.
; Udraka-Ràmaputra (S). A Brahman ascetic to whom miraculous powers are ascribed, for a time mentor of Sàkyamuni when he left home. Also Uất đầu lam phất, Uất đà la.
uất đà la
Udraka-Rama-Putral (S), Rudraka (S)Uất đà già, Uất đầu lam PhấtBậc tu hành thứ nhì mà đức Phật gặp gần thành Vương xá và có thọ học theo người này sau khi rời ngài A la lá, thọ pháp Phi tưởng phi phi tưởng, pháp cao nhất thời ấyXem Udraka.
; Uttara (S). Upper, higher, superior; subsequent; result; excess; the north.
uất đà la tăng
Uttarāsaṇgha (P), Upper robe Thượng y, áo Uất đa la tăng, áo Thất điềuMột trong ba loại áo cà sa của Nam phương Phật giáo.
; Uttaràsanga (S). An upper or outer garment; the seven-patch robe of a monk; also used for the robe flung toga-like over the left-shoulder.
uất đà ma
Uttama (S). Highest, chief, greatest.
uất đầu lam phất
Xem Uất đà la.
; See Udraka-ramaputra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
uất-đa-la-tăng
xem ba tấm pháp y.
Uất-đà-già
xem Uất-đầu-lam-phất.
Uất-đà-la-già
xem Uất-đầu-lam-phất.
Uất-đà-la-ma tử
xem Uất-đầu-lam-phất.
Uất-đầu-lam-phất
, phiên âm từ Phạn ngữ là Udraka-rmaputra, cùng với ông A-la-la, phiên âm từ Phạn ngữ là rḍaklma, là những vị tiên nhân ngoại đạo mà đức Phật tìm đến trước tiên trên con đường học đạo. Sau khi thọ học với các vị này, ngài nhận ra là họ hoàn toàn không có khả năng đạt đến sự giải thoát rốt ráo, nên đã từ bỏ họ để ra đi. Tên gọi Uất-đầu-lam-phất được dịch nghĩa là Mãnh Hỷ hay Cực Hỷ và còn được phiên âm theo nhiều cách khác như Uất-đà-già, Ưu-đà-la-ma tử, Uất-đà-la-ma tử, Ốt-đạt-lạc-ca, Uất-đà-la-già... đều xuất phát từ cùng một tên Phạn ngữ.
Uẩn
[ja] ウン un ||| (1) skandha. Something accumulated; or, something differentiated. The constitutional element (aggregates) of human existence. Looking at human existence from five aspects, the five skandhas are posited. Also translated into Chinese as 陰 and 衆. See wuyun 五蘊. (2) To gather, to hoard, collect, bring together. [ja] ウンカイ unkai ||| A reference to the five skandhas 五蘊 and eighteen realms 十八界. 〔二障義 HPC 1.801c〕 Uẩn xứ giới 蘊界處 [ja] ウンカイショ unkaisho ||| A reference to the five skandhas 五蘊, eighteen realms 十八界, and twelve loci 十二處. 〔二障義 HPC 1.801c〕Uẩn xứ giới tam khoa 蘊處界三科 [ja] ウンショカイサンカ unshokai sanka ||| The division of all elements present in sentient beings into the three categories of the five skandhas 五蘊, twelve loci 十二處, and eighteen realms 十八界.
uẩn
Khaṇḍa (P), Aggregate, Skandha (S), phung po nga (T)Vi-đà, Ấm, Kiền độ, Ấm, Uẩn ma vương.1- = Âm: Nghĩa là trái lẽ dương (= negative). 2- = Uẩn: Tích tập, kết hợp lại. Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là năm uẩn. Năm món tích tụ ấy làm người mê muội, mê nhiễm vật dục.; 3- Vi-đà, tên một vị Thần Hộ pháp
; Skandha (S). Accumulation, heap; group, aggregates of the existence.
; Skandha (skt)—Tắc Kiện Đà—Ấm. (A) Nghĩa của Uẩn—The meanings of Skandha: 1) Che lấp hay che khuất, ý nói các pháp sắc tâm che lấp chân lý: Things that cover or conceal, implying that physical and mental forms obstruct realization of the truth. 2) Tích tập hay chứa nhóm (ý nói các sắc pháp tâm lớn nhỏ trước sau tích tập mà tạo ra tính và sắc): An accumulation or heap, implying the five physical and mental constituents, which combine to form the intelligence or nature, and rupa. 3) Uẩn chỉ là những hiện tượng hữu vi chứ không phải vô vi: The skandhas refer only to the phenomenal, not to the non-phenomenal. (B) Phân loại Uẩn—Categories of Skandha: 1) Ngũ Uẩn: The five kinds of skandha—See Ngũ Uẩn.
uẩn lạc
Thân thể gồm ngũ uẩn—Any unit or body, consisting of skandhas.
uẩn ma
Những con ma hay chướng ngại của ngũ uẩn—The evil spirits that through the five skandhas. **For more information, please see Ngũ Uẩn.
uẩn ma vương
Xem Uẩn.
uẩn minh hộ kinh
Khaṇḍa-paritta sutta (P)Tên một bộ kinh.
uẩn thức
Uẩn thức hay hữu tình thức, uẩn thứ năm trong ngũ uẩn—The fifth of the five skandhas, the skandha of intelligence, or intellectuation, or the skandha of consciouseness. **For more information, please see Ngũ Uẩn .
uẩn tính
Skandhātā (S).
; Character of skandha.
uẩn xứ giới
The five skandhas uẩn, twelve àyatana or bases xứ, eighteen dhàtu or elements giới.
; Ngũ Uẩn-Thập Nhị Xứ-Thập Bát Giới—The five aggregates or skandhas, the twelve bases or ayatana, the eighteen elements or dhatu.
uẩn đà nam
Udana (skt)—Lành thay! (câu Phật thường hay nói để diễn tả sự tán thán)—An expression of joy or praise, voluntary address (by the Buddha).
uế
Asuddha (S), Asubha (P)Xem Bất tịnh.
; Dirty, filthy, unclean.
; Ô uế—Foul—Filthy—Unclean—Impure.
uế khí
Unhealthy air.
uế khư a tất để ca
Cát Tường—See Swastika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
uế nghiệp
Nghiệp bất tịnh, một trong ba loại nghiệp—Impure karma, one of the three kinds of karma. ** For more information, please see Tam Nghiệp.
uế quốc
See Uế Độ.
uế sát
See Uế Độ.
uế thân
Filthy body.
; Thân thể nhơ nhớp, nói về thân phàm phu, ô uế không trong sạch, do nhiễm các mối tham dục, sân hận, và ngu si—The impure or sinful body, that of ordinary people, caused by lust, hatred, and ignorance.
uế thực
Thức ăn bất tịnh ô uế như thức ăn còn thừa lại, hay thức ăn mà người bệnh đã ăn—Unclean or contaminated food, e.g. left over, or used by the sick.
uế tích kim cang
Ucchuṣṃa Angusa (S)Ô sô quân tràTên của một minh vương thần có công đức chuyển uế thành tịnh. Vị thần này đầu và khắp lỗ chân lông đều phun ra lửa, mặt mày phẩn nộ, có bốn cánh tay cầm các vũ khí: gươm, dây, roi, xoa hoặc phúc câu (có hình như câu móc)Xem Uế tích Minh vương.
; Ucchuma (skt)—Uế Tích Kim Cương, còn gọi là Ô Sô Sát Ma Minh Vương hay Thần Kim Cang Chấp, chúa tể của những nơi ô uế—The vajra-ruler who controls unclean places.
uế tích kim cương bồ tát
Ucchuṣṃa (S)Ô khu sa ma, Ô sô sáp ma, Ô khu sắt ma; Ô su sa ma Minh vương, Thọ Xúc Kim Cang; Uế Tích Kim Cang, Bất Tịnh Kim CangTên một vị Bồ tát.
uế tích kim cương vương
Xem Uế tích kim cương Bồ tát.
uế tặc
Kṣināśrava (S)Lậu tận.
uế độ
The foul earth, impure land.
; Impureland—Wasteland.
; Uế Quốc—Uế Sát—Cõi uế trược nầy, đối lại với cõi Tịnh Độ—This impure world, in contrast with the Pure Land.
Uế độ 穢土
[ja] エド edo ||| (1) This world; the defiled world, secular world. (2) The three realms, six destinies, etc., as contrasted to the . => 1. Cõi giới đang sống; cõi giới nhiễm ô, thế giới phàm trần. 2. Tam giới, lục đạo v.v... ngược với Tịnh độ (e: Pure Land 淨土).
Uế 穢
[ja] エ、アイ e, ai ||| (1) A growth of weeds. (2) To defile, stain, pollute. (3) Dirty, unclean, polluted. (4) The world of defilement. => 1. Cỏ dại mọc đầy. 2. Làm dơ bẩn, làm ô nhục, làm ô uế. 3. Bẩn thỉu, không trong trắng, bị ô nhiễm. 4. Cõi giới ô nhiễm.
uể oải
Flagging.
uốn
1) Uốn khúc: To curve—To bend (things). 2) Uốn tóc: To curl (someone's hair).
uốn nắn
To shape.
uốn nắn tánh tình ai
To shape someone's character.
uống
To drink.
uổng
1) Sai lầm: Oppression—Wrong—Crooked. 2) Uổng phí: To waste—In vain.
uổng công
To waste one's efforts.
uổng lời
To waste one's words.
uổng mạng
See Uổng đời.
uổng thì giờ
To waste time.
uổng tiền
To waste money.
uổng tử
Wrongly done to death.
uổng đời
To waste one's life.
va chạm
To bump against.
vai chánh
Leading part—Leading role.
vai dưới
Lower rank of relationship.
vai trò
Role—Part.
valmiki
Valmiki Tác giả tập trường thi nổi tiếng Ấn độ viết bằng tiếng Sanscrit. Ngài được công nhận là nhà thơ mà tên tuổi được người ta biết đến trước nhất trong văn học Ấn độ.
van lơn
To entreat—To implore.
van lạy
To beseech.
van xin
To beg—To beseech—To implore.
vang
To echo—To sound—To resonate.
vang danh
Famous—Renowned.
vang dậy
To resound.
vang dội
To re-echo—To resound.
vang tai
deafening.
vassa
Xem Hạ An cư.
vay
To borrow.
vay lãi
To borrow at interest.
vay tạm
To borrow temporarily.
ve
1) Ve chai: Bottle. 2) Ve vãn: To flirt—To court. 3) Ve sầu: Cicada.
veõ
To draw—To paint—To sketch.—To design—To describe.
veû
Appearance—Colour—Look—Air.
vi
Sùksma (S). Minute, small, slight; abstruse, subtle; disguise; not; translit vi, bi. Used in the sense of a molecule seven times larger than cực vi an atom.
; 1) Bởi vì: Because of. 2) Chống lại: To oppose. 3) Cực nhỏ: Anu-raja (skt)—Vi trần cực nhỏ hay vi tế, được dùng với nghĩa là một phân tử, bảy lần lớn hơn một nguyên tử—Very small—Minute—Slight—Small—Subtle. It is used in the sense of a molecule seven times larger than an atom. 4) Hành vi: Act—Deed—Action—To do—To make. 5) Là: To be. 6) Vi ba: Âm thanh—A sound. 7) Vi phạm: To disobey. 8) Vi trần: Anu-raja (skt)—See Vi (3) 9) Viên chu (chung quanh): Surrounding—Encircle—Enclose.
vi ba
Micro-wave.
vi bằng
To serve as evidence—Proof—Evidence.
vi côn
Xem Hộ pháp thần.
vi cảnh
Cảnh giới trái ngược với thân tâm của mình gây ra khổ đau phiền não (kỳ thật cảnh tướng vốn không sai biệt, nhưng tùy theo tâm ý của mình mà gây ra cảm xúc khác nhau)—To oppose or disregard conditions; opposing or unfavourable circumstances.
vi cứ
See Vi Bằng.
vi diệu
Abstruse, recondite, mysterious.
; 1) Subtly wonderful—Miraculous—Mysterious—Recondite—Abstruse. 2) Tên một vị Tỳ Kheo Ấn Độ, đã cứu độ được 500 Tăng chúng: Name of an Indian monk who converted 500 disciples.
vi diệu hương khiết
Subtly wonderful fragrant and pure.
vi diệu pháp
Xem Luận Kinh.
; Xem A tì đàm, A tì đạt ma.
; Abhidarma
vi diệu pháp luân
Wheel of the wonderful Dharma.
vi diệu thanh phật
Vị Phật ngự trị ở thế giới Liên Hoa Trang Nghiêm phương Bắc hay Phật Thích Ca—Amoghasiddhi Buddha or Sakyamuni Buddha who reigns in the North, the world of the Lotus Adornment.
vi duyên
Sự duyên trái ngược với tâm ta, như tai họa, đạo tặc, vân vân—Opposing or hostile conditions, i.e. calamities, robbers, etc.
vi hiến
Contrary to the constitution.
vi hành
Minute, refined, or subtle action.
; Hành động vi tế—Minute, refined, or subtle action.
vi khuẩn
Bacterium—Bacteria.
vi khốn
To be encircled by the enemy.
vi kỷ
See Vị Kỷ.
Vi Lâm Đạo Bái
(爲霖道霈, Irin Dōhai, 1615-1702): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Vi Lâm (爲霖), hiệu Lữ Bạc (旅泊), Phi Gia Tẩu (非家叟), xuất thân Kiến An (建安), Tỉnh Phúc Kiến (福建省). Năm 14 tuổi, ông xuất gia ở Bạch Vân Tự (白雲寺) và năm sau học kinh luận. Năm 18 tuổi, ông đến viếng thăm Quảng Ấn (廣印) ở Bảo Thiện Tự (寳善寺), Phần Thường (汾常), rồi theo sự hướng dẫn của vị này ông đến thăm Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢), hầu hạ nhân vật này mấy năm, nhưng sau ông lại đến tham vấn Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) ở Thiên Đồng Sơn (天童山), được đại ngộ song Mật Vân không hứa khả cho. Ông lại đem sở chứng này trình cho Nguyên Hiền, nhưng cũng không được công nhận. Vì vậy, ông giã từ thầy đi du phương tham học, kết am ở Bách Trượng Sơn (百丈山), chuyên tu tịnh nghiệp với mẫu thân trong vòng 5 năm và đến năm thứ 7 (1650) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông lại theo tham học với Nguyên Hiền ở Cổ Sơn (鼓山), cuối cùng được thầy ấn khả cho. Năm sau, ông lui về ẩn cư tại Quảng Phước Am (廣福菴) ở Kiến Ninh (建寧). Đến năm thứ 14 cùng niên hiệu trên, ông làm Thủ Tòa của Cổ Sơn, và đến năm sau khi Nguyên Hiền qua đời, ông kế thừa sự nghiệp thầy và bắt đầu thăng tòa thuyết pháp. Sống được nơi đây 14 năm, ông lại hạ sơn và sống cuộc đời phiêu bạc, nhưng vì Cổ Sơn không có ai lãnh đạo nên ông lại phải trở về. Vào năm thứ 41 niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Ông có để lại một số trước tác như Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Bỉnh Phất Ngữ Lục (爲霖道霈禪師秉拂語錄) 2 quyển, Xan Hương Lục (餐香錄) 2 quyển, Hoàn Sơn Lục (還山錄) 4 quyển, Pháp Hội Lục (法會錄) 1 quyển, Lữ Bạc Am Cảo (旅泊菴稿) 4 quyển. Bên cạnh đó, ông còn biên tập bản Thiền Hải Thập Trân (禪海十珍) 1 quyển.
vi lễ
Impolite.
vi lịnh
To disobey an order.
vi lợi
Vì quyền lợi—For gain, or profit.
vi mật
Mysterious, secret, occult.
; Mysterious—Secret—Occult.
vi nhiễu
Đi vòng quanh về bên phải tượng Phật ba vòng để tỏ lòng tôn kính (trong Kinh Hiền Ngu, ngài Tu Đạt từ xa thấy Đức Thế Tôn như một trái núi vàng, mắt nhìn lòng vui, không để ý tới lễ phép liền hỏi tả hữu Đức Thế Tôn, mà không xét tới việc Đức Phật đang sinh hoạt. Đức Thế Tôn bèn bảo ông đến bên tòa. Bấy giờ vua trời Thủ Đà Hội thấy Tu Đạt không biết phép lễ bái cúng dường Phật, bèn hóa thành bốn người xếp hàng bước tới bên Đức Thế Tôn, cúi lạy sát chân, rồi đi vòng quanh ba vòng về bên phải. Khi ấy Tu Đạt mới biết phép lễ kính Đức Thế Tôn và làm theo)—To go round—To surround, especially to make three complete turns to the right round an image of Buddha.
vi nữu
Xem Tỳ Nữu thiên.
; Visnu (S). All-pervading, encompassing; "the preserver" in the Trimùrti Brahmà creator, Visnu preserver, Siva destroyer.
vi nữu thiên
Visnu (skt)—Tỳ Nữu—Tỳ Sấu Nữu—Tỳ Sưu Nữu—Biến Tịnh Thiên là tên riêng của Đại Tự Tại Thiên, sinh trong kiếp sơ thủy đại. Bà vợ là Laksmi. Người Tàu cho rằng khí kiếp cháy hết, tất cả đều là không. Do sức nhân duyên phúc đức của chúng sanh, gió thập phương thổi đến, va chạm cọ sát gây ra nước lớn. Trên nước có người ngàn đầu hai ngàn tay, tên là Vi Nữu. Trong rún của Vi Nữu nẩy sinh ra một bông sen báu, sắc vàng nghìn cánh, tỏa ra ánh sáng rực rỡ như muôn ngàn mặt trời cùng soi, trong hoa có người ngồi xếp bằng tròn, người ấy cũng có ánh sáng , tên là Phạm Thiên Vương. Phạm Thiên vương ở trước ngực sanh ra tám con, tám con lại sanh ra thiên địa nhân dân—All-pervading, encompassing; “the preserver” in the Trimurti, Brahma, Visnu, Siva, creator, preserver, destroyer; the Vaisnavas (Vishnuites) are devoted to him as the Saivas are to Siva. His wife is Laksmi, or Sri. The Chinese describe him as born out of water at the beginning of a world kalpa with 1,000 heads and 2,000 hands; from his navel spring a lotus, from which is evolved Brahma.
vi phác dương
Wei P'o-yang (C)Năm 140 ông viết quyển Chu Dịch tham đồng khế, được xem là tác phẩm luyện đan cổ nhất.
vi pháp
Contrary to the law.
vi phân
Diiferential.
vi phạm
To violate—To trangress.
vi phạm luật pháp
To violate the law.
vi sa lạc khởi đa
Vibharaksita (skt)—Vị Hoàng Hậu của vua A Dục—Asoka's queen.
vi sắt nữu
Visnu (skt)—Còn gọi là Tỳ Nữu, Tỳ Sắt Nô, Tỳ Sắt Nộ, Tỳ Sắt Nữu, Tỳ Sấu Nữu, tên khác của Tự Tại Thiên—All-pervading, or encompassing, identified with Narayana-deva.
vi tha thuận tự
Theo cách của mình và chống lại với cách của người khác—To disregard or oppose others and follow one's own way.
vi tha tỷ lượng
Xem Tha tỷ lượng.
vi thiên tướng quân
Một trong những tướng quân dưới quyền của Nam Thiên Vương, vị nầy thường là vị hộ pháp trong chùa (dưới tứ Thiên Vương có tám vị tướng quân)—One of the generals under the southern Maharaja guardian in a temple.
vi thiện
1) Làm việc thiện: To do good—To be good. 2) Vì việc thiện: Because of the good.
vi thuận
Nghịch và thuận—Oppose and accord with—Hostile and favourable.
vi thú đà
Visuddha (skt)—Thanh tịnh—Purified—Pure.
vi thất
To be at fault—To be mistaken.
vi thệ da
Vijaya (skt). 1) Người vượt thắng: The overcomer. 2) Thị hiện tướng nữ của Đức Tỳ Lô Giá Na: A female manifestation of Vairocana.
vi tiểu tội
Minute, minor offence to the law.
vi trùng
Microbe.
Vi trần
(s, p: aṇu-raja, aṇu-rajas, 微塵): nhỏ như bụi trần, âm dịch là A Noa (阿拏), A Nậu (阿耨); gọi riêng là vi (微), trần (塵); tức là sắc lượng nhỏ nhất do Nhãn Căn nhận lấy được. Cực nhỏ là đơn vị nhỏ nhất tồn tại của sắc pháp được thuyết trong A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 10, 12. Lấy một cái cực nhỏ làm trung tâm, bốn phương trên dưới tụ tập đồng nhất cực nhỏ mà thành một khối, tức gọi là vi trần. Hợp 7 cực vi thì thành một vi trần, 7 vi trần thành một kim trần (金塵), 7 kim trần thành một thủy trần (水塵). Ngoài ra, các kinh luận cũng lấy vi trần tỷ dụ cho số lượng cực nhỏ, lấy số vi trần để dụ cho số cực lớn. Trong Bắc Tề Thư (北齊書), Truyện Phàn Tốn (樊遜傳), có đoạn: “Pháp vương tự tại, biến hóa vô cùng, trí thế giới ư vi trần, nạp Tu Di ư thử mễ (法王自在、變化無窮、置世界於微塵、納須彌於黍米, Pháp vương tự tại, biến hóa vô cùng, bỏ thế giới trong hạt bụi, gom Tu Di nơi hạt lúa).” Hay trong Phật Thuyết Thập Địa Kinh (佛說十地經, Taishō Tripitaka Vol. 10, No. 287) quyển 6 cũng có đoạn: “Ư nhất mao đoan bách thiên ức, na dữu đa quốc vi trần số, như thị vô lượng chư như lai, ư trung an tọa thuyết diệu pháp (於一毛端百千億、那庾多國微塵數、如是無量諸如來、於中安坐說妙法, trên đầu mảy lông trăm ngàn ức, muôn vạn nước bụi trần số, như vậy vô lượng các Như Lai, trong đó an tọa thuyết pháp mầu).” Hoặc trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) có bài niệm hương rằng: “Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, khởi thuộc địa sanh, Lưỡng Nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc, Tam Giới nhất khí, tài phân chi hậu, chi diệp biến mãn thập phương, siêu nhật nguyệt chi quang hoa, đoạt sơn xuyên chi tú lệ, tức Giới tức Định tức Tuệ, phi mộc phi hỏa phi yên, thâu lai tại nhất vi trần, tán xứ phổ huân pháp giới, nhiệt hướng lô trung, chuyên thân cúng dường, thường trú Tam Bảo, sát hải vạn linh, lịch đại Tổ sư, nhất thiết Thánh chúng, hà sa phẩm loại, u hiển Thánh phàm, tất trượng chơn hương, phổ đồng cúng dường (此一瓣香、不從天降、豈屬地生、兩儀未判之先、根源充塞、三界一氣、纔分之後、枝葉遍滿十方、超日月之光華、奪山川之秀麗、卽戒卽定卽慧、非木非火非煙、收來在一微塵、散處普薰法界、爇向爐中、專伸供養、常住三寶、剎海萬靈、歷代祖師、一切聖眾、河沙品類、幽顯聖凡、悉仗眞香、普同供養, một nén hương này, không từ trời xuống, sao thuộc đất sanh, Lưỡng Nghi [âm dương] chưa phân đầu tiên, nguồn căn đầy ắp, Ba Cõi một khí, mới chia sau đó, cành lá biến khắp mười phương, siêu trời trăng ấy rực sáng, vượt núi sông bao tú lệ, là Giới là Định là Tuệ, chẳng gỗ chẳng lửa chẳng khói, thâu vào trong một bụi trần, tan biến khắp xông pháp giới, rực hướng lò hương, thành tâm cúng dường, thường trú Tam Bảo, tất cả sinh linh, bao đời Tổ sư, hết thảy Thánh chúng, hà sa các loài, ẩn hiện Thánh phàm, đều nhờ chơn hương, cúng dường khắp cùng).”
vi trần
Anurāja (S)7 vi trần = 1 kim trần. 7 kim trần = 1 thuỷ trần. 7 thuỷ trần = 1 thố mao trần. 7 thố mao trần = 1 dương mao trần. 7 dương mao trần = 1 ngưu mao trần. 7 ngưu mao trần = 1 khích du trần (là hột bụi nhỏ thấy lăng xăng trong tia nắng xuyên qua khe hở, lớn hơn vi trần 117.649 lần). Lúc vi trần tập hợp thành vật chất cụ thể phải có đủ tứ đại (đất nước gió lửa) và tứ trần (sắc hương vị xúc).
; Anu (S). A molecule. Atomic element.
; Motes of dust—See Vi (3).
vi trần số
Numerous as molecules, or atoms; numberless.
; Số lượng nhiều như cát bụi—Numerous as molecules, or atoms.
vi tế
Sukṣma (S), Sukhuma (S), Subtle (S, P), Suhuma (P), Sukhama (S), Sukṣma (S).
; Minute, fine, refined, subtle.
; Subtle—Minute—Fine—Refined.
vi tế thân
Mật giáo lập pháp thân có sắc hình vi tế, chu biến khắp trong pháp giới—A refined, subtle body.
vi tụ
Một phân tử, do những vật chất cực nhỏ hội tụ lại (gồm bảy nguyên tử)—A molecule, the smallest aggregation of atoms.
vi tự thuận tha
Theo cách của người và phế bỏ cách của chính mình—To disregard one's own way and follow others' way.
Vi Đà
(s: Skanda, p: Khanda, 韋馱、韋陀): còn gọi là Vi Đà Thiên (違駄天、韋馱天), Tắc Kiến Đà Thiên (塞建陀天), Tư Kiến Đà Thiên (私建陀天), Kiến Đà Thiên (建陀天), Vi Tướng Quân (韋將軍), Vi Thiên Tướng Quân (韋天將軍), Vi Đà Thiên Tướng (韋馱天將), Vi Đà Tôn Thiên (韋陀尊天), Đại Kiên (大肩), Thiên Thần Quỷ (天神鬼), Âm Cuồng (陰狂); vốn là vị thần của Bà La Môn Giáo. Vị này có tên gọi khác là Ca Hy Cát Dạ (s: Kārttikeya, 迦絺吉夜, ý dịch là Lục Diện Tử [六面子, người có sáu mặt]), Cưu Ma La (s, p: Kumāra, 鳩摩羅, ý dịch là Đồng Tử [童子]), Thiện Phạm (s, p: Subrahmā, 善梵). Nguyên lai vị này là thần chiến đấu, có 6 đầu, 12 tay, tay cầm cung tên, cỡi con chim Khổng Tước (孔雀). Tín ngưỡng sùng bái vị thần này đầu tiên phát xuất ở miền Nam Ấn, đến sau thế kỷ thứ 5 thì được truyền vào Bắc Ấn và sau này được Phật Giáo Đại Thừa hấp thu biến thành vị thần ủng hộ chốn già lam. Vi Đà Thiên được xem như là một trong 8 vị Đại Tướng Quân của Tăng Trưởng Thiên (s: Virūḍhaka, 增長天) ở phương Nam, là người đứng đầu trong 32 vị Tướng Quân dưới trướng của Tứ Thiên Vương (s: Cāturṁahārājakāyika, 四天王). Lúc sanh bình ông rất thông tuệ, sớm lìa dục trần, tu tập Phạm hạnh thanh tịnh, sau được đức Phật phó chúc cho trấn hộ 3 châu là Đông Thắng Thân Châu (s: Pūrva-videha, 東勝身洲), Tây Ngưu Hóa Châu (s: Apara-godhānīya, 西牛貨洲), Nam Thiệm Bộ Châu (s: Jampudīpa, 南贍部洲); cho nên Vi Đà Thiên còn được gọi là Tam Châu Cảm Ứng (三洲感應), Uy Chấn Tam Châu (威鎭三洲). Tương truyền khi đức Phật nhập Niết Bàn, có một con quỷ đến cướp mất một cái răng của Phật, Vi Đà Thiên cấp tốc đuổi theo lấy về. Hình tượng vị này thân mang áo giáp, chấp tay, tay cầm bảo kiếm. Tại Trung Quốc, theo Đạo Tuyên Luật Sư Cảm Thông Lục (道宣律師感通錄, Taishō No. 2107) cho biết rằng từ khi Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường cảm đắc hình tượng của vị Bồ Tát này, già lam các nơi đều tôn trí thần tượng. Xưa nay, Phật Giáo xem vị này như là vị thần thủ hộ các vật thực cúng dường trong chốn già lam, cho nên phần lớn tượng của vị này được tôn thờ gần Nhà Kho hay Nhà Bếp. Tại Vi Đà Điện (韋馱殿) của Thiên Đồng Tự (天童寺) thuộc Ngân Huyện (鄞縣), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối như sau: “Tam Châu cảm ứng nan tư nhữ hữu chơn tu ngã hộ pháp, nhất chử uy thần khả úy nhân vô tà niệm tự hàng ma (三洲感應難思汝有眞修我護法、一杵威神可畏人無邪念自降魔, Ba Châu cảm ứng khó lường người chơn tu ta hộ pháp, một chày oai thần đáng sợ người không tà niệm tự hàng ma).” Hay tại Thiền Đường của Bảo Quang Tự (寶光寺) ở Tân Đô (新都), Tứ Xuyên (四川) có câu đối tán thán Vi Thiên Tướng Quân rằng: “Hiện Tướng Quân thân chấp hàng ma nhân thiên củng phục, hành Bồ Tát đạo phi khải giáp pháp giới quy y (現將軍身執降魔人天拱服、行菩薩道披鎧甲法界皈依, hiện thân Tướng Quân hàng phục ma trười người kính phục, hành đạo Bồ Tát mang áo giáp pháp giới quy y).” Trong Thiền môn thường tụng bài Tán Vi Đà như: “Vi Đà Thiên Tướng diệu đường đường, thân phi kim giáp hiển uy quang, khai hóa Tam Châu hưng mật dụng, tồi tà phụ chánh hộ đạo tràng (韋馱天將妙堂堂、身披金甲顯威光、開化三洲興密用、摧邪輔正護道塲, Vi Đà Thiên Tướng hiện đường đường, thân mang vàng giáp lộ oai quang, giáo hóa Ba Châu thầm ủng hộ, dẹp tà hiển chánh giúp đạo tràng).” Ngày đản sanh của Bồ Tát Vi Đà là mồng 3 tháng 6 Âm Lịch hằng năm.
vi đà
The guardian facing the main hall of a temple.
; Veda (skt)—Bệ Đà—Bễ Đà—Phệ Đà—Tỳ Đà. 1) Kiến thức: Knowledge. 2) Kinh Vệ Đà: Vedas.
vi đà la
Vetala (skt)—Vi Đà La là vị Vi Đà mặt xoay ra chánh điện trong tự viện, không ai biết được xuất xứ của Vi Đà Hộ Pháp—Wei-To, the guardian facing the main hall of a temple; the origin of Wei-To is uncertain.
vi đà luận
Xem Phệ đà, Vệ đà.
vi đà thiên
Xem Hộ pháp thần.
vi đà thâu
Vitasoka (skt)—Em trai vua A Dục—Younger brother of king Asoka.
vi đề hi
Vaidehi (S). Wife of Bimbisàra and mother of Ajàtasastru.
vi đề hy
Vaidehi (S)Vợ vua Tần bà sa la (Bimbisara).
; See Vaidehi in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vi ước
To break one's words.
Vi Ứng Vật
(韋應物, 725?-800?): thi nhân thời Trung Đường, xuất thân Trường An (長安, Tây An, Tỉnh Thiểm Tây). Ông đã từng làm Sắc Sứ Tô Châu (蘇州), nên thường được gọi là Vi Tô Châu (韋蘇州). Giống như Đào Tiềm (陶潛), thơ của ông ca ngợi thiên nhiên. Trước tác của ông có Vi Tô Châu Tập (韋蘇州集) 10 quyển.
Vi-da-li-pa
S: vyālipa; »Nhà giả kim của kĩ nữ«;|Là vị Tất-đạt cuối cùng trong hệ thống 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một Bà-la-môn rất giàu có và mơ ước chế ra được thuốc bất tử. Ông dành hết gia tài mua thật nhiều thuỷ ngân và dị thảo để chế thuốc nhưng không thành, ông tức giận vứt sách chỉ dẫn xuống sông, trở thành người ăn xin. Lần nọ, bên bờ sông Hằng, ông gặp một nàng kĩ nữ cho ông xem một cuốn sách mà nàng nhặt được, thì ra đó là cuốn sách ông đã vứt. Ông kể cho nàng nghe toàn bộ câu chuyện, nghe xong nàng cho ông 30 đồng tiền vàng để ông nghiên cứu tiếp. Ông lại bỏ tiền ra mua các thứ. Một năm trôi qua mà không có kết quả gì vì thiếu một chất nhất định nào đó. Lần nọ, nàng kĩ nữ đang tắm thì có một cánh hoa rơi vào tay, nàng ném hoa đi thì có một giọt nước từ hoa tiết ra rơi vào thuốc. Nhờ đó, thuốc thành tiên dược. Vi-da-li-pa, nàng kĩ nữ và một con ngựa được uống thuốc này cả ba đạt trường sinh bất tử. Sau đó cả ba sống cô độc trên một tảng đá giữa vùng đầm lầy để tránh không cho ai được biết công thức của thuốc này. Nhưng vị Ma-ha Tất-đạt Long Thụ biết được, dùng thần thông bay đến xin đổi công thức của thuốc lấy một chiếc giày biết bay của ông. Sau khi truyền cho Long Thụ công thức bí mật thì Vi-da-li-pa về lại thế gian, xin làm đệ tử của Cha-ba-ri-pa (s: carbaripa) và đạt Tất-địa. Về sau Vi-da-li-pa trở thành một nhà thơ và chuyên ca những bài ca chứng đạo (s: dohā). Bài hát chứng đạo của ông như sau:|Linh ảnh về Thật tại,|là hình ảnh Ðạo sư.|Ðộc cư cao cả nhất,|là quán không vô biên.|Hoà hợp vẹn toàn nhất,|là ngộ được Tự tính,|của mỗi một hiện tượng.|Khi ngươi uống một hơi,|bầu sữa của trời đất,|mới đích thật là sống.
Vi-na-pa
S: vīṇāpa; »Người chơi đàn Vi-na«, còn có biệt danh khác là »Người mê âm nhạc«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào, có thể trong thế kỉ thứ 8. |Ông là một hoàng tử được vua cha truyền ngôi nhưng không ham thích gì hơn là chơi đàn Vi-na (vīṇā). Hoàng cung mời vị Du-già sư Phật-đà-ba (buddhapa) khuyên giải. Phật-đà-ba khuyên ông quán tính Không trong tiếng đàn, quán âm thanh siêu việt nhất là »Vô âm.« Sau chín năm thực hành, ông đạt Tất-địa. |Sau nhiều năm kiên trì,|và hết lòng tập luyện,|thuần thục đàn Vi-na|Rồi khi ta tu tập,|tiếng dây đàn vô thanh,|ta đánh mất tự ngã.
Vi-ru-pa
S: virūpa; »Thầy của Không hành nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Vi-ru-pa sinh dưới thời vua Ðề-bà Ba-la (Thiên Hộ; s: devapāla), từ nhỏ đã xuất gia thụ giới và được hướng dẫn tu tập Mật giáo. Nữ Hộ Thần của ông là một Không hành nữ (s: ḍākinī) với tên Kim cương Va-ra-hi (s: vajra vārāhī). Sau khi đọc tên của vị này đến hai mươi triệu lần trong mười hai năm không có kết quả, dấu hiệu gì của sự tiến triển, ông định vứt bỏ mọi phép tu tập thì một Không hành nữ hiện lên và khai thị: »Con người may mắn kia, đừng lo ngại! Hãy từ bỏ mọi thói quen, quan niệm thị phi, giữ tâm thức vô niệm.« Sau khi tu luyện thêm mười hai năm, Vi-ru-pa đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Tính thanh tịnh sẵn có,|Là tự tính của tâm|Kim cương Va-ra-hi đích thật|Ðừng tìm kiếm đâu xa,|dại dột và trẻ con.|Tự tính của tâm thức,|là viên ngọc như ý,|Vượt khỏi mọi khái niệm,|là nhận thức đúng nhất.|Ðặc biệt là sau khi đắc đạo, ông bắt đầu ăn thịt uống rượu do các môn đệ đem đến. Một hôm, các vị trụ trì trong chùa thấy nhiều con bồ câu mất tích, tìm kiếm và thấy ông đang ngồi ăn thịt bồ câu. Kết quả là ông bị trục xuất ra khỏi chùa. Gần chùa có một ao sen lớn và khi Vi-ru-pa rời chùa băng qua ao này, mỗi bước chân ông được một lá sen nâng lên. Thấy vậy, các vị trụ trì hối hận vì đã trục xuất một thánh nhân. Các vị tăng đến hỏi ông vì sao ông lại ăn thịt bồ câu. Bình thản, ông trả lời: »Chúng chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh như tất cả các pháp hữu vi.« Ông ra lệnh đem tất cả những xương, lông còn lại của mấy con bồ câu và khẩy ngón tay, tất cả những con bồ câu sống lại và tung cánh bay. Sau đó, ông giao du khắp nơi truyền bá Phật pháp và cuối cùng được lên cõi của các vị Không hành nữ.
vi-đà
Xem Uẩn.
vi-đê-ba
Videba (S)Thành phố Bắc Ấn thế kỳ thứ 7 trước C.N. nay là Sahet Mahet ở hữu ngạn sông Rapti.
Vi-đề
cũng đọc là Vi-đề-hy, phiên âm từ Phạn ngữ Vaidehỵ, dịch nghĩa là Tư Thắng hay Thắng Thân, Thắng Diệu Thân. Vị phu nhân này là mẹ vua A-xà-thế (tức thái tử Thiện Kiến), hoàng hậu của vua Tần-bà-sa-la. Bà có tín tâm mãnh liệt, cảm được đức Phật thuyết kinh Quán Vô lượng thọ, dạy 16 phép quán về cõi Tịnh độ phương Tây của đức Phật A-di-đà. Bà nhờ đó được vãng sanh Tịnh độ.
Vi-đề-hy
xem Vi-đề.
vijita
Vijita (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
Vinh
榮; C: róng; J: yō;|1. Phát triển, tăng trưởng, trở nên phổ biến; phong phú; 2. Sáng rỡ, sự thịnh vượng, phồn vinh. Huy hoàng, tráng lệ, sự kính trọng; 3. Ưu tú, kì diệu (s: samucchraya).
vinh
1) Vinh dự: Honourable. 2) Vinh quang: Glory—Splendour.
vinh dự
Sakkara (S).
; Honor—Honourable.
vinh hoa
Vinh hoa của cuộc đời chỉ là những thứ tạm bợ, thấy đó mất đó—Glory—The glory of life, viewed as transient.
vinh hàm
Honourable title.
vinh hạnh
See Vinh Dự.
vinh lợi
Honour and interest.
vinh nhục
Honor and dishonor. (I) Vinh nhục là một cặp hoàn cảnh trần thế không thể tránh được mà ta phải đương đầu trong đời sống hằng ngày—Honour and dishonour are a pair of inevitable worldly conditions that confront us in the course of our daily lives. 1) Vinh—Honour: a) Chúng ta luôn thích thú với vinh và luôn ghét nhục. Danh dự làm ta vui sướng và nhục làm chúng ta buồn khổ. Chúng ta ham thích trở nên nổi tiếng. Nhiều người ao ước thấy hình ảnh của mình trên tạp chí bằng bất cứ giá nào. Chúng ta rất vui mừng khi thấy những hoạt động của mình được đem ra quảng bá, dù những sinh hoạt ấy hoàn toàn không có nghĩa lý gì, và đôi khi chúng ta quảng bá quá mức. Chúng ta phải công nhận rằng bản chất tự nhiên của con người là cảm thấy sung sướng và hạnh phúc khi danh của ta lan rộng. Nhưng qua kinh nghiệm thực tế, danh dự nào rồi cũng sẽ qua đi, chúng sẽ tiêu tan thành mây khói trong môt sớm một chiều—We always welcome honour or fame and dislike dishonour. Honour gladdens our heart; dishonour disheartens us. We desire to become famous. We long to see our pictures in the papers. We are greatly pleased when our activities, however insignificant, are given publicity. Sometimes we seek undue publicity too. We must agree that human natue is to feel pleasant and happy when our fame is spread far and wide. But through our practical experience, fame and glory are passing away; sooner or later they will vanish. b) Muốn có danh dự, nhiều người sẵn sàng lo lót hay cho các món tiền lớn lao cho những người có quyền hành để làm cho thiên hạ biết đến; một số người trưng bày lòng hảo tâm bằng cách cúng dường cả trăm chư Tăng Ni, nhưng họ lại hoàn toàn lạnh nhạt trước sự đau khổ của người nghèo, hay láng giềng thiếu thốn—To obtain honour, some are prepared to offer gratification or give substantial donations to those in power. For the sake of publicity, some exhibit their generosity by giving alms to a hundred monks and nuns and even more, but they may be totally indifferent to the sufferings of the poor and the needy in the neighbourhood. 2) Nhục—Dishonour: a) Chắc chắn chúng ta sẽ không nghe lọt tai hay xao động khi phải chịu những điều nhục nhã. Lần nữa, đây là bản chất tự nhiên của con người. Phải mất nhiều thời gian mới xây dựng được vinh dự, nhưng vinh dự nầy có thể bị vùi chôn trong nháy mắt. Chuyện nầy dễ hiểu vì bản chất con người là luôn thích khen mình chê người. Không ai có được miễn trừ những lời chê trách. Bạn có thể sống một đời như Đức Phật, nhưng bạn vẫn không được miễn trừ những lời phê bình, tấn công hay mạ lỵ—We will surely perturbed when receiving dishonour. This is again the human nature. It takes a long long time to build up a good reputation, but in no time the hard-earning good name can be ruined. This matter is not difficult to understand because human nature is always like that, we always like to praise ourselves and to dishonour others. Nobody is exempt from the ill-famed remark even the Buddha. You may live the life of a Buddha, but you will not be exempt from criticisms, attacks, and insults. b) Thời Đức Phật còn tại thế, Ngài là một người nổi tiếng nhất về đức hạnh, nhưng cũng là người bị nói xấu nhiều nhất thời bấy giờ. Một số người chống đối Đức Phật đã phao tin về một phụ nữ thường ngủ lại đêm trong tu viện, nhưng họ đã thất bại trong âm mưu hèn hạ nầy. Thế là họ quay sang phao tin Đức Phật và các đệ tử của Ngài đã giết chết người đàn bà và chôn xác trong đống rác hoa héo tàn trong tu viện. Tuy nhiên, về sau nầy chính những người nầy đã xác nhận chính họ là thủ phạm—At the time of the Buddha, the Buddha was the most famous for his virtues, but he was the one who received the most criticisms, attacks and insults. Some antagonists of the Buddha spread a rumour that a woman used to spend the night in the monastery, but they failed because noone believed them. Having failed in this mean attempt, thay spread false news among the people that the Buddha and his disciples murdered that very woman and hid her corpse in the rubbish-heap of withered flowers within the monastery. The conspirators admitted that they were the culprits. (II) Đối trị Vinh Nhục—To treat honour and dishonour. 1) Không cần thiết phải phí phạm thì giờ để cải chánh những báo cáo sai lầm trừ phi những hoàn cảnh bắt buộc cần thiết sự sáng tỏ. Kẻ địch sẽ hài lòng khi thấy bạn bị đau. Đó là điều kẻ địch mong muốn. Nếu bạn dửng dưng thì những xuyên tạc như vậy sẽ rơi vào những lỗ tai điếc. Không thể nào có thể ngăn chận những lời buộc tội, đồn đãi và rỉ tai sai lầm, nên trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, Hòa Thượng Dhammananda đã dạy—It is needless to waste time in correcting the false reports unless circumstances compel you to necessitate a clarification. The enemy is gratified when he sees that you are hurt. That is what he actually expects. If you are indifferent, such misrepresentations wil fal on deaf ears. It is not possible to put a stop to false accusations, reports and rumours; therefore, in The Gems of Buddhism Wisdom, most Venerable Dhammananda taught: a) Thấy lỗi người khác, ta nên cư xử như một người mù: In seeing the faults of others, we should behave like a blind person. b) Khi nghe thấy những lời bình phẩm bất công của người khác, chúng ta nên xử sự như một người điếc: In hearing unjust criticism of others, we should behave like a deaf person. c) Nói xấu về người khác, ta nên cư xử như một người ngu: In speaking ill of others, we should behave like a dumb person. d) Chó sủa mặc chó, khách lữ hành vẫn tiếp tục tiến bước: Dogs bark, but the caravans move on peacefully. e) Chúng ta nghĩ sẽ bị ném bùn nhơ thay vì hoa hồng. Như vậy chúng ta sẽ không bị thất vọng: We should expect mud to be thrown at us instead of roses. Then there will be no disappointments. f) Dù khó khăn chúng ta nỗ lực trau dồi không luyến chấp. Một mình ta đến, một mình ta đi. Không luyến chấp là hạnh phúc trên thế giới nầy: Though difficult, we should try to cultivate nonattachment. Alone we come, alone we go. Nonattachment is happiness in this world. g) Không quan tâm đến những mũi tên độc phóng ra bởi giọng lưỡi buông lung, một mình chúng ta lang thang phục vụ tha nhân với hết khả năng: Unmindful of the poisonous darts of uncurbed tongues, alone we should wander serving others to the best of our ability. h) Thật là lạ lùng những vĩ nhân bị phỉ báng, nói xấu, đầu độc, hành xác và bị bắn. Nhà hiền triết Socrates bị đầu dộc, chúa Jesus cao thượng bị đóng đinh tàn nhẫn trên thập tự giá, Gandhi bị bắn chết, vân vân: It is rather strange that great men have been slandered, vilified, poisoned, crucified or shot. Great Socrates was poisoned, Noble Jesus Christ, and Gandhi was shot, etc. 2) Thế giới nầy đầy rẫy chông gai sỏi đá, không thể nào chúng ta chuyển chúng hết được. Nhưng nếu chúng ta phải bước vào những chướng ngại ấy, thay vì cố gắng loại bỏ chúng đi là không thể được, chúng ta hãy theo lời khuyên là nên mang một đôi giày để bước cho khỏi bị đau—The world is full of thorns and pebbles. It is impossible to remove them all. But if we have to walk, in spite of such obstacles, instead of trying to remove them, which is impossible, it is advisable to wear a pair of slippers and walk harmlessly. 3) Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy—In The Dhammapada Sutta, the Buddha taught: a) Giống như sư tử không run sợ trước những tiếng động: Be like a lion that trembles not at sounds. b) Giống như luồng gió không bám víu vào mắt lưới: Be like the wind that does not cling to the meshes of a net. c) Giống như hoa sen không bị hôi tanh bởi bùn nơi nó mọc lên. Chúng ta đang sống trong một thế giới vẩn đục bùn nhơ. Nhiều đóa hoa sen mọc lên từ đó nhưng không nhiễm bùn nhơ, chúng tô điểm thế giới. Giống như hoa sen, chúng ta hãy cố gắng sống cuộc đời cao thượng thì không ai chê trách được, không quan tâm tới bùn nhơ có thể ném vào chúng ta: Be like a lotus that is not contaminated by the mud from which it springs. We are living in a muddy world. Numerous lotuses spring therefrom without being contaminated by the mud, they adorn the world. Like lotuses we should try to lead blameless and noble lives, unmindful of the mud that may be thrown at us. d) Đi lang thang một mình như con tê giác: Wander alone like a rhinoceros. e) Như chúa sơn lâm, sư tử không hề biết sợ. Do bản chất chúng không sợ hãi trước những tiếng rống của các con vật khác. Trong thế giới nầy, chúng ta có thể nghe những báo cáo trái ngược, lời kết tội sai lầm, lời nhận xét đê hèn của những giọng lưỡi buông lung. Gống như sư tử, ta không nên nghe. Giống như quả tạ Bu-mơ-ren, ném ra rồi sẽ quay về chỗ cũ, tin đồn sai lầm sẽ chấm dứt ngay nơi chúng phát xuất: Being the kings of the forest, lions are fearless. By nature they are not frightened by the roaring of other animals. In this world, we may hear adverse reports, false accusations, degrading remarks of uncurbed tongues. Like a lion, we should not even listen to them. Like a boomerang, false reports will end where they began. 4) Đại trượng phu không màng tới danh dự hay mất danh dự, vinh hay nhục. Họ không rối trí khi bị công kích hay phỉ báng, vì những việc làm của họ không phải vì muốn có tên tuổi hay danh dự. Họ không màng tới người khác công nhân hay không công nhận sự phục vụ của họ. Làm việc, họ có toàn quyền nhưng không phải là để hưởng cái quả của việc làm ấy: Great men are indifferent to honour, or dishonour. They are not upset when they are criticized or maligned for they work not for fame, nor for name or honour. They are indifferent whether others recognize their services or not. To work, they have the right but not to the fruit thereof.
vinh quang
Glorious.
vinh qui
To return to one's native village with honour.
vinh thăng
To be promoted.
Vinh Triêu
(榮朝, Eichō, ?-1247): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Tông Lâm Tế Nhật Bản, hiệu là Thích Viên Phòng (釋圓房), tên tục cũng như xuất thân không rõ. Ông kiêm tu cả Hiển mà Mật Giáo, đăc biệt ông có theo học pháp của Dòng Liên Hoa (蓮華流) với Thánh Hòa (聖豪) của Tức Thành Phòng (卽成房) trên Tỷ Duệ Sơn. Sau đó, ông đến nhập chúng ở Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) thuộc vùng Liêm Thương, theo hầu Minh Am Vinh Tây và được trao truyền tâm ấn Thiền cũng như Mật Giáo. Sau ông đến thành lập Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), trở thành vị Tổ khai sơn chùa này, và cử xướng Thiền phong rất mạnh mẽ ở vùng Quan Đông (關東, Kantō). Chính Viên Nhĩ (圓爾, tức Thánh Nhất Quốc Sư) ở Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), Lãng Dự (朗譽) ở Thọ Phước Tự, v.v., là những người xuất thân từ môn hạ của ông. Vào ngày 26 tháng 9 niên hiệu Bảo Trị (寶治) nguyên niên, ông thị tịch.
vinh triều
Eichō (J)Tên một vị sư.
Vinh Tây
榮西; J: eisai; |Minh Am Vinh Tây
vinh tây minh am
Eisai myōan (J)Tên một ngôi chùa.
vinh tây thiền sư
Eisai Zenji (J)Tên một vị sư. Người truyền Lâm Tế tông vào Nhật bản.
vitaraga
Vitarāga (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú trong núi Isigili.
viêm
Blazing, burning.
; Đốt cháy—Blazing—Burning.
viêm kinh
Tên khác của Kinh Niết Bàn, nói về lễ Trà Tỳ của Đức Phật và giáo thuyết rực rỡ của Ngài—Another name for Nirvana Sutra, referring to the Buddha's cremation and the glorious teaching.
viêm ma giới
Xem Diêm Ma giới.
viêm ma thiên
Suyāmadeva (S)Ngũ Bộ Tịnh Cư Diêm Ma La, Diễm ma thiên, Tu Dạ Ma thiên1- Vị thiên tử quyết đoán nghiệp lành dữ của chúng sanh. 2- Tầng trời cắt đứt tất cả những thiện ác của chúng sanh.
viêm nhiệt địa ngục
Tapa (S), Tāpana (S), Tapana (P), Tarana (S), Thiêu Chích địa ngục.
; Tapana (S). The hell of burning or roasting, the sixth of the eight hot hells, where 24 hours equal 2,600 years on earth.
; Tapana (skt)—Địa ngục đốt nướng, địa ngục thứ sáu trong Bát nhiệt địa ngục (nơi mà 24 giờ tương đương với 2.600 năm trên trần thế nầy, nơi nầy tuổi thọ đến 16.000 năm)—The hell of burning or roasting, the sixth of the eight hot hells (where 24 hours equal 2.600 years on earth, life lasting 16,000 years).
Viêm Đế
(炎帝): truyền thuyết cho rằng ông là thủ lãnh của bộ lạc họ Khương thời cổ đại, còn gọi là Xích Đế (赤帝), họ Liệt Sơn (烈山, có thuyết cho là họ Thần Nông). Tương truyền mẹ ông tên là Nhiệm Tự (任姒), một hôm nọ lên thưởng ngoạn Hoa Sơn, trông thấy một con thần long, thân thể lập tức có phản ứng ngay, khi về đến nhà thì hạ sanh Viêm Đế. Ông hạ sanh tại thạch thất của Liệt Sơn, lấy lửa làm đức, nên có tên như vậy. Lúc còn nhỏ ông đã thông tuệ khác người, sanh ra mới 3 ngày mà ông có thể nói chuyện được, đến 5 ngày thì bước đi và chạy được, sau 3 năm thì biết hết mọi việc. Suốt một đời ông làm rất nhiều việc cho bá tánh như dạy cho họ canh tác, cho nên bá tánh có cơm ăn, áo mặc no đủ; giúp cho bá tánh thoát khỏi cái khổ bệnh tật nhờ các phương thần dược; hay chế ra các nhạc khí và dạy cho người dân biết được lễ nghi, v.v. Ban đầu người dân bộ tộc của ông hoạt động ở miền nam Thiểm Tây (陝西), về sau phát triển hướng về phía đông Hoàng Hà (黃河), thường xảy ra xung đột với Hoàng Đế (黃帝). Trong trận chiến ở Phản Tuyền (阪泉), Viêm Đế bị Hoàng Đế đánh bại, bộ lạc của ông bị sát nhập vào bộ lạc của Hoàng Đế, hình thành nên bộ tộc Hoa Hạ (華夏); vì vậy ngày nay người dân Trung Quốc vẫn tự xưng là “Viêm Hoàng Hậu Đại (炎黃後代, hậu duệ của Viêm Đế và Hoàng Đế).” Có thuyết cho rằng khu vực hoạt động của Hoàng Đế là ở phía tây Thái Sơn (泰山), thuộc miền hạ du Hoàng Hà; trong khi đó, Viêm Đế thì hoạt động ở phía đông Thái Sơn, cũng thuộc hạ du Hoàng Hà. Lăng của Viêm Đế hiện tọa lạc tại sườn núi của Viêm Lăng Sơn (炎陵山), cách khoảng 15 dặm về phía tây nam Thành Viêm Lăng Huyện (炎陵縣城), Phố Châu Châu (株洲市), Tỉnh Hồ Nam (湖南省). Tương truyền rằng ông thường đi hái thuốc trị bệnh cho nhân dân, nhưng không may gặp phải độc dược đến nỗi bị vong thân và được an táng nơi đây.
viên
Dava (S), Garden Xem Tỉnh thức.
; Park, garden. Lộc dã viên, Mrgadava (S). Deer park. Trúc viên. Venuvana (S), Bamboo park. Cấp cô độc viên, Jetavana (S). Garden of the prince Jeta.
; 1) Tròn: Round. 2) Tròn đầy: All-round—Full-orbed. 3) Ôm trọn: Embracing. 4) Toàn: Whole—Perfect—Complete. 5) Vihara (skt)—Vườn, công viên, nơi nhàn tản bách bộ—A place for walking about—Pleasure ground—Garden—Park.
Viên Chiếu
圓照; 999-1090|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7. Sư kế thừa Thiền sư Ðịnh Hương và là thầy của Quốc sư Thông Biện.|Sư tên Mai Trực, quê ở Phúc Ðường, Long Ðàm, là con của người anh của bà Linh Thái Hậu, vợ vua Lí Thái Tông. Thuở nhỏ, Sư rất thông minh và hiếu học. Một hôm, Sư đến chùa Mật Nghiêm nhờ một vị Trưởng lão xem số. Vị này bảo: »Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là vị Bồ Tát, bằng không thì việc thọ yểu khó giữ.«|Cảm ngộ lời khuyên này, Sư đến ấp Tiêu Sơn thụ giáo với Thiền sư Ðịnh Hương và được truyền tâm ấn. Sư chuyên trì kinh Viên giác và có nhiều điềm linh ứng xảy ra.|Sau, Sư đến kinh đô Thăng Long lập một ngôi chùa để hiệu là Cát Tường. Học giả đến tham vấn rất đông. Sư có soạn một bài thích luận với tên Dược Sư thập nhị nguyện văn, vua Lí Nhân Tông truyền sứ giả mang sang Trung Quốc trình vua Tống Triết Tông. Vua Tống trao cho những vị cao tăng ở đây xem. Xem xong, các vị bảo: »Ðây là nhục thân Bồ Tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào«. Sứ thần về kinh đô tâu lại, vua lại càng kính nể.|Tháng 9 niên hiệu Quảng Hựu thứ 6 đời vua Lí Nhân Tông, Sư gọi môn đồ vào dạy: »Trong thân ta đây, xương lóng gân mạch, tứ đại hoà hợp, ắt phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái, xà ngang đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:|身如牆壁已頹時。舉世匆匆熟不悲|若達心空無色相。色空隱顯任推移|Thân như tường bích dĩ đồi thì|Cử thế thông thông thục bất bi|Nhược đạt tâm không vô sắc tướng|Sắc không ẩn hiển nhậm thôi di.|*Thân như tường vách đã long lay|Ðau đâu người đời luống xót thay|Nếu đạt tâm không, không tướng sắc|Sắc, không ẩn hiện mặc vần xoay.«|Nói xong, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ 92 tuổi, 56 tuổi hạ.|Sư có để lại các tác phẩm như: 1. Tán Viên giác kinh; 2. Thập nhị Bồ Tát hạnh tu chứng đạo trường; 3. Tham đồ hiển quyết.
viên chiếu thiền sư
Thiền Sư Viên Chiếu là một trong những thiền sư nổi tiếng của Việt Nam thời nhà Lý, quê ở Long Đàm, Bắc Việt. Ngài xuất gia và trở thành đệ tử của Thiền sư Định Hương tại ấp Tiêu Sơn. Ngài ở lại ấp nầy phục vụ Thầy trong nhiều năm. Sau đó ngài đi Thăng Long khai sơn chùa Cát Tường. Ngài trụ tại Cát Tường để chấn hưng và hoằng dương Phật giáo trong nhiều năm. Ngài đã soạn quyển “Dược Sư Thập Nhị Nguyện.” Ngài cũng là tác giả của bài thơ nổi tiếng sau—Zen master Yien-Zhao was one of the most famous Vietnamese Zen masters during the Ly dynasty. He was from Long Đàm, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen Master Định Hương in Tiêu Sơn hamlet. He stayed there to serve his master for several years. Later he went to Thăng Long Citadel to build a temple named Cát Tường. He stayed there to expand the Buddha Dharma for many years. He composed “Bhaishajya-Guru's Twelve Vows.” He was also the author of this famous poem: “Thân như tường bích dĩ đồi thì, Cử thế thông thông thục bất bi. Nhược đạt tâm không vô sắc tướng, Sắc không ẩn hiện nhậm suy vi.” (Our body is like a shaking old wall, Pitiful people worried about it days in and days out. If they could hold a mindless atitude of no form and no sign. They would no longer worry about form and no form, appearance and disappearance). Ngài dành hầu hết đời mình chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt, Ngài thị tịch năm 1090, thọ 92 tuổi—He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1090, at the age of 92.
Viên Chiếu Tông Bản
圓照宗本; ?-1099|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài. Nối pháp của Sư có bốn vị danh tiếng là Pháp Vân Thiện Bản, Ðầu Tử Tu Ngung, Kim Sơn Pháp Ấn và Tịnh Nhân Phật Nhật.|Sư họ Quản, quê ở Vô Tích, Thường Châu. Sư lúc nhỏ đã dung mạo trang nghiêm, tính tình thuần hậu. Năm được 19 tuổi, Sư theo Thiền sư Ðạo Thăng tại chùa Thừa Thiên Vĩnh An trên núi Cô Tô xuất gia và ở đây hầu hạ thầy.|Bước đầu du phương, Sư đến Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài. Thiên Y dẫn câu chuyện sau hỏi Sư: »Thế Thân (s: vasubandhu) theo đức Di-lặc vào nội cung nghe thuyết pháp rồi trở về. Vô Trước (asaṅga) hỏi Thế Thân: ›Ở nhân gian bốn trăm năm tại cõi trời Ðâu-suất một ngày một đêm. Ðức Di-lặc trong một thời dạy xong năm trăm ức vị thiên tử chứng pháp vô sinh, chưa biết nói pháp gì?‹ Thế Thân đáp: ›Chỉ nói pháp ấy. Thế nào là pháp ấy?‹« Trải qua một thời gian lâu Sư mới ngộ được ý chỉ. Một hôm, Thiên Y hỏi Sư: »Khi tức tâm tức Phật thì thế nào?« Sư thưa: »Giết người đốt nhà có gì là khó!«|Danh tiếng của Sư từ lúc này vang khắp và Sư được thỉnh trụ trì nhiều Thiền viện. Sau, Sư đến chùa Huệ Lâm trụ trì. Vua Tống Thần Tông rất tôn kính Sư.|Sau, Sư lấy cớ tuổi già xin trở về rừng núi. Vua chấp thuận và cho phép Sư tuỳ ý vân du, không ép buộc trụ trì nơi nào. Sư đánh trống từ biệt chúng và nói kệ:|Bản thị vô gia khách|Na kham nhậm ý du|Thuận phong da lỗ trạo|Thuyền tử hạ Dương Châu.|*Vốn là khách không nhà|Nay được tuỳ ý đạo|Thuận gió theo nhịp chèo|Dương Châu thuyền thẳng đến.|Sắp từ biệt nhau, Sư nhắc nhở những người đưa tiễn: »Không nên vui đùa năm tháng, già chết chẳng thẹn cùng người. Chỉ nên siêng năng tu hành chớ lười trể đó mới là thật lòng vì nhau.«|Sau khi chu du hoằng hoá nhiều nơi, Sư lại đến Linh Nham trụ trì. Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ hai (1099), lúc sắp tịch, Sư tắm gội xong nằm dài dưới đất. Ðệ tử thấy vậy liền đỡ Sư lên giường nằm và thưa: »Hoà thượng truyền đạo khắp thiên hạ, hôm nay không lẽ chẳng để kệ, mong gắng ngồi yên.« Sư liền bảo: »Kẻ si! Ta bình thường ghét làm kệ, ngày nay cả thảy mong làm gì? Bình thường ta ưng nằm thì nằm, chẳng lẽ ngày nay lại chuyên ngồi? Ðem bút lại.« Chúng đem bút lại, Sư cầm bút viết: »Việc sau trao cho Thủ Vinh«, và ném bút, nằm xuống thị tịch.
viên châu tuyết nham
Yuan-chou Hsueh yen (C)Tên một vị sư.
viên cơ
The potentiality of becoming fully enlightened at once.
; Tiềm năng trở nên tức thì giác ngộ—The potentiality of becoming fully enlightened at once.
Viên cụ
(圓具): là tên gọi khác của Cụ Túc Giới, vì người thọ trì Cụ Túc Giới thì gần với quả vị viên mãn của Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). Như trong Tỳ Ni Quan Yếu (毗尼關要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 720) quyển 2 có giải thích rằng: “Xuất gia thọ Tỳ Kheo giới, cố vân cận viên, hựu vân cụ viên, diệc danh viên cụ; dĩ thử cụ giới, nãi cụ túc Niết Bàn chánh nhân, cố danh cụ viên viên cụ dã (出家受比丘戒、故云近圓、又云具圓、亦名圓具、以此具戒、乃具涅槃正因、故名具圓圓具也, xuất gia thọ giới Tỳ Kheo, được gọi là cận viên [gần viên mãn], lại có tên là cụ viên [đầy đủ viên mãn], cũng gọi là viên cụ [viên mãn đầy đủ]; nhờ giới Cụ Túc này, mà đầy đủ nhân chính của Niết Bàn, nên gọi là cụ viên, viên cụ).” Từ viên cụ này xuất hiện khá nhiều trong các Ngữ Lục Thiền Tông. Như trong Kiềm Nam Hội Đăng Lục (黔南會燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1591) quyển 6 có câu: “Phổ An Tùng Khuy Thiện Quyền Vị Thiền Sư, Sở Bắc Cù thị tử, nhân thế loạn nhập Kiềm, ngụ An Thuận chi Thái Hư Động trĩ nhiễm, y Hàm Quang viên cụ, tham Nguyệt Tràng Hòa Thượng ấn chứng, trú An Nam chi Vạn Thọ (普安松巋善權位禪師、楚北瞿氏子、因世亂入黔、寓安順之太虛硐薙染、依含光圓具、參月幢和尚印證、住安南之萬壽, Thiền Sư Tùng Khuy Thiện Quyền Vị ở Phổ An, con của nhà họ Cù ở phương Bắc nước Sở, nhân thời loạn lạc mà đến Quý Châu, nhờ Thái Hư Động ở An Thuận được xuất gia, nương theo Hàm Quang thọ Cụ Túc giới, rồi tham vấn Hòa Thượng Nguyệt Tràng được ấn chứng, trú tại Vạn Thọ thuộc An Nam).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 22 có đoạn rằng: “Đàm Châu Đại Quy Sơn Tổ Triện Thiền Sư, tánh Ngô thị, Phúc Châu Hầu Quan nhân dã, xuất gia viên cụ, tham Đại Quy Tú Thiền Sư, khế ngộ Tổ ý, đạo hạnh cao khiết, lệ thực thô y (潭州大溈山祖瑑禪師、姓吳氏、福州候官人也、出家圓具、參大溈秀禪師、契悟祖意、道行高潔、糲食麤衣, Thiền Sư Tổ Triện ở Đại Quy Sơn, Đàm Châu, họ là Ngô, người vùng Hầu Quan, Phúc Châu; xuất gia và thọ giới Cụ Túc, rồi tham học với Thiền Sư Đại Quy Tú, lãnh ngộ ý của Tổ, đạo hạnh thanh cao, ăn gạo lức và mặc áo thô sơ).”
viên cụ
Whole and complete.
; Cụ Túc Giới—Cận Viên Giới—Tên gọi khác của cụ túc giới. Người thọ cụ túc giới gần với viên quả của Niết Bàn—Whole and complete, i.e. the whole of the commandments, by the observance of which one is near to nirvana. ** For more information, please see Cụ Túc Giới.
viên cực
Inclusive to the uttermost; absolute perfection.
; Viên mãn tuyệt đối—Inclusive to the uttermost; absolute perfection.
viên diệu
The mystery of the "perfect" school, i.e. the complete harmony of không giả trung noumenon, phenomenon, and the middle way.
; Theo tông Thiên Thai, viên diệu là sự phối hợp hoàn toàn tuyệt diệu của ba đế Không, Giả và Trung—According to the T'ien-T'ai sect, the mystery of the “perfect” school, i.e. the complete harmony of noumenon, phenomenon, and the middle way. ** For more information, please see Không Giả Trung.
viên dung
Complete combination; the absolute in the relative and vice versa; the identity of apparent contraries; perfect harmony among all differences, as in water and waves, passions and enlightenment, transmigration and nirvàna, or life and death, etc; all are of the same fundamental nature, all are chân như bhùtatathatà, and bhùtatathatà is all.
; 1) Dung hòa, dung thông, chu biến khắp cả, hay vạn pháp viên dung không trở ngại: Complete combination. 2) Tuyệt đối trong tương đối và ngược lại: The absolute in the relative and vice-versa. 3) Lý tính của chư pháp vốn đầy đủ hay vạn pháp sự lý đều viên dung không trở ngại, không phải hai, không có phân biệt—The identity of apparent contraries; perfect harmony among all differences. • Như sóng với nước: Sóng tức là nước—As in water and waves. • Như phiền não và Bồ Đề: Phiền não tức Bồ Đề—As in passion and enlightenment. • Như sinh tử và Niết Bàn: Sinh tử tức Niết Bàn—As in transmigration and nirvana. • Như sống và chết: Chết là khởi đầu cho cuộc sống khác, sống là đang đi dần về cái chết—As in life and death. • Bản chất của chư pháp đều giống nhau: All are of the same fundamental nature. • Tất cả là Chân Như: All are bhutatathata. • Chân Như là tất cả: Bhutatathata is all. • Sóng nước là một, nước sóng là một: Waves are one with waves, and water is one with water, and water and wave are one.
viên dung (nguyên lý)
See Duyên Khởi (Nguyên Lý), and Pháp Giới Duyên Khởi.
viên dung tam đế
Sự viên dung của tam đế trong giáo thuyết của tông Thiên Thai. Nguyên lý mà mỗi hiện tượng tự biểu lộ là ba chân lý trong một hòa điệu, tức Không Giả và Trung, nghĩa là, thật thể vốn nội tại, hoàn toàn nội tại, nội tại trong lý tánh và nội tại trong bản tánh—The three dogmas of the T'ien-T'ai Perfect School, as combined, as one and the same, as a unity. The principle each phenomenon expresses is the triple truth of harmony, as void, as temporary and as mean, i.e., noumenon originally immanent, perfectly immanent, immanency in principle and immanency in nature. a) Không Đế: The universal (không) apart from the particular (giả) is an abstraction—See Tam Đế (1). b) Giả Đế: The particular aprt from the universal is unreal. The universal realizes its true nature in the particular, and the particular derives its meaning from the universal—See Tam Đế (2). c) Trung Đế: The middle path unites these two aspects of one reality—See Tam Đế (3). ** For more information, please see Không Giả Trung, và Tam Đế.
Viên Dung Thiên Hoàng
(圓融天皇, Enyū Tennō, tại vị 969-984): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Bình An, Hoàng Tử thứ 5 của Thôn Thượng Thiên Hoàng (村上天皇, Murakami Tennō), tên là Thủ Bình (守平, Morihira).
viên dung tự
EnyŪ-ji (J)Tên một ngôi chùa.
Viên Giác
(圓覺): tánh giác viên mãn, nghĩa là lý tánh do Như Lai chứng được có đầy đủ muôn đức, tròn đầy cùng khắp, linh diệu sáng tỏ. Hơn nữa, hết thảy chúng hữu tình đều có bản giác, chơn tâm, từ vô thỉ đến nay thường trú thanh tịnh, sáng rực không mê mờ, rõ ràng thường biết; nếu nói về thể thì đó là nhất tâm; nếu nói về nhân là Như Lai Tạng (如來藏); nói về quả là Viên Giác; cùng đồng nhất với chân như, Phật tánh, pháp giới, Niết Bàn, Bồ Đề, v.v. Trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, gọi tắt là Viên Giác Kinh, Taishō Vol. 17, No. 842) giải thích rằng: “Vô thượng Pháp Vương hữu đại Đà La Ni môn, danh vi Viên Giác, lưu xuất nhất thiết thanh tịnh chân như Bồ Đề Niết Bàn cập Ba La Mật, giáo thọ Bồ Tát (無上法王有大陀羅尼門、名爲圓覺、流出一切清淨眞如菩提涅槃及波羅蜜、敎授菩薩, đấng Pháp Vương vô thượng có pháp môn đại Đà La Ni tên là Viên Giác, lưu xuất hết thảy chân như, Bồ Đề, Niết Bàn và Ba La Mật, dạy dỗ và truyền trao cho Bồ Tát).” Hay trong Viên Giác Kinh Lược Sớ Tự Chú (圓覺經略疏序注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 256) của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密, 780-841) có chú giải rằng: “Vạn pháp hư ngụy, duyên hội nhi sanh, sanh pháp bổn vô, nhất thiết duy thức, thức như huyễn mộng, đản thị nhất tâm, tâm tịch nhi tri, mục chi vi Viên Giác (萬法虛僞、緣會而生、生法本無、一切唯識、識如幻夢、但是一心、心寂而知、目之爲圓覺, muôn pháp không thật, do duyên gặp mà sinh ra, pháp sanh ra vốn không, hết thảy chỉ có biết, biết như huyễn mộng, chỉ là nhất tâm, tâm lặng mà biết, mắt thấy là Viên Giác).”
viên giác
Engaku (J) Là giác ngộ bản thể tự tánh vốn viên mãn, cùng khắp thời gian không gian.
; Complete enlightenment potentially present in each being, for all have bản giác primal awareness, or chân tâm the true heart (e.g. conscience), which has always remained pure and shining; considered as essence it is the nhất tâm one mind, considered causally it is the Như lai tạng Tathàgata-garbha, considered in its result it is viên giác perfect enlightenment.
; Là giác ngộ bản thể tự tánh vốn viên mãn, cùng khắp thời gian không gian.
; Toàn giác—Theo Kinh Viên Giác, viên giác tiềm ẩn trong mỗi chúng sanh, nó là bản giác hay chân tâm của tất cả các loài hữu tình, từ vô thủy đến nay thường trụ, thanh tịnh và sáng ngời—According to the Complete Enlightenment Sutra, complete enlightenment potentially present in each being, for all have primal awareness or the true heart, i.e. conscience, which has always remained pure and shining. a) Về mặt thể gọi là Nhất Tâm: Considered as essence in it is the One Mind. b) Về mặt nhân gọi là Như Lai Tạng: Considered causally it is the Tathagata-garbha. c) Về mặt quả gọi là Viên Giác: Considered in its result it is Perfect Enlightenment.
Viên giác kinh
圓覺經; C: yuánjué-jīng; J: engaku-kyō; tên ngắn của bộ kinh Ðại phương quảng viên giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh (s: mahāvaipulyapūrṇa-buddhasūtra-prasannārtha-sūtra); |Một bộ kinh Ðại thừa quan trọng được Giác Cứu (Phật-đà Ða-la; s: buddhatrāta) dịch sang Hán ngữ năm 693. Kinh này được chia làm mười hai chương, lấy tên của mười hai vị Ðại Bồ Tát làm tên của mỗi chương. Phần nội dung và phần kết thúc bao gồm mười hai lần hỏi đáp. Trong kinh này, mười hai vị Ðại Bồ Tát, trong đó có hai vị Văn-thù và Phổ Hiền, được chỉ dạy về sự viên mãn của Giác ngộ (viên giác). Kinh này có ảnh hưởng lớn trong Thiền tông.
viên giác kinh
Engaku-kyo (J)Xem Đại phương đẳng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh.
; The Sutra of Perfect Enlightenment—See Kinh Viên Giác.
Viên Giác Tông Diễn
(圓覺宗演, Engaku Sōen, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, xuất thân Ân Châu (恩州, Tỉnh Hà Bắc), họ Thôi (崔). Sau khi xuất gia, ông đến tham vấn Nguyên Phong Thanh Mãn (元豐清滿) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Tuyết Phong Sơn (雪峰山) thuộc Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến) và trong khoảng thời gian niên hiệu Tuyên Hòa (宣和, 1119-1125), ông nhận được sắc chỉ của vua Huy Tông mời vào cung nội thuyết pháp, nhân đó ông được ban tặng cho hiệu là Viên Giác Thiền Sư (圓覺禪師). Vào năm thứ 2 (1120) niên hiệu Tuyên Hòa, ông khai bản trùng khắc bộ Lâm Tế Lục (臨濟錄), và trước sau thời gian này ông còn cho ấn bản bộ Vân Môn Lục (雲門錄).
Viên Giác Tự
(圓覺寺, Engaku-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Viên Giác Tự (圓覺寺派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu núi là Thoại Lộc Sơn (瑞鹿山), hiện tọa lạc tại số 409 Yamanouchi (山ノ內), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣), được xếp hàng thứ hai trong năm ngôi chùa nổi tiếng ở vùng Liêm Thương. Tượng thờ chính của chùa Bảo Quan Thích Ca Như Lai (寶冠釋迦如來). Tên chính thức của chùa là Thoại Lộc Sơn Viên Giác Hưng Thánh Thiền Tự (瑞鹿山圓覺興聖禪寺). Vào năm thứ 5 (1282) niên hiệu Hoằng An (弘安), để truy điệu cầu nguyện cho những người đã tử trận trong cuộc chiến chống quân nhà Nguyên, Tướng Quân trấn thủ vùng Tương Mô (相模, Sagami) là Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) sáng lập nên chùa này, rồi cung thỉnh Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) làm vị Tổ khai sơn. Tương truyền rằng vào ngày lạc thành chùa thì có bầy nai trắng tập trung đến nghe pháp, nên từ đó ngọn núi này được đặt tên là Thoại Lộc Sơn (瑞鹿山, ngọn núi có điềm lành bầy nai trắng). Vào năm thứ 7 (1400) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), chùa gặp phải trận hỏa tai lớn, rồi sau đó cũng thỉnh thoảng gặp những lần hỏa hoạn như vậy; nhưng đến năm thứ 2 (1625) niên hiệu Khoan Vĩnh thì chùa được tái kiến lại như cũ cho đến ngày nay. Trước thời Duy Tân, chùa có 32 ngọn tháp, 2 tòa viện lớn; nhưng hiện tại chỉ còn có 12 ngọn tháp và 1 tòa viện mà thôi. Quần thể kiến trúc của chùa gồm Tổng Môn (總門), Tam Môn (三門), Phật Điện (佛殿), Tuyển Phật Trường (選佛塲), Phương Trượng (方丈), Xá Lợi Điện (舍利殿), Diệu Hương Trì (妙香池), Lầu Chuông. Bên cạnh đó, còn có khá nhiều ngôi viện tháp khác như Tế Ấm Am (濟蔭庵), Chánh Tục Viện (正續院), Tùng Lãnh Viện (松嶺院), Phật Nhật Am (佛日庵), Hoàng Mai Viện (黃梅院), Quy Nguyên Viện (歸源院), Quế Xương Am (桂昌庵), Long Ẩn Am (龍隱庵), Thọ Đức Am (壽德庵), Chánh Truyền Am (正傳庵), Tục Đăng Am (續燈庵), Như Ý Am (如意庵), Ngọa Long Am (臥龍庵), Bạch Vân Am (白雲庵), Vân Đảnh Am (雲頂庵), v.v. Chùa hiện lưu giữ một số bảo vật thuộc dạng quốc bảo như Xá Lợi Điện (an trí Xá Lợi của đức Phật, tương truyền thỉnh từ nhà Nam Tống sang), Phạn Chung (梵鐘, Hồng Chung, do Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời hiến cúng, được đúc vào năm 1301); và nhiều bảo vật thuộc loại tài sản văn hóa quan trọng.
Viên Giác tự
圓覺寺; J: engaku-ji; |Một thiền viện nổi danh của Nhật Bản, nằm tại Liêm Thương (kamakura). Thiền viện này được một vị Thiền sư Trung Quốc là Vô Học Tổ Nguyên khai sáng, với sự ủng hộ của Tướng quân Bắc Ðiều Thì Tông (hōjo tokimune). Thiền viện này là trụ sở chính của thiền phái Viên Giác (engaku-ji-ha) của tông Lâm Tế tại Nhật, được xếp vào hệ thống Ngũ sơn của Liêm Thương. Viên Giác tự là một trong những thiền viện hiếm hoi vẫn còn hoạt động đến thời nay; rất nhiều thiền viện nhỏ đứng dưới sự quản lí của thiền viện này.
viên giác tự
Engake-ji (J), Engaku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
viên giáo
Engyō (J).
; The complete, perfect, or comprehensive doctrine; the school or sect of Mahàyàna which represents it. The term has had three references. The first was by Quang Thống, sixth century, who defined three shools, Tiệm gradual, Đốn immediate, Viên inclusive or complete. The Thiên Thai called its fourth section inclusive, complete, or perfect teaching Viên, the other three being Tạng Hìnayàna, Thông Màhayàna-cum-Hìnayàna, Biệt Mahàyàna. The Hoa Nghiêm so called its fifth section, i.e. Tiểu thừa, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo and Viên giáo.
; Perfect teaching—Round Doctrine—Round Teaching. 1) Viên Giáo là pháp tối thượng thừa trong Phật giáo, giảng về Nhất Thừa hay Phật Thừa, được Đức Phật thuyết giảng trong các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm và các kinh khác—Perfect Teaching or supreme teaching of the Buddha, as expressed in the Lotus, Avatamsaka Sutras, among others. Perfect teaching signifies the One-Vehicle or the Vehicle of the Buddha. 2) Đại thừa Viên Giáo, tên gọi của tông Thiên Thai—Mahayana—The Perfect School, the comprehensive doctrine, or the complete immediate school, that of T'ien-T'ai. 3) Theo Quang Thống thời Hậu Ngụy, vào thế kỷ thứ sáu lập ra ba trường phái thời bấy giờ là tiệm, đốn và viên. Tên Viên Giáo bắt đầu từ đó: During the Post-Wei dynasty, around the sixth century, Vinaya Master Kuang-T'ung defined three school, gradual, immediate, and inclusive or complete. 4) Tông Thiên Thai phân tích ra làm tứ giáo, giáo thuyết thứ tư là viên giáo: The T'ien-T'ai defined four schools, the fourth school called “Inclusive or complete teaching.”—See Thiên Thai Hóa Nghi Tứ Giáo. 5) Tông Hoa nghiêm lập ra ngũ giáo, loại thứ năm là viên giáo: The Hua-Yen sect defined five schools, the fifth called “Inclusive or complete teaching.”—See Ngũ Thời Giáo.
viên giới
See Viên Đốn Giới.
Viên Hành
(圓行, Engyō, 799-852): vị Tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, húy là Viên Hành, xuất thân kinh đô Kyoto. Ông xuất gia với tư cách là người được phép đắc độ hằng năm của Hoa Nghiêm Tông, sau đó ông theo học Mật Giáo với Không Hải (空海, Kūkai). Năm 838, ông cùng với Thường Hiểu (常曉, Jōgyō), Viên Nhân (圓仁, Ennin), Viên Tải (圓載, Ensai) sang nhà Đường lưu học, được Nghĩa Chơn (義眞) ở Thanh Long Tự (青龍寺) truyền trao cho đại pháp của 2 bộ Thai Mật. Sau khi trở về nước, ông khai sáng Linh Nham Tự (靈巖寺, Reigan-ji) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro) và Đại Sơn Tự (大山寺, Daizan-ji) ở Bá Ma (播磨, Harima). Trước tác của ông để lại có Kim Cang Giới Ký (金剛界記), Ngũ Đại Hư Không Tạng Pháp (五大虛空藏法), Thánh Vô Động Tôn Quyết Bí Yếu Nghĩa (聖無動尊決秘要義), Linh Nham Khẩu Truyền (靈巖口傳) 1 quyển, Tấn Quan Thỉnh Lai Lục (進官請來錄) 1 quyển, v.v.
viên hành
Hành pháp của Viên Giáo, cho rằng một hành tức là tất cả hành—The conduct or discipline of the T'ien-T'ai “perfect” school, the diversity in the unity.
viên hải
The all-embracing ocean, i.e. the perfection or power of the Tathàgata.
; Như Lai lực ví như biển cả ôm trọn tất cả—The all-embracing ocean, i.e. the perfection or power of the Tathagata.
Viên Học
圓學; 1053-1116|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 17. Sư nối pháp Thiền sư Chân Không và truyền lại cho đệ tử là Quốc sư Viên Thông.|Sư họ Hoàng, quê ở làng Như Nguyệt. Thuở nhỏ, Sư xuất gia tu học tại chùa Ðại An Quốc, huyện Tế Giang, ban đầu đọc hết các loại sách thế tục, đến năm lên hai mươi mới bước vào nghiên cứu nội điển.|Nhân nghe một câu nói của Thiền sư Chân Không, Sư lĩnh hội huyền chỉ. Sau đó, Sư tuỳ phương giáo hoá.|Về sau, Sư trùng tu chùa Quốc Thanh ở làng Phù Cầm và đúc một quả chuông. Sư làm bài kệ dạy chúng:|六識常昏終夜苦。無明被覆久迷慵|晝夜聞鐘開覺悟。懶神淨剎得神通|Lục thức thường hôn chung dạ khổ|Vô minh bị phú cửu mê dung|Trú dạ văn chung khai giác ngộ|Lãn thần tịnh sát đắc thần thông.|*Sáu thức tối tăm khổ đêm dài|Vô minh che đậy mãi mê say|Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác|Thần lưỡi dứt sạch, được thần thông.|Năm Bính Thìn, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ 4, ngày 14 tháng 6, Sư thị tịch, thọ 64 tuổi.
viên học thiền sư
Zen Master Viên Học (1073-1136)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Tế Giang, Bắc Việt. Năm 20 tuổi, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Chân Không. Ngài là Pháp tử đời thứ 17 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Về sau, ngài trùng tu chùa Quốc Thanh ở Phù Cầm. Hầu hết cuộc đời ngắn ngủi của ngài, ngài hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1136 lúc mới 36 tuổi—A Vietnamese Zen master from Tế Giang, North Vietnam. He left home and became a disciple of Zen Master Chân Không at the age of 20. He was the Dharma heir of the seventeenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. Later, he rebuilt Quốc Thanh Temple in Phù Cầm. He spent most of his short life to expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1136, at the age of 36.
viên hợp
All embracing, all inclusive.
; Dung hợp tất cả—All-embracing, all inclusive.
viên không
Complete vacuity, i.e. không không, from which even the idea of vacuity is absent.
; Đệ nhất nghĩa không hay chân không trong đó ý niệm về không cũng không còn---Complete vacuity, from which even the idea of “vacuity” is absent.
viên minh
Emmyō (J)Tên một vị sư.
; Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây dựng từ lâu lắm. Kiến trúc chùa hiện nay là do đợt trùng tu năm 1951 và hoàn tất năm 1959—Name of an ancient pagoda located in Bến Tre town, Bến Tre province, South Vietnam. It was built a long long time ago. The present construction is that of the rebuilding in 1951 (completed in 1959).
viên mãn
Puṇṇa (P), Purṇa (S), Completeness Puṇṇa (P)Xem Phú lâu na.
; Pari- (S). Completely full; wholly complete; the fulfilling of the whole, i.e. that the part contains the whole; the absolute in the relative.
; Hoàn toàn thành tựu—Accomplished, perfection, completion, completely full, wholly complete; the fulfilling of the whole, i.e. that the part contains the whole, the absolute in the relative.
viên mãn báo thân
The perfect reward body.
viên mãn báo thân phật
The Full Reward-Body of the Buddha—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đã dạy về Viên Mãn Báo Thân Phật như sau: “Nầy thiện tri thức! Sao gọi là Viên Mãn Báo Thân Phật? Thí như trong một ngọn đèn hay trừ ngàn năm tối, một trí huệ hay diệt muôn năm ngu. Chớ suy nghĩ về trước, đã qua không thể được. Thường phải nghĩ về sau, mỗi niệm mỗi niệm tròn sáng, tự thấy bản tánh. Thiện ác tuy là khác mà bản tánh không có hai, tánh không có hai đó gọi là tánh Phật. Ở trong thật tánh không nhiễm thiện ác, đây gọi là Viên Mãn Báo Thân Phật. Tự tánh khởi một niệm ác thì diệt muôn kiếp nhơn lành, tự tánh khởi một niệm thiện thì được hằng sa ác hết, thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề, niệm niệm tự thấy chẳng mất bổn niệm gọi là Báo Thân.”—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisor! What is the perfect, full Reward-body of the Buddha? Just as one lamp can disperse the darkness of a thousand years, one thought of wisdom can destroy ten thousand years of delusion. Do not think of the past; it is gone and can never be recovered. Instead think always of the future and in every thought, perfect and clear, see your own original nature. Although good and evil differ, the original nature is non-dual. That non-dual nature is the real nature. Undefiled by either good or evil, it is the perfect, full Reward-body of the Buddha. One evil thought arising from the self-nature destroys ten thousand aeons' worth of good karma. One good thought arising from the self-nature ends evils as numerous as the sand-grains in the Ganges River. To reach the unsurpassed Bodhi directly, see it for yourself in every thought and do not lose the original thought. That is the Reward-body of the Buddha.”
viên mãn kinh
The complete, or all-inclusive sùtra, a term applied to the Hoa Nghiêm kinh.
; Kinh bao gồm tất cả, từ dùng để chỉ Kinh Hoa Nghiêm—The complete, or all-inclusive sutra, a term applied to the Hua-Yen sutra.
viên mật
The complete teaching of Thiên Thai and the esoteric teaching. Also the harmony of both as one.
; 1) Viên giáo và Mật giáo: The complete teaching and the esoteric teaching. 2) Thiên Thai và Mật Giáo: Sự hòa hợp của cả hai làm một—The complete teaching of T'ien-T'ai and the esoteric teaching. The harmony of both as one.
viên mật thiền giới
Enmitsu-Zenkai (J).
viên ngưng
Vô dư niết bàn—Complete crystalization, or formation, i.e. perfect nirvana.
viên ngộ
Completely to apprehend the truth. In Thiên Thai, the complete apprehension at the same time of noumenon, phenomenon, and the middle way.
; Biết chân lý một cách tròn đầy. Theo tông Thiên Thai, viên ngộ là hoàn toàn giác ngộ cùng lúc về thế giới phi hiện tượng, thế giới hiện tượng và Trung đạo—Completely apprehend the truth; the complete apprehension of noumenon, phenomenon and the Middle way at the same time. In T'ien-T'ai, the complete apprehension at the same time of noumenon, phenomenon, and the middle way.
Viên Ngộ Khắc Cần
(圜悟克勤, Engo Kokugon, 1063-1135): nhân vật sống vào thời nhà Tống, vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, họ là Lạc (駱), tự là Vô Trước (無著). Ông được vua Cao Tông nhà Nam Tống ban cho hiệu là Viên Ngộ (圜悟), rồi vua Huy Tông nhà Bắc Tống ban cho hiệu là Phật Quả (佛果), nên ông được gọi là Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) hay Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤). Ông là người Sùng Ninh (崇寧, phía Tây Bắc Phố Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên), Bành Châu (彭州), xuất gia từ lúc còn nhỏ, rồi đã từng tu tập với chư vị cao tăng ở các nơi, nhưng cuối cùng đến làm đệ tử của Ngũ Tổ Pháp Diễn (法演) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị Hàn Lâm Quách Tri Chương (郭知章), ông đến thuyết pháp ở Lục Tổ Tự (六祖寺) và Chiêu Giác Tự (昭覺寺). Trong khoảng thời gian niên hiệu Chính Hòa (政和, 1111-1117), ông tuần du lên phương Nam, gặp Trương Thương Anh (張商英) và cùng đàm luận huyền chỉ của Hoa Nghiêm. Đương thời, Tể Tướng Trương Thương Anh của Phái Dung Phật (容佛派), Thái Thú Thành Đô Quách Tri Chương (郭知章), Đặng Tử Thường (鄧子常), v.v., là những nhà ủng hộ đắc lực cho ông. Sau ông đã từng sống qua các chùa như Đạo Lâm Tự (道林寺) ở Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam), Tương Sơn Thái Bình Hưng Quốc Tự (蔣山太平興國寺) ở Kiến Khang Phủ (建康府, Nam Kinh), Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Đông Kinh (東京), Kim Sơn Long Du Tự (金山龍游寺) ở Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô), Chơn Như Viện (眞如院) ở Vân Cư Sơn (雲居山) thuộc Quận Nam Khang (南康郡, Tỉnh Giang Tây), v.v. Ông thị tịch vào tháng 8 năm thứ 5 niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), hưởng thọ 73 tuổi, được ban cho thụy là Chơn Giác Thiền Sư (眞覺禪師). Môn nhân của ông có hơn ngàn người, trong đó có Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Hổ Kheo Thiệu Long (虎丘紹隆). Sau khi ông qua đời, Hổ Kheo Thiệu Long đã biên tập bộ Viên Ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục (圜悟佛果禪師語錄) 20 quyển, và Tử Văn (子文) ghi chép thành bộ Viên Ngộ Thiền Sư Tâm Yếu (圜悟禪師心要) 2 quyển.
; 圓悟克勤; C: yuánwù kèqín; J: engo kokugon; 1063-1135, cũng được gọi là Phật Quả; |Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Ngũ Tổ Pháp Diễn và là thầy của Hổ Khâu Thiệu Long và Ðại Huệ Tông Cảo.|Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất thời đó và với những môn đệ nói trên, Thiền tông Trung Quốc phất lên như một ngọn đuốc lần cuối trước khi được truyền sang Nhật và bước đến thời kì suy tàn tại bản quốc. Sư nổi danh nhờ biên soạn tập Công án Bích nham lục, một kiệt tác mà ngày nay vẫn còn được rất nhiều người hâm mộ.|Sư sinh trong một gia đình theo Nho giáo. Sau khi xuất gia, Sư chuyên học kinh luận. Một cơn bệnh nguy kịch làm cho Sư thấy rõ con đường giác ngộ không nằm trong văn tự. Vì vậy, Sư Hành cước, thăm viếng nhiều vị Thiền sư. Ðến Thiền sư Thắng ở Chân Giác, Thắng chích máu ở cánh tay bảo Sư: »Ðây là một giọt nước nguồn Tào« (tức là Tào Khê, ám chỉ Lục tổ), Sư kinh hãi nói: »Ðạo vẫn như thế ư?« và ngay ngày hôm sau, Sư rời Thiền sư Thắng.|Cuối cùng, Sư đến Thiền sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ. Mặc dù đã trình hết cơ dụng, sở đắc của mình nhưng Pháp Diễn vẫn không chấp nhận. Sư tức giận – cho rằng Pháp Diễn nói lời bừa bãi xoay chuyển người – bèn bỏ đi. Thiền sư Diễn bảo Sư: »Ðợi ông mắc bệnh nặng mới nghĩ đến ta.«|Sư đến Kim Sơn mắc bệnh thương hàn rất nặng. Nhớ đến lời của Pháp Diễn, Sư trở về làm Thị giả. Mới tham thiền ở đây được nửa tháng, Sư gặp một vị quan Ðề Hình (cảnh sát) đến Pháp Diễn vấn đạo. Pháp Diễn nhân đây hỏi: »Ðề Hình thuở thiếu niên từng học Tiểu diễm thi chăng? Có hai câu hỏi gần nhau ›Cô ấy gọi và gọi, Tiểu Ngọc, nhưng lại chẳng có ý gì, chỉ muốn chàng biết qua lời mình: Em ở đây.‹ (Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự, chỉ yếu Ðàn Lang nhận đắc thanh; 頻呼小玉元無事秖要檀郎認得聲)«. Ðề Hình ứng: »Dạ! Dạ!« Pháp Diễn bảo: »Hãy chính chắn.« Sư nhân nghe cuộc đàm thoại này có chút tỉnh và sau khi vị quan từ biệt, Sư hỏi Pháp Diễn xem Ðề Hình có hiểu lời dạy chăng. Diễn bảo: »Ông ấy chỉ nhận được thanh.« Sư thưa: »Chỉ cốt đàn lang nhận được thanh, kia đã nhận được thanh, vì sao lại chẳng phải?« Pháp Diễn hỏi: »Thế nào là ý Tổ sư sang?« và tự đáp: »Cây bách trước sân, xem, xem!« Sư ngay lúc này triệt ngộ, chạy thẳng một mạch ra sân. Thấy con gà đậu trên lan can vỗ cánh gáy, Sư tự bảo: »Ðây há chẳng phải thanh« và trở vào thất trình bài kệ (Ðịnh Huệ dịch):|金鴨香鎖錦繡幃。笙歌叢裏醉扶歸|少年一段風流事。只許佳人獨自知|Kim áp hương tiêu cẩm tú vi|Sảnh ca tòng lí tuý phù quy|Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự|Chỉ hứa giai nhân độc tự tri.|*Lò hương bên trướng khói vừa tan|Say khước dìu về nhạc vấn vương|Một đoạn phong lưu thời trai trẻ|Chỉ có giai nhân mới hiểu chàng.|Mặc dù đã được ấn khả nhưng Sư vẫn ở lại hầu đến lúc thầy tịch. Cùng với hai vị Thanh Viễn Phật Nhãn và Huệ Cần Phật Giám, Sư – với danh hiệu khác là Phật Quả – được xem là bậc thượng thủ trong thiền lâm thời bấy giờ.|Sư đến thăm vị Cư sĩ danh tiếng bấy giờ là Trương Vô Tận và nhân dịp này, hai người luận về kinh Hoa nghiêm. Nhân lúc bàn luận về Lí sự pháp giới (Hoa nghiêm tông), Sư hỏi: »Ðây đáng gọi là Thiền chưa?« Vô Tận đáp: »Chính gọi là Thiền.« Sư cười bảo: »Chưa phải, còn nằm trong Lượng pháp giới bởi Lượng pháp giới chưa diệt. Nếu đến Sự sự vô ngại pháp giới thì Lượng pháp giới diệt, mới gọi là Thiền. Thế nào là Phật? Cục cức khô. Thế nào là Phật? Ba cân gai. Thế nên Chân Tịnh (Bảo Phong Khắc Văn) làm bài kệ: ›Sự sự vô ngại, như ý tự tại, tay cầm đầu heo, miệng tụng tịnh giới, đẩy ra phòng dâm, tiền rượu chưa trả, ở ngã tư đường, cởi mở túi vải.‹« Cư sĩ Vô Tận nghe rất khâm phục, nhận Sư làm thầy. Sư cũng nhận lời mời của Vô Tận trụ trì viện Linh Tuyền ở Giáp Sơn và nơi đây, Sư hoàn tất tập công án Bích nham lục, một tác phẩm được xem là tối trọng trong lĩnh vực thiền ngữ.|Sư dạy chúng: »Bờ ao muôn nhẫn buông thỏng tay, cần phải người ấy, cây nỏ ngàn quân khi ấn máy há vì chuột thỏ? Vân Môn, Mục Châu ngay mặt lầm qua, Ðức Sơn, Lâm Tế nói đùa ngoài cổng, ngoài ra lập cảnh lập cơ làm hang làm ổ, thế là diệt chủng tộc nhà Phật, một câu độc thoát phải nói làm sao? Muôn duyên thay đổi nào còn việc, tháng năm phòng núi lạnh như băng…«|Niên hiệu Thiệu Hưng thứ năm (1135) tháng tám, Sư có chút bệnh, gọi chúng từ biệt và cầm bút viết kệ (Hân Mẫn dịch):|Ðã triệt không công|Bất tất lưu kệ|Hãy để ứng duyên|Trân trọng! Trân trọng!|Viết xong, Sư ngồi kết già an nhiên thị tịch. Vua Cao Tông sắc phong là Chân Giác Thiền sư.
viên ngộ khắc cần
Engo Kokugon (J), Yuan-wu K'o-ch'in (C), Engo Kokugon (J)(đầu thế kỷ 12) Tác giả tập Bích Nham lục.
viên ngộ khắc cần thiền sư
Yuan-Wu-Ko-Chin—See Khắc Cần Phật Quả Thiền Sư.
Viên Ngộ Kích Tiết Lục
(圜悟擊節錄, Engogekisetsuroku): xem Kích Tiết Lục (擊節錄, Gekisetsuroku) ở trên.
viên nham đàm thạch
Yun-yen T'an-sheng (C), Ungan Donjo (J), Yun-yen Tan-sheng (C)(Thế kỷ 8 - 9 ) Thầy của Động Sơn Lương Giới.
Viên Nhân
(圓仁, Ennin, 794-864): vị tổ của Phái Sơn Môn (山門派) thuộc Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, người vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke, thuộc Tochigi-ken [栃木縣]), tục danh là Nhâm Sanh (壬生). Lúc lên 9 tuổi, ông theo học với Quảng Trí (廣智, Kōchi), nhưng sau xuất gia với Tối Trừng. Sau khi thọ giới lúc 23 tuổi, ông khép mình ẩn tu trong núi suốt 12 năm trường, đến năm 35 tuổi mới đến giảng thuyết về Pháp Hoa ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji), rồi tuyên dương diệu nghĩa của kinh này ở Tứ Thiên Vương Tự (四天王寺, Shitennō-ji), và tiến hành bố giáo ở địa phương phía bắc. Sau đó, ông lại trở về núi, ẩn cư ở vùng Hoành Xuyên (横川, Yokogawa) mà tu luyện trong vòng 3 năm. Vào lúc 42 tuổi, ông nhận được chiếu chỉ sang nhà Đường cầu pháp, nhưng phải lưu lại Thái Tể Phủ 2 năm; mãi cho đến năm 838 ông mới có thể rời Nhật, sang vùng Dương Châu (楊州, thuộc Tỉnh Giang Tô ngày nay) của Trung Quốc được. Trong thời gian trú tại Khai Nguyên Tự (開元寺), ông có học Tất Đàm với Tông Duệ (宗叡) và Mật Giáo với Toàn Nhã (全雅). Vì không có được sự hứa khả cho nhập quốc, nên năm sau ông dự định trở về nước song không được, vì thế ông phải phiêu lãng đến Pháp Hoa Viện (法華院) ở Huyện Văn Đăng (文登), thuộc vùng Đăng Châu (登州). Sau ông được Tướng Quân Trương Vịnh (張詠) giúp cho xin được điệp trạng nhập quốc, và cuối cùng vào năm 840 ông mới bắt đầu đi đến Ngũ Đài Sơn. Giữa đường ông gặp Tiêu Khánh Trung (蕭慶中) truyền cho yếu chỉ của Thiền, rồi Chí Viễn (志遠) và Huyền Giám (玄鑑) truyềncho diệu chỉ của Chỉ Quán; kế đến ông đến tham bái linh địa của Văn Thù và được truyền thọ hành pháp của Niệm Phật TamMuội. Sau ông đến Trường An, học được Kim Cang Giới ở Nguyên Chính (元政) của Đại Hưng Thiện Tự (大興善寺), Thai Tạng Nghi Quỹ ở Pháp Toàn (法全) của Huyền Pháp Tự (玄法寺), Tất Đàm ở Bảo Nguyệt Tam Tạng (寳月三藏), và Thiên Thai Diệu Nghĩa ở Tông Dĩnh (宗穎) của Lễ Tuyền Tự (醴泉寺). Sau 10 trường lưu học và cầu pháp ở Trung Quốc, năm 847 ông trở về nước. Bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) gồm 4 quyển của ông, đã ghi lại tất cả hành trạng và những kiến văn của ông trong suốt thời gian 10 năm này. Ông đã mang về nước một số kinh luận sớ gồm 589 bộ và 802 quyển. Năm sau, ông trở về Tỷ Duệ Sơn, nhậm chức Truyền Đăng Đại Pháp Sư và khai sáng nên Pháp Hoa Tổng Trì Viện (法華總持院), rồi đến năm 854 thì làm Tọa Chủ của Diên Lịch Tự. Đây là chức Tọa Chủ đầu tiên được công xưng. đệ tử của ông có những bậc anh tú tài ba như An Huệ (安慧, Anne), Huệ Lượng (慧亮, Eryō), Lân Chiêu (憐昭, Renshō), Tương Ưng (相應, Sōō), Biến Chiêu (遍昭, Henjō), An Nhiên (安然, Annen), v.v. Các trước tác của ông để lại cho hậu thế có Kim Cang Đảnh Kinh Sớ (金剛頂經疏) 7 quyển, Tô Tất Địa Kinh Sớ (蘇悉地經疏) 7 quyển, Hiển Dương Đại Giới Luận (顯揚大戒論) 8 quyển.
; 圓仁; J: ennin; 793-864;|Một Ðại sư Nhật Bản, thuộc tông Thiên Thai. Sư là đệ tử của Tối Trừng (j: saichō), từng du học 9 năm tại Trung Quốc. Sư viết một kí sự nổi tiếng về những năm tu học đó.|Lên 15 tuổi, Sư trở thành đệ tử của Tối Trừng. Sau khi thầy mất, năm 838 Sư đi Trung Quốc, tham vấn nhiều Thiền sư danh tiếng và khi trở về năm 847, Sư mang theo 559 bộ kinh, luận. Tại núi Tỉ Duệ (j: hiei), Sư truyền bá Thiên Thai tông và Chân ngôn tông và cả phép niệm danh hiệu A-di-đà để thác sinh về cõi Tịnh độ. Sư kế thừa sự việc của Tối Trừng bằng cách truyền bá tư tưởng Ðại thừa, và với những công lao này, Thiên Thai tông tại Nhật đi vào thời kì hưng thịnh. Kí sự của Sư đi Trung Quốc trong thời nhà Ðường chứa đựng những tư liệu quý báu về học thuật Phật giáo cũng như đời sống xã hội thời đó.
viên nhân
Ennin (J)Tên một vị sư.
Viên Nhĩ Biện Viên
(圓爾辨圓, Enni Benen, 1202-1280): vị Tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ khai sáng ra Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), vị Tổ của Phái Thánh Nhất (聖一派), người vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken), trước kia có tên là Viên Nhĩ Phòng (圓爾房), sau là Viên Nhĩ (圓爾), còn Biện Viên (辨圓) là tên riêng, nhụ Thánh Nhất Quốc Sư (聖一國師). Lúc 5 tuổi ông nương theo Nghiêu Biện (堯辨) ở Cửu Năng Sơn (久能山) tu tập, đến 8 tuổi thì học Thiên Thai giáo học, và 15 tuổi thì tham dự diễn giảng về Thiên Thai Chỉ Quán (天台止觀). Nhân lúc giảng sư giảng đến đoạn "cố Tứ Đế ngoại biệt lập pháp tánh" (故四諦外別立法性, vì vậy ngoài Tứ Đế có lập riêng pháp tánh) thì bỗng nhiên bị ngưng trệ, ông bèn bước lên giảng tòa giải thích nghĩa lý đoạn văn đó. Đến năm 18 tuổi, ông xuống tóc xuất gia ở Viên Thành Tự (圓城寺) và đăng đàn thọ giới ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Về sau, ông đến Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) ở Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), theo học với Vinh Triêu (榮朝) và thông cả Tam Tạng giáo điển. Vào năm đầu (1235) niên hiệu Gia Trinh (嘉禎), ông sang nhà Tống cầu pháp. Sau khi tham bái một số danh tăng như Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道沖), Tiếu Ông Diệu Kham (笑翁妙堪), Thạch Điền Pháp Huân (石田法薰), v.v., ông đến tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山) và được kế thừa y bát của vị này. Đến năm thứ 2 (1241) niên hiệu Nhân Trị (仁治), ông trở về nước và bắt đầu tuyên xướng Phật Tâm Tông ở hai chùa Sùng Phước Tự (崇福寺) và Thừa Thiên Tự (承天寺) ở vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]). Nhưng chẳng bao lâu sau, ông được Cửu Điều Đạo Gia (九條道家, Kujō Michiie) mời lên kinh đô thuyết giảng Thiền yếu, và vào năm đầu (1243) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元) ông được Đạo Gia ban cho hiệu là Thánh Nhất Hòa Thượng (聖一和尚). Bên cạnh đó, ông còn quy y cho Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori) ở Quy Cốc Sơn (龜谷山) vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]). Đến tháng 6 năm 1255, ông tiến hành lễ lạc thành và khai đường Đông Phước Tự (東福寺) do Đạo Gia kiến lập nên. Ông được Hậu Tha Nga Thiên Hoàng (後嵯峨天皇, Gosaga Tennō) mời vào cung thuyết giảng pháp yếu, và trùng tu các chùa như Thọ Phước Tự (壽福寺), Kiến Nhân Tự (建仁寺), v.v. Vào ngày 17 tháng 10 năm thứ 3 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông thị tịch, hưởng thọ 97 tuổi. Ông được ban các thụy hiệu như Thánh Nhất Quốc Sư (聖一國師) vào năm thứ đầu (1311) niên hiệu Ứng Trường (應長), Đại Bảo Giám Quảng Chiếu Quốc Sư (大寳鑑廣照國師) vào năm thứ 9 (1780) niên hiệu An Vĩnh (安永), và Thần Quang Quốc Sư (神光國師) vào năm thứ 5 (1930) niên hiệu Chiêu Hòa (昭和). Môn hạ của ông có một số nhân vật xuất chúng như Đông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照), Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉), Vô Quan Phổ Môn (無關普門), Nam Sơn Sĩ Vân (南山士雲), v.v. Ông có để lại cho hậu thế các trước tác như Thánh Nhất Quốc Sư Ngữ Lục (聖一國師語錄) 1 quyển, Thánh Nhất Quốc Sư Pháp Ngữ (聖一國師法語) 1 quyển.
; 圓爾辨圓; J: enni ben'en; 1202-1280; cũng được gọi là Thánh Nhất Quốc sư; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sau một cuộc du học bảy năm tại Trung Quốc, Sư được Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm Ấn khả. Trở về Nhật, Sư khai sáng và trụ trì nhiều chùa và được Hoa Viên Thiên hoàng (hanazono) sắc phong là Thánh Nhất Quốc sư (聖一國師; shōichi kokushi). Ðây là lần đầu tiên Nhật Bản có danh hiệu Quốc sư.|Sư xuất gia năm lên năm và sớm học giáo lí của Thiên Thai tông. Năm lên mười tám, Sư thụ giới cụ túc và sau đó, trong một khoảng thời gian ba năm, Sư chuyên học Nho giáo. Song song với các giáo lí trên, Sư cũng tu tập theo Mật giáo của Thiên Thai tông và được ấn chứng theo nghi lễ tông này năm 1228.|Năm 1235, Sư sang Trung Quốc và may mắn gặp được một trong những vị Thiền sư danh tiếng nhất thời là Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn, trụ trì Vạn Thọ Thiền tự. Sau một thời gian tu tập không lâu, Sư được Vô Chuẩn ấn khả và tặng một bức tranh. Bức tranh này ngày nay vẫn còn được trưng bày tại Ðông Phúc tự (tōfuku-ji) tại Kinh Ðô (kyōto).|Trở về Nhật, Sư sáng lập chùa Ðông Phúc và trụ trì nơi đây. Ngoài ra, Sư còn quản lí hai thiền viện khác là Thụ Phúc (jufuku-ji) và Kiến Nhân (kennin-ji), cả ba đều là những thiền viện quan trọng nằm trong hệ thống Ngũ sơn thập sát của Liêm Thương và Kinh Ðô. |Phương pháp dạy đệ tử của Sư bao gồm giáo lí của Thiên Thai, Chân ngôn và Thiền nhưng khác với Minh Am Vinh Tây (myōan eisai), Thiền được xếp cao hơn hẳn hai giáo môn kia. Trong Thánh Nhất pháp ngữ (shōichihōgo), Sư trả lời câu hỏi »Tông này được gọi là nền tảng của tất cả các pháp, hiểu thế nào?«: |»Thiền là Phật tâm, Giới luật chỉ là bề ngoài, giáo pháp là giảng nghĩa bằng văn tự, niệm Phật là Phương tiện (j: hōben), cả ba đều xuất phát từ Phật tâm, vì thế tông này được xem là căn bản.«|Hỏi: »Làm thế nào học để hiểu được ›Kiến tính thành Phật‹?« |Sư đáp: »Cái hiểu biết qua Kinh (s: sūtra), Luận (s: śāstra) là thấy, nghe, thụ tưởng và nhận thức. Ðó là cái hiểu biết của Phàm phu (s: pṛthagjana; j: bonpu), không phải cái hiểu biết chân thật. Ai biết xoay ánh sáng của tâm rọi chiếu trở lại sẽ nhìn ra Phật tính, người ta gọi là có huệ nhãn. Với huệ nhãn người ta kiến tính và thành Phật.«|Sư mất năm 1280 tại Ðông Phúc tự, thọ 80 tuổi. Ðệ tử đắc pháp của Sư hơn 30 người.
viên nhĩ biện viên
Enni ben'en (J)Tên một vị sư.
viên năng
Ennō (J)Tên một vị sư.
viên phật
The Buddha of the "perfect" school, the perfect pan-Buddha embracing all things in every direction; the dharmakàya; Vairocana identified with Sàkyamuni.
; Pháp thân Phật mà tông Thiên Thai gọi là Phật của pháp giới viên dung, hay Phật Tỳ Lô Giá Na—The Perfect Buddha whom the T'ien-T'ai calls the embracer of all things in every direction, i.e. Vairocana.
Viên Phật giáo
圓佛教; E: won-buddhism; »Won« nghĩa là »Viên«, là tròn tròa, viên mãn;|Một phong trào Phật giáo tại Hàn Quốc, được Soe-Tae San (1891-1943) khai sáng.|Cách tu tập theo giáo phái này bao gồm hai khía cạnh: thực hiện được Phật tính và tu »thiền phi thời gian và không gian.« Như vậy có nghĩa là, các tín đồ của giáo phái này cố gắng tìm thấy Phật tính nơi vạn vật và sống theo quan niệm này. Cách tu tập Thiền nói trên được gọi là »phi thời gian và không gian« bởi vì nó phông phụ thuộc vào một khoảng thời gian nào, thiền đường nào, luôn luôn được thực hiện được ở mọi nơi.|Viên Phật giáo chỉ biết một đối tượng thiền quán duy nhất: một hình tròn màu đen trên một nền trắng, một biểu tượng của Phật thân, Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân); từ biểu tượng này mà phát sinh ra tên của trào lưu Phật giáo này.|Phong trào này không phải là Tăng-già thông thường của Phật giáo: các vị tăng có thể lập gia đình. Viên Phật giáo không theo một nghi lễ nhất định nào, luôn luôn cố gắng viên dung các nhu cầu, điều kiện của con người hiện đại. Các bộ kinh quan trọng nhất được dịch sang tiếng Hàn Quốc dễ hiểu. Tín đồ của Viên Phật giáo đều hăng hái tham dự những hoạt động xã hội, từ thiện; trong những năm sau chiến tranh, họ góp công rất nhiều trong việc xây dựng trường học v.v…|Trong thời niên thiếu, Soe-Tae San đã tu tập khổ hạnh cho tới lúc »Ðại ngộ« năm 1915. Cùng với 9 vị đệ tử, ông tiếp tục tu tập, nghiên cứu Phật giáo. Năm 1924, họ thành lập »Hội nghiên cứu Phật giáo«, nhưng dưới sự đô hộ của Nhật Bản, ảnh hưởng của họ rất hạn chế. Kể từ 1946, giáo lí của Soe-Tae San mới thật sự được phổ biến khắp Hàn Quốc dưới tên Viên Phật giáo. Ngày nay, giáo phái này còn rất nhiều tín đồ.
viên quang
The halo, or aura, surrounding the head of a Buddha, etc.
; Ánh hào quang phóng ra chung quanh đỉnh đầu của Phật—The halo surrounding the head of a Buddha.
viên quang tổ tông
Zen Master Viên Quang Tổ Tông (1758-1827)—Thiền sư Viên Quang Tổ Tông, người Minh Hương. Quê quán của ngài không rõ. Ngài xuất gia lúc tuổi rất trẻ tại chùa Đại Giác. Sau đó ngài đến chùa Từ Ân thọ cụ túc giới với Hòa Thượng Phật Ý Linh Nhạc và trở thành Pháp tử đời thứ 36 dòng Thiền Lâm Tế, nhưng sau đó ngài dời về trụ tại chùa Giác Lâm Gia Định. Vào năm 1804, ngài hoàn tất trùng tu chùa Giác Lâm tại Gia Định. Phần lớn cuộc đời ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam cho đến khi ngài viên tịch vào năm 1827, thọ 70 tuổi—A Chinese-Vietnamese monk. His origin was unknown. He left home at young age to come to Đại Giác Temple to become a monk. Later he received complete precepts with Most Venerable Phật Ý Linh Nhạc at Từ Ân Temple, and became the Dharma heir of the thirty-sixth generation of the Linn-Chih Zen Sect, but went to stay at Giác Lâm Temple in Gia Định. In 1804, he completed rebuilding Giác Lâm Temple in Gia Định. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South until he passed away in 1827, at the age of 70.
viên quán
Sân thượng—A terrace—A garden look-out.
viên quả
Perfect fruit, nirvàna.
; Niết Bàn—Perfect fruit, nirvana.
viên thuyên
Sự phơi bày toàn giáo được tìm thấy trong Kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa—Exposition of the perfect of all-embracing doctrine, as found in the Hua-Yen and Lotus sutras.
viên thành
Complete perfection.
; Thành tựu viên mãn—(Kinh Lăng nghiêm: “Phát ý viên thành, nhứt thiết chúng sanh vô lượng công đức)—Complete perfection.
viên thành thật tính
Parinispanna (S). The perfect true nature, absolute reality, the bhùtatathatà.
viên thành thực tính
Pariniśpanna (S).
; Bhutatathata (skt)—Chân Như—Thực Tướng—Pháp Giới—Pháp Tính—Niết Bàn—Tính chân thực của chư pháp hay chân lý tuyệt đối. Tịnh thức có thể tẩy sạch phần ô nhiễm của tạng thức và còn khai triển thế lực trí tuệ của nó. Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý chân thực, tức là viên thành thực tánh—The perfect true nature—Absolute reality. The pure ideation can purify the tainted portion of the ideation-store (Alaya-vijnana) and further develop its power of understanding. The world of imagination and the world of interdependence will be brought to the real truth (Parinispanna).
Viên Thành Tự
(園城寺, Onjō-ji): ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của phái Thiên Thai Tự Môn (天台寺門), tọa lạc tại Ōzu-shi (大津市), Shiga-ken (滋賀縣), được khai sáng vào cuối thời Nại Lương với tư cách là ngôi chùa của dòng họ Đại Hữu (大友, Ōtomo), tương truyền do Hoàng Tử Đại Hữu phát nguyện kiến lập. Nơi đây có giếng nước suối, người ta dùng nước ấy để tắm sau khi hạ sinh 3 vị Hoàng Đế là Thiên Trí (天智, Tenchi), Thiên Võ (天武, Temmu) và Trì Thống (持統, Jitō); cho nên chùa được gọi là Ngự Tỉnh Tự (御井寺, Mii-dera, chùa có giếng nước của nhà vua), và sau này có thường được gọi là Tam Tỉnh Tự (三井寺, Mii-dera). Vào năm 859 (niên hiệu Trinh Quán [貞觀] thứ 1), vị Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 5 là Viên Trân (圓珍, Enchin) đến tái hưng chùa. Vào năm 866, chùa trở thành Thiên Thai Biệt Viện, Viên Trân nhậm chức Biệt Đương (別當, Bettō) của chùa. Ỷ lại vào thế lực của thầy mình, môn đồ của Viên Trân kháng tranh với môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và cuối cùng rút khỏi Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), đến trú tại Viên Thành Tự. Đối lập với tên gọi Sơn Môn (山門) của Diên Lịch Tự, chùa này được gọi là Tự Môn (寺門). Để độc lập giáo đoàn, phái Tự Môn có kế hoạch định biệt lập giới đàn, nhưng gặp phải sự áp bức của phía Sơn Môn. Qua cuộc kháng tranh này, chùa bị thiêu cháy phần lớn các đường xá; nhưng nhờ sự hỗ trợ của hoàng thất nên đã phục hưng lại. Sau thời kỳ Viện Chính (院政), hoàng tộc liên tiếp đến chùa, cho nên chùa trở nên hưng thịnh. Trong cuộc chiến loạn thời Chiến Quốc (戰國, Sengoku), chùa bị Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) phá tan và thâu hồi đất đai. Đến năm 1598 (niên hiệu Khánh Trường [長慶] thứ 3), đất đai chùa được trả lại và nhờ sự viện trợ của Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), quần thể kiến trúc của chùa được phục hưng. Trong khuôn chùa có 3 quần thể viện: Trung Viện có Kim Đường (金堂), Tháp Ba Tầng, Thích Ca Đường (釋迦堂), Đường Viện (唐院, nơi tôn trí các kinh luận, chương sớ, đạo cụ do Viên Trân mang từ bên nhà Đường sang); Nam Viện có Quan Âm Đường (觀音堂)—nơi chiêm bái thứ 14 trong 33 thánh tích ở vùng Tây Quốc; Bắc Viện có Tân La Thiện Thần Đường (新羅善神堂). Ngoài ra, Khuyến Học Viện (勸學院), Quang Tịnh Viện Khách Điện (光淨院客殿) là hai kiến trúc được xây dựng vào năm 1600 và 1601. Chùa hiện vẫn lưu giữ khá nhiều bảo vật như tượng ngồi của Trí Chứng Đại Sư (智証大師), tượng tranh Bất Động (不動), tượng Tân La Minh Thần (新羅明神), v.v.
viên thành vệ đà
Vedànta (S). Last texts of Veda. Also Vệ đàn đà.
viên thành đại sư
Great master Viên Thành—Sư Viên Thành, thế danh là Công Tôn Hoài Trấp, cháu nội của Định Viễn Quận Vương Nguyễn Phước Bính, hoàng tử thứ sáu của vua Gia Long. Sư sinh năm 1879, năm 15 tuổi xuất gia tại chùa Ba La Mật với đại sư Viên Giác. Năm 20 tuổi, bổn sư viên tịch, sư tiếp tục trụ trì chùa Ba La Mật. Năm 1923, ngài giao chức trụ trì cho đệ tử là Trí Hiển, rồi lên núi Ngũ Phong, lập Tra Am để tu tập. Suốt sáu năm cuối đời ở Tra Am, sư đã di dưỡng tinh thần, tu trì thiền quán, giáo hóa đồ chúng—Monk Viên Thành whose worldly name was Công Tôn Hoài Trấp, was the grandson of Lord Nguyễn Phước Bính, the sixth prince of king Gia Long. He was born in 1879, left home and became a disciple of Most Venerable Viên Giác a the age of 15 at Ba La Mật temple. At the age of 20, when Master Viên Giác passed away, he took over the temple. In 1923, he let his disciple Trí Hiển to stay at the temple, then he went to Mount Ngũ Phong to build Tra Am thatched temple to cultivate. In the last six years of his life living simply at Tra Am, he nurtured his spirit, indulged in meditation, and taught his disciples.
Viên Thái Lịch
(園太曆, Entairyaku): bộ nhật ký của nhà công khanh Động Viện Công Hiền (洞院公賢, Tōin Kinkata, 1291-1360), hơn 120 quyển. Chánh bản hiện tồn chỉ có 1 quyển ghi năm 1311 (Ứng Trường [應長] nguyên niên). Ngoài ra, còn có lưư truyền những bản sao lục của hai nhà công khanh khác là Cam Lồ Tự Thân Trường (甘露寺親長, Kanroji Chikanaga, 1425-1500) và Tam Điều Tây Thật Long (三條西實隆, Sanjōnishi Sanetaka, 1455-1537); ghi lại các ký sự từ năm 1344 (Khang Vĩnh [康永] thứ 3) đến 1360 (Diên Văn [延文] thứ 5). Đây là bộ ký lục rất quan trọng của thời đại Nam Bắc Triều. Tên gọi Viên Thái Lịch vốn phát xuất từ xưng hiệu của Công Hiền là Viên Thái Chính Đại Thần (園太政大臣). Sau khi tác giả qua đời, tác phẩm này cũng đã trãi qua bao thăng trầm. Đến năm 1482 (Văn Minh [文明] thứ 14), hơn 120 quyển nhật ký này được chuyển nhượng cho Trung Viện Thông Tú (中院通秀) để đổi lấy hơn 1.000 xấp vải lụa. Nội dung các năm của tác phẩm này được ghi rõ trong bộ nhật ký của Trung Viện Thông Tú là Thập Luân Viện Nhập Đạo Nội Phủ Ký (十輪院入道內府記).
Viên Thông
(圓通): biến mãn cùng khắp tất cả, dung thông vô ngại; tức chỉ cho lý của thật tướng chứng được nhờ trí tuệ vi diệu của bậc thánh. Do nhờ trí tuệ ngộ được chơn như, bản chất tồn tại của vị ấy tròn đầy cùng khắp, tác dụng tự tại; đó gọi là viên thông. Hơn nữa, lấy trí tuệ để thông đạt đạo lý hay thực tiễn của chơn như, cũng có thể gọi là viên thông. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經) quyển 5 cho rằng 25 vị Bồ Tát đều có đủ viên thông; có 25 loại viên thông như Sáu Trần, Sáu Căn, Sáu Thức, Bảy Đại, v.v. Ngoài ra, trong số 25 vị thánh của Hội Lăng Nghiêm, Quan Thế Âm được xem như là vị Bồ Tát có Nhĩ Căn Viên Thông bậc nhất; nên được gọi là Viên Thông Tôn (圓通尊), Viên Thông Đại Sĩ (圓通大士). Trong bài kệ xưng tán Bồ Tát Quan Thế Âm có câu: “Quan Âm Đại Sĩ, tất hiệu Viên Thông, Thập Nhị Đại Nguyện thệ hoằng thâm, khổ hải độ mê tân, cứu khổ tầm thanh, vô sát bất hiện thân (觀音大士、悉號圓通、十二大願誓弘深、苦海度迷津、救苦尋聲、無剎不現 身, Quan Âm Đại Sĩ, ấy hiện Viên Thông, Mười Hai Nguyện Lớn thệ rộng sâu, biển khổ độ quần mê, cứu khổ tìm thanh, không đâu chẳng hiện thân).” Hay như tại Viên Thông Điện (圓通殿) của Giang Tâm Tự (江心寺) ở Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối rằng: “Quán hạnh viên thông từ quán bi quán thanh tịnh quán, âm văn tự tại diệu âm Phạm âm hải triều âm (觀行圓通慈觀悲觀清淨觀、音聞自在妙音梵音海潮音, quán hạnh tròn suốt quán từ quán bi quán thanh tịnh, tiếng nghe tự tại tiếng mầu tiếng Phạm tiếng tự tại).” Hoặc như tại Quan Âm Tự (觀音寺), vùng Tân Đô (新都), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省) cũng có câu đối tương tợ như vậy: “Quán ngã quán nhân quán tự tại, (觀我觀人觀自在、大悲大願大圓通, quán ta quán người quán tự tại, đại bi đại nguyện đại viên thông).” Câu “nhân nhân ngộ Tự Tại chi âm, các cá nhập Viên Thông chi cảnh (人人悟自在之音、个个入圓通之境)” ở trên có nghĩa là mỗi người đều ngộ được âm thanh một cách tự tại vô ngại, và ai ai cũng được thể nhập vào cảnh giới tròn đầy thông suốt của chơn như.
; 圓通; 1080-1151|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 18. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Viên Học và sau đó truyền lại cho đệ tử ưu tú là Y Sơn. Sư được phong danh hiệu Quốc sư.|Sư tên tục là Nguyễn Nguyên Ức, quê làng Cổ Hiền, sau dời về kinh đô Thăng Long lập nghiệp. Cha sư làm quan đến chức Tả hữu nhai tăng lục dưới triều Lí. Sư bẩm chất thông minh, xuất gia lúc còn nhỏ, thụ giáo với Thiền sư Viên Học ở chùa Quốc An. Nơi đây, Sư được truyền tâm ấn.|Sư được hai vị vua Lí là Nhân Tông và Thần Tông hết sức kính trọng, ban cho nhiều danh chức. Nổi danh nhất là lời dạy của Sư cho vua Lí Thần Tông về việc an dân trị nước, được lưu lại trong Thiền uyển tập anh.|Cuối đời, Sư về làng Cổ Hiền, tỉnh Nam Ðịnh lập chùa Quốc Ân trụ trì. Ngày 21 tháng 4 năm Tân Mùi, niên hiệu Ðại Ðịnh, Sư họp chúng từ biệt rồi viên tịch, thọ 72 tuổi.|Sư có đề lại các tác phẩm: 1. Chư Phật tích duyên sự; 2. Hồng chung văn bi kí; 3. Tăng-già tạp lục; 4. Viên Thông tập, gồm hơn 1000 bài thơ.
Viên thông
(圓通): lý của thật tướng chứng được diệu trí gọi là viên thông; tánh thể cùng khắp là viên, diệu dụng không ngăn ngại là thông; biến mãn cùng khắp tất cả, dung thông vô ngại. Vì chân như ngộ được nhờ trí tuệ, bản chất tồn tại của nó là tròn đầy cùng khắp, tác dụng của nó tự tại, nên được gọi là viên thông. Hoặc lấy trí tuệ để thông đạt đạo lý cũng như thật tiễn của chân như, cũng được gọi là viên thông. Như trong Tam Tạng Pháp Số (三藏法數) 46 có giải thích rằng: “Tánh thể châu biến viết viên, diệu dụng vô ngại viết thông; nãi nhất thiết chúng sanh bổn hữu chi tâm nguyên, chư Phật Bồ Tát sở chứng chi thánh địa dã (性體周徧曰圓、妙用無礙曰通、乃一切眾生本有之心源、諸佛菩薩所證之聖境也, thể tánh cùng khắp gọi là viên, diệu dụng không ngăn ngại là thông, là nguồn tâm vốn có của hết thảy chúng sanh, là thánh địa chứng được của chư Phật, Bồ Tát).” Hay trong Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (楞嚴經正脈疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 12, No. 275) quyển 5 có câu: “Viên thông tức Lục Căn hỗ dụng, châu biến viên dung chi quả (圓通卽六根互用、周遍圓融之果, viên thông tức là sáu căn cùng tác dụng lẫn nhau, là quả cùng khắp viên dung).” Trong bài thơ Vãn Tập Nam Lâu (晚集南樓) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Lãn chuyết dĩ thành Tam Muội giải, thử sanh hoàn ký nhất viên thông (懶拙已成三昧解、此生還記一圓通, lười vụng đã thành Tam Muội rõ, đời này rốt cuộc một viên thông).” Hoặc trong bài thơ Phụng Tặng Hành Sư Tham Thận Thiền Sư (奉贈行師參愼禪師) của Thẩm Liêu (沉遼, 1032-1085) nhà Tống lại có câu: “Quan Âm nhị thập ngũ viên thông, chỉ tại Thiền sư nhất chỉ trung (觀音二十五圓通、止在禪師一指中, Quan Âm hai mươi lăm viên thông, ngay tại Thiền sư ngón tay trong).” Trong hàng ngũ 25 vị Thánh của Hội Lăng Nghiêm, Nhĩ Căn Viên Thông (耳根圓通, lỗ tai nghe thông suốt cùng khắp) của Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) được xem như là trên hết, nên được gọi là Viên Thông Tôn (圓通尊), Viên Thông Đại Sĩ (圓通大士). Như có bài tán về vị Bồ Tát này rằng: “Quan Âm Đại Sĩ, tất hiệu viên thông, thập nhị đại nguyện thệ hoằng thâm, khổ hải độ mê tân, cứu khổ tầm thanh, vô sát bất hiện thân (觀音大士、悉號圓通、十二大願誓宏深、苦海度迷津、救苦尋聲、無剎不現身, Quan Âm Đại Sĩ, hiệu là viên thông, mười hai nguyện lớn thệ khắp cùng, biển khổ độ bến mê, cứu khổ tầm thanh, khắp chốn đều hiện thân).”
viên thông
Universally penetrating; supernatural powers of omnipresence; universality; by wisdom to penetrate the nature or truth of all things.
; 1) Đem giác tuệ tràn khắp thông hiểu tất cả đi vào cả pháp tính hay cái lý mà diệu trí chứng được (thể tính tràn ngập diệu dụng không trở ngại)—Universally penetrating; supernatural power of omnipresence; by wisdom to penetrate the nature or truth of all things by wisdom. 2) Tên một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa được Tổ Liễu Quán khai sơn năm 1697 tại ấp Tứ Tây, xã An Cựu, phía tây nam chân núi Ngự Bình. Năm 1741, tổ đã mở Đại Giới Đàn tại đây. Cho thấy chùa nầy có qui mô to lớn vào thời đó với pháp khí uy nghi. Sau đó tổ trụ trì tại đây cho đến khi thị tịch vào năm 1742. Nhưng cuối năm 1780, chùa bị hủy hoại. Mãi đến năm 1814, Hòa Thượng Quang Tuấn mới dựng lại được thảo am trên nền cũ, làm nơi phụng thờ nương tựa. Năm Minh Mạng thứ 4, Hội chủ của chùa là Thự Quang Hầu Tôn Thất Thự đã trùng tu và đổi tên là chùa Hưng Phước. Những năm cuối đời vua Thiệu Trị, hoàng tử thứ 30 con vua Minh Mạng là Quảng Ninh Công Miên Bật đã trùng tu chùa lớn hơn lần nữa, nhưng sau đó vì thiếu người trông coi, chùa lại đổ nát. Mãi đến năm 1881, công tử Hường Thiết cùng một số quan lại đã tái thiết và khôi phục lại tên chùa Viên Thông. Tám năm sau, Hòa Thượng Pháp Lâm Chơn Kim với sự hỗ trợ của Thái Hậu Từ Dũ đã trùng tu lại chùa. Vào năm 1966, chùa được trùng tu lần nữa. Viên Thông là một ngôi chùa cổ lưu niệm nơi khai sơn của Tổ Liễu Quán, người đã tổng hợp hai thiền phái Trung Quốc để tạo thành Thiền phái Liễu Quán của Việt Nam—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built by Patriarch Liễu Quán in 1697 at Tứ Tây hamlet, An Cựu village, on the southwest of Mount Ngự Bình. It is known that in 1741, the patriarch held a precept-affirming ceremony here. This fact shows that at that time the temple must have been very large with impressive instruments. Later, the patriarch settled at the temple until he passed away in 1742. Then the temple was destroyed in the 1780s. It was not until 1814 that Most Venerable Quang Tuấn built a thatched small temple on the old site for his worship and lodging here. During the 4th year of king Minh Mạng's reign (1823) the temple president of the congregation, Thự Quang Hầu Tôn Thất Thụ, rebuilt the temple again on a larger scale and renamed it Hưng Phước. During the last years of king Thiệu Trị's reign, the temple was once more rebuilt by the 30th prince of king Minh Mạng named Quang Ninh Công Miên Bật, but later, for lack of caretakers, the temple fell to pieces again. It was not until 1881 that prince Hường Thiết and a number of courtiers rebuilt the temple and restored its name Viên Thông. Eight years later, Most Venerable Pháp Lâm Chơn Kim, with the help of the king's Mother Từ Dũ, rebuilt the temple. In 1966, the temple was rebuilt again. Viên Thông temple is an ancient temple, and a memorial to the founding temple of Patriarch Liễu Quán, who had combined two sects of Chinese Dhyana to create a new Vietnamese Zen sect.
Viên Thông Pháp Tú
(圓通法秀, Entsū Hōshū, 1027-1090): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Lũng Thành (隴城), Tần Châu (秦州, tỉnh Cam Túc), họ là Tân (辛). Năm 19 tuổi, ông xuất gia thọ Cụ Túc giới, đầu tiên học Viên Giác Kinh, Hoa Nghiêm Kinh và có chỗ sở đắc, cuối cùng nghe danh của Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷), ông đến tham học trong nhiều năm, cuối cùng được đạt ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu ông đến trú tại Long Thư Tứ Diện (龍舒四面), rồi Thê Hiền Tự (棲賢寺) ở Lô Sơn (廬山). Sau theo lời thỉnh cầu của Vương An Thạch (王安石), ông đến trú trì Chung Sơn Tự (鍾山寺) thuộc Tỉnh Giang Tô (江蘇省). Ông còn đến sống tại Bảo Ninh Tự (保寧寺) ở Kim Lăng Phụng Đài (金陵鳳臺). Rồi theo chiếu chỉ của nhà vua, ông đến trú trì Sùng Phước Thiền Viện (崇福禪院) ở Trường Lô (長蘆, Tỉnh Giang Tô). Vào năm thứ 7 (1084) niên hiệu Nguyên Phong (元豐), ông chuyển đến Pháp Vân Tự (法雲寺) ở Đông Kinh (東京, Tỉnh Hà Nam) làm vị tổ thứ nhất của chùa này. Ông đã từng thuyết pháp trước mặt vua Thần Tông và được ban cho hiệu là Viên Thông Thiền Sư (圓通禪師). Vào ngày 29 tháng 8 năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Hựu (元祐) đời vua Triết Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 64 tuổi.
; 圓通法秀; C: yuántōng fǎxiù; ?-1090; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ nối pháp của Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài.|Sư họ Tân, quê ở Thành Lũng, Tần Châu. Câu chuyện sinh ra Sư rất kì đặc. Có một vị sư già tại núi Mạch Tín muốn theo Hoà thượng Lỗ – vị trụ trì ở chùa Ứng Càn – đi du phương. Hoà thượng Lỗ chê vị này già không đi được và vị sư này nói với Hoà thượng Lỗ »Ngày sau nên tìm tôi ở dưới ngọn Thiết Trường bên rặng tre cạnh sườn núi.« Mẹ của Sư nằm mộng thấy có một vị sư già đến ngủ nhờ và tỉnh dậy biết mình có thai. Sau, Hoà thượng Lỗ nghe thấy Sư được sinh ra liền đến hỏi thăm và khi gặp Hoà thượng Lỗ, Sư liền mỉm cười. Lên ba tuổi, Sư theo Hoà Thượng Lỗ về chùa.|Ðến năm mười chín tuổi Sư đã thông các kinh như Viên giác, Hoa Nghiêm. Nghe danh Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài, Sư liền đến tham vấn. Thiên Y hỏi Sư: »Toạ chủ giảng kinh gì?« Sư thưa: »Kinh Hoa Nghiêm.« Thiên Y hỏi: »Kinh Hoa Nghiêm lấy gì làm tông?« Sư thưa: »Lấy Pháp giới làm tông.« Thiên Y hỏi: »Pháp giới lấy gì làm tông?« Sư thưa: »Lấy tâm làm tông.« Thiên Y lại hỏi: »Tâm lấy gì làm tông?« Sư không đáp được. Thiên Y bảo: »Có sai hào li, cách xa trời đất. Ông phải tự khán ắt sẽ tìm ra được.« Sau, Sư nghe một vị tăng nhắc đến việc Bạch Triệu đến tham vấn Báo Từ với câu hỏi »Khi tình chưa sinh thì thế nào« và câu trả lời của Báo Từ »Cách« cho câu hỏi này, Sư hoát nhiên đại ngộ, chạy đến Thiên Y trình bày sở đắc. Thiên Y khen Sư: »Ngươi thật là pháp khí. Tông của ta sau này đi theo ngươi vậy.«|Ban đầu, Sư trụ trì tại Long Thô Tứ Diện, sau lại theo chiếu của vua Tống Thần Tông về núi Trường Lô trụ trì chùa Pháp Vân và cũng tại đây, Sư được ban hiệu là Viên Thông.|Sư thượng đường dạy chúng: »Trời lạnh mưa tí tách, gió thổi cát bay đá chạy, cây tróc chim kêu, các ngươi cả thảy đều biết. Hãy nói gió có hình sắc gì? Nếu biết được chấp nhận ngươi có con mắt sáng, nếu chẳng biết chớ lấy làm lạ lừa nhau. Tham!… Thiếu Lâm (chỉ Bồ-đề Ðạt-ma) chín năm ngồi lặng, lại bị Thần Quang Nhị tổ (Huệ Khả) ngó phủng. Hiện nay ngọc đá khó phân biệt, chỉ được gai cột giấy gói, hội chăng? Cười ta thì nhiều, nhận ta thì ít.«|Niên hiệu Nguyên Hựu năm thứ năm (1090), lúc sắp tịch, Sư bảo chúng: »Lão tăng sáu chỗ trụ trì có phiền Tri sự, Thủ toạ. Ðại chúng ngày nay Tứ đại chẳng vững chắc, gió lửa sắp tan, mỗi người nên lấy đạo tự an, chớ trái lời ta di chúc«, và nói kệ:|來時無物去時空。南北東西事一同|六處住持無所補。|Lai thời vô vật, khứ thời không|Nam bắc đông tây sự nhất đồng|Lục xứ trụ trì vô sở bổ.|*Khi đến không vật, lúc đi không|Nam bắc đông tây việc vẫn đồng|Trụ trì sáu chỗ không ai bổ.|Sư im lặng giây lâu, vị đệ tử là Huệ Ðương thưa: »Sao Hoà thượng không nói câu rốt sau?« Sư nói: |珍重!珍重!|»Trân trọng! Trân trọng!« |và nói xong liền tịch.
viên thông tam muội
The various samàdhi of supernatural powers of the twenty five "great ones" of the Lăng nghiêm kinh Surangama sùtra.
; Tam muội hành của pháp tính viên thông của 25 đại sĩ trên pháp hội Lăng Nghiêm, đặc biệt là âm thanh có khắp mọi nơi của Đức Quán Thế Âm—The various samadhi of supernatural powers of the twenty-five “great ones” of the Surangama Sutra, especially of the omnipresent hearer of those who call, i.e. Kuan-Yin.
viên thông thiền sư
Zen Master Viên Thông (1085-1151)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Bắc Việt. Từ nhỏ tư chất rất thông minh. Ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Viên Học ở chùa An Quốc. Ngài là pháp tử đời thứ 18 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Năm 1112, sau khi trùng tu chùa Diên Thọ, vua nhà Lý triệu hồi ngài về trụ trì. Đến năm 1130, vua Lý Thần Tông triệu ngài vào cung để bàn chuyện chính trị và ngoại giao. Về sau, ngài dời đến Cổ Hiền, thuộc tỉnh Nam Định để xây chùa Quốc Ân. Ngài thị tịch tịch năm 1151, thọ 72 tuổi—A Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. He was very intelligent since his young age. He left home at young age and became a disciple of Zen master Viên Học at An Quốc Temple. He was the Dharma heir of the eighteenth generation of Vinitaruci Zen Sect. In 1112, after rebuilding Diên Thọ Temple, King Lý sent an Imperial Order to summon him to stay there. In 1130, King Lý Thần Tông summoned him to the Royal Palace to discuss with him political and foreign affairs. Later, he moved to Cổ Hiền, Nam Định to build Quốc Ân Temple. He passed away in 1151, at the age of 72.
Viên Thông Tự
(圓通寺, Entsū-ji): ngôi chùa của Tào Động Tông Nhật Bản, tọa lạc tại số 451 Kashiwajima (柏島), Tamashima (玉島), Kurashiki-shi (倉敷市), Okayama-ken (岡山縣), sơn hiệu là Bổ Đà Lạc Sơn (補陀落山). Tượng thờ chính của chùa là đức Thánh Quan Âm Bồ Tát (聖觀音菩薩). Đây là nơi hành hương thứ 7 trong số 33 tượng Quan Âm ở vùng Trung Quốc (中國, Chūgoku). Về niên đại sáng lập chùa hiện tại vẫn chưa biết rõ, nhưng tương truyền vị tăng Hành Cơ (行基, Gyōki, 668-749) của thời đại Nại Lương (奈良, Nara) là người sáng lập ra chùa. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), vào năm thứ 11 (1698) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), chùa được Thiền Sư Đức Ông Lương Cao (德翁良高, Tokuō Ryōkō, 1649-1709) trùng hưng lại với hiệu là Viên Thông Am (圓通庵). Vào khoảng thời gian niên hiệu Chánh Đức (正德, 1711-1716), chùa có hiệu như hiện tại. Vào cuối thời đại Giang Hộ, Lương Khoan (良寛, Ryōkan), bậc Thiền kiệt nổi tiếng, vừa là ca nhân, đã từng tu hành tại chùa này trong vòng 20 năm.
viên thông tự
Entsu-ji (J)Tên một ngôi chùa.
viên thông đại sĩ
The omnipresent hearer of those who call, Quán Thế Âm Bồ tát.
; The omnipresent hearer of those who call for help.
viên thông đại ứng quốc sư ngữ lục
EnzŪ dai-ō kokushi goroku (J)Tên một bộ sưu tập.
viên thừa
The all-complete vehicle, the final teaching of Buddha.
; Phật Thừa hay giáo pháp viên mãn không thiếu sót—The all-complete vehicle, the final teaching of Buddha.
viên thực
Viên đốn nhứt thực, chỉ giáo lý của tông Thiên Thai giúp hành giả có khả năng đạt được Phật quả tức thời (nương theo giáo thuyết cho rằng một việc làm viên dung hết thảy các việc làm; một ngôi vị đầy đủ hết thảy mọi ngôi vị)—Perfect reality; the T'ien-T'ai perfect doctrine which enables one to attain reality or Buddhahood at once.
Viên Trân
(圓珍, Enchin, 815-891): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, thụy hiệu là Trí Chứng Đại Sư (智証大師), xuất thân vùng Tán Khi (讚岐, Sanuki, thuộc Kagawa-ken [香川縣] ngày nay), tục danh là Hòa Khí (和氣), mẹ là Tá Bá (佐伯), đồng hàng với cháu Không Hải. Năm 15 tuổi, ông được người chú Nhân Đức (仁德) dẫn đến đầu sư với Nghĩa Chơn (義眞, Gishin), đến năm 20 tuổi thọ giới rồi sau đó ẩn tu trong núi suốt 12 năm, và đến năm 32 tuổi mới ra lãnh chúng. Vì có chí sang nhà Đường cầu pháp, nên năm 853 ông sang Trung Quốc, đến Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Huyện Liên Giang (連江縣), thuộc Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến ngày nay), học Tất Đàm ở Bát Nhã Hằng Duy (般若恒罹) và Luật Sớ ở Tồn Thức (存式). Sau khi đến Khai Nguyên Tự ở vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), ông được Tông Bổn (宗本) trao cho các bản sớ Câu Xá Luận. Tiếp theo ông đến Đài Châu (台州, thuộcTỉnh Triết Giang ngày nay), thọ nhận một số văn bản chương sớ của Duy Ma Kinh, Nhân Minh Luận từ Tri Kiến (知建). Sau đó, ông lại đến Quốc Thanh Tự (國清寺) ở trên Ngũ Đài Sơn và gặp được Vật Đắc (物得), Viên Tải (圓載). Kế đến, ông được Pháp Toàn (法全) của Thanh Long Tự (青龍寺) trao truyền Quán Đảnh của Kim Thai Lưỡng Bộ, và thọ nhận đại pháp của Tất Đàm Địa cũng như Tam Muội Da Giới. Ông cũng có học Mật Giáo với Trí Huệ Luân Tam Tạng (智慧輪三藏). Trong khoảng thời gian 7 tháng lưu lại tại Trường An, ông đã nhận được một số rất nhiều pháp cụ, sớ chương, và tham bái các ngôi chùa nổi tiếng nơi đây. Chính ông đã cúng tiền xây dựng phục hưng Quốc Thanh Tự, nên được gọi là Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Tự Nhật Bản Quốc Đại Đức Tăng Viện (天台山國清寺日本國大德僧院).Sau 6 năm lưu học cầu pháp, ông trở về nước, mang theo một số lượng lớn kinh sớ của Thiên Thai, Chơn Ngôn, Câu Xá, Nhân Minh, Tất Đàm, gồm khoảng hơn 440 bộ và 1000 quyển. Năm 859, thể theo lời thỉnh cầu của Đại Hữu (大友), ông chuyển đến ở tại Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) thuộc vùng Tam Tỉnh (三井, Mii), sau đó ông tạo nơi đây thành Thiên Thai Biệt Viện, và đến năm 868 thì được cử làm Tọa Chủ chùa này thay thế An Huệ (安慧, Anne). Môn hạ của ông có Duy Thủ (惟首, Yuishū), Du Hiến (猷憲, Yuken), Tăng Mạng (増命, Zōmyō), Tôn Ý (尊意, Soni), v.v. Trước tác của ông có Đại Nhật Kinh Chỉ Quy (大日經指歸) 1 quyển, Giảng Diễn Pháp Hoa Nghi (講演法華儀) 2 quyển, Thọ Quyết Tập (授決集) 2 quyển.
viên trí đạo ngô thiền sư
Zen master Yuan-Zhi-T'ao-Wu—Thiền Sư Viên Trí Đạo Ngô sanh năm 769 tại Dư Chương (nay thuộc tỉnh Giang Tây), là đệ tử của Thiền Sư Dược Sơn—Zen Master Yuan-Zhi-T'ao-Wu was born in 769 in Yu-Zhang (now in Jiang-Xi Province), was a disciple of Yao-Shan. • Một hôm, Dược Sơn hỏi sư: “Ngươi đi về đâu?” Sư thưa: “Đi dạo núi về.” Dược Sơn bảo: “Chẳng rời thất nầy, đem gì về, nói mau!” Sư thưa: “Sơn thượng điểu nhi đầu tợ tuyết Gián để du ngư mang bất triệt.” (Trên núi chim con đầu tợ tuyết Đáy khe cá lội lo chẳng cùng). One day, Zen master Yao-Shan asked T'ao-Wu: “Where have you been?” T'ao-Wu said: “Walking on the mountain.” Yao-Shan said: “Without leaving this room, quickly speak!” T'ao-Wu said: “On the mountain the birds are white as snow. At the bottom of the brook the fish never stop swimming.” • Sư cùng Đàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo: “Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ, nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu đà (ám chỉ sư) hiểu thế nào?” Sư liền đi ra. Đàm Thạnh hỏi Dược Sơn: “Sư huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa Thượng?” Dược Sơn bảo: “Hôm nay ta đau lưng, y đã biết, ngươi hỏi lấy y.” Đàm Thạnh đến hỏi sư: “Vừa rồi, sao sư huynh không đáp lời Hòa Thượng?” Sư bảo: “Huynh đến hỏi Hòa Thượng đi.”—One day, T'ao-Wu and Yun-Yan were with Yao-Shan, Yao-Shan said: “Saying that there is a place where wisdom does not reach violates the taboo. Any saying this will grow horns. Monk Zhi (T'ao-Wu), what do you say?”T'ao-Wu then went out. Yun-Yan then asked Yao-Shan: “Why didn't elder brother answer you?” Yao-Shan said: “My back hurts today. Anyway, he knows why. Why don't you go ask him?” Yun-Yan then went to T'ao-Wu and said: “Why didn't you answer the master today?” T'ao-Wu said: “Go ask the master.” • Qui Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Đàm Thạnh: “Bồ Đề lấy gì làm tòa?” Đàm Thạnh đáp: “Lấy vô vi làm tòa.” Đàm Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy. Linh Hựu đáp: “Lấy các pháp không làm tòa.” Linh Hựu lại đem câu ấy hỏi sư. Sư đáp: “Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Nói mau!” Qui Sơn liền đứng dậy bỏ đi—Kui-Shan asked Yun-Yan: “With what does bodhi sit?” Yun-Yan said: “It sits with nonaction.” Yun-Yan then asked Kui-Shan the same question. Kui-Shan said: “It sits with all empty dharmas.” Yun-Yan then asked T'ao-Wu: “What do you say?” T'ao-Wu said: “Bodhi sits listening to it. Bodhi lies down listening to it. But as for the one who neither sits nor lies down, speak! Speak!” Kui-Shan got up and left. • Qui Sơn Linh Hựu hỏi sư: “Ở đâu đến?” Sư đáp: “Khán bệnh đến.” Qui Sơn Linh Hựu hỏi: “Có bao nhiêu người bệnh?” Sư đáp: “Có người bệnh, có người chẳng bệnh.” Qui Sơn Linh Hựu nói: “Có người không bệnh đâu không phải Trí đầu đà?” Sư đáp: “bệnh cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc nó, nói mau! Nói mau!”—Kui-Shan asked T'ao-Wu: “Where did you go?” T'ao-Wu said: “To see a doctor.” Kui-Shan asked: “How many people are sick?” T'ao-Wu said: “Some are sick, some are not.” Kui-Shan said: “Is one who is not sick has nothing to do with it?” • Sư thị tịch ngày mười tháng chín năm 835—He died on the tenth day of the ninth month in 835.
Viên Trừng
(圓澄, Enchō, 771-836): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Thiên Thai Tọa Chủ đời thứ 2, húy Pháp Kính (法鏡), Viên Trừng (圓澄), thụy hiệu là Tịch Quang Đại Sư (寂光大師), xuất thân vùng Võ Tàng (武藏, Musashi), họ là Nhâm Sanh (壬生). Khoảng năm 27 tuổi, ông lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), làm đệ tử của Tối Trừng (最澄, Saichō). Đến năm 34 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, năm 36 tuổi thì nhập đàn thọ Quán Đảnh, năm sau thì thọ lãnh Viên Đốn Giới. Sau khi thầy qua đời, ông dựng Tây Tháp và khai sáng Tây Tháp Viện. Đến năm 834, ông làm Thiên Thai Tọa Chủ. Ông đã từng cung thỉnh Hộ Mạng (護命, Gomyō) ở Nam Đô, Không Hải (空海, Kūkai) của Chơn Ngôn Tông lên Tỷ Duệ Sơn để tham dự lễ cúng dường ở Tây Tháp Viện và tận lực làm cho Sơn Môn phát triển. Tác phẩm của ông để lại có Diên Lịch Tự Cấm Chế Thức (延曆寺禁制式) 1 quyển, Đường Quyết (唐決) 2 bức, Tịch Quang Viên Trừng Hòa Thượng Tàn Hinh Tập (寂光圓澄和尚殘馨集), Thông Đạt Phật Hải Nguyện Văn (通達佛海願文) 1 quyển, v.v.
viên tu
(1) To observe the complete Thiên Thai meditation, at one and the same time to comprehend the three ideas of không giả trung; (2) to keep all the precepts perfectly.
; 1) Viên tu vạn hạnh để thành Phật: To observe (keep) all commandments perfectly. 2) Pháp môn đồng thời tu tam quán Không Giả Trung của tông Thiên Thai để thành Phật—To observe the complete T'ien-T'ai meditation, at one and the same time to comprehend the three ideas of noumenon, phenoumenon, and the middle path.
viên tu tịnh độ
To keep all the teaching of Pure Land perfectly.
viên tâm
The perfect mind, the mind that seeks perfection, i.e. niràna.
; Tâm viên mãn hay tâm cầu đắc viên quả niết bàn—The perfect mind, the mind that seeks perfection, i.e. nirvana.
viên tín
Complete-faith; the faith of the "perfect" school. A Thiên Thai doctrine that a moment's faith embrace the universe.
; 1) Tín tâm hoàn toàn—Complete faith. 2) Niềm tin vào Viên Tông. Niềm tin ôm trọn cả vũ trụ vạn vật: The faith of the “perfect” school. A T'ien-T'ai doctrine that a moment's faith embraces the universe.
viên tông
The sect of the complete or final Buddha-truth, i.e. Thiên Thai.
; Tông phái của viên giáo, chỉ tông Thiên Thai—The sect of the complete or final Budha-truth, i.e. T'ien-T'ai.
Viên tướng
圓相; J: ensō; là hình tròn, vòng tròn;|Theo đạo Phật – nhất là Thiền tông – hình tròn là biểu hiện của Chân lí tuyệt đối, Chân như, Giác ngộ. Trong những bức hoạ của giới hâm mộ thiền, người ta thường thấy những hình tròn. Người ta cho rằng, hình tròn này tiết lộ nhiều về trạng thái tâm thức của người vẽ và chỉ có người nào chú tâm, bình tĩnh mới có thể vẽ được hình tròn cân xứng tuyệt hảo (Quy Ngưỡng tông, Thập mục ngưu đồ).
viên tướng
Enso (J), Round shape Hình tròn.
Viên tịch
(圓寂): ý dịch của Phạn ngữ parinirvāṇa (s.); cựu dịch là diệt độ (滅度), nhập diệt (入滅); còn gọi là quy tịch (歸寂), thị tịch (示寂), nhập tịch (入寂); đồng nghĩa với Niết Bàn (涅槃), thiên hóa (遷化), thuận thế (順世), quy chơn (歸眞); nghĩa là tròn đầy các đức, diệt hết các điều ác. Sự qua đời của đức Phật nghĩ là thâu hóa dụng của cõi mê mà nhập vào cảnh giới giác ngộ; xả đi cảnh tạp nhiễm của Hữu Lậu mà nhập vào cảnh giới Niết Bàn vắng lặng Vô Lậu; nên gọi là viên tịch. Từ này cũng có nghĩa xa lìa cái khổ của sanh tử, đạt đến sự an lạc tịnh diệu. Về sau, chư vị tăng ni qua đời cũng gọi là viên tịch. Trong Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa (般若心經解義, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 570) định nghĩa rằng: “Niết Bàn, thử vân viên tịch, đức vô bất bị xưng viên, chướng vô bất tận xưng tịch (涅槃、此云圓寂、德無不僃稱圓、障無不盡稱寂, Niết Bàn, ở đây [Trung Hoa] gọi là viên tịch, đức không nơi nào mà không đầy đủ gọi là viên, chướng không chỗ nào mà không hết gọi là tịch).” Như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 8, phần Lý Bạch (李白), có đoạn: “Bản tâm nhược hư không, thanh tịnh vô nhất vật, phần đãng dâm nỗ si, viên chiếu liễu kiến Phật (本心若虛空、清淨無一物、焚蕩淫怒癡、圓照了見佛, tâm gốc như hư không, trong sạch không một vật, đốt dâm đãng giận si, chiếu rõ rồi thấy Phật).” Hay trong Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (禪林僃用清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250) quyển 9, phần Phúng Kinh (諷經), cũng có đoạn: “Thượng lai phúng kinh công đức, phụng vị tân viên tịch mỗ giáp Thượng Tọa (上來諷經功德、奉爲新圓寂某甲上座, khởi đầu tụng kinh công đức, kính vì Thượng Tọa … mới viên tịch).” Hoặc trong Thiền Đăng Thế Phổ (禪燈世譜, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1601) quyển 1, phần Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思), lại có đoạn rằng: “Ấu tuế xuất gia, cư Thanh Nguyên Sơn Tĩnh Cư Tự; Huyền Tông Khai Nguyên nhị thập bát niên thập nhất nguyệt thập tam nhật viên tịch, thụy Hoằng Tế, tháp viết Quy Tịch (幼歲出家、居青原山靜居寺、玄宗開元二十八年十一月十三日圓寂、諡弘濟、塔曰歸眞, sư tuổi nhỏ xuất gia, sống ở Tĩnh Cư Tự thuộc Thanh Nguyên Sơn; vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 [740] niên hiệu Khai Nguyên đời vua Huyền Tông [tại vị 712-756], sư viên tịch, thụy hiệu là Hoằng Tế, tháp tên là Quy Tịch).”
viên tịch
Perfect rest, i.e. parinirvàna; the perfection of all virtue and the elimination of all evil, release from the miseries of transmigration and entrance into the fullest joy.
; Parinirvana (skt)—Niết Bàn—Diệt Độ—Nhập vào Niết Bàn hoàn toàn an tịnh và tĩnh diệu—Công đức viên mãn, mọi ác quấy đều tận diệt, thoát khỏi những khổ đau của luân hồi sanh tử và bước vào nơi chốn an vui hoàn toàn—Perfect rest, i.e. parinirvana; the perfection of all virue and the elimination of all evil, release from the miseries of transmigration and entrance into the fullest joy.
viên vị
Thứ vị của Viên giáo. Tùy thứ vị mà thu nhiếp viên dung tất cả—The perfect status, the position of the “perfect” school, perfect unity which embraces all diversity.
viên âm
The all-embracing, perfect voice.
viên đoạn
The Thiên Thai doctrine of the complete cutting off, at one remove, of the three illusions, i.e. kiến tư associated with không, trần sa with giả, vô minh with trung.
; Các nhà Thiên Thai giải thích về đoạn pháp viên giáo của tông Thiên Thai cho rằng “viên đoạn” là sự cắt đứt tức thời tam phiền—The T'ien-T'ai doctrine of the complete cutting off, at one remove, of the three illusions. a) Dùng “Không” để đoạn trừ “kiến tư”: Views and thoughts associated with sunyata (void). b) Dùng “Giả” để đoạn trừ “trần sa”: Delusion of dust and sand associated with unreality. c) Dùng “Trung đạo” để pháp bỏ “vô minh”: Ignorance associated with the middle path. ** For more information, please see Tam Phiền Não.
viên đàn
Round altar; a complete group of objects of worship, a mandala.
; 1) Đàn tràng hình tròn: Round altar. 2) Mạn Đà La, luân viên cụ túc, hay viên mãn cụ túc, là đàn (bàn thờ) hình tròn để đặt bài vị chư tôn túc: A complete group of objects of worship, a mandala.
viên đạo
The perfect way.
; The perfect way (of the three principles of T'ien-T'ai).
Viên đảnh
(圓頂): đầu tròn; tức là sau khi xuống tóc, hiện ra hình tướng của người xuất gia; tượng trưng cho tướng xa lìa phiền não. Vì vậy, vị tu sĩ xuất gia còn có tên gọi là “viên đảnh phương bào (圓頂方袍, đầu tròn áo vuông).” Thuật ngữ này thường xuất hiện trong các điển tịch Phật Giáo. Như trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (佛說目連五百問經略解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ, Phẩm Tam Y Sự (三衣事品) thứ 11, có câu: “Viên đảnh phương bào, danh vi Thích tử Tỳ Kheo (圓頂方袍、名爲釋子比丘, đầu tròn áo vuông, gọi là Thích tử Tỳ Kheo).” Hay trong Nhập Chúng Nhật Dụng (入眾日用, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1246) lại có câu: “Xuất trần ly tục, viên đảnh phương bào (出塵離俗、圓頂方袍, xa lìa trần tục, đầu tròn áo vuông).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (潙山警策句釋記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) cũng giải thích rằng: “Tâm hình dị tục giả, ngoại tắc viên đảnh phương bào, tướng đồng Như Lai, nội tắc bội trần hợp giác, tâm tề Phật tuệ (心形異俗者、外則圓頂方袍、相同如來、內則背塵合覺、心齊佛慧, tâm và hình tướng khác với thế tục, [nghĩa là] bên ngoài thì đầu tròn áo vuông, tướng giống đức Như Lai; bên trong thì bỏ đi trần tục hợp với giác ngộ, tâm ngang bằng với trí tuệ đức Phật).” Hay trong Thiền Tông Quyết Nghi Tập (禪宗決疑集, Taishō Vol. 48, No. 2021) lại có đoạn: “Xuất gia giả thoát trần ly tục, viên đảnh phương bào, nhập Thánh siêu phàm, danh vi Tăng bảo (出家者脫塵離俗、圓頂方袍、入聖超凡、名爲僧寶, người xuất gia thoát khỏi trần tục, đầu tròn áo vuông, nhập Thánh siêu phàm, gọi là Tăng bảo).”
viên đầu
1) Người làm vườn—A gardener. 2) Người trông coi hoa viên nhà chùa, để mang lại vẻ đẹp và rau cải cho tự viện: A head of a monastery-garden, either for pleasure, or for vegetables.
viên đốn
Complete and immediate.
; Tức thì giác ngộ, đạt được ba lý không, giả, trung tức thì và cùng một lúc để đi đến tức thì giác ngộ—Immediate and the whole—Complete and immediate, i.e. to apprehend the three principles of void, unreal, and the middle path at one and the same time or to attain immediate enlightenment.
viên đốn bồ tát
See Viên Đốn Giới.
viên đốn chỉ quán
See Ma Ha Chỉ Quán.
viên đốn giáo
The complete immediate teaching, that of Thiên Thai.
; See Viên Giáo.
viên đốn giới
Viên Đốn Bồ Tát—Viên Đốn Vô Tác—Viên Đốn Đại Giới. 1) Bồ Tát Giới của chư Tăng Ni—The commands or prohibitions for Bodhisattvas and monks. 2) Quy luật của tông Thiên Thai, đặc biệt về sự đạt đến giác ngộ tức thì: The rules of the T'ien-T'ai school, especially for attaining immediate enlightenment. ** For more information, please see Nhứt Tâm Kim Cang Bảo Giới, Mười Giới Trọng, and Bốn Mươi Tám Giới Khinh trong Kinh Phạm Võng.
viên đốn nhất thừa
Nhất Thừa Viên Đốn giáo của tông Thiên Thai—The complete immediate vehicle, that of T'ien-T'ai.
viên đốn tông
See Viên Giáo.
viên đốn vô tác
See Viên Đốn Giới.
viên đốn đại giới
See Viên Đốn Giới.
viếng
To visit.
Viết
曰; C: yuē; J: etsu; |1. Nói, tuyên bố. Nói rằng; 2. Trình bày với lí lẽ, lí do; 3. Vui lòng để nói.
viết
To write.
viển vông
Dreamy.
viễn
Far, distant, far removed.
; Xa—Distant—Far—Far removed.
viễn công
Zendō (J), Shan-tao (C)Thiền đường, Tiền sảnhGiáo tổ Tịnh độ tông ở Trung quốc.
; Zendo (J). Founder of the Pure Land sect in China. Also Tuệ Viễn.
viễn cảnh
Perspective.
viễn cận
Far and near.
Viễn hành địa
xem Mười địa vị.
viễn hành địa
Durangama-bhŪmi (S), Going-Far-Beyond stage Trong Thập địa.
; Dùramgamà-bhumi (S). The seventh of the Ten Grounds of Bodhisattva.
; Duragama (skt)—Tên địa thứ bảy trong thập địa Bồ Tát, ở địa nầy các vị Bồ Tát vượt rất xa thế gian, vượt ra ngoài tư tưởng tự độ để tiến đến độ tha. Trong giai đoạn nầy vị Bồ Tát rời bỏ thế giới hiện tượng để an trụ trong thuần vô tướng quán—The seventh stage of the bodhisattva, the stage of proceeding afar, getting above ideas of self in order to help others. In this stage, a bodhisatva leaves the world of phenomena and enjoys mystic contemplation.
viễn khiển
Remote control.
viễn khách
Stranger.
viễn lai
To come from afar.
viễn li
Vivarjana (S). Leave afar off, be far removed; absolute separation of unconditioned reality from the realm of phenomena. Abandoning, abstaining from.
viễn li lạc
The joy of the first dhyàna heaven, in which the defilement of desire is left far behind in mystic contemplation.
viễn li nhất thiết chư phân biệt
Sarvakalpanàvirahitam (S). Free from all forms of discrimination.
viễn li sở duyên
Alambànavigata (S).
viễn ly
Vivarjita (S), Vivajjitta (P), Vivarjana (S), Naiṣkrāmya (S), Nekkhamma (P), Abstainment,Viễn trần, ly cấu.
; Vivrj or Vivarjana (skt)—Xa lìa—Xa lìa hay tách rời thực tánh chân như vô vi khỏi những pháp hữu vi hiện tượng—To leave afar off—To be far removed—Free from—Absolute separation of unconditioned reality from the realm of phenomena.
viễn ly lạc
Niềm an lạc của cõi Sơ Thiền Thiên, trong đó hành giả xa lìa mọi cấu chướng phiền não để an trụ trong thuần vô tướng quán—The joy of the first dhyana heaven, in which the defilement of desire is left far behind in mystic contemplation.
viễn ly nhất thiết chư phân biệt
Sarva-kalpa-nāvirahitam (S), Free from discrimination.
; Sarvakalpanavirahitam (skt)—Tách khỏi mọi phân biệt—Being free from all discrimination.
viễn ly sinh trụ diệt kiến
Thoát khỏi cái kiến giải đặt trên sinh trụ diệt—Freeing oneself from the view of birth, abiding, and disapearance.
viễn ly sở duyên
Ālambanavigata (S).
viễn nhân
Remote cause.
viễn phương
Remote (far away) place.
viễn sư
Tức ngài Tuệ Viễn, một vị sư nổi tiếng của Trung Quốc về đời nhà Đường—Hui-Yuan, a noted monk during the T'ang dynasty.
viễn thông
Telecommunication.
viễn thị
Far-sighted.
viễn trần
Xem Viễn ly.
viễn trần li cấu
Naiskramya (S). To be far removed from the dust and defilement of the world.
viễn trần ly cấu
Xa lìa trần cấu (trần cấu là tên chung của phiền não. Viễn trần ly cấu là xa lìa khỏi mọi cấu chướng của phiền não, đạt được pháp nhãn tịnh của bậc sơ địa bồ tát hay sơ quả nhị thừa)—To be far removed from the dust and defilement of the world.
viễn tượng
View—Prospect.
viễn ảnh
Outlook.
việc
Affair—Business—Work.
việc bất thiện
Unwholesome actions—Unwholesome deeds.
việc gia đình
Family affair.
việc hằng ngày
Everyday work (affair).
việc làm
Deeds.
việc lành
Punya (S). Good deed.
việc phải
Good deed.
việc thiện
Wholesome actions—Wholesome deeds.
việc từ thiện
Benefaction.
việc ác do nghiệp lực
như người sanh trong gia đình đồ tể, đánh cá, thợ săn... do nghiệp ấy mà tiếp tục làm việc giết hại để mưu sanh, rồi sự giết hại đó lại tiếp tục dẫn đến quả xấu ác trong tương lai.
việc ác do quả báo
như người tạo nghiệp phải sanh làm thân súc sanh, như hổ, báo... lại do quả báo đó mà chỉ có một cách sống duy nhất là phải giết hại các loài chúng sanh khác; rồi do việc ác giết hại này lại tiếp tục phải chịu quả báo xấu ác trong tương lai.
việc đã làm
Past actions (deeds).
việc đã rồi
Accomplished fact.
việc đời
Secular responsibilities.
viện
1) Tự viện: Arama (skt)—Monastery—Hall—Court—Institute—Chamber. 2) Viện trợ: To aid—To assist—To help.
Viện Chính
(院政, Insei): hình thái chính trị mà Thượng Hoàng hay Pháp Hoàng thi hành chính trị ở tại Viện Sảnh (院廳). Hình thái này do Bạch Hà Thiên Hoàng (白河天皇, Shirakawa Tennō, tại vị 1072-1086) định ra, và về mặt danh mục thì nó được kéo dài cho đến thời Quang Cách Thiên Hoàng (光格天皇, Kōkaku Tennō, tại vị 1779-1817) của cuối thời đại Giang Hộ (江戸, Edo), nhưng trên thực tế thì chỉ kéo dài khoảng 250 năm, đến thời kỳ của Hậu Vũ Đa Thiên Hoàng (後宇多天皇, Gouda Tennō, tại vị 1274-1287) thuộc cuối thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) mà thôi.
viện chủ
Ở Trung Quốc, viện chủ là chủ nhiệm một tòa nhà trong Tòng lâm, ở dưới quyền Trụ trì.
; Còn gọi là Tự Chủ, xưa gọi là Giám Sự trong chùa. Bây giờ viện chủ dùng để gọi vị Tăng trụ trì trong chùa—The abbot of a monastery.
viện chứng
To supply (bring forward as) proofs.
viện cớ
To allege as pretext.
viện dẫn
To adduce (bring forward as) proof—To cite—To refer.
Viện Gia
(院家, Inge): từ ám chỉ các Tăng Ni xuất gia vốn xuất thân dòng dõi Thân Vương hay quý tộc; đặc biệt từ này còn chỉ cho ngôi chùa nơi các vị này ở. Nó cũng được dùng đồng nghĩa với từ Môn Tích (門跡, monzeki), nhưng đến cuối thời Trung Đại thì từ này có ý nghĩa là những ngôi tự viện mà có nguồn gốc cũng như cách thức kế sau Môn Tích. Nguyên lai từ Viện (院) có nghĩa là tòa kiến trúc có hàng rào chắn chung quanh ngôi Viện trong khuôn viên chùa có Chánh Điện, đường xá, cùng các tài sản khác, thì cũng giống như trường hợp ngôi Thiền Viện ở Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) của Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) phát triển thành nơi trú ngục của các vị Tăng có thế lực ở trong chùa. Trường hợp ngự thất của Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō), vị vua xuất gia sống ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), cũng gọi là Viện, và những người đi theo xuất gia với Thiên Hoàng được gọi là Viện Gia. Vào cuối thời Bình An, phong trào xuất gia của hàng Thân Vương và quý tộc càng lúc càng thịnh hành, đặc biệt vào thời kỳ Viện Chính (院政), Thanh Liên Viện (青蓮院), Viên Dung Viện (圓融院), Diệu Pháp Viện (妙法院) ở Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), rồi Nhất Thừa Viện (一乘院), Đại Thừa Viện (大乘院) ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), giành được địa vị Môn Tích Tự Viện; cho nên hàng con cháu của lớp quyền môn thế gia xuất gia nhập tự, được gọi là Viện Gia hay Viện Gia Chúng. Viện Gia là xưng hiệu của các vị Tăng có địa vị thân phận cao, chứ không phải là phàm Tăng, và cũng có trường hợp từ Viện Gia thăng tiến lên Môn Tích. Dưới thời đại Thất Đinh, trường hợp Viện Gia của sơn môn Diên Lịch Tự, bên cạnh 3 ngôi Viện như đã liệt kê ở trên, tiếp theo còn có An Cư Viện (安居院), Thạch Tuyền Viện (石泉院), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Tôn Thắng Viện (尊勝院), v.v. Về phía Chơn Ngôn Tông, Tam Bảo Viện (三寶院), Lý Tánh Viện (理性院) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji) được nâng lên thành Viện Gia. Các Viện Gia này không nhận phàm Tăng đến tu, chỉ cho con cháu thuộc dòng dõi quý tốc vào tu để tương truyền, giữ gìn các ngôi đưỡng vũ cũng như tài sản của Viện. Tuy nhiên, đối với trường hợp Chơn Tông, vào năm 1559, Hiển Như (顯如, Kennyo) được cho phép gọi chùa ông là Thế Tập Môn Tích (世襲門跡); rồi đến năm sau, thể theo sắc lịnh của Cung Tôn Trợ Pháp Thân Vương (宮尊助法親王) ở Thanh Liên Viện, 9 ngôi chùa trong đó có Thường Lạc Tự (常樂寺) ở vùng Đại Hòa (大和, Yamato), Giáo Hành Tự (敎行寺) ở Nhiếp Tân (攝津, Settsu), được công nhận vào hàng Viện Gia, và chế độ bổ trợ Viện Gia cho các chùa Môn Tích được thành lập.
Viện Hiệu
(院號, Ingō): (1) Là xưng hiệu của Thái Thượng Hoàng. Vào năm 823 (Hoằng Nhân [弘仁] 14), sau khi Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) nhượng vị, lần đầu tiên ông lấy nơi mình ở mà đặt tên thành Tha Nga Viện (嵯峨院). Trường hợp hai vị Thiên Hoàng Lãnh Tuyền (冷泉, Reizei, tại vị 967-969) và Viên Dung (圓融, Enyū, tại vị 969-984) trong lúc sinh tiền cũng đặt cho mình Viện Hiệu là Lãnh Tuyền Viện (冷泉院) và Châu Tước Viện (朱雀院). (2) Là truy hiện của Thiên Hoàng. Từ thời Lãnh Tuyền Thiên Hoàng trở đi, sau khi Thiên Hoàng nhường ngôi vị thì thường dùng Viện Hiệu theo tên gọi nơi mình trú ngụ làm truy hiệu của vị Thiên Hoàng đó. Hơn nữa, từ thời Hậu Nhất Điều Thiên Hoàng (後一條天皇, Goichijō Tennō, tại vị 1016-1036) trở về sau, cũng có thông lệ ban Viện Hiệu cho các Thiên Hoàng đang tại vị mà qua đời. (3) Là xưng hiệu của Nữ Viện. Trường hợp này được khởi đầu từ thân mẫu của Nhất Điều Thiên Hoàng (一條天皇, Ichijō Tennō, tại vị 986-1011) là Hoàng Thái Hậu Đằng Nguyên Thuyên Tử (藤原詮子, Fujiwara-no-Senshi), được ban cho Viện Hiệu là Đông Tam Điều Viện (東三條院) vào năm 991 (Chánh Lịch [正曆] 2). Tiếp theo, sau thời Thượng Đông Môn Viện (上東門院, tức bà Đằng Nguyên ảnh Tử [藤原彰子, Fujiwara-no-Shōshi]), thường phần nhiều lấy mệnh danh theo môn hiệu Cung Thành (宮城, Miyagi) mà thôi. Còn ở Tiền Đông Cung (前東宮) thì chỉ có một trường hợp duy nhất được ban cho Viện Hiệu là Tiểu Nhất Điều Viện (小一條院), tức Đông Cung Hoàng Tử Đôn Minh Thân Vương (敦明親王, Atsuakira Shinnō), con của Hậu Nhất Điều Thiên Hoàng. (4) Là xưng hiệu của Pháp Danh, Giới Danh của những vị quan Nhiếp Chính, Tướng Quân. Tỷ dụ như trường hợp Pháp Hưng Viện (法興院) của quan Nhiếp Chính Đằng Nguyên Kiêm Gia (藤原兼家, Fujiwara-no-Kaneie); hay Đẳng Trì Viện (等持院) của Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), v.v. Đây là tên gọi của các ngôi tự viện trong lúc sinh tiền họ đã từng góp công rất lớn trong việc kiến lập, tu tạo. Sau này, dù chẳng liên quan đến việc góp công kiến lập chùa chiền gì cả, hàng thứ dân bình thường cũng bắt đầu thêm chữ Viện vào nơi giới danh của họ.
viện hóa đạo
Institute for the Propagation of the Dharma. Viện trưởng Viện Hóa Đạo: Head of the Institute for the Propagation of the Dharma.
viện lý
To bring forward arguments.
viện lẽ
See Viện Cớ.
viện tăng thống
The Sangha Council. Tăng thống: Supreme Patriarch of the Sangha Council.
viện tế bần
Hospice.
việt
To step over, pass over, surpass, exceed; similar to siêu, with which it is often connected.
; 1) Bước qua: To step over—To pass over. 2) Vượt qua: To exceed. 3) Siêu việt: To surpass.
việt châu càn phong
EsshŪ Kempō (J)Tên một vị sư.
việt dã
Cross-country.
việt hỉ tam muội
The samàdhi of Yasodharà, wife of prince Siddharta and mother of Rahula, which causes all kinds of joy to self and others.
việt hỷ tam muội
Còn gọi là Siêu Hỷ Tam Muội, tam muội của bà Da Du Đà La (vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa và mẹ của La Hầu La). Dựa vào tam muội nầy mà sinh ra các loại vui mừng không có gì có thể so sánh được cho mình và cho người—Samdhi of Yasodhara, wife of Sakyamuni and mother of Rahula, which causes all kinds of joys to self and others.
việt khê thốn khiêm
Ekkei shuken (J)Tên một vị sư.
việt nam
Vighna (S). A very rich person in Benares but mean.
việt nan
Xem Duy để nan.
việt sử
Vietnamese history.
việt tam giới bồ tát
The Bodhisattva who has surpassed the three realms (desire, form, formless)
Việt Tiền
(越前, Echizen): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Fukui-ken (福井縣).
Việt Trung
(越中, Ecchū): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Toyama-ken (富山縣).
việt tội
Exceeding sin, or transgression of the law, particularly of esoteric law or monastic vows.
; Gọi tắt của Việt Tỳ Ni Tội, hay là tội vượt qua Tỳ Ni Pháp Giới—Exceeding sin, or transgression of the law, particularly of esoteric law or monastic vows.
Việt ấm
(樾蔭): bóng mát của cây, tức ám chỉ sự che chở, giúp đỡ của người khác dành cho mình. Như trong bài thơ Du Bắc Sơn (游北山) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Khách tọa đài văn hoạt, tăng miên việt ấm thanh (客坐苔紋滑、僧眠樾蔭清, khách ngồi rêu thảm nhẵn, tăng ngủ bóng mát dim).” Hay trong hồi thứ 99 của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) lại có câu: “Tuy cách trùng dương, thượng thao việt ấm (雖隔重洋、尚叨樾蔭, tuy cách trùng dương, còn được che chở).”
vo
1) To wash rice. 2) To roll (trun—Tuck) up (one's sleeves). 3) To roll into a ball (vo tròn).
voi
Dantī (S), Elephant.
Voi chúa giữa loài người
(Nhân trung tượng vương): Cách nói tỷ dụ để tôn xưng những bậc cao quý nhất. Vì voi chúa là oai dũng nhất trong loài voi, nên dùng hình ảnh voi chúa giữa loài người để biểu thị sự oai dũng, mạnh mẽ và cao quý nhất.
vong
Mithya (skt)—False—Untrue—Erroneous—Gone—Lost—Dead.
vong bản
To forget one's origin.
vong giả
Người chết—The dead.
vong hồn
The soul of the dead—Wandering soul.
vong khước
To forget.
vong ký
See Vong Khước.
vong linh
The spirit of the dead person.
vong mạng
To risk (venture) one's life.
Vong ngôn
(忘言): quên lời, nghĩa là trong tâm lãnh hội ý chỉ, không cần dùng đến ngôn ngữ để giải thích, thuyết minh. Như trong Trang Tử (莊子), phần Ngoại Vật (外物), có câu: “Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn (言者所以在意、得意而忘言, lời nói vốn ở nơi ý, được ý mà quên lời).” Hay trong bài Khổ Tư Hành (苦思行) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc có đoạn: “Trung hữu kì niên nhất ẩn sĩ, tu phát giai hạo nhiên, sách trượng tùng ngã du, giáo ngã yếu vong ngôn (中有耆年一隱士、鬚髮皆皓然、策杖從我遊、敎我要忘言, trong đó có một ẩn sĩ tuổi già, râu tóc đều trắng xóa, cầm gậy theo tôi rong chơi, dạy tôi nên quên lời).” Trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 16, phần Tam Huyền Khảo (三玄考), lại có đoạn: “Nhất cú minh minh cai vạn tượng, Trùng Dương cửu nhật cúc hoa tân, nhược vị vong ngôn, nan khế thử chỉ (一句明明該萬象、重陽九日菊花新、若未忘言、難契此旨, một câu sáng trong trùm vạn tượng, Trùng Dương mồng chín cúc hoa xinh, nếu chưa quên lời, khó hiểu được ý này).” Hoặc trong Chư Phương Môn Nhân Tham Vấn Ngữ Lục (諸方門人參問語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1224) cũng có đoạn: “Tùy cơ thọ pháp, Tam Học tuy thù, đắc ý vong ngôn, Nhất Thừa hà dị (隨機授法、三學雖殊、得意忘言、一乘何異, tùy theo cơ duyên mà truyền trao pháp, Ba Học [Giới, Định, Tuệ] tuy có khác, được ý quên lời, Một Thừa đâu có khác).”
vong nhân
The dead.
vong niên
1) A long time ago (friends). 2) To forget one's age.
vong ân
Ungrateful—Unthankful—Thankless—To show ingratitude.
vu cáo
Vu báng—To accuse falsely.
vu lan bồn
Ullambana (S)Đảo huyềnUllambana là 'đảo huyền', chỉ nổi khổ bị treo ngược ở địa ngục. Để cứu vong linh thân nhân thoát cảnh khổ này, thân quyến chuẩn bị lễ vật cúng tế rằm tháng bảy để cầu siêu.
; Ullambana (S). All Soul's Day. Also Lễ Vu lan, Cứu đảo huyền.
; Ullambana (skt)—Ô Lam Bà Noa. 1) Đảo Huyền hay treo ngược. Những vong nhân bị treo ngược thật vô cùng khổ sở trong địa ngục: May be another form of Lambana, or Avalamba, meaning “hanging down,” “depending,” “support.” It is interpreted as “To hang upside down,” or “to be in suspense,” referring to extreme suffering in purgatory. 2) Vào ngày 15 tháng bảy âm lịch—Ullambana Basins—The 15th day of the 7th month Lunar calendar—Lễ Vu Lan—Lễ Giải Đảo Huyên. Lễ Xá Tội Vong Nhân. Xuất xứ của ngày lễ này là từ chuyện Mục Liên cứu mẹ. Nhờ thiên nhãn thông mà Mục Liên biết mẹ đang đọa làm ngạ quỷ nên muốn tìm cách cứu mẹ, nhưng ông không biết cách. Mục Liên bèn tìm hỏi Phật. Phật nói rằng chỉ có sự phối hợp của chư Tăng mới có thể giúp mẹ ông giải thoát. Từ truyền thống nầy mới có lệ cúng dường thực phẩm và áo quần lên chư Tăng Ni trong ngày Vu Lan—Festival of the hungry ghosts, celebrated on the fifteenth day of the seventh month lunar calendar. The origin of this ceremony is to be found in the story of Maudgalyayana, who thanks to his divine eye saw that his mother had been reborn as a hungry ghost, and he wanted to save her; however, he didn't know what to do. He went back to ask the Buddha the way to save his mother. The Buddha told him that only the combined effort of all Buddhist monks could help her escape her fate. From this tradition, developed the custom of offering food, clothes and so on to the clergy on Ullambana.
Vu Lan Bồn Kinh
(s: Ulambanasūtra, j: Urabonkyō, 盂蘭盆經): còn gọi là Vu Lan Kinh (盂蘭經), 1 quyển, tương truyền do Trúc Pháp Hộ (竺法護, ?-?) nhà Tây Tấn dịch, thuộc kinh điển bộ Phương Đẳng, được thâu vào trong Taishō quyển 16. Kinh này thuyết về công đức bố thí kết hợp với việc cúng dường cho ông bà tổ tiên đã quá vãng, cho nên rất được xem trọng ở những đất nước có tinh thần hiếu đạo sâu xa như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, v.v. Nội dung kinh cho biết rằng tôn giả Mục Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目連) phát hiện mẹ mình sau khi chết bị đọa xuống thế giới ngạ quỷ rất đau khổ, bèn vâng lời Phật dạy nhân ngày rằm tháng 7, ngày chư tăng hành lễ Tự Tứ sau ba tháng An Cư kiết hạ, tiến hành bố thí cúng dường các thức ăn vật uống, nhờ công đức đó mà mẹ tôn giả được cứu độ thoát khỏi cảnh khổ của địa ngục. Hội Vu Lan Bồn là pháp sự được hình thành trên cơ sở của kinh này. Sách chú thích về kinh này có Vu Lan Bồn Kinh Sớ (盂蘭盆經疏), 2 quyển rất nổi tiếng, của Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密, 780-841); Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (佛說盂蘭盆經新疏) 1 quyển của Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655); Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hội Cổ Thông Kim Ký (盂蘭盆經疏會古通今記) 2 quyển, do Phổ Quán (普觀) nhà Tống thuật; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Hiếu Hành Sao Khoa (盂蘭盆經疏孝衡鈔科) 1 quyển, của Ngộ Vinh (遇榮) nhà Tống; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Sao Dư Nghĩa (盂蘭盆經疏鈔餘義) 1 quyển, do Nhật Tân (日新) nhà Tống sao lục; Vu Lan Bồn Kinh Lược Sớ (盂蘭盆經略疏) 1 quyển, của (元奇) nhà Thanh; Vu Lan Bồn Kinh Sớ Chiết Trung Sớ (盂蘭盆經疏折中疏) 1 quyển, của Linh Diệu (靈耀) nhà Thanh, v.v.
vu lan bồn kinh
Ullambana-sùtra (S)
Vu Lan hay Vu Lan Bồn
(盂蘭盆, Urabon): âm dịch của tiếng tục ngữ Ấn Độ ullambana, được xem như là viết sai của từ avalambana, ý là đảo huyền (倒懸, treo ngược), là nghi thức cúng bái được tiến hành nhằm để cứu độ cái khổ bị treo ngược. Bên cạnh đó, cũng có thuyết cho rằng từ Vu Lan Bồn vốn phát xuất từ nguyên ngữ ullambana (cứu độ), nhưng cả hai thuyết trên không có xác chứng rõ ràng. Gần đây có thuyết cho rằng nó phát xuất từ ngôn ngữ cũng như nghi lễ nông canh của trung ương Châu Á. Theo Vu Lan Bồn Kinh (s: Ulambanasūtra, 盂蘭盆經), mẹ của Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), đệ tử của đức Phật, lúc sanh tiền tạo nhiều tội nghiệp, sau khi chết sanh vào đường Ngạ Quỷ, không ăn được, chịu rất nhiều nỗi khổ. Vì vậy, để giải thoát nỗi khổ này, đức Phật đã dạy Mục Kiền Liên thiết trai cúng dường chúng tăng trăm vị thức ăn vật uống nhân ngày Tự Tứ, rằm tháng 7, và thiết lễ cúng thí thực Ngạ Quỷ, cho nên nhờ công đức đó mà cái khổ trong đường Ngạ Quỷ của cha mẹ bảy đời cũng như cũng như cái khổ của cha mẹ đời sau cũng được tiêu trừ. Từ truyền thuyết này, lễ hội Vu Lan ra đời. Nó được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản và phổ cập trong tầng lớp thứ dân đương thời. Lễ hội này kết hợp tư tưởng bố thí và Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣) của chư tăng trong Phật Giáo với tư tưởng hiếu đạo và Trung Nguyên của Trung Quốc, để hình thành nên Phật sự cúng dường tổ tiên không thể thiếu được. Hội Vu Lan Bồn còn được gọi là Bồn Hội (盆會), Hoan Hỷ Hội (歡喜會), Hồn Tế (魂祭), v.v. Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, người ta dựng một cái Nhà Vong Linh, rồi triệu thỉnh các vong linh của ông bà tổ tiên đã qua đời về tại đó và cung thỉnh chư tăng đến tụng kinh cầu nguyện. Trong khoảng thời gian này, trai chủ cúng dường trai phạn vật phẩm cho chúng tăng để tích lũy công đức và hồi hướng lên cho ông bà tổ tiên mình. Phát xuất từ tâm tư mỗi năm vào dịp lễ hội Vu Lan này muốn cho ông bà được ở lâu với mình hơn nữa, người ta kéo dài kỳ hạn ra thêm, dài nhất là từ ngày 13 cho đến 16 tháng 7, nhưng trọn tháng 7 được xem như là tháng Vu Lan Bồn. Ở vùng nông thôn, do vì có liên quan đến mùa vụ cho nên thời gian tổ chức lễ hội này trễ hơn đến ngày rằm tháng 8. Tháng 7 âm lịch gặp tiết mùa Thu, cho nên nguyên lai lễ Hội Vu Lan Bồn là Phật sự mùa Thu. Theo ký lục xưa nhất như Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) cho thấy rằng ở Trung Quốc lễ hội này được tiến hành đầu tiên vào năm 538 (năm thứ 4 niên hiệu Đại Đồng [大同]). Lúc bấy giờ, vua Lương Võ Đế thân chinh thiết lễ cúng dường trai tăng Vu Lan Bồn tại Đồng Thái Tự (同泰寺). Bên cạnh đó, trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (荆楚歲時記) do Tông Lẫm (宗懍, khoảng 501-565) nhà Lương thời Nam Triều soạn, cũng có ghi rằng: “Thất nguyệt thập ngũ nhật, tăng ni đạo tục tất doanh bồn cúng chư Phật (七月十五日、僧尼道俗悉營盆供諸佛, vào ngày rằm tháng bảy, chư tăng ni và tín đồ tại gia đều chuẩn bị Vu Lan Bồn để dâng cúng chư Phật).” Tại Nhật Bản là năm 606 (năm thứ 14 niên hiệu Suy Cổ [推古]). Vào tháng 4 năm này, cũng như mỗi năm vào ngày mồng 8 tháng 4 và rằm tháng 7, Suy Cổ Thiên Hoàng (推古天皇, Suiko Tennō, tại vị 592-628) có thiết trai cúng dường. Đến năm thứ 3 (657) đời Tề Minh Thiên Hoàng (齊明天皇, Saimei Tennō, tại vị 655-661), nhà vua cho dựng tượng Tu Di Sơn (須彌山) ở Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera), thiết lập Vu Lan Bồn Hội cúng dường; rồi đến ngày rằm tháng 7 năm 659 thì cho tiến hành thuyết giảng Vu Lan Bồn Kinh tại các ngôi chùa trong kinh đô để hồi hướng công đức cho cha mẹ bảy đời. Vào tháng 7 năm thứ 5 (733) niên hiệu Thiên Bình (天平) đời vua Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), nhà vua cho thiết lập chức quan Đại Thiện (大膳) để lo việc cúng dường thức ăn trong lễ hội Vu Lan Bồn; từ đó, lễ hội này trở thành Phật sự thông lệ trong cung nội, được quy định tổ chức vào ngày 14 tháng 7 âm lịch hằng năm với tên gọi là Vu Lan Bồn Cúng (盂蘭盆供). Đến thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794), Bình An (平安, Heian, 794-1185), lễ hội được công khai tổ chức vào ngày rằm tháng 7. Và đến thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333) thì Thí Ngạ Quỷ Hội (施餓鬼會, Segakie, tức Lễ Cúng Thí Thực, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn) được kết hợp tiến hành trong dịp Vu Lan Bồn. Từ đó trở về sau, lễ Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn thường được tiến hành song song với lễ hội trọng đại này.
vu pháp khai
Yu Fa-k'ai (C).
vu vơ
Groundless—Vague—Baseless.
vu vạ
See Vu Cáo.
vu điền
Khotan (S)Tên một xứ đầu kỷ nguyên.
vu đạo thúy
Yu Tao-sui (C).
Vu-lan-bồn hội
盂蘭盆會; S: ullambana; là cách dịch theo âm, dịch nghĩa là Cứu đảo huyền (救倒懸), tức là »Cứu nạn treo ngược«, cứu »những oan hồn bị treo ngược dưới địa ngục«;|Một lễ hội cúng các cô hồn, Ngạ quỷ nhằm ngày rằm tháng bảy. Trong ngày này, các quỷ đói dưới Ðịa ngục (Lục đạo) được cúng dường thức ăn, bánh trái, giấy tiền vàng bạc, quần áo, v.v. để họ được giảm khổ đau. Lễ này được tổ chức lần đầu tiên năm 538 tại Trung Quốc và vẫn được tổ chức hàng năm tại các nước Ðông Á như Trung Quốc, Việt Nam.|Nguồn gốc của lễ này xuất phát từ Mục-kiền-liên. Tôn giả nhờ Thiên nhãn thông (Lục thông) thấy được mẹ mình tái sinh làm ngạ quỷ dưới địa ngục và đau xót muốn cứu bà. Ðức Phật bảo là chỉ có sự hỗ trợ của toàn thể Tỉ-khâu trong Tăng-già mới giảm đau cho họ được. Từ đây xuất phát ra truyền thống cúng ngày rằm tháng bảy, nhằm ngày chư tăng làm lễ tự tứ sau ba tháng an cư, và người ta tin rằng, lễ cúng này giải thoát khổ đau cho thân quyến bảy đời trước của người cúng. Sự phối hợp giữa giáo lí Từ bi và truyền thống thờ Tổ tiên tại Trung Quốc là một trong những yếu tố chính để cho lễ cúng này được lưu truyền đến ngày nay (Phóng diệm khẩu).
vua a dục
See King Asoka.
vua a xà thế
See Ajatasatru.
vua ba tư nặc
King Prasenajit.
vua các bài hát
Geyarājan (S), King of songs.
vua của loài a tu la
Balī (S)Ba TrĩTên một vị thiên.
vua trời đao lợi
Cakra-deva-Indra (skt)—Được coi như là Đấng Tối Cao trong Cơ Đốc. Ông trị vì cung trời thứ nhì, thứ nhất và Ta bà thế giới—Trayastrimcas Heaven's King—He is considered the God Almighty in Christianity. He is the ruler of the second level of heaven, first level heaven and earth.
vua tần bà sa la
See Bimbisara.
vui
Merry—Happy—Joyful—Glad—Gay—Lively—Pleasant. Những lời Phật dạy về Vui trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pleasant” in the Dharmapada Sutra: 1) Gặp bạn xa lâu ngày là vui, sung túc phải lúc là vui, mệnh chung có được thiện nghiệp là vui, lìa hết thống khổ là vui—It is pleasant to have friends when need arises. Enjoyment is pleasant when shared with one another. Merit is pleasant when life is at its end. Shunning of (giving up) all evil is pleasant (Dharmapada 331). 2) Được kính dưỡng mẹ hiền là vui, kính dưỡng thân phụ là vui, kính dưỡng sa-môn là vui, kính dưỡng Thánh nhơn là vui—To revere the mother is pleasant; to revere the father is pleasant; to revere the monks is pleasant; to revere the sages is pleasant (Dharmapada 332). 3) Già vẫn sống đức hạnh là vui, thành tựu chánh tín là vui, đầy đủ trí tuệ là vui, không làm điều ác là vui—To be virtue until old age is pleasant; to have steadfast faith is pleasant; to attain wisdom is pleasant; not to do evil is pleasant (Dharmapada 333).
vui buồn
Joyous and sad.
vui chơi
To anuse (enjoy) oneself.
vui dạ
Satisfied—Content.
vui hưởng
To enjoy.
vui lòng
Satisfied—Content—Glad.
vui mắt
Pleasant to the eyes.
vui mừng
Joyful—Pleased—Full of joy.
vui sướng
Happy.
vui tai
Pleasant to the ears.
vui thích
Happy—Glad.
vui tánh
Cheerful—Joyful—Gay.
vui tính
See Vui tánh.
vui tươi
gay—Cheerful.
vui vẻ
See Vui.
vui đùa
To entertain (amuse) oneself.
vun
To earth up a tree.
vun bón
To fertilize.
vun trồng
To cultivate.
vun tưới
To earth and to water.
vun đắp
See Vun.
vung
Cover—Lid (of a pot).
vung tay
To stretch one's arms.
vuï
1) Business—Affair. 2) Crop—Harvest (vụ mùa). 3) Spinning top (con vụ). 4) Case—Lawsuit (vụ kiện).
vuông
Xem Phương.
; Square.
vuông vắn
Perfectly square.
vuốt
To stroke (one's hair or face).
vuốt ve
To caress.
vuột
To break free—To lose—To escape.
vuột tay
To slip from one's fingers.
vài
Some—Few—A few.
vàm
Mouth of a river.
vàng
1) Yellow. 2) Gold.
vàng anh
Oriole.
vàng bạc
Gold and silver.
vàng diêm-phù-đàn
phiên âm từ Phạn ngữ là jambunadasuvarṇa, là tên loại vàng quý nhất có màu vàng tía, được lấy từ đáy một con sông chảy dưới rừng cây diêm-phù nên gọi tên là diêm-phù-đàn.
vàng mười
Pure gold.
vàng nén
Ingot gold.
vàng ròng
See Vàng Mười.
vàng ròng sắc tía
tử ma kim hay tử ma hoàng kim, là loại vàng ròng tinh luyện được xem là quý nhất, màu chói sáng có ửng sắc đỏ tía.
vàng thiệt không sợ lửa
Real (genuine) gold does not melt away in (fear) fire.
vàng tía
Purple-gold Vàng ở cõi Diêm phù.
vàng vàng
Yellowish.
vàng y
See Vàng Mười.
vàng ở cõi diêm phù đàn
JambŪ gold.
vào cảnh giới cao siêu thâm mật của như lai
To enter into the lofty and esoteric realms of the Tathtagata.
vào khoảng
Approximate—About.
vào trí văn thù
To penetrate the wisdom of Manjusri.
vác
To carry (bear) on the shoulder.
vái
To bow with joined hands.
vân
Abhra (S), Cloud Mây, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; Megha (S). Cloud, cloudy, abundant.
; 1) Mây: Megha (skt)—Cloud—Clouds covering the sun—Spreading clouds. 2) Nhiều: Vân tập—Abundant. 3) Nói: To say—To speak.
Vân biền
(雲騈): có hai nghĩa khác nhau. (1) Loại cỗ xe của tiên nhân trong truyền thuyết. Như trong bài Hoa Dương Tiên Sinh Đăng Lâu Bất Phục Hạ Tặng Trình (華陽先生登樓不復下贈呈) của Thẩm Ước (沉約, 441-513) của nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Vân biền bất triển địa, tiên cư đa lệ tiều (雲騈不展地、仙居多麗譙, xe mây chẳng chấm đất, cõi tiên nhiều lầu xinh).” Hay như trong bài tựa Dong Thành Tập Tiên Lục (墉城集仙錄) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có đoạn: “Hoặc vi chân nhân chi hữu, hoặc vi Thiên Đế chi tân, thúc hốt nhi long giá lai nghênh, tham sai nhi vân biền hà mại (或爲眞人之友、或爲天帝之賓、倏忽而龍駕來迎、參差而雲騈遐邁, hoặc là bạn của chân nhân, hoặc là khách của Thiên Đế, bỗng chốc mà xe rồng đến đón, dần dần mà xe tiên xa tít).” (2) Mây lành tụ tập. Như trong Lễ Xá Lợi Tháp Nghi Thức (禮舍利塔儀式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1491) có câu: “Đại địa chúng sơn kỳ thắng xứ, Đỉnh Hồ tú xuất bảo liên phong, vân biền thọ vũ phù đồ hiện, vạn cổ thư quang phước Việt trung (大地眾山奇勝處、鼎湖秀出寶蓮峰、雲騈樹舞浮圖現、萬古舒光福粵中, đại địa núi non kỳ lạ chốn, Đỉnh Hồ xuất hiện báu non sen, mây vờn cây múa chùa tháp hiện, vạn cổ sáng ngời đất Việt trong).”
Vân bản
雲版; J: umpan;|Một tấm bản bằng đồng dùng để báo hiệu từng khoảng thời gian trong ngày của một Thiền viện. Chữ »Vân« được dùng vì tấm bản này thường được viền trang trí xung quanh với dạng mây.|Những dụng cụ tạo âm thanh như vân bản được dùng để thay thế khẩu lệnh trong thời gian Toạ thiền căng thẳng. Âm thanh của vân bản hoặc một chuông đồng có một tác dụng lớn cho một thiền sinh, tuỳ theo tâm trạng của họ. Trong một thiền viện im lặng, tiếng vang của vân bản có thể đi »sâu đến tận tuỷ«, và cũng có thể là một yếu tố để cho các thiền sinh Kiến tính, ngộ đạo.
vân bản
Umban (J), Umpan (J).
; A sort of cloud-shaped gong, struck to indicate the hour.
; Tấm ván đúc theo hình mây, dùng để báo giờ hay tin tức trong tự viện—A sort of cloud-shaped gong, struck to indicate the hour or to announce news in a monastery.
vân chúng thủy chúng
Du Tăng bạn lữ, có nghĩa là áo sãi mây nước hay hành giả vân du đây đó, xem tất cả đều là bạn lữ—Brothers or men of the clouds and waters, fellow monks.
vân cái chí ngung
Yung kai Chih yung (C)Tên một vị sư.
Vân Cư Hy Ưng
(雲居希膺, Ungo Kiyō, 1582-1659): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Giang Hộ, húy Hy Ưng (希膺), đạo hiệu Vân Cư (雲居), hiệu Bả Bất Trú Hiên (把不住軒), nhụ Từ Quang Bất Muội Thiền Sư (慈光不昧禪師), xuất thân vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), người của dòng họ Tiểu Tùng (小松, Komatsu). Ông theo xuất gia thọ giới với Hiền Cốc Tông Lương (賢谷宗良) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), sau theo hầu Đông Mặc (東默) ở Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Năm 1614, trong khi xảy ra trận chiến ở vùng Đại Phản (大阪, Osaka) thì ông ở trong thành, sau ông về ẩn cư ở Thắng Vĩ Tự (勝尾寺) vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu). Ông đã từng giảng Thiền yếu cho Hậu Thủy Vĩ Pháp Hoàng (後水尾法皇, Gomizunoo Hōō), và nhận lời thỉnh cầu của vị Phiên Chủ Phiên Tiên Đài (仙台藩) là Y Đạt Trung Tông (伊達忠宗), ông đến trú trì Thoại Nham Tự (瑞巖寺, Zuigan-ji) ở Tùng Đảo (松島, Matsushima) và phục hưng lại chùa nầy. Ngoài ra ông còn sáng lập ra Đại Mai Tự (大梅寺). Trước tác của ông có Bát Nhã Tâm Kinh Đại Ý (般若心經大意) 1 quyển.
Vân Cư Phổ Trí
(雲居普智, Ungo Fuchi, khoảng giữa thế kỷ thứ 9): nhân vật sống khoảng cuối thời nhà Đường, vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, pháp từ của Phật Quật Duy Tắc (佛窟惟則). Ông trú tại Vân Cư Tự (雲居寺) thuộc Thiên Thai Sơn (天台山) vùng Đài Châu (台州) và chuyên tâm cử xướng học phong của thầy mình. Trước tác của ông có Tâm Cảnh Bất Nhị (心境不二), Vân Cư Tập (雲居集, có tên khác là Phổ Trí Tập [普智集]) 2 quyển.
vân cư thiền sư
Zen master Yun-Ju—See Đạo Ưng Thiền Sư.
vân cư tích
Yun Chu hsi (C)Tên một vị sư.
Vân Cư Ðạo Ưng
雲居道膺; C: yúnjū dàoying; J: ungo dōyō; ?-902; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðộng Sơn Lương Giới. Dòng thiền của Sư là dòng chính của tông Tào Ðộng được truyền đến bây giờ tại Nhật. Dòng của Tổ thứ hai là Tào Sơn Bản Tịch chỉ tồn tại được vài thế hệ (xem biểu đồ cuối sách). |Sư họ Vương, quê ở Ngọc Ðiền, U Châu, xuất gia từ nhỏ và thụ giới cụ túc năm 25 tuổi. Ban đầu, Sư học kinh luật Tiểu thừa rồi tự than »Kẻ đại trượng phu đâu thể chịu luật nghi còng trói« và đến Thuý Vi lưu học ba năm. Sau, nghe người ca ngợi pháp hội Ðộng Sơn, Sư đến tham vấn.|Một hôm, Ðộng Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Ðạp núi đến.« Ðộng Sơn hỏi: »Quả núi nào nên ở?« Sư hỏi lại: »Có quả núi nào chẳng nên ở?« Ðộng Sơn bảo: »Thế thì cả nước đều bị Xà-lê chiếm hết.« Sư thưa: »Chẳng phải.« Ðộng Sơn hỏi: »Thế ấy là ngươi đã được đường vào?« Sư thưa: »Không đường.« Ðộng Sơn hỏi: »Nếu không đường làm sao được cùng Lão tăng gặp nhau?« Sư thưa: »Nếu có đường thì cùng Hoà thượng cách núi vậy.« Ðộng Sơn bảo: »Kẻ này về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng.«|Sư cất am ở riêng, trải qua nhiều ngày không xuống trai đường. Ðộng Sơn hỏi vì sao thì Sư thưa có Thiên thần cúng dường. Chiều đến, Ðộng Sơn gọi Sư vào hỏi: »Am chủ Ưng!« Sư ứng thinh: »Dạ!« Ðộng Sơn hỏi: »Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, là cái gì?« Sư trở về am ngồi yên, Thiên thần tìm không ra mới thôi cúng dường.|Sau khi được Ðộng Sơn Ấn khả, Sư đến Vân Cư trụ trì, học chúng đến rất đông không dưới 1500 chúng, tông phong của Ðộng Sơn rất thịnh hành.|Sư tịch ngày 03 tháng giêng niên hiệu Thiên Phục năm thứ hai đời Ðường sau 30 năm hoằng hoá tại đây.
Vân Cư Đạo Tề
(雲居道齊, Ungo Dōsai, 929-997): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây), họ là Kim (金). Ban đầu ông xuất gia theo Minh Chiếu Đại Sư (明照大師), sau gặp được Thái Khâm (清涼泰欽), khế ngộ cơ duyên và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng sống qua một số nơi trong vòng 30 năm như Song Phong Thiền Viện (雙峰禪院) ở U Cốc Sơn (幽谷山) và Đại Ngu Sơn (大愚山) thuộc vùng Cao An (高安, Tỉnh Giang Tây), rồi Vân Cư Sơn (雲居山) ở Giang Tây (江西). Vào ngày mồng 8 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Chí Đạo (至道), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 48 hạ lạp. Ông có để lại rất nhiều trước ngữ, niêm cổ mà sau này trong Thiền lâm thường dùng đến.
Vân Cư Đạo Ưng
(雲居道膺, Ungo Dōyō, 835?-902): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Ngọc Điền (玉田縣), Kế Môn (薊門), U Châu (幽州, Tỉnh Hà Bắc), họ Vương (王). Lúc còn nhỏ, ông đã lanh lợi, đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại Diên Thọ Tự (延壽寺) ở Phạm Dương (范陽, U Châu). Ban đầu ông chuyên tu trì giới luật Tiểu Thừa, nhưng sau đó đến tham vấn Vô Học (無學) ở Thúy Vi Tự (翠微寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山), Kinh Triệu (京兆). Kế đến, ông tham yết Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đầu tiên, ông dừng chân trú tại Tam Phong (三峰), sau đó đến Vân Cư Sơn (雲居山) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và bắt đầu xiển dương đại pháp. Sống tại đây được 30 năm, đến ngày mồng 3 tháng giêng năm thứ 2 (902) niên hiệu Thiên Phục (天復), ông thị tịch. Ông được ban cho thụy hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師), tháp tên là Viên Tịch (圓寂).
vân cư đạo ưng
Ungo Dōyō (J), Yunzhu Daoying (C).
; Yun Chu Tao yin (C), Yun-chu Tao-ying (C), Yunzhu Daoying (C), Ungo Doyo (J)(901-902) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Động Sơn Lương Giới.
Vân Cương
雲岡; C: yúngāng;|Một vùng hang động nổi tiếng tại Trung Quốc, có nhiều di tích Phật giáo, được xây dựng giữa 460 và 540 và là một trong những di tích văn hoá quan trọng nhất. Người ta tìm thấy 53 hang động, dài trên 1km. Tại đó có khoảng 50 000 tranh tượng Phật, Bồ Tát và các vị Thánh khác. Tượng Phật lớn nhất tại đó cao đến 17m và là một trong những tượng lớn nhất tại Trung Quốc. |Ðộng đầu tiên được xây dựng khoảng năm 460. Trong giai đoạn một, các hang động này được thiết lập do sư Ðàm Dược hướng dẫn, đó là các động số 16-20. Các hang động của giai đoạn này thường có hình tròn. Trong giai đoạn hai (động số 5-10), các động có hình vuông thường có tượng Phật ở giữa, cửa vào có vô số tượng nhỏ, tượng Bồ Tát, hình các thánh tích… Ðộng quan trọng nhất là động số 5, 6, trong đó cuộc đời của Phật Thích-ca, từ lúc sinh ra đến lúc giác ngộ được trình bày lại. Trong một số các động khác, bộ kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) được minh hoạ. Các động cuối cùng được xây vào thời nhà Tuỳ (589-618).|Các động ở Vân Cương là dấu hiệu »sám hối« về việc truy bức đạo Phật trong năm 446, đời nhà Tống và chứng tỏ đạo Phật sau đó được triều đình bảo hộ. Sách vở truyền lại cho thấy việc xây dựng các công trình này vừa do triều đình vừa do giáo đồ đóng góp. Triều đình thì mong được phúc đức để quốc thái dân an, Phật tử thì mong nhờ đó tái sinh trong Tịnh độ.|Nghệ thuật xây dựng và tạc tượng Vân Cương chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Ấn Ðộ (Càn-đà-la) và Trung á; tranh tượng các vị Phật tạo một cảm giác bất động, còn các vị Bồ Tát có vẻ sinh động và gần gủi hơn. Một số trang trí khác như hình rồng, chim, hoa sen, hào quang các vị Phật thì lại thuần tuý nghệ thuật Trung Quốc.
vân cấp thất tiêm
Yunji Qipian (C), Yunchi Ch'i-ch'ien (C), Cloud Book Cassette and Seven Strips of Bamboo Yunji Qipian (C)Bách khoa tự điển Đạo giáo hồi thế kỳ 11 gồm 122 tập.
vân cổ
Trống có vẽ hình mây, dùng để báo giờ cơm trưa trong tự viện—A drum ornamented with clouds for calling to midday meals in a monastery.
Vân Hoa Trí Nghiễm
雲華智儼; 602-668, còn được gọi là Chí Tướng Tôn giả;|Cao tăng kiêm học giả vào đời Đường, về sau được suy tôn như là tổ thứ hai của Hoa Nghiêm tông Trung Hoa. Sư là đệ tử của Đỗ Thuận (杜順), và là thầy của Pháp Tạng (法藏) và Nghĩa Tương (義湘, k: ŭisang). Đương thời, Sư thường được gọi là Chí Tướng Đại sư (至相大師) và Vân Hoa Tôn giả (雲華尊者). Trước khi hành đạo, Sư làm lễ trước Ðại tạng và rút từ đó một quyển kinh ra để tu theo. Quyển kinh đó chính là bộ kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm và từ đây, Sư trì chí tụng đọc kinh này. Sư bắt đầu học Phật với ngài Đỗ Thuận vào năm 12 tuổi tại chùa Chí Tướng ở núi Chung Nam, sau một thời gian, sư thông thạo các giáo lí Đại thừa. Sư thụ giới cụ túc năm 20 tuổi, sau đó sư nghiên cứu sâu vào Tứ phần luật (四分律), A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, Thành thật luận (成實論), Thập địa luận (十地論), kinh Niết-bàn, v.v… Sau đó, sư tập trung nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm và những lí thuyết xuất phát từ kinh nầy. Sư trứ tác khá nhiều. Các tác phẩm của sư gồm có: Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sưu huyền phân tể thông trí phương quỹ (大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌), 10 quyển; Hoa Nghiêm kinh nội chương môn đẳng tạp khổng mục (華嚴經内章門等雜孔目), 4 quyển; Hoa Nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp (華嚴五十要問答), 2 quyển; Hoa Nghiêm nhất thừa thập huyền môn (華嚴一乘十玄門), 1 quyển; Kim Cương Bát-nhã ba-la-mật kinh lược sớ (金剛般若波羅蜜經略疏); Vô tịnh nhiếp luận sớ (無性攝論疏) v.v… Tiểu sử của sư có thể đọc trong quyển thứ 25 của Tục cao tăng truyện (續高僧傳). Để nghiên cứu sâu hơn, xin xem tác phẩm của Gimello (1976) .
vân huynh thủy đệ
Brothers or men of the cloud and waters, fellow-monks.
; See Vân Chúng Thủy Chúng.
Vân hà
云何; C: yún hé; J: unga;|»Vì sao?«, »Ông nghĩ như thế nào?« (s: ka-tham-krtvā).
vân hà
Tại sao?—Why?
vân hàng phục
Xem Di Già.
vân hải
Số lượng nhiều như mây trời hay nước của đại dương—Many as the clouds and waters of the ocean.
vân khai tố tâm
Yun-Kai-Shou-Tsinh (1025-1115)—Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Hoàng Long của tông Lâm Tế, môn đồ và người kế vị Pháp của Hoàng Long Huệ Nam—Chinese Ch'an master of the Lin-Chih Ch'an school, a student and dharma successor of Huang-Lung-Hui-Nan.
vân lôi âm tú vương hoa trí phật
Jaladhara-garjita-ghosa-susvara-naksatra-ràja sankusumità-bhijna (S). A Buddha possessing the wisdom of the Thunder-god and of the flowery stars.
vân lôi âm túc vương hoa trí phật
Djaladhara-gardjitaghochasusvara-nakchatraradjasamkusumitabhidja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
vân lôi âm vươmg
Megha-dundubhi-svara-ràja. Xem Vân lôi âm túc vương hoa trí Phật.
vân lôi âm vương
Megha-Dundubhi-Svara-Raja (skt)—Còn gọi là Vân Túc Vương Hoa Trí (Jaladhara-garjita-ghosa-susvara-naksatra-raja-sankusumita-bhijna), một vị Phật có âm thanh như tiếng nhạc sấm trên mây—A Buddha who has a voice as musical as the sound of the thunder of the clouds and conversant with the appearance of the regents of the naksatras. A Buddha possessing the wisdom of the Thunder-god and of the flowery stars.
vân lôi âm vương như lai
Meghadundubhi-ṣvara-rāja (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
Vân lộ
(雲路): đường mây; có mấy nghĩa khác nhau. (1) Giữa khoảng mây, trên trời. Như trong bài thơ Du Nhiếp Sơn Thê Hà Tự (游攝山栖霞寺) của Giang Tổng (江總, 519-594) nhà Tùy có câu: “Yên nhai khế cổ thạch, vân lộ bài chinh điểu (煙崖憩古石、雲路排征鳥, khói núi nghỉ đá cổ, trên trời chim bay xa).” (2) Con đường trên trời, con đường tiên bay. Như trong Thủy Kinh Chú (水經注), phần Miện Thủy Thượng (沔水上), của Lịch Đạo Nguyên (酈道元, 470-527) nhà Bắc Ngụy, có đoạn: “Công Phòng thăng tiên chi nhật, tế chi hành vị hoàn, bất hoạch đồng giai vân lộ (公房升仙之日、婿之行未還、不獲同階雲路, ngày Công Phòng lên cõi tiên, người con rễ đi chưa về, không được cùng bước lên đường trời).” (3) Chỉ con đường hẹp trên núi cao. Như trong bài thơ Tặng Ích Phủ Bùi Lục Sự (贈益府裴錄事) của Lô Chiêu Lân (盧照鄰, 636-695) nhà Đường có câu: “Thanh sơn vân lộ thâm, đơn hác nguyệt hoa lâm (青山雲路深、丹壑月華臨, núi xanh nẻo mây sâu, hang đỏ trăng điểm hoa).” (4) Chỉ lộ trình xa xôi, mù mịt. Như trong bài thơ Đăng Phục Châu Nam Lâu (登復州南樓) của Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường có câu: “Cố nhân vân lộ cách, hà xứ ký Dao Hoa (故人雲路隔、何處寄瑤華, cố nhân đường mây cách, chốn nào trọ Dao Hoa [tức Ngọc Hoa Cung]).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 3, phần Tiểu Tường (小祥), lại có đoạn: “Dục tư ngô phụ chi vân lộ, tu bằng ngã Phật chi phong quy (欲資吾父之雲路、須憑我佛之風規, muốn giúp thân phụ lên đường mây, nên nương đức Phật ấy phong quy).”
vân môn
The Cloud gate monastery in Quảng Đông, from which Văn Yển derived his tittle, he lived early in the tenth century and founded the Vân Môn thiền tông.
; Tự viện Vân Môn, nơi mà Thiền Sư Văn Uyển đạt được danh hiệu “Vân Môn Văn Yến Thiền Sư”—The Cloud-Gate Monastery in Kuang-Tung province, from which Wen-Yen derived his title—See Vân Môn Văn Yến Thiền Sư.
Vân Môn Khuông Chơn Thiền Sư Quảng Lục
(雲門匡眞禪師廣錄, Unmonkyōshinzenjikōroku): 3 quyển, do Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) nhà Đường soạn, Thủ Kiên (守堅) biên, san hành vào năm thứ 9 (1076) niên hiệu Hy Ninh (熙寧) nhà Tống. Quyển thượng thâu lục 320 tắc đối cơ, những bài ca 12 thời, các kệ tụng; quyển trung gồm 185 tắc ngữ yếu trong thất, 290 tắc lời dạy thùy thị; và quyển hạ có 165 tắc khám biện, 31 tắc du phương tham học, các di biểu, di giới, hành lục, thỉnh sớ. Viên Giác Tông Diễn (圓覺宗演) ở Cổ Sơn (鼓山), Phúc Châu (福州) hiệu đính bộ này, Tô Giải (蘇澥) ghi lời tựa và cho san hành. Tại Nhật Bản cũng được lưu truyền rộng rãi với các bản như Bản Ngũ Sơn, bản năm thứ 18 (1613) niên hiệu Khánh Trường (慶長), bản năm thứ 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.
Vân Môn Tông
(雲門宗, Unmon-shū): một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc; Vân Môn Văn Yển (雲門文偃), pháp từ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), được xem như là Tổ khai sáng tông này. Ban đầu Văn Yển đến tham vấn Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤), rồi sau đó đến hầu hạ Tuyết Phong Nghĩa Tồn và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông chuyển đến trú tại Vân Môn Sơn Quang Thái Thiền Viện (雲門山光泰禪院) ở Thiều Châu (韶州, Tỉnh Quảng Đông) nỗ lực cử xướng Thiền phong của mình. Môn hạ của ông rất đông, kế thừa tông phong của ông và truyền bá khắp thiên hạ, hình thành nên một tông phái riêng gọi là Vân Môn Tông. Tông phong của phái này là cơ phong sắc bén; ngữ cú thì giản đơn và phương tiện tiếp hóa dứt khoát khác với các tông kia. Rất nhiều bậc kiệt xuất ra đời trong Vân Môn Tông; dưới thời nhà Tống thì tông này cùng phát triển mạnh song song với Lâm Tế Tông, đặc biệt mở rộng trong xã hội thượng tầng; nhưng đến thời Nam Tống thì từ từ suy yếu, đến thời nhà Nguyên thì hoàn toàn tuyệt dứt dòng pháp hệ, rồi lụi tàn với khoảng 200 năm tồn tại.
Vân Môn tông
雲門宗; C: yúnmén-zōng; J: ummon-shū;|Vân Môn Văn Yển, Ngũ gia thất tông.
vân môn tông
Ummon-shŪ (J)Tên một tông phái.
; Một dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Vân Môn Văn Yển—A Zen sect established by Yun-Mên-Wên-Yen (864-949)—See Vân Môn Văn Yển Thiền Sư.
Vân Môn Văn Yển
(雲門文偃, Unmon Bunen, 864-949): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Gia Hưng (嘉興, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Trương (張). Ngay từ hồi còn nhỏ ông đã có chí xuất gia, nên ông đã theo đầu sư với Chí Trừng Luật Sư (志澄律師) ở Không Vương Tự (空王寺, tức Đâu Suất Tự), năm lên 17 tuổi thì xuống tóc xuất gia, rồi đến năm 20 tuổi thì thọ Cụ Túc giới tại giới đàn ở Tỳ Lăng (毘陵, thuộc Tỉnh Giang Tô); sau ông trở về tu học với Chí Trừng và chuyên học về Tứ Phần Luật, v.v. Về sau, ông có đến tham vấn Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤), người kế thừa dòng pháp của Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), rồi đến tham yết Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông từ giã Tuyết Phong để đi ngao du khắp các nơi và giao du với rất nhiều Thiền sư. Vào năm 923, ông kiến lập một ngôi Thiền đường tại Vân Môn Sơn, và tương truyền thông thường có khoảng hơn 1000 đại chúng sinh hoạt nơi đây. Ngoài ra, thỉnh thoảng ông có vào trong triều nội nhà Nam Hán thuyết pháp, đến năm thứ 2 (927) niên hiệu Thiên Thành (天成), ngôi Quang Thái Thiền Viện (光泰禪院) của ông được ban sắc ngạch của nhà vua, rồi đến năm thứ 3 (938) niên hiệu Thiên Phước (天福), ông được ban cho hiệu Khuông Chơn Đại Sư (匡眞大師). Rồi vào năm thứ 4 (964) niên hiệu Kiến Long (建隆), ông đổi tên Chứng Chơn Thiền Tự (証眞禪寺) thành Đại Giác Thiền Tự (大覺禪寺). Sau khi sống tại Vân Môn Sơn được khoảng hơn 30 năm, ông thị tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 4 năm thứ 7 niên hiệu Càn Hòa (乾和) nhà Nam Hán.
; 雲門文偃; C: yúnmén wényǎn; J: ummon bun'en; 864-949; |Thiền sư Trung Quốc lỗi lạc, khai sáng Vân Môn tông. Sư nối pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn và là thầy của nhiều vị đạt đạo như Hương Lâm Trừng Viễn, Ðộng Sơn Thủ Sơ, Ba Lăng Hạo Giám v.v… (khoảng 60 vị). Những pháp ngữ quan trọng nhất của Sư được ghi lại trong Vân Môn Khuông Chân Thiền sư quảng lục (雲門匡眞禪師廣錄).|Sư họ Trương, quê ở Gia Hưng. Lúc nhỏ theo Luật sư Chí Trừng chùa Không Vương xuất gia và thụ giới tại giới đàn Tì Lăng. Hầu hạ Chí Trừng vài năm, Sư đến Mục Châu (Trần Tôn Túc) hỏi đạo. Mục Châu thấy Sư liền đóng cửa lại. Sư đến gõ cửa, Mục Châu hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con.« Mục Châu hỏi: »Làm gì?« Sư thưa: »Việc mình chưa sáng, xin thầy chỉ dạy.« Mục Châu mở cửa, thấy Sư liền đóng lại. Sư cứ đến như vậy ba ngày liên tục. Lần thứ ba, Mục Châu vừa hé cửa, Sư liền chen vào, Mục Châu bèn nắm đứng Sư bảo: »Nói! Nói!« Sư vừa suy nghĩ, Mục Châu xô ra bảo: »Cây dùi đời Tần« và đóng cửa lại khiến một chân Sư bị thương. Sư nhân đây có ngộ nhập. Mục Châu khuyên Sư đến Tuyết Phong và nơi đây, Sư được ấn khả. Lúc đầu, Sư trụ trì chùa Linh Thụ một thời gian, sau đến Vân Môn trụ trì chùa Quang Thới, học chúng tụ tập rất đông.|Sư thượng đường, đưa cây gậy trong tay lên bảo chúng: »Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ Tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.«|Những lời dạy của Sư rất được ưa chuộng trong giới thiền sau này và không có vị nào khác Sư được nhắc đến nhiều trong các tập Công án lớn (Bích nham lục, 18 công án, Vô môn quan, 5 công án). Người ta nói rằng, pháp ngữ của Sư lúc nào cũng đạt đủ ba điều kiện: 1. Thích hợp với câu hỏi như »nắp đậy nồi«; 2. Có năng lực cắt đứt vô minh, suy nghĩ cảm giác phân biệt như một cây gươm bén và 3. Thích hợp với khả năng tiếp thu của người hỏi như »một làn sóng theo một làn sóng.«||H 73: Thiền sư Vân Môn, Bạch Ẩn Huệ Hạc minh hoạ.|Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên sử dụng những lời vấn đáp của các vị tiền nhân để giảng dạy, và từ đây xuất phát ra phương pháp khán Thoại đầu của Thiền tông sau này. Thông thường, Sư đưa ra một »câu trả lời khác« (別語; biệt ngữ; j: betsugo) những câu trả lời trong những cuộc Vấn đáp (j: mondō) hoặc Pháp chiến (j: hossen) được Sư nêu ra giảng dạy. Sau đó Sư lại nêu ra một câu hỏi và tự trả lời thay cho đại chúng với một »câu thay thế« (代語; đại ngữ; j: daigo), như trong công án thứ 6 của Bích nham lục:|Sư bảo: »Mười lăm ngày về trước chẳng hỏi ông, mười lăm ngày về sau thử nói một câu xem?« Sư tự đáp thay chúng tăng: »Ngày qua ngày, ngày nào cũng là ngày tốt« (Nhật nhật thị hảo nhật).|Những câu trả lời của Sư có lúc chỉ là một chữ duy nhất (Nhất tự quan); chúng được xem là những công án hiệu nghiệm nhất trong thiền ngữ.||H 74: »Ngày qua ngày, ngày nào cũng là ngày tốt« (Bút pháp của Thiện Thuận).|Mặc dù Sư rất đề cao việc dùng ngôn ngữ sống động (hoạt cú) để dạy và sử dụng nó rất tài tình nhưng Sư lại rất kị ngôn ngữ trên giấy và nghiêm cấm môn đệ không được ghi chép lại những lời dạy của mình. Nhiều pháp ngữ của Sư còn được truyền lại đến ngày nay là nhờ một môn đệ lén viết vào một ca-sa rồi sau đó mang xuống núi. Tông của Sư được lưu truyền đến thế kỉ 12 và các vị kế thừa tông này đều đóng góp nhiều cho việc lưu giữ thiền ngữ cho những thế hệ sau.|Niên hiệu Càn Hoà năm thứ bảy (949) nhà Hán, ngày mùng 10 tháng 4, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch thọ 81 tuổi.
vân môn văn yển
Ummon Bunyen (J), Yun men Wen Yen (C), Ummon Bun'en (J), Ummon Bunyen (J)Tên một vị sư. (864-949).
vân môn văn yển thiền sư
Yun-Mên-Wên-Yen (864-949)—Thiền Sư Vân Môn, tên thật là Trương Tuyết Phong, sanh năm 864, môn đồ và người kế vị Pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, là thầy của Hương Lâm Trừng Viễn, Động Sơn Thủ Sơ, và Ba Lăng Hảo Kiếm. Ông là một thiền sư nổi tiếng vào cuối đời nhà Đường, một người giống như Lâm Tế, sử dụng ngôn ngữ và chiến thuật mạnh bạo để tác động môn sinh đạt tự ngộ. Ông đã sáng lập ra Vân Môn Tông—Zen master Wen-Men, his name was Chang-Hsueh-Feng, was born in 864, a student and dharma successor of Hsueh-Feng-I-Ts'un, and the master of Hsiang-Lin-Ch'eng-Yuan, Tung-Shan-Shou-Chu, and Pa-Ling-Hao-Chien. He was a noted monk during the end of the T'ang dynasty, who, like Lin-Ji, used vigorous language and jarring tactics to bring his disciples to self-awakening. He founded the Cloud-Gate Sect. • Cơ duyên giác ngộ của Vân Môn giới học thiền đều được biết đến. Khi tìm đến “tham độc” với Mục Châu, người sau nầy trở thành Thầy của ông, Vân Môn gõ cánh cửa nhỏ bên cạnh cổng lớn đi vào chùa Mục Châu. Mục Châu gọi ra: “Ai thế?” Vân Môn đáp: “Văn Yến.” Mục Châu thường không cho ai “độc tham” trừ phi người ấy có nhiệt tình. Tuy nhiên, ông cảm thấy hài lòng với cách gõ cửa của Vân Môn, chứng tỏ Vân Môn rất hăng say nỗ lực vì đạo và chấp nhận cho Vân Môn “độc tham.” Vân Môn vừa bước vào thì Mục Châu nhận ra ngay phong thái của Vân Môn, bèn nắm vai bảo Vân Môn: “Nhanh lên, nói đi, nói đi!” Nhưng Vân Môn vẫn chưa ngộ nên không thể đáp ứng được. Để đẩy tâm Vân Môn đến chỗ giác ngộ, đột nhiên Mục Châu đẩy Vân Môn qua cánh cửa đang hé mở và đóng sầm cánh cửa vào chân của Vân Môn, hét: “Đồ vô tích sự,” cùng với tiếng kêu: “Úi chà!” Mục Châu liền đẩy Vân Môn ra khỏi cửa, cánh cửa đóp sập lại làm cho một bàn chân của Vân Môn bị kẹt lại trong đó và gãy đi. Trong cơn đau ngất, tâm của Vân Môn lúc ấy đã trống rỗng mọi tư niệm, bỗng nhiên giác ngộ. Trường hợp của sư không phải là một biệt lệ, vì trước đó nhị Tổ Huệ Khả cũng đã từng chặt một cánh tay khi đứng trong tuyết lạnh, và Đức Khổng Phu Tử cũng từng nói “Sớm nghe được đạo, chiều dẫu có chết cũng cam.” Trên đời nầy quả có nhiều người coi trọng chân lý hơn thân mạng—The circumstances of Yun-Mên's enlightenment are known to all Zen practitioners. Seeking “private consultation” with Mu-Chou, who became his master later on, Yun-Mên rapped on the little door on the side of the large gateway leading to Mu-Chou's temple. Mu-Chou called out: “Who is it?” Yun Mên answered, “Wen-Yen” Mu-Chou, whose habit it was to refuse “private consultation” to all but the most ardent truth-seekers, felt satisfied from Yun-Mên's knock and the tone of his voice that he was earnestly striving for truth, and admitted him. Scarcely had he entered when Mu-Chou, perceiving the state of his mind, seized him by the shoulders and demanded: “Quick, say it, say it!” But Yun-Mên not yet undrstanding, could not respond. To jolt his mind into understanding, Mu-Chou suddenly shoved him out through the partly opened door and slammed it on his leg, shouting: “You good-for-nothing!” With a cry of “Ouch!” While the door was hastily shut, one of Yun-Men's legs was caught and broken. Yun-Mên , whose mind at that moment was emptied of every thought. The intense pain resulting from this apparently awakened the poor fellow to the greatest fact of life. He suddenly became enlightened. The realization now gained paid more than enough for the loss of his leg. He was not, however, a sole instance in this respect, there were many such in the history of Zen who were willing to sacrifice a part of the body for the truth, i.e., Hui-K'o, the second patriarch, who cut his hand while standing in the snow. Confucius also said: “If a man understands the Tao in the morning, it is well with him even when he dies in the evening.” In this life, some would feel indeed that truth is of more value than their own lives. • Vân Môn là một trong những thiền sư xuất sắc nhất trong lịch sử Thiền của Trung Quốc. Tên của ông được nhắc đến trong các ví dụ 15, 16, 21, 39 và 48 của Vô Môn Quan; và 6, 8, 14, 15, 22, 27, 34, 39, 47, 50, 54, 60, 62, 77, 83, 86, 87 và 88 trong Bích Nham Lục. Những thuyết giảng chính của ông được lưu lại trong Vân Môn Quảng Châu Thiền Sư Quang Lục (Sưu tập những lời chính của thiền sư Quảng Châu ở núi Vân Môn)—Yun Men was one of the most important Ch'an masters and one of the last most noted Ch'an masters in the history of Ch'an in China. We encounter Yun Men in examples 15, 16, 21, 39, and 48 of the Wu-Men-Kuan, and the examples 6, 8, 14, 15, 22, 27, 34, 39, 47, 50, 54, 60, 62, 77, 83, 86, 87, and 88 of the Pi-Yan-Lu. The most important of his sayings and teachings are recorded in the Yun-Men Kuang-Chou-Ch'an-Shih-Kuang-Lu (Record of the Essentials Words of Ch'an Master K'uang-Chou from Mount Yun-Men). • Vân Môn có tới hơn 60 người kế vị Pháp, ông nổi tiếng về phương pháp đào tạo nghiêm khắc chẳng kém gì phương pháp của Mục Châu. Ông lập ra phái Vân Môn, tồn tại đến thế kỷ thứ 12. Các hậu duệ của Vân Môn đã góp phần to lớn trong việc truyền thụ thiền cho đời sau. Người được biết đến nhiều nhứt là Đại sư Tuyết Đậu Trùng Hiển (cháu trong Dharma của Vân Môn), người đã tập hợp và công bố những lời dạy hay công án thiền của các thầy xưa. Đó là cơ sở để sau nầy Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần dùng để soạn bộ Bích Nham Lục—Yun Men had more than sixty dharma successors, was known, like master Mu-Chou, as a particularly strict Ch'an master. He founded the Yun Men schol of Ch'an, which survived until the 12th century. The dharma heirs of Yun Men played a major role in the preservation of Ch'an literature for later generations. The best known of them is Yun-Men's “great-grandson in dharma,” the great master Hsueh-T'ou Ch'ung-Hsien, who collected a hundred examples of the ancient masters and provided them with “praises.” These masters Yuan-Wu-K'o-Ch'in later made the basis of his edition of the Pi-Yan-Lu. • Sư đến trang sở của Tuyết Phong, thấy một vị Tăng, bèn hỏi: “Hôm nay Thượng Tọa lên núi chăng?” Tăng đáp: “Lên.” Sư nói: “Có một nhơn duyên nhờ hỏi Hòa Thượng Đường Đầu mà không được nói với ai, được chăng?” Tăng bảo: “Được.” Sư nói: “Thượng Tọa lên núi thấy Hòa Thượng thượng đường, chúng vừa nhóm họp, liền đi ra đứng nắm cổ tay, nói: “Ông già! Trên cổ mang gông sao chẳng cởi đi?” Vị Tăng ấy làm đúng như lời sư dặn. Tuyết Phong bước xuống tòa, thộp ngực ông ta, bảo: “Nói mau! Nói mau! Vị Tăng nói không được. Tuyết Phong buông ra, bảo: “Chẳng phải lời của ngươi.” Vị Tăng thưa: “Lời của con.” Tuyết Phong gọi: “Thị giả! Đem dây gậy lại đây.” Vị Tăng thưa: “Chẳng phải lời của con, là lời của một Hòa Thượng ở Chiết Trung đang ngụ tại trang sở dạy con nói như thế.” Tuyết Phong bảo: “Đại chúng! Đến trang sở rước vị thiện tri thức của năm trăm người lên.” Hôm sau, sư lên Tuyết Phong. Tuyết Phong vừa thấy liền hỏi: “Nhơn sao được đến chỗ ấy?” Sư bèn cúi đầu. Từ đây khế hợp ôn nghiên tích lũy. Tuyết Phong thầm trao tông ấn cho sư—Mu-Chou directed Yun-Men to go to see Xue-Feng. When Yun-Men arrived at a village at the foot of Mount Xue, he encountered a monk. Yun-Men asked him: “Are you going back up the mountain today?” The monk said: “Yes.” Yun-Men said: “Please take a question to ask the abbot. But you mustn't tell him it's from someone else.” The monk said: “Okay.” Yun-Men said: “When you go to the temple, wait until the moment when all the monks have assembled and the abbot has ascended the Dharma seat. Then step forward, grasp your hands, and say: 'There's an iron cangue on this old fellow's head. Why not remove it'?” The monk did as Yun-Men instructed him. When Xue-Feng saw the monk act this way, he got down from the seat, grabbed the monk and said: “Speak! Speak!” The monk couldn't answer. Xue-Feng pushed him away and said: “It wasn't your own speech.” The monk said: “It was mine.” Xue-Feng called to his attendant: “Bring a rope and a stick.” (in order to bind and beat the monk). The monk said: “It wasn't my question. It was from a monk in the village.” Xue-Feng said: “Everyone! Go to the village and welcome the wrothy who will have five hundred disciples.” The next day Yun-Men came up to the monastery. When Xue-Feng saw him he said: “How is it that you have reached this place?” Yun-Men then bowed his head. In this manner did the affinity (between Xue-Feng and Yun-Men) come about. • Vân Môn thường nói một cách tích cực về an tâm lập mệnh và cái giàu phi thế tục của ngài. Thay vì nói chỉ có đôi tay không, ngài lại nói về muôn vật trong đời, nào đèn trăng quạt gió, nào kho vô tận, thật quá đủ lắm rồi như chúng ta có thể thấy qua bài thơ sau đây: Hoa xuân muôn đóa, bóng trăng thu Hạ có gió vàng, đông tuyết rơi Tuyết nguyệt phong ba lòng chẳng chấp Mỗi mùa mỗi thú mặc tình chơi. —Zen master Yun-Men always talked positively about his contentment and unworldly riches. Instead of saying that he is empty-handed, he talked of the natural sufficiency of things about him as we can see throught this poem: “Hundreds of spring flowers; the autumnal moon; A refreshing summer breeze; winter snow: Free your mind of all idle thoughts, And for you how enjoyable every season is!” Theo Thiền sư D. T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, bài thơ nầy không ngụ ý tác giả ăn không ngồi rồi hay không làm gì khác, hoặc không có gì khác hơn để làm hơn là thưởng thức hoa đào nở trong nắng sớm, hay ngắm vầng trăng trong tuyết bạc đìu hiu. Ngược lại, ngài có thể đang hăng say làm việc, hoặc đang dạy đệ tử, hoặc đang tụng kinh, quét chùa hay dẫy cỏ như thường lệ, nhưng lòng tràn ngập một niềm thanh tịnh khinh an. Mọi mong cầu đều xả bỏ hết, không còn một vọng tưởng nào gây trở ngại cho tâm trí ứng dụng dọc ngang, do đó tâm của ngài lúc bấy giờ là tâm 'không,' thân là 'thân nghèo.' Vì nghèo nên ngài biết thưởng thức hoa xuân, biết ngắm trăng thu. Trái lại, nếu có của thế gian chồng chất đầy con tim, thì còn chỗ nào dành cho những lạc thú thần tiên ấy. Kỳ thật, theo sư Vân Môn thì sự tích trữ của cải chỉ toàn tạo nghịch duyên khó thích hợp với những lý tưởng thánh thiện, chính vì thế mà sư nghèo. Theo sư thì mục đích của nhà Thiền là buông bỏ chấp trước. Không riêng gì của cải, mà ngay cả mọi chấp trước đều là của cải, là tích trữ tài sản. Còn Thiền thì dạy buông bỏ tất cả vật sở hữu, mục đích là làm cho con người trở nên nghèo và khiêm cung từ tốn. Trái lại, học thức khiến con người thêm giàu sang cao ngạo. Vì học tức là nắm giữ, là chấp; càng học càng có thêm, nên 'càng biết càng lo, kiến thức càng cao thì khổ não càng lắm.' Đối với Thiền, những thứ ấy chỉ là khổ công bắt gió mà thôi—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, this poem is not to convey the idea that he is idly sitting and doing nothing particularly; or that he has nothing else to do but to enjoy the cherry-blossoms fragrant in the morning sun, or the lonely moon white and silvery. In the contrary, he may be in the midst of work, teaching pupils, reading the sutras, sweeping and farming as all the master have done, and yet his own mind is filled with transcendental happiness and quietude. All hankerings of the heart have departed, there are no idle thoughts clogging the flow of life-activity, and thus he is empty and poverty-stricken. As he is poverty-stricken, he knows how to enjoy the 'spring flowers' and the 'autumnal moon.' When worldly riches are amassed in his heart, there is no room left there for such celestial enjoyments. In fact, according to Zen master Yun-Men, the amassing of wealth has always resulted in producing characters that do not go very well with our ideals of saintliness, thus he was always poor. The aim of Zen discipline is to attain to the state of 'non-attainment.' All knowledge is an acquisition and accumulation, whereas Zen proposes to deprive one of all one's possessions. The spirit is to make one poor and humble, thoroughly cleansed of inner impurities. On the contrary, learning makes one rich and arrogant. Because learning is earning, the more learned, the richer, and therefore 'in much wisdom is much grief; and he that increased knowledge increased sorrow.' It is after all, Zen emphasizes that this is only a 'vanity and a striving after wind.' • Vân Môn thuộc vào số các đại thiền sư đã xử dụng một cách có hệ thống những lời dạy của tiền bối làm phương pháp đào tạo đệ tử từ tập quán nầy mà có phương pháp “công án”—Yun-Men was among the first of the great Ch'an masters to use the words of preceding masters as a systematic means of training monks. This type of training eventually developed into “koan” practice. • Những câu trả lời và châm ngôn của Vân Môn rất được coi trọng trong truyền thống nhà Thiền. Không một thầy nào được dẫn ra nhiều như ông trong các sưu tập công án. Những lời của ông bao giờ cũng có đủ ba điều kiện của một châm ngôn Thiền có hiệu quả—Master Yun-Men's sayings and answers are highly prized in Ch'an tradition. No other master's words are so frequently cited in the great koan colections as his. It is said that his words always fulfill three important qualificationsof a “Zen word.” a) Những câu trả lời của ông đáp ứng đúng những câu hỏi đặt ra như “cái nắp vừa khít cái hộp.”—His answers correspond to the question posed “the way a lid fits a jar.” b) Những câu trả lời của ông có sức mạnh như một lưỡi kiếm sắc bén chọc thủng sự mù quáng, những ý nghĩ và tình cảm nhị nguyên của học trò—They have the power to cut through the delusion of his students' dualistic way of thinking and feeling like a sharp sword. c) Những câu trả lời của ông thích hợp với trình độ hiểu và với trạng thái ý thức chốc lát của người nghe một cách tự nhiên, giống như “hết đợt sóng nầy đến đợt sóng khác.”—His answers follow the capacity foe understanding and momentary state of mind of the questioner “as one wave follows the previous one.” • Tuy Vân Môn là người biết xử dụng những lời dạy sinh động của các thầy xưa, nhưng ông tỏ ra rất ngờ vực những từ ngữ được viết ra, những từ nầy dễ đọc nhưng không phải lúc nào người ta cũng hiểu được ý nghĩa sâu sắc của chúng. Vì thế ông cấm không cho đệ tử viết lại những lời của mình. Chính nhờ một môn đồ đã bất chấp sự cấm đoán, ghi lại những lời ông dạy trên một chiếc áo dài bằng giấy khi dự các buổi giảng , mà nhiều châm ngôn và lời giải thích bất hủ của đại sư mới còn lại đến ngày nay—Yun-Men, who made such skillful use himself of the words of the ancient masters, was at the same time very mistrustful of the written word, which could all too easily be understood literally but not really grasped. Thus he forbade his students to write his sayings down. Owing to one of his followers, who attended his discourses wearing a paper robe on which he took notes in spite of the ban, that many of the imperishable sayings and explanations of the great Ch'an master have been preserved. • Sư thị tịch năm 949—He died in 949.
vân môn đạo tín
Yun men Tao hsin (C)Tên một vị sư.
Vân nghê
(雲霓、雲蜺): có hai nghĩa. (1) Cầu vồng. Như trong Mạnh Tử (孟子), Lương Huệ Vương (梁惠王) có câu: “Dân vọng chi, nhược đại hạn chi vọng vân nghê dã (民望之、若大旱之望雲霓也, người dân trông đợi đó, như đại hạn trông đợi cầu vồng vậy).” Triệu Kì (趙岐, 108-201), nhà kinh học thời Đông Hán, chú thích rằng: “Nghê, hồng dã, vũ tắc hồng hiện; cố đại hạn nhi tư hiện chi (霓、虹也、雨則虹見、故大旱而思見之, nghê là cầu vồng, trời mưa thì cầu vồng hiện; cho nên khi hạn hán lớn thì mong nó hiện ra).” Hay trong Đàm Tân Văn Tập (鐔津文集, Taishō Vol. 52, No. 2115) quyển 17, bài Hạ Nhật Vô Vũ (夏日無雨), lại có đoạn: “Sơn trung khổ vô vũ, nhật nhật vọng vân nghê, tiểu thử phục đại thử, thâm khê thành thiển khê (山中苦無雨、日日望雲霓、小暑復大暑、深溪成淺溪, trong núi không mưa khổ, ngày ngày ngóng cầu vồng, nắng nhỏ lại nắng lớn, khe sâu thành khe cạn).” (2) Mượn chỉ bầu trời cao. Như trong bài thơ Vọng Cửu Hoa Sơn (望九華山) của Sài Quỳ (柴夔, ?-?) nhà Đường có câu: “Cửu Hoa như kiếm sáp vân nghê, thanh ái liên không vọng dục mê (九華如劍插雲霓、青靄連空望欲迷, Cửu Hoa như kiếm cắm trời cao, xanh khí trên không ngắm muốn say).”
Vân Ngoại Vân Tụ
(雲外雲岫, Ungai Unshū, 1242-1324): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Vân Ngoại (雲外), tùy theo từng chỗ ở mà tên gọi của ông khác nhau như Trí Môn Vân Tụ (智門雲岫), Thiên Đồng Vân Tụ (天童雲岫), xuất thân Xương Quốc (昌國, Tỉnh Triết Giang), biệt hiệu là Phương Nham (方嵓), họ Lý (李). Ông theo xuất gia với Trực Ông Đức Cử (直翁德擧) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Thạch Môn (石門), Từ Khê (慈谿), nhưng rồi lại chuyển đến các nơi khác như Trí Môn (智門) ở Tượng Sơn (象山), và Thiên Ninh Tự (天寧寺) ở Huyện Ngân (鄞縣). Hơn nữa, ông còn chuyển đến Thiên Đồng (天童), Tứ Minh (四明) và cử xướng tông phong ở nơi đây. Vào ngày 22 tháng 8 năm đầu niên hiệu Thái Định (泰定), ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi đời và 65 hạ lạp. Ông tuy người nhỏ con nhưng rất lanh lẹ, hoạt bát; thuyết pháp lại hay nên tương truyền có người từ Nhật Bản, Triều Tiên hâm mộ tiếng ông nên đã đến đạo tràng của ông để nghe thuyết giảng. Trước tác của ông có Bảo Kính Tam Muội Huyền Nghĩa (寳鏡三昧玄義). Đệ tử có những nhân vật kiệt xuất như Vô Ấn Đại Chứng (無印大証), Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵), v.v. Đông Lăng là người đã từng sang Nhật Bản và sống tại hai chùa Nam Thiền và Thiên Long. Bộ Trí Môn Vân Ngoại Hòa Thượng Ngữ Lục (智門雲外和尚語錄), Vân Ngoại Vân Tụ Thiền Sư Ngữ Lục (雲外雲岫禪師語錄) có lời tựa đề năm thứ 4 (1300) niên hiệu Đại Đức (大德) là trước tác do môn nhân Sĩ Thảm (士慘) biên tập và san hành. Hai bộ này được san hành tại Nhật vào năm thứ 3 (1746) niên hiệu Diên Hưởng (延享). Văn Tú (文秀) soạn bản Thiên Đồng Vân Ngoại Thiền Sư Truyện (天童雲外禪師傳).
Vân Ngọa Kỷ Đàm
(雲臥紀談, Ungakidan): xem Cảm Sơn Vân Ngọa Kỷ Đàm (感山雲臥紀談, Kanzanungakidan) ở trên.
Vân Nham Tự
(雲巖寺, Ungan-ji): ngôi chùa thuộc Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派), Tông Lâm Tế, hiệu núi là Đông Sơn (東山), hiện tọa lạc ở số 27 Unganji (雲岩寺), Ōtawara-shi (大田原市), Tochigi-ken (栃木縣); tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai. Tương truyền vào khoảng niên hiệu Đại Trị (大治, 1126-1131), thì Tẩu Nguyên (叟元) khai sáng chùa này; đến năm thứ 4 (1281), Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) đến sống ở vùng đất này. Khi ấy Cao Lê Thắng Nguyện Pháp Ấn (高梨勝願法印) mới đến đến lễ bái xin làm đệ tử của Hiển Nhật, rồi dâng cúng miếng đất để xây chùa. Cũng cùng năm đó, Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hoji Tokimune) kiến lập thành ngôi Thiền tự. Hiển Nhật bèn cung thỉnh thầy ông là Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) đến làm Tổ khai sơn của chùa, còn ông thì làm Tổ đời thứ hai. Về sau, chùa cũng gặp bao phen hỏa họa, cháy rụi cả chùa, nhưng sau lại được Vô Trú Diệu Đức (無住妙德) trùng tu lại như cũ. Đặc biệt trong khuôn viên chùa có tấm bia khắc bài ca Haiku, đối đáp qua lại giữa Thiền Sư Phật Đảnh (佛頂) và Tùng Vĩ Ba Tiêu (松尾芭蕉, Matsuo Bashō).
Vân Nham Ðàm Thạnh
雲巖曇晟; C: yúnyán tánshèng; J: ungan don-jō; 781-841;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Ðộng Sơn Lương Giới là môn đệ giỏi nhất của Sư, là người khai sáng tông Tào Ðộng.|Lúc đầu, Sư đến học nơi Bách Trượng nhưng ở đây hai mươi năm đến lúc Bách Trượng tịch vẫn chưa sáng tỏ. Ðến Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Bách Trượng đến« Dược Sơn hỏi: »Bách Trượng có ngôn cú gì dạy đồ chúng?« Sư thưa: »Bình thường Ngài nói: ›Ta có một câu đầy đủ trăm vị.‹« Dược Sơn bảo: »Mặn là vị mặn, lạt là vị lạt, chẳng mặn chẳng lạt là vị bình thường, thế nào là một câu đầy đủ trăm vị?« Sư không đáp được. Dược Sơn hỏi tiếp: »Sinh tử trước mắt làm sao tránh?«. Sư thưa: »Trước mắt không sinh tử.« Dược Sơn hỏi: »Ở Bách Trượng bao nhiêu lâu?« Sư thưa: »Hai mươi năm«. Dược Sơn bảo: »Hai mươi năm nơi Bách Trượng mà Tập khí trần tục vẫn chẳng trừ.«|Ngày khác – nhân lúc Sư đứng hầu – Dược Sơn hỏi: »Bách Trượng lại nói pháp gì?« Sư trình: »Có khi thượng đường, đại chúng nhóm họp xong, Ngài lấy gậy đuổi tan, rồi gọi đại chúng. Ðại chúng xoay đầu nhìn lại thì Ngày hỏi: ›Là cái gì?‹« Dược Sơn bảo: »Sao chẳng sớm nói như thế! Ngày nay do ngươi mà ta được thấy Hải huynh.« Sư nghe câu này triệt ngộ.|Sau, Sư đến núi Vân Nham trụ trì, tuỳ duyên hoằng giáo. Một vị tăng hỏi: »Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?« Sư hỏi lại: »Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?« Tăng không đáp được, Sư hỏi: »Hội chăng?« Tăng thưa: »Chẳng hội.« Sư bảo: »Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái, bên phải.«|Ngày 26 tháng 10 năm đầu niên hiệu Hội Xương đời Ðường, Sư có chút bệnh, tắm gội xong gọi Tri sự vào bảo: »Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng toạ đi.« Tối hôm 27, Sư viên tịch, thọ 60 tuổi.
vân nham đàm thạnh
Yun yen Tan Cheng (C), Ungan Donjō (J).
vân nham đàm thạnh thiền sư
Zen master Yun-Yan-T'an-Sheng—See Đàm Thạnh Vân Nham Thiền Sư.
Vân Nham Đàm Thịnh
(雲巖曇晟, Ungan Donjō, 782-841): người vùng Kiến Xương (建昌), Chung Lục (鐘陸), họ là Vương (王). Hồi còn nhỏ ông xuất gia ở Thạch Môn (石門), theo tham học với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海) trong suốt 20 năm, nhưng cuối cùng lại kế thừa dòng pháp của Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟儼). Sau ông đến cử xướng tông phong tại Vân Nham Sơn (雲巖山), Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam). Môn hạ của ông có Động Sơn Lương Giới (洞山良价). Vào tháng 10 năm đầu niên hiệu Hội Xương (會昌), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Vô Trú Đại Sư (無住大師).
vân nạp
Du Tăng—Homeless or roaming monks—See Vân Chúng Thủy Chúng.
Vân Phong
雲峰; ?-956|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 3. Sư nối pháp Thiền sư Thiện Hội và truyền lại cho đệ tử là Thái sư Khuông Việt.|Sư họ Nguyễn, quê ở Từ Liêm, quận Vĩnh Khang. Khi mẹ sinh Sư ra, hào quang chiếu đầy nhà. Vì thấy sự linh dị này nên cha mẹ cho phép Sư xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu thiền sư Thiện Hội ở chùa Ðịnh Thiền, làng Siêu Loại. Thiện Hội thường bảo: »Sống chết là việc lớn, cần phải thấu triệt.«Một hôm, Sư hỏi Thiện Hội: »Khi sống chết đến làm sao tránh?« Thiện Hội bảo: »Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.« Sư hỏi: »Thế nào là chỗ không sống chết?« Thiện Hội bảo: »Ngay trong sống chết nhận lấy mới được.« Sư hỏi: »Làm sao hiểu được?« Thiện Hội bảo: »Ngươi hãy đi, chiều đến!« Chiều đến, Sư lại vào thất. Thiện Hội bảo: »Ðợi sáng mai, chúng sẽ chứng minh cho ngươi.« Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền quì lạy. Thiện Hội hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì?« Sư thưa: »Con đã lĩnh hội.« Thiện Hội hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư bèn đưa nắm tay lên thưa: »Chẳng lĩnh hội là cái gì?« Thiện Hội liền thôi.|Sau, Sư trụ trì chùa Khai Quốc trong Kinh Ðô Thăng Long. Niên hiệu Hiển Ðức đời Châu, Sư viên tịch.
vân phong
Yun feng (S), Umpo (J).
Vân Phong Diệu Cao
(雲峰妙高, Umpō Myōkō, 1219-1293): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Trường Lạc (長樂), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), hiệu là Vân Phong (雲峰). Ông đã từng đến tham học với Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道沖) cũng như Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), sau đến tham yết Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở A Dục Vương Sơn (阿育王山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Kế đến ông khai đường giáo hóa ở Đại Lô Tự (大蘆寺), sau ông chuyển đến Kính Sơn (徑山) vào năm thứ 17 (1280) niên hiệu Chí Nguyên (至元) đời vua Thế Tổ. Ông than phiền có người phỉ báng Thiền Tông, bèn tập trung môn đồ các tông phái đến trước mặt Hoàng Đế và giảng về tông yếu của Thiền. Vào ngày 17 tháng 6 năm thứ 30 niên hiệu Chí Nguyên, ông thị tịch ở độ tuổi 75.
vân phong thiền sư
Thiền Sư Vân Phong (?-956). • Vietnamese Zen Master Yun-Feng (?-956)—Thiền sư Vân Phong, đời thứ ba dòng Vô Ngôn Thông, quê ở Từ Liêm, huyện Vĩnh Khương. Sư xuất gia tu học từ khi hãy còn rất nhỏ. Sau sư trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Thiện Hội.—A Vietnamese monk of the third lineage of the Wu-Yun-T'ung, from Từ Liêm, Vĩnh Khương district. He left home to become a monk when he was very young. Later he became one of the most outstanding disciples of Zen Master Thiện Hội. • Một hôm Thiền sư Thiện Hội bảo sư: “Sống chết là việc lớn, cần phải thấu triệt.” Sư hỏi: “Khi sống chết đến làm sao tránh được?” Thiện Hội đáp: “Hãy nắm lấy chỗ không sống không chết mà tránh.” Sư lại hỏi: “Thế nào là chỗ không sống không chết?” Thiện Hội đáp: “Ngay trong sống chết nhận lấy mới được.” Sư hỏi: “Làm sao mà hiểu?” Thiện Hội bảo: “Ngươi hãy đi đi chiều hẳn lại.” Chiều đến sư lại vào và hỏi nữa. Thiện Hội bảo: “Đợi sáng mai, chúng sẽ chứng minh cho ngươi.” Ngay đó sư liền ngộ—One day, Zen master Thiện Hội said to him: “Life and death are great matters, you should thoroughly understand.” He asked: “When life and death arrive, how can we avoid?” Thiện Hội replied: “To avoid life and death by relying on the non-birth and non-death matters.” He asked: “What are the non-birth and non-death matters?” Zen master Thiện Hội said: “You should do all these right in life and death.” He asked again: “How can I understand?” Zen master Thiện Hội replied: “Go and come back in the afternoon.” He came back in the afternoon and asked his master again. His master said to him: “Wait until tomorrow morning, the assembly will prove them to you.” He suddenly awakened. • Khi Thầy viên tịch, sư về trụ tại chùa Khai Quốc tại Thăng Long để hoằng hóa Phật Pháp đến khi viên tịch năm 956 sau Tây Lịch After his master passed away, he stayed at Khai Quốc Temple in Thăng Long to expand the Buddha Dharma until he died in 956 A.D.
vân phong văn duyệt
Yun feng Wen yueh (C)Tên một vị sư.
; Yun-Feng-Wen-Yueh—Sư đến với Đại Ngu Thủ Chi để tham học, sư nghe Đại Ngu giảng như vầy: “Nầy các thầy, mỗi ngày các thầy tụ nhau lại ngấu nghiến biết bao cọng rau. Nhưng nếu gọi đấy là một cọng rau, khi vào địa ngục, nó bắn ra như một mũi tên.” Nói xong Đại Ngu bước xuống, không nói thêm gì. Văn Duyệt hết sức kinh ngạc, chẳng hiểu ất giáp gì hết. Tối đến, sư vào phương trượng. Đại ngu hỏi: “Đến tìm cái gì?” Văn Duyệt đáp: “Tìm cầu tâm pháp.” Nhưng Đại Ngu không chịu dạy, mà chỉ bảo: “Bánh xe Chánh Pháp chưa quay mà bánh xe cơm gạo đã quay trước. Những kẻ hậu sinh tươi trẻ khỏe mạnh như ngươi sao không đi xin ăn cho Tăng chúng? Ta chịu đói không rỗi rảnh, rỗi rảnh đâu mà nói Thiền với ngươi.” Văn Duyệt không dám trái lời và để hết đời mình coi sóc việc cung cấp đầy đủ cho trù phòng của Tăng chúng. Chẳng bao lâu, Đại Ngu dời qua chỗ của Ngài Thúy Nham và Văn Duyệt cũng đi theo. Khi Văn Duyệt xin Thúy Nham chỉ thị Thiền cho mình, Thúy Nham bảo: “Phật pháp chưa được sáng tỏ. Nay mùa tuyết lạnh, hãy đi kiếm than cho Tăng chúng.” Văn Duyệt vâng lời làm y như thầy dạy. Lúc trở về, Thúy Nham lại yêu cầu sư giữ việc thơ lại trong chùa, vì thiếu người mà không có ai có thể bổ dụng vào đó. Văn Duyệt chẳng vui khi luôn bị sai khiến làm những việc nghĩ ra không ăn nhập gì với Thiền; sư ân hận vì thầy mình ép buộc mình quá đáng. Nhân lúc đang làm việc phía sau hè, có lẽ tâm trí ngổn ngang trăm mối và tâm trạng căng thẳng khôn cùng, thình lình những cái khoanh của thùng gỗ sư đang ngồi rớt xuống và sư cũng té nhào luôn. Biến cố nầy là cơ hội tuôn tràn dồn dập ánh sáng vào phòng tối của tâm trí bị nhốt chặt trong đấy, và sư chợt thấy cái mật chỉ mà tâm trí của Thầy mình lúc nào cũng vận dụng. Sư vội khoác áo và đến kiếm Thúy Nham. Thúy Nham mỉm cười chào đón và bảo: “Này Duy Na, mừng cho việc lớn đã xong rồi!” Văn Duyệt lạy hai lạy và bước ra, không một lời từ giã—When Yun-Feng-Wen-Yueh came to T'ai-Yu Shou-Chih for study, he heard the master discoursing to this effect: “O monks, you are gathering here and consuming so many vegetables each day. But if you call them a mere bunch of vegetables, you go to hell as straight as an arrow flies;” and without further remark, the master left the pulpit. Wen-Yueh was astonished, not knowing what all this meant. In the evening he went up to the master's room, and the master asked: “What is it that you are seeking?” Yueh said, “I am after the truth of the mind.” But the master was not so ready to teach him, for he said: “Before the wheel of the Dharma (truth) is set turning, the wheel of the staff of life must move. You are set young and strong; why not go around and beg food for the Brotherhood? My time is all taken up in bearing hunger, and how can I talk of Zen for your sake?” Wen-Yueh meekly obeyed the order and spent his time seeing that the larder of the Brotherhood was properly supplied. Before long, however, T'ai-Yu moved to Tsui-Yen and Wen-Yueh followed him. When he asked T'sui-Yen to instruct him in Zen, the master said: “Buddhism does not mind being covered with too many blisters. For this cold and snowy winter, get a good supply of charcoal for the Brotherhood.” Wen Yueh obeyed and carried out the master's order faithfully. When he came back, the master again asked him to take up an office in the monastery as there was a vacancy and none was available to fill it. Wen-Yueh did not like this, for he was always ordered about doing things which he thought were not in direct connection with Zen teaching itself; he was sorry to see the master so cross-grained towards him. While he was working in the back part of the building, perhaps with his mind filled with all sorts of feeling and generally in an intensely strained state of consciousness, the hoops of the wooden cask upon which he was sitting unexpectedly gave way, and he fell from it. This incident was the opportunity to shed an abundance of light into the dark chamber of his hitherto tightly closely mind, and he at onceperceived the secret way in which his master's mind had been functioning all the time. He hastily put on his upper robe and came up to see Shou-Chih the master. The master greeted him smilingly and said: “O Wei-Na, so pleased to see you realize it!” Twice Wen-Yueh reverentially bowed and went off without a comment.
Vân Thủy
(雲水, Unsui): từ ý nghĩa phiêu bồng, vô định như mây gió, nó muốn ám chỉ các vị Thiền tăng đi hành cước đó đây, không chỗ nhất định để tầm sư học đạo. Nó còn được gọi là Hành Cước Tăng (行脚僧), Vân Nạp (雲衲). Như trong bài Thị Viên Thường Thượng Nhân (示圓常上人) của Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, CBETA No. 1437) quyển 22 có câu: “Tích nhân bất xuất phi diên lãnh, chỉ đầu thích phá hải sơn bình, mỗi kiến hứa đa linh lợi hán, thiên sơn vân thủy nhậm ma hành, nạp tử tu bằng nhất sấu cung, đăng sơn độ thủy mạc giáo tông, hốt phùng thủy tận sơn cùng xứ, phách chưởng cao ca thiên ngoại phong (昔人不出飛鳶嶺、指頭踢破海山平、每見許多怜利漢、千山雲水恁麼行、衲子須憑一瘦筇、登山渡水莫敎鬆、忽逢水盡山窮處、拍掌高歌天外峰, người xưa chẳng ra đỉnh núi xanh, chỉ đầu đá tan biển núi bằng, lại thấy khá nhiều kẻ lanh lợi, ngàn trùng mây nước biết sao hành, nạp tăng nên dùng gậy nhỏ nương, leo núi qua sông chớ bảo dừng, chợt trông nước tận núi cùng nẻo, tay vỗ ngâm ca ngất trời mừng).” Hay trong bài Thị Tự Không Thiền Nhân (示自空禪人) của Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, CBETA No. 1435) có câu: “Xả khước am cư vân thủy du, yêu bao biều lạp hỷ can hưu, tuy nhiên chỉ xuất Đương Dương đạo, kì lộ đương phòng hoạt Thạch Đầu (捨卻菴居雲水遊、腰包瓢笠喜干休、雖然指出當陽道、岐路須防滑石頭, bỏ hết am cư mây nước chơi, vai mang bầu nón ngả nghiêng cười, tuy nhiên nếu bảo Đương Dương nẻo, ngỏ hẹp nên phòng lão Thạch Đầu).”
Vân thuỷ
雲水; J: unsui; là mây nước;|Trong Thiền tông, danh từ này được dùng để chỉ những thiền sinh mới gia nhập Thiền viện, các Sa-di. Các khung trang trí ở những Thiền viện thường được vẽ hoặc khắc với những mô-típ vân thuỷ.|Ðến và đi vô ý, lưu động tự do tự tại, hợp tán tuỳ theo điều kiện bên ngoài, thích hợp với mọi hoàn cảnh như nước chảy một cách im lặng qua những chướng ngại, tuỳ theo dạng của vật chứa – đó chính là những đặc tính tiêu biểu của mây nước, những đặc tính mà Thiền tông đề cao và tìm cách thực hiện trong cuộc sống.|Lấy mây nước làm gương cho cuộc sống – phong cách này đã được tìm thấy nơi các vị hâm mộ Lão giáo (Lão Tử, Trang Tử), một hệ thống triết lí gây ảnh hưởng rất lớn đến Thiền tông. Rất nhiều thi hào đã ca tụng »mây trắng« (白雲; bạch vân) là biểu tượng của một cuộc sống siêu phàm. John Blofeld viết trong The Wheel of Life: »Trong vạn vật thì người có trí nên chọn nước làm thầy. Nước chinh phục được tất cả… Nước tránh tất cả những chướng ngại với một sự khiêm nhường lạ lùng, nhưng không một chướng ngại nào có thể ngăn cản được nước trên con đường trở về đại dương đã định. Nước thắng bằng sự khiêm nhường, không bao giờ tấn công nhưng vẫn thắng trận cuối. Trí giả noi gương nước mà hành động thì rất khiêm nhường, vô sự, hành động trong vô vi (Bất hành nhi hành) nhưng qua đó mà chinh phục được thế gian.«
Vân Thê Châu Hoằng
(雲棲袾宏, Unsei Shukō, 1535-1615): tự là Phật Tuệ (佛慧), hiệu Liên Trì (蓮池), do vì ông từng sống tại Vân Thê Tự (雲棲寺) thuộc Ngũ Vân Sơn (五雲山), Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省), nên được gọi là Vân Thê (雲棲), xuất thân Phủ Nhân Hòa (仁和府), Hàng Châu, họ Trầm (沉). Năm 31 tuổi, ông theo xuất gia với Tánh Thiên Lý (性天理) ở Tây Sơn (西山), rồi đến tham học với Tùng Nham Đắc Bảo (松嵓得寳). Sau đó, ông rời vị này, đi qua vùng Đông Xương (東昌), chợt nghe tiếng trống trên chòi cao trên thành mà đại ngộ. Đến năm thứ 5 (1571) niên hiệu Long Khánh (隆慶), ở độ tuổi 37 ông bắt đầu đi hành cước, đến Vân Thê Sơn (雲棲山), dọn sạch cỏ ngôi cổ tự và lưu lại nơi đây. Ông đã dồn hết tâm huyết của mình vào việc giáo dưỡng và trước tác tại vùng đất này và để lại cho đời hơn 30 loại tác phẩm với hơn 300 quyển. Đến cuối thời nhà Minh, khi Phật Giáo cho thấy rõ trạng huống suy thối, chính ông đã lấy sự giáo dục phong phú của Nho Giáo để cử xướng Thiền và làm cho mọi người tin tưởng sâu xa vào pháp môn Niệm Phật. Trong khoảng thời gian niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đã thành lập Liên Xã Phật Giáo rộng lớn, làm sáng tỏ tư tưởng Thiền Tịnh Nhất Trí (禪淨一致), tức là chủ trương Thiền của Tức Thân Thành Phật (卽身成佛, thành Phật ngay nơi thân này) và Niệm Phật để vãng sanh về thế giới bên kia. Trong số các trước tác của ông được mọi người hành trì từ xưa có Vân Thê Pháp Vị (雲棲法彙) gồm 34 quyển, trong đó lại có Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進), Tăng Huấn Nhật Ký (僧訓日記), Truy Môn Sùng Hành Lục (緇門崇行錄), Tự Tri Lục (自知錄), Trúc Song Tùy Bút (竹窗隨筆) đều chuyển tải tư tưởng nói trên. Vào ngày mồng 4 tháng 7 năm thứ 43 niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, ông thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi đời và 50 Hạ lạp. Đức Thanh (德清) soạn bản Cổ Hàng Châu Vân Thê Liên Trì Đại Sư Tháp Minh (古杭州雲棲蓮池大師塔銘), Ngô Ứng Tân (呉應賓) soạn bản Liên Tông Bát Tổ Hàng Châu Cổ Vân Thê Tự Trung Hưng Tôn Túc Liên Trì Đại Sư Tháp Minh Tinh Tự (蓮宗八祖杭州古雲棲寺中興尊宿蓮池大師塔銘幷序) và Quảng Nhuận (廣潤) viết bài Vân Thê Bổn Sư Hành Lược (雲棲本師行略).
; 雲棲袾宏; C: yúnqī zhūhóng; 1535-1615;|Một Cao tăng Trung Quốc đời Minh. Sư là người phối hợp và phát triển cách tu niệm danh Phật A-di-đà của Tịnh độ tông và phương pháp tu trì của Thiền tông.|Sư cho rằng, khi niệm danh A-di-đà, người ta không nên tập trung vào danh hiệu này thôi, mà còn phải chú tâm vào »sự thật« đứng sau danh hiệu này. Ngoài cái tâm đang niệm danh A-di-đà không có A-di-đà và ngoài A-di-đà không có tâm nào. Ðây là một phương pháp khác để giải thích lời của các vị Thiền sư »Ngoài tâm không có Phật«. Mặt khác, người ta có thể chứng ngộ được chân lí tuyệt đối bằng cách niệm danh A-di-đà và vì vậy, giữa Thiền tông và Tịnh độ tông không có một sự khác biệt nào đáng kể.|Sư ban đầu học Nho, năm 32 tuổi mới xuất gia cầu đạo. Sư tham học với nhiều Cao tăng của các tông phái đương thời. Sư sáng lập chùa Vân Thê tại Hàng Châu, một ngôi chùa có tiếng là giữ giới luật nghiêm ngặt. Sư có quan niệm rằng, người niệm Phật A-di-đà và một người quán Công án trong Thiền tông tuy có khác nhau bề ngoài, khác nhau trong cách tu tập nhưng kết quả đạt được lại như nhau. Niệm danh Phật đến khi tất cả những ý nghĩ được xua đuổi ra khỏi tâm thức, chỉ còn »A-di-đà«, người ta sẽ đạt một trạng thái không khác gì chú tâm vào một công án. Với quan niệm này – song song với việc giữ giới luật – Sư thuyết phục được rất nhiều người tu hành Phật đạo, đặc biệt là trong giới Cư sĩ.
vân thê tự
Yun-chi TempleChùa ở Hàng châu do ngài Châu Hoằng xây dựng.
vân thủy
Unsui (J).
vân thủy đường
Clouds and Water Hall—Transient Monks' Quarters.
Vân Tràng
(雲幢, Undō, 1759-1824): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Vân Tràng (雲幢); thụy hiệu Thâm Tín Viện (深信院); hiệu là Huyễn Hoa Am (幻華庵); xuất thân vùng Y Do (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]); là con của Từ Linh (慈靈). Ông đến nhập môn làm đệ tử của Tuệ Vân (慧雲) ở Báo Chuyên Phường (報專坊) vùng An Nghệ (安芸, Aki), chuyên học về giáo học của Chơn Tông, sau đó đi du phương giáo hóa ở các địa phương; đến năm 1808, ông dưng ngôi Huyễn Hoa Am ở vùng Trúc Đinh (竹町, Take-chō), An Nghệ và cư trú tại đó. Từ năm 1813 trở đi, tron suốt 21 năm, thỉnh thoảng ông đến thuyết giảng tại Học Lâm của Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji), và đã từng phụ giảng cho Bổn Như (本如), Trú Trì đời thứ 19 của chùa. Vào năm 1824, khi chức Khuyến Học được thiết lập, ông được bổ nhiệm làm chức này; nhưng bị bệnh nên cáo từ. Trước tác của ông có Đại Kinh Giảng Lục (大經講錄) 1 quyển, Lục Tự Thích Giảng Lục (六字釋講錄) 1 quyển, Vãng Sanh Yếu Tập Khoa (徃生要集科) 1 quyển, Ngũ Nguyện Lục Pháp Đại Ý (五願六法大意) 1 quyển, v.v. 糾明
vân tâm
Clouded heart, depressed.
; Tâm sầu não—Depressed—Clouded heart.
vân tông
See Bạch Vân Tông.
vân tập
Flocking like clouds, a great assembly.
; A great assembly—Flocking like clouds.
vân tự tại vương
Meghasvara-raja (skt)—Vị vương trị vì Vân Cổ, con trai của Đại Thông Trí Thắng Như Lai—Ruler of the cloud drums, a son of Mahabhijnabhibhu.
Vân vân
云云; C: yúnyún; J: unun;|1. Và như thế, »v.v…«; 2. Chấm dứt một đoạn văn được trích dẫn.
vân vân
And so on—And so forth—Continuing to speak—Et cetera.
vân đường
The assembly hall of a monastery, because of the massed congregation.
; Chánh điện của tự viện nơi đại chúng hội họp—The assembly hall of a monastery, because of the massed congregation.
vâng
To obey.
vâng chịu
To accept—To consent.
vâng dạ
See Vâng.
vâng lệnh
To obey an order.
vâng lời
See Vâng.
vâng mệnh
See Vâng lệnh.
vâng theo
See Vâng.
vây
To besiege—To beset—To surround—To encircle.
vây cánh
Fin and wing—Supporters.
vãi
General term for a Budhist nun.
vãn
1) Buổi tối (chạng vạng): Sunset—Evening. 2) Trễ hay muộn: Late.
vãn chúc
Bữa ăn cháo chiều. Theo giới luật, tuy không được ăn quá ngọ, nhưng nhà thiền vẫn cho phép ăn cháo và gọi đó là thuốc sau giờ ngọ—The evening gruel, which being against the rule of not eating after midday is styled medicine.
vãn hồi
To restore.
Vãn Tham
(晩參, Bansan): đến tham vấn vị tông sư vào buổi tối. Nơi thuyết giảng có thể là Tẩm Đường (寢堂, nhà ngủ), Phương Trượng (方丈), hay Pháp Đường (法堂), v.v. Phần Nghênh Tiếp (迎接) của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 2 có đoạn rằng: “Đương nhật vãn tham, thứ nhật thăng đường, trí thực đặc vi (當日晩參、次日陞堂、置食特爲, hôm nay tham vấn buổi tối, hôm sau lên tòa thuyết pháp, dọn thức ăn đặc biệt mà làm)”.
vãn tham
Tham thiền hay tụng kinh vào buổi chiều (đối lại với tảo tham là tham thiền hay tụng kinh vào buổi sáng sớm)—The evening service.
vãng
To go; gone; past; to be going to, future.
; Đi qua—To be going to—To go—Past.
vãng hoàn nhị hồi hướng
Two kinds of dedication: Going and returning. 1) Vãng Tướng Hồi Hướng: Hồi hướng công đức đến hết thảy chúng sanh, mong rằng họ cũng được vãng sanh Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—To transfer one's merits to all beings that they may attain the Pure Land of Amitabha. 2) Hoàn Tướng Hồi Hướng: Khi đã vãng sanh Cực Lạc lại muốn trở về cõi sanh tử và bằng công đức tu trì khiến chúng sanh nơi cõi nầy cũng được vãng sanh Cực Lạc—Having been born in the Pure Land to return to mortality and by one's merits to bring mortals to the Pure Land.
vãng hoàn y
Một trong năm loại y bá nạp—One of the five kinds of monk's robes.
vãng lai
To go and come back; to go to and fro.
; To go to and from (back and forth).
Vãng sanh
(徃生): sau khi mạng chung sanh vào thế giới khác; thông thường từ này được dùng thay thế cho từ “chết”. Nếu nói về nghĩa rộng, vãng sanh có nghĩa là thọ sanh vào Ba Cõi, Sáu Đường cũng như Tịnh Độ của chư Phật; nhưng sau khi thuyết Di Đà Tịnh Độ (彌陀淨土) trở nên thịnh hành, từ này chủ yếu ám chỉ thọ sanh về thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Vãng sanh được chia làm 3 loại: (1) Cực Lạc Vãng Sanh (極樂徃生), căn cứ vào thuyết của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經); tức là xa lìa thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), đi về cõi Cực Lạc Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà ở phương Tây, hóa sanh trong hoa sen của cõi đó. (2) Thập Phương Vãng Sanh (十方徃生), căn cứ vào thuyết của Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh (十方隨願徃生經), tức vãng sanh về các cõi Tịnh Độ khác ngoài thế giới của đức Phật A Di Đà. (3) Đâu Suất Vãng Sanh (兜率徃生), y cứ vào thuyết của Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經) cũng như Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經); có nghĩa rằng Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) hiện đang trú tại Nội Viện Đâu Suất (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率), đến 16 ức 7 ngàn vạn năm sau, Ngài sẽ giáng sanh xuống cõi Ta Bà để hóa độ chúng sanh. Người tu pháp môn này sẽ được vãng sanh về cung trời Đâu Suất, tương lai sẽ cùng Bồ Tát Di Lặc xuống thế giới Ta Bà. Phần nhiều hành giả Pháp Tướng Tông (法相宗) đều tu theo pháp môn này. Ngoài ra, còn có các tín ngưỡng vãng sanh khác như người phụng thờ đức Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) thì sẽ được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) của Ngài; người phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) thì được vãng sanh về cõi Bổ Đà Lạc Ca (s: Potalaka, 補陀洛迦); người tín phụng đức Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦) thì được sanh về Linh Thứu Sơn (靈鷲山); người tín phụng Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) thì được vãng sanh về Hoa Tạng Giới (華藏界); tuy nhiên, các tín ngưỡng này rất ít, nên vẫn chưa hình thành tư trào. Như đã nêu trên, Cực Lạc Vãng Sanh và Đâu Suất Vãng Sanh là hai dòng tư tưởng chủ lưu của Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, v.v. Đối với Tam Luân Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông, v.v., Cực Lạc Vãng Sanh là phương pháp tự lực thành đạo. Riêng đối với Tịnh Độ Tông, tư tưởng này nương vào sự cứu độ của đức giáo chủ Di Đà làm con đường thành Phật, nên được gọi là Tha Lực Tín Ngưỡng. Còn Đâu Suất Vãng Sanh là tư tưởng thích hợp đối với Pháp Tướng Tông, được xem như là pháp môn phương tiện tu đạo. Tại Nhật Bản, trong Tây Sơn Tịnh Độ Tông (西山淨土宗) có lưu hành 2 thuyết về vãng sanh là Tức Tiện Vãng Sanh (卽便徃生) và Đương Đắc Vãng Sanh (當得徃生). Tịnh Độ Chơn Tông thì chủ trương thuyết Hóa Sanh (化生) vãng sanh về Chân Thật Báo Độ (眞實報土), và Thai Sanh (胎生) vãng sanh về Phương Tiện Hóa Độ (方便化土), v.v. Một số tác phẩm của Trung Quốc về tư tưởng vãng sanh như An Lạc Tập (安樂集, 2 quyển) của Đạo Xước (道綽, 562-645) nhà Đường, Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註, còn gọi là Tịnh Độ Luận Chú [淨土論註], 2 quyển) của Đàm Loan (曇鸞, 476-?) thời Bắc Ngụy, v.v. Về phía Nhật Bản, cũng có khá nhiều thư tịch liên quan đến tư tưởng này như Vãng Sanh Thập Nhân (徃生拾因, 1 quyển) của Vĩnh Quán (永觀); Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) của Nguyên Tín (源信); Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký (日本徃生極樂記) của Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤); Tục Bản Triều Vãng Sanh Truyện (續本朝徃生傳) của Đại Giang Khuông Phòng (大江匡房); Thập Di Vãng Sanh Truyện (拾遺徃生傳), Hậu Thập Di Vãng Sanh Truyện (後拾遺徃生傳) của Tam Thiện Vi Khang (三善爲康); Tam Ngoại Vãng Sanh Truyện (三外徃生傳) của Liên Thiền (蓮禪); Bản Triều Tân Tu Vãng Sanh Truyện (本朝新修徃生傳) của Đằng Nguyên Tông Hữu (藤原宗友); Cao Dã Sơn Vãng Sanh Truyện (高野山徃生傳) của Như Tịch (如寂), v.v. Thần chú trì tụng để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (拔一切業障根本得生淨土陀羅尼), còn gọi là Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言) hay Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú (徃生淨土神呪). Trong Tịnh Độ Chứng Tâm Tập (淨土證心集) của Vạn Liên Pháp Sư (卍蓮法師) nhà Thanh có câu: “Tam Giáo đồng nguyên, thống Nho Thích Đạo, câu kham niệm Phật, nhất tâm quy mạng, cụ Tín Nguyện Hạnh, tận khả vãng sanh (三敎同源、統儒釋道、俱堪念佛、一心歸命、具信願行、盡可徃生, Ba Giáo cùng gốc, cả Nho Thích Đạo, đều chung Niệm Phật; một lòng quy mạng, đủ Tín Nguyện Hạnh, thảy được vãng sanh).”
vãng sanh
1) Kiếp lai sanh: The future life—The life to which anyone is going. 2) Đi (sanh) về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà: To go to be in the Pure Land of Amitabha—To be reborn in the Pure Land—To have a rebirth in the Pure Land.
Vãng Sanh Thập Nhân
(徃生拾因, Ōjōjūin): tác phẩm của Vĩnh Quán (永觀, Eikan), vị Biệt Đương của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), 1 quyển, được thành lập trong khoảng thời gian niên hiệu Khang Hòa (康和, 1099-1104). Tác phẩm nói về vấn đề nếu như xưng niệm A Da Đà Phật thì chắc chắn sẽ được vãng sanh nhờ có 10 nhân tố chính: (1) thiện căn rộng lớn, (2) các tội tiêu diệt, (3) túc duyên sâu dày, (4) ánh sáng nhiếp thủ, (5) Thánh chúng độ trì, (6) Cực Lạc hóa chủ, (7) ba nghiệp tương ứng, (8) đạt được Tam Muội, (9) pháp thần đồng thể, (10) tùy thuận bản nguyện. Vĩnh Quán vốn là học Tăng của vùng Nam Đô, nhưng ông lại quay về với tín ngưỡng Tịnh Độ, và khuyên nên mọi người nên xưng danh niệm Phật hơn là quán tưởng niệm Phật.
Vãng Sanh Truyện
(徃生傳, Ōjōden): tập thâu lục truyền ký của những người vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà nhờ tu tập các thiện nghiệp, đặc biệt là niệm Phật. Như trong lời tựa bản Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký (日本徃生極樂記, Nihonōjōgokurakuki) của Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤, Yoshishige-no-Yasutane, 931-1002) có dẫn các truyền ký trong Tịnh Độ Luận (淨土論) của Ca Tài (迦才) nhà Đường, cũng như Vãng Sanh Tây Phương Tịnh Độ Thoại Ứng San Truyện (徃生西方淨土瑞應删傳) của Văn Thẩm (文諗), Thiếu Khang (少康), những truyện vãng sanh dưới thời đại Bình An (平安, Heian, 794-1185) lấy truyện vãng sanh của Trung Quốc được biên tập dưới thời nhà Đường, Tống làm mô phạm; bất kể pháp môn tu tập khác nhau như Thiên Thai, Chơn Ngôn, Pháp Hoa, Niệm Phật, v.v., tác phẩm này thâu lục toàn bộ các trường hợp có dị tướng vãng sanh, có nhiều đoạn chấp bút thêm. Dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333), do Thiền Tông khai tông, môn đồ Nhất Hướng của Nhật Liên Tông phát triển, v.v., việc biên tập hành trạng vãng sanh của chư vị Tông tổ bị đứt đoạn. Tuy nhiên, sang đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), nhờ sự hỗ trợ của chính quyền Mạc Phủ, truyện vãng sanh của thời đại nhà Minh, Thanh bên Trung Quốc cũng ảnh hưởng mạnh; nhờ vậy phong trào thâu lục truyện vãng sanh tái hưng khởi. Thêm vào đó, với bối cảnh hướng thượng thể chế của chính quyền Mạc Phủ, việc biên tập chỉ giới hạn trong phạm vi nữ giới. Hơn nữa, các sách chú thích như Nhật Bản Vãng Lai Truyện Hòa Giải (日本徃來傳和解) do Tăng Thuần (僧純) trước tác vào năm 1851 (Gia Vĩnh [嘉永] thứ 4), cũng như một số tác phẩm thuộc loại sách dẫn như Thập Di Vãng Sanh Truyện Tế Mục (拾遺徃生傳細目), Thập Di Vãng Sanh Truyện Loại Tiêu (拾遺徃生傳類標), v.v., nói về truyện vãng sanh dưới thời Bình An, bắt đầu xuất hiện.
vãng sanh tịnh độ
Gaining rebirth to the Pureland—See Vãng Sanh (2). (I) Theo Tịnh Độ Tông, có hai trường hợp vãng sanh về Tịnh Độ—According to the Pure Land Sect, there are two conditions of rebirth to the Pureland: 1) Vãng sanh Chánh Quốc: To gain rebirth to the main land—Người nào bình thường tinh tấn niệm Phật, một lòng thành tín không lui sụt, khi lâm chung biết trước ngày giờ, chánh niệm rõ ràng, tự mình tắm gội, thay y phục, hoặc được quang minh của Phật chiếu đến thân, hoặc thấy tướng hảo của chư Phật cùng chư Thánh chúng hiện thân ra giữa không trung hay đi kinh hành trước mặt, có điềm lành hiển hiện rõ ràng, kẻ ấy trong một sát na liền được sanh thẳng về Tịnh Độ, gần gũi chư thượng thiện nhơn, dự vào một trong chín phẩm sen nơi chốn liên trì, hằng nghe được pháp âm của chư Phật, rốt ráo thành tựu được chánh quả—This condition is reserved for those who regularly and diligently practice Buddha Recitation, those who have a sincere and faithful mind without regression. They will know beforehand the time and place of their death, having clear and proper thoughts, they will bathe themselves, changing clothes, or receive the great lights of the Buddha shine to their bodies. Or they may see the enlightened characteristics of the Buddhas and an assembly of enlightened beings appearing in the sky often walking in meditation before their eyes. All the various good and wholesome images will appear clearly, within a split moment, these people will gain rebirth to the Pure land, be near the most supremely virtuous beings, and earn a place among the nine levels of the lotus throne. They will often be able to hear the dharma sounds of the Buddhas and ultimately they will attain the enlightenment fruit of Buddhahood. 2) Sanh về Nghi Thành: To be reborn to the outer border of the Pureland—Người bình thường giữ giới, cũng có niệm Phật nhưng không được tinh tấn và tin tưởng cho lắm, khi lâm chung không có tướng lành dữ chi cả, nhắm mắt đi xuôi tựa như người ngủ, vì kẻ ấy nghi tình chưa dứt, tức là tuy có niệm Phật mà lòng không tin tưởng tuyệt đối, nên không được sanh thẳng vào nơi chánh quốc, mà chỉ trụ vào một nơi ở ngoài biên phương tịnh độ mà thôi. Chỗ đó tên là Nghi Thành. Người sanh về cõi nầy có tuổi thọ là 500 năm (một ngày nơi cõi đó bằng 100 năm ở cõi người). Mãn kiếp xong sẽ bị đáo sanh trở lại trong sáu nẻo luân hồi. Tuy nhiên, mỗi ngày đều có chư Bồ Tát về đây thuyết pháp và khuyến tấn niệm Phật. Nếu chúng sanh nào biết tinh tấn tu hành, khi mạng chung sẽ được vãng sanh vào chánh quốc—This condition is reserved for those who normally maintain precepts, who practice Buddha Recitation but are not diligent and lack faith. Thus, when death arrives, they do not have any good or evil thoughts, but close their eyes similar to a sleeping person. Because those people's doubts are not eliminated. They may practice Buddha Recitation, but do not have absolute faith. They do not gain rebirth directly to the main land. Instead, they are born to a domain on the outskirts of the Pureland. That domain is called “Doubtful Land.” People who are born to that domain have a life expectancy of 500 years (a day in that land equals a 100 years in the human realm). After living out their existence, they must return to the six paths of the cycle of rebirths. However, Bodhisattvas come there everyday to expound sutras and to encourage them to diligently recite the Buddha's name. For those who diligently cultivate, when their lives come to an end, they will gain rebirth in the main land. (II) Theo Kinh Duy Ma Cật, chương mười, phẩm Phật Hương Tích, cư sĩ Duy Ma Cật đã nói với chư Bồ Tát nước Chúng Hương về “Vãng Sanh Tịnh Độ” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, chapter ten, the Buddha of the Fragrant Land, Upasaka Vimalakirti told Bodhisattvas from the Fragrant Land about “Being reborn in the Buddha's Pure Land” as follows: • Các Bồ Tát nước Chúng Hương hỏi: “Bồ Tát phải thành tựu mấy pháp ở nơi cõi nầy làm không lầm lỗi, được sanh về cõi Tịnh Độ?”—The Bodhisattvas from the Fragrant Land asked: “How many Dharmas should a Bodhisattva achieve in this world to stop its morbid growth (defilements) in order to be reborn in the Buddha's pure land?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát thành tựu tám pháp thời ở cõi nầy làm không lầm lỗi, được sanh về cõi Tịnh Độ. Tám pháp là gì.”—Vimalakirti replied: “A Bodhisattva should bring to perfection eight Dharmas to stop morbid growth in this world in order to be reborn in the pure land. They are: 1) Lợi ích chúng sanh không mong báo đáp: Benevolence towards all living beings with no expectation of reward. 2) Thay thế tất cả chúng sanh chịu mọi điều khổ não: Endurance of sufferings for all living beings dedicating all merits to them. 3) Bao nhiêu công đức đều ban cho tất cả chúng sanh: Impartiality towards them with all humility free from pride and arrogance. 4) Lòng bình đẳng đối với chúng sanh khiêm nhường không ngại, đối với Bồ Tát xem như Phật: Reverence to all Bodhisattvas with the same devotion as to all Buddhas (i.e. without discrimination between Bodhisattvas and Buddhas). 5) Những kinh chưa nghe, nghe không nghi: Absence of doubt and suspicion when hearing (the expounding of) sutras which he has not heard before. 6) Không chống trái với hành Thanh Văn: Abstention from opposition to the sravaka Dharma. 7) Thấy người được cúng dường cũng không tật đố, không khoe những lợi lộc của mình, ở nơi đó mà điều phục tâm mình: Abstention from discrimination in regard to donations and offerings received with no thought of self-profit in order to subdue his mind. 8) Thường xét lỗi mình, không nói đến lỗi người, hằng nhứt tâm cầu các công đức: Self-examination without contending with others. Thus he should achieve singleness of mind bent on achieving all merits; these are the eight Dharmas. • Sau khi ông Duy Ma Cật và ngài Văn Thù Sư Lợi nói pháp nầy rồi, ở trong đại chúng có cả trăm ngàn vị trời, người đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mười ngàn Bồ Tát chứng đặng Vô sanh Pháp nhẫn—After Vimalakirti and Manjusri had thus expounded the Dharma, hundreds and thousands of devas developed the mind set on supreme enlightenment, and ten thousand Bodhisattvas realized the patient endurance of the uncreate. (III) Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Phẩm Thứ Ba (Nghi Vấn)—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, Chapter Three (Doubts and Questions): • Một hôm Vi Thứ sử hỏi Lục Tổ Huệ Năng rằng: “Đệ tử thường thấy Tăng tục niệm Phật A Di Đà, nguyện sanh Tây Phương, thỉnh Hòa Thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng? Nguyện vì phá cái nghi nầy.”—One day, Magistrate Vi asked the Sixth Patriarch, Hui-Neng: “Your disciple has often seen the Sangha and laity reciting 'Amitabha Buddha,' vowing to be reborn in the West. Will the High Master please tell me if they will obtain rebirth there and, so, dispel my doubts?” • Tổ bảo: “Sử quân khéo lắng nghe, Huệ Năng sẽ vì nói. Thế Tôn ở trong thành Xá Vệ nói kinh văn Tây Phương dẫn hóa, rõ ràng cách đây không xa. Nếu luận về tướng mà nói, lý số có mười muôn tám ngàn, tức là trong thân có mười ác tám tà, liền là nói xa, nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì những người thượng trí. Người có hai hạng, nhưng pháp không có hai thứ. Mê ngộ có khác, thấy có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu sanh về cõi kia, người ngộ tự tịnh tâm mình. Sở dĩ Phật nói 'tùy tâm tịnh liền được cõi Phật tịnh. Sử quân người phương Đông, chỉ tâm mình tịnh liền không có tội, tuy người phương Tây tâm không tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội niệm Phật cầu sanh về phương Tây, còn người phương Tây tạo tội, niệm Phật thì cầu sanh về cõi nào? Phàm ngu không rõ tự tánh, không biết trong thân Tịnh độ, nguyện Đông nguyện Tây, người ngộ thì ở chỗ nào cũng vậy. Sở dĩ Phật nói 'tùy chỗ mình ở hằng được an lạc. Sử quân, tâm địa chỉ không có cái bất thiện thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chẳng thiện, niệm Phật vãng sanh khó đến. Nay khuyên thiện tri thức trước nên dẹp trừ thập ác tức là được mười muôn, sau trừ tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mỗi niệm thấy tánh thường hành bình đẳng, đến như trong khảy móng tay, liền thấy Đức Phật A Di Đà. Sử quân chỉ hành mười điều thiện, đâu cần lại nguyện vãng sanh, không đoạn cái tâm thập ác thì có Phật nào đón tiếp. Nếu ngộ được đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong khoảng sát na. Còn chẳng ngộ, niệm Phật cầu vãng sanh, thì con đường xa làm sao đến được? Huệ Năng vì mọi người mà khiến cho quý vị thấy trong sát na cõi Tây phương ở ngay trước mắt, quý vị có muốn thấy hay chăng?”—The Master said, “Magistrate, listen well. Hui Neng will explain it for you. When the World Honored One was in Shravasti City, he spoke of being led to rebirth in the West. The Sutra text clearly states, ''it is not far from here.' If we discuss its appearance, it is 108,000 miles away but in immediate terms, it is explained as far distant for those of inferior roots and as nearby for those of superior wisdom. There are two kinds of people, not two kinds of Dharma. Enlightenment and confusion differ, and seeing can be quick or slow. The deluded person recites the Buddha's name, seeking rebirth there, while the enlightened person purifies his own mind. Therefore, the Buddha said, 'As the mind is purified, the Budhaland is purified.' Magistrate, if the person of the East merely purifies his mind, he is without offense. Even though one may be of the West, if his mind is impure, he is at fault. The person of the East commits offenses and recites the Buddha's name, seeking rebirth in the West. When the person of the West commits offenses and recites the Buddha's name, in what country does he seek rebirth? Common, deluded people do not understand their self-nature and do not know that the Pure Land is within themselves. Therefore, they make vows for the East and vows for the West. To enlightened people, all places are the same. As the Buddha said, 'In whatever place one dwells, there is constant peace and happiness.' Magistrate, if the mind-ground is only without unwholesomeness, the West is not far from here. If one harbors unwholesome thoughts, one may recite the Buddha's name but it will be difficult to attain that rebirth. Good Knowing Advisors, I now exhort you all to get rid of the ten evils first and you will have walked one hundred thousand miles. Next get rid of the eight deviations and you will have gone eight thousand miles. If in every thought you see your own nature, always practice impartiality and straightforwardness, you will arrive in a finger-snap and see Amitabha. Magistrate, merely practice the ten wholesome acts; then what need will there be for you to vow to be reborn there? But if you do not rid the mind of the ten evils, what Buddha will come to welcome you? If you become enlightened to the sudden dharma of the unproduced, you will see the West in an instant. Unenlightened, you may recite the Buddha's name seeking rebirth but since the road is so long, how can you traverse it? Hui-Neng will move to the West here in the space of an instant so that you may see it right before your eyes. Do you wish to see it? ” • Lúc ấy mọi người đều đảnh lễ thưa rằng: “Nếu ở cõi nầy mà thấy được thì đâu cần phải nguyện vãng sanh, nguyện Hòa Thượng từ bi liền hiện Tây phương khiến cho tất cả được thấy.”—At that time, the entire assembly bowed and said, “If we could see it here, what need would there be to vow to be reborn there? Please, High Master, be compassionate and make the West appear so that we might see it.” • Tổ bảo rằng: “Nầy đại chúng! Người đời tự sắc thân là thành, mắt tai mũi lưỡi là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua ở trên đất tâm, tánh còn thì vua còn, tánh mất đi thì vua cũng mất. Tánh ở thì thân tâm còn, tánh đi thì thân tâm hoại. Phật nhằm ở trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự tánh mê, tức là chúng sanh, tự tánh giác tức là Phật. Từ bi tức là Quán Thế Âm, hỷ xả gọi là Đại Thế Chí, hay tịnh tức là Đức Thích Ca, bình trực tức là Phật A Di Đà. Nhơn ngã ấy là Tu Di, tà tâm là biển độc, phiền não là sóng mói, độc hại là rồng dữ, hư vọng là quỷ thần, trần lao là rùa trạnh, tham sân là địa ngục, ngu si là súc sanh. Nầy thiện tri thức! Thường làm mười điều lành thì thiên đường liền đến, trừ nhơn ngã thì núi Tu Di ngã, dẹp được tham dục thì biển nước độc khô, phiền não không thì sóng mói mất, độc hại trừ thì rồng cá đều dứt. Ở trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanh tịnh hay phá sáu cõi trời dục, tự tánh trong chiếu ba độc tức liền trừ địa ngục, vân vân., các tội một lúc đều tiêu diệt, trong ngoài sáng tột, chẳng khác với cõi Tây phương, không chịu tu như thế nầy làm sao đến được cõi kia?”—The Master said, “Great assembly, the worldly person's own physical body is the city, and the eye, ear, nose, tongue, and body are the gates. Outside there are five gates and inside there is a gate of the mind. The mind is the 'ground' and one's nature is the 'king.' The 'king' dwells on the mind 'ground.' When the nature is present, the king is present but when the nature is absent, there is no king. When the nature is present, the body and mind remain, but when the nature is absent, the body and mind are destroyed. The Buddha is made within the self-nature. Do not seek outside the body. Confused, the self-nature is a living being: enlightened, it is a Buddha. 'Kindness and compassion' are Avalokitesvara and 'sympathetic joy and giving' are Mahasthamaprapta. 'Purification' is Sakyamuni, and 'equanimity and directness' are Amitabha. 'Others and self' are Mount Sumeru and 'deviant thoughts' are the ocean water. 'Afflictions' are the waves. 'Cruelty' is an evil dragon. 'Empty falseness' is ghosts and spirits. 'Defilement' is fish and turtles, 'greed and hatred' are hell, and 'delusion' is animals.Good Knowing Advisors, always practice the ten good practices and the heavens can easily be reached. Get rid of others and self, and Mount Sumeru topples. Do away with deviant thought, and the ocean waters dry up. Without defilements, the waves cease. End cruelty and there are no fish or dragons. The Tathagata of the enlightened nature is on your own mind-ground, emitting a great bright light which outwardly illuminates and purifies the six gates and breaks through the six desire-heavens Inwardly, it illuminates the self-nature and casts out the three poisons. The hells and all such offenses are destroyed at once. Inwardly and outwardly, there is a bright penetration. This is no different from the West. But if you do not cultivate, how can you go there?" • Đại chúng nghe nói đều rõ ràng thấy được tự tánh, thảy đều lễ bái, đều tán thán: “Lành thay!” Thưa rằng: “Khắp nguyện pháp giới chúng sanh nghe đó một thời liền ngộ hiểu.”—On hearing this speech, the members of the great assembly clearly saw their own natures. They bowed together and exclaimed, “This is indeed good! May all living beings of the Dharma Realm who have heard this awaken at once and understand.”
Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú
(徃生淨土神呪): còn gọi là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (抜一切業障根本得生淨土陀羅尼), Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言). Câu thần chú này được tìm thấy trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú (抜一切業障根本得生淨土神呪, Taishō No. 368) do Lưu Tống Cầu Na Bạt Đà La (s: Guṇabhadra, 求那跋陀羅) trùng dịch. Và một số bản có nội dung tương tự với thần chú này như Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō No. 901) do Đường A Địa Cù Đa (阿地瞿多) dịch, Cam Lồ Đà La Ni Chú (甘露陀羅尼呪, Taishō No. 901) do Đường Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀) dịch, A Di Đà Phật Thuyết Chú (阿彌陀佛說呪, Taishō No. 369), thất dịch, Phật Thuyết Vô Lượng Công Đức Đà La Ni Kinh (佛說無量功德陀羅尼經, Taishō No. 1317) do Tống Pháp Hiền (法賢) dịch. Nguyên âm Hán ngữ của thần chú này là: “Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa địa dạ tha, a di lợi đô bà tỳ, a di lợi đa, tất đam bà tỳ, a di lợi đa tỳ ca lan đế, a di lợi đa, tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha (南無阿彌多婆夜、哆他伽哆夜、哆地夜哆、阿彌利都婆毗、阿彌利哆、悉眈婆毗、阿彌利哆毗迦蘭諦、阿彌利哆、毗迦蘭哆、伽彌膩、伽伽那、枳多迦棣、娑婆訶)”. Căn cứ vào bộ Trung Hoa Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư (中華佛敎百科全書, bản điện tử) cũng như Hán Phạn-Phạn Hán Đà La Ni Dụng Ngữ Dụng Cú Từ Điển (漢梵、梵漢陀羅尼用語用句辭典, Nhà Xuất Bản Hoa Vũ [華宇出版社], Đài Loan, 1985) của tác giả người Đức là Robert Heineman, Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú được chuyển sang tiếng Sanskrit như sau: “namo amitabhaya, tathagataya, tad yatha, amrtod bhave, amrta siddhambhave, amrta vikrmte, amrta vikrmta gamine, gagana kirti kare, svaha”; và được dịch là: “Con xin quy mạng đức Phật Vô Lượng Quang, đấng Như Lai, liền thuyết chú rằng đấng chủ tể Cam Lồ, người thành tựu Cam Lồ, người truyền rưới Cam Lồ, người rưới khắp Cam Lồ, người tuyên dương (Cam Lồ) khắp hư không, thành tựu viên mãn”. Như trong Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bổn Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú, đức Phật dạy rằng nếu có người thiện nam và thiện nữ trì tụng thần chú này thì ngày đêm thường được đức Phật A Di Đà trú trên đỉnh đầu của vị ấy để ủng hộ, không khiến cho các điều oan gia xảy ra, đời hiện tại được sống an ổn, và khi lâm chung theo đó mà được vãng sanh về quốc độ của Ngài. Vì vậy, câu thần chú này thường được tụng chung với Thập Chú trong thời công phu khuya của Thiền môn và được dùng trong các buổi lễ cầu siêu.
vãng sinh
The future life, the life to which anyone is going; to go to be born in the Pure Land of Amitàbha Buddha. (1) vãng tướng hồi hướng to transfer one's merits to all beings that they may attain the Pure Land of Amitàbha. (2) hoàn tướng hồi hướng having been born in the Pure Land to return to mortality and by one's merits to bring mortals to the Pure Land.
vãng sinh quyết định chân ngôn
Mantra for the rebirth in the Pure Land.
vãng tướng hồi hướng
Hồi hướng công đức cho mọi người được cùng vãng sanh Tịnh Độ—To transfer one's merits to all beings that they may attain the Pure Land of Amitabha.
vén
To roll (pull—turn—draw) up.
vén khéo
Orderly.
véo
To pinch and twist sharply.
vét
To clear out—To clean out.
vét sạch
See Vét.
vì
Because of—Due to—Because—For—In view of.
vì bổn nguyện làm lợi ích chúng sanh
To do so many alms things for the living creatures according to one's fundamental vows.
vì cớ gì
For what reason ?
vì lẽ ấy
Therefore.
vì lợi ích
For convenience' sake
vì vậy
See Vì lẽ ấy.
ví
1) To compare. 2) To surround—To beset—To encircle. 3) Handbag—Purse.
ví như
In case.
vía
Vital spirit.
vía ngày đản sanh của đức phật a di đà
Ngày 17 tháng 11 âm lịch—Celebration of Amitabha Buddha's Birthday (17th of the 11th month Lunar calendar).
vía ngày đản sanh đức hoa nghiêm bồ tát
Ngày 29 tháng 12 âm lịch—Avatamsaka Bodhisattva's Birthday (29th day of the twelfth month Lunar calendar).
vía ngày đản sanh đức định quang phật
Ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch—Samadhi Light Buddha's Birthday (the 6th of the first month Lunar calendar).
vía quan thế âm bồ tát thành đạo
Ngày 19 tháng 6 âm lịch—Celebration of Kuan Shi Yin Bodhisattva's Enlightenment (the 13th of the 6th month and the 19th of the 6th month Lunar calendar).
vía đản sanh lục tổ huệ năng
Ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch—Sixth Patriarch's Birthday (the 8th day of the second month Lunar calendar).
vía đản sanh phổ hiền bồ tát
Ngày 21 tháng 2 âm lịch—Universal Worthy Bodhisattva's Birthday (the 21st day of the second month Lunar calendar).
vía đản sanh tổ bồ đề đạt ma
Ngày 5 tháng mười âm lịch—Venerable First Patriarch Bodhidharma's Birthday (the 5th day of the 10th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức bồ tát dược vương
Ngày 28 tháng 4 âm lịch—Medicine King Bodhisattva's Birthday (the 28th of the 4th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức long thọ bồ tát
Ngày 24 tháng 7 âm lịch—Nagarjuna (Dragon Tree) Bodhisatva's Birthday (the 24th day of the 7th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức nhiên đăng cổ phật
Ngày 22 tháng tám âm lịch—(Dipankara Buddha) Burning Lamp Buddha of Antiquity's Birthday (the 22nd of the 8th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức phật dược sư
Ngày 30 tháng 9 âm lịch—Medicine Master Buddha's Birthday (the 30th day of the 9th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức quan thế âm
Ngày 19 tháng 2 âm lịch—Kuan Shi Yin Bodhisattva's Birthday (the 19th of the second month Lunar calendar).
vía đản sanh đức văn thù sư lợi bồ tát
Ngày 4 tháng 4 âm lịch—Manjushri Bodhisattva's Birthday (the 4th day of the 4th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức đại thế chí bồ tát
Ngày 13 tháng 7 âm lịch—Great Strength Bodhisattva's Birthday (the 13th day of the 7th month Lunar calendar).
vía đản sanh đức địa tạng bồ tát
Ngày 30 tháng 7 âm lịch—Earth Store Bodhisattva's Birthday (the 30th day of the 7th month Lunar calendar).
vía đức lục tổ nhập niết bàn
Ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch—Sixth Patriarch's Entering Nirvana Day (the 3rd day of the 8th month Lunar Calendar).
vía đức phật di lặc
Mồng một tháng giêng âm lịch—Maitreya Bodhisattva's Birthday (the first day of the first month Lunar calendar).
vít xuống
To pull down.
víu
1) Vướng víu—To attach (cling) to. 2) Vá víu—To patch.
vò
To crush in one's hand.
vò võ
To be lonely.
vò xé
To crumple up and to tear into piece.
vòi vọi
Very high—Sky-high.
vòm trời
Gaganatala (S), Vault of the sky.
; The arch of the heavens.
vòng
Circle.
vòng hoa
Xem Hoa man.
vòng hào quang
Halo.
vòng luân hồi sanh tử
Samsara (skt)—Circle of birth and death—Circle of misery—Circle of suffering.
vòng lẩn quẩn
Vicious circle.
vòng ngã chấp
The cycle of ego-attachment.
vòng sanh tử
Bhāva-cakra (S).
Vòng sinh tử
S: bhava-cakra; P: bhāva-cakka; nguyên nghĩa Phạn ngữ (sanskrit) là Hữu luân, bánh xe của tồn tại, chỉ cái luân chuyển của thế giới hiện hữu; |Cách nói và biểu tượng của người Tây Tạng chỉ Luân hồi (s: saṃsāra). Thế giới của Hữu tình hiển hiện dưới sáu dạng (Lục đạo): Thiên giới, loài A-tu-la, loài người là ba thiện giới nằm phía trên của bánh xe. Phía dưới của bánh xe là súc sinh, Ngạ quỷ và Ðịa ngục. Tất cả sáu loài này đều chịu Khổ và sự hoại diệt. Cái chết được xem do Diêm vương gây ra, là người quay và giữ (cắn) chặt bánh xe.|Nguyên nhân của khổ được biểu tượng bằng ba con thú nằm ở trung tâm bánh xe: gà (chỉ tham), lợn (chỉ Si) và rắn (chỉ sân). Chu vi của bánh xe được khắc ghi mười hai yếu tố của nhân duyên sinh (Mười hai nhân duyên). Biểu tượng của bánh xe tồn tại được hiểu dưới nhiều cách khác nhau. Ðầu tiên, sáu nẻo tái sinh được trình bày dưới sáu cảnh tượng khác nhau. Tử thư xuất phát từ quan điểm này mà chỉ dẫn những gì cần phải làm lúc chết để được sinh vào các cõi tốt đẹp. Người ta cần hiểu các cõi này chính là sáu loại tâm thức hay sáu mẫu người tiêu biểu hay sáu loại trạng huống ngay trong đời sống bình thường.|Trên một bình diện khác, người xem có thể khám phá ra trong sáu cảnh tượng đó có trình bày sáu dạng xuất hiện của Quán Thế Âm với sáu cách khai thị khác nhau để chúng sinh cõi đó giải thoát. Ngay như câu Man-tra OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ với sáu âm cũng được xem là mỗi âm thuộc về một cõi nói trên. Nếu trung tâm bánh xe ghi rõ ba nguyên nhân sinh thành sáu cõi thì vòng ngoài bánh xe là các nguyên nhân cụ thể sinh ra mỗi đời sống cá nhân. Cả hai nơi đều lấy vô minh là cơ sở. Các yếu tố của Mười hai nhân duyên được trình bày trong bức tranh sau (bản vẽ của bà Li Gô-ta-mi, bạn đồng hành của Lạt-ma Gô-vin-đa).|||||H 75: Vòng sinh tử; ① Diêm vương đang cắn và giữ chặt; ② Vòng ngoài cùng tượng trưng cho Mười hai nhân duyên (十二因緣; s: dvādaśāṅga-pratītyasamutpāda), từ trên đỉnh theo chiều kim đồng hồ: 1. Người đàn bà mù chống gậy, vô minh (無明; s: avidyā), 2. Thợ gốm, hành (行; s: saṃskāra), 3. Khỉ, thức (識; s: vijñāna), 4. Hai người trong thuyền, danh sắc (名色; nāmarūpa), 5. Nhà sáu cửa sổ, sáu giác quan, lục căn (六根; ṣaḍāyatana); 6. Cặp trai gái, xúc (觸; sparśa), 7. Mũi tên bắn trúng mắt, thụ (受; vedanā), 8. Người say, ái (愛; tṛṣṇā), 9. Người hái trái cây, thủ (取; upādāna), 10. Cảnh giao hợp, hữu (有; bhava), 11. Mẹ sinh con, sinh (生; jāti), 12. Vai mang xác chết, lão tử (老死; jāra-maraṇa); ③ Vòng giữa, biểu hiện của Lục đạo (六道; từ trên theo kim đồng hồ): 1. Thiên giới (天; deva), 2. A-tu-la (阿修羅; āsura), 3. Ngạ quỷ (餓鬼; preta), 4. Ðịa ngục (地獄; nāraka), 5. Súc sinh (畜生; paśu), 6. Loài người (人; nāra). IV. Trung tâm: gà, tham (貪; rāga), lợn, si (癡; moha) và rắn, sân (瞋; dveṣa).
vòng trôn ốc
Spiral.
vóc
Statture—Height.
vói
To stretch (reach) out.
vô
Sanskrit A, or before a vowel An, similar to English Un-, In-, in a negative sense; not, no, none, non-existent; opposite of hữu. Vô nhất no one; vô nhị vô tam neither two nor three, but only nhất thừa one vehicle.
; 1) Tiếng Phạn “A”: Sanskrit letter “A.” 2) Không—Phi—Bất—Phủ—Not—No—None. 3) Phủ định sự tồn tại của sự vật: Non-exixtence—Nothingness—Inexist—Nihility—Do not have—Be without. 4) Đối lại với “Hữu”: Opposite of “Existence.” 5) To go (come--step) into—To enter.
vô biên
Anantat (S).
; Ananta (S). Endless, boundless.limitless, infinite, i.e. like space.
; Ananta (skt)—Không bờ bến như không gian—Endless—Boundless—Limitless—Infinite, e.g. space.
vô biên hư không xứ giải thoát
Xem Không vô biên xứ định.
vô biên hư không xứ định
Xem Không vô biên xứ định.
vô biên hạnh
Anantacāritra (S)Vô biên hạnh Bồ tátTên một trong vô số Bồ tát đến núi Kỳ sà Quật ủng hộ Phật Thích ca diễn kinh Pháp Hoa.
vô biên hạnh bồ tát
Infinite virtues Bodhisattva.
vô biên minh
Anantaprabhā (S)Vô biên quang.
vô biên pháp giới
The infinite world of things; the realm of things infinite in number; the infinite universe behind all phenomena.
; Pháp giới rộng lớn không có biên giới, mà hết thảy các pháp đều tồn tại trong đó; chư pháp vô tận nên pháp giới vô biên—The infinite world of things; the realm of things infinite in number; the infinite universe behind all phenomena.
vô biên quang
Xem Vô biên minh.
vô biên quang phật
The immeasurable light Buddha.
vô biên thân
Xem Như Lai.
; Thân Phật không thể đo lường được: người Bà La Môn càng đo thì thân càng cao, cuối cùng vị Bà La Môn ném thước, thước ấy bén rễ và mọc thành một cánh rừng—The immeasurable body of the Buddha: the more the Brahman measured it, the higher it grew, so he threw away his measuring rod, which struck root and became a forest.
vô biên thân như lai
The immeasurable body of the Buddha.
vô biên thế giới
The infinite world, i.e. space ; also infinite worlds; the numberless worlds in infinite space.
; Thế giới vô biên trong không gian vô tận—The infinite world, i.e. space; infinite worlds; the numberless worlds in infinite space.
vô biên thức xứ giải thoát
Xem Thức vô biên xứ định.
vô biên thức xứ thiên
Viānacayatanam (P).
vô biên thức xứ định
Xem Thức vô biên xứ định.
vô biểu
Avijnapti (S). Unconscious, latent, not expressed, subjective. Internal and not visible to others.
; Avijnapti (skt)—Không biểu thị ra ngoài—Unconscious, latent, not expressed, subjective.
vô biểu giới
Khi thọ giới, thân khẩu ý của người thọ giới không biểu thị tướng thọ giới ra ngoài, mà trong thân nảy sinh ra vô biểu giới giúp ngăn ngừa điều sai trái. Giới nầy vĩnh viễn tương tục trong thân để bảo hộ thân khẩu ý tránh điều quấy ác—The inward invisible power received with the comandments during ordination.
vô biểu nghiệp
Vô Tác Nghiệp—Nghiệp không biểu hiện của thân, khẩu, ý, đối lại với nghiệp biểu hiện—The unmanifested activities of the body, mouth, and mind; or invisible power conferred at ordination; in contrast with the manifested activities.
vô biểu sắc
hình sắc không biểu lộ. Nguyên bản Hán văn kinh này dùng無作色(vô tác sắc), dịch từ Phạn ngữ là avijđapti-rpa, cũng dịch là vô biểu sắc hay vô biểu nghiệp; vì là không có biểu hiện bằng hình thể vật chất, người ngoài không thể nhận biết được nên gọi là vô biểu. Do ý nghĩa được giảng giải từ Phạn ngữ nên vô tác sắc được hiểu như vô biểu sắc.
; Avijgapti-rŪpa (S).
; Vô Tác Sắc—Theo quan điểm của Đại Chúng Bộ, vô biểu sắc là sắc thể không biểu hiện ra ngoài, nhưng có công năng phòng ngừa sự sai trái và tội ác—According to the Sarvastivadin view, this invisible power can resist evil.
vô bản
To forget one's origin.
vô bất
A double negative, making a positive; also vô phi, vô một.
; Hai cái phủ định làm thành một cái khẳng định—A double negative, making a positive.
vô bổ
Useless.
Vô Bổn Giác Tâm
(無本覺心, Muhon Kakushin, 1207-1298): xem Tâm Địa Giác Tâm (心地覺心, Shinchi Kakushin) bên trên.
vô chuẩn
Wu-chun (C)Tên một vị sư.
Vô Chuẩn Sư Phạm
(無準師範, Bujun Shihan, 1177-1249): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Huyện Tử Đồng (梓潼縣), thuộc Kiếm Châu (劍州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Ung (雍), hiệu là Vô Chuẩn (無準). Năm lên 9 tuổi, ông theo xuất gia với Đạo Khâm (道欽) ở Âm Bình Sơn (陰平山), đến mùa đông năm thứ 5 (1194) niên hiệu Thiệu Hy (紹熙) thì thọ Cụ Túc giới. Năm sau, ông đến tham học với vị Nghiêu Thủ Tòa (堯首座) ở Chánh Pháp Tự (正法寺), cuối cùng tỉnh ngộ. Ông còn đến tham vấn Phật Chiếu Đức Quang (佛照德光) ở Đông Am (東庵) trên A Dục Vương Sơn (阿育王山) và Phá Am Tổ Tiên (破庵祖先) ở Tây Hoa Tú Phong Tự (西華秀峰寺) vùng Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô). Khi Tổ Tiên chuyển đến làm Thủ Tòa của Linh Ẩn Tự (靈隱寺), ông đi theo hầu, nhân nghe câu chuyện về con hồ tôn mà đại ngộ và được kế thừa dòng pháp của vị này. Ông bắt đầu tuyên dương giáo pháp tại Thanh Lương (清涼) vùng Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), rồi sau khi trãi qua một vài nơi như Tiêu Sơn (焦山), Tuyết Đậu Sơn (雪竇山), A Dục Vương Sơn, ông lên Kính Sơn (徑山). Thể theo lời thỉnh cầu của vua Lý Tông, ông vào cung nội thăng tòa thuyết pháp ở Từ Minh Điện (慈明殿), và được ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師). Ông thị tịch vào ngày 18 tháng 3 năm thứ 9 niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), hưởng thọ 73 tuổi. Ông có một số đệ tử xuất chúng như Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽), Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元), Ngột Am Phổ Ninh (兀菴普寧), Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一). Mấy vị tăng Nhật Bản như Đông Phước Viên Nhĩ (東福圓爾), Tánh Tài Pháp Tâm (性才法心), Diệu Kiến Đường Đạo Hựu (妙見堂道祐), v.v., đã sang nhà Tống cầu pháp và kế thừa dòng pháp của Sư Phạm. Bộ Phật Giám Thiền Sư Ngữ Lục (佛鑑禪師語錄) 5 quyển của ông hiện vẫn còn lưu hành.
vô chuẩn sư phạm
Bushun shiban (J), Wuzhun Shifan (C)Thiền sư Trung quốc, tông Lâm Tế, thầy của ngài Vô Học Tổ Nguyên.
vô chủng tính
The nature without the seed of goodness and so unable to escape from the stream of transmigration.
; Một trong năm tính mà tông Pháp Tướng thành lập, không có thiện chủng vô lậu rốt ráo là không thoát ly được luân hồi sanh tử—The nature without the seed of goodness and so unable to escape from the stream of transmigration, one of the five germ-natures or roots of Bodhisattva development established by the Dharmalaksana Sect. ** For more information, please see Ngũ Chủng Tính.
vô chủng xiển đề
Nhất Xiển Đề không có chủng tánh Phật (mãi mãi không thể thành Phật)—An icchanti, or evil person without the Buddha-seed of goodness. ** For more information, please see Nhất Xiển Đề.
vô cái
That which cannot be covered or contained, universal; also that which includes all, a characteristic of the pity of Buddha.
; 1) Không bao trùm hay chứa đựng được (phổ quát): Cannot be covered or contained, universal. 2) Tính bi mẫn của Đức Phật rộng lớn cùng cực, bao trùm lên tất cả chúng sanh: A characteristic of the pity of Buddha which includes all beings.
vô cái đại bi
Uncontainable, or superlative, pity.
; Lòng đại bi rộng lớn không có gì bao trùm lên được—Uncontainable, or superlative, pity. ** For more information, please see Vô Cái (2).
vô công dụng
Without effort. Vô công dụng đức, without merit or virtue.
; Không cố gắng dụng công—Without effort.
vô công dụng hạnh
Anabhoga caryā (S).
vô công dụng trí
Tâm không nhờ cái công gia dụng hay phước đức công đức, mà tự nhiên khế hợp với trí chân tính (Bồ Tát từ đệ bát địa trở lên)—A mind with neither effort, nor merit or virtue.
vô công dụng đức
Không cần đến phước đức hay công đức—Without merit or virtue.
vô cùng
Boundless—Infinite—Endless.
vô cùng tận
Infinite.
vô căn
Không có nam hay nữ căn—Without root—Without organ—Without the organ of sex.
vô căn cứ
Unfounded—Baseless—Groundless—Without foundation or reason.
vô căn tín
xem đức tin vô căn.
; Faith produced not of oneself but by Buddha in the heart.
; Nhờ Phật lưc mà phát được tín căn trong tâm—Faith produced not of oneself but by Buddha in the heart.
vô căn, nhị căn
chỉ chung các trường hợp bất thường về giới tính. Vô căn (không giới tính) chỉ người sanh ra không có cơ quan sanh dục, nhị căn hay lưỡng tính chỉ những người sanh ra có cả cơ quan sanh dục nam và nữ.
vô cảm giác
insensible.
vô cấu
Amala (S), Purity, Vimala (S), Unstained Tịnh,A ma la1-tịnh, thanh tịnh 2-Vô cấu Tôn giả, đại đệ tử của đức Phật, Tỳ ma la, Vô cấu tôn giả (tên một La hán đệ tử đức Phật). 3- ly cấu địa: địa vị thứ hai trong mười địa vi tu hành của Bồ tát, đứng sau Hoan hỷ địa.
; Vimala, amala (S). Undefiled, stainless.
; Vimala or Amala (skt)—Không bị cấu nhiễm (dơ—bất tịnh)—Undefiled—Stainless.
vô cấu hữu luận sư
Vimalamitra (S)Tì mạt la mật đa la.
vô cấu nhãn sư
Vimalaksa (S)Ti ma la xoa pháp sư.
vô cấu nhẫn
The stage of undefiled endurance.
; Bồ Tát trong giai đoạn “vô cấu nhẫn” là giai đoạn chót của Bồ Tát—The stage of undefiled endurance—The final stage of bodhisattva.
vô cấu thức
Amala vijāna (S), Consciousness of Purity A mạt la thức, Như lai thức, Yêm Ma La thứcThức thứ 9Xem A lại da thức Xem Như lai tạng.
; Amala vijnàna (S). Undefiled or pure consciousness, formerly considersed as the ninth, later as the eighth consciousness.
; Amala (skt). (A) Vô Cấu Thức hay A Mạt La là tên khác của A Lại Da Thức (thức nầy là chỗ dựa của các pháp vô lậu, mà chỉ Như Lai mới có được)—Undefiled or pure knowing or knowledge, another name for Alaya-vijnana—See A Lại da Thức. (B) Theo Nhiếp Luận Tông (tiền thân của Pháp Tướng Tông), Vô Cấu Thức hay Tịnh Thức chỉ có nơi sự giác ngộ viên mãn của Phật. Vô Cấu Thức có thể tẩy sạch phần ô nhiễm của tạng thức và khai triển thế lực trí tuệ của nó. Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý chân thật, tức viên thành thực tánh. Sau khi đạt đến đó, chủng tử tạng, tức là thức, sẽ biến mất và cuối cùng đưa đến trạng thái nơi mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt. Đây là “Vô Phân Biệt Trí.” Trạng thái tối hậu là vô trụ Niết Bàn, nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi nào nữa—According to the Samparigraha School (the forerunner of the Dahrmalaksana School), the taintless consciousness is only flashed out from the Buddha's Perfect Enlightenment. This pure ideation can purify the tainted portion of the ideation-store and further develop its power of understanding. The world of imagination and the world of interdependence will be brought to the real truth (parinispanna). This having been attained, the seed-store, as consciousness, will disappear altogether and ultimately will reach the state where there is no distinction between subject and object. The knowledge so gained has no discrimination (avikalpa-jnana). This ultimate state is the Nirvana of No Abode (apratisthita-nirvana), that is to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place.
vô cấu tôn giả
Xem vô cấu.
vô cấu xưng
Xem Duy ma Cật.
vô cấu y
The stainless garment, the monastic robe of purity.
; Tên gọi chung cho y áo cà sa (không dính bụi phiền não)—The stainless garment, the monastic robe of purity.
vô cấu địa
The stage of undefilement, the second stage of a Bodhisattva; also applied to the final stage before attaining Buddhahood.
; 1) Địa thứ hai trong Bồ Tát Địa: The stage of undefilement, the second stage of a bodhisattva—See Thập Địa Phật Thừa. 2) Bồ Tát Đẳng Giác Địa: Giai đoạn cuối cùng trong Bồ Tát Địa—The final stage before attaining Buddhahood.
vô cố
Causeless—Without reason (cause).
vô cớ
See Vô Cố.
Vô Cực
(無極): có hai nghĩa chính. (1) Vô cùng tận, không biên giới. Như trong Tả Truyện (左傳), chương Hy Công Nhị Thập Tứ Niên (僖公二十四年), có câu: “Nữ đức vô cực, nữ oán vô chung (女德無極、女怨無終, đức của người nữ không cùng, nỗi oán hờn của người nữ không tận).” Hay trong bài Phụng Hòa Đậu Dung Châu (奉和竇容州) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường cũng có đoạn: “Tự thán phong ba khứ vô cực, bất tri hà nhật hựu tương phùng (自歎風波去無極、不知何日又相逢, tự than phong ba đi hoài mãi, biết đến ngày nao lại trùng phùng).” (2) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc cho rằng Vô Cực là bản nguyên hình thành vũ trụ vạn vật; vì nó không hình tượng, không âm thanh cũng như màu sắc, vô thỉ vô chung, chẳng thể nào đặt tên, nên gọi là Vô Cực. Trong tác phẩm Thái Cực Đồ Thuyết (太極圖說) của Châu Đôn Gi (周敦頤, 1017-1073) nhà Tống giải thích rằng: “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực động nhi sanh dương, động cực nhi tĩnh, tĩnh nhi sanh âm, … âm dương nhất Thái Cực dã, Thái Cực bổn Vô Cực dã (無極而太極、太極動而生陽、動極而靜、靜而生陰…陰陽一太極也、太極本無極也, Vô Cực mà Thái Cực, Thái Cực động mà sanh ra dương, động đến tận cùng thì tĩnh, tĩnh thì sanh âm, … âm dương hợp nhất là Thái Cực, Thái Cực vốn Vô Cực vậy).”
vô cực
Không có giới hạn—Limitless—Infinite—Endless—Boundless.
vô cực chi thể
Thân thể của chúng sanh nơi Cực Lạc Tịnh Độ hay trạng thái nơi thân tâm đạt ngộ lý Niết Bàn vô cực—The limitless bodies of those in the Pure Land; the state of one who has attained nirvana.
vô danh
Unnamed—Nameless—Anonymous.
vô duyên
Causeless, without immediate causal connection, uncaused, underived, independent.
; Không có quan hệ ràng buộc, không có sự vin theo của tâm thức—Causeless—Uncaused—Without immediate causal connection—independent.
vô duyên quán bồ tát
Nirālambanadhyāna (S)Tên một vị Bồ tát.
vô duyên tam muội
Anilambha samādhi (S)Một trong những phép tam muội của chư Bồ tát và chư Phật. Mỗi đức Phật hay Bồ tát đều đắc vô luợng phép tam muội.
; Anilambha (S). "Undropped samàdhi", in which all mental functions cease to connect with environment and cease to function.
; Anilambha (skt)—Diêt Tận Định—Thiền định diệt hết tất cả tâm thức mà xa lìa sở duyên—Unpropped samadhi in which all mental functions cease to connect with environment and cease to function.
vô duyên thừa
The vehicle, or method, of the subjective mind, by which all existence is seen as mental and not external. The Vô duyên thừa tâm is the sixth of the thập trụ stage.
; Thừa theo vô duyên tâm mà thực hành đạo bồ đề, ngoài tâm ra không có một pháp nào khác từ bên ngoài—The vehicle or method, of the subjective mind, by which all existence is seen as mental and not external.
vô duyên từ
Uncaused compassion.
vô dư
xem hữu dư.
; Asesa (S). No reminder, no remnant, final; applied to the section of the Vinaya regarding expulsion for unpardonable sin frm the monkhood; also to final nirvàna without remainder for reincarnation.
; Asesa (skt)—Không tàn dư hay không còn sót lại thứ gì (sự tột bậc của sự lý)—Without remainder—No remnant—Final—Nothing for reincarnation to lay hold of.
vô dư (y) niết bàn
Anupadhisesa (S). The nirvàna state in which exists no remainder of the karma of suffering.
vô dư kí
Complete or final prediction, e.g. to Buddhahood, as contrasted with partial prediction.
vô dư niết bàn
Anupadhisesa (S), Anupadisesa-nibbāna (P), NirŪpadhiśeṣa-nirvāṇa (S), Anapadisesa nibbana dhātu (S) Final nibbana Trạng thái Niết bàn đạt được lúc không còn thân ngũ uẩn.Vô dư y Niết bàn.
; Anupadisesa-nibbana (p)—Anupadhisesa (skt). • Niết bàn sau cùng không còn thứ gì sót lại cho kiếp luân hồi sanh tử, nơi mà tất cả những quả đều chấm dứt, hay sự hiện hữu của mạng căn đã hoàn toàn bị dập tắt—Final nirvana without remainder of reincarnation where all the effects (quả) are ended—The nirvana state in which exists no remainder of the karma of suffering, or the full extinction of the groups of existence. • Niết Bàn của A La Hán nơi thân tâm đều đoạn diệt: The nirvana of arhat extinction of body and mind. • Niết Bàn không còn lại tụ hay uẩn. Nó là sự diệt tận toàn diện những điều kiện của hữu cũng như phiền não. Có thể gọi nó là vô dư của hữu. Đấy là Niết Bàn hay “Giải Thoát Viên Mãn,” là sự nhập diệt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: The Nirvana without the upadhi remnant. It is the total extinction of the conditions of being as well as of passion. One may call it the annihilation of being. This is Nirvana of Perfect Freedom, or the passing away of Sakyamuni Buddha.
vô dư thọ ký
Lời thọ ký sau cùng của Đức Phật về những đệ tử của Ngài sau nầy sẽ thành Phật, đối lại với hữu dư thọ ký (khi Phật nói sau nầy ngươi sẽ được vị Phật nào đó thọ ký cho)—A detailed (complete or final) Prediction of the Buddha on his disciples' awakening and enlightenment, as contrasted with partial prediction.
Vô Dư Y Niết Bàn
(s: anupadhiśeṣa-nirvāṇa, p: anupādisesa-nibbāna, 無余依涅槃): hay còn gọi là Vô Dư Niết Bàn, đối lập với Hữu Dư Y Niết Bàn, nghĩa là chứng đạt cảnh giới Niết Bàn mà thân thể do Ngũ Uẩn (s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊) hợp thành này cũng tận diệt, không còn chỗ sở y nào nữa. Nó cũng là một trong bốn loại Niết Bàn, gồm Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn, Hữu Dư Niết Bàn, Vô Dư Niết Bàn và Vô Trú Xứ Niết Bàn. Theo thuyết của Duy Thức thì khi đoạn tận phiền não chướng, thức thứ 8 sẽ chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, diệt hết tất cả lậu hoặc thì gọi là Vô Dư Y Niết Bàn.
vô dư y niết bàn
Xem Vô dư Niết bàn.
Vô Dị Nguyên Lai
(無異元來, Mui Ganrai, 1575-1630): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân Thư Thành (舒城), Lô Châu (廬州, Tỉnh An Huy), họ Sa (沙), húy là Nguyên Lai (元來), Đại Nghĩ (大艤), hiệu Vô Dị (無異). Năm 16 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Tĩnh An Thông (靜安通) ở Ngũ Đài Sơn (五臺山), Tỉnh Sơn Tây (山西省), tu về Không Quán được 5 năm; tiếp theo ông đến Nga Phong (峨峰), tham yết Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經), nhưng không hợp khế cơ nên đến địa phương Mân (閩) và tham học với các danh tăng khác. Về sau, ông lại đến tham vấn Huệ Kinh lần nữa và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 30 (1602) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông sống qua các nơi như Bác Sơn (博山, Tỉnh Giang Tây), Đổng Nghiêm Tự (董嚴寺) ở Mân, Đài Ngưỡng Bảo Lâm Tự (臺仰寳林寺), Cổ Sơn Dũng Tuyền Tự (鼓山湧泉寺), rồi làm trú trì Thiên Giới Tự (天界寺). Vào ngày 18 tháng 12 năm thứ 3 niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 41 hạ lạp. Ông có để lại Vô Dị Thiền Sư Quảng Lục (無異禪師廣錄) 35 quyển, Vô Dị Đại Sư Ngữ Lục Tập Yếu (無異大師語錄集要) 6 quyển.
vô dụng
Useless.
vô gia cư
Homeless.
vô gia đình
Without a family.
Vô già
(無遮): không ngăn chận, che đậy, cản trở, bao dung quảng đại, độ thoát hết tất cả, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, tăng tục, trí ngu, thiện ác, v.v. Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 1 có câu: “Như Lai khai xiển vô già, độ chư nghi báng (如來開闡無遮、度諸疑謗, Như Lai mở bày sự bao dung, độ những người nghi ngờ, phỉ báng).” Từ đó, từ này còn chỉ cho Vô Già Đại Hội (無遮大會) hay Vô Già Hội (s: pañca-vārṣika maha, 無遮會), tức là pháp hội bố thí một cách bình đẳng Tài Thí và Pháp Thí. Như trong bài thơ Linh Cốc Tự (靈谷寺) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh có câu: “Thất nhật Vô Già diên, huân thiên chúng hương úc (七日無遮筵、薰天眾香郁, bảy ngày cỗ Vô Già, thơm hương trời ngào ngạt).” Hay trong Trần Thư (陳書), phần Cao Tổ Kỷ Hạ (高祖紀下), có đoạn rằng: “Canh Thìn, chiếu xuất Phật nha ư Đỗ Mụ trạch, tập tứ bộ thiết Vô Già Đại Hội, Cao Tổ thân xuất quan tiền lễ bái (庚辰、詔出佛牙於杜姥宅、集四部設無遮大會、高祖親出闕前禮拜, vào năm Canh Thìn, nhà vua hạ chiếu đem răng Phật ra ở tư gia của Đỗ Mụ, tập trung bốn bộ nhạc công thiết lập Đại Hội Vô Già, vua Cao Tổ đích thân ra trước cổng lễ bái).” Trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) cũng có đoạn: “Như tích thí nhất Vô Già Hội, kim đắc như thị đại uy quyền (汝昔施一無遮會、今得如是大威權, ngươi xưa bố thí Vô Già Hội, nay được như vậy đại uy quyền).” Trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ lại có đoạn rằng: “Kim tắc Vô Già Hội khải, Quan Âm hiện Tiêu Diện chi hình; đại thí môn khai, tôn giả thiết Ma Già chi hộc, thỉnh Thất Như Lai nhi tác chứng (今則無遮會啟、觀音現焦面之形、大施門開、尊者設摩伽之斛、請七如來而作證, nay lúc Vô Già Hội mở, Quan Âm hiện Tiêu Diện thân hình; thí thực cửa bày, tôn giả dọn Ma Già hộc cúng, thỉnh Bảy Như Lai mà chứng giám)”, hay “duy nguyện thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn, thử dạ kim thời, lai thọ Vô Già Cam Lộ pháp thực (惟願承三寶力、仗秘密言、此夜今時、來受無遮甘露法食, xin nguyện nương Tam Bảo lực, nhờ bí mật lời, đêm nay lúc này, đến thọ Vô Già Cam Lộ cơm pháp).”
vô già
Bao dung không ngăn ngại. Ân huệ, lòng bi mẫn và lòng thương yêu chúng sanh của Phật—Unconcealing, unconfined; illimitable. Buddha-grace, Buddha-mercy, Buddha-love. ** For more information, please see Vô Cái.
vô già đại hội
Mokśa-Mahāpariśad (S), Pacapariśad (S), Pacavarṣika (S), Pacavar-ṣika-pariṣad (S).
; Moksa Mahàparisad (S). Council convoked every five years.
; Panca-varsika-parisad (skt)—Cứ năm năm thì chư Tăng Ni họp đại hội một lần để chia xẻ kinh nghiệm tu hành, và cùng nhau phát lồ sám hối (tục có từ thời Lương Võ Đế)—The quinquennial assembly, for having all things in common, and for confession, penance, and remission.
vô giá
Inestimable—Invaluable—Priceless.
vô gián
Ānantariya (S), Disinterruption Trực tiếp.
; Avici (S). Uninterrupted, unseparated, without intermission.
; Avici (skt)—Liên tục hay không có sự gián cách về thời gian hay không gian—Without interruption—Uninterrupted—Without intermission—Unseparated.
vô gián duyên
Thứ Đệ Duyên—Connected ir consequent causes—Continuous conditional or accessory cause.
vô gián nghiệp
The unintermitted karma, or unintermitted punishment for any of the five unpardonable sins.
; Anantarya (skt). Vô gián nghiệp hay hình phạt không ngừng nghỉ dành cho kẻ phạm phải năm tội ngũ nghịch—The unintermitted karma or unintermitted punishment in the Avici hells for any of the five unpardonable sins (năm tội ngũ nghịch)—See Ngũ Nghịch.
Vô gián ngục
xem A-tỳ.
vô gián đạo
Ānantarya-mārga (S), Disinterrupted path.
vô gián địa ngục
Hell of incessant pain, Avici HellXem A tỳ địa ngục
; The Avici hell, the last of the eight hot hells, in which punishment, pain, form, birth, death continue without intermission.
; Avici (skt)—Địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục nóng, trong đó tội nhân phải chịu hình phạt đau đớn khổ sở chết đi sống lại không ngừng nghỉ (nơi dành cho những người phạm phải ngũ nghịch)—The Avici hell—Incessant Hell—Hell Without Respite—The last of the eight hot hells, in which punishment, pain, form, birth, death continue without intermission. ** For more information, please see Địa Ngục (A) (a) (8).
vô giáo dục
Uneducated—Ill-bred.
vô hiệu
Inefficacious—Ineffectual—Ineffective.
vô hiệu nghiệp
Ahosi-kamma (P), Ineffective karma Một trong 5 loại nghiệp.
; Ahosi-kamma (P). Ineffective karma.
Vô Học Tổ Nguyên
(無學祖元, Mugaku Sogen, 1226-1286): vị Thiền tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破菴) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, Tổ khai sơn Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ của Phái Phật Quang (佛光派); húy là Tổ Nguyên (祖元), tự là Tử Nguyên (子元), đạo hiệu Vô Học (無學), người Phủ Khánh Nguyên (慶元府, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), Minh Châu (明州); họ là Hứa (許), con của Hứa Bá Tế (許伯濟). Theo lời chỉ thị của anh là Trọng Cử Hoài Đức (仲擧懷德), ông đến tham bái Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang) và xuất gia theo vị nầy. Sau đó, ông đến làm môn hạ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được vị nầy ấn khả cho và kế thừa dòng pháp. Sau khi thầy qua đời, ông lại đến tham yết một số danh tăng khác như Thạch Khê Tâm Nguyệt (石溪心月) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞) ở Dục Vương Sơn (育王山), Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚), v.v. Sau đó, ông trở về quê cũ, theo làm môn đệ của Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) ở Đại Từ Tự (大慈寺) mà tu hành tọa Thiền suốt hai năm ròng. Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị ấp chủ La Quý Trang (羅季莊), ông đến trú tại Bạch Vân Am (白雲庵) ở Đông Hồ (東湖). Khi ấy ông 37 tuổi, ông sống nơi đây trong vòng 7 năm, rồi sau khi thân mẫu ông qua đời, ông đến phụ giúp với pháp huynh Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇) ở Linh Ẩn Tự. Kế tiếp ông lại được Đại Truyền Cống Thu Hác (大傳賈秋壑) cung thỉnh đến trú tại Chơn Như Tự (眞如寺), vùng Đài Châu (台州, thuộc Tỉnh Triết Giang) trong vòng 7 năm. Đến năm đầu (1275) niên hiệu Đức Hựu (德祐), để lánh nạn đao binh của quân nhà Nguyên, ông đến trú tại Năng Nhân Tự (能仁寺) vùng Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông lại trở về Tứ Vương Sơn (四王山), đến tham viếng pháp huynh ở Thiên Đồng Sơn (天童山) là Hoàn Khê Duy Nhất (環溪惟一), dừng chân lưu lại đây và thuyết giáo cho đại chúng. Đến năm thứ 2 (1279) niên hiệu Hoằng An (弘安), nhân việc Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) triệu thỉnh những vị Thiền tăng cao đức sang Nhật làm trú trì Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Tổ Nguyên được suy cử, nên vào tháng 5 cùng năm nầy ông rời khỏi Thái Bạch Sơn (太白山), rồi vào ngày 30 tháng 6 thì đến Thái Tể Phủ (太宰府), và tháng 8 thì đến Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Khi ấy Thời Tông nghênh đón ông rất trọng thể, và cử ông làm trú trì Kiến Trường Tự sau khi Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) qua đời. Vào mùa đông năm 1282, Thời Tông kiến lập nên Viên Giác Tự, rồi thỉnh Tổ Nguyên đến làm tổ khai sơn chùa nầy. Về sau, ông kiêm quản cả hai chùa Kiến Trường và Viên Giác, bố giáo Thiền phong khắp vùng Liêm Thương, và trong vòng 8 năm lưu trú tại Nhật, ông đã xác lập cơ sở Lâm Tế Tông Nhật Bản. Vào tháng 8 năm thứ 9 niên hiệu Hoằng An (弘安), ông phát bệnh, và đến ngày mồng 3 tháng 9 thì viên tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời, 49 pháp lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phật Quang Quốc Sư (佛光國師) và hiệu là Viên Mãn Thường Chiếu Quốc Sư (圓滿常照國師). Bộ Phật Quang Quốc Sư Ngữ Lục (佛光國師語錄) của ông gồm 10 quyển hiện còn lưu hành.
vô hình tướng
Niràbhàsa (S). No appearance, no splendour. Also Vô ảnh tượng.
vô hại
Harmless.
vô hại độc
Amagadha (S)A ma yết đàMột cõi giới của ngài Đế thích tu nhân thời quá khứ.
vô hạn không
Xem Vô thuỷ không.
vô hạn định
Indefinitely.
vô hạn định nghiệp
Infinitely effective karma—See Nghiệp Vô Hạn Định.
vô hậu
Heirless.
vô hậu sinh tử
No more birth-and-death, the bodhisattva who will not again be subject to the wheel of transmigration.
; Không còn sinh tử—Bồ tát không còn chịu luân hồi sanh tử nữa—No more birth and death—The bodhisattva who will not again be subject to the wheel of transmigration.
Vô Học
無學|Thuý Vi Vô Học
vô học
Aśaikṣa (S)Thánh.
; Asaiksa (S). No longer learning, beyond study, the state of arhatship.
; Asaiksa (skt) 1) Không có học thức: Illiterate—Uneducated. 2) Không cần phải học nữa. Khi đạt tới giai đoạn nầy, hành giả không cần phải học hay cố gắng thành tựu theo tôn giáo. Đây là giai đoạn của bậc A La Hán, giai đoạn thứ tư trong Thanh Văn Thừa, ba giai đoạn trước là hữu học—Asaika—No longer learning—Beyond study—Beyond learning stage refers to the stage of Arhatship in which no more learning or striving for religious achievement is needed (when one reaches this stage)—The state of arhatship, the fourth of the sravaka stages; the preceding three stages requiring study; there are nine grades of arhats who have completed their course of learning—See Bất học, and Tứ Thánh Quả (4).
vô học quả
Quả vị A La Hán hay quả vị cuối cùng trong Tứ Thánh Quả—The last (fourth) stage of the sravaka stages, the state of arhatship. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả (4).
vô học thúy vi thiền sư
Zen Master Wu-Xue-Shui-Wei—Thiền Sư Vô Học Thúy Vi là đệ tử của Thiền Sư Đơn Hà—Zen Master Wu-Xue-Shui-Wei was a disciple of Zen master T'an-Xia. • Trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Thiền Sư Đơn Hà, sư hỏi: “Thế nào là thấy chư Phật?” Đơn Hà quở: “Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?” Sư lùi ba bước. Đơn Hà bảo: “Lầm!” Sư tiến tới ba bước. Đơn Hà lại bảo: “Lầm! Lầm!” Sư giở một chân lên, xoay thân một vòng, đi ra. Đơn Hà bảo: “Được tức được, cô phụ chư Phật khác.” Sư do đây lãnh hội ý chỉ, về trụ núi Thúy Vi tại Chung Nam Sơn— Shui-Wei asked T'an-He: “What is the teaching of all Buddhas?” T'an-He exclaimed: “Fortunately, life is fundamentally wonderful. Why do you need to take up a cleaning cloth and broom?” Wu-Xue retreated three steps. T'an-He said: “Wrong.” Wu-Xue again came forward. T'an-He said: “Wrong! Wrong!” Wu-Xue then lifted one foot into the air, spun in a circle and went out. T'an-He said: “Such an answer! It's turning one's back on all the Buddhas.” Upon hearing these words, Wu-Xue attained great enlightenment. • Thiền sư Đại Đồng đến hỏi sư: “Không biết Nhị Tổ mới thấy Tổ Đạt Ma có sở đắc gì?” Sư bảo: “Nay ngươi thấy ta lại có sở đắc gì?” Đại Đồng đốn ngộ huyền chỉ—When Wu-Xue was abbot of a temple, T'ou-Tzi Yi-Qing said to him: “I'm not clear about what resulted when the Second Patriarch first saw Bodhidharma.” Zen master Wu-Xue said: “Right now you can see mee. What is the result?” At that moment T'ou-Tzi suddenly awakened to the profound mystery. • Một hôm, sư đi trong pháp đường, Đại Đồng tiến đến trước lễ, thưa: “Mật chỉ từ Ấn Độ qua, Hòa Thượng dạy người thế nào?” Sư dừng bước một chút. Đại Đồng lại thưa: “Xin thầy chỉ dạy.” Sư bảo: “Lại cần cái bầu nước nhỏ thứ hai sao?” Đại Đồng tạ lễ lui ra. Sư bảo: “Chớ lấp gốc.” Đại Đồng thưa: “Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.”—One day, Zen master Shui-Wei was walking in the Dharma hall. T'ou-Tzi walked up in front of him, bowed to him and said: “The essential meaning of the First Patriarch coming from the west, how does the master demonstrate this to people?” The master stopped walking and stood there. T'ou-Tzi said: “Please demonstrate it, Master.” Shui-Wei said: “Do you want another adle full of polluted water?” T'ou-Tzi then bowed in thanks. Shui-Wei said: “Don't make matters worse.” T'ou-Tzi said: “It's the season when seeds grow everywhere.” • Nhơn sư cúng dường La Hán, có vị Tăng hỏi: “Đơn Hà đốt tượng Phật gỗ, Hòa Thượng vì sao cúng dường La Hán?” Sư bảo: “Đốt cũng chẳng đốt đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.” Tăng lại hỏi: “Cúng dường La Hán có đến chăng?” Sư bảo: “Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?” Tăng không đáp được. Sư bảo: “Chẳng có bao nhiêu người khôn.”—When Shui-Wei was making offerings to the sacred images, a monk asked: “Zen master T'an-He burn a wooden Buddha. Why then, Master, do you make offerings to the wooden statues?” Shui-Wei said: “Because they won't burn. But if you want to make them an offering they'll let you do so.” The monk asked: “If you make an offering to the sacred figures will they come or not?” Shui-Wei said: “Aren't you able to eat every day?” The monk didn't answer. Shui-Wei said: “There aren't many clever ones.”
Vô Học Tổ Nguyên
無學祖元; C: wúxué zǔyuán; J: mugaku sogen; 1226-1286;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, đắc pháp nơi Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn. Năm 1279, Sư được mời sang Nhật giáo hoá và nối dõi Thiền sư Lan Khê Ðạo Long trụ trì chùa Kiến Trường (kenchō-ji). Sau, Sư thành lập chùa Viên Giác (engaku-ji). Cả hai chùa đều được xếp vào Ngũ sơn của Liêm Thương (kamakura), trung tâm của Thiền tông tại Nhật.
vô học đạo
Aśaikṣa-mārga (S)Một trong Tam đạo, ba giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát.
; The way of arhat, especially his attainment to complete truth and freedom from all illusion, with nothing more to learn.
; Con đường của bậc A La Hán, đặc biệt khi hành giả đã đạt được chân lý và thoát khỏi những ảo tưởng, không còn gì nữa để học. Đây là giai đoạn cuối cùng trong Tứ Thánh---The way of the Arhat, especially his attainment to complete truth and freedom from all illusions, with nothing more to learn—The fourth and last stage in the Four Saints, which is beyond the need of further teaching or study.
vô hồn
Inanimate.
vô hữu
Abhāva (P), Non-existence Vô thuyết, Phi hữu, Không tồn tại.
; Vô và hữu—Non-existent and existent.
Vô Không
(無空, Mukū, ?-918): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Tọa Chủ đời thứ 2 của Cao Dã Sơn, húy là Vô Không (無空). Ban đầu ông theo học Mật Giáo với Chơn Nhiên (眞然), rồi sau đó trở thành Tọa Chủ của Cao Dã Sơn. Vào năm 900, nhân khi Vũ Đa Pháp Hoàng (宇多法皇) đi tham bái các chùa, ông làm tiền đạo dẫn đường cho Pháp Hoàng. Năm 912, Quán Hiền (觀賢) ở Đông Tự yêu cầu ông trả lại bộ Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子) của Không Hải, nhưng ông từ chối; đến năm 916, ông lấy bộ sách này cùng với chúng đệ tử đến Vi Đề Tự (圍堤寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), rồi sau đó chuyển sang Liên Đài Tự (蓮台寺) ở Y Hạ (伊賀, Iga) và qua đời tại đó.
vô khẩu
Vô khẩu thì vô thuyết vô thị (khai thị), gọi là chân thuyết; vô thuyết thì vô thính vô văn (nghe), gọi là chân văn.
vô khứ vô lai
Neither going nor coming, eternal like the dharmakàya.
; Không đi không đến, chỉ pháp thân của Đức Như Lai vắng lặng thường trụ (theo Kinh Kim Cang thì Như Lai là không từ đâu tới và không đi đâu; theo Khởi Tín Luận thì Như Lai không sinh không diệt, bốn tướng không làm nó di động, không đi không đến, ba đời không làm nó thay đổi)—Neither going nor coming—Eternal like the dharmakaya.
vô kiến
Xem Si.
; Holding to the view of entire unreality.
Vô kiến đỉnh
xem Đỉnh tướng.
Vô kiến đỉnh tướng
xem Đỉnh tướng.
vô kiến đỉnh tướng
Xem Đỉnh tướng.
; The usnisa, or lump, on Buddha's head, called "the invisible mark on the head" because it was supposed to contain an invisible sign.
; Một trong ba mươi hai tướng hảo, trên đầu Đức Phật có khối thịt hình búi tóc. Trong tướng nầy có cái đỉnh điểm mà trời người không thể thấy được—One of the thirty-two good marks, the usnisa, or lump, on Buddha's head, called “the invisible mark on the head,” because it was supposed to contain an invisible sign; perhaps because it was covered. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.
vô kí
Avyàkrta, avyàkhyàta (S). Unrecordable (either as good or bad); neutral, neither good nor bad; things that are innocent, or cannot be classified under moral categories.
vô ký
chỉ các hành vi không thuộc về thiện cũng không thuộc về bất thiện.
; Avyākṛta (S).
; Avyakrta (skt) 1) Không thể ghi nhận là thiện hay bất thiện: Unrecordable (either good or bad). 2) Trung tính: Neutral—Neither good nor bad. Things that are innocent or cannot be classified under moral categories.
vô ký không
Kẻ tham thiền nếu chẳng có nghi tình, cũng chẳng có vọng tưởng, trong tâm như một tờ giấy trắng, tức lọt vào Vô ký không, là thuộc về thiền bệnh.
vô ký nghiệp
Avyākṛta-karma (S).
vô kế
Without means.
vô kể
Unnumbered—Countless.
vô kỷ luật
Undisciplined.
vô liêm sĩ
Shameless.
vô luân
Immoral.
vô luận
Regardless of—Without distinction.
vô lý
Unreasonable—Irrational—Absurd.
vô lương tâm
To have no conscience.
vô lượng
Apamaa (P), Avatāra (S), Apramāṇa (S), Immeasurable Apamaa (P).
; Apramàna, amita, ananta (S). Immeasurable, unlimited, e.g. the "four infinite" characteristics of a Bodhisattva are từ bi hỉ xả, loving kindness, compassion, joy and equanimity.
; Apramana (skt)—Rất nhiều, không đong đếm hay đo lường được. Có bốn thứ vô lượng của vị Bồ Tát là Từ, Bi, Hỷ, Xả—Unlimited—Immeasurable—Measureless—Boundless—Infinite—Countless. There are four infinite characteristics of a Bodhisattva: kindness, pity, joy, and self-sacrifice.
vô lượng biên
Anantapratibhāna (S)Vô biên biên.
vô lượng biện tài tam muộ
i Ulimited samādhis and eloquence.
vô lượng chư thiên
Numberless Great Multitudes gods from all heavens.
vô lượng giác
Infinite enlightenment, name of Amtàbha.
; Vô Lượng Giác là tên hiệu của Đức Phật A Di Đà—Infinite enlightenment, name of Amitabha—See A Di Đà.
vô lượng huệ
Infinite wisdom (of the Buddha).
vô lượng kiếp
Asamkhyeyas of eons—Uncountable eons.
vô lượng luân hồi
Innumerable reincarnations.
vô lượng lực bồ tát
Anatavikramin (S)Tên một vị Bồ tát.
; The Bodhisattva with Infinite Power.
vô lượng môn
Xem Phổ môn.
vô lượng môn phá ma đà la ni kinh
Xem Phật thuyết vô lượng môn phá ma Đà la ni kinh.
vô lượng môn vi mật trì kinh
Xem Phật thuyết vô lượng môn vi mật trì kinh.
vô lượng nghiệp
Boundless karma.
vô lượng nghĩa
Infinite meaning, or the meaning of infinity; the meaning of the all, or of all things.
; 1) Nghĩa lý vô lượng vô số: Infinite meaning—Innumerable meanings—Meaning of infinity. 2) Tất cả các pháp. Các pháp là vô lượng, mọi cái đều đầy đủ ý nghĩa: The meaning of all things.
vô lượng nghĩa kinh
Mahānirdeśa (S)Một trong 47 tên khác nhau của Kinh Pháp Hoa.
; Scriptures of measureless meaning (universalistic or the infinite)—See Phương Quảng.
vô lượng nghĩa xứ tam muội
Anantanir-deśapratiṣṭhāna-samādhi (S).
; Anantanirdesapratisthàna-samàdhi (S). The concentration into which the Buddha is represented as entering before preaching the doctrine of infinity as given in the Lotus-sùtra.
; Phật nhập vào định nầy trước khi Ngài nói kinh Vô Lượng Nghĩa (Pháp Hoa)—The Anatanirdesapratisthana samadhi—Into which the Buddha is represented as entering before preaching the doctrine of infinity (the Lotus Sutra).
Vô Lượng Quang
無量光; S: amitābha;|A-di-đà Phật
vô lượng quang
Appamāṇābha (P), Infinite light, Apramāṇābha (S).
; Apramànànha (S). Immeasurable, or infinite light or splendour.
; Apramanabha (skt)—Tên gọi khác của Phật A Di Đà—Infinite (Immeasurable) Light or splendor, another name for Amitabha Buddha. ** For more information, please see A Di Đà, and Vô Lượng Thọ.
vô lượng quang cõi
Land of Immeasurable Light.
vô lượng quang minh
Amitabha Buddha—See A Di Đà.
vô lượng quang minh độ
Cõi Vô Lượng Quang Minh Độ của Đức Phật A Di Đà—Amitabha's Land of Infinite Light.
vô lượng quang như lai
Boundless Light.
vô lượng quang phật
Buddha of Inconceivable Light Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Amitàbha Buddha.
; Amitabha (skt)—The Buddha of Infinite Light—The Buddha of light that is immeasurable, boundless, irresistible, incomparable, pure, joy, wisdom, unceasing, surpassing thought, ineffable, Surpassing sun and moon. ** For more information, please see A Di Đà.
vô lượng quang thiên
Apramāṇābha (S), Infinite Light Appamāṇābha (P)Một trong 3 tầng trời cõi Nhị thiền thiên. Tầng này có anh sáng vô hạn lượng.
; Apramànàbha (S). The heaven of boundless light, the fifth of the Brahmalokas.
; Trời Vô Lượng Quang Thiên trong cõi trời Phạm Phụ thứ năm—The heaven of boundless light, the fifth of the Brahmalokas. ** For more information, please see Thiên (B) (5).
vô lượng quang thọ phật
Buddha of Infinite Light and Life.
vô lượng thanh tịnh
Infinite purity.
vô lượng thanh tịnh phật
The Buddha of boundless purity, Amitàbha.
; The Buddha of boundless purity—Amitabha Buddha—See A Di Đà.
Vô Lượng Thọ
無量壽; S: amitāyus;|Một hiện thân của A-di-đà Phật. Dưới dạng Vô Lượng Thọ, A-di-đà được trình bày trong tư thế Toạ thiền, hai tay cầm bình nước Cam-lộ (bất tử tửu 不死酒, nước bất tử; s: amṛta).
vô lượng thọ
Infinite Life.
; Boundless, infinite Life—Chúng ta đã biết Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ là một vị Phật được lý tưởng hóa từ Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Nếu Phật A Di Đà chỉ thuần là lý tưởng trên nguyên tắc, đơn giản đó là “Vô Lượng,” Vô Lượng như thế sẽ là một với Chân Như. Xét theo không gian sẽ là Vô Lượng Quang; nếu xét về thời gian thì là Vô Lượng Thọ—As we have seen that the Amitabha or Amitayus, or Infinite Light and Infinite Life, is a Buddha realized from the istorical Buddha Sakyamuni. If the Buddha is purely idealized he wil be simply the Infinite in principle. The Infinite will then be identical with Thusness. The Infinite, if depicted in reference to space, will be the Infinite Light, and if depicted in reference to time, the Ithenite Life.
vô lượng thọ hội
Sukhāvatī-vyŪha-sŪtra (S)Kinh A di đà, Vô lượng Thọ kinh, Kinh Tiểu Vô lượng thọMột bộ kinh trong Bảo Tích bộ.
Vô Lượng Thọ Kinh
(s: Sukhāvatī-vyūha-sūtra [ed. by F. M. Müller & B. Nanjō], c: Wu-liang-shou-ching, t: Ḥphags-pa ḥod-dpog-med kyi bkod-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi-mdo, j: Muryōjukyō,無量壽經): còn gọi là Song Quyển Kinh (雙巻經), Đại Vô Lượng Thọ Kinh (大無量壽經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 12, 265, No. 360, Tăng Khải (s: Saṃghavarman, Saṅghapāla; 僧鎧, 460-524) nhà Đường dịch vào năm 252 (niên hiệu Gia Bình [嘉平] thứ 4) đời Tào Ngụy.
vô lượng thọ kinh
Wu-liang-i ching (C)Tên một bộ kinh.
; Sukhàvativyùha-sùtra (S). Sùtra of the Amitabha Buddha.
; The Sukha-vativyuha sutras—Amitayus Sutras—See Kinh A Di Đà.
vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá
Amitāyus śāstropadesa (S)Do ngài Thế Thân biên soạn.
vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá nguyện sanh kệ
Discourse on the Pure Land with Hymn of Birth (kinh số 1524 trong Đại Chánh Tân Tu).
vô lượng thọ như lai
Amitays-Amitābha-Tathāgata (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; See A Di Đà.
vô lượng thọ phật
Amitāyus (S), Infinite Lifespan Buddha of Infinite Life, Measureless Life Là tên hiệu khác của A di đà Phật.
; Boundless, measureless, infinite life, a name of Amitàbha.
; Vô Lượng Thọ Như Lai—Vô Lượng Thọ Vương—The Buddha of Infinite Life—Amitabha Buddha—See A Di Đà, and Vô Lượng Thọ. ** For more information, please see A Di Đà.
vô lượng thọ quang
Infinite Life and Light.
vô lượng thọ quyết định vương đà la ni
Aparimitāyur-dhāraṇī (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
vô lượng thọ tông yếu kinh
Xem Đại thừa Vô Lượng Thọ Tông yếu Kinh.
vô lượng thọ vương
See A Di Đà.
vô lượng tinh tiến phật
Measureless vigour Buddha.
vô lượng tinh tấn phật
Anatavirya Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai. Một đức Phật vị lai, cõi giới ở phương bam cõi ta bà.
vô lượng tràng phật
Amitadhvaga Buddha (S)Một đức Phật vị lai quốc độ ỡ phương tây cõi ta bà.
; Measureless curtain Buddha.
vô lượng trăm ngàn muôn ức chúng sanh
Countless hundreds of thousands of millions of living beings.
vô lượng tuệ
Infinite wisdom, a term applied to a Buddha.
; Từ ngữ ám chỉ Đức Phật—Infinite wisdom, a term applied to a Buddha.
vô lượng tâm
Appamāṇā (P), Amita, Ananta (S).
; Infinite mind, the mind of Infinity, the mind as large as infinity.
vô lượng tôn
The Infinite Honored One—Amitabha Buddha—See A Di Đà.
vô lượng tướng phật
Measureless Appearance Buddha Amitaskanda Buddha (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Measureless appearance Buddha.
vô lượng tịnh
Apramāṇāsubha (S), Boundless Purity Appamāṇāsubha (P)Một trong 3 cõi trời Tam thiền. Sự thanh tịnh ở cõi này không thể tính lường.
vô lượng tịnh thiên
Appamāṇāsubhadeva (P), Inhabitant of the Realm of Boundless Purity.
; Apramànasubha (S). Boundless purity, the second of the heavens in the third dhyàna heavens of form.
; Apramanasubha (skt)—Cõi trời thứ hai trong ba cõi trời thiền định sắc giới—Boundless purity, the second of the heaven in the third dhyana heavens of form.
vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp
Measureless limitless asankhyeya kalpas.
vô lượng ý
Anantamati (S).
; Anantamati (S). Boundless mind, intention, will, or meaning.
; Anantamati (skt)—Boundless mind, intention, will or meaning.
vô lậu
không có sự rỉ chảy của những điều bất tịnh, chỉ sự ô nhiễm của sáu căn do tiếp xúc với sáu trần. Vô lậu tức là thanh tịnh, không còn bị ô nhiễm.
; Anasrāva (S), Anāsava (P), Anasvara (S)Không lậu tiết, không còn các mối phiền não. Bậc Vô lậu là bậc Thánh vì không còn phiền nãoKhông có tập khí phiền não là vô lậuPháp xa lìa phiền não.
; Anàsrava (S). No drip, leak, or flow; outside the passion stream; passionless; outside the stream (of transmigratory suffering); away from the down flow into lower forms of rebirth.
; Không có tập khí phiền não là vô lậu.
; Anasrava (skt) 1) Không dột: No leakage—Without leakage—No drip. 2) Không phiền não—Vượt ngoài dòng dục vọng và những khổ sở của luân hồi sanh tử. Tránh khỏi tam đồ ác đạo. Phước đức và công đức vô điều kiện là những nhân tố chính đưa đến giải thoát—No drip—No leak—No leakage—Outside the passion stream—Passionless—A state without emotional distress—Unconditioned—Outside the stream of transmigratory suffering—Away from the down flow into lower forms of rebirth—Liberation—Nirvana—Unconditioned merits and virtues are the main causes of liberation from birth and death. 3) Trạng thái như thị của sự vật: The state in which things are as they are.
vô lậu căn
Anasravendriyani (S).
; The three roots which produce pure knowledge.
; Cái căn bản của vô lậu trí—Faultlessness—Roots which produce pure knowledge.
vô lậu giải thoát môn
Nirvana.
vô lậu huệ
Jnanam-anasrava (skt)—Trí huệ thanh tịnh, không bị ô nhiễm vì vị kỷ—Passionless or pure wisdom (knowledge or enlightenment), which is free from the taint of egotism.
vô lậu môn
Asravaksaya-jnàna (S). Entry into spiritual knowledge free from all faults.
; Asravaksaya-jnana (skt)—Lậu Tận Thông—Entry into spiritual knowledge which is free from all faults. ** For more information, please see Lục Thông (6).
vô lậu nghiệp
Karma of Hinayana nirvana.
vô lậu nhân
Passionless purity as a cause for attaining nirvàna.
; Tu theo giới định tuệ của vô lậu thanh tịnh để chứng nhập quả vị Niết Bàn—Passionless purity as a cause for attaining nirvana.
vô lậu pháp
The way of purity, or escape from the passion and lower transmigration.
; Phép thanh tịnh xa lìa mọi phiền não cấu nhiễm để vượt thoát khỏi dục vọng và luân hồi sanh tử—The way of purity or escape from the passions and lower transmigration.
vô lậu pháp tính
The pure, passionless dharma nature.
; Pháp tính thanh tịnh vô dục—The pure, passionless dharma-nature.
vô lậu quả
The result of following the way of giới, định, tuệ, i.e. purity, meditation, and wisdom, with liberation from the passions and from lower incarnation.
; Quả đức nhờ vô lậu đạo mà đắc được hay kết quả đi theo những việc thanh tịnh, thiền định và trí tuệ, giúp chúng sanh thoát khỏi dục vọng và tái sanh—The result of following the way of immorality (purity), concentration (meditation) and wisdom which helps sentient beings from the passion and from lower incarnation.
vô lậu thiện căn
Uncondittioned good roots.
vô lậu thông
Abhijā āsrava (S).
vô lậu thật tướng
Reality as passionless or pure.
vô lậu thực tướng
Reality as passionless or pure.
vô lậu trí
Passionless knowledge.
; See Vô Lậu Huệ.
vô lậu tuệ
Passionless, or pure, wisdom, or enlightenment.
; See Vô Lậu Huệ.
vô lậu tối hậu thân
The final pure or passionless body.
; Thân không còn dục vọng—The final pure or passionless body.
vô lậu đạo
The way of purity, or deliverance from the passion.
; Con đường giải thoát khổ đau của luân hồi sanh tử. Thanh Tịnh Đạo hay con đường giải thoát khỏi dục vọng, như tu hành giới, định, tuệ, và đế thứ tư trong tứ đế hay diệt đế—The enlightened way of escape from the miseries of transmigration—The way of purity, or deliverance from the passions, i.e. morality, meditation and wisdom; the fourth of the four dogmas cessation, or annihilation of suffering.
vô lậu đẳng chí
Anasrava-samāpatti (S).
vô lễ
Impolite.
vô lợi
See Vô Ích.
Vô Minh
(s: avidyā, p: avijjā, 無明): không sáng suốt nhận rõ chân lý vì vô trí, không có thể sáng suốt lý giải trạng thái thái tinh thần của sự tướng hay đạo lý, là tên gọi khác của phiền não. Từ này ít khi được dùng để chỉ sự vô trí, ngu muội; đặc biệt chỉ sự không lý giải được đạo lý Phật Giáo. Nó còn là một chi trong Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣). Theo Câu Xá Luận (倶舍論), Vô Minh là một trong Đại Phiền Não Địa (大煩惱地); trong Duy Thức (唯識), nó là phiền não căn bản. Thiền sư Viên Học (圓學, 1053-1116) của Việt Nam có bài thơ liên quan đến Vô Minh rằng: “Lục thức thường hôn chung dạ khổ, vô minh bị phú cửu mê dung, trú dạ văn chung khai giác ngộ, lãn thần tịnh sát đắc thần thông (六識常昏終夜苦、無明被覆久迷慵、晝夜聞鐘開覺悟、懶神淨刹得神通, Sáu Thức thường mê đêm suốt khổ, vô minh che đậy mãi mờ tăm, đêm ngày nghe chuông bừng giác ngộ, thần lười dứt sạch chứng thần thông).”
Vô minh
無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;|Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).|Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).|Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
vô minh
Avijjā (P), Avidyā (S), Delusion, Ignorance,Trái nghĩa với Minh (vidya), cũng gọi là si, tà kiến 1- Một trong 4 pháp trầm luân. 2- Sự mê tối. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 3- Mối trói buộc mà người đắc quả A la hàm dứt được là không còn bị vô minh chi phối nữa.Một niệm chưa khởi là vô thủy vô minh, một niệm mới khởi liền thành nhất niệm vô minh. Tiền niệm diệt, hậu niệm sanh, sanh diệt tương tục thì thành sanh tử luân hồiKhông nhận ra được thực tánh hay Phật tánh của sự vật, hay thực tánh của vạn pháp.
; Avidyà (S). Ignorance, and in some senses Mayà, illusion; it is darkness without illumination, the ignorance which mistakes seeming for being, or illusory phenomena for realities; it is also intp. as Si, ignorant, stupid, fatuous; but it means generally, unenlightened, unillumined. The Khởi tín luận distinguishes two kinds as Căn bản the radical, fundamental, original darkness or ignorance considered as a Vô thủy Vô minh primal condition, and Chi mạt "branch and twig" conditions, considered as phenomenal. Avidyà is also the first, or last of the twelve nidànas.
; Một niệm chưa sanh khởi là vô thủy vô minh, một niệm mới khởi liền thành nhất niệm vô minh. Tiền niệm diệt, hậu niệm sanh, sanh diệt liên tục thì thành sanh tử luân hồi.
; Avijja (p)—Avidya (skt). (I) Nghĩa của Vô Minh—The meanings of Avidya: 1) Si: Ignorance—Stupidity—Delusion. 2) Không giác ngộ: Unenlightened—Unilluminated. 3) Mắt xích thứ nhất hay mắt xích cuối cùng trong Thập Nhị Nhân Duyên: The first or last of the twelve nidanas. 4) Cái tâm ám độn, không chiếu rọi được rõ ràng sự lý của các pháp: Illusion or darkness without illumination, the ignorance which mistakes seeming for being, or illusory phenomena for realities. 5) Vô minh, si mê hay không giác ngộ, một trong ba ngọn lửa cần phải dập tắt trước khi bước chân vào Niết bàn. Đây là trạng thái sai lầm của tâm làm khởi dậy sự tin tưởng về bản ngã—Ignorance—Stupidity—Delusion—Unenlightened—Unenlightened condition—Non-perception—Unillumined—One of the three fires which must be allowed to die out before Nirvana is attained—The erroneous state of mind which arises from belief in self. (II) Phân loại vô minh—Categories of Avidya: (A) Theo Khởi Tín Luận có hai loại Vô Minh—According to the Awakening of Faith, there are two kinds of avidya: 1) Căn bản vô minh: Vô thủy vô minh—The radical, fundamental, original darkness or ignorance considered as a primal condition. 2) Mạt Chi Vô Minh: “branch” and “twig” conditions, considered as phenomenal. ** For more information, please see Avidya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Mê Hoặc. (III) Những lời Phật dạy về “Vô Minh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Avidya” in the Dharmapada Sutra: 1) Người ngu suốt đời gần gũi người trí vẫn chẳng hiểu gì Chánh pháp, ví như cái muỗng múc canh luôn mà chẳng bao giờ biết được mùi vị của canh—If a fool associates with a wise man even all his life, he will understand the Dharma as litle as a spoon tastes the flavour of soup (Dharmapada 64). 2) Kẻ phàm phu không giác ngộ nên đi chung với cừu địch một đường. Cũng thế, những người tạo ác nghiệp nhất định phải cùng ác nghiệp đi đến khổ báo—A fool with little wit, goes through life with the very self as his own greatest enemy. In the same manner, evil doers do evil deeds, the fruit of which is bitter (Dharmapada 66). 3) Khi ác nghiệp chưa thành thục, người ngu tưởng như đường mật, nhưng khi ác nghiệp đã thành thục, họ nhứt định phải chịu khổ đắng cay—As long as the evil deed done does not bear fruit, the fool thinks it is as sweet as honey; but when it ripens, then he comes to grief (Dharmapada 69). 4) Từ tháng này qua tháng khác, với món ăn bằng đầu ngọn cỏ Cô-sa (cỏ thơm), người ngu có thể lấy để nuôi sống, nhưng việc làm ấy không có giá trị bằng một phần mười sáu của người tư duy Chánh pháp—Let a fool, month after month, eats only as much food as can be picked up on the tip of a kusa blade; but he is not worth a sixteenth part of them who have comprehended the truth (Dharmapada 70). 5) Kẻ ngu xuẫn thường hay muốn danh tiếng mà mình không xứng: chỗ ngồi cao trong Tăng chúng, oai quyền trong Tăng lữ, danh vọng giữa các gia tộc khác—The fool always desire for an undue reputation or undeserved honour, precedence among the monks, authority in the monasteries, honour among other families (Dharmapada 73).
vô minh căn bản
Vô thủy vô minh—The radical, fundamental, original darkness or ignorance.
vô minh cương
The snare (lưới) of ignorance.
vô minh hoặc
The illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth of the via media.
; Một trong tam hoặc, những nghi hoặc ảo tưởng khởi sanh bởi căn bản vô minh làm che đậy sự thật—The illusion arising from primal ignorance which covers and hinders the truth, one of the three illusions. ** For more information, please see Tam Hoặc.
Vô Minh Huệ Kinh
(無明慧經, Mumyō Ekyō, 1547-1617): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Vô Minh (無明), họ Bùi (裴), xuất thân Huyện Sùng Nhân (崇仁縣), Tỉnh Giang Tây (江西省). Lúc còn nhỏ, ông đã có chí xuất gia, nên vào Lẫm Sơn (廩山), theo tu học với Uẩn Không Thường Trung (蘊空常忠) được 3 năm, rồi ẩn cư tại Nga Phong (峨峰) và 3 năm sau thì đại ngộ; ông đem kệ trình lên Thường Trung và được thầy cho là pháp khí của Thiền môn. Sau ông theo Tình Canh Vũ Độc (晴耕雨讀) và đến năm 27 tuổi mới chính thức xuất gia và thọ giới. Từ đó về sau, trong suốt 24 năm trường ông không hề rời khỏi Nga Phong. Vào năm thứ 26 (1598) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), nhận lời thỉnh cầu ông đến trú trì Bảo Phương Tự (寳方寺) trong làng, tự mình làm việc trong vòng mấy năm sau thì dựng được một ngôi nhà mới tại đây và bốn phương tăng chúng tập trung đến theo ông tham học. Sau đó, ông đi tham quan khắp chốn tùng lâm, qua Nam Hải (南海), thăm viếng Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏), rồi đến lễ bái tháp vị sơ tổ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺). Tiếp theo, ông đến thăm Đạt Quán (達觀), vào Ngũ Đài Sơn (五臺山) tham yết Thoại Phong (瑞峰), sau đó ông trở về Bảo Phương Tự, bắt đầu khai đường thuyết pháp tại đây và có rất nhiều người đến tham học. Vào năm thứ 36 (1608) niên hiệu Vạn Lịch, thể theo lời thỉnh cầu, ông chuyển đến Thọ Xương Tự (壽昌寺) ở Tân Thành (新城); mấy năm sau ông tiến hành trùng tu lại các ngôi đường vũ bị hoang phế, vẫn tiếp tục làm lao tác, chuyên tâm giáo dưỡng đồ chúng bằng kệ tụng và pháp ngữ. Đến tháng giêng năm thứ 46 cùng niên hiệu trên, ông nhuốm chút bệnh nhẹ và vào ngày 17 cùng tháng thì an nhiên thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Đệ tử kế thừa dòng pháp của ông có Bác Sơn Nguyên Lai (博山元來), Hối Đài Nguyên Kính (晦臺元鏡), Kiến Như Nguyên Mật (見如元謐), Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢), v.v. Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清) soạn bản Tân Thành Thọ Xương Vô Minh Kinh Thiền Sư Tháp Minh (新城壽昌無明經禪師塔銘), Nguyên Hiền biên bộ Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧經禪師語錄) 4 quyển và soạn cuốn Vô Minh Hòa Thượng Hạnh Nghiệp Ký (無明和尚行業記).
Vô Minh Huệ Tánh
(無明慧性, Mumyō Eshō, 1162-1237): vị Thiền Tăng của Phái Tùng Nguyên (松源) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Vô Minh (無明), người vùng Ba Cừ (巴渠) thuộc vùng Viễn Châu (遠州, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Lý. Ban đầu ông đến tham bái Khuất Am Đức Quang (拙庵德光), kế đến theo hầu Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳). Về sau, ông đến hóa đạo ở Tư Phước Tự (資福寺) thuộc vùng Kì Châu (蘄州, Tỉnh Hồ Bắc), rồi trải qua sống một số chùa như Trí Độ Tự (智度寺), Năng Nhân (能仁), Hoa Tạng (華藏), Thê Hiền (棲賢) thuộc vùng Lô Sơn (廬山), Tôn Tướng (尊相), Vạn Tạng (萬藏) ở Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô, Tô Châu). Đến ngày 20 tháng 7 năm đầu niên hiệu Gia Nguyên (嘉元), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Bộ Vô Minh Huệ Tánh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧性禪師語錄) 1 quyển vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.
vô minh kinh
Avijjā sutta (P), Sutra on Ignorance Tên một bộ kinh.
vô minh kiến
Views produced by ignorance, ignorant perception of phenomena.
; Tà kiến sanh ra bởi vô minh—Ignorant perception of phenomena which produces all kinds of illusion—Views produced by ignorance.
vô minh kết
The bond of ignorance.
; Hệ phược của vô minh trói buộc chúng sanh trong vòng sanh tử—The bond of ignorance which binds to transmigration.
vô minh lưu
Unenlightenment, or ignorance, the cause of the stream of transmigration.
; Vô minh là nguyên nhân đưa đến luân lưu trong luân hồi sanh tử—Unenlightenment, or ignorance, the cause of the stream of transmigration.
vô minh lậu
Avidyāsrava (S), The defilement of ignorance.
; Một trong tam lậu hoặc. Vô minh lậu có thể khiến chúng sanh rơi vào vòng sống chết, không thể ra khỏi—The stream of unenlightenment which carries one along into reincarnation, one of the three taints.
vô minh nghiệp ái
Ajnànakarmatrsnà (S). Ignorance, karma, desire - the three forces that cause reincarnation.
; Ajnanakarmatrsna (skt)—Vô minh, nghiệp và ái dục là ba lực chính gây ra tái sanh—Ignorance, karma, and desire are the three main forces that causes reincarnation.
vô minh pháp tính nhất thể
Avidyà and Bhùtatathatà are of the same nature, as are ice and water; the ice of avidyà is the water of all things, the source out of which all enlightenment has come.
; Vô minh và pháp tính đồng một thể như băng với nước, băng vô minh là nước của các tính—Avidya and the Bhutatathata are of the same nature, as are ice and water; the ice of avidya is the water of all things, the source out of which all enlightenment has come.
vô minh phụ
Ignorance as father and desire as mother produce the ego.
; Vô minh như cha, tham ái như mẹ sản sanh ra cái “ngã”—Ignorance as father and desire as mother produce the ego.
vô minh sanh ra tham dục
Ignorance produces desires
vô minh sử
One of the ten lictors, messengers or misleaders, i.e. of ignorance, who drives beings into the chain of transmigration.
; Một trong 10 sử. Vô minh có thể sai sử con người lưu chuyển trong luân hồi sanh tử—One of the ten lictors, messengers, or misleaders, i.e. of ignorance, who drives beings into the chain of transmigration.
vô minh trụ địa
The fifth of the five trụ địa, i.e. the fundamental unenlightened condition, the source or nucleus of ignorance; also ignorance as to the nature of things, i.e. of their fundamental unreality.
; Địa thứ năm trong năm trụ địa vô minh—The state of ignorance, the fifth of the five stages of ignorance.
vô minh tạng
The store house of ignorance.
; Kho chứa vô minh, từ đó sản sanh ra mọi thứ khổ đau phiền não—The storehouse of ignorance, from which issues all illusion and misery.
Vô Môn Huệ Khai
(無門慧開, Mumon Ekai, 1183-1260): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Vô Môn (無門), người Tiền Đường (錢塘), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ là Lương (梁). Ban đầu ông đến tham học với Thiên Long Quăng (天龍肱) và xuất gia, sau đi tham vấn chư Thiền sư khác. Ông đến tham học với Nguyệt Khê Sư Quán (月溪師觀) ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺) trong vòng 6 năm và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 11 (1218) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông bắt đầu khai mở đạo tràng thuyết giảng tại Cát Sơn Báo Nhân Tự (吉山報因寺), rồi sau đó sống qua một số chùa khác như Thiên Ninh Tự (天寧寺), Hoàng Long Tự (黃龍寺), Thúy Nham Tự (翠巖寺) ở Phủ Long Hưng (隆興府, Tỉnh Giang Tây), Phổ Tế Tự (普濟寺) ở Tiêu Sơn (焦山) thuộc Phủ Trấn Giang (鎭江府), Khai Nguyên Tự (開元寺) ở Phủ Bình Giang (平江府), Bảo Ninh Tự (保寧寺) ở Phủ Kiến Ninh (建寧府), và đến năm thứ 6 (1246) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐) ông đến trú trì Hộ Quốc Nhân Vương Tự (護國仁王寺). Chính trong khoảng thời gian này ông viết cuốn Vô Môn Quan (無門關). Ông đã từng thuyết pháp cho vua Lý Tông nghe, tiến hành cầu mưa, vì vậy được ban cho pháp y và hiệu là Phật Nhãn Thiền Sư (佛眼禪師). Vào tháng 4 năm đầu niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi.
; 無門慧開; C: wúmén huìkāi; J: mumon ekai; 1183-1260; |Thiền sư Trung Quốc dòng Dương Kì tông Lâm Tế, nối pháp Thiền sư Nguyệt Lâm Sư Quán (月林師觀). Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất thời, đến bây giờ vẫn còn được nhắc đến qua tập Công án Vô môn quan.|Sư họ Lương, người Tiền Ðường, Hàng Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư ban đầu tham vấn các nơi, sau đến Thiền sư Nguyệt Lâm Sư Quán ở chùa Vạn Thọ, Giang Tô. Ban đầu Nguyệt Lâm giao cho Sư công án »Không« (無) của Triệu Châu làm Thoại đầu. Sư chú tâm vào công án này sáu năm liền nhưng không kết quả. Sư thuật lại rằng, vì quá tập trung vào công án này mà Sư quên cả ngủ mà nếu buồn ngủ trong lúc Toạ thiền, Sư liền đứng dậy đi qua lại trong thiền đường, đập đầu vào cột gỗ cho tỉnh. Một ngày nọ, khi nghe tiếng trống báo hiệu giờ ăn trưa, Sư hoát nhiên đại ngộ, ứng khẩu ngay bài kệ sau (Trúc Thiên & Tuệ Sĩ dịch):|清天白日一聲雷。大地羣生眼豁開|萬象森羅齊稽首。須彌勃跳舞三臺|Thanh thiên bạch nhật nhất thanh lôi|Ðại địa quần sinh nhãn hoát khai|Vạn tượng sum la tề khể thủ|Tu-di bột khiêu vũ tam đài.|*Trời quang mây tạnh sấm dậy vang lừng|Mọi vật trên đất, mắt bỗng mở bừng|Muôn hồng nghìn tía cúi đầu làm lễ|Núi Tu-di cũng nhảy múa vui mừng.|Mừng quá, Sư chạy đến Nguyệt Lâm trình sở đắc. Nguyệt Lâm bắt gặp Sư chạy giữa đường, hỏi: »Chạy đi đâu như bị ma đuổi vậy?« Sư hét một tiếng, Nguyệt Lâm cũng hét một tiếng. Sau đó Sư trình bài kệ rất độc đáo sau:|無無無無無。無無無無無|無無無無無。無無無無無|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|*Không không không không không|Không không không không không|Không không không không không|Không không không không không|Vì kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của Sư nên mọi người trong viện đều kính trọng nhưng cuộc sống hằng ngày của Sư cũng không có gì thay đổi. Lúc nào Sư cũng giữ một tác phong giản dị, thâm trầm. Sư thân hình gầy ốm, ăn mặc thô sơ nhưng lúc nào cũng xả mình vào làm mọi việc cùng với tăng chúng. Những năm sau khi được Nguyệt Lâm ấn khả, Sư chu du nhiều nơi và nhân đây thu thập tài liệu để soạn tập công án Vô môn quan. Năm 1229, tập này được in lần đầu và với 46 tuổi, Sư đang ở tuyệt đỉnh của cuộc đời hoằng hoá của mình.|Năm 1246 – theo lệnh của vua Tống Lí Tông – Sư sáng lập chùa Hộ Quốc Nhân Vương. Những năm cuối đời, Sư lui về một ngôi chùa nhỏ ở Tây Hồ. Một cơn hạn lớn là nguyên do mà vua Lí Tông mời Sư trở về triều đình làm lễ cầu mưa. Ngay lúc Sư thuyết pháp thì trời mưa như trút và vì vậy Sư được vua ban hiệu Phật Nhãn Thiền sư và tặng cho ca-sa vàng (kim lan y).
vô môn huệ khai
Wu-men Hui-k'ai (C), Mumon Ekai (J) (1183-1260) Thiền sư phái Dương Kỳ, dòng Lâm Tế.
Vô Môn Quan
(無門關, Mumonkan): 1 quyển, tác phẩm do Vô Môn Huệ Khai (無門慧開) nhà Tống chỉ đạo cho đệ tử Tông Chiêu (宗紹) biên tập các ký lục tại Long Tường Tự (龍翔寺) vào năm 1228, và năm sau (năm thứ 2 niên hiệu Thiệu Định [紹定]) thì được san hành. Tên gọi chính thức của tác phẩm này là Thiền Tông Vô Môn Quan (禪宗無門關, Zenshūmumonkan). Nội dung của nó là những bài tụng cũng như bình xướng mà Huệ Khai thêm vào trong 48 tắc công án quan trọng từ xưa đến nay, cùng với Bích Nham Lục (碧巖錄, Hekiganroku), nó được xem như là tập công án đại biểu nhất. Tâm Địa Giác Tâm (心地覺心, 1207-1298), người đã từng sang nhà Tống cầu pháp, khi trở về nước có đem tác phẩm này về và đó là bản đầu tiên được đưa vào Nhật, từ đó về sau, nó được Lâm Tế Tông rất xem trọng, thỉnh thoảng có san hành phổ biến, đặc biệt đến thời Cận Đại nó được quan tâm đến nhiều nhất. So với Bích Nham Lục thì nội dung của nó ít, đơn giản, nhưng là lời trợ ngôn trực tiếp cho người tu tập. Bộ này nổi tiếng với tắc công án thứ nhất là "Triệu Châu Vô Tự" (趙州無字, chữ Không Có của Triệu Châu). Công án này do Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗) nhà Đường trả lời là “không có” khi được một vị tăng hỏi rằng con chó có Phật tánh hay không, và đã đem lại sự chuyển cơ rất lớn cho Thiền Công Án. Tuy nhiên, khi xem như là tập công án, thì thế giới phong phú về mặt văn học của Vô Môn Quan giống như trong Bích Nham Lục lại mất đi, chỉ còn lại ấn tượng nhiều vẻ khô khan, gầy gò mà thôi. Tại Trung Quốc không còn truyền bản nữa, nhưng ở Nhật có một số bản như Bản Ngũ Sơn của năm thứ 4 (1291) niên hiệu Chánh Ứng (正應) và năm thứ 12 (1405) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), bản chữ xưa của năm đầu (1624) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), bản năm thứ 8 (1631) và 9 (1632) cùng niên hiệu trên, v.v. Dưới thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1603-1867) nó cũng thỉnh thoảng được san hành. Vào thời Trung Đại, người ta vẫn chưa quan tâm gì mấy đến tác phẩm này; nhưng kể từ thời Giang Hộ trở đi, người ta bắt đầu nhận thức được giá trị của nó, cho nên khá nhiều sách chú thích xuất hiện như Thiền Tông Vô Môn Quan Tư Sao (禪宗無門關私鈔) của Quy Bá Huyền Phương (規伯玄方), Vô Môn Quan Sao (無門關鈔) của Vạn An Anh Chủng (萬安英種), Vô Môn Quan Sao (無門關鈔) Tây Bá (西伯) chú giải, Vô Môn Quan Xuân Tịch Sao (無門關春夕鈔), v.v.
Vô môn quan
無門關; C: wúmén-goān; J: mumonkan; nghĩa là »Ải không cửa vào«;|Tên của một tập Công án do Thiền sư Vô Môn Huệ Khai biên soạn. Cùng với Bích nham lục, đây là hai tập công án lừng danh nhất của Thiền tông.|Vô môn quan ghi lại 48 công án, mỗi công án được bổ sung thêm một lời bình và một bài kệ. Những bài kệ tụng trong đây là những kiệt tác của văn chương Phật giáo tại Trung Quốc.|Vô môn quan ra đời khoảng một thế kỉ sau Bích nham lục. Cấu trúc của tập này đơn giản hơn nhiều so với Bích nham lục, chứng tỏ rằng sư Huệ Khai chú trọng đến việc sử dụng những tắc công án trong đây làm phương tiện thực hành, tu tập. Sư xem nó là những »viên gạch gõ cửa tâm« của các thiền sinh và viết như sau trong lời tựa:|»Phật dạy tâm là tông chỉ, cửa Không là cửa pháp. Ðã không cửa, thì sao qua? Há chẳng nghe ›từ cửa mà vào thì không phải là của báu trong nhà, nhờ duyên mà thành đạt tất phải có thành hoại.‹ Nói như vậy thật chẳng khác chi khi không dậy sóng, thịt da đang lành đem ra mổ mụt. Huống chi chấp vào văn tự để tìm mong lí giải, vác gậy quơ trăng, gãi ngứa ngoài giày, có dính líu gì đến sự thật đâu!…|大道無門。千差有路|透得此關。乾坤獨步|Ðại đạo vô môn, thiên sai hữu lộ|Thấu đắc thử quan, càn khôn độc bộ.|*Ðại đạo không cửa, có nghìn nẻo vào|Qua được cửa này, càn khôn lẻ bước«.|Mỗi công án bao gồm ba phần: 1. Công án, nói về một sự kiện, lời nói, dạy của các vị Tổ; 2. Lời bình của sư Huệ Khai và 3. Kệ tụng. Mặc dù nguồn tài liệu của những tập công án danh tiếng đều như nhau nhưng trong tập Vô môn quan, người ta có thể thấy một dấu ấn đặc biệt của sư Vô Môn Huệ Khai, những nét đặc sắc, thật dụng chỉ có ở riêng đây và có lẽ vì thế, Vô môn quan được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi đến ngày nay.
vô môn quan
Wu-men-kuan (S), Mumonkan (J), Mumon (J)Tên một sư tập công án Thiền.
; Vô Môn Quan, một trong những tập sách thiền nổi tiếng nhứt của Thiền tông, do thiền sư Huệ Khai (1183-1260) soạn. Vô Môn Quan đơn giản hơn Bích Nham Lục vì nó chỉ có bốn mươi tám công án và là tác phẩm do một người biên soạn—Wu-Men-Kuan, one of the most famous Zen book of the Zen sect, compiled by Zen master Hui-K'ai (1183-1260). Wu-Men-Kuan is a simpler book than the preceding one (Pi-Yen-Lu), for it containts only forty-eight cases and is one man's work—See Huệ Khai.
vô môn tông
The unsectarian, Thiền tông or meditative sect, so called because it claimed to derive its authority directly đrom the mind of Buddha.
; Thiền Tông hay tên gọi khác của Phật Tông (Phật nói tâm là đệ nhất, tâm là tông, vô môn là pháp môn)—The unsectarian, Ch'an or meditative sect, so called because it claimed to derive its authority directly from the mind of Buddha.
vô một
See Vô Bất.
vô một thức
Xem A lại da thức.
; Xem A lại da thức.
; Alaya-vijnana (skt)—Tên khác của A Lại Da Thức (tất cả các chủng tử không bị mất mát nên gọi là Vô Một)—Another name for Alaya-vijnana—See A Lại Da Thức.
vô nan
Bunan (J).
vô nghi
Undoubted, without doubt.
; Không nghi ngờ—Undoubted—Without doubt.
Vô Nghiệp
(無業, Mugō, 760-821): xuất thân vùng Thượng Lạc (上洛), Thương Châu (商州, Tỉnh Thiểm Tây), họ là Đỗ (杜). Năm lên 9 tuổi, ông theo học với Chí Bổn (志本) ở Khai Nguyên Tự (開元寺), năm 12 tuổi thì xuống tóc xuất gia và năm 20 tuổi thì thọ cụ túc với U Luật Sư (幽律師) ở Nhượng Châu (襄州, Tỉnh Hồ Bắc). Ông rất tinh thông về Tứ Phần Luật, và thường thuyết giảng Đại Bát Niết Bàn Kinh. Về sau, ông đến tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) ở Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và cuối cùng được vị này truyền trao tâm ấn cho. Sau đó, ông đi tham bái các thánh địa, rồi đọc qua Đại Tạng Kinh ở trên Ngũ Đài Sơn. Tám năm sau, ông đến trú tại Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Phần Châu (汾州, Tỉnh Sơn Tây). Ông đã cố từ không vào trong cung nội, mà chọn đi hành hóa trong vòng 20 năm trường. Đến năm đầu niên hiệu Trường Khánh (長慶), ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 42 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Đạt Quốc Sư (大達國師).
vô nghĩa
1) Insignificance—Meaningless. 2) Ungrateful.
vô nghĩa ngữ
Saṃbhappalapo (P)= tạp uế ngữ, dâm ngữ, lời trây trúa. Tội thứ năm trong thập ác, thuộc khẩu nghiệp.
vô nghề nghiệp
Without profession.
vô nguyên
Xem Vô nguyện.
vô nguyên tam muội
Apranihita-samādhi (S).
vô nguyện
Apraṇihita (S), Desirelessness Appaṇihita (P)Vô tác, Vô nguyên.
; Apranihita (S). Desireless.
; Wishlessness.
Vô ngã
(s: nirātman, nairātmya, p: anattan, 無我): hay còn gọi là Phi Ngã (非我), từ dùng để thể hiện sự phủ định đối với ngã (s: ātman, 我, tôi, cái tôi), nghĩa là không có cái tôi, không có tôi, không chấp nhận thật ngã thật pháp, không đứng trên bản thể hay thật thể mang tính hình nhi thượng học và không có sự chấp trước về ngã. Đối với Phật Giáo Nguyên Thủy thì không chấp nhận cái ngã chủ tể thường hằng duy nhất cũng như sự tồn tại của thật thể mà như hàng ngoại đạo đã từng tuyên thuyết, mà cho rằng hết thảy sự vật, hiện tượng đều vô ngã, cho nên thuật ngữ nổi tiếng là chư pháp vô ngã (p: sabbe dhammā anattā, 諸法無我, các pháp không có thật thể) đã được phổ cập hóa. Cho nên trong Kinh A Hàm thì Năm Uẩn, Mười Hai Xứ, Mười Tám Giới, v.v., đều được xem là giả có, là những cái không có ngã thật thể của chúng. Bên cạnh đó, để đối trị với bốn pháp làm cho điên đảo là Tịnh, Lạc, Ngã, Thường, trong Phật Giáo đã thuyết ra Bốn Niệm Xứ gồm Bất Tịnh (不淨, thân), Khổ (苦, thọ), Vô Ngã (無我, pháp) và Vô Thường (無常, tâm).
; 無我; S: anātman; P: anattā;|Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của sự vật. Quan điểm vô ngã là một giáo pháp cơ bản của đạo Phật, cho rằng, không có một Ngã (ātman), một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo đạo Phật, cái ngã, cái »tôi« cũng chỉ là một tập hợp của »năm nhóm«, Ngũ uẩn (s: pañcaskandha), luôn luôn thay đổi, mất mát, và vì vậy, »tôi« chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ.|Theo Tiểu thừa (s: hīnayāna), tính vô ngã chỉ liên hệ đến cá nhân con người. Theo Ðại thừa (s: mahāyāna) thì tính vô ngã có giá trị cho tất cả các Pháp (s: dharma), vốn tuỳ thuộc lẫn nhau như thuyết Mười hai nhân duyên chỉ rõ. Sự thiếu vắng một tự tính (自性; s: svabhāva) được Ðại thừa gọi là tính Không (空性; s: śūnyatā).|Theo quan điểm thông thường của Ấn Ðộ giáo thì »linh hồn« – cái Ngã (ātman) – vốn là trường tồn và độc lập với mọi ô nhiễm. Theo đạo Phật thì con người là một tập hợp của ngũ uẩn đang vận hành vô chủ, ngũ uẩn đó cũng vô thường biến hoại. Ngoài ngũ uẩn đó không có gì khác, nên con người chỉ được xem có thật một cách quy ước và trong kinh nghiệm thông thường.|Ðối với câu hỏi, Ngã có tồn tại thật hay không, đức Phật thường không trả lời vì không muốn khơi gợi thêm khái niệm mới, chúng chỉ là trở ngại cho các phép tu hành thật tiễn. Vì vậy giáo pháp vô ngã trong thời đức Phật có thể xem là phương tiện giáo huấn, không phải là một quan điểm triết học đích thật. Với thời gian phát triển, Vô ngã trở thành một quan điểm hẳn hoi trong các trường phái Phật giáo và chỉ có Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) mới chấp nhận một cái Ngã.|Dần dần, các phép tu học đạo Phật cũng tập trung tiến tới phương pháp đạt Niết-bàn bằng cách giải thoát hành giả ra khỏi ảo tưởng có một cái Ta. Sự ràng buộc vào một cái Ta là nguồn gốc mọi khổ đau, phải phá bỏ vô minh đó mới đạt giải thoát. Lí do là khi con người không thấy tính vô ngã của đời sống này, không thấy nó chỉ nằm trong dòng vận chuyển của sự sinh thành hoại diệt liên tục, thì lúc đó ta chưa hiểu thật sự Tứ diệu đế và không thể thâm nhập, phát huy triệt để chính tri kiến.
vô ngã
Anattāniya (P), Anattāta (P), Anattā (P), Anātman (S), Nirātmana (S), bdag-nyid (T), dag me (T), Egolessness, selflessness Ngã không.
; Anàtman, nairàtmya (S). No ego, no soul (of an independent and self contained character), impersonal, no individual independent existence (of conscious or unconscious beings, anàtmaka).
; Anatma or Nairatmyam (skt)—Egolessness, no-self, not self, non-ego, or the emptiness of a self—Thuyết Vô Ngã có hai đặc tánh chính là pháp vô ngã và nhân vô ngã—The doctrine of no-self has two main characteristics: selflessness of things (dharma-nairatmya) and selflessness of person (pudgalanairatmya)—See Pháp Vô Ngã, and Nhân Vô Ngã. a) Thuyết tất định chỉ cho lý thuyết có sự quyết định của 'định mệnh,' hay Thiên mệnh, hay thượng đế. Phật giáo chủ trương sự vắng mặt của một bản ngã thường hằng bất biến. Theo Kinh Duy Ma Cật, vô ngã có nghĩa là sự hiểu biết chơn chánh rằng thân gồm ngũ uẩn chứ không có cái gọi là “bản ngã trường tồn.” Tứ đại chỉ hiện hữu bởi những duyên hợp. Không có vật chất trường tồn bất biến trong thân nầy. Khi tứ đại hết duyên tan rã thì thân nầy lập tức biến mất. Vì vật chất do tứ đại cấu thành, trống rỗng, không có thực chất, nên con người do ngũ uẩn kết hợp, cũng không có tự ngã vĩnh cữu. Con người thay đổi từng giây từng phút. Theo giáo lý Tiểu Thừa thì “Vô Ngã” chỉ áp dụng cho loài người, nhưng trong Phật giáo Đại Thừa thì vạn hữu đều vô ngã—Not-self, No-self, Egolessness, Non-Personality, Non-self, or Non-ego—Determinism means the theory of being determined by fate, nature, or god. Buddhism believes in the absence of a permanent, unchaging self or soul—Non-existence of a permanent self. According to the Vimalakirti Sutra, the body consists of the five elements or skandhas, which together represent body and mind, and there is no such so-called “self.” Elements exist only by means of union of conditions. There is no eternal and unchangeable substance in them. When these come apart, so-called “body” immediately disappears. Since the form which is created by the four elements is empty and without self, then the human body, created by the unification of the five skandhas, must also be empty and without self. Human body is in a transforming process from second to second. In Theravada, no-self is only applied to the person; in the Mahayana, all things are regarded as without essence. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật giáo, Đức Phật xem thế giới nầy là thế giới của khổ đau, và Ngài đã dạy những phương pháp đối trị nó. Vậy cái gì đã làm thế giới nầy trở thành khổ đau? Lý do đầu tiên như Đức Phật đã dạy, là các pháp đều vô ngã, nghĩa là vạn vật, hữu tình hay vô tình, tất cả đều không có cái mà chúng ta có thể gọi là bản ngã hay thực thể. Chúng ta thử khảo sát con người. Một người không thể xem tinh thần hay hồn của y là một thực ngã. Y hiện hữu nhưng không thể nào nắm được cái thực thể của y, không thể tìm thấy được tinh thần của y, bởi vì sự hiện hữu của con người không gì ngoài cái 'hiện hữu tùy thuộc vào một chuỗi nhân duyên.' Mọi vật hiện hữu đều là vì nhân duyên, và nó sẽ tan biến khi những tác dụng của chuỗi nhân duyên ấy chấm dứt: According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Buddha regarded this world as a world of hardship, and taught the ways to cope with it. Then what are the reasons which make it a world of hardship? The first reason, as given by the Buddha is that all things are selfless or egoless, which means that no things, men, animals and inanimate objects , both living and not living, have what we may call their original self or real being. Let us consider man. A man does not have a core or a soul which he can consider to be his true self. A man exists, but he cannot grasp his real being, he cannot discover his own core, because the existence of a man is nothing but an “existence depending on a series of causations.” Everything that exists is there because of causations; it will disappear when the effects of the causation cease. c) Những làn sóng trên mặt nước quả là hiện hữu, nhưng có thể gọi mỗi làn sóng đều có tự ngã hay không? Sóng chỉ hiện hữu khi có gió lay động. Mỗi làn sóng đều có riêng đặc tính tùy theo sự phối hợp của những nhân duyên, cường độ của gió và những chuyển động, phương hướng của gió, vân vân. Nhưng khi những tác dụng của những nhân duyên đó chấm dứt, sóng sẽ không còn nữa. Cũng vậy, không thể nào có cái ngã biệt lập với nhân duyên được: The waves on the water's surface certainly exist, but can it be said that a wave has its own self? Waves exist only while there is wind or current. Each wave has its own characteristics according to the combination of causations, the intensity of the winds and currents and their directions, etc. But when the effects of the causations cease, the waves are no more. Similarly, there cannot be a self which stands independent of causations. d) Khi con người còn là một hiện hữu tùy thuộc một chuỗi nhân duyên thì , nếu y cố gắng trì giữ lấy chính mình và nhìn mọi vật quanh mình từ quan điểm độc tôn ngã là một điều thật vô lý. Mọi người phải từ bỏ cái ngã của mình, cố gắng giúp đỡ kẻ khác và phải nhận hức cái hiện hữu cộng đồng, vì không thể nào con người hoàn toàn hiện hữu độc lập được: As long as a man is an existent depending on a series of causations, it is unreasonable for him to try to hold on to himself and to regard all things around him from the self-centered point of view. All men ought to deny their own selves and endeavor to help each other and to look for co-existence, because no man can ever be truly independent. e) Nếu mọi vật đều hiện hữu tùy thuộc vào một chuỗi những nhân duyên thì cái hiện hữu đó cũng chỉ là tùy thuộc điều kiện mà thôi; không có một vật chất nào trong vũ trụ nầy có thể trường tồn hay tự tại. Do đó Đức Phật dạy rằng vô ngã là yếu tính của vạn vật, và từ đó, đưa đến một lý thuyết nữa là vạn vật đều vô thường, là điều không thể tránh: If all things owe their existence to a series of causations, their existence is a conditional one; there is no one thing in the universe that is permanent or independent. Therefore, the Buddha's theory that selflessness is the nature of all things inevitably leads to the next theory that all things are impermanent (anitya). f) Hầu hết mọi người đều dốc hết năng lực vào việc gìn giữ sự hiện hữu của mình và những tư hữu của họ. Nhưng thực ra, không thể nào tìm được trung tâm hiện hữu của nó, cũng không thể nào giữ nó đời đời được. Không vật nào là không biến chuyển, ngay cả trong một sát na. Không những nó bất ổn trong tương quan với không gian, mà nó cũng bất ổn trong tương quan với thời gian nữa. Nếu ta có thể tìm được một thế giới không có không gian và thời gian, thế giới đó mới thật là thế giới tự do chân thật, tức là Niết Bàn: Men in general seem to be giving all of their energy to preserving their own existence and their possessions. But in truth it is impossible to discover the core of their own existence, nor is it possible to preserve it forever. Even for one moment nothing can stay unchanged. Not only is it insecure in relation to space but it is also insecure in relation to time. If it were possible to discover a world which is spaceless and timeless, that would be a world of true freedom, i.e., Nirvana. g) Nếu như những nhà vật lý hiện đại xác nhận, không gian là một trong những số lượng biến đổi và thời gian là tương đối thì thế giới của không gian thời gian nầy là cái ngục tù mà chúng ta không thể nào thoát ra được, tức là chúng ta đã bị trói buộc trong vòng nhân quả rồi vậy: If, as the modern physicists assert, space is curved and time is relative, this world of space and time is our enclosed abode from which there is no escape; we are tied down in the cycles of cause and effect. h) Khi nào con người chưa tìm được cái thế giới không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian, con người vẫn phải là một tạo vật khổ đau. Xác nhận rằng con người có thể đạt được cảnh giới đó, cảnh giới không bị hạn cuộc bởi thời gian và không gian là sứ mệnh của Phật Giáo: As long as men cannot discover a world which is not limited by time and space, men must be creatures of suffering. To assert that such a state, unlimited in time and space, is attainable by man is the message of Buddhism. i) Lẽ dĩ nhiên không có gì có thể được xem như là không gian vô hạn và thời gian vô cùng. Ngay cả vật lý học ngày nay cũng nhìn nhận cái vô tận của thời gian và không gian. Tuy nhiên, Đức Phật đã xướng thuyết về lý tưởng Niết Bàn hay tịch diệt, theo nguyên tắc vô thường và vô ngã. Niết Bàn có nghĩa là hủy diệt sinh tử, hủy diệt thế giới dục vọng, hủy diệt những điều kiện thời gian và không gian. Sau hết, Niết Bàn có nghĩa là cảnh giới của giải thoát viên mãn. Vô ngã hay không có sự bất biến, vô thường hay không có sự trường tồn là trạng huống thật sự của sự hiện hữu của chúng ta. Niết Bàn theo nghĩa tiêu cực là hủy diệt, nhưng theo nghĩa tích cực là tròn đầy, là lý tưởng của chúng ta, ấy là sự giải thoát trọn vẹn: Of course, there is no such thing as a limitless time. Even modern physical science does not recognize infinity in time and space. However, the Buddha brought forward his ideal, Nirvana (extinction), following his theories of selflessness and impermanence. Nirvana means extinction of life and death, extinction of worldly desire, and extinction of space and time conditions. This, in the last analysis, means unfolding a world of perfect freedom. Selflessness (no substance) and impermanence (no duration) are the real state of our existence; Nirvana (negatively extinction; positively perfection) is our ideal, that is, perfect freedom, quiescence.
vô ngã tướng kinh
Anattàlakkhana-sùtta (P). Sutta of the Characteristics of Non Ego.
vô ngôn
Without words, silent, speechless.
; Không lời hay im lặng—Without words—Silent—Speechless.
vô ngôn bồ tát
Xem Kim Cang Ngữ Bồ tát.
vô ngôn thuyết đạo
The way, or teaching, without speech; the school which teaches that speaking of things is speaking of nothing, or the non-existent; the acquisition of truth through contemplation without the aid of words.
; Lối thuyết đạo không lời của Thông Giáo; trường phái dạy rằng nói về chư pháp tức là nói về không, quán về sự tướng các pháp tức là quán không—The way, or teaching, without speech; the school which teaches that speaking of things is speaking of nothing, or the non-existent; the acquisition of truth through contemplation without the aid of words.
Vô Ngôn Thông
無言通; ?-826|Thiền sư Trung Quốc, học trò của vị Thiền sư nổi tiếng Bách Trượng Hoài Hải. Năm 820, Sư qua Việt Nam, ở tại chùa Kiến Sơ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Sư mất năm 826, và phái Thiền của Sư kéo dài được 17 thế hệ. Những Thiền sư quan trọng của dòng thiền này là Khuông Việt (?-1011), Thông Biện (?-1134), Mãn Giác (?-1096); Minh Không (mất 1141), Giác Hải. Thế hệ cuối cùng là khoảng cuối thế kỉ thứ 13. Phái Vô Ngôn Thông theo đúng dòng Thiền của Huệ Năng, chủ trương Ðốn ngộ (giác ngộ nhanh chóng). Các vị Thiền sư dòng Vô Ngôn Thông đều có tâm hồn thi sĩ.|Sư họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm, Vũ Châu. Tính tình Sư điềm đạm ít nói, nhưng thông minh nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.|Một hôm, Sư lễ Phật, có một thiền khách hỏi: »Toạ chủ lễ đó là cái gì?« Sư thưa: »Là Phật.« Khách liền chỉ tượng Phật hỏi: »Cái này là Phật gì?« Sư không trả lời được. Ðến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ vị khách, vị này chỉ đến Mã Tổ. Sư lên đường đến Mã Ðại sư nhưng nghe tin Tổ đã viên tịch bèn đến Bách Trượng. Nhân nghe Bách Trượng trả lời một vị tăng »Ðất tâm nếu không, mặt trời trí huệ tự chiếu.« Sư triệt ngộ.|Sau khi rời Bách Trượng, Sư đến trụ trì chùa Hoà An và tương truyền rằng, Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch có đến đây học hỏi. |Năm Canh Tí, niên hiệu Nguyên Hoà đời Ðường, Sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ở đây mấy năm liền Sư chỉ quay mặt vào vách toạ thiền và không ai biết tông tích của Sư. Vị trụ trì nơi đây là Cảm Thành thầm biết Sư là Cao tăng đắc đạo nên hết sức kính trọng. Sắp sửa tịch, Sư gọi Cảm Thành đến nói kệ:|一切諸法皆從心生。心無所生法無所住|若達心地所住無礙。非遇上根慎勿輕許|Nhất thiết chư pháp giai tòng tâm sinh|Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ|Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại|Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.|*Tất cả các pháp đều từ tâm sinh|Tâm không chỗ sinh, pháp không chỗ trụ|Nếu đạt đất tâm chỗ trụ không ngại|Không gặp thượng căn dè dặt chớ dạy.|Nói xong Sư chắp tay viên tịch. Cảm Thành thiêu lấy hài cốt và xây tháp thờ trên núi Tiên Du.
vô ngôn thông
Thiền Sư Vô Ngôn Thông (?-826)—Zen Master Vô Ngôn Thông (?-826)—Sư là một trong những thiền sư người Trung Hoa, nhưng nổi tiếng tại Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ tám. Sư là sơ tổ của phái thiền Vô Ngôn Thông ở Việt Nam. Trước khi đến Việt Nam, có người khuyên sư nên đến tìm gặp Mã Tổ, nhưng khi đến nơi thì Mã Tổ đã viên tịch. Sư tìm gặp Bách Trượng Hoài Hải xin làm đệ tử. Sau sư về trụ trì chùa Hòa An. Sau đó sư sang Việt Nam vào khoảng năm 820, trụ tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây sư diện bích suốt mấy năm mà không ai hay biết, duy chỉ có Thiền sư Cảm Thành, vị trụ trì của chùa Kiến Sơ biết được nên rất cảm phục và tôn thờ làm Thầy. Trước khi thị tịch, ngài gọi Cảm Thành lại căn dặn: “Xưa Đức Phật xuất hiện vì một đại sự nhân duyên là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Trước khi nhập Niết Bàn, Ngài đã đem Chánh Pháp Nhãn truyền trao lại cho một trong những đại đệ tử của ngài là Tôn giả Ma Ha Ca Diếp. Tổ tổ truyền nhau từ đời nầy sang đời khác. Đến Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền tâm ấn cho Tổ Huệ Khả, rồi Tổ Huệ Khả truyền cho Tổ Tăng Xán, Tổ Tăng Xán truyền cho Tổ Đạo Tín, Tổ Đạo Tín truyền cho Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, rồi Lục Tổ Huệ Năng, Tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mã Tổ, Bách Trượng. Tổ Bách Trượng đã truyền tâm ấn cho ta. Nay ông phải vì đời sau mà hoằng dương Chánh Pháp cho thế hệ nối tiếp.” Sư thị tịch năm 826 sau Tây Lịch—He was one of the most outstanding Chinese monks; however, he was famous in Vietnam in the end of the eightth century. He was the founder of the Vô Ngôn Thông Zen Sect in Vietnam. Before going to Vietnam, someone recommended him to go to see Ma-Tsu; however, when he arrived at Ma-Tsu's Temple, Ma-Tsu already passed away. He came to see Pai-Chang and insisted to be his disciple. Sometime later, he moved to stay at Hòa An temple in Kuang-Chou. In 820, he came to Vietnam and stayed at Kien So Temple. There he sat in meditation with face to a wall for several years, but nobody knew his practice except Cảm Thành, the abbot of Kiến Sơ Temple. Cảm Thành respected and honored him to be his master. Before passing away, he called Cảm Thành to his side and advised: “For the sake of a great cause, the Buddha appeared, for the changing beings from illusion into enlightenment. Before entering into Nirvana, he transmitted the right Dharma eye treasury (something that contains and preserves the right experience of reality) to one of his great disciples, Maha-Kasyapa. Patriarchs continued to transmit generation after generation. When Patriarch Bodhidharma came to China from India, he transmitted the Mind-seal to Hui-K'o, from Hui-K'o to Seng-Ts'an, from Seng-Ts'an to T'ao-Hsin, from T'ao-Hsin to Hung-Jung, from Hung-Jung to Hui-Neng, from Hui-Neng to Nan-Yueh-Huai-Jang, from Nan-Yueh-Huai-Jang to Ma-Tsu, from Ma-Tsu to Pai-Chang. I received the mind-seal from Pai-Chang, and now I just want to transmit it to you. Please keep expanding the Correct Dharma to the next generation.” Zen Master Vô Ngôn Thông passed away in 826 AD.
vô ngôn trí
Avacana-jnanam (skt)—Nonverbal knowledge—See Bất Động Trí.
vô ngại
Apratihata (S). Unhindered, without obstacle, resistless, without resistance, permeating everywhere, all pervasive, dynamic omnipresence which enters everywhere without hindrance like the light of a candle.
; Apratihata (skt). 1) Tự tại thông suốt, không trở ngại—Unhindered—Undoubted—Without doubt—Without obstacle—Resistless—Without resistance. 2) Tự tại qua lại không trở ngại: Permeating everywhere. 3) Tự tại thông dung thành ra một thể, như ánh đèn giao thoa hòa vào nhau: All pervasive, dynamic omnipresence which enters everywhere without hindrance light the light of a candle. ** For more information, please see Tứ Vô Ngại.
vô ngại giải đạo
Patisambhida magga (P), The path of discrimination Con đường đưa đến trí huệMột trong 15 quyển của Tiểu a hàm phân tích một số điểm giáo lý bằng hình thức hỏi đáp.
vô ngại nhân
The unhindered one, the Buddha, who unbarred the way to nirvàna, which releases from all limitations; the omnipresent one; the one who realizes nirvàna-truth.
; 1) Bậc không còn bị chướng ngại: The unhindered one. 2) Vị Phật mở cửa Niết bàn: The Buddha who unbarred the way to nirvana, which releases from all limitations. 3) Bậc siêu phàm đã chứng ngộ chân lý niết bàn: the omnipresent one; the one who realizes nirvana-truth.
vô ngại quang
Ánh sáng của Đức Phật A Di Đà, không bị che khuất bởi núi sông, sương mốc bên ngoài, cũng không bị che khuất bên trong bởi tham sân si mạn nghi tà kiến—The all pervasive light or glory of Amitabha Buddha.
vô ngại quang như lai
Một danh hiệu khác của Đức Phật A Di Đà—Another title for Amitabha Buddha—See A Di Đà.
vô ngại quang phật
The Buddha with the all pervasive light or glory, Amitàbha.
vô ngại quang phật trí
The omniscience of Buddha.
vô ngại trí
Asaṅga-jāna (S).
; Trí thông đạt của Đức Phật—The omniscience of the Buddha.
vô ngại đạo
(Vô Gián Đạo) The way of removing all obstacles, delusions or intervention—The open or unhindered way.
vô nhiễm
Aklista (S)Bất nhiễm.
vô nhiễm a ma lặc
Āmalaka (S).
vô nhiễm thanh tịnh tâm
Undeluded pure mind.
vô nhiễm tâm
Undeluded mind.
Vô nhiệt
xem A-na-bà-đạp-đa.
vô nhiệt
Xem A na bà đạt đa Long vương.
; Anavatapta (S). Heatless.
; Anavatapta (skt)—Không có sức nóng—Heatless—No heat.
vô nhiệt não long vương
Xem A nâu đạt.
Vô nhiệt thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
vô nhiệt thiên
Sudsa (S)Tên một cõi giới trong ngũ tịnh cư thiên hay Tịnh cư thiên.
; Anavatapta, or Atapta heaven without heat or affliction.
; Anavatapta (skt)—Tầng trời thứ hai của Ngũ Tịnh Cư Thiên trong Tứ Thiền Thiên, cõi trời vô phiền vô não—Anavatapta or Atapta heaven, without heat or affliction, the second of the five pure-dwelling heavens, in the fourth dhyana heaven. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên (2).
vô nhiệt trì
Anavatāpa (S), Anātattha (P)= ao Vô nhiệt Xem A na bà đạt đa Long vương Xem A na bà đạt đa Long vương.
; Anavatàpta (S). Mythical lake of the King of Nàgas.
; Manasarovara or Manasa-saro-vara (skt)—A Nậu Đạt Trì hay hồ lạnh quanh năm. Người ta nói hồ nầy nằm về phía nam núi Gandha-madana, là nguồn của bốn con sông Hằng Hà, Ấn Hà, sông Tarim và sông Oxus—Excellent manasa lake, the lake without heat, cold lake, or lake of No Heat. It is said to lie south of the Gandha-madana mountains, and is erroneously reputed as the source of the four rivers Ganges, Indus, Sita (Tarim River), and Oxus.
vô nhân
Without cause—Without reason—Causeless.
vô nhân đạo
Brutal—Cruel---Inhuman.
vô nhất
Not one.
Vô nhậm, vô nhâm
(無任): kính ngữ, nghĩa là không chịu đựng được, khôn xiết. Xưa kia, người ta thường dùng từ này trong các Biểu Trạng, Tấu Chương, Sớ Văn, v.v. Như trong tờ Từ Châu Tạ Tưởng Dụ Biểu (徐州謝獎諭表) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có đoạn: “Thứ đàn hủ độn, thiểu bổ ti hào, thần vô nhậm (庶殫朽鈍、少補絲毫、臣無任, hầu như hết sức hủ nát đần độn, thêm chút mảy may, thần không chịu được).” Trong các lòng văn Sớ dâng cúng thường xuất hiện cụm từ “vô nhậm kích thiết bình dinh chi chí (無任激切屛營之至, cảm kích thiết tha hãi hùng khôn xiết).”
vô nhị
Advika (P), Non-duality.
; Advaya (S).Non-duality.
vô nhị vô tam
Theo Kinh Pháp Hoa, đạo Phật chẳng phải Nhị thừa, cũng chẳng Tam thừa, mà chỉ Nhất Thừa (trong mười phương cõi Phật; chỉ có pháp nhất thừa, không có hai cũng không có ba, trừ Phật thuyết phương tiện)—According to the Lotus Sutra, Buddhism is neither two nor three, but only one Vehicle.
vô niệm
Tức là bản niệm sẳn có, chẳng nổi mt niệm nào khác. Nghĩa là nơi thế lưu bố tưởng chẳng sanh ra trước tưởng. Chẳng phải trăm điều chẳng nghĩ, nếu trăm đều chẳng nghĩ, hoặc cho là niệm tuyệt đều chẳng phải bản ý của vô niệm.
; Without a thought; without recollection; absence of false ideas or thoughts, i.e. correct ideas or thoughts; apart from thought.
; Tức là bản niệm sẵn có, chẳng nổi một niệm nào khác. Nghĩa là nơi Thế lưu bố tưởng chẳng sanh ra trước tưởng, chẳng phải trăm điều chẳng nghĩ, nếu trăm điều chẳng nghĩ là niệm tuyệt đều chẳng phải bản ý của vô niệm.
; Acinta (skt)—Thoughtlessness. 1) Không có vọng niệm: No thought—Without a thought—Without recollection—Absence of false ideas or thoughts; apart from thought. 2) Chánh Niệm: Correct ideas or thoughts.
vô não
Free from trouble
Vô não nhiệt
xem A-na-bà-đạp-đa.
vô nămg thắng phan vương như lai trang nghiêm đà la ni kinh
Dhvajàgrakayùri-dhàrani
vô năng
Unable, without power.
; Không có năng lực—Unable—Without power—Incapable.
vô năng cú nghĩa
Asakti-padarthah (S)Hòa hợp Thật, Đức, Nghiệp cú nghĩa để không quyết định nhân tạo quả.
vô năng kiến giả
Xem Bất khả việt thủ hộ.
Vô Năng Thắng
xem Bồ Tát Di-lặc.
vô năng thắng
Aparājita (S)Thiên nữ. Xem A dật Đa.
; Ajita (S). Invincible, unsurpassable, unconquerable, especially applied to Di lặc Bồ tát Maitreya Bodhisattva. Also A dật đa.
; Ajita—A Dật Đa—Uy đức rộng lớn không gì thắng nổi, chỉ Đức Di Lặc Bồ Tát (Từ Thị Bồ Tát)—Unconquerable, invincible, unsurpassable; especially applied to Maitreya. ** For more information, please see Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô năng thắng phan vương như lai trang nghiêm đà la ni
DhvajāgrakayŪrī-dhārani (S)Một bộ kinh trong Mật bộ.
vô năng thắng tướng
Ajjtasena (S)Một nhà sư Ấn dịch kinh sách ở Trung quốc khoảng năm 713-741.
vô nộ phật
Xem Phật A súc bệ.
vô phi
See Vô Bất.
vô phiền
Free from trouble.
; 1) Không còn phiền não: Free from trouble. 2) Vô Phiền Thiên: Cõi trời Phạm Phụ thứ 13 thuộc Tứ Thiền Thiên—The thirteenth Brahmaloka, the fifth region of the fourth dhyana—See Tứ Thiền Thiên.
Vô phiền thiên
xem Năm cõi tịnh cư.
vô phiền thiên
Avrha (S)Aviha (P)Tên một trong 9 cõi trời Tứ thiền. Cõi này không có phiền não.
; The thirteenth Brahmaloka, the fifth region of the fourth dhyàna.
vô phá
Ātyantica (S), Endless.
vô pháp
Vô Pháp hay tánh không của vạn hữu. Vô pháp có nghĩa là sự hiểu biết chơn chánh về tánh không của ngũ uẩn, không phải vì chúng là ngũ uẩn, mà vì bản chất thật của vạn pháp là không. Theo Bát Nhã Tâm Kinh, “Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát quán ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Theo Phật giáo Tiểu Thừa, ngã là sự kết hợp của ngũ uẩn hay nhiều vật chất hợp lại mà thành, nên không thật (đây là cái không tương đối). Theo Phật giáo Đại Thừa, vạn hữu giai không, từ bản chất đã là không (đây là cái không tuyệt đối)—No-Dharma or the emptiness of all phenomena. No-Dharma means true understanding that the five skandhas are empty, not only because they are aggregates, but by their very nature. According to the Heart Sutra, “the Avalokitesvara Bodhisattva illuminated the five skandhas and saw that they were empty. Thus he overcame all ills and sufferings.” In Theravada, the self is a composite, or an aggregate of many other elements, and is therefore empty or relative emptiness. In Mahayana Buddhism, al phenomena including the self are empty in their very nature or absolute emptiness.
vô pháp hữu pháp không
Abhāva-svabhāva-śŪnyatā (S)Vô tánh tự tánh khôngTất cả pháp sanh diệt và vô vi trong ba đời đều không thật có.
vô pháp không
Abhāva-śŪnyatā (S)Vô tánh khôngCác pháp đã hoại diệt thì không có tự tánh.
vô phân biệt
Nirvikalpa (S).
; Nirvikalpa (S). Non discriminating.
; Nirvikalpa (skt)—Không phân biệt—Non-discriminating.
vô phân biệt hành
Nirvikalpacara (skt)—Những hành động vô phân biệt—Deeds of non-discrimination.
vô phân biệt pháp
The absolute dharma underlying all particular dharmas, the absolute as contrasted with the relative.
; Avikalpa (skt)—Non-discriminating dharma—Cái lý thực tướng của chư pháp là không thể trình bày được bằng lời nói, ngôn ngữ hay bằng suy nghĩ (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành tận diệt)—The absolute dharma underlying all particular dharmas, which cannot be described by words or thoughts; the absolute as contrasted with the relative.
vô phân biệt trí
Nirvikalpa-jāna (S)Vô phân biệt tâm.
; Nirvikalpa-jnàna (S). Mind free from discriminating.
; Avikalpajnana or Nirvikalpajnana (skt)—Non-discriminative wisdom—Cái trí vô lậu không phân biệt. Trạng thái mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt—The unconditioned or passionless mind, or non-discriminative wisdom (knowledge), or the knowledge gained has no discrimination. The state where there is no distinction between subject and object—See Vô Phân Biệt Tâm (B) (1).
vô phân biệt tâm
Xem Vô phân biệt trí.
; The mind free from particularization, especially from affection and feelings; passionless.
; Nirvikalpa-jnana (skt). (A) Nghĩa của Vô Phân Biệt Tâm—The meaning of Non-discriminating mind: Tâm thức xa lìa vứt bỏ cái ý thức phân biệt (đạt đến trí tuệ bình đẳng chân thực)—A mind which is free from particularization, especially from affection and feelings—Passionless. (B) Loại của Vô Phân Biệt Tâm—Categories of Non-discriminating mind: 1) Vô Phân Biệt Tâm Vô Lậu hay Chân Như: Vô phân biệt trí, tức cái trí thể hội chân như—Unconditioned or absolute non-discriminating mind, or the mind free from particularization (memory, reason, self-consciousness) as in the bhutatathata. 2) Vô Phân Biệt Tâm Hữu Lậu: Tâm hiện lượng tư tính của cảnh bao gồm trí nhớ do suy nghĩ, lý luận và tự thức—Conditioned as in dhyana. Particularization includes memory, reason, self-consciousness.
vô phân biệt xuất thế gian trí
Nirvikalpalokottarajnanam (skt)—Cái trí xuất thế gian vô phân biệt—Non-discriminative transcendental knowledge.
vô phép
Discourteous—Uncivilized—Rude—Impolite.
vô phúc
Unhappy—Unfortunate.
vô phương
No place, nowhere; unlimited to place and method, i.e. Buddha'spower.
; 1) No place—No where—Unlimited to place or method—Buddha's power. 2) To be at the end of one's resources—Without resource. 3) Phật Lực: Buddha's power which is unlimited to place or method.
Vô Quan Phổ Môn
(無關普門, Mukan Fumon, 1212-1291): vị tăng của Phái Thánh Nhất (聖一派) thuộc Tông Lâm Tế Nhật Bản, tự là Vô Quan (無關), hiệu là Phổ Môn (普門), người vùng Bảo Khoa (保科), Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Lúc lên 7 tuổi, ông theo hầu Tịch Viên (寂圓) ở Chánh Viên Tự (正圓寺) vùng Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata-ken [新潟縣]), đến năm 13 tuổi thì xuống tóc xuất gia, sau một thời gian lâu ông trở về Tín Nùng, sống ở Diêm Điền (塩田). Năm lên 19 tuổi, ông đến tham yết Thích Viên Phòng Vinh Triêu (釋圓房榮朝) ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]), thọ Bồ Tát giới và học về Hiển Mật Viên Thông. Bên cạnh đó, ông còn đến tham vấn Viên Nhĩ (圓爾, Enni) ở Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến Trường (建長), ông sang nhà Tống, đến tham yết Kinh Tẩu Như Ngọc (荆叟如珏) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺) và Đoạn Kiều Diệu Luân (斷橋妙倫) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và được đại ngộ. Đến năm 1261 (năm đầu niên hiệu Hoằng Trường [弘長]), khi Diệu Luân viên tịch thì ông được trao truyền y ca sa như là ấn tín chứng ngộ truyền pháp. Sau một thời gian lưu lãng tuần bái khắp vùng Triết Giang khoảng 12 năm, ông trở về nước, hầu hạ bên gối Viên Nhĩ. Sau đó ông đã từng sống qua các chùa ở vùng Việt Hậu như An Lạc Tự (安樂寺, Anraku-ji), Chánh Viên Tự (正圓寺, Shōen-ji), rồi đến Quang Vân Tự (光雲寺, Kōun-ji) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Nhân sự việc yêu quái quấy nhiễu ở Ly Cung Long Sơn của Quy Sơn Thượng Hoàng (龜山上皇, Kameyama Jōkō, 1259-1274) trong một khoảng thời gian dài, nên vào mùa xuân năm 1291 (năm thứ 4 niên hiệu Chánh Ứng [正應]),ông vào cung tọa Thiền nhập định và xua đuổi được yêu quái, từ đó Thượng Hoàng cho xây Thiền đường trong cung và thỉnh ông đến trú trì với tư cách là vị tổ khai sáng đầu tiên. Đây chính là ngôi Thái Bình Hưng Quốc Nam Thiền Tự (太平興國南禪寺, Taiheikōkokunanzen-ji). Cũng chính vào tháng 12 năm này, ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 62 hạ lạp. Ông được ban cho hiệu là Phật Tâm Thiền Sư (佛心禪師), Đại Minh Quốc Sư (大明國師). Pháp đồ của ông có Đạo Sơn Huyền Thịnh (道山玄晟), Ngọc Sơn Huyền Đề (玉山玄提), Kim Quang Trúc Ông (金光竹翁), Nham Đậu Minh Đầu (巖竇明投), v.v.
vô quang
Unilluminating.
vô quang phật
Vị Phật không phát quang, không đem ánh sáng pháp để chiếu rọi nơi nơi được (Thanh Văn Duyên Giác hay Bích Chi Phật)—An Unilluminating Buddha—A Useless Buddha who gives out no light.
vô quá
Sinless—Have no sin.
vô quý
Anapatrapya (S)Không biết hỗ thẹn với người khác.
vô quả
Effectless—Have no effect.
Vô sanh
(無生): còn gọi là vô khởi (無起), có hai nghĩa. (1) Thật tướng của các pháp không có sanh diệt; đồng nghĩa với vô sanh diệt (無生滅) hoặc vô sanh vô diệt (無生無滅). Sự tồn tại của các pháp vốn không có thật thể, do nhân duyên mà thành, là không, nên có thể nói rằng không có sanh diệt. Tuy nhiên, hạng phàm phu mê lầm lý vô sanh này, nên khởi lên phiền não về sanh diệt, vì vậy bị lưu chuyển sanh tử. Nếu nương theo kinh luận, quán lý vô sanh thì có thể trừ được phiền não sanh diệt. (2) Là ý dịch của A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢) hay Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). A La Hán có nghĩa là bất sanh (不生, không sanh), tức đoạn tận phiền não của Ba Cõi, không còn trở lại thọ sanh trong Ba Cõi này nữa. Lại nữa, người nương theo bản nguyện vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, là khế hợp với bản nguyện của Ngài, nhân vô sanh này chính là lý của Niết Bàn; cho nên khác với cái gọi là sanh vọng tưởng hư huyễn trong nội tâm của kẻ phàm phu. Về điểm này, Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (無量壽經優婆提舍願生偈註, tức Vãng Sanh Luận Chú [往生論註], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ gọi là “vô sanh chi sanh (無生之生, sanh của vô sanh).” Từ quan điểm không sanh diệt của Niết Bàn mà nói, tức chỉ giác ngộ Niết Bàn, cũng tức là chứng đắc thân vô sanh; Cực Lạc là khế hợp với thế giới của Niết Bàn; và từ nghĩa này, có tên gọi là vô sanh giới (無生界, cõi vô sanh). Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) quyển 1 dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh ư vô sanh trung, vọng kiến sanh diệt, thị cố thuyết danh luân chuyển sanh tử (一切眾生於無生中、妄見生滅、是故說名轉輪生死, hết thảy chúng sanh trong vô sanh, lầm thấy sanh diệt, cho nên gọi là luân chuyển sanh tử).” Trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Vô sanh thị thật, sanh thị hư vọng, ngu si chi nhân, phiêu nịch sanh tử, Như Lai thật thể, vô hữu hư vọng, danh vi Niết Bàn (無生是實、生是虛妄、愚痴之人、漂溺生死、如來體實、無有虛妄、名爲涅槃, vô sanh là thật, sanh là giả dối, người mà ngu si, trôi lăn sanh tử, thật thể Như Lai, không có giả dối, gọi là Niết Bàn).” Hay trong Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (佛說仁王般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 245) quyển Thượng cũng cho biết rằng: “Nhất thiết pháp tánh chân thật không, bất lai bất khứ, vô sanh vô diệt, đồng chơn tế, đẳng pháp tánh (一切法性眞實空、不來不去、無生無滅、同眞際、等法性, tất cả pháp tánh chân thật không, chẳng đến chẳng đi, không sanh không diệt, đồng với chơn tế, ngang với pháp tánh).” Trong bài kệ thị tịch Thiền sư Quảng Nghiêm (廣嚴, 1121-1190) thuộc thế hệ thứ 11 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam có câu rằng: “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ, sanh vô sanh hậu thuyết vô sanh (離寂方言寂滅去、生無生後說無生, lìa diệt mới cho tịch diệt hết, đạt vô sanh rồi nói vô sanh).”
vô sanh
Anutpaa (P), Anutpatti (S, P), Non-Birth, No-Birth.
; Vô sanh tức vô thủy, vô thủy tức vô sanh, như con gà với trứng gà đều chẳng có sự bắt đầu, tức là hiển bày nghĩa vô sanh.
; Anutpatti or Anutpanna (skt)—Unborn—Immortal—Not born—Uncreated—Without being born or produced—No rebirth—Not to be reborn—Non-appearance—The state without appearance—Exempt from rebirth. 1) Từ “Vô Sanh” được dùng để diễn tả tánh của Niết Bàn. Trong Phật giáo Đại Thừa, Vô Sanh có nghĩa là sự chấm dứt dòng suy tưởng lan man không mạch lạc, qua đó chúng ta nhận biết sự biến hiện của vạn hữu, rồi từ đó chạy theo chúng—Non-Birth is a term used to describe the nature of Nirvana. In Mahayana Buddhism, No-Birth means the 'extinction' of the discursive thinking by which we conceive of things as arising and perishing, forming attachment to them. 2) Theo triết học Trung Quán, Vô Sanh là chân lý của Niết Bàn không sanh không diệt, không tái sanh, hay không còn phải luân hồi sanh tử—According to the Madhyamaka philosophy, non-birth means Nirvana which is beyond birth and death or not subject to birth and death, or reincarnation.
vô sanh bảo quốc
Thiên đàng bất tử của Phật A Di Đà—The precious country beyond birth-and-death—The immortal paradise of Amitabha.
vô sanh bất diệt giới
Amatadhātu (S), The deathless realm.
vô sanh chi sanh
Sanh của vô sanh, như Đức Phật hóa thân thị hiện nơi cõi Ta Bà—A life that is without birth, an immortal life, a nirmanakaya, or transformation appearance of a Buddha in the world.
vô sanh diệt
There is no appearance and disappearance—Without appearance and disappearance.
vô sanh hối
Thiền quán tưởng lẽ vô sanh, dứt các phiền não, tránh được những tư tưởng sai trái cũng như ảo tưởng và màn vô minh che lấp Trung đạo—To meditate to prevent wrong thoughts and delusions that hinder the truth.
vô sanh môn
Giáo thuyết chân lý vượt trên sanh tử tạo tác, như chân như; bất tử môn—The doctrine of reality as beyond birth or creation, i.e. that of the bhutatathata; the gate or school of immortality.
vô sanh nhẫn
An trụ ở cái lý không sanh không diệt mà không động, tức là trạng thái mà trong đó không còn sự can thiệp nào nữa—The patient rest in belief in immortality, or no rebirth, the state in which interference do not arise. ** For more information, please see Vô Sanh Pháp Nhẫn in Vietnamese-English Section.
vô sanh pháp
Luật không còn sanh tử, hay lý chân như và thể của Niết Bàn—The law of no rebirth, or immortality, as the fundamental law of the bhutatathata and the embodiment of nirvana.
vô sanh pháp nhẫn
Anutpattikā-dharma-kṣānti (S).
; Anutpattikadharmakshanti (skt)—Nhẫn đạt được qua hiểu biết rằng tất cả mọi hiện tượng đều không sanh. Sự hiểu biết về tánh không và vô sanh của chư Bồ Tát, những vị đã đạt được Bát Địa hay Bất Thối Địa—Realization of the Dharma of non-appearance. Calm rest, as a Bodhisattva, in the assurance of no rebirth—Tolerance of non-birth (Insight into the non-arising of dharmas—Insight into the non-origination of dharmas—Insight into the non-substantial nature of all phenomenal existence). Tolerance that comes from the knowledge that all phenomena are unborn—Insight into emptiness, the non-origination or birthlessness of things or beings realized by Bodhisattvas who have attained the eight stages to Buddhahood. When a bodhisattva realized this insight, he has attained the stage of non-retrogression. ** For more information, please see Bất khởi pháp nhẫn in Vietnamese-English Section.
vô sanh sám
See Vô Sanh Hối.
vô sanh thân
Pháp thân hằng hữu—The Dharmakaya, the immortal one.
vô sanh trí
dịch từ Phạn ngữ là anutpdajđna, chỉ trí tuệ cao trổi nhất của vị A-la-hán, thấy biết thật tánh của tất cả các pháp không có sự sanh ra.
; Anutpāda-jāna (S).
; Nirvana wisdom—See Thập Trí (A) (10).
vô sanh tánh
Utpatti-Nihsvabhāvata (S).
vô sanh tâm
The mind of no rebirth.
vô sanh tạng
Kinh điển luận về chân như như Trung Luận—The scriptures which deal with the absolute, e.g. the Madhyamika-sastra.
vô sanh tế
The uncreate, or absolute; the region of the eternal.
vô sanh vô diệt
No birth no death.
vô si
Amoha (S), Non-delusion.
vô sinh
Anutpanna, anutpatti (S). Not born, without being born or produced; uncreated; no rebirth; immortal; nirvàna as not subject to birth and death, or reincarnation, and which negates them; the condition of the absolute.
vô sinh khởi
Anabhinirvritti (skt)—Not rising.
vô sinh môn
The doctrine of reality as beyond birth, or creation, i.e. that of the bhùtatathatà, the gate or shool of immortality.
vô sinh nhẫn
The patient rest in belief in immortality, or no rebirth.
vô sinh pháp
The law of no-birth, or immortality, as the fundamental law of the chân như and the embodiment of nirvàna.
vô sinh pháp nhẫn
Anutpattikà-dharma-ksànti (S). Endurance, patience of the practitioner who has penetrated the truth, all things are unborn.
vô sinh thân
The immortal one, i.e. the dharmakàya.
vô sinh trí
The final knowledge attained by th arhat, his release from the chain of transmigration. Also, the knowledge of the bodhisattva of the assurance of immortality, or no rebirth.
vô song
Anupameya (S).
; Peerless—Matchless.
vô sân
Xem A vĩ xả pháp.
vô sân phật
Xem Phật A súc bệ.
vô sư
Without a teacher, self-attained.
Vô sư giác
(Bậc giác ngộ không có thầy dạy): Vì sự giác ngộ rốt ráo chỉ có thể do trí tuệ của chính mình đạt được, không thể nhờ nơi sự dạy bảo của người khác, nên không có thầy dạy. Chỉ có Phật là bậc giác ngộ rốt ráo, nên Vô sư giác cũng là danh hiệu để tôn xưng ngài.
vô sư giác
Self-attained enlightenment.
vô sư giả
Svayambhuva (skt)—Bậc tự hiện hữu, một trong những danh hiệu của Đức Phật—Self-existing one, one of the epithets of the Buddha.
vô sư trí
Self-attained enlightenment, wisdom attained without a teacher, Buddha.
; Giác ngộ tự đạt, không thầy chỉ dạy. Đây là trí huệ Phật—Self-attained enlightenment—Wisdom attained without a teacher—Buddha's wisdom.
vô sắc
Formlessness.
; Arùpa (S). Formless, shapeless, immaterial.
; Arupa (skt)—Formless—Without form of holding on to the illusion of contemplation.
vô sắc dục
Arùparàga (S). Craving for immaterial existence.
Vô sắc giới
xem Ba cảnh giới.
; 無色界; S, P: arūpadhātu, arūpaloka; |Ba thế giới
vô sắc giới
ArŪpadhātu (S), ArŪpaloka (S, P), Immaterial realm Có 4 cõi: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.
; Arùpaloka, arùpadhàtu (S). The heavens without form, immaterial, consisting only of mind in contemplation, being four in number, which are defined as Tứ không thiên Catùrùpabrahmaloka, and given as Không vô biên xứ, àkàsanantyàyatana; Thức vô biên xứ, vijnànànatyàyatana; Vô sở hữu xứ, akincanyà- yatana; Phi tưởng phi phi tưởng xứ, naivasamjnànasamjnàyatana.
; Arupadhatu or Arupaloka (skt). (A) Nghĩa của Vô Sắc Giới—The meanings of Arupaloka: Trên cõi sắc giới, nơi chỉ có tinh thần thanh tịnh, nơi không còn thân thể, không còn cung điện, không còn vật chất. Cõi trời vô sắc kéo dài không hạn định trong tứ không xứ. Cõi nầy không có vật chất của sắc pháp, mà chỉ còn thức tâm trụ nơi thiền định thâm diệu—The realm of formlessness—Being above the realm of form—Realm beyond form—The formless realm of pure spirit, where there are no bodies, places, things. Its extent is undefinable in the four empty regions (Tứ không xứ)—The heavens without form, immaterial, consisting only of mind in contemplation. (B) Cõi Vô Sắc Giới—The boundaries of Arupaloka: See Tứ Không Xứ.
vô sắc giới cảnh
ArŪpa bhāva (S), Scene of Immaterial realm.
vô sắc hành
Arupyacarin (skt)—Formless deeds—Những hành động vô hình sắc. Nghĩa chính xác của thuật ngữ nầy thật khó biết. Có lẽ nó nhằm ám chỉ đời sống ở cõi vô sắc, hay nó đồng nghĩa với vô công dụng hạnh—The exact meaning of this term is difficult to know. It may refer to the life in the world of no-form, or it is rrgarded as synonymous with “Anabhogacarya.”
vô sắc hữu
Existence in the formless or immaterial realm.
; Existence in the formless or immaterial realm—See Tam Hữu (B) (3).
vô sắc tham
The desire in the world without form of holding on to the illusion of contemplation.
; Ham muốn trong cõi vô sắc giới, hay sự chấp vào vọng tưởng trong thiền quán—The desire in the world without form of holding on to the illusion of contemplation.
vô sắc ái kết
ArŪparāga (S), Desire for immaterial existence 1- Trong hai thằng thúc: dây trói buộc chúng sanh vào vòng luân hồi là ham muốn đeo níu trong Sắc giới (RŪpaloka) và ham muốn đeo níu trong Vô sắc giới (ArŪpaloka). 2- Lòng còn luyến tiếc cảnh tiên vô sắc. Một trong ngũ thượng kết: sắc ái kết, vô sắc ái kết, mạn kết, trạo kết, vô minh kết. 3- Mối trói buộc mà người đắc quả A na hàm dứt được là không còn bị ràng buộc vào cảnh tiên cõi vô sắc giới.
vô sắc định
Arupya (skt)—Có bốn đẳng chí hay sự tập hợp của tâm trí thuộc cõi vô sắc—There are four mental collectednesses or samapattis belonging to the World of No-Form (arupaloka)—See Tứ Không Xứ.
vô sỉ
Shameless.
vô sỉ đại trùng
Một sinh vật to lớn mà không có răng, như cọp không răng (chỉ là vô dụng mà thôi)—A toothless great creature, i.e. a toothless tiger.
vô số
Xem A tăng kỳ.
; Asamkhyeya (S). Numberless.
; Asamkhyeya (skt)—Numberless—Innumerable—Numberless—Countless—Exceedingly numerous.
vô số chúng sanh
Countless sentient beings.
vô sở
Nothing, nowhere.
; Không có thứ gì—Nothing—Nowhere.
vô sở bất chí
Nowhere (it) does not reach.
vô sở bất năng
Nothing (he) cannot do, omnipotent.
; Không có gì là không làm được, chỉ Đức Phật—Nothing he cannot do, omnipotent, the Buddha.
vô sở bất trí
Không có nơi nào là không đến được, chỉ Đức Phật—Nowhere he does not reach.
vô sở hữu
Avidyamàna (S). Non existing, nothing existing, the immaterial.
; Avidyamana (skt)—Tên khác của “Không”—Non-existing—Nothing existing—The immaterial.
vô sở hữu vọng tưởng tịch diệt pháp
Vikalpa-vivikta-dharma (Niràbhasa) (S). The ruth that is detached from discrimination.
vô sở hữu vọng tưởngtịch diệt pháp
Vikalpaviviktadharma (skt)—Cái chân lý vô tưởng và tách khỏi phân biệt—Truth which is imageless and detached from discrimination.
vô sở hữu xứ
Akincannayatana (S). Sphere of Nothingness, Heaven of Formless.
; Xứ thứ ba của Tứ Không Xứ—The state of nothing or non-existence—The third region in the realm of formlessness. ** For more information, please see Tứ Không Xứ (3).
vô sở hữu xứ thiên
Akicannayatana (S), Akicancayatanam (P), Sphere of nothingness Cảnh Tiên thứ ba trong cõi vô sắc giới (cõi vô sở hữu xứ).
vô sở hữu xứ định
Akicanyāyatana-Samādhi (S)Diệt địnhKhi vào phép Diệt định thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới.
; Akincanàyàtana (S). The contemplation of the state of nothingness, or the immaterial.
; Akincanayatana (skt)—Thiền định đi vào cõi vô sở hữu xứ—The contemplation of the state of nothingness, or the immaterial, in which ecstasy gives place to serenity.
vô sở quán
The contemplation of the immaterial reality behind all phenoma.
; Quán về sự thật phi vật chất đằng sau mọi hiện tượng—The contemplation of the immaterial reality behind all phenomena.
vô sở trú
Apratisthita (S). No means of staying, non abiding.
vô sở trước
1) Không bị trói buộc: Not bound by any tie, i.e. free from all influence of the passion-nature. 2) Một danh hiệu của Đức Phật: An epithet of Buddha.
vô sở trụ
Apratisthita (skt)—Không trụ vào đâu—Non-abiding—No means of staying.
vô sở trứ (trước)
Not bound by any tie, i.e. free from all influence of the passion-nature, an epithet of Buddha.
vô sở uý
Xem Vô úy.
Vô sở úy địa
địa vị không còn phải sợ sệt bất cứ điều gì, do chứng đắc được thật tánh của tất cả các pháp.
vô sở đắc
Nowhere, or nothing obtainable, the immaterial universal reality behind all phenomena.
; Khi thể hội được chân lý vô tướng, thì trong lòng không có gì chấp trước—Nothing obtainable, the immaterial universal reality behind all phenomena.
vô sỡ hữu vọng tưởng tịch diệt pháp
Vikalpa-vivikta-dharma (S).
vô tang
Without evidence (trace).
vô tham
Alobha (P), Non-greed Tác dụng không tham trước thuận cảnh. Một trong 10 thứ của Đại thiện địa pháp.
; Viràga (S). Absence of desire.
Vô thanh
(無聲): không có âm thanh, không có tiếng. Trong Thi Kinh có câu: “Thượng thiên chi tải, vô thanh vô xú (上天之載、無聲無臭, trên trời chở che, không tiếng không hôi).” Vô thanh còn là một công án trong Thiền Tông, như câu chuyện Phó Đại Sĩ (傅大士) giảng Kinh Kim Cang (金剛經) cho Lương Võ Đế (梁武帝). Sau khi thăng tòa, ông dùng cây thủ xích vỗ xuống bàn một cái, xong bước xuống tòa và trở về phương trượng. Khi ấy, Bảo Chí (寶誌) đứng một bên bảo rằng: “Đại Sĩ giảng kinh xong rồi !” Cũng như trường hợp Tu Bồ Đề (s, p: Subhūti, 須菩提) đang ngồi an tọa trong hang động, bỗng nhiên Thích Đề Hoàn Nhân (釋提恒因) rưới mưa hoa cúng dường. Thấy vậy, Tu Bồ Đề hỏi rằng: “Tại sao vì tôi mà rãi hoa ?”. Đế Thích đáp: “Tôi tôn kính người, khéo thuyết Bát Nhã, nên rưới mưa hoa cúng dường.” Tu Bồ Đề bảo rằng: “Tôi chưa từng thuyết pháp mà !” Đế Thích trả lời: “Người không thuyết, tôi không nghe, đó chính là cốt tủy chân thật của Bát Nhã.” Trong Pháp Hỷ Chí (法喜志) quyển 2 có đoạn rằng: “Hữu thanh chi thời, thị thanh trần tự sanh; vô thanh chi thời, thị thanh trần tự diệt; nhi thử văn tánh, bất tùy thanh sanh, bất tùy thanh diệt (有聲之時、是聲塵自生、無聲之時、是聲塵自滅、而此聞性、不隨聲生、不隨聲滅, khi có tiếng thì tiếng nghe tự sanh; khi không có tiếng thì tiếng nghe tự diệt; cho nên tánh nghe này không theo tiếng mà sanh, chẳng theo tiếng mà diệt).”
vô thanh lậu
1) Một loại đồng hồ nước không gây ra tiếng động: The silent clepsydra. 2) Một loại nhang được làm theo những mẫu tự cổ dùng chỉ thời gian khi được đốt lên: Incense in the shape of ancient characters used to indicate the time.
vô thhượng du già tông
Anuttara yogā tantra (S), nal jor la na me pay jŪ (T).
vô thuyết
Abyakata (S), Unexplained Xem Vô hữu.
vô thuyết cú nghĩa
Abhāva-padattha (P)Nguyên lý phi tồn tại.
vô thuỷ không
Anavaragra-śŪnyatā (S)Vô hạn không, Vô tiền hậu khôngCác pháp tuy sanh khởi từ vô thuỷ nhưng cũng xa lìa tính chấp thủ đối với pháp này.
Vô thường
無常; S: anitya; P: anicca; nghĩa là không chắc chắn, thay đổi;|Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của tất cả sự vật. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại diệt. Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ (s: duḥkha) và Vô ngã (s: anātman). Vô thường là tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường thì không có sự tồn tại; vô thường cũng chính là khả năng dẫn đến giải thoát. Có tri kiến vô thường hành giả mới bước vào Thánh đạo (s: ārya-mārga) – vì vậy tri kiến vô thường được xem là tri kiến của bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).|Vô thường là gốc của Khổ vì Sinh, Thành, Hoại, Diệt tự nó là Khổ. Tính Vô thường của Ngũ uẩn dẫn đến kết luận Vô ngã, vì không có gì vừa vô thường vừa Khổ lại là một cái Ngã trường tồn được. Ngoài ra, trong Ðại thừa, tính vô thường của mọi pháp dẫn đến kết luận về tính Không.
vô thường
Anitya (S), Anicca (P), Aniccata (P), Impermanence Anicca (P)Một trong 4 hành tướng của Khổ đế: Vô thường, Khổ, Không, Phi ngã.
; Anitya (S). Impermanent; the first of the tam minh trividyà; that all things are impermanent, their birth, existence, change, and death never resting for a moment.
; Anitya (skt)—Anicca (p)—Impermanence—Ephemeral. 1) Vô thường nghĩa là không thường, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái nhất định mà luôn thay hình đổi dạng. Đi từ trạng thái hình thành, cao to, thấp nhỏ, tan rã, vân vân, đạo Phật gọi đây là những giai đoạn thay đổi đó là thành trụ hoại không. Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ như hạt cát, thân con người, đến lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời đều nằm trong định luật vô thường—Anitya is the state of not being permanent, of lasting or existing only for a short time, of changing continually. Physical changes operating from the state of formation, to that of development, decay and disintegration are exact manifestations of the law of transformation. All things in the universe, from the small grain of sand, the human body, to the big one such as the earth, moon and sun are governed by the aove law, and as such, must come through these four periods. This process of changes characterizes impermanence. 2) Mọi vật trên đời nầy đều phải thay đổi và hoại diệt; không vật gì thường hằng dù chỉ trong phút giây, hay sát na ngắn ngủi. Mọi vật, mọi hiện tượng đều phải qua giai đoạn sanh, trụ, dị, diệt. Kinh Kim Cang dạy: “Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán.” Nghĩa là hãy xem các pháp hữu vi, nào khác chi bóng bọt, điểm sương, quán xem tất cả vô thường, sanh sanh diệt diệt như tuồng chớp chăng.” Quán chiếu được sự vô thường của vạn hữu sẽ giúp chúng ta không bị trói buộc bởi sự vật của thế gian—The characteristics of Impermanence—Everything in this world is subject to change and perish; nothing remains constant for even a single ksatna or short moment. Everything, every phenomenon passes through a period of birth, maturity, transformation, and destruction. The Diamond Sutra taught: “Just examine the various conditioned dharma, it is no different than a bubble or dwedrop; observe and realize everything is impermanent, births and deaths are like lightning flashes.” Contemplation on the impermanence of things will help us prevent from being imprisoned by the things of the world. 3) Phật tử chơn thuần nên luôn thức tỉnh rằng: “Muôn vật ở đời vốn không bền vững.” Chung quy cũng nằm trong bốn lẽ “Thành, Trụ, Hoại, Không” mà thôi. Hễ có sanh ra, tức nhiên là có trụ nơi đời một thời gian nào đó, kế đến bị hư hoại đi vào kết cuộc quy về nơi cát bụi. Do tỉnh ngộ như vậy, chúng ta mới thấy thuyết “vô thường” mà Đức Phật đã từng tuyên dạy trong kinh điển là đúng. Bao nhiêu công danh, phú quý, thành đạt trong quá khứ, rốt rồi những thứ nầy có khác nào một giấc mơ hoa. Phật tử chơn thuần phải biết quyền biến, tùy duyên, an nhẫn thì rất có thể các nghịch cảnh, khổ não được chuyển biến thành thuận cảnh. Mọi vật trên đời nầy nếu đã có mang cái tướng hữu vi, ắt có ngày hoại diệt. Đời người cũng thế, hễ có sanh là có tử, tuy nói trăm năm, nhưng so với vũ trụ thì có khác nào ánh điển chớp, hay thoáng tựa sương tan, như hoa hiện trong gương, như trăng lồng đáy nước, như hơi thở mong manh, chứ nào có bền lâu? Tấm thân yêu quý nhứt nầy của chúng ta mà chúng ta còn không thể giữ cho trẻ trung, mạnh khỏe mãi được, mà phải bị đến cái thời chịu các mối khổ sanh, già, bệnh, chết. Thế mới biết tất cả sự vật trên đời nầy đều là vô thường, giả tạm, như mộng, như huyễn, như bọt nước mà thôi. Hết nắng lại mưa, hết mưa trời tạnh, hết mạnh rồi đau, hết vui rồi buồn, hết hợp rồi tan, hết vinh rồi nhục, hết lên xe rồi xuống ngựa, sông dài lúc phẳng lặng, lúc lên thác xuống ghềnh. Phật tử chơn thuần nên luôn biết lẽ vô thường, phải luôn cố gắng tu tập, phải cố gắng biến các nghịch cảnh rủi ro cũng như các điều trở ngại cho mình và cho người thành những hoàn cảnh thuận lợi; phải luôn thức tỉnh, bỏ mê theo ngộ mà lập tâm thêm vững mạnh trên bước đường tu—Sincere Buddhists should always be awakened and realize: “Nothing in this world lasts forever.” In the end, everything is a part of the cycle of “Formation, Existence, Decadence, and Emptiness.” If there is birth, naturally, there will be existence for a certain amount of time, then decay will come, and, in the end, return to dirt and sand. Because we are awakened to these conditions of life, we begin realizing the theory of “Impermanence” the Buddha taught in the sutras is accurate. No matter how much glory, wealth, or success was achieved in the past, in the end, these accomplishments are not any different than a beautiful dream. Sincere Buddhists should know how to adapt and make best of their situations, able cleverly to tolerate and endure various conditions and circumstances of life, then they may be able to transform misfortunes, failures, and sufferings into blessings and happiness. Everything in life, if it has form characteristics, then, inevitably, one day it will be destroyed. A human life is the same way, if there is life, there must be death. Even though we say a hundred years, it passes by in a flash, like lightning streaking across the sky, like a flower's blossom, like the image of the moon at the bottom of lake, like a short breath, what is really eternal? Even our dear bodies, we are unable to maintain its youth, health, and vitality forever because it must endure inevitable sufferings, deterioration, old age, sickness, and death. Everything in life is impermanent, artificial, dream-like, and transient like a bubble in water. After the sunshine, there is rain; after rain there is cessation; after health there is sickness; after happiness there is sadness; after being together there is being apart; after success there is failure; after rise there is fall. Along the long river some stretch are straight, others curve; sometimes it is quite peaceful, other times turbulent and chaotic. Sincere Buddhists should always remember the impermanence of all things, should always try to cultivate, should always turn your misfortunes and setbacks as well as obstacles into advantageous situations; should always awaken, abandon ignorance to see the light of enlightenment, and become more determined to solidify your mind to make firm progress on your cultivated path.
vô thường chung
Chuông dùng để đánh lên khi có người lâm chung trong tự viện—The passing bell, or gong, for the dying.
vô thường chóng qua, sống chết đại sự, đừng để thời gian luống qua vô ích
The wave of impermanence is swift, the issue of life and death is great, try not to let the time pass by in vain (without any cultivation for yourself).
vô thường khánh
See Vô Thường Chung.
vô thường thân
The teporal body of the Buddha.
vô thường tánh
Aniccata (P), Impermanence.
vô thường tưởng
Thinking on the impermanence.
vô thường viện
Vô Thường Đường—Diên Thọ Đường—Niết Bàn Đường—The nirvana hall—See Niết Bàn Đường.
vô thường y
The reliance of the impermanent, i.e. Buddha, upon whom mortals can rely.
; Như Lai là chỗ dựa (chỗ y nương) cho hết thảy chúng sanh—The reliance of the impermanent, i.e. Buddha, upon whom mortals can rely.
vô thường điểu
Tên một loài chim khóc tiếng vô thường (chim Đỗ Quyên ở cõi Minh Độ)—The bird which cries of impermanence, messenger of the shades, the goat sucker
vô thường đường
See Niết Bàn Đường.
vô thường ấn
Mudda-aniccam (p)—Vô thường ấn là một trong tam pháp ấn—The mark of impermanence, one of the three dharma-seals—See Tam Pháp Ấn.
vô thường, khổ, không, vô ngã
Anitya, Dukkha, Sunya, Anàtman (S). Impermanence, Suffering, Emptiness, Selflessness.
; 1) Vô Thường: Impermanent. 2) Khổ: Suffering. 3) Không: Empty. 4) Vô Ngã: Non-ego.
vô thượng
Xem vô lượng.
; Anuttara (S). Unsurpassed, unexcelled, supreme, peerless.
; Anuttara (skt)—Unsurpassed—Excellent—Unexcelled—Supreme—Peerless.
vô thượng bồ đề
The supreme bodhi, or enlightenment, that of Buddha.
; Giác ngộ Bồ Đề mà Phật đã đạt được—The supreme bodhi or enlightenment of the Buddha. ** For more information, please see Tam Chủng Bồ Đề.
Vô thượng bồ-đề
無上菩提; S: anuttara-samyaksaṃbodhi; |Giác ngộ cùng tột, Phật quả
vô thượng chánh biến tri
Anuttara-samyak-sambodhi (skt)—A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Đạo không có cái gì lớn hơn được là vô thượng; đạo chân chánh, không pháp nào là không biết được gọi là chánh biến tri)—Sự giác ngộ hoàn toàn và tối thượng. Toàn trí thông hiểu chân lý chỉ đạt được nơi Phật—Supreme perfect enlightenment or wisdom—Unexcelled perfect enlightenment—The perfect wisdom which comprehends truth that is attained only by a Buddha.
Vô thượng Chánh giác Lưỡng túc Tôn
một trong các danh hiệu tôn xưng đức Phật. Vô thượng: cao trổi hơn hết; Chánh giác: bậc giác ngộ chân chánh; Lưỡng túc Tôn: Bậc đáng tôn trọng vì có đủ phước đức và trí tuệ. Xem thêm Lưỡng túc tôn.
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
xem A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
vô thượng chánh đẳng chánh giác
Anuttara-samyas-saṃbodhi (S)A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
; Anuttara-samyaksambodhi (skt)—The supreme right and balanced state of Bodhi (truth)—The supreme balanced and right state of truth. ** For more information, please see Auttara-samyak-sambodhi in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô thượng chánh đẳng giác
See Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác in Vietnamese-English Section.
vô thượng chính biến trí
Supreme perfect wisdom.
Vô thượng chính đẳng chính giác
無上正等正覺; S: anuttara-samyaksaṃbo-dhi; dịch âm là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề;|Giác ngộ cùng tột, chỉ một vị Phật.
vô thượng chính đẳng chính giác
Anuttara-samyak-sambodhi (S). Supreme and perfect Enlightenment. Also Phật quả, A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.
vô thượng diệu giác
The supreme mystic enlightenment.
; Giác thể mà Như Lai sở đắc là không ai hơn được và không thể nghĩ bàn—The supreme mystic enlightenment.
vô thượng du già
Anuttara-yogā (S).
vô thượng du già tan-tra
Hevajra tantra (S), kye dorje (T)Hô Kim cang Tan-tra.
Vô thượng du-già tan-tra
S: anuttara-yoga-tantra; Hán Việt: Vô thượng du-già đát-đặc-la (無上瑜伽怛特羅).|Tan-tra cao cấp nhất (vô thượng; s: anut-tara) trong bốn loại Tan-tra của Phật giáo. Ba loại khác là Tác (kriyā), Hành (caryā) và Du-già (yoga). Các Tan-tra này nằm trong Ðại tạng của Tây Tạng, thuộc phần thứ bảy trong Cam-châu-nhĩ (t: kangyur) và bao gồm 22 bộ. Hai bộ Tan-tra danh tiếng nhất được xếp vào hạng Vô thượng du-già là Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra) và Hô kim cương (s: hevajra-tantra).|Trước khi được Quán đỉnh (s: abhiṣeka), được khai thị vào Vô thượng du-già, hành giả cần phải đi qua những cấp Tan-tra khác đã nêu trên, giữ giới luật (vinaya) nghiêm ngặt để dần dần thanh lọc thân tâm. Trong cấp Vô thượng du-già thì tất cả những nghi quỹ đều được gạt qua một bên, hành giả đã vượt qua thế giới nhị nguyên, tương đối, phụ thuộc.|Hai cấp đầu của Tan-tra được xem là cấp thấp vì ở đây thiếu những yếu tố cần được phân tích bằng Trí và nội dung của chúng không vượt ra khỏi những nghi lễ. Nói chung, Tác và Hành tan-tra là sự giao tiếp với thế giới hiện hữu, vẫn còn nằm trong phạm vi cố định, phụ thuộc.|Ngược lại trên, hai cấp Du-già và Vô thượng du-già tan-tra chứa đựng những mầm mống triết lí cao đẳng của Ðại thừa Phật giáo. Những hành giả thực hành hai Tan-tra này (s: tantrika hoặc sādhaka) phải nắm vững những tư tưởng căn bản của Ðại thừa trước khi bước vào một Vô thượng du-già tan-tra và sau khi đạt yếu chỉ, họ được gọi là là một Tất-đạt (siddha), một Thành tựu giả, »người thành đạt«.|Triết lí nền tảng của Vô thượng du-già là Trung quán (s: madhyamaka), chủ trương nhấn mạnh sự bình đẳng tuyệt đối của Niết-bàn (s: nirvāṇa) và Luân hồi (saṃsāra). Vì thế nên không có sự khác biệt giữa kinh nghiệm thu thập qua các giác quan, thế giới hiện hữu, và kinh nghiệm huyền diệu khi đã đến đích, Niết-bàn. Không có một sự khác biệt nào giữa chủ thể và khách thể, tất cả đều »không hai« (Bất nhị; s: advaya). Sự trực nhận thấy chân lí này chính là niềm vui vô biên (大樂; Ðại lạc; s: mahāsukha) xuất phát từ những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), được chư vị trình bày trong các bài ca chứng đạo (s: dohā, dịch âm Hán Việt là Ðạo-bả; 道把).|Các kinh nghiệm giác ngộ của chư vị được trình bày trong các kệ tụng có thể được tóm tắt, trình bày như sau:|Chỉ có Phật mới nhận ra Phật|Mỗi khoảnh khắc của nhận thức là Phật|Tất cả các dạng hiện hữu là thân Phật|Tất cả âm thanh là lời Phật|Tất cả tâm trạng thanh tịnh là tâm Phật|Tất cả hiện hữu đều là Tâm|Không có gì cấu uế, nhưng có ý niệm cấu uế|Ðạo là mục đích, mục đích là Ðạo|Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.|Vô thượng du-già đưa ra một loạt phương pháp tu tập thiền định để đạt được kinh nghiệm nói trên. Hầu hết tất cả những phương pháp thiền định (được gọi là Nội du-già) này đều được sự phụ trợ của những nghi lễ, khế ấn, thủ ấn (Ngoại du-già). Những nghi lễ này đều mang một biểu hiện tâm lí thâm sâu và tất cả những nghi quỹ, hành động của hành giả Tan-tra đều không tự có giá trị – chúng chỉ là những biểu tượng tư tưởng của người thực hiện. Kinh nghiệm tối thượng của Vô thượng du-già chính là sự thống nhất, sự hoà hợp của hai yếu tố chính để đạt Niết-bàn, đó là Trí huệ (prajñā) và Phương tiện (upāya). Hai yếu tố này đã đưa đến cho Vô thượng du-già những biểu tượng tính dục nam nữ và trong đây, Trí huệ được xem là nữ tính, Phương tiện thuộc nam tính. Biểu tượng giao hợp (s: yuganaddha; t: yab-yum; Yab-yum) của nam nữ được sử dụng vì trong tục thế, không có biểu tượng nào gần gũi, cô đọng hơn và cũng vì những biểu tượng này mà Vô thượng du-già thường bị hiểu lầm. Vô thượng du-già bộ không được truyền qua Trung Quốc và vì vậy, sử sách ở đây hay gọi sai là »tả (với ý nghĩa tà) đạo« mặc dù tại đây chưa bao giờ có truyền thống, điều kiện tu tập. Dù muốn hay không, mỗi người tu tập đạo – có quyến thuộc hay không quyến thuộc – đều là kết quả của sự giao hợp này và nó chính là sự dung hoà, tổng hợp giữa âm và dương mà ở đâu người ta cũng có thể thấy được (tương ưng với mặt trời, mặt trăng trong vũ trụ,…, các cặp âm dương câu sinh, đối đãi của thế giới hiện hữu). Kết quả của sự phối hợp giữa Bát-nhã (般若; s: prajñā) và Phương tiện (方便; s: upāya) được gọi là Bồ-đề tâm (菩提心; s: bodhi-citta). Trong khía cạnh tuyệt đối (vivṛti), Bồ-đề tâm là một kinh nghiệm thật tại siêu việt, được mô tả bằng nhiều tên như Ðại lạc (mahāsukha), Tự chứng phần (svasaṃvedya), cái Tự có sẵn (Câu sinh khởi, s: sahaja).|Hai đặc điểm khác của Vô thượng du-già là cách sử dụng những Man-đa-la (maṇḍala) và ăn những thức ăn hành lễ. Những Man-đa-la này được vẽ như những bức tranh để các hành giả dùng để thiết tưởng linh ảnh hoặc được vẽ thẳng ngay dưới đất, được sử dụng trong lúc hành lễ. Còn những món ăn bao gồm nhiều loại khác nhau (năm loại thịt,…) và các luận giải cho rằng, các món ăn này có công dụng thanh lọc Thân khẩu ý một cách nhanh chóng.|Về phần nội dung thì hai bộ Bí mật tập hội (guhya-samāja-tantra) và Hô kim cương tan-tra (hevajra-tantra) nói trên tương đối giống nhau, mặc dù Bí mật tập hội ghi rõ hơn về những Nghi quỹ trong lúc thực hành nghi lễ. Các bộ Vô thượng du-già tan-tra đều được ghi lại bằng một ngôn ngữ bí mật, nhiều nghĩa, có thể giảng giải bằng nhiều cách và nếu không có Ðạo sư (guru) truyền lại những khẩu quyết thì không ai có thể thực hành được. Vì lí do này và những lí do khác đã nói, Vô thượng du-già tan-tra được giữ kín, bí mật, chỉ dành cho hạng thượng căn có duyên.|Nói tóm lại, cách tu tập theo Vô thượng du-già với mục đích »Thành Phật trong kiếp này với thân này« rất khó và chỉ có những ai dày công tu luyện, đã đạt tâm vô chấp, những kiến giải nhị nguyên phân biệt đã tan biến phần nào mới có thể bước vào Pháp môn này được.
vô thượng giác
Supreme perfect enlightenment.
vô thượng giác ngộ
Supreme enlightenment.
vô thượng giới
Supreme shila Giới hạnh cao nhất.
vô thượng huệ
Trí huệ vô thượng của Đức Phật—The supreme wisdom, that of Buddha.
vô thượng lưỡng túc tôn
Đấng Hai Chân Vô Thượng—The Peerless Two-Legged Honored One.
vô thượng nhãn
The supreme eye, able to discern the inward significance of all things.
; Vô thượng nhãn có thể biện biệt ý nghĩa sâu kín bên trong của vạn hữu—The supreme eye, able to discern the inward significance of all things.
vô thượng nhẫn
The highest patient equanimity in receiving the truth; also to believe the truth of impermanence without doubt.
; 1) Pháp Nhẫn hay trí huệ có thể tiếp thụ chân lý: Highest patient equanimity in receiving the truth. 2) Tin nơi lý vô thường không chút nghi ngờ: To believe the truth of permanence without doubt.
vô thượng niết bàn
Unsurpassed Nirvāṇa.
; The supreme nirvàna, that of Mahàyàna.
; Quả Niết Bàn, không quả nào hơn được, đối lại với niết bàn Tiểu thừa—The supreme nirvana, that of Mahayana in contrast with the inferior nirvana of Hinayana.
vô thượng pháp
The supreme dharma, nirvàna.
; Theo Trí Độ Luận, Vô Thượng Pháp có nghĩa là Niết Bàn (trong các pháp không có pháp nào hơn được Niết Bàn)—According to the sastra on the Mha-Prajna Sastra, the supreme dharma is the nirvana.
vô thượng pháp luân
The preaching, or propagation of the supreme dharma.
; Như Lai thuyết pháp giáo hóa chư Bồ Tát—The supreme Buddha's Dharma, the peaching or propagation.
vô thượng pháp vương
The Lord of supreme dharma, Buddha.
; Một danh hiệu của Đức Như Lai—A title of Buddha.
vô thượng phúc điền y
The supreme garment of the field of blessedness, i.e good works.
vô thượng phước điền
The supreme garment of the field of blessedness, i.e. good works.
Vô Thượng Sĩ
(s, p: anuttara, 無上士): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là A Nậu Đa La (阿耨多羅); còn gọi là Vô Thượng (無上), Vô Thượng Trượng Phu (無上丈夫); là trí đức của Như Lai, bậc tối thắng trong loài người, không có sai lầm; nên được gọi như vậy. Ngoài ra, Đẳng Giác Vị (等覺位) trong 52 giai vị của Bồ Tát có tên là Hữu Thượng Sĩ (有上士), và Diệu Giác Vị (妙覺位) của Phật gọi là Vô Thượng Sĩ. Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 8, Phẩm Như Lai Tánh (如來性品) thứ 4, có giải thích rằng: “Như Lai giả danh Vô Thượng Sĩ, thí như nhân thân đầu tối vi thượng, phi dư chi tiết thủ túc đẳng dã; Phật diệc như thị tối vi tôn thượng, phi Pháp Tăng dã (如來者名無上士、譬如人身頭最爲上、非餘支節手足等也、佛亦如是最爲尊上、非法僧也, Như Lai gọi là Vô Thượng Sĩ, giống như thân người thì đầu là trên hết, không phải là các chi tiết tay chân, vân vân; đức Phật cũng như vậy, là tôn kính trên hết, không phải là Pháp và Tăng).” Trong Phật Thuyết Vô Thường Kinh (佛說無常經, Taishō Vol. 17, No. 801) có đoạn rằng: “Khể thủ quy y Vô Thượng Sĩ, thường khởi hoằng thệ đại bi tâm, vị tế hữu tình sanh tử lưu, linh đắc Niết Bàn an ổn xứ (稽首歸依無上士、常起弘誓大悲心、爲濟有情生死流、令得涅槃安隱處, cúi đầu quy y Vô Thượng Sĩ, thường khởi thệ lớn tâm đại bi, vì cứu hữu tình sanh tử trôi, khiến đạt Niết Bàn an ổn chốn).”
vô thượng sĩ
Anuttarapuruṣa (S), Supreme One, UnsurpassedXem Đại sĩ.
; Anuttara (S). Unsurpassed. The peerless noble one, the Buddha.
; Vô Thượng Sĩ, một trong mười danh hiệu của Phật—The supreme master—The peerless nobleman, the Buddha, one of the ten titles of the Buddha.
vô thượng sĩ điều ngự trượng phu
Unsurpassed knight taming hero.
vô thượng sư
Xem A nậu đa la.
vô thượng thượng
Above the supreme, the supreme of the supreme, i.e. Buddha.
; Vô thượng thượng là chân vị giải thoát, như đấng Như Lai—Above the supreme, the supreme of the supreme, i.e. Buddha.
vô thượng thượng thừa
The most supreme vehicle, the Mahàyàna.
; Đại Thừa—The most supreme vehicle—See Đại Thừa.
vô thượng thắng trưởng giả
The Elder Unsurpassed Victory.
vô thượng thừa
The most supreme Vehicle—Mahayana—See Đại Thừa.
vô thượng tuệ
Supreme wisdom, that of Buddha.
vô thượng tàm quí y
The supreme garment of sensitiveness to the shameful, the monk's robe.
vô thượng tàm quý y
Y áo của chư Tăng Ni (khi mặc nó vào nó nhắc nhở người mặc luôn biết tàm quý mỗi khi làm điều sai trái)—The supreme garment of sensitiveness to the shameful, the monk's robe.
vô thượng tôn
The peerless honoured one.
; The Peerless Honored One.
Vô thượng vô sở úy
xem Bậc cao nhất không sợ.
vô thượng đăng
The supreme lamp.
; Đèn Niết bàn xua tan bóng tối của dục vọng và ảo ảnh—The supreme lamp—Nirvana lamp that disperse the gloom of passion-illusion.
vô thượng đạo
Unsurpassed Way.
; The supreme way, or truth, that of Buddha.
; Đạo mà Đấng Như Lai chứng đắc không thể ai hơn được—The supreme way or truth of the Buddha.
vô thần
Atheistic—Đôi khi người ta nói Phật Giáo là “Vô Thần” hay là một “tôn giáo không có thần linh.” Tuy nhiên, những lời Phật dạy về “Lục Đạo” đã xua tan quan niệm ấy, vì trong lục đạo, Đức Phật đã nói rõ ràng có chư Thiên, nhưng chư Thiên trong Phật giáo không phải là những vị Thần với quyền năng tối thượng sáng tạo vũ trụ, hay thưởng phạt chúng sanh. Theo Phật giáo, các vị thần có thể được tôn thờ nhằm cho những phước lạc có giới hạn của trần gian, nhưng chính các chư thiên nầy cũng vô thường và tầm thường, không thể thỏa mãn cho việc cầu xin liên hệ tới giải thoát hay Niết Bàn, vốn là những thứ siêu thế gian mà chính họ chưa bao giờ chứng đắc. Bất quá Phật giáo chỉ là vô thần trong ý nghĩ rằng Phật giáo phê bác lý thuyết về một nguyên nhân “Đầu Tiên,” một Thượng đế sáng tạo—It is sometimes said that Buddhism is “atheistic” or a “godless religion.” However, the Buddha's teaching about “the six realms of existence” should surely disperse this notion. The Buddha states clearly that there exists a so-called “the realm of gods” in Buddhism, but gods in Buddhism are not those with almighty powers who can create the universe, or who can reward or punish other creatures. According to Buddhism, the gods may be worshipped for limited and worldly blessings but being impermanent and worldly themselves, they cannot grant prayers concerned with that freedom or Nirvana which is supermundane and which they have not gained. Buddhism is only atheistic in the sense that it rejects as false the theory of First Cause, a Creator God.
vô thần giáo
Atheism.
vô thắng
Ajita (S). Invincible, unsurpassed, unconquered.
; Ajita (skt)—Invincible—Unsurpassed.
Vô Thắng Phát Hạt
xem A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la.
vô thắng quốc
Vô Thắng Quốc hay Tây Phương Tịnh Độ tọa lạc về phía tây của vũ trụ—The Unexcelled land—The Pure Land located west of this universe.
vô thể
Bodiless.
vô thọ
Without love, craving, attachment.
vô thủy
không có điểm khởi đầu.
; Without beginning, as in the chain of transmigration.
; Vũ trụ vạn vật đều chẳng thể tìm tòi sự bắt đầu, vì thời gian vốn chẳng trước sau, nói trước chẳng có thủy, nói sau chẳng có chung, đây cũng là cái nghĩa các pháp vô sanh.
; Không có cái ban đầu, như mắt xích luân hồi sanh tử (đời nay là do cái nhân đời trước, đời trước là do cái nhân đời trước nữa, cứ thế mà suy mãi lên sẽ thấy là không có sự bắt đầu)—Without beginning, as in the chain of transmigration.
vô thủy dĩ lai
Từ lúc hay trước thời khởi thủy—From or before the very beginning.
vô thủy gián cách
See Vô Thủy Vô Minh.
vô thủy khoáng kiếp
Luân hồi sanh tử không có khởi thủy, mà trải qua nhiều niên kiếp xa xôi dằng dặc—Transmigration which has existed without beginning through vast kalpas.
vô thủy không
Without beginning and unreal, void without beginning, the abstract idea of vô thủy, i.e. without beginning.
; 1) Vô Thủy và Không: Without beginning and unreal. 2) Tánh “không” không có khởi thủy: The “void” is without beginning, the abstract idea of without beginning.
vô thủy vô biên
Chân lý Phật pháp không có khởi thủy mà cũng không có sự chấm dứt—The Buddha-truth is without beginning and infinite.
vô thủy vô chung
Without beginning and without end—Vòng sanh tử luân hồi vô thủy vô chung—The cycle of birth and death or transmigration is without beginning or end.
vô thủy vô minh
Xem Căn bản vô minh.
; The period of unenlightenment or ignorance without beginning, primal ignorance.
; Trước khi một niệm chưa sanh khởi gọi là vô thủy vô minh. Đây là nguồn gốc của ý thức, Thiền tông gọi là thoại đầu, cũng gọi là đầu sào trăm thước. Khi ấy trong tâm thanh thanh tịnh tịnh chưa có thức phân biệt, khi bị ngoại cảnh kích thích nổi lên một niệm thì trở thành nhất niệm vô minh.
; Căn Bản Vô Minh—Nguyên Phẩm Vô Minh. 1) Nguyên Phẩm Vô Minh: Hoặc thể căn bản của luân hồi sanh tử không có sự bắt đầu (không thấu đạt được cái lý tính bình đẳng pháp giới). —Primal ignorance—The period of unenlightenment or ignorance without beginning. 2) Gián Cách Vô Minh: Luân hồi sanh tử không có sự bắt đầu; theo luật nhân quả thì tất cả các pháp hữu vi đều là nhân duyên sanh (quả của hiện tại là do nhân của thời trước mà sanh ra), không thể nào có sự bắt đầu—The period of transmigration which has no beginning; since under the law of causality everything has a cause, therefore no beginning is possible; for if there were a beginning it would be without a cause, which is impossible. 3) Vọng Chân Đồng Thể: Căn bản vô minh và chân như đều cùng một thể—Primal ignorance is without beginning; and the bhutatathata is without beginning, the two terms connoting the same idea.
vô thức
Ajnàna (S). Unknowledge. Also Vô tri.
; Unconsciousness.
vô tiết
Xem ni câu đà.
vô tiền hậu không
Xem Vô thuỷ không.
vô tiền khoáng hậu
Unprecedented
vô tranh
Without strife, debate, or contradiction; passionless; abiding in the "empty" or spiritual life without debate, or without striving with others.
; Không cải, không dính dấp gì đến mọi vật, mà chỉ an trụ nơi “Không Lý.”—Without strife, debate or contradiction; passionless; abiding in the “empty” or spiritual life without debate, or without striving with others.
vô tranh tam muội
The samàdhi in which there is absence of debate or disputation or distinction of self and other.
; Thiền định an trụ nơi không lý, không tranh luận với kẻ khác—The samadhi in which there is absence of debate or disputation, or distinction of self and other.
vô tri
Anava (S).
; Ignorant; ignorance; absence of perception. Also, ultimate wisdom considered as static, and independent of differentiation.
; 1) Sự ngu ám không biết rõ sự lý: Ignorant—Absence of perception. 2) Chân trí tối thượng tịch tĩnh, dứt bỏ mọi phân biệt: Ultimate wisdom considered as static, and independent of differentiation.
vô tri tán
NirŪpanastava (S).
vô tri vô giác
Inanimated ignorant.
vô trí
Ajāna (S), Aāṇa (P), Unknowledge, Mindlessness.
; Lacking wisdom.
Vô Trú
(無住, Mujū, 714-774): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người Huyện Phụng Tường Mi (鳳翔郿縣, Thiểm Tây), họ Quý (季), thường gọi là Quý Liễu Pháp (季了法). Ban đầu ông tu theo phép Nho Giáo, võ nghệ tuyệt luân. Năm 20 tuổi, gặp được Trần Sở Chương (陳楚璋), đệ tử của Thiền Sư Huệ An (慧安) trên Tung Sơn (嵩山), được mặc truyền tâm pháp, từ đó ông quy y theo Phật Giáo. Vào năm đầu (742) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông đến Thái Nguyên (太原) tham yết Thiền Sư Tự Tại (自在), rồi xuống tóc xuất gia với vị này và 8 năm sau thọ Cụ Túc giới. Vào năm thứ 2 (759) niên hiệu Càn Nguyên (乾元), ông đến tham yết Thiền Sư Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺), thuộc Thành Đô (城都), Tứ Xuyên (四川) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau khi thầy qua đời, vào năm thứ 2 (766) niên hiệu Vĩnh Thái (永泰), ông đến trú trì Không Huệ Tự (空慧寺), rồi tháng 10 năm này cùng với Đỗ Hồng Tiệm (杜鴻漸) tranh luận vấn đáp, khai diễn pháp đốn giáo. Sau ông đến trú tại Bảo Đường Tự (保唐寺) khai đàn thuyết pháp, giáo hóa cho rất nhiều người, cho nên người đời thường gọi ông là Bảo Đường Vô Trú (保唐無住). Vào ngày mồng 3 tháng 6 năm thứ 9 niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông an nhiên thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi. Đời sau gọi pháp hệ của ông là Bảo Đường Tông (保唐宗).
Vô Trước
無著; S: asaṅga; dịch âm là A-tăng-già (阿僧伽), nghĩa là không bị ô nhiễm, cấu uế, vướng mắc; ~ tk. 4;|Một Ðại luận sư của Phật giáo Ấn Ðộ, người sáng lập Duy thức tông (yogācāra). Sư khước từ quan điểm của Long Thụ (nāgārjuna) về tính Không tuyệt đối và thiết lập giáo pháp của mình dưới ảnh hưởng của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Tương truyền Sư được Bồ Tát Di-lặc trực tiếp giáo hoá. Có một số luận sư cho rằng Di-lặc này là một nhân vật lịch sử với tên Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha).||H 76: Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (s: śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một Pháp sư tinh thông Tam tạng. Bình đất đựng nước phía sau cho biết rằng, Sư là một luận sư Ấn Ðộ, xứ nóng. Bình đất đựng nước có công dụng giữ nước mát dưới ánh nắng gắt vì nước có thể bốc hơi một ít qua vành đất nung và giảm nhiệt. Các luận sư Tây Tạng không được trình bày với bình đất vì họ là người xứ lạnh, chỉ uống trà.|Theo Bà-tu Bàn-đầu pháp sư truyện (tức là Thế Thân truyện) của Chân Ðế (paramārtha), Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn và là người anh cả, Thế Thân (vasubhandu) là người em kế và người em út có tên Tì-lân-trì Bạt-bà (viriñcivatsa). Cả ba anh em đều tu học giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ. Riêng Sư chú tâm tu tập để chứng ngộ được lí Không (s: śūnyatā) của Long Thụ nhưng không đạt được. Ðang lúc thất vọng thì một vị A-la-hán tên là Tân-đầu-la (piṇḍola) đến, dạy Sư nhập môn phép quán Không theo Tiểu thừa. Sư theo học và đạt được kết quả nhưng vẫn không thoả mãn. Cuối cùng, Sư vận dụng Thần thông (s: ṛddhi) lên Ðâu-suất thiên (s: tuṣita) để được nghe đức Di-lặc thuyết giảng về tính Không. Về lại nhân thế, Sư truyền bá lí thuyết mới này nhưng không ai tin. Sau, Sư lại lên Ðâu-suất để thỉnh đức Di-lặc xuống giáo hoá và sau đó đức Di-lặc giáng trần, thuyết giảng Thập thất địa (s: saptadaśabhūmi, tức là 17 quyển của Du-già sư địa luận) trong một khoảng thời gian bốn tháng. Trong lúc này, Sư ban ngày thì thuyết giảng những lời dạy của Di-lặc, ban đêm lắng nghe và ghi chép lại những lời thuyết đó. Sau đó, Sư bắt đầu trình bày tất cả giáo lí Ðại thừa qua những trứ tác quan trọng của mình và cũng khuyến dụ Thế Thân, người em cùng mẹ khác cha, vốn theo học giáo lí của Hữu bộ và cũng đã viết bộ luận lừng danh là A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa-śāstra). Thế Thân nghe lời khuyên của Sư và từ đây, hai anh em trở thành hai Luận sư tối trọng của Ðại thừa Phật pháp, đại diện cho nhánh Duy thức, để lại những tác phẩm vô cùng quý giá cho hậu thế.|Những nhà Phật học ngày nay đều nhất trí rằng, Ðại thừa Phật pháp là sự phát triển tuyệt đỉnh của các giáo lí mà đức Phật lịch sử từng tuyên thuyết nhưng không hẳn là chính lời của Ngài. Trong thời của Vô Trước, giáo lí Ðại thừa này bị nhiều trường phái Tiểu thừa chỉ trích, cho là Dị giáo (s: tīrthikā; p: titthiyā), là giáo lí của tà ma, ngoại đạo. Sư cũng đứng trước vấn đề này và đã tìm cách chứng minh tính chất phù hợp, tiếp nối, phát triển của giáo lí mới, nêu ý kiến của mình trong Nhiếp Ðại thừa luận: »Nếu Ðại thừa là giáo lí sau này của một người nào đó thì Phật đã bảo rằng, đây là một mối nguy hại cho tương lai. Nhưng Ngài đã không nói. Ðại thừa xuất phát cùng thời với Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), không phải thời sau. Nếu như thế thì sao người ta không thể xem nó chính là lời Phật (buddhavacana) thuyết? Giáo lí thâm sâu này không thể hội được qua biện luận nghi ngờ; những giáo lí này không thể nào tìm thấy được trong các Dị giáo luận (tīrthikāśāstra) và nếu nó được thuyết giảng, ngoại đạo cũng không thể hiểu nổi…« Sư nhấn mạnh rằng, ý nghĩa (artha) được trình bày trong Ðại thừa không nhất thiết theo ngôn ngữ trình bày trên giấy mực; nó chính là cái cốt tuỷ nằm sau những lời văn này. Người ta không thể thâm nhập huyền nghĩa nếu chỉ chú tâm, bám chặt vào văn tự.|Theo thuyết của Cao tăng Tây Tạng Tā-rā-nā-tha (t: kun-dgaḥ sñyin-po), Sư đến nhiều vùng tại Ấn Ðộ và xiển dương giáo lí Ðại thừa Duy thức, thành lập khoảng 25 tu viện. Thời gian hoằng hoá của Sư được xem là nằm trong thế kỉ thứ tư, đặc biệt là trong những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ, bây giờ thuộc về Pakistan.|Các tác phẩm quan trọng của Vô Trước là Du-già sư địa luận, Ðại thừa kinh trang nghiêm luận, Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận và Nhiếp Ðại thừa luận, một bộ luận viết bằng văn vần trình bày giáo pháp của Duy thức tông, hiện nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và Tây Tạng. Tác phẩm này gồm có mười chương và bàn luận các điểm sau: 1. A-lại-da thức; 2. Lí thuyết cho rằng tất cả thế giới đều từ tâm thức hiện nên, thuần tuý duy tâm (s: cittamātra); 3. Cách chứng ngộ được thuyết này; 4. Các hạnh Ba-la-mật; 5. Thập địa; 6. Giới; 7. Thiền định; 8. Bát-nhã; 9. Trí huệ siêu việt vô phân biệt; 10. Ba thân (trikāya). Có thuyết cho rằng, Sư cũng là tác giả của Bí mật tập hội (guhyasamāja-tantra), một tác phẩm quan trọng thuộc hệ Vô thượng du-già tan-tra, và nếu vậy Sư giữ một vị trí quan trọng trong Mật tông Phật giáo.|Các tác phẩm còn lưu lại dưới tên Sư hoặc dưới tên Di-lặc (trích): 1. Hiển dương thánh giáo luận (pra-karaṇāryaśāsana-śāstra, ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), 20 quyển, Huyền Trang dịch; 2. Du-già sư địa luận (yogācārabhūmi-śāstra), 100 quyển, Huyền Trang dịch; 3. Nhiếp Ðại thừa luận (mahā-yānasaṃgraha), 3 quyển, Chân Ðế dịch; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharma-samuc-caya), 7 quyển, Huyền Trang dịch; 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), 13 quyển, Ba-la-phả Mật-đa-la (prabha-kāramitra) dịch, cũng có bản Phạn và Tạng ngữ; 6. Thuận trung luận (madhyāntānusāra-śāstra), 2 quyển, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch; 7. Năng đoạn kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh luận tụng (2 bản, āryabhagavatī-prajñāpāramitā-vajrac-chedikā-saptārtha-ṭīkā và triśatikāyā-prajñāpārami-tāyā-kārikā-saptati); 3 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch, Nghĩa Tịnh cũng dịch một bản; 8. Giải thâm mật kinh chú (ārya-saṃdhinirmocana-bhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 9. Hiện quán trang nghiêm luận tụng (abhisamayā-laṅkāra-nāmaprajñāpāramitā-upa-deśa-śāstra [-kārikā] thường được viết ngắn là abhi-samayālaṅkāra-śāstra), còn bản Phạn và Tạng ngữ; 10. Biện trung biên luận tụng (madhyānta-vibhāga-kārikā), bản Hán và Tạng ngữ vẫn còn. Có hai bản dịch tại Trung Quốc, Huyền Trang dịch ra 3 quyển, Chân Ðế dịch ra 2 quyển dưới tên Trung biên phân biệt luận; 11. Pháp pháp tính phân biệt luận (dharma-dharmatā-vibhāga).
vô trước
Mujaku (J), Asaṇga (S), thok may (S), Wu-cho (C), Wuzhuo (C), Mujaku (J)(821-900) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.
; 1) Không chấp trước đối với sự vật hay không vướng mắc vào bất cứ thứ gì—Unattached—Free—Not in bondage to anything. 2) Tên của Ngài Vô Trước, anh của ngài Thiên Thân Bồ Tát (Thế Thân)—Name of Asanga, brother of Vasubandhu—Vô Trước Bồ Tát, một cư dân của xứ Kiện Đà La, nhưng hầu hết thời gian ông sống ở Ayodhya, ông sống khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, tức khoảng 1.000 năm sau khi Phật nhập diệt. Thật ra họ gồm có ba anh em, trong đó, Vô Trước là anh cả, người thứ hai là Thế Thân, còn người em út là Virincivatsa. Người ta nói ngài là người đã chuyển hóa và giúp cho Thế Thân trở thành Phật tử Đại thừa. Đầu tiên ông là đệ tử của phái Mahisasaka (trường phái nầy tách rời khỏi phái Vibhaiyavadin vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch), nhưng sau đó ông sáng lập phái Du Già hay Mật Giáo với giáo lý căn bản là bộ Du Già Sư Địa Luận do ông trước tác, có thuyết nói Phật Di Lặc trên cõi Trời Đâu Suất đã thuyết cho ông ghi lại bộ luận nầy. Có thể nói rằng hai anh em Vô Trước và Thế Thân là những nhà tư tưởng có đầu óc sáng tạo, đã tạo nên điều có thể gọi là thời kỳ kinh điển của triết học Phật giáo. Các tác phẩm quan trọng nhất của Vô Trước là Đại Thừa Nhiếp Luận (Mahayana-sampari-graha), Du Già Sư Địa Luận (Yogacara-bhmi-sastra), Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahayana-sutralankara), . Hai cuốn sau cùng là những cuốn sách quan trọng nhất xét về mặt đạo lý và giáo lý. Cuốn Du Già Sư Địa Luận nguyên bản tiếng Phạn được Rahul-Sankrityayan tìm thấy, được phân ra làm mười bảy 'địa' và mô tả chi tiết con đường giới luật theo trường phái Duy Thức Du Già, là một công trình liên liên kết giữa Vô Trước và Thầy của ngài là Maitreyanatha. Maitreyanatha thì viết còn Vô trước thì chú giải—Asanga Bodhisattva (a native of Gandhara, but lived mostly in Ayodhya, presently Oudh), who lived a thousand years after the Nirvana, probably the fourth century A.D. Asanga and Vasubandhu were born in Purusapura in the Gandhara country. They belonged to a Brahmin family of Kausika and were well versed in Brahminical learning. They were educated in Kashmir where they studied the Vibhasa-sastra. They were in fact three brothers, of whom Asanga was the eldest. Vasubandhu was the second brother, while the youngest was called Virincivatsa. He is said to be the one who helped converted Vasubandhu to Mahayana. He was the first follower of the Mahisasaka school, but founded the Yogacarya or Tantric school with his Yogacarabhumi-sastra, which is said to have been dictated to him by Maitreya in the Tusita heaven. We can say that both Asanga and Vasubandhu are among creative thinkers who brought about what may be called the classical age of Buddhist philosophy. The most important works of Asanga are the Mahayana-samparigraha, the Prakarana-aryavaca, the Yogacara-bhumi-sastra, and the Mahayana sutralankara. The last two works are most important from the ethical and doctrinal points of view. The Yogacara-bhumi-sastra, which in its original Sanskrit form has been discovered by Rahul-Sankrityayan, is divided into seventeen bhumis and describes in detail the path of discipline according to the Yogacara school. The Mahayana-sutralankara is the joint work of Asanga and his teacher Meitrayanatha. The Karikas were written by Maitreyanatha and their commentary by Asanga.
vô trước bồ tát
Asaṃgha (S)Tên một vị Bồ tát.Xem Vô Trước.
vô trước hành
Các hành viên dung không chướng ngại—Unfettered action, power to overcome all obstacles. ** For more information, please see Thập Hạnh (7).
vô trước hạnh
Unfettered action, power to overcome all obstacles.
vô trước thiên thân tông
The school of Asanga and Vasubandhu, i.e. Pháp Tướng tông.
; Tông Pháp Tướng do hai ngài Vô Trước và Thiên Thân sáng lập—The school of Asanga and Vasubandhu, or Mahayana Dharmalaksana school. ** For more information, please see Asanga, and Vasubandhu in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section; and Pháp Tướng Tông in Vietnamese-English Section.
Vô Trước Văn Hỉ
無著文喜; C: wúzhù wénxǐ; J: mujaku bun 'eki; hoặc Hàng Châu Văn Hỉ, Long Tuyền Văn Hỉ; 821-900; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư nối pháp Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.|Lúc nhỏ, Sư vân du khắp nơi, có dịp yết kiến Văn-thù Bồ Tát tại Ngũ Ðài sơn và sự việc này được biên soạn lại thành một Công án nổi tiếng trong Bích nham lục (35).
vô trạch địa ngục
See Vô Gián Địa Ngục.
vô trần
Dustless, without an atom of the material or unclean, immaterial, pure.
; Không vướng bụi trần hay không vướng các pháp của tam giới—Dustless—Immaterial—Pure—Without an atom of the material or unclean.
vô trần pháp giới
The immaterial-realm.
; The immaterial realm out of which all things come.
vô trụ
Not abiding; inpermanence; things having no independent nature of their own, they have no real existence as separate entities.
; Chẳng chấp thật thì chẳng trụ một cú nào trong tứ cú, ngay khi đó tự tánh hiện hành, lìa tương đối mà nhập vào cảnh giới tuyệt đối.
; Apratshthita (skt)—Vạn hữu không có tánh độc lập của nó, chúng không có sự hiện hữu thật sự như một thực thể riêng biệt, nên không bám víu vào đâu (chỉ tùy theo duyên mà nổi lên)—Not abiding—Impermanence—Things having no independent nature of their own, they have no real existence as separate entities
vô trụ niết bàn
Apratiṣṭhita-nirvāṇa (S).
vô trụ tam muội
The samàdhi which contemplates all things as temporal and evanescent.
; Tam muội quán chiếu chư pháp là tạm bợ và chóng phai mờ—The samadhi which contemplates all things as temporal and evanescent.
vô trụ xứ niết bàn
Phật tại Niết Bàn tự do toàn vẹn, muốn sống bất cứ nơi nào tùy ý. Ngài có thể làm bất cứ cách nào Ngài muốn, và vì rằng Ngài không có trụ xứ cố định, nên Niết Bàn của Ngài được gọi là “Vô Trụ Xứ Niết Bàn.”—The Buddha in Nirvana has a perfect freedom to live any where he pleases; he can act in whatever way he wishes and on that account he has no fixed abode and his Nirvana is called the 'Nirvana of No Abode.”
Vô trụ xứ niết-bàn
無住處涅槃; S: apratiṣṭhita-nirvāṇa; |Niết-bàn
Vô Trụ Ðạo Hiểu
無住道曉; J: mujū dōkyō; 1226-1313; còn được gọi là Nhất Viên (j: ichien);|Thiền sư Nhật Bản dòng Lâm Tế, môn đệ của Thiền sư Viên Nhĩ Biện Viên. Sư diêu du khắp nước Nhật và tham vấn nhiều Thiền sư. Sư có một tác phẩm rất hay, được gọi là Sa thạch tập (沙石集; j: shasekishū; được dịch ra Việt ngữ với tên: Góp nhặt cát đá). Tác phẩm này là một bản sưu tầm những ngụ ngôn, lời dạy của các chư Phật, Tổ và những Thiền sư, rất được ưa chuộng trong giới thiền.
vô trụ đạo hiểu
MujŪ Dōkyō (J)Tên một vị sư.
vô trứ (trước)
Unattached, not in bondage to anything. Name of Asanga, brother of Vasubandhu and others.
vô trứ bồ tát
Xem Vô trước Bồ tát.
vô tài
Incapable.
vô tàm
Ahrīkata (S), Ahrīka (S), Unshameful Không biết hỗ thẹn với chính mình. Làm việc ác mà không thấy xấu hổ.
; Ahrika (S). Without shame, shameless.
; Ahrika (skt)—Không thấy xấu hổ khi làm việc ác (gây ra tội lỗi tự xét không thấy xấu hổ gọi là vô tàm, làm điều xấu xa trước mặt người khác mà không thấy thẹn thùng gọi là vô quí)—Without shame—Shameless.
vô tàm vô quí
No sense of shame or disgrace—Shameless.
vô tác
Xem Vô nguyện.
; Not creating, uncreated; not doing; inactive physically or mentally; independent of action, word or will, i.e. natural, intuitive.
; Asamskrta (skt)—Vô Vi hay sự tạo tác không có nhân duyên—Pháp không nhờ hành động của thân khẩu ý—Not doing—Passive—Inactive, physically or mentally—Non-causative—Not creating—Uncreated—Not being produced—Not becoming. **For more information, please see Asamskrta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô tác giới
The intangible, invisible moral law that influences the ordinand when he receives visible ordination; i.e. the internal spiritual moral law and its influence; the invisible grace of which the visible ordination is a sign. Also vô tác biểu giới.
; Vô Biểu Giới—Thể của ba nghiệp (thân khẩu ý) không biểu hiện mà chỉ dựa vào nhân duyên lúc tác giới nên không thấy không nghe—The tangible, invisible moral law that influences the ordinand when he receives visible ordination; i.e. the internal spiritual moral law and its influence; the visible grace of which the visible ordination is a sign.
vô tánh
Asvabhāva (S)Vô tự tánh Tên một vị sư.
vô tánh bồ tát
Agotra (S)Tên một vị Bồ tát.
vô tánh luận
Asvabhāva-prakarana (S)Tên một bộ luận kinh.
vô tâm
Mindless, without thought, will, or purpose; the real immaterial mind free from illusion; unconsciousness, or effortless action.
; (I) Vô tâm không có nghĩa là không có tâm, vô tâm có nghĩa là cái tâm không vướng mắc—Mindless—Unintentional—Effortless action—Inconsciousness—Unconscious—Mind of non-existence—Without thought, will or purpose—The real immaterial mind free from illusions—Vô tâm does not mean that we don't have a mind or have no mind, it does mean that we have a mind which is free from attachment to thoughts (free from self-consciousness). (II) Trong Thiền Phật giáo, “Vô Tâm” diễn tả trạng thái tâm thức trước khi nhị nguyên bị phân chia bởi tư tưởng—In Zen Buddhism, “No-Mind” describes a state consciousness before the division into duality created by thought takes place. (III) Chỉ khi nào trong tâm không còn một vật, ấy là vô tâm. Phật dạy, trong tu tập phải lấy pháp vô tâm để chế ngự vọng tâm—Only when the mind is empty (does not have anything); thus it is called “mind of non-existence.” The Buddha taught that in cultivation, practictioners should take this mind to tame the deluded mind.
vô tâm tam muội
Nisacinta (S).
; The samàdhi in which active thought has ceased.
; Vô tâm định—Tam muội diệt bỏ hết những suy nghĩ phân biệt—The samadhi in which active thought has ceased.
vô tâm đạo nhân
The hermit or saint in ecstatic contemplation, as with emptied mind he become the receptacle of mystic influences
; Các bậc ẩn tu hay Thánh nhân không còn niệm tướng, sở cầu, mà chỉ chuyên tâm vào yếu pháp (Kinh Tứ Thập Nhị Chương: “Cúng dường Tam Thế Chư Phật, chẳng bằng cúng dường một vị vô tâm đạo nhân)—The hermet or saint in ecstatic contemplation, as with empty mind he becomes the receptacle of mystic influences.
vô tình (a)
Involuntary.
vô tình (chúng sanh)
Inanimate.
vô tính
Without a nature, nothing has an independent nature of its own.
; Tất cả các pháp không có thực thể của riêng nó nên gọi là vô tính—Without nature—Without characteristics or qualities, absolute in itself—Absence of the mind or nature. Nothing has an independent nature of its own.
vô tính hữu tình
Một trong năm tính được Pháp Tướng Tông nói đến—One of the five natures in the doctrine of the Dharmalaksana school—See Ngũ Tính (A) (5).
vô tư
Impartial.
vô tư cách
Disqualification.
vô tư duy biện luận
Avicara (p)—Non discursive thinking.
vô tư lự
Free from care—Free-minded.
Vô Tướng
(無相, Musō, 684-762): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, họ Kim (金), người đời thường gọi là Kim Hòa Thượng, Đông Hải Đại Sư (東海大師), nguyên gốc thuộc vương tộc Tân La (新羅, Triều Tiên). Sau khi xuất gia và thọ giới tại Quần Nam Tự (羣南寺) bên Tân La, ông theo thuyền sứ nhà Đường sang Trung Quốc, đến yết kiến vua Huyền Tông, trú tại Thiền Định Tự (禪定寺). Không bao lâu sau, ông vào đất Thục, đến Đức Thuần Tự (德純寺), muốn theo hầu Xử Tịch (處寂), nhưng lúc ấy Xử Tịch bị bệnh nên không tham kiến được, ông bèn đốt một ngón tay cúng dường, nhờ vậy mà được phép lưu trú tại chùa này 2 năm. Đến năm thứ 24 cùng niên hiệu trên, Xử Tịch cho môn nhân gọi Vô Tướng đến phó chúc y của Đạt Ma do Trí Tiển (智銑) truyền lại, từ đó ông ẩn cư trong núi và thường sống theo hạnh Đầu Đà (s: dhūta-guṇa, 頭陀行). Sau thể theo lời thỉnh cầu, ông khai mở Thiền pháp, đến sống tại Tịnh Chúng Tự (淨眾寺) ở Phủ Thành Đô (城都府), hóa đạo trong vòng 20 năm. Đến năm cuối niên hiệu Thiên Bảo (天寳), khi đến đất Thục, vua Huyền Tông mời ông đến yết kiến, lấy lễ mà trọng đãi. Vào tháng 5 năm đầu (762) niên hiệu Bảo Ứng (寳應), ông lấy y truyền lại cho Vô Trú (無住), rồi đến ngày 19 thì an nhiên tĩnh tọa mà thoát hóa, hưởng thọ 79 tuổi. Hằng năm vào tháng 12 và tháng giêng, ông thường khai đàn thuyết pháp, trước hướng dẫn theo tiếng niệm Phật, sau thuyết về 3 câu vô ức, vô niệm và mạc vong. Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) sau này là thuộc pháp hệ của Vô Tướng. Sự truyền thừa và tông chỉ tông phái này được đề cập trong Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ (中華傳心地禪門師資承襲圖) của Tông Mật (宗密).
Vô tướng
無相; S, P: animitta;|Sự vô tướng, tính Không (s: śūnyatā) của tất cả các Pháp (s: dharma), dấu hiệu của tuyệt đối không phân biệt.
vô tướng
Animitta (S) Aristaka (S)A Lê TraKhông có tướng mạo, hình dạng.
; Animitta, niràbhàsa (S). Without form, or sign; no marks or characteristics; nothingness; absolute truth as having no differentiated ideas.
; Cảnh giới do lục căn tiếp xúc lục trần cảm biết được, nếu chấp là thật thì có tướng, nếu không chấp là thật thì vô tướng.
; Na-vidyate, or Nirabhasa, or Animitta, or Alakshana (skt)—Formlessness or imagelessness oe shadowlessness. 1) Không có hình tướng: Formless—Signlessness—Without appearance, form, or sign—No marks or characteristics—Nothingness—Have no existence—Is not found—Does not occur. 2) Chân lý dứt tuyệt mọi tướng—Absolute truth as having no differentiated ideas. 3) Niết Bàn: Nirvana. ** For more information, please see Nirabhasa, and Animitta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô tướng bồ đề
Tự chứng đắc giác ngộ bồ đề chứ không học nơi ai mà được—The enlightenment of seclusion, obtained by oneself, or of nirvana, or of nothingness, or of immateriality.
vô tướng gia hạnh chướng
The continuance of activity even in the formless world.
vô tướng giải thoát môn
The nirvàna type of liberation.
; Niết Bàn giải thoát, tam muội thứ nhì trong ba tam muội—The nirvana type of liberation, the second of the three samadhis. ** For more information, please see Tam Tam Muội.
vô tướng giới
See Ly Tướng Giới.
vô tướng hảo phật
Xem Vô tướng Như lai.
; 1) See Vô Tướng Phật. 2) Ưu Ba Cúc Đa, vị tổ Ấn Độ thứ tư: Upagupta, the fourth patriarch in India—See Nhị Thập Bát Tổ Ấn Độ.
vô tướng không giáo
The Tam luận tông or Màdhyamika school.
vô tướng kinh
Xem Đại Phương Đẳng Vô tướng Đại vân kinh.
vô tướng lạc
Animittasukha (skt)—Sự an lạc của vô tướng, hay cái hạnh phúc của sự không có hình tướng. Một vị Bồ Tát sẽ luôn làm cho mình hưởng đúng cái hạnh phúc vô tướng và cũng làm cho người khác an trú đúng trong Đại Thừa—Bliss of formlessness. A Bodhisattva will always make himself properly enjoy the bliss of formlessness, and will also make others properly abide in the Mahayana.
vô tướng như lai
Nirlaksana-Buddha, Alaksana-Buddha (S). The Buddha without the thirty two or eighty marks, i.e. Nagàrjuna.
vô tướng phúc điền y
The garment of nothingness for cultivating the field of blessing, i.e. the robe, which separates the monk from earthly contamination.
vô tướng phước điền y
Áo cà sa. Y phục xuất thế, xa lìa các tướng hữu vi thế nhiễm—The garment of nothingness for cultivating the field of blessing, i.e. the robe which separates the monk from earthly contamination.
vô tướng phật
Phật không có 32 tướng hảo hay 80 tướng tốt, như ngài Long Thọ---Nirkasana Buddha—Alaksana Buddha—The Buddha without thirty two or eighty marks, i.e. Nagarjuna.
vô tướng sám hối
Thế nào gọi là sám? Thế nào gọi là hối? Sám là sám những lỗi về trước, từ trước có những nghiệp ác ngu mê, kiêu cuống, tật đố, vân vân, các tội thảy đều sám hết, hằng không khởi lại, gọi đó là sám. Hối là hối những lỗi về sau, từ nay về sau có những nghiệp ác ngu mê, kiêu cuống, tật đố, vân vân, các tội nay đã giác ngộ, thảy đều hằng đoạn, lại không tạo lại, ấy gọi là hối, nên gọi là sám hối. Người phàm phu ngu mê, chỉ biết sám lỗi trước, chẳng biết hối lỗi sau, do vì không hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau lại sanh. Tội trước đã chẳng diệt, lỗi sau lại sanh, sao gọi là sám hối được—What is repentance and what is reform? Repentance is to repent of past errors, to repent so completely of all bad actions done in the past out of stupidity, confusion, arrogance, deceit, jealousy, and other such offenses, that they never arise again. Reform is to refrain from such transgressions in the future. Awakening and cutting off such offenses completely and never committing them again is called repentance and reform. Common people, stupid and confused, know only how to repent of former errors and do not know how to reform and refrain from transgressions in the future. Because they do not reform, their former errors are not wiped away, and they will occur in the future. If former errors are not wiped away and transgressions are again committed, how can that be called repentance and reform?”
vô tướng tam muội
Animitta-samādhi (S).
vô tướng tam quy y giới
Trong Kinh Pháp Bào Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy về Vô Tướng Tam Quy-Y Giới như sau: “Nầy thiện tri thức! Quy y giác lưỡng túc tôn, quy y chánh ly dục tôn, quy y tịnh chúng trung tôn. Từ ngày nay trở đi xưng 'Giác' làm thầy, lại chẳng quy y tà ma ngoại đạo, dùng tự tánh Tam Bảo thường tự chứng minh, khuyên thiện tri thức quy y tự tánh Tam Bảo. Phật là 'Giác' vậy, Pháp là 'Chánh' vậy, Tăng là 'Tịnh' vậy. Tự tâm quy y Giác, tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc hay lìa tài sắc, gọi là Lưỡng Túc Tôn. Tự tâm quy y Chánh, niệm niệm không tà kiến, vì không tà kiến tức là không nhơn ngã cống cao, tham ái, chấp trước, gọi là Ly Dục Tôn. Tự tâm quy y Tịnh, tất cả cảnh giới trần lao ái dục, tự tánh đều không nhiễm trước, gọi là Chúng Trung Tôn. Nếu tu hạnh nầy, ấy là tự quy y. Phàm phu không hiểu, từ sáng đến tối, thọ tam quy giới, nếu nói quy y Phật, Phật ở chỗ nào? Nếu chẳng thấy Phật thì nương vào chỗ nào mà quy, nói lại thành vọng. Nầy thiện tri thức! Mỗi người tự quan sát, chớ lầm dụng tâm, kinh văn rõ ràng, nói tự quy y Phật, chẳng nói quy y với Phật khác, tự Phật mà chẳng quy, thì không có chỗ nào mà y được. Nay đã tự ngộ, mỗi người phải quy y tự tâm Tam Bảo, trong thì điều hòa tâm tánh, ngoài thì cung kính mọi người, ấy là tự quy y vậy.”—In the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught about the Precepts of the Triple Refuge That Has No Mark as follows: “Good Knowing Advisors, take refuge with the enlightened, the honored, the doubly complete. Take refuge with the right, the honored that is apart from desire. Take refuge with the pure, the honored among the multitudes. 'From this day forward, we call enlightenment our master and will never again take refuge with deviant demons or outside religions. We constantly enlighten ourselves by means of the Triple Jewel of our own self-nature.' Good Knowing Advisors, I exhort you all to take refuge with the Triple Jewel of your own nature: the Buddha, which is enlightenment; the Dharma, which is right; and the Sangha, which is pure. When your mind takes refuge with enlightenment, deviant confusion does not arise. Desire decreases, so that you know contentment and are able to keep away from wealth and from the opposite sex. That is called the honored, the doubly complete. When your mind takes refuge with what is right, there are no deviant views in any of your thoughts. because there are no deviant views, there is no self, other, arrogance, greed, love, or attachment. That is called the honored that is apart from desire. When your own mind takes refuge with the pure, your self-nature is not stained by attachment to any state of defilement, desire or love. That is called the honored among the multitudes. If you cultivate this practice, you take refuge with yourself. Common people do not understand that, and so, from morning to night, they take the triple-refuge precepts. They say they take refuge with the Buddha, but where is the Buddha? If they cannot see the Buddha, how can they return to him? Their talk is absurd. Good Knowing Advisors, each of you examine yourselves. Do not make wrong use of the mind. The Avatamsaka Sutra clearly states that you should take refuge with your own Buddha, not with some other Buddha. If you do not take refuge with the Buddha in yourself, there is no one you can rely on. Now that you are self-awakened, you should each take refuge with the Triple Jewel of your own mind. Within yourself, regulate your mind and nature; outside yourself, respect others. That is to take refuge with yourself.”
vô tướng tri thức
Nirabhasa-buddhi (skt)—The shadowless (imageless) awareness.
vô tướng trạng
Alakkhaṇa (P), Alakṣaṇa (S), Without characteristics.
vô tướng tông
Vô Tướng Đại Thừa—Vô Tướng Giáo—Vô Tướng Không Giáo—Tông Tam Luận cho rằng “y tha vạn pháp duyên sinh tức không” (trong khi Pháp Tướng Tông cho rằng “y tha vạn pháp duyên sinh phi không”)—The San-Lun or Madhyamika school because of its “nihilism”
vô tướng tư trần luận
Anākāra cintā rājas śāstra (S)Tên một bộ luận kinh do ngài Trần Na biên soạn.
vô tướng vô lượng
Cái gì không có hình tướng và không thể đo lường được thì gọi là “tế”—That which is without form and measurement is called “fine” or “impalpable.”
vô tướng y
Y áo không có hình tướng bên ngoài—The robe without form—Áo cà sa không có hình tướng, mà chỉ mà một mảnh vải vuông—The Kasaya is without form in the sense that is simple a square sheet of cloth.
vô tướng đạo
Animittapatha or Animittadishthana (skt)—Vô tướng đạo hay vô tướng xứ, nghĩa là con đường hay chỗ ở của vô tướng—Abode of formlessness.
vô tướng định
Nirabhasa (skt)—Dịnh không khởi lên một dấu hiệu nào về hình ảnh—Concentration on the signless (imageless).
vô tưởng
Without thought, absence of thinking.
; Asannasatto (p)—Asamjni (skt)—Không còn suy tưởng—Without thought—Absence of thinking—Senseless—Not having full consciousness—Non-conscious—Non-perception.
vô tưởng giới
Vô tưởng xứ, cõi trời thứ tư trong Tứ thiền thiên, nơi mà mọi suy nghĩ và ý tưởng đều ngưng bặt—Brahmaloka, the fourth in the four dhyana, where thinking or necessity for thought ceases.
vô tưởng môn
Parinirvana.
vô tưởng quả
Asamjnika (S)Thật pháp trong cõi Trời Vô tưởng khiến cho tâm, tâm sở đều diệt.
Vô tưởng thiên
tức là cảnh giới Vô sở hữu xứ (Asaṃjđisattvḥ), thuộc Vô sắc giới, nằm dưới cảnh trời cao nhất là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người tu thiền đạt đến Vô tưởng định thì thần thức đạt đến cảnh giới Vô tưởng thiên.
vô tưởng thiên
Avihadeva (P), Asannasattadeva (P), Realm of Thoughtless devas.
; Avrha (S). The thirteen Brahmaloka, the fourth in the fourth dhyana where thinking, or the necessity for thought ceases. Also vô tưởng giới, vô tưởng xứ.
; Asamjni-sattvah (skt)—The heaven above thought—Thoughtless Heaven—Những cõi trời sắc giới—A group of heavens in the world of matter.
vô tưởng định
Asamjni-samāpatti (P)Định đoạn diệt 6 thức tâm vương, 5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện, toàn bộ 22 pháp. Định vô tâm tu đắc do chứng được Vô tưởng quả.
; The concentration in which all thinking ceases in the desire to enter vô tưởng thiên.
; Phép thiền định diệt tất cả tâm tưởng—The concentration in which all thinking ceases, in the desire to enter avrha.
vô tầm vô tứ định
Avitakko (p)—Trạng thái định trong đó không còn lý luận xét đoán—Non reasoning and judgment.
vô tận
Akchaya (S), Aniṣṭhita (S), Endless, Limitlessness Aniṭṭhita (P).
; Ananta (S). Inexhaustible, without limit.
; Bất tận—Timeless—Inexhaustible—Without limit—Endless. • Quyền Giáo dùng từ “vô tận” khi nói về chân lý tuyệt đối: The temporal or functional teaching applied the term to noumenal or absolute, being considered as infinite. • Thực Giáo dùng từ “vô tận” khi nói về hiện tượng vô tận: The real or reliable teaching applied the term to the phenomenal, being considerd as infinite.
vô tận duyên khởi
Unlimited causation, or the unlimited influence of everything on all things and all things on everything; one of the Hoa Nghiêm tứ chủng duyên khởi. Also pháp giới duyên khởi.
; Một trong Tứ Duyên Sanh, tất cả các pháp cùng nhau làm duyên, hay ảnh hưởng không giới hạn của một vật trên mọi vật và của mọi vật trên một vật (theo một pháp mà dấy lên muôn pháp, duyên muôn pháp mà dấy lên một pháp hay trùng trùng duyên khởi)—Unlimited causation—Unlimited influence of everything on all things and all things on everything, one of the Hua-Yen four principal uses of conditional causation. ** For more information, please see Duyên Khởi, Pháp Giới Duyên Khởi, and Tứ Duyên Khởi.
vô tận huệ vô lượng ý bồ tát
Xem Vô Tận ý Bồ tát.
vô tận hải
The Buddha-truth as inexhaustible as the ocean.
; Phật pháp vô tận ví như biển cả rộng lớn—The Buddha-truth as inexhaustible as the ocean.
vô tận tạng
Xem Vĩnh cữu.
; The inexhaustible treasury.
; Đức bao hàm vô tận—The inexhaustible treasury.
vô tận ý
Inexhaustible intention or meaning.
; Inexhaustible intention, or meaning.
vô tận ý bồ tát
Akṣayamati (S)Vô tận huệ vô lượng ý Bồ tátTên một vị Bồ tát.
; Aksayamati Bodhisattva (S). A Bodhisattva to whom Sàkyamuni is supposed to have addressed the Avalokitesvara chapter, in the Lotus sùtra. Inexhaustible Bodhisattva.
; Tên của ngài A Sai Mạt Để Bồ Tát mà Đức Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa, Phẩm Quán Thế Âm—Infinite Resolve Bodhisattva, name of Aksayamati, a bodhisattva to whom sakyamuni is supposed to have addressed the Avalokitesvara chapter in the Lotus Sutra.
vô tận đăng
The one lamp which is yet limitless in the lighting of other lamps; the influence of one disciple may be limitless and inexhaustible; also an altar light always burning.
; 1) Một cây đèn làm mồi cho những cây đèn khác mà không bao giờ hết: The one lamp that is yet limitless in the lighting of other lamps. 2) Đem pháp của một người dẫn dắt và truyền trao cho nhiều người mãi mà không hết: The influence of one disciple may be limitless and inexhaustible. 3) Kính cứ phản chiếu mãi không hết: limitless mirrored reflections. 4) Đèn trên bàn thờ cứ cháy mãi không tàn: An altar light always burning. 5) Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát, Ma Vương giả làm Trời Đế Thích, đem hiến một muôn hai ngàn thiên nữ cho Bồ Tát Trì Thế—According to the Vimalakirti Sutra, Chapter Bodhisattvas, a demon pretended to be Indra, offered twelve thousand goddesses (devakanya) to the Bodhisattva Ruler of the World. • Ma vương nói với Trì Thế: “Thưa Chánh sĩ! Xin ngài nhận một muôn hai ngàn Thiên nữ nầy để dùng hầu hạ quét tước.”—The demon said to the Ruler of the World Bodhisattva: “Bodhisattva, please take these twelve thousand goddesses who will serve you.” • Trì Thế nói rằng: “Nầy Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp nầy, tôi là kẻ Sa Môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi.”—The Ruler of the World Bodhisattva replied: “Sakra, please do not make to a monk this unclean offering which does not suit me.” • Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với Trì Thế: “Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!” Ông lại bảo ma rằng: “Các vị Thiên nữ nầy nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ “Even before the Ruler of the World Bodhisattva had finished speaking, Vimalakirti came and said: “He is not Sakra; he is a demon who comes to disturb you.” He then said to the demon: 'You can give me these girls and I will keep them.” • Ma sợ hãi nghĩ rằng: “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?” Ma muốn ẩn hình mà không thể ẩn, ráng hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: “Nầy Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưỡng cho—The demon was frightened, and being afraid that Vimalakirti might give him trouble, he tried to make himself invisible but failed, and in spite of his use of supernatural powers he could not go away. Suddenly a voice was heard in the air, saying: 'Demon, give him the girls and then you can go.' Being scared, he gave the girls.' • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng: “Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói Pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng: “Có pháp môn Vô Tận Đăng.”—At that time, Vimalakirti said to the goddesses: “The demon has given you to me. You can now develop a mind set on the quest of supreme enlightenment.” Vimalakirti then expounded the Dharma to them urging them to seek the truth. He declared: “There is a Dharma called Inexhaustible Lamp.” • Các thiên nữ hỏi: “Thế nào là Pháp Vô Tận Đăng?”—The goddesses asked him: “What is the Inexhaustible Lamp Dharma?” • Ông Duy Ma Cật đáp: “Này các chị, có Pháp môn tên là Vô Tận Đăng, các chị nên học. Vô tận đăng là ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng, sáng mãi không cùng tận. Như thế đó các chị! Vả lại một vị Bồ Tát mở mang dẫn dắt trăm ngàn chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đạo tâm của mình cũng chẳng bị tiêu mất, tùy nói Pháp gì đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó gọi là Vô Tận Đăng. Các chị dầu ở cung ma mà dùng Pháp môn Vô Tận Đăng nầy làm cho vô số Thiên nữ phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác, đó là báo ơn Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.”—Vimalakirti replied: 'Sisters, there is a Dharma called the Inexhaustible Lamp which you should study and practice. For instance, a lamp can (be used to) light up hundreds and thousands of other lamps; darkness will thus be bright and this brightness will be inexhaustible. So, sisters, a Bodhisattva should guide and convert hundreds and thousands of living beings so that they all develop the mind set on supreme enlightenment; thus his deep thought (of enlightening others) is, likewise, inexhaustible. His expounding of the Dharma will then increase in all excellent Dharmas; this is called the Inexhaustible Lamp. Although you will be staying at the demon's palace you should use this Inexhaustible Lamp to guide countless sons and daughters of devas to develop their minds set on supreme enlightenment, in order to repay your debt of gratitude to the Buddha, and also for the benefit of all living beings.' • Bấy giờ các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật—The devas daughters bowed their heads at Vimalakirti's feet.
vô tế
Unlimited, boundless.
; Không biên tế—Unlimited—Boundless.
Vô Tế Liễu Phái
(無濟了派, Musai Ryōha, 1149-1224): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Vô Tế (無濟), xuất thân Kiến An (建安, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Trương (張). Ông kế thừa dòng pháp của Chuyết Am Đức Quang (拙菴德光), là pháp tôn của Đại Huệ (大慧). Vào năm thứ 4 (1198) niên hiệu Khánh Nguyên (慶元), ông làm trú trì Bảo An Tự (保安寺) ở Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), rồi chuyển sang trú tại Thiên Đồng Sơn (天童山). Khi Đạo Nguyên (道元) của Nhật sang nhà Tống cầu pháp và tu học tại Thiên Đồng Sơn Cảnh Đức Tự (天童山景德寺), ông làm trú trì chùa này. Thỉnh thoảng Đạo Nguyên cũng có vấn pháp nơi ông. Vào mùa Thu năm thứ 17 (1124) niên hiệu Gia Định (嘉定), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 52 hạ lạp.
vô tỉ
Without comparison, no comparing, incomparable.
vô tỉ pháp
Incomparable truth or law.
vô tự bảo khiếp kinh
Wu-tzu pao-ch'ieh ching (C)Tên một bộ kinh. Tên một bộ kinh.
vô tự tánh
Niḥsvabhāva (S), Niḥsvabhāvata (S), No-self nature Xem Vô tánh.
vô tự tính
Abhāvasvabhāva (S), Absence of the substance of existence.
; Asvabhàva (S). Without self-nature, without a nature of its own, no individual nature; all things are without tự nhiên tính individual nature or independent existence, being composed with elements which disintegrate.
; Asvabhava (skt)—Không có tự tính. Tất cả các pháp đều là nhân duyên pháp chứ không có tự tính—Without self-nature—Without a nature of its own—No individual nature—No own nature—Not made out of itself. All things are without individual nature or independent existence, being composed of elements which disintegrate.
vô tự tướng
Lakṣaṇam (S).
vô tỷ
Không thể so sánh được—Incomparable—Without comparison---No comparing.
vô tỷ lực
Aṭavika (S)A tra phạ ca; A tra bà câu, Khoáng Dã thầnMột trong 16 Dạ xoa bát đại tướng: Bảo Hiền, Mãn Hiền, Mật Chủ, Oai Thần, Ứng Niệm, Đại Mãn, Vô tỷ lực, Mật Nghiêm. Đây là vị thần giữ gìn đất nước, tiêu diệt chướng nạn.
vô tỷ pháp
Xem Luận.
; Pháp cao tột không gì có thể so sánh được—Incomparable truth or law.
vô tỷ thân
Thân Phật cao tuyệt không gì có thể so sánh được—The incomparable body of the Buddha.
vô uý bồ tát
Xem A ma đề Bồ tát.
vô uý sơn tự
Abhayagiri-vihāra (P)Tên một ngôi chùa.
vô uý thí
Xem Thí vô uý.
Vô vi
(s: asaṁskṛta, p: asaṅkhata, 無爲): tồn tại không phải được sinh thành từ nguyên nhân hay nhân duyên, là chân thực tại của thường trú tuyệt đối mang tính siêu thời gian vốn vượt qua khỏi sự thành lập hay hoại diệt, và tách ly khỏi mối quan hệ nhân quả. Đây là ngôn từ dùng để chỉ cái tuyệt đối vô hạn định mà rời xa khỏi hiện tượng, cho nên nó còn được dùng làm tên gọi khác của Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). Trong Câu Xá Luận (倶舍論) có nêu ra 3 loại vô vi là Hư Không (虛空), Trạch Diệt (擇滅) và Phi Trạch Diệt (非擇滅). Trong Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論) thì đưa ra 8 loại khác là Hư Không (虛空), Phi Trạch Diệt (非擇滅), Trạch Diệt (擇滅), Thiện (善), Bất Thiện (不善), Vô Ký Pháp (無記法), Chơn Như (眞如), Bất Động Tưởng Thọ Diệt (不動想受滅). Theo Lão Trang thì nó có nghĩa là cứ y theo tự nhiên như vậy, không làm gì cả. Còn trường hợp trong Thiền Tông khi dùng từ nầy không có nghĩa là không làm gì cả, mà hết thảy các hành vi đều tự do, tự tại, không trở ngại, giống như cá lội trong nước, chim bay trên không, chẳng lưu lại vết tích nào. Trong Chứng Đạo Ca (証道歌) của Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713) có đoạn rằng: “Quân bất kiến, tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, bất trừ vọng tưởng bất cầu chân (君不見、絕學無爲閑道人、不除妄想不求眞, bạn có thấy chăng, người nhàn đạo vô vi chẳng còn học gì nữa thì chẳng trừ bỏ vọng tưởng mà cũng không tìm cầu cái chân thật).” Thiền Sư Pháp Thuận (法順, ?-991) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Quốc tộ như đằng lạc, nam thiên lí thái bình, vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh (國祚如藤絡、南天裏太平、無爲居殿閣、處處息刀兵, vận nước như dây quấn, trời nam trọn thái bình, vô vi nơi điện gác, chốn chốn hết đao binh).”
; 無爲; S: asaṃskṛta; P: asaṅkhata;|1. Vô vi nghĩa là không phụ thuộc, không bị ảnh hưởng, không vì nhân duyên mà sinh ra, đối nghĩa với vô vi là Hữu vi (有爲; s: saṃs-kṛta), cũng thường được hiểu là »Không làm«. Trong Phật giáo nguyên thuỷ thì chỉ có Niết-bàn được xếp vào hạng vô vi, tất cả các Pháp còn lại đều là hữu vi. Quan niệm này được lưu lại trong Thượng toạ bộ (p: theravāda) và Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya). Tất cả những bộ phái khác đều dần dần thay đổi cách sử dụng danh từ này.|Ðại chúng bộ chấp nhận 9 pháp vô vi, đó là hai cách Diệt độ (s, p: nirodha), trong đó một loại (1.) được đạt bằng sự phân tích phân biệt, gọi là Trạch diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha), tương ưng với Niết-bàn. Loại Diệt thứ hai (2.) được đạt không qua sự phân tích, phân biệt (phi trạch), được gọi là Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha), liên hệ đến những lậu hoặc (ô nhiễm) mà một A-la-hán không còn vướng mắc. Ðược xếp vào vô vi pháp nữa là Hư không (3.), Không vô biên xứ (4.), Thức vô biên xứ (5.), Vô sở hữu xứ, tức là cái »không có gì« (6.), Phi tưởng phi phi tưởng xứ (7.), nội dung của thuyết Mười hai nhân duyên (8.) và Bát chính đạo (9.).|Nhất thiết hữu bộ công nhận ba pháp vô vi là Hư không và hai loại Diệt trên. Duy thức tông liệt kê thêm vào ba vô vi pháp này một loại Diệt bằng một trạng thái thiền định an vui bất động, sự chấm dứt suy nghĩ và thụ cảm của một A-la-hán và Chân như (tathatā). |Pháp Tạng bộ (s: dharmaguptaka) xếp vào loại vô vi pháp Chân như và sự »Trường tồn của mọi pháp.« Dưới »Trường tồn của mọi pháp« họ định nghĩa rằng cái đặc tính gì không biến đổi của nó (Sự không biến đổi của nó chính là sự biến đổi) và định luật nhân quả (Nghiệp) cũng như một vài trạng thái Ðịnh.|2. Về nghĩa »Không làm« xem dưới Bất hành nhi hành.
vô vi
Asaṃskṛta (S), Asaṅkhata (P), Mu-i (J), Unconditioned Bất duyên sanhKhông tạo tác, không có nguyên do tạo tác, không cố ý tạo tác.
; Asamkrta (S). Non-active, passive; laissez faire; spontaneous, natural; uncaused, not subject to cause, condition, or dependence; transcendental, not in time, unchanging, eternal, inactive, and free from the passions or senses; non phenomenal, noumenal; also intp. as nirmàna, dharma-nature, reality, and dharmadhàtu.
; 1) Đây là một từ của Lão giáo có nghĩa đen là “không làm,” “không gắng sức,” “không gượng ép,” hay không miễn cưỡng tạo tác. Nó không ám chỉ sự bất động hay lười biếng. Chúng ta chỉ không nên gắng sức vì những việc không chân thật, làm cho chúng ta hóa mù đến nỗi không thấy được tự tánh—This is a Taoist term has the literal meaning of “non-doing” or “non-striving” or “not making.” It does not imply inaction or mere idling. We are merely to cease striving for the unreal things which blind us to our true self. 2) Asamskrta (skt)—Asankhata (p)—Unproduced—Unconditioned. • Không tác động: Non-active—Inactive. • Thụ động: Passive. • Tự động: Spontaneous—Natural. • Không bị lệ thuộc vào nhân: Uncaused—Not subject to cause. • Không chủ ý: Without intention—Not consecrated—Unadorned—Unpolished—Not prepared. • Thoát khỏi sự chế ngự của dục vọng và cảm giác: Free from the passions or senses. • Pháp Tính: Dharma-nature. • Pháp Giới: Dharmadhatu. • Niết Bàn: Nirvana. ** For more information, please see Asamskrta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô vi không
Asaṁkṛta-śŪnyatā (S)Không chấp trước pháp niết bàn.
; Asamskrta sùnyatà (S). The immaterial character of thetranscendent.
; Asamskrta-sunyata (skt)—Tất cả vô pháp là phi vật chất nên không thể nắm bắt được—The immaterial character of the transcendent.
vô vi niết bàn
1) Niết Bàn bất sinh bất diệt, lìa mọi tướng hữu vi: The realm of the eternal, unconditioned nirvana. 2) Tịnh Độ Môn hay Cực Lạc: The Pure Land.
vô vi niết bàn (giới)
The realm of the eternal, unconditioned nirvàna.
vô vi niết bàn giới
See Vô Vi Niết Bàn.
vô vi pháp
Asaṁkṛta-dharma (S), Asaṅkhata dhamma (P),Unconditioned dharma, Unconditioned reality.Pháp vô vi.
; Asamskrtadharma (S). Any thing not subject to cause, condition, or dependence; out of time, eternal, inactive, supra-mundane. Pháp tướng tông enumerates 6 vô vi pháp non-created elements: (1) hư không vô vì àkàsa, space. (2) trạch diệt vô vi pratisamkhyà nirodha, extinction obtained by knowledge; (3) phi trạch diệt vô vi apratisa khyà nirodha, extinction not by knowledge but by nature; (4) bất động diệt vô vi acala nirodha, extinction by a motionless state of heavenly meditation; (5) thụ tưởng diệt vô vi samjnà vedayita nirodha, extinction by the stoppage of idea and sensation by an arhat; (6) chân như vô vi tathàtà, true suchness.
; Asamskrta dharma (skt)—Asankhata-dhamma (p)—Unconditioned or unproduced dharma. (A) Nghĩa của Vô Vi Pháp—The meanings of Asamskrta dharma: 1) Pháp xa lìa nhân duyên tạo tác hay không còn chịu ảnh hưởng của nhân duyên: Anything not subject to cause, condition or dependence. 2) Pháp thường hằng, không thay đổi, vượt thời gian và siêu việt: Dharmas which are out of time, eternal, inactive, unchanging, and supra-mundane. 3) Niết Bàn và hư không được xem như là Vô Vi Pháp: Nirvana and space are considered to be unconditioned dharmas. (B) Theo Đại Chúng Bộ có ba loại vô vi pháp—According to Sarvastivadins there are three categories of Asamskrta dharma: 1) Hư Không: Akasa (skt)—Space or ether. 2) Thức Diệt : Pratisamkhya-nirodha (skt)—Conscious cessation of the contamination of the passions. 3) Vô Thức Diệt: Apratisamkhya-nirodha (skt)—Unconscious or effortless cessation.
vô vi pháp thân
Asamskrta-dharmakàya (S). The eternal body of Buddha not conditioned by cause and effect.
; Asamskrta dharmakaya (skt)—Pháp thân mà Phật sở chứng là vĩnh hằng, không chịu chi phối bởi luật nhân quả hay xa lìa mọi nhân duyên tạo tác (trong Tịnh Độ Luận: “Vô Vi Pháp Thân là pháp tính thân. Pháp tính tịch diệt cho nên pháp thân vô tướng)—The eternal body of Buddha not conditioned by any cause and effect.
vô vi sanh tử
Hóa thân Bồ tát, không do sanh tử luân hồi, hay sự sống chết của Thánh nhân không bị dấy lên bởi nghiệp báo hữu vi—The birth and death of saints, i.e. without action and transformation—Effortless mortality—Transformation such as that of Bodhisattva.
vô vi sinh tử
The birth-and-death of saints, i.e. without any action, transformation.
vô vi tạng
Asaṁkṛta kośa (S).
vô vi tự nhiên
Causeless and spontaneous, a tr. of nivrtti.
; Nivrtti (skt)—Tự nhiên và không do nhân mà có—Causeless and spontaneous.
vô vi xá
The nirvàna home.
; Vô vi Niết Bàn hay niết bàn là ngôi nhà yên ổn của con người—The nirvana home.
vô vân thiên
Anabhraka (S), Asannasattadeva (P)Tên một cõi giới. Một trong 9 cõi thuộc Tứ thiền thiên. Tâm chư thiên trong cõi này không hoạt động.
vô văn
Không cần được chỉ dạy—Tự tin—Untutored—Self-confident.
vô văn tỳ kheo
Vị Tỳ Kheo từ chối sự hướng dẫn của một vị Y Chỉ Sư—A monk who refuses instructions.
Vô Văn Đạo Xán
(無文道燦[璨], Mumon Dōsan, ?-1271): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, pháp từ của Tiếu Ông Diệu Kham (笑翁妙堪), hiệu là Vô Văn (無文), xuất thân Thái Hòa (泰和), Cát An (吉安, Tỉnh Giang Tây). Vào tháng 6 năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), nhận lời thỉnh cầu, ông bắt đầu khai đường giáo hóa tại Tiến Phước Thiền Tự (薦福禪寺) vùng Nhiêu Châu (饒州, Tỉnh Giang Tây). Tiếp theo ông đến trú trì Khai Tiên Hoa Tạng Thiền Tự (開先華藏禪寺) ở Lô Sơn (廬山, Tỉnh Giang Tây), rồi lại trở về Tiến Phước Thiền Tự. Vào năm thứ 8 niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông thị tịch. Ông có sở trường về thi kệ, hiện tồn tập thơ Vô Văn Ấn (無文印) 20 quyển, và trong cuốn Vô Văn Hòa Thượng Ngữ Lục (無文和尚語錄) 1 quyển có lời bạt của Hư Chu Phổ Độ (虛舟普度) vào năm thứ 9 (1273) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳).
vô vấn
Unasked; not to ask; volunteered.
; Không đợi hỏi mà tự tình nguyện (thuyết pháp)—Unasked—Not to ask.
vô vấn tự thuyết
Udāna (S), Verses of Uplift Phật tự thuyết Kinh, Cảm hứng ngữ, Ưu đà na80 bài kinh do Phật tự khai thị giáo thuyết mà không đợi có thưa hỏi.
; Udàna (S). That part of the canon spoken voluntarily and not in reply to questions or appeals.
; Udana (skt)—Một trong mười hai bộ Kinh Tiếng Phạn gọi là Ưu Đà Na, tức là “Vô Vấn Tự Thuyết” nghĩa là Phật tự thuyết để răn chúng chứ không phải trả lời cho câu hỏi nào—Impromptu—Unsolicited—One part of the scriptures spoken voluntarily and not in reply to questions or appeals, one of the twelve parts of the Buddhist scriptures.
vô vấn tự thuyết kinh
Udana—Kinh Phật tự nói chứ không phải trả lời cho những câu hỏi—Canon spoken voluntarily and not in reply to questions—Impromptu—Unsolicited.
Vô vấn đạo
xem Tứ đạo thánh nhân.
vô vị
Nih-svadu (skt)—Tasteless.
vô vọng
Hopeless.
vô xoa la
Moksala (skt)—Vô La Xoa—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Vô Xoa La là một cư dân của thành Kustana, hoằng hóa tại Trung Quốc qua dịch kinh và giới thiệu cách chuyển ngữ Phạn vào khoảng năm 291 sau Tây Lịch—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Moksala, a native of Kustana who laboured in China as a translator and introduced there a new alphabet for transliteration of Sanskrit around 291 A.D.
Vô Xạ
(無射): có hai nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 6 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Thần Tiên (神仙, shinsen) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có ghi rằng: “Nãi tấu Vô Xạ, ca Giáp Chung, vũ Đại Võ, dĩ hưởng tiên tổ (乃奏無射、歌夾鍾、舞大武、以享先祖, bèn tấu điệu Vô Xạ, ca điệu Giáp Chung, vũ khúc Đại Võ, để dâng cúng tổ tiên).” Hay trong bài thơ Cửu Nhật Bồi Đăng Cao (九日陪登高) của Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường có câu: “Trùng Dương sơ khải tiết, Vô Xạ chánh phi hôi (重陽初啟節、無射正飛灰, Trùng Dương tiết mới đến, Vô Xạ đúng tro bay).” (2) Tên gọi khác của tháng 9 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Cửu nguyệt kiến Tuất viết Yêm Mậu, hựu viết Vô Xạ, hoặc danh Quý Thu, Mộ Thu, Thâm Thu, Diểu Thu; hựu xưng Nguyên Nguyệt, Cúc Nguyệt đẳng (九月建戌曰閹茂、又曰無射、或名季秋、暮秋、深秋、杪秋、又稱元月、菊月等, tháng Chín kiến Tuất, gọi là Yêm Mậu, hay gọi là Vô Xạ, hoặc gọi là Quý Thu, Mộ Thu, Thâm Thu, Diểu Thu; lại có tên là Nguyên Nguyệt, Cúc Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Tuất vi Vô Xạ, cửu nguyệt chi thần danh Tuất; Tuất giả, diệt dã; ngôn thời suy diệt dã, cố vị chi Tuất (戌爲無射、九月之辰名戌、戌者、滅也、言時衰滅也、故謂之戌, Tuất là Vô Xạ, chi của tháng Chín là Tuất; Tuất là diệt [mất, hết]; có nghĩa là suy diệt, nên gọi nó là Tuất).” Trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383) có câu: “Thời Trinh Hanh ngũ niên Vô Xạ nguyệt sóc nhật Chi Na từ tổ Sa Môn Cao Tuyền Tánh Đôn kính đề ư Phật Quốc Phương Trượng (時貞亨五年無射月朔日支那嗣祖沙門高泉性潡敬題於佛國方丈, lúc bấy giờ nhằm ngày mồng 1 tháng 9 năm thứ 5 [1688] niên hiệu Trinh Hanh, Sa Môn kế thừa dòng pháp ở Trung Hoa là Cao Tuyền Tánh Đôn kính ghi ở Phật Quốc Phương Trượng).” Hoặc trong Pháp Hoa Nghĩa Sớ (法華義疏, Taishō Vol. 34, No. 1721) quyển 1 có câu: “Vĩnh Nhân Quý Tỵ Vô Xạ thượng tuần đầu Quảng Long Tự chúng đồ chi tịnh tài điêu Nghĩa Sớ đệ nhất quyển chi ấn bản (永仁癸已無射上旬投廣隆寺眾徒之淨財彫義疏第一卷之印板, vào thượng tuần tháng 9 năm Quý Tỵ [1293] niên hiệu Vĩnh Nhân, dốc hết tịnh tài của tăng chúng Quảng Long Tự để khắc ấn bản Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển thứ nhất).”
vô y
Nothing on which to rely; unreliable.
; Không nương tựa vào đâu cả—Nothing on which to rely—Unreliable.
vô y niết bàn
Final nirvàna.
; Niết Bàn tối thượng—Final nirvana.
vô yếm túc
1) Tham lam vô độ (không bao giờ biết thỏa mãn): Insatiable. 2) Tên của một loài La Sát Nữ: Name of a raksasi—See Rakchasas in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô yểm túc la sát nữ
Xem Bất động Tôn Bồ tát.
vô ái
Without love, or craving, or attachment.
; Không luyến ái—Without love, or craving or attachment.
vô ân
Thankless—Ungrateful.
vô ích
Unavailing—Unprofitable—Useless—Without avail—Of no avail.
Vô Ðoan Tổ Hoàn
無端祖環; J: mutan sokan; ?-1387; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (j: gasan jōseki, 1275-1365).|Sư khai sáng rất nhiều Thiền viện ở các tỉnh Echizen, Noto và Iwami. Môn đệ của Sư sau truyền bá tông Tào Ðộng tại miền Bắc Nhật Bản.
vô úy
Abhaya (P), Fearlessness Vô sở uý, A bà giaLòng chẳng sợ, đức dạn dĩ. Cũng còn là tên của một vị Phật và Bố tát, tên một người con của Bình sa vương.
; Abhaya (S). Fearless, dauntless, secure; nothing and nobody to fear; also Vira, courageous, bold.
; Abhaya or Vira, or nir-bhaya (skt)—Không sợ hãi, vô sở úy—Courage—Dauntless—Fearless—Nothing or nobody to fear—Fearlessness.
vô úy chú
Xem Căn bản Trung quán luận thích vô úy chú.
vô úy sơn
Abhayagiri (S), Mt Fearless.
; Abhayagiri (S). Mount Fearless in Sri Lanka with an ancient monastery where Fa-hsien Pháp Hiển found 5,000 monks.
; Abhayagiri (skt)—Núi Vô Úy ở Tích Lan, với một tự viện cổ, nơi mà ngài Pháp Hiển đã tìm thấy 5.000 chư Tăng tòng tu trong đó—Mount fearless in Ceylon, with an ancient monastery where Fa-Hsien found 5,000 monks.
vô úy sơn trụ bộ
Abhayagirivāsin (S), School of Abhayagiri Một chi phái đạo Phật nhận Ngài Ca chiên Diên (Katyayana) là Tổ, lập ra khoảng năm 246 BC. Vô Úy sơn là tên một ngọn núi ở Tích Lan.
; Abhayagiri-vasinah (P)Tên một tông phái.
; Abhayagirivasin (S). A buddhist sect.
vô úy tam tạng
Subhàkarasimha (S). Name. Also Thiện Vô úy, Tịnh Sư tử.
vô úy thí
Abhayapradàna (S). The bestowing of confidence by every true Buddhist, i.e. that none fear may him. Gift of fearlessness.
; Abhaya-dana (skt)—Một trong tam thí, đem cái vô úy bố thí cho người—Courage (unfearful—not dangerous—secure—fearless—undaunted—peace—safety—security)-giving—The bestowing of confidence by every true Buddhist, i.e. that none may fear him—Absence or removal of fear, one of the three forms of giving. ** For more information, please see Tam Thí.
vô úy thọ
Viradatta (skt)—Tên một vị Phật tử tại gia trong thời Phật còn tại thế—“Hero-giver,” name of prominent layman, contemporary with Sakyamuni
vô úy tạng
1) Kho chứa đức vô úy—The storehouse of fearlessness. 2) Vô Úy Tạng là tên của một vị sư Mật Giáo: Name of a monk of the esoteric sect.
vô úy vương
Mattabhaya (S)Vua Tích Lan, thời vua A Dục.
vô úy địa
Abhaya-bhŪmi (S), Fearlessness position Ở vào chỗ không còn sợ sệt đối với Tham Sân Si, Sanh Lão Bệnh Tử, ba nẻo ác, chúng sanh ác,...
vô úy ấn
Abhaya-mudrà (S). Gesture of fearlessness.
vô ý
Absence of subjective thought, of will, or intention; absence of idea.
; Ý tứ không hư vọng, đây là chỗ cao tột của thiền định—Without objective, will, or intention—Absence of idea—Absence of objective thought, of will or intention—The highest stage of dhyana.
vô ý bồ tát
Akṣayamati Bodhisattva (S).
vô ý thức
Unconscious.
vô đao đại tặc
Giặc cướp không đao, dùng để ví với hạng Tỳ Kheo không có đạo đức, cướp đoạt đạo đức của người khác hay chỉ làm ra vẻ đạo đức giả—A bandit without a sword, e.g. a virtueless monk robbing others of their virtue.
vô đoạn nghiệp
Aheya-karma (S).
vô đạo
Inhuman.
vô đạo đức
Immoral.
vô đảo
Chánh kiến lìa khỏi tất cả mọi điên đảo, không cho hình tướng là thật, không cho vô thường là thường (ngược lại phàm phu thì hiểu biết điên đảo cả sự lẫn lý, cho khổ làm vui, cho vô thường là thường)—Not upside-down, seeing things right side up, or correctly, i.e. correct views of truth and things, e.g. not regarding the seeming as real, the temporal as eternal, etc.
vô đẳng
Asama (S), Unequal.
; Asama (S). Unequal, unequalled; the one witout equal, Buddha.
; Asama (skt). 1) Không ai bằng: So với các loài sinh vật khác không một loài nào sánh bằng—Unequal—The one without equal. 2) Tôn hiệu của Phật: Trí tuệ của Như Lai, trong tất cả các pháp không gì so sánh nổi, cũng không gì vượt được—An honoured title of the Buddha.
vô đẳng giác
The unequalled enlightenment possessed by Buddhas.
; Sự giác ngộ của chư Phật là không gì sánh kịp—The unequalled enlightenment possessed by Buddhas.
vô đẳng thừa
The unequalled vehicle, Mahàyàna.
; Mahayana—The Unequalled Vehicle—See Đại Thừa.
vô đẳng đẳng
Asamasama (S), Equal to matchlessness Ở đẳng cấp hơn hẳn (vô đẳng: đạo Phật là đạo siêu tuyệt không đạo nào sánh kịp; đẳng: chỉ có Phật mới ngang hàng với Phật), được dùng làm tôn hiệu của chư Phật.
; Asamasama (S). Of rank unequalled, or equal with the unequalled, Buddha and Buddhism.
; Asamasama (skt). 1) Cái không gì sánh nổi, lại không gì sánh ngang bằng: Equality without equal—The unequalled state of equilibrium—Of rank unequalled, or equal with the unequalled. 2) Tôn hiệu của chư Phật và đạo Phật (Phật không ai sánh bằng, đạo Phật siêu tuyệt không đạo nào sánh bằng): Buddha and Buddhism are without equal.
vô đẳng đẳng thừa
Tên gọi chung của Đại Thừa, ý nói không một thừa nào có thể sánh kịp—The unequalled vehicle, Mahayana—See Đại Thừa.
vô định
Undetermined—Indefinite—Indeterminate.
vô đối quang
Incomparable light.
vô độ
Immoderate—Excessive (eating and drinking).
vô động
Aksobhya (S). Imperturbable, calm, serene, unagitated. Also Bất động.
; Aksobha (skt). 1) Unmoved—Imperturbable—Unagitated—Serene—Calm. 2) Từ được dùng để chỉ sự không thay đổi như cánh sao Bắc Đẩu, sự vô úy, và lãnh đạm trước cám dỗ hay dục vọng—The term is used for the unvarying or unchanging, for the pole-star, for fearlessness, for indifference to passion or temptation.
vô động phật
Xem Phật A súc bệ.
; Aksobhya-Buddha (S). Imperturbable Buddha. Also Bất động Phật, A súc Phật.
; Aksobhya (skt)—Bất Động Minh Vương—Bất Động Phật—Vô Động Tôn—Đức A Súc Bệ Phật của thế giới Diệu Hỷ, ngự trị nơi Đông Độ. Ngài là một trong năm vị Phật Thiền Định hay Siêu Việt. Ngài luôn tỉnh lặng, thanh khiết và vô tham dục. Theo Kinh Pháp Hoa thì ngài là con trai trưởng trong 16 người con của Phật Đại Thông Trí Thắng. Đặc tính chính yếu của ngài là hàng phục dục vọng—The Imperturbed (Unperturbed or motionless) Buddha who is always calm, serene and absence of passion. He is one of the Five Dhyani-Buddhas, and generally reigns over the east, his kingdom being Abhirati, realm of mystic pleasure. In the Lotus Sutra he is named as the first of the sixteen sons of Mahabhijnabhibhu. One of his principal characteristics is that of subduing the passions. ** For more information, please see Ngũ Phật, Ngũ Phật Ngũ Đại, Ngũ Phật Ngũ Sắc, Ngũ Phật Ngũ Sinh Bồ Tát, Ngũ Kim Cang, Ngũ Phẫn Nộ.
vô động tôn
Acalaceta.
vô ơn
Thankless—Ungrateful.
vô ưu
Vilaksa (S), Asoka (P)A du ca, Tất lạc xoa, Tất thích xoaPhật ra đời dưới gốc cây này- cây Vô ưu.
; Asoka (S). Without sorrow, not feeling or not causing sorrow.
; Không lo âu—Without sorrow—Ungrief—Not feeling or not causing sorrow. Những lời Phật dạy về “Vô Ưu” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Without sorrow” in the Dharmapada Sutra: 1) Hãy diệt mẹ (ái dục) và cha (kiêu căng), diệt hai dòng sát-đế-lợi, diệt Vương quốc, luôn cả quần thần mà hướng về Bà-la-môn vô ưu—Let's kill the mother of craving, the father of arrogance, two warrior kings of wrong views of eternalism and nihilism. Let's destroy the kingdom of senses and officials of attachments. Let's turn to the Brahman of ungrief (Dharmapada 294). 2) Hãy diệt mẹ (ái dục) và cha (kiêu căng), diệt hai dòng Bà-la-môn, diệt luôn hổ tướng “nghi” thứ năm mà hướng về Bà-la-môn vô ưu—Let's kill the mother of craving, the father of arrogance, two Brahaman kings of the wrong views of eternalism and nihilism. Let's destroy the official of Doubt and turn to the ungrieving Brahman (Dharmapada 295).
vô ưu già lam
Asokarama (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Vô Ưu Già Lam là một tịnh xá nơi lần kết tập kinh điển lần thứ ba được tổ chức—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Asokarama, a vihara in Pataliputra in which the “third synod was held.”
vô ưu thụ
A Thâu Ca—A Thuật Ca—Người ta nói Đức Phật đản sanh dưới gốc cây nầy—The tree under which Sakyamuni is said to have been born.
vô ưu tử phương ưng
1- Theo sử ghi trên đá trong xứ của ngài, lên ngôi năm 273BC, thì ngài được tôn vương năm 268 BC, qui y Phật năm 261 BC, thọ Tỳ kheo năm 259BC. Ngài mở đại hội kết tập thứ nhất, ở ngôi 37 năm, tịch năm 256 BC. 2- Hoa Vô Ưu: Hoa A du ca, A thúc ca. Hoa được người Ấn độ ăn hay dâng cúng thần Siva. 3- Vị thị giả Phật Tỳ bà Thi, dịch là: A thúc Ca, Vô Ưu tử Phương Ưng.
vô ưu vương
King Asoka. Also vua A dục.
; Vua A Dục—King Asoka—See Asoka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
vô ương số kiếp
Asankhyeya kalpa (S). A period of numberless kalpas.
; Asankhyeya kalpa (skt)—Một thời kỳ thật dài—A period of numberless kalpas.
vô ảnh tượng
Niràbhàsa (S). Without image or shadow, without semblance or appearance.
; Nirabhasa (skt)—Không cần ảnh tượng hay hình tướng bên ngoài—Without image or shadow—Without semblance or appearance.
võ phu
Brutal man.
võ sĩ đạo
Bushidō (J).
võ tắc thiên
Wu-tse-t'ien (C).
võ vẽ
To know imperfectly.
võ xá
Varsakara (S)Một vị đại thần triều vua A xà thế (Ajatasatru).
Võ Điền Tín Huyền
(武田信玄, Takeda Shingen, 1521-1573): vị Võ Tướng của thời đại Chiến Quốc, con trai đầu của Võ Điền Tín Hổ (信虎武田, Takeda Nobutora); tên húy là Tình Tín (晴信), Tín Huyền là pháp danh sau khi xuất gia; giới danh là Pháp Tánh Viện Cơ Sơn Tín Huyền (法性院機山信玄). Năm 1541, ông đuổi cha ông đi rồi làm chủ tiểu quốc Giáp Phỉ (甲斐, Kai). Ông đã mấy lần đánh nhau với Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信, Uesugi Kenshin) ở Đảo Xuyên Trung (川中島, Kawanakajima), rồi cũng có dự định tranh thư hùng với Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga); nhưng trong khi tấn công Thành Dã Điền (野田城, Noda-jō) ở vùng Tam Hà (三河, Mikawa), ông bị bệnh và qua đời ở Y Na (伊那, Ina).
võng
1) Cái lưới: Jala (skt)—A net—A web. 2) Kinh Phạm Võng: The Brahmajala Sutra—See Kinh Phạm Võng in Vietnamese-English Section. 3) Cái võng: Hammock.
Võng cực
(罔極): vô cùng, không cùng tận. Như trong Thi Kinh, chương Tiểu Nhã có câu: “Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, … dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (父兮生我、母兮鞠我…欲報之德、昊天罔極, cha chừ sanh ta, mẹ chừ nuôi ta, … muốn báo đức ấy, trời cao vô tận).” Hay trong bản Cầu Thông Thân Thân Biểu (求通親親表) của Tào Thực (曹植, 192-232) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Chung hoài lục nga võng cực chi ai (終懷蓼莪罔極之哀, mãi nhớ đến nỗi đau buồn vô cùng tận khi mất cha mẹ).”
võng cực
Boundless—Endless.
võng lọng
Hammock and parasol.
võng minh phật
Net Brightness Buddha Một đức Phật vị lai cõi giới ở phương bắc cõi Ta bà. Xem Minh Võng Bồ tát.Tên một vị Phật hay Như Lai.
; Light-net Buddha.
võng mục
Mắt lưới—The “eyes” or meshes of a net.
võng ngữ
Nonsense.
vùi
To to hide (bury) in the ground.
vùi dập
To mistreat—To ill-treat—To handle roughly.
vùi đầu
To be absorbed in—To give oneself up to.
vùn vụt
Swiftly—Rapidly.
vùng
District—Area—Zone—Region.
vút
Very high—Very tall.
văn
To hear; to make known to; to smell.
; 1) Nghe: To hear—To make known to. 2) Ngửi được: To smell. 3) Văn chương: Literature. 4) Văn, đối lại với võ: Civilian, opposed to military.
văn chuẩn lặc đàm
Thiền sư Văn Chuẩn Lặc Đàm (1061-1115)—Zen master Wen-Chun-Le-T'an—Thiền sư Trung Hoa, quê quán ở phủ Hưng Nguyên, sanh năm 1061. Từ thuở nhỏ đã gia công tinh cứu triết lý Phật giáo, nhưng về sau lại bỏ, nói rằng không quan tâm lắm. Rồi sư khởi sự học Thiền. Sang phương Nam ngụ với Qui Sơn Chân Như trải qua nhiều năm. Nhưng chẳng có tiến bộ nào. Sau đó sư đến tìm Cửu Phong Chân Tịnh, một đại Thiền sư đương thời—Zen master Wen-Chun-Le-T'an, a Chinese Zen master from Hsing-Yuan, China, was born in 1061. Since he was young he devoted himself to the mastery of Buddhist philosophy, but later abandoned it, saying that he did not care very much for it. He then began to study Zen, and going south stayed with Chen-Ju of Wei-Shan. He then came to Chen-Ching of Chiu-Feng, who was one of the great Zen masters of the time. • Một hôm Chân Tịnh hỏi: “Quê quán ở đâu?”—One day Chen-Ching asked: “Where is your native town?” • Sư đáp: “Ở Hưng Nguyên phủ.”—We-Chun replied: “Hsing-Yuan Fu.” • Chân Tịnh lại hỏi: “Vừa từ đâu đến đây?”—Chen-Ching asked: “Where do you come from now?” • Sư đáp: “Đại Ngưỡng.”—Wen-Chun replied: “Ta-Yang.” • Chân Tịnh hỏi: “An cư mùa hạ ở đâu?”—Chen-Ching asked: “Where did you pass your summer?” • Sư đáp: “Ở Qui Sơn.”—Wen-Chun said: “At Wei-Shan.” • Bấy giờ Chân Tịnh dang tay ra bảo: “Tay ta sao lại giống tay Phật thế?”—Chen-Ching now produced his hand, saying, “How is that my hand so resembles the Buddha's?” • Văn Chuẩn mù tịt không trả lời được câu nào—Wen-Chun was dumbfounded and unable to make any answer. • Chân Tịnh quở: “Trước thì ông trả lời ta từng câu rõ ràng sáng sủa. Vừa nhắc đến bàn tay Phật thì lại bí. Hỏng ở chỗ nào?”—Chen-Ching scolded: “So far you have been fluent enough in answering all my questions naturally and in a most splendid manner. As soon as the subject turned to the Buddha'' hand, you halt. Where is the trouble?" • Văn Chuẩn thú nhận là không hiểu—Wen-Chun confessed ignorance. • Chân Tịnh nói: “Mọi cái đều mở rộng hết ra trước mắt ngươi. Còn dạy cái gì nữa?”—Chen-Ching said: “Everything lies open in full revelation right before you; and whom would you get to teach you?” • Trải qua mười năm, Văn Chuẩn ở lại với thầy mình là Chân Tịnh; thầy đi đâu thì đi theo. Chân Tịnh là một ông thầy im lặng không có chỉ giáo riêng biệt cho bất cứ ai, dù môn nhân ngày càng nhiều ra. Nếu có một thầy Tăng vào thất của ngài để xin chỉ giáo, thì ngài cứ nhắm mắt và quỳ, chẳng nói gì hết. Nếu thấy có ai đến, ngài đứng dậy, đi ra vườn cuốc đất với những người làm vườn. Đây là lối tiếp xúc với môn nhân rất thường của ngài. Văn Chuẩn thường nói với bạn mình rằng “Thầy không có ý dạy pháp cho môn nhân sao? Khó mà hiểu nổi.” Một hôm nhân đưa gậy lên khơi ngòi nước để giặt áo, tâm trí sư đột nhiên tỉnh ngộ; sư chạy kiếm thầy và kể cho thầy nghe tất cả việc đã xãy ra. Nhưng thầy vẫn lạnh lùng mà còn mắng cho: “Ở đây sao dám lộn xộn như thế?”—For ten years Wen-Chun stayed with his master Chen-Ching and went about wherever he moved. Chen-Ching was a silent teacher and gave out no special instruction to anybody although his pupils grew considerably in number. When a monk entered his room for advice he would close his eyes and sit up on his knees and say nothing. If he saw somebody coming to him, he would rise, go out into the garden, and join the gardeners in hoeing. This was his usual way of dealing with his disciples. Wen-Chun used to say to his friend Kung: “Has the master no intention whatever to teach his followers in the Dharma? It is hard to know him.” One day Wen-Chun removed the dam with a stick, and while washing his clothes his mind suddenly woke to a state of enlightenment. He ran to the master and reported to him all that happened to him. But the master coldly blamed him, saying, “Why have you to be so unmannerly in this?” • Sư thị tịch năm 1115—He passed away in 1115.
văn chương
Literature.
văn chương cổ
Archaic Literature style.
văn chứng
The evidence of the written word, or scripture.
văn cú
Giải thích và phê bình văn chương, từ nầy áp dụng cho các áng văn về kinh điển—Textual explanation or criticism, this term applies to works on canonical texts.
văn danh
To hear the name of; fame, famous; to hear the name of Buddha, or a Buddha.
; 1) Nghe hồng danh Phật: To hear the name of a Buddha, i.e. Amitabha Buddha. 2) Nghe tên: To hear the name of. 3) Nổi danh: Fame—Famous.
văn gia
Writer.
văn giáo
Education and religion.
văn giáp
A satchel for Buddhist books.
văn hiến
See Văn minh.
văn hoa
Flowery.
văn huệ
Srutanmayu-prajā (S)Một trong Tam huệ.
; See Văn Tuệ.
Văn Huệ Trùng Nguyên
(文慧重元, Bune Jūgen, ?-1063): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông), họ là Tôn (孫). Năm lên 17 tuổi, ông xuất gia, đến năm 20 tuổi thọ Cụ Túc giới. Ban đầu ông theo học giáo lý với Giảng Tứ (講肆), rồi có đêm nọ chợt thấy có linh cảm, bèn đến dự vào pháp tịch của Thiên Y Nghĩa Hoài (天衣義懷), cùng với đại chúng nghiên cứu tông phong chư tổ, chẳng bao lâu thì được khai ngộ, được Nghĩa Hoài ấn khả cho và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến trú tại Thiên Bát Tự (天鉢寺) ở Bắc Kinh (北京), rồi trãi qua khoảng 4 ngôi chùa như vậy. Trong thời gian này ông đã nỗ lực tuyên xướng tông phong của Vân Môn, và được rất nhiều tăng tục quy ngưỡng theo. Ông thị tịch vào năm thứu 8 niên hiệu Gia Hựu (嘉祐) và được ban cho thụy hiệu là Văn Huệ Thiền Sư (文慧禪師).
văn hào
Great writer.
văn hóa
Culture.
văn học
Literary.
văn học sử
Literary history.
văn khoa
Letters—Faculty of Letters.
văn khế
Act—Contract.
văn khố
Archives.
văn kinh
The words of the sutras.
văn kiện
Document.
văn liệu
Literary materials.
văn lý
The written word and the truth expressed—Written principles—A treatise.
văn manh
Mù chữ—Illiterate—Unlettered.
văn minh
Civilization.
văn minh trung ương
Medhyadesa (S)Nên văn minh xuất hiện ở Trung á váo thế kỷ thứ 9, thứ 10 trước Công nguyên.
văn nghệ
Letters and arts.
văn ngôn
Wen-yen (C), Commentary on the Words of the Text Một trong 10 luận giải trong Thập Dực.
văn nhân
Man of letters.
văn nhã
Elegant.
văn ni
Mâu Ni—Muni (skt)—Sakyamuni.
văn phái
Literary school.
văn pháp
To hear the doctrine.
; 1) Nghe giáo pháp: To hear the doctrine. 2) Văn pháp trong một bài văn: Syntax.
văn phòng
Office—Bureau.
văn phạm
Grammar.
văn quan
Civilian official.
văn quang lực
Nghe được “Quang Lực” hay lực của ánh sáng cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—To hear of the power of the light of Amitabha.
văn sách
Dissertation—Essay.
văn sĩ
See Văn nhân.
văn sức tôn giả
Xem Ca chiên diên.
; Kàtyana (S). Also Ca chiên diên.
văn thi
Prose and Poetry.
văn thái
See Văn nhã.
văn thân
Vyanjana-kāya (S)Sự nương tựa của Danh và Cú.
văn thù
Monju (J).
văn thù bát đại đồng tử
The eight messengers of Manjusri.
văn thù hiệu pháp vương tử
Chư Bồ Tát đều là con của Pháp Vương Như Lai, duy chỉ có Văn Thù được gọi là Pháp Vương Tử vì Ngài còn là bậc thượng thủ của Bồ tát chúng—All Bodhisattvas are sons of the Buddha, Manjusri is looked on as the chief of the Bodhisattvas and represents them, as the chief disciple of the Buddha.
văn thù hối quá
Phép sám hối của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, sám hối cho nghi tâm đời quá khứ—The repentance of Majusri, such as his former doubting mind.
văn thù kim cang sư lợi
Śrīmanjuvajra (S)Tên một vị Bồ tát.
văn thù sư lị bồ tát
Manjusri Bodhisattva.
Văn Thù Sư Lợi
(s: Mañjuśrī, 文殊師利): hay Man Thù Thất Lợi (曼殊室利), Tàu dịch là Diệu Đức (妙德) hoặc Diệu Cát Tường (妙吉祥). Ngài sanh ra từ vai phải của mẹ, trong một gia đình Bà La Môn ở tụ lạc Đa La (多羅) tại Xá Vệ Quốc (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛國). Thân thể Ngài có màu vàng tía, về sau Ngài xuất gia với đức Phật. Trong Đạo Giáo, Ngài được gọi là Văn Thù Quảng Đại Thiên Tôn (文殊廣法天尊). Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên đức Phật Thích Ca, được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊), khác với Di Đà Tam Tôn, hay Tây Phương Tam Thánh. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh (首楞嚴三昧經) cho biết rằng: “Vào thời quá khứ vô lượng A Tăng Kỳ Kiếp, có thế giới ở phương Nam tên Bình Đẳng (平等), đức Phật của thế giới ấy tên là Long Chủng Thượng Như Lai (龍種上如來), tức là đức Văn Thù Bồ Tát hiện tại.” Hay như Ương Quật Ma La Kinh (央掘魔羅經) có giải thích về xuất xứ của Ngài rằng: “Đức Hoan Hỷ Tạng Ma Bảo Tích Phật (歡喜藏摩尼寶積佛) ở thế giới Thường Hỷ (常喜) ở phương Bắc hiện tại chính là đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” Tuy nhiên, trong Bi Hoa Kinh (悲華經) lại cho rằng: “Khi đức Phật A Di Đà đang còn làm Chuyển Luân Thánh Vương, có vị Vương Tử thứ ba tên Vương Chúng (王眾), đã phát tâm Bồ Đề, nguyện trong đời tương lai, đời đời kiếp kiếp, thực hành đạo Bồ Tát, không có dừng nghỉ, không giới hạn nơi chỗ, để trang nghiêm thanh tịnh quốc độ Phật; khiến cho tam thiên đại thiên thế giới, hằng hà sa số mười phương quốc độ rộng lớn, hợp lại thành một thế giới của vị này giáo hóa. Trong thế giới ấy có vô lượng đầy đủ các của báu, không có xúc chạm những điều nhơ nhớp, đau khổ, không có người nữ, thậm chí không có danh từ người nữ; lại không có chúng sanh chưa phát tâm Bồ Đề. Vị Vương Tử thứ ba phát nguyện xong, Bảo Tạng Phật bèn đặt cho Vương Tử tên là Văn Thù Sư Lợi, thọ ký vào thời mạt pháp tương lai sẽ thành tựu viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác tại quốc độ tên Thanh Tịnh Vô Cấu Bảo Chấn (清淨無垢寶窴) với danh hiệu là Phổ Hiện Như Lai (普現如來).” Trong Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) lại cho biết thêm rằng đương thời khi đức Thế Tôn sau khi vì đại chúng thuyết Quán Phật Tam Muội Hải Kinh xong, Văn Thù Bồ Tát thưa với đại chúng rằng: “Vào thời quá khứ đức Bảo Uy Đức Như Lai (寶威德如來), có một người con của Trưởng Giả kia tên Giới Hộ (戒護), khi đang con trong bào thai mẹ đã thọ Tam Quy Y. Năm lên 8 tuổi, song thân cậu bé cung thỉnh đức Thế Tôn đến tư gia thiết lễ cúng dường. Khi cậu bé diện kiến đức Phật, uy nghi an tường, từng bước đi bình ổn, khoan thai, nơi từng bước chân của Ngài đều nở ra một đóa sen, và thân tướng Ngài phóng ra ánh sáng rực rỡ. Thấy vậy cậu bé vô cùng hoan hỷ, hướng Phật cung kính lễ bái, xong từ từ nhìn chăm chăm đức Thế Tôn mà không hề chớp mắt. Chỉ một lần thấy được Phật, tức trừ đi được trăm vạn ức kiếp các tội nặng sanh tử. Đồng tử này do nhờ duyên đã thọ Tam Quy và lễ bái đức Phật, rồi quán sát tướng hảo của đức Như Lai rất kỹ lưỡng, tâm không mệt mỏi, lười biếng, nhờ vậy mà có thể gặp được vô số các đức Phật. Đồng tử lúc bầy giờ chính là Văn Thù Sư Lợi tôi đây.” Sau khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói xong, đức Phật bảo A Nan rằng: “Con hãy nên ghi nhận, nhớ kỹ câu chuyện của Văn Thù Sư Lợi, đem phổ biến đến khắp các chúng sanh, chúng sanh trong đời tương lai, nếu như có người có thể nhất tâm lễ bái, có thể tâm thành niệm Phật, có thể tâm thành quán Phật, nên biết rằng người ấy có công đức ngang bằng với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” Lại trong Văn Thù Phát Nguyện Kinh (文殊發願經) có nêu lên bài kệ phát nguyện phần lớn giống với bài kệ của Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩): “Nguyện con lúc mạng chung, diệt trừ các chướng ngại, mắt thấy A Di Đà, vãng sanh An Lạc Sát, sanh nơi nước Phật kia, trọn thành các nguyện lớn, A Di Đà Như Lai, trước mắt thọ ký con, trang nghiêm Phổ Hiền hạnh, đầy đủ Văn Thù nguyện, tận cùng kiếp tương lai, cứu cánh Bồ Tát hạnh.” Văn Thù, Phổ Hiền là hai vị Đại Thánh bổ tá cho đức Phật Tỳ Lô Giá Na (毘盧遮那) trên hội Hoa Nghiêm (華嚴). Hạnh nguyện độ sanh của hai vị Bồ Tát này đều lấy cơ sở của pháp môn Niệm Phật, lấy Tịnh Độ là nơi quy hướng cuối cùng. Đặc biệt trong Phóng Bát Kinh (放缽經), đức Phật có đề cao vai trò của Văn Thù Sư Lợi rằng: “Nay ta thành Phật, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, oai thần tôn quý, độ thoát mười phương hết thảy chúng sanh, thảy đều nhờ ơn của Văn Thù Sư Lợi; Văn Thù Sư Lợi chính là thầy của ta. Vô lượng vô số chư Phật trong quá khứ đều là đệ tử của Văn Thù Sư Lợi, tương lai thành Phật cũng nhờ oai thần thế lực của vị ấy; ví như trên đời con nhỏ có cha mẹ, Văn Thù là cha mẹ trong Phật đạo.” Văn Thù Sư Lợi là hóa thân của trí tuệ, nên thường được gọi là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (大智文殊師利菩薩). Bồ Tát Văn Thù thường được gọi là Tam Thế Giác Mẫu (三世覺母, mẹ giác ngộ của ba đời). Danh hiệu Long Chủng Thượng Tôn Vương Như Lai (龍種上尊王如來), hay Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật trong Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh (首楞嚴三昧經) là Bồ Tát Văn Thù. Hay như danh hiệu Phổ Minh Phật (普明佛) trong Bát Thập Bát Phật Hồng Danh Bảo Sám cũng là Bồ Tát Văn Thù. Trong các kinh điển thường gọi Bồ Tát Văn Thù là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử (s: Mañjuśriyā Kumārabhūtena, 文殊師利法王子), có nghĩa rằng tất cả Bồ Tát đều gọi là con của đức Như Lai Pháp Vương. Kinh điển thường nêu Bồ Tát Văn Thù là Pháp Vương Tử là vì ngài là vị đệ tử thượng thủ trong hàng Bồ Tát, được xem như cánh tay phải bên cạnh Đức Phật. Trưởng Lão Xá Lợi Phất là Trí Tuệ Đệ Nhất trong hàng đệ tử Thanh Văn, còn Văn Thù Sư Lợi là Trí Tuệ Đệ Nhất trong hàng Bồ Tát Đại Thừa. Nhân trong quyển 80 của Hoa Nghiêm Kinh có câu: “Tại phương Đông Bắc có ngọn núi tên Thanh Lương Sơn (清涼山); từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát đều dừng chân trú tại núi đó, hiện có Bồ Tát tên Văn Thù Sư Lợi, cùng với quyến thuộc, các vị Bồ Tát một vạn người, thường trong núi ấy, tuyên diễn thuyết pháp.” Cho nên, Ngũ Đài Sơn (五台山, còn gọi là Thanh Lương Sơn) ở Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc được công nhận là đạo tràng của Văn Thù Bồ Tát, trở thành một trong 4 ngọn núi danh tiếng. Nga Mi Sơn (峨嵋山) là thánh địa của Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩). Phổ Đà Sơn (普陀山) là thánh địa của Quan Thế Âm Bồ Tát. Cửu Hoa Sơn (九華山) là thánh địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát (地藏王菩薩).
văn thù sư lợi
Manjusri (skt)—Mãn Thù Thi Lợi—Mạn Thù Thất Lợi—Văn Thù—Một biểu tượng cho trí tuệ của người tu Phật. Trong Kinh Liên Hoa diễn tả Ngài nhảy vọt lên từ trong đại dương. Chữ Manju có nghĩa là đẹp, chữ Sri có nghĩa là gia tài, đức hạnh hay chúa. Nguyên chữ Manjusri có nghĩa là “đức hạnh tuyệt vời.” Văn Thù một tay cầm kiếm Kim Cương đoạn diệt mê hoặc, ngồi trên lưng sư tử. Văn Thù được xem như là vị bảo hộ trí tuệ, và thường được đặt bên trái Phật Thích Ca, trong khi Phổ Hiền bên phải được coi như là vị Hộ Pháp. Văn Thù cũng biểu thị sự giác ngộ tức sự hốt nhiên nhận ra nhất thể của tất cả cuộc tồn sinh và năng lực phát sinh từ đó, mà sức mạnh của sư tử là biểu tượng—A symbol of Buddhist wisdom or an idealization of a particular quality. The Lotus Sutra describes him as springing out from the great ocean. Manju is beautiful, Sri is good fortune, virtue, majesty or lord. Manjusri means the beautiful virtue (fortune or lord). Manjusri with his delusion-cutting vajra sword in one hand, sits on the back of a lion on the Buddha's left. He is considered as a guardian of wisdom and is often placed on Sakyamuni's left, with Samantabhadra on the right side as guardian of Law. Manjusri also represents awakening, that is, the sudden realization of the Oneness of all existence and the power rising therefrom, of which the lion's vigor is symbolic. There are six different definitions: 1) Diệu Thủ: Wonderful or beautiful head. 2) Phổ Thủ: Universal head. 3) Nhu Thủ: Glossy head. 4) Kính Thủ: Revered head. 5) Diệu Cát Tường: Wonderful auspicious.
văn thù sư lợi bồ tát
Majuśrī Bodhisattva (P), Mondjou-bosatu (J), Jampeian (T) Man thù thất lỵ, Diệu Đức Bồ tát (Vô lượng thọ kinh và Niết bàn Kinh), Diệu Kiết tường Bồ tát (Đại Nhựt Kinh), Diệu Thủ Bồ tát (Vô hạnh Kinh), Phổ Thủ Bồ tát (Đại tịnh Pháp môn Kinh). Ngài Văn thù là một vị cổ Phật. Trong quá khứ, Ngài đã là Long chưởng thượng tôn vương Như Lai. Về vị lai, Ngài sẽ là Phật Phổ Kiến Như Lai (= Phổ Hiền Như Lai). Đức Văn thù có 108 tên, Ngài tượng trưng cho trí huệ.
; Manjusri Bodhisattva—Bậc Toàn Trí.
văn thù sư lợi bồ tát cập chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiện ác tú diệu kinh
Majusrī-bodhisattva-sarvaṛṣinirdeśa-puṇyā-puṇyākala-nakṣatra-tārā-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi pháp vương bồ tát
MajuśrīkumarabhŪta (S)Tên một vị Bồ tát.
văn thù sư lợi pháp vương tử
Dharma Prince Manjuri Tên một vị Bồ tát.
; Dharma Prince Manjushri.
văn thù sư lợi phật độ trang nghiêm kinh
Majusrī-buddhakṣetra-guṇa-vyŪhālaṅkāra-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi sở thuyết bát nhã ba la mật kinh
Wen-shu shih-li so-shuo pan-jo t'o-lo-mi ching (C)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi sở thuyết bất tư nghị phật cảnh giới kinh
Aciṇtya-Buddhaviṣayanirdeśa-sŪtra (S)Tên một bộ kinh.
văn thù sư lợi thần biến phẩm chi đại thừa kinh
Xem Ma Nghịch kinh.
văn thù tam muội
The samadhi of Manjusri styled the formless wonderful wisdom (vô tướng diệu huệ).
văn thù viện
Viện thứ bảy trong mười ba viện lớn của Thai Tạng Mạn Đồ La, lấy Văn Thù Sư Lợi làm trung tâm của nhóm 25 vị—The seventh great court of the thirteen in the Garbhadhatu group; it shows Majusri in the centre of a group of twenty-five.
văn thù vấn bát nhã kinh
Majuśrīpucchaprajā (S)Tên một bộ kinh.
Văn Thù Ứng Chơn
(文殊應眞, Monju Ōshin, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, sống vào thời Ngũ Đại, pháp từ của Đức Sơn Duyên Mật (德山緣密), và đã từng sống tại Văn Thù Sơn (文殊山) thuộc Đỉnh Châu (鼎州, Tỉnh Hồ Nam).
văn thúy khâm sơn thiền sư
Thiền sư nổi tiếng đời Đường, đệ tử và người kế vị Pháp của Thiền sư Động Sơn Lương Giới. Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, người ta kể rằng Văn Thúy, sau khi đến một ngôi chùa, đã cùng với Nham Đầu Toàn Khoát và Tuyết Sơn Nghĩa Tồn đi chu du để tầm học với các thiền sư khác. Cuối cùng ba người đến gặp Đức Sơn Tuyên Giám. Nham Đầu và Tuyết Phong trở thành những học trò xuất sắc và người kế vị Pháp cho Đức Sơn. Khâm Sơn không quen sự khắt khe quá mức của thầy, đã bị thầy đánh trọng thương phải mang đến y xá. Sau đó Khâm Sơn đến gặp và đạt được đại giác với thiền sư Đông Sơn. Khâm Sơn trở thành viện trưởng tu viện trên núi Khâm vào lúc ông mới 27 tuổi—Wen-Shui-Ch'in-Shan, a famous Ch'an master during the T'ang dynasty, a disciple and dharma successor of T'ung-Shan-Liang Chieh. In the Ching-Te-Ch'uan-Teng-Lu, it is reported that Ch'in-Shan, after already having entered a Ch'an monastery in his early years, went on pilgrimage with Yen-T'ou Ch'uan-Huo and Hsueh-Feng-I-Ts'un to seek out various Ch'an masters. At last the three of them came to Te-Shan-Hsuan-Chieh. While Yen-T'ou and Hsueh-Feng became outstanding students and dharma successors of Te-Shan, Ch'in-Shan could not get used to master Te-Shan's extremely strict style of training. After the master had beaten him so hard that he had to be taken sick to bed, Ch'in—Shan left and went to master Tung-Shan, under whom he also at last experienced enlightenment. Ch'in-Shan is said to have become abbot of the monastery on Mount Ch'in at the age of twenty-seven.
văn thư
Letter—Document.
văn thể
Literary form or style.
Văn Tinh
(文星): tức Văn Xương Tinh (文昌星), hay Văn Khúc Tinh (文曲星). Tương truyền sao này chủ quản về học thuật, văn chương; cho nên người thuộc sao này thì có tài hoa về nhiều phương diện khác nhau. Sao này đồng cung với Thiên Lương (天梁), Tử Vi (紫微), Thiên Tướng (天相), Thiên Phủ (天府), Võ Khúc (武曲), Lộc Tồn (祿存). Như trong bài thơ Hí Huỳnh Dương Công (獻滎陽公) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Từ Hải khiêu ba dũng, Văn Tinh phất tọa huyền (詞海跳波湧、文星拂坐懸, Từ Hải đạp sóng vượt, Văn Tinh phủi bàn ngồi).” Hay trong bài Hồi Tố Đài Ca (懷素臺歌) của Bùi Thuyết (裴說) nhà Đường lại có câu: “Đỗ Phủ, Lý Bạch dữ Hoài Tố, Văn Tinh, Tửu Tinh, Thảo Thư Tinh (杜甫、李白 與 懷素、文星酒星草書星, Đỗ Phủ, Lý Bạch cùng Hoài Tố là Văn Tinh, Tửu Tinh và Thảo Thư Tinh).” Hoặc trong Đào Viên Thi Thoại (隨園詩話) của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có câu: “Lưỡng giang nguyệt đán quy danh sĩ, hựu báo Văn Tinh nhập tòa lai (兩江月旦歸名士、又報文星入座來, hai bờ đầu tháng về danh sĩ, lại báo Văn Tinh vào tòa ngồi).”
văn trì
To hear and keep; hearing and keeping in mind; hearing and obeying,
; 1) Nghe và thọ trì: To hear and keep; hearing and keeping in mind; hearing and obeying. 2) Văn trì hay long trì bên cạnh Tòa Kim cang Thủ—The dragon pool by the side of the throne of Vajrapani.
văn trì đà la ni
Nghe và trì giữ hay tổng trì (văn có nghĩa là nghe, đà la ni có nghĩa là trì giữ)—To hear and keep, hear and remember the teaching (Văn means to hear, dharani means to hold to or to maintain).
văn trí
Sruta (S).
văn trí tuệ
Xem Văn tuệ.
văn tuyển
See Văn Tập.
văn tuệ
Hearing the word and become wise in it; wisdom obtained from hearing.
; Nghe pháp rồi phát huệ, hay trí huệ phát bởi nghe pháp—Hearing the word and becoming wise in it; wisdom obtained from hearing.
văn tập
Literary collection.
văn tế
Funeral oration.
văn từ
Literature.
văn tự
Monji (J).
; Akshara or Ruta (skt)—Chữ viết—The letter—The written words—Văn tự được diễn tả như là hơi thở hay sinh mệnh của pháp thân—The written word is described as the breath and life of the dharmakaya—See Akshara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
văn tự bát nhã
Văn từ dùng để diễn đạt Bát Nhã, một trong ba loại Bát Nhã—The written word which is used to describe the prajna, one of the three kinds of prajna. ** For more information, please see Bát Nhã.
văn tự nhân
A literalist.
văn tự pháp
Dharma of statements lung gi ch (T)lung gi chö.
Văn tự pháp sư
文字法師; J: monji-hōshi;|Chỉ một »Pháp sư« tinh thông chữ nghĩa trong kinh luận nhưng lại không thấu được huyền nghĩa và trực nhận chân lí, nghĩa là chưa đạt đến trình độ Tri hành hợp nhất, chưa Kiến tính.
văn tự pháp sư
Người giảng về chữ nghĩa trong kinh điển, nhưng không biết hết tinh thần giáo lý trong kinh điển—A teacher of the letter of the Law, who knows not its spirit. of the Law, who know not its spirit.
văn tự và ý nghĩa
Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật nhắc Mahamati: “Vị Bồ Tát Ma Ha Tát thành thục với từ ngữ và ý nghĩa, nhận biết rằng từ ngữ không khác không không phải không khác với ý nghĩa, và ngược lại.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha reminded Mahamati: “Oh Mahamati, the Bodhisattva-mahasattva who is well acquainted with words and meaning, recognizes at once that word is neither different nor not different from meaning, and vice versa.
văn tự đẳng
Aksharasamata (skt)—Sự bình đẳng của chữ—The sameness of letters.
văn võ
Civil and military.
Văn Võ Thiên Hoàng
(文武天皇, Mommu Tennō, tại vị 697-707): vị Thiên Hoàng trị vì vào thời kỳ xác lập luật lịnh quốc gia, con của Thảo Bích Hoàng Tử (草壁皇子), mẹ là Nguyên Minh Thiên Hoàng (元明天皇, Gemmei Tennō), tên là Kha Lưu (珂瑠, Karu), người chế định ra Đại Bảo Luật Lịnh (大寳律令).
văn vũ thiên hoàng
Monmu (S)697 - 700.
văn vương
Wen Wang (C).
văn vần
Verse—To write in verse.
văn vật
See Văn Hóa.
văn xuôi
Prose.
văn xương
Wenchang (C), Wen-ch'ang (C), Wenchang (C)Thần văn chương của Đạo gia.
Văn Yển
文偃|Vân Môn Văn Yển
văn ích pháp nhãn thiền sư
Fa-Yan-Wen-Yi 885-958—Thiền sư Văn Ích Pháp Nhãn sanh năm 885. Ông là đệ tử và người kế thừa Pháp của Thiền sư La Hán Quế Sâm, và là thầy của Thiên Thai Đức Thiều. Văn Ích là một trong những thiền sư xuất sắc nhất vào thời của ông. Ông đã làm cho dòng Thiền Huyền Sa Giang Biểu phát triển mạnh. Chính vì vậy mà sau nầy dòng Huyền Sa được mang tên Pháp Nhãn. Hiện nay chỉ một phần nhỏ sự nghiệp biên soạn của Văn Ích Pháp Hiển đến được với chúng ta, như Văn Ích Thiền Sư Ngữ Lục. Ông xuất gia năm 7 tuổi. Lúc đầu ông học những kinh điển Khổng giáo, sau đó là kinh điển Phật giáo, đặc biệt là bộ kinh Hoa Nghiêm, giáo thuyết cơ bản của trường phái Hoa Nghiêm Trung Quốc. Việc học triết lý không làm ông thỏa mãn nên ông quay sang tu thiền. Thầy dạy thiền đầu tiên của ông là Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng. Sau ông đến gặp Thiền sư La Hán Quế Lâm, còn gọi là thiền sư Địa Tạng, và nhận được đại giác sau khi nghe Địa Tạng nói “sự ngu dốt là cái gì có bề dày nhất.”—Chinese Zen master Wen-Yi Fa-Yan was born in 885, a disciple and Dharma successor of Lo-Han-Kuei-Ch'en, and the master of T'ien-T'ai Te-Shao. Wen-Yi was one of the most outstanding Zen masters of his time; he was in the lineage of Hsuan-Sha Shih-Pei. The latter's dharma teaching was widely propagated by Wen-Yi and as a result this lineage, which had hitherto been known as the Hsuan-Sha school, was thereafter known as the Fa-Yen school. Nowadays only a few of Fa-Yen's voluminous writings are extant, among them a few poems and a treatise. His sayings and instructions are recorded in the Record of the Words of the Ch'an Master Wen-Yi-Fa-Yan. Wen-Yi-Fa-Yan became a monk at the age of seven. First he studied the Confucian classics and the Buddhist sutras, particularly the Avatamsaka-sutra, the fundamental work for the Hua-Yen school of Chinese Buddhism. However, he was not satisfied by such philosophical study, he eventually sought instruction in Ch'an. His first Ch'an master was Ch'ang-Ch'ing-Hui-Leng. Later he came to meet Zen master Lo-Han-Kuei-Ch'en, who was also called Master Ti-Ts'ang. Here he attained his enlightenment experience when he heard Ti-Ts'ang's words “ignorance is the thickest.” • Khi đi đến viện Địa Tạng gặp trời trở tuyết, ba người cùng xin ngụ tại đây. Trời lạnh, cùng vây quanh lò sưởi, thiền sư Quế Sâm (trụ trì Viện Địa Tạng) thấy hỏi: “Đây là đi làm gì?” Sư thưa: “Đi hành khất.” Quế Sâm hỏi: “Việc hành khất là thế nào?” Sư thưa: “Chẳng biết.” Quế Sâm bảo: “Chẳng biết rất là thân thiết.” Qua câu nói nầy Văn Ích bỗng tỉnh ngộ. Đến khi tuyết tan, ba người cùng đến từ biệt Quế Sâm đi nơi khác. Quế Sâm đưa ra đến cửa, hỏi: “Bình thường Thượng Tọa nói 'Tam giới duy tâm vạn pháp duy thức,' vậy phiến đá dưới sân nầy, là ở trong tâm hay ở ngoài tâm?” Sư thưa: “Ở trong tâm.” Quế Sâm bảo: “Người hành khất mắc cớ gì lại để phiến đá lên trên đầu tâm?” Sư bí không có lời để đáp, bèn dẹp hành lý vào chùa, xin ở lại tham cứu. Hơn một tháng, sư trình kiến giải nói đạo lý, vẫn bị Quế Sâm bảo: “Phật pháp không phải thế ấy.” Sư thưa: “Con đã hết lời cùng lý rồi. Quế Sâm bảo: “Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành.” Qua câu nói ấy, sư đại ngộ—While on a pilgrimage with some other monks, Wen-Yi and his friends were sidetracked by a snowstorm and forced to stay at the Ti-Zang Monastery. Zen master Kui-Chen (served as abbot there) asked: “Where are you going?” Wen-Yi replied: “On an ongoing pilgrimage.” Kui-Chen asked: “Why do you go on a pilgrimage?” Wen-Yi replied: “I don't know.” Kui-Chen said: “Not knowing is most intimate.” At these words, Wen-Yi instantly experienced enlightenment. When the snow was gone, the three monks bade farewell and started to depart. Kui-Chen accompanied them to the gate and asked: “I've heard you say several times that 'the three realms are only mind and the myriad dharmas are only consciousness.'” Kui-Chen then pointed to a rock lying on the ground by the gate and said: “So do you say that this rock is inside or outside of mind?” Wen-Yi said: “Inside.” Kui-Chen said: “How can a pilgrim carry such a rock in his mind while on pilgrimage?” Dumbfounded, Wen-Yi couldn't answer. He put his luggage down at Kui-Chen's feet and asked him to clarify the truth. Each day for the next month or so Wen-Yi spoke about the Way Kui-Chen and demonstrated his understanding. Kui-Chen would always say: “The Buddhadharma isn't like that.” Finally, Wen-Yi said: “I've run out of words and ideas.” Kui-Chen said: “If you want to talk about Buddhadharma, everything you see embodies it."”At these words, Wen-Yi experienced great enlightenment. • Vị Tăng đến bạch sư: “Bốn chúng đã vây quanh dưới pháp tòa của Hòa Thượng.” Sư nói: “Chúng nhơn đến tham chơn thiện tri thức.” Lát sau, sư lên tòa, chúng đảnh lễ xong, sư bảo: “Chúng nhơn trọn đã đến đây, sơn Tăng chẳng lẽ không nói, cùng đại chúng nhắc một phương tiện của người xưa.” Trân trọng! Liền xuống tòa—A monk said to Wen-Yi: “Monks everywhere are now crowded around the master's Dharma seat waiting for you to speak.” Wen-Yi said: “In that case, the monks are practicing with a genuine worthy!” After a while, Wen-Yi ascended the Dharma seat. The monk said: “The assembly has gathered. We ask the master to expound the Dharma.” Wen-Yi said: You've all been standing here too long!” Then he said: “Since all of you have assembled here, I can't say nothing at all. So I'll give you all an expedient that was offered by one of the ancients. Take care!” Wen-Yi then left the Dharma seat. • Ngày kia Văn Ích hỏi Tu sơn chủ: “Sai một đường tơ, đất trời phân cách, ông hiểu thế nào?” Tu đáp: “Sai một đường tơ, đất trời phân cách.” Văn Ích nói: “Thế là nghĩa lý gì?” Vị Tăng bạch: “Tu tôi chỉ biết có vậy, còn ý Hòa Thượng thế nào?” Văn Ích đáp ngay: “Sai một đường tơ, đất trời phân cách.” Văn Ích quả là một cao thủ về phép nói nhại—One day, Wen-Yi asked one of his disciples: “What do you understand by this: 'Let the difference be even a tenth of an inch, and it will grow as wide as heaven and earth?'” The disciple said: “Let the difference be even a tenth of an inch, and it will grow as wide as heaven and earth.” However, Wen-Yi told the monk that such an answer will never do. The disciple said: “I cannot do otherwise; how do you understand?” Wen-Yi said: “Let the difference be even a tenth of an inch and it will grow as wide as heaven and earth.” Wen-Yi was a great master of repetitions. • Sau sư dời về ở Viện Thanh Lương, thượng đường dạy chúng: “Người xuất gia chỉ tùy thời tiết, liền được lạnh thì lạnh, nóng thì nóng, muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhơn duyên, xưa nay phương tiện chẳng ít. Đâu chẳng thấy Hòa Thượng Thạch Đầu nhơn xem Triệu Luận, trong ấy nói: 'Hội muôn vật về nơi mình, kia chỉ là người Thánh vậy.' Ngài liền nói: 'Thánh nhơn không mình, cái gì chẳng mình?' Liền làm mấy lời gọi là Đồng tham khế, trong ấy câu mở đầu nói: 'Tâm đại tiên trúc độ' không qua lời nầy, vậy khoảng giữa chỉ tùy thời nói thoại.” Thượng Tọa! Nay muốn biết vạn vật là mình chăng? Bởi vì đại địa không có một vật có thể thấy. Ngài lại dặn dó rằng: “Ngày tháng chớ qua suông.” Vừa rồi, nói với các Thượng Tọa chỉ tùy thời và tiết liền được. Nếu là đổi thời mất hậu tức là qua suông ngày tháng, ở trong cái phi sắc khởi hiểu sắc. Thượng Tọa! Ở trong cái phi sắc khởi hiểu sắc tức là đổi thời mất hậu? Hãy nói sắc khởi hiểu phi sắc lại đúng chẳng đúng? Thượng Tọa! Nếu biết thế ấy tức là không giao thiệp, chính là si cuồng chạy theo hai đầu có dùng được chỗ gì? Thượng Tọa! Chỉ giữ phần tùy thời qua là tốt. Trân trọng!—When Zen master Wen-Yi became abbot of Qing-Liang temple, he addressed the monks, saying: “Students of Zen need only act according to conditions to realize the Way. When it's cold, they're cold. When it's hot, they're hot. If you must understand the meaning of Buddha nature, then just pay attention to what's going on. There is no shortage of old and new expedients. Haven't you heard about Shi-T'ou? Upon reading the Zhao-Lun, he exclaimed: 'Understanding that all things are the self. This is what all the ancient holy ones realized!' Shi-T'ou also said: 'The holy ones did not have a self. Nor was there anything that was not their selves' Shi-T'ou composed the Cantonjie. The first phrase in that text says: 'The mind of the greta sages of India.' There's no need to go beyond this phrase. Within it is what is always put forth as the teaching of our school. All of you should understand that the myriad beings are your own self, and that across the great earth there isn't a single dharma that can be observed. Shi-T'ou also admonishes: 'Don't pass your days and nights in vain.' What I have just said may be realized if you seize the opportunity before you. If you miss the opportunity, then that is 'passing your days and nights in vain.' If you spend your time trying to understand form in the middle of nonform, just going on this way, you are missing your opportunity. So, do we therefore say that we should realize nonform in the midst of form? Is that right? If your understanding is like this, then you're nowhere near it. You're just going along with the illness of two-headed madness. Of what use is it? All of you, just do what is appropriate to the moment! Take care!” • Sau đó tiếng tăm ông lan rộng rất nhanh, các thiền sư khắp nơi kéo đến từng nhóm. Lúc ông còn sống, số đệ tử không lúc nào dưới 1000. Những người kế thừa Pháp của ông đã truyền bá khắp cả Trung Quốc, tận đến Triều Tiên—Later his reputation spread quickly. It is said that Ch'an monks around him never to have been less than a thousand. The dharma successors of Fa-Yen spread his dharma all over China and as far as Korea. • Tên của Văn Ích được nhắc tới trong thí dụ thứ 26 của Vô Môn Quan và thí dụ thứ 7 của Bích Nham Lục—Wen-Yi-Fa-Yen appears in example 26 of the Wu-Men-Kuan as well as in example 7 of the Pi-Yen-Lu. • Thiền sư Văn Ích thị tịch năm 958. Sau khi thị tịch sư được ban hiệu “Đại Pháp Nhãn Thiền Sư.” Dù ảnh hưởng của sư rất lớn và sư có đến 63 Pháp Tử, dòng thiền của sư chỉ truyền lại được năm đời mà thôi—Zen master Wen-Yi passed away in 958. After his death, Wen-Yi received the posthumous title “Great Zen Master Dharma Eye.” Though the influence of his school was widespread during and for a period after his life and he had sixty-three Dharma heirs, the lineage died out after five generations.
văn đà kiệt
Murdhajata (skt)—Đỉnh Sanh Vương—Sanh ra từ trên đỉnh đầu của mẹ, nên được gọi là Đỉnh Sanh Vương, là tiền thân của Đức Phật Thích Ca—Born from his mother's head, a reputed previous incarnation of the Buddha, who still ambitious, despite his universal earthly sway, his thousand sons, flew to Indra's heaven, saw the celestial devi (thiên thượng ngọc nữ), but on the desire arising to rule there on Indra's death, he was hurled to earth.
văn đà la ni
To hear and keep, hear and and remember the teaching; đà la ni meaning to hold to, maintain.
; See Pháp Đà La Ni and Tam Đà La Ni.
văn đàn
Literary club.
Văn Đức Thiên Hoàng
(文德天皇, Montoku Tennō, tại vị 850-858): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời kỳ Bình An, Hoàng Tử thứ 1 của Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō), tên là Đạo Khang (道康, Michiyasu), còn gọi là Điền Ấp Đế (田邑帝).
Văn-thù
文殊; S: mañjuśrī; |Văn-thù Sư-lị
Văn-thù Sư-lị
文殊師利; S: mañjuśrī; tên dịch theo âm, thường được gọi tắt là Văn-thù, dịch nghĩa là Diệu Ðức (妙德), Diệu Cát Tường (妙吉祥), cũng có lúc được gọi là Diệu Âm (妙音; s: mañjughoṣa);|Một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ, một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo. Lần đầu tiên người ta nhắc đến Văn-thù trong tác phẩm Văn-thù Sư-lị căn bản nghi quỹ (s: ārya-mañjuśrī-mūlakalpa) ở thế kỉ thứ 4. Tranh tượng trình bày Văn-thù với lưỡi kiếm và kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, được vẽ khoảng ngang đầu. Người ta xem đó là biểu tượng trí huệ phá đêm tối của Vô minh.|Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị luận sư xuất sắc như Tông-khách-ba (t: tsong-khapa) thường được xem là hiện thân của Văn-thù (Chu-cô). Dưới tên Diệu Âm (妙音; mañjughoṣa), »Người với tiếng nói êm dịu«, Văn-thù Bồ Tát thường được tán tụng trước khi hành giả nghiên cứu kinh điển, nhất là kinh điển thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa và học thuyết của Trung quán tông. Ngài là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng Phương tiện tri thức.|Văn-thù cũng xuất hiện dưới dạng Hộ Thần (s: iṣṭadevatā, sādhita; t: yidam) phẫn nộ, có tên gọi là Diêm-mạn Ðức-ca – »Người chiến thắng tử thần« (s: yamāntaka), có dạng vị thần mang đầu bò. Dạng này là Hộ Thần quan trọng của phái Cách-lỗ (t: gelugpa) tại Tây Tạng.||H 72: Văn-thù Sư-lị dưới dạng mười hai tay (s: nāmasaṅgīti-mañjuśrī). Hai tay dưới cùng đang bắt Ấn thiền, hai tay kế trên đang nhúng vào Bát trong tư thế chuẩn bị rưới nước Cam-lộ, hai tay trước ngực đang bắt ấn chuyển pháp luân, bốn tay bên hông đang trong tư thế cầm cung tên, kiếm và sách (kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa), nhằm tiêu diệt Vô minh. Hai tay trên đầu bắt Ấn tối thượng bồ-đề.|Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Văn-thù được Phật đích thân Thích-ca giao phó việc truyền bá Phật pháp tại đây và Ngũ Ðài sơn chính là nơi Ngài thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Ðài sơn cũng được xem là trụ xứ của Ngài (Tứ đại danh sơn). Một thuyết khác bảo rằng, Ngài đã từng xuất hiện tại Trung Quốc trong thế kỉ 1, đời Hán Minh Ðế.
vĩ cận nan đắc ca vuơng
Xem Hàng Phục Chấn Động Giả.
Vĩ Thượng Cúc Ngũ Lang
(尾上菊五郎, Onoe Kikugoro, 1785-1849): diễn viên Ca Vũ Kỷ, thuộc đời thứ 3, người vùng Giang Hộ, con nuôi của người diễn viên đời đầu, hiệu của kịch trường là Âm Vũ Ốc (音羽屋); biệt hiệu là Thực Mộc Ốc Tùng Ngũ Lang (植木屋松五郎), Cúc Ốc Vạn Bình (菊屋萬平); bổn danh là Thần Ngũ Lang (辰五郎); là người rất nổi tiếng về loại Quái Đàm Cuồng Ngôn (怪談狂言).
vĩ đa lý minh phi
Vetali (S)Một trong 8 minh phi ở 8 hướng quanh ngài Hô Kim Cang, minh phi này ngự ở tây cung.
vĩnh
Vĩnh viễn—Everlasting—Eternal—Perpetual.
Vĩnh An Đạo Nguyên
(永安道原, Eian Dōgen, ?-?): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, pháp từ của Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶). Ông đã từng trú trì Thừa Thiên Vĩnh An Viện (承天永安院) ở Tô Châu (蘇州), là người biên tập nên bộ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄). Vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (景德), ông đem trình tấu bản này lên vua Chơn Tông (眞宗) và được cho nhập vào Đại Tạng.
vĩnh biệt
To be separated forever.
Vĩnh Bình Quảng Lục
(永平廣錄, Eiheikōroku): bộ Ngữ Lục của Đạo Nguyên (道元, Dōgen), vị Tổ khai sơn Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), gồm 10 quyển. Đây được xem như là bộ Ngữ Lục do các đệ tử của Đạo Nguyên như Thuyên Tuệ (詮慧), Cô Vân Hoài Trang (孤雲懷弉), Nghĩa Diễn (義演), v.v., biên tập lại những phần Thượng Đường Pháp Ngữ, Tiểu Tham Pháp Ngữ, Tụng Cổ, Tán do Đạo Nguyên trước tác, cọng thêm các trước tác khác như Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (普勸坐禪儀), Tọa Thiền Châm (坐禪箴), v.v. Hơn nữa, bộ Vĩnh Bình Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục (永平元禪師語錄) được xem như là thư tịch vốn theo lời văn bạt của Vô Ngoại Nghĩa Viễn (無外義遠) thì vào năm 1246, khi Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) sang nhà Tống cầu pháp, Vô Ngoại mới ghi lời bạt thêm từ bộ Quảng Lục của Đạo Nguyên, rồi trao lại cho Nghĩa Duẫn. Tuy nhiên, chúng vẫn không biết rõ rằng bản Vĩnh Bình Quảng Lục hiện tồn có cùng nội dung với bản trên hay không. Hơn nữa, qua bản hiện tại này, ta vẫn có thể tìm thấy những chỗ viết sai, mất chữ, và có khá nhiều điểm ta không thể nào khẳng định được rằng đây là nguyên hình văn bản do Đạo Nguyên truyền trao. Các san bản được thâu lục vào trong Tào Động Tông Toàn Thư (曹洞宗全書), Đạo Nguyên Thiền Sư Toàn Tập (道元禪師全集) quyển Hạ do Đại Cửu Bảo Đạo Chu (大久保道舟) biên, Thừa Dương Đại Sư Thánh Giáo Toàn Tập (承陽大師聖敎全集) 3, Nhật Bản Đại Tạng Kinh (日本大藏經), phần Tào Động Tông Chương Sớ (曹洞宗章疏) 1, Vĩnh Bình Đạo Nguyên Hòa Thượng Quảng Lục (永平道元和尚廣錄), và bản Vĩnh Bình Nguyên Thiền Sư Ngữ Lục (永平元禪師語錄) của nhà xuất bản Nham Ba Văn Khố (岩波文庫, Iwanami-bunko).
vĩnh bình quảng lục
Eihei kōroku (J)Tên một bộ sưu tập.
vĩnh bình thanh qui
Eihei shingi (J).
Vĩnh Bình Thanh Quy
(永平清規, Eiheishingi): 2 quyển, trước tác của Đạo Nguyên (道元, Dōgen), gọi cho đúng là Nhật Vức Tào Động Tông Sơ Tổ Đạo Nguyên Thiền Sư Thanh Quy (日域曹洞宗初祖道元禪師清規), hay Vĩnh Bình Đại Thanh Quy (永平大清規), là thư tịch nói về quy cũ tòng lâm và ý nghĩa của các quy cũ ấy; bộ này gồm 6 thiên. Điển Tòa Giáo Huấn (典座敎訓) là thiên nói về những điều tâm đắc của vị chuyên trách về việc ăn uống của chúng Tăng hằng ngày, được viết vào mùa Xuân năm 1237, tại Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji), Kyoto. Phó Chúc Phạn Pháp (赴粥飯法) là thiên nói về cách ăn uống một ngày hai thời tại Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji). Chúng Liêu Châm Quy (眾寮箴規), hay Liêu Trung Châm Quy (寮中箴規), là thiên quy định về những uy nghi tế hạnh của chung Tăng ở trong hay ngoài liêu phòng của mình đang sống tại Vĩnh Bình Tự, được viết vào tháng giêng năm 1249. Đối Đại Kỷ Ngũ Hạ A Xà Lê Pháp (對大己五夏阿闍梨法) là thiên được viết vào ngày 21 tháng 3 năm 1244 tại Cát Phong Tự (吉峰寺) thuộc vùng Việt Tiền (越前, Fukui-ken [福井懸] ngày nay), dạy về nghi lễ của hàng hậu bối đối với các bậc tôn túc đi trước đã từng tu hành và trãi qua trên 5 Hạ Lạp ở trong tòng lâm. Tri Sự Thanh Quy (知事清規) là thiên được viết vào ngày 15 tháng 6 năm 1246 tại Vĩnh Bình Tự, giải thích về chức vụ Tri Sự (知事), Đầu Thủ (頭首), Tiểu Đầu Thủ (小頭首), những người chuyên quản lý việc chùa cũng như việc của chư Tăng. Bộ Vĩnh Bình Thanh Quy này có phần dựa vào bộ Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規), nhưng ít hạng mục hơn bộ kia. Mỗi thiên của bộ này ban đầu được viết riêng lẽ, rồi cứ như vậy mà lưu truyền. Sau này vào năm 1667, Quang Thiệu Trí Đường (光紹智堂), vị trú trì đời thứ 30 của Vĩnh Bình Tự, mới thâu tập thành 1 bộ và cho san hành bản đầu tiên. Đến năm 1794, Huyền Thấu Tức Trung (玄透卽中), vị trú trì đời thứ 50 của chùa, cùng với một vào đạo hữu khác, tiến hành hiệu đính những sai lầm về văn tự trong bản này; đặc biệt, ông còn chú thích về nghĩa từ, nghĩa âm, điển cứ, v.v., và ghi phần mạo đầu cho bộ này, rồi cho ấn hành với tên gọi là Hiệu Đính Quan Chú Vĩnh Bình Thanh Quy (校訂冠註永平清規). Đây chính là bản hiện tại đang lưu hành. Sách chú thích về bộ này có Điển Tòa Giáo Huấn Văn Giải (典座敎訓文解), Chúng Liêu Châm Quy Văn Giải (眾寮箴規文解), Đối Đại Kỷ Pháp Văn Giải (對大己法文解) của Diện Sơn Thoại Phương (面山瑞方); Chúng Liêu Châm Quy Nhiên Tê (眾寮箴規然犀) của Đức Nham Dưỡng Tồn (德巖養存), Chúng Liêu Châm Quy Cầu Tịch Tham (眾寮箴規求寂參), Đối Đại Kỷ Pháp Cầu Tịch Tham (對大己法求寂參) Thiền Uyển Quy Kính Văn Cầu Tịch Tham (禪苑龜鏡求寂參) của Hạt Đạo Bổn Quang (瞎道本光), cũng như Vĩnh Bình Đại Thanh Quy Biện Giải (永平大清規辨解) của Đinh Nguyên Thôn Không (町元吞空), v.v.
Vĩnh Bình Tự
(永平寺, Eihei-ji): ngôi chùa trung tâm của Tào Động Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Eiheiji-chō (永平寺町), Yoshida-gun (吉田郡), Fukui-ken (福井 縣), tên núi là Cát Tường Sơn (吉祥山). Người khai cơ chùa là Ba Đa Dã Nghĩa Trọng (波多野義重). Sau thể theo lời thỉnh cầu của Nghĩa Trọng, vào năm 1243 (niên hiệu Khoan Nguyên [寬元] nguyên niên), từ Hưng Thánh Tự (興聖寺, Kōshō-ji) ở vùng Thiển Thảo (淺草, Asakusa), Đạo Nguyên (道元, Dōgen) chuyển lên địa phương Việt Tiền (越前, Echizen), năm sau khai sáng Đại Phật Tự (大佛寺, Daibutsu-ji), và đến năm 1246 (năm thứ 4 niên hiệu Khoan Nguyên) thì đổi tên chùa thành Vĩnh Bình Tự. Trừ ra thời kỳ hành hóa ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), Đạo Nguyên đã trải qua giai đoạn cuối đời, chuyên tâm giáo hóa đồ chúng và soạn thuật bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏, Shōbōgenzō) tại chùa này. Xuất xứ tên gọi Vĩnh Bình (永平) được giải thích trong Vĩnh Bình Quảng Lục (永平廣錄) 2 với câu “thiên thượng thiên hạ đương xứ vĩnh bình (天上天下當處永平, trên trời dưới đất ngay nơi đây mãi bình an)”, là tên niên hiệu Vĩnh Bình (永平, 58-75 sau công nguyên) của nhà Hậu Hán, lúc Phật Giáo được công truyền vào Trung Quốc. Vào năm 1253 (năm thứ 5 niên hiệu Kiến Trường [建長]), sau khi Đạo Nguyên qua đời, Hoài Trang (懷弉, Ejō) trở thành vị tổ thứ 2 của chùa; nhưng vì bị bệnh nặng nên vào năm 1267 (năm thứ 4 niên hiệu Văn Vĩnh [文永]), ông nhường lại cho Triệt Thông Nghĩa Giới (徹通義介, Tettō Gikai) và vị này làm tổ thứ 3. Về sau, phái của Nghĩa Giới tập trung phát triển giáo đoàn đã tạo sự tranh chấp với phái của Nghĩa Diễn (義演, Gien) vốn chủ trương cố thủ truyền thống Chỉ Quản Đả Tọa (只管打坐, Shikantaza) của Đạo Nguyên. Trãi qua 3 lần luận tranh của hai phái tân cựu này, cuối cùng phái của Nghĩa Giới phải rời khỏi sơn môn Vĩnh Bình Tự, chuyển đến Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga); môn nhân của Nghĩa Giới là Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾, Keizan Jōkin) sáng lập ra Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji) ở vùng Năng Đăng (能登, Noto). Tại Vĩnh Bình Tự, Nghĩa Diễn, Tịch Viên (寂圓, Jakuen), Nghĩa Vân (義雲, Giun) liên tiếp nhau thay thế làm trú trì. Pháp hệ của Tịch Viên kéo dài lãnh đạo chùa cho đến vị trú trì đời thứ 20 là Môn Hạc (門鶴, Mongaku). Sau đó, các đời trú trì không phải thuộc môn hạ của Tịch Viên. Đến thời kỳ Giang Hộ (江戸, Edo) thì chùa trở thành ngôi Đại Bản Sơn trung tâm của tông phái. Bảo vật của chùa có bản Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi (普勸坐禪儀), thủ bút của Đạo Nguyên.
Vĩnh Bình tự
永平寺; J: eihei-ji;|Một trong hai ngôi chùa chính của tông Tào Ðộng ở Nhật Bản, được Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thành lập năm 1243. Chùa thứ hai là Tổng Trì tự (sōji-ji).
vĩnh bình tự
Eihei-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh bình tự bản
Eihei-ji-han (J).
vĩnh bình tự tam tổ hành nghiệp ký
Eihei-ji sanso gyōgōki (J)Tên một bộ luận kinh.
vĩnh bảo tự
Eiho-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh cửu
Sanàta (S). Eternal, forever. Also Bất diệt.
vĩnh cửu chủ nghĩa
Sàsvatavàda (S). Eternalism.
vĩnh cữu
Akṣaya (S), Akkhaya (P), Akkhara (P), Aksara (S), Dhuva (S), Long-lasting, EternalVô tận tạngTừ Xem đạo quả Vô sanh bất diệt.
vĩnh cữu chủ nghĩa
Sassatavāda (P), Śāśvatavāda (S), Eternalism Sassatavāda (P).
Vĩnh Gia
永嘉; C: yŏngjiā; J: yōka;|Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺).
Vĩnh Gia chứng đạo ca
永嘉證道歌; C: yŏngjiā zhèngdào gē; J: yōka shōdō ka; |1 quyển, tác phẩm của Vĩnh Gia Huyền Giác, có sự liên hệ rất mật thiết về văn phong và nội dung với kinh Viên Giác.
Vĩnh Gia Huyền Giác
(永嘉玄覺, Yōka Genkaku, 675-713): người Huyện Vĩnh Gia (永嘉), Phủ Ôn Châu (溫州), Tỉnh Triết Giang (浙江), tự là Minh Đạo (明道). Ông xuất gia hồi còn nhỏ tuổi, tham cứu Tam Tạng thánh điển, đặc biệt rất tinh thông pháp môn Thiên Thai Chỉ Quán và chuyên tu về Thiền quán. Thể theo lời khuyên của Tả Khê Huyền Lãng (左谿玄朗), ông cùng với Đông Dương Huyền Sách (東陽玄策) đến tham vấn Huệ Năng (慧能) ở Tào Khê (曹溪). Khi hai bên gặp nhau, trãi qua mấy lần hỏi đáp, cuối cùng ông được Huệ Năng ấn khả cho, và hôm ấy ông lưu lại một đêm tại Tào Khê. Vì vậy người đương thời gọi ông là “Nhất Túc Giác” (一宿覺, một đêm giác ngộ). Hôm sau ông hạ sơn, trở về lại Ôn Châu (溫州) và bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình. Học đồ đến tham học với ông rất đông. Ông có hiệu là Chơn Giác Đại Sư (眞覺大師), thị tịch vào năm thứ 2 (713) niên hiệu Tiên Thiên (先天) đời vua Huyền Tông (玄宗) nhà Đường. Ông được ban cho thụy hiệu là Vô Tướng Đại Sư (無相大師). Trước tác của ông để lại có Chứng Đạo Ca (証道歌), Vĩnh Gia Tập (永嘉集).
Vĩnh Gia Huyền Giác
永嘉玄覺; C: yòngjiā xuānjué; J: yōka genkaku; 665-713;|Thiền sư đời Đường. Sư còn có các tên Minh Đạo (明道), Chân Giác (眞覺), và Đạo Minh (道明). Thuỵ hiệu là Vô Tướng Đại Sĩ (無相大士). Sư là đệ tử được Huệ Năng ấn chứng, sư tinh thông cả 3 tông Thiền, Thiên Thai, và Hoa Nghiêm, Sư nổi tiếng với tên Nhất Túc Giác (一宿覺), có nghĩa là »giác ngộ trong một đêm«, với câu chuyện sư nghỉ lại một đêm với Lục tổ. Sư còn là tác giả của 2 tác phẩm ngắn nhưng rất thông dụng là Chứng đạo ca (證道歌) và Thiền tông Vĩnh Gia tập (禪宗永嘉集). Cả 2 tác phẩm đều giải quyết những vấn đề tư tưởng quan trọng trong giai đoạn ấy và cũng là đề tài của luận Đại thừa khởi tín, kinh Viên Giác, kinh Thủ Lăng Nghiêm. |Sư họ Ðới, quê ở Vĩnh Gia, Ôn Châu. Sư xuất gia từ nhỏ và sớm tham học Ðại tạng kinh, tinh thâm Chỉ-Quán. Nhân xem kinh Duy-ma-cật sở thuyết, Sư hoát nhiên liễu ngộ. Môn đệ của Lục tổ là Thiền sư Huyền Sách thấy Sư đàm luận lời lẽ thích hợp với chư Tổ bèn khuyên Sư đến Lục tổ để được ấn chứng chỗ sở đắc. Trận Pháp chiến sau đây giữa Sư và Tổ đã đi vào lịch sử của Thiền tông:|Sư cùng Huyền Sách đến Tào Khê tham vấn Tổ. Ðến nơi, Sư tay cầm tích trượng, vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi: »Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn uy nghi tám muôn tế hạnh, Ðại đức là người phương nào đến mà sinh đại ngã mạn như vậy?«|Sư thưa: »Sinh tử là việc lớn, Vô thường quá mau.«|Tổ bảo: »Sao không ngay nơi đó thể nhận cái vô sinh, liễu chẳng mau ư?« Sư thưa: »Thể tức vô sinh, liễu vốn không mau.« Tổ khen: »Ðúng thế! Ðúng thế!«|Ðại chúng nghe vậy đều ngạc nhiên. Sư bây giờ mới đầy đủ trang nghiêm lễ bái Tổ. Lát sau, Sư cáo từ, Tổ bảo: »Trở về mau quá!« |Sư thưa: »Vốn tự không động thì đâu có mau.« |Tổ hỏi: »Cái gì biết không động?« |Sư thưa: »Ngài tự phân biệt.« |Tổ bảo: »Ngươi đạt ý vô sinh rất sâu!« |Sư thưa: »Vô sinh há có ý sao?«|Tổ hỏi: »Không có ý, cái gì biết phân biệt?« |Sư thưa: »Phân biệt cũng không phải ý.« |Tổ khen: »Lành thay! Lành thay!«|Sư lưu lại một đêm hỏi thêm đạo lí và sau đó cùng Huyền Sách xuống núi. Thời nhân gọi Sư là »Giác giả một đêm« (一宿覺; Nhất túc giác).|Sư sau trụ trì ở Ôn Giang, học chúng đến tấp nập.|Ðời Ðường, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, ngày 17 tháng 10, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ 49 tuổi. Vua sắc phong là Vô Tướng Ðại sư, tháp hiệu Tịnh Quang. Sư trứ tác hai tập là Chứng đạo ca (證道歌) và Thiền tông ngộ tu viên chỉ, được lưu hành rộng rãi.
vĩnh gia huyền giác
Yongjia Xuanjue (C), Yung-chia Hsuan-chueh (C), Yongjia Xuanjue (C), Yoka Genkaku (J)(665-713) Người ta tin rằng Ngài là đệ tử của ngài Huệ Năng.
; Thiền sư Trung Quốc vào đời nhà Đường, ông sanh năm 665. Ông là một trong những đệ tử xuất sắc của Lục Tổ Huệ Năng. Bài Chứng Đạo Ca là một bài viết về thiền rất được phổ biến. Ông tịch năm 713 sau Tây Lịch—Yung-Chia-Hsuan-Chueh was born in 665, a great Zen master during the T'ang dynasty. He was one of the famous disciples of the Sixth Patriarch Hui-Neng. His “Song of Realization” is a popular Zen writing. He died in 713 A.D. ** See Huyền Giác Vĩnh Gia Thiền Sư.
Vĩnh Gia tập
永嘉集; C: yŏngjiā jí; J: yōkashū; |Gọi tắt của Thiền tông Vĩnh Gia tập (禪宗永嘉集).
Vĩnh Giác Nguyên Hiền
(永覺元賢, Yōkaku Genken, 1578-1657): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Vĩnh Giác (永覺), vì ông từng sống tại Cổ Sơn (鼓山) nên còn được gọi là Cổ Sơn Nguyên Hiền (鼓山元賢), xuất thân Kiến Dương (建陽), Tỉnh Phúc Kiến (福建省), họ Thái (蔡). Lúc nhỏ ông học Nho Giáo, đến năm 25 tuổi, nhân nghe vị tăng đọc kinh chợt cảm ngộ, bèn theo học với Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) trong nhiều năm, đến năm 40 tuổi mới được thầy cho phép xuất gia và kế thừa dòng pháp. Không bao lâu sau, Huệ Kinh qua đời, ông theo thọ giới Cụ Túc với Bác Sơn Nguyên Lai (博山元來), rồi chuyển đến tu học trong mấy năm ở các nơi như Hương Lô Phong (香爐峰), Kim Tiên Am (金僊庵), Hà Sơn (荷山), v.v. Vào năm thứ 7 (1634) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông đến trú tại Cổ Sơn, lúc đó ông đã gần 50 tuổi. Ông từng quản lý các đạo tràng Khai Nguyên (開元), Chơn Tịch (眞寂), Bảo Thiện (寳善), v.v., và đến ngày mồng 7 tháng 10 năm thứ 14 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Trước tác của ông có Động Thượng Cổ Triệt (洞上古轍), Bổ Đăng Lục (補燈錄), Kế Đăng Lục (繼燈錄), Tứ Hội Toàn Lục (四會全錄), Tịnh Từ Yếu Ngữ (淨慈要語), Kiến Châu Hoằng Thích Lục (建州弘釋錄), Chư Tổ Đạo Ảnh Tán (諸祖道影贊), Kim Cang Kinh Lược Sớ (金剛經略疏), Bát Nhã Tâm Kinh Chỉ Chưởng (般若心經指掌), v.v. Pháp từ Vi Lâm Đạo Bái (爲霖道霈) trùng biên bộ Vĩnh Giác Hòa Thượng Quảng Lục (永覺和尚廣錄).
vĩnh hòa
Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Nam Việt Nam. Chùa đã có từ lâu, nhưng chỉ là một ngôi chùa nhỏ. Đến năm 1961, Hòa Thượng Trí Đức về xây lại cảnh chùa khang trang như bây giờ, lập trường trung học Bồ Đề tỉnh Bạc Liêu—Name of a temple, located in Bạc Liêu town, Bạc Liêu province, South Vietnam. It was built a long time ago; however, it was only a small temple. In 1961, Most Venerable Trí Đức had it rebuilt and opened Bồ Đề High School of Bạc Liêu province.
vĩnh hưng tự
Eiko-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh kiếp
Thời gian rất lâu dài—Eternity—The everlasting aeon.
Vĩnh Minh Diên Thọ
(永明延壽, Yōmei Enju, 904-975): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, xuất thân Dư Hàng (餘杭), Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), họ là Vương (王), tự Xung Huyền (冲玄), Bảo Nhất Tử (抱一子). Ngay từ nhỏ ông đã có chí xuất trần nhưng không được toại nguyện, nên làm quan cho nước Ngô Việt. Đến năm 28 tuổi, ông theo xuất gia với Thúy Nham Linh Tham (翠巖令參, thế kỷ thứ 9-10, pháp từ của Tuyết Phong); sau đó theo hầu hạ Thiên Thai Đức Thiều (天台德韶), kế thừa dòng pháp của vị này và trở thành vị tổ thứ 3 của Pháp Nhãn Tông. Vào năm thứ 2 (952) niên hiệu Quảng Thuận (廣順), ông đến trú trì Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (資聖寺). Về sau, thể theo lời thỉnh cầu đặc biệt của Trung Ý Vương (忠懿王), ông nhậm chức trú trì Linh Ẩn Tự (靈隱寺), rồi chuyển sang Vĩnh Minh Tự (永明寺) trong vòng 15 năm và đã độ khoảng 1700 đệ tử. Ông là người kiêm tu cả Thiền lẫn Tịnh Độ, ban đêm thường hành trì pháp môn Niệm Phật. Nhà vua cho xây dựng Tây Phương Quảng Giáo Điện (西方廣敎殿) và cử ông đến đây trú trì. Chính vì lẽ đó, Thạch Chi Tông Hiểu (石芝宗曉) kính ngưỡng ông như là vị tổ đời thứ 7 của Liên Tông. Người đương thời tôn sùng ông là đấng Từ Thị (慈氏, Di Lặc) hạ sanh. Thanh danh ông rất cao, đến nỗi vua Quang Tông (光宗) nước Cao Lệ (高麗) mến mộ đức độ của ông, đã phái 36 vị tăng sang học giáo pháp của ông. Nhờ vậy, Pháp Nhãn Tông được truyền bá sang Cao Lệ và Tông Thiền Tịnh đã phát triển mạnh ở Triều Tiên. Sau khi tiến hành độ tăng, truyền thọ giới pháp và phóng sanh, vào ngày 26 tháng 12 năm thứ 8 (975) niên hiệu Khai Bảo (開寶), ông đốt hương, dặn dò đồ chúng và ngồi kiết già thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 42 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Trí Giác Thiền Sư (智覺禪師). Ông để lại khá nhiều trước tác như Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集) 3 quyển, Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự Trí Giác Thiền Sư Tự Hành Lục (慧日永明寺智覺禪師自行錄), Duy Tâm Quyết (唯心訣), v.v. Tác phẩm chính của ông phải kể đến là Tông Kính Lục (宗鏡錄). Đây là tác phẩm gồm 100 quyển, tập trung tất cả các học giả của Duy Thức, Hoa Nghiêm, Thiên Thai để cùng nhau tiến hành giải đáp những nghi vấn, cuối cùng thống nhất lại với nhau thông qua Tâm Tông, là thư tịch dẫn dụng các yếu văn từ những trước tác chính yếu của các tông phái Phật Giáo mà khởi đầu bằng Thiền Tông, và nói về tư tưởng của các phái. Chủ trương nhằm mục đích tổng hợp Phật Giáo như vậy được thể hiện rất rõ qua các tác phẩm như Vạn Thiện Đồng Quy Tập, v.v., và cũng thể hiện lập trường căn bản của Diên Thọ. Đời sau, khi các tư tưởng như Thiền Giáo Song Tu, Giáo Thiền Nhất Trí được thực hiện thành công, dần dần Diên Thọ được mọi người tôn trọng hơn. Với tư tưởng như vậy, đương nhiên Diên Thọ cũng chẳng bài xích Tịnh Độ Giáo.
; 永明延壽; C: yòngmíng yánshòu; J: yōmyō enju; 904-975, cũng được gọi là Huệ Nhật Trí Giác (慧日智覺); |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Pháp Nhãn, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Tông Pháp Nhãn rất phồn thịnh dưới sự hoằng hoá của Sư. Học chúng đến rất đông – có lúc đến 2000 người để tham thiền. Sư có soạn bộ Tông kính lục (宗鏡錄) gồm một trăm quyển, được lưu truyền khá rộng trong giới thiền.|Sư họ Vương, quê ở Dư Hàng, mộ đạo từ nhỏ. Sư lúc nhỏ không ăn thịt cá, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Năm 28 tuổi, Sư được làm quan trấn ở Hoa Ðình và có dịp tiếp xúc với Thiền sư Thuý Nham Vĩnh Minh. Sư lễ Thuý Nham làm thầy, làm việc hằng ngày phục vụ chúng mà quên cả chức vụ quan tước của mình. Cơ duyên xuất gia của Sư cũng rất thú vị và thường được nhắc đến. Vì thương dân nên Sư trộm lấy tiền của vua mà phân phát cho người nghèo. Một vị quan khác biết được bèn tâu lại với vua. Nghe chuyện này vua rất ngạc nhiên vì ông cứ cho rằng Sư là người thuần lương, thành thật. Ðể răn chúng dân, vua ra lệnh xử trảm nhưng lại căn dặn vị quan là nếu Sư nhận lệnh mà an vui trầm tĩnh thì tha tội và đến trình vua. Quả thật như nhà vua tiên đoán, Sư không tỏ vẻ sợ hãi khi nghe tin này. Ðược vua hỏi vì sao, Sư trả lời: »Thần muốn từ quan, cống hiến cuộc đời cho tất cả chúng sinh, muốn xuất gia tu học Phật pháp với trọn tấm lòng.« Nghe như vậy, Sư được vua cho phép từ quan chức để xuất gia.|Lên núi Thiên Thai, Sư yết kiến Quốc sư Ðức Thiều và được thầm trao huyền chỉ. Quốc sư bảo: »Ngươi cùng Nguyên Soái có duyên, sau này sẽ làm hưng thịnh Phật pháp.«|Ban đầu Sư đến núi Tuyết Ðậu, Minh Châu hoằng hoá, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Long (950), Trung Hiến Vương thỉnh Sư trụ trì ở núi Linh Ẩn. Năm sau lại thỉnh Sư về trụ trì đại đạo trường ở Vĩnh Minh. Nơi đây, học chúng tấp nập có đến hai ngàn người.|Có vị tăng ra hỏi: »Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh?« Sư đáp: »Lại thêm hương đi.« Tăng thưa: »Tạ thầy chỉ dạy.« Sư bảo: »Hãy mừng chớ giao thiệp.«|Sư làm bài kệ:|欲識永明旨。門前一湖水|日照光明生。風來波浪起|Dục thức Vĩnh Minh chỉ|Môn tiền nhất hồ thuỷ|Nhật chiếu quang minh sinh|Phong lai ba lãng khởi.|*Biết diệu chỉ Vĩnh Minh|Trước cửa nước một hồ|Trời soi ánh sáng dậy|Gió sang sóng mòi sinh.|Tăng hỏi: »Ðâu chẳng phải lìa thức tính riêng có chân tâm ư? Trường Sa (Cảnh Sầm) có kệ: ›Học đạo mà không hiểu lí chân, bởi tại lâu rồi nhận thức thần, gốc nguồn sinh tử vô thuỷ kiếp, người ngu lại gọi là chủ nhân.‹«|Sư đáp: »Như Lai Thế Tôn trên hội Thủ-lăng-nghiêm vì ngài A-nan-đà giản biệt rất rõ mà ngươi vẫn cố chẳng tin. Ngài A-nan lấy cái suy xét theo đuổi làm tâm, bị Phật quở đó. Cái suy xét theo đuổi ấy là ›Thức‹ vậy. Nếu lấy cái biết pháp, theo tướng là Phiền não thì gọi thức, chẳng gọi tâm. Ý là nhớ, nhớ tưởng cảnh trước khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì về việc của tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng phải cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa nay chẳng sinh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tâm mình như thế, đối chư Phật cũng vậy. Cho nên Duy-ma-cật nói ›Trực tâm là đạo trường‹ vì không có hư giả vậy.«|Niên hiệu Khai Bảo năm thứ tám (975), tháng chạp, Sư có chút bệnh. Buổi sáng ngày 26, Sư thắp hương từ biệt chúng rồi ngồi kết già thị tịch, thọ 72 tuổi, 42 tuổi hạ.
vĩnh minh diên thọ
Yang ming Yen shou (C), Yōmyō Enju (J), Yung-ming Yen-shou (C), Yomyo Enju (J), Yomeiji (J)(904-975) Đệ tử của Thiên Thai Đức Thiều Tên một vị sư..
vĩnh minh diên thọ thiền sư
Zen master Yong-Ming-Yan-Shou—Thiền sư Vĩnh Minh, một cao Tăng đầu đời nhà Tống. Ngài sanh năm 904 tại Dư Hàng (nay thuộc tỉnh Triết Giang), là đệ tử của Thiền sư Thiên Thai Đức Thiều. Ngài chỉ sống nhiều hơn Thầy mình có ba năm. Ngài là một trong những đại sư cuối cùng của phái Thiền Pháp Nhãn. Ngài là tác giả bộ sách Thiền Tông Canh Lục, gồm một trăm quyển—Zen master Yong-Ming-Yan-Shao, one of the most famous monks in early Sung Dynasty. He was born in 904 in Yu-Hang (now located near Hang-Chou in Zhe-Jiang Province), was a disciple of Zen Master T'ian-T'ai-Te-Shao. He survived his master only by three years, was one of the last important masters of the Fa-Yan school of Ch'an. He was the author of a book called Record of Truth-Mirror in one hundred volumes. • Tình cờ sư nghe tiếng bó củi rơi xuống đất mà tỏ ngộ và có bài kệ như sau—His realization took place when he heard a bundle of fuel dropping on the ground: Có gì rơi xuống chỉ lâng lâng Khắp khắp hai bên chẳng mảy trần Sông núi cỏ cây toàn vũ trụ Đâu là chẳng hiện Pháp Vương thân Something dropped! It is no other thing; Right and left, there is nothing earthy: Rivers and mountains and the great earth, In them all revealed is the Body of the Dharma-raja (Dharma-king). • Một hôm sư thượng đường dạy chúng: “Trong núi Tuyết Đậu mây vươn lên ngàn tầm không dừng mảy thóc, dựa đảnh muôn nhẫn không có chỗ để chơn. Tất cả các ngươi nhằm chỗ nào tiến bộ?” Có vị Tăng hỏi: “Một lối tắt của Tuyết Đậu làm sao dẫm đi?” Sư đáp: “Bước bước hoa lạnh kết, lời lời suốt đáy băng.”—One day Zen master Yong-Ming-Yan-Shou addressed the monks, saying: “This place, Xue-T'ou, has erupted eight thousand feet into the air and the earth has turned into slippery grain, stacked in a freakish 80,000-foot peak. You have absolutely nothing upon which to stand. In what direction will you step forward?” • Có vị Tăng hỏi: “Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh?” Sư đáp: “Lại thêm hương đi.” Vị Tăng thưa: “Tạ thầy chỉ dạy.” Sư nói: “Hãy mừng chớ giao thiệp.” Vị Tăng đảnh lễ. Sư nói: “Hãy lắng nghe bài kệ nầy.” “Dục thức Vĩnh Minh chỉ Môn tiền nhất hồ thủy Nhật chiếu quang minh sanh Phong lai ba lãng khởi.” (Biết diệu chỉ Vĩnh Minh Trước cửa nước một hồ Trời soi ánh sáng dậy Gió sang sóng mòi sanh). A monk asked: “What is Yong-Ming's wondrous mystery?” Yan-Shou said: “Add more incense.” The monk said: “Thank you, master, for your instruction.” Yan-Shou said: “So you've satisfied and don't want to delve deeper?” The monk bowed. Yan-Shou said: “Listen to this verse” “If you desire to know Yong-Ming's mystery, Before the gate is the lake's surface. The sun illuminates all life. The wind arises and waves come up.” • Vào tháng mười hai năm 975, sư nhuốm bệnh, hai ngày sau sư nói lời giã biệt cùng Tăng chúng, rồi ngồi kiết già thị tịch. Tháp của sư được đặt trên núi Đại Bi—During the twelfth month of 975, Yong-Ming became ill. Two days later he bade the monks farewell. Sitting cross-legged in an upright position, he passed away. His stupa was placed on “Great Compassion” Mountain.
Vĩnh Minh Trí Giác Thiền sư duy tâm quyết
永明智覺禪師唯心訣; C: yŏngmíng zhìjué chánshī wéixīn jué; J: youmyō chigaku zenshi yuishin ketsu; |1 quyển; của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽). Thường gọi tắt là Duy tâm quyết (唯心訣)
Vĩnh Minh Đạo Tiềm
(永明道潛, Yōmei Dōsen, ?-961): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, sống ở Vĩnh Minh Tự (永明寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), xuất thân Phủ Hà Trung (河中府, Tỉnh Sơn Tây), họ Võ (武). Ông xuất gia lúc còn nhỏ, đến yết kiến Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), trãi qua nhiều năm tham cứu và cuối cùng được khai ngộ và ấn khả. Sau đó, ông đi tham vấn khắp chốn tùng lâm, và dừng chân nơi một ngôi chùa cổ ở Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang) đọc kinh tạng. Khi ấy, vâng mệnh của Trung Ý Vương (忠懿王) họ Tiền, ông vào phủ nội truyền Bồ Tát giới cho nhà vua, và được ban cho hiệu là Từ Hóa Định Huệ Thiền Sư (慈化定慧禪師). Nhà vua còn lập nên Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự (慧日永明寺, tức Tịnh Từ Tự [淨慈寺]) và thỉnh ông đến trú trì chùa này. Tăng chúng vân tập theo ông có đến 5.000 người. Vào năm thứ 2 niên hiệu Kiến Long (建隆), ông thị tịch.
vĩnh mệnh
To live long.
Vĩnh Nghiêm
(永嚴, Yōgon, 1075-1151): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Tổ của Dòng Bảo Thọ Viện (保壽院流), húy là Vĩnh Nghiêm (永嚴), thông xưng là Hạ Dã Pháp Sư (下野法師), tự là Bình Đẳng Phòng (平等房), con của vị Trưởng Quan Kami vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke) là Bình Sư Quý (平師季). Ông theo xuất gia với Khoan Trợ (寬助) của Thành Tựu Viện (成就院) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), rồi đến năm 1108 thì nhậm chức Truyền Pháp A Xà Lê (傳法阿闍梨). Năm 1113, ông đến trú tại Đông Tự (東寺, Tō-ji), chuyên hành lễ Quán Đảnh; và vào năm 1138 thì làm Quyền Thiếu Tăng Đô (權少僧都). Sau đó, ông sáng lập Bình Đẳng Viện (平等院) trên Cao Dã Sơn. Vào năm 1145, ông làm Tự Trưởng của Đông Tự, đến năm 1150 thì làm chức Pháp Ấn (法印), rồi khai sáng Bảo Thọ Viện (保壽院) ở Nhân Hòa Tự và trở thành Tổ của Dòng Bảo Thọ Viện. Trong khoảng niên hiệu Bảo Diên (, 1135-1141), vâng mệnh của Điểu Vũ Thượng Hoàng (鳥羽上皇), ông soạn bộ Đồ Tượng Sao (圖像抄, 10 quyển). Đệ tử phú pháp của ông có Giác Thành (覺成), Thiền Thọ (禪壽), Trường Giác (長覺), Giác Hiểu (覺曉), v.v. Trước tác của ông có Yếu Tôn Pháp (要尊法) 1 quyển, Bình Đẳng Sao (平等抄) 2 quyển, v.v.
vĩnh nghiêm
Tên một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được kiến lập năm 1964. Sân thượng chùa dài 10 mét, bên trái có tháp Quan Âm bảy tầng, bên phải có tháp chuông xây cao trên sân thượng. Quả đại hồng chung do Giáo Hội Phật Giáo Nhật Bổn hiến cúng. Bái điện là một tòa nguy nga, dài 35 mét, rộng 22 mét, cao 15 mét. Những công trình chạm khắc gỗ ở chùa Vĩnh Nghiêm bao gồm bao lam tứ linh, Long, Lân, Quy, Phụng, bao lam cửu long, tượng các vị La Hán, đặc biệt là những bức phù điêu trên bàn hương án, chạm trổ các ngôi chùa danh tiếng trong nước và các nước Á Châu. Điện thờ Phật được trang trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ Đức Phật Thích Ca, hai bên thờ hai vị Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù. Trong Chánh điện, có sáu tượng La Hán, gồm các vị: Khuyến Học La Hán, Thuyết Pháp Văn Pháp La Hán, Đạo Sơn Địa Ngục Tiếp Hóa La Hán, Cúng Dường Bố Thí La Hán 1, Cúng Dường Bố Thí La Hán 2, Đại Hàn Địa Ngục Tiếp Hóa La Hán. Mỗi tượng ngang 1,10 mét, cao 1,90 mét; đế ngang 1,43 mét, cao 47 phân. Hai bên tượng có quỷ đội đèn cúng Phật. Bên trái sân thượng là tháp thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, trên một diện tích 200 mét vuông. Tháp bảy tầng, cao 35 thước. Tháp hình vuông, mỗi cạnh của tầng chót là 7 mét. Hai bên cửa ra vào có hai pho tượng Kim Cang đắp nổi. Trên tầng thứ bảy của tháp có đắp nổi 25 tượng Thất Phật và chư Tổ, mỗi tượng có khung vuông, mỗi cạnh là 1,05 mét—Name of a famous pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1964 and completed in 1971. The upper floor court is 10 meters long. On the left of the pagoda stands the stupa of Avalokitesvara Bodhisattva with seven storeys. On the right, there is a bell tower built emerging from the court. The great bell was donated by the Japanese Buddhist Sangha. The Holy Shrine is a magnificient building, 22 meters wide, 35 meters long, and 15 meters high. The wooden carvings conserved at Vĩnh Nghiêm Pagoda include carved drafts of the four sacred animals, the dragon, the unicorn, the tortoise, and the phoenix, those of nine dragons, the statues of the Eighteen Arahats, etc. Especially noticeable are the bas-reliefs on the altars illustrating famous pagodas in home and Asian countries. The Buddha Shrine is decorated solemnly. The statue of Sakyamuni Buddha is worshipped between those of Samantabhadra Bodhisattva and Manjusri Bodhisattva. In the Main Hall, there are six sets of Arahats: the Arahats admonishing to study Dharma, preaching and listening to Dharma, saving the beings in Mount Sword Hell, giving alms, saving beings in extremely cold hell. Each statue is 1.10 meters long, 1.90 meters high. The base is 1.43 meters and 0.47 meter high. On both sides of the statues are two devils with lamps on their heads for worshipping the Buddha. On the left side of the upper court stands the statue of Avalokitesvara Stupa in an area of 200 square meters. It is a seven-storey stupa, 35 meters high. It is shaped in square, each side of the first storey is 7 meters long. On both sides of the door stand two statues of bas-relief-carved Vajradeva. On the seventh storey of the stupa, there are bas-reliefs of twenty-five Holy statues, i.e. seven Buddhas and Patriarchs. Each of the statue is bounded in a square frame, each side is 1.05 meters wide.
vĩnh nguyên tự
Eigen-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh phúc
Eternal happiness
vĩnh phúc am
Eifuku-an (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh phúc tự
Eifuku-ji (J)Tên một ngôi chùa.
Vĩnh Quang Tự
(永光寺, Yōkō-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông, hiệu núi là Động Cốc Sơn (洞谷山); hiện tọa lạc tại số 11 Sakai-chō (酒井町), Hakui-shi (羽咋市), Ishikawa-ken (石川縣). Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai. Vào khoảng năm 1313 (Chánh Hòa [正和] 2), Ni Tổ Nhẫn (祖忍) phát tâm xây dựng chùa và cung thỉnh Thiền Sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) làm Tổ khai sơn. Kiến trúc già lam được chỉnh bị vào năm 1323 (Nguyên Hanh [元亨] 3). Đến năm 1339 (Lịch Ứng [曆應] 2), thể theo sự phát nguyện của hai Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji) và Túc Lợi Trực Nghĩa (足利直義, Ashikaga Tadayoshi), ngôi Tháp Lợi Sanh ở tiểu quốc Năng Đăng (能登, Noto) được kiến lập tại chùa này. Sau vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂, Ōnin-no-ran), thể theo sắc nguyện của Hậu Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (後土御門天皇, Gotsuchimikado Tennō), chùa được tái kiến lại; nhưng trong vụ binh loạn vào năm 1579 (Thiên Chánh [天正] 7), chùa bị thiêu cháy hầu như toàn bộ, chỉ còn lại kiến trúc Ngũ Lão Phong (五老峰) của Khai Sơn Đường (開山堂) mà thôi. Về sau, Tiền Điền Lợi Gia (前田利家, Maeda Toshiie) cho xây dựng lại như cũ. Quần thể kiến trúc hiện tại được tái kiến dưới thời Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867).
vĩnh quyết
To separate forever.
Vĩnh Quán
(永觀, Eikan hay Yōkan, 1033-1111): vị Tăng kiêm học của Tam Luận Tông và Tịnh Độ Giáo, cha là Tiến Sĩ Văn Chương Nguyên Quốc Kinh (源國經). Năm lên 11 tuổi, ông theo hầu Thâm Quán (深觀) ở Thiền Lâm Tự (禪林寺), năm sau thì thọ Cụ Túc Giới ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), rồi ông học thêm Tam Luận với Hữu Khánh (有慶) và Hiển Chơn (顯眞), cũng như giáo học các Tông phái khác. Ông đã sớm tu theo hạnh Niệm Phật, đến độ tuổi 30 thì đến ẩn cư ở Quang Minh Sơn (光明山). Vào năm 1072, lúc 40 tuổi, ông trở về sống ở Thiền Lâm Tự. Từ năm 1100 trở đi trong vòng 3 năm trường, ông làm chức Biệt Đương của Đông Đại Tự; ngoài ra thông qua những hoạt động từ thiện giáo hóa chúng sanh, xưng danh niệm Phật, ông đã nỗ lực hết mình để lưu bố Tịnh Độ Giáo. Trước tác chủ yếu của ông là bộ Vãng Sanh Thập Nhân (徃生拾因) 1 quyển, Vãng Sanh Giảng Thức (徃生講式) 1 quyển.
vĩnh sinh
1) Cuộc sống vĩnh viển nơi cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà: Enternal life or perpetual life in the Pure Land of the Amitabha Buddha. 2) Bất Tử: Immortality. 3) Niết Bàn: Nirvana (không sanh không diệt—not being born, not reborn, therefore not dying).
vĩnh tràng
Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc trong xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, Nam Việt Nam. Chùa có từ đầu thế kỷ thứ 19 do ông Bùi Công Đạt xây dựng. Đến năm 1849, Hòa Thượng Huệ Đăng, nguyên ở chùa Giác Lâm Gia Định, xuống trụ trì, đứng ra xây dựng ngôi đại tự với tên Vĩnh Tràng. Đến năm 1907, Hòa Thượng Chánh Hậu đã cho trùng tu và tôn tạo lại. Mặt tiền chánh điện và nhà Tổ được xây dựng lại và trang trí theo kiều mới, vừa theo kiến trúc cả đông lẫn tây. Trong chánh điện, có nhiều pho tượng và rui mè được chạm trổ công phu. Đặc biệt là bộ thập bát La Hán là những tác phẩm chạm khắc trên gỗ độc đáo của các nhà điêu khắc miền Nam vào tiền bán thế kỷ 20. Bộ thập bát La Hán do Hòa Thượng Chánh Hậu người Minh Hương đúc năm 1907. Tượng bằng danh mộc, mỗi tượng cao 8 tấc, bề ngang khoảng 58 phân, được đặt hai bên chánh điện. Mỗi vị tay cầm bửu bối tượng trưng cho các giác quan mà theo đạo Phật gọi là lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)—Name of a famous ancient pagoda located in Mỹ Phong village, Mỹ Tho City, South Vietnam. The pagoda was built by Mr. Bùi Công Đạt in the early nineteenth century. In 1849, it was rebuilt to become a great one with its new name Vĩnh Tràng Tự by Most Venerable Huệ Đăng, Head of the pagoda. In 1907, it was restored and solemnly decorated by Most Venerable Chánh Hậu. The facade of the Main Hall and the Patriarch Hall were also rebuilt and decorated in a new style, that is, the Eastern architecture combined with the Western one. In the Main Hall stand a lot of painstakingly carved statues and drafts. Distinguished from them is a set of Eighteen Arahats which are skillfully engraved wooden masterpieces created by the artists from South Vietnam in the early twentieth century. This set of eighteen Arahats cast in 1907 by Most Venerable Chánh Hậu from Minh Hương, the statues are made of precious wood. Each of which is 0.80 meter high, 0.58 meter wide and placed on both sides of the Main Hall. Each image with its own magic wand is a symbol of the six senses known as the Six Internal Sense Fields in Buddhism (eyes, ears, tongues, nose, body, and mind).
Vĩnh Trạch Tự
(永澤寺, Yōtaku-ji): ngôi tự viện của Tào Động Tông, là ngôi chùa con trực thuộc vào Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji); hiện tọa lạc tại số 210 Eitakuji (永澤寺), Sanda-shi (三田市), Hyōgo-ken (兵庫縣). Vào khoảng thời gian niên hiệu Ứng An (應安, 1370), vâng mệnh của Hậu Viên Dung Thiên Hoàng (後圓融天皇, Goenyū Tennō), vị Trưởng Quan Kami của Ngũ Châu (五州) là Tế Xuyên Lại Chi Khanh (細川賴之卿) tiến hành kiến lập Thất Đường Già Lam và cung thỉnh Thiền Sư Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈) làm Tổ khai sơn chùa. Tượng thờ chính của chùa là Thích Ca Như Lai, Đại Nhật Như Lai và A Di Đà Như Lai.
vĩnh tường tự
Eishō-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vĩnh tồn
To exist forever.
vĩnh viễn
Abhisthiti (S), Long lasting.
; Eternal—Everlasting—Endless—Perpetual.
Vĩnh vô
永無; C: yŏngwú; J: yōmu; |Hoàn toàn không hiện hữu.
Vĩnh đoạn
永斷; C: yŏngduàn; J: yōdan; |Vĩnh viễn cắt đứt, thường nói đến sự cắt đứt phiền não. Theo Du-già sư địa luận, dạng nầy thù thắng hơn Phục đoạn (伏斷), là chỉ chặn đứng phiền não nhất thời.
vũ
1) Mưa: Varsa (skt)—Rain—To rain. 2) Vần vũ—Dull with rain.
vũ an cư
Varsas or Varsavasana (skt)—Mùa mưa hay mùa an cư kiết hạ—The rains, the rainy season, when was the summer retreat—See An Cư Kiết Hạ.
vũ bão
Rain and typhoon.
vũ chúng
Varsya (skt)—Các đệ tử của phái Số Luận—The disciples of Varsya, i.e. Varsaganya, a leader of the Sankhya school.
vũ hoa
Mưa hoa Trời—The rain down celestial flowers.
Vũ Hành
tên người, dịch từ Phạn ngữ là Varṣakra, phiên âm là Bà-lợi-ca hoặc Bà-lợi-sa-ca-la, cũng dịch nghĩa là Vũ Xá, Vũ Thế, Hành Vũ... chính là người trước đây cùng Đề-bà-đạt-đa xúi giục vua làm chuyện ác hại cha. Sau khi vua A-xà-thế lên ngôi, Vũ Hành trở thành đại thần nắm giữ binh quyền, được vua tin cậy.
vũ khất
Cầu mưa—To pray for rain.
vũ nhục
To disgrace—To dishonour.
vũ phu
Strong and brutal man.
vũ thiên
Heavenly rain—Mưa trời.
Vũ Thế
xem Vũ Hành.
vũ trụ
Universe—Cosmos.
vũ trụ luận
Cosmology.
vũ trụ luận của phật giáo
Buddhist cosmology—Vũ Trụ Luận của Phật Giáo không phải chỉ bàn đến sự hiện hữu của vô số hệ thống thế giới tập hợp thành những nhóm mà ta vẫn gọi là các thiên hà, mà nó còn đề cập đến những khái niệm rộng rãi về thời gian của vũ trụ. Những bản kinh Phật cổ xưa nhất nói đến các thành kiếp và hoại kiếp với những khoảng thời gian lớn lao của những thiên hà ấy, chúng dần dần hình thành như thế nào và sau một thời kỳ tương đối ổn định và có đời sống trong các thế giới của chính chúng đã tồn tại rồi tất nhiên phải suy tàn và hủy diệt như thế nào. Tất cả đều là sự vận hành của những quá trình, biến cố nầy dẫn đến biến cố khác một cách hoàn toàn tự nhiên—Buddhist cosmology not only takes into account the existence of innumerable systems of worlds grouped into what we should call galaxies, but has equally vast conceptions of cosmic time. The most ancient Buddhist texts speak of the various phases in the evolution and devolution over enormous time-periods of these galaxies, how they gradually formed and how after a period or relative stability during which life may be found on their worlds, how, inevitably having come into existence, they must in due course decline and go to destruction. All this is the working of processes, one vent leading quite naturally to another.
vũ tế
Varsa-rtu (S)Mùa mưa.
Vũ Xá
xem Vũ Hành.
Vũ Đa Thiên Hoàng
(宇多天皇, Uda Tennō, tại vị 887-897): vị Thiên Hoàng sống vào đầu thời Bình An, hoàng tử thứ 7 của Hiếu Quang Thiên Hoàng (孝光天皇, Kōkō Tennō), tên là Định Tỉnh (定省, Sadami). Ông dùng Quản Nguyên Đạo Chơn (菅原道眞, Sugawara-no-Michizane) để trấn áp dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara) và cách tân nền chính trị. Vào năm 897 (niên hiệu Khoan Bình [寬平] thứ 9), sau khi nhường ngôi vị, ông trở thành Khoan Bình Pháp Hoàng (寬平法皇) và sáng lập Đình Tử Viện (亭子院). Khoan Bình Di Giới (寬平遺誡) là di thư nhà vua để lại cho Hoàng Tử (tức Đề Hồ Thiên Hoàng [醍醐天皇, Daigo Tennō] sau này).
vũ đế
Wou-ti (C)
vũng
Pool—Pond—Lagoon.
vũng liêm
Tên của một ngôi chùa thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy trong quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam. Người ta nói chùa được xây dựng vào năm 1339, đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất trong tỉnh Vĩnh Long—Name of a temple of the Theravada Buddhism in Vũng Liêm district, Vinh Long Province, South Vietnam. The temple also called Sanghamangala. It is said that the temple was built in 1339, one of the oldest temples in Vinh Long Province.
vơ vét
To sweep off.
vơi
Not empty but not full.
vơï
Wife.
vơù
1) To seize—To snatch—To grab. 2) Stocking—Sock.
vươn
To stretch oneself—To stretch one's neck or arms.
vương
Rajā (S), King Dùng làm tiếp vĩ ngữ.(e.g: Thiên vương = Devaraja).
; Ràjà (S). King, prince, royal; to rule.
; Raja (skt)—King—Royal--Prince.
Vương An Thạch
(王安石, 1021-1086): chính trị gia, văn nhân dưới thời Bắc Tống, xuất thân Lâm Xuyên (臨川, Tỉnh Giang Tây), tự là Giới Phủ (介甫), hiệu Bán Sơn (半山). Dưới thời vua Thần Tông, ông được trọng dụng, thi hành chính sách mới do mình đề ra, nên làm quan đến chức Tể Tướng và có ý đồ cải cách chính trị, nhưng bị Phái Bảo Thủ phê phán và phản đối kịch liệt. Ông còn nổi tiếng với tư cách là nhà văn chương và tư tưởng, được liệt vào một trong 8 nhân vật nổi tiếng thời Đường Tống. Trước tác của ông có Lâm Xuyên Tập (臨川集), Chu Quan Tân Nghĩa (周官新義), v.v.
vương bật
Wang-pi (C)(226-249) Một trong những nhà bình giải quan trọng về Đạo Đức Kinh và Kinh Dịch.
vương cổ
Người Đông Đô đời Tống, làm quan tới chức Lễ Bộ Thị Lang vào cuối thế kỷ thứ 11—Wang-Ku, name of a president of the board of Rites during the Sung dynasty, who was also a devout Buddhist, end of eleventh century.
Vương Duy
(王維, 701-761): thi nhân thời nhà Đường, xuất thân Thái Nguyên (太原, Tỉnh Sơn Tây), tự là Ma Cật (摩詰). Ông có làm việc cho vua Huyền Tông, nhưng bị bắt trong vụ loạn An Lộc Sơn (安祿山), rồi sau đó được vua Túc Tông trọng dụng và làm đến chức Thượng Thư Hữu Thừa. Phần lớn thơ của ông thường ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, có phong thái thoát tục và được phê bình là “trong thơ có tranh vẽ”. Bên cạnh đó, ông cũng là nhà danh họa về tranh sơn thủy và được xem như là vị tổ của tranh phương Nam. Trước tác của ông có Vương Hữu Thừa Tập (王右丞集) 6 quyển.
; 王維; C: wángwéi; 701-761 hoặc 699-759, tự Ma-cật, thường được gọi theo chức vụ là Vương Hữu Thừa;|Cư sĩ ngộ đạo kiêm thi hào nổi danh người Trung Quốc đời Ðường. Ông được xếp ngang hàng với ba đại thi hào đời Ðường là Lí Thái Bạch, Ðỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Ông rất đa tài, thơ hay, chữ đẹp, tinh thông hội hoạ và âm nhạc. Ðời sau tôn ông là »Khai sơn tổ sư« của lối vẽ »Thuỷ mặc Nam phương.«|Ông người huyện Kì (nay thuộc phủ Thái Nguyên ở tỉnh Sơn Tây). Cha mất khi ông còn nhỏ. Mẹ ông rất sùng bái đạo Phật và sự việc này có ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của ông sau này.|Năm lên 21, ông thi đỗ tiến sĩ, được phong quan đến chức Thượng thư hữu thừa. Vợ mất lúc ông ba mươi tuổi nhưng ông không tục huyền, sống yên tĩnh với một chức quan văn nhàn hạ, »suốt ngày gãy đàn thổi sáo, làm phú vịnh thơ,« và »mỗi lần bãi triều thì về đốt hương ngồi một mình, tụng kinh niệm Phật.«|Ông ăn chay trường, thường kết bạn, đàm luận với các nhà sư và cung cấp thực phẩm cho hơn mười vị tăng. Người đời rất tôn trọng, gọi ông là »Thi Phật« (詩佛). Ông rất đa tài: tinh thông thư pháp, hội hoạ, âm nhạc và thư ca. Những khía cạnh nghệ thuật nói trên đều được phối hợp chặt chẽ, cân đối trong những tác phẩm của ông. Ðại văn hào Tô Ðông Pha đời Tống ca ngợi các tác phẩm của ông là »Thưởng thức thơ của Ma-cật, trong thơ thấy có hội hoạ; ngắm những bức hoạ của Ma-cật lại thấy trong đó có thơ« (vi Ma-cật chi thi, thi trung hữu hoạ, quan Ma-cật chi hoạ, hoạ trung hữu thi).|Trong các bài thơ, ông thường mô tả cuộc sống nông thôn yên tĩnh, trong sáng, con người nhàn nhã phù hợp với tư tưởng thấm nhuần triết lí »bất sinh, bất tử« của đạo Phật và cách nhìn thế gian theo quan niệm »Vô vi« của Lão Tử và Trang Tử (theo Lê Nguyễn Lưu).|Sau đây là hai bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng đạo Phật của ông:|Quá Hương Tích tự 過香積寺 – Ghé chùa Hương Tích (Trần Trọng Kim dịch):|不知香積寺。數里入雲峰|古木無人徑。深山何處鐘|泉聲咽危石。日色冷青松|薄暮空譚曲。安禪制毒龍|Bất tri Hương Tích tự|Sổ lí nhập vân phong|Cổ mộc vô nhân kính|Thâm sơn hà xứ chung?|Tuyền thanh yết nguy thạch|Nhật sắc lãnh thanh tùng|Bạc mộ không đàm khúc|An thiền chế độc long.|*Chẳng hay Hương Tích chùa đâu|Trèo lên mấy dặm núi cao mây hồng|Một đường cây cổ vắng không|Chuông đầu nghe vẳng chỗ cùng non xa|Tiếng khe bên đá tuôn ra|Vẻ trời lạnh lẽo bơ phờ cây thông|Chiều hôm đầm vắng uốn vòng|Phép thiền mầu nhiệm, độc long nép mình.|Thu dạ độc toạ 秋夜獨坐 – Ðêm thu ngồi một mình (Lê Nguyễn Lưu dịch):|獨坐悲雙鬢。空堂欲二更|雨中山果落。燈下草蟲鳴|白髮終難變。黃金不可成|欲知除老病。惟有學無生|Ðộc toạ bi song mấn|Không đường dục nhị canh|Vũ trung sơn quả lạc|Ðăng hạ thảo trùng minh|Bạch phát chung nan biên|Hoàng kim bất khả thành|Dục tri trừ lão bệnh|Duy hữu học vô sinh.|*Ngồi chạnh thương màu tóc|Canh hai, nhà lặng yên|Trong mưa rừng trái rụng|Dưới nến cỏ giun rền|Tóc trắng thay nào được?|Thuốc vàng luyện khó nên|Bệnh, già mong dứt hết|Ðạo Phật học cho chuyên.
Vương Hội Đồ
(王會圖): tác phẩm do Diêm Lập Bổn (閻立本) soạn vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀) nhà Đường (唐太宗三年). Như trong Cựu Đường Thư (舊唐書) quyển 197 có đoạn rằng: “Trung Thư Thị Lang Nhan Sư Cổ tấu ngôn: 'Tích Chu Võ Vương thời, thiên hạ thái bình, viễn quốc quy khoản; Chu Sử nãi thư kỳ sự vi Vương Hội Thiên; kim vạn quốc lai triều, chí ư thử bối chương phục, thật khả đồ tả; kim thỉnh soạn vi Vương Hội Đồ (中書侍郎顏師古奏言、昔周武王時、天下太平、遠國歸款、周史乃書其事爲王會篇、今萬國來朝、至於此輩章服、實可圖寫、今請撰爲王會圖, xưa kia thời Chu Võ Vương, thiên hạ thái bình, các nước xa xôi cũng quy phục; sử nhà Chu mới ghi chép việc này thành Vương Hội Thiên; nay vạn quốc đều đến triều cống, cho đến lũ này cũng phải thần phục, thật nên vẽ chép nên; nay xin thỉnh soạn thành Vương Hội Đồ).”
vương nhựt
See Vương Nhựt Hưu.
vương nhựt hưu
1) Người Long Thư còn gọi là Hư Không cư sĩ, người đời nhà Tấn, đậu Tiến Sĩ nhưng không ra làm quan, chỉ lo chuyên chú tu Tịnh Độ và trở thành tín đồ mộ đạo và học giả, chuyên tu tịnh nghiệp Tịnh Độ và phép Quán Âm. Ông viết quyển “Long Thư Tịnh Độ” khuyên dạy người về phép tu Niệm Phật. Đây là một trong những quyển sách quan trọng hàng đầu trong việc hoằng dương Tịnh Độ (Long Thư là tên quê của ông chứ không phải là Pháp Danh hay tên ông)—Wang-Jih-Hsiu, from Lung-Shu, also known as Hsu-Khung, lived during the Chin Dynasty (265-420 A.D.). He obtained his Doctorate Degree but chose not to take office as a mandarin. He became a devout and learned follower of Amitabha and Kuan-Yin. He focused all his time to cultivate Pureland Buddhism. He wrote the book titled “Pureland Dragon Poetry” teaching and advising others the cultivated path of Buddha Recitation. This Buddhist text was one of the most important books in propagating Pureland Buddhism (Lung-Shu is his hometown, not his Buddha name, nor his name). 2) Bát Vương Nhật: Eight royal days—See Bát Vương Nhật.
Vương phi
(王妃): có hai nghĩa. (1) Người phối ngẫu của Hầu Vương, Thái Tử. Như trong Quốc Ngữ (國語), Tấn Ngữ (晉語), có đoạn: “Nhược Địch công tử, ngô thị chi y hề; trấn phủ quốc gia, vi vương phi hề (若狄公子、吾是之依兮、鎭撫國家、爲王妃兮, như Địch công tử, ta nương vị ấy chừ; trấn yên quốc gia, là vương phi chừ).” (2) Người vợ lẽ của vua, vị trí sau Hoàng Hậu. Như trong Kim Quang Minh Kinh (金光明經, Taishō Vol. 16, No. 663) quyển 4, Phẩm Xả Thân (捨身品) thứ 17, có câu: “Vương phi văn dĩ, sanh đại ưu não, thế khấp mãn mục, chí Đại Vương sở (王妃聞已、生大憂惱、涕泣滿目、至大王所, vương phi nghe xong, sanh tâm lo buồn, nước mắt ràn rụa, đến chỗ Đại Vương).” Hay trong Tỳ Kheo Ni Truyện (比丘尼傳, Taishō Vol. 50, No. 2063) quyển 3, Tập Thiện Tự Huệ Tự Ni Truyện (集善寺慧緒尼傳) 12, cũng có câu: “Dự Chương vương phi cập nội quyến thuộc, kính tín thậm thâm tùng thọ Thiền pháp (豫章王妃及內眷屬、敬信甚深從受禪法, vương phi ở Dự Chương vùng với quyến thuộc của bà, kính tin rất sâu, theo thọ Thiền pháp).”
vương pháp
Chánh pháp trị nước mà Đức Phật giảng cho các hàng vua chúa—The royal law, the law by which a king should rule his country.
vương pháp kinh
Phật Vị Thắng Quang Thiên Tử Thuyết Vương Pháp Kinh, được Ngài Nhất Hành biên soạn—A sutra on royal law (by I-Ching).
Vương quan
(王官): có hai nghĩa. (1) Là quan viên của vương triều. Như trong bài thơ Vương Mạng (王命) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Thâm hoài dụ Thục ý, đỗng khốc vọng vương quan (深懷喻蜀意、慟哭望王官, nhớ hoài rõ ý Thục, gào khóc trông vương quan).” Hay trong Cô Trung Tùy Bút (菰中隨筆) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh cũng có câu: “Triều đình thường thu kỳ tuấn vĩ, dĩ bổ vương quan chi khuyết (朝廷常收其俊偉、以補王官之缺, triều đình thường thâu nạp người tuấn kiệt, để bổ sung sự thiếu sót của quan vua).” (2) Là thuộc quan của Phiên Vương Phủ (藩王府). Như trong Cảnh Thế Thông Ngôn (警世通言), phần Triệu Xuân Nhi Trọng Vượng Tào Gia Trang (趙春兒重旺曹家莊), có đoạn: “Nhất niên nhị tải, tựu thăng nhĩ cố vương quan, hữu quan vô chức (一年二載、就陞你做王官、有官無職, một hai năm, lại thăng ngươi lên làm chức quan, hữu danh mà vô thực).”
Vương Sĩ Trinh
(王士禎, Ō Shitei, 1634-1711): thi nhân dưới thời nhà Thanh, xuất thân Tỉnh Sơn Đông (山東省), tên thật là Sĩ Chân (士禛), nhưng để tránh tên húy của vua Ung Chính (雍正), ông đổi tên thành Sĩ Trinh; tự là Di Thượng (貽上), hiệu Ngư Dương Sơn Nhân (漁洋山人), ông cùng với Chu Di Tôn (朱彝尊) được gọi là Chu Vương (朱王). Ngoài khả năng làm thơ ra, ông còn có biệt tài về cổ văn, rất xem trọng thần vận trong thi luận. Trước tác của ông có khá nhiều như Cư Dị Lục (居易錄), Hương Tổ Bút Ký (香祖筆記), Ngư Dương Thi Tập (漁洋詩集), v.v.
vương sơn trụ bộ
Rawagiriya (S)Một trong 4 bộ phái của án đạt la phái.
vương tam muội
The king of samàdhis, the highest degree of samàdhi, the Thủ lăng nghiêm định.
; Tam Muội Vương—Tam Muội Vương Tam Muội—Thủ Lăng nghiêm Định—Loại Tam Muội thắng diệu nhứt trong tất cả các thứ tam muội, cũng là tên khác của Thủ Lăng Nghiêm định—The king of samadhi, the highest degree of samadhi, obtained by invoking Buddha or sitting in meditation or trance.
vương thiếu dương
Wang Hsiao-yang (C)Một đệ tử đạo gia vào thế kỷ 12, phái Truyền Chân đạo.
vương thiện
Bữa tiệc hoàng gia được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa, những người đói chẳng dám ăn cho đến khi nào đích thân nhà vua đến kêu họ ăn, cũng như Phật quả và lời kêu gọi của Phật—A royal feast referred to in the Lotus Sutra, where the hungry people feared to accept the King's feast till he came himself and called them, such as the feast of Buddhahood and the Buddha's call.
Vương Thế Trinh
(王世楨, 1634-1711): quan đại thần dưới triều Khang Hy (康熙), tự là Di Thượng (貽上), hiệu Nguyễn Đình (阮亭), biệt hiệu Ngư Dương Sơn Nhân (漁洋山人); xuất thân vùng Tân Thành (新城, nay là Hằng Đài [恆台], Sơn Đông [山東]). Vào năm thứ 15 (1658) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đỗ Tiến Sĩ, làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư (刑部尚書). Ông sở trường về thi từ, cùng với Chu Di Tôn (朱彝尊) xưng là Bắc Vương Nam Chu (北王南朱).
vương tiên
Người đã rút lui khỏi thế giới bên ngoài, và đạt được ngũ thông—A royal rsi, a sovereign who retires from the world and attains to the five transcendent powers.
vương triều bình an
Heian period.
vương triều tư na
Sena (S)Tồn tại trong khoảng thế kỳ X, XI, XII ở Ấn độ. Cuối thế kỷ XII vương triều này bị tín đồ Hồi giáo tiêu diệt đưa đến sự tiêu diệt của Đát Đặc La giáo ở Ấn độ (Tantric Buddhism).
vương trùnng dương
Wang Ch'un-yang (C)Người sáng lập phái Truyền chân đạo.
Vương Tùy
(王隨, Ōzui, ?-1035?): người vùng Hà Dương (河陽, Tỉnh Hà Nam), tự Tử Chánh (子正). Dưới thời vua Chơn Tông (眞宗), ông làm quan ở Hàng Châu (杭州), thường đến Hưng Giáo Tự (興敎寺) tham yết Thiền Sư Tiểu Thọ (小壽), có chỗ khế hợp về Thiền cơ. Ông đã từng viết lời tựa cho bản chú sớ Kinh Thủ Lăng Nghiêm của Thiền Sư Tử Tuyền (子璿), và biên tập bộ Truyền Đăng Ngọc Anh Tập (傳燈玉英集) gồm 15 quyển. Khi lâm chung, ông viết kệ để lại rồi thoát hóa.
Vương xá
王舍; S: rājagṛha; P: rājagaha;|Thành phố cách Patna ngày nay khoảng 70 km về phía Ðông Nam, nằm cạnh sông Hằng, kinh đô của nước Ma-kiệt-đà (magadha) do vua Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) trị vì trong thời Phật tại thế. Tại Vương xá có 16 Tinh xá dành cho đức Phật giảng pháp và trong đó có Tinh xá Trúc Lâm (s: veṇuvana; p: veḷuvana) do chính Tần-bà-sa-la tặng. Phật Thích-ca từng lưu trú ở Vương xá trong số mùa mưa và nơi đây cũng là hội nghị Kết tập lần thứ nhất được tổ chức sau khi Phật diệt độ.
vương xá
Rajagrha (skt)—Kinh đô của vương quốc Ma Kiệt Đà mà bây giờ là Rajgir thuộc bang Bihar miền Đông Bắc Ấn, một thời là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà hùng mạnh. Người ta kể lại là vua Bình Sa Vương đã di chuyển kinh đô xa về hướng đông vì hỏa tai cũng như các thiên tai khác. Thành Vương Xá được bao bọc chung quanh bởi năm ngọn núi, trong đó núi Linh Thứu là nổi tiếng nhứt. Vương Xá là kinh thành từ thời Vua Bình Sa Vương đến A Dục. Các di tích của thành phố cổ không còn nhiều. Nơi nầy có vẻ như đã chịu nhiều tàn phá của thời gian. Những phế tích của nó vẫn còn rãi rác tại làng Rajgir, khoảng 16 dậm Nam Tây Nam khu thị trấn Bihar. Những phế tích nầy cho thấy rằng đã có nhiều tín đồ của các tôn giáo khác nhau sinh sống tại đây. Các di tích Phật giáo, ngoại trừ rất ít ỏi tượng còn lại rải rác,và không phải không thể thấy rằng các công trình kiến trúc tại đây đã bị cướp phá một phần do bởi sự hận thù tôn giáo. Thậm chí việc xác định hang Sattapanni , nơi tổ chức Nghị Hội Phật giáo đầu tiên, cũng không phải là chắc chắn. Thành Vương Xá có ý nghĩa thiêng liêng đối với Phật tử vì nhiều lý do. Không những Đức Phật đã nhiều lần đến an cư tại thành phố danh tiếng nầy, mà đây còn là nơi mà người anh em họ của Phật là Đề Bà Đạt Đa đã nhiều lần âm mưu ám hại Ngài. Hơn nữa, tại thành phố nầy, trong hang Sattapanni đã diễn ra Nghi Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất của Phật giáo ngay sau khi Đức Phật nhập diệt. Vương Xá còn là một trung tâm hoạt động mạnh mẽ của Kỳ Na Giáo, trong thời xưa cũng như hiện nay, hiện vẫn còn những di tích quan trọng của các điện thờ và công trình điêu khắc Kỳ Na Giáo. Có thể nhận ra một đài kỷ niệm kỳ lạ nơi một điện thờ hình lăng trụ bằng gạch, gần như ở ngay trung tâm thành phố cổ. Ngôi điện nầy có tên là Maniyar Matha, và theo truyền thuyết địa phương, nó được dành để thờ cúng Mani-naga, vị thần bảo hộ của thành Vương Xá—Rajagaha—Capital of ancient kingdom of Magadha which is now Rajgir in the state of Bihar in northeast India, once the capital of the powerful State of Magadha. King Bimbisara is said to have removed his capital here from Kusagrapura a little further eastward, because of fire and other calamities. Rajagrha was surrounded by five hills, of which Grdhrakuta (Vulture Peak) became the most famous. It was the royal city from the time of Bimbisara until the time of Asoka. The remains of the ancient city are very few. The site appears to have suffered much at the hand of time. Its ruins are still extant at the village of Rajgir, some sixteen miles South Southwest of Bihar; they form an object of pilgrimages for the Jains. The ruins indicate that the followers of different religious denominations lived here. The Buddhist remains, except for a few isolated images, it is not impossible that the visible monuments were denuded partly through religious animosities. Even the identification of the Sattapanni cave, the site of the First Council, is not beyond doubt. Rajagrha was sacred to the Buddhists for more than one reason. Not only did the Buddha go into a retreat several times in this famous city, but it was also the place where Devadatta, his wicked cousin, made several attempts on his life. Moreover, in this city, in the Sattapanni cave of the Vaibhara hill, was held the first Buddhist Council just after the parinirvana. Rajagrha was also an active center of Jainism in ancient times, as it is now, and interesting remains of Jaina shrines and sculptures are still extant. A singular monument may be recognized in the cylindrical brick shrine, almost at the center of the old city. It is known as Maniyar Matha, and was dedicated, according to local tradition, to the worship of Mani-naga, the guardian deity of the city of Rajagrha. ** For more information, please see Rajagriha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Vương Xá Thành
(s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城): âm dịch là La Duyệt Thành (羅閲城), La Việt Kỳ Thành (羅越祇城), thủ đô của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), ở miền trung Ấn Độ. Tại địa phương Bihar, vùng Rajgir thuộc phía Nam thành phố Patna của trung lưu sông Hằng có di tích cũ của Thành Vương Xá. Đây là đô thành rất nổi tiếng với các nhân vật như Vua Tần Bà Sa La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅), A Xà Thế (s: Ajātaśatru, p: Ajātasattu, 阿闍世), phu nhân Vi Đề Hy (s: Vaidehī, p: Vedehī, 韋提希). Chính cuộc kết tập kinh điển lần đầu tiên đã được tiến hành tại đây.
vương xá thành
Rājagaha (P), Rajagṛha (S),, Rajagriha (S)Thủ đô xứ Ma kiệt đà, trung tâm văn hóa thời đức Phật.Bồ đề đạo tràng đầu tiên của Phật giáo dotrưởng lão Kalanda và vua Bình sa vương xứ Ma kiệt đà xây dựng tại thành Vương xá. Thành này cũng là nơi 500 vị A la hán tổ chức kiết tập kinh lần thứ nhất.
; Ràjagrha (S). King Bìmbìsara is said to have removed his capital here from Kusàgrapura. Actual Ràjgir.
vướng chân
To entangle one's feet in (a rope).
vướng mắc
Greed—Anger—Afflictions—Love-attachment—Delusion—Stupidity—Arrogance—Doubt—Improper views.
vướng mắt
To block (obstruct) the view.
vướng nợ
In debt.
vướng víu vào
To be attached to.
vườn
Garden.
vườn bố tát
Uposatharama (S).
vườn Hoan Hỷ
cũng gọi là vườn Hoan Lạc, vườn Hỷ Lâm, là một trong bốn khu vườn của cõi trời Đao-lợi. Vườn này nằm ở phía bắc, bên ngoài thành Hỷ Kiến. Khi chư thiên vào vườn thì tự nhiên sanh tâm hoan hỷ, nên gọi tên là vườn Hoan Hỷ.
vườn Hoan Lạc
xem vườn Hoan Hỷ.
vườn Hỷ Lâm
xem vườn Hoan Hỷ.
vườn lâm tì ni
Lumbini Park.
vườn lộc dã
Xem Mạn Trực lâm.
vườn lộc uyển
The Deer Park—See Lộc Uyển.
vườn nai
Mrgadàva, Rsivadana, Sàranganàtha (S). Deer Park. Also Lộc uyển, Lộc dã viên.
vườn trúc ca lan đà
Xem Thước viên.
vưởng
Vất vưởng—Unstable—Uncertain.
vượng
Thạnh vượng—To prosper.
vượng vận
Good luck.
vượt
To surpass—To exceed—To go beyond.
vượt qua
To overcome—To outdo.
vượt qua ba cõi để lên ngôi bất thối chuyển
To transcend the triple realm and attain the stage of non-regression.
vượt qua luyến ái
Muốn qua luyến ái chúng ta nên tu tập thiền định và quán tưởng rằng một người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù ngày mai, do đó không có gì cho chúng ta luyến ái—To overcome attachment—We should meditate or contemplate that a friend today may become an enemy tomorrow and therefore, there is nothing for us to attach to.
vượt qua sự sân hận
Theo thuyết nhà Phật, muốn vượt qua sân hận chúng ta phải quán rằng một con người hay con thú làm cho mình giận hôm nay có thể đã từng là bạn hay là người thân, hay có thể là cha là mẹ của ta trong một kiếp nào đó trong quá khứ—To overcome anger—According to the Buddhist theory, in order to overcome anger, one must contemplate that a person or an animal which causes us to be angry today may have been our friend, relative or even our father or mother in a certain previous life.
vượt quá
To exceed—To go beyond one's goal or right.
vượt sông
To cross a river.
vượt thoát tam giới
See Find liberation from the three worlds.
vượt trội
To surpass.
vạ
1) Misfortune. 2) Phạt vạ—To impose a fine on someone.
vạ lây
To bear the brunt of another's wrong deed.
vạ miệng
Misfortune caused by the mouth (a slip of the tongue).
vạc
Chảo nấu cơm loại lớn—A big rice pan—Caldron.
vạc dầu
Oil pans—Địa ngục nơi tội nhân bị bỏ vào vạc dầu mà nấu. Đây là nơi trị tội những kẻ trên dương thế cố ý chiên, xào, nấu nướng các loài vật vô tội để thỏa mãn lòng tham dục—The hell where offenders are cooked until their bodies are completely mangled. This hell is reserved for those who intentionally cooked, fried, barbecued innocent creatures to satisfy their desires while they were humans.
vại
A large earthernware jar.
vạn
Xem kiết tường.
; Myriad, 10,000; all.
; Sauvastika or srivatsa (skt). 1) Dấu hiệu hình chữ “Vạn” trước giữa ngực của Đức Phật, có nghĩa là sự tập hợp vạn đức tốt lành: The auspicious sign in the middle of the Buddha's chest. The srivatsa-laksana, the mark on the breast of Visnu, a particular curl of hair on the breast; the lightning; a sun symbol; a sign of all power over evil and all favour to the good; a sign shown on the Buddha's breast. 2) Dấu kiết tường thứ tư dưới lòng bàn chân Phật—The fourth of the auspicious signs in the footprint of Buddha, and is a mystic diagram of great antiquity, one of the marks on a Buddha's feet. 3) Mười ngàn: Ten thousand.
vạn an
Good health—Peace.
vạn bát thiên thế giới
The 18,000 easterly worlds lighted by the ray from Buddha's brow.
; Theo Kinh Pháp Hoa thì đây là 18.000 thế giới Đông phương được chiếu khắp bời ánh hào quang phóng ra từ sợi lông trắng giữa hai lông mày Đức Phật, khi Ngài giảng Kinh Pháp Hoa—According to the Lotus Sutram this is the 18,000 easterly worlds lighted by the ray from the Buddha's brows
vạn bảo
Ten thousand precious things.
vạn bất năng
Impossible to do.
vạn bất đắc dĩ
Very reluctantly—Quite unwillingly.
vạn cảnh
All realms, all regions.
; Tất cả mọi cảnh giới—All realms, all regions.
vạn cổ
Ten thousand generations—Thousand-ages old.
vạn dân đức dụng
Banmin tokuyō (J)Tên một vị sư.
vạn hành
1) Tất cả giới luật: All disciplines. 2) Tất cả mọi hành động: All actions. 3) Tất cả mọi phương thức cứu độ: All modes of salvation. 4) Tất cả những phương thứ thực hành: All procedures.
Vạn Hạnh
萬行; ?-1018|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 12 dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp, thuở nhỏ đã là người thông minh, học Tam giáo (Nho, Lão, Thích) và nghiên cứu Bách luận. Năm 21 tuổi, Sư theo Thiền sư Ðịnh Huệ xuất gia và thụ học với Thiền Ông Ðạo Giả ở chùa Lục Tổ làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Sau khi Thiền Ông tịch, Sư kế tiếp trụ trì chùa này, chuyên tập »Tổng trì Tam-ma-địa« và cũng vì thế khuynh hướng Mật giáo của Sư rất rõ. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính Sư.|Năm 980 tướng Tống là Hầu Nhân Bảo đem quân đánh nước ta, Sư tiên đoán vài ngày sau giặc sẽ rút, quả nhiên đúng như thế. Ðến lúc Lê Ngọa Triều lên ngôi, nhân dân oán ghét sự tàn bạo của vua. Lúc đó Lí Công Uẩn làm chức Thân vệ, có theo học thiền với Sư. Nhân cơ hội đó Ðào Cam Mộc bàn mưu tính kế với Sư đưa Lí Công Uẩn lên ngôi, xưng là Lí Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên. Ðể chiêu an bá tính, Sư ra yết thị:|蒺藜沉北水。李子樹南天|四方戈干靜。八表賀平安|Tật Lê trầm Bắc thuỷ, Lí tử thụ Nam thiên|Tứ phương qua can tịnh, Bát biểu hạ bình an.|*Tật Lê chìm biển bắc,|Cây Lí che trời nam.|Bốn phương binh đao dứt,|Tám hướng thảy bình an.|Năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), Sư không bệnh, gọi chúng nói kệ:|身如電影有還無。萬木春禜秋又枯|任運盛衰無怖畏。盛衰如露草頭鋪|Thân như điện ảnh hữu hoàn vô|Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô|Nhậm vận thạnh suy vô bố uý|Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.|*Thân như bóng chớp có rồi không,|Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng,|Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi,|Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.|Sau đó Sư bảo: »Các ngươi cần trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ.« Sau khi Sư tịch, nhà vua và đệ tử làm hoả táng và xây tháp cúng dường.|Về sau vua Lí Nhân Tông có bài truy tán:|萬行融三際,眞符古讖機|鄉關名古法,柱錫鎭王畿|Vạn Hạnh thông ba mé,|Thật hợp lời sấm xưa,|Quê nhà tên Cổ Pháp,|Dựng gậy vững kinh vua.|Hiện chùa Tiêu Sơn tại tỉnh Hà Bắc thờ tượng của Sư.
vạn hạnh
Sabba-kuśala-kamma (S).
; All procedures, all actions, all disciplines, or modes of salvation.
; 1) Ten thousand conducts. 2) Ten thousand chances. 3) Vạn Hạnh Thiền Sư (?-1018): Zen Master Vạn Hạnh—Tên của một Thiền sư Việt Nam, quê ở Cổ Pháp, Bắc Việt Nam. Ngày sanh của Thiền Sư không ai biết. Lúc thiếu thời ông đã tỏ ra thông minh đĩnh ngộ phi thường. Ngài xuất gia năm 21 tuổi và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc của Thiền Sư Thiền Ông. Khi Thiền Ông thị tịch, ngài tiếp tục trụ trì tại chùa Lục Tổ để hoằng dương Phật Pháp. Ngài rất được vua Lê Đại Hành kính trọng và tôn vinh. Ngài thị tịch vào đêm trăng tròn năm 1018. Ngài là tác giả của bài thơ nổi tiếng sau đây—Name of a Vietnamese Zen master from Cổ Pháp, North Vietnam. Zen Master Vạn Hạnh's date of birth was unknown. At the young age, he was extraordinarily intelligent. He left home at the age of 21 and became one of the most outstanding disciples of Zen Master Thiền Ông at Lục Tổ Temple in Thiên Đức. He was always admired and honored by king Lê Đại Hành. He died on the full moon night of 1018—He was also the author of this poem below: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô! Our life is a simple lightning which Comes and goes (appears then disappears). As springtime offers blossoms, Only to fade (wither) in the fall. Earthly flourish and decline, O friends, do not fear at all. They are nothing, but A drop of dew on the grass of morning! 4) Tên của một Thiền Viện tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Thiền viện do Hòa Thượng Thích Minh Châu sáng lập trước năm 1975. Thoạt tiên nó chỉ là một chi nhánh của Viện Đại Học Vạn Hạnh. Cổng Tam Quan của Thiền Viện được xây theo kiến trúc cổ của Kinh Thành Huế. Thiền viện còn được dùng làm Văn Phòng Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt NamVăn Phòng Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, và trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam—Name of a Ch'an Monastery, located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. It was established by Most Venerable Thich Minh Châu before 1975. At first, it was a branch of Vạn Hạnh University. Its three-entrance gate was built following the ancient architectural style of Huế City. The Institute is also used as the office of the Vietnam Buddhist Research Institute, the office of the Vietnam Tripitaka Translating and Publishing Heading Council, and Vietnam School of Higher Buddhist Studies Offices.
vạn hữu
Sarvabhava (skt)—Vạn pháp hay chư pháp—All dharmas—All beings.
vạn hữu thân giáo
Xem phiếm thần giáo.
vạn kiếp
Ten thousand existences.
Vạn linh
(萬靈): (1) Các vị thần. Trong phần Phong Thiền Thư (封禪書) của bộ Sử Ký (史記) có đoạn rằng: “Hoàng Đế tiếp vạn linh Minh Đình (皇帝接萬靈明廷, Hoàng Đế tiếp các vị thần ở Minh Đình).” Trong bài Thứ Vận Trương Xương Ngôn Hỷ Vũ (次韻張昌言喜雨) của thi hào Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống, có câu: “Tinh quán thiên nhân nhất ngôn túc, vân hưng nhạc độc vạn linh xu (精貫天人一言足、雲興岳瀆萬靈趨, thông rõ trời người một lời đủ, mây lên đỉnh núi khiến thần đi)”. Tự Điển Tạp Nghị (祀典雜儀) 4 của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Chiêu vạn linh chi hữu, tích cửu lưu chi phước (召萬靈之佑、錫九流之福, Mời các vị thần giúp đỡ, ban phước cho chín loài).”(2) Các sinh linh. Sách Hạt Quan Tử (鶡冠子) có đoạn rằng: “Duy thánh nhân năng chánh kỳ âm, điều kỳ thanh, cố kỳ đức thượng cập Thái Thanh, trung cập Thái Trữ, hạ cập Vạn Linh (唯聖人能正其音、調其聲、故其德上及太清、中及泰宁、下及萬靈, chỉ có thánh nhân mới có thể sửa đúng âm của mình, điều chỉnh tiếng của mình; cho nên đức của vị ấy trên vang tận Thái Thanh, giữa lan đến Thái Trữ và dưới đến các sinh linh)”. Trong Bão Phác Tử (抱朴子), phần Tiên Dược (仙藥) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có ghi rằng: “Ngao du thượng hạ, sử dịch vạn linh (遨遊上下、使役萬靈, ngao du trên dưới, sai khiến mọi loài)”.
vạn lý
Ten thousand miles.
vạn nan
Very difficult.
vạn nhất
If ever.
vạn niên
Ten thousand years.
vạn niên tự
Mannen-ji (J)Tên một ngôi chùa.
vạn năng
All powerful—Omnipotent—Almighty.
vạn pháp
Xem Nhất thiết pháp.
; All things, everything that has noumenal and or phenomenal existence.
; Tất cả sự lý của vạn hữu (tự thể quy tắc, ngay cả những điều không có đề cũng gọi là pháp)—All (ten thousand) dharmas—All things, noumenal and phenomenal existence.
vạn pháp duy tâm tạo
All dharmas are created only by the mind.
vạn pháp nhất như
The absolute in everything; the ultimate reality behind everything.
; Vạn pháp đều có chung một tánh là “không tánh” (vạn pháp đều do nhân duyên sanh diệt, chứ không có tự tánh, vì không có tự tánh nên ta gọi “tánh không” là tánh chung của vạn hữu)—The absolute in everything; the ultimate reality behind everything.
vạn pháp nhất tâm
Myriad things but one mind; all things as noumenal.
; Duy Tâm Luận cho rằng hết thảy mọi pháp đều do tâm tạo ra (theo Kinh Hoa Nghiêm thì mọi thứ trong tam giới chỉ là một tâm; theo Kinh Bát Nhã, tâm là thiên đạo đối với vạn pháp. Nếu biết được tâm tức là biết được vạn pháp)—Myriad things but one mind; all things as noumenal.
vạn phúc
Thousand happiness—Very happy.
vạn phật
Tên một ngôi chùa nổi tiếng của người Hoa, tọa lạc trong quận năm, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được kiến lập năm 1959. Chánh điện được đặt trên tầng hai, dài 14 mét, rộng 10 mét, thờ Đức Phật Thích Ca, tượng cao 2,3 mét, bệ đá cao 1,13 mét, ở lòng bàn tay có tượng Đức Phật Đản Sanh cao 20 phân. Chung quanh ba mặt chánh điện có 3.638 bức hình Phật được in trên mặt của từng tấm gạch men trắng ốp vào tường. Viên gạch vuông mỗi cạnh 15 phân. Chùa có tên “Vạn Phật” cũng từ lý do nầy—Name of a famous Chinese pagoda, located in the fifth district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1959. On the second floor, there is the Buddha Shrine, 14 meters long and 10 meters wide, is used to worship Sakyamuni Buddha. The Buddha statue is 2.3 meters high. In the palm of the statue stands a 0.2 meter-high statuette of the Lord Buddha at His Holy Birth. Three sides of the Shrine are surrounded with 3,638 Buddha pictures printed on the surface of white ceramic bricks fixed on the walls. The white brick is square in shape with each side 0.15 meter. The fixing was carried out in 1959. The name of the Pagoda "Vạn Phật” or Thousand of Buddhas, results from this fact.
vạn phật động
See Đôn Hoàng Thạch Thất.
vạn quốc
Bankoku (J).
vạn sự
Everything.
vạn sự như ý
Everything is okay.
vạn thiện
All goodness, all good works.
; Tất cả các việc thiện lành—All goodness, all good works.
Vạn Thiện Đồng Quy Tập
(萬善同歸集, Manzendōkishū): 3 hay 6 quyển, trước tác của Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) nhà Bắc Tống, là bộ sách phân khoa 1 bộ thành 10 nghĩa, dẫn chứng các kinh luận và làm cho các điều thiện đều quay về với thật tướng. Từ lập trường Thiền Giáo Nhất Trí, thiết lập nên pháp môn lần lượt theo đốn ngộ tiệm tu, tác phẩm này đã hệ thống hóa toàn bộ giáo nghĩa của các tông phái thông qua hình thức vấn đáp.
vạn thọ
Long life.
vạn thọ sùng quán
Wan shou Chung kuan (C)Tên một vị sư.
vạn toàn
Excellent—Perfect.
vạn trung
Banzui (J).
Vạn Tùng Hành Tú
(萬松行秀, Banshō Gyōshū, 1166-1246): vị Tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, được gọi là Vạn Tùng Lão Nhân (萬松老人), xuất thân vùng Giải Lương (解梁), Huyện Hà Nội (河內), Tỉnh Hà Nam (河南), họ là Thái (蔡). Ngay từ lúc còn nhỏ ông đã có khí cốt siêu phàm, có chí xuất gia, sau theo xuất gia với Bân Công (贇公) ở Tịnh Độ Tự (淨土寺邢), vùng Hình Châu (邢州), Tỉnh Hà Nam. Sau đó, ông đến tham học với Thắng Mặc Quang (勝黙光), rồi đến Tuyết Nham Mãn (雪巖滿) ở Đại Minh Tự (大明寺) vùng Từ Châu (磁州), Tỉnh Hà Bắc (河北省). Ông lưu lại đây 2 năm rồi trở về Tịnh Độ Tự, dựng am tu tập và đặt tên là Vạn Tùng Hiên (萬松軒). Năm 27 tuổi, ông được vua nhà Kim là Chương Tông (章宗) cung thỉnh đến thuyết pháp. Về sau, ông đến sống tại Thê Ẩn Tự (棲隱寺) ở Ngưỡng Sơn (仰山) cũng như Báo Ân Hồng Tế Tự (報恩洪濟寺) ở Phủ Thuận Thiên (順天府). Vào năm 1230, dưới thời vua Thái Tông nhà Nguyên, ông được cử đến trú trì Vạn Thọ Tự (萬壽寺), nhưng rồi cũng quay trở về Tùng Dung Am (從容庵, tức Vạn Tùng Am). Bộ Tùng Dung Lục (從容錄) của ông là bản niêm bôn của tụng cổ gồm 100 công án của Thiên Đồng (天童) được trình tấu lên vua Ninh Tông (寧宗) nhà Tống vào năm thứ 16 (1223) niên hiệu Gia Định (嘉定). Vào ngày mồng 7 tháng 4 năm đầu nhuận niên hiệu Định Tông (定宗), ông thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi đời và 60 hạ lạp.
Vạn Tùng Lão Nhân
(萬松老人): xem Vạn Tùng Hành Tú(萬松行秀, Banshō Gyōshū, 1166-1246) bên trên.
Vạn Tùng Lão Nhân Bình Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Tụng Cổ Tùng Dung Am Lục
(萬松老人評天童覺和尚頌古從容菴錄, Manshōrōjinbyōtendōkakuoshōjukoshōyōanroku): xem Tùng Dung Lục (從容錄, Shōyōroku) ở trên.
Vạn Tùng Lão Nhân Bình Xướng Thiên Đồng Giác Hòa Thượng Niêm Cổ Thỉnh Ích Lục
(萬松老人評唱天童覺和尚拈古請益錄, Manshōrōjinhyōshōtendōkakuoshōnenkoshinekiroku): xem Thỉnh Ích Lục (請益錄, Shinekiroku) ở trên.
vạn tạ
Many thanks.
Vạn tự
(卍字): chữ Vạn, còn viết là 萬、万、卐; nguyên ngữ tiếng Sanskrit là śrīvatsalakṣana, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa Lạc Sát Nang (室利靺蹉洛剎囊), ý dịch là Cát Tường Hải Vân (吉祥海雲), Cát Tường Hỷ Toàn (吉祥喜旋), là một trong 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật, là đức tướng thường hiển hiện nơi ngực của chư Phật cũng như các Bồ Tát chứng quả Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地). Đây cũng là một loại phù hiệu thường thấy ở các tượng Phật cũng như văn vật Phật Giáo. Một số kinh điển Phật Giáo nêu rõ vị trí của chữ Vạn như Đại Bổn Kinh (大本經) của Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō No. 1) quyển 1 cho biết rằng chữ Vạn thuộc tướng tốt thứ 16: “Thập lục, hung hữu Vạn tự (十六、胸有萬字, thứ mười sáu, trên ngực có chữ Vạn).” Hay Đại Tát Già Ni Càn Tử Sở Thuyết Kinh (大薩遮尼乾子所說經, Taishō No. 272) quyển 6 cũng cho hay rằng: “Sa Môn Cù Đàm hung hữu Vạn tự thị công đức tướng (沙門瞿曇胸有萬字示功德相, nơi ngực của Sa Môn Cù Đàm có chữ Vạn, thể hiện tướng công đức).” Trong Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh (方廣大莊嚴經) quyển 3 giải thích rằng trong 80 vẻ đẹp của đức Phật thì chữ Vạn thuộc về vẻ đẹp thứ 78, thường thấy ở trên tóc: “Phát hữu ngũ Vạn tự (髮有五卍字, tóc có năm chữ Vạn).” Thập Địa Kinh Luận (十地經論) quyển 12 nêu rõ rằng khi Thái Tử Tất Đạt Đa (s: Siddhārtha, p: Siddhattha, 悉達多) chưa thành Phật, nơi ngực người có chữ Vạn Kim Cang công đức trang nghiêm. Trong khi đó, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (有部毗奈耶雜事) quyển 29 cho hay rằng nơi lưng của Phật có tướng chữ Vạn. Bên cạnh đó, Đại Bát Nhã Ba La Mật Kinh (大般若波羅蜜多經) quyển 381 cho biết chữ Vạn nằm nơi ngực cũng như tay chân của đức Thế Tôn. Vào thời cổ đại Ấn Độ, chữ Vạn tượng trưng cho sự tốt đẹp. Ngoài đất nước này, Ba Tư, Hy Lạp đều có loại phù hiệu này, thông thường được xem như tượng trưng cho mặt trời, điện quang, lửa, dòng nước chảy, v.v. Xưa kia, Phật Giáo, Bà La Môn Giáo, Kỳ Na Giáo đều có sử dụng chữ Vạn. Người Ấn Độ cổ đại cho rằng phù hiệu chữ Vạn này hiện hữu nơi sợi lông xoăn ở ngực của Phạm Thiên, thần Viṣṇu, Kṛṣṇa, rộng khắp thể hiện tướng cát tường, thanh tịnh, viên mãn. Trong Phật Giáo, chữ Vạn là tướng cát tường ở nơi ngực của đức Phật cũng như chư vị Bồ Tát chứng quả Thập Địa, về sau dần dần trở thành dấu hiệu tiêu biểu cho Phật Giáo. Về tiếng Hán dịch của chữ này, xưa nay có vài thuyết khác nhau. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664), v.v., thì dịch là “đức (德)”. Trong Thập Địa Kinh Luận (十地經論), Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支, 562-727) dịch là “vạn (萬)” với ý nghĩa “vạn đức viên mãn (萬德圓滿)”. Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, chữ này được dịch âm là vạn, nhưng không có ý dịch. Cho đến năm thứ 2 (693) niên hiệu Trường Thọ (長壽) của Võ Tắc Thiên (武則天, 624-705), Hoàng Hậu bắt đầu quy định chữ này đọc là “vạn”, với ý nghĩa là “tập trung vạn đức tốt lành”. Tiếng Phạn ngữ của chữ Vạn (卍) không phải chỉ có một, tỷ dụ như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經) có đến 17 chỗ xuất hiện chữ này, đều dịch là vạn; nhưng nếu lấy nguyên ngữ đối chiếu, nguyên ngữ của chữ này có 4 loại: (1) śrīvatsa, âm dịch là Thất Lợi Mạt Xoa (室利靺蹉), ý dịch là Cát Tường Ức (吉祥臆), Cát Tường Độc (吉祥犢); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 48 (Taishō No. 10) có đoạn: “Như Lai hung ức hữu đại nhân tướng, hình như Vạn tự, danh cát tường hải vân (如來胸臆有大人相、形如卍字、名吉祥海雲, nơi ngực của đức Như Lai có tướng của bậc đại nhân, hình như chữ Vạn, tên là mây biển tốt lành).” Trong đó, nguyên ngữ chữ Vạn là śrīvatsa, ý chỉ cho lông tóc xoắn quanh, chồng lên nhau như hình dạng đám mây biển. (2) nandy-āvarta, âm dịch là Nan Đề Ca Vật Đa (難提迦物多), ý dịch là Hỷ Toàn (喜旋); như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Kỳ phát hữu toàn, quang tịnh nhuận trạch, vạn tự nghiêm sức (其髪右旋、光淨潤澤、卍字嚴飾, tóc của Ngài xoay về bên phải, ánh sáng thanh tịnh, thấm khắp, chữ Vạn làm cho trang nghiêm).” Chữ Vạn trong câu này là nandy-āvarta, chỉ cho tướng tóc của Phật xoay về bên phải. (3) svastika, âm dịch là Tắc Phạ Tất Để Ca (塞嚩悉底迦), ý dịch là Hữu Lạc (有樂). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Vạn tự phát, loa văn hữu toàn phát (願一切眾生得如卍字髪、螺文右旋髪, nguyện hết thảy chúng sanh đều được như mái tóc có chữ Vạn, mái tóc xoay về bên phải theo hình trôn ốc).” Chữ Vạn trong câu này là svastika, có hàm nghĩa “có niềm an lạc”. (4) pūrṇaghaṭa, âm dịch là Nang Già Tra (囊伽吒), ý dịch là Tăng Trưởng (增長). Như trong Tân Hoa Nghiêm Kinh quyển 27 có đoạn: “Nguyện nhất thiết chúng sanh đắc luân tướng chỉ, chỉ tiết viên mãn, văn tướng hữu toàn, nguyện nhất thiết chúng sanh đắc như Liên Hoa Vạn tự toàn chỉ (願一切眾生得輪相指、指節圓滿、文相右旋、願一切眾生得如蓮華卍字旋指, nguyện cho hết thảy chúng sanh có ngón tay tướng bánh xe tròn, kẻ ngón tay tròn đầy, hoa văn tay xoay về bên phải, nguyện cho hết thảy chúng sanh có được ngón tay chữ Vạn như hoa sen).” Nguyên ngữ chữ Vạn trong câu này là pūrṇaghaṭa, chỉ hình tướng đầu bộ hay các kẻ ngón tay tròn đầy. Từ xa xưa, chữ Vạn đã có sự khác nhau về phương hướng xoay có nó. Trong Ấn Độ Giáo, các vị thần nam tánh thường dùng chữ Vạn (卐, hướng về bên phải) và thần nữ tánh thì dùng chữ Vạn (卍, hướng về bên trái). Đối với Phật Giáo, hiện tồn tại ngôi cổ tháp ở Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑) là chữ Vạn (卍). Ngôi tháp này được kiến tạo dưới thời A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) để kỷ niệm đức Phật xưa kia đã từng nhập định tại đây. Tại Tây Tạng, phần lớn các giáo đồ của Lạt Ma Giáo đều dùng chữ Vạn (卐). Tại Trung Quốc, trãi qua các đời đều dùng cả hai. Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (大正新脩大藏經) của Nhật Bản thì lấy chữ Vạn (卐) làm tiêu chuẩn; tuy nhiên, các bản Đại Tạng Kinh của nhà Tống, Nguyên, Minh đều dùng chữ Vạn (卍). Gần đây, vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20, Đức Quốc Xã Hitler có dùng đến chữ Vạn (卍). Và cho đến nay, vẫn còn khá nhiều tranh luận về chiều xoay của chữ này theo quan điểm của Phật Giáo.
vạn tự
The sauvastika, also styled srivatsa-laksana, the mark on the breast of Visnu; the lightning; a sun symbol; a sign of all power over evil and all favour to the good; a sign shown on the Buddha's breast. One of the marks on a Buddha's feet.
; See Vạn (1).
vạn vật
All things—Nature.
vạn vật giai thần luận
Xem thần vật đồng thể luận.
vạn đức
All virtues.
; Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Bình Thạnh, thành phố Sài Gòn. Chùa được xây vào thế kỷ thứ 18 trong quận Gò Vấp, được dời về quận Bình Thạnh, tại địa điểm hiện tại vào năm 1945, và đã được trùng tu nhiều lần. Chùa vẫn còn giữ được nhiều tượng Phật cổ của thế kỷ thứ 19. Tầng trên cùng bàn thờ bên trong Chánh điện tôn trí tượng Đức Phật A Di Đà; tầng kế thờ Bồ Tát Chuẩn Đề, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Đại Thế Chí; tầng thứ ba thờ Thiên Vương; hai bên là ông Thiện và ông Ác. Bàn thờ bên ngoài cùng trong Chánh điện tôn trí Đức Phật Di Lặc và Phật Thích Ca Đản Sanh—Name of an ancient pagoda, located in Bình Thạnh district, Saigon City. The pagoda was built in the eighteenth century in Gò Vấp district and was moved to the current location in 1945, and has been rebuilt many times. A lot of wooden statues from the nineteenth century have been kept in Vạn Đức Pagoda. On the top shelf of the altar placed in the Main Hall are worshipped three statues of Amitabha Buddha, the statues of Cundi Bodhisattva, Avalokitesvara Bodhisatva, and Mahasthama Bodhisattva are enshrined on the second shelf; on the third shelf is the statue of King of Heaven, on both sides of which are the Good and the Evil. The statues of Maitreya and Infant Sakyamuni Buddha are worshipped on the altar outside the Main Hall.
Vạn đức hồng danh
(萬德洪名): Hồng danh (洪名) nghĩa là thanh danh to lớn, tiếng tăm vĩ đại, tiếng thơm. Như trong bản Hồi Nhân Hạ Thọ Sử Quán Tu Soạn Trạng (回人賀授史館修撰狀) của Tằng Củng (曾鞏) nhà Tống có câu: “Thùy liệt thánh chi hồng danh (垂列聖之洪名, tắm gội tiếng thơm của chư vị thánh).” Vạn đức hồng danh có nghĩa là danh hiệu có đầy đủ công đức to lớn để thành Phật; cho nên danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát thường được gọi là vạn đức hồng danh. Một số kinh điển xưng tán hồng danh của chư Phật như Bát Thập Bát Phật Hồng Danh Bửu Sám (八十八佛洪名寳懺), Tam Thiên Phật Hồng Danh Bửu Sám (三千佛洪名寳懺), Vạn Phật Hồng Danh Bửu Sám (萬佛洪名寳懺), v.v.
vạy
Crooked—Dishonest.
vấn
Hỏi—To ask—To inquire—To question—To adjudicate.
vấn kế
To ask for advice.
vấn nạn
To question someone closely.
vấn pháp ấn
Ra dấu bằng tay để đặt câu hỏi—The manual sign indicating the putting of a question.
vấn thiền
Hỏi về những phương cách hành thiền—To ask about methods of meditation.
vấn tâm
To ask oneself.
vấn tấn
Chấp hai tay lại và miệng vấn an ai thì gọi là vấn tấn (chấp tay cung kính hỏi thăm sức khỏe của ai)—To make inquiry; ask about another's welfare, orally or by folding the hands; interrogate; to try a case.
vấn vít
See Vấn Vương.
vấn vương
To be involved to.
Vấn đáp
問答; C: wèndá; J: mondō;|Là những cuộc đối đáp trong Thiền tông, giữa thầy và trò về một Công án hay một vấn đề làm thiền sinh thao thức. Thiền sư thường thường trả lời theo một cách nằm ngoài quy ước, với mục đích đánh thức trực giác nơi thiền sinh (Pháp chiến).|Nhiều vấn đáp đã trở thành công án trong lịch sử Thiền:|Tăng hỏi Ðộng Sơn (Thủ Sơ): »Thế nào là Phật?« Ðộng Sơn đáp: »Ba cân gai« (麻三斤).|Tăng hỏi Mã Tổ: »Thế nào là Phật?« Mã Tổ đáp: »Tức tâm tức Phật« (即心即佛).|Tăng khác cũng hỏi: »Thế nào là Phật?« Mã Tổ đáp: »Phi tâm phi Phật« (非心非佛).
vấn đáp
Mondō (J), Paṅhā-vyākaraṇa (S), Question-answer.
; Hỏi và trả lời, một kiểu đối thoại độc đáo của Thiền giữa một một thầy một trò, trong ấy trò hỏi các vấn đề Phật giáo làm mình bối rối sâu xa, và thầy men theo lãnh vực lý thuyết và lý luận, đáp bằng cách nào để gợi lên câu trả lời từ các tầng mức trực thức sâu hơn của trò—To question and to answer, a uniquely Zen type of dialogue between a master and a student wherein the student asks a question on Buddhism which has deeply perplexed him, and the master, skirting theory and logic, replies in such a way as to evoke an answer from the deeper levels of the student's intuitive mind.
vấn đề
Topic—Subject—Matter---Problem—Question.
vấn đề cố hữu
An inherent problem
vấn đề khô khan
Dry subject
vấn đề sống chết
A matter of life and death.
vấn đề thế tục
Worldly affairs
vấp chân
To stumble over.
vấp ngã
To stumble and fall.
vấp váp
To stumble (speak).
vất
To cast—To throw.
vất vưởng
Unstable—Uncertain.
vất vả
Very hard.
vấy bùn
Covered with mud.
vần vũ
Dull with rain.
vầng
Halo—Aureole.
vầng hào quang
Halo.
vẩn
Chết—To perish—To fall—To become extinct.
vẩn vơ
Undecided.
vẩn đục
Cloudy—Turbid.
vẫn
The same—Just—Still.
vẫn có
Always existent.
vẫy
To wag the tail (dog).
vẫy tay
To wave the hand.
vẫy vùng
To act freely.
vận
1) Vận chuyển: To transport—To carry. 2) Vận mệnh: Fate—Fortune—Luck—Destiny. 3) Mặc quần áo: To dress oneself. 4) Xoay vầng: To revolve—The turn of the wheel.
Vận Am Phổ Nham
(運庵普巖, Unan Fugan, 1156-1226): vị tăng của Phái Tùng Nguyên và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Thiếu Chiêm (少瞻), xuất thân Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), họ Đỗ (杜). Sau khi xuất gia, ông đến tham yết Thạch Cổ Hy Di (石鼓希夷) và Vô Dụng Tịnh Toàn (無用淨全). Vào năm thứ 11 (1184) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông đến tham học với Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳) ở Trừng Chiếu Thiền Viện (澄照禪院), Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô) và đã từng theo hầu thầy chuyển đến Quang Hiếu Thiền Tự (光孝禪寺) ở Giang Ấm Quân (江蔭軍, Tỉnh Giang Tô), Thật Tế Thiền Viện (實際禪院) ở Trị Phụ Sơn (治父山), Vô Vi Quân (無爲軍, Tỉnh An Huy). Theo hầu Tùng Nguyên Sùng Nhạc được 18 năm, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của vị này. Đến tháng 8 năm thứ 2 (1202) niên hiệu Gia Thái (嘉泰), Sùng Nhạc viên tịch; người anh ruột của thầy ông có xây dựng ngôi Vận Am (運菴) ở Tứ Minh, bèn cung thỉnh ông đến đây trú trì. Vào tháng 3 năm thứ 2 (1206) niên hiệu Khai Hy (開禧), ông chuyển đến Đại Thánh Phổ Chiếu Thiền Tự (大聖普照禪寺) ở Phủ Trấn Giang (鎭江府, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông từng sống qua các nơi khác như Quang Hiếu Tự (光孝寺) ở Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô), Đạo Tràng Sơn Hộ Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (道塲山護聖萬壽禪寺) ở An Cát Châu (安吉州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày mồng 4 tháng 8 năm thứ 2 (1226) niên hiệu Bảo Khánh (寶慶), ông thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Các thị giả Nguyên Tĩnh (元靖), Trí Năng (智能), Duy Diễn (惟衍) biên tập cuốn Vận Am Phổ Nham Thiền Sư Ngữ Lục (運庵普巖禪師語錄) 1 quyển. Tông Trứ (宗著) soạn bản Hành Thật (行實) về cuộc đời và hành trạng của ông.
vận bĩ
See Vận Đen.
vận hành
Working—To revolve—To move.
vận hành vũ trụ
Working of the cosmo
vận hên
See Vận đỏ.
vận hạn
See Vận Đen.
vận may
See Vận đỏ.
vận mệnh
Destiny.
vận rủi
See Vận Đen.
vận suy
See Vận Đen.
vận tâm
Tâm suy nghĩ về vấn đề gì—To revolve in the mind—To have in mind—To carry the mind, or thought, towards.
vận tâm cúng dường
Chỉ sự suy nghĩ về việc cúng dường trong tâm chứ không hiển lộ ra ngoài—To carry the thought of offerings in mind, not to show it up.
vận xấu
See Vận Đen.
vận đen
Bad luck—Ill fortune.
vận đỏ
Good luck—Good fortune.
vận động
To move—To exercise.
vập
To run against.
vật
1) Đồ Vật: Thing. 2) Đấu Đô Vật: To wrestle. 3) Sự vật: Matter.
vật báu
Precious thing.
Vật Bộ Vĩ Dư
(物部尾輿, Mononobe-no-Okoshi, ?-?): vị đại Muraji của vương triều Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571). Truyền thuyết cho rằng chính ông đã làm cho người đồng cấp với ông, Ōmuraji Đại Bạn Kim Thôn (大伴金村), phải mất chức, rồi phản đối Tô Ngã Đạo Mục (蘇我稻目, Soga-no-Iname, ?-570) trong việc chấp nhận đưa Phật Giáo vào Nhật Bản. Ông đã đem tượng Phật ném xuống sông Khuất Giang (堀江) và thiêu hủy chùa chiền.
vật chướng ngại
Barricade.
vật chất
Materials—Material objects
vật chất chủ nghĩa
Materialism
vật dùng trong việc thờ cúng
Caityaka (S), Object of veneration cetika (S), Caitya (S), Cetika (S).
vật dục
Carnal desire.
vật dụng
Item—Tool.
vật giới
The material world.
vật liệu
Material.
vật lý
Physics
vật lý lượng tử
Quantum Physics
vật lộn
See Vật (2).
vật ngã
To throw down.
vật nài
To insist.
Vật Sơ Đại Quán
(物初大觀, Mossho Taikan, khoảng giữa thế kỷ thứ 13): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Hoành Khê (横溪), Huyện Ngân (鄞縣), Phủ Khánh Nguyên (慶元府, Tỉnh Triết Giang), họ là Lục (陸). Ông thọ giới với Bắc Hải Ngộ Tâm (北海悟心) ở Đạo Tràng Sơn (道塲山) và kế thừa dòng pháp của Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡). Vào năm đầu (1241) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông chuyển đến sống các nơi như Pháp Tướng Thiền Viện (法相禪院) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang), Hiển Từ Thiền Tự (顯慈禪寺) ở An Cát Châu (安吉州, Tỉnh Triết Giang), Tượng Điền Hưng Giáo Thiền Viện (象田興敎禪院) ở Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang), Trí Môn Thiền Tự (智門禪寺) ở Phủ Khánh Nguyên, Giáo Trung Báo Quốc Thiền Tự (敎忠報國禪寺) ở Đại Từ Sơn (大慈山, Tỉnh Triết Giang), v.v. Hơn nữa, vào tháng 11 năm thứ 4 (1263) niên hiệu Cảnh Định (景定), ông đến trú tại Quảng Lợi Thiền Tự (廣利禪寺) trên A Dục Vương Sơn (阿育王山), và tận lực cử xướng Thiền phong Lâm Tế của Đại Huệ cũng như tiếp độ tăng chúng. Vào năm thứ 3 (1267) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), ông có viết lời tựa cho cuốn Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) do cư sĩ Giác Tâm (覺心) san hành. Môn nhân ông biên tập cuốn Vật Sơ Hòa Thượng Ngữ Lục (物初和尚語錄) 1 quyển, ngoài ra ông có tập thơ Vật Sơ Thặng Ngữ (物初賸語) 25 quyển. Vào ngày 17 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Hàm Thuần, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi.
vật thí
Bố thí đồ vật, một trong ba loại bố thí—Almsgiving of things, one of the three kinds of almsgiving. **For more information, please see Tam Thí.
vật vã
To throw oneself on the ground.
vật vờ
Wandering.
vật để bố thí
Dānavatthu (P), Object for a gift.
vậy
Then—Thus—Therefore—So.
vậy mà
Nevertheless—Yet.
vậy thì
Thus—Then.
vắn
Short.
vắn tắt
Short—Brief.
vắng
1) Deserted—Unfrequented. 2) Absent.
vắng bóng
See Vắng Mặt.
vắng lặng
Xem Tịch tịnh.
vắng mặt
Absence.
vắng ngắt
Bare of men.
vắng tanh
Quite deserted.
vắt
1) To squeeze—To crush out. 2) To hang—To suspend. 3) Trong vắt—Very clear—Limpid.
vắt khô
To squeeze dry.
vắt tay lên trán
To put the hand on the brow.
vặn
1) To turn—To wring—To twist. 2) To turn on or off (light).
vặn hỏi
To question someone closely.
vẹn
Complete—Perfect.
vẹo
Distorted.
vẹt
parrot.
vẻ buồn
Air of sadness.
vẻ khổ sở
Unhappy look.
vẻ mặt
Look—Countenance.
vẻ sung sướng
Happy look.
vẻ tư lự
Worried look.
vẻ vang
Glorious.
vẻ vui tươi
Gay appearance.
vẻ đài các
Noble air.
vẻ ảm đạm
Melancoly air (look).
vẽ chuyện
To make up a story.
vẽ vời
To invent.
vết
Trail—Trace—Track.
vết nhơ
Taint. Những lời Phật dạy về “Vết Nhơ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Taints” in the Dharmapada Sutra: 1) Không tụng tập là vết nhơ của kinh điển, không siêng năng là vết nhơ của nghiệp nhà, biếng nhác là vết nhơ của thân thể và nơi ăn chốn ở, phóng túng là vết nhơ của phép hộ vệ—Non-recitation is the rust of incantation; non-repair is the rust of houses; sloth is the rust of bodily beauty; carelessness is the rust of the cultivator (watcher) (Dharmapada 241). 2) Tà hạnh là vết nhơ của người đàn bà, xan lẫn là vết nhơ của sự bố thí; đối với cõi nầy hay cõi khác, thì tội ác lại chính là vết nhơ—Misconduct is the taint of a woman; stinginess is the taint of a donor. Taints are indeed all evil things, both in this world and in the next (Dharmapada 242). 3) Trong hết thảy nhơ cấu đó, vô minh cấu là hơn cả. Các ngươi có trừ hết vô minh mới trở thành hàng Tỳ kheo thanh tịnh—The worst taint is ignorance, the greatest taint. Oh! Bhikshu! Cast aside this taint and become taintless (Dharmapada 243).
về
1) Thigh (đùi). 2) Rank (vai vế).
vệ
To protect—To escort—To guard—To defend.
vệ thế sư
Vaisesika (skt)—Thắng Luận Tông—Vệ Thế Sư Ca—Một trong sáu phái triết học ở Ấn Độ, do Ca-Na-Đà sáng lập. Giống như phái Triết Học Tăng Kỳ, đây là phái đa nguyên luận duy vật và linh hồn không đứt đoạn. Họ phân biệt thành sáu thức—One of the six Indian schools of philosophy. An atomistic school founded by Kanada. Like the sankhya philosophy it taught a dualism and endless number of souls, also by its doctrine of particularity or individual essence. They distinguished in six categories of cognition: 1) Thực: Dravya (skt)—Bản thể—Substance. 2) Đức: Guna (skt)—Phẩm chất—Quality. 3) Nghiệp: Karma (skt)—Tác dụng—Activity. 4) Đồng: Samanya (skt)—Tính cộng thông hay cùng loại—Species. 5) Dị: Visesa (skt)—Sự khác biệt—Distinction. 6) Hợp: Samavaya (skt)—Tính cố hữu giữa các sự vật—Correlation.
vệ thế sư phái
Xem Thắng Luận phái.
vệ đà
Veda (S)Phệ đà, Tiết đà luậnKinh điển của Bà la môn có 4 bộ kinh luận chủ yếu: - Tiết đà (Rig-veda) = Thọ minh: giải thích về số mạng, dạycách bảo tồn thiện pháp, cách giải thoát. - Dã thọ Tiết đà (Yajur-veda) = Tự minh: dạy việc tế tự, cầu đảo chư thiên chư thần... - Sa ma Tiết đà (Sama-veda) = Bình minh: dạy cách chiếm quẻ, binh pháp, việc ở đời, phép ở đời... - A đạt Tiết đa (Atharva-veda) = Thuật minh: dạy kỹ thuật như toán, y...
vệ đà lục luận
Veda-anga (S), Supplementary texts of Vedas Gồm: Thức xoa luận, Tỳ già la luận, Kha bạt la luận, Thục để sa luận, Xiển đà luận, Ni lộc da luận.
Vệ-thế-sư
phiên âm từ Phạn ngữ là Vaiśeṣika, cũng đọc là Tỳ-thế-sư hay Phệ-thế-sử, Hán dịch là Thắng luận (勝論), một trong các bộ luận rất nổi tiếng của ngoại đạo thời đức Phật.
Vệ-xá-li
S: vaiśālī; P: vesāli; Hán Việt: Phệ-xá-li (吠舍釐), Tì-da-li;|Thành phố quan trọng trong thời Phật còn tại thế, cách thành phố Patna ngày nay khoảng 40 km, nằm giữa sông Hằng và dãy Hi-mã-lạp sơn. Ðây là kinh đô của dòng Licchavi, thuộc liên minh Bạt-kì (p: vajjī), là nơi vua A-xà-thế định tấn công. Phật Thích-ca đã nhiều lần thăm viếng Vệ-xá-li, là nơi nàng Am-ba tặng Phật một vườn trái cây để an nghỉ với tên Am-la thụ viên (p: āmravāna). Phật đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng tại đó. Vệ-xá-li là nơi Kết tập lần thứ 2 năm 386.|Năm 1958 người ta tìm thấy tại đây trong một tháp cũ, một bình nhỏ đựng di cốt, tro và nhiều vật dụng. Có thể đây là phần Xá-lị của Phật được chia cho dân Licchavi.
Vị
味; C: wèi; J: mi;|Có các nghĩa sau: 1. Mùi vị, hương vị; 2. Nếm; 3. Độ nghiêng, khuynh hướng; 4. Cảm giác, không khí; 5. Lí lẽ, ý nghĩa.
; 位; C: wèi; J: i;|1. Địa vị, tầng lớp, vị trí, mức độ, chỗ ngồi, thế. Giai vị (s: daśā, avasthā); 2. Đặt vào vị trí, đặt vào một chỗ nhất định; 3. Địa thế, trường hợp; 4. Giai vị chứng đạo; 5. Địa vị của người thống trị.
vị
Not yet, the future.
; 1) Vị: Rasa (skt)—Một trong sáu giác quan—Taste—Flavour—The sense of taste, one of the six senses. 2) Chưa: Not yet—The future. 3) Thiên Vị: Partial. 4) Giờ Mùi: Tứ 1 PM đến 3 PM—From 1 PM to 3 PM. 5) Ngôi vị: Position—Seat—Throne.
vị bài
Tấm thẻ bài ghi lại hồ sơ của một viên quan—The board or record of official position.
vị bất thoái
Một trong ba “Bất Thoái” (Bồ Tát từ ngôi thập trụ trở lên, không còn thoái chuyển đọa xuống hạ giới phàm phu hay lưu chuyển trong ác đạo nữa)—One of the three kinds of “never receding.” (non-backslidings or non-retreats). ** For more information, please see Tam Bất Thối Chuyển.
vị bổn sư
tsa way lama (S), Root lama, tsa way lama (T).
Vị chí
未至; C: wèizhì; J: mishi;|Viết tắt của Vị chí định (未至定).
Vị chí định
未至定; C: wèizhìdìng; J: mishijō; |Công phu tu tập chuẩn bị để thể nhập vào định Sơ thiền (初禪定).
Vị cư
位居; C: wèijū; J: ikyo;|Trú xứ, nơi cư ngụ.
Vị cảnh
味境; C: wèijìng; J: mikyō; S: rasa-visaya.|Một trong 5 loại trần cảnh (vị trần, đối tượng nhận biết của giác quan). Đối tượng của vị giác được nhận biết bởi thiệt thức.
vị cảnh
Rasa-visaya (S).
vị danh
For fame or honour.
vị dục
Sự ham muốn mùi vị—The material or medium of sensation—The sensation taste or taste desire, hankering after pleasure of food, etc, the bond of such desire.
vị dục địa
Xem Bạc Địa.
vị dục, vị trước
The taste-desire, hankering after the pleasures of food, etc.
vị giác
Rasa (S), Sayāna-kicca (P), Taste,Function of tasting.
; Organ of taste.
vị hiển chân thực
Vị Khai Hiển. 1) Chưa nói rõ pháp chân thực: The unrevealed truth. 2) Chân lý chỉ được Đức Phật nói rõ trong Đại Thừa Viên Giáo—The Truth only revealed by the Buddha in his final Mahayana doctrine.
Vị hữu
未有; C: wèiyŏu; J: miu; |Không hiện hữu; chưa bao giờ có; chưa từng có. (s: abhāva, abhūtvā, vinā; t: med pa)
vị kỷ
Selfish—Egoistical—For self.
Vị lai
未來; C: wèilái; J: mirai; S: anāgata. |Thời gian chưa đến; tương lai, thế hệ kế tiếp, thời đại tiếp theo.
vị lai
Anāgata (S).
; Anagata (skt)—Đương lai—The future—That which has not come or will come.
vị lai thế
1) Đời Tương Lai—A future life or lives. 2) Thời Vị Lai: The future tense.
vị lai tinh tú kiếp thiên phật danh kinh
Wei-lai hsing-hsiu-chieh ch'ien-fo-ming ching (C)Tên một bộ kinh.
vị lai tạng
Anāgata kośa (S).
vị lai, đương lai
Anàgata (S). That which has not come, or will come; the future, e.g. vị lai thế a future life, or lives; also the future tense, one of the tam thế, i.e. quá past, hiện present, vị future.
Vị li dục
未離欲; C: wèilíyù; J: miriyoku; |Trạng thái chưa tự tại đối với sự ham muốn (s: avītarāga). Trong Du-già sư địa luận, giai đoạn nầy tương đương với quả vị Dư lưu, và là giai vị đầu tiên trong ba quả vị li dục (Tam li dục 三離欲).
vị liễu nhân
The karma of past life not yet fulfilled.
; Nghiệp chưa dứt trong quá khứ—The karma of past life not yet fulfilled.
vị lợi
For gain, or profit.
vị ngã
See Vị kỷ.
vị nể
To have regard (respect) for someone.
vị phu liên hoa
Cánh sen chưa nở hết, như bông sen mà Phật Quán Âm cầm trong tay—A half-opened lotus, such as one of the forms of Kuan-Yin holds in the hand.
Vị phân
未分; C: wèifēn; J: mibun; |Không khác biệt; chưa bị phân biệt; chưa bị tách rời.
vị quan
See Vị giác.
vị quá hiện
Future, past and present.
Vị sanh oán
kẻ oán thù từ lúc chưa sanh, dịch nghĩa từ Phạn ngữ Ajtaśatru, phiên âm là A-xà-thế, sau là vương hiệu khi thái tử Thiện Kiến lên ngôi.
vị sanh oán
Xem A xà Thế.
; 1) Không có kẻ thù: Having no enemy. 2) Tên Vua A Xà Thế: Name of King Ajatasatru.
vị sanh oán kinh
Vị Sanh Oán Kinh diễn tả lại việc Vua A Xà Thế giết hoàng phụ là vua Bình Sa Vương—“Having No Enemy” Sutra, describing King Ajatasatru's murdering of his father, King Bimbisara.
vị sinh oán
Ajatasatru (S). Xem A xà thế.
vị tha
Self-forgetfulness (n)—Altruistic (a)—Altruism (n)—Cherish other (v)—Vị tha hay làm vì người khác là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta không đổ thừa đổ lỗi cho người—Altruism or working for the sake of others is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we do not blame others.
vị thầy tâm linh
Good Spiritual Advisor.
vị thọ cụ nhân
Vị sư chưa thọ cụ túc giới (theo giáo luật, vị sư chưa thọ cụ túc giới thì không thể thuyết giới)—A monk who has not yet fully pledged himself to all the commandments.
Vị Trung Tịnh Phù
(位中淨符, Ichū Jōfu, ?-?): xem Bạch Nham Tịnh Phù (白巖淨符) bên trên.
vị trí
Position.
vị trần
Taste-dust; one of the six "particles" which form the material or medium of sensation.
; Rasarammana (p)—Vị trần, một trong lục trần—Taste-dust, one of the six particles which form the material or medium of sensation.
vị tất
Not necessarily.
Vị tằng hữu
xem A-phù-đà-đạt-ma.
; 未曾有; C: wèicéng yŏu; J: misōu; |1. Không bao giờ, chưa bao giờ. Chưa từng có bao giờ, từng thấy, từng trải qua; chưa từng xảy ra; chưa từng có bao giờ…; hiếm, bất thường; 2. Trong kịch nghệ và mỹ học Ấn Độ, có một loại thơ gọi là adbhuta, nghĩa là »ngạc nhiên«, hoặc »tôi chưa từng bao giờ…« Do kinh Phật là điều chưa từng thấy trên thế gian, nên thuật ngữ nầy trở nên được dùng như một thuật ngữ chỉ cho 12 thể loại trong kinh văn Phật giáo. A-phù-đạt-ma (阿浮達磨), là sự giải thích những biểu hiện mầu nhiệm của Đức Phật hay của các vị Bồ Tát. Còn được dịch là Hi pháp (希法), Thắng pháp (勝法), Kì đặc pháp (奇特法), Vị tằng hữu pháp (未曾有法), Vị tằng hữu kinh (未曾有經) và phiên âm là A-phù-đà Đạt-ma (阿浮陀達磨), A-phù-đa Đạt-ma (阿浮多達磨), Át-phù-đà Đạt-ma (頞浮陀達磨), và A-phù-đạt-ma (阿浮達磨).
vị tằng hữu
AdbhŪta (S), Wonderful.
; Adbhuta (S). Never yet been, non such, rare, marvellous. Also hi hữu.
; Hy hữu—Adbhuta (skt)—Never yet been—Rare—Marvelous—Non-such.
vị tằng hữu chánh pháp kinh
Bản dịch mới của Kinh A Xà Thế Vương do Pháp Thiên đời Tống dịch ba quyển—A Sung translation of the Ajatasatru-Kaukriyavinodana, three books.
vị tằng hữu hi pháp
Xem A phù đạt ma.
Vị tằng hữu kinh
未曾有經; C: wèicéngyŏu jīng; J: misōu kyō; |Chưa từng trải qua; chưa từng xảy ra; hiếm có, bất thường (s: adbhuta). Một trong 12 thể loại trong kinh Phật. Vị tằng hữu (未曾有).
vị tằng hữu kinh
Xem Kinh Vị tằng hữu pháp.
; Adbhutadharma-paryàya (S). One of the twelve divisions of the Canon.
; A Phù Đạt Ma—Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, một trong mười hai bộ kinh Đại thừa (ghi lại Phật và Bồ Tát thị hiện vô số thần lực bất khả tư nghì)—Adbhutadharma-paryaya (skt)—One of the twelve divisions of the sutras.
Vị tằng hữu pháp
未曾有法; C: wèicéngyŏu fă; J: misōu hō; |Chưa từng trải qua; chưa từng xảy ra; hiếm có, bất thường (s: adbhuta; adbhuta-dharma); Vị tằng hữu (未曾有).
vị tằng hữu pháp
AdbhŪta-dharma (S), Collection of the Description of marvellous phenomena Vị tằng hữu pháp, A phù đà đạt ma, Hy phápKinh văn nói về thần lực của Phật và thánh tăng.
Vị xả ác kiến yết-ma
(未捨惡見羯磨), cũng gọi là ác kiến bất xả yết-ma, vị tỳ-kheo có tội vì không dứt bỏ được tà kiến, tin rằng ái dục không ngăn cản sự tu đạo (thuyết dục bất chướng đạo), nên phải chịu phép yết-ma này, không được sống chung trong tăng chúng.
vị đà
Arbuda (skt)—100 or 10 million.
vị đáo
Vị Trí—Chưa đến—Not yet arrived or reached.
vị đạo
Đạo vị—The taste or flavour of Buddha-truth—Tasting the doctrine.
vị đắng
Bitterness.
vị đẳng chí
Asvadana-samāpatti (S).
vọ thượng giác
See Vô Thượng Bồ Đề.
vọc
To play with—To amuse oneself with—To dabble.
vọng
MŪṣa (S), Mṛṣa (S), Mṛṣā (S), Musā (P)Hư dối.
; Mithyà (S). False, untrue, erroneous, wild.
; 1) Hy vọng: Hope—To expect. 2) Không thật: Vitatha (p & skt)—Untrue—False—Unreal—Futile—Vain. 3) Nhìn về: To look at, or for. 4) Tiếng vọng: To sound-To echo. 5) Vọng ngữ: Lying—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc.
vọng chấp
False tenets, holding on to wrong views.
; Quan niệm chấp trước hay cố giữ lấy không lìa bỏ hư vọng—False tenets—Holding on to false views.
vọng chứng
False witness.
vọng cáo
To accuse falsely.
vọng cảnh giới
Vọng tâm xuất hiện nên mới có cảnh hư vọng (vọng cảnh nầy chính là mọi hiện tượng, mọi sự vật trên thế gian nầy)—False environment—The unreal world.
vọng duyên
The unreality of one's environment; also the causes of erroneous ideas.
; Duyên là những sự vật trong và ngoài có quan hệ với thân ta, tất cả những cái đó đều là hư vọng cả. Chính những thứ đó là đầu mối tạo ra những tư tưởng sai lầm—The unreality of one's environment—The causes of erroneous ideas.
vọng kiến
Mithya drsti (S). False views (of reality), Wrong views.
; Sự hư vọng phân biệt không đúng với sự thật, cho những thứ hư giả là thực—False views of reality—Taking the seeming as real.
vọng kế tự tính
Prabhedanayalakshana or Parikalpita (skt)—Sự tưởng tượng—Imagination—Khía cạnh của sự đặc thù sinh khởi từ sự tưởng tượng sai lầm—The aspect of individuation arising from false imagination—See Tam Tự Tính Tướng (1).
vọng ngã
Illusory ego, in contrast with the real or nirvana ego (chân ngã).
vọng ngã chấp
The wrong ego-attachment.
vọng ngôn
Vọng thuyết—False words or talk—Lies.
vọng ngôn, vọng thuyết
False words, or talk; lies.
vọng ngữ
Mṛṣāvāca (S), Musāvāca (P), Micchāvāca (P), Mithyāvacā (S), Musāvado (P)Hư cuống ngữ, Vọng ngôn, Hư vọngXem Vọng ngữ.
; Mithya màrga (S). Wrong speech.
; Vitatha-vac or Vitatha-vadin (skt). • Lời nói giả dối để phỉ báng, khoe khoang hay lừa dối người khác—False (nonsense or transgression) speaking—lying (either slander, false boasting, or deception). • Theo Kinh Pháp Cú, câu 306, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 306, the Buddha taught: “Thường nói lời vọng ngữ thì sa đọa; có làm mà nói không, người tạo hai nghiệp ấy, chết cũng đọa địa ngục—The speaker of untruth goes down; also he who denies what he has done, both sinned against truth. After death they go together to hells.”
vọng nhiễm
Vọng Phong—Truyền đi những gì (tư tưởng) không có thật hay không đúng—The spread of lies, or false ideas.
vọng nhiễm, vọng phong
The spread of lies or false ideas.
vọng niệm
False or misleading thoughts.
; Vitathavitakka (p)—False or misleading thoughts—Transient thoughts—Khi vọng tưởng khởi mà chúng ta bất chấp được thì tự nhiên chúng sẽ biến mất—If we are able to disregard when false thoughts arise, they will naturally vanish.
vọng phong
See Vọng Nhiễm.
vọng pháp
Bhrànti (S). Error, ill conduct.
; Bhranti—Going astray, eror.
vọng sắc
To admire someone's beauty.
vọng thuyết
False words.
vọng thức
Deluded consciousness.
vọng trần
The unreal and unclean world.
; Muôn vật trên đời nầy vốn hư vọng và nhiễm cấu—The unreal or unclean world.
vọng tâm
A wrong, false, or misleading mind.
; Vọng tâm gây nên sự phức tạp và phiền não trên đời nầy—The unenlightened mind or heart of all men—The illusion (deluded, wrong, false, or misleading)-mind, which results in complexity and confusion in this world.
vọng tâm sở thủ danh nghĩa
Parikalpitābhidhāna (S).
; Parikalpitàbhidhàna (S). The net of phraseology woven by erronous imagination.
vọng tưởng
Erroneous thinking.
; Vitathavitakka (p)—Chấp giữ mọi phân biệt sai lầm—False (erroneous) thinking—Erroneous thought—False notions—False ideas—False thoughts—The mental processes of living beings on greed, hatred and stupidity.
vọng tưởng vi tế
Subtle delusive thoughts.
vọng tộc
Honourable family.
vọng vân
Clouds of falsity (delusion).
vọp bẻ
To cramp.
vỏ
1) Skin—Bark---Peel—husk (rice). 2) Appearance (people).
vốc
A handful.
vốn
Originally.
vồn vã
To Show attention—To be attentive to someone.
vồng
1) Curved—Arched. 2) To bounce (vồng lên). 3) Rainbow.
vỗ vai
To slap on the shoulder.
vỗ về
To comfort—To console.
vội
In a hurry—Hurried—Pressing.
vội vàng
To hurry—To hasten—To make haste.
vớ trật
To fail to catch.
vớ vẩn
Stupid—Foolish.
với
1) With. 2) To reach for.
với lại
Moreover.
với nhau
Together.
vớt
1) To pull someone or something out of the water. 2) To give a candidate a chance to pass an exam.
vớt vát
To recuperate.
vờ
To pretend—To act—To simulate—To feign.
vờ vĩnh
See Vờ.
vời
1) To summon (invite). 2) Far-away—Distant (vời vợi).
vỡ
To break—To be broken.
vỡ chuyện
To become known.
vỡ lở
To be disclosed—To leak out.
vỡ nợ
To go bankrupt.
vỡ tan
Broken into pieces—To be burst.
vỡ tung
To burst.
vợ con
Wife and children.
Vụ
(婺): tên một ngôi sao, tức sao Vụ Nữ (婺女), hay Nữ Tú (女宿), Tu Nữ (須女), là một trong 24 ngôi sao; là sao thứ 3 trong bảy ngôi sao Huyền Võ (玄武). Như trong bài Tống Võ Tuyên Quý Phi Lụy (宋武宣貴妃誄) của Tạ Trang (謝莊, 421-466) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Vọng nguyệt phương Nga, chiêm tinh tỷ Vụ (望月方娥、瞻星比婺, ngắm trăng xem Hằng Nga, nhìn sao sánh Vụ Nữ).”
vụ
Mahika (S)Sương mù, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
Vụ Loạn Bình Trị
(平治の亂, Heiji-no-ran): vụ nội loạn xảy ra vào tháng 12 năm đầu (1159) niên hiệu Bình Trị (平治). Nguyên nhân là do sự tranh giành thế lực giữa Đằng Nguyên Thông Hiến (藤原通憲, Fujiwara-no-Michinori, tức Tín Tây [信西, Shinzei]) và Đằng Nguyên Tín Lại (藤原信賴, Fujiwara-no-Nobuyori); rồi giữa Nguyên Nghĩa Triều (源義朝, Minamoto-no-Yoshitomo) với Bình Thanh Thạnh (平清盛, Taira-no-Kiyomori); hai bên đánh nhau kịch liệt, cuối cùng dòng họ Đằng Nguyên bị bại về tay họ Bình. Tín Lại bị tử tội chém đầu, còn Nghĩa Triều thì bị Trường Điền Trung Trí (長田忠致, Osada Tadamune) giết chết ở vùng Vĩ Trương (尾張, Owari).
Vụ Loạn Bảo Nguyên
(保元の亂, Hōgen-no-ran): vụ nội loạn xảy ra vào tháng 7 năm đầu (1156) niên hiệu Bảo Nguyên (保元). Trong nội bộ Hoàng Thất thì Sùng Đức Thượng Hoàng (崇德上皇) với Hậu Bạch Hà Thiên Hoàng (後白河天皇, Goshirakawa Tennō, tại vị 1155-1158), còn trong nội bộ Nhiếp Chính thì Đằng Nguyên Lại Trường (藤原賴長, Fujiwara-no-Yorinaga) và Đằng Nguyên Trung Thông (藤原忠通, Fujiwara-no-Tadamichi), thì trở nên đối lập nhau mãnh liệt. Về phía phe của Sùng Đức và Lại Trường thì có quân chủ lực của Nguyên Vi Nghĩa (源爲義, Minamoto-no-Tameyoshi), phía phe của Hậu Bạch Hà và Trung Thông thì có quân của Bình Thanh Thạnh (平清盛, Taira-no-Kiyomori) và Nguyên Nghĩa Triều (源義朝, Minamoto-no-Yoshitomo); hai bên giao chiến với nhau dữ dội. Cuối cùng thì phe của Sùng Đức đại bại và Thượng Hoàng bị lưu đày đến địa phương Tán Kì (讚岐, Sanuki) thuộc Tứ Quốc (四國, Shikoku). Qua cuộc đại loạn này, có thể nói đây là cơ hội lớn cho hàng võ sĩ tham gia vào chính giới.
Vụ Loạn Pháp Hoa Thiên Văn
(天文法華の亂, Tembunhokke-no-ran): xem Vụ Pháp Nạn Thiên Văn (天文の法難, Tembun-no-hōnan) bên dưới.
Vụ Loạn Thừa Cửu
(承久の亂, Jōkyū-no-ran): còn gọi là vụ Biến Động Thừa Cửu (承久の變, Jōkyū-no-hen), Thừa Cửu Hợp Chiến (承久合戰, Jōkyūgassen), là vụ chiến loạn xảy ra vào năm thứ 3 (1221) niên hiệu Thừa Cửu (承久), do Hậu Điểu Vũ Thượng Hoàng (後鳥羽上皇) có mưu đồ muốn lật đổ, tiêu diệt chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương; nhưng bị thất bại. Thay vào đó, thế lực Hoàng Gia thì suy vi, còn thế lực võ gia thì càng mạnh thêm.
Vụ Loạn Đảo Nguyên
(島原の亂, Shimabara-no-ran): còn gọi là Đảo Nguyên-Thiên Thảo Nhất Quỹ (島原・天草一揆, Shimabara-Amakusa-ikki), Loạn Đảo Nguyên-Thiên Thảo (島原・天草の亂, Shimabara-Amakusa-no-ran); là cuộc phản loạn nhất tề nổi dậy của Thiên Chúa Giáo có quy mô lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, xảy ra vào đầu thời Giang Hộ, và cuối cùng trở thành cuộc nội chiến hùng vĩ. Vụ loạn này bắt đầu bộc phát vào ngày 11 tháng 12 năm 1637 (Khoan Vĩnh [寛永] 14) và chấm dứt vào ngày 12 tháng 4 1638 (Khoan Vĩnh 15). Cụ thể là tầng lớp nông dân của Bán Đảo Đảo Nguyên (島原, Shimabara), Phì Tiền (肥前, Hizen) thuộc Phiên Đảo Nguyên (島原藩, Shimabara-han) do Tùng Thương Thắng Gia (松倉勝家, Matsukura Katsuie) quản lãnh, và quần đảo Thiên Thảo (天草, Amakusa), Phì Hậu (肥後, Higo) thuộc Phiên Đường Tân (唐津藩, Karatsu-han) do Tự Trạch Kiên Cao (寺澤堅高, Terazawa Katataka) quản lãnh, nổi dậy phản loạn do vì đối xử ngược đãi với bá tánh, thuế cống nạp hằng năm quá cao làm họ không đảm đương nỗi, kèm theo sự đàn áp Thiên Chúa Giáo, và cuộc sống người dân bị lâm vào cảnh nghèo cùng, đói khát. Đương thời tín đồ Thiên Chúa Giáo rất đông, Ích Điền Thứ Lang Thời Trinh (益田次郎時貞, Masuda Shirō Tokisada, tức Thiên Thảo Tứ Lang [天草四郎, Amakusa Shirō]) làm thủ lãnh cùng với giáo đồ của ông hơn 2 vạn người xông đến chiếm cứ thành. Chính Bảng Thương Trùng Xương (板倉重昌, Itakura Shigemasa), người được chính quyền Mạc Phủ phái làm đặc sứ đến tấn công thành, cuối cùng cũng bị chết trong trận chiến. tiếp theo vị quan Lão Trung là Tùng Bình Tín Cương (松平信綱, Matsudaira Nobutsuna) chỉ huy các Đại Danh ở vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū) tiến đánh mới giải phóng được thành.
Vụ Loạn Ứng Vĩnh
(應永の亂, Ōei-no-ran): vụ biến loạn xảy ra vào năm thứ 6 (1399) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永) do Đại Nội Nghĩa Hoằng (大內義弘, Ōuchi Yoshihiro) khởi xướng nhằm chống đối chính quyền Mạc Phủ Thất Đinh. Do Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿) khiêu chiến, ông cử binh đánh, nhưng vì tình hình bất lợi nên ông đã bị chết trong trận chiến.
Vụ Luận Tranh Tông Phái An Thổ
(安土宗論, Azuchi-no-shūron): cuộc luận tranh về Tông nghĩa giữa hai Tông phái được tiến hành ở Tịnh Hành Viện (淨行院) của Phái Trấn Tây (鎭西派) thuộc Tịnh Độ Tông, trong khuôn viên Từ Ân Tự (慈恩寺) ở Thôn An Thổ (安土村, Azuchi-mura), Quận Bồ Sanh (蒲生郡, Kamō-gun), Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]), dưới thời đại An Thổ Đào Sơn (安土桃山, Azuchimomoyama). Vào trung tuần tháng 5 năm 1597 (Thiên Chánh [天正] 7), vị Tăng của Phái Trấn Tây là Ngọc Niệm (玉念) từ Quan Đông (關東, Kantō) đến Thành An Thổ (安土城, Azuchi-jō) của Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga), rồi đàm luận về pháp trong vòng 7 ngày. Khi ấy, có 2 tín đồ của Nhật Liên Tông là Kiến Bộ Thiệu Trí (建部紹智) và Đại Hiếp Truyền Giới (大脇傳介) mới đặt ra những điều chất vấn về pháp; nhân đó Ngọc Niệm mới bảo 2 người này nên đi hỏi những vị tăng họ đã quy y theo; nên cuộc tranh luận kéo dài đến 11 ngày. Từ Vụ Pháp Nạn Thiên Văn (天文の法難, Tembun-no-hōnan) trở đi, Nhật Liên Tông đã tiến hành luận tranh với các phái Tịnh Độ Tông khắp nơi; nên đương thời Tín Trưởng cũng có ác cảm với tông này. Vào ngày 27 tháng 5 năm 1579, trong sự canh giữ nghiêm mật và có sự giám sát của nhà cầm quyền lúc bấy giờ, hai Tông phái này đã tiến hành luận tranh về Tông nghĩa, mỗi bên ngồi đối lập nhau 4 người. Phía Tịnh Độ Tông thì có Ngọc Niệm, Giáo Liên Xã Thánh Dự Trinh An (敎蓮社聖譽貞安) của Tây Quang Tự (西光寺), Tưởng Liên Xã Tín Dự Động Khố (想蓮社信譽洞庫), Tổ khai sơn Chánh Phước Tự (正福寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi); và Trợ Niệm (助念) của Nhất Tâm Viện (一心院) thuộc Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) ở kinh đô Kyoto làm Thư Ký. Còn phía Nhật Liên Tông thì có Nhật Quang (日珖) ở Đảnh Diệu Tự (頂妙寺), Nhật Đế (日諦) của Thường Quang Viện (常光院), Nhật Uyên (日淵) của Cửu Viện Tự (久遠寺) Thuộc Diệu Mãn Tự (妙滿寺), và vị tăng của Pháp Âm Viện (法音院) thuộc Diệu Hiển Tự (妙顯寺) làm Thư Ký. Hai bên ngồi đối mặt nhau để tranh luận dưới sự phán xét của Thiết Tẩu Cảnh Tú (鐵叟景秀) ở Nam Thiền Tự (南禪寺), Hoa Khê Chánh Tắc (華溪正稷), Cư sĩ Nhân Quả (因果, học giả của Hoa Nghiêm Tông) và Tiên Giác Phường (仙覺坊, học tăng của Pháp Tướng Tông). Mười ba câu hỏi được nêu lên và cuối cùng thì do sự can thiệp của Cư sĩ Nhân Quả cũng như ý đồ của Tín Trưởng, nên Tịnh Độ Tông thắng luận. Với kết quả đó, các ngôi chùa của Nhật Liên Tông ở kinh đô phải nộp tiền phạt; từ Nhật Quang trở đi phải trở về ẩn cư, không được ló mặt ra ngoài hoạt động. Hơn nữa, Tín Trưởng còn ban bố chính sách khắp toàn quốc, cấp tiền thưởng cho những ai gây áp bức cho Nhật Liên Tông, và ông có kế hoạch muốn đàn áp thẳng tay tông phái này. Về sau, đến thời Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) thì Nhật Liên Tông mới được khôi phục lại.
Vụ Pháp Nạn Khánh Trường
(慶長法難, Keichō-no-hōnan): vụ pháp nạn xảy đến với nhóm Nhật Kinh (日經) thuộc môn hạ Nhật Thập (日什) của Nhật Liên Tông, xảy ra vào khoảng thời gian niên hiệu Khánh Trường (慶長, 1596-1615). Vào tháng 9 năm thứ 13 (1608) niên hiệu trên, khi Nhật Kinh đang bố giáo ở vùng Nhiệt Điền (熱田, Atsuta) thuộc tiểu quốc Vĩ Trương (尾張, Owari), ông bắt đầu đối lập với hàng tăng tục của Chánh Giác Tự (正覺寺) thuộc Tịnh Độ Tông. Khi bị phía Tịnh Độ Tông tố cáo, Nhật Kinh mới tiến hành cuộc luận tranh về Tông nghĩa ở Thành Giang Hộ (江戸城, Edo-jō) vào ngày 15 tháng 11 cùng năm này. Nhưng trước đó một đêm thì Nhật Kinh bị ai đó đánh lén, bị trọng thương gần chết. Vì thế, đệ tử ông mới xin chính quyền Mạc Phủ cho kéo dài cuộc đàm luận, nhưng không được chấp thuận; cho nên cuộc luận tranh chấm dứt với kết quả phe Tịnh Độ Tông thắng lợi. Cuối cùng Nhật Kinh cùng với 5 người đệ tử ông bị xử tội xâu mũi và tai cho đến khi tắt thở mà thôi.
Vụ Pháp Nạn Nhiệt Nguyên
(熱原の法難, Atsuhara-no-Hōnan): còn gọi là Pháp Nạn Gia Đảo (加島法難), vụ đàn áp môn đồ Nhật Liên Tông vào năm 1279 tại địa phương Nhiệt Nguyên (熱原, Atsuhara, thuộc Fuji-shi [富士市], Shizuoka-ken [靜岡縣]) thuộc tiểu quốc Tuấn Hà (駿河, Suruga). Trước đó, Nhật Hưng (日興), đệ tử của Nhật Liên, lấy Tứ Thập Cửu Viện (四十九院) ở Bồ Nguyên (蒲原, Kanbara) làm cứ điểm để truyền bá giáo lý của thầy ở khu vực Quận Phú Sĩ (富士郡, Fuji-gun), rồi thâu nhận nhóm Nhật Tú (日秀), Nhật Biện (日辨) ở Lang Tuyền Tự (瀧泉寺) làm đệ tử. Từ đó, nhóm này cũng truyền bá giáo lý của Nhật Liên đến tầng lớp nông dân ở địa phương này. Tuy nhiên, vì Hành Trí (行智), viện chủ của Lang Tuyền Tự, là người thuộc Tịnh Độ Tông, có quyền lực rất lớn trong vùng; nên ông có dự định muốn ức chế hoạt động của nhóm Nhật Tú và nông dân. Chuyện này đã sớm xảy ra, nông dân bị thương hại rất nhiều, rồi năm ấy nhân vụ cắt cỏ mà ông kiện lên chính quyền Liêm Thương về việc nhóm Nhật Tú phỉ báng các tông phái khác và cắt cỏ ruộng bừa bãi; cho nên 20 người nông dân bị bắt giam ở Liêm Thương. Lúc bấy giờ, Nhật Liên thay thế cho nhóm đệ tử Nhật Tú, viết bản trạng văn trần tình. Khi điều tra lấy khẩu cung, quan điều tra bắt mấy người nông dân niệm Phật; nhưng thay vào đó, họ lại xướng cao đề mục Kinh Pháp Hoa. Với kết quả đó, 3 người bị xử trảm, còn lại thì bị giam trong lồng tre. Nhân sự việc này, Nhật Liên kêu gọi toàn thể môn đồ của ông nhất tề đứng lên phản đối. Theo chỉ thị của Nhật Liên, nhóm Nhật Tú, Nhật Biện đến lánh nạn trong nhà tín đồ ở Hạ Tổng (下總, Shimōsa); và người bị hại chính là nông dân.
Vụ Pháp Nạn Thiên Văn
(天文法難, Tembun-no-hōnan): còn gọi là Vụ Loạn Pháp Hoa Thiên Văn (天文法華の亂, Tembunhokke-no-ran), là vụ loạn xảy ra vào năm 1536 (Thiên Văn [天文] 5), do đồ chúng Tỷ Duệ Sơn kết hợp với chúng Lục Giác Cận Giang (六角近江), loạn nhập vào vùng Lạc Trung (洛中) và đốt cháy tan tành 21 ngôi chùa trung tâm lớn của Pháp Hoa Tông ở kinh đô Kyoto. Đối với Pháp Hoa Tông, đây được gọi là Vụ Pháp Nạn Thiên Văn hay Vụ Pháp Loạn Thiên Văn. Nguyên nhân trực tiếp của vụ loạn này phát xuất từ sự việc vào tháng 2 năm này, Hoa Vương Phòng (華王房) của Tỷ Duệ Sơn luận tranh Tông nghĩa với Tùng Bổn Cửu Cát (松本久吉), môn đồ của Pháp Hoa Tông, và kết quả bị bại trận; từ đó, tiếng đồn vang ra khắp nơi, nên chúng Sơn Môn bị mất mặt. Vào đầu tháng 6, đại chúng Sơn Môn mở ra hội nghị tập trung cả Tam Viện, quyết định đuổi Pháp Hoa Tông ra khỏi vùng Lạc Trung, đồng thời phát ra điệp trạng cầu viện binh ở các chùa lớn khác như Đông Tự (東寺), Thần Hộ Tự (神護寺), Căn Lai Tự (根來寺), Phấn Hà Tự (粉河寺), Cao Dã Sơn (高野山), Tam Tỉnh Tự (三井寺), Đông Đại Tự (東大寺), Hưng Phước Tự (興福寺), Thạch Sơn Bổn Nguyện Tự (石山本願寺), v.v. Nhóm Lục Giác Định Lại (六角定賴) cũng như Mộc Trạch Trường Chính (木澤長政) đã khuyên hai bên nên điều đình; nhưng không thành công, ngược lại chúng của chúng của Lục Giác Cận Giang lại đứng về phía Sơn Môn mà xuất trận. Cuộc chiến xảy ra vào ngày 22 tháng 7 năm 1536, kéo dài trong vòng 28 ngày. Thế lực của Sơn Môn 150.000 người, chúng của Lục Giác có 30.000; phái Tự Môn có 3.000. Còn phía Pháp Hoa Tông thì gồm những tăng đồ của hết cả 21 ngôi chùa trung tâm, có khoảng 20.000 hay 30.000 người. Ban đầu, trận chiến diễn ra rất gay gắt; đến ngày 27 thì chúng của Cận Giang mới loạn nhập vào các vùng ở kinh đô, phóng hỏa đốt cháy các chùa. Vùng Hạ Kinh thì cháy tan toàn bộ, còn vùng Thượng Kinh thì cháy khoảng 1/3, và cho đến hôm sau thì toàn bộ 21 ngôi chùa trung tâm lớn của Pháp Hoa Tông đều bị đốt cháy rụi. Về phía Pháp Hoa Tông, có rất nhiều tăng tục đã hy sinh trong trận chiến như trường hợp Nhật Triệu (日兆), trú trì Diệu Giác Tự (妙覺寺), đã mổ bụng tự vẫn. Số lượng người hy sinh lên đến 10.000 hay 3.000, 4.000 người. Hàng ngàn dân chúng phải chạy đi lánh nạn; đàn bà con nít thì bị giết chết, cũng có trường hợp khát nước mà chết, tính ra có đến mấy trăm người. Tai hại của vụ loạn này nếu so với vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂) thì hơn xa. Hơn nữa, ảnh hưởng của vụ loạn này đã gây thiệt hại nhiều vô kể. Sau đó, vào tháng 10 nhuận, Tế Xuyên Tình Nguyên (細川晴元), tín đồ của Pháp Hoa Tông có quyền lực rất lớn, nghiêm cấm không được tái kiến những ngôi chùa trung tâm ở vùng Lạc Trung. Về sau, khi lệnh cấm này được giải bỏ thì trong số 21 ngôi chùa lớn trung tâm, chỉ có 15 ngôi được tái kiến mà thôi.
Vụ Pháp Nạn Vĩnh Hưởng
(永享の法難, Eikyō-no-hōnan): vụ đàn áp môn đồ Nhật Liên Tông ở vùng Liêm Thương vào năm 1436. Trước khi xảy ra vụ này, Nhật Xuất (日出) mở rộng phạm vi giáo hóa của ông rất mạnh ở Liêm Thương và hàng phục được các tông phái khác. Nhân đó, Tâm Hải (心海), vị Tăng ở Kim Cang Bảo Giới Tự (金剛寶戒寺) thuộc Thiên Thai Tông, mới nổi giận và khiêu khích luận tranh về giáo lý với Nhật Xuất. Cuộc luận tranh được tổ chức vào ngày 13 tháng 5 năm 1436, và được gọi là Cuộc Vấn Đáp Vĩnh Hưởng. Lúc ấy, đệ tử của Nhật Thân (日親) là Nhật Xuất cũng tham gia vào cuộc luận tranh này. Kết quả thì Tâm Hải bị bại trận. Nhật Xuất ghi lại tất cả sự việc này rồi đem trình lên cho người quản lãnh Liêm Thương lúc bấy giờ là Túc Lợi Trì Thị (足利持氏, Ashikaga Mochiuji), để tuyên xướng về Tông nghĩa của mình và can gián đừng gây tổn hại cho Tông môn ông nữa. Đương thời, chính Trì Thị cũng hay có sự bất hòa với Thượng Sam Hiến Thật (上杉憲實), người quản lãnh vùng Quan Đông (關東, Kantō) và rất được chính quyền Mạc Phủ tín nhiệm, đến nỗi Hiến Thật phải cử binh đánh Trì Thị. Phần Tâm Hải thì sau khi bị bại về tay Nhật Xuất, ông đã gởi thư kháng tố lên Trì Thị. Theo Truyền Đăng Sao (傳燈抄) của Nhật Thân, Trì Thị đã tịch thâu khoảng 16 ngôi chùa của Nhật Liên Tông ở vùng Liêm Thương; tu sĩ thì bị đày đi xứ xa, còn tín đồ thì bị chém đầu. Chủ yếu ông dùng thủ đoạn này để làm cho tín đồ sợ hãi, không còn chí hướng hành đạo nữa. Nhưng ngược lại khi nghe như vậy, khoảng 10 người đại diện cho tín đồ đã tập trung đứng dậy đấu tranh. Khi nghe vậy, Trì Thị mới hạ lệnh tha tội cho những người bị bắt.
vụn
Pieces—Crumbs.
vụng
1) Unskilled—Awkward—Clumsy—Unhandy—Unskilful. 2) Secretly—On the sly (quiet).
vụng dại
Silly—Foolish—Stupid.
vụng trộm
See Vụn (2).
vụng tính
To miscalculate.
vụng về
See Vụn (1).
vụng ở
To behave awkwardly.
vụt
1) To strike with a whip. 2) To throw something. 3) Suddenly—Rapidly.
vụt nhớ
To remember suddenly.
vụt quên
To forget just now.
vứt bỏ
To give up.
vừa khít
Ti fit exactly.
vừa khỏi bào thai lại nhập thai
As soon as sentient beings escape one womb, they enter another.
vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ
Both shaken and joyful.
vừa lòng
Satisfied—Content—pleased.
vừa lúc
Just at the moment.
vừa mắt
Pleasant to the eyes.
vừa phải
Moderate—Reasonable.
vừa sức
Withnone's capability (reach).
vừa tầm
Within one's reach.
vừa vặn
To fit exactly.
vừa ý
Pleased—Content.
; 1) Contented. 2) To fit perfectly (clothes)—To suit. 3) Just now (vừa mới).
vừa đủ
Sufficient—Enough.
vững
Firm—Stable—Steadfast.
vững bền
Lasting—Durable.
vững bụng
Confident—Sure.
vững chãi
Steady—Firm—Stable—Fast.
vững chắc
See Vững Chãi.
vững dạ
Reassured—Confident.
vững lòng
See Vững Dạ.
vững vàng
Certainty.
vực
1) Biên địa: Limit—Frontier. 2) Khu vực: Region.
vực long
Xem Trần Na.
; Dignàga, Dinnàga (S). Name of person. Also Trần Na, Đồng Thụ.
; Dignaga, or Dinnaga (skt)—Còn gọi là Đại Vực Long, tên của một vị luận sư nổi tiếng, tiếng Phạn là Trần Na, tác giả của bộ Tân Nhân Minh Học, và cũng là vị tổ của trường phái nầy—A celebrated Buddhist philosopher, author of a famous treatise on logic. He was also the founder of this sect.
vực thẳm
Abyss—Deep ravine.
vực tâm
The limits of the mind, natural endowment.
vỹ
Tail—End.
Wabicha
(侘茶): một hình thức của Cha-no-yu. Đối xứng với Thư Viện Trà (書院茶) lưu hành dưới thời đại Đông Sơn (東山, Higashiyama), kể từ sau thời của Thôn Điền Châu Quang (村田珠光, Murata Shūkō) trở đi, Wabicha rất thịnh hành dưới thời đại Đào Sơn (桃山, Momoyama) và rất chú trọng cảnh địa tịch tĩnh, đơn giản. Tương truyền Lợi Hưu (利休) là người đã hình thành nên hình thức nầy.
xa
1) Khoảng xa: Distant—Far—Far away. 2) Họ xa: Far off in relation—Distant. 3) Mua bán bằng tín dụng: To buy or sell on credit. 4) Thừa (xe cộ): Car—Vehicle—Wheeled conveyance. 5) Xa cách: To separate—To part from. 6) Xa hoa: Extravagant.
xa bát la bà
Tên của một loài thần—Name of a spirit.
xa cách
Far—Separated—far-off.
xa cừ
Musaragalva, or Musalagarbha (skt)—Một trong thất bảo—Mother-of-pearl, or coral, one of the saptaratna. ** For more information, please see Thất Bảo.
Xa cừ 硨磲
[ja]シャコ shako ||| A precious gem derived from the shell of a shellfish (musāra-galva). One of the seven jewels 七寶. => Ngọc quý có từ trong con sò hoặc trai (musāra-galva). Là một trong bảy loại báu.
xa di
Sami (skt)—Tên của cây Câu Kỷ—A leguminous tree associated with Siva.
xa di thôn kinh
Sāmagāmasuttanta (S)Tịnh bất động đạo kinhTên một bộ kinh.
xa gần
Far and near.
xa hoa
Luxurious—Lavish.
xa hơn
Farther.
xa lìa
Separated.
xa lìa ba pháp chướng
To abandon the three things that hinder enlightenment.
xa lạ
Strange.
xa lắc
Very far.
xa lợi da
Tên gọi nơi ở của các vị Bà La Môn—Name of the residence of Brahmins.
xa lợi phất
Sarputra (skt)—See Xá Lợi Phất.
xa ma tha
Samàtha (S). To cease; tranquility, serenity. Also Chỉ.
xa ma địa
Samatha (skt)—Xá Ma Tha—Xa Ma Đà—Xá Ma Đà—Một trong bảy tên gọi của thiền định (thu nhiếp tâm vào một duyên, xa lìa mọi tán loạn; trong các cảnh nhiễm tịnh mà tâm không vọng duyên)—One of the seven names for dhyana. 1) Chỉ: Quiet. 2) Tịch tĩnh: Tranquility—Calmness of mind. 3) Năng diệt dục: Absence of passion—Rest—Peace—Power to end passions.
xa mù
Very far—Very far away.
xa mặt cách lòng
Out of sight, out of mind.
xa na
Xem Thương na.
xa nhau
Far from each other.
xa nặc
Candaka (S), canna (S)Tên người đánh xe ngựa trung thành của đức Phật. Xa nặc dùng con ngựa tên Kiền Trắc (Kanthaka) đánh xe đưa Ngài trốn ra khỏi hoàng cung Kapilavastu để đi tuNgười giữ ngựa của Thái tử Tất đạt đa.
; Chandaka (S). The coachman of the Prince Siddhàrtha.
; Chandaka (skt)—Channa (p)—Người hầu cận của thái tử Sĩ Đạt Đa. Ông đã đánh xe đưa Thái tử Sĩ Đạt Đa rời cung điện trong đêm Ngài xuất gia, để vào rừng và bắt đầu cuộc sống không nhà để tìm phương cứu nhân loại. Sau nầy Xa Nặc cũng trở thành một đệ tử của Đức Phật. Tuy nhiên, trong Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất, các Tỳ Kheo đã thông qua hình phạt cao nhất áp dụng cho Xa Nặc vì ông đã tỏ ra xem thường Tăng đoàn từ cao đến thấp và vô cùng ngạo mạn. Hình phạt áp dụng là sẽ bị cô lập hoàn toàn về mặt xã hội. Khi hình phạt được thông báo thì Xa Nặc đã tỏ ra hối hận, buồn phiền sâu sắc và đã sửa chữa hết mọi lỗi lầm của mình. Sau đó ông đã đắc quả A La Hán—Channa, the servant of Prince Siddhartha, the Buddha's charioteer or driver, one who drove Prince Siddartha from his father's palace into the forest on the night of his renunciation of the world, where he entered the homeless life to seek salvation for mankind. Chandaka later became a disciple of the Buddha. However, at the First Council, the ighest penalty was passed on him because he had slighted every member of the Order, high and low, and was arrogant in the extreme. The penelty imposed was complete social boycott. When the punishment was announced to Channa, he was seized with profound repentance and grief and was purged of all his weaknesses. Soon after that, he became an Arhat.
xa quá
Very far.
xa vời thiếu thực tế
Far-fetched and unrealistic.
xa xăm
Distant—Remote.
xa xỉ
Luxury—Unnecessary.
xa yết la
Sakala (skt)—Kinh đô cổ của Takka của toàn vùng Punjab. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì Xa Yết La là vùng bây giờ gọi là làng Sanga, vài dậm về phía tây nam Amritsar, nhưng điều nầy không chắc—The ancient capital of Takka and under Mihirakula of the whole Punjab; the Sagala of Ptolemy. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Sakala is the place of present village of Sanga, a few miles south-west of Amritsar, but this is doubtful.
xa đa
Santa (skt)—Pacified—At ease—Ceased—Dead—Liberated.
xa đế
Tên của một hang động tại Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế—The name of a cave, said to be Sataparna, or Saptaparnaguha during the Buddha's lifetime.
xa-ma-tha
phiên âm từ Phạn ngữ Śamatha, là tên gọi khác của thiền định, thường được dịch với các nghĩa như là: chỉ, tịch tĩnh, năng diệt. Xem chỉ và quán.
Xa-ma-tha 奢摩他
[ja] シャマタ shamata ||| A transliteration of the Sanskrit term śamatha which means 'calm abiding' or 'stabilization.' Stopping the wandering of the mind and focusing it on one object, thus bringing about a condition of quietude. In Chinese Buddhist literature it is usually rendered with the ideographs 止 and 定. => Phiên âm chữ śamatha từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là “tĩnh chỉ” hoặc “an tĩnh”. Tâm ý không tán loạn và tập trung vào một đối tượng, dẫn đến trạng thái thanh thản. Trong kinh văn Phật giáo tiếng Hán, thường dịch từ nầy là 'chỉ' (止 )và 'định'(定).
Xa-nặc
phiên âm từ Phạn ngữ Chandaka, là một tỳ-kheo tính tình kiêu mạn, xấu ác; cũng là một trong nhóm Lục quần tỳ-kheo. Xa-nặc chính là người hầu cận và đánh xe cho thái tử Tất-đạt-đa khi còn ở vương cung, sau khi Phật thành đạo xin xuất gia tu học, ỷ mình có xuất thân gần gũi với Phật năm xưa nên khinh thị các vị tỳ-kheo khác, thường làm nhiều việc xấu, ác khẩu, vì thế thường có tên gọi là Ác khẩu Xa-nặc hay Ác tánh Xa-nặc. Sau khi Phật nhập diệt, ông có lần bị chúng tăng trừng trị bằng phép mặc tẩn (cách ly không tiếp xúc); cuối cùng theo ngài A-nan được dạy bảo đến khi chứng quả A-la-hán.
xan
(慳) Phạm:Màtsarya. Cũng gọi: Xan. Bỏn sẻn, tên của một tâm sở, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tông Câu xá cho rằng Khan là 1 trong các Tiểu phiền não địa pháp, 1 trong 8 triền, 10 triền, 9 kết; đẳng lưu của Khan là tham, có thực thể riêng biệt. Tông Duy thức thì cho Khan là 1 trong các Tùy phiền não, lấy một phần tham ái làm thể, lìa tham thì không có tướng dụng riêng của Khan. Cứ theo phẩm Tạp phiền não trong luận Thành thực quyển 10, thì Khan có 5 loại: Trụ xứ khan, Gia khan, Thí khan, Xưng tán khan và Pháp khan, nghĩa là tâm còn muốn chiếm riêng cho mình về chỗ ở, nhà cửa, bố thí, khen ngợi và pháp nghĩa. [X. luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Du già sư địa Q.89; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].
xan pháp thất báo
(慳法七報) Bảy quả báo xấu mà người bỏn xẻn giáo pháp phải hứng chịu. Cứ theo luận Thành thực quyển 12 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 30, thì người bỏn sẻn không ưa bố thí pháp là tiêu diệt hạt giống Phật, 3 đời 10 phương chư Phật coi họ là giặc, đời sau phải chịu 7 thứ ác báo là: 1. Sinh manh báo: Từ thai mẹ sinh ra đã bị mù, không thấy được ánh sáng mặt trời, mặt trăng và muôn vật. 2. Ngu si báo: Mê lầm, không biết rõ các pháp. 3. Sinh ác gia báo: Sinh vào nhà người không tin Tam bảo, gây các tội ác, hoặc sinh vào nhà có thù oán. 4. Thai yểu báo: Chết non ngay khi còn trong bụng mẹ. 5. Vật khủng báo: Bị tất cả vật ác làm cho sợ hãi. 6. Thiện nhân viễn li báo: Người lương thiện đều xa lánh, không muốn gần gũi. 7. Vô ác bất tác báo: Làm tất cả các việc ác, không từ một việc nào.
xan tham
(慳貪) Phạm:Màtsarya-ràga. Cũng gọi: Xan tham. Bỏn sẻn và tham lam. Tiếc tiền của không bố thí cho người và tham cầu không biết chán. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 thượng), nói: Nếu dùng pháp Tiểu thừa để giáo hóa người, thì dù chỉ một người thôi ta cũng rơi vào khan tham. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 thượng), nói: Vì biết thể của pháp tính không có khan tham, nên tùy thuận tu hành Bố thí ba la mật Tâm khan tham có thể dùng Bố thí ba la mật để đối trị. [X. kinh Trung a hàm Q.31; kinh Bồ tát bản hạnh Q.thượng; Pháp hoa kinh văn cú Q.4 hạ].
xan tâm
(慳心) Cũng gọi: Xan tham tâm. Tâm bị các thứ phiền não bỏn sẻn, tham lam che lấp nên không chịu làm việc bố thí, hoặc có bố thí thì cũng chỉ đem những vật mình không dùng được nữa để cho người. Là một trong Lục tế(6 thứ tâm xấu xa). [X. luận Đại trí độ Q.33; Đại minh tam tạng pháp số Q.37]. (xt. Lục Tế).
xan tích gia hủy giới
(慳惜加毀戒) Cũng gọi: Xan sinh hủy nhục giới, Xan tích tài pháp giới, Cố xan gia hủy giới, Xan giới, Bất xan giới. Giới răn không được sẻn tiếc tài pháp và làm nhục người. Là 1 trong 10 giới trọng cấm của Hiển giáo. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1004 hạ), nói: Khi Bồ tát thấy những người nghèo khổ đến cầu xin, lẽ ra phải tùy nhu cầu của họ mà cung cấp theo khả năng của mình, nhưng vì tâm xấu xa, tâm hờn giận, nên chẳng những Bồ tát đã không cho ai được một đồng tiền, một cây kim, một ngọn cỏ; hoặc nói một câu kinh, một bài kệ cho người cầu pháp, mà trái lại, còn nhục mạ họ, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát. [X. Bồ tát giới nghĩa sớ Q. hạ]. (xt. Thập Trọng Cấm Giới).
Xan 慳
[ja] ケン ken ||| (mātsarya, matsara, lobha; Pali pariggaha); Tib. ser sna. 'stinginess,' 'parsimony.' One of the lesser afflictions as listed in the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the twenty secondary afflictions (隨煩惱) in the doctrine of the Yogācāra school 瑜伽行派. The name of the mental function whereby one is unable to give to others due to addiction to assets and/or dharma. 〔成唯識論T 1585.31.33b〕 (s: mātsarya, matsara, lobha; p: pariggaha; t: ser sna). => Keo kiệt, bủn xỉn. Là một trong Tiểu phiền não địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, và là một trong 20 tuỳ phiền não theo giáo lý Duy thức. Là tâm hành do mình không sẵn lòng bố thí cho người khác vì tham đắm tài sản hoặc bỏn sẻn pháp.
xao lãng
To distract—To neglect.
xao xuyến
Excited—Stirred.
Xao xướng 敲唱
[ja] コウショウ kōshō ||| The ideograph 敲 means to knock, referring to the student's questioning of the teacher, and 唱 refers to the appropriate answer on the part of the teacher. Chan technical teaching terminology. => Chữ Xao có nghĩa là gõ, nói đến câu hỏi giữa môn đệ và thầy, và chữ Xướng Là câu trả lời đáp lại của thầy. Là thuật ngữ về cách dạy người của Thiền tông.
xao động
Xem trạo cử.
; See Xao Xuyến.
xe
Chariot.
xe trâu
Goratha (S).
xem
To watch—To see—To look at.
xem bói
To consult a fortune-teller.
xem chừng
It sems that.
xem khinh
To contemn—To scorn—To disdain.
xem lại
To see again.
xem mặt
To see the future bride before deciding on the marriage.
xem như
To regard—To consider.
xem qua
To run (look) through--To look over.
xem ra
See Xem Chừng.
xem sao
1) To observe the stars. 2) To see what happens.
xem sơ qua
To skim—To scan.
xem thường
To underestimate—To look lightly—To disregard—Chúng ta không nên xem thường những việc xấu nhỏ như chẳng có gì vì sau khi chết quả báo phải trả không thiếu một chi tiết nào—One should never looks lightly upon slight and small evils, considering them not be offenses; for after death retribution in undergone in the most exact detail.
xem tuổi
To study the horoscope of a boy and a girl before deciding on the marriage.
xem tướng
Phán đoán con người qua hình dung tướng mạo—To judge temperament and character from facial features or form of body.
xem xét
To examine—To see (look) into—To consider.
xen
1) To insert. 2) To interfere—To intervene. 3) To interrupt.
xen kẻ
To put between.
xen lẫn
Intermingled.
xen vào
To interfere—To intervene.
xich ngọc
Kiṁśuka (S).
xin
To demand—To ask for—To request—To beg—To beseech.
xin giữ giới là lìa bỏ sát sanh
Take precepts to give up killing.
xin keo
To consult the oracles.
xin kiếu
1) To send excuse for not coming. 2) To say good-bye.
xin lỗi
Kāmayati (S), Excuse.
; To apologize—To beg pardon—To ask to be excused—To make excuse.
xin nghỉ phép
To ask (request) for leave of absence.
xin thôi
To resign—To send in one's resignation.
xin tiền
To ask for money.
xin việc
To ask for work—To apply for a job.
xin xăm
See Xin Keo.
xin xỏ
To demand—To request—To ask for.
xin ăn
To beg for food.
xinh
Pretty—Charming.
xinh xắn
Cute—Lovely.
xinh đẹp
See Xinh.
xiêm châu
Xem Xà đề.
xiên
1) Slanting—Inclined—Leaning---Oblique. 2) To stab (pierce) through.
xiên qua
To transpierce—To pierce through.
xiên xẹo
Crooked.
xiêu
Inclined—Leaning—Aslant.
xiêu bạt
Phiêu bạt—To have no fixed home—To wander from place to place—To drift.
xiêu lòng
To be persuaded (allured).
xiêu lạc
To lose one's way—To go astray.
xiêu vẹo
See Xiêu.
xiếc
Circus.
xiết
1) To seize (xiết đồ). 2) To rub hard. 3) To flow fast (water).
xiển đà
Chandaka (skt)—See Xa Nặc in Vietnamese-English Section.
xiển đà luận
Chandas (S)Vệ đà.
xiển đề
Xem Nhứt điên ca.
; Atyantika (S). Also Nhất xiển đề.
; Phế bỏ Phật pháp—Abandon Buddha-truth.
xiển đề tỳ kheo
Vị Tỳ Kheo không chịu vào Niết Bàn mà ở lại trần thế để tế độ chúng sanh—Bhiksus who refuse to enter upon their Buddhahood in order to save all beings
xiển-đà
(闡陀): Trong Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự (有部毘奈耶雜事), quyển 6 có lời chú như sau: 言闡陀者,謂婆羅門讀誦之法(Ngôn xiển-đà giả, vị bà-la-môn độc tụng chi pháp. - Nói xiển-đà, đó là nói phép tụng đọc của đạo Bà-la-môn...) Vì thế, xiển-đà tức là phép tụng đọc của ngoại đạo vào thời đức Phật.
xiểng liểng
Crushing defeat.
xiệc
See Xiếc.
xo
Buồn xo—Very sad.
xoa
To rub.
xoa bóp
To massage.
xoa dầu
To rub with oil.
xoa dịu
To be placated.
xoa tay
To rub one's hands together to express satisfaction.
Xoa thủ 叉手
[ja] サシュ shashu ||| (1) Folding the palms of the hands together with the fingers crossed. Also, the palms together with the middle fingers crossing each other--an old Indian form of greeting. (2) Both hands overlapping on the breast. Bending the left hand and folding the remaining four fingers to make a fist, a small distance away from the breast, then covering with the right hand, spreading the elbows in the area of the breast. => 1. Chắp hai bàn tay lại từng ngón đan lại với nhau. Cũng vậy, hai bàn tay chắp lại với những ngón giữa đan lại với nhau--một hình thức chào nhau của người Ấn Độ thời xưa. 2. Cả hai tay ấp lên ngực. Co tay trái và giữ bốn ngón tay còn lại thành nắm tay, giữ một khoảng cách nhỏ với ngực, rồi dùng tay phải nắm lấy tay trái, dang khuỷu tay ra phía trên vùng ngực.
Xoa 叉
[ja] サ, シャ sa, sha ||| (1) Also, again. (2) To clasp the hand; to interlock the fingers. (3) A prong, a fork. => 1. Lại nữa, lần nữa. 2. Siết chặt tay; Các ngón tay đan vào nhau. 3. Cái chĩa, cái nĩa.
xoay quanh
To revolve.
xoay tiền
To find money.
xoay xở
To be resourceful.
xoi bói
Xoi mói—To find fault with.
xong
To accomplish—To end—To finish.
xong chuyện
To have done with something.
xong hẳn
To finish (accomplish—end) completely.
xong nợ
To get out of debt.
xong xuôi
Ended—Finished.
xong đời
To pay the debt to nature—To have done with life.
xoàng xĩnh
Mediocre.
xoáy
To swirl—To whirl.
xoạc
To spread wide apart.
xoắn
To attach oneself to—To hang on—To cling to.
xoắn xít
See Xoắn.
xu
Chốt hay trục cửa—A pivot—An axis.
xu hướng
Tendency—Inclination.
xu thế
Tendency.
xu thời
To be an opportunist.
Xu yếu
樞要; C: shū yào; J: sūyō; |1. Điểm then chốt; điểm sinh động; điểm quan trọng; 2. Luận giải với dụng ý làm sáng tỏ yếu điểm của kinh văn, như Thành Duy thức luận xu yếu (成唯識論樞要) của Khuy Cơ.
xu yếu
Nguyên tắc—The pivot—Principles.
xua đuổi
To get rid of someone—To drive away someone—To put away from the mind (something).
xui
1) Out of luck—Unlucky—Unfortunate. 2) To urge—To induce—To excite—To persuade—To tempt.
xui bảo
To advise.
xui giục
See Xui (2).
xui khiến
To bring about—To cause.
xui ngầm
To incite in an underhand way.
xui nên
See Xui khiến.
Xung
冲 (沖); C: chōng; J: chū;|Có các nghĩa sau: 1. Sự hài hoà, tính ân cần, vui lòng; 2. Sâu, thăm thẳm; 3. Không, trống không; 4. Xông tới, va chạm; 5. Toả ra, truyền đi; 6. Bay vút lên, đi lầm đường.
xung
Nổi xung—To fly into a rage—To get into a fury (passion—temper).
xung gan
To be angry (in a temper).
xung khắc
Disagreeing with—Incompatible.
xung quanh
About—Round—Around.
xung thiên
To ascend to the sky.
xung yếu
Important ground.
xung đột
Conflict
; Struggle—Conflict.
Xung 冲
[ja] チュウ chū ||| (1) Harmonious, complaisant, agreeable. (2) Deep, profound. (3) Nothingness, emptiness, void [空, 虚]. (4) To dash against, to clash with. (5) To pour out; to infuse. (6) To soar, to wander from. => Có các nghĩa sau: 1. Sự hài hòa, tính ân cần, vui lòng. 2. Sâu, thăm thẳm. 3. Không, trống không [không, hư]. 4. Xông tới, va chạm. 5. Tỏa ra, truyền đi. 6. Bay vút lên, đi lầm đường.
xuy
Thổi—To blow—To puff—To praise.
Xuy cữu mộng
(炊臼夢): giấc mơ thấy đốt cối xay. Từ này phát xuất từ câu chuyện của Trương Chiêm (張瞻) trong Tây Dương Tạp Trở, phần Mộng (夢) của Đoàn Thành Thức (段成式, khoảng 803-863) nhà Đường như sau: “Cổ khách Trương Chiêm tương quy, mộng xuy ư cữu; vấn Vương Sanh, Sanh ngôn: 'Quân quy, bất kiến thê hỉ; cữu trung xuy, cố vô phủ dã.' Cố khách chí gia, thê quả tốt dĩ sổ nguyệt (賈客張瞻將歸、夢炊於臼、問王生、生言、君歸、不見妻矣、臼中炊、固無釜也、賈客至家、妻果卒已數月, vị khách buôn tên Trương Chiêm chuẩn bị về nhà, chợt mộng thấy đốt chiếc cối xay; bèn hỏi Vương Sanh, Sanh đáp: 'Ông về đến nhà thì không gặp được vợ nữa, đốt trong cối, cứng không có nồi.' Khi người khách buôn về đến nhà, quả nhiên vợ ông đã qua đời mấy tháng rồi).” Từ “vô phủ (無釜)” đọc trại là “vô phụ (無婦)”, nghĩa là không có vợ, không còn vợ nữa, tức là vợ đã chết. Cho nên, xuy cữu (炊臼) hay xuy cữu mộng đều là những từ được dùng để chỉ cho vợ chết. Từ đó, có một số từ liên quan khác như xuy cữu chi thống (炊臼之戚), xuy cữu chi thích (炊臼之痛) để nói lên niềm đau xót vô biên khi mất vợ, hay để tang vợ. Trong Liên Pha Thi Thoại (蓮坡詩話) quyển trung của Tra Vi Nhân (查爲仁, 1693-1749) nhà Thanh có câu: “Tân xú trọng xuân, dư tao xuy cữu chi thống, đồng nhân hòa điệu vong thi thậm đa (辛醜仲春、餘遭炊臼之痛、同人和悼亡詩甚多, giữa mùa xuân xui xẻo, gặp phải tang vợ, mọi người cùng làm thơ thương tiếc rất nhiều).” Khi đám tang người vợ, trong một số đối liễn, thường có câu: “xuy cữu mộng lai (炊臼夢來, giấc mơ đốt cối đến).”
xuy mao
Kiếm “Xuy Mao” có thể chẻ đôi một chiếc lông đang rơi—Name of a sharp sword, that would sever a falling feather.
xuy pháp loa
Thổi loa pháp. Ví việc Phật thuyết pháp như thổi tù và hiệu lệnh cho ba quân vậy—The blow the conch of the Law, the Buddha's teaching.
xuy quang
To blow out a light.—A blown-out light.
xuyên
1) Con suối: A stream—A mountain stream. 2) Tỉnh Tứ Xuyên: Ssu-Ch'uan province in China. 3) Mặc (quần áo): To wear. 4) Xuyên qua (dùi): To bore—To pierce—To thread.
xuyên lão
Chuan lao (C).
xuyên nhĩ khách
Một từ mà người Trung Hoa dùng để gọi Tổ Bồ Đề Đạt Ma—A term which Chinese used to call Bodhidharma—See Xuyên Nhĩ Tăng.
xuyên nhĩ tăng
Sư Tăng Ấn Độ phần nhiều đeo vòng nơi tai. Tổ Bồ Đề Đạt Ma được người Trung Hoa gọi là Xuyên Nhĩ Khách—Pierce-ear monks, many of the Indian monks wore ear-rings. Bodhidharma was called (by the Chinese) the ear-pierced guest.
xuyên qua
To go through—To pass through something.
xuyên sơn
To pierce a mountain by tunnel.
xuyên thanh
Trans-sonic.
xuyên thí ngạ quỷ
Cúng thí những ngạ quỷ chết đuối nơi thác ghềnh—Making offerings at the streams to the hungry ghosts of the drowned.
xuyên thấu
To penetrate.
xuyên tạc
To distort the truth.
xuyên tỉnh tầm thủy
Khoan giếng tìm nước, nước từ từ được phát hiện, cũng giống như người ta từ từ tìm ra được Phật tánh của mình—To bore a well and gradually discover water, likened to the gradual discovery of the Buddha-nature .
xuân
Spring.
xuân cảnh
Spring landscape (scenery).
xuân hòa thần
Xem Chủ dạ thần.
xuân kim cang nữ
Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.
xuân thu kinh
Ch'un-chiu ching (C), Spring and Autumn Annals Do Khổng Phu Tử san định.
xuôi
Easy—Favourable.
xuôi dòng
Down stream—With the current.
xuýt chết
To escape death by a hair's breath.
xuýt nữa
A little more.
xuýt xoát
Almost—Nearly.
Xuất
出; C: chū; J: shuchi;|Có các nghĩa sau: 1. Lộ ra, hiện ra, xuất hiện, trình hiện (s: abhipravartate, pravartate; t: skye ḥgyur); 2. Sinh ra từ bào thai; 3. Vượt quá, vượt hơn.
xuất
Nairyanika (S)Một trong 4 hành tướng của Đạo đế: Đạo, Như, Hành, Xuất.
; To go out, come forth, put forth; exit; beyond.
; Bhavet (skt) 1) (v) To exit—To put forth—To go out—To come out—To come forth. 2) (adv) Beyond—Outside this world—Not of this world—Of Nirvana character.
xuất chư pháp tam muội
Sarva-dharmodgata-samādhi (S).
xuất diệu kinh
Avadanas (skt)—A Ba Đà Na—Kinh nói về những chuyện đáng nhớ; phần thứ sáu trong 12 phần của kinh điển, chọn lấy yếu nghĩa của các kinh, để diễn thuyết phô bày cho người sau—Stories of memorable deeds; the sixth of the twelve sections of the canon, consisting of parables of comparisons.
Xuất gia
(s: pravrajyā, p: pabbajjā, j: shukke, 出家): âm dịch là Ba Phệ Nễ Da (波吠儞耶), tức ra khỏi sinh hoạt gia đình thế tục, chuyên tâm tu tập tịnh hạnh của bậc Sa Môn (s: śramaṇa, p: samaṇa, 沙門). Từ này còn chỉ chung cho những người xuất gia, đồng nghĩa với Sa Môn, Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘); đối lập với từ tại gia (在家). Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (溈山警策句釋記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) quyển Hạ giải thích xuất gia có 2 nghĩa: “Xuất gia hữu nhị, nhất xuất thế tục gia, túc ly trần tục, viễn tham tri thức; nhị xuất phiền não gia, đoạn vọng chứng chơn, đốn siêu Tam Hữu (出家有二、一出世俗家、足離塵俗、遠參知識、二出煩惱家、斷妄證眞、頓超三有, xuất gia có hai, một là ra khỏi nhà thế tục, chân xa lìa trần tục, đi xa tham vấn tri thức; hai là ra khỏi nhà phiền não, đoạn sai lầm chứng chân thật, vượt ra khỏi Ba Cõi).” Hay trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú (四十二章經註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 37, No. 669) lại giải thích xuất gia có 3 nghĩa: “Cát ái từ thân, thân xuất gia dã; thức tâm đạt bổn, tâm xuất gia dã. Xuất gia hữu tam, nhất từ thân, xuất thế tục gia; nhị ngộ đạo, xuất Ngũ Uẩn gia; tam chứng quả, xuất Tam Giới gia (割愛辭親、身出家也、識心達本、心出家也、出家有三、一辭親、出世俗家、二悟道、出五蘊家、三證果、出三界家, cắt yêu thương, từ cha mẹ là thân xuất gia; biết rõ tâm, đạt nguồn chơn là tâm xuất gia; xuất gia có ba, thứ nhất từ cha mẹ, ra khỏi nhà thế tục; thứ hai ngộ đạo, ra khỏi nhà Năm Uẩn; thứ ba chứng quả, ra khỏi nhà Ba Cõi).” Bên cạnh đó, Tục Đăng Chánh Thống (續燈正統, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 23 cho rằng xuất gia có 4 nghĩa: “Nhất xuất trần tục ân ái gia, nhị xuất Tam Giới hỏa trạch gia, tam xuất thô hoặc phiền não gia, tứ xuất tế hoặc Vô Minh gia, xuất đắc tứ chủng gia, thỉ xưng Nạp Tăng gia (一出塵俗恩愛家、二出三界火宅家、三出麤惑煩惱家、四出細惑無明家、出得四種家、始稱衲僧家, thứ nhất ra khỏi nhà ân ái trần tục, thứ hai ra khỏi nhà bốc lửa Ba Cõi, thứ ba ra khỏi nhà phiền não thô hoặc, thứ tư ra khỏi nhà Vô Minh tế hoặc, ra khỏi được bốn loại nhà ấy, mới gọi là nhà Nạp Tăng).” Ngoài ra, xuất gia còn có 3 loại khác là thân xuất gia mà tâm không xuất gia, tâm xuất gia mà thân không xuất gia, và cả thân và tâm đều xuất gia. Phàm người phát tâm xuất gia thì phải cạo bỏ râu tóc, xả đi áo quần thế tục mà mang vào áo hoại sắc; cho nên xuất gia còn được gọi là lạc sức (落飾), thế phát (剃髮), lạc phát nhiễm y (落髮染衣), thế phát nhiễm y (剃髮染衣), thế nhiễm (剃染), lạc nhiễm (落染), trĩ nhiễm (薙染). Trong 7 chúng đệ tử của Phật, ngoại trừ 2 chúng tại gia là Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞) và Ưu Bà Di (s, p: upāsikā, 優婆夷); 5 chúng còn lại thuộc hàng ngũ xuất gia là Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘), Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌), Sa Di Ni (s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerā, sāmaṇerī, 沙彌尼), Thức Xoa Ma Na (s: śikṣamāṇa, p: sikkhamānā, 式叉摩那); được gọi là Ngũ Chúng Xuất Gia. Từ xưa, xuất gia vốn phát xuất từ Ấn Độ, từ thời đại Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) đã có người từ bỏ thế tục, xa gia đình để cầu giải thoát. Về sau, giáo đồ Bà La Môn kế thừa phong tục này, phần nhiều vào trong rừng sâu thanh vắng, chuyên tâm tu đạo. Phật Giáo khởi đầu từ việc xuất gia học đạo của đức Thích Tôn, về sau mới tổ chức thành giáo đoàn. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ khi xuất gia là phải được sự chấp thuận của cha mẹ. Cho nên, trong Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (根本說一切有部毘奈耶破僧事, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 17 có khẳng định rằng: “Phụ mẫu bất thính, bất đắc xuất gia thọ giới (父母不聽、不得出家受戒, cha mẹ không bằng lòng, không được xuất gia thọ giới).” Có khá nhiều tác phẩm tranh vẽ, điêu khắc về hình tượng xuất gia của đức Phật, tối cổ nhất là tác phẩm ở Đại Tháp Madras, Amarāvatī, Ấn Độ. Trên cửa phía Đông của Đại Tháp Sanchi ở miền Trung Ấn cũng có các phù điêu diễn tả cảnh tượng đức Phật xuất gia như thế nào. Về phía Trung Quốc, tại Thê Hà Tự (棲霞寺) ở Giang Tô (江蘇), Linh Nham Quật Tự (靈巖窟寺) ở Sơn Tây (山西), vẫn còn những bức phù điêu khắc cảnh đức Thích Tôn đến nơi thanh tĩnh, cỡi bỏ mũ báu trao cho Xa Nặc (s: Chandaka, p: Channa, 車匿), rồi tự lấy bảo kiếm cắt tóc xuất gia. Về công đức xuất gia, Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức Kinh (佛說出家功德經, Taishō Vol. 16, No. 707) có thuật rõ như sau: “Bất xuất gia giả, mạng chung hoặc năng đọa ư Địa Ngục (不出家者、命終或能墮於地獄, người không xuất gia, sau khi mạng hết hoặc có thể bị đọa vào Địa Ngục)”; hay “dĩ nhất nhật nhất dạ xuất gia cố, mãn nhị thập kiếp, bất đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh thiên nhân, thọ phước tự nhiên (以一日一夜出家故、滿二十劫、不墮地獄、餓鬼、畜生、常生天人、受福自然, vì lấy một ngày một đêm xuất gia, nên tròn hai mươi kiếp, không đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh Trời người, hưởng phước tự nhiên).”
; 出家; C: chūjiā; J: shukke; S: pravraiyā; P: pabbajjā;|Rời bỏ gia đình và từ bỏ mọi quan hệ xã hội, đó là bước đầu tiên của một Tỉ-khâu Tiểu thừa, là người phải xa lánh thế gian để đạt thánh đạo. Tỉ-khâu phải cạo râu tóc, mang y vàng và bắt đầu giai đoạn làm Sa-di (s: śrā-maṇera).|Kinh sách nói về đời sống xuất gia như sau: »›Ðời sống tại gia đầy trở ngại, là nơi thiếu thanh tịnh, sống xuất gia thì nhẹ như khí trời. Khó khăn thay sống tại gia mà giữ được một đời không uế nhiễm. Còn nếu ta, cạo râu tóc, đắp y vàng, bước vào cuộc sống không nhà cửa thì sao?‹. Người đó nghĩ như thế, một thời gian sau, bỏ tài sản lớn, tài sản nhỏ, bỏ quyến thuộc lớn, quyến thuộc nhỏ, cạo râu tóc, đắp y vàng, bỏ nhà ra đi, bước vào cuộc sống không nhà.«
xuất gia
Nekkhamma (P), Pravrajyā (S), Pravrajyāta (S), Pabbajjā (S), Pabbajjāta (P), Pabbajati (P), Abhiniṣkramaṇa (S), Abhinikkhamaṇa (P), Nekkhamma samkappa (P), Renunciation, Away from home to be a monk, Entrance into ascetic life Cạo râu tóc, đắp y vàng, qui y tam bảo, thọ 10 giới Xem Lễ xuất gia.
; Pravrajyà (S). To leave home and become a monk or nun.
; Pravraj (skt). (I) Nghĩa của “Xuất Gia”—The meanings of Pravraj—“Xuất gia” có nghĩa là từ bỏ gia đình để gia nhập giáo đoàn và trở thành Tăng sĩ, đối lại với “tại gia” có nghĩa là cư sĩ còn ở tại gia đình—Leaving Home—Renunciation—Ordination—To leave home and family or to get out of a family and to become a monk or a nun—To leave one's home and family in order to join the Buddhist community to become a monk or nun, in contrast with “staying home” which means the life of a layman—To enter monkhood (monastic life or the order)—Ordination in Buddhism is initiation into the Buddhist Order (Sangha) in the presence of witnesses and self-dedication to monastic life. • Thời Đức Phật còn tại thế, các trưởng giả tử ở thành Tỳ Xá Ly đến chỗ ngài La Hầu La cúi đầu làm lễ hỏi rằng: “Thưa ngài La Hầu La, ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Thánh Vương mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích gì?”— At the time of the Buddha, the sons of the elders at Vaisali came to Rahula's place and bowed to salute him, saying: “Rahula, you are the Buddha's son and left the throne to search for he truth; what advantage derives from leaving home?” • La Hầu La liền đúng theo Pháp mà nói sự lợi ích của công đức xuất gia— Rahula then spoke of the advantage of earning merits that so derive. • Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với La hầu La rằng: “Thưa La Hầu La! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. Vì sao? Không lợi, không công đức, mới thật là xuất gia. Về Pháp hữu vi có thể nói là có lợi, có công đức, còn xuất gia là pháp vô vi, trong Pháp vô vi không lợi, không công đức. La Hầu La! Vả chăng xuất gia là không kia, không đây, cũng không ở chính giữa; ly sáu mươi hai món kiến chấp, ở nơi Niết Bàn, là chỗ nhận của người trí, chỗ làm của bực Thánh, hàng phục các ma, khỏi ngũ đạo, sạch ngũ nhãn, đặng ngũ lực, lập ngũ căn, không làm não người khác, rời các tạp ác, dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ, không rối loạn trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật là xuất gia.”—Vimalakirti came and said: “Rahula, you should not speak of the advantage of earning merits that derive from leaving home. Why? Because home-leaving bestows neither advantage nor good merits. Only when speaking of the worldly (way of life) can you talk about advantage and merits. For home-leaving is above the worldly, and the transcendental is beyond advantage and merits. Rahula, home-leaving is beyond thisness, thatness and in between; is above the sixty-two wrong views, and abides in (the state of) nirvana. It is praised by all wise men and practiced by all saints. It overcomes all demons, liberates from the five realms of existence, purifies the five kinds of eyes, helps realize the five spiritual powers and sets up the five spiritual faculties, releases from earthly grievances, keeps from varied evils (derived from a mixed mind), frees from the unreality of names and terms, gets out of the mud (of defilement), relieves from all bondages, wipes our the duality of subject and object and all responsiveness and disturbances; it gives inner joy, protects all living beings, dwells in serenity and guards against all wrongs. If all this can be achieved, this is true home-leaving.” • Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các trưởng giả tử: “Các ngươi nay ở trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất gia. Vì sao? Phật ra đời khó gặp.”—Vimalakirti then said to the sons of the elders: “During this period of correct Dharma you should leave home to join the Sangha. Why? Because it is very difficult to have the good fortune of living in the Buddha-age.” • Các trưởng giả tử nói: “Thưa cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy rằng cha mẹ không cho, không được xuất gia.”—The sons of the elders replied: “Venerable Upasaka, we have heard the Buddha said that once cannot leave home without the consent of one's parents.” • Ông Duy Ma Cật nói: “Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô thượng Bồ Đề, đó chính là xuất gia, đó chính là đủ Giới Pháp.”—Vimalakirti said: 'Yes, it is so, but you will really leave home the moment you develop a mind set on the quest of supreme enlightenment (anuttara-samyak-sambodhi) which completes your home-leaving.' • Bấy giờ ba mươi hai vị trưởng giả tử đều phát tâm Vô thượng Bồ đề—At that time, all the thirty-two sons of the elders developed the anuttara-samyak-sambodhi mind. (II) Lời Phật dạy về “Xuất Gia” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Pravraj” in the Dharmapada Sutra: 1) Chẳng phải do giới luật đầu đà, chẳng phải do nghe nhiều học rộng, chẳng phải do chứng được tam muội, chẳng phải do ở riêng một mình, đã vội cho là “hưởng được cái vui xuất gia, phàm phu không bì kịp.”—Not only by mere morality and austerities, nor by much learning, nor even by serene meditation, nor by secluded lodging, thinking “I enjoy the bliss of renunciation, which no common people can know.” (Dharmapada 271). 2) Các ngươi chớ vội tin những điều ấy khi mê lầm phiền não của các ngươi chưa trừ—Do not be confident as such until all afflictions die out (Dharmapada 272).
xuất gia (người)
Renunciant.
xuất gia chánh hạnh
Samacara (S)Một phẩm trong Căn bản chánh hạnh luận (Mulacara).
xuất gia nhân
One who has left home and become a monk or nun. Two kinds are named: (1) Thân xuất gia, one who physically leaves home, and (2) tâm xuất gia one who does so in spirit and conduct. A further division of four is: (1) thân xuất gia tâm không xuất gia one who physically leaves home, but in spirit remains with wife and family; (2) thân không xuất gia nhưng tâm xuất gia one who physically remains at home but whose spirit goes forth; (3) thân và tâm đều xuất gia one who leaves home body and spirit; and (4) thân và tâm đều không xuất gia one who, body and mind, refuses to leave home.
; Người đã từ bỏ gia đình để trở thành Tăng sĩ hay Ni cô. Có sáu loại xuất gia—One who has left home and become a monk or a nun. There are six kinds of monks or nuns: 1) Thân xuất gia: One who physically leaves home, but spirit remains with wife and family. 2) Thân Xuất gia, Tâm tại gia: One who physically leaves home, but in spirit remains with wife and family 3) Tâm xuất gia: One who leave home in spirit and conduct. 4) Thân tại gia, tâm xuất gia: One who physically remains at home, but whose spirit goes forth. 5) Thân tâm đều xuất gia: One who leave home body and spirit. 6) Thân tâm đều tại gia: One who, body and mind, refuses to leave home.
xuất gia nhập đạo
To leave home and enter the Way.
xuất gia nhựt
The day of renunciation.
Xuất gia 出家
[ja] シュッケ shukke ||| Literally, to "leave home." To renounce the secular life, or, in other words, to enter the Buddhist monastic system. The purpose of leaving home is to allow the believer to leave behind all kinds of worldly distractions and concentrate his/her full energies on the practice of the Buddhist path. The world-renunciant practitioner stands in contrast to the "lay practitioner" 在家, who attempts to conduct his or her Buddhist practice while continuing to meet worldly responsibilities. (pravrajita) => Từ bỏ cuộc sống thế tục, hoặc là, nói cách khác, tự nguyện làm Tăng sĩ Phật giáo. Mục đích của việc Xuất gia là để cho người có tín tâm lìa bỏ mọi thứ hấp dẫn của thế giới phàm trần, tập trung toàn bộ năng lực của mình vào việc tu học Phật pháp. Hàng Xuất gia khác với hàng Phật tử Tại gia, là người nỗ lực tu tập theo Phật pháp trong khi họ tiếp tục đảm đương trách nhiệm cuộc sống ở đời.
xuất giả hành
Bồ Tát khởi ý giả quán mà nhận sai biệt tướng, để giáo hóa làm lợi ích cho chúng sanh—A bodhisattva's entry into time and space, or the phenomenal, for the sake of saving others.
Xuất hiện
出現; C: chūxiàn; J: shutsugen;|Sự đến, sự ra đời. Sự thị hiện nơi thế gian (s: utpāda).
xuất hiện
To manifest, reveal, be manifested, appear, e.g. as does a Buddha's temporary body, or nirmànakàya. Name of Ưu đà di Udàyi a disciple of Buddha to be reborn as Samantaprabhàsa.
; 1) To appear—To become visible—To come into sight—To manifest—To reveal. 2) Chư Phật vì đại sự nhân duyên mà hiện ra nơi đời hay là 'hóa thân' của Phật nơi đời—To be manifested—To appear (as does a Buddha's temporary body or nirmanakaya). 3) Ưu Đà Di: Udayi (skt)—Ưu Đà Di, một trong những đệ tử của Phật mà sau nầy sẽ tái sanh làm Phổ Minh Như Lai—A disciple of Buddha to be reborn as Samantaprabhasa. 4) Con trai của vua A Xà Thế: A son of Ajatasatru.
Xuất hiện 出現
[ja] シュツゲン shutsugen ||| Appearance, arrival. Appearance in the world (utpāda). => Sự đến, sự ra đời. Sự thị hiện nơi thế gian (s: utpāda).
xuất huệ
Diệu huệ đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử—The wisdom of leaving mortality, or reincarnations—The wisdom of leaving the world.
xuất hành
To go out.
Xuất kinh
出經; C: chūjīng; J: shutsukyō;|Tên gọi tắt của Kim Cương Trí sở dịch chi Kim Cương đỉnh du-già trung lược xuất niệm tụng kinh (金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經).
Xuất kinh 出經
[ja] シュツキョウ Shutsukyō ||| The Chūjīng; the abbreviated title of the Jingangzhi suoyi zhi jingangding yuqie zhong lüechu niansong jing 金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經. => (c: Chūjīng) Tên gọi tắt của Kinh Kim Cương Trí Sở Dịch Chi Kim Cương Đỉnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng.
xuất kỳ
Kỳ hạn ra khỏi nỗi khổ đau của luân hồi sanh tử—The going forth period, i.e. from the suffering of mortality; the appointed time of going forth; the period of setting forth.
xuất kỳ bất ý
Unexpectedly—Suddenly.
xuất li
To leave, come out from.
xuất li phiền não
To leave the passions and delusions of life.
xuất ly
Ra khỏi sanh tử—To leave—To come out from.
xuất ly ba la mật
Naiṣkrāmya-pāramitā (S), Perfection of Renunciation.
xuất ly phiền não
Ra khỏi dục vọng phiền não, chứng nhập Niết Bàn—To leave the passions and delusions of life—Nirvana.
Xuất lĩnh
出嶺; C: chūlǐng; J: shutsurei;|Xuống núi.
Xuất lĩnh 出嶺
[ja] シュツリョウ shutsurei ||| To descend from the mountain. => Xuống núi.
xuất lệnh
To issue an order.
xuất phàm
Transcendent—Excelling—Outstanding.
xuất phát
To start—To originate.
xuất phật thân huyết
To shed a Buddha's blood, one of the five grave sins.
; Làm chảy máu thân Phật, một trong ngũ nghịch—To shed a Buddha's blood, one of the five grave sins.
Xuất quán
出觀; C: chūguān; J: shukkan;|Ra khỏi cảnh giới thiền định, khi hành giả muốn giáo hoá người khác. Như Xuất định (出定), phản nghĩa với Nhập quán (入觀, theo luận Kim Cương tam-muội 金剛三昧論).
Xuất quán 出觀
[ja] シュッカン shukkan ||| To emerge from meditation, which one must do if one wants to teach others. Same as 出定, and the opposite of 入觀 .〔金剛三昧論 T 1703.34.〕 => Ra khỏi cảnh giới thiền định, khi hành giả muốn giáo hóa người khác. Như Xuất định, phản nghĩa với Nhập quán. Theo Luận Kim Cương Tam Muội.
xuất sinh
To be born; to produce; monastic food, superior as bestowed in alms called xuất sinh phạn.
; 1) Sanh ra: To be born—To produce. 2) Xuất chúng sanh phạn (cơm gạo hay thực phẩm của tự viện): Monastic food. 3) Xuất Phạn Sinh Phạn: Lấy ra một phần cơm trong bữa ăn để thí thực cho chúng sanh trong bữa ăn—Superior as bestowed in alms.
Xuất sinh nhất thiết Như Lai pháp nhãn Biến Chiếu Đại Lực Minh vương kinh
出生一切如來法眼遍照大力明王經; C: chūshēng yīqiè rúlái fǎyăn biànzhào dàlì míngwáng jīng; J: shusshō issai nyorai hōgen henjō dairiki myōō kyō; S: mahābala.|Kinh; 2 quyển. Tên gọi tắt là: Tịch trừ chư ác kinh (辟除諸惡經), và Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương kinh (遍照大力明王經), Thí Hộ (s: dānapāla) dịch.
Xuất Sinh Nhất Thiết Như Lai Pháp Nhãn Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương Kinh. 出生一切如來法眼遍照大力明王經
[ja] シュツショウイチサイニョライホウゲンヘンショウダイリキミョウオウキョウ Shusshō issai nyorai hōgen henjō dairiki myōō kyō ||| The Chusheng yiqie rulai fayan bianzhao dali mingwang jing; Skt. Mahābala; (Sutra of the Greatly Powerful Mantra King [The Universally Shining Dharma-Eye from which All Tathāgatas Arise]) 2 fasc. (T 1243.19.207-215), abbreviated as 辟除諸惡經, and as 遍照大力明王經, trans. Dānapāla 法護. => (s: Mahābala). Kinh; hai quyển. Tên gọi tắt là: Tịch Trừ Chư ác Kinh辟除諸惡經, và Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương Kinh遍照大力明王經. Pháp Hộ 法護dịch.
Xuất Sinh Vô Biên Môn Trì Kinh 出生無量門持經
[ja] シュツショウムリョウモンジキョウ Shusshō muryōmon ji kyō ||| The Chusheng wuliangmen chi jing; alternative translation of the Chusheng wubian men tuoluoni jing => Tên gọi khác bản dịch của Kinh Xuất Sinh Vô Biên Môn đà-la-ni 出生無邊門陀羅尼經..
xuất sinh vô biên môn đà la ni kinh
Xem Phật thuyết xuất sinh vô biên môn Đà la ni kinh.
Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh 出生無邊門陀羅尼經
[ja] シュッソウムヘンモンダラニキョウ Shusshō muhen mon daranikyō ||| The Chusheng wubian men tuoluoni jing; Skt. Anantamukha-dhāraṇī; Tib. ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs; (Dhāraṇī of the [Birth of the] Infinite Portal) [To.140/525/914, P.539/808] alt. Anantamukhanirhāra-dhāraṇī, Anantamukhasādhaka-nāma-dhāraṇī. Said to be redacted by the historical Buddha at Vaiśālī three months before his parinirvāṇa 大涅槃. Those who recite the dhāraṇī 陀羅尼 may overcome all hindrances and be remembered by the buddhas; those who realize its meaning rapidly gain bodhi, for its practice relies on non-perception of things (anupalaṃbha 無所得). In order for the dhāraṇī to be effective, the practitioner should renounce the world, live a virtuous life and understand the significance of the eight seed syllables (akṣarabīja 種字: pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). The presence of such practices in this relatively early text indicates its strong influence on the development of Buddhist esotericism. Of the eight Chinese translations, Amoghavajra's 不空 version is authoritative for the Shingon school 眞言宗. They are, in historical order: (1) 1 fasc. (T 1011.19.680-682) Sublime Sustainer Sutra of the Immeasurable Portal 無量門微密持經, tr. Zhiqian 支謙. Unusually, this version translates rather than transliterates the eight seed syllables; that is, the equivalent Han characters are chosen to represent the meaning of words suggested by the syllables, and are not simply phonetic transcriptions. (2) 1 fasc. (T 1012.19.682-685) Sustainer of the Birth of the Immeasurable Portal 出生無量門持經, tr. Buddhabhadra 佛陀跋陀羅 during the early 5th cent. CE. (3) 1 fasc. (T 1013.19.685-688) Bạt-đà-la dịch 阿難陀目怯尼呵離陀經, tr. Guṇabhadra 求那跋陀羅. (4) 1 fasc. (T 1014.19.688-692) Dhāraṇī of the Immeasurable Portal which Obliterates Demons 無量門破魔陀羅尼經, tr. Gongdezhi 功德直 and Xuanchang 玄暢. (5) 1 fasc. (T 1015.19.692-695) Anantamukhanirhāra-dhāraṇī 阿難陀目怯尼呵離陀隣尼經, trans. Buddhaśānta 佛陀扇多. (6) 1 fasc. (T 1016.19.695-698) Dhāraṇī for [the benefit of] Śāriputra 舍利弗陀羅尼經, trans. Saṅghavarman 僧伽婆羅. (7) 1 fasc. (T 1017.19.698-702) Sutra of the Consistent Birth of Bodhisattvas 一向出生菩薩經, tr. Jñānagupta 闍那崛多. (8) 1 fasc. (T 1018.19.702-707) Dhāraṇī of the Birth of the Infinite Portal 出生無邊門陀羅尼經, tr. Zhiyan 智嚴. (9) 1 fasc. (T 1009.19.675-679) Dhāraṇī of the Birth of the Infinite Portal 出生無邊門陀羅尼經, tr. Amoghavajra 不空. This version is the basis for a manual composed by Amoghavajra, the Ritual Procedures for the Birth of the Infinite Portal Sutra 出生無邊門經儀軌 (T 1010.19.679-680). For a study from Chinese, Khotanese, Sanskrit, and Tibetan sources, citing Jñānagarbha's Anantamukhanirhāradhāraṇīṭīkā [To.2696, P.3520], see Inagaki (1987); for a Japanese translation of this commentary, see Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) and Horiuchi (1969). BGBT4/71. => (s: Anantamukha-dhāraṇī; t: ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs). Các tên khác là Anantamukhanirhāra-dhāraṇī và Anantamukhasādhaka-nāma-dhāraṇī. Tương truyền Kinh nầy được biên tập bởi Đức Phật lịch sử tại thành Tỳ-xá-ly (s: Vaiśālī) 3 tháng trước khi Ngài nhập Niết-bàn (s: parinirvāṇa). Những ai trì tụng Đà-la-ni nầy có thể vượt thoát mọi chướng ngại và được chư Phật hộ niệm; những ai thâm nhập được nghĩa Đà-la-ni thì nhanh chóng được giác ngộ, vì sự hành trì Đà-la-ni dựa vào ý niệm vô sở đắc (s: anupalaṃbha 無所得). Để cho Đà-la-ni có được hiệu nghiệm, hành giả phải từ bỏ thế tục, sống đạo hạnh và thông hiểu ý nghĩa 8 chủng tự (s: akṣarabīja 種字 : pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). Sự hiện diện của pháp tu như thế trong kinh văn tương đối sớm cho biết ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển Mật tông Phật giáo. Trong 8 bản dịch tiếng Hán, bản của Ngài Bất Không (s: Amoghavajra's) có uy tín nhất đối với Chân ngôn tông (c: Shingon). Các bản dịch được sắp xếp thứ tự theo lịch sử như sau: 1. Vô Lượng Môn Vi Mật Trì Kinh. 1 quyển , Chi Khiêm (c: Zhiqian ) dịch. Điểm khác thường là bản kinh nầy đã dịch 8 chủng tự hơn là chuyển âm chúng thành chữ Hán, có nghĩa là, chọn những chữ Hán tương đương để biểu thị cho nghĩa của những mẫu tự mà chủng tự sử dụng, và đó không phải đơn thuần là việc phiên âm. 2. Xuất Sinh Vô Lượng Môn Trì Kinh. một quyển , Phật-đà Bạt-đà-la dịch vào thế kỷ thứ năm. 3. A-nan-đà-mục-khiếp-ni-kha-ly-đà Kinh (s: Anantamukhanirhāra-dhāraṇī ), một quyển, Cầu-na Bạt-đà-la (s: Guṇabhadra) dịch. 4. Vô Lượng Môn Bạt Quỷ Đà-la-ni Kinh, một quyển, Công Đức Trực(c: Gongdezhi ) và Huyền Sướng (c: Xuanchang 玄暢 ) dịch. 5.A-nan-đà-mục-khiếp-ni-kha-ly-đà-lân-ni Kinh (s: Anantamukhanirhāra-dhāraṇī), một quyển, Phật-đà -phiến-đa (s: Buddhaśānta )dịch. 6. Xá-lợi-phất Đà-la-ni Kinh, một quyển, Phật-già-bà-la dịch. 7. Nhất Hướng Xuất Sinh Bồ-tát Kinh, một quyển, Già-na-khuất-đa dịch. 8. Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh, một quyển, Trí Nghiêm (c: Zhiyan) dịch. 9. Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh, một quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy là nền tảng của tập Xuất Sinh Vô Biên Môn Kinh Nghi Quỹ do Ngài Bất Không soạn. Để nghiên cứu thêm trích dẫn Xuất Sinh Vô Biên Môn Đà La Ni Kinh của Jñānagarbha từ nguồn gốc tiếng Hán, Khotanese, Sanskrit, và tiếng Tây Tạng, xin xem tác phẩm của Inagaki (1987); về luận giải bằng tiếng Nhật , xem Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) and Horiuchi (1969).
Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh
出生無邊門陀羅尼經; C: chūshēng wúbiān mén tuóluóní jīng; J: shusshō muhen mon dara-nikyō; S: anantamukha-dhāraṇī; t: ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs.|Các tên khác là anantamukhanirhāra-dhā-raṇī và anantamukhasādhakanāma-dhāraṇī. Tương truyền kinh nầy được biên tập bởi đức Phật lịch sử tại thành Tì-xá-li (s: vaiśālī) 3 tháng trước khi ngài nhập Niết-bàn. Những ai trì tụng Đà-la-ni nầy có thể vượt thoát mọi chướng ngại và được chư Phật hộ niệm; những ai thâm nhập được nghĩa Đà-la-ni thì nhanh chóng được giác ngộ, vì sự hành trì Đà-la-ni dựa vào ý niệm vô sở đắc (s: anupalaṃbha 無所得). Để cho Đà-la-ni có được hiệu nghiệm, hành giả phải từ bỏ thế tục, sống đạo hạnh và thông hiểu ý nghĩa 8 chủng tự (種字; s: akṣarabīja: pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). Sự hiện diện của pháp tu như thế trong kinh văn tương đối sớm cho biết ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển Mật tông Phật giáo. Trong 8 bản dịch tiếng Hán, bản của Bất Không (不空; s: amoghavajra) có uy tín nhất đối với Chân ngôn tông (眞言宗). Các bản dịch được sắp xếp thứ tự theo lịch sử như sau:|1. Vô lượng môn vi mật trì kinh (無量門微密持經), 1 quyển, Chi Khiêm (支謙) dịch. Điểm khác thường là bản kinh nầy đã dịch 8 chủng tự hơn là chuyển âm chúng thành chữ Hán, có nghĩa là, chọn những chữ Hán tương đương để biểu thị cho nghĩa của những mẫu tự mà chủng tự sử dụng, và đó không phải đơn thuần là việc phiên âm; 2. Xuất sinh vô lượng môn trì kinh (出生無量門持經) 1 quyển, Phật-đà Bạt-đà-la dịch (佛陀跋陀羅; s: buddhabhadra) vào thế kỉ thứ 5; 3. A-nan-đà mục-khiếp-ni-kha-li-đà kinh (阿難陀目怯尼呵離陀經; s: anantamukha-nirhāra-dhāraṇī), 1 quyển, Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra) dịch; 4. Vô lượng môn bạt quỷ đà-la-ni kinh (無量門破魔陀羅尼經), 1 quyển, Công Đức Trực (功德直) và Huyền Sướng (玄暢) dịch; 5. A-nan-đà mục-khiếp ni-kha-li đà-lân-ni kinh (阿難陀目怯尼呵離陀隣尼經; s: anan-tamukhanirhāra-dhāraṇī), 1 quyển, Phật-đà Phiến-đa (佛陀扇多; s: buddhaśānta) dịch; 6. Xá-lợi-phất đà-la-ni kinh (舍利弗陀羅尼經), 1 quyển, Tăng-già Bà-la (僧伽婆羅; s: saṅghavarman) dịch; 7. Nhất hướng xuất sinh Bồ Tát kinh (一向出生菩薩經), 1 quyển, Xà-na Quật-đa (闍那崛多; s: jñānagupta) dịch; 8. Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經), 1 quyển, Trí Nghiêm (智嚴) dịch; 9. Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy là nền tảng của tập Xuất sinh vô biên môn kinh nghi quỹ (出生無邊門經儀軌) được Bất Không soạn. |Để nghiên cứu thêm từ nguồn gốc tiếng Hán, Khotanese, Phạn, và tiếng Tây Tạng, có trích dẫn Anantamukhanirhāradhāraṇīṭīkā của Jñānagarbha, xin xem tác phẩm của Inagaki (1987); về bản dịch sang tiếng Nhật của luận giải này, xem Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) và Horiuchi (1969).
Xuất sinh vô lượng môn trì kinh
出生無量門持經; C: chūshēng wúliángmén chí jīng; J: shusshō muryōmon ji kyō;|Tên gọi khác của kinh Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經).
Xuất tam tạng kí tập
出三藏記集; C: chū sānzàng jìjí; J: shutsu sanzō kishū;|Sách; được Tăng Hựu (僧祐) biên soạn vào khoảng năm 515. Sư hoàn chỉnh bản mục lục ngay trước khi viên tịch. Sư đã sưu tập một danh sách đồ sộ dựa vào những tài liệu có được trong thời đại của sư (nay đã thất lạc) song song với công trình nghiên cứu của mình. Thêm vào mục lục của rất nhiều kinh văn, tập này còn bao gồm những tiểu luận giới thiệu việc phiên dịch kinh điển và tiểu sử của các dịch giả tiền bối, và như vậy, làm cho công trình nầy hoàn chỉnh và đáng tin cậy nhất trong các tác phẩm được đề cập trước thời đó. Mục lục của Tăng Hựu có ghi cả dạng kinh đáng ngờ và kinh nguỵ tạo, mà không có một phân định rõ ràng giữa hai loại ấy.
xuất tam tạng ký tập
Ch'u san-tsang chi-chi (C)Tên một bộ luận kinh.
Xuất Tam Tạng Ký Tập 出三藏記集
[ja] シュツサンゾウキシュウ Shutsu sanzō kishū ||| (A Compilation of Notes on the Translation of the Tripitaka). Compiled around 515 by Sengyou 僧祐. T 2145.55.1a-114a. Sengyou, who completed his catalog shortly before his death, compiled an extensive list which relied on the (currently missing) earlier catalogs available to him at the time, along with his own research. In addition to its exhaustive lists of sutras, it contains introductory essays on the sutra translations and biographies of the early translators, making it the most complete and reliable early reference work known. Sengyou's listing included both suspicious and spurious sutras, but without making a rigorous distinction between the two types. => Sách; do Tăng Hựu (c: Sengyou 僧祐) biên soạn khoảng vào năm 515. Sư hoàn chỉnh bản mục lục ngay trước khi viên tịch, sư đã sưu tập một bản mục lục đồ sộ dựa vào những tài liệu có được trong thời đại của sư (nay đã thất lạc), song song với công trình nghiên cứu của mình. Thêm vào đó là mục lục của rất nhiều kinh văn, bao gồm những tiểu luận giới thiệu việc phiên dịch kinh điển và tiểu sử của các dịch giả tiền bối, làm cho công trình nầy hoàn chỉnh và đáng tin cậy nhất trong các tác phẩm được đề cập trước thời đó. Mục lục của Tăng Hựu có ghi cả dạng kinh đáng ngờ và kinh ngụy tạo, mà không có một phân định rõ ràng giữa hai loại ấy.
xuất thánh
The surpassing sacred truth, or the sacred immortal truth.
; The surpassing sacred truth, or the sacred immortal truth.
xuất thân
1) To come from a family. 2) To start (begin) life as….
Xuất thế
出世; C: chū shì; J: shusse; S: lokottara; P: lokuttara; nghĩa là »vượt lên trên thế gian«;|1. Chỉ đặc tính của tất cả những gì nhằm giải thoát khỏi ràng buộc thế gian và hướng đến Niết-bàn (s: nirvāṇa; p: nibbāna). Ví dụ như Thánh đạo (s: ārya-mārga; p: ariya-magga) là đạo xuất thế, trong đó có đạo và Thánh quả Dự lưu (s: śrotāpanna; p: sotā-panna), Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin; p: sakaḍā-gāmin), Bất hoàn (s, p: anāgāmin), A-la-hán (s: arhat; p: arahant) và Niết-bàn.|Trong Ðại thừa, đức Phật được xem là con người xuất thế, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, thọ mệnh vô lượng, đã đạt Nhất thiết trí.|2. Từ bỏ cuộc sống thế tục để tu tập Phật pháp; |3. Đức Phật hay Bồ Tát thị hiện ở thế gian để cứu độ chúng sinh (s: utpāda);|4. Sự đề cử một vị Thiền sư đảm nhiệm việc trú trì một tu viện.
xuất thế
Xem Siêu nhiên.
; (1) Appearance in the world, e.g. the Buddha's appearing. (2) To leave the world; a monk or nun. (3) Beyond, or outside, this world, not of this world; of nirvàna character. Lokottara (S). Supermundane, transcendental.
; To leave the world—Beyond or outside this world—not of this world—Of nirvana character—To transcend the secular world—To manifest oneself in the world (sự xuất hiện của Đức Phật nơi đời).
xuất thế bản hoài
The aim cherished by the Buddha in appearing in the world.
xuất thế bổn hoài
Bổn ý xuất thế của Phật nơi cõi Ta Bà—The aim cherished by the Buddha in appearing in the world.
xuất thế bộ
Lokottaravàdinah, an offshoot of the Màhàsangrikàh, division of the eighteen Hìnayàna schools.
; Xuất Thế Gian Thuyết Bộ—Xuất Thế Gian Thuyết Ngữ Ngôn Bộ—Lokottaravadinah (skt)—Một trong mưới tám tông phái Tiểu Thừa—An offshoot of the Mahasanghikah division of the eighteen Hinayana schools; the tenets of the schools are unknown, but the name as implied by the Chinese translation, suggests if not the idea of Adi-Buddha, yet that of supra-mundane nature.
xuất thế gian
To go out of the world; the world (or life) beyond this; the supra-mundane; the spiritual world.
; Đi ra ngoài vòng sinh tử của cõi Ta bà—To go out of the world—The supramundane—The spiritual world.
xuất thế gian giáo
The teaching of Buddha-truth of other worldly happiness in escaping from mortality.
Xuất thế gian pháp
出世間法; C: chū shìjiān fǎ; J: shussekenhō; |Xuất thế pháp (出世法).
xuất thế gian pháp
The teaching of leaving the world.
; See Xuất thế gian đạo.
Xuất thế gian pháp 出世間法
[ja] シュッセケンホウ shussekenhō ||| Same as 出世法. => Như Xuất thế pháp 出世法
xuất thế gian thượng thượng trí
Lokottaratama-jāna (S)Trí Bồ tát, Phật.
; Jnanam-lokottaratam (skt)—Supreme supra-worldly knowledge—Xuất thế gian thượng thượng trí là Như Lai trí thanh tịnh có được trong sự nhận biết về nhẫn, tịch tịnh tuyệt vời, và nó tạo ra ý nghĩa tuyệt vời nhất vượt khỏi mọi hành động—Supreme supra-worldly knowledge is the Tathagata-knowledge which is obtained in the Kshanti, tranquil and most excellent, and it gives birth to the most excellent meaning which transcends all doings.
xuất thế gian thừa
The Vehicle or teaching for the attainment in lives outside this world, in contrast with the ordinary vehicle or teaching for the attainment of good fruit in the present life (Thế gian thừa).
xuất thế gian trí
Lokattara-jāna (S)Trí hàng Thanh Văn - Duyên Giác, có nhàm chán sanh tử, có Niết bàn để mong cầu.
; Jnànam-laukottara-tamam (S). Knowledge of the supra-world.
; Jnanam-lokottaram (skt)—Supra-mundane, or spiritual wisdom, or Super-worldly knowledge.
xuất thế gian đàn
Supramundane dana.
Xuất thế gian đạo
出世間道; C: chūshìjiāndào; J: shusse-kendō;|Đạo xuất thế đưa đến giác ngộ. Đạo giác ngộ được hành trì để tăng trưởng đạo tâm: đó là Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Cứu cánh đạo (究竟道).
xuất thế gian đạo
The way of leaving the world, i.e. of enlightenment.
; Xuất thế gian pháp—Pháp môn ra khỏi thế gian; pháp môn giác ngộ—The way of leaving the world—The way of enlightenment—The spiritual law.
Xuất thế gian đạo 出世 間道
[ja] シュッセケンドウ shussekendō ||| The transmundane path(s) to enlightenment. The paths to enlightenment pursued by those of higher spiritual advancement: the Path of Seeing 見道, Path of Cultivation 修道 and the Final Path 究竟道. 〔二障義 HPC 1.802b24〕 => Đạo xuất thế đưa đến giác ngộ. Đạo giác ngộ được hành trì để tăng trưởng đạo tâm: đó là Kiến đạo, Tu đạo và Cứu cánh đạo.
xuất thế nghiệp
The work or position of one who has quitted the world, that of a monk.
; Nghiệp của người đã xuất thế gian (Tăng Sĩ)—The work or position of one who has quitted the world—The work or position of a monk.
Xuất thế pháp
出世法; C: chūshì fǎ; J: shussehō;|Các pháp siêu việt thế gian. Các pháp của thế giới giác ngộ, như Lục độ, Tứ diệu đế, Niết-bàn…
xuất thế pháp
Pháp xuất thế gian (thực hành pháp nầy sẽ ra khỏi vòng luân hồi sanh tử)—Supramundane dharmas.
Xuất thế pháp 出世法
[ja] シュッセホウ shussehō ||| transmundane dharmas. Things of the world of enlightenment, such as the six pāramitās, Four Noble Truths, nirvāna, etc. => Các pháp siêu việt thế gian. Các pháp trong cảnh giới giác ngộ, như Lục độ, Tứ diệu đế, Niết-bàn ...
xuất thế phục
The garment of one who has left the world.
; Y phục của người tu xuất thế—The garment of one who has left the world.
xuất thế quả
The fruit of leaving the world, the result in another world; nirvàna.
; Nhờ công hạnh xuất thế tu hành mà đắc quả Niết Bàn—The fruit of leaving the world—The result in another world—Nirvana.
xuất thế thuyết bộ
See Xuất Thế Bộ.
xuất thế trí
The knowledge of leaving the world.
xuất thế tâm
The nirvàna, or other-world mind.
; Vô Lậu Tâm hay tâm Niết Bàn—The nirvana, or other world-mind.
xuất thế xá
An abode away from the world, a monastery, hermitage.
; Nơi cư ngụ của người xuất thế (tịnh xá)—An abode away from the world—A monastery—A hermitage.
xuất thế đại sự
The great work of the Buddha's appearing, or for which he appeared.
; Đại sự nhơn duyên mà Đức Phật đản sanh nơi đời—The great work of the Buddha's appearing, or for which he appeared.
Xuất thế 出世
[ja] シュッセ shusse ||| (1) supramundane; to transcend the mundane world. (2) Renouncing the world to practice Buddhism. (3) A Buddha or a bodhisattva's appearance in the world to save sentient beings (utpāda). (4) The promotion of a Zen monk to the headship of a temple. => Có các nghĩa sau: 1. Vượt ngoài cõi phàm trần; siêu việt thế gian. 2. Từ bỏ cuộc sống thế tục để tu tập Phật pháp. 3. Đức Phật hay Bồ-tát thị hiện ở thế gian để cứu độ chúng sinh (s: utpāda). 4. Sự đề cử một vị Thiền sư đảm nhiệm việc trú trì một tu viện.
xuất thể
Xuất thể của các pháp—To put forth (come out) a body—External—The components of a thing or matter.
xuất triền
Rời bỏ những phiền trược của trần thế—To leave the dusty world of passion and delusion.
xuất triền chân như
The unfettered, or free bhùtatathatà, as contrasted with the tại triền chân như.
; Chân như không phiền trược, đối nghĩa lại với tại triền chân như—The unfettered or free bhutatathata, as contrast with fettered bhutatathata (Tại triền chân như). ** For more information, please see Nhị Chân Như (D).
xuất trình
To show—To produce—To exhibit (one's passport).
Xuất trần
出塵; C: chūchén; J: shutsujin;|Lìa xa ô nhiễm của thế giới phàm trần. Tự nguyện sống đời xuất gia, nhập viện.
xuất trần
To leave the dusty world of passion and delusion.
; To leave the dusty world of passion and delusion.
Xuất trần 出塵
[ja] シュツジン shutsujin ||| To leave the dust of the secular world. To enter the monastery. => Lìa xa ô nhiễm của thế giới phàm trần. Tự nguyện sống đời xuất gia.
xuất trận
To stand out from the class or rank (i.e. to ask a question).
xuất tuệ
The wisdom of leaving mortality, or reincarnations.
; Diệu Tuệ đưa chúng sanh ra khỏi vòng luân hồi sanh tử—The wisdom of leaving mortality, or reincarnations—The wisdom of leaving the world.
xuất tức
Thở ra—Xuất Tức Bất Trì Nhập—(Phật dạy, 'hơi thở ra chẳng bảo đảm được hơi thở vào,' nên cố mà tu mau kẻo trễ)—To breath out (the Buddha taught, 'there is no certainty that we will have a breath-in after the breath-out or breathing-out not waiting for breathing-in or we can be breathless at any time,' so we should take advantage of any time we have to cultivate).
xuất xuất thế gian
Vượt qua thế gian pháp, hay ở trên địa thứ tám của Thập Địa—Surpassing the supra-mundane, the stage of bodhisattvahood above the eighth ground—See Thập Địa Bồ Tát.
xuất xứ
Origin.
xuất yếu tưởng
Naiṣkrāmya-saṃjā (S)Xuất ly tưởngý tưởng thoát ly.
xuất đạo
To leave the world and enter the nirvàna way.
; Xuất Gia—To leave the world and enter the nirvana way. ** For more information, please see Xuất Gia.
xuất đầu lộ diện
To make one's appearance.
Xuất định
出定; C: chūdìng; J: shuchijō;|Ra khỏi trạng thái tập trung tâm ý trong thiền định (s: vyutthāna).
xuất định
To come out of the state of dhyàna; to enter into it is nhập định.
; Ra khỏi trạng thái “Thiền Định”—To come out of the stage of dhyana (deep meditation)—To exit (emerge) from meditation.
Xuất Định Tiếu Ngữ
(出定笑語, Shutsujōshōgo): 4 quyển, trước tác của Bình Điền Đốc Dận (平田篤胤, Hirata Atsutane, 1776-1883), được san hành vào năm 1649 (Gia Vĩnh [嘉永] 2); vốn bắt chước bộ Xuất Định Hậu Ngữ (出定後語, Shutsujōgogo) của Phú Vĩnh Trọng Cơ (富永仲基, Tominaga Nakamoto, 1715-1746). Đây là bộ sách bài xích Phật Giáo vào cuối thời Giang Hộ, đặc biệt nhắm vào Nhật Liên (日蓮, Nichiren) và Thân Loan (親鸞, Shinran).
Xuất định 出定
[ja] シュツジョウ shuchijō ||| To emerge from meditation (vyutthāna). => Ra khỏi trạng thái tập trung tâm ý trong thiền định (s: vyutthāna).
xuất đội
Khả năng vượt trội hơn đại chúng—Outstanding—Of outstanding ability—Egregious—Standing forth.
xuất đội ca để
Tháng cuối cùng trong mùa an cư kiết hạ, Tăng chúng công bố phân phát 'công đức y' trước khi ra khỏi đội ngũ của đại chúng—The public announcement of distribution of the kathina garment (công đức y) in the last month of the rainy season, i.e. of the coming forth of the monks from their retreat.
Xuất 出
[ja] シュツ shuchi ||| (1) To come out; to manifest; to appear (Skt. abhipravartate, pravartate; Tib. skye ḥgyur). 〔法華經 T 262.9.02c20〕 (2) To come out of the womb. (3) To go beyond, to trancend (transcend). => Có các nghĩa sau: 1. Lộ ra, hiện ra, xuất hiện (s: . abhipravartate, pravartate; t: skye ḥgyur) 2. Sinh ra từ bào thai. 3. Vượt quá, vượt hơn.
xuẩn động
Inconsiderate actions.
xuẫn ngu
Ngu xuẫn—Stupid.
xuề xòa
Easy-going.
xuể
Capable.
xuống
To go (get—come) down—To descend—To lower—To drop.
xuống giọng
To lower the tone.
xuống lịnh
To give an order.
xuống lỗ
To pass away—To die.
xuống âm phủ
To go to hell—To die.
xà
1) Âm thanh—Sounds. 2) Rắn: Sarpa (skt)—Snake—Serpent.
xà bà lệ
Jvala (skt)—Loại quỷ miệng phun ra lửa—Flame-mouth demon, a class of hungry ghost.
xà da bổ la
Jayapura (skt)—Theo Trung Anh Phật Học Từ Điển, Xà Da Bổ La, một thành phố cổ nằm trong khu Punjab, khoảng 30 dậm về phía tây bắc của Lahore—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Jayapura, an ancient city in the Punjab, probably the present Hasaurah, 30 miles north-west of Lahore.
xà da cúc đa
Jayagupta (skt)—Thầy của ngài Huyền Trang tại thành Srughna—A teacher of Hsuan-Tsang in Srughna.
xà da nhân đà la
Jayendra (skt)—Tự viện Xà Da Nhân Đà La ở Pravarasenapura, bây giờ là Srinagar, thuộc Kashmir—A monastery of Pravarasenapura, now Srinagar, Kashmir.
xà da tể na
Jayasena (skt)—Một học giả Phật giáo nổi tiếng về Kinh Vệ Đà, người miền tây Ấn Độ—A noted Buddhist scholar of the Vedas, a native of west India.
xà da đa
Jayata (S)Xà-đà-giàTổ thư 20 trong hàng 28 vị tổ Phật giáo Ấn độ.
; Jayata (S). The Indian 20th patriarch, teacher of Vasubandhu.
xà diễn đế
Jayanta (skt)—Người chế ngự—Tên của Thần Siva và các vị Thần khác—Conqueror—Name of Siva and others.
xà dược
Xà dược hay thuốc rắn là tên của tự viện Sarpausadhi ở Udyana, nơi mà trong một tiền kiếp Đức Phật Thích Ca đã hóa ra một con rắn lớn, bố thí thịt để cứu những người đang chết đói—Snake-medicine, name of the Sarpausadhi monastery in Udyana, where Sakyamuni in a former incarnation appeared as an immense snake, and by giving his flesh saved the starving people from death.
xà dạ
Jaya (skt)—Chế ngự, dấu hiệu của sự chế ngự—Conquering, a manual sign of overcoming.
xà dạ đa
Jayata (skt)—Vị tổ thứ 20 của Ấn Độ—The Indian twentieth patriarch—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ in Vietnamese-English Section.
xà hành
1) Đi như rắn đi bằng bụng: To crawl, to go on the belly. 2) Đức Phật nói về những Tỳ Kheo có “Xà Hành” pháp—The Buddha talked about those Bhiksus who crawl or go on the belly as follow: • Sát sanh, tay thường dấy máu: Killing beings with their bloody hands. • Hành thập ác: Practice ten evil deeds or actions—See Thập Ác. • Thân Xà Hành: Practice evil actions. • Khẩu Xà Hành: Speak evil words. • Ý Xà Hành: Their mind always bears evil thoughts.
xà la
Jhapita (skt)—Trà Tỳ—A monk's funeral pyre.
xà lâu
Jarayu (skt)—Nhau của thai nhi—A placenta—An after-birth.
xà lê
Acàrya (S). A teacher, instructor, exemplar.
; Acarya (skt)—See Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà lạn đạt na
Jalandhara (skt)—Vương quốc và thành phố cổ trong khu vực Punjab, bay giờ là Jalandar—An ancient kingdom and city in the Punjab, the present Jalandar.
xà lợi
Jala (skt)—Nước—Water.
xà na
Djnà (S). The Buddha's wisdom.
xà na da xá
Jnanayasas (skt)—Người xứ Ma Kiệt Đà, là thầy của Da Xá Quật Đa và Xà Na Quật Đa. Ông đã cùng với một nhà sư khác dịch sáu bộ kinh sang Hán văn—A native of Magadha, teacher of Yasogupta and Jnanagupta, co-translator of six works, A.D. 564-572.
xà na quật đa
Jnanagupta (skt)—Một vị sư người xứ Kiện Đà La, miền bắc Ấn Độ, người đã dịch 43 bộ kinh sang chữ Hán vào khoảng những năm 561-592 sau Tây Lịch (một vị Tỳ Kheo đời Trần Tùy, người vùng bắc Ấn Độ)—A native of Gabdhara, translated forty-three works into Chinese A.D. 561-592.
xà na quật đa tỳ kheo
Jānagupta (P)Đức Chí, Chí Đức, Phật Đức Tỳ kheoTên một vị sư.
xà pha lạ
Xem Quang minh.
xà phạ la
Jvàla (S). The halo. Also Vầng hào quang, quang minh.
; Jvala (skt)—Quang minh hay ánh sáng (còn có nghĩa là vô tướng bất sinh)—Shining—Light.
xà quật
Grdhrakùta (S). Vulture peak mount. Also Linh thứu sơn, Linh sơn, Kì xà quật, Kì sơn.
xà quật sơn
Grdhrakuta (skt)—Vulture Peak—See Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà thằng ma
Cái mà ta tưởng là rắn chỉ là một sợi dây thừng, kỳ thật khi đã biết ra thì mới biết thực tướng của dây thừng chỉ là những sợi đay mà thôi—The seeming snake, which is only a rope, and in reality hemp.
xà thằng ma dụ
Thí dụ về sự lầm tưởng sợi dây là con rắn—The parable of the seeming snake—See Xà Thằng Ma.
xà thế
See Ajatasatru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà tón
See Xvay Ton in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà túc
Chân rắn, ý nói về chuyện không tưởng như lông rùa sừng thỏ vậy—Snake's legs, i.e. the non-existent, e.g. the turtle's hairs or the rabbit horns.
xà tỳ
Xem Trà tỳ.
; Jhapita (skt)—Trà Tỳ—Burial and cremation.
xà vương
Ajatasatru (skt)—A Xà Thế—See Ajatasatru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xà y na
Jaina (skt)—Kỳ Na Giáo được sáng lập bởi Ni Kiền Đà Nhã Tử, một người cùng thời với Đức Phật Thích Ca (kỳ thật giáo phái nầy ra đời sớm hơn đạo Phật một chút. Lý tưởng của giáo phái nầy giống như Phật giáo ở chỗ bác bỏ quyền uy của Phệ Đà và bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ)—The Jains, founded by Jnatrputra, a contemporary of Sakyamuni.
xà y na giáo
Jaina (S). Jainism. Also Kì na giáo, Ni kiền đà.
; Jain (skt)—See Xà Y Na.
xà đa già
Jataka (skt)—Xà Đà—Xà Đà Ca—Xà Đà Già—Kinh Bản Nguyên—Kinh Bản Khởi—Kinh Bản Sanh, gồm những câu chuyện nói về tiền thân của chư Phật và chư Bồ Tát (thụ sinh thành vô số thân hình, sắc tướng để hành Bồ Tát Đạo. Đây là một trong 12 bộ kinh)—Stories of previous incarnations of Buddhas and Bodhisattvas.
xà đà già
Xem Bổn sanh. Xem Bổn sanh truyện.
; Jataka (skt)—See Xà Đa Già.
xà đà già kinh
Jatakas (S). Also Kinh Bản sinh.
xà đề
Satha (P)Xiêm Châu, Xiểm châuMột trong hai Trung châu của Tây ngưu hoá châu.
; Jati (S). Birth, production. Also Sinh.
; Jati (skt). 1) Sanh—Birth—Production. 2) Tên của một vài loại thảo mộc: Name of several plants, e.g. marigold.
xà đề thủ na
Jatisena (skt)—Tên của một vị Bà La Môn, một nhà thông thái được Phật nói đến trong Kinh Niết Bàn, người đã chịu quy-y Phật sau khi nghe Phật thuyết giảng—Name of a Brahman, an ancient sage mentioned in the Nirvana Sutra, who converted to Buddhism after hearing a preaching from the Buddha.
xà đề xà la
Jatijara (skt)—Sanh và lão—Birth and decrepitude (aging).
Xà-dạ-đa
闍夜多; S: śayata;|Tổ thứ 20 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Xà-lê
闍黎|A-xà-lê
Xà-đà-già
phiên âm từ Phạn ngữ là Jtaka, dịch nghĩa là bổn sanh, là những kinh nói về tiền thân đức Phật khi còn tu hành đạo Bồ Tát. Xem Mười hai bộ kinh.
xà-đà-già
Xem Xà da đa.
xài
To expend—To spend
xài phí
To squander one's money.
xào xạc
Noisy.
xá
1) Nhà nhỏ hay chòi: A shelter—A cottage. 2) Từ được dùng để xưng hô “ của tôi” một cách khiêm nhường: A term of humility for “my.” 3) Trú ngụ: To lodge. 4) Xá bỏ: To let go—To relinquish.
xá bà đề
Xem Xá vệ thành.
xá bà đề quốc
Sravasti (S). Also Xá vệ quốc, Xá vệ thành, Thất la phiệt thành.
xá chi
Sasa, Sasi, Sasin, Sakti (skt). 1) Thiết Thi: Sasi (skt). • Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Thiết Thi (Sasa) là tên của một loài thỏ rừng (tiền thân của Đức Phật), đã quăng mình vào lửa, để làm thức ăn cứu vớt những người đang đói. Thỏ được Vua Trời Đế Thích đưa vào trung tâm của mặt trăng—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, sasa is a hare, which threw himself itself into the fire to save starving people. It was transferred by Indra to the center of the moon. • Lực của khẩu và hành: The power of speech and action. 2) Xá Chi là vợ của một chư Thiên, có lẽ là của vua Trời Đế Thích: Sakti is the wife or female energy of a deity, maybe of Indra. 3) Xá Chi là bộ phận sinh dục của nữ phái: The female organ.
xá chi bát đê
Sacipati (skt)—See Thiên Đế Thích.
xá chào ai
To salute someone with joined hands.
xá chỉ
Indra (skt)—Tên của hoàng hậu vợ vua Đế Thích—Name of Indra's chief consort (wife).
xá cứu ni
Sakuni (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
xá di
Sakya (skt)—Có lẽ đây là một trong năm họ của Đức Phật—Probably one of the five surnames of the Buddha.
xá dạ đa
Shayata (S)Tổ thứ 20 giòng Ấn.
xá kiệt quốc
Sagala (S).
xá la
Sari or Sarika (skt). 1) Xá Lợi: Sari (skt)—See Xá Lợi. 2) Tên của loài chim “Bách Thiệt”: Name of a kind of bird. 3) Thẻ bài bằng tre để điểm danh chư Tăng trong tự viện: Bamboo or wooden tallies used in numbering monks in a monastery.
xá la bà ca
Xem Thanh văn.
; Sravaka (skt). 1) Đệ tử từng được nghe lời Phật dạy: A hearer, disciple, who has heard the voice of Buddha. 2) Những đệ tử từng theo bên Phật thì gọi là Đại Thanh Văn: All the personal disciples of sakyamuni, the chief disciples being called Mahasravakas. 3) Bậc Thánh quả thấp nhất, những bậc cao hơn gồm Bích Chi Phật, Bồ Tát, và Phật: The lowest degree of saintship, the other higher being Pratyeka-buddhas, bodhisattvas, and Buddhas—For more information, please see Thanh Văn and Sravaka.
xá la ma nã
Sramana (skt)—See Sa Môn in Vietnamese-English Section and Sramanera in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
xá li quốc
Xem Tì xá li.
xá ly
Xem Quảng nghiêm thành.
xá lâu già
Saluka (skt)—Một loại thực phẩm lỏng làm bằng rễ sen—A kind of cooked liquid food made of lotus roots.
xá lặc
Sataka (skt)—Xá Tra Ca—Quần áo mặc bên trong—An inner garment, or a skirt.
xá lị (lợi)
Sàrìra (S). Relic.
xá lị phật
Sàrìradhàtu (S). Relic of the Buddha.
xá lị răng phật
Dasanadhàtu (S). Tooth relic (eyetooth) of the Buddha.
xá lị tháp
Sàrìraka (S). Stùpa of relic.
Xá Lợi
(s: śarīra, p: sarīra, 舍利): âm dịch là Thật Lợi (實利), Thiết Lợi La (設利羅), Thất Lợi La (室利羅); ý dịch là tử thi (死屍), di cốt (遺骨), xác chết, thân, thể, thân cốt (身骨), di thân (遺身). Thông thường, từ này được dùng để chỉ cho di cốt của đức Phật, nên có tên là Phật cốt (佛骨), Phật Xá Lợi (佛舍利); về sau chỉ cho phần xương cốt lưu lại sau khi hỏa thiêu của chư vị cao tăng. Bảo tháp nơi được an trí Xá Lợi Phật được gọi là Xá Lợi Tháp (舍利塔), bình có an trí Xá Lợi thì gọi là Xá Lợi Bình (舍利瓶), hay pháp hội cúng dường Xá Lợi Phật thì có tên là Xá Lợi Hội (舍利會). Như trong Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh (合部金光明經, Taishō Vol. 16, No. 664) quyển 8 định nghĩa rằng: “Thử Xá Lợi giả, thị Giới Định Tuệ chi sở huân tu, thậm nan khả đắc, tối thượng phước điền (此舍利者、是戒定慧之所熏修、甚難可得、最上福田, Xá Lợi này được huân tu bởi Giới Định Tuệ, thật khó có được, là ruộng phước tối thượng).” Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō Vol. 16, No. 698) chia Xá Lợi làm 2 loại: (1) Sanh Thân Xá Lợi (生身舍利), tức di cốt của đức Phật; (2) Pháp Thân Xá Lợi (法身舍利), hay Pháp Tụng Xá Lợi (法頌舍利), là giáo pháp, giới luật của Ngài để lại và lấy Xá Lợi để ví dụ. Trong khi đó, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 40 lại phân Xá Lợi làm 3 loại: (1) Cốt Xá Lợi (骨舍利, Xá Lợi xương), có màu trắng; (2) Phát Xá Lợi (髮舍利, Xá Lợi răng), màu đen; (3) Nhục Xá Lợi (肉舍利, Xá Lợi thịt), màu đỏ. Xá Lợi nói chung chủ yếu là mảnh xương, có hình trạng lớn nhỏ bất đồng, cứng chắc, nhỏ vụn, thường như hạt đậu. Theo kinh điển cho biết rằng Xá Lợi đức Phật được chia làm 3 phần cho chư Thiên, Long Vương và con người. Trong đó, tương truyền Trời Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋天) thì nhận Xá Lợi răng, đem về Trời cúng dường, nhưng bị quỷ chạy nhanh đoạt mất một miếng. Ngoài việc lễ bái Xá Lợi đức Phật, còn có truyền thống lễ bái Xá Lợi của các tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Bên cạnh đó, lễ bái các Thánh địa như nơi đức Phật đản sanh, gốc cây Bồ Đề nơi Ngài Thành Đạo, tòa báu Kim Cang, nơi Ngài từng đi kinh hành, v.v., đều có ý nghĩa tạo nhân duyên gọi là “gặp Phật nghe pháp” để sớm thành đạo quả. Về sự kiện sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, 8 quốc gia phân phối Xá Lợi của Ngài như thế nào, các kinh điển ghi lại rất rõ. Theo Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Du Hành Kinh (遊行經) thứ 2, lúc bấy giờ dân chúng Mạt La (p: Malla, 末羅) của nước Ba Bà (p: Pāvā, 波婆) muốn có được Xá Lợi để dựng tháp cúng dường ngay tại xứ sở mình, bèn chuẩn bị 4 loại binh lính đến thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), sai sứ giả cầu xin phân chia Xá Lợi. Thế nhưng, quốc vương nước này lại bảo rằng đức Phật diệt độ tại nước ông, nên dân chúng trong nước có thể tự lo liệu cúng dường và từ chối không chia Xá Lợi. Đồng thời, dân chúng Bạt Ly (p: Buli, 跋離) của nước Già La Phả (p: Allakappa, 遮羅頗), dân chúng Câu Lợi (p: Koḷiya, 拘利) của nước La Ma Già (p: Rāmagāma, 羅摩伽), chúng Bà La Môn của nước Tỳ Lưu Đề (p: Veṭhadīpa, 毘留提), dân chúng dòng họ Thích Ca (p: Sakya, 釋迦) của nước Ca Tỳ La Vệ (p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), dân chúng Ly Xa (p: Licchavī, 離車) của nước Tỳ Xá Ly (p: Vesālī, 毘舍離), vua A Xà Thế (p: Ajātasattu, 阿闍世) của nước Ma Kiệt Đà (p: Magadha, 摩掲陀); mỗi đoàn đều chuẩn bị 4 loại binh lính, tiến qua sông Hằng. Trong khi đó, Bà La Môn Hương Tánh (香姓) cũng xin chia Xá Lợi, nhưng bị từ chối. Các nước nhất tề muốn dùng sức mạnh của binh khí, đao gậy để tranh giành; song Bà La Môn Hương Tánh ngăn cản, khuyên họ không nên làm như vậy; bèn phân chia Xá Lợi cho 8 quốc gia. Các nước nhận được Xá Lợi xong, trở về bôn quốc, dựng tháp cúng dường. Trong Ngụy Thư (魏書), phần Thích Lão Chí (釋老志), có đoạn: “Phật ký tạ thế, hương mộc phần thi, linh cốt phân toái, đại tiểu như lạp, kích chi bất hoại, phần diệt bất tiêu, hoặc hữu quang minh thần nghiệm, Hồ ngôn vị chi Xá Lợi, đệ tử thâu phụng, trí chi bảo bình, kiệt hương hoa, trí kính mộ, kiến cung vũ, vị chi tháp (佛旣謝世、香木焚屍、靈骨分碎、大小如粒、擊之不壞、焚亦不燋、或有光明神驗、胡言謂之舍利、弟子收奉、置之寶瓶、竭香花、致敬慕、建宮宇、謂爲塔, đức Phật đã qua đời, lấy gỗ thơm đốt thi hài, linh cốt chia nhỏ ra, lớn nhỏ như hạt gạo, đập vào không vỡ, đem đốt không cháy, hoặc có ánh sáng linh nghiệm, người Hồ [Tàu] gọi đó là Xá Lợi, đệ tử thu gom thờ phụng, đặt vào trong bình báu, dốc hết hương hoa [cúng dường], tận tâm kính mộ, kiến lập cung điện nhà cửa, gọi đó là tháp).” Hay trong tác phẩm Cổ Kim Tiểu Thuyết (古今小說, tức Dụ Thế Minh Ngôn [喻世明言]) quyển 30, phần Minh Ngộ Thiền Sư Cản Ngũ Giới (明悟禪師趕五戒), của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) nhà Thanh, lại có đoạn: “Tụng xong, Trà Tỳ chi thứ, kiến hỏa trung nhất đạo thanh yên, trực thấu vân đoan, yên trung hiển xuất Viên Trạch toàn thân bổn tướng, hiệp chưởng hướng không nhi khứ; thiểu yên, Xá Lợi như vũ, chúng tăng thâu cốt nhập tháp (頌畢、茶毗之次、見火中一道青煙、直透雲端、煙中顯出圓澤全身本相、合掌向空而去、少焉、舍利如雨、眾僧收骨入塔, sau khi đọc bài tụng xong, khi làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], thấy trong lửa có một làn khói xanh, xuyên thẳng lên tầng mây, trong làn khói ấy hiện rõ toàn thân hình tướng của Thiền Sư Viên Trạch, chấp tay hướng không trung mà đi; lát sau, Xá Lợi như mưa, chúng tăng thu gom cốt nhập tháp).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 36, phần Tịnh Từ Trọng Dĩnh Thiền Sư Pháp Từ (淨慈仲穎禪師法嗣), Ôn Châu Giang Tâm Nhất Sơn Thiền Sư (溫州江心一山禪師), cũng có đoạn rằng: “Hoàng Khánh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật, cấu tật nguy toạn bất cận dược; duyệt thất nhật, mạng cụ dục cánh y, xuất cứ thất kỷ, thư quyết chúng ngữ tọa thệ; Xà Duy thâu ngũ sắc Xá Lợi như thục, bất khả kế, song mục tình bất tẫn (皇慶元年十一月二十六日、遘疾危坐不近藥、閱七日、命具浴更衣、出據室几、書訣眾語坐逝、闍維收五色舍利如菽、不可計、雙目睛不燼, vào ngày 26 tháng 12 năm đầu [1312] niên hiệu Hoàng Khánh [đời vua Nhân Tông nhà Nguyên], Thiền Sư nhuốm bệnh, vẫn ngồi ngay thẳng mà không uống thuốc; trãi qua 7 ngày, ngài bảo tắm rửa, thay áo quần, ra ngồi tựa vào ghế dựa của thất, viết thư giã từ vài lời rồi ngồi mà ra đi; khi làm lễ Xà Duy [hỏa thiêu], thâu Xá Lợi năm màu nhiều như hạt đậu, không đếm được, hai tròng mắt không cháy thành tro).”
; (s: śarīra, p: sarīra, 舍利): âm dịch là Thất Lợi La (室利羅), ý dịch là thân, thân cốt, di cốt, linh cốt. Nguyên gốc nó có nghĩa là thân thể, nhưng phần nhiều nó được dùng để chỉ thân cốt của Phật hay các vị cao tăng.
xá lợi
ringsel (T), Śarīra (S), Relic Sarira (P)Thất lỵ la, Thiết lỵ laTro tàn, thân cốt còn lại của Phật sau khi tịch diệt và hoả thiêu. Là vô lượng công đức lục độ họp thành, là do sự huân tu của giới đdịnh tuệ mà thành. Xá lợi có 3 màu: trắng là xá lợi bằng xương, đen là xá lơi bằng tóc, đỏ là xá lợi bằng thịt. Có 2 loại xá lợi khác nữa: toàn thân xá lợi như xá lợi Phật Đa bảo trong Kinh Pháp hoa, Toái thân xá lợi là do thân đốt vụn ranhư xá lợi đức Thích ca. Lại có 2 thứ nữa: Sinh thân xá lợi: Như Lai sau khi tịch diệt lưu lại thân cốt để Trời Ngườiđược phúc cúng dường, Pháp thân xá lợi: hết thảy kinh sách để lại.
; (A) Sari (skt)—Những tinh túy của các bậc chân tu. Theo kinh điển, sau khi hỏa thiêu, Phật đã để lại 84.000 viên xá lợi. Chúng trông giống như những viên ngọc thạch. Tùy theo nghiệp của mỗi người mà họ nhìn thấy xá lợi một cách khác nhau. Theo kinh điển thì trong quá khứ có rất nhiều vị giác ngộ đã để lại xá lợi. Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, xá lợi của Ngài được chia làm tám phần và giao cho tám vương quốc xây tháp thờ (Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Đại Đức Ma Ha Ca Diếp từ núi Kỳ Xà Quật đến thành Câu Thi Na làm lễ trà tỳ tức là lễ hỏa táng cho Đức Phật. Sau khi hỏa táng xong, xá lợi của Phật được dòng Mạt La trong thành Câu Thi Na quản thủ phụng thờ, tuy nhiên, các vương quốc kế cận đem binh mã đến tranh giành, do đó mọi người đồng ý chia xá lợi của Ngài ra làm 8 phần)—Relics or remains—The Buddha's or his disciples' physical remains or relics—Objects left behind by Buddha or other enlightened beings. It comes from their merits and virtues in Cultivation of the Way. The sutra states (the Buddha left behind 84,000 relics) when the Budha was cremated, his body turned into 84,000 saris (relics). These are like gems and depending on each individual's karma, everyone can look at the same Sari but see completely different things. According to the sutras, other enlightened high ranking monks of the past also left behind relics. After the Buddha's nirvana, his relics were divided into eight parts and distributed to eight kingdoms. 1) Thành Câu Thi Na: Kusinaga. 2) Thành Ba bà: Pravari. 3) Thành Giá La: Carya. 4) Thành La Ma Già: Ramaya. 5) Thành Ca Tỳ La Vệ: Kapilavastu. 6) Thành Tỳ Lưu Đề: Virupaksa. 7) Thành Tỳ Xá Ly: Vaisali. 8) Xứ Ma Kiệt Đà: Magadha. (B) Tên một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào năm 1956. Chánh điện trên lầu một dài 31 mét, rộng 15 mét, có tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tượng do trường Mỹ Nghệ Biên Hòa thực hiện năm 1958 bằng bột đá màu hồng. Trên tường chánh điện có những bức tranh họa đời sống Đức Phật. Trước kia chùa Xá Lợi là nơi đặt trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Chùa được chọn làm nơi tổ chức đại hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, họp từ ngày 30 tháng 12 năm 1963 đến ngày 1 tháng 1 năm 1964. Tháp bảy tầng của chùa được xây từ năm 1960. Đại hồng chung được dựng lên ngày 17 tháng 10 năm 1961 dưới sự chứng minh của cố Hòa Thượng Tịnh Khiết—Name of a famous pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1956. The statue of sakyamuni Buddha was worshipped in the Main Hall on the first floor, 31 meters long and 15 meters wide. This statue was cast in pink powder of stone by the School of Fine Art of Bien Hòa in 1958. On the wall of the Main Hall, there are various paintings illustrating the Sakyamuni Buddha's lifetime. Formerly, Xá Lợi pagoda was intended to be the office of South Vietnam Association of Buddhist Studies. It was chosen as the place for holding the Congress of the Vietnam Buddhist Sangha from December 30, 1963 to January 1, 1964. The seven-storeyed tower was built in 1960. The great bell was hung in the tower on October 17th, 1961 under the honourable attestation of the late Most Venerable Thích Tịnh Khiết.
xá lợi (chim)
Egrets—Một loại cò trắng.
Xá Lợi Phất
(s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗): một trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật, còn gọi là Xá Lợi Phất Đa (舍利弗多), Xá Lợi Phất La (舍利弗羅), Xá Lợi Phất Đát La (舍利弗怛羅), Xá Lợi Phất Đa La (舍利弗多羅), Xà Lợi Phú Đa La (闍利富多羅), Xà Lợi Phất Đa La (闍利弗多羅); ý dịch là Thu Lộ Tử (鶖鷺子、秋露子), Cù Dục Tử (鴝鵒子、鸜鵒子), Thu Tử (鶖子); thường gọi là Xá Lợi Tử (舍利子), cựu dịch là Thân Tử (身子). Mẹ ông là con gái của một vị luận sư Bà La Môn ở Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城) thuộc nước Già Đà (伽陀). Khi vừa mới sanh ra, con mắt ông giống như mắt con chim Xá Lợi, nên ông được đặt tên là Xá Lợi Phất (con của chim Xá Lợi). Hay ông có tên khác là Ưu Ba Để Sa (s: Upatiṣya, p: Upatīṣya, 優波底沙), Ưu Ba Đế Tu (優波), v.v.; ý dịch là Đại Quang (大光), được lấy theo tên cha. Theo Bản Hạnh Tập Kinh (本行集經) quyển 48, Phẩm Xá Lợi Mục Liên Nhân Duyên (舍利目連因緣品), từ nhỏ tướng mạo của Xá Lợi Phất đã đoan nghiêm; đến khi lớn lên, rèn luyện các kỹ năng, thông hiểu các bộ kinh Phệ Đà. Năm lên 16 tuổi, ông đã có thể hàng phục các luận nghị của người khác, mọi người đều quy phục ông. Thời niên thiếu, ông từng kết giao với Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連) ở làng bên cạnh, thường đến tham dự những buổi tế lễ ngoài Thành Vương Xá, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt cảm ngộ lẽ vô thường, bèn cắt bỏ râu tóc, theo xuất gia học đạo với một trong 6 vị thầy ngoại đạo là San Xà Da Tỳ La Chi Tử (s: Sañjayavairaṭṭiputra, 删闍耶毘羅胝子), chỉ trong 7 ngày đêm mà có thể thông suốt toàn bộ giáo nghĩa của vị này, hội chúng có 250 người đều tôn kính ông là bậc thượng thủ, song Xá Lợi Phất vẫn thâm cảm được rằng mình chưa được giải thoát. Lúc bấy giờ, đức Phật thành đạo không được bao lâu, hiện đang trú tại Tinh Xá Trúc Lâm (竹林精舍) ở Thành Vương Xá. Đệ tử Ngài là A Thuyết Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿說示, còn gọi là Tỳ Kheo Mã Thắng [馬勝比丘]) đắp y, cầm bình bát vào trong thành khất thực. Xá Lợi Phất thấy vị này oai nghi đoan chính, bước đi khoan thai, bèn đến hỏi xem thầy là ai và thực hành pháp môn gì ? A Thuyết Thị bèn lấy pháp nhân duyên do đức Phật thuyết giảng để chỉ cho Xá Lợi Phất, để hiểu được lý các pháp là vô ngã. Nghe xong, Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên, mỗi người thống lãnh 250 đệ tử, cùng đến Tinh Xá Trúc Lâm quy y với đức Phật. Theo Thập Nhị Du Kinh (十二遊經), sau khi quy y với đức Phật, ông thường tùy tùng theo Ngài, giúp giáo hóa mọi người, là bậc thượng thủ trong đại chúng. Ông là người thông minh xuất chúng, được tôn xưng là Trí Tuệ Đệ Nhất (Trí Tuệ Số Một). Lại căn cứ vào Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經) quyển 11, 12, Hiền Ngu Kinh (賢愚經) quyển 10, Phẩm Tu Đạt Khởi Tinh Xá (須達起精舍品), v.v., Xá Lợi Phất tinh thông ngoại điển, từng dùng biện tài siêu tuyệt để hàng phục ngoại đạo Mắt Đỏ; hay sự việc trưởng giả Tu Đạt Đa (p: Sudatta, 須達) quy y theo đức Phật, phát tâm kiến tạo Kỳ Viên Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), v.v., cũng nhờ sự khuyến hóa tài tình và đầy trí tuệ của Xá Lợi Phất. Hơn nữa, theo Tứ Phần Luật (四分律) quyển 46, Thập Tụng Luật (十誦律) quyển 37, v.v., vào cuối đời của đức Phật, Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多) tuyên xướng về 5 điều không đúng pháp, muốn phá hoại tăng đoàn, thống lãnh 500 Tỳ Kheo vào trong núi Già Da (伽耶); khi ấy Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên đến ngọn núi này, khiến cho 500 Tỳ Kheo kia nhận ra sai lầm của mình, quay trở về với Phật. Suốt cả đời Xá Lợi Phất luôn được mọi người tôn kính, lại được đức Phật tán dương. Ông nhập diệt trước đức Phật, sau 7 ngày thì làm lễ Trà Tỳ (茶毘); y bát và di cốt của ông được an táng tại Kỳ Viên. Trưởng giả Tu Đạt Đa dựng tháp cho ông. Theo Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa cho biết rằng Xá Lợi Phất được đức Phật thọ ký cho rằng vào thời tương lai sẽ làm Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai (華光如來).
xá lợi phất
Sāriputta (P), Śāriputra (S), shari pu (T)Một trong thập đại đệ tử của đức Phật.
; Sàriputra (S). One of the ten great disciple of the Buddha.
; Sariputra (skt)—Xa Lợi Phất—Xá Lợi Phất Đa—Xá Lợi Tứ—Xá Lợi Phú Đa La—Xá Lợi Bổ Đát La—Một trong mười đệ tử lớn của Phật, ông là bậc đệ nhứt trí tuệ trong số những đệ tử A La Hán của Phật. Ngài Xá Lợi Phất sanh tại vùng Nalandagrama, con của Sarika và Tisya, nên có tên gọi Xá Lợi Phất, lại được gọi theo tên cha là Ưu Bà Đề Xá. Ngài nổi tiếng về trí tuệ và đa văn. Ngài là vị thị giả đứng hầu bên phải Phật Thích Ca. Các môn đồ phái Vi Diệu Pháp thì cho rằng Ngài chính là sơ tổ của họ. Tên ngài nổi bật trong một số kinh điển Phật giáo. Người ta nói ngài thị tịch trước thầy là Phật Thích Ca. Ngài và Mục Kiền Liên là hai biểu tượng đứng bên cạnh Phật khi nhập niết bàn. Ngài thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai ở cõi Ly Cấu Thế Giới (ngài Xá Lợi Phất nguyên là bạn của Mục Kiền Liên, cả hai là học giả của phái Lục Sư Ngoại Đạo, học vấn trí thức cao thâm được mọi người đương thời kính nể. Nhân tín phục giáo nghĩa của Đức Phật, hai ngài cùng đem 200 đệ tử đồng quy-y Phật, thọ giới xuất gia. Về sau hai Ngài phụ tá Đức Phật để tuyên giáo, công nghiệp hoằng hóa của hai ngài rất lớn đối với Phật giáo)—One of the ten major disciples of the Buddha, the foremost in wisdom among his Arhat disciples. He was born at Nalandagrama, the son of Sarika and Tisya, hence known as Upatisya; noted for his wisdom and learning; he is the right-hand attendant on Sakyamuni. The followers of the Abhidharma count him as their founder and other works are attributed, without evidence, to him. He figures prominently in certain sutras. He is said to have died before his Master; he is represented as standing with Maudgalyayana by the Buddha when entering nirvana. He is to appear as Padmaprabha Buddha.
xá lợi phất chi sở thuyết
Sariputra-prakaruṇā (S)Tên một bộ luận kinh.
xá lợi phất đà la ni kinh
Śāriputra-dhāraṇī-sŪtra (S)Một trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.
xá lợi phật
Śarīradhātu (S), Relics of the Buddha, shari pu (T).
xá lợi sa bà
Sarsapa (skt). 1) Một hạt cải—A mustard seed. 2) Một đơn vị đo lường tương đương với một phần 10.816.000 do tuần: A unit which is equivalent to the 10,816,000th part of a yojana.
xá lợi tháp
ŚarīrastŪpa (S), Śārīraka (S), Stupa of relics Dhātucetiya (P).
; Sarira-stupa (skt)—Tháp đặt xá lợi của Đức Phật—A reliquary, or pagoda for a relic of Buddha.
xá lợi tử
Xem Xá lợi phất.
xá ma
Sama (skt). 1) Yên tịnh: Calm—Quiet. 2) Một tên khác của cây Bồ Đề: Another name for the Bodhi-tree.
xá ma xa na
Smasana (skt). 1) Nghĩa trang hay lò hỏa táng: A cemetery or crematorium. 2) Một ụ đá thấp để địa táng các nhà sư (trong những xứ ở phía Tây trung Quốc): A low mound of stone under which the remains of monks are buried in countries west of China.
xá ma đà
See Xá Ma.
xá na thân
Thân Phật Tỳ Lô Giá Na—The body or person of Vairocana.
xá na tôn đặc
The special and sacred body of Vairocana Buddha.
; Locana (skt)—Thân tôn nghiêm đặc biệt của Đức Tỳ Lô Giá Na (vị giáo chủ của Kinh Hoa nghiêm)—The adorned person of Vairocana.
Xá thành 舍城
[ja] シャジョウ shajō ||| Abbreviation of 舍衛城 (Śrāvastī) => Viết tắt của Xá-vệ thành 舍衛城 (s: Śrāvastī).
xá vệ
Śrāvāsti (S), Sāvatthi (P)Thất la phiệt thành, Xá bà đề1- Kinh đô nước Câu tát la (Kosala). Trong thành Xá vệ này, vườn Kỳ thọ Cấp cô độc là nơi đức Phật thường ngự đến để giáo hóa tín đồ và cứu độ chúng sanh. Chính nơi này ngài Xá lợi Phật viên tịch và người ta có xây tháp thờ ngài, mỗi nam có kỷ niệm công đức ngài.
; S(h)ravasti—See Xá Vệ Quốc.
Xá Vệ Quốc
(s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛國): tên của một vương quốc cổ của Ấn Độ, còn gọi là Xá Bà Đề Quốc (舍婆提國), Thất La Phiệt Quốc (室羅伐國), Thi La Bạt Đề Quốc (尸羅跋提國), Xá Ra Bà Tất Đế Quốc (舍囉婆悉國); ý dịch là Văn Vật (聞物又以此城多出名人,多产胜物,故称闻物国。), Văn Giả (聞者), Vô Vật Bất Hữu (無物不有), Phong Đức (豐德), Hảo Đạo (好道). Hơn nữa, thành này vốn xuất phát nhiều danh nhân, nhiều sản vật nổi tiếng, nên có tên là Văn Vật Quốc (聞物國). Nguyên gốc nó là tên thành đô của Bắc Kiều Tát La Quốc (s: Uttara-Kośalā, 北憍薩羅國), khác với Nam Kiều Tát La Quốc (s: Dakṣiṇa-Kośalā, 南憍薩羅國). Về xuất xứ tên gọi Xá Vệ Quốc, có nhiều thuyết khác nhau. Như trong tác phẩm Tỳ Thấp Nô Phú Lan Na (s: Viṣṇu-purāṇa, 毘濕奴富蘭那) có ghi rằng người sáng lập ra thành này là Nhật Chủng Vương (s: Śrāvasta, 日種王). Khi đức Phật còn tại thế vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿) trị vì thành này. Theo Phân Biệt Công Đức Luận (分別功德論) quyển 2, đức Phật sống tại Thành Xá Vệ trước sau 25 năm, lâu hơn so với các nơi khác. Do vì quốc gia này rất vi diệu, nhiều vật trân kỳ, nhân dân tai đây hiểu rõ nghĩa lý; hơn nữa, Tinh Xá Kỳ Hoàn (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) lại có nhiều điều thần nghiệm. Khi chư tăng tập trung nghe pháp, có cả ngàn con khỉ, vượn hội tụ về hai bên phải trái để lắng nghe, nhưng vắng lặng chẳng một tiếng động. Ngay cả loài chim chóc cũng bay đến đây để nghe pháp. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 3 có ghi rằng Xá Vệ Quốc là vùng đất xuất sanh của đức Phật, cho nên có nhiều chúng sanh sống tại đây để báo ơn Phật. Phần lớn trong các kinh điển đều thấy có tên của quốc gia này, như các kinh của hệ A Hàm (p: Āgama, 阿含), Hiền Kiếp Kinh (賢劫經), Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經), Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經), Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經), A Di Đà Kinh (阿彌陀經), Văn Thù Bát Nhã Kinh (文殊般若經), Kim Cang Bát Nhã Kinh (金剛般若經), v.v. Tương truyền khi đức Thế Tôn còn tại thế, vương quốc này có đến 9 ức ngôi nhà; tuy nhiên, đến đầu thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, lúc cao tăng Pháp Hiển (法顯, 340?-?) sang chiêm bái, nơi đây đã hoang phế rồi. Đến 200 năm sau, khi Huyền Trang (玄奘, 602-664) đến, nơi đây vẫn còn hoang phế. Các thánh tích như Đại Pháp Đường do Thắng Quân Vương (勝軍王) kiến tạo, Tinh Xá Bát Ra Xà Để (缽邏闍底精舍), nơi ngoại đạo Chỉ Man (指鬘) hối cải chứng đạo, Tinh Xá Kỳ Viên (祇園精舍), nơi đức Phật chăm sóc bệnh cho Tỳ Kheo, nơi Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) tranh nhau về thần thông, nơi ngoại đạo giết người dâm nữ hủy báng Phật, nơi Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多) bị rơi vào hầm lớn địa ngục, v.v., đều trở thành hoang tàn, đỗ nát. Về vị trí của thành này, theo suy định của nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham cho biết rằng thành này nằm gần Oudh (xưa gọi là Sa Chỉ [p: Sāketa, 沙只]), khoảng hơn 90 dặm về phía Bắc, tức là địa phương Sahet Mahet ở vùng tả ngạn sông Rapti. Nhân gần đây người ta phát quật tại nơi này, phát hiện có một tượng Phật to lớn trên có khắc dòng chữ Śrāvastī; thêm vào đó, trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 6 có đề cập đến khu thành chu vi khoảng 5 công lý, bản đồng ghi lại việc bố thí ruộng đất cho Kỳ Viên Tinh Xá, như vậy cũng đủ chứng minh nơi đây là vùng đất ngày xưa của Xá Vệ Quốc.
xá vệ quốc
Xem Xá vệ thành.
; Shravasti—Xá Bà Đề—Thất La Phạt—Thất La Phạt Tất Để—Thi La Bạt Đề—Xả La Bà tất Đế Da—Xá Vệ mà nay là Saheth-Maheth ở Uttar Pradesh, kinh đô của vương quốc Kiều Tất La. Trong thời Đức Phật, Xá Vệ là tên của một vương quốc lớn ở Ấn Độ, vương quốc của vua Ba Tư Nặc, cha của Thái Tử Kỳ Đà. Người ta nói đây là thành phố nổi tiếng về người và vật (xứ văn vật hay xứ mà cái gì cũng có), một thành phố trong vương quốc cổ ở vùng bắc Ấn Độ, nam ngạn sông Hằng, khoảng 500 dậm về phía tây bắc của thành Ca Tỳ La Vệ, bây giờ là Rapetmapet, phía nam sông Rapti. Chính nơi đây, thương gia Cấp Cô Độc (Anathapindika) đã cho xây một tu viện lớn trong khu vườn mua lại của Thái Tử Kỳ Đà bằng số vàng với cái giá thần thoại để đón tiếp Đức Phật. Câu chuyện mua lấy khu vườn và dâng tặng cho Đức Phật là một đề tài được yêu chuộng trong nghệ thuật Phật giáo thời trước. Sau đó, nhiều đền đài và tu viện đã được xây dựng lên tại đây và nơi nầy vẫn tiếp tục là một trung tâm phồn thịnh của Phật giáo trong một thời gian dài. Người ta nói nước Xá Vệ nằm trong Vương Quốc Bắc Kiều Tất La, khác hẳn với Vương Quốc Nam Kiều Tất La. Nước Xá Vệ là một nơi an cư mà Đức Phật rất thích, trong đó có ngôi vườn Kỳ Thọ nổi tiếng—Sravasti, modern Saheth-Maheth in Uttar Pradesh, the capital of the ancient kingdom of Kosala. During the time of Sakyamuni Buddha, Sravasti was the name of a great kingdom in India, the kingdom of King Prasenajit, father of Prince Jeta. People said this was a city of famous things, or men, or the famous city; it was a city and ancient kingdom in northern India, on the southern bank of the Ganges River, about 500 miles northwest of Kapilavastu, now Rapetmapet, south of Rapti River. Even from the days of the Buddha, Sravasti was an active center of Buddhism and it was here that the merchant Anathapindika built a large monastery for the reception of the Master (in the garden of Prince Jeta, and was purchased at a fabulous price in gold). The story of its purchase and its eventual presentation to the Buddha was a favorite theme in early Buddhist art. In later times, shrines and monasteries arose on this sacred spot which continued to be a flourishing center of the Buddhist faith for a long time. It is said to have been in northern Kosala, distinct from the southern kingdom of that name. It was a favourite resort of Sakyamuni, the famous Jetavana being there.
xá vệ thành
Sāvatthi (P), Śṛāvāsti (S).
; Sràvasti (S). Name of an Indian city.
xá xá ca
Sasaka (skt)—A hare—A rabbit—See Xá Chi.
xá đa tỳ sa
Satabhisa (skt)—Một chòm sao trong vùng sao Bảo Bình—A constellation in the Aquarius.
xá đa đề ba ma mâu xá nam
Sastadeva-manusyanam (skt)—Thiên Nhân Sư (bậc thầy của cõi trời và người), một trong mười danh hiệu của Phật—Teacher of gods and men, one of the ten titles of a Buddha. ** For more information, please see Thiên Nhân Sư.
xá đầu gián
Sardula-karna (skt)—Tên nguyên thủy của Ngài A Nan, được diễn dịch là “Lỗ tai cọp.”—The original name of Ananda, interpreted as “Tiger's ears.”
Xá 舍
[ja] シャ sha ||| (1) Hut, house, inn, shed, lodge. (2) To lodge at, reside, stay overnight. (3) One day's travel. 30 li. (4) To cast off, throw away (捨). To stop, put a stop to. (5) Separate from. (6) Put, place. (7) Used in transliterating Indian śa sound. => 1. Túp lều, ngôi nhà, lữ quán, nhà nghỉ. 2. Ở, cư ngu, nghỉ qua đêm. 3. Đoạn đường dài đi được trong một ngày (30 lý, dặm=khoảng 500m). 4. Âm xả (捨), liệng bỏ, xả bỏ. Dừng lại, dừng nghỉ. 5. Tách rời ra. 6. Đặt, để. 7. Dùng để đọc mẫu tự Śa trong tiếng Phạn.
Xá-bà-đề
phiên âm từ Phạn ngữ là Śrvastỵ, cách đọc khác thường gặp hơn là Xá-vệ, kinh đô của nước Câu-tát-la (Kosala). Đúng ra đây chỉ là tên thành, nhưng nhiều khi cũng được dùng để chỉ cả nước Câu-tát-la, như ở đây gọi là nước Xá-bà-đề, hoặc có nơi khác gọi là nước Xá-vệ, đều là để chỉ nước Câu-tát-la, vào thời ấy do vua Ba-tư-nặc cai trị.
Xá-lị
舍利; S: śarīra;|Chỉ chung những gì còn sót lại sau khi thiêu thân Phật Thích-ca hoặc các bậc đắc đạo, thường được thờ trong các Tháp hay chùa chiền.|Người ta cho rằng, tục thờ Xá-lị có lẽ bắt đầu với Phật Thích-ca. Tro của Ngài được chia ra nhiều phần cho các bộ tộc và lần đó có sự tranh chấp về vấn đề này. Danh từ Xá-lị cũng được dùng để chỉ Kinh (s: sūtra), Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) hay tranh tượng đức Phật, mang tính chất thiêng liêng. Tục thờ cúng Xá-lị được lưu truyền trong dân chúng, người ta tin rằng nhờ vậy mà trừ được rủi ro.|Người ta đã tìm thấy Xá-lị của Phật Thích-ca tại quê hương của Ngài là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu) và Vệ-xá-li (s: vaiśālī). Một răng của Phật được thờ tại Candy (Tích Lan), tóc của Ngài được thờ tại Miến Ðiện. Người ta cho rằng bình khất thực của Ngài ngày nay vẫn còn: theo Ðại sử (p: mahāvaṃsa) của Tích Lan thì bình này được vua A-dục cho mang qua Tích Lan, sau thời Marco Polo thì vua Tích Lan Kublai Khan cho mang bình qua Trung Quốc.
Xá-lị-phất
舍利弗; hoặc Xá-lị tử; S: śāriputra; P: sāriput-ta;|Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Xá-lị-phất xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn. Sau khi đức Phật giác ngộ, Xá-lị-phất cùng bạn thân là Mục-kiền-liên (s: mahāmau-dgalyāyana; p: mahāmoggallāna) gia nhập Tăng-già và mang danh hiệu là »Trí huệ đệ nhất«. Tôn giả mất vài tháng trước ngày Phật nhập diệt. Trong nhiều chùa, người ta thấy tranh tượng của Xá-lị-phất và Mục-kiền-liên tả hữu bên cạnh đức Phật.|Xá-lị-phất là một người đầy nghi ngờ trước khi gia nhập Tăng-già. Theo kinh sách, Tôn giả trở thành đệ tử của Phật sau khi gặp Tỉ-khâu A-thuyết-thị (assaji). Thấy gương mặt sáng ngời trang nghiêm, phong độ nhàn nhã của A-thuyết-thị, Tôn giả liền hỏi ông ta tin tưởng nơi ai. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ, được gọi là Duyên khởi kệ:|若法因緣生,法亦因緣滅|是生滅因緣,佛大沙門說|Nhược pháp nhân duyên sinh|Pháp diệc nhân duyên diệt|Thị sinh diệt nhân duyên|Phật Ðại sa-môn thuyết.|*Các pháp nhân duyên sinh|Cũng theo nhân duyên diệt|Nhân duyên sinh diệt này|Phật Ðại sa-môn thuyết.|Nghe xong, Xá-lị-phất liền trực nhận ngay về lí »Có sinh thì có diệt« thuật lại cho bạn là Mục-kiền-liên rồi hai người xin Phật cho gia nhập Tăng-già, trở thành đệ tử.
xá-lợi Phật
xá-lợi Phật có hai loại. 1. Sanh thân xá-lợi: Tro cốt của Phật sau khi thiêu nhục thân của ngài còn lại, được thờ trong các chùa tháp. 2. Pháp thân Xá-lợi: Diệu pháp mà Phật để lại, tức là giáo pháp thường trụ mà Phật đã thuyết dạy trong kinh điển.
Xá-lợi 舍利
[ja] シャリ shari ||| (śarīra). The relics of the Buddha or a revered monk. The remains after cremation. Also written as 佛骨. => (s: śarīra) Linh cốt của Đức Phật hay của các vị cao tăng. Phần còn lưu lại sau khi hoả táng. Còn gọi là Phật cốt 佛骨.
Xá-lợi-phất tử 舍利弗子
[ja] シャリホツシ Shaributsu(shi) ||| Śāriputra, the first of the ten principal disciples of Śākyamuni Buddha. Born of the brahman caste, he was from a town called Upadeśa near Magadha. He was originally a disciple of the skeptic philosopher Sañjaya, but when he converted to Buddhism along with Maudgalyāyana 目連, they brought 250 Sañjaya disciples with them. He served as tutor to Śākyamuni's son Rāhula. He became so deeply enlightened in the buddhadharma (he is considered to be the wisest of the disciples) that he sometimes even gave sermons in the Buddha's absence, and was named among the ten principal disciples as being "the greatest in wisdom" 智慧第一. Being somewhat older than Śākyamuni, he passed away before him. He appears as an interlocutor in prajñāpāramitā works, such as the Heart Sutra. => (s: Śāriputra), đứng đầu trong số 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật. Thuộc dòng dõi Bà-la-môn, sinh ở thành Upadeśa gần Ma-kiệt-đà (Magadha). Ngài vốn là môn đệ của triết gia San-xà-dạ (s: Sañjaya) theo thuyết hoài nghi. Nhưng khi chuyên sang đạo Phật cùng với Mục-kiền-liên, đã mang theo 250 môn đệ của San-xà-dạ cùng quy y Phật. Ngài được giao việc giáo huấn trưởng tử của Thích Ca Mâu Ni là La-hầu-la. Ngài rất thông thạo Phật pháp (được xem là người có trí huệ bậc nhất trong số 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật), nên thường được giao việc giảng pháp thay Đức Phật. Ngài có tuổi cao hơn Đức Phật, nên đã viên tịch sớm hơn. Ngài đại biểu cho đương cơ trong các kinh Bát-nhã, như trong Bát-nhã tâm kinh.
Xá-vệ
xem Xá-bà-đề.
; 舍衛; S: śrāvāsti; P: sāvatthi;|Thủ đô của nước Kiêu-tát-la (s: kośala; p: kosala). Nơi đây trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã cúng dường Kì viên (s, p: jetavana) cho Phật. Phật trú tại Xá-vệ 25 mùa mưa, 19 mùa tại Kì viên và 6 mùa tại vườn trái cây (p: pubā-rāma), một nơi an trú được Ưu-bà-di tên Vi-sākhā cúng dường.
Xá-vệ thành 舍衛城
[ja] シャエイジョウ Shaejō ||| Skt. Śrāvastī, Pali Sāvatthī. The city where such Mahāyāna sermons as the Śrīmālā and Diamond sutras are recorded as having been preached. At the time of Śākyamuni, it was the capital of Kosala. Located in the modern Sāheth-Māheth, on the borders of Gonda and Bahraich districts of Oudh. Zongmi says that the word Śrāvastī means "to hear things." was from here. The venue of the preaching of the Diamond Sutra 金剛經. => (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī). Nơi mà các giáo pháp Đại thừa được thuyết giảng như đã ghi lại trong kinh Thắng Man và kinh Kim Cương. Vào thời Đức Phật, thành nầy là thủ đô của nước Kośala, nằm ở Sāheth-Māheth ngày nay, ranh giới giữa Gonda và quận Bahraich của xứ Oudh. Khuê Phong Tông Mật (Zongmi) cho rằng Śrāvastī có nghĩa là “văn giả 聞者 c: wenzhe”. Ngài Mã Minh (Aśvaghoṣa 馬鳴) sinh trưởng ở thành nầy. Kinh Kim Cương (Diamond Sutra 金剛經) được thuyết giảng nơi thành nầy.
Xá-vệ 舍衛
[ja] シャエ shae ||| Śrāvastī, Pali Sāvatthī Kumārajīva's transliteration of Śrāvastī. The 'city of fame', the capital of the Kingdom of Śrāvastī in ancient India. Also transcribed with the variant 舍衞. Alternate Chinese renderings include: wenzhe 聞者 (Dharmagupta), and mingcheng 名稱 (Yijing) => (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī). Ngài Cưu-ma-la-thập(s: Kumārajīva) phiên âm sang tiếng Hán từ chữ Śrāvastī. Là thủ phủ của một vương quốc cổ Ấn Độ. Hán dịch là Văn giả (c: wenzhe 聞者), Đạt-ma Cấp -đa (Dharmagupta) dịch; Danh xưng (c: mingcheng 名稱), Nghĩa Tịnh (Yijing) dịch.
xác chết
Corpse.
xác nhận
To confirm—To affirm—To be affirmed.
xác tàng
(殼藏) Trứng chim. Từ ngữ này được dùng để ví dụ con người bị phiền não vô minh trói buộc, che lấp, giống như con chim con bị bọc trong lớp vỏ trứng (xác tàng: Bị giấu trong trứng) vậy. Kinh Thắng Man (Đại 12, 221 trung) nói: Chân lí này Như lai Ứng Chính Đẳng Giác đã chứng biết, vì muốn mở toang màn vô minh sác tàng cho thế gian, nên mới thị hiện diễn nói chính pháp.
xáo trộn
Disturbance—To mix—To confuse—To mix up.
xáo trộn xúc cảm
Emotional disturbance
xâm lược
See Xâm Lấn.
xâm lấn
To invade—To conquer.
xâm nhập
To penetrate—To infiltrate.
xâm phạm
To violate.
xâm đoạt
To seize—To ravish.
xâu xé
To tear to pieces.
xây
1) To build—To construct—To erect. 2) To turn.
xây chùa dựng tháp
To build temples and to erect stupas.
xây dựng
See Xây (1).
xây lưng
To turn one's back on.
xây xẩm
To feel dizzy.
xây đắp
See Xây (1).
xã
1) Làng: A village—Clan—Society. 2) Thần Hoàng: Gods of the land.
xã giao
Social relations.
xã già
Jagat (skt)—Tất cả chúng sanh—All the living.
xã hội
Society.
xã luận
Leading article.
Xã Tăng
(社僧, Shasō): còn gọi là Cung Tăng (宮僧), Thần Tăng (神僧), là tên gọi của những tu sĩ làm Phật sự ở các đền thờ Thần Xã, thường sống ở những ngôi Thần Cung Tự (神宮寺). Địa vị của họ cao hơn Thần Quan; trong số đó có người có quyền mang theo vũ khí bên mình nữa. Chức này có nhiều giai cấp khác nhau như Biệt Đương (別當, Bettō), Tọa Chủ (座主, Zasu), Viện Chủ (院主, Inju), Kiểm Hiệu (檢校, Kengyō, Kenkō), v.v. Chức này được đặt ra vào cuối thời Nại Lương và đến năm 1869 (Minh Trị [明治] 2) thì không còn nữa.
xã đắc ca
Jataka (skt)—Bản Sanh Kinh nói về tiền thân của chư Phật và chư Bồ Tát (một trong 12 bộ Kinh Phật)—Previous births or incarnations, especially of Buddhas or Bodhisattvas.
xã đắc ca ma la
Jatakamala (skt)—Bản Sanh Man, hay tên của các bài tán tụng (tập hợp các chuyện về sự tu khổ hạnh của Đức Phật)—A garland of incarnation stories in verse.
xãy ra vì tình cờ
To happen by mere chance
xãy đến
To occur—To happen—To take place—To come about.
xé
To tear (a sheet of paper).
xé nát
To tear up (to pieces).
xén
To trim—To cut down partially.
xéo
1) Not straight—Askew. 2) To tread under foot (dày xéo).
xép
Small room.
xét
To judge—To examine—To audit.
xét hỏi
To examine.
xét mình
To examine one's conscience.
xét nghĩ nông cạn
Shallow thinking.
xét nét
To examine closely.
xét vì
Considering that.
xét xử
See Xét Đoán.
xét đoán
To judge.
xê
To shift—To move—To displace.
xê dịch
See Xê.
xê ra
To move away—To get out of one's way.
xê xích
To move a little about.
xì ra
To blow off—To escape—To leak out.
xì xào
To whisper.
xì xụp
To eat (soup) noisily.
xìu
To go down.
xí
1) Cánh: A wing—A fin. 2) Cầu tiêu: Còn gọi là Tây Tịnh hay Đông Tịnh trong tự viện—A privy, or cesspool. 3) Cờ Phướn: Banner—Flag. 4) Cháy Bừng: • (a) Effulgent (phóng quang). • (n) Flame. • (v) To blaze—To burn.
xí chỗ
To reserve a place (seat).
xí di la
Áo lông—Feather robes.
xí do la
Keyura (skt)—Cái kiềng đeo cổ—A necklace.
xí gạt
To cheat—To deceive.
xí ma
Khemanama (P).
Xí nhiên 熾然
[ja] シネン shinen ||| A burning lamp; the condition of a burning lamp (dīpa). => Ngọn đèn cháy sáng; trạng thái ngọn đèn đang cháy sáng (s: dīpa).
xí thạnh quang phật
Tên của một vị Phật nổi tiếng phóng quang rực rỡ từ mỗi lổ chân lông—Name of a Buddha, noted for effulgence, light streaming from every pore.
Xí Thạnh Quang Phật Đảnh
(s: Prajvaloṣṇīṣaḥ, 熾盛光佛頂): là Giáo Lịnh Luân Thân (敎令輪身) của đức Phật Thích Ca, ngọn lửa tỏa sáng hừng hực từ lỗ chân lông lưu xuất ra. Chủng tử là bhrū (悖嚕吽, bột rô hồng). Hình Tam Muội Da là 12 vòng tròn xe, hoặc 3 cây chày. Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 4, phần Thiên Thu Tuế (千秋歲), có đoạn: “Chí tâm tín lễ Xí Thạnh Quang Như Lai, Tự Tại Thiên trung xuất hiện, đại uy đức thần thông biến, hồng liên đài thượng tử kim dung (志心信禮熾盛光如來、自在天中出現、大威德神通變、紅蓮臺上紫金容, một lòng kính lạy Xí Thạnh Quang Như Lai, xuất hiện trên cõi Trời Tự Tại, oai đức lớn thần thông biến, sen hồng trên đài vàng tía thân).” Hay trong Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết (禪林寶訓筆說, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1266) quyển Trung lại có đoạn rằng: “Toại linh phần hương trai giới, trì Xí Thạnh Quang Vương thần chú kỳ chi, vị cập thất nhật, dạ mộng lão nhân trước bạch y kỵ ngưu hãm địa toàn một nhi khứ, lạp nhật toàn gia tật dũ hĩ (遂令焚香齋戒、持熾盛光王神咒祈之、未及七日、夜夢老人著白衣騎牛陷地旋沒而去、翌日全家疾愈矣, bèn sai đốt hương ăn chay giữ giới, trì tụng thần chú Xí Thạnh Quang Vương để cầu nguyện, chưa được bảy ngày, đêm mộng thấy một ông lão mặc áo trắng cỡi trâu đi xuống đất trong thoáng chốc rồi biến mất; hôm sau cả nhà lành bệnh hết).”
Xí Thạnh Quang Vương Phật
(熾盛光王佛): hay Xí Thạnh Quang Phật Đảnh (s: Prajvaloṣṇīṣaḥ, 熾盛光王佛頂), vị Phật xuất hiện trong Kinh Xí Thạnh Quang Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni (熾盛光大威德消災吉祥陀羅尼經, 1 quyển, còn gọi là Đại Uy Đức Tiêu Tai Cát Tường Đà La Ni [大威德消災吉祥陀羅尼], Tiêu Tai Cát Tường Kinh [消災吉祥經], Bất Không dịch, Taishō 19). Đây là thân giáo lịnh của Phật Thích Ca, do ánh sáng rực rỡ phát ra từ lỗ chân lông, nên có tên gọi như vậy, chủng tử của vị Phật này là bhrūṁ (悖嚕吽, bột rô hồng), hình Tam Muội Da là 12 vòng tròn bánh xe hay 3 cây chày. Vị Phật này có nhiều thân thuyết pháp khác nhau, có thuyết cho rằng vị này đồng nhất với Nhất Tự Kim Luân (一字金輪), hay Kim Luân Phật Đảnh (金輪佛頂) trong 8 vị Phật đảnh, hoặc như Quang Tụ Phật Đảnh (光聚佛頂).
Xí thạnh 熾盛
[ja] シジョウ shijō ||| To flourish, thrive, blaze, bloom. 〔攝大乘論 T 1595.31.〕 => Sự phồn thịnh, phát đạt, chiếu sáng rực, rực rỡ.
xí xá khâm bà la
Kesakambala (skt). 1) Phát y: Áo tóc—A hair garment or covering. 2) Tên của vị ngoại đạo thứ năm trong mười vị ngoại đạo tại Ấn Độ: Name of the fifth of the ten heretical Indian schools.
xí xóa
To compromise—To let go.
xía
To chip in—To interfere.
xích
Lohita (S)Màu đỏ, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; 1) Cột lại thành xâu: To chain—To enchain. 2) Cùm: Shackles—Fetter. 3) Dây xích: Chain. 4) Xích lại gần: To move nearer—To approach. 5) Màu đỏ: Kasaya (skt)—Red. 6) Nóng: Hot. 7) Phía Nam: South. 8) Thước: Meter (Chinese)—Meter.
xích bạch nhị đế
Hai giọt tinh túy xích đế (máu huyết của mẹ) và bạch đế (tinh của cha) hòa hợp lại với nhau thành thai—The drops of red and white, i.e. female and male sperm which unite in conception.
xích chân
See Xích (5).
xích châu
Red pearl.
; Red pearls.
xích lại
See Xích (3).
xích mai đàn
Một loại cây dùng làm nhang—A tree used for incense.
xích mích
Petty quarrel—Bickering Disagreement.
xích ngạc nhai na
Chagayana (skt)—Một tỉnh và thành phố cổ của xứ Tukhara, bây giờ là Chaganian—An ancient province and city of Tukhara, the present Chaganian.
xích nhãn
Mắt đỏ như rùa—The red-eye, i.e. a turtle.
xích nhục đoàn
Một khối thịt đỏ hay quả tim—The red flesh lump, the heart.
xích quỷ
Quỷ đỏ trong địa ngục, có con đầu bò, có con đầu ngựa—The red demons of purgatory, one with the head of a bull, another with that of a horse, etc.
xích ra
To move aside.
Xích sắc
xem Ca-tỳ-la.
xích sắc xích quang
red colored red light.
xích sắt
Chain of iron.
xích thằng
Red thread—Bond of marriage.
xích tâm
Red mind—The state of sincerity—The mind as it is—Loyalty—Faithfulness.
Xích Tùng Mãn Hựu
(赤松滿祐, Akamatsu Mitsusuke, 1373-1441 hay 1381-1441): vị Võ Tướng sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh, vị quan Thủ Hộ vùng Bá Ma (播磨, Harima), Bị Tiền (僃前, Bizen), Mỹ Tác (美作, Mimasaka). Thân phụ là Xích Tùng Nghĩa Tắc (赤松義則, Akamatsu Yoshinori). Ông mời Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Mãn (足利義滿, Ashikaga Yoshimitsu) đến tư dinh của mình rồi giết chết vị này và đào tẩu đến vùng Bá Ma; nhưng ông bị nhóm người của Sơn Danh Trì Phong (山名持豐, tức Tông Toàn [宗全]) truy nã, nên đã tự vẫn. Pháp danh của ông là Tánh Cụ (性具).
xích tư tỳ bà sa
Buddhayasas (skt)—Phật Đà Da Xá, vị sư râu đỏ đến Trung Quốc từ xứ Thiên Trúc vào khoảng năm 407 sau Tây Lịch—The red-moustached or bearded Vibhasa, a name for Buddhayasas, came to China around 407 A.D.
xích đế
Fire god.
xính vính
Very anxious.
xíu
Tiny—Very small.
xó
Corner.
xóa bỏ
To cross out—To annul.
xóa ha
Xem ta bà ha.
xóa nhòa
To fade away.
xóc nước
To draw out the water from the drowning person.
xóm giềng
Neighborhood.
xót
To itch—To have an irritating feeling in the skin.
xót dạ
To suffer.
xót thương
Pity.
xô lui
To push back.
xô ngã
See Xô Đổ.
xô tới
To push forward.
xô vào
To push in.
xô đổ
To overthrow—To push down.
xôi
1) Steamed glutinous rice—Sticky rice. 2) Xa xôi—Distant—Remote—Far-away.
xông
1) To have a steam bath. 2) To exhale—To emit—To give out some gas. 3) To be the first footer (xông nhà). 4) To rush—To dash (xông vào).
xông khói (hương)
To smoke out a room—To fill a room with smoke or incense.
xõa
To hang down—To fall.
xùng xình
See Xúng Xính.
xú
1) Mùi hôi thối: Stink—Stinking—Smell. 2) Xấu xa—Ugly—Disgraceful—Shameful.
xú khẩu quỷ
Loại quỷ hơi thở và đầu tóc xuất ra mùi hôi thối—Demons with stinking breath, or hair.
xú mục thiên vương
Virupaksa (skt)—See Quảng Mục Thiên Vương.
xú ngạ quỉ
Putana (S)Phú đơn na1- Một loại chúng sanh, một trong 8 loại quỉ: Càn thát bà, Đảm tinh quỉ, Cưu bàn trà, Ngạ quỉ, Chư long, Phú đơn na, Dạ xoa, La sát. 2- Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.
xú ngạ quỷ
See Phú Đơn Na in Vietnamese-English Section.
Xú uế
朽穢; C: xiǔhuì; j: kue;|Thối rữa, ô uế, bẩn thỉu.
Xú uế 朽穢
[ja] クエ kue ||| Rotten, defiled, unclean. 〔瑜伽論、 T 1579.30.428c〕 => Thối rữa, ô uế, bẩn thỉu.
Xúc
觸; S: sparśa; P: phassa;|Chỉ sự tiếp xúc giữa các giác quan (Lục căn) và các đối tượng của chúng (trần) với sự hiện diện của Thức (s: vijñāna; p: viññāṇa). Xúc sẽ sinh ra Thụ (s, p: vedanā). Xúc chỉ là tiếp cận chớp nhoáng giữa giác quan và đối tượng, chưa có phân biệt tốt xấu. Có sáu loại Xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Xúc là một hoạt động tâm lí (Ngũ uẩn) và là yếu tố thứ sáu trong Mười hai nhân duyên.
xúc
Sparśa (S), Contact.
; Sparsa (S). To butt, strike against; contact; touch; collision; the quality of tangibility. One of the twelve nidànas.
; 1) Múc (đồ ăn): To scoop up—To get out with a spoon or bowl. 2) Tiếp xúc: Sparsa (skt)—Tát Ba La Sa—Một trong lục trần, cũng là một trong 12 nhân duyên—Contact—Touch—To strike against—Collision—The quality of tangibility, feeling and sensation, one of the six gunas or objects, one of the twelve nidanas. 3) Xúc: Phassa (p)—Theo Vi Diệu Pháp của Tỳ Kheo Bồ Đề, từ “Phassa” lấy từ động từ “phusati,” có nghĩa là xúc chạm; tuy nhiên, không nên hiểu chỉ là sự xúc chạm vật lý suông vào một vật thể hay thân. Xúc còn phải được hiểu như là một yếu tố tinh thần—The wood “phassa” is derived from the verb “phusati,” meaning “to touch,” however, contact should not be understood as the mere physical impact of the object on the bodily faculty. It is, rather, the mental factor by which consciousness mentally touches th object that has appeared, thereby initiating the entire cognitive event.
xúc chung
Đánh chuông (loại chuông lớn)—To strike a bell.
xúc chỉ
Ngón tay thứ tư và thứ năm (ngón đeo nhẫn và ngón út), theo phong tục Ấn Độ, là những ngón dùng để rửa rái sau khi đi vệ sinh, vì vậy hai ngón nầy được xem như bất tịnh, không được chạm vào thức ăn—The fourth and fifth fingers of the left hand, which in Indian custom, are used at stool, the unclean fingers (not to be used to pick up or to prepare food).
xúc cảnh
Sprastavya-visaya (S).
; To be moved at the sight (scenery).
xúc dục
Desire awakened by touch.
; Một trong ngũ dục, dục vọng dấy lên từ sự xúc chạm (thân thể trai gái tiếp xúc đụng chạm với nhau một cách cố ý và vui thích, khiến dấy lên trong người lòng ham muốn tình dục)—Desire awakened by touch, one of the five kinds of desire. **For more information, please see Ngũ Dục.
xúc giác
Tactile or touch sensation.
xúc kim cang
See Bất Tịnh Phẫn Nộ.
xúc kim cang nữ
Xem Kế Lị Cát La Bồ tát.
xúc lạc
The pleasure produced by touch.
; Sự vui thích trong khi đụng chạm nhau (thân thể trai gái tiếp xúc đụng chạm với nhau mà sanh ra cảm giác vui thích khoái lạc)—The pleasure produced by touch.
xúc lễ
Phủ phục đầu lên ghế hay xuống ngạch cửa, để tỏ lòng tôn kính—To prostrate one's head to a stool, or footstool, in reverence.
xúc nhân
Touch, or sensation cause.
; Nhân gây ra bởi sự xúc chạm—Touch, or sensation cause.
xúc phạm
To give offence to someone—To offend.
xúc phạm danh dự của ai
To wound someone's honour.
xúc sở duyên
Phottabbarammāna (P).
xúc thực
The food of sensation.
; Một trong bốn loại thực phẩm. One of the four nutriments or four kinds of food. a) Đồ ăn bất tịnh vì bị tay chân chạm vào: Food made unclean by being touched, or handled; any food soiled, or unclean. b) Cảm xúc vui sướng làm cho mình no như đã ăn rồi (nghe hát, xem kịch, v. làm cho thân tâm thoải mái vui sướng): The food of sensation, or imagination, mentally conceived. **For more information, please see Tứ Thực.
xúc tiến
To push on.
xúc trần
The medium or quality of touch.
; Phassarammana (p)—The tactile object—Một trong lục trần, thân căn tiếp xúc với cảnh (trần), làm huyễn hoặc ý thức của con người đến mức làm nhơ bẩn cả chân tính (trần)—The medium or quality of touch, one of the six gunas.
xúc uế
Chạm vào vật bất tịnh và trở thành bất tịnh—To touch anything unclean and become unclean.
xúc độc
xem bốn thứ độc.
; The poison of touch.
; Sự độc hại của xúc chạm, từ ám chỉ đàn bà—The poison of touch, a term applied to woman.
xúc động
To be moved (touched—affected).
xúi
See Xui.
xúi quẩy
Unlucky.
xúm
To gather together—To assemble—To meet.
xúm lại
To gather together—To crowd around someone.
xúng xính
Ample (clothes).
xưa kia
Formerly.
xưa nay
Formerly and today.
xưng
To call, style, invoke.
; 1) Kêu gọi: To call—To invoke. 2) Nhận tội: To confess.
xưng danh
To invoke the (Buddha's) name, especially that of Amitàbha.
; 1) Niệm hồng danh một vị Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà: To invoke the Buddha's name, especially that of Amitabha. 2) Tự nói tên mình ra: To say one's name.
xưng danh chánh hành
Còn gọi là Chánh Ngữ Hành—See Bát Chánh Đạo (3).
xưng danh tạp hành
Tín ngưỡng nhiều vị Phật thay vì chỉ trung thành với Đức Phật A Di Đà, nghĩa là không chuyên tụng niệm danh hiệu Đức A Di Đà, mà niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát, và ngay cả chư tổ sáng lập ra các tông phái—To worship a variety of Buddhas, etc., instead of cleaving to Amitabha alone.
xưng hô
Tăng: - chú tiểu - chú: dành cho Sa di - Đại đức: dành cho Tỳ kheo - Thượng toạ - Hoà thượng: cấp bực cuối cùng bên Tăng.
xưng phật
Niệm hồng danh một vị Phật—To invoke a Buddha.
xưng tán
To praise
; To praise.
Xưng tán Như Lai công đức thần chú kinh 稱讚如來功德神呪經
[ja] ショウサンニョライクドクシンジュキョウ Shōsan nyorai kudoku shinju kyō ||| The Chengzan rulai gongde shenzhou jing (T 1349.21.863-864); alternative translation of the Shier fo ming shenzhou jiaoliang gongde chuzhang miezui jing 十二佛名神呪校量功德除障滅罪經. => (c: Chengzan rulai gongde shenzhou jing). Tên gọi khác của kinh Thập nhị Phật danh thần chú hiệu lượng công đức trừ chướng diệt tội kinh (c: Shier fo ming shenzhou jiaoliang gongde chuzhang miezui jing 十二佛名神呪校量功德除障滅罪經).
Xưng tán thất Phật danh hiệu công đức kinh 稱讚七佛名號功德經
[ja] ショウサンシチブツミョウゴウクトクキョウ Shōsan shichibutsu myōgō kudoku kyō ||| An alternative title for the 受持七佛名號所生功德經. => Tên gọi khác của Thọ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh受持七佛名號所生功德經.
Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thọ kinh 稱讚淨土佛攝受經
[ja] ショウサンジョウトブツショウジュキョウ Shōsan jōdo butsu shōju kyō ||| The Chengzan jingtu fo sheshou jing Sukhāvatī-vyūha (Sutra In Praise of the Pure Land). One fascicle, T 367.12.348-351. translated by Xuanzang 玄奘 in 650 at Dacien Monastery. This is an important Pure Land Sutra commonly known as the Smaller Sukhāvati Sutra. Separate English translations of Sanskrit and Chinese versions of the Larger and Smaller Sukhāvati Sutras are offered in Gomez (1996). Gomez uses the Kumārajīva version of the Smaller Sutra, with some reference to Xuanzang's version. => (c: Chengzan jingtu fo sheshou jing Sukhāvatī-vyūha; e: Sutra In Praise of the Pure Land). Một quyển, Huyền Trang dịch năm 650 tại Đại từ Ân tự. Đây là bảm kinh quan trọng của Tịnh độ tông thường được biết với tên Tiểu bổn A-di-đà kinh (e: Smaller Sukhāvati Sutra). Sự khác nhau trong bản dịch tiếng Anh từ bản tiếng Sanskrit và bản tiếng Hán của Đại bổn và Tiểu bổn A-di-đà kinh (e: Larger and Smaller Sukhāvati Sutras) được Gomez đưa ra năm 1996. Gomez đã dùng Tiểu bổn A-di-đà kinh của Cưu-ma-la-thập dịch, cùng tham khảo nhiều đoạn với bản dịch của Huyền Trang.
Xưng tán Đại thừa công đức kinh 稱讚大乘功德經
[ja] ショウサンダイジョウクトクキョウ Shōsan daijō kudoku kyō ||| The Chengzan dasheng gongde jing; (Sutra on the Merit of Extolling Mahāyāna). One fascicle, T 840.17.910-912. Translated in 654 by Xuanzang. Makes distinctions between the relative merits of lesser and greater vehicles. => (c: Chengzan dasheng gongde jing; e: Sutra on the Merit of Extolling Mahāyāna). Một quyển, Huyền Trang dịch năm 654. Kinh đề cập đến sự khác nhau giữa công đức của Tiểu thừa và Đại thừa.
xưng tội
Xem Ba la đề đề xá niXem Phát lồ.
; To confess one's sins.
xưng tụng
To praise.
xưng ý hoa
Còn gọi là hoa “đẹp ý,” được Sir Aurel Stein cho rằng đây là loại “đại hoàng” dại (loại hoa đẹp ý, còn gọi là Tu Mạn Na hay Tu Mạt Na, có nghĩa là thiện nhiếp ý hay hoa “đẹp ý,” màu vàng trắng, hương rất thơm, cây không lớn, cao khoảng dưới mười bộ Anh, tàn lá xòe ra như cái lọng)—The soma plant, suggested by Sir Aurel Stein as possibly wild rhubarb.
Xưng Đức Thiên Hoàng
(稱德天皇, Shōtoku Tennō, tại vị 764-770): vị Thiên Hoàng sống vào khoảng cuối thời Nại Lương, người lên ngôi lần thứ hai (trước đó là Hiếu Khiêm Thượng Hoàng [孝謙上皇, Kōken Jōkō]). Vào năm 764 (niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳] thứ 8), sau khi Thuần Nhân Thiên Hoàng (淳仁天皇, Junnin Tennō) bị phế vị, ông lên ngôi vua, bắt đầu trọng dụng Đạo Kính (道鏡, Dōkyō), ban cho vị này chức Pháp Vương và tiến hành chính trị chuyên chế.
Xưng 稱
[ja] ショウ shō ||| (1) To measure weight. (2) Measure, weight. (3) To praise, admire. (4) Praise, admiration; fame, honor, prestige. => 1. Cân lượng. 2. Đơn vị đo lường, trọng lượng. 3. Tán dương, ca ngợi. Thán phục. 4. Sự tán thán, sự thán phục; danh tiếng, thanh danh, uy tín. Xướng 唱 [ja] ショウ shō ||| (1) To call out, to shout out. (2) To praise, extol, admire, laud. (parikīrtayati) (3) To sing. [歌] (4) To guide, instruct. [導] (5) To explain. [説] => 1. Có các nghĩa sau: 2. Gọi, kêu lên. 3. Tán dương, ca tụng, thán phục, khen ngợi (s: parikīrtayati). 4. Ca hát. 5. Hướng dẫn, chỉ dẫn (Đạo導). 6. Giảng giải (Thuyết 説).
xương
Bone.
xương bọc da
The body was reduced to almost a skeleton.
Xương hạp
(閶闔): (1) Cửa Trời, cổng Trời. Trong bài Lương Phủ Ngâm (梁甫吟) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Xương hạp cửu môn bất khả thông, dĩ ngạch khấu quan hôn giả nỗ (閶闔九門不可通、以額叩關閽者怒, cửa Trời chín cổng chẳng thể thông, lấy trán gõ cửa lính nổi giận).” (2) Cửa chính của Hoàng Cung. Như trong bài thơ Hòa Cổ Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung Chi Tác (和賈舍人早朝大明宮之作) của Vương Duy (王維, 701-761) nhà Đường có câu: “Cửu thiên xương hạp khai cung điện, vạn quốc y quan bái miện lưu (九天閶闔開宮殿、萬國衣冠拜冕旒, chín tầng cửa chính bày cung điện, vạn quốc áo mão bái hoàng triều).” (3) Gió thu, còn gọi là xương hạp (昌盍). Như trong đoạn thứ 2 của Du Tiên Thi (游仙詩) do Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Tấn sáng tác, có câu: “Xương hạp Tây Nam lai, tiềm ba hoán lân khởi (閶闔西南來、潛波渙鱗起, gió Thu Tây Nam đến, ẩn sóng vây cá nỗi).”
Xương Hải
(昌海, Shōkai, ?-?): vị Tăng của Pháp Tướng Tông sống vào khoảng đầu thời Bình An, tự là Xương Hải (昌海), xuất thân vùng Nại Lương (奈良, Nara). Ông xuất gia lúc còn nhỏ tuổi, và học Pháp Tướng cũng như Duy Thức với Thiện Châu (善珠) ở Thu Tiểu Tự (秋篠寺) thuộc vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Sau ông đến sống ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), rồi chuyển đến vùng Quảng Cương (廣岡) ở Đại Hòa và hoằng bá Pháp Tướng Tông. Tác phẩm của ông có A Di Đà Hối Quá (阿彌陀悔過) 1 quyển, Tây Phương Niệm Phật Tập (西方念佛集) 1 quyển.
xương xương
Slightly.
Xước Như
(綽如, Shakunyo, 1350-1393): vị Tăng sống vào khoảng thời đại Nam Bắc Triều, vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Thời Nghệ (時芸), tên lúc nhỏ là Quang Đức Hoàn (光德丸), thông xưng là Trung Nạp Ngôn, hiệu là Xước Như (綽如), Nghiêu Văn (堯文), Châu Viên (周圓), xuất thân vùng Kyoto, con trai của Thiện Như (善如, Zennyo), vị Tổ kế thế đời thứ 4 của Bổn Nguyện Tự. Năm 1375, ông kế thế trú trì Bổn Nguyện Tự. Đến năm 1385, 1389 ông viết tờ trạng nhường chức lại cho con mình là Xảo Như (巧如, Gyōnyo) để đi khắp nơi giáo hóa, vào năm 1390 thì ông Thoại Truyền Tự (瑞泉寺, Zuisen-ji) ở vùng Việt Trung (越中, Ecchū). Một mặt ông mở rộng địa bàn hoạt động giáo hóa ở vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku), mặt khác thì ông đặt ra chức Gíam Dịch, Ngự Đường Chúng ở Bổn Nguyện Tự, và chỉnh đốn thể chế trong chùa theo quy mô Tự Viện. Đến năm 1393, lần thứ 3 ông trao tờ trạng nhượng chức cho con mình rồi qua đời. Trước tác của ông để lại có Nhập Xuất Nhị Môn Kệ Dẫn Ký (入出二門偈引記) 1 quyển, v.v.
Xướng
唱; C: chàng; J: shō;|Có các nghĩa sau: 1. Gọi, kêu lên; 2. Tán dương, ca tụng, thán phục, khen ngợi (s: parikīrtayati); 3. Ca hát (ca 歌); 4. Hướng dẫn, chỉ dẫn (đạo 導); 5. Giảng giải (thuyết 説).
xướng
1) Ca hát: To sing. 2) La lớn lên: To cry out.
xướng ca
See Xướng.
xướng danh
1) Kêu tên—To call on, or to cry out, the name. 2) Niệm hồng danh của Phật: To call on the name of Buddha.
xướng họa
Unison.
xướng hồng danh chư phật
To call on the names of the Buddhas.
xướng khởi
To take the initiative in doing something.
xướng lễ
Biểu bạch trong pháp hội (các sư đăng lễ đàn xướng đọc bài văn ngũ hối, ngũ đại nguyện)—To announce the ceremonial duty.
xướng nghị
To propose.
xướng thực
Chúc phúc cho chúng sanh trong các bữa ăn—To give the blessing at meals.
xướng tịch
Niệm Niết Bàn, như người ta nói Đức Phật đã làm lúc Ngài thị tịch—To cry or to call on Nirvana, as the Buddha is said to have done at his death.
xướng y
Còn gọi là Cô Y, hoặc Cô Xướng, nghĩa là khi trong hàng Tỳ Kheo có vị thị tịch, đem phân phối y áo của vị nầy cho chúng Tỳ Kheo có mặt gọi là Xướng Y (khi một vị Tỳ Kheo thị tịch, di vật của vị nầy được chia làm hai loại khinh trọng khác nhau. Vàng bạc, ruộng vườn, nhà cửa là của quý hay trọng vật, được đưa vào hàng vật thường trụ; còn y áo cà sa chúng Tăng đều có gọi là thường vật, được phân phối cho chúng Tăng có mặt bằng cách gọi chư Tăng lại để thỉnh bán những thường vật nầy)—To cry for sale the robes of a deceased monk.
xướng đạo
Thuyết pháp và dẫn dắt chúng sanh—To preach to people and lead them to conversion.
xướng đạo sư
1) Người thuyết pháp: A preacher. 2) Vị Tăng thủ tòa trong pháp hội: Vị nầy xướng đọc kinh văn để dẫn chúng trong các buổi lễ—The president of a monastic assembly.
xược
Hỗn xược—Impolite—Insolent.
Xả
捨; S: upekṣā; P: upekkhā;|Là xả bỏ, một trong những đức hạnh quan trọng trong đạo Phật. Xả có nội dung: 1. Tình trạng không vui không buồn, độc lập với vui buồn; 2. Tâm thức vững chắc, nằm ngoài mọi phân biệt. Trong kinh sách đạo Phật, người ta hay hiểu nghĩa thứ hai nói trên. Xả là một trong Bảy giác chi (s: bo-dhyaṅga; p: bojjhaṅga) và Bốn phạm trú (s, p: brahma-vihāra).
xả
Upekśā (S), Equanimity Upekkhā (P), Upekkhā (P), Thản nhiênTha thứ cho chúng sanh, lìa bỏ ý niệm chấp trước các pháp và trụ trong bình đẳng. Trong Tứ vô lượng tâm, gồm: từ (maitri), bi (karuna), hỉ (mudita), xả (upeksa).
; Upeksà (S). Neglect, indifference. abandoning; to relinquish, renounce, abandon, reject, give. Translit sa.
; Upeksa (skt). 1) Còn gọi là Một Xa, nội tâm bình đẳng và không có chấp trước, một trong những đức tính chính của Phật giáo, xả bỏ sẽ đưa đến trạng thái hửng hờ trước những vui khổ hay độc lập với cả hai thứ nầy. Xả được định nghĩa là tâm bình đẳng, như không phân biệt trước người vật, kỷ bỉ; xả bỏ thế giới vạn hữu, không còn bị phiền não và dục vọng trói buộc. Xả là một trong thất giác phần hay thất bồ đề phần. Đức Phật dạy: “Muốn được vào trong cảnh giới giải thoát thậm thâm của các bậc Bồ Tát, Phật tử trước hết cần phải xả bỏ tất cả dục lạc của ngũ dục của phàm phu Self-sacrifice, Neglect, Abnegationt, Indifference, Abandoning, Relinquish, Renounce, Equanimity, To let go—Neutral feeling. One of the chief Buddhist virtues, that of renunciation, leading to a state of iddifference without pleasure or pain, or independence of both. It is defined as the mind in equilibrium, i.e. above the distinction of things or persons, of self or others; indifferent, having abandoned the world and all things, and having no affections or desirs. Upeksa is one of the seven Bodhyangas. The Buddha taught: “If one wishes to penetrate into the profound realm of liberation of the Maha-Bodhisattvas, Buddhists must first be able to let go of all of the five desires of ordinary people.”—See Thất Bồ Đề Phần. 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, ông có hỏi về lòng “xả” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva called on to enquire after Upasaka Vimalakirti's health, Manjusri asked Vimalakirti about “Upeksa” as follows: • Văn Thù Sư Lợi hỏi Duy Ma Cật: “Sao gọi là lòng xả?”—Manjusri asked Vimalakirit: “What should be relinquish (upeksa) of a Bodhisattva?” • Duy Ma Cật đáp: “Những phước báo mà vị Bồ Tát đã làm, không có lòng hy vọng.”—Vimalakirti replied: “In his work of salvation, a Bodhisattva should expect nothing (i.e. no gratitude or reward) in return.”
xả bỏ thân mạng
Pariccaga (S), Self-sacrifice.
xả gia khí dục
Ly gia cắt dục để trở thành một vị Tăng—To leave home and cast off desires, i.e. to become a monk.
xả giác chi
Upekśāyaṅga (S), Upekśā-saṁbodhyaṅga (S)Một trong Thất giác chi.
xả giác phần
Upeksa-bodhyanga (skt)—Abandonment—Xả giác phần còn là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta có thể từ bỏ ngũ dục—Abandonment is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we can turn away from the five desires. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần in Vietnamese-English Section.
xả giác phần tam muội
Upekśā-Saptabodhyaṅga-Samādhi (S)Một trong Thất giác phần Tam muội. (Xem Saptabodhyanga-Samadhi).
xả la phạn
Sarava (skt)—Bình sứ—A shard—An earthernware vessel.
Xả lạm lưu thuần thức 捨濫留純識
[ja] シャランルジュンシキ sharanrujunshiki ||| One of the 'five-fold penetration to the principle of Consciousness-only' in Consciousness-only theory. The naming of this layer refers to the expulsion of confusion (the dependently arisen objective aspects of consciousness) and the retention of the dependently arisen subjective awareness (見分), the witnessing aspect (證自分), and the rewitnessing aspect (證自證分). The rejection of the confusion caused by the external world and the retention of subjective purity. Also referred to in Consciousness-only as (心境相對)--The 'relation of mind and objects.' => Một trong “Ngũ trùng Duy thức” theo giáo lý của Duy thức tông. Tên của lớp quán nầy là do sự giải trừ mê vọng (sinh khởi do tướng phần của thức) và sự lưu giữ của kiến phần, Tự chứng phần và Chứng tự chứng phần. Sự khiển trừ mê vọng do ngoại cảnh và lưu giữ lại thức thanh tịnh bên trong. Giáo lý Duy thức còn gọi là Tâm cảnh tương đối, nghĩa là 'tính chất tương đối của tâm và cảnh'.
xả nhất thiết công dụng hành
Sarvabhogavigata (skt)—Xả bỏ hết mọi công việc có tính cách dụng công—Discarding all effortful works.
xả niệm thanh tịnh địa
The pure land or heaven free from thinking, the fifth of the nine Brahmalokas, in the fourth of dhyàna region.
; Địa thứ năm trong cửu địa tam giới trong đệ tứ Thiền thiên—The Pure Land or heaven free from thinking, the fifth of the nine Brahmalokas in the fourth dhyana region.
xả thân
Bodily sacrifice.
; Hoặc như báo ân mà đốt cánh tay, đốt thân thể, hoặc vì bố thí mà cắt thịt xả thân—To sacrifice one's life—Bodily sacrifice, e.g. by burning or cutting off a limb, etc.
xả thí
Tyagà (S). Generous.
xả thọ
Upekśā-vedanā (S)Một trong ngũ thọ.
; Một trong năm trạng thái cảm thọ, trạng thái trong đó con người đã xả bỏ sự đớn đau cũng như lạc thú—One of the five vedanas or sensations, the state in which one has abandon both pain and pleasure—The state of renunciation or indifference to sensation—See Vô Khổ Vô Lạc Thọ, and Ngũ Thọï.
Xả thọ 捨受
[ja] シャジュ shaju ||| (upekṣā). "Perception of neither pleasure nor pain." => (s: upekṣā) Cảm giác không vui thích, không đau khổ.
xả trừ phật đảnh
Xem Trừ Chướng Phật Đảnh.
xả tâm
The mind of renunciation
; Tâm vứt bỏ tất cả, không vướng mắc, một trong tứ vô lượng tâm—The mind of renunciation, one of the four immeasurable minds—See Tứ Vô Lượng Tâm.
xả tâm ba la mật
Upekkhā-pāramitā (P), Perfection of Equanmity.
xả tướng
Upeksà (S) Xem xả.
Xả vô lượng
xem Bốn tâm vô lượng.
xả vô lượng tâm
Upeksa (skt)—Hoàn toàn xả bỏ, một trong tứ vô lượng tâm của chư Phật—Complete abandonment, or absolute indifference (renunciation of the mental faculties), one of the four forms of unlimited, or unsparing mind of all Buddhas—Limitless indifference—Giving up all things—See Tứ Vô Lượng Tâm.
xả định
ra khỏi thiền định, cũng gọi là xuất định.
Xả đọa
xem Ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
xả đọa
Niḥsargika (S)Một trọng tội ghi trong Luận tạng: tội thủ đắc trái phép.
; Naihsargika-Pràyascittika (S). The 30th of 250 rules of bhiksus.
xả đọa giới
Trimsan naisargita (P)30 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
Xả 捨
[ja] シャ sha ||| (1) To throw away, relinquish, give up, discard, abandon, forsake, renounce (nikṣipati). (2) Transliteration of the Sanskrit sound sa. (3) To abandon mistaken views; the cessation of evil actions by a religious practitioner; to discard evil and attachment. (4) Not striving, as a result of indifference. (5) Serenity of mind. The mental condition of not feeling pleasure or pain, not perceiving things as good or evil (upekṣā). The mind of equality; an unbiased viewpoint. One of the Four Unfathomable Minds (四無量心); one of the Ten Virtuous Elements in the Abhidharmakośa-bhāsya, one of the Eleven Good Function Elements in Yogācāra theory. => 1. Ném đi, từ bỏ, xả bỏ, loại bỏ, không thừa nhận (s: nikṣipati). 2. Chuyển tự âm Sa trong tiếng Sanskrit. 3. Từ bỏ tà kiến; dứt trừ việc ác thông qua tu tập; trừ bỏ việc ác và chấp trước. 4. Không tranh giành. 5. Tâm an tịnh. Tâm hành không có cảm giác vui thích hoặc đau khổ, không thấy có việc tốt hoặc xấu (s: upekṣā). Tâm bình đẳng, không thành kiến. Là một trong Tứ vô lượng tâm; một trong 10 thiện địa pháp theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận , là một trong 11 thiện tâm sở theo giáo lý Duy thức.
xảo
Skilful—Clever.
xảo diệu trí
1) Trí thông minh khéo léo: A skillful mind. 2) Trí Huệ Phật: The Buddha's wisdom—See Nhất Thiết Trí Trí.
Xảo diệu 巧妙
[ja] ギョウミョウ gyōmyō ||| Skillful and wondrous; subtle; skillful and wonderful (sauṣṭhava). => Tài giỏi kỳ lạ; tinh tế, vi diệu (s: sauṣṭhava).
xảo minh
Silpasthana-vidya (skt)—See Công Xảo Minh.
Xảo Như
(巧如, Gyōnyo, 1376 -1440): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ thứ 6 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Huyền Khang (玄康), tên hồi nhỏ là Quang Đa Hạ Lữ (光多賀麿), thông xưng là Đại Nạp Ngôn (大納言), hiệu Chứng Định Các (証定閣), Xảo Như (巧如); xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 2 của Xước Như (綽如), vị Tổ đời thứ 5 của Bổn Nguyện Tự. Năm 1394, ông kế thế trú trì Bổn Nguyện Tự. Đến năm 1411, ông lo tổ chức lễ kỵ 150 lần của Thân Loan, rồi năm 1436 thì nhường chức lại cho người con trai đầu của ông là Tồn Như (存如, Zonnyo).
xảo trí tuệ
The Buddha's wisdom—See Nhất Thiết trí Trí.
xấu bụng
Bad (ill)-intentioned.
xấu hoắc
Very ugly.
xấu hơn
Worse.
xấu hổ
Shameful—Ashamed.
xấu người
To have an ugly appearance.
xấu nết
To have a bad character.
xấu số
Ill-fated.
xấu tiếng
To have a bad name.
xấu xa
Bad—Evil.
xấu xí
Ugly.
xằng bậy
Foolishly—Wrongly.
xẹp
To be deflated.
xẹp lép
Completely deflated.
xẹp xuống
To become deflated.
xẹt
Shooting (stars).
xẻ
Tu cut or saw up (wood).
xẻ mương
To dig a ditch.
xẻn lẻn
Bashful—Shy.
xẻo
Cut off or out a piece—To excise.
xế
To decline.
xếch
Slant—Askew (eyes).
xếp
1) To fold (up). 2) To set in order—To arrange. 3) Master—Supervisor—Manager.
xếp bằng
To sit cross-legged.
xếp cánh
To fold the wings.
xếp xó
To put in a corner—To neglect.
xếp đặt
To put in order—To arrange—To dispose.
xếp đống
To pile (heap) up.
xề
To come near—To approach.
xềnh xoàng
Simple.
xệ
To prolapse—To drop--Hagging.
xệp
See Xẹp.
xệp xuống
See Xẹp xuống.
xệu xạo
Loose (teeth).
xỉ
Xấp xỉ—Approximately.
xỉ mặt
To shake (point shakingly) the forefinger at someone's face.
xỉ vả
To scold and curse.
xỉa
1) To pick (one's teeth). 2) To interfere. 3) To pay attention (take notice) to—Đếm xỉa.
xỉa xói
See Xỉ Mặt.
xỉn
Bủn xỉn—Misery—Stingy.
xỉu
To faint—To swoon.
xị
Xuôi xị—Bí xị—Sad—Confused (face).
xịt
To spray.
xọc
Dài xọc—Very long.
xọp
To contract—To shrink.
xỏ
1) To thread (needle). 2) To intervene—To interfere.
xỏ lá
Roguish.
xỏ mũi
To lead by the nose.
xốc
To lift—To raise.
xốc xếch
Careless—Untidy.
xối
To pour water (liquid).
xốp
Spongy.
xồm xàm
Hairy.
xổ lồng
To break free from the cage.
xổi
Temporary.
xổm
To squad down.
xộ
Wrong—Erroneous—Mistaken.
xộp
See Xốp in Vietnamese-English Section.
xứ
Āgāra (S), Dwelling Nhà.
; To dwell, abide; a place, state. Ayatana (S). also tr. Nhập, place or entrance of the sense, both the organ and the sensation, or sense datum. Sphere, regions. Lục xứ. Sadàyatana (S). Six spheres of sense-organs. Thập nhị xứ, twelve àyatana, i.e. six organs and six sense data that enter for discrimination.
; 1) Nơi chốn: Place. 2) Trú ngụ: To dwell—To abide.
xứ bất thoái
Not to fall away from the status attained.
; Nơi không còn thoái lui trở lại nữa—Not to fall away from the status attained.
xứ mạt-lê-viên
Mallikā (S)Mạt lỵ lợi- Vợ vua Ba tư nặc, thành Xá vệ, có qui y tam bảo. - Mạt lỵ còn là tên một thứ hoa rất thơm ở Thiên trúc.
Xứ phi xứ lực
cũng gọi là “xứ phi xứ trí lực”. Theo luận Du-già quyển 50, tờ 2, đức Như Lai thành tựu Xứ phi xứ trí lực nên đối với các nhân đều rõ biết như thật; đối với các quả cũng rõ biết như thật, vì thế có thể hàng phục các luận thuyết vô nhân hoặc ác nhân của ngoại đạo. Vì thế, trí lực này cũng có thể gọi là Trí lực phân biệt như thật. Xem Mười sức.
Xứ xứ 處處
[py] chùchù [wg] ch'u-ch'u [ko] 처처 ch'ŏch'ŏ [ja] ショショ shosho ||| Here and there; each place; each situation. (tatra-tatra, deśe-deśe) => Khắp đó đây; hiện diện ở mỗi nơi, trong mỗi hoàn cảnh
Xứ 處
[ja] ショ sho ||| (1) To be at (a certain place), to be located. To dwell, to abide in, to occupy. To stop, to stay at. (2) To place; to put in a certain place. (3) To distinguish, to decide, to settle, to judge. (4) A place 所, a location, a scene, a situation, a region, an area. (5) To manage, to adjust, to attend to, to deal with. (6) To have use for. [Buddhism] (sthāna, deśa, prthivīpradeśa). (1) 'Locus.' A place or location of a 'scene' of occurrence, especially referring to the location of the material realm. (2) The place of the meeting between the organs of perception and their objects. See shierchu 十二處. The locus for the arising of the mental functions. (3) A standpoint, viewpoint. (4) An indicator of the locative.
xứng
Correspondent to (with)—Commensurate with—Suitable.
xứng hợp
To be suitable.
Xứng Hữu 稱友
[ja] ショウユウ Shōyū ||| Yaśomitra, an early Indian Abhidharma scholar. Author of the Sphuṭārthā Abhidharmakośavyākhyā, which is extant only in Sanskrit and Tibetan (Peking no. 5593). =>Shōyū (j); Yaśomitra (s). Nguyên học giả Ấn Độ về môn A-tỳ-đạt-ma, là tác giả của Sphuṭārthā Abhidharmakośavyākhyā, hiện chỉ còn bản tiếng Sanskrit lưu hành ở Tây Tạng.
Xứng lý 稱理
[ja] ショウリ shōri ||| To accord with reality (yukta). => (s: yukta). Phù hợp, khế hợp với chân lý (thực tại, thực tế).
Xứng lượng 稱量
[ja] ショウリョウ shōryō ||| To determine; to figure out. => Xác định, quyết định; hiểu ra, luận ra.
xứng pháp hạnh
Hạnh nầy được áp dụng cho cả Tịnh Độ lẫn Thiền Tông—True Thusness Dharma—The practice being in accord with the Dharma. This practice is applied in both the Pure Land and the Zen sects: 1) Tịnh Độ Xứng Pháp: Tâm của hành giả Tịnh Độ phải luôn tập trung vào lục tự Di Đà—True Thusness Dharma for the Pure Land. Practitioners' mind should always focus on the words “Amitabha Buddha.” 2) Thiền Tông Xứng Pháp: Tâm của hành giả nhà Thiền lúc nào cũng như tâm Phật, từ đi, đứng, nằm, ngồi, không rời chánh niệm. Hành giả dù chỉ rời chánh niệm một chốc, thì chốc ấy người nầy chẳng khác một thây ma—True Thusness Dharma for the Zen—Zen cultivators' mind should always be in accord with the Thusness, whether they are walking, standing, reclining, or sitting, without leaving the “Mindfulness.”
Xứng pháp 稱法
Phù hợp, khế hợp với chính pháp.
Xứng thể tài y 稱體裁衣
[ja] ショウタイサイエ shōtai sai-e ||| "To cut the garments according to the body." => Tuỳ theo vóc dáng mà may áo quần cho vừa vặn.
xứng với
To be correspondent to (with) something.
xừng
To rise—To raise.
xử
1) Đối xử: To behave towards someone—To treat. 2) Xét xử: To condemn—To judge—To try.
xử hòa
To conciliate—To settle the difference with no one loss—To reconcile.
xử phạt
To punish according to the law.
xử sự
To behave.
xử trí
To act—To resolve.
xử trị
To punish.
Xử Tịch
(處寂, Shojaku, 648-734): vị tăng của Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Phù Thành (浮城), Tuyến Châu (線州), họ Đường (唐), nên được gọi là Đường Hòa Thượng, Đường Thiền Sư; tuy nhiên Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) lại ghi họ ông là Chu (周). Gia đình ông thuộc loại danh Nho, năm lên 10 tuổi đã để tang cha. Sau khi xuất gia, ông theo hầu Trí Tiển (智銑, 609-702), hay có thuyết cho là theo hầu Thiền Sư Bảo Tu (寳修). Truyền ký cho biết rằng ông từng lên miền Bắc tu khổ hạnh, được Tắc Thiên Võ Hậu triệu vào cung nội, ban cho Tử Y. Sau ông trở về Tứ Xuyên, sống ở Đức Thuần Tự (德純寺) vùng Tư Châu (資州), chuyên tâm giáo hóa chúng sanh. Đệ tử của ông có Vô Tướng (無相) ở Tịnh Chúng Tự (淨眾寺).
xử đoán
To judge and decide.
xửng
very light.
xửng vửng
To feel dizzy.
Y
依; C: yī; J: e.|Cơ sở, căn bản (s: saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya); 2. Nguyên nhân khiến cho mọi vật hiện hữu; 3. Nền tảng, nơi an trú (của mọi vật); 4. Nền tảng của sự chấp trước. Những yếu tố tạo nên sự hiện hữu (trong sự tạo thành thật thể luân hồi từ quá khứ đến tương lai). Phiền não, nhiễm ô, chấp trước. Vì phiền não là điều kiện căn bản (sở y) của vô số cảnh giới (năng y) khổ đau, nên có hai tầng bậc ý nghĩa của thuật ngữ (s: upādhi: thật thể luân hồi); 5. Quy tắc, luật lệ, sự chỉ đạo. Hiện hữu vì mục đích cho sự gia trì (s: adhisthāna); 6. Sự tùy thuộc, nương vào; 7. Theo triết học của phái Số luận, đó là những pháp hiện hữu tùy thuộc vào một cái gì đó khác (s: āśrita); 8. Chiếu theo căn cứ đáng tin (kinh văn, luận giải…, s: āśraya); 9. Vật, nơi được dựa vào; 10. Sinh khởi từ, căn cứ vào, dựa vào, xuất phát từ; 11. Được đặt vào vị trí (trong, trên, ngay, s: upādāya, pratisarana).
y
Clothes, especially a monk's robe.
; 1) Chữa lành: To heal. 2) Giống y: Identical—Same. 3) Hắn (y): He—Him. 4) Vastra (skt)—Phạ Tát Đát—Từ dùng để chỉ áo cà sa, từ ngũ (năm) điều cho đến nhị thập ngũ (25) điều—A monk's robe, from five to twenty-five pieces. 5) Quần áo cho phép mặc để làm việc trong tự viện: The permissive clothing for the manual work of the monastery. 6) Y theo: Y nương—To depend—To rely on—To follow. ** For more information, please see Tam Y.
y an đà hội
Xem y mặc trong.
y bá nạp
Xem áo bá nạp.
Y báo
依報; C: yībào; J: ehō.|»Nghiệp báo theo hoàn cảnh«. Hoàn cảnh, môi trường mà chúng ta được sinh vào, như tình trạng xã hội, địa lí, xuất phát từ nghiệp mà ta đã tạo từ kiếp trước. Đối lại, thân tâm là chính báo (正報, nghiệp báo trực tiếp).
y báo
Xem Y chính.
y báo (y quả)
Hoàn cảnh và điều kiện bên ngoài, tốt hay xấu, mà chúng ta bị lệ thuộc vào do nghiệp đời trước, như xứ sở, gia đình, và vật sở hữu, vân vân, ngược lại với chánh báo của đời nầy—The dependent condition or material environment, good or bad, on which a person depends on condition, environment or results from former karma, e.g. country, family, possessions, etc., in contrast with being the resultant person of this life (chánh báo).
y báo chánh báo
See Chánh Báo Y Báo.
y báo thiên
The Vajradeva in the Vajradhatu group who guards the unborn child.
Y báo 依報
[ja] エホウ ehō ||| The "circumstantial reward;" the circumstances we are born into, such as societal status and geographical location, based on the karma of our prior lifetimes. As contrasted to the direct reward 正報 of mind and body. => Hoàn cảnh, môi trường nà chúng ta được sinh vào, như tình trạng xã hội, địa lý, xuất phát từ nghiệp mà ta đã tạo từ kiếp trước. Đối lại, thân tâm là chính báo.
y bát
Cassock and almsbowl.
; Robe (cassock) and alms-bowl.
y bảo
See Y Châu.
Y Bồ
(伊蒲): từ gọi khác của Ưu Bà (s: upasa, 優婆), nghĩa là thức ăn chay. Trong Phật Giáo thường có các dụng ngữ như “Y Bồ soạn (伊蒲饌, món ăn chay)”, “Y Bồ cúng (伊蒲供, thức cúng chay)”, v.v. Trong đó có từ “Y Bồ đệ nhất (伊蒲, thức ăn chay số một)” là muốn nói đến loại Nấm Trúc (竹蕈, trúc khuẩn). Từ thời nhà Tống trở đi, loại nấm này trở thành vật nổi tiếng nhất, là sản phẩm xuất xứ từ Dương Tiện (陽羡, ngày xưa gọi là Kinh Khê [荆溪], nay thuộc Ngô Hưng [呉興], Tỉnh Triết Giang [浙江省]). Theo tác phẩm Kinh Khê Sớ (荆溪疏) của Vương Trĩ Đăng (王穉登, 1535-1612) nhà Minh, loại Nấm Trúc này được đánh giá rất cao như: “Trúc Cô, khuẩn dã; tiểu như tiền, xích như Đơn Sa, sanh dĩ nhị nguyệt, sơn trung sở tại giai hữu chi, phong vị cực giai, đương vi Y Bồ đệ nhất (竹菇、蕈也、小如錢、赤如丹沙、生以二月、山中所在皆有之、風味極佳、當爲伊蒲第一, Nấm Trúc là một loại nấm, nhỏ như đồng tiền, đỏ như Đơn Sa, sanh trưởng vào tháng 2, trong núi sâu mới có nấm này, mùi vị vô cùng ngon, chính là món ăn chay số một).” Hay như trong Đông Pha Mộng (東坡夢) của Ngô Xương Linh (吳昌齡, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Đô quy nhất cá không, chỉ hữu na Y Bồ cúng (都歸一個空、只有那伊蒲供, thảy đều trở về tay không, chỉ có chút thức cúng chay).” Hơn nữa, trong bài Cẩm Châu Sắc Sứ Lưu Ấm Huyên Trú Tạng Hồi Thục Viễn Ký Tạng Phật Nhất Tôn Phú Tạ (錦州刺史劉蔭萱駐藏回蜀遠寄藏佛一尊賦謝) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Quý vô thất bảo trang nghiêm Bát Nhã tọa, diệc thiểu hữu bách hoa cúng dường Y Bồ diên (愧無七寳莊嚴般若坐,亦少有百花供養伊蒲筵, thẹn chẳng có bảy báu để trang nghiêm tòa Bát Nhã, lại ít có trăm hoa để cúng dường diên cúng chay).”
Y Bồ soạn
(伊蒲饌): tức thức cúng chay, đồ chay, cỗ chay; gọi tắt là Y Bồ (伊蒲). Như trong bài thơ Phong Lãnh Thượng Nhân Phụng Mẫu Cư Sơn Trí Thư Hữu Nhân Khất Thi Vi Thọ (崶嶺上人奉母居山致書友人乞詩為壽) của Lý Trường Tộ (李長祚, ?-?) nhà Thanh có câu: “Y Bồ đồng thục thủy, thanh tịnh phụng từ thân (伊蒲同菽水、清凈奉慈親, món chay cùng lễ mọn, thanh tịnh dâng từ thân).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, văn sớ Phật Thành Đạo Nhật (佛成道日), có giải thích rằng: “Trai cúng thực viết Y Bồ soạn, Hậu Hán Sở Vương nghệ khuyết dĩ kiêm thục tội, chiếu báo viết: 'Vương háo Hoàng Lão chi ngôn, thượng Phù Đồ chi giáo, hoàn kỳ thục dĩ trợ Y Bồ Tắc tang môn chi soạn' (齋供食曰伊蒲饌、後漢楚王映詣闕以縑贖罪、詔報曰、王好黃老之言、尚浮屠之敎、還其贖以助伊蒲塞桑門之饌, thức cúng chay gọi là Y Bồ soạn, Sở Vương nhà Hậu Hán vào cung lấy lụa dâng xin chuộc tội, chiếu chỉ viết rằng: 'Vua thích lời dạy của Hoàng Lão [Hoàng Đế và Lão Tử], mà lại tin lời dạy của Phật Đà, trả lại vật chuộc tội để giúp thêm món cúng của tăng sĩ, Ưu Bà Tắc').”
y bồ tắc
Upasaka (skt)—A male lay member of the Buddhist temple—See Ưu Bà Tắc.
y ca ba đề la na
Một danh hiệu của Như Lai được diễn giảng như là Tối Thượng Thiên Vương—A title of a Tathagata, interpreted as the Supreme Deva-King.
y châu
The pearl in the garment, i.e. Buddha-nature.
; Theo lời Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa, phẩm thứ sáu về Thọ Ký: “Hạt ngọc minh châu trong áo, thí dụ nói về một chàng cùng tử, có hạt minh châu trong chéo áo mình mà không biết, nên cứ lang thang cùng khổ mãi.”—According to the Buddha's teaching in the Lotus Sutra, the sixth chapter of Prediction: “The pearl in the garment, i.e. a man starving yet possessed of a priceless pearl in his garment, of which he was unaware.”
y chính
The two forms of karma resulting from one's past; Chính báo, being the resultant person; Y báo, being the dependent condition, or environment, e.g. country, family, possessions, etc.
; Y báo và chính báo, hậu quả của nghiệp quá khứ của chúng sanh—Two forms of karma resulting from one's past. 1) Y Báo: Hết thảy mọi sự vật thế gian mà thân tâm ta nương tựa vào như quốc độ, gia đình, tài sản, vân vân thì gọi là Y Báo—All dependent conditions or environments, i.e. country, family, possessions, etc—See Y Báo, and Nhị Báo. 2) Chánh Báo: Quả báo do nghiệp của quá khứ mà thân tâm ta thụ nhận gọi là Chánh Báo—The resultant person of this life—See Chánh Báo, and Nhị Báo.
Y chính chân như 依止眞如
[ja] エジシンニョ eji shinnyo ||| The suchness of the bases of practice, referring to the truth of suffering. One of the seven kinds of suchness 七種眞如. 〔十八空論 T 1616.31〕 => Căn bản của sự tu tập, liên quan đến khổ đế. Một trong 7 pháp Chân như (Thất chủng chân như). Theo Thập bát không Luận.
Y chính 依止
[ja] エジ eji ||| (1) Reliance, dependence. (2) To depend upon something which possesses power and virtue. A basis, a support (āśraya, adhistāna). (3) To serve (samśraya). (4) To serve as a disciple, learn the practices of discipline and be taught the dharma. (5) According to. (6) To make (something) the theme. To refer to. => Có các nghĩa: 1. Sự tin cậy, sự nương vào. 2. Nương vào điều gì có năng lực và đạo đức. Một nền tảng, một lực gia trì.(s: āśraya, adhistāna). 3. Phụng sự (s: samśraya). 4. Phụng sự (thầy)với tư cách là đệ tử, để tu tập và học hỏi giáo pháp. 5. Y theo. 6. Làm (việc gì) theo chủ đề. Xem tham khảo, nói đến, đề cập đến.
Y chỉ
xem Cầu-na.
; 依止; C: yīzhǐ; J: eji;|Có các nghĩa: 1. Sự tin cậy, sự nương vào; 2. Nương vào điều gì có năng lực và đạo đức. Một nền tảng, một lực gia trì (s: āśraya, a-dhistāna); 3. Phụng sự (s: samśraya); 4. Phụng sự (thầy) với tư cách là đệ tử, để tu tập và học hỏi giáo pháp; 5. Y theo; 6. Làm (việc gì) theo chủ đề. Xem, tham khảo, nói đến, đề cập đến.
y chỉ
(依止): y (依) là nương dựa, chỉ (止) là dừng lại, ở yên. Y chỉ là chỗ để cho người ta nương dựa và dừng yên ở đó, tức là bậc có đủ phước đức và trí huệ, đủ sức dìu dắt người khác, như Phật là bậc Y chỉ của tất cả chúng sanh.
; To depend and rest upon.
; Nương dựa hay dừng trụ lại (nơi có lực có đức)—To depend and rest upon.
Y chỉ chân như
依止眞如; C: yīzhǐ zhēnrú; J: eji shinnyo;|Chân như, bản chất Như như của sự tu tập, liên quan đến khổ đế. Một trong 7 pháp Chân như (Thất chủng chân như 七種眞如; theo Thập bát không luận 十八空論)
y chỉ sư
The acàrya, or master of a junior monk.
; Acarya (skt)—Y Chỉ A Xà Lê—Thầy giáo thọ của các Tỳ Kheo vừa mới được thọ giới để dạy dỗ và nhắc nhở trong việc tu hành—Master of a new or junior monk.
y chỉ thậm thâm
The profundity on which all things depend, i.e. the bhùtatathatà; also the Buddha.
; Pháp thể chân như mà Như Lai đã chứng ngộ, bao trùm khắp pháp giới, làm chỗ dựa cho hết thảy chư pháp—The profundity on which all things depend, i.e. the bhutatathata; also the Buddha.
y của chư tăng
Xem nạp y.
Y cứ
依據; C: yījù; J: ekyo;|Sự dựa vào, sự tin vào.
Y cứ 依據
[ja] エキョ ekyo ||| 'Dependence.' => Sự dựa vào, sự tin vào.
y cửu điều
Xem nạp y.
y diệp bà la
Isvara (skt). 1) Tự tại thiên vương và các thiên vương khác như Quan Âm: King, sovereign; Siva and others; interpreted by self-existing, independent; applied to Kuan-Yin and other popular deities. 2) Một vị sa môn ở Tây Ấn học rộng về Tam Tạng kinh điển: A sramana of the West of India, learned in the Tripitaka.
y dược thần
Xem A tu vân.
Y hi
(依稀、依希、依俙): có ba nghĩa. (1) Lờ mờ, mơ hồ, không sáng tỏ. Như trong bào thơ Hành Điền Đăng Hải Khẩu Bàn Tự Sơn (行田登海口盤嶼山) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống thời Nam Triều có câu: “Y hi thái lăng ca, phảng phất hàm tần dung (依稀採菱歌、彷彿含嚬容, mơ hồ ca hái ấu, phảng phất dáng u sầu).” Hay trong bài thơ Chí Hòa Nguyên Niên Tứ Nguyệt Nhị Thập Nhật Dạ Mộng Giác Nhi Lục Chi (至和元年四月二十日夜夢覺而錄之) cũng có câu: “Hoảng lãng thiên khai Vân Vụ Các, y hi thân tại Phụng Hoàng Trì (滉朗天開雲霧閣、依稀身在鳳皇池, rực rỡ trời bày Mây Sương Gác, mơ hồ thân tại Phụng Hoàng Hồ).” (2) Tương tự, giống như. Như trong bài Di Tống Tiểu Trứ Thư (貽宋小著書) của Điền Tích (田錫, 940-1004) nhà Tống có câu: “Vi văn vi thi, vi minh vi tụng, vi châm vi tán, vi phú vi ca, nhân ôn vẫn hợp, tâm dữ ngôn hội, nhậm kỳ hoặc loại ư Hàn, hoặc tiêu ư Liễu, hoặc y hi ư Nguyên Bạch, hoặc phảng phất ư Lý Đỗ (爲文爲詩、爲銘爲頌、爲箴爲贊、爲賦爲歌、氤氳吻合、心與言會、任其或類於韓、或肖於柳、或依稀於元白、或髣髴於李杜, là văn là thơ, là bài minh là bài tụng, là bài châm là bài tán, là bài phú là bài ca, như khí trời đất hòa hợp, tâm và lời gặp nhau, cho dù nó hoặc giống với Hàn Dũ [768-824], hoặc như Liễu Tông Nguyên [773-819], hay tương tự với Nguyên Chẩn [779-813] và Bạch Cư Dị [772-846], hay giống với Lý Bạch [701-762] và Đỗ Phủ [712-770]).” (3) Nhỏ mọn, chút ít. Như trong bài Tế Trần Tiên Bối (祭陳先輩) của Hoàng Thao (黃滔, 840-911) nhà Đường có câu: “Cẩn dĩ y hi sơ quả, nhất nhị tinh thành, nguyện minh phù ư hật hưởng, thân vĩnh quyết ư u minh (謹以依稀蔬果、一二精誠、願冥符於肹蠁、申永訣於幽明, xin lấy rau quả ít ỏi, một hai tấc thành, nguyện thầm chứng thảy cùng khắp, mong trối trăn chốn âm dương).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 9 có đoạn: “Nhân thiên hình tượng, diện mục y hi, y thường đạm bạc, thần tình phiêu động, tợ vô sở y, tợ hữu sở y (人天形像、面目依稀、衣裳淡白、神情飄動、似無所依、似有所依, hình tượng trời người, mặt mày giống hệt, áo quần đạm bạc, tinh thần lay động, như không chỗ nương, như có chỗ nương).” Hay trong Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục (湛然圓澄禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1444) quyển 8, phần Ưng Khòa Đảnh Vân Tụ Am Vô Hoại Quan Chủ (鷹窠頂雲岫菴無壞關主), lại có đoạn: “Tích nhật văn danh vị kiến y, kim triêu dung mạo thượng y hi, thiên nhai hải giác tầm tương tợ, nhược cá mi mao bất hạ thùy (昔日聞名未見伊、今朝容貌尚依稀、天涯海角尋相似、若個眉毛不下垂, ngày xửa nghe danh chẳng thấy hình, sáng nay dung mạo lại mờ thinh, bờ trời góc bể tìm tương tự, giống mấy lông mày chẳng rũ hàng).”
y hẹn
To keep one's appointment.
y la bà na
Airavana (skt). 1) Tên loại voi chúa mà vua trời Đế Thích cỡi: Indra's elephant. 2) Tên loại cây Y-La: A tree named Airavana. 3) Tên của khu vườn Lâm Tỳ Ni, nơi mà người ta nói Đức Phật đã được đản sanh: Name of a park, i.e. Lumbini, where the Buddha is said to have been born.
y la bà na long tượng vương
See Y La Bà Na (1).
y la bát
Elapattra (skt). 1) Tên của Y La Bát Long vương (trên đầu có loại cây rất hôi thúi), hủy hoại giới cấm của Phật làm tổn hại cây y-la: Name of a naga, or dragon-king, who breaks the Buddha's commandments. 2) Tên của một nơi trong xứ Taxila: Name of a place in Taxila.
y la bát long vương
See Y La Bát (1).
y la bạt đề hà
Eravati (skt). 1) Loài rồng hay voi: See Y La Bà Na (1). 2) Loài rồng bảo hộ biển cả hay sông hồ: A naga-guardian of a sea or lake (who had plucked a herb wrongfully in a previous incarnation, been made into a naga and now begged the Buddha that he might be reborn in a higher sphere).
y lan
Eravana (S)Một loại hoa đẹp nhưng mùi rất thối xa đến hàng chục dặm, tượng trưng cho phiền não (đối nghĩa với hoa chiên đàn).
; Airavana or Eravana (skt). 1) Tên của một loài cây có bông rất đẹp nhưng mùi rất thúi, mùi có thể tỏa đi xa tới 40 dậm: Name of a tree with beautiful flowers of nauseous scent which spreads its odour for 40 miles. 2) Y Lan được dùng để ví với phiền não (dục vọng và ảo tưởng): Typifying the passions and delusions.
y liên thiền
Nairanjàna (S). Xem Ni liên thiền. Name of a river.
y lê sa bàn đồ ca
Y Lê Sa Chưởng Nô—Irsyapandaka (skt)—Thái giám—Eunuchs or impotent save when stirred by jealousy.
y lạn nã bát phạt đa
Irina-Parvata or Hiranya-Parvata (skt)—Một vương quốc cổ được ghi nhận có ngọn núi lửa gần kinh đô mà bây giờ là Monghir—An ancient kingdom noted for a volcano near its capital, the present Monghir.
y lời
To keep one's promise.
y mặc trong
Antarvāsaka (S)Y An đà hộI.
y ngoại khổ
Adhibhautika-dukkhata (S).
y nguyên
Intouched—Intact.
y ngôn
Chân Như (thể tính cuả chư pháp là thường như)—The bhutatathata in its expressible form.
y ngôn chân như
The bhùtatathatà in its expressible form, as distinguished from it as Li ngôn inexpressible.
; Chân như diễn tả bằng văn tự, phân biệt với chân như không diễn tả được bằng văn tự (ly ngôn chân như)—The bhutathata in its expressible form, as distinguished from it as inexpressible. ** For more information, please see Nhị Chân Như.
y ngũ điều
Xem áo ngũ điều.
y nhân
Nirsraya (S)Một trong ngũ nhân.
y như
Identical—In conformity with.
y ni diên
Aineva (skt)—Y Nê Diên—Ê Ni Diên—Nhân Ni Diên—Con hươu—A deer—An antelope.
y nội
The under robe.
y nội khổ
Adhytmika-dukkhata (S).
y pháp
E-hō (J).
; Y áo và giáo pháp của Phật—The robe and the Buddha-truth.
y pháp bất y nhân
To rely upon the dharma, or thuth itself, and not upon (the false interpretations of) men.
; Nương vào pháp chứ không nương vào người, một trong bốn phép nương vào để hiểu thấu Phật Pháp—To rely upon the dharma, or truth itself, and not upon the false interpretations of men, one of the four basic principles for thorough understanding Buddhism. ** For more information, please see Tứ Y Pháp.
y phương
Toa thuốc—A prescription.
y phương luận
Luận về y phương—Discussion on medicine. ** For more information, please see Ngũ Minh.
y phương minh
Sikitsavidyā (S), Cikitsavidyā (S)Đề cao về thuốc trị bệnh. Một trong ngũ minh: - thinh minh - công xảo minh - y phương minh - nhân minh - nội minh Một trong Ngũ minh của Vệ đà kinh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh, Nội minh.
; Cikitsa (skt)—Hiểu biết về y phương là một trong ngũ minh—Medicine, one of the five studies or sciences. ** For more information, please see Ngũ Minh.
y phục thiên
Y Phục Thiên (màu đen) trong nhóm Kim Cang Giới, người bảo hộ thai nhau của một đứa trẻ chưa sanh; trên tay cầm cung và tên—The Vajradeva in the Vajradhatu group who guards the placenta and the unborn child; his colour is black and he holds a bow and arrow.
y phục tùy niệm nguyện
Lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện rằng chư Thiên nhơn trong cõi nước của Ngài đều tức thời có đầy đủ y áo đẹp đẽ như ý nguyện—The vow of Amitabha that all the devas and men in his realm shall instantly have whatever beautiful clothing they wish.
y sa
Y Xá Na—Isa (skt)—Master—Lord.
y sa na
Isana (skt). 1) Hữu: Possessing. 2) Tụ Lạc: A settled place—Locality.
y sa đà la
Xem Trì thục.
; Isadhara (skt)—Dãy núi thứ hai trong bảy dãy bao quanh núi Tu Di, được làm bởi bảy báu, biển rộng 42,000 do tuần, đầy những bông hoa thơm ngát. Nó được định nghĩa như là—The second of the seven concentric circles surrounding Sumeru which is made of seven precious things, and its sea, 42,000 yojanas wide, is filled with fragrant flowers. It is defined as: a) Trì Trục: Holding the axis or axle. b) Xa Trục: The axle-tree. c) Tự Tại Trì: Sovereign control.
y sát ni
Iksani or Iksana (skt)—Theo Câu Xá Luận thì đây là một loại chú thuật mà người luyện có thể biết được những ý nghĩ trong tâm người khác—According to the Kosa Sastra, this is a kind of magic mode of reading another's thoughts.
Y Sơn
依山; ?-1213|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 19. Sư nối pháp Quốc sư Viên Thông.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cẩm, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ Sư đã tinh thông sách sử, cả kinh sách của nhà Phật. Năm 30 tuổi, Sư xuất gia với một vị Trưởng lão trong làng và sau đó đến kinh đô tham học với Thiền sư Viên Thông. Nhân một câu nói của Viên Thông mà Sư ngộ được yếu chỉ.|Về sau, Sư chu du tuỳ duyên hoằng hoá và thường khuyên đồ chúng: »Mến danh thích lợi, đều như bọt nước mặt ghềnh. Cấy phúc gieo duyên, trọn là trong lòng hoài bão.«|Sắp tịch, Sư gọi chúng đến bảo: »Ta chẳng trở lại cõi này nữa.« Ngày 18 tháng 3 năm Bính Tí, năm thứ ba niên hiệu Kiến Gia, Sư an nhiên thị tịch.|Sau đây là bài kệ Hoá vận – 化運 của Sư:|真身成萬象。萬象成真身|月殿榮丹桂。丹桂在一輪|Chân thân thành vạn tượng|Vạn tương thành chân thân|Nguyệt điện vinh đan quế|Ðan quế tại nhất luân.|*Một thật thân thành nghìn tướng sắc|Dẫu muôn nghìn cũng tức chân thân|Khác nào quế tốt muôn phần|Nghìn thu vẫn ở giữa vầng trăng trong.|(Phạm Tú Châu dịch)|Y tha khởi |依他起; C: yītāqǐ; J: etaki.|Sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác (s: paratantra, t: gshan gyi dbaṅ). Xem Y tha khởi tính (依他起性; theo Hiển dương luận 顯揚論)
y sơn thiền sư
Zen Master Y Sơn (?-1213)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Nghệ An, Bắc Trung Việt. Lúc 30 tuổi, ngài xuất gia với một vị sư già trong làng. Sau đó, ngài đến Thăng Long học thiền với Quốc Sư Viên Thông. Sau khi trở thành pháp tử đời thứ 19 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ngài trụ tại chùa Đại Bi. Lúc cao tuổi, ngài dời về làng Yên Lãng để tiếp tục hoằng hóa Phật giáo cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1213—A Vietnamese Zen master from Nghệ An, North of Central Vietnam. At the age of thirty, he left home and became a disciple of an old monk in the village. Later, he arrived at Thăng Long to study Zen with the National Teacher Viên Thông. After he beame the dharma heir of the nineteenth generation of Vinitaruci Zen Sect, he stayed at Đại Bi Temple. When he was old, he moved to Yên Lãng village to preach Dharma until he passed away in 1213.
y sư ca
(A) Isika (skt). 1) Mũi tên—An arrow—A dart. 2) Tròng mắt voi: Elephant's eye-ball. (B) Rsigiri (skt)—Một ngọn đồi cao trong thành Vương Xá—A high hill at Rajagrha.
y tha
Dependent on or trusting to someone or something else; trusting on another not on self or "works".
; Dependent on or trusting to someone or something else—Dependent or trusting on another, not on self.
Y tha khởi tính
依他起性; C: yītā qǐxìng; J: etakishō; S: para-tantra-svabhāva.|1. Tính hiện hữu của các pháp sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác; nên nói các pháp sinh khởi nhờ vào nhân duyên. Còn được gọi là Duyên hữu (縁有); 2. Các pháp sinh ra do nhân duyên và hoại diệt khi các nhân duyên không hội đủ. Theo lí thuyết của Duy thức tông, nó liên quan đến 94 yếu tố nhân duyên. Dù các pháp hiện hữu, nhưng nó không hiện hữu trong một ý niệm cơ bản, nên nó không thể được xem là không hiện hữu (vô 無). Đây được gọi là »giả hữu pháp« (假有法) hoặc là »không hiện hữu thật sự, có vẻ như hiện hữu« (phi hữu tự hữu 非有似有).
y tha khởi tính
Paratantra (S)Duyên khởi tính.
; Paratantra (S). Depending on another that which arises. Not having an independent nature, not a nature of its own, but constituted of elements.
; Paratantra (skt)—Không có tánh độc lập, chỉ nương nhau mà thành—Not having an independent nature—Not a nature of its own, but constituted of elements—See Tam Tự Tính Tướng.
Y tha khởi tính. 依他起性
[ja] エタキショウ etakishō ||| (paratantra-svabhāva) (1) The nature of existence as arising from dependence on other things; said of existence arising from causes and conditions. Also expressed as 縁有.(2) That which is born of causes and conditions and will cease when causes are absent. In Consciousness-only theory, it refers to the 94 conditioned elements. Though existing, it does not exist in a fundamental sense, yet it cannot be called non- existent (無). This is called a "provisional existence" (jiayoufa 假有法) or "not existing, appearing to exist" (feiyousiyou 非有似有). => (s: paratantra-svabhāva) 1. Tính hiện hữu của các pháp sinh khởI tùy thuộc vào các pháp khác; nên nói các pháp sinh khởi nhờ vào nhân duyên. Còn được gọi là Duyên hữu. 2. Các pháp sinh ra do nhân duyên và hoạI diệt khi các nhân duyên không hội đủ. Theo lý thuyết của Duy thức tông, nó liên quan đến 94 yếu tố nhân duyên. Dù các pháp hiện hữu, nhưng nó không hiện hữu trong một ý niệm cơ bản, nên nó không thể được xem là không hiện hữu (vô-無). Đây được gọi là "giả hữu pháp"(c: jiayoufa ) hoặc là "không hiện hữu thực sự, chỉ hình như hiện hữu " (phi hữu tợ hữu 非有似有;
Y tha khởi 依他起
[ja] エタキ etaki ||| Arising in dependence on other things (Skt. paratantra; Tib. gshan gyi dbaṅ). See 依他起性. 〔顯揚論, T 1602.31.508b4〕 => Sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác (s: paratantra); (t: gshan gyi dbaṅ). Xem Y tha khởi tính.
y tha thập dụ
The unreality of dependent or conditioned things, e.g. the body, or self, illustrated in ten comparisons: foam, bubble, flame, plantain, illusion, dream, shadow, echo, cloud, lightning.
y tha tâm
The mind in a dependent state, that of the Buddha in incarnation.
; The mind in a dependent state (that of the Buddha in incarnation).
y tha tự tánh
Paratantra (skt)—Vạn hữu nương nhau mà thành chứ không có tự tánh—The nature of being dependent on constructive elements and without a nature of its own—See Tam Tự Tính Tướng.
y tha tự tính
One of the Tam tính dependent on constructive elements and without a nature of its own.
y theo
According to—In conformity with.
y thiên khổ
Adhidaivika-dukkhata (S).
y thiền bảng
A board to lean against when in meditation.
y thân
The body on which one depends, or on which its parts depend.
; Thân là chỗ nương tựa cho loài hữu tình, cũng là chỗ dựa cho các phần như mắt, tai, mũi, lưỡi, vân vân—The body on which one depends, or on which its parts depend, i.e eyes, ears, nose, tongue, etc.
y thông
The magical powers which depend on drugs, spells etc.
; Một thứ thông lực y nương vào dược lực hay chú thuật mà thể hiện, một trong ngũ thông—One of the five magical powers, the magical powers which depend upon drugs, spells, etc. ** For more information, please see Ngũ Thông.
y thưởng na bổ la
Isanapura (skt)—Một vương quốc cổ ở Miến Điện—An ancient kingdom in Burma.
y thất điều
Xem áo thất điều.
y tòa thất
The robe, throne and abode of the Tàthagata, See Lotus Sùtra Pháp sư phẩm.
y tăng già lê
The double robe—A large robe.
y tọa thất
Áo, chỗ ngồi và chỗ ngụ của Đức Như Lai—The robe, throne, and abode of the tathagata
y tử
Bài kệ tẩy độc cho những đứa con của vị Đại Phu trong Kinh Pháp Hoa—The parable of the healing of his poisoned sons by the doctor in the Lotus Sutra.
Y tự
伊字; C: yīzì; J: iji;|Nguyên âm i trong tiếng Phạn (sanskrit), được viết như hình có ba cạnh trong một vòng tròn nhỏ (s: i-kara).
y tự khởi phái
Svatamtrika (S)Do Ngài Thanh Biện (Bhavaviveka) sáng lập vào thế kỷ IV - V.
y tự khởi tông
Svātantrika (S).
Y tự tam điểm
伊字三點; C: yīzì sāndiǎn; J: ijisanten;|Trong tiếng Sanskrit, nguyên âm I được viết bằng ba chấm theo hình tam giác (∴). Vì ba điểm nầy được xếp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc, nên nó được dùng cho chuyển nghĩa »không giống cũng không khác- bất đồng diệc bất dị«. Trong kinh Niết-bàn, ba điểm nầy được dùng cho chuyển nghĩa về sự tương quan giữa Pháp thân với Giải thoát (s: mokṣa).
y tự tam điểm
1) Chỉ chữ “Y” trong Phạn ngữ được hình thành từ ba điểm, chẳng dọc chẳng ngang, mà có quan hệ ba góc, nên dùng để ví với tánh bất nhất bất dị, phi tiền phi hậu của sự vật: Refers to a specific Sanskrit sign of “Y” which means neither across nor upright, being a triangular shape, and indicating neither unity nor difference, neither before nor after. 2) Trong Kinh Niết Bàn, dùng để ví với ba đức Pháp thân, Bát Nhã, và Giải Thoát cần thiết cho việc đi đến niết bàn—The Nirvana Sutra applies the three parts which are necessary to complete the nirvana: a) Pháp Thân: Dharmakaya. b) Bát Nhã: Prajna. c) Giải Thoát: Vimoksa (skt). 3) Liên hệ với ba mắt của Ma Hê Thủ La—It associated with the three eyes of Siva: a) Khi nhìn ngang thì chúng tiêu biểu cho lửa: When considered across they represent fire. b) Khi nhìn dọc thì chúng tiêu biểu cho nước: When considered upright they represent water. c) Khi nhìn tổng thể chúng biểu hiện cho sự giải thoát: When considered totally they represent vimoksa.
Y tự tam điểm 伊字三點
[ja] イジサンテン ijisanten ||| In Sanskrit script the sound i is written in the form of three dots in a triangle (∴). Since these three line up with each other either horizontally or vertically, it is used as a trope for "neither the same nor different." In the Nirvāna-sūtra it is used as a trope for the relationship between the dharma-body 法身, Abhidharmakośa and mokṣa 解脱. => Trong tiếng Sanskrit, nguyên âm I được viết bằng ba chấm theo hình ram giác (∴). Vì ba điểm nầy được xếp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc, nên nó được dùng cho chuyển nghĩa "không giống cũng không khác- bất đồng diệc bất dị". Trong Kinh Niết-bàn, ba điểm nầy được dùng cho chuyển nghĩa về sự tương quan giữa Pháp thân (e: dharma-body) với Giải thoát (s: mokṣa ).
Y tự 伊字
[ja] イジ iji ||| The Sanskrit vowel sound of i, which is written with a triangular configuration of the small circles (i-kara). => Nguyên âm I trong tiếng Sanskrit, được viết như hình có ba cạnh trong một vòng tròn nhỏ (s: i-kara)
y vai trái
The upper robe.
Y Vương
(醫王): vua của các thầy thuốc, tiếng tôn xưng dành cho chư Phật và Bồ Tát. Quý ngài thường trị tâm bệnh của chúng sanh, nên người ta dùng vị lương y để ví dụ cho quý ngài. Vì từ vô thỉ cho đến ngày nay hàng phàm phu bị trầm luân trong Ba Đường, khó được giải thoát; cho nên chư Phật và Bồ Tát phát khởi tâm đại bi, biết rõ phiền não căn bản chính là nguồn gốc sanh, lão, bệnh, tử của tất cả chúng sanh, vì vậy quý ngài tùy theo căn cơ, nhân duyên để hóa độ cho chúng sanh được lợi ích và giải thoát. Cũng giống như vị lương y trong đời, có thể khéo chẩn đoán người bệnh, biết chứng bệnh của người đó để điều trị. Trong quyển 15 của Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經), Y Dụ Kinh (醫喩經) có đề cập đến Bốn Pháp Thành Tựu của một vị vua của các thầy thuốc như: (1) Biết rõ bệnh; (2) Biết rõ nguồn gốc bệnh; (3) Biết rõ sự đối trị cho căn bệnh ấy; (4) Khéo chữa trị cho lành bệnh. Hơn nữa, vị ấy cũng phải biết khả năng cũng như nhân duyên có thể tái phát của căn bệnh ấy để chữa cho dứt hẳn. Kinh này ví dụ sự thành tựu 4 pháp của vị y vương cũng giống như sự thành tựu 4 đức của chư Như Lai. Các ngài xuất hiện giữa cõi đời, diễn thuyết pháp Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦) gồm Khổ, Tập, Diệt và Đạo để điều trị căn bệnh của tất cả chúng sanh. Ngoài ra, quyển 22 của Đại Trí Độ Luận (s: Mahāprajñāpāramitopadeśa[-śāstra], 大智度論, Taishō 25) cũng có thí dụ nổi tiếng như: “Phật như y vương, pháp như lương dược, tăng như chiêm bệnh nhân, giới như phục dược cấm kỵ (佛如醫王、法如良藥、僧如瞻病人、戒如服藥禁忌, Phật như vua của các thầy thuốc, pháp như phương thuốc hay, tăng như người chăm sóc bệnh nhân, giới như sự cấm kỵ khi dùng thuốc).” Hay như trong bài Thê Sản Tử (妻產死) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 6 có câu: “Nguyệt trầm hương cáp nhân hà tại, vụ thảm minh quan lộ cánh trường, hồn phách tưởng quy vu hạp khứ, tảo hồi Đâu Suất lễ Y Vương (月沉香閤人何在、霧慘冥關路更長、魂魄想歸巫峽去、早回兜率禮醫王, trăng lặn gác hương người đâu tá, sương thảm cửa u nẻo thêm dài, hồn phách những quy khe suối vắng, mau về Đâu Suất lễ Y Vương).”
y vương
1) Bậc vua trong các thầy thuốc: The Medicine King. 2) Phật được tán thán như là bậc Y Vương chữa lành mọi khổ đau phiền não cho chúng sanh: The Buddha as healer of sufferings.
y xá na
See Y Sa.
y xá na hậu
Isani (skt)—Vợ của thần Y Xá Na—Wife of Siva.
y xá na thiên
Isana (skt). 1) Chư thiên trong cõi trời dục giới thứ sáu: The deva of the sixth desire-heaven. 2) Ma Hê Thủ La Thiên: Mahesvara (skt). 3) Mặt trời là một hình thức của thần Siva: The sun as a form of Siva. 4) Viện chủ của bên ngoài Kim Cang Viện trong nhóm Kim Cang giới: Head of the external Vajra-hall of the Vajradhatu. 5) Thần Siva ba mắt nhiều sừng: Siva with his three firece eyes and horns.
Y xứ
依處; C: yīchù; J: esho;|Quan điểm, lập trường căn bản. Căn nguyên (s: adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu).
Y xứ 依處
[ja] エショ esho ||| A basis, locus, standpoint. A cause. (adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu.) => Quan điểm, lập trường căn bản. Căn nguyên(s: adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu).
Y Đạt Chính Tông
(伊達政宗, Date Masamune, 1567-1636): vị Võ Tướng sống giữa hai thời đại An Thổ Đào Sơn và Giang Hộ, con của Huy Tông (輝宗), tự xưng là Độc Nhãn Long (獨眼龍). Ông kế thừa sự nghiệp của cha, xưng bá ở vùng Áo Vũ (奥羽, Ōu), nhưng đến năm 1590 thì phụ thuộc vào Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi). Về sau do vì ông lập công lớn trong trận hợp chiến ở Sekigahara cũng như trận Đại Phản (大阪, Osaka), ông được ban cho quản lãnh vùng Tiên Đài (仙台, Sendai).
Y Đằng Nhân Trai
(伊藤仁齋, Itō Jinsai, 1627-1705): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; Tổ của Học Phái Cổ Nghĩa; tên là Duy Trinh (維楨); tự Nguyên Tá (源佐); hiệu Nhân Trai (仁齋); xuất thân kinh đô Kyoto. Suốt đời ông không hề làm quan, mà chỉ làm nhà Nho bình thường. Ông khai sáng Cổ Nghĩa Đường (古義堂) ở Quật Xuyên (堀川, Horikawa), kinh đô Kyoto và giáo dưỡng khá nhiều môn đệ. Ông phê phán Chu Tử Học, đề xướng cổ nghĩa học vốn lấy trực tiếp ý nghĩa xưa nay của các kinh thư như Luận Ngữ (論語), v.v. Ông đã lấy lời dạy của Khổng Tử làm giáo lý nhân luân hằng ngày, rồi thuyết ra tư tưởng luân lý vốn xem trọng mối quan hệ con người hằng ngày; và rất coi trọng Luận Ngữ, Mạnh Tử. Các trước tác của ông như Luận Ngữ Cổ Nghĩa (論語古義), Mạnh Tử Cổ Nghĩa (孟子古義), Trung Dung Phát Huy (中庸發揮), Ngữ Mạnh Tự Nghĩa (語孟字義), Đồng Tử Vấn (童子問), v.v., sau này được nhóm đệ tử Đông Nhai (東涯) san hành. Đông Nhai kế thừa Cổ Nghĩa Đường; đệ tử của ông có Trung Giang Dân Sơn (中江岷山), Tinh Hà Thiên Dân (幷河天民), Bắc Thôn Đốc Sở (北村篤所), v.v.
y đế mục
Ityuktas (skt)—Bổn sự thuyết, một trong mười hai bộ kinh Phật—The Buddha's discourses arsing out of events (personal events or Jataka stories, one of the twelve classes of Buddhist liturature).
y đế mục đa
Xem Bổn sự.
y để ha bà luận
Itihasa (S)Tên một bộ luận kinh. Vệ đà.
y địa
The ground on which one relies; the body, on which sight, hearing etc., depend; the degree of samadhi attained.
; Loại định lấy thân làm chỗ sở y—The ground on which one relies; the body on which sight, hearing, etc., depend; the degree of samadhi attained.
Y 依
[ja] エ e ||| (1) A foundation, a ground, a basis (saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya). (2) A cause of something coming into being. (3) Ultimate ground, dwelling place. (4) A ground for attachment. Elements that compose existence. A basic factor (in the composition of past and future transmigratory existence). Affliction, defilement, attachment. Since defilement is the basic condition (依) for the unfolding of the realm (依) of suffering, there are two levels of meaning of the term (upādhi). (5) Control, rule, guidance. That which exists for the purpose of control (adhisthāna). (6) Dependence, reliance (anusārin, apekṣana, apekṣa). (7) In Saṃkya philosophy, that which exists in dependence upon something else (āśrita). (8) To conform to the authority of (a text, an explanation, etc.) (āśraya). (9) That which is relied upon. (10) Arise from, be based upon, to be predicated on, to originate in. (11) To be located (in, on, at) (upādāya, pratisarana). => Cơ sở, nền tảng, căn bản (s: saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya) 2. Nguyên nhân khiến cho mọi vật hiện hữu. 3.Nền tảng cơ bản, nơi an trú (của mọi vật). 4. Nền tảng của sự chấp trước. Những yếu tố tạo nên sự hiện hữu (trong sự tạo thành thực thể luân hồi từ quá khứ đến tương lai. Phiền não, nhiễm ô, chấp trước. Vì phiền não là điều kiện căn bản (sở y) của vô số cảnh giới (năng y) khổ đau, nên có hai tầng bậc ý nghĩa của thuật ngữ (s: upādhi: thực thể luân hồi). 5. Quy tắc, luật lệ, sự chỉ đạo. Hiện hữu vì mục đích cho sự gia trì (s: adhisthāna). 6. Sự tùy thuộc, nương vào. 7. Theo triết học của phái Số luận, đó là những pháp hiện hữu tùy thuộc vào một pháp khác (s: āśrita). 8. Chiếu theo căn cứ đáng tin (kinh văn, luận giải...)(s: āśraya). 9. Vật, nơi được dựa vào. 10. Sinh khởi từ, căn cứ vào, dựa vào, xuất phát từ. 11. Được đặt vào vị trí ( trong , trên, ngay) (s: upādāya, pratisarana).
y-lan
phiên âm từ Phạn ngữ ervaṇa, là một loại cây nở hoa màu hồng rất đẹp nhưng có mùi hôi lan xa đến hàng mấy chục dặm. Trong kinh luận thường dùng hoa y-lan để so sánh với những phiền não tụ tập trong thân.
y-sa-na
Isāna (P).
y-sư-ca
(iṣỵk), một loài cỏ có tính bền bỉ, chắc chắn, dùng để ví với những gì chắc chắn, không thể phá hoại. Sách Du-già lược toản (瑜伽略纂) quyển 3 có viết: “有草名伊師迦,體性堅實” (Hữu thảo danh y-sư-ca, thể tánh kiên thật. - Có loài cỏ tên y-sư-ca, bản tính bền chắc.) Các bản Hán văn cũng có khi dịch tên cỏ này là đăng tâm thảo (燈心草).
Y-đế-mục-đa-già
phiên âm từ Phạn ngữ là Iti-vṛttaka, dịch nghĩa là ‘bản sự’, là những kinh nói về sự ra đời, thuyết pháp của chư Phật. Xem Mười hai bộ kinh.
; 伊帝目多伽; C: yīdìmùduōqié; J: itaimokuta-ka;|Phiên âm từ chữ itivṛttaka trong tiếng Phạn (sanskrit). Là một trong 12 thể loại của kinh Phật (Thập nhị bộ kinh 十二部經), theo sự sắp xếp của các đệ tử Phật từ thời quá khứ.
Y-đế-mục-đa-già 伊帝目多伽
[ja] イタイモクタカ itaimokutaka ||| Transcription of the Sanskrit itivṛttaka, one of the twelve traditional genre divisions of the Buddhist canon 十二部經, which are accounts of the past lives of the disciples of the Buddha. => (j: itaimokutaka) Phiên âm từ chữ itivṛttaka trong tiếng Sanskrit. Là một trong 12 thể loại của Kinh Phật (Thập nhị bộ kinh), theo sự sắp xếp của các đệ tử Phật từ thời quá khứ
Yab-yum
T: yab-yum; S: yuganaddha; nghĩa là »Phụ mẫu«;|Hình tượng thường thấy trong nghệ thuật Tây tạng trình bày nam thần nữ thần trong tư thế giao hợp, vấn víu nhau. Trong Kim cương thừa, đây là biểu tượng cho sự thống nhất của hai nguyên lí âm dương. Hình tượng này cũng được vẽ trên các Thăng-ka (t: than-ka) và đôi khi được một số Du-già sư (yogin) dùng để thiền quán, nhằm thống nhất năng lực âm dương trong người mình, theo những phép hành trì mật tông, Nghi quỹ (s: sādhana) nhất định.
yasassi
Yasassi (P)Một trong 100 vị Độc Giác Phật đã trú lâu ngày trong núi Isigili.
Ye-she Tsog-yel
T: ye-shes mtsho-rgyal; 757-817, nghĩa là »Nàng công chúa của hồ trí huệ«;|Người phụ nữ nổi tiếng nhất của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) tại Tây Tạng, là bạn đồng hành của Liên Hoa Sinh (padmasambhava). Bà thuộc dòng vương tước Khar-chen, năm 12 tuổi đã được vua Tri-song Ðet-sen (t: trisong detsen) chú ý, cho đưa vào cung. Tại đây bà gặp vị Cao tăng Ấn Ðộ Tịch Hộ (śāntarakṣita). Sau đó bà được Liên Hoa Sinh chọn làm bạn đồng tu, truyền cho phép Phur-bu. Bà là người ghi lại vô số lời khai thị của Liên Hoa Sinh trong các bí lục Ter-ma và cũng chép lại cuộc đời của Ngài. Khoảng cuối đời bà sống tại miền đông Tây Tạng. Ngày nay người ta còn thờ cúng bà như một Không hành nữ (s: ḍākinī).
yêm ma la thức
Xem Vô cấu thức.
Yêm-ma-la-thức 庵摩羅識
[ja] アンマラシキ anmarashiki ||| The āmala-vijñāna. The undefiled consciousness of true thusness. Also called the "ninth consciousness." The concept of an immaculate consciousness was developed in East Asia in response to the Faxiang doctrine that the eighth consciousness was defiled. => (s: āmala-vijñāna). Thức thanh tịnh chân như. Còn gọi là 'thức thứ chín'. Ý niệm về thức thanh tịnh được phát triển ở Đông Á để đáp lại với giáo lý Pháp tướng tông cho thức thứ tám vẫn còn nhiễm ô.
yên
Dhuma (S), Smoke Khói, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; 1) Yên bình: Peaceful—Calm—Quiet—Still. 2) Yên ngựa: Saddle. 3) Khói: Smoke—Tobacco—Opium.
yên cái
Khói phủ, màn khói nhang—A smoke cover, i.e. a cloud or smoke of incense like a canopy.
Yên diệt 煙滅
[ja] エンメツ enmetsu ||| (1) The dying out, or disappearance of smoke. (2) To disappear like smoke. => 1. Sự tàn lụi, tắt ngấm của khói. 2. Tan biến như khói.
yên hoa
Smoke and flower.
yên lòng
To be easy in one's mind.
yên phận
To be content with one's lot.
yên tịnh
Xem An.
Yên Tử
安子|Một dòng thiền Việt Nam, bắt đầu trong thế kỉ thứ 13. Dòng Yên Tử được xem là sự hợp nhất của ba phái Thiền Thảo Ðường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa Lưu-chi. Yên Tử được Thiền sư Hiện Quang (mất năm 1221) sáng lập. Tổ thứ sáu của Yên Tử là Trần Nhân Tông (hiệu Trúc Lâm), một vì vua lỗi lạc cho nên dòng Yên Tử sau được gọi là dòng Trúc Lâm Yên Tử và Trần Nhân Tông được tôn là Ðệ nhất tổ. Dòng Yên Tử tập hợp nhiều vị Thiền sư xuất sắc của Việt Nam như Trúc Lâm Ðầu Ðà Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và các nhà vua đời Trần như Trần Thái Tông, Anh Tông cũng như Huệ Trung Thượng sĩ. Khác với truyền thống chia nhiều phái Thiền như tại Trung Quốc, tại Việt Nam, Yên Tử là nơi tập hợp ba thiền phái thành một dòng thiền duy nhất. Cơ sở của dòng Thiền Yên Tử Trúc Lâm là các bộ kinh Ðại thừa như Kim cương, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã ba-la-mật-đa, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm.
yên ổn
See Yên (1).
yêu
1) Cái eo: The waist—Middle. 2) Thương yêu: To love. 3) Yêu ma: Spirit—Ghost.
yêu bạch
1) Màu trắng (không bị nhuộm): A white, or undyed. 2) Tang phục: Khăn tăng—Sash worn in mourning.
yêu chuộng
To esteem—To love.
yêu cầu
To request—To require—To ask.
yêu dấu
To love—To cherish.
yêu kính thần thánh
Prema-bhakti (S), Ecstatic love of God..
Yêu ma
(妖魔): yêu tinh ma quái, cũng dùng để chỉ cho thế lực tà ác. Như trong bài thơ Độc Tồ Lai Tập (讀徂徠集) của Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có đoạn: “Tồn chi cảnh hậu thế, cổ giám chiếu yêu ma (存之警後世、古鑑照妖魔, còn mãi răn hậu thế, gương cổ chiếu yêu ma).” Hay trong hồi thứ 83 của Tây Du Ký (西游記) lại có đoạn: “Vận dụng thần lực, pháp hàng cửu thập lục động yêu ma, thần thông quảng đại (運用神力、法降九十六洞妖魔、神通廣大, vận dụng thần lực, pháp hàng phục yêu ma của chín mươi sáu động, thần thông quảng đại).” Hoặc trong Nan Nễ Kế Thấp Phạ Ra Thiên Thuyết Chi Luân Kinh (難你計濕嚩囉天說支輪經, Taishō Vol. 21, No. 1312) có câu: “Hoặc trọng Phật pháp nhạo tu thiện sự, hoặc mộ yêu ma tín tà tạo ác (或重佛法樂修善事、或慕妖魔信邪造惡, hoặc xem trọng Phật pháp thích làm việc thiện, hoặc mến mộ yêu ma tin tà làm ác).”
yêu ma
See Yêu (2).
yêu mến tha nhân
To cherish others.
yêu mến tự thân
Self-cherishing.
yêu quí
Beloved—Dear.
yêu sách
To require—To demand.
yêu thương
Love—Buddha taught: “Love is the only way to destroy hatred. Hatred cannot be defeated with more hatred.
yêu thần
Ahura-mazda (S)Vị chúa tể yêu đạo.
; Ahura-Mazda.
yêu tà
See Yêu (2).
yêu y
Cái củng—A skirt—Shorts.
yêu ác
Wicked—Cruel.
yêu đạo
Mazdeism.
Yāska
(khoảng thế kỷ thứ 7 trước công nguyên): âm dịch là Da Tư Khải (耶斯卡), nhà từ nguyên học và văn pháp học tiếng Sanskrit, sống trước thời Pāṇini. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Nirukta (sách ngữ học tối cổ hiện tồn của thế giới), bàn về từ nguyên, phạm trù từ vựng và ngữ nghĩa của từ. Tương truyền ông kế thừa Sakatāyana, nhà văn pháp học xưa và người trình bày các thánh điển Phệ Đà (s: Veda, 吠陀), được nhắc đến trong tác phẩm của Yāska. Đôi khi ông được gọi là Yāska Acharya. Tác phẩm Nirukta nổ lực giải thích các từ ngữ có nghĩa của chúng như thế nào, đặc biệt trong ngữ cảnh diễn dịch những văn bản Phệ Đà. Nó bao gồm một hệ thống các nguyên tắc để hình thành từ ngữ từ tiếp vĩ ngữ và tiếp đầu ngữ, một bảng chú giải về các từ bất quy tắc, và hình thành cơ sở cho từ vựng và tự điển sau này. Tác phẩm này gồm 3 phần: (1) Naighantuka, một tuyển tập các từ đồng ngữ; (2) Naigama, tuyển tập các từ khác với những thánh thư Phệ Đà; và (3) Daivata, những từ ngữ đề cập đến các vị thần và tế lễ.
yếm
1) Chán ghét: Tên của tâm sở đối lại với “hân”—Disgusted with, satiated; in contrast with delight, or joy. 2) Mệt mỏi: Weary of.
Yếm bối 厭背
[ja] エンバイ enbai ||| To grow weary of (affliction); to lose interest in (the Way); to abandon, become bored with. 〔二障義 HPC 1.811b〕 => Trở nên buồn chán (phiền não); không còn quan tâm(đến Đạo); buông thả, trở nên chán nản.
yếm cầu
Chán ghét những khổ sở của thế gian mà tìm cầu giải thoát—Weary of the miseries of earth and seking deliverance.
yếm hân
1) Tên của hai tâm sở đối nghịch nhau, chán ghét và hân hoan—Disgusted with and rejoicing in. 2) Yếm ly uế độ, hân cầu Tịnh Độ (vui cầu): Detest and want to leave the defilement of the samsara; seek rebirth in the Pure Land.
yếm hân quán
xem pháp quán Sáu hạnh.
yếm li
To weary of the world and abandon it. Also Chán ghét.
yếm ly
Chán ghét và lìa bỏ thế sự—To weary of the world and abandon it.
yếm ly uế độ
Chán ghét sự ô trược của cõi Ta Bà—Detest and want to leave the defilement of the Samsara—See Hân Cầu Tịnh Độ.
yếm mị
Vetala (skt)—See Yếm Đảo Quỷ.
yếm nhân
Misanthrope.
yếm thế
Weary of the world; to renounce the world.
; 1) Chán đời: Chán ghét thế gian—To hate or distrust mankind—To avoid human society—Weary of the world. 2) Chối bỏ thế nhân: To renounce the world. 3) Qua đời: To pass away—To die.
Yếm tâm 厭心
[ja] エンシン enshin ||| (samvejana). 'Disgusted mind'; 'weary mind.' A mind sick of the world. => Tâm chán ghét, tâm mệt mỏi. Tâm buồn chán thế gian.
yếm đảo quỷ
Vetala (skt)—Một loài quỷ nhập tràng, hiện đến dựng đứng thây ma dậy để sát hại kẻ thù—A demon appealed in order to raise a corpse and with it to cause the death of an enemy.
Yếm ố 厭惡
[ja] エンオ en'o ||| To dislike, hate, detest, loathe; be disgusted with, get sick of. => Không thích, ghét, ghê tởm, kinh tởm, chán ghét, buồn chán.
Yếm 厭
[ja] エン en, on ||| (1) To be satisfied, to be sated, to be filled up with. Tranquil, serene. (2) To be wearied with, be bored with. (3) To dislike, to detest, to hate, (Skt. dūsana, nirveda), to be repugnant. (4) To cover up, to conceal, to repress. (5) To be fed up with the worldly lifestyle. (Pali: nibbidā). (6) Especially satiety or weariness with that with which one should be weary. The 'disgusted mind' (udvega, saṃvega). (7) Not getting rid of desire (anta). => Có các nghĩa sau: 1.Hài lòng, thoả mãn, tràn đầy. Yên tĩnh, lặng lẽ. 2. Chán nản, buồn bực. 3. Không thích, ghét, căm hờn(s: dūsana, nirveda), không hợp nhau. 4. Lý do đưa ra để che đậy, giấu diếm, ngăn chặn. 5. Được nuôi dưỡng trong phong cách thế tục (p: nibbidā). 6. Đặc biệt chán ngấy, mệt mỏi với những gì đáng chán. Tâm chán ghét (s: udvega, saṃvega). 7. Chưa rũ sạch ham muốn (s:anta).
yếm, yểm
Satiated; weary of; disgusted with. Also Chán.
yến
1) Bữa tiệc—A banquet. 2) Dễ chịu: At ease. 3) Nghỉ ngơi: To repose.
Yến cư 燕居
[ja] エンキョ enkyo ||| To be relaxed; at ease. => Thanh thản, thoải mái.
yến mặc
Yên bình và trầm mặc—Peaceful and silent.
Yến mặc 宴默
[ja] エンモク enmoku ||| The maintenance of verbal silence along with the practice of meditation, as is carried out by certain monks and nuns within the monastic training system (pratisaṃlayana). => Duy trì sự nhớ thầm cùng với công phu toạ thiền mà một số tăng ni trong tự viện thực hành.
Yến toạ 宴坐
[ja] エンザ enza ||| Also written 燕坐. 宴 (yan) means ease or comfort. To sit at ease. To sit quietly. Sitting meditation (zazen). To do zazen. To do basic quiet meditation, clearing the mind of external distractions (nisdya). => Còn viết là 燕坐. Yến có nghĩa là thoải mái, tiện nghi. Ngồi thong thả. Ngồi tĩnh lặng. Tĩnh toạ (zazen). Ngồi thiền. Thực hành pháp tĩnh toạ căn bản, thanh tịnh tâm ý thoát khỏi sự xao nhàng do ngoại cảnh (s: nisdya).
yến tịch
Silent, quiet.
; Yên lặng mà thị tịch, chỉ cái chết nhẹ nhàng như nằm ngủ vậy—To enter into rest, to die peacefully as if in a sleep.
Yến tịch 宴寂
[ja] エンジャク enjaku ||| Serene quiescence; peaceful tranquility. 〔法華經 T 262.9.26c16〕 => Sự tĩnh lặng, sự an tĩnh.
yến tọa
Sitting silently.
; Ngồi hay tọa thiền (theo Thiên Thai Duy Ma Kinh Sớ, yến tọa như rùa rút vào mai, thú vật khác không làm hại được. Biết co rút luc thức thì ma lục trần không thể gây phiền não được)—To sit in meditation.
Yến 宴
[ja] エン en ||| (1) Rest, quiet, repose. (2) A feast, a banquet, to entertain. => 1. Nghỉ ngơi, yên lặng, thư thái. 2. Bữa tiệc. Tiệc lớn, chiêu đãi.
yết
1) Giở lên—To lift up—To uncover. 2) Yết thị: To make known—To publish.
yết bàn đà
Khavandha (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Yết Bàn Đà là một vương quốc và thành phố cổ, bây giờ là Kartchou, về phía đông nam của hồ Sirikol—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Khavandha is an ancient kingdom and city, modern Kartchou, south-east of the Sirikol Lake.
yết bố la
Karpura (skt)—See Kiết Bố La.
yết chức
Gachi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Yết Chức là một vương quốc cổ nằm giữa Balkh và Bamian, vào khoảng Rui—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Gachi is an ancient kingdom between Balkh and Bamian, about Rui.
yết dăng yết la
Kajinghara or Kajingala or Kajughira (skt)—Vương quốc Yết Dăng Yết La mà gia đình hoàng tộc bị tiêu diệt vào khoảng năm 400 sau Tây Lịch. Những phế tích kinh đô của vương quốc nầy hãy còn tại làng Kadjeri, gần Farakhabad, thuộc tỉnh Agra—A kingdom whose ruling family was extinct in 400 AD. The ruin of the capital are situated at the village of Kadjeri, near Farakhabad, in the province of Agra.
yết kiến
To have an interview with a higher ranking official.
yết kê đô
Karketana (S)Một loại ngọc hay thủy tinh.
yết la ha thần
Graha (S)Nga la ha, Nghiệt la ha1- Thần ngang ngạnh, bướng bỉnh. 2- Loài quỷ gá vào thân người không chịu xa.
yết la la
Kalala (skt)—See Yết La Lam.
yết la lam
Kalala (skt)—Yết La La—Ca La La—Thai nhi trong giai đoạn bảy ngày đầu—The human embryo during the first seven days.
yết la nã tô phạt lặc na
Karnasuvarna (skt)—Một vương quốc cổ củøa Gundwana trong vùng Gangpoor, phía Nam Ấn Độ (một số các nhà sư ở đây tu theo phái Chánh Lượng Tiểu Thừa của Đề Bà Đạt Đa, không ăn phó sản làm bằng sữa bò)—An ancient kingdom of Gundwana, the region about Gangpoor, south of India.
yết la xá
Kalasa (skt)—Bình đựng nước—A water-pot—Pitcher—Jar.
yết lan đạt ca
Kalandaka (skt)—Một loài chim ở Ấn Độ—A species of bird in India.
yết lí li xá
Xem Sư tử Phát.
yết lăng già
Kalinga (skt)—Ca Lăng Già. 1) Một vương quốc cổ nằm về phía Đông Nam của Kosala, nơi đào tạo và nuôi dưỡng những tông phái tà giáo, bây giờ là Kalingapatnam—An ancient kingdom southeast of Kosala, a nursery of heretical sects, the present Kalingpatnam. 2) Ca Lăng Tần Già: Một loại chim có giọng hót rất hay—Name of Kalavinka, a species of bird which sings very well.
yết lạc ca lưu đà
Krakucchanda (skt)—Câu Lưu Tôn Cổ Phật—A Buddha of previous age of the world.
yết lạp bà
Karaphu or Kalahu (skt)—Yết Lạp Phược—A particular higher number. 1) Một số cao đặc biệt: A particular high number. 2) Tiểu yết Lạp Bà: Ten quintillion (one hundred million billion trilion=1030 ). 3) Đại Yết Lạp Bà: One hundred quintillion (1032 =Ten thousand million billion trillion).
yết lộ trà
Garuda (skt)—Ca Lâu La—Chim thần thoại mà Tỳ Ni Thiên trong huyền thoại Ấn Độ cưỡi—The mytical bird on which Visnu rides. ** For more information, please see Garuda in English-Vietnamese Section.
yết lợi ha bạt để
Grhapati (skt). 1) Trưởng lão: An elder. 2) Cư sĩ: Householder. 3) Địa chủ: Proprietor—Landlord.
yết lợi sa bát
Đồng tiền nặng khoảng 176 hạt (1 hạt=0,0648 grams)—A coin weighing around 176 grains (11.41grams).
yết lợi vương
Kaliraja (skt)—Là một tiền kiếp của Kiều Trần Như, khi làm vua ông đã từng cắt tay chân của một vị ẩn sĩ khi những thứ thiếp của ông bị lạc vào lều của vị ẩn sĩ nầy. Ông đã chuyển sang quy-y Tam Bảo vì sự nhẫn nhục đến lạnh lùng của vị ẩn sĩ, người ta tiên đoán sau nầy ông trở thành đệ tử Phật—A former incarnation of Kaundinya, when as king he cut off the hands and feet of Ksanti-rsi because his concubines had strayed to the hermit's hut. Converted by the hermit's indifference, it was predicted that he would become a disciple of Buddha.
Yết Ma
(羯磨): tức Yết Ma A Xà Lê (s: karmācārya, p: kammācarya, 羯磨阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê (敎授阿闍梨). Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Di Sa Tắc Bộ Hòa Ê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 16 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、敎授阿闍梨、羯磨阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Yết Ma A Xà Lê còn gọi là Yết Ma Sư (羯磨師), Yết Ma Giới Sư (羯磨戒師); là vị A Xà Lê hướng dẫn cho Giới Tử trong giới đàn cách thức Yết Ma xin cầu giới pháp, v.v. Cho nên, trong Ngũ Phần Luật quyển 16 nêu trên có giải thích rõ vai trò của vị này như sau: “Thọ Cụ Túc giới thời vi tác Yết Ma, thị danh Yết Ma A Xà Lê (受具足戒時爲作羯磨、是名羯磨阿闍梨, tác pháp Yết Ma khi thọ Cụ Túc giới, đó gọi là Yết Ma A Xà Lê).” Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Yết Ma A Xà Lê; cùng với vị Giáo Thọ A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) làm Yết Ma A Xà Lê, như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có ghi rằng: “Phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê (奉請文殊師利龍種上尊王佛作羯磨阿闍梨, cung thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê).” Trong phần Thỉnh Giới Sư Pháp (請戒師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Yết Ma A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Yết Ma A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc Giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲羯磨阿闍梨、願大德爲我作羯磨阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Yết Ma A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Yết Ma A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc Giới).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 có đoạn rằng: “Yết Ma A Xà Lê linh đệ tử ư Bắc môn diện hướng đàn, hữu tất trước địa hồ quỳ hiệp chưởng (羯磨阿闍梨令弟子於北門面向壇、右膝著地胡跪合掌, Yết Ma A Xà Lê bảo đệ tử nơi cửa Bắc mặt hướng về đàn tràng, đầu gối phải chấm đất, quỳ xuống chấp tay).”
; (羯磨): tức Yết Ma A Xà Lê (s: karmācārya, p: kammācarya, 羯磨阿闍梨), là tên gọi của một trong Tam Sư (三師), gồm Giới Sư (戒師, tức Đàn Đầu Hòa Thượng [壇頭和尚]), Yết Ma A Xà Lê (羯摩阿闍梨) và Giáo Thọ A Xà Lê (敎授阿闍梨). Hay là một trong 5 loại A Xà Lê, như trong Di Sa Tắc Bộ Hòa Ê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律, Taishō Vol. 22, No. 1421) quyển 16 có nêu rõ là: “Hữu ngũ chủng A Xà Lê, hữu Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê (有五種阿闍梨、有出家阿闍梨、敎授阿闍梨、羯磨阿闍梨、受經阿闍梨、依止阿闍梨, có năm loại A Xà Lê, có Xuất Gia A Xà Lê, Giáo Thọ A Xà Lê, Yết Ma A Xà Lê, Thọ Kinh A Xà Lê, Y Chỉ A Xà Lê).” Yết Ma A Xà Lê còn gọi là Yết Ma Sư (羯磨師), Yết Ma Giới Sư (羯磨戒師); là vị A Xà Lê hướng dẫn cho Giới Tử trong giới đàn cách thức Yết Ma xin cầu giới pháp, v.v. Cho nên, trong Ngũ Phần Luật quyển 16 nêu trên có giải thích rõ vai trò của vị này như sau: “Thọ Cụ Túc giới thời vi tác Yết Ma, thị danh Yết Ma A Xà Lê (受具足戒時爲作羯磨、是名羯磨阿闍梨, tác pháp Yết Ma khi thọ Cụ Túc giới, đó gọi là Yết Ma A Xà Lê).” Tiểu Thừa Giới thì lấy vị thầy hiện tiền làm Yết Ma A Xà Lê; cùng với vị Giáo Thọ A Xà Lê có giới lạp phải từ 5 tuổi trở lên. Đối với Đại Thừa Viên Đốn Giới (大乘圓頓戒) thì cung thỉnh đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利) làm Yết Ma A Xà Lê, như trong Thọ Bồ Tát Giới Nghi (受菩薩戒儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1085) có ghi rằng: “Phụng thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật tác Yết Ma A Xà Lê (奉請文殊師利龍種上尊王佛作羯磨阿闍梨, cung thỉnh Văn Thù Sư Lợi Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật làm Yết Ma A Xà Lê).” Trong phần Thỉnh Giới Sư Pháp (請戒師法) của Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) quyển Thượng có đoạn rằng: “Đại Đức nhất tâm niệm, ngã mỗ giáp, kim thỉnh Đại Đức vi Yết Ma A Xà Lê, nguyện Đại Đức vị ngã tác Yết Ma A Xà Lê, ngã y Đại Đức cố, đắc thọ Cụ Túc giới (大德一心念、我某甲、今請大德爲羯磨阿闍梨、願大德爲我作羯磨阿闍梨、我依大德故、得受具足戒, Đại Đức một lòng ghi nhớ, con tên là …, nay cung thỉnh Đại Đức làm Yết Ma A Xà Lê, cúi mong Đại Đức vì con làm Yết Ma A Xà Lê, vì con nương vào Đại Đức, được thọ Cụ Túc giới).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 có đoạn rằng: “Yết Ma A Xà Lê linh đệ tử ư Bắc môn diện hướng đàn, hữu tất trước địa hồ quỳ hiệp chưởng (羯磨阿闍梨令弟子於北門面向壇、右膝著地胡跪合掌, Yết Ma A Xà Lê bảo đệ tử nơi cửa Bắc mặt hướng về đàn tràng, đầu gối phải chấm đất, quỳ xuống chấp tay).”
yết ma
Karmadāna (S)Kiết ma, Duy na, Thứ đệ, Kiết ma đà na, Duy Na Yết Ma, Tri sựVị tam sư, có nhiệm vụ thi tác nghi lễ, phép tắc. Cũng còn gọi là Duy na sư Kiết ma, là một trong am cương: Thượng tọa, Duy na, Điển tọa.
; Karmadana (S).
; 1) Nghiệp: Tác nghiệp dẫn đến những điều kiện trong tương lai—Karma (skt)—Action—Work—Deed—Performance—Service—Duty—religious action—Moral duty—Deeds or character as the cause of future conditions. 2) Một buổi họp hay nghi thức tuyên cáo thụ giới, sám hối, hay trục xuất ra khỏi giáo đoàn những người phạm tối “bất khả hối.”—A meeting of the monks for the purpose of ordination, or for the confession of sins and absolution, or for expulsion of the unrepentant. ** For more information, please see Karma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Nghiệp in Vietnamese-English Section.
yết ma ba la mật bồ tát
Xem Nghiệp Ba la mật Bồ tát.
yết ma hội
Thành Thân Hội—Căn Bản Hội. 1) Hội tăng chúng trong sinh hoạt tự viện: An assembly for monastic duty 2) Nhóm trung tâm của Kim Cang giới Mạn Đà La: The central group of the vajradhatu Mandala. ** For more information, please see Thành Thân Hội.
yết ma thân
Hình tượng, một từ được dùng bởi Mật Giáo—An image, a term used by the esoterics.
yết ma tăng
1) Một chúng gồm bốn vị Tỳ Kheo trở lên: A monastery assembly, usually composed of four or more monks. 2) Vị Tăng Yết Ma Thiền tập hay vị Tăng hướng dẫn buổi tọa thiền: A monk on duty in a meditation.
yết ma đà na
Karmadana (skt)—Duy Na—Vị sư làm việc tạp dịch trong chùa—The director of duties in a monastery.
yết ma ấn
Hình ảnh nói lên biểu tượng tu hành của một vị Bồ tát—An image showing the symbol of a bodhisattva's activity.
yết nhã cúc xa
Kanyakubja (skt)—Nước thành Khúc Nữ, ở miền Trung Ấn Độ. Thành phố lớn sau Ayodhya, gần Ayodha mà bây giờ là Oudh—“Hump-backed maidens.” An ancient city and kingdom of Central India. In antiquity this city ranks next to Ayodhya in Oudh
yết ni ca
Kanaka (skt)—See Kiết Ni Ca.
yết nô bộc
Kanabhuj (skt)—See Kiết Nô Bộc.
yết sĩ la
Khattika (skt)—See Yết Sĩ Na.
yết sĩ na
Khattika (skt)—Yết Xĩ La—Già Hy Na—Cẩu Nhân—Theo Du Già Luận, người Yết Sĩ Na thuộc giai cấp Chiên đà la, người có căn bản xấu ác, nương chấp theo cái ác—According to the Yogacara, Khattika, a Candala, always attached to the bad deeds.. 1) Đoán Ngục Quan: Quan coi ngục—Lictors in hades. 2) Người nấu thịt chó: Cẩu Nhân—Dog-cookers. 3) Người bán thịt heo: Butchers. 4) Thợ Săn: Hunters. 5) Những kẻ sống bằng nghề giết và bán thịt thú vật: Those who live by killing and selling animals. 6) Người thuộc giai cấp hạ tiện: Persons of very low classes.
yết sương na
Kasanna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Yết Sương Na, một vương quốc cổ khoảng 300 dậm tây nam Kharismiga, bây giờ là Karshi—According o Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kasanna, an ancient kingdom 300 miles southwest of Kharismiga, on the Oxus, the present Koorshi or Karshi.
yết tra bố đảm na
Kataputana (skt)—Một loại Xú Quỷ (có mùi hôi thúi) hay ngạ quỷ nơi hạ giới—A kind of ill-smelling demon or a preta in the lower region.
yết tỳ ca la
Kalavinka (skt)—Yết Tỳ Già La—Ca Lăng Tần Già—Tên một loài chim—Name of a species of bird.
yết tỳ già la
See Yết Tỳ Ca La.
yết đà bố đảm na
Kataputana (skt)—See Kiết Đà Bố Đảm Na.
yết đăng yết la
Kajangala (S).
yết đế
Gati (skt)—See Yết Để.
Yết đế 掲帝
[ja] ガテイ gatei ||| (gate). A transliteration of the Sanskrit. To go. => (s: gate).Phiên âm tiếng Sanskrit. Nghĩa là đi.
yết để
Gati (skt)—Một con số thật cao—A particular high number.
yết địa lạc ca
Khandiraka (skt)—See Kiết Địa Lạc Ca.
Yết 掲
[ja] ガ、ケイ ga, kei ||| (1) To lift high; to hang. To put up; hoist. (2) To be high. (3) Used for transliteration of Sanskrit ga sound. => 1. Nhấc lên; treo lên. Đưa ra, nhấc bổng lên. 2. Ở trên cao. 3. Dùng để chú âm ga trong tiếng Sanskrit.
yết-ma
(羯磨), phiên âm từ Phạn ngữ là karma, dịch là tác pháp, là hình thức phán xét tập thể, do chúng tăng nhóm họp (thường ít nhất cũng phải từ 4 vị trở lên) mà xem xét đưa ra quyết định tùy theo từng trường hợp.
Yết-ma 羯磨
[ja] カツマ コンマ katsuma kyarama konma ||| (1) [katsuma kyarama] A transription of the Sanskrit karman, therefore deed, action, activity (業、作、事). (2) A ceremony in which one vows to observe the precepts. (3) A ceremony in which one confesses one's transgressions of the rules of discipline. (4) [konma] Proceedings, ritual or ceremony performed by an authoritative clerical group. In the above four senses, it is usually a technical term used by the Vinaya schools. (5) An abbreviation of the esoteric school technical term 羯磨金剛. katsuma kyarama konma (k); katsuma kyarama (j); => 1. Phiên âm chữ karman từ tiếng Sanskrit, có nghĩa là nghiệp, việc làm, hành vi (nghiệp業, tác 作, sự 事). 2. Là nghi thức mà giới tử phát nguyện để thọ trì giới. 3. Là nghi thức mà tăng sĩ sám hối về giới luật mình đã phạm. 4. [konma] Tiến trình nghi thức được cử hành bởi chư tăng có thẩm quyền (để giải quyết những vấn đề có liên quan đến sự tu tập của tăng chúng). Trong 4 nghĩa nêu trên, thường là thuật ngữ chuyên môn được dùng trong Luật tông. 5. Viết tắt một thuật ngữ chuyên môn của Mật tông là Yết-ma Kim cương 羯磨金剛.
yếu
1) Yếu đuối: Feeble—Weak. 2) Trọng yếu: Essential—Important—Necessary—Strategic—Need—Want.
yếu chỉ
Nghĩa lý hay mục tiêu quan trọng và thiết yếu—The important meaning or aim.
yếu diệu
Phật pháp thiết yếu và vi diệu—Essential and mystic nature (of Buddha truth).
yếu hành
Phương pháp tu tập quan trọng—The essential mode of action, or conduct.
yếu hèn
To be weakling.
yếu kém
Weak and frail
yếu lộ
Yếu Đạo—The essential or strategis way.
yếu môn
Essential door, or opening.
yếu nguyện
Sarvasa (S)Lời nguyện quan trọng.
yếu ngôn
Important, or essential words.
Yếu Pháp Tự
(要法寺, Yōbō-ji): một trong 7 ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Shintakakura-dōri (新高倉通), Sakyō-ku (左京區), Kyoto-shi (京都市); hiệu là Đa Bảo Phú Sĩ Sơn (多寶富士山), thông xưng là Chùa Tùng. Người khai cơ chùa là Nhật Tôn Thượng Nhân (日尊上人), pháp đệ của Nhật Hưng (日興). Năm kiến lập chùa là 1308 (Diên Khánh [延慶] nguyên niên) hay 1312 (Chánh Hòa [正和] nguyên niên), được gọi là Thượng Hành Viện (上行院). Trong khoảng niên hiệu Trinh Hòa (貞和, 1345-1350), đệ tử của Nhật Tôn là Nhật Đại (日大) mới tách riêng khỏi chùa này và sáng lập ra Trú Bổn Tự (住本寺); trong vụ Loạn Pháp Hoa Thiên Văn thì chùa bị đốt cháy tan tành, nên ông mới hợp chung cả hai chùa lại, lấy tên là Yếu Pháp Tự. Trong khoảng niên hiệu Thiên Chánh (天正, 1573-1592), thể theo mệnh lệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), chùa được chuyển về phía Bắc của Kinh Cực Nhị Điều (京極二條); rồi đến năm 1708 thì lại bị cháy lần nữa, và cuối cùng chùa được dời về vị trí hiện tại. Vào năm 1770 (Minh Hòa [明和] 7), ngôi Chánh Điện được xây dựng lại rất tráng lệ, rồi đến Khai Sơn Đường, Khách Điện, Thư Viện, Pháp Bảo Tàng, Kinh Tàng, Nhà Lầu Chuông, v.v. Trong khuôn viên chùa có khá nhiều cây tùng to lớn, đặc biệt là loại Ngọa Long Tùng (臥龍松) rất nổi tiếng.
yếu sức
Weak.
yếu thế
To be in a bad position.
yếu tố
Factor—Element.
yếu tố tinh thần
Mental factors
yếu tố vật chất
Physical factors (elements).
yếu văn
Những văn bản trọng yếu—The important text or texts.
yếu đuối
Frailty—Delicate—Feeble—Weak.
yếu đuối của con người
Human frailty
yếu đạo
See Yếu Lộ.
yếu ớt
See Yếu (1).
yểm
Che dấu—To cover with the hand, to screen, or to shut up.
yểm mị quỷ
Xem Kiết bàn trà.
; Cưu Bàn Trà—Kumbhanda (skt)—Một loài ác thần chuyên hút hết sinh lực của sinh vật, kể cả con người—A type of evil god that sucks the life energy from living creatures, including humans.
yểm sắc
Che mặt người chết—To cover the form, or face, i.e. the death of the Buddha, or a noted monk, referring to the covering of the face.
yểm thất
Đóng chặt cửa để ngồi thiền như Đức Phật đã làm—To shut oneself in a room, as did the Buddha for meditation.
yểm trợ
To support.
yểm vọng
Hopeful.
yểm độ
Lấp đất lại hay chôn người chết—To inter, or to bury.
Yển Khê Quảng Văn
(偃溪廣聞, Enkei Kōmon, 1189-1263): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Yển Khê (偃溪), xuất thân Huyện Hầu Quan (候官縣), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lâm (林). Năm lên 18 tuổi, ông thọ giới Cụ Túc tại Uyển Lăng Quang Hiếu Tự (宛陵光孝寺), rồi đến tham học với Thiết Ngưu Ấn (鐵牛印). Sau đó, ông theo hầu Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰) ở Thiên Đồng (天童), nhân nghe câu chuyện rửa bát của Triệu Châu (趙州) mà dứt hết mối nghi ngờ và đại ngộ. Vào năm đầu (1228) niên hiệu Thiệu Định (紹定), ông bắt đầu tuyên xướng tông phong của mình ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺) thuộc Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang). Từ đó về sau, ông sống qua một số chùa như Hương Sơn Trí Độ Tự (香山智度寺), Quảng Lợi Tự (廣利寺) trên A Dục Vương Sơn (阿育王山), Linh Ẩn Tự (靈隱寺), v.v. Ông được ban cho thụy hiệu là Phật Trí Thiền Sư (佛智禪師). Vào ngày 14 tháng 6 năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 58 hạ lạp. Ông có để lại bộ Yển Khê Hòa Thượng Ngữ Lục (偃溪和尚語錄) 2 quyển.
yểu
Ma thuật—Magical—To bewitch.
yểu mệnh
Mandayus (S), short-lived.
yểu thông
Năng lực biến hình đổi dạng thành cây cỏ hay thú vật—The power to change miraculously into trees and animals. ** For more information, please see Ngũ Thông.
yểu điệu
Graceful.
á
1) Câm—Eda (skt)—Dumb—Deaf and dumb. 2) Câm và điếc: Edamuka (skt)—Deaf and dumb, unable to express oneself. 3) Thứ yếu: Inferior. 4) Hạng nhì: Second. 5) Phụ: Secondary.
; (啞) Tiếng dùng trong Thiền lâm I. Á. Tiếng dùng đối với kẻ học giả, khi muốn diễn tả một điều gì đó mà mình tâm đắc, nhưng dùng hết lời mà vẫn không diễn tả được, hoặc là biểu thị chân lí Phật pháp khó có thể dùng ngôn ngữ mà diễn đạt được. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 504 thượng), nói: Sư hỏi Hạnh sơn: Thế nào là trâu trắng ở chỗ đất trống? Sơn trả lời: Hồng hồng. Sư nói: Á na!. II. Á.Biểu thị tiếng cười, tiếng chim kêu. Còn nói là á á. Bích nham lục, tắc 14 (Đại 48, 154 hạ), nói: Dưới cây Diêm phù cười ha ha, đêm qua rồng đen bẻ gãy sừng. (Chẳng ngăn rồng đen bẻ gãy, có ai thấy không? Lại có ai chứng minh không? Á!)
á dương
A dumb sheep.
á dương ngoại đạo
Một loại ngoại đạo mà giáo đồ của họ tin rằng câm như dê chẳng nói một lời là phép tu thắng hành sẽ đưa họ về thượng giới—A kind of heretic sect, of which followers believe that to be as dumb as a sheep they can go to heaven.
; (啞羊外道) Một loại ngoại đạo ở Ấn-độ. Ngoại đạo này cho rằng, trong các pháp môn tu hành, pháp môn không nói, như con dê câm, là ưu việt hơn cả. Tứ Phần Luật hành sự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 133 trung), nói: Tăng kì nhận sự lễ lạy của người, không được lặng thinh như con dê câm. Hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 3 (Đại 40, 397 trung), nói: Có kẻ ngoại đạo á dương (dê câm) tu pháp môn không nói, đời có kẻ cho tu pháp môn ấy là hạnh cao nhất, nên bỏ ngay pháp môn ấy của ngoại đạo.
á dương tăng
Một gian đạo sĩ ngu đần như con dê câm, không biết tốt xấu, cũng không biết sám hối tội lỗi—A dumb sheep monk who is stupid and does not know good from bad, nor enough to repent of sin.
; (啞羊僧) Tăng dê câm. Phạm: Eđamùkasaôgha. Chỉ tăng ngu si. Là một trong bốn loại tăng. Á dương (dê câm), thí dụ người chí ngu. Cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 3 chép, thì Á dương tăng tuy không phá giới, nhưng ngây dại không có trí, không có sức hăng hái tiến tới, không phân biệt được xấu tốt, không biết khinh trọng, không biết có tội hay không tội, nếu có việc tăng, hai người cãi nhau, không có khả năng quyết đoán, lặng thinh không nói. Ví như con dê trắng, dù có bị giết cũng không thể kêu thành tiếng, vì thế gọi là Á dương tăng. Lại Căn Bản Tát Bà Đa Bộ Luật Nhiếp quyển 7, thì bảo á dương tăng là người không có khả năng hiểu ba tạng. (xt. Tứ Chủng Tăng).
á hê xiết đát la quốc
Ahicchatra (skt)—Còn gọi là A Đam Xa Đa La, một kinh đô của vương quốc cổ nằm trong vùng trung Ấn—A citadel of an ancient kingdom in Central India.
á lịch sơn đại
(亞歷山大) (ALEXANDER THE GREAT; 356tr. T.L - 323 tr. T.L) Là quốc vương của Macedonia thuộc miền bắc Hi Lạp vào thế kỉ thứ tư trước Tây lịch. Giết cha chiếm ngôi. Vào khoảng năm 334 đến 331 trước Tây lịch, ông liên tiếp chinh phục Tiểu Á Tế Á, Syria, Ai Cập và Ba Tư. Năm 326 trước Tây lịch (năm thứ 43 đời Chu Hiển Vương), ông vượt sông Ấn Độ để đánh nước Ấn, vua nước Tháp Khắc Tây Lạp (Taxila) ra xin hàng. Họ Á lại đánh bại nước Phổ Lỗ (Purus), rồi thúc quân tiến tới phía đông, thẳng đến đông bộ Tỉ A Tư (Beas), tới đây, quân binh không chịu tiến thêm nữa, nhà vua bèn quay về Tây. Năm 323 trước Tây lịch, về đến thành Ba Tỉ Luân (Babylon) chưa được bao lâu thì chết. Họ Á vốn muốn dung hợp văn minh và dân tộc Đông Tây, tạo dựng một thời đại Hi Lạp hóa, nhưng vì mất sớm, nên cái kế hoạch định sáp nhập tỉnh Bàng Già Phổ (Punjab) vào bản đồ Đế quốc nửa chừng bị bỏ dở. Sau khi Á Lịch Sơn chết, đế quốc bị các bộ hạ chia cắt, chính quyền đã được thiết lập ở Ấn Độ liền tiêu diệt, trong các thư tịch của Ấn Độ cổ đại, không thấy có một chữ nào nói đến việc họ chinh phục Ấn Độ.
á phi
Afro-Asian.
á pháp
Pháp câm điếc, không thể tuyên lưu được—The doctrine of a deaf and dumb person, which he cannot proclaim.
; (啞法) Chỉ phương pháp tu hành cấm khẩu, là phương pháp tu hành của ngoại đạo. Nếu đệ tử của Phật mà tu hành pháp ấy thì cũng đồng như ngoại đạo, bị luật pháp Tiểu thừa cấm chỉ. Tứ Phần Luật Yết Ma Sớ Tế Duyên Kí quyển 21 (Vạn tục 64, 492 hạ), nói: Thập tụng chép: nếu thụ Á pháp thâu lan thì đồng như ngoại đạo, (...) trong Tăng Kì không được thụ pháp cấm khẩu, nếu cần có chút việc phương tiện, thì chỉ được cấm khẩu đến nửa tháng, sau đó, đến giờ bố tát, phải nói năng, thăm hỏi, hỏi việc, đáp việc, chú nguyện v.v... Xong bố tát rồi, tiếp tục nói năng. Nếu kiêu mạn giận tức mà không nói, là người phạm luật. Nếu để chiết phục sự kiêu mạn của người trẻ tuổi, thì cho phép được mười lăm ngày không cùng nói năng với người đó, nhưng đến ngày bố tát thì lại được nói. Song, Đại thừa thì không cấm. [X. luật Thập Tụng Q.23; luật Tứ phần Q.37; luật Ngũ phần Q.19].
á thánh
Bậc Thánh hàng thứ hai—Saint of second degree.
á tuế
(亞歲) Tức đông chí. Hàm ý là sắp đến năm mới. Lúc đầu, khoảng đời Ngụy Tấn, từ ngày ấy trở đi, triều đình bắt đầu cử hành các nghi thức lớn để mừng năm mới sắp đến. Về sau, trong Thiền lâm, vào ngày ấy cũng cử hành các pháp hội lớn; chuẩn bị cho thời bỉnh phất (thời thuyết pháp của vị trụ trì), tổng kiểm sát các việc trong chùa và sửa soạn trai nghi cúng dường đại chúng, gọi là Đông trai. [X. Thiền Uyển Thanh Qui quyển 3 giám viện; Tùng Lâm Hiệu Định Thanh Qui Tổng Yếu quyển hạ tứ tiết thổ địa đường niệm tụng].
á tử đắc mộng
(啞子得夢) Người câm được mộng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là người câm không thể kể lại những điều mình thấy trong mộng cho người khác nghe được; trong Thiền lâm, từ này được chuyển dụng để thí dụ người học đạo không thể dùng lời nói để diễn tả cái cảnh giới mà chính mình đã thể ngộ cho người khác biết. Cứ theo Vô môn quan chép, thì Vô môn nói rằng (Đại 48, 293 thượng): Hãy tham cứu chữ Vô đi, ngày đêm không dời, đừng hiểu là hư vô, đừng hiểu là hữu vô. Cũng giống như nuốt viên sắt nóng, khạc cũng không khạc ra được. Tẩy cho sạch hết những cái hiểu biết sai lệch trước kia, lâu lâu thuần phục, tự nhiên trong ngoài đả thành nhất phiến (tự nhiên chủ thể và đối tượng hợp làm một). Như người câm được mộng, chỉ tự mình biết. Đoạn văn trên đây biểu thị đem tâm truyền tâm, lời nói chẳng kịp, ý nghĩ chẳng tới, quyết không phải việc có liên quan đến môi mép của kẻ khác. Đồng nghĩa với các câu nói như: người câm ăn hoàng liên, người câm ăn mướp đắng, lạnh nóng tự biết v.v... Á tử, còn nói là Á hán (gã câm).
ác
Pharusa (P).
; Akuśala (S), Unwholesome, Parusā (S), Fierce Pharusa (P), Akuśala (P)Bất thiệnKusala: Thiện.
; Agha (S). Bad, evil, wicked, hateful; to hate, dislike.
; Agha (skt). 1) Hành vi trái đạo lý (sẽ chuốc lấy khổ báo trong hiện tại và tương lai): Bad—Wrong—Cruel—Mischievous act—Evil—Wicked deeds which are against the right. 2) Làm điều ác: To do mischief.
; (惡) Ác. Phạm, Pāli: Pàpa. Là một trong ba tính. Đối lại với thiện, vô kí, và đồng nghĩa với bất thiện (Phạm:Akuzala, Pāli: Akusala). Tức các pháp bất thiện và các việc làm với ý nghĩ xấu, có khả năng đưa đến quả khổ. Tính chất của nó bao quát sự trái lí, trái phép, tổn hại mình và người, tương ứng với các phiền não tham, sân, làm chướng ngại Thánh đạo. Luận Câu Xá quyển 16 (Đại 29, 84 trung), nói: Vì cái đó có thể dẫn đến quả phi ái (không ưa thích), bị người thông minh ghét bỏ, làm điều đó tức là ác, cho nên gọi là ác hành.Thiện (Pāli: Puĩĩha), tức việc làm thiện đưa đến cảnh giới thiện, trái lại, ác thì phá hoại tất cả phẩm cách nhân luân trật tự, tâm ý và hành vi. Cứ theo Kinh tập (Pāli: Suttanipàta) kệ 407 nói, đức Thế Tôn xuất gia là để tránh xa những ác nghiệp do thân tạo tác, vứt bỏ những ác hành do khẩu tạo tác mà sống cuộc đời thanh tịnh, cho nên, ác nghiệp, ác hành thật có quan hệ mật thiết với đời sống nhân loại. Ngoài các ác hành do thân, khẩu tạo tác ra, đời sau lại thêm các ác nghiệp do ý thức tạo tác, mà thành mười loại ác nghiệp thân ba, miệng bốn, ý ba. Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương phẩm Mộng Kiến Kim Cổ Sám Hối (Đại 16, 412 trung), nói: Thân ba miệng bốn thứ, ý nghiệp cũng có ba, trói buộc các hữu tình, từ xưa luôn tiếp nối, do ba loại hành ấy, tạo thành mười ác nghiệp. Mười ác nghiệp là giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời ác, nói thêu dệt, tham muốn, giận tức, tà kiến, thường được đề cập song song với năm tội nghịch là: hại mẹ, hại cha, hại A la hán, phá tăng, ác tâm làm cho thân Phật chảy máu. Kinh Vô Lượng Thọ có sớm hơn kinh Kim Quang Minh, cho nên chỉ nói có năm điều ác là giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối và uống rượu, đây tức là nguồn gốc của năm giới. Phật giáo cho các hành vi phá hoại trật tự nhân luân là ác nghiệp và nói như thế đã lâu lắm rồi, cho nên, đó là tư tưởng nhất quán từ Phật giáo Nguyên thủy cho đến Phật giáo Đại thừa. [X. kinh Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp Q.hạ; luận Đại Tì Bà Sa Q.112; luận Câu Xá Q.14, Q.16; Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn Q.thượng; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.7]. (xt. Thiện, Bất Thiện). II. Ác. Chữ (a#) Tất Đàm, hoặc gọi là chấm Niết Bàn. Một trong 12 nguyên âm của mẫu tự Tất Đàm, một trong 50 chữ cái. Là chữ A chuyển biến lần thứ tư trong năm lần chuyển biến, tức thêm hai cái . vào bên cạnh chữ A không chuyển (chữ A gốc). Đại Nhật Kinh Sớ quyển 14 (Đại 39, 724 thượng), nói: Nếu thêm hai cái chấm vào bên cạnh chữ A thì tức là tâm bồ đề đã trừ sạch các chướng mà được Niết Bàn. Theo nghĩa Đông nhân phát tâm của ngài Thiện Vô Úy (637-735), trong năm lần chuyển biến của chữ A phối với năm đức Phật, thì chữ A này tương đương với đức Thích Ca Như Lai ở phương Bắc. Chữ này là chủng tử của Bồ Tát Trừ cái chướng. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 10 giải thích chữ này theo hai nghĩa trừ bỏ, hàng phục. Ngoài ra, theo kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4, thì chữ này có các nghĩa: diệt mất (Phạm: Astaô-gamana), diệt mất hết, xa lìa v.v... [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.8; kinh Đại Nhật Q.5 phẩm Bố Tự; kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng phẩm Tự Mẫu; Du Già Kim Cương Đính Kinh phẩm Thích Tự Mẫu; Lí Thú Thích Q.thượng; Đại Nhật Kinh Sớ Q.20; Tất Đàm Tạng Q.5, Q.6]. (xt. A Tự Ngũ Chuyển).
ác báo
Recompense for ill, punishment. To return evil.
; Punishment—Quả báo xấu (Kẻ làm việc ác phải nhận lấy ác báo)—Bad consequence—Recompense for ill—Gieo gió gặt bão—As a man sows, so shall he reap.
Ác bình đẳng
惡 平 等; J: akubyōdō;|Nghĩa là bình đẳng sai lầm, bất thiện; ác bình đẳng được dùng để chỉ sự hiểu sai về bình đẳng quan, cho rằng tất cả là một, là như nhau. Theo Thiền tông thì bình đẳng quan, sự chứng ngộ được sự bình đẳng của vạn vật là một cấp bậc tu chứng – nhưng nó cũng chỉ là một trong nhiều cấp bậc. Hành giả phải vượt qua nó để đạt được kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu hơn. Ai dừng bước tại đây vì quá ngỡ ngàng trước sự bình đẳng của vạn vật, mà quên đi cái dị biệt của chúng thì đó chính là ác bình đẳng.
ác bệ
Assaji (S)Mã Thắng, Mã Sư.
ác côn, ác đảng, ác đo
Brigands, bandits, malefactors, evil-doers, ruffians, hoodlums, hooligans.
ác cơ
(惡機) Ác, là nghĩa tổn hại; Cơ, chỉ căn cơ. Tức là những căn cơ của các hành vi trái lí gây tổn hại. Trong Ngu Thốc Sao quyển thượng, Tị tổ của Tịnh độ chân tông Nhật Bản là ngài Thân Loan, đã nêu ra bảy loại ác cơ: 1. Mười điều ác, tức giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lời ác, nói hai lưỡi, tham muốn, giận tức, ngu si. 2. Bốn tội nặng, tức tăng chúng phạm bốn giới cấm nặng: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối. 3. Phá kiến, tức phá hoại lí chính đạo. 4. Phá giới, tức phá hủy giới cấm. 5. Năm tội nghịch, tức giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng, làm cho thân Phật chảy máu. 6. Báng pháp, tức chê bai chính pháp. 7. Xiển đề, tức không có lòng tin và dứt hết thiện căn. Người ác cơ trên đây, trong khoảng một niệm, nếu được nghe và tin vào bản nguyện của Phật A Di Đà mà niệm danh hiệu của Ngài, thì cũng được Ngài cứu vớt. Giáo nghĩa của Mật tông cũng nói đến công năng cứu giúp kẻ ác cơ; cứ theo kinh Đà La Ni Tập chép, nếu có người phạm bốn tội nặng, năm tội nghịch, có thể trì được pháp này, đọc tụng một biến Đà La Ni, thì liền tiêu diệt hết các tội nặng căn bản. Lại cứ theo kinh Nhiếp Chân Thực quyển thượng phẩm Kim cương giới đại đạo tràng chép, người tạo nhiều ác nghiệp, gây nhân đọa địa ngục, tất cả các pháp khác đều không thể cứu được, duy chỉ có Kim Cương Giới Đại Mạn Đồ La Vô Thượng Pháp Môn mới có thể cứu hộ được.
ác cảm
Apathy Aversion.
; Ill-feeling—Aversion—Antipathy—Dislike.
ác danh
Bad (evil) repute or fame.
ác duyên
External conditions or circumstances which stir or tempt one to do evil.
; Điều kiện, hoàn cảnh, hay sự việc bên ngoài dụ dỗ hay khiến con người làm điều ác—Evil conditions—External conditions or circumstances which stir or tempt one to do evil.
ác dục
Bad intention.
ác giác
tư tưởng xấu ác. Xem ba loại tư tưởng xấu ác.
; Những suy nghĩ hay quán tưởng ngược lại với Phật pháp—Contemplation or thought contrary to Buddhist principles.
; (惡覺) Tư tưởng xấu ác. Có tám loại khác nhau. Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 5 phần cuối, nói: Lòng tà suy tưởng gọi là giác, trái với chính lí nên gọi là ác; ác và giác khác nhau, chia làm tám loại. Chỉ Quán quyển 5 phần bốn, nói: Tám ác giác, không thể vào được.
ác giả ác báo
Gieo gió gặt bão—As man sows, so shall he reap.
ác giới
1) Giới luật không thanh tịnh: Impure precepts. 2) Cảnh giới ác: Evil realms.
ác hiểm
Malicious—Devil-like.
ác hành
(惡行) Tức hành vi bất lương. Cũng là tên gọi khác của phiền não. Phật giáo đối với tất cả nghiệp bất thiện của thân, ngữ, ý, theo thứ tự gọi là thân ác hành, ngữ ác hành, ý ác hành. Trong tất cả ác hành, tội phá tăng là nặng nhất. [X. luận Câu Xá Q.16; Thập Địa Luận Nghĩa Kí Q.4 phần đầu]. (xt. Ác).
ác hạnh
Incorrect conduct.
ác hề sế đát la quốc
(惡醯掣呾邏國) Ác-hê-xế-đát-la, Phạm: Ahi-cchattra. Dịch ý là Xà cái, Xà triệt. Là tên một nước xưa thuộc trung Ấn Độ. Còn gọi là A-hỉ-xế-đa-la-quốc, A-lam-xa-đa-la-quốc. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 4 chép, thì nước Ác-hê-xế-đát-la rộng hơn ba nghìn dặm, đô thành rộng một trăm bảy mươi tám dặm, địa thế hiểm trở, trồng nhiều lúa mạch và có nhiều rừng suối. Trong nước, dân chúng thuần phác, mến đạo chăm học, có hơn mười ngôi chùa, tăng chúng hơn nghìn người, học tập giáo pháp của Chính Lượng Bộ Tiểu thừa, có hơn ba trăm người theo đạo khác, thờ trời Đại Tự Tại, là ngoại đạo Đồ khôi (lấy tro bôi lên mình). Cứ theo sử thi cổ đại của Ấn Độ là Đại Tự Sự Thi (Phạm: Mahàbhàrata, dịch âm là Ma-ha-bà-la-đa) chép, thì tên của nước này là Ban-xà-la (Pāli: Paĩcàla), nền cũ ở gần sông La-ma-hằng-ca (Ràmagagà), một nhánh của sông Hằng, nằm về phía tây Ba-lôi-lị (Bayeli) khoảng hai mươi chín cây số, hiện còn ba mươi hai ngôi tháp. [X. kinh Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Q.trung; luận Đại Trí Độ Q.3; Phiên phạm ngữ Q.8].
ác họa
Calamity, disater, catastrophe; scourge, plague, pest, curse, bane.
ác hữu
Evil or bad fiends Ác khẩu. Evil mouth, evil speech; a slanderous evil-speaking person. Ác kiến. Evil or heterodox views.
; Bạn bè xấu ác—Bad or wicked friends.
ác khí
(惡氣) Cái khí tức bực bứt rứt không lộ ra ngoài, cố kết trong lòng. Kinh Đại Vô Lượng Thọ quyển hạ nói: mang lòng độc hại ác khí sâu kín, là hàm trên. Ngoài ra, trong Thiền lâm, để đạt mục đích khiến người khác giác ngộ, dùng những lời nói với thái độ ác liệt, gọi là ác khí tức; khí tức là chỉ lời nói. [X. Đại Tuệ Phổ Giác Thiền Sư Thư Q.hạ].
ác khẩu
Pharusāvācā (P), Parusāvācā (S) Harsh wordsThô lỗ, Cục cằn.
; 1) Lời nói độc ác hay miệng độc ác (gây phiền não cho người): Slanderous, or evil mouth—Evil-speech. 2) Người nói lời độc ác: Evil-speaking person.
; (惡口) Một trong mười điều ác. Các nhà dịch mới dịch là Thô ác ngữ. Tức thốt ra những lời cục cằn thô lỗ, mắng nhiếc người khác. Cứ theo Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 7 chép, thì lời nói thô bỉ được coi là xấu ác, lời xấu ác từ miệng thốt ra, nên gọi là ác khẩu. Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn quyển thượng (Đại 46, 669 hạ), nói: Dùng lời nói ác nói với người, khiến người buồn bực, gọi là ác khẩu. Ngoài ra, kinh Pháp Hoa quyển 6 phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát chép: nếu dùng ác khẩu chửi mắng chê bai, thì người ấy sẽ bị tội báo lớn. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; luận Câu Xá Q.16].
Ác khẩu Xa-nặc
xem Xa-nặc.
ác kiến
Evil (heterodox, wrong or perverse) views—Ác kiến là kiến giải ác hay sự thấy hiểu xấu ác với những quan niệm sai lầm và cố chấp (sự suy lường điên đảo về tứ diệu đế làm ô nhiễm trí tuệ)—Wrong views mean seeing or understanding in a wrong or wicked and grasping manner. There are five kinds of wrong views 1) Thân kiến: Wrong views of the body. 2) Biên kiến: One-sided views. 3) Tà kiến: Wrong views which are inconsistent with the dharma. 4) Kiến thủ: Wrong views caused by attachment to one's own errouneous understanding. 5) Giới cấm thủ: Wrong views or wrong understandings of the precepts.
; (惡見) I.Ác kiến. Phạm: mithyà-dfwỉi. Còn gọi là Bất chính kiến. Nói tắt là Kiến. Là một trong trăm pháp do tông Pháp tướng lập ra, thuộc một trong sáu phiền não. Chỉ cái thấy biết quanh co xấu ác, cũng tức là cái thấy biết trái với chân lí Phật giáo. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 6 chép, ác kiến lấy sự hiểu biết nhơ nhuốm làm tính, có khả năng ngăn trở cái thấy biết tốt lành, kẻ có ác kiến chịu nhiều khổ não. Kiến tùy miên (Phạm: Dfwty-anuzaya) trong sáu Tùy miên được nói trong luận Câu Xá, Kiến trược trong năm trược, đều tương đồng với ác kiến. Dựa theo sự sai biệt về hành tướng, Ác kiến được chia làm năm kiến là: Tát ca gia kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, cũng gọi là năm ác kiến; trong chín Kết, ba kiến trước là Kiến kết (Phạm:Dfzỉisaôyojana), hai kiến sau là Thủ kết (Phạm:Paràmarzasaôyojana). [X. luận Câu Xá Q.19; luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Kiến). II. Ác kiến. Trong tông Tịnh độ, ác kiến, đặc biệt chỉ cho lòng ngờ vực về năng lực của chính mình. Trong Quán Kinh Sớ Tán Thiện Nghĩa, ngài Thiện đạo nêu ra thí dụ hai dòng sông Tham và Sân, bảo rằng, người ác kiến hiểu khác, làm khác, đem sự hiểu biết bậy bạ của mình, làm rối loạn lòng tin của những người nguyện sinh về Tịnh độ phương Tây. Trong Ngu Thốc Sao quyển hạ, ngài Thân Loan của Nhật Bản nói, người ác kiến là chỉ cho người kiêu ngạo, lười biếng, tà kiến, ngờ vực. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
ác kiến xứ
Địa ngục nơi những kẻ tội lỗi chứng kiến những tội lỗi đã làm trong đời, là một trong mười sáu địa ngục đặc biệt—The place in hades (hells) where the sinner beholds the evil done in life, one of the sixteen special hells.
Ác kiến 惡見
[ja] アッケン akken ||| (dṛṣṭi) 'wrong view.' One of the six primary defilements in the doctrine of the Yogācāra school 瑜伽行派. This primary defilement is a stored knowledge that arises from a misconception of the real characteristic of existence, that is, that it possesses an inherent self-nature. Also a reference to the "five evil views" 五惡見. - => (s: dṛṣṭi) 'quan niệm sai lầm'. Một trong sáu phiền não căn bản thuộc giáo lý Du-già hành tông. Phiền não căn bản này là tri thức phân biệt tích tập khiến khởi phát nhận thức sai lầm về thực tính của hiện hữu, đó là, thấy vạn vật có tự tính. Còn có thể xem mục từ Ngũ ác kiến 五惡見.
ác kế
Devilish plot.
ác kỳ ni
Agni (skt)—Ta Cát Lợi Đa Da Ni—Hỏa Thần—The god of fire.
ác linh
(惡靈) Chỉ sự u linh tà ác. Tức mang lòng oán hận làm một thứ u linh ở thế gian. Còn gọi là Tử linh, Oán linh, Quái vật. Sự u linh mang lòng oán hận, hiện ra hình tướng phần nhiều là khủng bố, nhiễu loạn lòng người, thậm chí khiến người ta phải chết. Nếu nhờ vào uy lực của Phật Thánh thì có thể xua tan được ác linh, cho nên cái phong khí gia trì cầu đảo, xuất gia tu hành, đọc tụng kinh văn, do đó mà thịnh hành. Tư tưởng này bắt nguồn từ thời kỳ Ngụy Tấn.
ác liệt
Fierce—Violent.
ác luận
Evil discussion—See Thế Luận.
ác luật nghi
Bad, or evil rules and customs.
; Theo Kinh Niết Bàn, ác luật nghi là những luật nghi và tập tục bất thiện—According to the Nirvana Sutra, these are bad, or evil rules and customs.
; (惡律儀) Luật nghi xấu ác. Đối lại với Thiện Luật Nghi. Còn gọi là Bất Luật Nghi, Ác giới. Tức là Vô biểu sắc của những người vì cuộc sống hoặc ham nhiều lời lãi mà tự phát thệ làm nghề đồ tể, tạo nghiệp giết hại. Cứ theo luận Câu Xá quyển 14 chép, ác luật nghi bị kẻ trí chán ghét, cho nên gọi là ác hành; có khả năng trở ngại giới luật thanh tịnh, cho nên gọi là ác giới, không cấm các cái ác xấu của thân, ngữ, cho nên gọi là bất luật nghi. Kinh Đại Ban Niết Bàn (bản Bắc) quyển 27 nói: Có mười sáu loại ác luật nghi. Đó là: 1. Vì cầu lợi mà nuôi dê mẹ dê con, nuôi cho béo rồi đem bán. 2. Vì cầu lợi mà mua dê, giết lấy thịt bán.3. Vì cầu lợi mà nuôi lợn (heo), nuôi béo rồi bán. 4. Vì cầu lợi mà mua lợn giết lấy thịt bán.5. Vì cầu lợi mà nuôi bò con, nuôi béo rồi bán. 6. Vì cầu lợi mà mua bò, giết lấy thịt bán.7. Vì cầu lợi mà nuôi gà con, nuôi béo rồi bán. 8. Vì cầu lợi mà mua gà, giết lấy thịt bán.9. Câu cá, 10. Săn bắn, 11. Cướp giật, 12. Giết người, 13. Giăng lưới bắt chim, 14. Nói hai lưỡi, 15. Làm cai tù, 16. Chú long..... (dùng chú thuật quấn rắn vào mình, làm trò vui cho người ta xem, để kiếm sống). Lại kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân quyển 6, có nêu lên mười hai ác luật nghi là: Đồ tể, sát nhân, nuôi lợn (heo), nuôi gà, bắt cá, săn bắn, lưới chim, bắt rắn, chú long, cai tù, làm giặc. Về việc được và bỏ ác luật nghi, theo ý luận Câu Xá quyển 14, quyển 15, thì nếu an trú nơi luật nghi, vì thắng phiền não mà làm các nghiệp bất thiện giết hại, thì do đó liền phát bất thiện vô biểu; nếu an trú nơi bất luật nghi, do thuần tịnh tín mà làm các thắng thiện nghiệp như lễ Phật, thì do đó cũng phát các thiện vô biểu. Lại do làm và thề cũng có thể được ác luật nghi; làm tức sinh trong nhà bất luật nghi, khi làm các việc sát sinh, liền phát được ác giới; thề, tức không sinh trong nhà bất luật nghi nhưng vì cuộc sống mà thề sát sinh để nuôi thân, do đó phát được ác giới. Bỏ giới thì có ba duyên, tức do đã chết (thân sở y đã chết thì ác giới năng y cũng theo đó mà bỏ), do được giới (hai giới thiện ác không thể cùng khởi song song, khi được biệt giải thoát giới hoặc tĩnh lự luật nghi, thì sức mạnh tăng lên, vì thế có thể bỏ ác giới), do sinh hai hình (tức con trai sinh làm hình gái, con gái sinh làm hình trai). Ngoài ra, kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân quyển 6 chép, khi chết đã hết ái dục, khi thụ luật nghi giới, khi thụ ba qui y, trong ba trường hợp đó bỏ ác luật nghi giới. [X. luận Du Già Sư Địa Q.9; luận Thuận Chính Lí Q.36; Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao quyển trung phần một; Câu Xá Luận Quang Kí Q.14].
ác lại dã can tâm
Tâm địa độc ác như tâm địa của loài cầy cáo (Theo Kinh Tát Già Ni Kiền: “Nếu không trì giới thì ngay thân của loài cầy cáo ghẻ lở cũng không có được, huống là thân công đức)—A scabby pariah, a phrase describing the evil of the mind.
; (惡癩野幹心) Ác lại, chỉ chứng bệnh ghê tởm; dã can, tức cáo đồng. Cả hai thứ này đều có mùi hôi hám khó chịu, thí dụ cái tâm hiểm ác. Ma Ha Chỉ Quán quyển 2 phần dưới (Đại 46, 17 trung), chép: Đại Luận nói: Thà khởi tâm ác lại dã can, chứ không sinh ý Thanh Văn, Bích Chi Phật. Ngoài ra, kinh Tát Già Ni Kiện quyển 9 có câu Thân cáo đồng ghẻ lở cũng không thể có được (chứ đừng nói chi đến thân người). Nói về người không giữ giới.
ác lộ
Asubha (p). 1) Chất lỏng bất tịnh hay các loại nước không sạch sẽ toát ra từ thân người như mủ, máu, nước tiểu, v.v.—All kinds of impure water (foul discharges) discharged from human body such as pus, blood and urine, etc. 2) Tính độc ác được biểu lộ ra: Evil revealed.
; (惡露) Pāli: Asubha. Chỉ thứ nước lỏng (tân dịch) nhơ nhớp từ trong thân thể tiết ra. Như mủ, máu, nước phẩn, nước tiểu v.v... Ác, là nghĩa chán ghét; lộ, tức tân dịch. Cứ theo kinh Tâm Địa Quán chép, tự thấy thân mình có ba mươi sáu vật ác lộ bất tịnh. Lại kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ bảo: sống, già, bệnh, chết đều khổ, lại thêm ác lộ bất tịnh, vì thế chẳng có gì đáng ưa cả.
ác lộ.
TFoul discharges from the body; also evil revealed.
ác ma
Xem Ma ba tuần.
; Evil maras, demon enemies of Buddhism.
; Tên gọi chung các ác thần gây trở ngại cho việc tu đạo Phật—Evil spirit—Evil maras—Demon enemies of Buddhism.
; (惡魔) Phạm: Màra. Dịch âm là Ma-la. Chỉ loại ác thần, ác quỉ hay phá hoại tâm chí cầu đạo, ngăn trở việc thiện và phá hoại thân mệnh của mình và người. Tức cũng gọi chung những người ác, việc ác, thần ác quấy phá người tu hành. Các kinh điển Nam, Bắc truyền, nhất là kinh A Hàm, miêu tả rất tường tận và sinh động các việc ác ma quấy nhiễu thân tâm của đức Phật và các đệ tử. Như kinh Tạp A Hàm quyển 39, đức Phật dùng kệ tụng thuyết minh cảnh giới ma (Đại 2, 290 thượng): Sắc, thụ, tưởng, hành, thức, phi ngã và ngã sở; nếu biết nghĩa chân thực, không đắm những thứ đó. Tâm không đắm trước pháp, vượt thoát sắc trói buộc, biết rõ tất cả chốn, không trú cảnh giới ma. Ác ma tương ứng (Pāli: Màrasaôyutta) trong kinh Tương Ưng Bộ Nam truyền, cũng có ghi chép tương tự, và căn cứ theo các điều được trình bày trong đó, cũng có thể khảo sát tính cách của ác ma. Có lần, ngài La Đà hỏi đức Phật: Thế nào là ác ma?. Đức Phật trả lời: Sắc (có hình) là ma, thụ (cảm giác) là ma, tưởng (biểu tượng) là ma, hành (sức cấu tưởng của ý chí) là ma, thức (tác dụng phán đoán) là ma. Mà phàm những cái tưởng tượng, thấy, nghe v.v... đều là nguồn gốc của sự chấp trước, cho nên đều có thể được coi là ma. Đức Phật thành đạo chưa được bao lâu, đang ngồi yên lặng tư duy dưới gốc cây bồ đề, lúc ấy ác ma Ba tuần liền đến trước mặt quấy nhiễu, nó nói với đức Phật (Đại 2, 286 hạ): Cù Đàm nếu tự biết, đạo Niết Bàn an ẩn, vui một mình là tốt, tại sao cưỡng hóa người?. Bài kệ tụng này, trong Ác ma tương ưng của Tương Ưng Bộ là: Người đã liễu ngộ đạo bất tử yên ổn, một mình người thực hành là được rồi, tại sao còn giáo hóa cho người khác, độ cho người khác?. Ác ma tương ứng còn chép, một ngày nọ, đức Phật vào làng khất thực không được, mang bát trở về, Ác ma thấy thế bèn nói: Lần sau nếu đi xin, Đại sư chắc chắn sẽ có ăn. Đức Phật ngâm thơ, đáp: Tuy không có ăn, nhưng ta vẫn vui, như trời Quang Âm, nhờ vui mà sống. Có người bảo đây là đức Phật đối với thực dục, biểu hiện hai mặt tâm cảnh. Bài kệ trên đây, kinh Tạp A Hàm quyển 3 (Đại 2, 288 thượng) chép là: Dù cho chẳng được gì, ta yên vui mà sống, như trời Quang Âm kia, thường ăn bằng thú vui. Dù cho chẳng được gì, yên vui mà tự sống; thường ăn bằng niềm vui, không tùy thuộc cái thân. Ác Ma Tương Ưng lại chép, có lần ác ma nói: Người có con nhờ con mà mừng, người có bò nhờ bò mà mừng, nhân người ta có cái nhờ cậy mới được vui mừng, nếu không có cái nhờ cậy, thì làm sao được vui mừng?. Đức Phật nghe vậy liền nói: Có con vì con mà lo, có bò vì bò mà lo; vì người ta có cái nhờ cậy nên lo, nếu không có cái nhờ cậy thì không lo. Hai quan điểm đối với thân tình và của cải có cái nhờ cậy thì mừng, có cái nhờ cậy thì lo hoàn toàn trái ngược nhau kể ở trên, bao nhiêu học giả giải thích là trong tâm đức Phật đã nảy sinh hai lớp tâm cảnh. Ngoài kinh điển A Hàm ra, trong các kinh luận khác như kinh Phổ Diệu quyển 6 phẩm Hàng Ma, kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 25, kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 13 phẩm Ma Sự, kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm quyển 6, kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 7 phẩm Vãng Ni Liên Hà, quyển 9 phẩm Hàng Ma; luận Đại Tì Bà Sa quyển 44, quyển 197, luận Đại Trí Độ quyển 56, quyển 58 v.v... đều có chép nhiều về sự tích danh tướng và lời nói của ác ma (hoặc ma Ba Tuần) nhiễu hại đức Phật hoặc những người tu hành, và phá hoại các thiện pháp. (xt. Ba Tuần, Ma).
ác ma thần
Evil demons and evil spirits (yaksas—Dạ xoa).
ác mộng
Nightmare.
ác nghiệp
Akuśala-karma (S).Bad actions
; Evil conduct in thought, word or deed, which leads to evil recompense; evil karma.
; (I) Nghĩa của ác nghiệp—The meanings of Evil karma, or negative karma: -Hành động của thân khẩu ý làm tổn hại cả mình lẫn người, sẽ đưa đến quả báo xấu: Harmful actions, or conduct in thought, word, or deed (by the body, speech, and mind) to self and others which leads to evil recompense—Negative path—Bad deeds—Black path. (II) Ác nghiệp gồm có những nghiệp sau đây—Negative Karma includes: 1) Tham: Greed. 2) Sân: Anger. 3) Si: Stupidity or Ignorance. 4) Mạn: Arrogance or Pride. 5) Nghi: Doubt. 6) Tà Kiến: Improper (Wrong) Views. 7) Sát: Killing. 8) Đạo: Stealing. 9) Dâm: Sexual Misconduct. 10) Vọng: Unwholesome thoughts. (III) Lời Phật dạy về Ác Nghiệp trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Evil karma in the Dharmapada Sutra: - Như sét do sắt sinh ra rồi trở lại ăn sắt, cũng như ác nghiệp do người ta gây ra rồi trở lại dắt người ta đi vào cõi ác—As rust sprung from iron eats itself away when arisen, just like ill deeds lead the doer to a miserable state (Dharmapada 240).
; (惡業) Đối lại với Thiện nghiệp. Tức là những hành vi trái lí do thân, khẩu, ý tạo nên. Chỉ những việc làm xấu, lời nói xấu và ý nghĩ xấu của thân, miệng, ý, có khả năng dẫn đến quả khổ trong hiện tại và vị lai. Thông thường chỉ sự tạo nghiệp ngũ nghịch, thập ác. Kinh Hoa Nghiêm (40 quyển) quyển 40 (Đại 10, 847 thượng), nói: Xưa kia tôi gây bao nghiệp ác, đều bởi vô thủy tham sân si. [X. kinh Lục Ba La Mật Q.5; Câu Xá Luận Quang Kí Q.13]. (xt. Thiện Nghiệp).
ác nghiệp tham, sân, si do thân, khẩu, ý gây
Evil karmas of greed, hatred and ignorance, all created by body, mouth and speech
Ác nghiệp 惡業
- [ja] アクゴウ akugō ||| Evil karma. Evil deeds, as opposed to good deeds . Evil conduct of word, thought and deed, which leads to evil retribution. There are ten of these--see 十惡. - => Việc xấu, hành vi xấu ác, ngược với việc thiện. Hành vi ác gây ra bởi lời nói, ý nghĩ, và hành động, đưa đến kết quả xấu. Có tất cả 10 loại ác nghiệp. Xem Thập ác十惡.
ác ngữ
Evil speech. Những lời Phật dạy về “Ác Ngữ” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Evil Speech” in the Dharmapada Sutra: 1) Chớ nên nói lời thô ác. Khi ngươi dùng lời thô ác nói với người khác. Người khác cũng dùng lời thô ác nói với ngươi, thương thay những lời nóng giận thô ác chỉ làm cho các ngươi đau đớn khó chịu như đao gậy mà thôi—Do not speak harshly to anyone. Those who are spoken to will respond in the same manner. Angry speech nourishes trouble. You will receive blows in exchange for blows (Dharmapada 133). 2) Nếu ngươi mặc nhiên như cái đồng la bể trước những người đem lời thô ác cãi vã đến cho mình, tức là ngươi đã tự tại đi trên đường Niết Bàn. Người kia chẳng làm sao tìm sự tranh cãi với ngươi được nữa—If like a cracked gong, you silence yourself, you already have attained Nirvana. No vindictiveness (quarrels) will be found in you (Dharmapada 134).
ác nhân
A cause of evil, or a bad fate; an evil cause.
; 1) Kẻ làm ác: Malefactor—Evil doer—Evil person—Wrong doer. 2) Nhân ác hay hành vi gây ra tội ác có thể dẫn tới quả ác báo: A cause of evil, or of a bad fate—An evil cause which leads to recompense for ill.
; (惡人) Tức là người bất thiện. Chỉ người làm ác qua thân, khẩu, ý, đặc biệt chỉ người phủ nhận, không tin chính lí Phật giáo. Kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện nói, kẻ ác trong đời vị lai, tuy nghe Phật nói pháp Nhất thừa, nhưng mê hoặc mà không chịu tin, phá pháp rơi vào ác đạo. Trong sách Quán Niệm Pháp Môn, ngài Thiện Đạo nêu lên năm loại người có tính ác, đó là: 1. Chê thật làm giả, 2. Chê chính làm tà, 3. Chê phải làm trái, 4. Chê thực làm dối, 5. Chê thiện làm ác. Kinh Phạm Võng quyển hạ, Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ quyển hạ, đối với người ác, chỉ trích rất nghiêm khắc, bảo những kẻ không thụ giới Bồ Tát đều là người ác, gọi là súc sinh, vô tâm như gỗ đá. Tịnh Độ Giáo Nhật Bản, đối với hạng người ác này, có thuyết cứu tế, như Tịnh Độ Chân Tông đặc biệt gọi kẻ ác làÁc nhân chính cơ, chủ trương ác nhân là căn cơ chính được cứu, cho ác nhân là đối tượng hóa độ của Phật A Di Đà. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bản Sớ Q.6].
ác nhân chính cơ
(惡人正機) Là tư tưởng do ngài Thân Loan, tị tổ của Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản, đề xướng, dụng ngữ biểu hiện lòng từ bi vô hạn của Phật A Di Đà. Trong Thán Dị Sao, Thân Loan từng nói, bản ý của Phật A Di Đà là độ người vãng sinh, bất luận là thiện hay ác, đều nên cứu độ; đặc biệt là người ác, lại càng nên cứu, khiến họ vãng sinh, đó gọi là ác nhân chính cơ. Bởi vì, đối với việc vãng sinh của những kẻ phạm tội Ngũ nghịch, Thập ác, Tịnh Độ Chân Tông có đề xuất thuyết Từ bi, Trí tuệ hai môn, bảo rằng, trong môn Trí tuệ, Phật Di Đà soi xét phải tái thiện ác, tiếp dẫn thiện cơ mà răn dạy ác hành, ác tính; nhưng trong môn Từ bi thì lấy người ác mong được cứu độ làm đối cơ chủ yếu. Đây là cái cốt tủy của việc niệm Phật mà ngài Thân Loan đã đề xướng.
ác nhân ác quả
Evil cause-Evil consequence (fruit)—Evil fruit from evil deeds.
; (惡因惡果) Gọi chung ác nhân, ác quả. Chỉ cái căn nguyên có thể đưa đến quả ác và quả khổ do hành vi ác sản sinh. Đối lại với Thiện nhân thiện quả. Cứ theo kinh Bồ Tát Anh Lạc Bản Nghiệp phẩm Phật Mẫu chép, thì quả báo thiện ác rất là bất đồng, tất cả điều thiện, cảm thụ quả Phật, còn vô minh thì chịu quả hữu vi sinh diệt, do đó, quả thiện từ nhân thiện mà sinh, quả ác do nhân ác mà có. Mối quan hệ nhân quả giữa hai cái ác nhân ác quả và thiện nhân thiện quả, là quan hệ đồng loại nhân, đẳng lưu quả. Kinh sách Phật giải thích về thiện nhân thiện quả và ác nhân ác quả thì rất nhiều, như Đại Trang Nghiêm Luận Kinh quyển 15, nêu lên tám mươi chín loại sự duyên, kinh Phân Biệt Thiện Ác Báo ứng, THIÊN THụ BÁO trong Pháp Uyển Châu Lâm quyển 69, quyển 70, cũng nói rất rộng về nghiệp báo thiện ác. Việc làm thiện thành nhân mà sinh ra quả thiện, việc làm ác thành nhân mà sinh ra quả ác, tin sâu ở đạo lí nhân quả ấy là điều kiện tất yếu để đi vào Phật pháp. (xt. Đẳng Lưu Quả).
ác niệm
Ill thought; bad intention.
; Evil thought.
ác niệm tư duy chướng
(惡念思惟障) Là một trong ba chướng tu định. Chỉ người tu hành khi tu Thiền định, vì đắm chìm mê tối nên niệm ác vụt khởi, bèn phá giới cấm, nghĩ đến làm các việc bất thiện Thập ác, Ngũ nghịch v.v... Vì một niệm như thế, làm trở ngại các Thiền định, khiến cho tâm hành giả không thể mở tỏ được [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Giải Tiêu Chỉ Sao Q.hạ; Đại Tạng Pháp số Q.9]. (xt. Tam Chướng).
ác pháp
Non-buddhist dharmas.
ác pháp hữu lậu
Những ác nghiệp đã lập thành trong một xác thân phải được đền bù tương xứng lại trong một thân khác—Evil deeds done in a mortal body is rewarded accordingly in the character of another body.
ác phụ
Wicked woman.
ác quả
Evil fruit from evil deeds.
; Quả ác hay quả xấu do nhân ác gây ra—Evil fruit from evil deeds.
ác quỉ thần
Evil demons and devil spirits.
ác quỷ
Evil demons.
ác quỷ lục tặc
(惡鬼六賊) Tức là sáu giặc ác quỉ. Sáu giặc, chỉ sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sáu cảnh này hay làm cho người ta bị mê hoặc, ngăn che mắt trí tuệ của người ta, cũng như giặc, lại thí dụ như quỉ. [X. Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Của Tịnh Giác].
ác quỷ thần
Ác quỷ và ác thần (làm hại người) như Dạ Xoa, La Sát, vân vân—Evil demons and evil spirits (harmful to people), yaksas, raksasas, etc.
ác sát la
Aksara (skt)—See Ác Sát Na.
; (惡刹羅) Phạm: Akwara. Còn gọi là Á-sát-ra, A-sát-ra, La-sát-la, Ác-sát-na, A-khất-sử-la. Dịch là chữ. Cũng hàm ý âm tiết, vần, lời. Tức chỉ văn tự, do nghĩa bất biến của nó mà lấy làm nghĩa không chuyển đổi. Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 2 phần cuối (Đại 43, 69 thượng), nói: Ác-sát-na là chữ, nghĩa không chuyển đổi. Câu Xá Luận Quang Kí quyển 5 (Đại 41, 108 hạ), nói: Phạm Ác-sát-la, Hán dịch là chữ, là nghĩa không lưu chuyển, tức không lưu chuyển đổi dời theo phương hướng. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 2 chép, thì chữ là văn tự nói chung, tiếng Phạm là Ác-sát-la, dịch là vô lưu chuyển, vô tận; chữ nhờ mực được viết trên giấy có thể là bất diệt, sự bất diệt ấy được dùng để ví dụ với sự thường trụ, gồm có bốn mươi bảy chữ, là gốc của tất cả chữ. Lại cứ theo Đại Nhật kinh sớ quyển 17 chép, thì chữ trong tiếng Phạn có hai âm là Ác-sát-la và Li-tỉ-bề, âm trước là chữ căn bản, tức chữ gốc, như hai âm đầu tiên của chữ A, âm sau thì là chữ tăng gia. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.14; Đại Nhật Kinh Sớ Nghĩa Thích Q.11; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.25; Phạm ngữ tạp danh].
ác sát na
Akasara (skt)—Ác Sát La. 1) Không biến đổi—Vĩnh cửu—Unchangeable—Permanent—Imperishable--Unalterable. 2) Chữ gốc (không thay đổi): A root-word, or word-root—Unchanging word.
ác sư
An evil teacher who teaches harmful doctrines.
; Thầy truyền dạy những tà giáo làm hại người—An evil teacher who teaches heretic and harmful doctrine.
ác thú
Aparagati (S). The evil directions, or incarnations.
; Evil directions or incarnations. 1) Trong đạo Phật, ác thú bao gồm địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—In Buddhism, the evil directions or incarnations include hells, hungry ghosts and animals. 2) Thú dữ: Vicious animal or wild beasts. 3) Thỉnh thoảng A Tu La cũng được xem như là ác thú: Sometimes, asuras are considered as evil incarnations or directions.
; (惡趣) Phạm: Durgati, Pāli: Duggati. Cũng gọi là Ác đạo. Đối lại với Thiện thú. Thú, có nghĩa đi tới. Tức do ác nghiệp dắt dẫn mà đi tới chỗ phải đến. Cứ theo luận Câu Xá quyển 8 chép, thì thể của năm thú là vô phú vô kí, lại năm thú nhiếp vào số hữu tình; nghĩa là do nghiệp thiện ác chiêu cảm quả thể dị thục vô kí, gọi là thú, vì thế, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chủ trương Thú chẳng thông với thiện, nhiễm và khí thế giới.Thông thường gọi địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh là ba ác thú, cũng gọi là ba đường, ba ngả ác, là những nơi thuần túy vì ác nghiệp mà phải đi tới; trong đó, y theo tức giận đi đến địa ngục, y theo tham muốn đi đến ngạ quỉ, y theo ngu si đi đến súc sinh. Đối lại với ba ác thú, ba cõi A-tu-la, người, Trời gọi là ba thiện thú, là những nơi mà những người làm nghiệp thiện đi đến. Ba ác thú, nếu thêm A-tu-la thì là bốn ác thú. Ba ác thú, nếu thêm người, trời thì là năm ác thú, cũng gọi là năm ác đạo, năm thú; trong đó, A-tu-la bao quát ba nơi là ngã quỉ, súc sinh và trời, hoặc nhiếp cả địa ngục. Năm ác thú lại thêm A-tu-la thì gọi là sáu đạo, cũng gọi là sáu ngả. Loài người cũng có thể sinh diệt vòng quanh trong sáu ngả. Sáu ngả này, nếu đem thí dụ cuộc sống hiện thực của con người, thì nóng giận tức là địa ngục, tham muốn tức là ngạ quỉ, ngu si tức là súc sinh, đấu tranh tức là A-tu-la, còn vui sướng thì có thể phân biệt là người và trời. Cái nguyện vọng lớn nhất trong một đời của người Ấn Độ xưa, là không muốn phải sinh lại vào cõi người, vì thế, coi nhân đạo và thiên đạo đều là ác thú. Nhưng, nghĩa ác thú này, sau khi du nhập Phật giáo, thì ác thú chuyên chỉ cho ba đạo địa ngục, ngạ quỉ và súc sinh, còn trời, người là hai thiện đạo. Ngoài ra, trong bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, nguyện thứ nhất là nguyện không có ba ác thú, nguyện thứ hai là nguyện không trở lại ác thú lần nữa, hai nguyện này đều là nguyện đại bi, nhổ hết gốc khổ. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; luận A Tì Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Q.9; luận Đại Tì Bà Sa Q.172; luận Câu Xá Quang Kí Q.8; luận Câu Xá Bảo Sớ Q.8; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.4; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.48; Tuyển Trạch Bản Nguyện Niệm Phật Tập Q.thượng].
Ác thú 惡趣
- [ja] アクシュ akushu ||| Evil destiny; evil rebirth (durgati, apāya). The existence a living being experiences as a result of evil activity in the present lifetime, which is characterized by delusion and suffering. Refers to the three evil destinies 三惡道 of
ác thần
Evil deities.
ác thế
(惡世) Tức đời vẩn đục, xấu ác. Thời nay, phiền não và tà kiến bốc cháy, tuổi thọ của người ta ngắn ngủi, khổ nhiều mà vui ít. Cứ theo kinh Pháp Hoa quyển 1 phẩm Phương Tiện chép, thì trong đời xấu ác, có năm thứ vẩn đục là kiếp trọc, kiến trọc, phiền não trọc, chúng sinh trọc và mệnh trọc. Thời kì này, chúng sinh nhơ nhớp tội nặng, thành tựu các nghiệp bất thiện, cho nên chư Phật dùng sức phương tiện, tùy cơ giáo hóa, đem pháp một Phật thừa chia ra nói ba Thừa. Kinh A Di Đà (Đại 12, 348 thượng), nói: Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm một việc rất khó, hiếm có, đó là ở cõi Sa bà, trong đời năm trọc ác là kiếp trọc, kiến trọc, phiền não trọc, chúng sinh trọc và mệnh trọc, mà được đạo Vô thượng chính đẳng chính giác. Bởi vì, trong thời Chính pháp, chúng sinh ít phiền não, ai ai cũng tự làm mười điều thiện và thọ mệnh lâu dài; trái lại, trong thời mạt pháp, là thời mà thế giới xấu xa, con người xấu xa, quan niệm xấu xa, tâm lí xấu xa, hành vi xấu xa, lòng bất tín bừng cháy, đặc biệt gọi là ác thế, hay là ác thời. [X. An Lạc Tập Q.thượng; Quán Kinh Sớ Tán Thiện Nghĩa].
ác thế giới
An evil world.
; An evil world.
ác thủ không
Người theo Không Kiến ngoại đạo, chối bỏ luật Nhân quả (thà khởi lên ngã kiến như núi Tu Di, chứ đừng khởi lên ác thủ không, hay phủ nhận lý nhân quả, cho rằng cái nầy cái kia đều là không)—One who has evil ideas of the doctrine of voidness, to deny the doctrine of cause and effect (Luật nhân quả).
; (惡取空) Phạm: Dur-gfhìta zùnyatà. Còn gọi là Tịch thủ không (chấp chặt cái không một cách hẹp hòi). Có nghĩa là giữ chặt cái ác không (cái không sai lầm, không thông suốt). Đối lại với Thiện thủ không. Tức là phủ nhận đạo lí nhân quả, chẳng biết lí duyên sinh vô tính mà hiểu lầm nghĩa không, cố chấp cái ý kiến đoạn không. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 7 chép, thì phủ định hai đế chân, tục là ác thủ không, chư Phật bảo là những kẻ ấy không thể cứu được. Lại cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 1 chép, thì trong Phật pháp có Phương Quảng Đạo Nhân, chủ trương hết thảy pháp chẳng sinh chẳng diệt, không có một pháp nào; chủ trương ấy không phù hợp thực nghĩa, chẳng biết cái lí vô tính tức không, đó là ác thủ không. [X. kinh Bồ Tát Địa Trì Q.2; luận Du Già Sư Địa Q.36; Du Già Luận Kí Q.9; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.10; Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q.4].
ác tri thức
A bad intimate, or friend, or teacher.
; Ác Sư Hữu—Thầy tà bạn ác—A bad intimate or friend, or teacher. Những lời Phật dạy về “Ác Tri Thức” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Evil friends” in the Dharmapada Sutra 1) Không được kết bạn với kẻ hơn mình, không được kết bạn với kẻ ngang mình, thà quyết chí ở một mình tốt hơn kết bạn với người ngu muội—If a traveler does not meet a companion who is better or at least equal, let him firmly pursue his solitary career, rather than being in fellowship with the foolish (Dharmapada 61). 2) Những người hay khuyên răn dạy dỗ, cản ngăn tội lỗi kẻ khác, được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu—Those who advise, teach or dissuade one from evil-doing, will be beloved and admired by the good, but they will be hated by the bad (Dharmapada 77). 3) Chớ nên làm bạn với người ác, chớ nên làm bạn với người kém hèn, hãy nên làm bạn với người lành, với người chí khí cao thượng—Do not associate or make friends with evil friends; do not associate with mean men. Associate with good friends; associate with noble men (Dharmapada 78). 4) Đi chung với người ngu, chẳng lúc nào không lo buồn. Ở chung với kẻ ngu khác nào ở chung với quân địch. Ở chung với người trí khác nào hội ngộ với người thân—He who companies with fools grieves for a long time. To be with the foolish is ever painful as with an enemy. To associate with the wise is ever happy like meeting with kinsfolk (Dharmapada 207). ** For more information, please see Thiện Hữu Tri Thức.
; (惡知識) Phạm: Pàpa-mitra (bạn xấu). Đối lại với Thiện tri thức. Còn gọi là Ác hữu, Ác sư, Ác sư hữu. Tức là kẻ ác đức nói các pháp ác, pháp tà khiến người ta bị hãm vào đường ma. Kinh Pháp Hoa quyển 2 phẩm Thí Dụ chép, đối với những người đã xa lìa ác tri thức mà gần gũi bạn tốt thì mới có thể nói pháp cho nghe. Lại cứ theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 20 chép, thì Bồ Tát Ma Ha Tát đối với voi dữ tâm không sợ hãi, mà với ác tri thức thì tâm sinh sợ hãi. Trường A Hàm quyển 11 kinh Thiện Sinh, nêu lên sáu loại bạn ác, đó là: nói những lời dối trá, thích những chỗ vắng vẻ kín đáo, dụ dỗ người nhà người khác, bàn mưu tính kế lấy của người khác, mưu đồ lợi riêng, thích vạch lỗi lầm của người khác. Còn nêu lên bốn việc gần bạn xấu, tức bạn lúc uống rượu, bạn lúc đánh bạc, bạn lúc dâm dật, bạn lúc múa hát. Ngoài ra, ngài Thân Loan của Nhật Bản, trong Ngu Thốc Sao quyển hạ, giải thích về bạn xấu được nói trong Nhị Hà Thí Dụ trong Tán Thiện Nghĩa của Quán Kinh Sớ của ngài Thiện Đạo, bảo rằng, bạn xấu là những người giả dối độc hại, tức chỉ những người có cái học khác, cái thấy khác, cái hiểu khác và việc làm khác, khiến phương hại đến tông chỉ của môn Vãng Sinh Tịnh Độ. [X. kinh Duy Ma Cật Q.thượng; kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ].
ác tà kiến
Tà kiến dẫn đến phạm tội ác—Wrong views which lead to commit wrong deeds.
ác tác
Kaukṛtya (S)Nhớ lại việc đã làm khiến tâm hối hận.
; Evil doings; also to hate that which one has done, to repent.
; 1) Ác tác pháp hay những việc làm xấu ác: Evil doings. 2) Sự hối hận sau khi làm điều ác (tâm sám hối): To repent or to hate that which one has done.
; (惡作) I.Ác tác. Phạm: Kaukftya. Là một trong các tâm sở (tác dụng phụ thuộc tâm). Đồng nghĩa với hối. Là một trong bảy mươi lăm pháp do Thuyết nhất thiết hữu bộ lập ra, thuộc Bất định địa pháp, cũng là một trong bốn Bất định của tông Pháp tướng. Ác, tức chán ghét; tác, tức việc được làm. Nghĩa là chán ghét cái việc đã được thực hiện, tâm hối tiếc sau khi việc ác đã được làm. Luận Câu Xá quyển 4, đối với từ ác tác, có nêu ra ba cách giải thích. Một là, việc duyên với ác được thực hiện mà hối tiếc, gọi là Ác tác, tức đứng về mặt hối tiếc năng duyên mà đặt tên cảnh sở duyên. Hai là, sự hối tiếc lấy ác tác làm chỗ nương tựa mà sinh, cho nên đứng về mặt hối tiếc năng y mà đặt tên sở y. Ba là, sự hối tiếc là quả của sự làm ác, cho nên đứng về mặt quả hối tiếc mà đặt tên nhân. Trong ba cách giải thích trên đây, chữ ác của ác tác, đều được đọc là Ố, nghĩa của nó đều là hối tiếc việc đã làm. Nhưng, tính của ác tác không phải chỉ là bất thiện, mà bất luận thiện hay bất thiện, phàm việc đã được thực hiện một cách không hợp tình hợp lí, thì đều gọi là ác tác. Lại luận Đại Tì Bà Sa quyển 37, có nêu lên bốn câu ác tác: 1. Hối tiếc ác nghiệp đã làm, 2. Hối tiếc thiện nghiệp đã làm, 3. Hối tiếc thiện nghiệp đã làm chưa đủ, 4. Hối tiếc ác nghiệp đã làm chưa đủ. Bốn câu trên là nói về nghiệp đã làm. Luận Câu Xá quyển 4 thì đối với việc chưa làm mà hối tiếc cũng gọi là ác tác, chẳng hạn như hối tiếc Tại sao mình lại không làm việc ấy cũng là ác tác. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ cho rằng, hối tiếc đã không làm nghiệp thiện là thiện ác tác, hối tiếc đã không làm nghiệp bất thiện là bất thiện ác tác, chủ trương ác tác chỉ hạn ở thiện và bất thiện, chứ không thông vô kí. Nhưng, cứ theo luận Câu Xá quyển 4 chép, thì trong các nhà thuộc các bộ khác, cũng có người nói ác tác thông cả vô kí. Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 7 phần đầu, cũng cho ác tác thông cả ba tính thiện, bất thiện và vô kí. Lại các nhà Duy thức gọi ác tác là hối và giải thích nó cũng khác với luận Câu Xá. Luận Thành Duy Thức quyển 7, thuyết minh hối tức là hiềm ghét cái nghiệp được làm, lấy hối tiếc làm tính, chướng ngại xa ma tha làm nghiệp, vả lại, ác tác là đứng trên phương diện quả mà giả lập tên nhân, còn hối thì ngay từ đương thể của nó mà đặt tên nó. Ngoài ra, cứ theo ý của Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 7, thì ác của ác tác đọc là ố, là ý hiềm ghét. [X. luận A Tì Đạt Ma Thuận Chính Lí Q.11; luận Du Già Sư Địa Q.11; luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.1; luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma Tạp Tập Q.7; Câu Xá Luận Quang Kí Q.4; Bách Pháp Vấn Đáp Sao Q.1]. Ác tác. Tức là Đột cát la (Phạm: Duwkfta) trong giới luật. Chỉ việc làm ác nhỏ nhiệm của thân thể, có khi cũng bao quát cả việc làm ác nhỏ nhiệm của miệng lưỡi. [X. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.9] (xt. Đột Cát La).
Ác tác 惡作
- [ja] アクサ、オサ akusa, osa ||| The feeling of remorse or repentance that arises in one's mind subsequent to the realization of having committed an evil act. (duṣkṛta) (2) In Consciousness-only, this is a technical term for a specific mental function, one of the indeterminate ground dharmas (不定地法), the awareness that one has committed a misdeed and a concomitant feeling of repentance (kaukṛtya) - => 1. Tâm trạng ăn năn hay hối lỗi sinh khởi trong tâm mình sau khi nhận ra mình đã phạm phải việc xấu (s: duṣkṛta) . - 2. Theo giáo lý Duy thức, đây là một thuật ngữ chuyên môn về một tâm sở pháp đặc biệt, là một trong các Bất định địa pháp, là ý thức của người khi phạm lỗi lầm liền có tâm trạng ăn năn (s: kaukṛtya).
ác tánh
Bad-natured.
Ác tánh Xa-nặc
xem Xa-nặc.
ác tâm
Vyàpàda (S). Ill will, malevolence.
; Ill-will—Malevolence.
ác tính
Malice—Brutality—Cruelty.
ác tưởng
Evil thoughts.
ác tập (thói quen xấu)
Bad habit.
ác tật
Incurable disease.
ác vô quá
Ngoại đạo tà kiến cho rằng không có gì sai trái khi làm điều ác, hay không có quả báo gì cho cuộc sống ác độc—External heretics believe that it is not wrong to do evil; that there are no consequences attached to an evil life.
; (惡無過) Còn gọi là Ác vô ngại. Tức một loại tà kiến chấp trước cho rằng làm ác không phải tội. Chẳng hạn như người ác thủ không, quán tất cả đều là không mà phủ định đạo lí nhân quả, không sợ tội lỗi. Lại đối với thuyết Ác Nhân Chính Cơ do Tịnh Độ Chân Tông của Nhật Bản đề xướng mà nói, thì từ ngữ Ác vô quá dùng để chê bai thuyết cho rằng người ta chỉ cần nhờ vào bản nguyện của Phật Di Đà mà được vãng sinh, chứ tự mình không cần phải ngăn ngừa việc tạo ác. [X. Tuyển Trạch Truyền Hoằng Quyết Nghi Sao Q.4; Tịnh Độ Tông Yếu Tập Q.4]. (xt. Ác Nhân Chính Cơ).
ác xoa
Aksa (skt)—Một loại cây mà hạt dùng làm tràng chuỗi—Name of a tree (Eleocarpus ganitrus) a seed of which rosaries are made. ** For more information, please see Kim Cang Tử.
ác xoa tụ
Kim Cang Tử—Gọi là “ác xoa tụ” vì khi hạt rơi xuống đất chúng thường tụ lại một chỗ thành bộ ba, tiêu biểu cho ba tánh chất một lượt—So called the Eleocarpus ganitrus tree because its seeds are said to be formed the triplets (the seeds fall in clusters, and illustrate numbers, or numerous), and illustrate the simultaneous character of: a) Hoặc: Illusion. b) Hành: Action, and c) Khổ: Suffering. ** For more information, please see Kim Cang Tử.
; (惡叉聚) Ác xoa, Phạm: Awka, cũng gọi là Ô-rô-nại-la-xoa (Phạm: Rudràkwa). Dịch ý là Diên Quán Châu, Kim Cương Tử. Tên cây, cũng là tên quả cây. Tên khoa học: Eleocarpus Ganitrus. Cứ một chùm ba quả và sau khi rụng xuống đất thì phần nhiều chụm lại một chỗ, cho nên gọi là Ác xoa tụ, dùng để thí dụ hoặc, nghiệp, khổ liên quan chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, trong các kinh luận thường dẫn ra để thí dụ số nhiều. Luận Du Già Sư Địa quyển 96 (Đại 30, 846 hạ), nói: Ví như chùm ác xoa ở thế gian, trong Tụ này có nhiều phẩm loại. Luận Thành Duy Thức quyển 2 (Đại 31, 8 thượng), nói: Hết thảy hữu tình, từ vô thủy đến nay, có rất nhiều loài, như quả ác xoa, tự nhiên như thế. Quả ác xoa màu đỏ tươi, người Ấn Độ phần nhiều lấy làm thuốc nhuộm hoặc để ép dầu, hột nó có thể dùng làm tràng hạt. [X. kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm Q.1; luận Du Già Sư Địa Q.51, Q.56; Du Già Luận Kí Q.13; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.2 phần cuối; Thành Duy Thức Luận Diễn Bí Q.2 phần cuối; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.22; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.35; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.3].
ác xúc
Thức ăn bị bàn tay người khác sờ vào thành ra nhơ bẩn (giới luật cho rằng những thức ăn đó không tinh khiết nên cấm không được ăn)—Evil touch; contaminated as is food by being handled or touched.
; (惡觸) Có nghĩa là thức ăn uống do tay người khác đã sờ mó vào nên không được sạch sẽ. Giới luật cho thức ăn đã bị người khác sờ mó vào là vật bất tịnh, cho nên cấm, không được ăn. [X. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao Q.hạ; Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Kí Q.hạ phần 2 tiết 2].
ác xứ
Dur-gati (S)ác đạo.
ác yết lỗ
Aguru (skt)—Trầm Thủy Hương—Lignum aloes.
ác ý
Malevolence.
; Hatred—Ill-will—Ill intent—Malicious—Ill-affected
ác đạo
Xem ác xứ.
; Evil ways; also the three evil paths or destinies - animals, pretas and purgatory.
; Ác thú—The states of woe—Realms of woe—Evil realms—Evil ways. 1) Tam đồ ác đạo gồm địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—Evil ways (three evil paths, or destinies of hells, hungry ghosts and animals). 2) Ba đường của trạng thái tâm, thí dụ như khi chúng ta có tâm tưởng muốn giết hại ai, thì ngay trong giây phút đó, chúng ta đã sanh vào địa ngục vậy—Three paths can be taken as states of mind, i.e., when someone has a vicious thought of killing someone, he is effectively reborn, for that moment, in the hells. 3) Chúng sanh trong ác đạo—Sentient beings in evil realms: a. Chẳng gặp được Phật pháp: Do not encounter the Buddhadharma. b. Chẳng bao giờ tu tập thiện nghiệp: Never cultivate goodness. c. Luôn làm hại người khác: Always harm others. 4) Thỉnh thoảng A-Tu-La cũng được xem như ác đạo vì dù có phước đức cõi trời nhưng lại thiếu công đức và có quá nhiều sân hận: Sometimes the Asura realm is also considered an evil realm because though they have heavenly merits, they lack virtues and have much hatred.
; (惡道) Đối lại với Thiện đạo. Cùng nghĩa với Ác thú. Đạo, có nghĩa là thông suốt. Tức người lúc sống gây các nghiệp ác, sau khi chết phải đi suốt tới những nơi khổ sở. Gọi chung những nơi của y thân và khí thế giới, chủ yếu là chỉ địa ngục. Trong sáu đạo (ngả, đường), thông thường gọi địa ngục, quỉ đói và súc sinh là ba ác đạo, a tu la, cõi người và cõi trời là ba thiện đạo. Ngoài ra, bốn ác đạo là chỉ cho địa ngục, quỉ đói, súc sinh và A tu la. Năm ác đạo thì chỉ cho địa ngục, quỉ đói, súc sinh, cõi người, cõi trời. [X. kinh Vô Lượng Thọ Q.hạ; kinh Quán Vô Lượng Thọ; kinh A Di Đà; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.8 phần cuối]. (xt. Ác Thú).
ác đạo chướng
(惡道障) Là một trong năm chướng. Chỉ sự sinh vào ngả ác là ngăn trở việc tu hành đạo Phật. Ác đạo, chỉ ba đường ác súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục, sinh vào những nơi ấy thì khó mà được nghe Phật pháp, vì thế là sự trở ngại cho việc nghe pháp tu đạo. [X. luận Đại Trí Độ Q.38]. (xt. Ngũ Chướng).
Ác đạo 惡道
[ja] アクドウ akudō ||| Same as 惡趣. - => Đồng nghĩa với Ác thú惡趣. -
ác đảng
Một băng hay nhóm người chuyên bóc lột kẻ khác để làm lợi dưỡng cho chính mình—A band or group of people which exploits others for their own gains or benefits.
ác độc
Devil-like—Malicious—Devilish—Malice.
ác đức
Inhuman, cruel, infamous.
Ác 惡
- [ja] アク aku, o ||| (1) [e, o, ak, aku] Evil, bad, wrong, vice, wickedness (pāpa). Immoral, malicious, injurious, detrimental. (2) [wu, o] To dislike, hate, detest. (3) Where? How? In what? Interjection. - => 1. Xấu, tội lỗi, sai trái, nhược điểm,
ách
Yoke—To yoke someone: Buộc ai vào ách.
ách phược
Bonds Kiết sử.
Ái
愛; S: tṛṣṇā; P: taṇhā; nghĩa là »ham muốn«, »sự thèm khát«;|Khái niệm quan trọng của đạo Phật. Ái chỉ mọi ham muốn xuất phát từ sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng của giác quan đó. Cần hiểu rằng, con người gồm có năm giác quan thông thường và ý (khả năng suy nghĩ, ý nghĩ, xem Lục căn) là sáu. Vì vậy Ái bao gồm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Sự tham muốn đó biểu lộ bằng tâm vướng bận và đó chính là Khổ (s: duḥkha), là nguyên do tại sao loài hữu tình cứ mãi trôi nổi trong Vòng sinh tử. Muốn thoát khỏi Ái, người ta cần phòng hộ các giác quan (Nhiếp căn), không để cho thèm khát và ham muốn nổi lên, nhờ đó có thể chấm dứt cái khổ.|Có nhiều cách phân loại Ái: 1. Dục ái (欲 愛; s: kāmatṛṣṇā), Hữu ái (有 愛; s: bhavatṛṣṇā) và Phi hữu ái (非 有 愛; hoặc Ðoạn ái, ái muốn tiêu diệt, s: vibhavatṛṣṇā). Ba loại ái này là nội dung của chân lí thứ hai (tập đế) trong Tứ diệu đế; 2. Dựa trên giác quan, người ta phân biệt ái thuộc sắc, thanh âm, mùi thơm, vị ngon ngọt, tiếp xúc và tư tưởng; 3. Dựa trên Ba thế giới có thứ Ái thuộc dục giới, Ái thuộc sắc giới (色 愛; sắc ái; s: rūpatṛṣṇā) và vô sắc giới (無 色 愛; vô sắc ái; s: arūpa-tṛṣṇā).|Trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-sa-mutpāda), Ái do Thụ (受; s: vedanā) sinh ra, và bản thân Ái lại sinh ra Thủ (取; s: upādāna).|Trong giai đoạn Phật giáo nguyên thuỷ, người ta tin rằng Ái là nguyên nhân duy nhất của khổ và vì vậy xem nó là nguyên nhân của sinh tử, Luân hồi. Về sau, người ta thấy rằng thoát khỏi Ái chưa đủ mà cần phải dứt bỏ sự chấp Ngã (Vô ngã) mới được giải thoát. Ngã là gốc của Ái vì nếu xem Ngã là một thể tồn tại độc lập thì mọi thứ liên quan đến Ngã đều dễ sinh ra Ái. Người ta tiến đến giải thoát bằng tri kiến »cái này không phải là ta, cái này không phải của ta« và như thế, Ái tự hoại diệt.
ái
Kàma, Ràga (S). Love, affection, desire. Trsna (S) Thirst, avidity, desire. One of the 12 nidànas.
; Kama or Trishna (skt). (A) Nghĩa của Ái—The meanings of “Attachment” 1) Luyến ái: Craving—Love—Affection. 2) Tham dục: Desire. 3) Khát ái: Thirst of love. 4) Tham: Coveting. 5) Nhiễm trước: Defiling attachment. 6) Tình yêu nhiễm trược gia đình vợ con: The defiling love toward family, wife, and children. 7) Tình yêu không nhiễm trược dành cho thầy tổ và các bậc trưởng lão: The undefiling love toward one's teachers and elders. 8) Một trong thập nhị nhân duyên: One of the twelve nidanas. (B) Phân loại Ái—Categories of “Attachment”: 1) Nhị Chủng Ái: Two kinds of love—See Nhị Ái. 2) Ái Biệt Ly Khổ: Suffering from being separated from the loved ones—See Bát Khổ (5). *** See Trishna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (愛) I. Ái . Phạm:Tfwịà,towayati, priya, là dịch ý của chữ piya trongPāli. Còn gọi là Ái chi. Là một trong mười hai nhân duyên. Ý là tham luyến chấp trước tất cả sự vật. Trước nay, Cơ Đốc giáo được xem là tôn giáo bác ái, trong Phật giáo thì lấy từ bi làm trung tâm mà không trực tiếp nói đến chữ ái. Trong kinh điển Tăng Chi Bộ, đức Phật thường dạy về chữ ái, bảo: Yêu có thể sinh yêu, mà cũng có thể sinh ghét; ghét có thể sinh yêu, cũng có thể sinh ghét. Cho nên, Phật giáo nói yêu, nói ghét, cũng giống như lòng bàn tay và mu bàn tay, là hai mặt của một thể, thương yêu càng sâu thì oán ghét có thể càng lớn. Trong bài kệ 212 của kinh Pháp Cú Nam truyền, có nói: Từ yêu sinh lo buồn, từ yêu sinh sợ hãi; lìa yêu không lo buồn, làm gì có sợ hãi?. Kế đó, cũng trong bài kệ ấy, lại từ yêu chuyển biến mà lần lượt đưa ra bốn thứ: thân ái (Pāli: Pema), dục lạc (Pāli: Rati), ái dục (Pāli: Kàma) và khát ái (Pāli: Taịhà). Cái gọi là ái là nói đến tình yêu có quan hệ thân tộc huyết thống đối với mình; còn cái gọi là thân ái là nói về tình bạn đối với người khác; dục lạc là tình yêu đối với một nhân vật đặc biệt nào đó; ái dục chuyên chỉ tình yêu được kiến lập trong quan hệ về tính; còn khát ái là chỉ tình yêu vì quá say đắm đến nỗi thành si tình. Năm giai đoạn trên đây đều thuộc tình yêu của loài người, bản chất của nó đều lấy tự ái làm tiền đề, do tự ái xuất phát đưa đến tính ái, lại sâu đậm nữa thì lấy tự ái làm chủ mà hình thành tình ái biến thái cho đến khát ái, trong đó, tầng thứ dần dần sâu thêm mà không thay đổi hình thái nữa. Khát ái là bản thể ái tình của con người, do thứ tình ái ấy mà sinh ra khổ não, lại do khổ não mà sinh bi (Phạm,Pāli: Karuịà). Nguyên ý của chữ bi là đau đớn. Con người không những chỉ cảm thụ sự đau đớn của chính mình mà cũng có thể cảm thụ sự khổ não của người khác, nếu với những người khổ não, đều lấy tình bạn thân thiết mà đãi ngộ, thì có thể gọi là từ (Phạm: Maitreya), mà từ là do bạn (Phạm: Mitra) diễn biến mà có, ý bao hàm tình bạn sâu xa, cho nên từ bi là danh từ thay cho ái. Từ bi đến rứt mực, tột bực thì thànhvô duyên đại từ, hàm ý là tình yêu vô điều kiện, không đòi hỏi một cái gì, miễn khiến người khác có hạnh phúc là được, đây có thể gọi là đại ái, là biểu hiện cao nhất của thái độ đãi người trong Phật giáo. [X. luận Tạp A Tì Đàm Tâm Q.8; luận Du Già Sư Địa Q.93; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.8]. II. Ái. Phạm: Anunaya-saôyojana. Tên gọi tắt Ái kết. Là một trong chín kết. Còn gọi là Tùy thuận kết. Tức chỉ phiền não tham, đắm say cảnh. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 50 (Đại 27, 258 thượng), nói: Thế nào là ái kết? Nghĩa là Tam giới tham. Nhưng, Tam giới tham, trong chín kết, lập chung làm ái kết, trong bảy Tùy miên, lập hai tùy miên, tức Dục giới tham, gọi là Dục tham tùy miên; Sắc, Vô sắc tham, gọi là Hữu tham tùy miên. Trong các kinh khác, lập làm Tam ái, tức Dục ái, Sắc ái, Vô sắc ái. Đây là gọi chung cái tham trong ba cõi là Ái kết. Lại luận Tập Dị Môn Túc quyển 4, bảo Dục ái, Sắc ái, Vô sắc ái, trong các dục, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Dục ái; trong các sắc, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Sắc ái; trong vô sắc, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Vô sắc ái. Cũng nói Dục ái, Hữu ái, Vô hữu ái, trong cõi Dục ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là dục ái (Phạm: Kàma - tfwịà); trong cõi Sắc, Vô sắc, ham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là hữu ái (Phạm: Bbhava - tfwịà); người thích Vô hữu, ở trong vô hữu tham mê đắm đuối, chấp chứa phòng hộ, gọi là Vô hữu ái. (Phạm:Vibhava - tfwịà). Ngoài ra, kinh Thắng Man Chương Nhất Thừa, nói về năm trụ địa hoặc, cũng nêu lên ba danh xưng là Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa và Hữu ái trụ địa. Kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 13, bảo Tập đế trong bốn đế là ái và có hai loại, ba loại, bốn loại, năm loại khác nhau, nhưng đều lấy tham gọi là ái. [X. luận Đại Tì Bà Sa Q.48, Q.49, Q.56, Q.173; luận Thành Thực Q.9 phẩm Tham Tướng; luận Nhập A Tì Đạt Ma Q.thượng; luận Câu Xá Q.21]. III. Ái. Phạm: Preman hoặc priya. Tức có nghĩa là không đem tâm nhiễm ô mà tin ưa Pháp hoặc kính yêu sư trưởng. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 29, bảo ái có hai thứ, nhiễm ô là tham, không nhiễm ô là tín. Luận Câu Xá quyển 4 (Đại 29, 21 thượng), nói: Ái là ưa thích, thể tức là tín; nhưng ái có hai thứ, một là có nhiễm ô, hai là không nhiễm ô. Có nhiễm là tham, như yêu vợ con, không nhiễm là tin, như yêu sư trưởng. Đây nói rõ ái không nhiễm ô, thể của nó là tín. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.16; luận Thuận Chính Lí Q.11; luận Thành Duy Thức Q.6].IV.Ái. Chữ (ai) Tất đàm. Cũng gọi là Ế. Một trong mười hai nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, một trong năm mươi chữ cái. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ ái, phát ra tiếng uy nghi thù thắng. Tiếng uy nghi thù thắng dẫn trên đây, Phạm: Airyàpatha-zreyàn-sabda, tức trong đó có âm ai. Ngoài ra, kinh Du Già Kim Cương Đính phẩm Thích Tự Mẫu, bảo rằng, chữ ái đây có các nghĩa thù thắng, như tự tại, tự tướng, Thánh đạo v.v... [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.8; kinh Đại Nhật Q.5 phẩm Bố Tự; Tất Đàm Tạng Q.5].
ái biệt li khổ
(愛別離苦) Phạm: Priya-viprayoga-du#kha, Pāli: Piya-vippayoga-dukkha. Tức là nỗi khổ cảm thấy khi mình phải rời bỏ cái cảnh mà mình ưa thích, hoặc phải xa lìa người mà mình thương yêu. Là một trong tám cái khổ. Còn gọi là Ân ái biệt khổ, Ái tương biệt li khổ. Cứ theo Trung a-hàm quyển 7 kinh Phân Biệt Thánh Đế, và luận Đại Tì Bà Sa quyển 78 chép, thì sáu căn, sáu đại yêu quí, khi lìa bỏ thân thể thì sinh khổ, gọi là ái biệt li khổ. Ngoài ra, kinh Ngũ Vương cho là phải xa lìa anh em, vợ con mà sinh khổ, thì gọi là ái biệt li khổ. Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 3 phần đầu thì ghi nhận cả hai thuyết kể trên mà nói (Đại 44, 513 thượng): Ái biệt li khổ là thế nào? Có hai thứ: một là trong, hai là ngoài. Trong là chính thân mình, ngoài là họ hàng thân thích và các vật cần cho sự sống. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.17; kinh Tứ Đế; kinh Chính Pháp Niệm Xứ Q.57]. (xt. Tứ Khổ).
ái biệt ly khổ
Priyasamparayoyga (S), Seperation from the beloved Người thân yêu bị xa cách. Một trong bát khổ.
; The suffering of being separated from those whom one loves.
; The suffering of being separated from those whom one loves.
; Khổ vì phải xa lìa những người thân thương—Suffering of (due to) separation from our loved ones—The suffering of being separated from those whom one loves. ** For more information, please see Bát Khổ(5).
Ái biệt ly khổ 愛別離苦
[ja] アイベツリク aibetsuriku ||| The suffering experienced when we are separated from the persons and things which we love. This is one of the "four and eight kinds of suffering" (四苦八苦) taught by Śākyamuni in his first exposition of the Four Noble Truths 四諦. (priya viprayoga duḥkha) 〔瑜伽論T 1579.30.289b〕 - => Sự đau khổ khi bị cách biệt người hay điều mình thích. Là một trong Tứ khổ và Bát khổ 四苦八苦được Đức Phật Thích-ca Mâu-ni giảng trong thời pháp đầu tiên là Tứ diệu đế (s: priya viprayoga duḥkha).
Ái biệt ly 愛別離
[ja] アイベツリ aibetsuri ||| To be separated from the things that one loves. (priya-viyoga) - => Phải xa rời điều mình ưa thích (s: priya-viyoga).
Ái bất ái 愛不愛
[ja] アイフアイ ai fuai ||| That which is liked and that which is disliked; the agreeable and the disagreeable. 〔瑜伽論 T 1579.30.305b5〕 - => Thích và không thích, thương và ghét.
ái ch.
Trsna (S) Thirst, avidity, desire. One of the 12 nidànas.
ái chấp
The grip of love and desire.
; Sự chấp trước vào luyến ái và dục vọng khó mà bỏ được—The grip of love and desire.
ái chủng
The seed of desire, with its harvest of pain.
; Hạt giống dục vọng sẽ gặt lấy khổ đau—The seed of desire, with its harvest of pain.
ái cát chi quỷ
(藹吉支鬼) Cũng gọi là Ái cát quỉ. Là khởi thi quỉ, tức loài quỉ chịu sự khống chế của thần chú mà giết người. Cái pháp thuật sử dụng thần chú để sai khởi thi quỉ giết người thì gọi là Tì đà la, vì thế, loại khởi thi quỉ này còn được gọi là quỉ Tì-đà-la. [X. luật Thập Tụng Q.2; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.21; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.54]. (xt. Tì Đà La Quỉ).
ái căn
The root of desire, which produces the passions.
; The root of desire, which produces the passions.
; Dục vọng là gốc sanh ra các phiền não—The root of desire, which produces the passions.
ái duyên
Love or desire as a contributory cause, or attachment.
; Ái dục như là nguyên nhân phụ vào cho sự luyến ái—Love or desire as a contributory cause of attachment.
ái dục
Taṇhā (P),Tṛṣṇā (S), Desire, Craving Khát ái.Thô kệch hay vi tế, luôn ngủ ngầm trong mỗi người, và là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh lớn trong đời. ái dục làm ta bám víu vào đời sống với mọi hình thức và do đó dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi.
; Love and desire; love of family. Craving, thirst, lust. Dục ái, craving for sensuality; hữu ái, craving for existence; hủy ái, craving for non-existence.
; (I) Nghĩa của Ái Dũc—The meanings of Love and Desire: Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình—Love and desire; love of family. (II) Những lời Phật dạy về “Ái Dục” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Love and Desire” in the Dharmapada Sutra: 1) Xuất gia bứt hết ái dục là khó, tại gia theo đường sinh hoạt là khó, không phải bạn mà chung ở là khổ, qua lại trong vòng luân hồi là khổ. Vậy các ngươi hãy giác ngộ để đừng qua lại trong vòng thống khổ ấy—It is difficult to renounce the world. It is difficult to be a householder. It is painful to associate with those who are not friends. It is painful to be wandering in the samsara forever. Reaching the enlightenment and let wander no more! Let's suffer no more! (Dharmapada 302). 2) Nếu ở thế gian nầy mà bị ái dục buộc ràng, thì những điều sầu khổ càng tăng mãi như loài cỏ tỳ-la gặp mưa—Whoever binds to craving, his sorrows flourish like well-watered birana grass (Dharmapada 335). 3) Nếu ở thế gian nầy, mà hàng phục được những ái dục khó hàng phục, thì sầu khổ tự nhiên rụng tàn như nước ngọt lá sen—Whoever in this world overcomes this unruly craving, his sorrows fall away just like water-drops from a lotus leaf (Dharmapada 336). 4) Đây là sự lành mà Ta bảo với các ngươi: “Các người hãy dồn sức vào để nhổ sạch gốc ái dục, như người muốn trừ sạch giống cỏ tỳ-la phải nhổ hết gốc nó. Các ngươi chớ lại để bị ma làm hại như loài cỏ lau gặp cơn hồng thủy!”—This is my advice to you: “Root out craving; root it out, just like birana grass is rooted out. Let not Mara crush you again and again as a flood crushes a reed! (Dharmapada 337) 5) Đốn cây mà chưa đào hết gốc rễ thì tược vẫn ra hoài, đoạn trừ ái dục mà chưa sạch căn gốc thì khổ não vẫn nẩy sinh trở lại mãi—Latent craving is not conquered, suffering recovers and grows again and again, just like a tree hewn down grows up again as long as its roots is unrooted (Dharmapada 338). 6) Những người có đủ 36 dòng ái dục, họ mạnh mẽ dong ruổi theo dục cảnh chẳng chút ngại ngùng, bởi vậy người đã có tâm tà kiến, hằng bị những tư tưởng ái dục làm trôi dạt hoài—If in any man, the thirty-six streams of craving are still flowing, such deluded person is still looking for pleasure and passion, and torrential thoughts of lust sweep him away (Dharmapada 339). 7) Lòng ái dục tuôn chảy khắp nơi như giống cỏ man-la mọc tràn lan mặt đất. Ngươi hãy xen giống cỏ đó để dùng tuệ kiếm đoạn hết căn gốc ái dục đi—Streams of pleasure and passion flow in all directions, just like the creeper sprouts and stands. Seeing the creeper that has sprung up in your mind, cut it off with wisdom (Dharmapada 340). 8) Người đời thường vui thích theo ái dục, ưa dong ruổi lục trần, tuy họ có hướng cầu an lạc mà vẫn bị quanh quẩn trong chốn trầm luân—Common people are subject to attachment and thirst; they are always happy with pleasure; they run after passion. They look for happiness, but such men caught in the cycle of birth and decay again and again (Dharmapada 341). 9) Những người trì trục theo ái dục khác nào thỏ bị sa lưới. Càng buộc ràng với phiền não, càng chịu khổ lâu dài—Men who are crazed with craving, are terrified like hunted hares. The more they hold fast by fetters, bonds, and afflictions, the longer they suffer (Dharmapada 342). 10) Những người trì trục theo ái dục, khác nào thỏ bị sa lưới. Hàng Tỳ kheo vì cầu vô dục nên phải trước tự gắng lìa dục—Men who are crazed with craving, are terrified just like hunted hares. Therefore, a monk who wishes his own passionlessness, should first banish craving (Dharmapada 343). 11) Người đã lìa dục xuất gia, lại tìm vui ở chốn sơn lâm, khác nào trở lại nhà; ngươi hãy xem hạng người đó, kẻ đã được mở ra rồi lại tự trói vào!—He who is free from desire for the household, finds pleasure (of asceticism or monastic life) in the forest, yet run back to that very home. Look at that man! He runs right back into that very bondage again! (Dharmapada 344) 12) Đối với người trí, sự trói buộc bằng dây gai, bằng cây, bằng sắt chưa phải kiên cố, chỉ có lòng luyến ái vợ con tài sản mới thật sự là sự trói buộc chắc bền—To a wise man, the bondage that is made of hemp, wood or iron, is not a strong bond, the longing for wives, children, jewels, and ornaments is a greater and far stronger attachment (Dharmapada 345). 13) Những kẻ dắt người vào sa đọa, là như sự trói buộc chắc bền, nó hình như khoan dung hòa hưởn mà thật khó lòng thoát ra. Hãy đoạn trừ đừng dính mắc, xa lìa ái dục mà xuất gia—The wise people say that that bond is very strong. Such fetters seem supple, but hard to break. Break them! Cut off desire and renounce the world! (Dharmapada 346) 14) Những người say đắm theo ái dục, tự lao mình trong lưới buộc như nhện giăng tơ. Ai dứt được sự ràng buộc không còn dính mắc nữa, thì sẽ xa mọi thống khổ để ngao du tự tại—A man infatuated with lust falls back into the stream as a spider into the web spun by itself. He who cuts off this bond, retire from the world, with no clinging, will leave all sorrow behind (Dharmapada 347). 15) Bước tới chỗ cứu cánh thì không còn sợ hãi; xa lìa ái dục thì không còn nhiễm ô: nhổ lấy mũi tên sanh hữu thì chỉ còn một thân nầy là cuối cùng, không bị tiếp tục sanh nữa—He who has reached the goal, without fear, without craving and without desire, has cut off the thorns of life. This is his final mortal body (Dharmapada 351). 16) Xa lìa ái dục không nhiễm trước, thông đạt từ vô ngại, thấu suốt nghĩa vô ngại, và thứ lớp của tự cú, đó thật là bậc đại trí đại trượng phu, chỉ còn một thân nầy là cuối cùng, không bị tiếp tục sinh nữa—He who is without craving, without attachment; who understands subtleties of words and meanings; they are truly a great wise who bear the final mortal body (Dharmapada 352). 17) Dũng cảm đoạn trừ dòng ái dục, các ngươi mới là Bà-la-môn! Nếu thấu rõ các uẩn diệt tận, các ngươi liền thấy được vô tác (Niết bàn)—Strive hard to cut off the stream of desires. Oh! Brahman! Knowing that all conditioned things will perish. Oh! Brahman! You are a knower of the Unmade Nirvana! (Dharmapada 383).s
; (愛欲) Phạm, Pāli: Kàma. Tức sự tham ái. Đồng nghĩa với ái trước, ái nhiễm, ái chấp. Người Ấn độ cổ đại cho là đời người có ba mục đích lớn, đó là pháp (Phạm: Dharma),lợi (Phạm: Artha), vàái, tức chỉ sự hiểu biết chân lí, tích trữ của cải và hưởng thụ tình ái. Về vấn đề ái dục thì có Ái dục kinh (Phạm: Kàma-sùtra), kinh này được xem là sách chỉ nam về tính ái có tiếng trên thế giới, nhân sĩ thượng lưu cũng nhờ sách chỉ nam này mà có được sự chỉ dẫn về sinh hoạt tính ái. Giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy lấy tăng lữ (tỉ khưu) làm chủ yếu, mà tính dục là một loại bản năng của con người chỉ đứng sau thực dục, vì vậy, trong giáo đoàn phải chế định những giới luật nghiêm khắc, lấy việc siêu thoát ái dục làm đức mục tu hành trọng yếu của tăng lữ. Đến thời kì Phật giáo Đại thừa hưng khởi, vì có tín chúng tại gia tham dự giáo đoàn, thành ra việc cấm chỉ ái dục là việc không làm được, mà đối với tín chúng tại gia chỉ có thể phương tiện hạn chế thôi. Cái gọi là phiền não tức bồ đề, là nhờ ái dục hoặc các bản năng khác hay khiến cho tâm trí con người lay động, trong hoàn cảnh thường xuyên bị quấy nhiễu như thế, mà vẫn tiến tu để chứng ngộ cảnh giới liễu sinh thoát tử.
ái dục hải
Biển dục—The ocean of desire.
Ái dục 愛欲
[ja] アイヨク aiyoku ||| "Attachment and desire." The strong attachment and craving that people experience in life, such as for spouse and chīdren, etc. kāma, icchā. The entrapment of the five sense organs by external objects. (3) Delusion, deluded activity. tṛṣṇā (4) To be addicted to sex. maithuna (5) Defilement, affliction. kleśa - => 1. Sự tham muốn và đắm chấp mạnh nhất trong đời sống mà con người trải qua, như vợ chồng, con cái v.v... (s: kāma, icchā). - 2. Sự đánh bẫy của năm giác quan do cảnh trần. - 3. Đam mê hư vọng (s: tṛṣṇā). - 4. Đam mê tình dục, phạm sắc giới. (s: maithuna). - 5. Phiền não, nhiễm ô (s: kleśa). -
ái giả
The falseness or unreality of desire.
; Sự hư giả hay không thực của dục vọng—The falseness or unreality of desire.
; (愛假) Là tên gọi khác của Tư hoặc. Tư hoặc lấy Ái làm chủ, mà ái thì từ mê tình sinh khởi, thể của nó hư giả, vì thế gọi là Ái giả.
ái giới
The realm of desire, or love.
; Dục giới—Những người đang trú ngụ trong dục giới—The realm of desire or love—Those who dwell in the realm of desire.
ái hoặc
The illusion ođ love, or desire.
; Mê hoặc hay ảo ảnh của ái dục—The illusion of love or desire.
; (愛惑) Là hoặc ái dục. Hoặc, có nghĩa là mê mờ đối với chân lí. Nếu không trừ dứt ái hoặc này thì không thể thấy được chân lí. Kim Quang Minh Kinh Văn Cú quyển 3 (Đại 39, 60 thượng), nói: Bát nhân kiến địa.. ........ , còn có ái hoặc.
ái hà
Tình ái nhận chìm và làm chết đuối con người nên ví với dòng sông (lòng tham bám víu hay giữ chặt không rời)—The river of desire in which men are drowned.
; (愛河) Sông yêu. Còn nói là Tình thiên dục hải (tình trời dục biển). Ái dục làm người chìm đắm nên dùng sông để thí dụ. Ngoài ra, tâm tham ái, nắm chặt vật mà không rời, cũng như nước thấm vào vật, nên cũng dùng nước sông để ví dụ ái dục. Kinh Hoa Nghiêm (80 quyển) quyển 26 có câu: Theo dòng sống chết, vào sông yêu lớn. Kinh Lăng Nghiêm cũng nói: Sông yêu cạn khô, khiến người giải thoát.
ái hà.
The river of desire in which men are drowned.
ái hành
Emotional behaviour, or the emotions of desire, as contrasted with kiến hành, rational behaviour.
; Ái hành có nghĩa là tình ái dục vọng, đối lại với “kiến hành” có nghĩa là suy lý—Emotional behavior, or the emotions of desire, as contrasted with rational behaviour.
ái hành kiến hành
(愛行見行) Ái hành, Phạm: Tfwịà-carita; Kiến hành, Phạm: Dfwỉi-carita. I. Ái hành kiến hành. Hành vi của người ta, căn cứ theo tính cách, có thể chia làm hai loại: 1. Y theo lời chỉ dạy của người khác mà hành động, gọi là ái hành. 2. Không thích nghe theo ý kiến người khác, mà chỉ theo ý riêng mình để hành động, gọi là Kiến hành. Cứ theo luận Câu Xá quyển 17, thì người ái hành ý muốn xấu (Phạm: Àzaya, dịch âm a thế gia) rất là nông nổi, không dứt mất thiện căn; người Kiến hành thì ý thích xấu xa cực sâu bền, cho nên có khả năng dứt mất thiện căn. Lại luận Đại Tì Bà Sa quyển 109 thì bảo, người Kiến hành từ không mà vào chính tính li sinh, người ái hành từ vô nguyện mà vào chính tính li sinh. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.15; luận Đại Trí Độ Q.21; luận Câu Xá Quang Kí Q.16]. II. Ái hành kiến hành. Kiến hành và ái hành là hai loại phiền não. Hành là gọi chung các pháp hữu vi. Trong đó, kiến hành là năm kiến (bao hàm thân kiến...), nói rộng là sáu mươi hai kiến hay chín mươi lăm kiến. Nói theo nghĩa rộng thì kiến hoặc và kiến hành cũng có thể thông dụng, hai nghĩa tham dục (tu hoặc) và ái hành cũng tương thông. Nói cách thông thường thì kiến hành là phiền não thuộc phương diện lí trí, ái hành là phiền não thuộc phương diện tình ý. [X. luận Câu-xá Q.6; Câu Xá Thích Luận Q.5; Câu Xá Quang Kí Q.6].
ái hải
The ocean of desire.
; Biển dục—The ocean of desire—Biển ái—Ocean of love.
ái hận
Luyến ái và thù hận—Love and hate—Desire and dislike.
ái hệ
Sự trói buộc của ân ái hay dục vọng—The bond of love or desire.
ái hệ.
The bond of love or desire.
ái hỏa
Love as fire that burns.
; 1) Lửa của luyến ái: Fire of love. 2) Luyến ái là lửa đốt chúng sanh: Love is fire that burns (living beings).
ái hữu
Friendly society.
ái khuể
Luyến ái và ghen ghét—Love and hate, desire and hate.
Ái khuể 愛恚
[ja] アイイ aii ||| The two afflictions of attachment and aversion, or craving and anger. 〔二障義 HPC 1.791b13〕 - => Hai món phiền não chấp trước và sân hận, hoặc tham và giận.
ái khát
The thirst of desire; khát ái, thirstily to desire.
; Khát ái hay khao khát dục vọng, hay ham muốn sự sống—The thirst of desire, or thirstily to desire—The will to live.
ái kim cương
(愛金剛) Phạm: Ràgavajra. Là một trong mười bảy vị Tôn thuộc Kim cương giới mạn đồ la Lí thú hội trong Mật giáo. Còn gọi là Ái Phọc Kim Cương, Ái Lạc Kim Cương, Bi Mẫn Kim Cương. Được đặt trong Nguyệt Luân Liên Hoa ở phía sau Kim Cương Tát Đỏa, trên Kim Cương Giới Mạn Đồ La Lí Thú Hội. Hình tượng mầu xanh, tay cầm cờ ma kiệt. Cứ theo Lí thú kinh bí quyết sao quyển 3 chép, thì Bồ Tát Bi Mẫn Kim Cương, vì lòng thương xót, nên dùng giây ái niệm buộc hết chúng sinh, cuối cùng, đến bồ đề cũng không buông bỏ. Cũng như loài cá ma kiệt lớn, bất cứ vật gì, khi đã vào miệng nó rồi thì không tài nào thoát ra được, bởi vậy, Bồ Tát cầm cờ ma kiệt là biểu hiện cái thân trí bình đẳng, buộc chặt hoặc buông bỏ đều là huyễn cả. [X. Kim Cương Đính Thắng Sơ Du Già Kinh Trung Lược Xuất Đại Lạc Kim Cương Tát Đỏa Niệm Tụng Nghi].
Ái kiến
愛見 - [ja] アイケン aiken ||| Attachment (or desire) and views. The former is an emotive affliction, while the later is a perceptual affliction. The Mahāprajñāpāramitā-śāstra explains these two categories in depth. Also called 愛著二法 and 愛見二行. - => Ái và Kiến. Ái là phiền não thuộc về tình cảm, Kiến là phiền não thuộc về tri giác. Đại Trí độ luận giải thích hai mục này rất sâu. Còn gọi là Ái trước nhị pháp 愛著二法và Ái kiến nhị hành愛見二行.
ái kiến
Attachment or love growing from thinking of others.
; 1) Chấp trước từ con người mà nẩy lên thứ tình yêu hay dục vọng nẩy nở khi nghĩ đến ngưới khác. Ái kiến cũng có nghĩa là tâm chấp luyến vào hình thức, trói buộc chúng ta vào dục vọng và ham muốn trần tục—Attachment or Love growing from thinking of others. Love also means the mind of affection attached to forms, which binds us with the ties of worldly passions and desires. 2) Ái và Kiến—Love or Attachment and Views: a) Ái nghĩa là luyến chấp vào sự: Love means attachment to things. b) Kiến nghĩa là luyến chấp vào tà kiến: Views mean attachment to false views.
; (愛見) Còn gọi là Kiến trước nhị pháp, Ái kiến nhị hành. Nói chung ái và kiến. Tức là các phiền não đối sự, đối lí mà sinh khởi. Nói một cách phân tích, thì ái là phiền não thuộc phương diện tình cảm, do cố chấp sự sự vật vật, nên dễ ngăn trở đạo. Còn kiến là chỉ sự cố chấp cái lí luận sai lệch mà dẫn đến cái thấy biết lầm lẫn, đồng thời, làm chướng ngại sự ngộ đạo, là phiền não thuộc phương diện lí trí. [X. kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.15; Duy Ma Kinh Sớ Am La Kí Q.30].
ái kiến đại bi
(愛見大悲) Chỉ tâm đại bi chưa lìa ái kiến. Tức chưa chứng được lí thực tướng, còn nhận có hai tướng năng ái, sở ái mà khởi tâm đại bi. Trong Chú Duy Ma Cật Kinh quyển 5, có nêu lên sự giải thích của các nhà, ngài Cưu Ma La Thập Bảo (Đại 38, 378 thượng): Chưa thâm nhập được thực tướng, thấy có chúng sinh, tâm sinh ái trước, do đó sinh thương, gọi là ái kiến đại bi. Ái kiến đại bi hư vọng bất tịnh, hay khiến người ta sinh tưởng chán nản, vì thế nên xa lìa. Sư Tăng Triệu cũng nói (Đại 38, 378 thượng): Nếu người biết tự điều trị, thì trước quán bệnh của mình và bệnh của chúng sinh, cái nhân duyên thành bệnh là giả dối không thực, nên dùng tâm ấy mà sinh bi; nếu người quán chưa thuần, thấy chúng sinh vì yêu mà khởi bi, thì là ái kiến bi. Cái bi ấy tuy tốt, nhưng là cảnh ái kiến có tâm lẫn lộn, chưa hẳn khỏi lụy, vì thế nên bỏ. Sư Đạo Sinh thì bảo (Đại 38, 378 trung): Khi quán như trên mà khởi đại bi, nếu trong quán có tâm niệm yêu thương, lại thấy chúng sinh mà muốn cứu giúp, thì là ái kiến đại bi. [X. Duy Ma Kinh Nghĩa Kí Q.3 phần đầu; Duy Ma Kinh Nghĩa Sớ (Cát tạng) Q.4].
ái kính phụ mẫu dụ
(愛敬父母喻) Đem lòng yêu kính của người con hiếu đối với cha mẹ để thí dụ tâm từ bi của Bồ tát. Kinh Đại Vô Lượng Thọ Phần Tựa (Đại 12, 266 trung), nói: Hãy đem pháp không cầu xin mà bố thí cho mọi người, cũng như người con hiếu thảo yêu kính cha mẹ. Bởi vì, lòng từ bi của Bồ Tát không bỏ hết thảy chúng sinh, giống như người con hiếu yêu kính cha mẹ. Lại lòng từ bi của Bồ Tát không đợi được cầu xin mới thương yêu và hộ trì chúng sinh, cũng như người con hiếu, không đợi được sai bảo mới yêu kính cha mẹ và hết lòng hiếu dưỡng.
ái kết
Sự kết buộc của ái dục hay phiền não tham ái—The tie of love or desire.
; (愛結) Là một trong chín kết. Nói tắt là kết. Cũng gọi là tùy thuận kết. Kết, là nghĩa trói buộc. Vì tham ái trói buộc con người nên gọi là kết. Vì chúng sinh tham ái mà tạo các nghiệp bất thiện: giết hại, trộm cướp, dâm dục, nói dối v.v..., do đó dẫn đến cái khổ sống chết trong đời sau, trôi lăn trong ba cõi, không thoát ra được, cho nên gọi là ái kết. Kinh Đại Tập quyển 3 (Đại 13, 17 thượng), nói: Nhân duyên phiền não chịu nghiệp quả, nhân duyên các kiến thêm ái kết.
ái kết.
The tie of love or desire.
ái kỷ
Egoist—Selfish—Egoism—Selfishness.
ái la sát
Ái La Sát Nữ—Raksasi—Female demon of desire.
ái la sát nữ
Raksasi (skt)—See Ái La Sát.
ái luyến
Love attachment.
ái luyến lục trần
Kāmataṇhā (P), Desire for pleasure of senses Trong tam ái: ái luyến lục trần (kamatanha), ái luyến đời sống (bhavatanha), ái luyến sự vô sanh (vibhavatanha).
ái luyến sự vô sanh
Vibhatanha (S), Desire for non-existing Trong tam ái: ái luyến lục trần (kamatanha), ái luyến đời sống (bhavatanha), ái luyến sự vô sanh (vibhavatanha).
ái luyến tự ngã
Attakamanipa (P).
ái luyến đời sống
Bhāvataṇhā (P), Desire for existing Trong tam ái: ái luyến lục trần (kamatanha), ái luyến đời sống (bhavatanha), ái luyến sự vô sanh (vibhavatanha).
ái luân
The wheel of desire which turns men into the six paths of transmigration.
; Bánh xe dục vọng làm chúng sanh xoay chuyển trong sáu đường sanh tử—The wheel of desire which turns men into the six paths of transmigration.
ái luận
Talk of love or desire.
; Ham thích lý luận hay bàn luận về dục vọng. Do mê tâm ái trước mà đưa tới những cuộc tranh luận loạn động hay ngôn luận bất chính—Talk of love or desire, which gives rise to improper conversation.
ái luận kiến luận
(愛論見論) Đối với tất cả sự vật, chỉ thiên trọng mặt tình cảm mà bàn luận một cách cứng nhắc, thì gọi là Ái Luận; ngược lại, cứ khư khư bám chặt phương diện lí luận tri thức, thì gọi là Kiến Luận. Cả hai mặt trên đây đều trái với chân lí, là ngôn luận làm chướng ngại việc tu đạo, vì thế, thông thường, đều bị coi là hí luận (bàn hão). Về vấn đề này, sư Cát Tạng đã từng nói: Các phần tử trí thức và chúng xuất gia dễ sinh kiến luận, còn những người trí thức phổ thông và chúng tại gia thì lại dễ khởi ái luận. [X. kinh Đại Niết Bàn (bản Bắc) Q.15; Duy Ma Kinh Sớ Am La Kí Q.30].
ái lưu
The flood of desire which overwhelms.
; Tham ái làm mê hoặc lòng người nên ví như dòng lũ dục vọng—The flood of desire which overwhelms.
; (愛流) Tức là phiền não tham ái. Tham ái hay khiến lòng người mờ tối chìm đắm, ví như dòng nước chảy xiết, nên gọi là ái lưu. Ái tức tham ái, có khả năng khiến các hữu tình phiền não trôi giạt trong bể khổ sống chết. Phiền não này là gốc của mọi phiền não, cho nên ái cũng là tên gọi chung của phiền não. Kinh Tâm Địa Quán quyển 1 (Đại 3, 295 thượng), nói: Thiện thệ thường là thuyền diệu pháp, hay dứt dòng ái sang bờ kia. [X. kinh Thắng Man Chương Nhất Thừa].
ái lạc
Sự hoan lạc của tình yêu chân chánh, như tình yêu thiện mỹ hay tình yêu của vị Bồ Tát đối với chúng sanh—The joy of right love, i.e. the love of the good or that of a bodhisattva.
; (愛樂) Có nghĩa là tin yêu ưa muốn. Tức hàm ý tin ưa các pháp lành thế gian và xuất thế gian, thuộc tin yêu không nhiễm ô. Luận Câu Xá quyển 4 bảo, yêu là ưa thích, thể của nó tức là tin. Luận Thành Duy Thức quyển 6 bảo, tin lấy ưa thích làm tướng. Luận Tịnh Độ thì nói, người tin ưa pháp vị của Phật, tức là tin ưa pháp vị Tịnh Độ.
ái lạc kim cương nữ
(愛樂金剛女) Phạm: Ràga-vajriịì. Là một trong mười bảy vị Tôn trong Kim Cương Giới Mạn Đồ La Lí Thú Hội. Cũng gọi là Ái kim cương nữ. Là vợ của Ái kim cương. Được đặt trong Nguyệt luân, bên trái Kim cương tát đỏa. Hình tượng màu vàng, tay cầm cây đàn. Cứ theo Lí Thú Thích Yếu Lược Bí Quyết Tập quyển 3 chép, thì Bồ Tát này dùng thiên nhãn tràn đầy đại bi, thấy suốt hết chúng sinh giới đều có đủ tự tính thanh tịnh của Như Lai tạng tính, không khác gì với cảnh giới của chư Phật Bồ Tát, bởi thế, khởi lòng thương đại tham đại ái mạnh mẽ để an úy và làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh. [X. Kim Cương Đính Thắng Sơ Du Già Kinh Trung Lược Xuất Đại Lạc Kim Cương Tát Đỏa Niệm Tụng Nghi; Kim Cương Đính Thắng Sơ Du Già Phổ Hiền Bồ Tát Niệm Tụng Pháp].
ái lạc phật
Xem Lư Chí Phật.
ái mộ
Attachment.
ái nghiệp
The karma which follows desire.
; Nghiệp đi liền sau dục vọng—The karma which follows desire.
ái ngại
Worried—Uneasy.
ái ngập đôi đầu kiến trượng lục kim thân
(壒圾堆頭見丈六金身) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ái, là bụi bặm; ngập, là nơi bụi bặm tích tụ; đôi đầu, hình dung một đống (bụi) nổi cao; trượng lục kim thân, nghĩa là mình vàng cao một trượng sáu thước (chỉ cho thân đức Phật). Ý nói: ở trong đống bụi bặm thấy được Phật, là biểu thị tính bình đẳng tuyệt đối của Phật và chúng sinh, xóa hết cái nhìn có tính nhị nguyên đối đãi: Phật và chúng sinh, trong sạch và nhơ nhớp. Bích Nham Lục Tắc 39 (Đại 48, 177 trang) nói: Có vị tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là pháp thân thanh tịnh? (Ái ngập đôi đầu kiến trượng lục kim thân, ban ban bác bác thị thập mạ? = Trong đống bụi bặm thấy mình vàng trượng sáu loang lổ lốm đốm là cái gì?). Vân Môn nói: Lan can bằng cây hoa thược dược.
ái ngục
The prison of desire.
; Ngục tù dục vọng—The prison of desire.
ái ngữ
Loving speech; the words of love of a bodhisattva.
; Loving speech—Lời nói yêu thương của một vị Bồ Tát, một trong tứ nhiếp pháp—The words of love of a bodhisattva, one of the four elements of popularity, or ways of leading human beings to emancipation. **For more information, please see Tứ Nhiếp Pháp.
Ái ngữ nhiếp
xem Bốn pháp thâu nhiếp.
Ái ngữ 愛語
[ja] アイゴ aigo ||| Kind words; loving words (Skt. priya-ākhyāna; Tib. sñan par smra ba). One of four methods that bodhisattvas employ to approach and save people 四攝法. - => Lời nói từ hoà, lời nói yêu thương (s: priya-ākhyāna; Tib. sñan par smra ba). Là một trong bốn phương pháp mà hàng Bồ-tát áp dụng để thân cận và cứu độ chúng sinh (Một trong Tứ nhiếp pháp四攝法).
ái nhiễm
The taint of desire.
; Luyến ái nhiễm trược hay tình cảm tham ái phàm tục như tình yêu vợ chồng, con cái, thầy bạn, vân vân—Defiling attachment—Defiling ordinary love (like that toward wife and children, teachers and elders)—The taint of desire.
; (愛染) Do tham đắm đối với mọi sự vật rồi sinh tâm ô nhiễm chấp trước, gọi là ái nhiễm. Đồng nghĩa với dục ái. Là tên gọi khác của phiền não. Cái gọi là nhiễm (nhơ nhuốm) là gọi chung cái tâm bám chặt mọi sự vật trong thế gian. Luận Đại Trí Độ quyển 1 (Đại 25, 63 hạ), nói: Vì pháp mình là ái nhiễm, hủy hại pháp người khác.
ái nhiễm minh vương
Rāgarāja (S).
; Thần tình yêu, một trong những Minh Vương, có vẻ mặt giận dữ với ba đầu sáu tay—God of Love—One of the Ragas, who has angry appearance, three faces and six arms. ** For more information, please see Đại Nhiễm Pháp.
; (愛染明王) Phạm: Ràgaràja. Dịch âm là La nga la xà. Nói tắt là Ái Nhiễm Vương. Trong các vị tôn của Mật giáo, minh vương này ở trong Tam muội đại ái dục, đại tham nhiễm. Vị tôn này là do các bồ tát Kim cương tát đỏa, hoặc Kim cương ái, Kim cương vương biến hiện. Các Bồ tát ấy, vì thương xót chúng sinh, đáp lại bi nguyện của các kiếp trước mà vào môn gia trì. Bản tôn (bản thân, bản địa) của các Ngài là Đại Nhật Như Lai hoặc là Kim cương tát đỏa. Bề ngoài hiện dáng phẫn nộ bạo ác, nhưng phần nội chứng thì lấy sự yêu kính khiến chúng sinh được giải thoát. Ngài có ba mắt, sáu cánh tay, tay cầm nhiều loại binh khí. Ngoài ra, hình tượng của vị tôn này, phần nhiều là một thân hai mặt, một mặt là nam, mặt kia là nữ, là biểu thị cái ý vừa mạnh bạo vừa nhu hòa; tức bên trong giấu kín cung trăng của tự giác bản bất sinh, bề ngoài thì hiện rõ vòng mặt trời của Ái Nhiễm Minh Vương, không ngoài sự biểu hiện cụ thể một Phật nhiều thân và cái phương tiện hòa ánh sáng vào bụi trần để lợi vật. Thông thường, cầu tiêu tai, cầu phúc thì tu pháp Ái Nhiễm Minh Vương. [X. kinh Du Kì Q.thượng phẩm Ái Nhiễm Vương; Kim Cương Bồ Tát Bí Mật Niệm Tụng Nghi Quĩ]. (xt. Ái Nhiễm Minh Vương Pháp).
ái nhiễm minh vương pháp
(愛染明王法) Là phép tu trong Mật giáo lấy Ái Nhiễm Minh Vương làm tôn vị chính. Nói tắt là Ái Nhiễm Vương Pháp hoặc Ái Nhiễm Pháp. Phép tu này có hai loại: Lập ba mươi bảy vị tôn và Lập mười bảy vị tôn, loại sau là y vào Kim Cương Vương Bồ Tát Niệm Tụng Nghi Quĩ mà tu, còn loại trứơc thì y vào kinh Du Kì mà tu. Pháp này lấy kính yêu làm gốc, vì thế là phép tu khi cầu phúc, cầu tiêu tai. Khi tu pháp này, bày tôn vị chính màu đỏ trên đàn màu đỏ, y phục của hành giả, lư hương, đàn, tất cả đều nên dùng màu đỏ làm chính, tương ứng với lòng kính ái. Đồng thời, kết căn bản nhiễm ấn và đọc chú. Án (om) ma ha la nga (mahàràga, đại ái nhiễm) phạ nhật lộ sắt ni sái (vajrowịìwa, kim cương đính) phạ nhật la tát đỏa phạ (vajrasattva, kim cương hữu tình), nhược (ja#, cái móc) hồng (hùô, dẫn vào) tông (ban, buộc, trói) cốc (ho#, vui mừng), kết ngoại ngũ cổ ấn, lại đọc nhất tự tâm hồng (hhùô) trích (ỉa) chỉ (ki) hồng (hùô) nhược (jja#) (Ý là nghiệp nhân không thể được, kiêu mạn không thể được, tác nghiệp không thể được, liễu nghĩa không thể được, thiên biến không thể được). Nhưng, trong năm loại tương ứng ấn minh, có thể tùy theo pháp mà thay đổi. [X. kinh Du Kì Q.thượng phẩm Ái Nhiễm Vương; Bạc Thảo Tử Khẩu Quyết Q.15 Ái Nhiễm Vương Pháp (Lại du); Yếu Tôn Đạo Tràng Q.thượng; Biệt Hành Q.4; Chư Tôn Yếu Sao Q.5].
ái nhiễm mạn đồ la
(愛染曼荼羅) Tức Mạn Đồ La lấy Ái Nhiễm Minh Vương làm tôn vị chính. Cũng gọi là Ái Nhiễm Vương Mạn Đồ La. Chủng loại không giống nhau: có loại mười bảy vị tôn tạo thành, có loại ba mươi bảy vị tôn cấu thành. Mạn Đồ La mười bảy vị tôn tạo thành thì ở phía trước, phía phải, phía sau, phía trái của tôn vị chính, bày bốn Kim cương là: Ý sinh ( góc tây bắc viện ngoài, bày bốn Bồ tát Thời xuân (hương), Thời vũ (hoa), Thời thu (đèn) và Thời đông (hương bột), tổng cộng mười bảy vị tôn. Chư tôn yếu sao quyển 5 có chép bức vẽ này. Ngoài ra, kinh Du Kì quyển thượng phẩm Ái Nhiễm Vương, cho biết có Mạn Đồ La trực tiếp lấy ba mươi bảy vị tôn quyến thuộc của Đại Nhật Như Lai làm quyến thuộc của Ái Nhiễm Minh Vương. [X. Kim Cương Vương Bồ Tát Bí Mật Niệm Tụng Nghi Quĩ; Biệt Hành Q.4; Khê Lam Thập Diệp Tập Q.21].
ái nhiễm vương
Taki (S)Tra chỉ vương.
; See Ái Nhiễm Minh Vương.
Ái nhiễm 愛染
[ja]アイゼン aizen ||| To be caught by desire/attachment (āmiṣa, saṃrakta; Tib. kun tu chags pa, zang zing dang bcas pa). - => Bị lôi cuốn vào sự tham muốn, chấp giữ. -
ái nhuận
The fertilizing of desire; i.e. when dying the illusion of attachment fertilizes the seed of future karma, producing the fruit of further suffering.
; Phân bón dục vọng. Khi chết những ảo ảnh của luyến ái sẽ tưới tẩm nghiệp vị lai và làm trổ thêm quả khổ—The fertilizing of desire—When dying the illusion of attachment fertilizes the seed of future karma, producing the fruit of further suffering.
ái nhuễ.
Love and hate, desire and hate.
ái nhãn
The eye of love, that of Buddha.
; Con mắt yêu thương của Phật—The eye of love (of Buddha).
ái nhạo
(愛樂) Hàm ý là tin ưa các pháp lành thế gian và xuất thế gian. Thuộc về sự ưa thích không nhiễm ô. Luận Câu Xá quyển 4 nói, ái là ưa thích (ái nhạo), thể của nó là tin. Luận Tịnh Độ cũng nói: người ưa thích mùi vị Phật pháp tức là ưa thích pháp vị Tịnh Độ.
ái nữ
Daughter.
ái phi
Favorite queen.
Ái phi ái 愛非愛
[ja] アイヒアイ ai hiai ||| Likes and dislikes; the agreeable and the disagreeable (s: iṣṭa-aniṣṭa). 〔瑜伽論 T 1579.30.324a22〕 - => Thương và ghét, dễ chịu và gay gắt.
ái phàm tục
Ordinary love.
ái pháp
Love for Buddha-truth; the method of love.
; Tình yêu chân lý là tình yêu chân chánh—Love for Buddha-truth; the method of love.
ái pháp lạc pháp hỉ pháp chi tâm
(愛法樂法喜法之心) Tức là tâm yêu pháp, tâm ưa pháp, tâm vui pháp. Là lời tán thán công đức các Bồ Tát Tịnh Độ, có xuất xứ từ kinh Đại Vô Lượng Thọ quyển hạ. Trong Đại Vô Lượng Thọ kinh nghĩa sớ, ngài Tịnh Ảnh nói, khi bắt đầu cầu pháp thì tâm mừng, gọi là hỉ pháp, lúc đang nghe pháp cảm thấy mùi vị như cam lộ, tâm sinh ưa thích, gọi là lạc pháp, cuối cùng khi được pháp, tâm sinh yêu đắm, gọi là ái pháp. Trong Vô Lượng Thọ Kinh Thuật Văn Tán, ngài Cảnh Hưng đứng về phương diện ba tuệ văn, tư, tu mà bảo rằng, ưa thích văn tuệ, gọi là ái pháp; đắm mùi tư tuệ, gọi là lạc pháp; nhuần thấm tu tuệ, gọi là hỉ pháp.
ái quyến
(愛罥) Ái, chỉ tham ái, ân ái, ái dục. Quyên, chỉ tấm lưới, sự trói buộc. Còn gọi là Ái hệ. Nghĩa là kẻ ngu si mắc vào lưới tham ái cũng như bị trói buộc, không được tự tại. Kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyển 7 (Đại 17, 41 thượng), nói: Đã bị lưới ái lừa gạt, làm tất cả nghiệp bất thiện. Ngoài ra, ái dục là phiền não căn bản, do đó mà phát sinh các phiền não khác, vì thế gọi là ái căn; mến tiếc bám chặt tình ân ái mà khó lìa bỏ được, gọi là ái chấp. Lại ân ái hay làm hại việc tu đạo, nó như thuốc độc, cho nên gọi là ái độc.
ái quả
The fruit of desire and attachment, i.e. suffering.
; Hậu quả hay kết quả của dục vọng và luyến ái—Fruit of desire and attachment (suffering).
ái quỉ
The demon of desire.
ái quốc
Patriotic.
ái quỷ
Quỷ dục vọng—The demon of desire.
ái tha
Altruistic.
ái tha chủ nghĩa
Altruism.
ái thiếp
Concubine.
ái thân thiên
Vị Trời Ái Thân ở cõi Dục giới có hình thức tuyệt diệu—The heaven of lovely form in the desire realm which is above the devalokas (thiện hiện).
ái thích
The thorn of love; the suffering of attachment which pierces like a thorn.
; Nổi khổ đau của luyến ái đau thấu như gai đâm—The thorn of love; the suffering of attachment which pierces like a thorn.
ái thần
Kāmadeva (S)Thần tình yêu.
; (愛神) Phạm: Kàma. Thần coi việc tình ái. Do từ Cama (kàma, ái dục) trong Lê Câu Phệ Đà mà diễn hóa thành tên thần. Cứ theo Đế Đề Lị Gia Phạm Thư chép, thì Ái thần là con của Đạt Ma (Phạm: Dharma) và Xá La Đà (Phạm:Zradhà). Còn Ha Lị Thế Hệ thì ghi là con của Cát Tường Thiên Nữ; cũng có thuyết cho là con của Phạm Thiên. Hình tượng thần này, tay cầm tên làm bằng hoa và cung làm bằng cây lúa, lưng đeo ống đựng cung tên, cưỡi chim anh vũ, được miêu tả giống như Khâu Tỉ đặc trong thần thoại Tây phương. Vào thời đại Lê Câu Phệ Đà, nguyên động lực sáng tạo vũ trụ được người ta ca tụng, do đó đã xuất hiện những bài ca tán, sau đó thì chuyển thành sự suy tư về nguyên lí triết học tính ái và sức sinh sản. Đến sau thời Tự Sự Thi xuất hiện, Ái thần được thông tục hóa mà trở thành đối tượng trong văn học cổ điển Ấn Độ được đại chúng tôn sùng và ca tụng hết mức, đồng thời, văn nghệ Ấn Độ nhân đó mà phong phú, có tính cách thần bí và chú trọng việc miêu tả các quan năng. Có rất nhiều truyền thuyết về tên gọi khác và các truyện phụ về ái thần.
ái thần nữ.
Kàma (S). Goddess of sensuous desire.
Ái thủ 愛取
[ja] アイシュ aishu ||| Grasping; love and attachment.〔瑜伽論T 1579.30.612b07. "當知有支即此所攝復次十二支中二業所攝 謂行及有三煩惱攝 謂無明愛取。當知所餘皆事所攝。"〕 - => Đắm chấp. Yêu thích và chấp giữ. “Đương tri hữu chi tức thử sở nhiếp, phục thứ thập nhị chi trung nhị nghiệp sở nhiếp vị hành cập hữu tam phiền não nhiếp vị vô minh ái thủ. Đương tri sở dư giai sự sở nhiếp”. "當知有支即此所攝復次十二支中二業所攝 謂行及有三煩惱攝 謂無明愛取。當知所餘皆事所攝". (Du-già sư địa luận 瑜伽論).
ái thủy
Dục vọng bón phân cho quả dữ—The passion of desire which fertilizes evil fruit.
ái thủy.
The semen; also the passion of desire which fertilizes evil fruit.
ái tiếc
Luyến tiếc không rời bỏ—Love and care for; to be unwilling to give up; sparing.
ái trí học viện
Aichi-gakku-en (J).
ái trước
The strong attachment of love; the bondage of desire.
; Attachment of love. (I) Nghĩa của “Ái Trước”—The meaning of “Ái Trước”—Sự chấp trước hay trói buộc mạnh mẽ vào ái dục. Từ sự ái trước nầy lại nẩy sanh ra “từ bi” là nền tảng của tình thương trong Phật giáo—The strong attachment of love; the bondage of desire. From this bond of love also arises pity, which is fundamental to Buddhism. (II) Lời Phật dạy về “Ái Trước” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Attachment of love” in the Dharmapada Sutra: 1) Như nước lũ cuống phăng những xóm làng say ngủ giữa đêm trường, tử thần sẽ lôi phăng đi những người mê muội sinh tâm ái trước những bông hoa mình vừa góp nhặt được—Death carries off a man who gathers flowers of sensual pleasures, whose mind is distracted, as a great flood sweeps away a sleeping village (Dharmapada 47). 2) Cứ sanh tâm ái trước và tham luyến mãi không chán những bông hoa mà mình vừa góp nhặt được, đó chính là cơ hội tốt cho tử thần lôi đi—The destroyer brings under his way the man who gathers flowers of sensual pleasures, whose mind distracted, and who is insatiate in his desires (Dharmapada 48).
; (愛著) Phạm, Pāli: Ràga. Ái, tức ân ái, thân ái; trước, tức dính chặt, dính nhuốm. Tình dính mắc cảnh ân ái mà khó chia lìa được. Trong ba độc, nó là phiền não tham dục. Trong kinh Đại Bảo Tích quyển 917, có câu (Đại 11, 546 thượng): Như con ruồi, thấy đồ nôn ọe ra thì sinh tâm ái trước. [X. kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) Q.25].
ái trước mê
Mê mờ luyến ái vào sự đổi thay và hoại diệt gọi là “ái trước mê” (tất cả mọi thứ đều do ngũ uẩn hòa hợp mà thành, không hiểu như vậy mà lại cho rằng mọi thứ là vĩnh hằng không thay đổi là ái trước mê)—The delusion of love for and attachment to the transient and perishing.
ái trước sinh tử
Bị trói buộc vào sanh tử là ái trước sinh tử, tận diệt sự ái trước nầy là cần thiết cho cuộc tu giải thoát—Bondage to rebirth and mortality by love of life, and to be rid of this love is essential to deliverance.
ái tâm
A loving heart; a mind full of desire; a mind dominated by desire.
; Tâm đầy dục vọng, hay tâm bị dục vọng thống trị—A mind full of desire; a mind dominated by desire; a loving heart.
Ái tâm 愛心
[ja] アイシン aishin ||| The mind of desire and attachment. - => Tâm tham muốn và chấp trước. -
ái tình
Love—Passion.
ái tích
Love and care for; to be unwilling to give up; sparing.
Ái tích 愛惜
[ja] アイシャク、アイセキ aishaku, aiseki ||| (1) Sorrow of parting; to be reluctant to separate. (2) Jealousy, envy. - => 1. Tiếc vì phải xa lìa; bất đắc dĩ phải tách rời. - 2. Tính đố kỵ, lòng ghen tức.
ái tắng
Love and hate, desire and dislike.
ái võng
The noose, or net of desire.
ái ân
To love.
ái độc
The poison of desire, or love, which harms devotion to Buddha.
; Độc dục hay ái độc làm tổn hại cho việc tu hành Phật pháp—The poison of desire or love which harms devotion to Buddhist practices.
Ái 愛
[ja] アイ ai ||| (1) To desire, yearn for, crave (Skt. kānti, Pali chanda). Craving, desire (貪欲, 渇愛) (Skt. tṛṣṇā; Pali taṇhā; Tib. shen pa). (2) Attachment, grasping 執着 (anurodha, anunaya). (3) Activity that is based on blind craving or deluded attachment--therefore, affliction 煩惱. (4) The eighth of the twelve limbs of conditioned arising 十二因縁. (5) Attachment to one's own possessions. (6) Conditioned 有爲. (7) Compassion. (8) To love (someone) in the standard usage of the term. - =>1. Yêu thích, thao khát, thèm muốn (Skt. kānti, Pali chanda). Tham dục, khát ái (貪欲, 渇愛; S: tṛṣṇā; P:taṇhā; Tib: shen pa). - 2. Đắm trước, chấp trước (執着 s: anurodha, anunaya). - 3. Hành động xuất phát từ tham lam mù quáng hay chấp trước si mê–do vậy phát sinh phiền não. - 4. Yếu tố thứ 8 trong Thập nhị nhân duyên. - 5. Đắm trước vào vật riêng của mình. - 6. Hữu vi (有爲e: conditioned ). - 7. Tình thương. - 8. Yêu (ai), theo cách dùng cụ thể của thuật ngữ.
ám
Andhakara (S), Darkness U tối, một trong 12 loại hiển sắc mắt thường có thể thấy được.
; 1) Ám muội: Dark—Obscure—Gloom—Dim—Dull—Hidden—Secret. 2) Bị quỷ ám: To possess—To obsess—To be haunted—To be obsessed by the devil. 3) U ám—To darken—To blacken—Overcast.
; (闇) Chữ (aô) Tất đàm. Một trong 12 nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, một trong 50 chữ cái. Là chữ A chuyển biến lần thứ ba trong năm lần chuyển biến, tức là thêm cái chấm (.) bồ đề ở phía trên chữ (a). Trong năm lần chuyển biến phối với năm vị Phật, thì chữ Ám tương đương với Tam ma địa của Vô Lượng Thọ Như Lai ở phương tây, đây là theo nghĩa Đông nhân phát tâm. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng) nói: Khi xướng chữ Ám thì phát ra tiếng tất cả vật đều không có cái ta và của ta. Tức là từ ngữ amogha-utpatti trong bản tiếng Phạm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Du Già Kim Cương đính quyển thượng cho chữ này là nghĩa biên tế (ngằn mé). [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.8; kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng phẩm Tự Mẫu; Đại Nhật Kinh Sớ Q.13, Q.14, Q.20]. (xt. Đông Nhân Phát Tâm).
ám chướng
Chướng ngại của sự ngu độn (chỉ tụng mà không biết nghĩa, hay chỉ tọa thiền mà không biết tọa thiền để làm gì)—The hindrance of ignorance.
; (闇障) Sự tối tăm, mờ mịt ngăn che các pháp. Kinh Đại Tập quyển 11 (Đại 13, 68 hạ), nói: Trong tất cả các pháp đều có ám chướng; diệt trừ ám chướng là bồ đề. [X. kinh Hoa Nghiêm (80 quyển) Q.15].
ám chỉ
To implicit—To hint—To refer to—To imply.
ám chứng
Chỉ chuyên vào công phu tọa thiền, mà không thông hiểu nghĩa lý của kinh điển—An ignorant preceptor, only meditation without undestanding the meanings of sutras.
ám chứng thiền sư
Một vị thiền sư chỉ chuyên ngồi thiền theo kiểu đui tu mù luyện, chứ không thông hiểu nghĩa lý của đạo (cách dạy cũng khác hay lập dị với thiền tông)—A charlatan who teaches intuitional meditation differently from the methods of that school; an ignorant preceptor.
; (暗證禪師) Cũng gọi Manh thiền giả (Thiền sư mù mờ), Ám thiền tỉ khưu. Lời nhạo báng, giễu cợt Thiền gia của các tông phái Phật giáo không phải là Thiền tông, nhất là chỉ những người một mực chấp trước Thiền định, không chịu nghiên cứu giáo pháp; trí hiểu biết thì mù mờ, nhưng lại tự kiêu tự đại, ra vẻ ta đây là Thiền sư! Thiền gia thì thường châm biếm những nhà nghiên cứu giáo lí như Thiên Thai, Pháp Tướng, Hoa Nghiêm v.v... là Văn tự Pháp sư, ý nói họ chỉ câu nề lời nói văn chữ trong kinh luận, chỉ thấy một cách hời hợt nông cạn, chứ không biết đi sâu vào ngộ nhập giải thoát. Để đáp lại, các nhà nghiên cứu Giáo môn gọi mỉa những vị ám thiền là Ám chứng thiền sư hoặc Ám chứng manh ngộ (chứng ngộ một cách mù mờ). [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.5 thượng].
ám dạ thiên
Xem Hắc Dạ thần.
ám hiệu
Secret signal.
ám hại
To harm secretly.
ám hắc đậu tập
(揞黑豆集) Sách, 9 quyển. Cư sĩ Tâm Viên soạn vào đời Thanh, cư sĩ Hỏa Liên ấn hành vào năm Càn Long 59 (1794) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 145. Nội dung ghi chép quê quán và lược truyện của 140 vị tăng và cư sĩ trong Thiền Lâm từ ngài Ứng Am Đàm Hoa đời Tống trở xuống ghi trong Chỉ Nguyệt Lục và Chư Gia Đăng Sử, cho đến ngài Lữu Khê Hành Sâm .. đời Thanh. Sau phần cơ duyên pháp ngữ của các vị sư, đều có thêm Niêm Đề Bình Xướng (đưa ra các công án và giải thích ý nghĩa) để dẫn dắt người học vào thẳng con đường Phật pháp chân chính.
ám khứ minh lai
(暗去明來) Bóng tối đi, ánh sáng lại. Cũng gọi Minh Lai Ám Khứ. Thí dụ này thường được dùng để hiển bày sự dứt hoặc chứng lí. Tiểu thừa chủ trương trước phải dứt hoặc rồi sau mới chứng Trạch diệt, giống như đuổi cướp rồi mới khoá cửa. Bởi thế dứt hoặc chứng lí là hai sát na trước sau, là thứ tự bóng tối đi, ánh sáng lại. Nhưng Đại thừa thì chủ trương ngay khi chân trí phát sinh là hạt giống phiền não bị dứt trừ, hệt như ánh sáng sinh thì bóng tối diệt liền. Cho nên không phải bóng tối đi ánh sáng lại, mà là ánh sáng lại, bóng tối đi: đó là chỗ khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Luận Thành Duy Thức quyển 9 (Đại 31, 52 trung), nói: Khi hai Kiến đạo chân thực hiện ở trước, thì hai chướng kia ắt không thành tựu; như ánh sáng và bóng tối nhất định không có mặt cùng một lúc, cũng như hai đầu cân bên này cao thì bên kia thấp. [X. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.10].
ám lâm
Tamasavana (skt)—Khu rừng vô minh—A forest of ignorance.
; (闇林) Phạm, Pāli: Andha-vana. Khu rừng gần tinh xá Kì Viên ở nước Xá Vệ, trung Ấn Độ đời xưa. Cũng gọi An đà lâm, An hòa lâm, Đắc nhãn lâm, Khai nhãn lâm, Trú an viên. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 6 chép, thì trong rừng này có dấu chân của Đức Như Lai đi dạo, chỗ các bậc Thánh Tăng tu Thiền định và giải thích lí do tại sao khu rừng này được gọi là Đắc Nhãn Lâm (rừng được mắt). Chuyện kể: khi Đức Phật còn tại thế, có năm trăm tên cướp bị vua Thắng quân bắt, vua ra lệnh móc hai mắt rồi bỏ chúng vào rừng sâu. Bấy giờ, Đức Phật đang ở tịnh xá Thệ Đa, nghe tiếng kêu thương của bọn cướp, Ngài khởi từ tâm làm cho cơn gió mát dịu thoảng qua, đưa thuốc từ núi Tuyết đến phủ đầy mắt họ, chưa bao lâu bọn cướp đều được sáng mắt trở lại. Họ đến trước Phật vui mừng đính lễ, ném gậy rồi đi, những cây gậy ấy sau mọc thành rừng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.45; Trung A Hàm Q.2 kinh Thất Nhật; luật Thập Tụng Q.6; luận Đại Tì Bà Sa Q.82; Cao Tăng Pháp Hiển truyện].
ám lệnh
Secret order.
ám ma la thức
Tiếng Hán dịch là vô cấu, tức là cái thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.
ám muội
Fishy—Suspicious—Shady—Dark—Doubtful—Underhand—Distrustful.
ám mật lí đế quân đồ lợi minh vương
(暗密裏帝軍荼利明王) Ám Mật Lí Đế Quân Đồ Lợi, Phạm: Amfta kuịđalì. Tức là Minh Vương Quân Đồ Lợi. Một trong năm vị Minh Vương lớn của Mật giáo. Cũng gọi Cam Lộ Quân Đồ Lợi Minh Vương. Dịch ý: Minh Vương Bình Cam Lộ. Hoặc gọi Cát lí minh vương, Đại tiếu minh vương, Cam lộ tôn, Quân đồ lợi bồ tát, Quân đồ lợi dạ xoa. Dạ xoa có nghĩa là bạo ác, mà tất cả tướng phẫn nộ của vị Minh vương này đều hiện vẻ bạo ác, vì thế gọi Ngài là Dạ Xoa. Trong Mạn Đồ La Kim Cương Giới, vị tôn này là Giáo lệnh luân thân của Phật Bảo sinh, hiện thân phẫn nộ, ngồi ở góc tây nam của hội Hàng tam thế. Hình tượng của vị tôn này là một mặt ba mắt tám tay, tay cầm vũ khí, sau lưng những ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt, dùng rắn quấn quanh mình thay cho chuỗi anh lạc. Trong viện Tô Tất Địa của Mạn Đồ La Thai Tạng Giới, vị tôn này là Kim Cương Quân Đồ Lợi, mật hiệu: Cam Lộ Kim Cương, là sứ giả của Phật bộ, hình tượng mầu vàng, bắt ấn để ở trước ngực, ngồi trên hoa sen đỏ. Trong viện Quan âm, Ngài là Liên Hoa Quân Đồ Lợi, mật hiệu: Hàng phục kim cương, là sứ giả của Liên Hoa Bộ, hình tượng mầu xanh, tay trái cầm hoa sen cúp, mặc áo trời. Trong viện Kim cương thủ, Ngài cũng là Kim Cương Quân Đồ Lợi, mật hiệu: Cam Lộ Quân Đồ Lợi, là sứ giả của Kim Cương Bộ. Hình tượng mầu vàng, hai tay bắt ấn ba chẽ, hai cỗ tay sắp lại để ở trước ngực. Xưa nay thường cho nghĩa kuịđalì (quân đồ lợi) là nước trí cam lộ từ bình quí báu rót ra, rửa sạch phiền não và chuyển thức thứ bảy tương ứng với ngã si, ngã mạn thành trí tính bình đẳng; cho nên trong các nghi quĩ phần nhiều gọi vị tôn này là Cam Lộ Quân Đồ Lợi. Lại cho quân đồ lợi là biểu thị tăng ích, kinh ái. Nhưng, thực ra kuịđalì có nghĩa là quấn quanh, còn các nghĩa như bình quí báu nói ở trên chỉ là do người đời sau thêm thắt mà thôi. Lại nữa, cứ theo khảo chứng, quân đồ lợi bắt nguồn từ sự sùng bái Thước Khất Để (Phạm: zakti, tính lực). [X. kinh Đà La Ni Tập Q.8; kinh Tô Tất Địa Yết La Q.thượng; Cam Lộ Quân Đồ Lợi Bồ Tát Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quĩ].
ám mật lý đế quân đồ lợi
Amrtakundali (skt)—Bình đựng nước Cam Lồ—The vase of ambrosia.
ám nghĩa
Ambiguity.
ám nghệ tập
(暗囈集) Tác phẩm, 18 quyển, được soạn và ấn hành năm nào không rõ. Sách này thu chép những niên đại Văn an, Bảo đức, Văn minh v.v... của Nhật Bản và bàn luận về giáo nghĩa tông Thiên Thai. Nội dung chia làm sáu thiên: Kế Phật bộ, Ngũ thời bộ, Giáo tướng bộ, Bồ tát bộ, Nhị thừa bộ và Tạp bộ. Mỗi bộ 3 quyển.
ám sát
Assassinate.
ám thiền
(暗禪) Nghĩa là thiền mờ tối đối với giáo lí. Cũng gọi Ám chứng thiền, Manh thiền (thiền mù). Lời chế giễu những Thiền tăng chỉ chấp trước thiền định, không biết gì về giáo tướng, văn nghĩa.
ám thất
Căn phòng tối dùng để thực tập thiền—A dark room, a place for meditation.
ám thất hốt minh
(闇室忽明) Nghĩa là lúc trong nhà đang tối, thắp đèn lên thì lập tức ánh sáng tỏa khắp nhà và bóng tối tan biến hết. Ví dụ phiền não nghiệp chướng, khi đèn trí tuệ soi rọi thì không thể tồn tại. Kinh Như Lai Bí Mật Tạng quyển hạ (Đại 17, 845 thượng), chép: Phật nói (...) Này Ca Diếp! Nếu trong nhà tối khi thắp đèn sáng, thì bóng tối ấy há có thể nói rằng: tôi ở đây đã trăm nghìn năm rồi, nay nhất định tôi không đi đâu, có được không? Ca Diếp bạch Phật: Không ạ, bạch Thế Tôn! Khi thắp đèn lên thì bóng tối ấy đã đi rồi. Phật bảo: Đúng thế, này Ca Diếp! Dù tạo nghiệp chướng trong trăm nghìn muôn kiếp, nhưng nếu tin lời Như Lai, hiểu rõ được duyên pháp (...) Nên biết các phiền não yếu ớt, khi đèn trí tuệ soi rọi, thì không thể tồn tại.[X. kinh Đại Tập Q.1; Ma Ha Chỉ Quán Q.1 phần dưới].
ám thất niệm phật
Niệm Phật lớn tiếng trong phòng thiền hay phòng tối—To repeat the name of a Buddha loudly or audibly in a dark room.
; (暗室念佛) Nghĩa là vào nhà tối lớn tiếng niệm Phật. Hành giả đặc biệt chọn căn phòng tối, niệm Phật thật lớn tiếng, hoàn toàn cắt đứt với những cái thấy nghe ở bên ngoài, xa lìa vọng tưởng để thành tựu tam muội niệm Phật. Luận Thích Tịnh Độ Quần Nghi quyển 7 (Đại 47, 76 trung), nói: Xét trong thánh điển thì phương pháp ám thất niệm Phật tuy không phải là giáo lí niệm Phật tột bậc, nhưng nếu người ta tu hành ở trong căn nhà tối, dứt bặt mọi sự thấy nghe, thì tâm dễ buông bỏ các duyên; phương pháp này giúp những người mới tu tập dễ tập chú tưởng để thành tựu tam muội. (xt. Niệm Phật).
ám trợ
To aid secretly.
ám tâm
Tâm trí ám muội, ngu si, và luôn nghi hoặc—A dark, ignorant, or doubting mind.
; (闇心) Tâm mờ tối. Một trong 60 tâm nói trong kinh Đại Nhật. Nghĩa là đối với pháp chân thực mà sinh tâm ngờ vực, giống như Si tâm (tâm ngu si), Nghi tâm (tâm ngờ vực) trong 60 tâm. Si tâm và ám tâm tuy cùng thuộc về phiền não si, nhưng si tâm thì gặp pháp thảy đều tin nhận, còn ám tâm thì sinh nghi ngờ. Lại, si tâm và ám tâm tuy đều là tâm ngờ vực, nhưng nghi tâm thì vì tiểu trí mà ngờ pháp, bản chất của nó là nghi ngờ; còn ám tâm thì vì tâm mê muội mà ngờ pháp, bản chất của nó là tối tăm. [X. kinh Đại Nhật Phẩm Trụ Tâm; Đại Nhật Kinh Sớ Q.11].
ám tả
Dictation.
Ám tế
暗 蔽; C: ànbì; J: anbei; |Tối tăm, mù quáng, mờ mịt.
ám tế
Bị vô minh che mờ trở nên ám độn—Dark, ignorant.
Ám tế 暗蔽
[ja] アンベイ anbei ||| Darkness, blindness, obscuration. 〔佛説如來不思議祕密大乘經 312.11.748b23〕 - =>Tối tăm, mù quáng, mờ mịt. -
ám đà già tần đà thôn
(暗陀伽頻陀村) Phạm, Pāli: Andhakavinda- Cũng gọi A Na Già Tần Đà Thôn. Cứ theo Nam Truyền Luật Tạng Đại Phẩm chép, thì có lần Đức Thế Tôn tạm trú ở nước Ba La Nại, sau Ngài dời về ở thôn Ám Đà Già Tần Đà, rồi từ đấy Ngài lại đi đến thành Vương Xá. Căn cứ vào đó có thể đoán biết là thôn này nằm giữa nước Ba La Nại (Pāli: Baraịàsì) và thành Vương Xá (Pāli: Ràjagaha). Sách đã dẫn còn chép: Ngài Ca Diếp (Pāli: Mahàkassapa) có lần từ thôn này đi đến thành Vương Xá bố tát, lúc Ngài qua sông, nước chảy xiết, suýt nữa bị nước cuốn đi, ba tấm áo ướt hết, vì sự kiện này nên Đức Phật chế định giới không được để mất áo. Đức Thế Tôn thường đến thôn Ám Đà Già Tần Đà nói pháp cho các vị Tỉ Khưu nghe. Cứ theo Nam Truyền Tăng Chi Bộ kinh 5, 114 chép, thì Đức Thế Tôn sai ngài A Nan răn dạy các vị Tỉ Khưu mới vào phải giữ giới và dạy năm pháp giữ gìn năm căn. Cứ theo lời chú thích trong kinh Thiên Cung Sự (Pāli: Vimàna-vatthu) của Phật giáo Nam truyền, thì có lần Đức Thế Tôn bị cảm ở đây, sai ngài A Nan cầm bát đi xin cháo. Lại có vị Ưu Bà Tắc ở thôn này xây cất điện Hương (Pāli: gandhakuỉì) để cúng dường Đức Phật. [X. luật Tứ Phần Q.35; luật Thập Tụng Q.26; luật Ngũ Phần Q.22].
ám độn
Ám muội và ngu độn—Ignorant and dull.
; (暗鈍) Nghĩa là căn tính ngu tối chậm lụt. Cứ theo kinh Pháp Hoa phẩm thí dụ nói, người chê bai kinh Pháp Hoa sẽ bị các tội báo, trong đó, nếu được sinh làm người, thì các căn ám độn (ngu tối chậm lụt), mù điếc, lưng gù, hễ nói điều gì không ai tin nhận.
ám độn chướng
Ignorant and dull ideas.
; (暗鈍障) Một trong mười chướng nặng. Cũng gọi Trì độn chướng, Ám tướng ư văn tư tu đẳng chư pháp văn chướng. Một trong 10 chướng nặng. Hàng Bồ tát trong 10 địa: Hoan hỉ địa, Ly cấu địa v.v... tu 10 hạnh thù thắng, mỗi hạnh dứt trừ một chướng nặng, 10 hạnh đoạn hết 10 chướng. Ám độn chướng là nạn chướng phát sinh cùng lúc với Sở tri chướng, khiến cho quên mất các pháp Văn, Tư, Tu. Trong đó, nếu dính mắc năm dục, thì nó che lấp định tu tuệ gọi là Dục tham ngu; nó che lấp tổng trì và văn, tư tuệ, thì gọi là Viên mãn văn trì đà la ni ngu. Khi vào Phát quang địa thì dứt trừ chướng này và chứng được Thắng Lưu Chân Như. (xt. Thập Trọng Chướng).
ám ảnh
To haunt—To obsess
Án
案; C: àn; J: an;|1. Cái án, cái bàn, cái giá; 2. Hướng dẫn; 3. Một vụ kiện, sự kêu nài, một trạng huống; 4. Suy nghĩ, suy tưởng, quyết định.
án
1) Bàn của phán quan: A judge's desk. 2) Cuộc xử án của tòa: A case at law. 3) Dằn xuống—To Place—To lay the hand on. 4) Lời chú mở đầu Đà La Ni Kim Cương Giới: A mystical formulae opening a dharani in Vajradhatu.
án chỉ
To make a finger-mark or sign.
Án già ra đế da ta bà ha
(唵伽囉帝耶娑婆訶): làPhá Địa Ngục Chơn Ngôn (破地獄眞言), được tìm thấy trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) do Độc Thể (讀體, 1601-1679), cao tăng của Phái Thiên Hoa (千華派) thuộc Luật Tông ở Bảo Hoa Sơn (寶華山) soạn. Câu thần chú này nằm trong bài kệ Văn Chung (聞鐘, Nghe Chuông), có âm dịch hơi khác: “Án, già ra đế da sa ha (唵、伽囉帝耶莎訶).” Bên cạnh đó, chú ngữ này còn được tụng trong thời khóa Công Phu Chiều hằng ngày.
án hô lô hô lô
(唵呼盧呼盧) Gọi đủ: Án-hô-lô-hô-lô-chiến-đà-lợi-ma-đăng-kì-sa-bà-ha. Bài chú ngắn trong chân ngôn của đức Dược Sư Như Lai. Trong đó, án (oô) nghĩa là đính lễ; Hô-lô-hô-lô (huru huru) nghĩa là nhanh chóng; chiến đà lợi (caịđari) nghĩa là tướng bạo ác; ma đăng kì (mataígì) nghĩa là voi chúa; Sa-bà-ha (svàhà) nghĩa là thành tựu. Là chân ngôn được tụng khi lễ Dược Sư Như Lai để cầu phúc tiêu tai. [X. Dược Sư Như Lai Quán Hạnh Nghi Quĩ Pháp; Chư Tôn Chân Ngôn Cú Nghĩa Sao Q.thượng].
án khiếm diện
Judgment by default.
án lệ
Jurisprudence.
án ma ni bát di hồng
Aum Mani Padme Hum (S)
; See Om Mani Padme Hum in Pali/Sanskrit Vietnamese Section.
án ma ni bát dị hồng
Oṃ Maṇi Padme Hūm (S)Ngọc quí trong hoa sen.
án mạng
Murder—Homocide.
án ngữ
To obstruct someone's path—To put obstacles in someone's way.
án phí
Court costs—Court expenses.
án qua nhị đế
(案瓜二諦) Từ dùng của ngài Cát Tạng, tông Tam Luận, để bình giải thuyết Nhị Đế. Như nhận trái dưa vào trong nước, nhấc tay ra thì dưa nổi lên, dùng để thí dụ Thế đế, ấn xuống thì quả dưa chìm, thí dụ Chân đế Thể giả tức không. Tục đế hiển lộ dễ thấy, Chân đế thì không hiển bày, chẳng phải người thường có thể biết được, vì thế dùng án qua (ấn dưa) làm thí dụ. [X. Nhị Đế Nghĩa Q.hạ]. (xt. Nhị Đế).
án quyết
Judgment.
án sát
Provincial judge.
Án Sát Sứ
(按察使): tên gọi một chức quan được đặt ra dưới thời nhà Đường, vị quan lại chuyên quan sát công việc hành chính, phong tục, tập quán, v.v., ở địa phương. Đến thời nhà Minh và Thanh, nó là Trưởng Quan Tư Pháp của một tỉnh.
Án sơn
案 山; C: ànshān; J: anzan; |Ngọn núi chắn ngang trước hang động hay toà nhà. Khi rặng núi có nhiều đỉnh liên tiếp nhau, thì những ngọn núi gần được gọi là Nội án sơn (内 案 山), những ngọn núi xa được gọi là Ngoại án sơn (外 案 山).
Án sơn 案山
[ja] アンザン anzan ||| Opposing Mountain. The mountain that stands across from a grave or a building. When the mountain consists of numerous consecutive ridges, the closer layers of mountains are called `Inner Opposing Mountains' (内案山) and the remote ridges are called `Outer Opposing Mountains' (外案山). - =>Ngọn núi chắn ngang trước hang động hay toà nhà. Khi rặng núi có nhiều đỉnh liên tiếp nhau, thì những ngọn núi gần được gọi là Nội án sơn (内案山), - Những ngọn núi xa được gọi là Ngoại án sơn (外案山). -
án treo
Suspended sentence.
án tạm
Provisional judgment.
án tử hình
Death sentence—Capital penalty.
án văn
Sentence.
án vị sàng trướng
(按位床帳) Nghĩa là, trong phòng liêu của chúng tăng, giường của mỗi người đều có giăng màn (mùng) để ngủ. Vị, còn gọi là Bị vị, tức là trong phòng liêu của mỗi người đều có chiếu ngồi. Sàng trướng, tức là màn muỗi được chúng tăng dùng trong nhà Tăng. Thiền Uyển Thanh Qui quyển 3 Duy Na (Vạn tục 111, 446 hạ), nói: Người quản lí nhà Tăng, phải trông nom cửa ngõ, cửa sổ, sắp đặt phòng xá, chuẩn bị chiếu, giường, màn và các đồ lặt vặt thường dùng.
án vị tiếp
(按位接) Đối lại với Thắng tiến tiếp. Án, có nghĩa là dừng lại, tức dừng lại ở giai vị cũ để được Hậu giáo tiếp vào. Trong giáo nghĩa Thiên Thai, khi những người thuộc hai giáo Thông, Biệt còn chờ được tiếp vào Hậu giáo, thì vẫn chưa vào được giai vị chân thực của Hậu giáo, mà còn dừng lại ở giai vị Tiền giáo, như giai vị Thập hồi hướng của Biệt giáo, giai vị Thập tín của Viên giáo. Vì giai vị này mới chỉ biết được lí Trung đạo, nhưng chưa diệt hết vô minh để có thể tiến vào giai vị chứng chân. [X. Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm Q.4; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.hạ]. (xt. Bị Tiếp).
án đạt la
Andhra (skt)—Một vương quốc nằm về phía nam Ấn Độ, giữa hai con sông Krishna và Godavari, kinh đô của nó là Vengi; nước nằm về phía đông nam của Án Đạt La được biết đến với cái tên Đại Án Đạt La—A kingdom in Southern India, between the Krishna and Godavari rivers, whose capital was Vengi; the country south-east of this was known as Maha-Andhra.
án đạt la phái
Andhaka (S)Một bộ phái Tiểu thừa. Phái này có 4 bộ Đông sơn trụ bộ, Tây sơn trụ bộ, Vương on trụ bộ, Nghĩa thành bộ.
; (案達羅派) Pāli: Andhakà. Danh xưng của Bộ phái Phật giáo. Căn cứ địa của phái này là khu vực Án-đạt-la (Phạm: Andhra, Pāli: Andha) thuộc nam Ấn Độ. Còn gọi là Án-đà-la. Theo ngài Phật Âm (Phạm: Budhaghowa) trong Luận sự chú (Pāli: Kathà-vatthuppakaraịa - aỉỉhakathà) thì phái Án-đạt-la gồm có bốn bộ là Đông Sơn Trụ Bộ (Pāli: Pubbaseliyà), Tây Sơn Trụ Bộ (Pāli: Aparaseliya), Vương Sơn Trụ Bộ (Pāli: Ràjagiriyà) và Nghĩa Thành Bộ (Pāli: Siddhathikà), đều là những bộ phái uất hiện ở đời sau. Thời ngài Phật Âm trở về trước, danh từ Án-đạt-la không được sử dụng, tuy nhiên, trong các sách có liên quan đến bộ phái, đối với bốn bộ phái thuộc Án-đạt-la, thì Đảo-sử (Pāli: Dìpavaôsa V) nói, trong hai trăm năm kể từ khi đức Phật nhập diệt, sau khi giáo đoàn nguyên thủy đã chia thành mười bảy bộ phái rồi, thì từ trong sáu bộ sản sinh bốn bộ nữa là: Vương Sơn Trụ Bộ, Nghĩa Thành Bộ, Đông Sơn Trụ Bộ và Tây Sơn Trụ Bộ (Nam truyền Đại thống sử Mahàvaôsa V cũng nói thế). Ngài Thanh Biện (Phạm: Bhavya), trong thuyết thứ hai của Dị bộ tông tinh thích (tiếng Tây Tạng: Sde-pa tha-dad-par byed-pa dan rnam-par-bzad-pa), cũng từ trong tám bộ của Đại chúng bộ nêu lên bốn bộ là Đông Sơn Trụ Bộ (Tạng:Zar-gyi ri-bo-pa), Tây Sơn Trụ Bộ (Tạng:Nub-gyi ri-bo-pa), Vương Sơn Trụ Bộ (Tạng: Rgyal-po ri-bopa), và Nghĩa Thành Bộ (Tạng: Don-grubpa). Cứ theo luận Dị Bộ Tông Luân của Thế Hữu chép, thì sau Phật nhập diệt đúng hai trăm năm, trong Đại chúng bộ có Đại thiên ở núi Chế đa, tranh luận với chư tăng Đại chúng bộ về năm việc (Ngũ sự), dẫn đến xích mích mà chia thành Chế Đa Sơn Bộ, Tây Sơn Trụ Bộ và Bắc Sơn Trụ Bộ (tương đương với Đông Sơn Trụ Bộ trong Đảo Sử). Về vấn đề này, trong Chú Thích Luận Sự 2-1 đến 5, Phật Âm bảo Dư-sở-dụ là chủ trương của Đông Sơn Trụ Bộ và Tây Sơn Trụ Bộ, vô tri, do dự, tha linh nhập là chủ trương của Đông Sơn Trụ Bộ, Đạo nhân thanh cố khởi là chủ trương chung của Đông Sơn Trụ Bộ, đại khái vẫn hợp. Thế Hữu chưa nói đến Vương Sơn Trụ Bộ và Nghĩa Thành Bộ, mà hai bộ này chỉ thấy ghi trong Đảo Sử, cứ đó mà suy thì biết hai bộ này về sau mới từ Tây Sơn Trụ Bộ và Đông Sơn Trụ Bộ phân hóa ra, Đảo Sử còn nói đến một bộ nữa là Hậu Vương Sơn Trụ Bộ (Pāli: Apara - ràjagirikà, Đại thống sử gọi là Kim Cương Bộ Vàjiriyà) từ Vương Sơn Trụ Bộ thuộc sáu bộ Đại chúng phân hóa ra ở thời kì phân phái sau. [X. Kết Tập Phân Phái Sử Khảo, Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận; Ấn Độ Phật giáo cố hữu danh từ từ điển; N. Dutt: Aspects of Mahàyàna Buddhism; J. Thomas: The History of Buddhist Thought; G.DMalalasekera: Dictionary ofPāli proper Names].
án đạt la vương triều
(案達羅王朝) Án-đạt-la, Phạm: Andhra. Còn gọi là Án-đà-la vương triều. Là Vương triều thống lãnh miền nam Ấn Độ sau khi vua A Dục băng hà. Từ năm 232 sau Tây lịch, trải ba mươi đời, gồm bốn trăm năm mươi năm. Theo truyền thuyết, Vương triều này là chủng tộc Nhã-lợi-an (Aryan) lai dân địa phương. Trước ngày độc lập thống nhất, có ba mươi đô thị, vô số làng mạc, mười vạn bộ binh, hai nghìn kị binh, một vạn thớt voi, vũ lực rất mạnh. Vì vua đời thứ nhất là Thi-ma-ca (Phạm: Simuka), họ là Sa-đa-bà-ha (Phạm: Sàtavàhana), cũng tức là tên gọi dòng Vương thất. Cuối thế kỉ thứ nhất Tây lịch, Án-đạt-la bị hai bộ tộc thuộc dòng Thích Ca xâm lược, đến năm 106, vua Kiều-đạt-di-phổ-đặc-la-tất-đạt-tạp-nhĩ-ni (Phạm: Gautamìputra zàtakarịi) lên ngôi mới chấn hưng thế nước. Về sau, vận nước lại dần dần suy đồi, cho đến năm 225 Tây lịch thì diệt vong. Năm 200 Tây lịch, Vương triều Án-đạt-la bảo hộ việc xây dựng di tích Phật giáo nổi tiếng là tháp A-ma-la-bà-đề (Phạm: Amaràvatì) và đục mở các chùa viện hang động ở A-chiên-đà (Phạm: Ajantà) thời kì đầu, lại vào thời vua Da-kì-na-xá-lợi (Phạm: G. Yajĩazri), đem dâng cúng hang núi Hắc phong cho nhà Đại thừa Phật giáo lừng danh là ngài Long Thụ (Phạm:Nàgàfjuna). Bởi thế, Vương triều này, đối với Đại thừa Phật giáo, đã có những cống hiến cực lớn. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 10 chép, thì đô thành nước Án-đạt-la là Bình-kì-la, phong tục mạnh mẽ dữ tợn, toàn quốc có hơn hai mươi ngôi chùa, Tăng đồ hơn ba nghìn người. Về phía Nam không xa, có một ngôi Tốt-đổ-ba (tháp) do vua Vô-ưu (A Dục) xây, đánh dấu một trong những nơi đức Phật đã đến nói pháp. Chỗ cách đô thành về mạn tây nam hơn hai mươi dặm, có một quả núi trơ trọi, trên chóp núi có tháp đá là nơi thuở xưa ngài Trần Na làm luận Nhân minh. Tây-vực-kí còn nói, về phía đông Nam Án-đạt-la-là nước Đà-na-yết-trách-ca, mà cũng được gọi là nước Đại-án-đạt-la. [X. Nam Hải Kí Qui Nội Pháp Truyện Q.4; Giải Thuyết Tây Vực Kí; Đông Nam Ấn Độ chư quốc đích nghiên cứu.]
án đầu
(案頭) Tức là cái bàn nhỏ. Trong phòng liêu của chúng tăng tại các chùa viện thuộc Thiền tông, có đặt bàn để tăng chúng ngồi đọc kinh luận. Thiền tăng, khi phóng tham (nghỉ ngơi sau khi tham thiền), đại chúng trở về phòng liêu, ngồi vào bàn đối diện nhau để uống trà. Trên mặt bàn, không được bày tượng Phật hoặc Bồ Tát để tránh sự vô lễ. [X. Vĩnh Bình Nguyên Thiền Sư Thanh Qui Q.thượng, Q.hạ].
Án 案
[ja] アン an ||| (1) A desk, table, stand. (2) To guide. (3) A case, a complaint, as situation. (3) To think, contemplate, decide. - => 1. Cái án, cái bàn, cái giá. - 2. Hướng dẫn. - 3. Một vụ kiện, sự kêu nài, một trạng huống. - 4. Suy nghĩ, suy tưởng, quyết định. -
án, úm.
Aum (S)
áng
1) Cái thố—A bowl. 2) Nhiều: Abundant.
áng chừng
Approximately—About.
áng mây
A cluster of cloud.
áng nga la ca
Angaraka (skt)—Hỏa tinh—The planet Mars.
áng văn chương
Literary work.
ánh
Ray—Beam—Light.
ánh hoàng đới
Zodiacal light.
ánh lửa
Fire light.
ánh mặt trời
Sunlight.
ánh nắng
Sunlight.
ánh phân cực
Polarized light.
ánh rạng đông
The first glimmer of dawn.
ánh sao
Starlight.
ánh sáng ban ngày
Daylight.
ánh sáng chói lòa
Bright or brilliant light.
ánh sáng chập chờn
Unsteady light.
ánh sáng khuếch tán
Indirect light.
ánh sáng khúc xạ
Refracted rays.
ánh sáng lờ mờ
Dim light.
ánh đuốc
Torch light.
ánh đèn
Lamplight.
ánh đơn sắc
Monochromatic light.
ánh đạo vàng
The Golden Light of the Dharma.
áo
1) Góc tây nam của vũ trụ nơi các vua Táo nghỉ ngơi: South-west corner of the universe where were the lares retired. 2) Nước Áo: Austria. 3) Áo Não: Harassed—Distressed—Uneasy—Vexed. 4) Áo nghĩa: Nghĩa lý huyền áo—Mysterious meanings.
; (奧) Chữ Tất đàm (au). Là một trong mười hai nguyên âm của tự mẫu Tất đàm, một trong năm mươi chữ cái. Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ áo, đều ra tiếng hóa sinh. Kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn phẩm Tự Mẫu (Đại 14, 498 thượng), nói: Xướng chữ áo, ra các tiếng hóa sinh. Vì chữ aupapàduka bắt đầu bằng chữ au, bèn dùng nghĩa hóa sinh để giải thích nghĩa chữ áo. Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 8 (Đại 12, 413 trung), nói: Áo, có nghĩa là Đại thừa, là nghĩa cứu kính trong mười bốn âm. Kinh điển Đại thừa cũng lại như thế, trong các kinh luận là rốt ráo nhất, bởi thế gọi là áo. Theo đó, chữ áo là chữ sau cùng trong mẫu tự, là nghĩa rốt ráo, cho nên dùng nó để thí dụ kinh điển Đại thừa là rốt ráo nhất. [X. kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Q.10; kinh Du Già Kim Cương Đính phẩm Tự Mẫu; Tất Đàm Tự Kí]
áo an đà hội
Antarvan (S)Cà sa ngũ điều.
áo bà ba
Blouse.
áo bá nạp
xem nạp y.
; y bá nạpLà y có 25 điều. Dùng 25 khổ vải dài chắp lại nhau, mỗi khổ gồm 4 miếng dài + 1 miếng ngắn, nối thành 125 miếng. Chỉ dùng cho các Đại Trưởng Lão, Đại Tăng Chánh hay Đại Lão Hoà thượng.
áo choàng
Overcoat.
áo cà sa
Civara (S), Robe of a monk áo cá sa từ 5 đến 25 điều.
; Buddhist monk's dress (robe).
áo công đức
Kathina (S). Robes annually supplied to monks.
áo cổ cao
High-necked dress.
áo cửu điều
Xem nạp y.
áo dài
Dress.
áo khâm-bà-la
loại áo ngoại đạo thường mặc, dệt bằng lông thú xen lẫn với sợi tơ. (Theo Tuệ Lâm âm nghĩa, quyển 25.)
áo mưa
Raincoat.
áo nghĩa thư
(奧義書) Phạm: Upanisad. Dịch âm là Ưu-ba-ni-sa-độ. Là sách triết học của cổ Ấn Độ. Sách ghi giáo nghĩa bí truyền giữa thầy và trò, cho nên gọi là Áo Nghĩa Thư. Sách viết bằng chữ Phạm, ghi chép và tường thuật những tư tưởng nguyên gốc của triết học Ấn Độ. Tôn giáo Ấn Độ bắt đầu bằng những bài ca tán tụng của Phệ-đà, về sau sách bằng chữ Phạm được viết ra, mục đích là thuyết minh phép dùng các bài ca tán và các nghi thức khác, trong đó, có một chương gọi là A-lan-nhã-ca (Phạm:Àraịyaka), để thuyết minh chương này mà Áo Nghĩa Thư được biên tập. Thuyết A-lan-nhã-ca sâu kín nhỏ nhiệm, lấy nghĩa do những người trốn đời ở trong rừng rậm đọc tụng mà gọi là Sâm Lâm Thư (sách rừng rậm), đặc biệt trọng phương diện hình thức và thần học, mà Áo nghĩa thư thì trái lại, thuộc thuần chính triết học. Áo Nghĩa Thư lấy việc giải thích rõ ý nghĩa chung cực của Phệ-đà làm mục đích, kế tục tư tưởng triết học ở thời kì cuối Phệ-đà và phát huy ý kiến mới, về phương diện này, nó còn được gọi là Phệ-đàn-đa (Phạm: Vedànta). Nguyên ý có thể là bộ phận cuối cùng của Phệ-đà, sự phát triển sau này đặc biệt được coi trọng, trở thành là nguồn gốc của các phái triết học đời sau. Các bản truyền đến nay có tới hơn hai trăm loại, nhưng chủ yếu có mươi loại, gọi chung là Cổ đại Áo Nghĩa Thư (Áo Nghĩa Thư đời xưa), được hoàn thành khoảng từ tám trăm năm đến sáu trăm năm trước Tây lịch. Từ đó đến mấy thế kỉ sau, các tác phẩm vẫn tiếp tục tăng thêm, gọi là Tân Áo Nghĩa Thư. Xem thể văn, có thể chia làm ba loại: tản văn xưa, tản văn và tản văn mới. Từ xưa được coi là văn học Thiên Khải (Phạm: Zruti), là uyên nguyên của tư tưởng chính thống Bà-la-môn Ấn Độ, cũng là sách căn cứ cốt cán của tư tưởng triết học, tôn giáo đời sau. Các thiên trong sách không phải do cùng một tác giả trình bày một tư tưởng thống nhất, hoặc một hình thức nhất định, mà trải qua bao tháng năm lâu dài mới hoàn thành việc biên tập, bởi thế, những tư tưởng mới cũ lẫn lộn, vả lại, thiếu hẳn tính thống nhất và chủ thể trung tâm. Những người thực sự biên soạn sách này, chắc chắn là những người Bà-la-môn qua nhiều thế hệ. Ngoài ra, cũng có thể nói, sự xuất hiện của Áo Nghĩa Thư tượng trưng cho sự phản động lại chủ nghĩa tế tự vạn năng của Phệ-đà, đồng thời cũng tạo thành thời cơ thích hợp cho Phật giáo hưng khởi. Tư tưởng cốt tủy trong toàn bộ sách Áo Nghĩa Thư cho rằng, bản thể của đại vũ trụ Phạm và bản thể cá nhân Ngã là nhất thể, là nguyên lí căn bản của vũ trụ vạn hữu, đây tức là tư tưởng Phạm Ngã đồng nhất, cũng là triết học Nhất nguyên của quan niệm luận. Thuận theo nguyên lí căn bản này, sự phát sinh của muôn sự muôn vật tất phải có một trật tự nhất định. Sự sống của con người là do nghiệp mà đi lại trong đường luân hồi, đem hành vi của con người, lấy yêu cầu đạo đức quả báo thiện ác làm nền tảng, mà triển khai tư tưởng luân hồi tái sinh. Nếu bằng Thiền định và khổ hạnh mà nhận thức được chân lí Phạm Ngã đồng nhất, thì có thể giải thoát sự trói buộc của sinh tử luân hồi mà đạt đến thế giới Phạm (Phạm: Brahma-loka) đó là mục đích cao nhất của con người. Tư tưởng quan niệm luận này nhằm giải thích tất cả hiện tượng giới đều hư dối, duy chỉ có Phạm là thực tại độc nhất, đồng thời, lấy Phạm, Ngã đại biểu hai phương diện Tâm, Vật mà sinh thành muôn vật trong vũ trụ. Từ trong tư tưởng này của triết học Ấn Độ cổ đại, dần dần đã sản sinh ra các hệ phái Hữu Thần Luận. Qua thời kì sau của Áo Nghĩa Thư, tư tưởng triết học ấy lại còn triển khai phức tạp hơn nữa, do đó, các phái triết học Ấn độ càng sản sinh thêm nhiều chi phái nữa. Sách này có rất nhiều bản dịch, xưa nhất là bản dịch tiếng Ba Tư, về sau, lần lượt có các bản dịch Lạp-đinh (Latin), Đức, Anh, Trung, Nhật v.v... [X. Deussen: Allgemeine Gestchichte der Philosophie; H. Oldenberg: Die Lehre der Upanishaden und die Anf@nge des Buddhismus].
áo ngũ thân
dành cho người mới xuất gia giống áo của cư sĩ tại gia.
áo ngũ điều
Y ngũ điềuĐược may bởi 5 mảnh vải thành 5 hàng dài, mỗi hàng một miếng dài một miếng ngắn. Y này mặc chỗ nào cũng được.
áo nhuộm màu
chỉ áo cà-sa của các vị tỳ-kheo được nhuộm màu nâu hoặc màu vàng để xóa đi các màu khác trước khi mặc, cũng gọi là hoại sắc y (áo đã làm cho mất màu). Mục đích của việc nhuộm màu là làm cho tấm áo trở thành xấu xí, mất đi vẻ đẹp mà người thế tục ưa thích ngắm nhìn. Ngày nay người ta thường chọn các loại vải có màu nâu hay vàng thật đẹp để may áo, như vậy là không còn giữ được đúng theo mục đích ban đầu của sự hoại sắc.
áo nhã tân đô cấu tu
(奧若賓都遘須) Sri Aurobindo Ghose (1872 - 1950) Còn dịch là Áo-la-tân-đa-cao-sĩ. Nhà triết học Ấn Độ, nhà thơ, nhà cải cách Ấn Độ giáo. Ông sinh trong gia đình Bà-la-môn ở Mạnh Gia Lạp (Bengal). Bảy tuổi sang Anh du học, năm 1893 tốt nghiệp tại Đại học Kiến Kiều (Cambridge) rồi trở về nước. Đầu thế kỉ XX, ông tham gia cuộc vận động dân tộc Ấn Độ, giữ việc biên tập báo Kính Lễ Tổ Quốc, là một lãnh tụ trong phái cấp tiến thuộc đảng Quốc Đại. Năm 1910, ông mở thư viện Áo-nhã-tân-đô, sau lập phái hệ triết học Chỉnh thể bất nhị luận (Pùrịa advaita), cho rằng vũ trụ là do hiện tượng giới (thế giới hiện thực) và siêu việt giới (thế giới bản thể) tổ chức thành, hiện tượng giới bao gồm sự tồn tại của vật chất, sinh mệnh và tâm; còn siêu việt giới là sự tồn tại của tinh thần siêu việt tâm. Thế giới siêu việt là do thế giới hiện tượng diễn hóa ra, từ vật chất tiến hóa đến sinh mệnh, lại tiến nữa mà tiến hóa đến tâm, đến siêu tâm. Cả cuộc đời ông dồn hết sức lực vào việc điều hòa giữa khoa học và tôn giáo, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm, giữa văn hóa tư tưởng Đông và Tây v.v..., cố sức đem cuộc vận động chính trị ở Ấn Độ xây dựng trên nền tảng tôn giáo, lấy lí tưởng Ấn Độ giáo làm lí tưởng cho cuộc vận động giải phóng dân tộc. Trước tác hơn trăm loại, trọng yếu thì có: Thần thánh sinh hoạt (The Life Divine), Du già chi tông hợp, Ấn độ văn hóa chi cơ sở, Tối hậu chi thi thiên v.v...
áo nhĩ cao đặc
(奧爾高特) Henry Stell Olcott (1832 - 1907) Ông sinh tại Tân Trạch Tây Châu Quất Thành (Orange, New Jersey), nước Mĩ, khi còn theo học tại Đại học Kha-luân-tỉ-á (Colombia) đã tin theo Phật giáo. Năm 1875, ông thành lập học hội Linh Trí, khuyên người cải tín theo Phật giáo. Sau khi xuất ngũ, ông lại vào Đại học học luật, rồi cùng với vợ là Ba-lạp-ngõa-tư-cơ (H.P. Blavatsky), quốc tịch Nga, sang Ấn độ tham học, sáng lập Chi hội của học hội Linh Trí tại Ấn Độ, đề xướng việc nghiên cứu các tôn giáo, so sánh và lựa chọn những điều hay nhất để tin theo. Năm 1880, cả hai vợ chồng đến Tích Lan, thấy sự suy đồi của Phật giáo Tích Lan và bị Cơ Đốc giáo bách hại, ông mới thành lập Phật giáo Linh Trí học hội (Buddhist Theosophical Society) để xúc tiến tinh thần hòa bình hữu nghị giữa các tôn giáo trên thế giới, bênh vực những tôn giáo bị áp bách, rồi liên hợp các vị lãnh đạo bốn chúng tại địa phương, khuyến hóa thành lập được hơn bốn trăm trường học Phật giáo. Như Học viện A-nan-đà (Ananda College), Học viện Pháp Vương (Dharmaraja College), Học viện Ma-hi-đà (Mahinda College) v.v... đều được thành lập vào thời gian này, đồng thời, dùng phương pháp giáo dục cận đại để dạy Phật pháp và khoa học, lôi cuốn nhiều học giả Tây phương đến Tích lan, đặt kế hoạch phát triển nền giáo dục quốc gia và giáo dục Phật giáo Tích Lan. Ngoài ra, ông còn khuyến hóa ấn hành tạp chí Phật Giáo Đồ (The Buddhist) bằng tiếng Anh. Lá cờ Phật giáo thế giới hiện nay cũng chính do ông thiết kế. Ông so sánh Phật pháp với giáo nghĩa của các tôn giáo khác, và nhận rằng Phật giáo có những đặc điểm không trái với khoa học, đồng thời, cũng có nhiều chỗ mà khoa học chưa bì kịp.
áo nhựt bình
Có nút thẳng từ cổ đến chân có hình chữ nhựt ngay ngực. áo này chỉ có nhữbng vị xuất gia thọ 10 giới trở lên mới được mặc.
áo não
See Áo (2), Não, and Phiền Não in Vietnamese-English Section.
Áo não 懊惱
[ja] オウノウ ōnō ||| Distress, anguish, mental agony. 〔法華經 T 262.9.53c18〕 - =>Nỗi đau đớn, nỗi thống khổ, tinh thần phiền muộn. -
áo quan
Coffin.
áo sa di
Khi thọ giới Sa di (10 giới), Tăng Ni phải ở chùa được 5 năm. Lúc làm lễ trong mặc áo lam, ngoài đắp y màu vàng gồm hai mảnh vải nối lại với nhau.
áo thất điều
Y thất điềuĐược may bởi 7 mảnh vải hàng dài, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn. Chỉ được đắp nơi chốn sạch sẽ. Xem Uất đà la tăng.
áo thụng
Ceremonial robe with large sleeves.
áo tràng
Màu nâu hay màu lam. Dành cho Tăng và Ni khi đã thọ giới tỳ kheo rồi.
; Áo thường màu lam dành cho Phật tử tại gia—Dharma robe, usually in gray color and for laypeople's use.
áo tì ca
(奧箄迦) Phạm: Aupayika. Có các nghĩa: cho phép, bằng lòng, nên, phải, tốt. Tức là tiếng dùng để xin thầy cho phép khi tác pháp thụ giới hoặc trình bày một việc gì (bạch sự). Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma quyển 1 (Đại 24, 456 thượng), nói: Trước tiên dạy người cầu xuất gia lễ kính xong rồi, quì chắp tay trước mặt thầy, nói như sau: ‘A-già-lợi-da thương chứng cho, con tên là..., bắt đầu từ hôm nay cho đến trọn đời, xin qui y đức Phật lưỡng túc tôn, xin qui y Pháp li dục tôn, xin qui y Tăng chúng trung tôn’. Nói như thế ba lần, thầy bảo: ‘Áo-tì-ca’. Trò nói: ‘Sa-độ’. Như vậy, tiếng Áo-tì-ca và Sa-độ (Phạm: Sàdhu, lành thay!), là những tiếng được, vâng bắt buộc phải dùng trong tác pháp trì giới, nếu không sẽ mắc tội vượt pháp. [X. Hữu Bộ Tì-nại-da Q.31; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.61].
áo tăng già lê
Xem nạp y.
áo tỳ kheo
Tên một trong ba áo của Tỳ khưu. áo này có nhiều thứ: 9 điều, 11 điều, 13 điều, 21 điều, 23 điều, 25 điều. Tăng Ni thọ giới Tỳ kheo xong, được đắp 3 y Tỳ kheo là: Y ngũ điều, Y thất điều và Y cữu điều.
áo uất đa la tăng
Xem áo Thất điều. Xem Uất đà la tăng.
áo viện
(奧院) Tiếng dùng trong kiến trúc Phật giáo Nhật Bản. Tại Nhật Bản, các nơi đền Thần, chùa Phật, ngoài những điện chính, nhà chính ra, còn có nhà thờ vị Tổ khai sơn (người sáng lập chùa, đền) gọi là Áo viện, phần nhiều được dựng ở những nơi sâu kín và hang núi.
Áo Vũ
(奥羽, Ōu): tức Lục Áo (陸奥, Michinoku) và Xuất Vũ (出羽, Dewa), tên gọi chung của 6 Huyện lớn là Fukushima (福島), Miyagi (宮城), Iwate (岩手), Aomori (青森), Akita (秋田) và Yamagata (山形).
áo đăng bách cách
(奧登柏格) Oldenberg,hermann (1854 - 1920) nhà học giả ấn độ học và phật giáo học người đức. sinh tại hán bảo (hamburg), từng theo học tại hai đại học kha đinh căn (gottingen) và bách lâm (berlin). năm 1889, ông vào đại học cơ nhĩ (kiel). năm 908 trở đi, giữ chức giáo thụ tại đại học kha đinh căn, dạy tiếng phạm, tiếng pāli và phật học, là nhà tiên phong đương thời nghiên cứu lê câu phệ đà (phạm: rigveda), cùng với đại vệ tư (rhys davids), nhà chuyên nghiên cứu thánh điển pāli, gọi chung là song bích. (hai viên ngọc bích). năm 1879, ông hiệu đính và ấn hành tạng luật. năm 1883, ông lại hiệu đính toàn bộ văn hiến của tạng luật và xuất bản. về sau, lại hiệu đính và ấn hành trưởng lão kệ, trưởng lão ni kệ (pāli: thera, anhtheri-gàthà) và tư liệu trọng yếu về lịch sử phật giáo tích lan là đảo sử (pāli: dìpavaôsa), có phụ thêm bản dịch tiếng anh. ngoài ra, ông còn soạn die lehre der upanishaden und die anfange des buddhismus (1915), là tác phẩm nổi tiếng về tư tưởng sử, luận chứng nguồn gốc tư tưởng phật giáo từ trong áo nghĩa thư. ngoài ra, họ áo còn viết tác phẩm buddha, sein leben, seine lehre, seine gemeinde (1881), trong đó, ông trình bày về sự sinh hoạt, về giáo lý và giáo đoàn của đức phật, rồi xác nhận phật là nhân vật lịch sử, thực sự tồn tại. [x. âu mễ đích phật giáo; journal of the pālitext society, 1920].
áo đăng bảo
(奧登保) Ol’denburg Sergei Fyodorovich (1863 - 1934) Là nhà học giả Phật giáo người Nga. Ông nghiên cứu kinh điển tiếng Phạm của Phật giáo rất sớm, năm 1884, ông đã kiểm tra rồi ấn hành Hiền Kiếp Thí Dụ (Phạm: Bhadrakalpàvadàna, Nhân Duyên Đàm Tập của Phật giáo) và nhờ đó mà người ta biết tiếng ông. Từ năm 1897 trở đi, ông lo việc xuất bản bộ văn khố Phật giáo (Bibliotheca Buddhica), năm 1903, tự tay chế tác rồi xuất bản tập Tam Bách Đồ Tượng (tức tập đồ tượng Lạt ma giáo do Chương Gia Hô Đồ Khắc Đồ biên tập) làm thành sách thứ 5 của văn khố này. Từ năm 1907, ông theo lệnh của viện Học sĩ Đế quốc, đến khảo sát các nơi Khố Xa thuộc tỉnh Tân Cương và động Thiên Phật ở Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc của Trung Quốc, năm 1914, ấn hành sách báo cáo của ông, nhan đề Russkaja Turkestanskaja Ekspedicija 1909 - 1910 (Thám hiểm vùng đất Liên Xô và Thổ Nhĩ Kì năm 1909 - 1910). Các học trò của ông là Hoắc Nhĩ Tư Thản (StaèlHolstein), Sử Triệt Ba Tư Thản (Stcherbatsky) cũng đều nổi tiếng ở đời [X. Âu Mễ Đích Phật Giáo; Zeitschrift der deutschen Morgenl@ndischenGesellschaft, 1934).
Áo 奥
[ja] オウ ō, oku ||| (1) The southwest corner of the house, where the family shrine is. The most rear, or inside part of the house; bedroom. (2) Deepest, hidden, most internal part. Core, kernel. - =>1. Góc Tây Nam của căn nhà, nơi đặt bàn thờ. Nơi kín đáo nhất, phần bên trong của căn nhà, phòng ngủ. - 2. Phần sâu kín nhất, phần bên trong nhất. Phần nòng cốt, phần chủ yếu. -
áp
Áp chế—To press—To squeeze—To crush—To repress.
áp bức
To oppress.
áp chế
To ppress—To bring someone to heel.
áp du luân tội
(壓油輪罪) Tội dùng bánh xe ép dầu. Người buôn bán dầu dùng bánh xe ép hạt vừng (mè) để lấy dầu, giết hại các vi sinh vật ở vừng, tội rất nặng. Theo kinh Thập Luân quyển 4, người làm nghề ép dầu, hàng ngày ép dầu, giết vô số vi sinh vật ở trong những hạt vừng, nếu cứ tiếp tục năm này qua năm khác, thì tội cũng không thể tính được, hệt như những hạt vừng không thể đếm được. Trong kinh so sánh tội của người làm nghề ép dầu với tội của những người bán dâm, bán rượu, đồ tể v.v... để cho biết nặng nhẹ.
áp dầu
Ép dầu—To crush seed for oil.
áp dầu luân tội
Tội của người làm nghề ép dầu, thí dụ như tội sát hại những côn trùng trong lúc hành nghề—The sin of the oil-presser, i.e. killing of insects among seeds crushed.
áp dụng
1) (n): Application. 2) (v): To apply—To use—To put into practice—To carry out.
áp dụng phật pháp vào cuộc sống hằng ngày
To apply Buddhist teachings to daily life.
áp lương vi tiện
(壓良爲賤) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Yếm-lương-vi-tiện. Nghĩa là cưỡng bức người dân lương thiện trở thành dân ti tiện, hoặc mua hay cướp con cái của dân bình thường làm tôi tớ. Thiền lâm dùng từ ngữ này chuyển ý để chỉ việc cưỡng ép người tốt lành trở thành người xấu xa, cũng ví như ông thầy đã chẳng làm cho chân tính vốn có của người học phát sinh tác dụng, mà lại khiến cho họ tu hành hạnh tạp nhạp của phàm phu. Vô Môn Quan Tắc 6 (Đại 48, 193 hạ), nói: Cù-đàm mặt vàng, coi bên cạnh như không có ai, cưỡng ép người lương thiện thành người xấu xa (áp lương vi tiện); treo đầu dê, bán thịt chó, hãy nói xem còn có bao nhiêu việc lạ khác nữa. [X. Động Sơn Lục].
áp lực
Pressure—Tension.
áp lực cao
High pressure.
áp lực thấp
Low pressure.
áp sa du
(壓沙油) Ép cát lấy dầu. Nghĩa là dùng sức ép cát, nhưng cát không thể ra dầu, ví cho việc không bao giờ có. Kinh Niết-bàn (Bản Bắc) quyển 25 (Đại 12, 515 trung), nói: Tâm cũng như thế, vốn không có tướng tham, tuy tạo các duyên, nhưng tham không do đâu phát sinh (...) Ví như ép cát không thể được dầu. Tâm cũng như thế, dù có ép tâm, cũng không thể được tham.
áp sa dầu
Vắt cát thành dầu, ví với chuyện không tưởng—To press oil out of sand, impossible.
áp toà văn
(押座文) Vào thời đại Đường, Tống, phương thức thông tục được dùng khi nói pháp cho mọi người, trước khi tuyên giảng kinh Phật, thì đọc vài câu văn vần bảy chữ, gọi là Áp tọa văn. Hai chữ áp tọa có ý là trấn áp bốn tòa, cho nên văn áp tọa có cái công dụng đưa vào đề chính và thu nhiếp tâm thần. Như đoạn cuối của văn áp tọa kinh Duy-ma (Đại 85, 1297 trung), nói: Chẳng như nghe kinh cầu giải thoát, học Phật tu hành được hay chăng? Người được cung kính và chắp tay, danh mục kinh đề sẽ xướng ra. Câu cuối trong áp tọa văn nào cũng có ba chữ xướng tương lai (sẽ xướng ra). Loại áp tọa văn được thu vào Đại Chính Tạng tập 85, Bao Quát Duy-ma Kinh Áp Tọa Văn, Ôn Thất Kinh Giảng Xướng Áp Tọa Tăn v.v...
áp táng
(押喪) Trong Thiền lâm, người đi ở cuối hàng người dự lễ tống táng, để giữ cho đám tang khỏi lộn xộn, mất trật tự, gọi là Áp tang. Thông thường là Đô tự (Duy-na, người trông nom tổng quát các việc trong chùa) đảm nhiệm việc này. Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 3 Thiên Hóa Điều (Đại 48, 1128 hạ), nói: Vị trưởng ban lễ tang điều khiển mọi người, đi theo hàng tư, chia nhau tung bông tuyết liễu hai bên, đi song song và bước thật đều, không được kề vai nói chuyện, đều tỏ lòng thương cảm. Áp tang, tang tư (người lo việc tang), duy-na, tri khách (người coi việc tiếp khách) và thị giả của Thánh tăng thì phân phối vật bố thí cho chư tăng sau khi đám tang hoàn tất.
áp đảo
To overwhelm.
át
giarghya (S). Nước thơm fragrant liquid.
; Làm cho bế tắc—To obstruct—To stop.
át bộ đa
Adbhuta (skt). 1) Tên của một cái tháp nổi tiếng ở Udyana, tây bắc Ấn Độ: Name of a famous stupa in Udyana, north-west India. 2) Kinh Vị Tằng Hữu: Adbhuta-dharma (skt)—Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, một trong 12 bộ Kinh Đại Thừa—The Wonderful-Dharma, one of the twelve divisions of Mahayana canon.
át bộ đà
Arbuda (skt)—See Át Phù Đà.
át bộ đàm
Abuda (S)A phù đà1- Tên địa ngục lạnh. 2- Giai đoạn đầu của bào thai lúc còn ở dạng sữa.
; (頞部曇) Phạm: Arbuda, Pāli: Abbuda. Cũng gọi A-bộ-đàm, A-phù-đà, Át-phù-đà. Hán dịch: pháo, thũng vật. I. Át-bộ-dàm. Là một trong năm giai đoạn ở trong bào thai. Sau khi đầu thai, đến tuần lễ thứ hai, dáng thai nhi đông lại như cái nốt phỏng trên da cho nên gọi là pháo hoặc là thủy bào (bọt nước). [X. Kinh Tạp A-hàm Q.49; Kinh Tăng Nhất A-hàm Q.30; Kinh Đại Bát Niết-bàn (Bản Bắc) Q.38; Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sư Q.11; Luận Câu Xá Q.9; Huyền Ứng âm nghĩa Q.22; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.17; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.14, Q.26]. II. Át-bộ-đàm. Là một trong tám địa ngục lạnh. Vì chúng sinh rơi vào địa ngục này thân hình phỏng phồng lên giống như bọt nước, nên mới có tên là Át-bộ-đàm. Nếu người bị đọa vào địa ngục lạnh này thì thân hình co giúm lại, những mụt phổng lên, gió độc thổi đến làm cho da nứt lông rụng, gân thịt rã rời, xương vỡ tủy chảy ra. Chịu nỗi khổ ấy xong, xương lại lành trở lại và lại chịu khổ như trước, không một chút ngừng nghỉ. Những chúng sinh gây các tội như sau: Khinh rẻ chư Phật hoặc những đệ tử Phật không giữ giới; hoặc làm rồng dữ nổi giận căm phẫn, làm mưa đá to lạnh buốt hại người, hoặc trộm cướp củi lửa của người đang bị lạnh cóng v.v..sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục này để chịu khổ báo. [X. Kinh Đại Lâu Thán Q.2; Kinh Khởi Thế Nhân Bản Q.4; Luận Câu Xá Q.11; Luận Đại Trí Độ Q.16; Phiên Phạm Ngữ Q.8; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.7; Vãng Sinh Yếu Tập Q.thượng]. (xt. Bát Hàn Địa Ngục).
át già
Arghya (skt)—A Già. 1) Thứ nước thơm hay nước mà người ta bỏ hoa thơm vào để cúng dường Đức Phật: Scented water or flowers in water as an offering. 2) Từ Át Già có nghĩa chính yếu là vật có giá trị: The word arghya meaning primarily something valuable, or presentable.
; (閼伽) Phạm: Argha, Pāli: Aggha. Cũng gọi A-già, Át-ca, Át-la-già. Dịch ý: công đức, nước công đức, nước. Còn gọi nước át già, nước thơm át già, nước hoa thơm. Chỉ cho nước công đức, nước thơm đặt cúng trước đức Phật, hoặc cái bình đựng nước công đức. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 10 nói rằng nước át già tức là nước hoa thơm. Đại Nhật Kinh Cúng Cường Thứ Đệ Pháp Sớ chép: dâng cúng nước thơm át già sẽ chứng được bình đẳng tính trí, ở vào ngôi vua Pháp của ba cõi.Tiếng phạm argha là từ gốc tiếng arh (có giá trị) mà ra, ý nói là vật có giá trị, về sau chuyển sang ý là vật dâng cúng thần linh hoặc người cao quí, rồi lại mở rộng ra với ý là nước cúng dường. Lại theo Tuệ Lâm Nghĩa quyển 10 thì át già là đồ đựng nước thơm. Hi Lân Âm Nghĩa quyển 5 thì bảo át già là gọi chung những cái chén đựng nước thơm. Chú thích trong Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 thì cho rằng phàm là đồ cúng dường đều gọi là át già, hoặc còn chỉ đồ đựng nước tắm. Những nghĩa ghi trên đây cho Át già là đồ cúng dường đều là kết quả của sự chuyển dịch sai lầm. Ngoài ra, Kinh Nhiếp Chân Thực quyển hạ dịch chữ argha là tròn đầy, không nhơ đục, hoặc xa hơn nữa là đạo bồ đề. Từ xưa, ở Ấn Độ, khi có yến tiệc, trước hết phải chuẩn bị nước cho khách rửa ráy. Tập tục này đặc biệt được Mật giáo dùng làm một trong sáu thứ cúng dường. Kinh Đại Nhật Phẩm Cụ Duyên nói, át già, hương hoa, tràng hoa, hương đốt, thức ăn, đèn sáng, là sáu thứ cúng dường. Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ đem phối sáu thứ cúng dường với sáu đường: át già được phối với đường súc sinh, hoặc đem át già phối với bố thí ba-la-mật trong sáu ba-la-mật. Theo phép tu của Mật giáo, át già cúng dường phải được thực hiện hai lần: 1. Tiền cúng dường: trước khi tu quán Nhập ngã ngã nhập (Người vào Ta Ta vào Người) hoặc trước chính niệm tụng, cúng dường át già ở bên phải hỏa xá (nhà lửa: một thứ lò hương). 2. Hậu cúng dường: sau khi gia trì ở nơi bản tôn hoặc tán niệm tụng, cúng dường át già ở bên trái hỏa xá. Lần cúng dường trước là lần cúng dường nước cho bản tôn từ bản địa mới đến, cũng như đem nước cho khách rửa chân mới từ phương xa đến. Lần cúng dường sau cũng giống như đưa nước cho khách súc miệng sau bữa yến tiệc đã xong. Về đồ vật át già có nhiều chủng loại, như: 1. Thùng át già: đồ chứa hình cái thùng từ đó múc lấy át già, về chất liệu và hình dáng cũng như kích thước của thùng đều không nhất định, thường thì nó được làm bằng gỗ hoặc kim khí, đường kính khoảng từ 15 đến 30 phân Tây. Khi truyền phép Quán đính, Kim cương giới và Thai tạng giới mỗi giới dùng một thùng riêng. 2. Giếng át già: giếng chuyên chứa át già dùng để cúng dường. Thùng át già đựng át già múc từ giếng át già lên. Át già lúc nào cũng phải được giữ cho trong sạch, không được dùng nước tạp khác, cho nên các chùa viện lớn phần nhiều đào giếng át già riêng. 3. Đồ đựng át già: chiếc bát nhỏ, một trong sáu thứ đồ đựng. Vốn chỉ cái bát đựng át già cúng dường Phật, sau được mở rộng mà gọi chung các đồ đựng cúng dường. Trong Mật giáo, khi tu pháp, chiếc bát này được đặt ở giữa đàn, ở hai bên hỏa xá mỗi bên để ba cái. Nguyên gốc là một bộ bốn cái, nhưng sau biến thành một bộ sáu cái. 4. Gác át già: là giá để thùng và các đồ đựng át già khác, cũng dùng để để hoa. Gác át già thường được làm ở bên cạnh giếng át già, nóc gác hơi dốc để dễ thoát nước khi trời mưa. 5. Chén át già: đồ đựng nước cúng dường Phật hình cái chén. Có thứ bằng kim khí, có thứ bằng gốm. Nước lấy từ thùng át già để cúng dường không được rót ngay vào đồ đựng át già, mà phải rót vào chén át già trước, sau đó mới lại ruôn sang đồ át già. Để tiện cho việc thay đổi át già trong khi tu pháp, được rót nước vào chén át già trước và để ở gần chỗ hành giả ngồi. [X. Kinh Đại Nhật Q.3 Phẩm Thế Gian Thành Tựu, Q.7 Phẩm Chân Ngôn Sự Nghiệp; Kinh Tô Tất Địa Yết La Q. hạ Phẩm Phụng Thỉnh; Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ; Đại Nhật Kinh Sớ Q.8; Phật Tổ Thống Kỉ Q.43; Phiên Dịch Danh Nghĩa tập Q.7; Hiển Mật Uy Nghi Tiện Lãm Tục Biên Q.hạ]. (xt. Át Già Khí).
át già bôi
Chén bằng vàng hay kim loại, đựng nước thơm để cúng dường Đức Phật—A golden or metal vessel to hold scented water—See Át Già.
át già hoa
Hoa thơm thả nổi trong nước đựng trong chén Át Già Bôi—The flowers which float on the surface of the golden vessel.
; (閼伽花) Chỉ cho hoa cúng Phật đựng trong át già, thường dùng hoa tươi hoặc lá thơm tùy theo mùa. Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ (Đại 19, 596 thượng), nói: Tại hai bên ở bốn cửa đàn đều đặt hai đồ đựng át già chứa đầy nước thơm, bên trong thả hoa uất kim và các thứ hoa khác nổi lên, rất thơm ngát và tinh khiết.
át già khí
(閼伽器) Vốn chỉ cái đồ đựng át già, sau chuyển sang chỉ chung các đồ dùng cúng Phật. Cũng gọi Át-ca-khí. Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 (Đại 49, 398 trung), nói: A già (át già), đây dịch là khí (đồ dùng); phàm đồ dùng cúng dường đều gọi là a già. Đối với Mật giáo, át già là một trong sáu thứ đồ dùng, tức đồ đựng át già là một trong sáu thứ cúng dường. Đồ cúng dường này do chén át già và đài át già hợp thành. Chén át già giống hình cái bát, còn đài át già là cái đế để đặt chén lên trên. Trong chén chứa đầy át già, hoa tươi và cỏ thơm, khiến cho nước trong chén rất thơm tho tinh khiết. Cứ theo kinh Tô tất địa yết la quyển hạ phẩm Phụng thỉnh chép, đồ át già tùy theo phép tu mà có chất liệu khác nhau: hoặc làm bằng vàng, bạc, đồng, đá, gỗ v.v..hay làm bằng lá sen. Ngày nay, Mật tông phần nhiều dùng đồng hoặc vàng để chế tạo. [X. Kinh Nhuy-hi-da Q.trung phẩm Ma-ha-mạn-đồ-la; Kinh Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ-tát Tâm Mật Ngôn Niệm Tụng Nghi Quĩ; Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ].
át già quán đỉnh
(閼伽灌頂) Một trong những nghi thức tác pháp của Mật giáo. Tức là lấy nước thơm át già rưới lên đỉnh đầu của người tu hành đạo Phật để chứng minh công đức của người ấy. Đồng nghĩa với các nhóm từ Cam lộ quán đính, Hương thủy quán đính. [X. Kim Cương Đính Nghĩa Quyết Q.thượng].
át già thuỷ gia trì
(閼伽水加持) Nước át già dùng để gia trì. Một trong những phép tu của Mật giáo. Tức là phép múc nước hoa trong giếng át già vào lúc giờ Dần (ba giờ đến năm giờ sáng) của ngày Tam ma da giới để làm nước át già. Cũng gọi là Át già cấp tác pháp (phép múc nước át già). Sở dĩ múc lấy nước lúc giờ Dần là vì vào giờ này nước trong giếng chưa sinh vi trùng, nước rất trong sạch. Khi truyền pháp Quán đính phải dùng nước át già lấy vào giờ này.
át na
Anna (skt)—Tên của một ngọn núi ở Ấn Độ—Name of a mountain in India.
át nễ la thần
Anila (S)Truyền thống thần, Chấp phong thầnMột trong 12 thần tướng của Dược sư Phật.
; (頞你羅神) Át-nễ-la, Phạm:Anila. Một trong 12 vị thần tướng Dược Sư, một trong mười sáu vị thiện thần thủ hộ Bát-nhã. Cũng gọi An-nễ-la thần, A-nễ-rô thần. Hán dịch: Chấp phong thần (thần cầm gió), Truyền tống thần (thần truyền đưa). Cứ theo Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật Bản Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quĩ Cúng Dường Pháp (Đại 19, 47 trung), nói: Đại tướng Dược-xoa Át-nễ-la, thân ngài mầu đỏ, tay cầm xoa báu, cầm đầu bảy ức chúng Dược-xoa, thề nguyền giữ gìn giáo pháp của Như Lai. Về hình tượng của vị thần này, sách Tịnh Lưu Li Tịnh Độ Phiêu nói: thân ngài phát ra lửa đỏ, cỡi trên mình rắn, tay phải cầm búa Chiến đồ, tay trái nắm lại, ngón trỏ duổi thẳng. Còn Tu Dược Sư Nghi Quĩ Bố Đàn Pháp thì nói: Thân ngài màu đỏ, tay cầm cây xoa ba chĩa. [X. Kinh Quán Đính Q.12; Kinh Dược Sư Lưu Li Quang Như Lai Bản Nguyện Công Đức; Phật Tượng Đồ Vậng Q.4]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng).
át phù đà
Arbuda (skt)—Ác Bộ Đà—Địa ngục lạnh thứ nhứt trong bát hàn địa ngục, nơi những khối u nổi trên da vì quá lạnh—The first of the eight cold hells, where cold raises tumours on the skin. ** For more information, please see Bát Hàn Địa Ngục.
át sa trà
Asadha (skt)—Tháng đầu tiên của mùa hè, từ 16th tháng tư đến 15th tháng năm—The first month of summer, from 16th of 4th Chinese moon to 15th of 5th .
át sắc tra
Astan (skt)—Tám phần của 24 giờ trong ngày—The eight divisions of the 24 hour day.
át thấp bà sưu xa
See Át Thấp Phược Sưu Xa.
át thấp phược (bà) sưu xa
Asvayuja (skt)—Át Thấp Bà Sưu Xa—Tháng đầu tiên của mùa Thu (tháng chín—tháng mười)—The first month of autumn (September-October).
át thấp phược yết na
Asvakarna (skt)—Một trong bảy vòng núi quanh núi Tu Di—The fifth of the seven circles round Meru.
át thấp phược yết noa sơn
Xem Mã nhĩ sơn.
át thấp phọc yết nã sơn
(頞濕縛羯拿山) Át thấp phược yết noa, Phạm: Azvakarịa, Pāli:Assakaịịa. Một trong chín núi, một trong bảy núi vàng. Cũng gọi A-sa-can-na sơn, A-ba-ni sơn. Hán dịch: Mã Nhĩ sơn (núi tai ngựa), vì ngọn núi này giống như tai ngựa nên đặt tên như thế. Kinh Khởi Thế quyển 10 gọi là Mã Phiến Đầu Sơn; Kinh Trường A-hàm quyển 18 thì gọi là Mã Thực sơn. Cũng có chỗ dịch là Át Già Khí Thần Át Nễ La Mã Bán Đầu sơn (núi nửa đầu ngựa). Núi này bao quanh núi Tô-đạt-lê-xá-na, cao 2.500 do tuần. [X. Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.24]. (xt. Thất Kim Sơn, Cửu Sơn Bát Hải).
át triết tra
Atata (skt)—Một trong tám địa ngục lạnh—One of the eight cold hells, hell of chattering teeth. ** For more information, please see Bát Hàn Địa Ngục.
át tức đa
Asta (skt). 1) Ngọn đồi phía Tây nơi mặt trời lặn: The western hill behind which the sun sets. 2) Mặt trời lặn: Sunset. 3) Tử: Death. 4) Nhà: Home.
áy náy
Anxious—Uneasy—Unquiet—Restless—Disquiet—Troubled.
âm
Yin (C), Negative.
; Shade, dark, the shades, the negative as opposed to positive principle, female, the moon, back, secret. In Buddhism it is the phenomenal, as obscuring the true nature of things; also the aggregation of phenomenal things resulting in births and deaths
; Vara (S). Sound, voice.
; 1) Âm đối lại với dương: Skandha (skt)—Negative, in contrast with positive. 2) Âm thanh: Sound—Voice. 3) Nguyên tắc ám muội: Dark principle. 4) Nguyệt: Trăng—Lunary. 5) Nữ: Female. 6) Tiêu cực đối lại với tích cực: The negative as opposed to the positive principle. 7) Tối: Dark—Shade. 8) Theo Phật Giáo thì “âm” có nghĩa là—According to Buddhism, it means: a) Những gì che mất chân tính của vạn hữu: It is the phenomenal, as obsuring the true nature of things. b) Uẩn của vạn hữu (ngũ uẩn) do từ hậu quả của sanh lão bệnh: It is also the aggregation, or the five Skandhas, of phenomenal things resulting in births and deaths.
âm ba
Sound-wave.
âm chất lục
(陰隲錄) Có một quyển. Viên liễu phàm (thế kỉ XVI) đời Minh soạn. Còn gọi là Liễu phàm Tứ huấn. Là tác phẩm đại biểu nói về đạo đức dân gian ở Trung quốc. Có lần, Viên liễu phàm đến hỏi đạo nơi Thiền sư Vân cốc, nhờ đó, liễu ngộ thuyết lập mệnh, biết rõ chân lí của hành vi thiện ác và nhân quả báo ứng mà soạn ra sách này, cho rằng âm chất là sự chi phối của trời đối với loài người, nhưng dựa vào hành vi thiện ác của con người có thể quyết định được họa phúc. Nội dung, trước hết, bàn về lí khiêm hư lợi trung, kế đó, trình bày những trường hợp tích thiện dư khánh, đồng thời, liệt kê mười sáu đức mục lớn của việc làm điều thiện. Ở cuối quyển chép biết lỗi hay sửa đổi, là điều thiện lớn, và nêu lên ba cách sửa đổi lỗi lầm. Tư tưởng trong sách này chịu ảnh hưởng nhiều của thuyết tăng thọ ích ton hình thành vào thời đại Nam Bắc triều, và là tư tưởng Nho, Đạo, Phật ba giáo nhất thể dung hợp. Quan niệm Phật giáo về nhân quả báo ứng thấy rải rắc khắp cuốn sách, đã thành chuẩn tắc của hành vi đạo đức trong dân chúng.
âm cung
Thế giới hiện tại được ví với trạng thái của ngũ uẩn—Hells—Hades—The present world as the state of the five skandhas.
âm công
Ragyapa (S).
âm cảnh
See Âm Cung.
Âm dung
(音容): có hai nghĩa. (1) Âm thanh và hình bóng. Như trong bài thơ Thù Tùng Đệ Huệ Vận (酬從弟惠連) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống có câu: “Nham hác ngụ nhĩ mục, hoan ái cách âm dung (巖壑寓耳目、歡愛隔音容, hõm núi gởi tai mắt, yêu thương cách bóng hình).” Hay trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Hàm tình ngưng đệ tạ quân vương, nhất biệt âm dung lưỡng diểu mang (含情凝睇謝君王、一別音容兩渺茫, ngậm tình liếc trộm tạ quân vương, cách biệt bóng hình muôn dặm trường).” (2) Trong thư tín, từ này được dùng để thay thế cho đối phương. Như trong tập 3 của tác phẩm Tây Sương Ký (西廂記) do Vương Thật Phủ (王實甫, 1260-1336) nhà Nguyên sáng tác, có đoạn: “Tự âm dung khứ hậu, bất giác hứa thời, ngưỡng kính chi tâm, vị thường thiểu đãi (自音容去後、不覺許時、仰敬之心、未嘗少怠, từ khi người ra đi về sau, chẳng biết lúc nào, tâm thường kính ngưỡng, chưa từng chút chểnh mảng).” Trong bài thỉnh cúng linh cũng có đoạn: “Kim ô tợ tiễn, ngọc thố như thoan, tưởng cốt nhục dĩ phân ly, đỗ âm dung nhi hà tại (金烏似箭、玉兔如梭、想骨肉已分離、睹音容而何在, quạ vàng [mặt trời] tên bắn, thỏ ngọc [mặt trăng] thoi đưa, nhớ cốt nhục đã chia ly, tìm bóng hình đâu còn nữa).”
âm dung
Voice and countenance.
âm dương
Yin and Yang Negative and positive.
; 1) Chết và sống: Death and life. 2) Địa phủ và dương gian: Hell and earth. 3) Cực Âm và Cực Dương: Tiêu cực và tích cực—Negative and positive. 4) Yin-Yang: Lưỡng cực theo vũ trụ quan của Trung Quốc—Đất và trời—Nữ và Nam—In Chinese cosmology, the principle of polarity, namely earth and heaven, female and male.
âm dương đạo
(陰陽道) Phương thuật Nhật bản. Cái học vấn và phương thuật lấy thuyết âm dương ngũ hành của Trung quốc làm nền tảng mà nghiên cứu thiên văn, lịch số, bói toán, địa lí v.v... mục đích là tránh họa cầu phúc, do các tăng lữ Triều tiên truyền vào Nhật bản ở đầu thế kỉ thứ X. Nơi làm việc, gọi là Âm dương liêu, người làm phương thuật, gọi là Âm dương sư, người thông suốt hết các thuật, gọi là Âm dương gia. Còn có các chuyên gia, như âm dương bác sĩ, lịch số bác sĩ, thiên văn bác sĩ, lậu khắc (thời khắc tính theo đồng hồ nước) bác sĩ v.v... Đạo âm dương là tính xem sự vận hành tương đương của mặt trời, mặt trăng, mười can, mười hai chi, để suy xét lẽ tương sinh tương khắc, mà biện rõ lành dữ họa phúc của tất cả sự vật, vì thế, trên mọi mặt, năm tháng, ngày giờ, phương hướng, một mình, một việc đều đặt ra nhiều sự kiêng cữ rất là phức tạp, cho đến các loại hành động trong nhân gian, đều có định chế cả. Về mặt hành sự của đạo âm dương, Phật giáo cũng thu dụng một vài điểm nào đó.
âm gian
See Âm cung.
âm giáo
Vocal teaching. Buddha's preaching.
; Giáo pháp dùng âm thanh để giảng thuyết—Vocal teaching, Buddha's preaching.
âm giới
Bao gồm ngũ uẩn và 18 giới—The five skandhas and the eighteen dhatu.
âm huyễn
Ngũ uẩn giống như huyễn giả trôi đi—The five skandhas like a passing illusion.
âm hưởng
Sonority—Echo.
âm hưởng nhẫn
Ghoṣanugama-dharma-kṣānti (S), Ghoshanugama-dharma-kṣānti (S).
; Sound and echo perseverence, the patience which realizes that all is as unreal as sound and echo.
; Ghoshanugakshanti (skt)—Kshanti in sounds—Nhẫn vào những âm thanh tiếng vọng vì nhận thức rằng chúng không thực—Sound and echo perseverance, the patience which realizes that all is as unreal as sound and echo.
; (音響忍) Phạm: Ghowànugama - dharma - kwànti. Là một trong ba phép nhẫn. Còn gọi là Tùy thuận âm hưởng nhẫn, Tùy thuận âm thanh nhẫn. Có ba nghĩa: 1. Nghĩa là thuận theo tiếng nói pháp của Phật Bồ tát mà biết được đạo lí các pháp, an trú nơi pháp. 2. Nghĩa là những người vãng sinh sang thế giới Cực lạc, nghe âm thanh của rừng cây bảy báu mà tỏ ngộ cái lí không mà như có, chẳng phải có mà có. Ngài Tuệ viễn, trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 106 thượng), nói: Tìm tiếng hiểu tỏ, biết tiếng như vang, gọi là Âm hưởng nhẫn. 3. Nghĩa là nghe pháp chân thực mà không kinh, không sợ, không hãi, tin hiểu thụ trì, ưa thích thuận vào, tu tập an trú. [X. kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) Q.28;kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Nguyệt đăng tam muội Q.2; Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung; Vô lượng thọ kinh hội sớ Q.5; Vô lượng thọ kinh kí Q.thượng]. (xt. Tam Pháp Nhẫn).
âm hồn
Manes.
âm lịch
Lunar calendar.
âm ma
See Ngũ Uẩn.
âm mưu
Plot—Conspiracy—Scheme.
âm mộc
Một loại dụng cụ bằng gỗ để gõ khi tụng kinh, mỗi cuối câu lại đánh nhịp hay gõ phách cho ăn nhịp—Sounding block, or board for keeping time or rhythm.
âm nghĩa
1) Giải thích âm và nghĩa của các từ trong kinh điển: Sound and meaning, i.e. pronunciation and significance. 2) Quyển từ điển giải thích về cách phát âm của các từ trong kinh điển: A pronouncing dictionary.
; (音義) Là sách giải thích về hình thái, cách phát âm và ý nghĩa của văn tự. Tại Trung quốc, từ rất sớm, đã có sách âm nghĩa phổ thông về sách sử, sách kinh, chẳng hạn, trong kinh Phật, có Thập tứ âm huấn tự của ngài Tuệ duệ đời LưuTống, Nhất thiết kinh âm của ngài Đạo tuệ đời BắcTề, nhưng hai sách này đều đã mất. Đến đời Đường, có Nhất thiết kinh âm nghĩa hai mươi lăm quyển của ngài Huyền ứng, Hoa nghiêm kinh (bản dịch mới) âm nghĩa hai quyển của ngài Tuệ uyển, Nhất thiết kinh âm nghĩa trăm quyển của ngài Tuệ lâm, Tục nhất thiết kinh âm nghĩa mười quyển của ngài Hi lân v.v... Cách sắp xếp ngữ vựng trong các bộ sách nêu trên đều y theo thuận tự của nguyên bản. Cho đến đời BắcTống, trong Thiệu hưng trùng điêu đại tạng âm ba quyển của ngài Xử quan thì sắp xếp theo bộ thủ chữ Hán, là một loại sách âm nghĩa theo thể tài Tự điển. Loại sách âm nghĩa do người Nhật bản soạn thuật, thì đại khái lấy Vạn diệp giả danh và Hòa huấn (thứ tự cách đọc tiếng Nhật) để biên tập và sắp đặt mà thành, chẳng hạn như Đại Bát-nhã kinh âm nghĩa (nay chỉ còn quyển trung); chú thích Hán văn tường tế hơn thì có Pháp hoa kinh thích văn3 quyển của Trọng toán, và Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa tập 4 quyển của Tín thụy. Còn có hình thức sử dụng Âm huấn (thứ tự cách đọc tiếng Nhật) và Phiến giả danh, chẳng hạn như Pháp hoa kinh âm nghĩa 2 quyển của Tâm không. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.15 Đạo an truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Tống cao tăng truyện Q.25; Trung quốc Phật giáo sử tịch (Trần Viên) Q.3, Q.4].
âm nhạc
Âm nhạc được dùng kèm với nghi lễ—Music, a musical accompaniment to a service.
âm nhập giới
Còn gọi là Ngũ Uẩn, hay 12 cửa vào của thức, hay 18 giới—The five skandhas, the twelve entrances, or bases through which consciousness enters (Ayatana), or eighteen dhatu or elements.
Âm Phủ
(陰府): tên gọi khác của Minh Phủ (冥府, xin tham khảo thêm phần Minh Phủ), Âm Ty (陰司), Địa Ngục (地獄). Như trong Tân Tề Hài (新齊諧), phần Trang Minh Phủ (莊明府) của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có câu: “Yến tất, Trang tri vi Âm Phủ, nhân vấn chung thân chi sự khả dự tri phủ (宴畢、莊 知爲陰府、因問終身之事可預知否, xong yến tiệc, họ Trang mới biết là Âm Phủ, bèn hỏi chuyện qua đời có thể biết trước được chăng).”
âm phủ
Hell—Underworld.
âm thanh
Vara (S), Sound Xem Thanh.
; Sabda (S). Sound, note, preaching. Hòa nhã âm, harmonious and elegant sounds. Vi diệu âm, most exquisite voices.
; Sound, note, preaching.
âm thanh bất tư nghì
Inconceivable sounds.
âm thanh của đức như lai
Buddha's Voice—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện, phẩm nầy chỉ cách cho chư đại Bồ Tát làm thế nào để biết âm thanh của Đức Như Lai—According to The Flower Adornement Scripture, Chapter Manifestation of Buddha (37), show the ways for great enlightening beings to know the voice of the Buddha. 1) Âm thanh của Đức Như Lai đến khắp tất cả, vì nó khỏa lấp mọi âm thanh khác: The Buddha's voice is omnipresent, because it pervades all sounds. 2) Âm thanh của Đức Như Lai, tùy tâm sở thích của thính giả đều làm cho họ hoan hỷ, vì thuyết pháp minh liễu: The Buddha's voice pleases all according to their mentalities, because its explanation of truth is clear and comprehensive. 3) Âm thanh của Đức Như Lai, tùy tín giải của thính giả đều làm cho họ hoan hỷ, vì tâm được thanh lương: The Buddha's voice gladdens all according to their resolve, because their minds gain clarity and coolness. 4) Âm thanh của Đức Như Lai giáo hóa chẳng lỗi thời, vì người đáng được nghe thời đều được nghe: The Buddha's voice teaches without error in timing, because all who need and are able to hear it do. 5) Âm thanh của Đức Như Lai không sanh diệt, vì như vang ứng tiếng: The Buddha's voice has no birth or death, because it is like the echo of a call. 6) Âm thanh của Đức Như Lai không chủ, vì do tu tập tất cả công hạnh phát khởi: The Buddha's voice has no owner, because it is produced by cultivation of all appropriate practices. 7) Âm thanh của Đức Như Lai rất sâu, vì khó lường được: The Buddha's voice is extremely profound, because it cannot be measured. 8) Âm thanh của Đức Như Lai không tà vạy, vì do pháp giới phát sanh: The Buddha's voice has no falsehood or deviousness, because it is born of the realm of truth. 9) Âm thanh của Đức Như Lai không đoạn tuyệt, vì vào khắp pháp giới: The Buddha's voice has no end, because it permeates the cosmos. 10) Âm thanh của Đức Như Lai không biến đổi, vì đã đến nơi rốt ráo: The Buddha's voice has no change, because it reaches the ultimate. ** For more information, please see Tứ Chủng Phật Âm.
âm thanh du dương
Pleasant and harmonious sound.
âm thanh hay
Tuneful sound.
âm thanh phật sự
Phật dùng âm thanh thuyết pháp để cứu độ chúng sanh (có khi Phật lại dùng ánh sáng kỳ diệu để cứu độ)—Buddha's work in saving by his preaching.
; (音聲佛事) Cái lọt vào nhĩ căn (lỗ tai), gọi là âm thanh. Sự nghiệp tế độ chúng sinh của đức Phật, hoặc dùng ánh sáng, hoặc dùng thân Phật, hoặc dùng lương thực, đồ mặc, đồ nằm, ngồi v.v... gọi chung là Phật sự. Ở trong thế giới Sa bà, không y vào các phương pháp khác, mà chỉ dùng âm thanh nói pháp, gọi là Âm thanh Phật sự. [X. kinh Duy ma phẩm Hương tích Phật; Kim quang minh huyền nghĩa Q.2].
âm thần
Female spirit.
âm ti
See Âm phủ.
âm tiền
Paper money for use in services to the dead.
; Tiền giấy, hay giấy vàng mã, dùng để cúng cho người chết—Paper money for use in services to the dead.
âm trì nhập kinh
(陰持入經) Gồm hai quyển. An thế cao đời Đông Hán dịch,thu vào Đại chính tạng tập 15. Mục đích kinh này là nói rõ các pháp tướng năm ấm (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) và mười hai nhập (nhãn nhĩ tị thiệt thân tâm, sắc thanh hương vịxúc pháp... trong sáu ngoài sáu), đồng thời, nói tỉ mỉ các pháp trong kinh Tam thập thất phẩm (bốn ý chỉ, bốn ý đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám thứ đạo hạnh của Hiền giả). Lại tiến bước nữa mà nói rõ cái phương pháp do Đạo đế mà thông suốt giải thoát. Vào thời đại Tam quốc, tư tưởng giới Phật giáo Trung quốc chia làm hai hệ thống lớn. Một là hệ thống Thiền học Tiểu thừa của An thế cao, hai là hệ thống Bát-nhã học Đại thừa của Chi lâu ca sấm. Những kinh điển trọng yếu của hệ thống An thế cao tức là kinh Ấm trì nhập, kinh An ban thủ ý. Cho nên, kinh Ấm trì nhập đứng trên lập trường Phật giáo Tiểu thừa mà giải thích, luận bàn các pháp số và đạo giải thoát. Ngoài ra, Ấm trì nhập kinh chú là một tư liệu trọng yếu của sự nghiên cứu về tư tưởng Phật giáo và ngôn ngữ dịch kinh Phật ở Trung quốc vào thế kỉ thứ III. Cứ khảo chứng bản chú này, thì chắc nó đã được viết từ trước đời Tây Tấn, và tác giả phải là người thuộc hệ thống An thế cao, An huyền, Khang tăng hội, Nghiêm phật điều và Hàn lâm Nam dương, Bì nghiệp Dĩnh châu, Trần tuệ Cối kê.
âm tàng
A retractable penis - one of the thirty two marks of Buddha.
; Nam căn ẩn sâu bên trong, đây là một trong 32 tướng hảo của Phật—A retractable penis, one of the thirty-two marks of a Buddha.
âm tín
News
âm u
Overcast—Dull—Cloudy.
âm vọng
Ảo tưởng của ngũ uẩn, hay sự không thật của ngũ uẩn—The skandha-illusion, or the unreality of the skandhas.
âm vọng nhất niệm
Ảo tưởng của ngũ uẩn cũng tương tự như một niệm đi qua—The illusion of the skandhas like a passing thought
ân
Grace, favour.
; Ân huệ: Grace—Gratitude—Favour.
; (恩) Hết thảy sự vật đều nhờ mối quan hệ hỗ tương (nhân duyên) mà sống còn, ơn tức là từ đó. Ơn trong Phật giáo có thể chia làm hai phương diện tích cực và tiêu cực. Ơn về mặt tích cực, tức là trong lòng luôn nghĩ đến ơn, đây là yếu tố căn bản của sự tu hành Phật đạo. Chẳng hạn như kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán có nêu lên bốn ơn, là ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn chúng sinh, ơn Tam bảo, đó là những ơn mà người ta phải luôn luôn nhớ nghĩ tới; trong đó, đặc biệt nói công đức hiếu dưỡng cha mẹ ngang hàng với cúng dường Phật. Ngoài ra, cái ân đức của Như lai đã đem sức đại nguyện cứu độ chúng sinh cũng cần phải ghi nhớ, cảm tạ. Còn ơn về mặt tiêu cực, chẳng hạn thương yêu con cái, ân ái giữa vợ chồng, thường làm trở ngại việc tu hành Phật đạo, nên cần phải cắt đứt. Pháp uyển châu lâm quyển 22 chép, tăng lữ khi xuất gia được độ, có bài kệ (Đại 53, 448 trung) rằng: Trôi lăn trong ba cõi, ân ái không ra được; bỏ ân vào vô vi, là chân thực báo ân. Trung quốc và Nhật bản đều coi trọng tư tưởng ơn, nhưng Phật giáo Ấn độ thì lại không nhấn mạnh lắm, hư luận Nhân thi thiết (Pāli: Puggala-paĩĩatti) bảo, trong thế gian có hai hạng người được coi trọng và khen ngợi, đó là người ban ơn và người biết ơn, cảm ơn. Người biết ơn (tri ân giả) là dịch thẳng từ nguyên ngữ Pāli Katĩĩù,là người hay cảm biết ơn huệ của người khác. Chữ ân trong chữ Hán, được cấu thành bởi chữ (nhân) và chữ (tâm), ý chữ ân và ý nguyên ngữ, có thể nói, không hẹn mà gặp, cho nên, có thể bảo rằng bất cứ việc gì, nguyên nhân nào, phàm đã cấu thành cái trạng thái ngày nay, đều phải ghi nhớ luôn ở trong lòng và suy nghĩ cho sâu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.11]. (xt. Tứ Ân).
ân cha mẹ thầy tổ
The debt to our parents and teachers.
ân chúng sanh
The debt we owe all sentient beings.
ân cần
Zealous—Careful—To be thoughtful—To greet someone with open hands.
ân huệ
Mitra (S)Mật đặc La, Mật đa laÂn huệ đối với muôn loài.
; Grace—Favor—Kindness.
ân hà
Dòng tình cảm ân huệ cứ mãi xô đẩy chúng sanh trong dòng sanh tử—The river of grace which keeps or binds men in the flow of transmigration.
ân hải
Biển ái ân cứ tiếp tục nhận chìm chúng sanh trong biển đời sanh tử—The sea of grace which sinks men in the ocean of transmigration.
; (恩海) Bể rộng bốn ơn. Bốn ơn là ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn chúng sinh, ơn Tam bảo. [X. Tính linh tập Q.7]. (xt. Tứ Ân).
ân hận
Repentance—Penitence—Remorse.
ân lân
Lòng từ bi lân mẫn—Loving-kindness and pity.
ân mẫu
Mẹ đở đầu—Foster-mother.
ân nghĩa
Kindness and affection.
ân nhi
Con đở đầu—Foster-child.
ân nhân
Benefactor .
ân oán
Gratitude and resentment.
ân phụ
Cha đở đầu—Foster-father.
ân sủng
Kindness—Grace.
ân tam bảo
The debt to the Triple Gems (Jewels).
ân thiện hữu tri thức
The debt to our spiritual friends.
ân thưởng
Reward—Recompense.
ân triều
Yin Dynasty (C)Nhà Ân.
ân tình
Grace and feeling.
ân viên đức
(恩圓德) Là một trong ba thứ viên đức. Có nghĩa công đức làm lợi người của Như lai tròn đầy. Tức là, Như lai có đủ công đức khiến chúng sinh vĩnh viễn thoát khỏi ba ngả ác, hoặc ra khỏi sống chết trong nẻo thiện mà đặt chúng sinh trong ngả thiện hoặc trong ba Thừa. [X. luận Câu xá Q.27].
ân xá
Amnesty.
ân ái
Grace and love, human affection, which is one of the causes of rebirth
; Ân huệ và tình thương yêu (tình cảm thương yêu chìm đắm giữa mình và người thân)—Grace and love.
; (恩愛) Tình yêu gắn bó giữa cha con, anh em, vợ chồng gọi là ân ái. Người đời chìm đắm trong yêu đương, do đó bị ái ân trói buộc, không gỡ ra được; bởi thế, có thể nói, thế gian là cái ngục ái ân giam hãm con người. Phật giáo chủ trương người đời nên bỏ ân ái mà vào Phật đạo, vào Phật đạo mới có thể báo ân chân chính. Vì thế, Pháp uyển châu lâm quyển 22 (Đại 53, 448 trung), nói: Trôi lăn trong ba cõi, ân ái không thoát được; bỏ ân vào vô vi, là báo ân chân thực. [X. Chư kinh yếu tập Q.4]. (xt. Ân).
ân ái hà
The river of grace.
; (恩愛河) Giữa cha con, vợ chồng, sợi dây ân ái trói buộc rất chắc, rất sâu, cũng như sông biển, khó vượt qua, khó lường tới. [X. Luận Đại trí độ Q.1].
ân ái hải
The sea of grace.
ân ái ngục
The prison of affection, which holds men in bondage.
; Ngục tù ân ái trói buộc chúng sanh vào luân hồi sanh tử—The prison of affection which holds men in bondage of transmigration.
; (恩愛獄) Thế giới Sa-bà cũng như ngục tù, ai ai cũng bị ái ân gông cùm, không được tự tại giải thoát. [X. kinh Trường a hàm Q.1]. (xt.Ân Ái).
ân ái nô
(恩愛奴) Phàm kẻ đắm say ân ái, bị ân ái sai khiến như đứa nô lệ, cũng vì thế mà phải vòng quanh trong ba cõi, sống chết trôi giạt. [X. kinh Trường ahàm Q.10; kinh Phổ hiền quán].
Ân ái 恩愛
[ja] オンアイ on'ai ||| (1) Affection (for one's parents, spouse, chīd, etc.). (2) That which is desirable, pleasant. (3) Affection, attachment, covetous affection, deluded attachment. The eighth of the twelve factors of conditioned arising. - =>1. Tình cảm (đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái v.v...) - 2. Điều khát khao, thèm muốn. - 3. Cảm xúc, quyến luyến, thèm muốn tình cảm, tình cảm mê đắm. Là chi thứ 8 trong Thập nhị nhân duyên. -
ân điền
The field of grace, i.e. parents, teachers, elders, monks, in return for the benefits they have conferred; one of the tam phúc điền.
; Một trong ba loại phước điền, mầm phúc đức nẩy lên từ ân đức phụng dưỡng cha mẹ, sư trưởng, hay thầy tổ—One of the three sources of felicity, the field of grace, i.e. parents, teacher, elder monks, in return for the benefits they have conferred—See Tam Phước (A) (1) and (B) (1).
; (恩田) Là một trong ba thứ ruộng phúc, cũng là một trong tám thứ ruộng phúc. Đối với những người có ân đức với mình, như cha mẹ, sư trưởng, hòa thượng, A xà lê, hay biết ơn, cảm ơn, báo ơn, thì có thể sinh ra phúc đức, cũng như ruộng nương có khả năng bồi bổ nuôi lớn các loại mễ cốc, cho nên gọi là ân điền.
ân độ
Người cứu độ chúng sanh, từ để chỉ một vị Tăng—One who graciously save, a term for a monk.
; (恩度) Tức hàm ý là xuất gia được độ. Ân, nguyên là chi sự cảm biết chỗ tốt và thiện ý mà người khác dành cho mình. Trong Hán văn, chữ.. (ân) là do chữ ...(nhân) và chữ .(tâm) hợp thành, đại khái bảo trong tâm phải luôn luôn ghi nhớ tất cả nguyên nhân đã hình thành cái trạng thái hôm nay. Sự định nghĩa này rất phù hợp với tư tưởng báo ân trong Phật giáo, như kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán đã chỉ bày, người tu hành Phật đạo phải thường xuyên nghĩ nhớ bốn ơn, là ơn cha mẹ, ơn quốc vương, ơn chúng sinh và ơn Tam bảo. Cho nên, lấy một việc xuất gia mà nói, nếu biết rõ nhân duyên ngày nay xuất gia được độ, tất phải từ tất cả sự duyên hình thành, mà trong đó, đặc biệt có sức đại nguyện của Phật, thì cũng phải thầm cảm cái ơn được độ ấy, do đó, ân độ cũng là cách nói khác của xuất gia đắc độ vậy. [X. Đông lâm thiện pháp đường kí (Trương vô tận)]. (xt. Ân).
ân đức
The merit of universal grace and salvation.
; (恩德) Là một trong ba thứ đức tướng của Phật. Như lai vận dụng Đại thừa nguyện lực mà cứu độ chúng sinh, vì thế có ân đức lớn đối với chúng sinh. [X. kinh Đại nhật Q.6; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.8]. (xt. Tam Đức).
Ân 恩
[ja] オン on ||| Love, affection, compassion. - => Tình thương, tình cảm, lòng trắc ẩn. -
; [ja] オン on ||| Love, affection, compassion. - => Tình thương, tình cảm, lòng trắc ẩn. -
âu
 châu—European.
âu ba da ba la mật
Upaya-paramita (skt)—Một trong mười Ba La Mật, phương tiện cứu độ, hay dùng phương tiện thiện xảo để cứu độ người qua đến bến bờ bên kia—One of the ten paramitas, saving by the method of expedient teaching—See Thập Ba La Mật.
âu bá mễ lặc
(歐伯米勒) EVGEMI EVGENIEWICH OBERMILLER (1901 - 1935) - Nhà học giả Phật giáo nước Nga. Ra đời tại Liệt ninh cách lặc (Leningrad) năm 1901. Trí nhớ rất mạnh, có tài âm nhạc, khi vào học trường công, đã thông thạo ba thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, lập chí trở thành nhà âm nhạc. Năm 1918, đến thời kì vào Đại học thì gặp nạn, bèn đổi phương châm, theo Sử triệtbatưcơ (Th. Stcherbasky) học tập Ấn độ học và tiếng Phạm tại Đại học Liệt ninh cách lặc, không bao lâu đã đọc được toàn bộ kinh điển. Đồng thời, nghiên cứu thi ca, học luận lí, lại học thêm tiếng Tây tạng, tiếng Mông cổ, theo việc biên soạn văn khố Phật giáo (Biblio theca Buddhica). Đến năm 1927 mới công bố Chính lí nhất trích với chú thích và sách dẫn (index) Phạm - Tạng (Sanskrit and Tibetan Index Verborum to Nyàyabindu, Nyàyabindu tìkà), rồi từ đó trở đi, tiếp tục xuất bản rất nhiều tác phẩm. Ngoài tác phẩm kể trên, còn có: Abhisamayàlaôkàra, Sanskrit Text and Tibetan translation, jointly edited with Prof. Th. Stcherbatsky, Bibl. Bud., 1929 (luận Hiện quán trang nghiêm, nguyên bản tiếng Phạm và bản dịch Tây tạng hiệu đính xuất bản); Bu-ston’s History of Buddhism, 2 vols., Heidelberg, 1931 - 1932 (Lịch sử Phật giáo của Bố đốn, bản dịch tiếng Anh) v.v... Ông mất năm 1935. [X. Th. Stcherbatsky: Obituary Notice, Dr. E. E. Obermiller, Indian Historical Quarterly, Vol.XII, 1936; Z. D. M. G., 1935].
âu bát la
Utpala (skt)—Còn gọi là Ô Bát La, Ôn Bát La, hay Ưu Bát La. 1) Bông sen xanh: The blue lotus. 2) Long Vương và hồ sen xanh của Long Vương: A lord of Nagas and his blue lotus lake.
âu dương tiệm
(歐陽漸) (1871-1943) Người huyện Nghi hoàng tỉnh Giang tây. Tự là Kính vô, Tiệm ngô. Lúc nhỏ chịu khó học, xem khắp bách gia chư tử. Khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ vào năm Giáp ngọ, nhận thấy cái học tạp nhạp chẳng giúp ích gì cho đất nước, bèn chuyên trị học nghĩa lí, hòng dùng nó để vãn cứu thời tệ. Năm ba mươi tư tuổi đến Nam kinh hầu Dương nhân sơn, được nghe về ý chỉ của pháp giới Hoa nghiêm bèn tin theo Phật giáo, vào tinh xá Kì hoàn, để hết tâm vào kinh luận, dốc sức học Phật. Năm ba mươi sáu tuổi, thân mẫu nhuốm bệnh chết. Tự nói người học Phật khác với các người khác, mỗi lần bị phẫn lại càng phải học. Từng lưu học Nhật bản, sau khi về nước, nhận chức giáo viên của trường Sư phạm tại Lưỡng quảng. Sau lại đến Nam kinh ẨN SỞ TÁC PHÁP theo Dương nhân sơn, khi họ Dương mất, đem cơ sở khắc kinh tại Kim lăng giao phó cho ông. Dân quốc năm đầu (1912), cùng với Lí chứng cương đề xướng lập hội Phật giáo, chủ trương tôn giáo tách rời chính trị, sa thải các tăng lữ tầm thường, rất tiếc là việc làm và ước nguyện trái nhau, chưa thành công được. Ông đối với Phật học, đầu tiên đọc Đại thừa khởi tín, Hoa nghiêm, Lăng nghiêm. Đến bốn mươi tuổi, chuyển sang khảo cứu Pháp tướng duy thức, Du già sư địa, rồi lại từ luận Đại trí độ đến Bát-nhã, Niếtbàn; lâu sau chỉ còn chuyên Pháp tướng Duy thức, bỏ Hoa nghiêm, cho luận Đại thừa khởi tín, kinh Lăng nghiêm đều là kinh sách giả. Đồng thời, hội thông Nho Phật, san hành Trung dung truyện, Khổng học tạp chí, Tứ thư độc v.v... đều phát hiện được cái mà những người trước chưa phát hiện được, giới Phật học tôn là Phật học đại sư. Năm Dân quốc 11, sáng lập tại Nam kinh China nội học viện, giảng Duy thức quyết trạch đàm, những người như Lữ trừng, Thang dụng đồng, Vương ân dương, Hoàng sám hoa, Hùng thập lực v.v... đều đã đến học Âu dương tiệm; các học giả trứ danh như Lương khải siêu, Lương thấu minh, Chương thái viêm, cũng đã từng đến gặp. Nhà thơ và nhà triết học Ấn độ Thái qua nhĩ (Tagore) khi sang thăm Trung quốc, đặc biệt đã đến diện kiến, đàm luận một đêm, kinh ngạc mãi không thôi. Khoảng năm Dân quốc 14, thiết lập Đại học Pháp tướng chuyên khoa, nhưng vì thời cuộc phải bỏ dở. Lại biên soạn Tạng yếu ba tập, Phương tiện học Phật. Trong thời gian kháng chiến, rời Nội học viện đến Giang tân tỉnh Tứ xuyên, vẫn dạy học, khắc kinh không nghỉ. Tháng 2 năm Dân quốc 32, ông mất tại Thục viện vì bệnh viêm phổi, hưởng thọ bảy mươi ba tuổi. Môn nhân thu góp những văn phẩm của ông gồm hơn ba mươi quyển, đóng chung thành một tập gọi là Kính vô nội ngoại học lưu hành ở đời. Sau khi chính phủ Dân quốcdời ra Đài loan, tập ấy chưa thấy lưu thông. Công ty xuất bản Tân văn phong ở Đài loan đã tìm được một bộ phận lớn của sách ấy, xuất bản Âu dương đại sư di tập bốn tập, hơn ba nghìn hạng mục, nổi tiếng thì có: Duy thức quyết trạch đàm, Đối không hữu chư tông điển tịch chi tự luận, Du già sư địa luận tự và China nội học viện viên huấn thích, đều bao hàm trong bốn tập đó. Âu dương tiệm coi trọng Phật giáo tại gia, chê bai Phật giáo xuất gia; Dân quốc năm thứ 7, công bố China nội viện giản chương tổng cương đệ nhất điều, nói: Tông chỉ của Nội viện là xiển dương Phật giáo, đào tạo nhân tài hoằng pháp làm lợi cho đời, chứ không đào tạo những kẻ sĩ xuất gia tự lợi. Thái hư đại sư, người cùng xuất thân từ cửa Dương nhân sơn, bèn soạn Quan ư Chi na nội học viện văn kiện chi trích nghi để bác bỏ, do đó đã mở màn cuộc tranh luận về pháp nghĩa giữa Thái hư và Nội viện; đồng thời, đại sư Thái hư tiếp tục soạn Phật pháp tổng quyết trạch đàm, Kính cư sĩ học thuyết chất nghi (Chất vấn những điểm quái lạ trong học thuyết của cư sĩ Kính), Luận pháp tướng tất tông Duy thức, Tái luận Pháp tướng tất tông Duy thức v.v... để biện luận và chất vấn.
Âu Dương Tu
(歐陽脩[修], 1007, 1072): chính trị gia, nhà văn học dưới thời Bắc Tống, xuất thân Lô Lăng (廬陵, Tỉnh Giang Tây), tự là Vĩnh Thúc (永叔), hiệu Túy Ông (酔翁), sau đổi thành Lục Nhất Cư Sĩ (六一居士), bút hiệu là Văn Trung (文忠). Dưới thời vua Nhân Tông, ông làm Tham Tri Chính Sự (參知政事), sau đó phản đối Vương An Thạch (王安石) nên từ chức. Ông có biệt tài về thơ văn, được xếp hạng một trong 8 nhân vật nổi tiếng thời Đường Tống. Trước tác của ông có rất nhiều như Tân Đường Thư (新唐書), Tân Ngũ Đại Sử (新五代史), Lục Nhất Thi Thoại (六一詩話), v.v.
âu dương tu
(歐陽修) (1007 - 1072) Nhà văn học, nhà sử học đời Bắc Tống. Người huyện Lư lăng Cát châu (huyện Cát an tỉnh Giang tây). Tự là Vĩnh thúc, hiệu Túy ông, Lục nhất cư sĩ. Thụy hiệu là Văn trung. Là một trong Bát đại gia đời Đường - Tống. Năm Thiên thánh thứ 8, đậu Tiến sĩ, nhậm chức Thứ sử nhiều nơi. Lúc bốn mươi tám tuổi, nhà vua triệu hồi làm Hàn lâm học sĩ. Năm Gia hựu thứ 5 (1060), giữ chức Khu mật phó sứ. Năm sau, nhậm Tham tri chính sự. Năm Hi ninh thứ 4 (1071) bị bãi chức, năm sau thì mất, thọ sáu mươi sáu tuổi. Ông có viết Bản luận, cực lực bài bác tư tưởng Phật và Lão; hơn nữa, khi biên soạn Tân Đường thư và Tân Ngũ đại sử, ông cắt bỏ hết những sự kiện có liên quan đến Phật giáo gồm hơn hai trăm điều. Tuy nhiên, đến cuối đời, lại quay về làm tín đồ Phật giáo.
âu dương vô uý
(歐陽無畏) Người Giang tây, tên là Chí, pháp hiệu Vô úy. Tuổi còn thơ đã sớm du học miền đông bắc, tốt nghiệp tại Đại học Phùng dung ở Thẩm dương. Trước sau hai lần sang Tây tạng cầu pháp, thụ giới tỉ khưu ở chùa Biệt bạng. Dân quốc năm 41 (1952), sau khi nhận học vị Lạp nhiên ba cách hỉ bổ, trở về Đài loan. Từng nhận chức Quốc sử quán soạn tu, đồng thời, dạy tại Đại học Chính trị, hệ Biên chính, Biên chính nghiên cứu sở, Đại quốc văn nghiên cứu sở v.v... chủ yếu dạy các chương trình Tây tạng ngữ văn, Lịch sử văn hóa và Phật học nghiên cứu. Là nhà học giả về Tây tạng trứ danh trong nước. Những người học tập nghiên cứu văn Tây tạng tại Đài loan, đa số là học trò của sư.
âu ha sa quốc
(漚呵沙國) Âukhasa, Phạm: Okas. Tức là đất nước của đức Phật Đồtìlada. Dịch ý là nước Minh khai tịch .(nước ánh sáng mở rộng). Chú thích bên cạnh trong kinh Axàthế vương quyển thượng (Đại 15, 393 thượng), nói: Âukhasa là tiếng Thiên trúc, tiếng Hán gọi là Minh khai tịch.
âu hoà câu xá la
(漚和俱舍羅) Phạm:Upàya-kauzalya, Pāli: Upàyakusala. Một trong mười balamật. Còn gọi là Ủhòacâuxála, Âubacâuxála, Ưubàkiềuxála, Ôbadã. Dịch ý là phương tiện khéo léo, phương tiện thắng trí, thiện xảo phương tiện, thiện quyền phương tiện, diệu (khéo). Tức Bồ tát vì hóa độ chúng sinh mà dùng các phương tiện khéo léo thị hiện các tướng để hoàn thành sự nghiệp. Pháp hoa nghĩa sớ quyển 3 (Đại 34, 482 trung), nói: Tiếng nước ngoài gọi là Âu hòa câu xá la; Âu hòa là phương tiện, câu xá la là thắng trí, nghĩa là phương tiện thắng trí. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.3; kinh Phóng quang Bát-nhã Q.16; Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.14; Khả hồng âm nghĩa Q.1 đoạn 1].
âu hòa câu xá la
Upayakausalya (skt)—Phương tiện thiện xảo hay phương tiện thắng trí, thích hợp với điều kiện, cơ hội và sự hội nhập giáo pháp của người nghe pháp—Expediency and skill, adaptable, suited to conditions, opportunist, the adaptation of teaching to the capacity of the hearer.
âu lo vạn sự
Worrying about hundreds of thousands of things.
âu mĩ phật giáo
(歐美佛教) Phật giáo Âu Mĩ bước đầu mới chỉ nghiên cứu về văn hiến Phật giáo, nước Pháp nghiên cứu Đại thừa và Khảo cổ học; nước Đức, nước Anh ghiên cứu và phiên dịch văn hiến Phật giáo bằng tiếng Pāli và nghiên cứu khảo cổ học là chính yếu. Những trứ tác tương đối có tính đại biểu là:Pāli ngữ luận (Essai dePāli, 1826) do Lạp lâm (C. Lassen) và Bá nhĩ nặc phu (E. Burnouf) cùng viết, giới thiệu ngôn ngữ, văn học, tôn giáo Ni bá nhĩ (Népal)và Tây tạng (Notices of the Language, Literature and Religion of Nepal and Tibet, 1826) của Hà cátlâm (B. H. Hodgson), Ấn độ Phật giáo sử tự thuyết (Introduction à l’histoire de Bouddhisme Indien, 1845) của Bá nhĩ nặc phu, bản dịch Pháp văn của kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm (Lotus de la Bonne Loi) cũng do Bá nhĩ nặc phu xuất bản năm 1852 v.v..., tất cả các trước tác trên đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu Phật giáo sau này. Đến khi Đông phương Thánh thư (Sacred Books of the East) do Mạch khắc tưmụclặc (Max müller) biên tập ra đời, thì các kinh bằng tiếngPālivà kinh điển Phật giáo Đại thừa lần lượt được phiên dịch, khiến cho giá trị và ý nghĩa triết học của học thuật Phật giáo được coi trọng. Trong đó, có ảnh hưởng tương đối lớn đối với Âu châu là: Thi phẩm tán Phật Áchâu chi quang (Light of Asia, ánh sáng Á châu) của A nặcđức (Edwin Arnold) và các hoạt động của hội Linh trí học hội (The Buddhist Theosophical Society) do Áo nhĩ cao đặc (Olcott) lãnh đạo. Đến năm 1906, nước Anh thành lập Anh quốc Phật giáo hiệp hội (The Buddhist Society of England), hai năm sau lại đổi là Đại Anh Phật giáo hiệp hội (The Buddhist Society of Great Britain and England) do Đại vệtư (Rhys Davids) làm hội trưởng, đồng thời, ấn hành Phật giáo bình luận (Buddhist Review), hết sức mở rộng Phật giáo. Năm 1925, Hồng phi thụy tư (Christmas Humpheys) kế thừa công việc của hội, và ấn hành Anh quốc Phật giáo (Buddhist in England). Năm 1943, hội Phật giáo Luân đôn (Buddhist Society, London) phát hành tạp chí Trung đạo (The Middle Way) và vẫn tiếp tục xuất bản đến ngày nay. Nước Pháp, với sự giúp sức của nữ sĩ Luân-ti-bối-lợi (Constant Lounsbery), người Mĩ, và của đại sư Thái hư, đã thành lập hội Phật giáo hữu nghị Ba lê vào năm 1929, đến năm 1939 thì ấn hành Tư tưởng Phật giáo (La pensée Bouddhique), ba tháng ra một kì. Ngoài ra, các nước khác cũng phát hành nhiều loại sách về Phật giáo. Sau thế chiến 2, các trứ tác và sự diễn giảng củaThiền sư Linh mộc đại chuyết (Suzuki), người Nhật bản, đã đưa đến cho các nhân sĩ Âu - Mĩ cái hứng thú sâu đậm đối với Thiền học. Nước Mĩ, do chịu ảnh hưởng của các học giả Âu châu, cũng bắt đầu nghiên cứu ngôn ngữ học trong kinh ÂU MĨ PHẬT GIÁO điển Phật giáo. Lại khi tiếp xúc với tư tưởng Đông phương thì tư tưởng giới nước Mĩ cũng rất coi trọng và năm 1939, một hội nghị của các nhà triết học Đông - Tây đã được tổ chức tại Hạ uy di, đồng thời, các hoạt động lấy tín ngưỡng Phật giáo (chủ yếu là Tịnh độ chân tông) của những di dân Nhật bản làm trung tâm cũng được mở rộng. Còn Phật giáo đồ Trung quốc hoằng pháp tại nước Mĩ thì có Ứng kim ngọc đường sáng lập Mĩ đông Phật giáo tổng hội ở Nữu ước (New York), cư sĩ Trầm gia trinh sáng lập Viện nghiên cứu tôn giáo thế giới và chùa Đại giác, pháp sư Độ luân (Tuyên hóa) sáng lập chùa Kim sơn ở Cựu kim sơn (San Francisco) và Đại học Pháp giới, đại sư Tinh vân núi Phật quang sáng lập chùa Tây lai ở Lạc sam cơ (Los Angeles) và hội Xúc tiến Phật giáo Quốc tế, pháp sư Thánh nghiêm sáng lập Trung tâm Thiền ở Nữu ước v.v... Nói một cách đại khái, Phật giáo Đại thừa hệ tiếng Hán đang có xu thế nảy nở và phát triển tại nước Mĩ. [X. Âu mễ chi Phật giáo (Độ biên hải húc)]. (xt. Mĩ Quốc Phật Giáo).
âu mỹ
Europe and America.
âu phục
European clothes.
âu sầu
Sorrowful—Grieved—Sad.
âu yếm
To cuddle.
âu đa la tăng
Uttarasanga (skt)—Loại áo cà sa mặc phủ qua vai trái—A toga worn over the left shoulder.
âu đan đa phú lê tự
(歐丹多富梨寺) Phạm: Udaịđapura, hoặc Uddaịđapura, Udantapura, Daịđapura. Cứ theo Tây tạng truyền là Otántapùri. Nền chùa ở gần tiểu bang Tỉ cáp nhĩ (Bìhàr) tại Ấn độ. Do vua Cabala (Phạm: Gopìla), vua mở nước của triều đại Bala, xây dựng vào giữa thế kỉ thứ VIII Tây lịch, cùng với chùa Nalanđà, chùa Siêu giới (Phạm:Vikramasìla)kế cận, đều là trung tâm của Kim cương thừa (Phạm: Vajrayàna). Cứ theo Tây tạng truyền , thì otanta hàm ý là cao vót (#sur-byed), tức có một giáo đồ dùng phép Y chú mà được vàng, rồi dùng số vàng ấy xây một ngôi chùa cao vót trên một cái gò . Sau khi ngôi chùa này được xây dựng chưa bao lâu, thì ngài Tịch hộ ở chùa Na lanđà vào đất Tây tạng hoằng pháp, bèn phỏng theo chùa ấy mà kiến tạo chùa Tang diên (Tạng: Bsam-yes) ở Tây tạng. Vua Ma-hỉ-ba-la (Phạm: Mahìpàla , khoảng 978 - 1030) đã từng thỉnh năm trăm tỉ khưu đến ở chùa này. Về sau, trong thời vua Lạtmabala (Phạm: Ràmapàla, khoảng 1084 - 1130) trị vì , tương truyền trong chùa có đến hơn một nghìn tỉ khưu cư ngụ. Đến cuối thế kỉ XII, người Hồi giáo là Mục hãn mặc đức tạp nhĩ kì (Muhammad Khaljì) phá hủy ngôi chùa, giết chết tăng chúng trong chùa, cướp đốt kinh sách, nhân đó ngôi chùa bị phế tuyệt. [X. Schiefner:Tàranàtha’s Geschichte des Buddhismus in Indien; H. H. Dodwell: The Cambrige Shorter History of India].
èo uộc
Frequently ill—Often in bad health.
ém nhẹm
To cover up.
éo le
Troublesome.
ép
To squeeze—To press—To extract.
ép buộc
To compel—To oblige—To constrain—To force.
ép duyên
To compel a girl to marry someone against her will.
ép liễu nài hoa
To commit a rape on a woman.
ép lòng
To force (constrain) oneself.
ép nài
To insist someone to do something which is against his or her will.
ép uổng
See Ép buộc.
ép xác
Austerity
ép xác khốc liệt
Severe austerity
ê
Dấm chua—Pickle.
ê bát la để dã
See Hetupratyaya (skt) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ê bạt đà
See Ê Ma Bộ Đa.
ê chề
Shameful—Worn out by shame.
ê la
Hidda (skt)—Khu vực cách Jellalabad khoảng 5 dậm về phía nam—A district about 5 miles south of Jellalabad.
ê ma bộ đa
Đấng trị vì xứ Tuyết Hi Mã, thuộc dòng dõi Dư Thiên Vương—A ruler of the Himalayas, in the retinue of Vaisravana.
ê ma bộ đa bộ
Haimavatah (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ê Ma Bộ Đa Bộ là một trong năm chi phái của Đại Chúng Bộ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Haimavatah is a school of the snow mountains, a schismatic philosophical school, one of the five subdivisions of the Mahasanghikah. ** For more information, please see Mahasamghikah in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ê mình
Aching all over the body.
ê mặt
To be shameful.
ê đâu bà đà bộ
Hetuvadapurva Sthavirah (skt)—Phái Nguyên Thủy Thượng Tọa Bộ, một trong những chi phái của Đại Chúng Bộ—The first school of the Sthaviras treating of causality, or hetuvada. It was a subdivision of the sarvastivadah. ** For more information, please see Sarvastivada (Đại Chúng Bộ), and Sthavira (Thượng Tọa Bộ) in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
ê đô
Hetu (skt)—Nhân—A cause. Logical reason.
ê đô phí đà
Hetuvidya (skt)—See Nhân Minh, and Nhân Minh Luận in Vietnamese-English Section.
ê ẩm
Painful.
Ê-lan-nhã
xem A-lỵ-la-bạt-đề.
êm thấm
Peaceful—Amicable.
êm ái
Tranquil—Peaceful—Calm.
êm đềm
Xem An.
; Serene—Calm—Peaceful.
ích
(益) I. Ích. Tức lợi ích, tăng tiến. (xt. Lợi Ích). II. Ích. Cũng gọi Ải, Y, Ế. Tức là chữ (i) của mẫu tự Tất đàm, một trong 12 nguyên âm và một trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Y là tất cả pháp vốn bất khả đắc . (xt. Y).
ích hi vi
(益希微) Tạng: Ye-Ces-hod. Dịch ý: Trí quang. Vua Tây tạng, vốn tên là Kha nhiệt (Tạng: Kho-re) sống vào khoảng thế kỉ X, XI, sau thoái vị xuất gia và là người đặt nền móng cho công cuộc hoằng pháp (từ A lí truyền vào khu vực Vệ tạng) ở thời kì sau của Phật giáo Tây tạng. Nhà vua từng cho ngài Nhân khâm tang ba đến nước Ca thấp di la (nay là Kashmir) học Phật pháp. Vua Kha nhiệt xây dựng chùa Thác lâm phỏng theo kiểu chùa Tang da. Về sau, trong khi giao chiến với quân đội của nước Cát la lộc (một nước nhỏ ở phía Tây bắc Tây tạng bấy giờ theo Hồi giáo) thì bị bắt rồi bị giết. Vua di chúc lại cho cháu là Giáng khúc vi (Tạng: Byaí-chub-#od, Hán dịch: Bồ đề quang) kế tục đón rước Tôn giả A đề sa đến Tây tạng hoằng pháp
ích kỷ
Selfishness—Self-cherishing—Selfish motive.
ích lợi
Useful—Serviceable.
ích quốc lợi dân
Useful to the country and the people
Ích Tín
(益信, Yakushin, 827-906): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, vị tổ của Phái Quảng Trạch (廣澤派), húy là Ích Tín (益信), thông xưng là Viên Thành Tự Tăng Chánh (圓城寺僧正), thụy hiệu Bản Giác Đại Sư (本覺大師), xuất thân vùng Bị Hậu (僃後, Bingo, thuộc Hiroshima [廣島]). Ông xuất gia ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji), học Mật Giáo với Tông Duệ (宗叡, Shūei), rồi đến năm 887 thì thọ pháp Quán Đảnh của Nguyên Nhân (源仁, Gennin) ở Nam Trì Viện (南持院, Nanji-in) và được Tông Duệ phú chúc ấn khả cho. Năm sau, ông được chọn làm Quyền Luật Sư và Tự Trưởng của Đông Tự. Vào năm 899, ông làm giới sư xuất gia cho Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō), và đến năm 901 thì truyền thọ pháp Quán Đảnh cho nhà vua. Ông đã chấp nhận cho Đằng Nguyên Thục Tử (藤原淑子, Fujiwara Toshiko) quy y và lấy sơn trang Đông Sơn của vị này làm thành ngôi Viên Thành Tự (圓城寺, Enjō-ji). Ông có để lại một số trước tác như Kim Cang Giới Thứ Đệ (金剛界次第), Thai Tạng Trì Niệm Thứ Đệ (胎藏持念次第), Tam Ma Da Giới Văn (三摩耶戒文), Khoan Bình Pháp Hoàng Ngự Quán Đảnh Ký (寬平法皇御灌頂記), v.v.
Ích 益
[ja] エキ eki ||| (1) To increase, profit, benefit. (2) Advantage, profit, benefit, growth. One of the hexagrams in the Yijing. [Buddhism] (1) to benefit others (anugraha); for the sake of, one behalf of. (2) Be beneficial, useful, valuable. (3) To augment. => 1. Tăng thêm, lợi ích, giúp ích. 2. Lợi ích, bổ ích, tăng tiến. Đồ hình ngôi sao sáu cạnh trong Kinh Dịch [Phật học] 1. Lợi lạc cho người khác (s: anugraha). Vì lợi ích cho, thay mặt cho. 2. Có lợi ích, hữu ích, có giá trị. 3. Làm tăng lên.
ít khi
Seldom—Rarely.
ít nhất
At least.
ít nói
Telling little.
Ðinh Tiên Hoàng
丁先皇|Nhà vua Việt Nam thế kỉ thứ 10 đã ủng hộ đạo Phật. Ông là người phong chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu, thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông, phong hiệu là Khuông Việt Thái sư. Ðinh Tiên Hoàng nhìn nhận đạo Phật là tư tưởng chủ đạo trị nước.
Ðiều hỉ quốc
調喜國; S: abhirati;|Ðông phương Tịnh độ của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya).
Ðoạn giáo
斷教; T: chod [gcod]; S: uccheda; cũng được gọi là Hi giải giáo (希解教);|Tên của một phương pháp tu tập rất độc đáo, là nhánh thứ hai của một tông trong Phật giáo Tây Tạng do Pha-đam-pa (t: pha-dampa sangye, ?-1117) sáng lập song song với nhánh »giảm« (t: shijed, nghĩa là giảm bớt). Giáo lí này xuất phát từ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) ra nhưng được bổ sung thêm bằng những nghi lễ cúng hiến, gọi thần, hồn (e: shamanism) của những dân tộc thiểu số.|Nội dung chính của việc tu luyện trong Ðoạn giáo – như tên này đã nói – là cắt đứt đoạn lậu hoặc, Ngã kiến. Ðể thực hành điều này, hành giả phải đưa thân cúng hiến cho ma quỷ ở nghĩa địa và nơi đốt xác. Nữ đệ tử quan trọng nhất của Pha-đam-pa là Ma-chig Lab-dron-me (1055-1145), người đã truyền phép tu luyện này sang những tông khác ở Tây Tạng.|Pha-đam-pa được xem là người từ Nam Ấn Ðộ đến truyền Mật pháp bởi vì nước da của ông có nét xanh. Ông là người cùng thời với Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) và đến Tây Tạng 5 lần để giáo hoá. Lí thuyết căn bản của Ðoạn giáo dựa theo những kinh và luận nói về Bát-nhã ba-la-mật-đa. Theo thuyết này thì tất cả những vật hiện hữu đều tự tâm mà phát sinh, không thật; những sự lo sợ, tưởng tượng,… chỉ là kết quả của tư duy bất chính. Ðể chấm dứt trạng thái này, Ðoạn giáo đưa ra một phương pháp thiền rất độc đáo. Phương pháp này bao gồm hai phần: 1. Hành giả chấp nhận là ma quỷ có thật và chủ ý mời gọi chúng đến và 2. Nhận thức rằng, chúng chỉ là những gì tự tâm phát sinh, không có tự tính (Không). Ðể đạt được kết quả cao nhất, hành giả phải ra những nơi vắng vẻ hoang dã như những nơi đốt xác vì những nơi này dễ gây ra những cảm giác sợ hãi và ma quỷ cũng hay »lộng hành.« Nơi đây, Du-già sư ngồi thiền với một cái trống và kèn được làm bằng xương ống khuyển.|Ðiểm bí hiểm của phương pháp này nằm trong sự thực hành trực tiếp, như Pha-đam-ba một lần nói với cô đệ tử: »Con hãy đi tới chỗ thiêu xác, hãy lên núi tu luyện. Hãy quên những bài học lí thuyết và trở thành một Du-già-ni (s: yoginī) lang thang học hỏi!« Phép tu luyện theo Ðoạn giáo vẫn được lưu truyền rộng rãi ở Tây Tạng trong tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Ninh-mã (t: nyingmapa) cho đến ngày nay.
Ðu-khan-đi
S: dukhaṅdi hoặc dokhaṅdi, debanta, dhosanti, dvakanti, khaṅdipa; »Người nhặt vải rách«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không biết đệ tử của ai và sống trong thời nào. |Ông là người ăn xin, chuyên lượm giẻ rách để may áo. Ngày nọ có vị Du-già sư thương hại ông, dạy cho phép thiền định, nhưng không sao ông tập trung được, vì đầu óc lúc nào cũng nghĩ đến chuyện may vá. Vị Du-già sư dạy ông quán Không vô biên xứ, nói rằng trong Thật tại không có may lẫn vá. Nhờ thế mà ông tập trung quán tưởng và sau 12 năm, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Hợp nhất được sinh diệt,|với Thật tại cuối cùng,|Trong Thiền Ðại thủ ấn,|đạt được giới thanh tịnh|rốt ráo Ba thân Phật.
Ðô-bi-pa
S: dhobīpa hoặc dhombhipa, dhombipa; »Thợ giặt minh triết«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ.|Ðô-bi-pa là con một người thợ giặt. Ngày nọ hai cha con đang giặt áo thì có một Du-già sư (s: yogin) đi qua. Vì không có gì cúng dường, gia đình thợ giặt xin giặt áo cho ông ta. Vị này từ chối và nói có phép bí truyền, giặt một lần là trắng mãi mãi. Người con xin truyền phép đó và được vị Du-già sư cho nhập dòng Cha-kra sam-va-ra-tan-tra. Vị Du-già sư khai thị ông bằng những lời:|Ngọn lửa thủ ấn là,|nước rửa sạch cho Thân,|Âm thanh chân ngôn là,|nước rửa sạch cho Khẩu,|Giao phối của nhị nguyên,|rửa ô nhiễm cho ý.|Sau mười hai năm tu tập, người thợ giặt đạt thánh quả. Sau đó áo quần vào tay ông đều tự nhiên sạch sẽ. Ông sống thêm một trăm năm nữa để giáo hoá. Kệ ngộ đạo của ông như sau:|Ta chuyên nghề tẩy rửa,|trắng sao được rửa than.|Giáo pháp của Ðạo sư:|người thợ giặt quý nhất,|vì nó chỉ Tự tính,|trống rỗng không ô nhiễm.
Ðô-ka-ri-pa
S: dhokaripa; »Khất sĩ với bình bát«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống thời đại nào.|Ông là kẻ ăn xin ở Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra), không có gì hơn ngoài bình bát, trong đó ông để mọi thứ xin được. Lần nọ ông không xin được gì, bình bát trống rỗng. Thấy một vị Du-già sư đi qua, ông hối tiếc là không có gì để cúng dường. Thế nhưng vị này cho ông nhập môn Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra), Quán đỉnh cho ông và dạy:|Hãy nghe, Ðô-ca-ri,|hãy đặt mọi dạng hình,|trong bình bát Không gian,|và xem chúng là một.|Ðô-ka-ri-pa thiền quán như vậy, chỉ ba năm sau ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Sau đó ông vẫn tiếp tục mang bình bát đi rong. Nếu có ai hỏi, ông trả lời:|Bình bát của tính Không,|ta đặt vào trong đó,|mọi bố thí khất thực,|đó chính là Ðại lạc.|Ðô-ca-ri ham muốn,|Ðại lạc của tính Không,|hiểu chưa, hỡi các người?|Chứng đạo ca của ông như sau:|Trong không vô biên xứ,|(Tự tính của bình bát),|ta đặt mọi tri kiến,|(tự tính của mọi sự).|Không, Tri kiến là Một,|Du-già sư hạnh phúc,|đã đạt bờ chứng thật.|Đồ sức hương man|塗飾香鬘; C: túshìxiāngmán; J: zushoku kō-man; |Tự trang điểm mình bằng châu báu và hương thơm, giới tăng sĩ Phật giáo, là một điều không được làm, là 1 trong 10 giới cấm.
Ðôm-bi-pa
S: ḍombipa hoặc ḍombi; nghĩa là »Chúa của dòng du ca,« cũng có biệt danh là »Người cưỡi cọp«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Ông sống trong thế kỉ 9, được xem là đệ tử của Vi-ru-pa (s: virūpa). Vi-ru-pa hướng dẫn ông vào những huyền bí của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajratantra) và những vị Hộ Thần.|Là nhà vua nước Ma-kiệt-đà (s: magadha), ông lấy một cô gái thuộc dòng du ca (ḍombi), một dòng hạ tiện. Bị chê cười, ông bỏ ngôi báu, cùng nàng vào rừng, tu tập Tan-tra. Về sau khi nước Ma-kiệt-đà bị đói kém, triều đình mời ông trị vì. Ông trở về, cỡi cọp, thi triển thần thông và dạy Phật pháp. Người ta cho rằng ông là tác giả của tám tập sách và nhiều bài ca. Nghi quỹ (s: sādhana) của ông là sự chuyển hoá năng lực nhục tính thành sự Giác ngộ thanh tịnh. Bài kệ chứng đạo của ông có những dòng như sau:|Viên đá bậc hiền nhân,|biến chì thành vàng ròng.|Trong lòng Viên ngọc quý,|đam mê thành tỉnh giác.
Ðôn Hoàng
敦煌; C: dūnhuáng;|Thành phố thuộc tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, có rất nhiều hang động nổi tiếng, được xem là vùng hang động chứa nhiều di tích Phật giáo lớn nhất thế giới. Những động cổ nhất được xây dựng từ thế kỉ thứ 5. Ngày nay, người ta tìm thấy 492 động, nằm trên 5 vùng cao thấp khác nhau, dài khoảng 1km. Hang động chứa toàn tranh tạc trên tường, với một diện tích tranh khoảng 45000m², và khoảng 2400 tượng. Ðặc biệt trong động số 16, người ta đã khám phá hàng ngàn kinh, luận, được cuốn tròn. Ðó là những tư liệu vô giá của công trình nghiên cứu đạo Phật trong vùng Trung Á và Trung Quốc ngày nay.|Các tranh tường thường minh hoạ các kinh, các vị Phật hay cuộc đời thường. Các bức tranh trước thế kỉ thứ 6 trình bày cuộc đời của Phật Thích-ca. Kể từ đời Ðường, người ta trình bày các thế giới Cực lạc. Các tranh tượng khác phần lớn diễn tả Di-lặc, minh hoạ các kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm, Diệu pháp liên hoa, Duy-ma-cật sở thuyết. Các vị Phật, Bồ Tát được tạc tượng nhiều nhất là Quán Thế Âm, Ðịa Tạng, La-hán cũng như một số thiên nhân khác.|Năm 1900, một nông dân vô tình khám phá ra động Mạc Kao, động này dẫn đến động số 16. Trong động số 16 người ta tìm thấy 40.000 văn bản (kinh sách, tài liệu, tranh tượng, kể cả các đề tài thuộc về đạo Lão, đạo Khổng) cũng như nhiều pháp khí mà tăng ni ngày xưa đã cất dấu khi bị ngoại xâm. Người nông dân nọ không biết giá trị các thứ đó, đã bán đi một phần lớn. Năm 1907, đoàn khảo cổ đầu tiên của phương Tây do Sir Aurel Stein dẫn đầu đã mua đi 150 bức hoạ trên lụa, 500 tranh vẽ và 6500 cuộn bản kinh. Năm 1908, một nhà Ấn Ðộ học là Paul Pelliot đem từ Ðôn Hoàng 6000 cuộn kinh về nước. Sau đó là người Anh và người Nhật. Ngày nay phần lớn các di sản văn hoá đó đều nằm trong các viện bảo tàng phương Tây.|Các hang động có chính diện hình vuông hay chữ nhật. Các hang xây thời Ðông Tấn (thế kỉ 4-5) thường đơn giản, chỉ có các tượng Phật. Các hang thời đại sau thường có nhiều phòng. Phần lớn các tượng được đặt trên đế hay dựa vào vách đá. Các hang đưới thời nhà Tống được xây dựng công phu nhất, gồm các trình bày tiền thân đức Phật hay các cảnh của Tịnh độ.|Các hình ảnh tranh tượng khắc hoạ trong thời Ðông Tấn còn mang nhiều ảnh hưởng của Ấn Ðộ với mũi cao, áo mỏng. Sau đó các hình tượng của huyền thoại Trung Quốc cũng được đưa vào tranh. Ðến thời nhà Tuỳ (581-618), bên cạnh tượng Phật và Bồ Tát, lần đầu tiên tượng của A-nan-đà được trình bày và cũng trong thời gian này, ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Quốc bắt đầu chiếm ưu thế.|Trong đời Ðường, các hình tượng sống động và gần gũi hơn, nhất là trang phục của các tượng được trình bày rất kĩ. Trong thời kì này, nhiều tượng Phật vĩ đại ra đời, tượng lớn nhất cao hơn 33 m. Các tranh trên tường minh hoạ các cảnh trong kinh, các Bồ Tát thường là các vị đang được truyền bá rộng rãi thời bấy giờ.
Ðịa luận tông
地論宗; C: dìlùn-zōng; J: jiron shū;|Một trong nhứng tông phái sớm nhất của Phật giáo Trung Hoa, căn cứ vào luận giải về Thập địa kinh luận (十地經論, s: daśabhūmika-śāstra) của Thế Thân, và cũng căn cứ vào luận giải chương 1 trong kinh Hoa Nghiêm. Lặc-na-ma-đề (勒那摩提, s: ratnamati) và Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支, s: bodhiruci) mang Thập địa kinh luận bản chép tay dịch sang tiếng Hán vào thời Bắc Nguỵ. Địa luận tông chủ yếu căn cứ vào triết học Du-già hành phái, đặc biệt là giáo lí về A-lại-da thức. Nhánh phía Bắc của tông nầy với đại biểu là Đạo Sủng (道寵), đệ tử của Bồ-đề Lưu-chi đưa ra luận điểm tạng thức không thực có, và Phật tính đạt được trước hết khi thành Phật, thế nên nó không phải là bẩm sinh. Nhánh phía Nam, đại biểu là Huệ Quang, đệ tử của Lặc-na-ma-đề, cho rằng A-lại-da thức là thật có và đồng nhất với Phật tính. Tông Hoa Nghiêm được xem là phát triển từ nhánh phía Nam, còn Pháp tướng tông tiếp thu tinh thần nhánh phía Bắc.
Ðịa ngục
地獄; S, P: naraka;
Ðịnh
定; S, P: samādhi; J: zammai, dịch theo âm là Tam-ma-địa; |Trạng thái chú tâm lên một đối tượng duy nhất bằng sự lắng lọc từ từ của tâm. Ðịnh là một dạng tâm thức, trong đó không còn tính nhị nguyên, trong đó chủ thể biến thành một với khách thể, lúc đó chỉ còn một »kinh nghiệm tâm thức« là có thật. Khả năng đạt định là một trong những điều kiện tiên quyết để tu tập Thiền (s: dhyāna).|Người ta phân biệt ba dạng định xuất thế, dẫn đến chứng ngộ tính Không, Vô ngã và đạt Niết-bàn. Các dạng khác của định, dù sâu lắng thế nào đi nữa vẫn được xem là thế tục.
Ðịnh Hương
定香; ?-1051|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Ða Bảo và truyền lại cho những vị như Viên Chiếu, Bảo Tính, Minh Tâm và Cứu Chỉ.|Sư họ Lữ, quê ở Chu Minh, xuất gia theo học với Thiền sư Ða Bảo và là vị đệ tử xuất sắc nhất trong chúng. Một hôm, Sư hỏi Ða Bảo: »Làm sao thấy được chân tâm?« Bảo đáp: »Là ngươi tự nhọc.« Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, thưa: »Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con?« Bảo hỏi lại: »Ngươi hội chưa?« Sư thưa: »Ðệ tử hội rồi đồng chưa hội.« Bảo khuyên: »Cần phải gìn giữ cái ấy.« Sư bịt tai xoay lưng đứng, Ða Bảo dạy: »Ngươi về sau lại giống một kẻ điếc để tiếp người.«|Sau 24 năm tu học với Ða Bảo, Sư được thỉnh về trụ trì chùa Cảm Ứng ở Tiêu Sơn, phủ Thiên Ðức. Nhiều người đến đây tham học và Sư cũng rất có công trong việc hoằng hoá.|Ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần, niên hiệu Sùng Hưng Thái Bảo thứ ba đời Lí Thái Tông, Sư gọi chúng lại từ biệt và viết kệ phó chúc: |本來無處所。處所是真宗|真宗如是幻。幻有即空空|Bản lai vô xứ sở|Xứ sở thị chân tông|Chân tông như thị huyễn|Huyễn hữu tức không không.|*Xưa nay không xứ sở|Xứ sở là chân tông|Chân tông như thế huyễn|Huyễn có là không không.|Truyền kệ xong, Sư im lặng viên tịch.
Ðịnh Không
定空; 730-808|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 8. Không biết Sư nối pháp của vị nào. Môn đệ đắc pháp của Sư là Thiền sư Thông Thiện.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp (cũ là Diên Uẩn). Sư xuất thân từ một gia đình danh giá và vì những hành động hợp pháp tắc nên những người trong làng đều quý trọng, gọi là Trưởng lão. Lúc tuổi đã lớn, nhân nghe một buổi thuyết pháp mà Sư phát tâm xuất gia tu học.|Nhân vì một điềm linh ứng báo trước nên Sư đổi tên làng thành Cổ Pháp. Sau đó, Sư còn đến trụ trì chùa Thiền Chúng ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức (nay là làng Ðình Bảng, phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh).|Sắp viên tịch, Sư gọi Thông Thiện đến phó chúc: »Ta muốn mở rộng làng xã nhưng ở khoảng giữa e gặp hoạ nạn, ắt có người khác đến phá hoại đất đai của chúng ta. Sau khi ta tịch, ngươi khéo gìn giữ pháp của ta. Khi nào gặp người họ Ðinh sẽ truyền thì nguyện của ta sẽ được toại vậy.« Nói xong, Sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Thông Thiện xây tháp ở phía Tây chùa Lục Tổ để thờ Sư.|Người họ Ðinh kế thừa Thông Thiện sau này chính là Trưởng lão La Quý An.
Ðịnh lực
定力; S: samādhibala; J: jōriki; |Một trong Năm lực. Lực này xuất phát từ Nhất tâm và được phát triển qua các phép Thiền định. Ðịnh lực giúp hành giả tuỳ cơ ứng biến, làm đâu đúng đó mà không cần phải suy nghĩ đắn đo.|Thiền sư Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) dạy rằng: »Ðịnh lực vượt qua các kết quả của sự tập trung đơn giản. Ðịnh lực là một năng lực diệu kì, một lần đã được đánh thức, giúp chúng ta hành động, phản ứng đúng lúc, thích hợp với những điều kiện, trường hợp không tiên đoán trước. Ai phát triển được định lực thì không còn là nô lệ của sự ham muốn vọng tưởng và cũng không còn là nạn nhân của thế giới xung quanh… Mặc dù nhiều năng lực huyền diệu có thể xuất phát từ định lực nhưng chúng không thể giúp chúng ta tận diệt tất cả những ảo ảnh bao quanh. Giác ngộ phải là bước tiếp đến.«|Vì định lực có thể tạo phép thần thông »vô bổ« và thu hút nhiều người nên Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên nhấn mạnh: »Việc tu tập để thành Tổ, thành Phật đứng hàng đầu trong tông này chứ không phải chỉ tụng kinh niệm Phật và sử dụng định lực.«
Ðịnh Thượng Toạ
定上座; C: dìng shàngzuò; J: jō jōza, tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư nổi danh với cách dạy thần tốc, mãnh liệt như vũ bão. Thiền sư Viên Ngộ có nhắc lại cách dạy của Sư trong Bích nham lục, Công án 32.|Sư người miền Bắc, đến học với Lâm Tế và đắc pháp nơi đây. Một hôm, Sư đi trên đường gặp ba vị Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát, Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Khâm Sơn Văn Thuý. Ba vị này hỏi Sư về cách dạy môn đệ của Lâm Tế. Sư thuật lại câu chuyện sau:|»Lâm Tế dạy chúng: ›Trên khối thịt đỏ có một chân nhân không ngôi vị thường từ diện môn các ông ra vào, người chưa chứng cứ hãy xem!‹ Có vị tăng ra hỏi: ›Thế nào là chân nhân không ngôi vị?‹ Lâm Tế liền nắm đứng bảo: ›Nói! Nói!‹ Vị tăng suy nghĩ. Lâm Tế liền xô ra, nói: ›Chân nhân không ngôi vị là cái gì? Cục cứt khô!‹ Liền trở về phương trượng.«|Nham Ðầu nghe sợ le lưỡi. Khâm Sơn nói: »Sao chẳng nói phi chân nhân không ngôi vị?« Sư nắm đứng bảo: »Chân nhân không ngôi vị cùng phi chân nhân không ngôi vị cách nhau nhiều ít, nói mau! Nói mau!« Khâm Sơn không biết đáp sao, mặt mày tái mét. Nham Ðầu, Tuyết Phong đến lễ bái xin lỗi: »Vị tăng này mới học không biết phải quấy, xin Thượng toạ từ bi tha thứ.« Sư bảo: »Nếu chẳng phải hai thầy già này xin, sẽ giết con quỷ đái dưới sàng này.«
Ðịnh tâm
定心; J: jōshin;|Tâm đã đạt được Ðịnh (s: samādhi).
Ðọa xứ
墮處; S, P: apāya;|Bốn đường tái sinh đau khổ trong Vòng sinh tử. Ðó là Ðịa ngục (s: nakara), Ngạ quỷ (s: preṭa), súc sinh và A-tu-la (s: asura). A-tu-la đôi khi được kể vào loài hạnh phúc hơn loài người, có khi lại không được một số tông phái Tiểu thừa nhắc tới.
Ðốn ngộ
頓悟; J: tongo;|Nghĩa là ngộ bất thình lình, ngay bây giờ, ngược với Tiệm ngộ. Phép tu Ðốn ngộ được Nam tông thiền chủ trương đề xướng (Huệ Năng).
Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận
頓悟入道要門論; J: tongo nyūdō yōmon-ron;|Một tác phẩm quan trọng của Thiền tông, được Thiền sư Ðại Châu Huệ Hải biên soạn.
Ðỗ Thuận
杜順; C: dùshùn; j: dojun; 557-640|Ðế Tâm Ðỗ Thuận
Ðộc giác Phật
獨覺佛; S: pratyekabuddha; P: paccekabuddha; dịch theo âm là Bích-chi-ca Phật-đà hoặc Bích-chi Phật, cũng được gọi là Duyên Giác Phật; |Một vị Phật đạt giác ngộ nhờ tri kiến Mười hai nhân duyên, là người đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ. Người ta cho rằng vị Ðộc giác Phật không đạt được các năng lực như Nhất thiết trí (s: sarvajñatā) hay Mười lực (s: daśabala) của một vị Tam-miệu Tam-phật-đà (Chính đẳng giác; s: samyak-saṃ-buddha). Ðộc giác Phật được xem như bậc Thánh ở quả vị khoảng giữa A-la-hán và Phật. Có khi Ðộc giác Phật là danh hiệu chỉ người đạt giác ngộ trong thời không có vị Phật nào xuất hiện trên trái đất và giác ngộ nhờ đã đạt tri kiến mười hai nhân duyên trong các đời sống trước. Ðộc giác thừa là một trong Ba thừa (cỗ xe) để đạt Niết-bàn.
Ðộc giác thừa
獨覺乘; S: pratyekabuddha-yāna; còn gọi là Duyên giác thừa;|Tên chung của các phương pháp tu tập đắc quả Ðộc giác Phật.
Ðộc tham
獨參; J: dokusan, có thể hiểu là »một mình đến tham vấn vị thầy«;|Cuộc gặp riêng của người tham thiền với vị thầy trong thất của thầy. Ðộc tham là một trong những yếu tố tối trọng trong việc tu thiền; nó tạo điều kiện để thiền sinh có thể trình bày những vấn đề liên hệ đến việc tu tập, để có thể trình bày sở đắc và trắc nghiệm mức độ thông đạt đạo của mình.|Nhiều Công án với nội dung là một cuộc vấn đáp phản ánh phương pháp độc tham thời xưa. Truyền thống độc tham bắt nguồn từ buổi »truyền tâm bí mật nằm ngoài giáo pháp« cho Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa) của Phật Thích-ca trên đỉnh Linh Thứu (Niêm hoa vi tiếu), được lưu truyền trong »Phật tâm tông« – một tên khác của Thiền tông – cho đến ngày nay. Trước đây thì độc tham được ứng dụng trong tất cả những hệ phái của Thiền tông nhưng trong thời nay, phương pháp này hầu như không còn tồn tại trong tông Tào Ðộng (s: sōtō-shū) tại Nhật mà chỉ được thực hành trong tông Lâm Tế (s: rinzai-shū).|Vì nhiều lí do mà buổi độc tham phải được giữ bí mật: 1. Buổi này đòi hỏi một tâm trạng cởi mở và thành thật tuyệt đối của thiền sinh trước mặt một vị Lão sư (j: rōshi) – một điều kiện khó thực hiện được trước mặt nhiều người khác; 2. Trong buổi này, thiền sinh trình bày mức độ ngộ nhập công án đang được tham quán. Nếu thiền sinh khác nghe được câu »giải đáp« này thì nó có thể là một chướng ngại cho họ trên đường tìm câu trả lời của chính mình; 3. Một buổi dạy riêng của vị thầy lúc nào cũng được thực hiện theo quy tắc »tuỳ cơ ứng biến« và vì thế lúc nào cũng thích hợp cho chính thiền sinh đang độc tham. Vị thầy có thể phản ứng khác biệt đối với những câu trả lời giống nhau của các thiền sinh – một yếu tố có thể làm các thiền sinh sơ cơ tán loạn.|Trong một hệ thống truyền thừa chính phái thì chỉ có người nào đã được Ấn khả, đã được chính thức công nhận là Pháp tự (j: hassu) mới được chủ trì buổi độc tham.
Ðộc Tử bộ
犢子部; S: vātsīputrīya; còn được gọi là Trụ tử bộ (s: pudgalavāda);|Bộ phái Phật giáo, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) trong năm 240 trước Công nguyên. Ðó là bộ phái dám đi xa nhất so với các nguyên lí kinh điển thịnh hành trong Thượng toạ bộ.|Người sáng lập của phái này là Ðộc Tử (s: vātsīputra), vốn theo đạo Bà-la-môn, cho rằng đàng sau mỗi con người có một cá nhân, một Bổ-đặc-già-la (補特伽羅; s: pudgala; p: puggala), không giống cũng không khác với Ngũ uẩn. Con người đó là kẻ đi tái sinh, là kẻ chịu tất cả các nghiệp báo, thậm chí là kẻ tiếp tục hiện diện trong Niết-bàn. Trong thời đại bấy giờ Ðộc Tử bộ là một trong những bộ phái lớn, nhưng quan điểm của bộ phái này bị các tông phái chống đối vì họ cho rằng »Bổ-đặc-già-la« của Ðộc tử chẳng qua chỉ là biến dạng của một tự Ngã (s: ātman), là quan niệm mà đã bị đức Phật phủ nhận.
Ðộng Sơn Lương Giới
洞山良价; C: dòngshān liángjiè; J: tōzan ryō-kai; 807-869;|Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Vân Nham Ðàm Thạnh. Cùng với môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch, Sư sáng khai tông Tào Ðộng, một dòng Thiền được lưu truyền đến ngày nay. Sư quyền khai ngũ vị để giáo hoá học đồ, đời sau gọi là Ðộng Sơn ngũ vị.|Sư họ Du quê ở Cối Kê. Thuở nhỏ theo thầy tụng Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh đến câu: »Vô nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý«, Sư lấy tay rờ mặt hỏi thầy: »Con có mắt, tai, mũi, lưỡi sao kinh nói không?« Thầy thấy lạ và giới thiệu Sư đến núi Ngũ Duệ yết kiến Thiền sư Linh Mặc (trước học đắc nơi Mã Tổ, đại ngộ nơi Thạch Ðầu). Năm 21 tuổi, Sư đến Tung Sơn thụ giới cụ túc. Sao đó Sư du phương, yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện. Gặp ngày kị trai Mã Tổ, Nam Tuyền hỏi chúng: »Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng?« Tất cả chúng không đáp được, Sư bước ra thưa: »Ðợi có bạn liền đến.« Nam Tuyền khen: »Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giũa gọt.« Sư thưa: »Hoà thượng chớ ếm kẻ lành thành đứa giặc.« |Sư đến Quy Sơn Linh Hựu. Quy Sơn lại chỉ đến Vân Nham. Ðến đây Sư hỏi: »Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe?« Vân Nham bảo: »Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe.« Sư hỏi: »Hoà thượng nghe chăng?« Vân Nham bảo: »Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp.« Sư thưa: »Con vì sao chẳng nghe?« Vân Nham dựng phất tử, hỏi: »Lại nghe chăng?« Sư thưa: »Chẳng nghe.« Vân Nham bảo: »Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp.« Sư hỏi: »Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì?« Vân Nham bảo: »Ðâu không thấy kinh A-di-đà nói: nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm pháp?« Ngay câu này Sư có tỉnh, thuật bài kệ:|也大奇!也大奇!|無情說法不思議|若將耳聽終難會|眼處聞時方得知|Dã đại kì, Dã đại kì|Vô tình thuyết pháp bất tư nghì|Nhược tương nhĩ thính chung nan hội|Nhãn xứ văn thì phương đắc tri.|Cũng rất kì! Cũng rất kì!|Vô tình thuyết pháp chẳng nghĩ nghì|Nếu lấy tai nghe trọn khó hội|Phải đem mắt thấy mới liễu tri.|Sắp rời Vân Nham, Sư hỏi: »Sau khi Hoà thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi ›tả được hình dáng của thầy chăng?‹ con phải đáp làm sao?« Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo: »Chỉ cái ấy.« Sư trầm ngâm giây lâu, Vân Nham bảo: »Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kĩ.« Sư vẫn còn hồ nghi. Sau, Sư nhân qua suối nhìn thấy bóng, đại ngộ ý chỉ, liền làm bài kệ:|切忌從他覓。迢迢與我疏|我今獨自往。處處得逢渠|渠今正是我。我今不是渠|應修甚麼會。方得契如如|Thiết kị tòng tha mịch|Thiều thiều dữ ngã sơ|Ngã kim độc tự vãng|Xứ xứ đắc phùng cừ|Cừ kim chính thị ngã|Ngã kim bất thị cừ|Ưng tu thậm ma hội|Phương đắc khế như như.|*Rất kị tìm nơi khác|Xa xôi bỏ lãng ta|Ta nay riêng tự đến|Chỗ chỗ đều gặp va|Va nay chính là ta|Ta nay chẳng phải Va|Phải nên như thế hội|Mới mong hợp như như.|Sư thượng đường dạy chúng: »Lại có người không đền đáp bốn ân ba cõi chăng?« Chúng đều không đáp, Sư lại bảo: »Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, bước bước không chỗ nơi, thường không gián đoạn mới được tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày!«|Một vị tăng hỏi Sư: »Khi lạnh nóng đến làm sao né tránh?« Sư đáp: »Sao chẳng nhằm chỗ không lạnh nóng đi?« Tăng hỏi: »Thế nào là chỗ không lạnh nóng?« Sư đáp: »Khi lạnh lạnh chết Xà-lê, khi nóng nóng chết Xà-lê.«|Sắp tịch, Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Ðại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: »Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, là tu hành chân chính. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?« Sư bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn luyến mến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Thụ trai cùng chúng xong, Sư bảo: »Tăng-già không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.« Nói xong Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch. Bấy giờ là tháng ba năm thứ mười, niên hiệu Hàm Thông đời Ðường. Sư thọ 63 tuổi, 42 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ngộ Bản Thiền sư.
Ðộng Sơn ngũ vị
洞山五位; J: tōzan (ryōkai) go-i; còn được gọi là Ngũ vị quân thần;|Năm địa vị của giác ngộ, được Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới và môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch phân tích nêu rõ.|Biểu thị Chính (正) ở đây có nghĩa là Thể, tính Không (空), Lí (理). Thiên (偏) chỉ cho Dụng (用), Sắc (色), Sự (事). Ngũ vị được nêu rõ như sau:|1. Chính trung Thiên (正中偏): có nghĩa là cái Dụng nằm trong Lí. Trong cấp nhận thức này, thế giới Hữu vi nắm phần trên nhưng được nhận diện là xuất phát từ Chân như, tính Không. Người tu mới nhận được dụng đủ nơi thể. Bài kệ tụng của Sư:|正中偏|三更初夜月明前|莫怪相逢不相識|隱隱猶懷舊日嫌|Chính trung thiên|Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền|Mạc quái tương phùng bất tương thức|Ẩn ẩn du hoài cựu nhật hiềm.|*Chính trung thiên|Ðêm tối canh ba trăng rọi hiên|Lạ chi cùng gặp chẳng cùng biết|Ẩn ẩn vẫn còn ôm hận phiền|2. Thiên trung Chính (偏中正): có nghĩa là Lí nằm trong Dụng. Trong vị này, sự bất phân nổi bật, thế giới hiện hữu ít được để ý đến. Người tu hành nhận được Lí đủ nơi Sự, nhận được Thể sẵn trong Dụng, liễu đạt được lí các pháp đều không, chỉ một Chân như bình đẳng. Bài tụng:|偏中正|失曉老婆逢古鏡|分明覿面別無真|休更迷頭猶認影.|Thiên trung chính|Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh|Phân minh địch diện biệt vô chân|Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.|*Thiên trung chính|Mất sáng lão bà tìm cổ kính|Rõ ràng đối diện đâu riêng chân|Thôi chớ quên đầu theo nhận bóng.|3. Chính trung lai (正中來): nghĩa là từ trung tâm giữa Thiên và Chính đến. Các pháp hữu vi như Lí tuỳ duyên, như tính duyên khởi. Nơi đây cảm giác về thân, tâm đều được bỏ qua một bên, cả hai đều biến mất. Người tu nơi đây như Lí tu Sự, như tính khởi hành, tương đương với Bồ Tát từ sơ địa đến thất địa (Thập địa) tu hành còn dụng công. Bài tụng:|正中來|無中有路隔塵埃|但能不觸當今諱|也勝前朝斷舌才|Chính trung lai|Vô trung hữu lộ cách trần ai|Ðản năng bất xúc đương kim huý|Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.|*Chính trung lai|Ðường cái trong không cách trần ai|Chỉ hay chẳng chạm ngày nay kị|Ðã thắng tiền triều cắt lưỡi tài.|4. Thiên trung chí (偏中至): bước vào giữa Thiên và Chính. Nơi đây người tu cảm nhận được sự độc nhất vô nhị của mỗi Pháp. Ngay cả tính Không cũng đã biến mất trong pháp này. Sử dụng toàn hợp nơi thể người tu trọn ngày tu mà lìa niệm tu, trọn đêm dụng mà chẳng thấy dụng công. Tương đương với hàng Bồ Tát từ bát địa đến thập địa. Tụng:|偏中至|兩刃交鋒不須避|好手猶如火裡蓮|宛然自有沖天志|Thiên trung chí|Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tị|Hảo thủ du như hoả lí liên|Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.|*Thiên trung chí|Hai kiếm đua nhau cần gì tránh|Tay khéo vẫn như lò lửa sen|Nguyên vẹn nơi mình xung thiên chí.|5. Kiêm trung đáo (兼中到): Ðã đến đích, đến trung tâm của hai thái cực Thiên và Chính. Thể Dụng đồng đến, Sự và Lí cùng hành. Tức là vị quân thần hiệp (vua tôi hiệp). Ðây là Phật quả tối thượng. Bài tụng:|兼中到|不落有無誰敢和|人人盡欲出常流|折合還歸炭裡坐.|Kiêm trung đáo|Bất lạc hữu vô thuỳ cảm hoà|Nhân nhân tận dục xuất thường lưu|Chiết hiệp hoàn quy khôi lí toạ.|*Chẳng rơi Không, có ai dám hoà|Người người trọn muốn vượt dòng thường|Tan hiệp trở về ngồi trong tro|Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư giải: »Chính vị tức xưa nay Không giới, xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới có muôn hình tượng. Chính trung thiên: bỏ Lí theo Sự. Thiên trung chính: bỏ Sự về Lí. Kiêm trung đáo: thần ứng hợp các duyên, không rơi vào các cõi, chẳng phải nhiễm, tịnh, chính, thiên. Cho nên nói ›Ðại đạo hư huyền, chân tông vô trước.‹ Các bậc tiên đức suy một vị này tối diệu tối huyền, phải biện minh cho thấu triệt. Quân là Chính vị, Thân là Thiên vị, Thần hướng Quân là Thiên trung Chính, Quân thị Thần là Chính trung Thiên, Quân Thần đạo hiệp là Kiêm trung đáo.«|Tương truyền rằng, Ðộng Sơn được thầy là Vân Nham Ðàm Thạnh chân truyền thuyết Ngũ vị và truyền lại cho Tào Sơn, người đã phát triển và hoàn chỉnh công thức này. Ngũ vị được xem là công thức biện chứng tuyệt hảo nhất của Thiền tông Trung Quốc. Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) bảo rằng »Ngũ vị là nguyên lí chính của Phật giáo và con đường tu tập tối trọng của Thiền tông.«|Thuyết Ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn tương ưng với Tứ pháp giới của Hoa nghiêm tông, được Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán (737-838) đề xướng. 1. và 2. của Ngũ vị tương ưng với Sự pháp giới, 3. tương ưng với Lí pháp giới, 4. tương ưng với Lí sự vô ngại pháp giới và 5. tương ưng với Sự sự vô ngại pháp giới.|Ngũ vị của tông Tào Ðộng sau cũng được tông Lâm Tế hấp thụ. Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu có lẽ là người đầu tiên sử dụng thuyết này và những bài kệ thuyết giảng của sư được ghi lại trong tập thứ 2 của Phần Dương lục (3 tập), được Thiền sư Thạch Sương Sở Viên biên tập. Phần Dương lục cũng là tập Công án quan trọng đầu tiên của Thiền tông Trung Quốc.
Ðộng Sơn Thủ Sơ
洞山守初; C: dòngshān shǒushū; J: tōzan shu-sho; 910-990;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Vân Môn Văn Yển. Trước khi gặp Vân Môn, Sư đã hành cước hơn 2000 km từ quê ở Tây Bắc Trung Quốc đến Quảng Ðông. Ðây là sự chứng minh lòng tham thiền học đạo tuyệt đối của Sư và các vị mộ đạo đời đó nói chung.|Nguyên do đại ngộ của Sư được truyền lại trong Vô môn quan, Công án 15:|Vân Môn hỏi Sư: »Mới từ đâu đến?« Sư thưa: »Tra Ðộ.« Vân Môn lại hỏi: »Hạ An cư ở đâu?« Sư đáp: »Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.« Vân Môn hỏi tiếp: »Rời chùa hôm nào?« Sư đáp: »Hai mươi lăm tháng tám.« Vân Môn bảo: »Tha cho ông ba hèo.« Sáng hôm sau, Sư đến hỏi Vân Môn: »Hôm qua đội ơn thầy tha ba hèo, không biết lỗi của con ở đâu?« Vân Môn nói: »Ðồ vô dụng, thế mà dám khoe là đã qua những pháp hội ở Giang Tây, Hồ Nam! (chỉ Mã Tổ, Thạch Ðầu).« Nhân câu này của Vân Môn, Sư đại ngộ, bèn thưa: »Con ngày khác đến chỗ không có hơi người, dựng một chiếc am, chẳng chứa một hạt gạo, chẳng trồng một cọng rau, thường tiếp đãi thiện tri thức mười phương qua lại, trọn vì họ nhổ đinh tháo chốt, lột chiếc mũ thịt mỡ, cởi chiếc áo hôi thối, khiến mọi người sạch sẽ thung dung, làm một người vô sự.« Vân Môn bảo: »Thân bằng cây liễu mà mở được cái miệng to thế.« Sư liền lễ bái rồi đi.|Sư dạy chúng: »Lời không dính việc, nói chẳng hợp cơ, nương lời thì mất, kẹt câu là mê. Nơi đây, trong bốn câu nói thấy được rõ ràng. Làm một nạp tăng (chỉ Thiền sư) khoáng đạt, nhân một cây đòn tay, một miếng ngói, một bữa cháo, bữa cơm cũng có thể vì người làm thiện tri thức. Nơi đây, nếu chẳng rõ sẽ trở thành kẻ bướng bỉnh.«|Ðời nhà Tống niên hiệu Thuần Hoá năm đầu tháng bảy, Sư ngồi yên thị tịch.
Ðức Huệ
德慧; S: guṇamati;|Một Ðại luận sư của Duy thức học (s: yo-gācāra, vijñānavāda), thầy của An Huệ (s: sthiramati).
Ðức Sơn Tuyên Giám
德山宣鑒; C: déshān xuānjiàn; J: tokusan sen-kan; 782-865;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những Thiền sư lỗi lạc nhất đời Ðường. Sư có 9 môn đệ được Ấn khả, trong đó hai vị Nham Ðầu Toàn Hoát và Tuyết Phong Nghĩa Tồn đứng hàng đầu. Sư nối pháp Long Ðàm Sùng Tín, thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư và Thạch Ðầu Hi Thiên. Nhân duyên ngộ đạo của Sư là một trong những câu chuyện thường được nhắc lại nhất trong giới Thiền. Sư nổi danh về việc sử dụng cây gậy để giáo hoá (đập) thiền sinh, từ đó mà sinh ra danh từ Bổng hát, chỉ cây gậy (bổng) ngang dọc của Sư và tiếng hét (Hát) vọng vang của Lâm Tế. |Những lời dạy của Sư rất lạ lùng, khó hiểu, chỉ có bậc thượng căn mới có thể hội đôi phần. Những câu nói của Sư, nghe phớt qua người thường có thể gọi là »mắng Phật mạ Tổ« nhưng nếu thấu hiểu thì cao siêu vô cùng. Sư không muốn đi quanh co, rườm rà mà nhiệt tình hướng dẫn môn đệ mau chóng ngộ được chân lí Bất nhị, nơi mọi ngôn từ trở thành vô dụng. Cũng từ tâm hồn cao siêu nhiệt tình của Sư mà xuất phát từ dòng Thiền này một Tuyết Phong Nghĩa Tồn, một Vân Môn Văn Yển, một Pháp Nhãn Văn Ích và vô số những ngôi sao sáng trong Thiền tông sau này.|Sư họ Chu, quê ở Kiến Nam, Giản Châu, xuất gia lúc 20 tuổi. Sư thông Luật tạng và các kinh, luận. Vì thường giảng Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh nên thời nhân gọi Sư là Chu Kim Cương. Nghe Nam phương Thiền tông thịnh hành Sư bất bình nói: »Kẻ xuất gia muôn kiếp học uy nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói ›Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.‹ Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết đống ma quái để đền ân Phật.« Sư bèn khăn gói lên đường, mang theo bộ Thanh Long sớ sao tới Lễ Châu. Trên đường, Sư gặp một người đàn bà bán bánh rán, bảo bà lấy ít bánh ăn điểm tâm. Bà chỉ gánh của Sư hỏi: »Gói này là gì.« Sư trả lời: »Thanh Long sớ sao.« Bà nói: »Tôi có một câu hỏi, nếu thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp không được, mời thầy đi nơi khác.« Sư ưng chịu, bà liền hỏi: »Trong kinh Kim cương có nói ›Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc.‹ Vậy thầy muốn điểm tâm nào?« Sư lặng thinh, không đáp được. Người đàn bà liền chỉ Sư đến tham vấn Thiền sư Long Ðàm Sùng Tín.|Vừa tới cửa Long Ðàm, Sư liền nói: »Nghe danh Long Ðàm đã lâu, nay đến đây, đầm (潭; Ðàm) cũng chẳng thấy, rồng (龍; Long) cũng chẳng hiện.« Long Ðàm bước ra, nói: »Ngươi đã tới Long Ðàm rồi.« Sư không đáp được, liền dừng lại đây. Một đêm, Sư đứng hầu. Long Ðàm bảo: »Ðêm khuya sao chẳng xuống?« Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa: »Bên ngoài tối đen.« Long Ðàm thắp đèn đưa Sư. Sư toan tiếp lấy, Long Ðàm liền thổi tắt. Sư bỗng nhiên đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ, quì xuống lễ bái. Long Ðàm hỏi: »Ngươi thấy gì?« Sư thưa: »Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Hoà thượng trong thiên hạ.« Hôm sau Long Ðàm thượng đường bảo chúng: »Trong chúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vút dựng lập đạo của ta.« Sư đem bộ sớ sao ra chất đống nổi lửa đốt và nói: »Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu trong đời như một giọt nước rơi vào hồ lớn.« Sư lễ từ Long Ðàm du phương.|Ðến Quy Sơn Linh Hựu, Sư vào pháp đường từ phía Tây đi qua phía Ðông, lại từ Ðông sang Tây, hỏi: »Có chăng? Có chăng?« Quy Sơn ngồi lặng im không ngó tới. Sư nói: »Không, không.« liền đi thẳng ra cửa tự nói: »Tuy nhiên như thế cũng chẳng đặng thô xuất.« Sư bèn đầy đủ uy nghi đi trở vào. Vừa bước qua cửa, Sư đưa toạ cụ lên gọi: »Hoà thượng!« Quy Sơn toan nắm Phất tử, Sư liền hét, phủi áo ra đi. Quy Sơn sau nói: »Gã ấy về sau lên tận ngọn núi cao, cất am cỏ ở, để rồi quở Phật mắng Tổ.«|Sư dạy chúng: »Nơi mình vô sự thì chớ vọng cầu, vọng cầu mà được thì chẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự thì hư mà linh, không mà diệu. Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Còn có mảy may nghĩ nhớ là nghiệp nhân tam đồ. Bất chợt sinh tình (vọng khởi) là muôn kiếp bị khóa kín. Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó mà không bị luỵ sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều vô ích…|Nhân giả! nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe nói Lão Hồ (ông già Ấn Ðộ, chỉ Phật) trải ba A-tăng-kì kiếp tu hành mà nay còn đâu? Sau 80 năm chết mất, cùng các ông có khác gì?…|Các ông chớ cuồng! Khuyên các ông không gì hơn thôi hết đi, vô sự đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.«|Sư có bệnh, tăng hỏi: »Lại có cái chẳng bệnh chăng?« Sư đáp: »Có.« Tăng hỏi: »Thế nào là cái chẳng bệnh?« Sư bảo: »Ôi da! Ôi da!« Sư lại bảo chúng: »Chụp không tìm tiếng luống nhọc tâm thần các ngươi. Mộng tỉnh, tỉnh rồi trọn không có việc gì.« Nói xong Sư ngồi yên lặng viên tịch, nhằm đời Ðường, niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu, ngày mùng ba tháng chạp năm Ất Dậu. Vua sắc phong Kiến Tính Ðại sư.
óc châm biếm
Dry humour.
óc cạnh tranh
Competitive spirit
óc thiên vị
Favoritism.
óc đảng phái
Party (sect) spirit.
Ô
汚; C: wū; J: o;|1. Nhuốm bẩn, làm dơ, làm ô uế, làm hư hỏng; 2. Bị nhuốm bẩn, bị dơ, bị hư hỏng; 3. Sự dơ bẩn, điều ô trọc, sự ô nhiễm; 4. Sự nhục nhã, sự hổ thẹn, ô danh; 5. Kém cỏi, hạ tiện, tầm thường.
ô
1) Cái ụ hay bờ đất: A bank, a wall, dock, entrenchment. 2) Con quạ: The crow. 3) Đen: Black. 4) Bất Tịnh: Impure—Filthy. 5) Có nghĩa là nước đọng, dơ dái, nhưng ở đây nó được giải thích là dòng thác vô thường—Stagnant water, impure but it is explained as a torrent, impermanent. 6) Tiếng hót của loài chim: A note of a bird.
; (污) I. Ô: Cũng gọi Ưu, Ổ, Âu. Chỉ cho chữ (ù) trong 12 nguyên âm của chữ Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm.Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính giải nghĩa chữ Ô là: Tất cả pháp tổn giảm bất khả đắc. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 giải nghĩa chữ Ô là: Trí tuệ của tất cả chúng sinh đều hẹp hòi yếu kém. Bởi vì nghĩa tổn giảm và hẹp hòi yếu kém của chữ Ô là từ chữ Phạmùna(dịch ý là tổn giảm, hẹp hòi yếu kém)mà ra. Vì để phân biệt với chữ Ô ví dụ (ù), cho nên từ xưa đến nay mới gọi chữ Ô này là chữ Ô tổn giảm. Kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 9 thì giải chữ Ô là nghĩa Báo thân. Còn trong Hồng tự nghĩa thì ngài Không hải của Nhật bản giải nghĩa tổn giảm bất khả đắc của chữ Ô như sau (Đại 77, 405 trung): Tuy nói vô minh trụ địa không có ngằn mé, ngã mạn như núi Tu di không có chóp, nhưng nhất tâm rỗng không, xưa nay vốn thường trụ, không tổn, không giảm, đó là nghĩa đích thực của chữ Ô. (...) Nếu nhìn bằng mắt Phật, thì Phật và chúng sinh cùng ngồi trên tòa giải thoát, không đây không kia, bình đẳng không hai, chẳng thêm chẳng bớt, tròn đầy trùm khắp, đã không có pháp hơn kém thêm bớt, thì làm sao có người trên dưới tổn giảm, đó mới là nghĩa đích thực của chữ Ô vậy. [X. phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); Tất đàm tự kí]. (xt. Ổ).II. Ô. Cũng gọi Áo. Chỉ cho chữ (o), 1 trong 12 nguyên âm Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính giải nghĩa chữ Ô là: Dòng thác tất cả pháp bất khả đắc. Bởi vì nghĩa dòng thác của chữ ô là từ tiếng Phạmogha (dịch ý là dòng thác)mà ra. Kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải nghĩa chữ ô là phiền não. Còn phẩm Thích tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng thì giải nghĩa chữ ô là lấy. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10, phẩm Thích tự mẫu 14 trong kinh Văn thù vấn].
ô ba
See Upadana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
; (烏波) ... Phạm: Bhava. Hán dịch: Hữu. Chỉ cho tất cả quả báo sinh tử, tất cả pháp hữu lậu, có khả năng mang lại nghiệp báo thiện, ác trong vị lai. Là 1 trong 3 Hữu, 1 trong 25 Hữu. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 6 (Đại 54, 1164 trung) ghi: Ô ba hoặc Tát già, Hán dịch là Hữu. Luận Bà sa nói: Hữu là gì? Là tất cả pháp Hữu lậu. Phật dạy: Nếu nghiệp làm cho đời sau tiếp tục thì đó gọi là Hữu.
ô ba cúc đa
Upagupta (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (4).
ô ba giá lô
Upacàru (S). Name of a cakravartiràja. Also Tiểu Bễ,
ô ba nan đà
Upananda (skt). 1) Một đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: A disciple of Sakyamuni. 2) Một trong tám vị Long Vương trong Thai Tạng Giới: One of the eight Naga-kings in the Garbhadhatu.
ô ba nan đà long vương
(烏波難陀龍王) Em của Long vương Nan đà, 1 trong 8 vị Đại long vương. Trong Mật giáo, vị Long vương này được bài trí ở cửa tây và cửa nam của viện Ngoại kim cương trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này mình màu da người, trên đầu có 7 con rắn, tay phải cầm gươm, tay trái mở ra.
ô ba sách ca
Upàsaka (S) Lay-man. Also cận sự nam, ưu bà tắc.
; Upasaka (skt)—Ưu Bà Tắc—Ưu Ba Sa Ca—Cư sĩ nam tại gia trì giới—Lay male disciples who remain at home and observe the moral commandments. ** For more information, please see Upasaka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Ưu Bà Tắt in Vietnamese-English Section.
ô ba tam bát na
Upasampanna (S). Obtained, received. Also cận viên.
ô ba ti ca
Upâsika (S) Lay-woman. Also cận sự nữ, ưu bà di.
ô ba tư ca
See Upasika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ưu Bà Di in Vietnamese-English Section.
ô ba đà da
Upadhyaya (S). Most venerable.
ô ba đề
Upadhi (S). Substratum of rebirth, of being. Ô ba đề Niết bàn, Upadhi-nirvàna; also Hữu khổ Niết bàn.
; Upadhi (skt)—Có giới hạn—Limited or peculiar—Conditioned.
ô ba đề niết bàn
Hữu khổ niết bàn hay niết bàn khổ đau của ngoại đạo (loại niết bàn chưa thoát khỏi tam khổ)—The upadhi-nirvana is the suffering or wretched condition of heretics.
; (烏波提涅槃) ... Chỉ cho Hữu khổ Niết bàn. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển hạ, thì Niết bàn vô dư mà Tam thừa chứng được chưa lìa sinh tử biến dịch, vì thế nên vẫn còn Hành khổ. Ngoài ra, Niết bàn hữu dư và Niết bàn mà các ngoại đạo và Tiểu thừa chấp trước, vì chưa hết 3 khổ, cho nên đều thuộc Niết bàn hữu khổ.
ô ba đệ thước
Upadesa (skt)—See Ưu Ba Đề Xá.
ô bà kế thiết ni
Upakesini (skt)—Một trong những sứ giả của Ngài Văn Thù Sư Lợi—One of the messengers of Manjusri.
ô bà tam bát na
Xem Cụ túc giới.
ô bà đà da
Upadhyaya (skt)—See Ưu Bà Đà Da.
ô bô sa tha
Upavasatha (S). Fasting day. Also Trai nhật.
; Upavasatha (skt)—Uposatha (p)—Trai Nhật—Nguyên thủy là ngày chuẩn bị của ngày tế lửa Hộ Ma của Bà La Môn trong Phật giáo có sáu ngày trai nhật—A fast day, originally in preparation for the brahminical soma sacrifice in Buddhism, there are six fast days in the month. ** For more information, please see Lục Trai Nhật.
ô bột
(烏勃) ... Cũng gọi Ốt bột. Tên 1 loại trái cây, hình dáng giống như quả dưa dại, nhưng hơi lớn hơn 1 chút, mùi thơm và ăn được. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.53].
ô ca lạp
(ô ca lạp ) Phạm: Utkara. Pàli: Ukkala, Ukkalàta. Tên 1 vùng đất ở Ấn độ thủa xưa. Cứ theo Luật tạng đại phẩm thì đây là nơi buôn bán của 2 thương gia Đề vị (Pàli: Tapussa) và Bà lê ca (Pàli:Bhalliya). Trên đường trở về sau 1 chuyến buôn, khi đến Phật đà già da (Phạm:Buddhagayà), 2 người đã dâng đường phèn cúng dường đức Thế tôn Thích ca và xin qui y trở thành đệ tử tại gia đầu tiên của đức Phật. Theo sự suy định của các học giả cận đại, thì Ô ca lạp có lẽ là vùng đất Orissa hiện nay.
ô chẩm nam
Udana (skt)—Vô Vấn Tự Thuyết, đối lại với Vấn Đáp Thuyết—Breathing upwards a solemn utterance, or song of joy, unsolicited or voluntary statements, i.e. by the Buddha, in contrast with replies to questions. ** For more information, please see Thập Nhị Đại Thừa Kinh.
ô câu bà nga đồng tử
(烏俱婆哦童子) Ô câu bà nga, Phạm: Ukubhaga. Cũng gọi Ưu khâu bà khâu đồng tử. Vị đồng tử thứ 5 trong 8 đại đồng tử sứ giả của Minh vương Bất động trong Mật giáo. Vị tôn này được sinh ra từ trong câu qui mệnh Bất động chân ngôn, thông thường biểu thị Kim cương ba la mật (Bồ đề tâm hành) bất động. Từ ngữ Ô câu bà nga bao hàm ý nghĩa siêu việt trụ thế. Về hình tượng, vị tôn này mình màu vàng ròng, đứng trên tảng đá, đầu đội mũ 5 chĩa, hiện tướng dữ tợn, tay phải cầm chày kim cương, tay trái kết quyền ấn.[X. Thánh vô động tôn bát đại đồng tử bí yếu pháp phẩm].
ô cữu khuất bổng
(烏臼屈棒) Tên công án trong Thiền tông. Ô cữu là vị Thiền tăng sống vào đời Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Mã tổ Đạo nhất. Khuất bổng nghĩa là đánh 1 cách vô lí. Công án này dùng cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ô cữu với 1 vị tăng để biểu thị cái cơ cảnh tiếp hóa người học 1 cách tự tại vô ngại.Tắc 75 trong Bích nham lục (Đại 48, 202 trung) chép: Có vị tăng từ nơi Hòa thượng Định châu đến chỗ ngài Ô cữu, ngài Ô cữu hỏi:- Đạo pháp ở Định châu có giống đạo pháp ở đây không? Vị tăng đáp: - Không khác! Ngài Ô cữu bảo: - Nếu không khác thì trở về chỗ Định châu đi! Ngài Ô cứu nói xong liền đánh vị tăng 1 gậy.Vị tăng nói: - Đầu gậy có mắt, không được đánh người bừa bãi như thế! Ngài Ô cữu nói: - Hôm nay đánh được một người. Ngài Ô cữu nói rồi liền đánh thêm 3 gậy nữa.Vị tăng bèn đi ra. Ngài Ô cữu nói: - Khuất bổng vậy mà cũng có người ăn! Vị tăng quay lại, nói: - Ngán nỗi cán gậy lại nằm trong tay Hòa thượng! Ngài Ô cữu nói: - Nếu ông muốn, sơn tăng sẽ đưa cho. Vị tăng liền tiến đến gần phía trước, giựt lấy cây gậy trong tay ngài Ô cữu và đánh cho ngài 3 gậy. Ngài Ô cữu nói: - Khuất bổng! Khuất bổng! Vị tăng nói: - Có người ăn đòn! Ngài Ô cữu nói: - Gã này đánh bậy bạ thật! Vị tăng liền lễ bái. Ngài Ô cữu nói: - Hòa thượng ta phải làm sao bây giờ?! Vị tăng cười to đi ra. Ngài Ô cữu nói: Cứ vậy được đấy! Cứ vậy được đấy!
Ô Cựu
烏臼; C: wūjiù; J: ukyū; ~ tk 8.-9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Bích nham lục có nhắc đến Sư trong Công án 75. Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên dùng gậy (Bổng hát) để giáo hoá.
ô cựu
Wu Jiu (C), UkyŪ (J), Wu-chiu (C), Wu Jiu (C), Ukyu (J)(Thế kỷ 13-14) Đệ tử và truyền nhân giáo pháp của Mã Tổ Đạo Nhất.
ô di quốc
(烏夷國) Phạm:Agni. Cũng gọi Ô kì quốc. Tên một nước xưa ở vùng Tân cương của Trung quốc, phía đông giáp Cao xương, phía tây giáp Cưu tư, trung tâm là Karashar (Khách lạt sa nhĩ). Vào những năm cuối đời Đông Tấn, các ngài Trí nghiêm, Bảo vân... đi Ấn độ cầu pháp, từng gặp ngài Pháp hiển ở nước này.[X. Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang dụng đồng)].
ô gia
Làm ô uế người thế tục bằng cách (vị Tỳ Kheo) đem của cải tặng cho người thế tục làm cho người nhận nảy lên ý nghĩ biết ơn hoặc không vừa ý với những quà tặng hoặc làm cho người nhận mang ơn, còn người không nhận không vui (làm tổn hại đến pháp bố thí bình đẳng trong nhà Phật)—To defile a household by deeming it ungrateful or being dissatisfied with its gifts.
; (污家) ... Làm hoen ố lòng tin trong sạch của người tại gia. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung, phần 2, tỉ khưu nếu mong cầu điều gì mà đem các vật phẩm tặng cho người tại gia, khiến cho người được tặng vật vui mừng sẽ sinh tâm báo đáp lại, còn những người không được tặng, nghe biết việc ấy thì không vui; hành vi như thế chẳng những làm thương tổn tâm bố thí bình đẳng mà còn phá hoại tín tâm thanh tịnh của người tại gia, cho nên gọi là Ô gia.
ô già la quốc bát
(烏伽羅國鉢) Loại bình bát được sản xuất ở nước Ô già la, là bát được xếp vào hàng thượng phẩm trong 6 loại bát nói trong luật Tứ phần quyển 9. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ].
ô giới
(污戒) Đối lại: Tịnh giới. Giới nhơ nhuốm. Kẻ phàm phu sau khi thụ giới thường bị phiền não nổi lên làm cho giới thể bị ô nhiễm, mất tính chất thanh tịnh. Trái lại, đức Phật đã dứt hết phiền não vô minh, cho nên đầy đủ tất cả tịnh giới.Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3, phần cuối (Đại 33, 717 hạ) nói: Chỉ có đức Phật đầy đủ tịnh giới, còn các người khác là người ô giới.
ô hô
Tiếng kêu tán thán—Allas!
ô hồi cưu la
(烏回鳩羅) ... Một chức vụ làm trọng tài trong Thiền lâm.Cứ theo Khả hồng âm nghĩa quyển 15 thì Ô hồi cưu la là tiếng Phạm, có nghĩa là bình đẳng không hai, về sau được dùng để chỉ cho chức vụ của người có trách nhiệm giải quyết các cuộc tranh cãi giữa chúng tăng trong Thiền lâm. Luật Thập tụng quyển 20 (Đại 23, 145 hạ) nói: Nếu vị Ô hồi cưu la này không có khả năng làm nhiệm vụ đúng như pháp, như tì ni(luật), như lời Phật dạy để quyết đoán việc ấy, thì nên đặt vị Ô hồi cưu la khác.
ô hợp
Disordered—Unruly.
ô khu sa ma
Xem Uế tích Minh vương.
ô khu sa ma minh vương
See Bất Tịnh Phẫn Nộ.
ô khu sắt ma
Xem Uế tích Minh vương.
ô kê tuyết thượng hành
(烏鶏雪上行) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gà đen đi trên tuyết. Gà đen ví dụ lí thể bình đẳng; tuyết trắng ví dụ hiện tượng sai biệt. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để ví dụ cho sự diệu dụng tự tại giữa sự và lí, giữa bình đẳng và sai biệt, rõ ràng như gà đen đi trên tuyết trắng, không thể lẫn lộn.
ô kì đế
(烏耆帝) Tên của thần chú. Thần chú này có năng lực tiêu trừ sự cấu uế của thiền định, diệt trừ các tội chướng đạo và các tà ma quỉ quái. [X. kinh Thất Phật sở thuyết thần chú Q.1].
ô la già
(烏羅伽) Phạm: Uraga. Hán dịch: Phúc hành(đi bằng bụng). Chỉ cho các loài rồng, rắn, tức các loài bò sát. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20].
ô lam ba na
Ullambana (S) Xem Vu lan bồn.
ô luật luật
(烏律律) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cũng gọi Ô luật suất, Ô luật tốt, Ô luật tất, Hắc luật tất. Đen kìn kịt. Từ ngữ này thường được thấy trong các bộ ngữ lục của Thiền tông. Tây nham lục (Vạn tục 122, 177 thượng) nói: Cây gậy cơ chẳng kín, toàn thân đen kìn kịt(ô luật luật).
ô lạc
Ulak or Ulag (skt)—Ngựa—Horse.
ô lạc ca
Uraga (skt)—Ô La Già—Đi bằng bụng như loài rắn—Going on the belly, a serpent.
ô lạc ca chiên đàn
Uraga (sara)-candana (skt)—Xà Chiên Đàn, tên của một loại gỗ thơm—Serpent-sandal, a kind of sandal wood, used as a febrifuge.
; (烏洛迦旃檀) Phạm: Uragasàra-candana. Cũng gọi Ưu đà già sa la chiên đàn, Địa tì ô la già sa la chiên đàn. Hán dịch: Xà tâm đàn(chiên đàn tâm rắn). Tên 1 loại gỗ thơm chiên đàn. Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ thì Ô lạc ca vốn là tên của 1 loài rắn bên Tây vực; rắn này thường bị bệnh độc nhiệt và mỗi lần như thế thì nó lại quấn quanh cây chiên đàn, hơi độc liền tan hết, vì thế mà dùng rắn để đặt tên cây. Vả lại, loại rắn này rất độc, nó cắn ai thì người ấy chắc chắn sẽ chết, chỉ có loại chiên đàn này là cứu chữa được, cho nên lấy rắn đặt tên cây. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20].
ô lạt thi
Urasi or Urasa (skt)—Ca Thấp Di La, một vương quốc cổ, bây giờ là vùng tây nam Serinagur—An ancient kingdom in Kashmir, the region south-west of Serinagur.
ô lật đà
Hrd or Hrdaya (skt)—Tâm—The heart, mind, soul.
ô ma
Unmada (S). A demon or god of craziness or intoxication.
; Unmada (skt)—Ưu Ma Đà. 1) Lòng tham: Covetness—Desire. 2) Tên của một loài quỷ điên cuồng: A demon of craziness. 3) Thần say: God of intoxication.
ô ma lặc già
Black faced devil
ô ma phi
Uma (skt)—Bà hậu phi của trời Ma Hê Thủ La—Wife of Mahesvala. ** For more information, please see Ma Hê Thủ La Thiên Vương.
; (烏摩妃) ... Ô ma, Phạm: Umà. Cũng gọi Đỗ nhĩ gia (Phạm: Durgà), Tuyết sơn thần nữ (Phạm:Pàsvatì). Vốn là tên 1 vị thần nữ được phái Thần phi trong Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại sùng bái. Cứ theo truyền thuyết trong thần thoại Ấn độ thì Ô ma phi có sức uy thần lớn, từng nhận lời mời của chư Thiên, hiện các thân hình 10 tay, tóc rối, cỡi sư tử, đánh đuổi A tu la, chặt đầu, giết vua A tu la. Về sau, Ô ma phi được du nhập Mật giáo, nhưng không có sức uy thần mạnh mẽ như trong thần thoại Ấn độ, mà chỉ là 1 vị tôn của viện Ngoại kim cương bộ. Ô ma phi là vợ của trời Ma hê thủ la(trời Đại tự tại), mẹ của Tì na dạ ca, ngồi ở bên trái trời Đại tự tại, phía tây trong viện Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này tay phải nắm và co lại, tay trái cầm cây kích 3 chĩa, ngồi trên lưng con dê đen, sánh đôi với trời Đại tự tại. Cứ theo kinh Đại giáo vương quyển 9 và 10 ghi chép, khi Kim cương tát đỏa hàng phục trời Đại tự tại, thì hiệntướng giận dữ, chân trái đạp lên mình trời Đại tự tại, còn chân phải thì dẵm lên mình Ô ma phi. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4, Kim cương đính du già hàng tam thế cực thâm mật môn].
ô ma quỷ
Unmada (S)Tên một loài quỷ say.
; (烏魔鬼) ... Ô ma, Phạm: Unmada. Cũng gọi Ưu ma đà quỉ. Hán dịch: Túy quỉ, Thực tinh quỉ. Tên 1 loài quỉ say(túy), thường hút tinh khí của người ta. [X. Niết bàn kinh sớ Q.7, Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].
ô ma tử phạt thệ
Umasvati (S)Một trong những vị Luận sư của Kỳ Na giáo.
ô mai
(烏梅) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quả ô mai khi sắp chín thì màu vàng, lúc hấp cho chín thì trở thành màu đen và thường được dùng làm thuốc chữa bệnh. Trong các ngữ lục của Thiền tông, ô mai thường được dùng để ví dụ 1 vật đã thay hình đổi dạng, không còn giống như hình dạng lúc ban đầu nữa. Như tịnh Hòa thượng ngữ lục quyển hạ (Đại 48, 130 hạ) chép: Nhất cá ô mai tự bản hình Tri thù kết võng đả tinh đình Tinh đình lạc liễu lưỡng phiến dực Kham tiếu ô mai giảo thiết đinh. Nghĩa là con nhền nhện giăng lưới bắt chuồn chuồn, chuồn chuồn dính lưới nhện bị gãy mất 2 cánh, không còn giống với hình dạng ban đầu nữa; cũng như quả ô mai, lúc sắp chín thì vàng ửng, nhưng khi chín hẳn rồi thì đen sì như thanh sắt.
ô na
(烏那) ... Cũng gọi Ô y, Ô da, Ô ế, Ô hô. Từ ngữ biểu thị sự cảm thán. Trong các tùng lâm, từ này thường được sử dụng trong các cuộc đối thoại. Chương Thiều sơn Hoàn phổ trong Liên đăng hội yếu quyển 23 (Vạn tục 136, 407 hạ) ghi: Tuân hỏi: Thưa, đường đến Thiều sơn đi lối nào ạ? Sư đưa tay chỉ và nói: Ôi (ô na)! Đi đến chỗ mờ mờ xanh xanh kia kìa!.
ô na ca
(烏娜迦) ... Phạm: Udaka. Cũng gọi Uất trì ca, Ưu đà già. Hán dịch: Thủy. Nghĩa là nước. [X. kinh Niết bàn Q.13 (bản Bắc); Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
ô ngư
Đánh vào mộc ngư (con cá bằng cây) để thông báo giờ cơm trong tự viện—To sound the wooden fish to announce a meal time.
Ô nhiễm
污染; S: āśrava, āsrava; P: āsava;|Nguyên nghĩa là Lậu, nghĩa là rỉ chảy, tiết lậu ra ngoài, cũng có thể hiểu là Phiền não; có ba thứ ô nhiễm làm gốc của mọi khổ đau và nguyên nhân của Luân hồi: 1. Ô nhiễm qua dục Ái (欲漏; Dục lậu; s: kāmāśrava; p: kāmāsava); 2. Ô nhiễm qua sự tồn tại (有漏; Hữu lậu; s: bhavāśrava; p: bhavāsava); 3. Ô nhiễm của Vô minh (無明漏; Vô minh lậu; s: avidyāśrava; p: avijjāsava).|Giải thoát ba ô nhiễm này (漏盡; lậu tận) đồng nghĩa với việc đắc quả A-la-hán (s: arhat).|Quan điểm về ô nhiễm này là quan điểm cuối cùng trong mọi suy luận từ trước đến nay về nguyên nhân của sự dính mắc trong vòng sinh tử. Quan điểm này bao gồm ba dạng của Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và vô minh, là nguồn gốc của Khổ như trong Mười hai nhân duyên chỉ rõ.
ô nhiễm
Xem Lậu.
; Klesa (S). Impurity, passion, depravity. Also phiền não, bất tịnh.
; To pollute—To taint.
; (污染) ... Chỉ cho phiền não nhơ nhớp. Theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì hoa sen được dùng để ví dụ sự thanh tịnh không ô nhiễm. Vì hoa sen mọc trong bùn nhơ mà không nhuốm mùi bùn, cho nên từ xưa nó được dùng để ví dụ cho người không bị hoàn cảnh xã hội làm ô nhiễm. Ngoài ra, hiện nay từ ô nhiễm được sử dụng khá phổ biến, như không khí ô nhiễm, nước ô nhiễm, môi trường ô nhiễm... nhưng từ ô nhiễm trong kinh điển Phật phần nhiều chỉ cho sự nhớp nhúa, bẩn thỉu...
ô nhiễm môi trường
Environmental pollution.
ô nhục
Disgraceful—Dishonoured—Shameful.
ô phi thố tẩu
(烏飛兔走) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quạ bay thỏ chạy, chỉ cho sự vận hành của mặt trời và mặt trăng. Tắc 83 trong Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ) nói: Khi yên bình thì trời che đất chở(nắm vững trời đất); khi vận chuyển thì quạ bay thỏ chạy(xoay chuyển tạo hóa).
ô phàm già
Uvanga (S)1 trong 6 thể loại kinh điển của Kỳ Na giáo.
ô quy hướng hoả
(烏龜向火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ô qui là con rùa màu đen, loại động vật ở dưới nước, tính vốn sợ lửa, bởi vậy, nếu nó bò vào lửa thì đó là việc vô tâm. Thiền tông đem việc này ví dụ cho cử chỉ hoặc động tác vô tâm vô niệm của Thiền giả mà tình thức của phàm phu không thể hiểu được. Tắc 3 Thung dung lục (Đại 48, 229 thượng) nói: Lúc trước kiếp, máy chưa khởi động, rùa đen bò vào lửa, một câu truyền riêng ngoài giáo, miệng cối sinh hoa.
ô quy thượng thụ
(烏龜上樹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rùa đen lên cây. Rùa đen vốn ở dưới nước, không có khả năng lên cây, cho nên Thiền tông thường dùng từ ngữ này để chỉ cho cảnh giới siêu việt các tác dụng phân biệt, hoặc chỉ cho cơ dụng vô ngại tự tại của Thiền sư. [X. chương Hương sơn Uẩn lương trong Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.7].
ô quy tử
(烏龜子) ... Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho con rùa đen chạm trổ bằng gỗ hoặc đá được đặt ở dưới đàn Tu di(tòa pháp), sau chuyển dụng để chỉ cho người tham thiền ngu muội trong pháp hội. Tắc 44, Thung dung lục (Đại 48, 255 trung) nói: Ô qui tử dưới tòa Tu di, đừng đợi dạy thêm chấm sẹo trên trán.
ô sa tư
Xem Ô sá.
; Usas (skt). 1) Bình Minh The dawn. 2) Sao Thái bạch: The Venus (planet).
; (烏沙斯) ... Phạm:Uwas. Cũng gọi Ô xá tư. Hán dịch: Thái bạch tinh(sao Thái bạch). Tên vị thần nữ Rạng đông trong Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, là con gái của trời Đặc vưu tư, là mẹ hoặc vợ của thần Thái dương Tô lợi da. Vị thần này dùng ánh sáng làm áo và đi xe cũng bằng ánh sáng rực rỡ, mỗi buổi sáng hiện ra ở phương đông, tượng trưng việc xua đuổi ác ma và bóng tối, đánh thức hết thảy sinh vật. Phần Tán ca trong Phệ đà gọi vị thần này là thần rút ngắn mệnh sống của loài người, phản ánh mầm mống tư tưởng chán đời. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22].
ô sá
Usas (S)Thái Bạch tinh, Ô Sa TưNữ thần buổi sáng cũng là vị nữ thần đẹp nhất.
ô sát quốc
(烏鎩國) Nước Usa, 1 nước xưa ở mạn đông dãy Thông lãnh thuộc tỉnh Tân cương của Trung quốc. Khi từ Ấn độ trở về Trung quốc, ngài Huyền trang từng đi qua nước này.Cứ theo Đạiđường tây vực kí quyển 12, nước này chu vi hơn nghìn dặm, đô thành chu vi hơn 10 dặm, phía nam nhìn về sôngZìta, đất đai màu mỡ, sản xuất nhiều thứ ngọc báu trắng, đen, xanh... Người dân xứ này tính tình cứng rắn, dung mạo xấu xí, nhưng cũng sùng tín Phật pháp. Cả nước có hơn 10 ngôi già lam với vài nghìn chư tăng, học tập Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa. Cách đô thành về phía tây hơn 200 dặm có 1 tòa tháp trên ngọn Đại sơn. Về tên gọi Ô sát có nhiều thuyết: Có thuyết cho là Osh,Och,Ùsch, cũng có thuyết cho làOcha... Theo thuyết của ông H.Yule, học giả người Anh, thì nước này nằm về phía nam Yangi-hissar ngày nay, còn đô thành nước này thì ở Chihil Gumbá. [X. Đại từ ân Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Giải thuyết tây vực kí; Buddhist Records of The Western World, vol. II, by S.Beal].
ô sô quân trà
Xem Uế tích kim cang.
ô sô sa ma
Ucchusma (S). Name of a vidyàràja. Also Bất tịnh khiết vương, Uế tích vương.
ô sô sáp ma
Xem Uế tích Minh vương.
ô sô sát ma minh vương
Xem Uế tích kim cương Bồ tát.
ô sô sắt ma
Ucchusma (skt)—Ô Khu Sa Ma—Ô Khu Sắt Ma—Ô Sô Sa Ma—Ô Sô Sáp Ma—Ô Tố Sa Ma—Tên của Minh Vương Hỏa Đầu Bất Tịnh Khiết (Uế Tích Hỏa Đắc). Người có khả năng chuyển từ bất tịnh sang thanh tịnh vì thế người ta hay tế vị Minh Vương nầy trong nhà xí (Kinh Lăng Nghiêm: “Ô Sô sắt Ma đến trước Đức Như Lai chắp tay dâng lễ đặt dưới đôi chân Đức Phật, rồi bạch với Phật rằng 'Tôi thường nhớ tới kiếp xa xưa, thuở trước tính hay tham muốn, có vị Phật ra đời tên là Không Vương Như Lai giảng thuyết cho nhiều kẻ dâm nhân biến lòng dâm tụ thành khối lửa lớn, dạy tôi quán khắp các khí nóng lạnh của trăm thứ xương cốt, khiến thần quang ngưng tụ, biến lòng dâm thành lửa trí tuệ. Từ đó chư Phật đều cho triệu tới, gọi là Hỏa Đầu, vì tôi có hỏa quang tam muội lực. Khi thành vị A La hán, tôi phát nguyện rằng khi chư Phật thành đạo tôi sẽ là lực sĩ, đích thân hàng phục ma quân)—One of the Ming-Wang he presides over the cesspool and is described both as “unclean” and as “fire-head” he is credited with purifying the unclean.
ô sắt
Usnisa (skt)—See Ô Sắc Nhị Sa.
ô sắt nhị sa
Usnisa (skt)—Ôn Sắt Ni Sa—Uất Sắt Ni Sa—Uất Ni Sa—Ổ Sắt Nhị Sa. 1) Phật đỉnh nhục kế hay bướu thịt nổi trên đầu Đức Phật: A turban, diadem, distinguishing mark interpreted as the fleshly tuft or crown of the Buddha's head. 2) Trên đỉnh đầu Đức Phật nhô lên thành hình búi tóc, một trong 32 hảo tướng của Đức Phật: A turban or coif, one of the thirty-two laksanani of a Buddha.
ô sắt nị sa tối thắng tôn
(烏瑟膩沙最勝尊) Bản tôn của pháp môn Nhất thiết Như lai Ô sắt nị sa tối thắng tổng trì trong Mật giáo. Ô sắt nị sa có nghĩa là Phật đính(đỉnh đầu của đức Phật). Nếu ai cúng dường và trì tụng Đà la ni của vị tôn này sẽ được sống lâu, an vui và sức mạnh vô lượng. Cứ theo kinh Nhất thiết Như lai ô sắt nị sa tối thắng tổng trì (1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch) thì thân của vị tôn này tỏa ra nghìn tia sáng, ngồi trên hoa sen trong nguyệt luân, mặt như trăng rằm, có 3 mặt, 3 mắt, 8 tay; mặt bên phải màu vàng, hiện vẻ hiền lành; mặt bên trái màu xanh, nhe răng nanh nhọn hoắt, vẻ dữ tợn; mặt chính giữa màu trắng, tròn đầy. Bên phải, tay thứ 1 cầm chày yết ma để ngay chỗ trái tim; tay thứ 2 cầm hoa sen, trên hoa có Phật Vô lượng thọ; tay thứ 3 cầm kiếm; tay thứ 4 bắt ấn Thí nguyện. Bên trái, tay thứ 1 kết ấn Kim cương quyền, ngón tay cái dựng thẳng; tay thứ 2 cầm cung; tay thứ 3 bắt ấn Vô úy và tay thứ 4 cầm bình báu. Đầu đội tháp báu, trên cổ có chữ Án, chỗ trái tim có chữ A, trên trán có chữ Hồng, trên rốn có chữ Đát lãm và trên chân có chữ Ngật lí.
ô thi quốc
(烏尸國) Ô thích thi, Phạm: Uraza. Cũng gọi Ô thích xoa quốc. Tên 1 nước xưa ở miền Bắc Ấn độ, nằm về phía tây nước Ca thấp di la, tức là vùng Hazara hiện nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3, nước này núi non trùng điệp, ruộng đồng ít ỏi, khí hậu ôn hòa, thích hợp cho việc trồng lúa, nhưng hoa quả thì rất ít. Nước này không có vua mà lệ thuộc nước Ca thấp di la. Thô tục không có lễ nghĩa, tính người cương ngạnh, phần nhiều dối trá, không tin Phật pháp. Ở phía tây nam đô thành nước này có ngôi tháp cao hơn 200 thước(Tàu), bên cạnh tháp có ngôi chùa, chư tăng rất ít, nhưng đều học Đại thừa. Đô thành nước này chính là Haripur hiện nay. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2].
ô thử tăng
(烏鼠僧) ... Cũng gọi Điểu thử tăng. Từ ngữ châm biếm hạng tăng lữ đọa lạc ở thời mạt pháp. Ô thử hay điểu thử (nửa chim nửa chuột)tức là con dơi. Con dơi tuy bay đi được, nhưng lại ở trong hang lỗ, chứ không đậu trên cây, cho nên khác với loài chim; hình dạng của dơi tuy rất giống chuột, nhưng lại không thuộc loài chuột. Bởi vậy, dơi được dùng để ví dụ hạng tăng lữ thời mạt pháp, thường làm những việc đọa lạc, chẳng phải tăng chẳng phải tục, cũng như dơi tuy giống chim mà chẳng phải chim, giống chuột nhưng không phải chuột. Thiền gia qui giám (Vạn tục 112, 460 hạ) nói: Tỉ khưu thời mạt pháp có nhiều tên gọi, hoặc gọi Ô thử tăng, hoặc Á dương tăng(tăng dê câm),hoặc Thốc cư sĩ(cư sĩ trọc đầu) hoặc địa ngục trỉ(cặn bã địa ngục), hoặc bị ca sa tặc(giặc mặc cà sa)....
ô trương tam hắc lí tứ
(烏張三黑李四) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trương 3 và lí 4 đều đen. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chê bai người.
ô trược
Defilement—Greed, ill-will, and ignorance cause defilement—Impure—Corrupt—Filthy (a)
ô trượng na
Udyana (skt)—Ô Trưởng—Ô Đồ—Ô Tôn—Ô Nhĩ Dã Nang. 1) Công Viên: A park or a garden. 2) Công viên của vua A Dục: The park of Asoka. 3) Một vương quốc cổ nằm về phía tây bắc Ấn Độ (nơi dân chúng rất mộ Phật pháp)—An ancient kingdom in the north-west of India, the country along the Subhavastu.
ô trượng na quốc
(烏仗那國) Ô trượng na, Phạm: Udyàna. Cũng gọi Ô tôn quốc, Ô trường quốc, Ô triền quốc, Ô trành quốc. Tên 1 nước xưa ở phía bắc nước Kiện đà la thuộc miền Bắc Ấn độ, tương đương với giải đất đồi cao ở mạn nam dãy núi Hindu kush hiện nay, phía đông cách sông Ấn độ (Indus) và nước Ô thích thi, đối diện với nước Ca thấp di la. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 3, nước này chu vi hơn 5.000 dặm, các thung lũng liên tiếp, dân chúng sùng tín Phật pháp Đại thừa, có hơn 1.400 ngôi chùa và hơn 10.000 vị tăng. Xứ này là nơi đức Phật Thích ca giáo hóa, cho nên có rất nhiều di tích liên quan đến sự tích tiền thân của đức Phật, như: Suối A ba la long (Phạm: Apalàla) là nơi Phật hàng phục rồng dữ, núi Hê la (Phạm: Hila) là nơi đức Phật bỏ mình để được nghe nửa bài kệ khi tu hạnh Bồ tát ở quá khứ... Tại đây còn có các di tích khác như: Chỗ đức Phật chẻ xương làm bút, lột da làm giấy để viết chép kinh điển hầu được nghe chính pháp; nơi cắt thịt mình để cho chim ưng ăn khi là vua Thi tì ca; nơi dùng mỏ mổ vào vách núi tìm nước suối để cho bầy chim công giải khát khi là chim công chúa; nơi chích máu thân mình để bố thí cho 5 quỉ Dạ xoa, khi là vua Từ lực... Ngoài ra, cách thủ phủ thành Muígali hơn 1.000 dặm về phía tây bắc, tức vùng phụ cận sông Darel có tôn trí pho tượng bồ tát Di lặc do ngài Mạt điền địa khắc tạo. Ngài Mạt điền địa là vị A la hán được vua A dục phái đến nước này để truyền bá Phật pháp. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Uất Địa Diên Na).
ô tâm
(烏心) Tâm con quạ. Tức là tâm luôn ngờ vực sợ hãi, 1 trong 60 thứ vọng tâm nói trong kinh Đại nhật. Loài quạ rất hay nghi ngờ và sợ hãi, cho nên ví dụ tâm lo sợ, ngờ vực là Ô tâm. Phương pháp đối trị Ô tâm là phải tu tập cho tâm an định, không còn lo sợ. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng) nói: Ô tâm là gì? Nghĩa là tất cả ý niệm sợ sệt nghi kị. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2].
ô tích
Cây thiếc trượng khi lắc dùng để cảnh báo những hương linh—A rattling staff shaken to warn the spirits.
ô tô ba trí lâu
(烏蘇波置樓) Tên 1 thần chú do bồ tát Đại thế chí tuyên thuyết, có nghĩa là cứu các bệnh khổ. Thần chú này có năng lực cứu giúp quần sinh ra khỏi 3 cõi. Người thụ trì thần chú này sẽ đạt được muôn hạnh. [X. kinh Thất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú].
ô tô kì trú nị đa
(烏蘇耆晝膩多) Tên 1 thần chú chép trong kinh Thất Phật bát bồ tát sở thuyết đại đà la ni thần chú quyển 1, có nghĩa là ánh sáng chói lọi. Thần chú này do đức Phật Thích ca trong 7 đức Phật quá khứ nói ra, có năng lực tiêu trừ mọi ách nạn và cứu chúng sinh thoát khỏi 3 cõi khổ đau tăm tối. [X. Đà la ni tạp tập Q.1].
ô xu sa ma biến thành nam tử pháp
(烏樞沙摩變成男子法) Pháp thờ Minh vương Ô xu sa ma làm bản tôn để cầu sinh con trai. Trong Mật giáo, Minh vương Ô xu sa ma là vị tôn hiện tướng dữ tợn, lấy trí tuệ, điều phục và tiêu trừ các chứng bệnh làm bản thệ. Tông Thai mật Nhật bản thường dùng pháp tu này để cầu nguyện cho người sản phụ lúc sắp sinh con.
ô xu sa ma minh vương
(烏樞沙摩明王) Ô xu sa ma, Phạm: Ucchuwma. Cũng gọi Ô sô sa ma minh vương, Ô sô sắt ma minh vương, Uế tích kim cương, Thụ xúc kim cương, Hỏa đầu kim cương, Bất tịnh kim cương, Xí thần. Hán dịch: Bất khiết tịnh, Trừ uế phần thiêu, Uế ác. Vị Minh vương hiện tướng phẫn nộ, dữ tợn được thờ phụng trong các chùa thuộc Mật giáo và Thiền tông, là Giáo lệnh luân thân của Yết ma bộ phương bắc. Giữa vị tôn này và Kim cương Dạ xoa (cũng là Giáo lệnh luân thân của đức Như lai Bất không thành tựu)có các thuyết về cùng thể và khác thể. Thuyết cùng thể thì cho rằng Minh vương Ô xu sa ma là 1 trong 5 vị Đại minh vương. Bản địa của vị tôn này có nhiều thuyết khác nhau: Hoặc cho là đức Thích ca, hoặc bồ tát Phổ hiền, hoặc bồ tát Kim cương thủ, hoặc Minh vương Bất động v.v... Vì có năng lục chuyển sự dơ bẩn thành trong sạch nên vị tôn này được đặt ở nhà xí. Do đức đại bi thanh tịnh sâu xa, nên vị tôn này không tránh nơi nhớp nhúa, dơ dáy, dùng đại uy quang giống như lửa mạnh đốt tiêu hết tâm phiền não vọng kiến, phân biệt sinh diệt, dơ sạch của chúng sinh, bởi vậy còn được gọi là Trừ uế kim cương. Vị tôn này hiện tướng dữ tợn, từ các lỗ chân lông phóng ra lửa mạnh, có 4 tay: 2 tay bên phải, tay trên cầm gậy, tay dưới cầm vòng dây lụa; 2 tay bên trái, tay trên cầm gậy, tay dưới cầm xoa 3 chĩa, các khí cụ này đều bốc lửa. Cứ theo kinh Đà la ni tập quyển 9 thì vị tôn này không hiện tướng dữ tợn và các khí cụ cầm trong 4 tay cũng có khác. Ngoài ra, theo các kinh thì cũng có nhiều hình tướng khác nhau. [X. kinh Ô xu sắt ma minh vương Q.thượng; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Lăng nghiêm Q.5].
ô xà diễn na
1) Ujjayini, Ujjain, or Oujein (skt)—Một trong bảy thành phố thiêng liêng của vùng Ấn Hà. Thành phố mới Ujjain bây giờ cách thành phố cổ khoảng một dậm về hướng nam—Name of one of the seven sacred cities of the Hindus. The modern Ujjain is about a mile south of the ancient city. 2) Udayana (skt)—Tên của một vị vua xứ Kausambi—Name of a king of Kausambi.
ô yên thành mã
(烏焉成馬) ... Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là chữ Ô (..) và chữ Yên (..) viết lầm thành chữ Mã (..); chỉ cho 1 câu chuyện được truyền từ người này sang người khác, hoặc từ chỗ nọ đến chỗ kia, rốt cuộc mất đi cái nghĩa lúc ban đầu. Ngạn ngữ xưa của Trung quốc có câu Thư kinh tam tả, ô yên thành mã, nghĩa là 1 chữ mà viết đi viết lại đến 3 lần thì thế nào cũng sai. Chẳng hạn như chữ Ô, lần thứ 1 viết đúng là Ô, nhưng lần thứ 2 đã biến thành chữ Yên và cuối cùng thì thành chữ Mã. Trong Thiền lâm, ngạn ngữ này cũng thường được dùng để châm biếm sự lầm lẫn về ngôn ngữ văn tự khi truyền dạy cho nhau.
ô đà di
(烏陀夷) Phạm:Udàyin. Cũng gọi Ưu đà di, Ổ đà di. I. Ô Đà Di. Tên 1 vị đệ tử Phật. Trước khi xuất gia, Ô đà di được vua Tịnh phạn chọn làm bạn học và theo hầu Thái tử Tất đạt đa, từng dùng lời lẽ khéo léo khuyên Thái tử bỏ ý định xuất gia. Sau khi đức Phật thành đạo, Ô đà di liền xuất gia làm đệ tử Phật, rất có tài năng giáo hóa dân chúng. KinhTăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 thượng) nói: Người có tài năng khuyên bảo dắt dẫn dân chúng chính là tỉ khưu Ưu đà di. II. Ô Đà Di. Cũng là tên 1 vị đệ tử Phật. Vị này vốn tên là Ô đà di, nhưng vì nước da đen kịt nên có biệt hiệu là Ca lưu dà di (Phạm: Kalodàyin,nghĩa là Ô đà di đen). Ca lưu đà di thường làm nhiều điều ngang ngược. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm và luật Tứ phần quyển 14 chép, có lần vào lúc trời tối, Ô đà di đến nhà 1 người đàn bà đang mang thai để xin ăn, lúc đó bỗng có sấm chớp lóe lên, người đàn bà thấy Ô đà di trong ánh chớp, ngỡ là quỉ đen, sợ quá đến nỗi xảy thai. Vì nhân duyên này mà đức Phật chế giới cấm tỉ khưu khất thực sau giờ ngọ. [X. kinh Tự hoan hỉ trong Trường a hàm Q.12; luật Tứ phần Q.2, 3, 5, 6; luận Lập thế a tì đàm Q.1].
ô đà diển na
Udayana (skt)—Vua của xứ Kausambi, người đồng thời với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—A king of Vatsa, or Kausambi, contemporary of sakyamuni, of whom he is said to have had the first statue made.
ô đàm bà la hoa
(烏曇婆羅華) Ô đàm bà la, Phạm, Pàli:Udumbara. Cũng gọi Ưu đàm bạt la hoa, Ổ đàm bát la hoa, Uất đàm bát hoa. Hán dịch: Thụy ứng hoa, Linh thụy hoa. Tên khoa học: Ficus glomerata. Tên một loại hoa, mọc ở những miền đất có khí hậu ấm áp tại phương nam, là loài thực vật ẩn hoa, lá rộng, thân cao hơn 3 mét. Lá giống như lá cây lê, quả to thì bằng nắm tay đứa trẻ, quả nhỏ thì cở ngón tay cái, ăn sống hay chín đều không có vị ngon; quả kết thành chùm mười mấy trái, mọc ở thân cây. Cây này là đạo thụ của đức Phật Câu na hàm mâu ni trong 7 đức Phật quá khứ. Vì nó là loại cây ẩn hoa mà mắt người khó thấy, nên cứ ức đoán là khi nó nở hoa thì có điềm lành đặc biệt, bởi vậy có tên là Thụy ứng hoa(hoa báo điềm lành). Trong các kinh luận, loại hoa này thường được dùng để ví dụ việc gặp được Phật ra đời là rất khó. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); Huyền ứng âm nghĩa Q.21].
ô đạc ca hán trà
Utabhanda or Udakhanda (skt)—Một thành phố cổ nằm trên bờ bắc sông Ấn Hà, được coi như là thành phố Ohind. Trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Eitel cho rằng đây là thành Attok—An ancient city of Gandhara, on the northern bank of the Indus, identified with Ohind. Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms, gives it as the modern Attok.
ô đạc ca hán đồ thành
(烏鐸迦漢荼城) Ô đạc ca hán đồ, Phạm: Uđakhàịđa, Udaka-khàịđa, Utakhanda. Đô thành của nước Kiện đà la thời xưa ở miền Bắc Ấn độ. Thành này nằm về bắc ngạn sông Indus(sông Ấn độ), hiện nay là vùng đất phía bắc tỉnh Punjab, phía tây bắc Rawalpindi, cũng tức là 1 bến cảng trọng yếu của sông Indus. Tương truyền, trên đường từ Ấn độ trở về Trung quốc, lúc vượt qua sông Indus, ngài Huyền trang đã đánh rơi mất 1 số kinh sách. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; điều Kiện đà la quốc; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; Giải thuyết tây vực kí].
ô đạo sa môn
Vị Sa Môn không biết tàm quí làm ô nhiễm đạo—A shameless monk who defiles his religion.
ô đầu thang
(烏頭湯) Nước sôi được nấu từ cây Ô đầu. Theo Bản thảo cương mục quyển 17, cây Ô đầu được gieo hạt vào tháng 11, đến tháng giêng thì nảy mầm. Cọng nó giống như ngải dại nhưng bóng láng; lá nó giống lá của cây gai đất, nhưng dày hơn. Hoa màu tía, cánh hoa màu vàng, bao hoa dài và tròn. Trong Mật giáo, khi tu pháp Nhương ngu lê đồng nữ thì Ô đầu thang được dùng làm nước át già(nước hoa thơm) để cúng dường.
ô đầu tử
(烏頭子) ... I. Ô Đầu Tử. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gã đầu đen. Từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho Thiền giả có cơ phong bén nhạy, lanh lợi trong Thiền lâm. II. Ô Đầu Tử. Gã đầu đen. Từ tự xưng của Thiền sư Vô chuẩn Sư phạm. Khi Thiền sư Vô chuẩn vẫn còn là cư sĩ, chưa cạo tóc, 1 hôm, đến tham yết ngài Mông am, trong lúc vấn đáp, Vô chuẩn hiển bày cơ phong rất sắc sảo, ngài Mông am bèn dùng Hoa Ưu Đàm Bà La từ Ô đầu tử để ngợi khen. Do nhân duyên ấy mà từ đó, trong Thiền lâm gọi ngài Vô chuẩn là Ô đầu tử. Về sau chính ngài cũng tự xưng như vậy. (xt. Kính Sơn Phật Giám).
ô địa đa
According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the king of an unknown country in Northern India who patronized Hsuan-Tsang on his journey to the Western Lands—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ô Địa Đa là tên của một vị vua của một nước không rõ tên, phía bắc của Ấn Độ, người đã tiếp đãi Huyền Trang trong chuyến Tây Du của ông.
ô đồ
Uda, Udradesa, Odra, or Odivisa (skt)—Theo Ngài Huyền Trang trong Tây Phương Du Ký, U Đồ là tên của một vương quốc cổ, nằm về phía đông Ấn Độ, có hải cảng bận rộn Triết Lợi Đát La, có lẽ bây giờ là tỉnh Orissa—According to Hsuan-Tsang in his Records of the Western Lands, Uda was an ancient country of eastern India with a busy port called Charitrapura, probably the province of Orissa.
ô đồ mạt la thụ
(烏圖末羅樹) Tên 1 loại cây, hình dáng giống như cây Sơn chỉ(cây dành dành). Trong Mật giáo, khi tu pháp cầu mưa thì dùng gỗ cây Ô đồ mạt la đốt để cúng tế lửa. [X. kinh Đại đà la ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú].
ô đồ quốc
(烏荼國) Ô đồ, Phạm:Ođra. Tên 1 nước xưa ở Đông Ấn độ, vùng đất tương đương với Orìssahiện nay, thường bị lầm là nước Ô trành (Phạm:Udyàna). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10, khí hậu xứ này nắng ấm, phong tục mạnh dạn, dáng người cao lớn xinh đẹp, rất ham học và kính tin Phật pháp; có hơn trăm ngôi chùa và hơn vạn vị tăng, tu học cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Vùng đông nam nước này gần bờ biển, có thành Chiết lợi đát la, là con đường quan trọng của các nhà buôn và lữ khách từ phưong xa qua lại bằng đường biển. Thành này chu vi hơn 20 dặm, chắc chắn, cao to, có nhiều vật quí hiếm. Vùng biên giới Tây nam có núi Khang đạc (Phạm: Khandagiri), đối diện với núi Ưu đà da (Phạm:Udayagiri) ở phía bắc. Trong núi có nhiều hang động, đều là di tích của Kì na giáo, được tạo lập vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch. Lúc ngài Huyền trang đến Ấn độ (đầu thế kỉ VII), Phật giáo nước này đang thịnh. Năm Trinh nguyên 11 (795) đời vua Đức tông nhà Đường, vua nước Ô đồ tự tay chép kinh Hoa nghiêm bản tiếng Phạm (40 quyển) để dâng cho vua Đường. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết tây vực kí; Đông nam Ấn độ chư quốc đích nghiên cứu].
Ô 汚
[ja] オ o ||| (1) To stain, to dirty, to defile, pollute. (2) Be stained, defiled, polluted. (3) Dirt, filth, pollution. (4) Disgrace, shame, dishonor. (5) Mean, base, lowly. => 1. Nhuốm bẩn, làm dơ, làm ô uế, làm hư hỏng. 2. Bị nhuốm bẩn, bị dơ, bị hư hỏng. 3. Sự dơ bẩn, điều ô trọc, sự ô nhiễm. 4. Sự nhục nhã, sự hổ thẹn, ô danh. 5. Kém cỏi, hạ tiện, tầm thường.
ô-bát-la
xem ưu-bát-la.
Ô-trượng-na
烏仗那; T: orgyen; S: oḍḍiyana, uḍḍiyana; dịch theo âm Hán Việt;|Một vùng đất huyền thoại được Phật giáo Tây Tạng cho là nơi sinh của Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và quê hương của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Vùng đó ngày nay thuộc về Pakistan. Các trường phái Phật giáo cổ thì cho rằng Ô-trượng-na nằm phía bắc Ấn Ðộ. Cả hai truyền thuyết đều nhất rằng Ô-trượng-na là nơi sản sinh ra một số giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ). Một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) là In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) được xem là vua xứ Ô-trượng-na.
Ô-trượng-na quốc 烏仗那國
[ja] オジョウナコク Ujōna koku ||| Udyāna; an ancient state in North India, from whence came such Buddhist transmitters as Fotucheng 佛圖澄. The capital was the present day Mangir. => (s: Udyāna); một quốc gia nằm ở phía Bắc Ấn Độ thời cổ đại, nơi xuất thân của những nhà dịch kinh như Phật Đồ Trừng (c: Fotucheng 佛圖澄).Thủ đô là Mangir ngày nay,
Ô-đà-di 烏陀夷
[ja] オダイ Udai ||| Udāyin. A disciple of Śākyamuni, who was originally one of his schoolmates when he was a boy. He was the son of a teacher of Kapilavastu, and was known for his eloquence. Also written 優陀夷. => (s: Udāyin). Đệ tử của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni , vốn là một trong các bạn học của Đức Phật thời thơ ấu. Là con của một thầy giáo ở Ca-tì-la-vệ (s: Kapilavastu), nổi tiếng có tài luận biện. Còn gọi là Ưu-đà-di優陀夷.
ô-đàm-bạt-la
xem ưu-đàm.
ôm
Om (S), Aum, Um án.
ôm đồm
To grasp at too much.
ôn
1) Ấm áp—Warm—Mild—Gentle—To warm. 2) Tằng hắng: To clear the throat.
ôn bát la
Utpala (skt). 1) Bông sen xanh: The blue lotus. 2) Tên của địa ngục thứ sáu trong Bát Hàn Địa Ngục: Name of the sixth in the eight cold hells.
ôn dịch
Epidemic.
ôn hòa
Peacefully.
ôn khuất trúc ca
Utkutukasana (skt)—Còn gọi là Ôn Câu, nghĩa là ngồi chồm hổm hay ngồi xổm—To squad on the heels—To sit on one's haunches.
ôn sắc ni sa
Usnisa (skt)—Một trong 32 hảo tướng, khối thịt u tròn trên đỉnh đầu của Đức Phật—One of the thirty-two good marks, the protuberance on the Buddha's head—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật (32).
ôn thi la
Usira (skt)—Rễ thơm của một loài cây có họ xương rồng—Fragrant root of Andropogon muricatus.
ôn thất
Phòng tắm của chư Tăng trong tự viện—Bath-house or bathroom in a monastery.
; (溫室) ... Nhà tắm được thiết lập để tắm bằng nước nóng cho ấm. Người Ấn độ xem trọng sự sạch sẽ của thân thể, vả lại, vì trời nóng bức nên tắm gội luôn, do đó, khắp nơi đều có đào ao để cho người đi đường tắm gội. Đại khái, người khỏe mạnh thì tắm nước lạnh, người già, trẻ nhỏ và người đau yếu thì tắm nước nóng. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 3, phép làm ôn thất là: Trong rộng ngoài hẹp, chính giữa cao khoảng 1 trượng, phía dưới rộng 7,8 thước, 1 bên để cửa ra vào và có cánh cửa che chắn. Chính giữa đào đất đặt 1 cái lò, đốt than hoặc củi. Phải tắm trước bữa ăn và phải mặc quần. Ngoài ra, trong Giáo giới luật nghi do ngài Đạo tuyên soạn, có nêu 16 điều về phép tắc vào Ôn thất. [X. kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng; luật Thập tụng Q.39; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].
ôn thất tiển dục chúng tăng kinh
(溫室洗浴衆僧經) ... Gọi tắt: Ôn thất kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, đượcs thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này thuật lại việc thầy thuốc Kì vực thỉnh Phật và chư tăng vào tắm gội trong ôn thất do ông thiết lập, nhân dịp này, đức Phật mới dạy cách tắm gội là nên dùng 7 vật để tắm gội thì sẽ trừ được 7 thứ bệnh và được 7 thứ phúc báo.Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4 và Khai nguyên thích giáo lục quyển 1 cho rằng kinh này do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, nhưng Xuất tam tạng kí tập quyển 2 và Pháp kinh lục quyển 1 thì bảo do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. Sách chú sớ kinh này có: Ôn thất kinh nghĩa kí, 1 quyển (Tịnh ảnh Tuệ viễn), Ôn thất kinh sớ, 1 quyển (Tuệ tịnh).
ôn thần
Spirit of the epidemic.
ôn túc
Tên một xứ ở vùng Tân Cương (Tây Vực), bên bờ sông Aksu—Name of a district in Sin-Chiang, on the river Aksu.
; (溫宿) ... . Tên 1 nước xưa ở Tây vực, tương đương với vùng Uch-Turfan hiện nay. Nước này nằm về phía nam chân núi Thiên sơn thuộc Tân cương, phía đông bắc Kashgar và phía tây Aksu. Vua Vũ đế nhà Hán(trị vì từ năm 140 đến năm 88 trước Tây lịch) từng sai sứ đến nước này. Thời Vương mãng, Cô mặc Vương chửng giết vua nước này rồi thôn tính cả nước. Vào thời đại Tam quốc, nước này lệ thuộc nước Cưu tư. Trong nước có ngôi chùa gọi là Ôn túc vương già lam, do vua Ôn túc sáng lập; về mặt tông giáo, nước này có quan hệ rất sâu đậm với nước Cưu tư. Ngài Cưu ma la thập hàng phục đạo sĩ của nước này nên ngài được nổi tiếng khắp nơi, vua Cưu tư đích thân đến Ôn túc rước ngài Cưu ma la thập về Cưu tư để giảng kinh. [X. Lương cao tăng truyện Q.2; Ngụy chí Q.30; Ngụy thư liệt truyện thứ 90; Tây vực văn kiến lục Q.2].
ôn tăng già
Utsanga (skt)—Một trăm triệu tỷ—100,000 trillions (one trillion is equivalent to 1,000 billions).
ôn đát la
Uttara (skt)—Còn gọi là Uất Đát La. 1) Nổi bậc, thượng: Superior—Predominant—Above all. 2) Một vị Tăng bắc Thiên Trúc, tên Uất Đát La, người có nhiều thần thông được Đề Bà Đạt Đa hay đề cập tới: Name of a monk in northern India who had a lot of supernatural powers which always mentioned by Devedatta.
ôn đát la cự lỗ
See Uttarakuru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Tứ Châu in Vietnamese-English Section.
ôn đát la tể na
Uttarasena (skt)—Vua của nước Udyana, người đã nhận một phần xá lợi của Đức Phật để xây tháp thờ—A king of Udyana who obtained part of Sakyamuni's relics.
ôn đát la át sa đồ
Uttarasadha (skt)—Tháng Ôn Đát La Át Sa Đồ là tháng tương đương với khoảng từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 5 âm lịch, tháng nầy cũng là tháng mà Hoàng Hậu Ma Da thụ thai Thái tử Tất Đạt Đa—The naksatra presiding over the second half of the the 4th month, the month in which Sakyamuni was conceived.
ôn đặc nhĩ ni tư
(溫特爾尼茲) ... Winternitz, Moriz (1863-1937) Nhà Ấn độ học người Áo (Austria). Ông từng nghiên cứu, chỉnh lí văn hiến và các tư liệu về Ấn độ học tại Đại học Oxford. Năm 1902, ông về nước làm Giảng sư Đại học Deutschland. Năm 1911, ông được thăng chức Giáo sư, chuyên giảng về Ngôn ngữ học, Nhân loại học và Ấn độ học. Năm 1922, ông nhận lời mời của trường Đại học Quốc tế (VishwaBhàràtiUniversity) do thi hào Rabindranath Tagore của Ấn độ sáng lập, làm Giáo sư thỉnh giảng, hoạt động tích cực một thời. Ông qua đời vào năm 1937, hưởng thọ 74 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Catalogue of Sanskrit Manuscripts in the Bodleian Library, 1905, Geschichte der Indischen Literatur, 3 Bde., 1908-1922, Der Buddhismus, 1911.
ông mẹk
Tên một ngôi chùa thuộc Phật Giáo Nguyên Thủy, nằm trong thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Nam Việt Nam. Đây là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của người Khờ Me được xây dựng từ năm 1349, và được trùng tu nhiều lần—Name of an ancient temple of Theravada Buddhism, located in Tra Vinh Town, Trà Vinh province. This is one of the most famous ancient Khmer temple, which was built in 1349 and has been rebuilt many times.
ù tai
To have ringing noises in the ears
ù ù cạc cạc
To understand nothing.
ùa
Trush—To dash.
ùa đến
To crowd to a place.
ùn ùn
To crowd (in or out).
ú ớ
To speak incoherently.
úa
Wilted—Withered.
úm
See Án (4).
; (唵) Cũng đọc là án, chữ (oṃ) Tất-đàm, là lời cầu nguyện đứng đầu các câu văn thần chú, hàm ý là thần thánh. Trong kinh Veda, chữ Án vốn nghĩa là bằng lòng, ưng ý, lại được dùng trong thánh âm (Phạm: Praịava) phát ra đầu tiên trong các câu chú và văn cầu nguyện. Đến Áo nghĩa thư phụ thêm nghĩa bí mật mà thành là đối tượng quán tưởng, lại tiến thêm bước nữa, Án trở thành Phạm, thế giới, nương theo sự tu hành quán tưởng chân thực này thì đạt được pháp Đệ nhất nghĩa đế (Phạm). Bí tạng kí phần cuối liệt kê năm nghĩa của chữ Án là: Đính lễ, cúng dường, ba thân, thức tỉnh và nhiếp phục; nhưng thường thì chỉ dùng ba nghĩa trước. Chữ Án này do ba chữ (a) (u) (ma) hợp thành. A có các nghĩa: Tâm bồ đề, các pháp môn, không hai, các pháp quả, tính, tự tại, cũng có nghĩa là pháp tâm. U nghĩa là báo thân; Ma nghĩa là hóa thân. Hợp ba chữ này lại thành chữ Án, bao hàm vô lượng nghĩa, vì thế nó đứng đầu, như Đại Nhật Chân Ngôn: Án-ti-la-hồng-khiếm-sa-bà-ha, Lục tự minh chú của Lạt ma giáo Tây tạng: Án-ma-ni-bát-di-hồng v.v.. đều dùng hình thức này. Nếu tu hành quán tưởng chữ Án này, thì ba thân hiển hiện gia trì ủng hộ hành giả, nhờ công đức ấy mà hành giả đạt thành vô thượng chính đẳng giác. Vì chữ Án do ba chữ (a, u, ma) hợp thành, nên trong tư tưởng Ấn độ đời xưa, chữ Án biểu thị ba tính nam, nữ, trung, hoặc biểu thị ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai; lại phối với ba Phệ đà (Veda), hoặc phối với ba trạng thái tỉnh, mộng, ngủ say; hoặc phối với ba loại: lửa, gió, mặt trời; hoặc phối với thức ăn, nước uống, mặt trăng; hoặc phối với trời, hư không, đất. Về sau, trong Ấn Độ giáo, chữ Án lại được so sánh với ba vị thần: Tì-thấp-nô (Phạm: Viwịu), Thấp-bà (Phạm: Ziva), Phạm (Phạm: Bràhman), cũng tức là ba vị thần cùng một bản thề (Phạm:Trimuti) trông coi việc hộ trì, phá hoại và sáng tạo. [X. kinh Thủ Hộ Quốc Giới Q.9; Bí Tạng Kí Sao Q.9].
úm a hồng
(唵阿吽) I. Án, A, Hồng. Tức là ba chữ (án: Oô), (a) (hồng: Hùô) là ba chủng tử trong Mật giáo được dùng để đặt ở ba chỗ trên tượng Phật. Kinh An tượng tam muội nghi quĩ thuyết minh về chạm khắc, nặn đắp hoặc cúng dường tượng chư Phật Bồ Tát, nên lưu ý một điều: trong khi làm việc, phải quán tưởng thân chân thực của Như Lai, các tướng đầy đủ, đặt chữ Án trên đỉnh đầu, đặt chữ A ở miệng và đặt chữ Hồng trước ngực. II. Án, A, Hồng. Trong phép tu của Mật giáo, hành giả dùng hơi thở bình thường, lúc hít vào, dừng lại, thở ra thì niệm ba chữ Án, A, Hồng. Ba chữ này là âm chữ rất linh nghiệm, nếu niệm tụng liên tục theo hơi thở, cho đến khi không niệm cũng tự niệm, niệm hay chẳng niệm rõ ràng không sai khác, không gián đoạn, tức là Kim cương niệm tụng. Nương theo Kim cương tụng niệm này, hành giả có thể hợp nhất với bản tôn (vị tôn chính), khế nhập lí thể pháp tính.Lại nữa, ba chữ Án, A, Hồng thay cho bản tôn, bản tôn lúc nào cũng ở trong hơi thở của ta, ta ở trong pháp thân của bản tôn mà vào chân lí Đệ nhất nghĩa đế.
úm hắc đậu
(唵黑豆) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền lâm dùng từ ngữ này để ngụ ý trách người chỉ dựa vào văn chữ của kinh để lí giải ý nghĩa trên bề mặt, mà bỏ qua ý nghĩa đích thực chứa đựng bên trong. Hắc-đậu (đậu đen), chỉ cho văn chữ. Án, cũng gọi ảm, yểm, yêm, nghĩa là dùng tay bốc đậu đen ăn, hoặc ngậm trong miệng. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 12 (Đại 51, 290 hạ), nói: Nhân lúc giữa hạ, sư lên núi Hoàng Bá, thấy Hòa Thượng đang xem kinh. Sư bảo: Tôi sẽ nói người này vốn chỉ là lão Hòa Thượng án hắc đậu.
úm ma ni bát ni hồng
(唵嘛呢叭
úm tự quán
(唵字觀) Phép quán của Mật giáo dùng để quán tưởng nghĩa chữ (oô, án). Theo kinh Thủ Hộ Quốc Giới quyển 9 thì chữ Án là chỉ cho tất cả pháp môn, là chân thân của Đức Phật Tì Lô Giá Na, mẹ của hết thảy đà la ni v.v.., tất cả Như Lai đều từ chữ Án này sinh ra. Ba đời chư Phật đều nhờ nơi phép quán này mà được Bồ đề. Đức Thích Ca tu khổ hạnh ròng rã sáu năm cũng không thành Phật, đến khi được Hóa Phật ở giữa hư không chỉ dạy, quán tưởng vầng trăng trong sáng trên đầu mũi, tu quán chữ Án trong vầng trăng, nhờ thế, lúc sao Mai mọc mới thành Phật.
úm tự ấn
(唵字印) Ấn này là phù hiệu của Mật giáo dùng để biểu thị sự nói pháp thức tỉnh chúng sinh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả cát tường ấn, Tịnh hạnh cát tường ấn, Cát tường ấn. Hình tướng ấn là: ngửa bàn tay trái lên và để hơi nghiêng, co ngón trỏ, các ngón còn lại đều duỗi thẳng ra. Cứ theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 20 và Diễn Áo Sao quyển 14, thì khi hành giả tịnh hạnh kết ấn này rồi, nếu muốn nói, thì trước tiên phải xướng ra tiếng chữ Án, vì thế gọi ấn này là Án tự ấn. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5 có chép: tay thứ hai bên trái của thần Phạm thiên bốn mặt bốn tay, kết ấn này. [X. Nhiếp Đại Nghi Quĩ Q.trung].
úng
1) Hư: Spoiled—Rotten. 2) Lu hay khạp: Kumbha (skt)—A pitcher—A jar—A pot.
úng hình
Kumbhandaka (skt)—Có hình thể giống như cái khạp—Jar-shaped.
úp
To overturn.
úp úp mở mở
Ambiguous—Unclear.
Úy 畏
[ja] イ i ||| (1) To be afraid; to be in awe of; to dread (Skt. bhaya, bhīta; Pali bhaya). To be apprehensive. To dislike, to hate. (2) Fearful, scary. => Sợ; kính sợ; khiếp sợ (s: bhaya, bhīta; p: bhaya). Sợ hãi. Không thích, ghét. Ghê sợ, rùng rợn.
ý
citta-uppada (S), Citta (S), Thought Tập khởiý tưởng hiện tại (tham, sân, si,...). Mati (S)Từ tríý muốn, ý định. Mana (S), Manas, Mano, Manaḥ (S)Mạt na.
; Mano (p)—Mana (skt)—Mạt Na—The mind or thoughts—Trung tâm tư tưởng, cùng một mức độ với giác quan, nhưng dưới trí tuệ (trong Duy Thức Luận, Đức Phật đã nói về sự khác biệt của Tâm, Ý, và Thức. Tư tưởng tập khởi là Tâm, tư tưởng suy tính là Ý, tư tưởng liễu biệt hay hiểu rõ vạn hữu là Thức)—The mind as the center of thought, which is placed on the same level as the senses, below prajna: 1) Ý: Manas or the intellectual function of consciousness. 2) Những định nghĩa khác của Ý—Other definitions for manas: • Ý: Will. • Tâm: Mind. • Tâm Lực: All mental powers. • Thức: Consciousness. • Sự thông minh: Intellect—Intelligence. • Sự hiểu biết: Understanding. • Sự nhận biết: Perception. • Lương tâm: Conscience. 3) Ý là thức thứ sáu trong sáu thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý): Manas, the sixth of the sadayatanas or six means of perception (sight, hearing, smell, taste, touch, and mind). 4) Cố ý: Intent—Opinion. 5) Nước Ý: Italy.
ý an lạc hành
See Ý An Lạc Hạnh.
ý an lạc hạnh
The calmly joyful life of the mind - one of the four in the Lotus sùtra.
; Theo Kinh Pháp Hoa, đây là một trong tứ an lạc hạnh. Ý xa lìa lỗi lầm để đượa an lạc vui vẻ—According to The Lotus Sutra, the calmly joyful life of the mind, one of the four means of attaining to happy contentment. ** For more information, please see Tứ An Lạc Hạnh (3).
ý chí
Free will (intent).
ý chí bất phân
The will is undevided.
ý chí mạnh mẽ
To be form and stable in his determination.
ý chí sắt đá
An iron-will
ý căn
Mana-īndriya (S), Manindriyā (S), Mana-īndriya (S).
; Manindriyà (S). Mind faculty, mind sense, the sixth of the senses.
; Manayatanam (p)—Indriya or Mana-indriya (skt)—Mana-yatana (p). • Tri giác: The perception of thinking. • Năng lực tư duy: Faculty of thinking. • Căn của tâm: The organ of mind. • Ý căn, một trong Lục Căn, có sự nhận thức của tư duy hay tâm suy nghĩ (cảnh sở đối của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là do sắc pháp tứ đại đất, nước, lửa, gió hình thành; trong khi cảnh sở đối với ý căn là tâm pháp nghĩa là đối với pháp cảnh thì nẩy sinh ra ý thức)—Thought, the mind-sense, the sixth of the senses, the perception of thinking or faculty of thinking or the thinking mind. ** For more information, please see Lục Căn and Lục Nhập in Vietnamese-English Section.
Ý cảnh giới 意境界
[ja] イキョウカイ ikyōkai ||| The realm of the function of the sixth (mano) consciousness (mano-gati). 〔瑜伽論T 1579.30.822c17〕 => Lĩnh vực tác dụng của thức thứ 6 (mano; mano-gati). .
ý diệu hạnh
Manaḥ-sucarita (S)Một trong Tam diệu hạnh.
ý giải
Intellectual explanation; liberation of the mind, or thought.
; 1) Sực giải thích của ý thức: Intellectual explanation. 2) Sự giải thoát của tâm tưởng: Liberation of the mind or thought.
ý giới
Manodhàtu (S). The realm of mind.
; Manodhatu (skt)—The realm of mind.
Ý giới 意界
[ja] カイ ikai ||| 'Realm of consciousness.' One of the eighteen realms 十八界in Consciousness-only theory. The compositional elements of consciousness. Includes the manas-consciousness and the ālayavijñāna 阿頼耶識. => 'Lĩnh vực của ý thức'. Là một trong Thập bát giới theo giáo lý Duy thức. Là thành phần cấu tạo thành ý thức. Bao gồm mạt-na thức và A-lại-da thức.
ý hướng
Inclination—Tendency.
ý học
Mental learning, learning by meditation rather than from books.
; Cái học bằng tâm của Thiền Tông. Thiền học chú trọng vào ý nghiệp bằng thiền tập hơn là sách vở, còn có tên là Phật Tâm Tông—Zen—Mental learning, learning by meditation rather than from books, the special cult of the Ch'an or Intuitional school, which is also called the School of the Buddha-mind.
ý hội
To comprehend—To understand.
ý kiến
Thoughts, ideas, concepts, views.
; Ideas, concepts, views, thoughts, opinion.
ý kiến sai lầm
Erroneous idea.
ý lạc
Manobhirama (S)Phật Thích Ca có thọ ký cho ngài Mục kiền Liên về sau Mục kiền Liên sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Cõi thế của đức Phật này tên là cõi ý lạc, kỳ kiếp của ngài gọi là Hỷ mãn.
; Joy of the mind, the mind satisfied and joyful. Manobhiràma, the realm foretold for Maudgalyàyana as a Buddha.
; Manobhirama or Asaya (skt)—A Thế Da—A Xa Dã. 1) Ý được thỏa mãn vui vẻ: Joy of mind, the mind satisfied and joyful. 2) Ý Lạc Giới: Nơi mà Ngài Mục Kiền Liên sẽ thành Phật—The realm foretold for Maudgalyayana as a Buddha.
Ý lạc 意樂
[ja] ガク igyō ||| (1) Will, willingness, intention, desire, wish, mental inclination, hope (āśaya). (2) Enjoyable. (3) That which gives internal satisfaction; the "joy of the mind." => 1. Ý muốn, sự vui lòng, ý định, lòng mong muốn, sự ước mong, ý hướng, hy vọng (s: āśaya). 2. Thích thú. 3. Điều làm cho hài lòng; tâm ý thoải mái.
ý lực
Mental power or intention; the purpose to attain bodhi or enlightenment.
; 1) Năng lực của ý: Mental power or intention. 2) Mục đích đạt đến giác ngộ Bồ Đề: The purpose to attain bodhi or enlightenment.
ý muốn
Cetana (p)—Cikirshaka (skt)—Ý định hay ý muốn làm điều gì—Wish—Intent—Will—Intention—Volition—Desire to make or do or perform anything.
ý mã
The mind as a horse, ever running from one thing to another.
; Tâm ý của con người dong ruổi như con ngựa, chạy từ chỗ nầy qua chỗ khác, không ngừng nghỉ (đuổi theo ngoại cảnh không dừng lại ở một chỗ)—The mind as a horse, ever running from one thing to another—The mind like a horse and the heart like a monkey—Restless and intractable.
ý mã tâm viên
The mind like a horse and the heart like a monkey - restless and intractable.
; Ý như con ngựa dong ruổi, tâm như con khỉ chuyền cây—Horse-will, monkey-mind—The restless will and the mischievous intellect—See Ý Mã.
ý mật
Mano-guhya (S)Một trong Tam mật.
ý nghiệp
xem ba nghiệp.
; Manakarma (S),Manokamma (P).
; The function of mind or thought, one of the Tam nghiệp thought, word, deed.
; Mana-kamma (p)—Mana-karman (skt)—Mental action—Nghiệp tạo tác bởi ý (nghiệp khởi ra từ nơi ý căn hay hành động của tâm), một trong tam nghiệp thân khẩu ý. So với khẩu nghiệp thì ý nghiệp không mãnh liệt và thù nghịch bằng, vì ý nghĩ chỉ mới phát ra ở trong nội tâm mà thôi chứ chưa lộ bày, tức là chưa thực hiện hành động, cho nên khó lập thành nghiệp hơn là khẩu nghiệp—The function of mind or thought—One of the three kinds of karma (thought, word, and deed). Compared to the karma of the mouth, karma of the mind is difficult to establish, thought has just risen within the mind but has not take appearance, or become action; therefore, transgressions have not formed. ** For more information, please see Tam Nghiệp.
ý nghĩ
Thought.
ý nghĩa
Significance—Meaning—Sense.
ý nghĩa đúng nhứt
The truest sense.
ý ngoại
Unexpected.
ý nguyện
Wish.
ý ngôn
Mental words, words within the intellectual consciousness; thought and words.
; 1) Tư tưởng và lời nói: Thought and words. 2) Lời nói trong ý thức: Mental words, words within the intellectual consciousness.
ý nhẫn
The patience of the mind.
ý nhị
Meaning.
ý nhị biên thủ tướng
Ý vận hành theo hai cách, ý thức nhận lấy trong những gì được tỏ ra, hoặc thiện hoặc bất thiện—Manas moves in two ways; the Vijnana taking in what is presented is either good or not-good.
ý niệm
Manaketa (skt)—Sự nhận thức hay hiểu điều gì—Idea—Concept—Notion—Mental perception.
ý niệm tán loạn
Unfocussed mind.
ý niệm vãng sanh
Ý niệm vãng sanh bằng tưởng nhớ hay bằng cách tụng niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà—Intention to enter the Pure Land by thought, remembrance or invocation of Amitabha.
ý niệm vãng sinh
By thought and remembrance or invocation of Amitàbha to enter into his Pure Land.
ý phạt nghiệp
Mano-daṇḍa (S)Một trong Tam phạt nghiệp.
ý phẫn thiên
Một loại Trời ý phẫn bốc lên gây nên tội nghiệp, khi chết bị đọa xuống làm người (thường trụ tại mé núi Tu Di)—A deva who sinned and was sent down to be born among men.
ý sanh kim cang bồ tát
Xem Dục Kim cang Bồ tát.
ý sinh
See Ý Sinh Thân.
ý sinh hóa
See Ý Sinh Thân.
ý sinh thân
Manomaya (S), Mano-mayakāya (S), Mentally created Thân do ý sinh ra. Thân của các vị Bồ tát do ý thụ sinh.
; Manomaya (S). A body mentally produced, or produced at will.
; Manomayakaya (skt)—The will-body—Ý Thành Thân—Ý Sinh Hóa—Thân của các vị Bồ Tát từ bậc sơ địa trở lên, là thân vì ý muốn cứu độ chúng sanh mà đắc như ý thụ sinh (ý sinh thân là sự sinh thân bằng ý tưởng ví như ý chuyển động nhanh chóng không có gì trở ngại)—A body mentally produced or produced at will. Bodhisattvas from the first stage upwards are able to take any form at will to save sentient beings.
Ý sinh thân 意生身
[ja] ショウシン ishōshin ||| Also 意成身. (1) A body that is arisen from mind only. Arisen from mind-only. I.e., the body of a buddha is not arisen from the five skandhas--it is created out of consciousness only (See the 寶性論, T 31, p. 83b.) (2) A body arisen from strictly mental factors; this can also be done by a bodhisattva in the bhūmi levels. (3) A body as born out of a certain kind of intent or mindfulness: thus the bodhisattva body, śrāvaka body, etc. 〔二障義HPC 1.797b〕 => 1. Còn gọi là Ý thành thân意成身. 1. Thân sinh khởi do tâm. Sinh khởi chỉ do tâm; như là thân Phật không sinh khởi do ngũ uẩn—mà chỉ hình thành do tâm (xem Bảo tính luận) 2. Thân sinh khởi hoàn toàn do những yếu tố tâm thức; điều nầy hàng Bồ-tát Thập địa có thể thực hiện được. 3. Thân có thể tạo thành do một ý nguyện nào đó từ chính niệm: như thân Bồ-tát, thân Thanh văn v.v...
Ý sinh 意生
[ja] ショウ ishō ||| (1) To arise intention; to arise mental function. (2) Arisen from mind or volition only, rather than from physical causes. (3) 'Mind-only.' (4) Human beings. => 1. Sinh khởi ý định; phát khởi tâm sở. 2. Chỉ sinh khởi do tâm ý hay ý chí hơn là do từ các nguyên nhân vật lý. 3. 'Duy tâm, duy thức'. 4. Loài người.
ý tam
The three evils which belong to intellect: tham lobha, desire; sân dvesa, dislike; si moha, delusion.
; Ba ác thuộc về tâm (tham dục, sân khuể, ngu si)—The three evils belong to intellect (lobha—desire, dvesa—dislike, moha—delusion). ** For more information, please see Thân Tam Khẩu Tứ Ý Tam.
ý thanh
Mano-jṇāghosa (S)Tên một vị sư.
ý thành
Ý Sinh hay do năng lực của ý mà thân được thành lập—Mentally evolved, or evolved at will—See Ý Sinh Thân.
ý thành thiên
Devas independent from the nourishment of the realms of form and formlessness, who live onlyin the realm of mind.
; Chư Thiên xa lìa khỏi việc ăn uống ở cõi sắc và vô sắc giới, mà chỉ tồn tại bằng ý thức (loại Trời không sinh ra bằng tinh cha huyết mẹ, mà chỉ nhờ sở dục của ý)—Devas independent of nourishment of the realm of form and formlessness, who live only in the realm of mind. **For more information, please see Ý Sinh Thân.
ý thành thân
See Ý Sinh Thân.
Ý thành thân 意成身
[ja] イジョウシン ijōshin ||| See 意生身. => Xem Ý sinh thân意生身.
ý thú
The direction of the mind, or will.
ý thủ
The direction of mind or will.
ý thủy
The mind or will to become calm as still water, on entering samàdhi.
; Lúc vào định thì tâm ý trở nên bình lặng như mặt nước yên tịnh—The mind or will to become calm as still water, on entering samadhi.
Ý thức
意識; S: manovijñāna; P: manoviññāṇa;|Thức dựa trên cơ bản tin tức truyền đến từ năm giác quan còn lại. Ðối tượng của ý thức là tất cả những vật chất hiện hữu và ý nghĩ. Ý thức bao gồm những hoạt động của tâm như tưởng tượng, phê bình, so sánh… (Pháp tướng tông, Duy thức tông).
ý thức
yid kyi namshe (T), Mental consciousness.
; Manovijnàna (S). The faulty of mind, one of the six vijnànas.
; Mano-vinnana (p)—Manovijnana (skt)—Consciousness—Knowing or thought faculty—Một trong sáu thức, ý thức không tùy thuộc vào bất cứ căn nào, nhưng lệ thuộc vào sự liên tục của tâm. Ý thức chẳng những nhận biết cả sáu đối tượng gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc và các hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và ngay cả vị lai. Ý thức sẽ cùng ta lữ hành từ kiếp nầy qua kiếp khác, trong khi năm thức trước chỉ là những tâm tạm thời. Ý thức còn là một trong năm uẩn—Awareness—Consciousness—The faculty of mind—Mental consciousness—Discrimination and comprehension consciousness—Consciousness of mind or thought—One of the six vijnanas, a mind which does not depend on any of the five sense faculties, but on the immediately preceding continuum of mind. Mental consciousness apprehends not only objects (form, sound, taste, smell, touch) in the present time, but it also apprehends objects in the past and imagines objects even in the future—Mental consciousness will go with us from one life to another, while the first five consciousnesses are our temporary minds. Consciousness is also one of the five skandhas—See Bát Thức, and Ngũ Uẩn.
ý thức thô thiển
Gross mental consciousness—All mental consciousness or conceptual thought which functions during the daytime is a gross mental consciousness.
ý thức vi tế
Subtle mental consciousness—Subtle mental consciousness develops during sleep (dream minds) and also during death process.
ý thức vô cùng vi tế
Very subtle mental consciousness.
ý thức đạo đức
Moral consciousness.
Ý thức 意識
[ja] シキ ishiki ||| (Skt. mano-vijñāna; Tib. yid kyi rnam śes). (1) Thought consciousness, discriminatory consciousness. (2) The 'sixth consciousness' 第六識 among the eight consciousnesses 八識 taught in Yogācāra Buddhism, where it is understood to arise based on the organ of thought, the manas consciousness 末那識. It is able to gather and discriminate the sense data derived from the five sense consciousnesses, thus discriminating all the aspects of the environment. It also works with past and future objects, recalling the past and planning for the future. 〔成唯識論T 1585.31.〕Since it arises depending on the manas, it shares many of the afflictions of the manas. (3) In the Awakening of Faith, attachment which arises based on consciousness. Even though the mano consciousness is not different from the continuing consciousness 相續識, the continuing consciousness is subtle, while the mano consciousness is coarse, and so the mano consciousness can be interpreted as the more manifest function of the continuing consciousness. 〔起信論T 1666.32.577c〕 => (Skt. mano-vijñāna; Tib. yid kyi rnam śes). 1. Thức suy lường, thức phân biệt. 2. Thức thứ sáu trong hệ thống tám thức trong giáo lý của Du-già hành tông Phật giáo, nơi được xem là căn cứ phát sinh cơ quan suy nghĩ, là mạt-na thức. Nó có khả năng gom giữ và phân biệt các dữ liệu có ý nghĩa từ năm giác quan, như phân biệt mọi khía cạnh của môi trường chung quanh. Nó còn kết hợp với dữ kiện quá khứ và tương lai, hối tưởng quả khứ và dự tính cho vị lai. Do nó sinh khởi tuỳ thuộc vào mạt-na thức, nên nó có dự phần vào các phiền não của mạt-na thức. 3. Theo luận Đại thừa khởi tín, đó là những kế chấp sinh khởi dựa vào ý thức. Dù mạt-na thức không khác Tương tục thức, nhưng Tương tục thức thì vi tế, còn mạt-na thức thì thô trọng, như thế nên mạt-na thức có thể hiểu như là chức năng biểu hiện của Tương tục thức.
ý tưởng
Saa (S), Perception ý phận biệt (nhận trắng, đen, dài, ngắn...).
ý tứ
Idea—Thought.
ý viên
The mind as intractable as a monkey.
; Tâm khó uốn nắn như tâm con khỉ—The mind as intractable as a monkey. ** For more information, please see Ý Mã.
ý vị
Significant.
ý xa
The mind vehicle, the vehicle of intellectual consciousness, the imagination.
; Cỗ xe tâm thức hay một sự tưởng tượng—The mind vehicle, the vehicle of intellectual consciousness, the imagination.
ý xứ
Manayatana (S).
; The mind-sense, the mind, the sixth of the six senses.
; Ý xứ hay tâm, một trong lục xứ hay thập nhị xứ—The mind-sense, the mind, the sixth of the six senses or the twelve entrance. ** For more information, please see Lục Nhập, and Thập Nhị Nhập in Vietnamese-English Section.
Ý xứ 意處
[ja] ショ isho ||| (mana-āyatana) One of the 'twelve loci 十二處.' The faculty of consciousness among the six consciousnesses. In the Abhidharmakośa-bhāsya it is called qixinjie 七心界. The locus of the mind. In Consciousness-only theory, the eight 'mind king' 心王 (xinwang) elements are counted in this category. => (s: mana-āyatana) Một trong Thập nhị xứ. Cơ quan của thức trong 6 thức. Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận, nó được gọi là Thất tâm giới. Là căn cứ của ý thức. Theo giáo lý Duy thức, là 8 tâm vương bao gồm trong phạm trù nầy.
Ý âm 意陰
[ja] イオン ion ||| Intention-cluster. That which is formed into a composite based on the mind, or intention. A synonym for 意生身.〔寶性論 T 1611.31.830b〕 => Nơi nhóm chứa những ý định. Những điều tạo nên một hợp thể của tâm ý hay ý định. Đồng nghĩa với Ý sinh thân 意生身.
ý đoạn
Samyak-prahana (skt)—Idea severance.
ý đại lợi
Italy.
ý địa
The stage of intellectual conscioueness, being the sixth vijnàna, the source of all concepts.
; Ý là thức thứ sáu, là nơi chi phối toàn thân, là nơi phát sanh ra vạn hữu—The stage of intellectual consciousness, being the sixth vijnana, the source of all concepts.
ý định
Sancetana (p)—Ý định—Ý muốn—Ý nghĩ—Intetion—Purpose—Thought--Volition.
ý định làm việc gì
Intention or desire to make or do or perform something.
ý đồ chính trị
Political whims.
Ý 意
[ja] イ i ||| (1) (Skt. manas, citta Tib. yid). Consideration, mind, thought, idea. The action of the pondering mind. (2) As one of the twelve loci (十二處), the mind locus. (3) The mano (sixth) consciousness 意識. (4) In Sarvāstivādin 説一切有部 theory, the mental faculty (of the six faculties), functioning to cognize. The mind organ--synonymous with 心 and 識. (5) In "eight consciousness" theory (such as in the Yogācāra school), it is a term for the seventh (manas 末那) consciousness. In this case, the mano consciousness is usually expressed as 識. 〔顯揚論, T 1602.31.480c16-28〕(6) Aim, intention (abhiprāya). (7) Inclination (āśaya). (8) (The Buddha's) teaching. (9) Deluded thought mistakenly produced in the mind. => 1. (s: manas, citta; t: yid). Sự suy nghĩ, tâm ý, tư tưởng, ý tưởng. Hành động của tâm suy xét. 2. Là một trong Thập nhị xứ, nơi phát sinh tác dụng của tâm. Thức thứ sáu (ý thức). Theo Nhất thiết hữu bộ (s: Sarvāstivādin 説一切有部) là Ý căn (của sáu căn), có tác dụng nhận thức. Ý căn--Đồng nghĩa với Tâm心 và Thức 識. Trong học thuyết 'tám thức'(như của Duy thức tông), đó là thuật ngữ chỉ cho thức thứ bảy (mạt-na; s: manas 末那). Trong trường hợp nầy, mạt-na thức thường được gọi là Thức. Mục đích, dự định (s: abhiprāya). Khuynh hướng (s: āśaya). Giáo pháp của Đức Phật. Vọng tưởng mê lầm phát sinh từ tâm ý.
ý, mạt na
Manas, mana, mano (S). The sixth of the sadàyatanas or six means of perception, i.e. sight, hearing, smell, taste, touch and mind. Intellectual function of consciousness.
ý٠thành
Mentally evolved, or evolved at will.
ăn chay
To be on a vegetarian diet—To abstain from meat—Phật tử không nên giết hại chúng sanh để ăn thịt. Sát sanh là giới cấm đầu tiên trong ngũ giới. Sát sanh để lấy thịt chúng sanh làm thực phẩm là tội nặng nhất trong Phật giáo. Đức Phật đã không cho rằng việc đề ra cách ăn chay cho các đệ tử tu sĩ của mình là điều thích đáng, điều mà Ngài đã làm là khuyên họ tránh ăn thịt thú vật, vì cho dù là loại thịt gì đi nữa thì ăn thịt vẫn là tiếp tay cho sát sanh, và thú vật chỉ bị sát hại để làm thực phẩm cho người ta mà thôi. Chính vì thế mà trước khi nhập diệt, Ngài khuyên tứ chúng nên ăn chay. Tuy nhiên, có lẽ Đức Phật không đòi hỏi các đệ tử tại gia của Ngài phải trường chay. Người Phật tử nên ăn chay có phương pháp và từ từ. Không nên bỏ ăn mặn ngay tức thời để chuyển qua ăn chay, vì làm như vậy có thể gây sự xáo trộn và bệnh hoạn cho cơ thể vì không thể ăn những món chay có đủ chất dinh dưỡng; phải từ từ giảm số lượng cá thịt , rồi sau đó có thể bắt đầu mỗi tháng hai ngày, rồi bốn ngày, sáu ngày, mười ngày, và từ từ nhiều hơn. Phật tử nên ăn chay để nuôi dưỡng lòng từ bi và tinh thần bình đẳng, mà còn tránh được nhiều bệnh tật. Ngoài ra, thức ăn chay cũng có nhiều sinh tố bổ dưỡng, thanh khiết và dễ tiêu hóa. Chúng ta không nên phán xét ai thanh tịnh hay bất tịnh qua chay mặn, thanh tịnh hay bất tịnh là do tư tưởng và hành động thiện ác của người ấy. Tuy nhiên, dù sao thì những người ăn trường chay được thì thật là đáng tán thán. Còn những người ăn mặn cũng phải cẩn trọng, vì dù biện luận thế nào đi nữa, thì bạn vẫn là những người ăn thịt chúng sanh. Bạn có thể nói “tôi không nghe,” hay “tôi không thấy” con vật bị giết, nhưng bạn có chắc rằng những con vật ấy không bị giết vì mục đích để lấy thịt làm thực phẩm cho bạn hay không? Cẩn trọng!!!—Buddhists should not kill living beings to eat. Killing or slaughtering is the first of the five precepts. Killing animals for food is among the worst transgression in Buddhism. The Buddha did not feel justified in prescribing a vegetarian diet for his disciples among the monks. What he did was to advise them to avoid eating meat because for whatever reason, eating meat means to support 'killing,' and animals had to be slaughtered only to feed them. Thus, before His parinirvana, the Buddha advised his disciples (monks and nuns) to practice vegetarianism. However, the Buddha did not insist his lay disciples to adhere to a vegetarian diet. Buddhists should practice vegetarianism methodically and gradually. We should not give up right away the habit of eating meat and fish to have vegetarian diet. Instead, we should gradually reduce the amount of meat and fish, then, start eating vegetables two days a month, then four days, ten days, and more, etc. Eating a vegetarian diet is not only a form of cultivating compassion and equality, but it is also free us from many diseases. Furthermore, such a diet can provide us with a lot of vitamins, and easy to digest. We should not judge the purity and impurity of a man simply by observing what he eats. Through his own evil thoughts and actions, man makes himself impure. Those who eat vegetables and abstain from animal flesh are praiseworthy. Those who still eat meat should be cautious, for no matter what you say, you are still eating sentient beings' flesh. You can say “I don't hear,” or “I don't see” the animal was killed for my food, but are you sure that the purpose of killing is not the purpose of obtaining food for you? Be careful!!!
ăn chơi
To lead a life of pleasures without working to earn a living.
ăn chắc
To be sure—To be firm.
ăn cơm có canh, tu hành có bạn
As a proverb says: “Rice should be eaten with soup, cultivation should be conducted with friends.”
ăn cơm tiệm
To eat at a restaurant—To dine out.
ăn cưới
To participate in a wedding banquet.
ăn cướp
To loot—To rob.
ăn cắp
To steal—To rob.
ăn gian
To cheat—To defraud.
ăn hiếp
To bully—To henpeck—To domineer.
ăn hoa hồng
To receive a commission.
ăn hại
To live on someone's expenses.
ăn hối lộ
To take a bribe.
ăn khao
To have a banquet to celebrate some special event.
ăn không ngon
Eating is not as tasteful (pleasurable) as before.
ăn kiêng cử
To be on diet.
ăn lương
To receive one's salary.
ăn lường
Ăn quịt—To eat without paying.
ăn lạt
To be on a vegetarian diet—To abstain from meat.
ăn lận
To cheat—To defraud.
ăn mau
To eat quickly.
ăn mày
Beggar.
ăn mặc
To dress—To attire.
ăn mặn
See Ăn thịt.
ăn mừng
To celebrate.
ăn ngay ở thật
To be sincere.
ăn ngon
Good to eat—To have a good appetite.
ăn ngon miệng
To eat with a good appetite.
ăn như heo
To eat like a pig—To eat greedily.
ăn nhậu
To eat and drink liquor.
ăn năn
Vippatisàra (P). Remorse, repentance.
; To repent—To remorse—To repent oneself of something.
ăn qua loa
To have a snack.
ăn quá nhiều
To overeat—To eat too much.
ăn rau
To eat on vegetables.
ăn sung mặc sướng
To be in easy circumstance.
ăn sâu vào
To deep-root.
ăn sống
To eat uncooked.
ăn theo thuở, ở theo thì
When at Rome, do as the Romans do.
ăn thua
To win or lose.
ăn thịt
To eat a meat diet--To eat flesh.
ăn thử
To sample food.
ăn tiêu
To spend money.
ăn tiệc
To attend a banquet.
ăn trộm
Thief—Burglar.
ăn tân gia
To have an open house.
ăn uống
Eating and drinking.
ăn vụng
To eat stealthily.
ăn xổi ở thì
To live from day to day with no thought of tomorrow.
ăn ý
To understand one another.
Ăng-kor Wat
Di tích quan trọng tại Campuchia, được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuật và kiến trúc Khmer.|Ðược xây dựng dưới thời vua Surja-warman II (1113-1150), Ăng-kor Wat mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Ðộ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Ăng-kor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi bị người Thái Lan huỷ diệt và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, Ăng-kor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại trong thế kỉ thứ 19.
đa
Bahu, bhùri (S). Many, all.
; Bahu (skt)—Many.
; (多) Chữ Tất đàm (ta). Cũng gọi Đá, Đát, Tha. Một trong 50 hoặc 42 chữ cái Tất đàm, loại thứ nhất trong năm loại thanh (xỉ thanh). Kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5, kinh Đại phương quảng trang nghiêm quyển 4, kinh Đại nhật quyển 2, luận Đại trí độ quyển 48 v.v... lấy Ta làm chữ đầu của chữ Tathà (Như thị), Tathatà (Chân như) mà giải thích chữ Ta là nghĩa tất cả pháp như như bất động. Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì giải thích chữ Ta là nghĩa như như bất khả đắc (Đại 39, 653 hạ): Chữ Ta là tất cả pháp như như bất khả đắc. Tiếng Phạm Tathatà nghĩa là như như. Trong ngữ thế có tiếng đắc (được), chứng đắc như như tức là nghĩa giải thoát. Như nghĩa là thực tướng các pháp, trong thực tướng, những thứ hí luận không thấy đúng như thực thì đều diệt hết, bản tính thường như không thể phá hoại. Nếu thấy chữ Ta (đa) liền biết tất cả pháp đều là tướng như như. Bởi thế xưa nay gọi chữ Đa này là chữ Đa như như. Ngoài ra, kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni quyển 3 giải thích chữ Đa là nghĩa Tất cả pháp chân thực. [X. kinh Đại bát nhã Q.490; Hoa nghiêm kinh Phổ hiền hành nguyện phẩm Q.31; Tất đàm tạng Q.5, Q.6]. (xt. Tất Đàm).
Đa Bảo
多寶; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ năm. Sư nối pháp Khuông Việt Thái sư. Môn đệ kế thừa xuất sắc của Sư là Ðịnh Hương Trưởng lão.|Không rõ Sư quê ở đâu, họ gì. Khi Khuông Việt khai đường giáo hoá tại chùa Khai Quốc, Sư đến tham học và được Khuông Việt khen và riêng cho vào thất chỉ dạy.|Sau khi đắc pháp, Sư chỉ ôm bình bát diêu du đây đó. Khi gặp Lí Thái Tổ lúc còn nhỏ, Sư sớm biết rằng ông sau này sẽ lên làm vua. Ðúng như lời tiên đoán của Sư, Thái Tổ lên ngôi và thường hay thỉnh Sư vào cung thưa hỏi yếu chỉ của Thiền tông. Vua cũng ra lệnh trùng tu chùa Kiến Sơ ở làng Phù Ðổng, nơi Sư trụ trì.|Không biết Sư tịch năm nào, nơi nào.
đa bảo
1) Đa Bảo Như Lai: Prabhutaratna Buddha (skt)—Một vị cổ Phật (ở thế giới Đông Phương Bảo Tịnh) đã nhập Niết bàn, đã xuất hiện nghe Phật Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa (phẩm 11), do sự hiện diện của Phật Đa Bảo, chúng ta thấy Niết bàn không phải là sự hủy diệt. Phật Đa Bảo là một hình ảnh quan trọng trong Kinh Pháp Hoa: một tòa bảo tháp cổ nổi lên từ dưới đất (tòng địa dõng xuất), một vị cổ Phật từ đó bước ra. Biểu tượng nầy tượng trưng cho chân lý trường tồn, dù đôi khi chân lý ấy bị lu mờ hay chôn vùi; cũng có lúc nó sẽ được phát hiện sáng ngời—Abundant-treasures (Many Jewels) Buddha—The Ancient Buddha, who entered Nirvana a long long time ago, who appeared in his stupa to hear the Buddha preach the Lotus Sutra (chapter 11), by his presence revealing that nirvana is not annihilation. Prabhutaratna Buddha, an important image in the Lotus Sutra: an ancient monument emerges from the ground, opens up, and reveals an extinct Buddha, named Prabhutaratna, who although extinct is still alive and teaching. This symbolizes the idea that truth is eternal, even though it may sometimes be concealed or forgotten, sometimes revealed or rediscovered. 2) Đa Bảo Thiền Sư—Zen Master Đa Bảo: Một vị sư Việt Nam nổi tiếng vào thế kỷ thứ mười một, pháp tử đời thứ 11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Không ai biết quê ngài ở đâu. Khi ngài gặp Thiền sư Khuông Việt và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc của Thiền Sư Khuông Việt. Sau khi đắc pháp, ngài trở thành du Tăng khất sĩ. Sau đó vua Lý Thái Tổ cho trùng tu chùa Kiến Sơ và thỉnh ngài về trụ, nhưng ít lâu sau đó ngài lại đi du phương hoằng hóa và không ai biết ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A famous Vietnamese monk in the eleventh century, dharma heir of the fifth lineage of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. His origin was unknown. He met Zen Master Khuông Việt at Khai Quốc Temple and became one of his most outstanding disciples. After he became the Dharma heir of Khuông Việt, he became a wandering monk for several years. Later, King Lý Thái Tổ ordered his mandarin to rebuild Kiến Sơ Temple and invited him to stay there, but a short time later he became a wandering monk again. His whereabout and when he died were unknown.
đa bảo như lai
Xem Đa bảo Phật.
đa bảo phật
PrabhŪtaratna (S), TrabhŪtaratna (S)Một vị cổ Phật.Đa bảo Như Lai, Bảo Thắng Phật, Đại Bảo PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; Prabhùtaratna-Buddha (S). Đa bảo: abundant treasures, many jewels.
; (多寶佛) Đa bảo, Phạm: Prabhùtaratna. Dịch âm: Bào hưu la lan. Cũng gọi Bảo thắng Phật, Đại bảo Phật, Đa bảo Như lai. Cứ theo phẩm Bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 nói, thì đức Phật Đa bảo là người khen ngợi kinh Pháp hoa, là vị Giáo chủ của thế giới Bảo tịnh phương Đông. Cũng là một trong năm đức Như lai. Sau khi đức Phật Đa bảo nhập diệt, do sức bản nguyện nên toàn thân thành xá lợi, mỗi khi có đức Phật nào tuyên thuyết kinh Pháp hoa thì Phật Đa bảo từ dưới đất hiện lên, đứng trước đức Phật ấy để chứng minh nghĩa chân thực của kinh Pháp hoa. Còn tháp bảy báu của Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên được trang sức bằng vô số bảo vật là biểu thị ý nghĩa tất cả cõi nước của chư Phật đều cùng một tính quí báu. Phật Đa bảo và Phật Thích ca mâu ni cùng ngồi trong tháp là hiển bày nghĩa chư Phật đều vì đại sự thành tựu việc giáo hóa chúng sinh mà thị hiện ở thế gian. Tại Trung quốc, từ xưa đến nay, tín ngưỡng kinh Pháp hoa rất thịnh hành, do đó, nhiều tháp Đa bảo cũng đã được tạo lập, như trong hang đá Vân cương ở Đại đồng còn lại không ít di tích của tháp này. Về hình tượng của Phật Đa bảo, cứ theo bài kệ trong kinh Pháp hoa mạn đồ la uy nghi hình sắc pháp chép, trên đầu có nhục kế như búi tóc mầu xanh đậm hình chiếc mũ, giữa khoảng chân mày phóng ra ánh sáng chiếu khắp tất cả, thân mầu vàng ròng, kết Trí quyền ấn định tuệ, mình mặc ca sa, ngồi kết già trên hoa sen lớn. Các kinh thường lấy Phật Đa bảo làm Đại nhật Như lai của Kim cương giới và lấy Phật Thích ca làm Đại nhật Như lai của Thai tạng giới. [X. luận Đại trí độ Q.7; Pháp hoa văn cú Q.8 phần dưới; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.28].
đa bảo tháp
(多寶塔) Cũng gọi Đa bảo Phật pháp. Tháp thờ đức Đa bảo Như lai. Tháp này được kiến tạo căn cứ theo lời dạy trong phẩm Kiến bảo tháp của kinh Pháp hoa quyển 4. Ở Trung quốc từ xưa do tín ngưỡng Pháp hoa thịnh hành, nên sự xây dựng tháp Đa bảo cũng rất phổ biến, như trong các hang đá Vân cương, Long môn ở Đại đồng hiện còn có di tích của tháp này. Trong tháp phổ thông thờ tượng đức Phật Thích ca và Phật Đa bảo ngồi chung, là căn cứ vào việc đức Phật Đa bảo chia nửa tòa ngồi cho Phật Thích ca được ghi chép trong kinh Pháp hoa. Tháp Đa bảo ở thời Lục triều phần nhiều được kiến tạo theo kiểu tháp ba tầng. Ngoài ra, cứ theo điều Đường khai nguyên nhị thập niên trong Phật tổ thống kỉ quyển 4 và bia cảm ứng về tháp Phật Đa bảo ở chùa Thiên phúc tại Tây kinh đời Đường ghi chép, có thể biết được là đa số các chùa viện ở đời Đường đều có tạo lập tháp Đa bảo. Tại Nhật bản, chùa Trường cốc còn tàng trữ bức tranh Thiên Phật Đa bảo Phật tháp khắc trên bản đồng, tháp này được kiến trúc theo kiểu bảo tháp ba tầng thời cổ đại. Đến đời sau thì gọi bảo tháp kiểu hai tầng là tháp Đa bảo; tầng dưới có ba gian, tầng trên có cây cột hình tròn, bộ phận nối liền tầng dưới với tầng trên có hình khum (vòm): đó là đặc sắc của kiểu tháp này. Đại tháp căn bản (tháp Du kì) ở núi Cao dã tại Nhật bản thuộc loại tháp này. Ngoài ra, di tích tháp Đa bảo còn lại ở các chùa viện thuộc thời đại Liêm thương như: chùa Thạch sơn, viện Kim cương tam muội (núi Cao dã), viện Từ nhãn (Đại phản), chùa Tịnh độ (Quảng đảo), chùa Trường bảo (núi Hòa ca) v.v... đều thuộc về quốc bảo của Nhật bản. Trong đó, tháp bảo của chùa Thạch sơn là di tích xưa nhất hiện còn. Lại theo sự giải thích của phật giáo, tháp Đa bảo ở các mộ đá, cũng giống như tháp báu, cũng có nhiều tầng.
đa bảo tháp bi
(多寶塔碑) Bia ghi lại nguyên do kiến tạo tháp Đa bảo của ngài Sở kim ở chùa Thiên phúc tại Tây kinh đời Đường. Nội dung văn bia nói: Một đêm tĩnh mịch, ngài Sở kim trì tụng kinh Pháp hoa đến phẩm Kiến bảo tháp, ngài bỗng thấy Bảo tháp hiện ra rõ ràng ở trước mắt, liền nguyện xây dựng tháp và khởi công vào niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường. Sáu năm sau, ngài Sở kim lại phát tâm chép 1.000 bộ kinh Pháp hoa để trấn tháp, đến năm Thiên bảo 11 (752) tháp mới được hoàn thành. Bia này do Sầm huân soạn văn, Từ hạo khắc chữ triện trên ngạch (trán) bia, Nhan chân khanh viết chữ. Thể chữ của họ Nhan hơi nhỏ, nhưng già dặn và cân đối. Chữ viết trên các lầu gác của đời Thanh phần nhiều phỏng theo thể chữ của bia này. Tây kinh Thiên phúc tự Đa bảo Phật tháp cảm ứng bi do Sầm huân soạn, nói: Nếu Diệu pháp liên hoa là nguồn suối bí mật của chư Phật, thì tháp Phật Đa bảo vọt hiện lên là để chứng kinh.
đa cảm
Sensitive—Emotional.
đa dục
Sensual.
đa già la
See Mộc Hương.
đa già la hương
(多伽羅香) Đa già la, Phạm: Tagara. Cũng gọi Đa yết la hương, Đa già lưu hương, Đa già lâu hương, Đa kiếp la hương. Hán dịch: Căn, bất một, mộc hương. Loại hương được chế từ cây Đa già la. Nhưng cũng có thuyết cho hương đa già la cũng giống như hương linh lăng (hương được chế từ loại cỏ thơm mọc trong khe núi Linh lăng). Thông thường người ta hay coi hương đa già la và hương già la là một thứ. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 6 phẩm Tứ thiên vương hộ quốc nói, khi tu pháp phải dùng hương này cùng với các thứ hương khác như an tức, chiên đàn, long não v.v... lấy mỗi thứ một phần bằng nhau trộn làm một, bỏ vào lò hương đốt lên cúng dường. Cũng kinh đã dẫn quyển 7 xếp loại hương này vào hàng thứ 15 trong 32 vị hương dược. [X. kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.11; luật Tứ phần Q.42; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].
đa hôn
Polygamy—Polygamous (a).
Đa khuy
(多虧): nghĩa đen là nhiều khiếm khuyết, thiếu sót; nhưng cụm từ đa khuy thường được dùng với nghĩa là nhờ vào, may mắn thay. Như trong Dự Nhượng Thôn Thán (豫讓吞炭) của Dương Tử (楊梓, ?-1327) nhà Nguyên có đoạn: “Kim nhật thác thiên địa tỉ hựu, đa khuy Hàn Ngụy nhị quân hiệp mưu, tương Trí thị nhất cổ nhi diệt, phương sấn ngã bình sinh chi nguyện dã (今日托天地庇佑、多虧韓魏二君協謀、將智氏一鼓而滅、方趁我平生之願也, Hôm nay phó thác cho trời đất che chở, may thay hai đấng Hàn, Ngụy cùng lập mưu, đánh dòng họ Trí một trận tiêu diệt, mới thỏa nguyện ước bình sinh của ta).”
đa khẩu a sư
(多口阿師) Người nói nhiều, lắm lời. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bích nham lục tắc 50 (Đại 48, 185 trung), nói: Tụng rằng: Cơm trong bát, nước trong thùng, kẻ nói nhiều (đa khẩu a sư) khó để miệng tới.
đa la
Xem Cây bối.
; Tàla (S). Fan-palm tree.
; 1) Tara (skt)—In the sense of starry, or scintillation. 2) Tala (skt)—Cây Ta La cao khoảng 70 đến 80 bộ Anh, với trái như những hạt gạo vàng, có thể ăn được. Lá được dùng để viết, phần cánh xòe dùng làm quạt—The fan-palm tree. The tree is described as 70 or 80 feet high, with fruit like yellow rice-seeds (resembling the pomegranate) which is edible. Its leaves being used for writing, their palm-shaped parts being made into fans.
; (多羅) I. Đa la. Phạm: Tàla.Cây đa la. Cũng gọi Ngạn thụ, Cao tủng thụ. Loại cây này sinh sản nhiều ở vùng đất cát gần bờ biển tại các nước Ấn độ, Miến điện, Tích lan v.v... cây cao khoảng 22 mét thuộc họ cây cọ. Lá dài rộng, bằng phẳng trơn láng, cứng chắc, từ xưa đã được dùng để viết chép kinh sách, gọi là Bối đa la diệp; quả chín thì đỏ, giống như quả thạch lựu, ăn được. Cây đa la nếu bị chặt ngang thân thì không nảy chồi lại được nữa, bởi thế, trong các kinh phần nhiều nó được dùng để ví dụ cho các tỉ khưu đã phạm trọng tội Ba la li, không thể cứu được. [X. kinh Pháp hoa Q.5 phẩm Phân biệt công đức; luận Tập dị môn túc Q.4; Đại đường tây vực kí Q.11; Huyền ứng âm nghĩa Q.2, Q.24; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Bối Đa La Diệp). II. Đa la. Phạm:Tàrà. Hán dịch: Nhãn (mắt), Nhãn đồng (con ngươi mắt), Diệu mục tinh (mắt rất sáng), Cực độ. Là tên vị Bồ tát được sinh ra từ ánh sáng trong mắt của bồ tát Quan thế âm. (xt. Đa La Bồ Tát). III. Đa la. Phạm: Patra (âm Hán: bát đa la), gọi tắt là Đa la. Cùng nghĩa Bát. Chỉ cho cái chậu bằng bạc hoặc bằng đồng trắng dùng đựng nước thơm để tắm tượng Phật vào ngày Đản sinh.
đa la bồ tát
Tārā (S), Dlkar (T) =White Tārā (Bạch tản Cái Bồ tát) Dlma (T) = Green Tārā (Lục độ mẫu Bồ tát)Đa lợi Bồ tát, Đa rị Bồ tát, Đa lệ Bồ tát, Thánh Đa la Bồ tát, Đa la tôn, Đa lợi tôn Quán thế âm, Đa la Quán thế âm,, Thánh Cứu độ Phật mẫu, Đà la Bồ tát.
; Vị Bồ Tát được sanh ra từ mắt của Bồ tát Quán Thế Âm—Tara bodhisattva (said to have ben produced from the eye of Kuan Shi Yin).
; (多羅菩薩) Đa la, Phạm: Tàrà, Tạng: Sgrol-ma (hàm ý mẹ cứu vớt). Cũng gọi Đa lợi bồ tát, Đa rị bồ tát, Đa lệ bồ tát. Dịch ý: mắt, mắt rất sáng, cực độ, cứu vớt, tròng mắt (con ngươi). Còn gọi là Thánh đa la bồ tát, Đa la tôn, Đa lợi tôn. Là hóa thân của bồ tát Quan âm, cho nên cũng gọi Đa la tôn Quan âm, Đa la Quan thế âm. Ngài ngồi ở mé tây bồ tát Quán tự tại (hàng thứ nhất quay về bên phải) trong viện Quan âm trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo. Tức là Phật mẫu của Quan âm bộ. Cứ theo kinh Đại phương quảng mạn thù thất lợi phẩm Quán tự tại bồ tát thụ kí chép, thì bồ tát Quán tự tại vào tam muội Phổ quang minh đa la, dùng sức tam muội, từ nơi mắt phóng ra một luồng ánh sáng rất lớn, tức thì bồ tát Đa la từ trong luồng ánh sáng ấy sinh ra. Bồ tát Đa la soi sáng tất cả chúng sinh, cũng như mẹ hiền ban cho tình thương, cứu vớt chúng sinh ra khỏi biển khổ sống chết. Mật hiệu của Ngài là Bi sinh kim cương (hàm ý từ bồ tát Đại bi Quan thế âm sinh ra), Hạnh nguyện kim cương; hình tam muội da là hoa sen xanh. Chủng tử là (ta) hoặc (tạm), nghĩa là như như bất khả đắc. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 4 phẩm Mật ấn nói, thì ấn tướng của vị Bồ tát này là Nội phược quyền, nghĩa là tay trái (Định) và tay phải (Tuệ) đan vào nhau ở bên trong, hai ngón trỏ duỗi thẳng chập đầu ngón lại như cây kim, hai ngón cái dang ra ấn lên trên hai ngón trỏ. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa bột đà nam đá lệ đa lũ ni yết rô noa ôn bà phệ sa ha. Lại theo kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Cụ duyên nói, hình tượng vị tôn này là hình người đàn bà trung niên, mầu trắng phớt xanh, chắp hai tay kẹp lấy cành hoa sen xanh, mình mặc áo trắng. Nhưng hình ngài vẽ trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la lại hơi khác, tức là toàn thân mầu xanh lợt, mặc áo yết ma, đầu đội mũ tết bằng tóc, trên có hóa Phật, hai tay chắp lại, không cầm hoa sen, ngồi bán già trên tòa sen, ngồi ở bên phải bồ tát Quán tự tại, bên trái vị tôn này có một sứ giả. Ở Ấn độ thời xưa, bồ tát Đa la đã rất được tôn sùng, điều đó được thấy qua các bài tán bằng tiếng Phạm như: Àrya-tàrànàmàstoỉỉarazataka-stotra (khen ngợi 108 danh hiệu của bồ át Đa la), Ekaviôzati-stotra (hai mươi mốt lễ tán thán Cứu độ Phật mẫu) và Àrya-tàràsragdharà-stotra (Tán thán Thánh Đa la cầm mũ) v.v... Ngoài ra, ở Trung quốc, Tây tạng và Mông cổ, tín ngưỡng bồ tát Đa la cũng rất thịnh hành. Tại Nhật bản thì Ngài được gọi là Đa la tôn Quan âm, là một trong 33 hóa thân của bồ tát Quan âm, cũng được sùng bái rất rộng. Vị Bồ tát này có 21 hóa thân: 1. Cứu độ tốc dũng mẫu (Bà mẹ cứu vớt rất mau chóng, mạnh mẽ). 2. Bách thu lãng nguyệt mẫu (Bà mẹ như vừng trăng sáng của trăm mùa thu). 3. Tử ma kim sắc mẫu (Bà mẹ mầu vàng ròng tươi). 4. Như lai đính kế mẫu (Bà mẹ có búi tóc trên đỉnh đầu giống như nhục kế của đức Như lai). 5. Đát la hồng tự mẫu (Bà mẹ chữ Đát la hồng). 6. Thích Phạm Hỏa thiên mẫu (Bà mẹ Đế thích, Phạm thiên, Hỏa thiên). 7. Đặc la chi phát mẫu. 8. Đô lí đại khẩu mẫu. 9. Tam bảo nghiêm ấn mẫu. 10. Uy đức hoan duyệt mẫu(Bà mẹ có uy đức khiến chúng sanh vui vẻ, đẹp lòng). 11. Thủ hộ chúng địa mẫu(Bà mẹ giữ gìn, hộ vệ các nơi). 12. Đính quan nguyệt tướng mẫu(Bà mẹ đội mũ hình mặt trăng). 13. Như tận kiếp hỏa mẫu (Bà mẹ ban sự yên vui như thoát được kiếp lửa). 14. Thủ ấn đại địa mẫu (Bà mẹ tay ấn quả đất). 15. An ẩn nhu thiện mẫu(Bà mẹ dịu hiền an ổn). 16. Phổ biến cực hỉ mẫu(Bà mẹ ban phát sự vui mừng cho khắp cả chúng sinh). 17. Đô lí ba đề mẫu. 18. Tát la thiên hải mẫu. 19. Chư thiên tập hội mẫu (Bà mẹ tập họp các trời). 20. Nhật nguyệt quảng viên mẫu (Bà mẹ tròn đầy, rộng lớn như mặt trời mặt trăng). 21. Cụ tam chân thực mẫu (Bà mẹ có đầy đủ ba chân thực). [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.4, Q.9, Q.19, Q.23; kinh Đại phương quảng mạn thù thất lợi phẩm Mạn đồ la; kinh Đại nhật Q.4 phẩm Phổ thông chân ngôn tạng; kinh Thánh đa la bồ tát nhất bách bát danh đà la ni; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10; Đại đường tây vực kí Q.8, Q.9].
đa la bồ tát mạn đồ la
(多羅菩薩曼荼羅) Là mạn đồ la được nói trong phẩm Quán tự tại đa la bồ tát mạn đồ la của kinh Đại phương quảng mạn thù thất lợi. Nếu có người thiện nữ muốn thành tựu nhất thiết chủng trí thì chọn nơi đất tốt, lập đàn tràng mỗi bề bằng bốn trửu (khuỷu tay), tám rửu, 16 trửu v.v... bốn phía đàn đặt ba viện. Chính giữa mạn đồ la tôn trí Phật Thích ca mâu ni trong tướng thuyết pháp, bên phải Ngài là bồ tát Quán tự tại, bên trái là bồ tát Kim cương tạng, phía sau có tám vị Đại bồ tát như: Di lặc, Đại thế chí v.v... Dưới tòa sư tử của đức Thích ca Như lai có một ao sen, trong ao có hoa sen báu, bồ tát Đa la ngồi kết già trong hoa sen, tay trái cầm hoa sen xanh, tay phải ngửa lên đặt ở ngang rốn trong tư thế ngồi thiền. Ngoài các vị tôn ở chung quanh đức Thích ca và ở bốn cửa bốn phương của đàn mạn đồ la nói trên, còn vẽ vô số Bồ tát, Minh vương, Chư thiên, Dược xoa, Long vương v.v...
đa la chưởng
Tala leaves—See Đa La (2).
đa la diệp
Tala leaves—See Đa La (2).
đa la diệp kí
(多羅葉記) Gồm 3 quyển, do ngài Tâm giác thuộc tông Chân ngôn của Phật giáo Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 94. Cũng gọi Đa la diệp sao. Ngài Tâm giác đã căn cứ vào các sách tự điển tiếng Phạm như: Phạm ngữ thiên tự văn của Nghĩa tịnh, Phạm ngữ tạp danh của Lễ ngôn, Đường phạm văn tự của Toàn chân, Phiên phạm ngữ (không rõ tác giả), Phạm ngữ tập của Tín hành người Nhật) v.v... và dựa theo thứ tự các chữ cái của Nhật bản để sắp xếp chia loại và giải thích ngữ nghĩa tự vựng của tiếng Phạm trong các sách kể ở trên. 1. Quyển thượng gồm 9 âm: Y, lữ, ba, nhân, tri, lợi, lưu, viễn, hòa. 2. Quyển trung gồm 15 âm: Ca, đa, lễ, sở, tân, nễ, na, lang, võ, vũ, tỉnh, ư, cửu, dã, vạn. 3. Quyển hạ gồm 16 âm: Kế, bất, kỉ, giang, thiên, a, tả, cơ, do, nữ, cung, chí, tỉ, mao, thế, thốn. Ngoài ra, tác giả còn dựa vào các kinh sách: Quán Phật tam muội, kinh Văn thù vấn, kinh Tú diệu, Bất không quyên sách quĩ, luận Đại trí độ, Huyền ứng nhất thiết kinh âm nghĩa, Đại nhật kinh sớ, Phạm võng kinh cổ tích kí, Đại đường tây vực kí, A di đà kinh Phạm bản v.v... để bổ túc cho nội dung của sách này. Đa la diệp kí là bộ tự điển tiếng Phạm xưa nhất hiện còn ở Nhật bản.
đa la na tha
(多羅那他) Phạm: Tāranātha, Tạng: Kun-dgḥ sñiṅ-po (Cổn cát minh ba). Vị tăng Tây tạng thuộc phái Phật giáo Tước nam. Sư sinh vào năm Vạn lịch thứ 3 (1575, có thuyết nói Vạn lịch năm đầu) đời Minh. Sư là tác giả của bộ Đa la na tha Phật giáo sử. Sau, đức Đạt lại lạt ma đời thứ 4 phái sư đến Ngoại Mông cổ truyền pháp, sư được vua Mông cổ tôn làm Triết bố tôn đan ba. Sư tịch ở Khố luân, không rõ tuổi thọ. Thân chuyển sinh của sư là Khố luân hoạt Phật (Phật sống ở Khố luân).
đa la na tha phật giáo sử
(多羅那他佛教史) Tạng: Dam-paḥi chos-rin-po-che ḥphags-paḥi yul-du ji-ltar dar-baḥi tshulgsal-bar bston-pa, Dgos-ḥdodkun-ḥbyuṅ Cũng gọi Ấn độ Phật giáo sử. Do Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha) soạn. Đa la na tha sinh ở Tạng châu, tên Tây tạng của sư là: Kun-dgaḥ sñiṅ-po (Cổn cát ninh ba), thuộc phái Tước nam (Tạng: Jo-naí-pa) của Phật giáo Tây tạng. Sư soạn xong bộ sách này vào năm 1608 Tây lịch. Nội dung trình bày về 201 nhân vật, các Vương triều từ vua A xà thế trở uống và quá trình Phật giáo truyền đến Tích lan, Tây tạng. Đặc sắc nhất là nửa sau của bộ sách chép về tình hình Phật giáo Đại thừa từ hậu kì đến thời đại Mật giáo. Bộ sử này đã sớm được giới học giả biết đến, vì đây là tư liệu trọng yếu về lịch sử Phật giáo Ấn độ rất trân quí. Năm 1868, ông A. Schiefner đã dịch ra tiếng Đức dưới nhan đề Tàranàtha’s Geschichte des Buddhismus in Indien và ấn hành. Ngoài bản tiếng Đức còn có các bản dịch tiếng Nga và tiếng Nhật.
đa la quán thế âm
Xem Đa la Bồ tát.
đa la thụ
Tara tree—See Đa La (2).
đa la tôn
Xem Đa la Bồ tát.
đa lai la ma
Dalai Lama Dalai Lama dalai bla-ma (T)Đạt lại Lạt maPhật tử Kim cương thừa xem Ngài là hóa thân của Quán thế âm Bồ tát. Hầu hết các phật tử khác, kễ cả Thượng tọa bộ, đều xem Ngài như một bậc thầy đức cao đạo trọng, người làm việc không biết mệt mỏi vì hòa bình và thiện ý.
đa lai lạt ma
dalai bla-ma (T).
đa liệt phái
(多列派) Một trong những tông phái Phật giáo Tiểu thừa của dân tộc Thái ở vùng Đức hoành thuộc tỉnh Vân nam. Tín đồ phái này giữ năm giới rất nghiêm khắc, nên không chăn nuôi gia súc, chỉ nuôi con gà gáy sáng để biết thời giờ. Cũng không thờ lễ bất cứ vị thần nào mà chỉ lễ Phật và chư tăng ở các chùa viện Phật giáo. Nếu khi tăng chúng trong thôn mình không có người thừa kế, thì có thể thỉnh chư tăng từ thôn khác đến thừa kế, hoặc cũng có thể thay đổi tín ngưỡng mà đi theo các giáo phái như: Bãi trang, Doãn, Tả để v.v... Phái Đa liệt có bốn bậc: Kiết tỉ, Triệu chưởng, Triệu môn và Bằng cát. Trong đó, Triệu chưởng, sau khi mùa Quan môn (giống như Hạ an cư, ND) kết thúc, có thể xin trở về nhà, tạm thời cởi áo ca sa để bước qua đời sống thế tục. Ở các chùa viện phái Đa liệt cũng có sư ni (Nha cáo), nhưng chỉ ở địa vị phụ thuộc mà thôi.
đa lệ bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đa lệ tam hạt
(多隸三喝) Đa lệ là gọi tắt từ Đa lệ lộ ca dã phệ xà dã la nhạ (Phạm: Trài-lokya-vidya-ràja), dịch là Hàng tam thế minh vương, Thắng tam thế minh vương, một trong năm Đại minh vương của Mật giáo. Tam hát tức ba lần xướng chữ Hồng. Đa lệ tam hát nghĩa là Hàng tam thế minh vương kết đại ấn và ba lần xướng chữ Hồng để phá trừ phiền não. [X. Bí tạng bảo thược Q.thượng].
đa lợi bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đa lợi tôn quán thế âm
Xem Đa la Bồ tát.
đa ma la bạt
Tamālapa (S)Một thứ cây chiên đàn hương rất thơm dùng để cất tháp, làm tượng Phật, hoặc đốt lấy hương mà cúng Phật.
đa ma la bạt chiên đàn hương
Tamalapattra and Chandana fragrance.
; Tamalapattra-candana-gandha (skt). 1) Chiên Đàn Hương Phật: A Buddha-incarnation of the 11th son of Mahabhijna, residing north west of our universe. 2) Tên của vị Phật mà Đức Thích Ca đã thọ ký cho ngài Mục Kiền Liên: The name of the Buddha-incarnation of Mahamaudgalyayana.
đa ma la bạt chiên đàn hương như lai
Tamālapattra-chandana-gandha (S)Phật Thích Ca có thọ ký cho ngài Mục kiền Liên về sau Mục kiền Liên sẽ thành Phật có Phật hiệu này. Cõi thế của đức Phật này tên là cõi ý lạc, kỳ kiếp của ngài gọi là Hỷ mãn.
đa ma la bạt chiên đàn hương phật
Tamalabhadrā (S)Chiên đàn hương PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
đa ma la bạt hương bích chi phật
Xem Đa ma la hương Bích chi Phật.
đa ma la bạt hương thụ
(多摩羅跋香樹) Cây hương Đa ma la bạt. Đa ma la bạt, Phạm: Tamàlapatra hoặc Tamàlapattra, Tamàla, Tamàlaka, Tama, Patra; Pàli: Tamàla. Cũng gọi Đa ma la bạt thụ, đa ma la thụ. Loại cây thuộc họ Chương. Tên khoa học: Cinnamomum nitidum. Trung quốc gọi là Hoắc hương, hoặc gọi Hoắc diệp hương, Căn hương, Xích đồng diệp v.v... sinh sản ở Trung quốc, Nam Ấn độ, Tích lan v.v... Cây mọc thành bụi, hoa mầu vàng nhạt, vỏ cây có hương vị nhục quế, lá dùng làm hương, cũng có thể chế thuốc phát hãn (làm toát mồ hôi), kiện vị (bổ dạ dày). Ngoài ra, trong Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 8 thiên Chúng hương, Đa ma la bạt được dịch là tính vô cấu hiền. [X. kinh Đại bát nhã Q. 318; kinh Pháp hoa Q.4, Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].
đa ma la diệp duy
ên Phật Xem Đa ma la hương Bích chi Phật.
đa ma la hương bích chi phật
Tamālapattra-pratyeka-buddha (S)Đa ma la diệp Duyên Phật, Đa ma la bạt hương Bích chi PhậtTên một vị Phật hay Như Lai.
; (多摩羅香辟支佛) Phạm: Tamàlapatra-pratyekabuddha. Dịch âm: Đa ma la bạt đát la bát la để duệ kế mẫu đà. Cũng gọi Đa ma la bạt hương bích chi Phật, Đa ma la diệp duyên Phật. Dịch ý là Hoắc diệp hương, Tính vô cấu hiền. Vị tôn này ngồi ở ngôi thứ 3 hàng ngoài, phía bắc vị Trung tôn trong viện Thích ca trên Hiện đồ Thai tạng giới mạn đồ la Mật giáo, đồng thể với đức Phật Đa ma la bạt chiên đàn hương của Hiển giáo. Hình tượng của Ngài hơi gầy, toàn thân mầu vàng nhạt, đắp ca sa hở vai, tay trái nắm góc ca sa để trước ngực, cánh tay phải co lại, bàn tay duỗi thẳng, co ngón vô danh (áp út) và ngón út, ngồi kết già trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (va), hình tam muội da là gậy tích, mật hiệu là Phân uân kim cương. [X. kinh Đại nhật Q.5 Bí mật mạn đồ la].
đa ma thâu
Mathurā (S)Ma thâu laMột địa danh nơi tìm thấy 133 kinh bản Phật giáo khắc bằng tiếng Phạn và tiếng.
đa mang
To be occupied with many things at the same time.
đa nghi
Distrustful—Suspicious
đa nguyên
Pluralism.
đa nguyện thực tại luận phái
Xem Thắng Luận phái.
đa ngôn
Loquacious.
đa niệm diệt tội
(多念滅罪) Xưng niệm danh hiệu Phật có thể tiêu diệt tội chướng. Nếu trong khoảng một niệm mà diệt được tội thì gọi là Nhất niệm diệt tội; nếu xưng danh từ hai niệm trở lên mà diệt được tội thì gọi là Đa niệm diệt tội. Như kinh Quán vô lượng thọ nói Hạ phẩm hạ sinh xưng danh 10 niệm diệt được tội, tức là Đa niệm diệt tội. Còn tông Tịnh độ thì cho rằng công đức xưng danh niệm Phật của chúng sinh có thể tiêu diệt tội chướng, tuy tùy theo căn cơ khác nhau mà có người nhất niệm diệt tội, có người đa niệm diệt tội, nhưng số người đa niệm diệt tội vẫn nhiều hơn. (xt. Nhất Niệm Diệt Tội).
đa phát
1) Kesini (skt)—Có tóc hay những búi tóc dài—Having long hair—Having many locks of hair. 2) Tên của một loài La Sát Nữ: Name of a kind of Raksasi (female demon).
đa phát la sát nữ
Keśinī (S)Bị Phát La sát nữ.
Đa phát 多髮
[ja] タホツ Tahotsu ||| Keśīnī. One of the ten rākṣasīs who protect the dharma in the Lotus Sutra. See 十羅刹女. 〔法華經 T 262.9.59a24〕 => s: Keśīnī. Một trong 10 La-sát nữ hộ trì chính pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập La-sát nữ 十羅刹女.
đa phúc
To have many blessings.
đa rị bồ tát
Xem Đa la Bồ tát.
đa sinh
Anekajāti (S).
; Kiếp sống trải qua nhiều kiếp của vòng luân hồi sanh tử—Many births—Many reincarnations.
đa sầu
Very sad.
đa sỉ lộ ca minh vương
Trailokyavijaya (skt)—Tam Thế Giáng Minh Vương, một trong những Minh Vương trong tam giới—The Ming-Wang Defeater of evil in the three spheres, one of the Ming-Wang.
đa số
Majority—Generality.
đa sự
Meddling.
đa tha
1) Tatha (skt)—Như thế ấy—In such a manner—Like—So. 2) Nirvana (skt)—Diệt—Extinction.
đa tham
Many desires.
đa thiệt long vương
Takṣaka (S)Đức xoa già Long vươngMột trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương.
đa thê
Polygamy.
đa thần giáo
Polytheism.
; (多神教) Tôn giáo tin thờ nhiều thần linh. Đa thần giáo bắt đầu vào hậu kì của xã hội nguyên thủy. Nhân loại ở thời kì này đối với các hiện tượng thiên nhiên có lúc sợ hãi, có lúc vui thích, coi mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, gió mưa sấm sét, cây đá núi rừng. sông biển hồ ao... tất cả đều có thần cách và sinh lòng tín kính. Ngoài ra, thần linh ma quỉ, tổ tiên, anh hùng v.v... đều là đối tượng tin thờ của người theo Đa thần giáo. Trung quốc từ xưa đã tin Đa thần giáo, cho rằng các thần lớn nhỏ đều có các chức năng nhất định; bắt đầu từ Táo quân trong nhà, đến ông Thổ thần trông coi một xóm, ông Thành hoàng quản trị một làng, rồi lên nữa là thần các cõi trời, cho đến đấng chúa tể tối cao trong vũ trụ v.v... tất cả đều được người Trung quốc tôn thờ tin tưởng và cầu mong các thần phù hộ đất nước, khiến cho mưa thuận gió hòa, nhân dân yên vui. Ngoài ra, tín ngưỡng nhân gian phổ thông cũng có khuynh hướng nhân cách hóa các vị thần, như vào các ngày kị (giỗ) thần hoặc hội hè, người ta giết gà giết dê để cúng tế, đàn nhạc múa hát, giả tưởng các thần cũng cần thụ hưởng múa hát, rượu thịt, phong tục này đời đời tiếp nối, cho mãi tới gần đây mới có phần sút giảm. Tuy nhiên, cái nền tảng của tín gưỡng nhân cách hóa vẫn còn đó. Chẳng hạn, cách xưng hô đối với các thần, người ta thường gọi ông Thổ địa, bố Thần tài, mẹ Quan âm v.v... cũng là bằng chứng của sự nhân cách hóa các vị thần. Ấn độ xưa cũng tin Đa thần giáo. Người thời ấy thông thường cho mỗi một hiện tượng tự nhiên đều có tính thần, từ đó sáng tạo ra nhiều thần. Như Thiên không có thiên thần Đặc vưu tư (Phạm: Dyans), Thương không (khoảng trời xanh) thì có thần Bà lâu na (Phạm: Varuịa). Còn Thái dương (thần mặt trời) thì gọi là Tu lợi nhã (Phạm:Sùrya) v.v... còn nhiều nữa. Mỗi một vị thần nói trên đều là đối tượng được người Ấn độ tin thờ một cách kiền thành. Mà khuynh hướng Đa thần giáo này cũng được phản ánh trong tín ngưỡng Phật giáo, nhất là vào thời Phật giáo Đại thừa sau này, khuynh hướng ấy rất rõ ràng. Như thuyết Ứng thân Phật, xuất hiện vô số Phật. Lại như thuyết Nghìn Phật trong kiếp Hiền (Phạm: bhadra-kalpa) v.v... cũng là loại khuynh hướng này. Đây có thể xem như khuynh hướng Đa thần giáo của người Ấn độ đã ảnh hưởng đến giáo nghĩa của Phật giáo. Rồi đến quan điểm nòng cốt của Đại thừa Phật giáo chủ trương tất cả mọi sinh vật đều có tính Phật cũng bị một số học giả cho là biểu hiện của tín ngưỡng Đa thần.
đa thể
Many bodies or forms.
đa trì bà hòa
(多跢婆和) Đa đá là cái dáng trẻ con tập đi. Bà hòa là tiếng trẻ con tập nói. Tức là dùng sự tập đi, tập nói của trẻ con để ví dụ cho vấn đề sơ bộ, không có gì quan trọng. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 2 (Đại 33, 822 hạ), nói: Đa đá là dáng tập đi, bà hòa là tiếng tập nói, ví dụ cho tam tạng mới chỉ là sơ giáo, nhưng người thực hành tam tạng lại cho đó là thật, cho nên nói chẳng biết. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1 phần trên].
đa tài quỉ
Wealthy ghosts.
đa tài quỷ
Wealthy ghosts.
đa tình
Sentimental—Amorous.
đa túc
Many-footed (legged)—Centipedes.
đa tạ
Very grateful (thankful).
đa tử tháp
(多子塔) Phạm: Bahuputraka-caitya, Pàli: Bahuputtaka-cetiya, Bahuputtacetiya. Cũng gọi Thiên tử tháp (Tháp nghìn con), Đa tử chi đề, Phóng cung trượng tháp (tháp buông cung tên gậy gộc). Là ngôi tháp ở phía tây thành Tì xá li, Trung Ấn độ. Về nguồn gốc của tòa tháp này có các thuyết sau đây: - Theo kinh A nâu di trong Trường a hàm quyển 11, thì tháp này là một trong bốn ngôi tháp ở mạn tây thành Tì xá li, Trung Ấn độ. - Phật quốc kí của ngài Pháp hiển kể rằng: Thời quá khứ có một ông vua có hai phu nhân, bà bé sinh ra một bọc thịt, bà lớn cho đó là điềm chẳng lành, mới bỏ vào thùng gỗ rồi liệng xuống sông Hằng. Chiếc thùng trôi theo dòng nước xuống vùng hạ du thì một ông vua khác đi chơi, trông thấy, sai người vớt lên mở ra xem, thấy 1.000 đứa trẻ ở trong thùng, hình dáng tốt đẹp, bèn đưa về nuôi. Lớn lên, một nghìn người con rất dũng cảm, thường dự các cuộc chiến tranh và đánh đâu thắng đó. Một hôm họ bao vây thành của vua cha, người mẹ (bà phu nhân nhỏ của vua) đứng trên lầu cao ở phía đông thành trông thấy, biết đó là 1.000 đứa con của mình, cất cao tiếng gọi, lúc đó, những người con mới biết là mình đang đánh chiếm nước của vua cha, bèn buông cung tên, gậy gộc. Trong đoạn văn ghi trên đây, cha của 1.000 người con tức là vua Phạm dự, quốc vương ở vùng hạ du sông Hằng là vua Ô kì diên, 1000 người con tức là 1000 đức Phật trong kiếp Hiền, còn tháp Đa tử (tháp nhiều con) tức là tháp của 1000 Phật kiếp Hiền. Đức Thế tôn từng đến giáo hóa ở vùng phụ cận tháp này trong ba tháng trước khi Ngài nhập diệt. -Luận Bích chi phật nhân duyên quyển hạ chép, thủa xưa có vị Bích chi phật sinh làm Đại trưởng giả ở thành Vương xá, Trưởng giả có 30 người con gái, đều có chồng; vì thấy các con sung sướng thì ít mà lo âu thì quá nhiều, hằng ngày Trưởng giả quán xét về điều đó và chứng ngộ được đạo Bích chi phật. Sau, xả thân, vào Niết bàn, các con Ngài xây tháp thờ, người đời gọi là tháp Đa tử. - Liên đăng hội yếu quyển 1 ghi: Có lần đức Thế Tôn chia chỗ ngồi và truyền pháp cho tôn giả Ca diếp ở trước tháp Đa tử. [X. Đại trang nghiêm kinh luận Q.6; kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển) Q.thượng; Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh tự; Đại đường tây vực kí Q.7; Tổ đình sự uyển Q.8; Ngũ đăng hội nguyên Q.1].
đa tự phá nhất
(多字破一) Nhiều chữ phá một chữ. Đối lại với Nhất tự phá đa (một chữ phá nhiều chữ). Một trong 16 huyền môn do Mật giáo lập ra. Tức là dùng tự nghĩa của các chữ Tất đàm để giải thích phá bỏ sự mê chấp tự tướng của một chữ. Chẳng hạn như khi người ta cho rằng các pháp có gốc, có sinh rồi chấp trước tự tướng của một chữ (a) thìphải quán tưởng các pháp xa lìa tạo tác, xa lìa nhân duyên v.v... rồi dùng tự nghĩa của các chữ (ka), (ha) v.v... để phá thích, từ đó giác ngộ nghĩa các pháp vốn chẳng sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7; Hồng tự nghĩa thập lục huyền môn nghĩa]. (xt. Nhất Tự Phá Đa, Thập Lục Huyền Môn, Tất Đàm).
đa tự thành nhất
(多字成一) Nhiều chữ thành một. Đối lại với Nhất tự thành đa (Một chữ thành nhiều). Một trong 16 huyền môn do Mật giáo lập ra. Mười sáu huyền môn tức là 16 chữ cái Mật giáo sử dụng để giải thích các chân ngôn chữ Phạm. Đa tự thành nhất tức là kết hợp nghĩa của nhiều chữ mà thành một chữ. Đại nhật kinh sớ quyển 7 lấy nghĩa của chữ (ka) lìa tạo tác, chữ (kha) như hư không không tướng, chữ (ga) các pháp vô hành v.v... để thành lập một chữ (a) vốn chẳng sinh. [X. Hồng tự nghĩa thập lục huyền môn nghĩa]. (xt. Nhất Tự Thành Đa).
đa tự thích nhất
(多字釋一) Nhiều chữ giải thích một chữ. Đối lại với Nhất tự thích đa (Một chữ giải thích nhiều chữ). Một trong 16 huyền môn do Mật giáo lập ra. Tức là dùng nghĩa lí của nhiều chữ để giải thích nghĩa của một chữ. Như Đại nhật kinh sớ quyển 7 dùng nghĩa của chữ (ka) là tác nghiệp bất khả đắc, chữ (kha) như hư không bất khả đắc, chữ (ha) là nhân bất khả đắc để giải thích nghĩa của chữ (a) là vốn chẳng sinh. (xt. Nhất Tự Thích Đa, Thập Lục Huyền Môn).
đa văn
nghe nhiều, chỉ việc được nghe thuyết giảng nhiều kinh điển. Như trong hàng đệ tử Phật có ngài A-nan được Phật khen ngợi là Đa văn đệ nhất.
; Bahussutaka (P), Bahulika (P), Bahu-sruta (S)Bahulika, Bahussutaka (P)1- Học nhiều biết rộng. 2- Đa văn bộ: Bộ phái tiều thừa, thành lập 200 năm sau khi Phật nhập diệt. Đa văn bộTên một tông phái.
; Bahu-sruta (S). Learned: one who has heard much.
; Bahu-sruta (skt)—Nghe và đọc nhiều kinh điển—To hear and repeat many sutras—Wide erudition—Learned, one who has heard much.
; (多聞) Nghe nhiều. Phạm: Bahu-zruta. Hàm ý là nghe nhiều kinh pháp và giáo thuyết mà thụ trì. Trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, tôn giả A nan là bậc nhất về nghe nhiều. Còn trong năm cái 500 năm thì 500 năm thứ ba là thời đại nghe nhiều bền chắc (đa văn kiên cố). Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, thì những người đọc tụng nhiều kinh, khéo giữ được những lời Phật nói trong các kinh, là chúng đa văn trong bốn chúng đệ tử của Phật. Nhưng kinh Viên giác thì nói, chúng sinh đời mạt phát hi vọng thành đạo, nhưng không cầu ngộ giải mà chỉ cầu nghe nhiều để tăng thêm ngã kiến, nghe nhiều như thế lại thành có hại. Cứ theo kinh Nguyệt đăng tam muội quyển 6 nói, thì nghe nhiều có mười điều lợi ích: 1. Biết phiền não làm cho nghiệp nhân thêm lớn. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết tất cả phiền não của chính mình và của chúng sinh đều tăng trưởng nghiệp nhân khiến phải chịu quả báo ở đời vị lai, cho nên cầu xuất li, chứ không để bị phiền não làm mê lầm. 2. Biết rõ sự trong sạch có năng lực phụ trợ đạo Bồ đề. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết tất cả hạnh thanh tịnh đều có thể giúp cho đạo Bồ đề, cho nên siêng năng tu tập cầu chứng quả Phật vô thượng. 3. Xa lìa ngờ vực. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà đối với tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian và các luận thuyết của tà ma ngoại đạo đều thông suốt rõ ràng, không còn nghi hoặc. 4. Thấy biết ngay thẳng. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết rõ tất cả pháp tà chính. Nếu có chúng sinh tà kiến tà luận thì nói về sự thấy biết ngay thẳng để sửa chỗ sai lầm của họ. 5. Xa lìa đường sai trái. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà hiểu rõ đạo lí thiện ác báo ứng, các pháp đồng duyên cho nên không làm những việc phi pháp như giết hại, trộm cướp v.v... 6. Không xa lìa đường chính. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà thông hiểu tất cả các pháp tà chính, nên chẳng bị những việc trái đạo lí làm mê hoặc, đối với chính pháp của Như lai thường được an trụ, không trở lui. 7. Mở cửa cam lộ. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà có thể đi sâu vào kho tàng chính pháp của Như lai, biết rõ pháp vị vô thượng, lại đem pháp vị ấy nhuần thấm chúng sinh, làm cho gốc lành của họ thêm lớn. 8. Gần Phật bồ đề. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà thường siêng năng tu tập, biết các hạnh: giới, định, tuệ có thể đưa đến Thánh quả, cho nên tâm thường an trụ, chăm chỉ tu đạo, nhờ đó mà gần quả Phật bồ đề. 9. Làm ánh sáng soi đường cho chúng sinh. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà biết chúng sinh đều bị vô minh che lấp, thường chịu khổ vì bóng tối; cho nên dùng đèn trí tuệ soi sáng khiến họ ra khỏi đêm dài tối tăm. 10. Không sợ đường ác. Người tu hạnh Bồ tát nhờ nghe nhiều mà hiểu biết thể của muôn pháp vốn vắng lặng, chẳng khổ, chẳng vui, cho nên phát tâm rộng lớn, tùy loại hóa độ hết thảy chúng sinh, dù có phải vào đường ác đầy dẫy hiểm nguy cũng không sợ hãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; Trung a hàm Q.36 kinh Cù mặc Mục kiền liên, Q.45 Tâm kinh; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55; luận Đại trí độ Q.3].
đa văn bộ
Bahuśrutīya (S), Bahusuttaka (P), Bahulika (P), Bahusrutiyah (S)Một trong 9 bộ phái trong Đại chúng bộ.
; Bahusrutiya (skt)—Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Đa Văn Bộ được nói đến trong các bia ký ở Amaravati, Nagarjunakonda và là một nhánh về sau của Đại Chúng Bộ. Bộ phái nầy được đề xướng bởi một luận sư rất uyên bác về triết lý Phật Giáo tên là Bahusrutiya. Về giáo lý cơ bản, Đa Văn Bộ cho rằng các lời dạy của Đức Phật về vô thường, khổ, không, vô ngã và Niết Bàn đều có ý nghĩa xuất thế vì sẽ dẫn đến giải thoát. Còn các lời dạy khác thì có giá trị thế tục. Ở điểm nầy, Đa Văn Bộ có thể được xem như là những người đi trước của phái Đại Thừa. Theo họ thì Tăng Già không phải chịu sự chi phối của các luật lệ thế tục. Họ cũng chấp nhận năm điều đề xướng của ngài Đại Thiên xem như quan điểm của mình. Trong một số vấn đề, chủ thuyết của họ có nhiều điểm tuơng đồng với phái Đông Tây Sơn Trụ Bộ, còn trong một số vấn đề khác thì họ lại ngả theo Nhất Thiết Hữu Bộ. Theo Paramartha, Đa Văn Bộ đã cố gắng hòa hợp hai hệ phái Thanh Văn và Đại Thừa. Bộ luận chính của hệ phái nầy là Thành Thật Luận. Đa Văn Bộ thường được xem là một cầu nối giữa trường phái chính thống và Đại Thừa, vì họ tìm cách phối hợp giáo lý của cả hai phái nầy. Harivarman tin vào sự vô ngã nơi con người và sự vô ngã nơi vạn pháp. Giống như những tín đồ của phái chính thống, ông tin vào tính chất đa nguyên của vũ trụ gồm tám mươi bốn yếu tố; và cũng giống như những người thuộc phái Đại Thừa, ông cho rằng có hai loại chân lý, chân lý quy ước và chân lý tuyệt đối. Đi xa hơn, ông còn cho rằng xét trên quan điểm tục đế (chân lý quy ước) thì có ngã thể (atma) hay sự phân xếp vũ trụ thành 84 pháp, nhưng trên quan điểm chân đế thì chẳng còn thứ nào cả, mà là sự rỗng không hoàn toàn (sarva-sunya). Ông tin vào thuyết Phật thân (Buddha-kaya) và Pháp thân (Dharma0kaya) mà ông giải thích là gồm có giới (sila), định (samadhi), tuệ (prajna), giải thoát (vimukti) và tri kiến giải thoát (vimukti-jnana-darsana). Mặc dù không thừa nhận bản chất siêu nhiên tuyệt đối của Phật, nhưng ông vẫn tin vào các quyền năng đặc biệt của Đức Phật, như thập Phật lực, và bốn điều tin chắc (vaisaradya) mà cả Thượng Tọa Bộ cũng chấp nhận. Ông cho rằng chỉ có hiện tại mới là có thực, còn quá khứ và tương lai thì không hiện hữu—The Bahusrutiya school is mentioned in the inscriptions at Amaravati and Nagarjunakonda and is a lter branch of the Mahasanghikas. Its owes its origin to a learned teacher in Buddhist lore. As for the fundamental doctrines of the Bahusrutiyas they maintained that the teachings of the Buddha concerning transitoriness (anityata), suffering (dhukha), the absence of all attributes (sunya), the non-existence of the soul (anatman), and the emancipation (nirvana) were transcendental (lokottara), since they ld to emancipation. His other teachings were mundane (laukika). On this point the Bahusrutiyas may be regarded as the precursors of the later Mahayana teachers. According to them, there was no mode which led to salvation (nirvanika). Further, the Sangha was not subject to worldly laws. They also accepted the five propositions of Mahadeva as their views. In some doctrinal matters they had a great deal in common with the Saila schools, while in others they were closely allied to the Sarvastivadins. According to Paramartha, this sub-sect made an attempt to reconcile the two principal systems of Buddhism, the Sravakayana and the Mahayana. Harivarman's Satyasiddhisastra is the principal treatise of tis school. The Bahusrutiyas are often described as a bridge between the orthodox and the Mahayana school, as they tried to combine the teachings of both. Harivarman believed in the absence of the soul in individuals (atma-nairatmya) and the soullessness of all things (dharma-nairatmya). Like the followers of the orthodox schools, he believed in the plurality of the universe which, according to him, contained eighty-four elements. Like the Mahayanists, he maintained that there were two kinds of truth, conventional (samvrti) and absolute (paramartha). He further maintained that, from the point of conventional truth, atma or the classification of the universe into eighty-four elements existed, but, from the point of view of the absolute truth neither existed. From the point of view of absolute truth there is a total void (sarva-sunya). He believed in the theory of Buddha-kaya as well as of Dharma-kaya, which he explained as consisting of good conduct (sila), concentration (samadhi), insight (prajna), deliverance (vimukti) and knowledge of and insight into deliverance (vimukti-jnana-darsana). Although he did not recognize the absolute transcendental nature of the Buddha, he still believed in the special powers of the Buddha, such as the ten powers (dasa balani), and the four kinds of confidence (vaisaradya) which are admitted even by the Sthaviravadins. He believed that only the present was real, while the past and the future had no existence.
; (多聞部) Phạm: Bàhuzrutìya hoặc Bàhulika, Pàli: Bàhussutaka hoặcBàhulika. Dịch âm: Ba thu lũ đa kha, Bà hống thâu để kha. Cũng gọi Đắc đa văn bộ. Một trong 20 bộ Tiểu thừa. Cứ theo luận Dị bộ tông luân, thì bộ này là từ trong Đại chúng bộ mà chia ra vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Về người sáng lập và danh xưng của bộ thì Dị bộ tông luân luận thuật kí cho biết: Thời đức Phật tại thế, có một vị A la hán tên là Tự bì y (cúng tế áo vỏ cây), xưa kia khi còn là vị tiên, lột vỏ cây làm áo để cúng tế trời, nên gọi Tự bì y. Về sau, Ngài xuất gia, đối với giáo pháp do đức Phật nói đều có thể trì tụng. Khi Phật vào Niết bàn, Tự bì y đang ngồi thiền trong núi Tuyết nên không được biết. Đến khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, Ngài mới ra khỏi núi Tuyết, đi đến nước Ương quật đa la để tìm kiếm người đồng tu, Ngài thấy Đại chúng bộ chỉ hoằng truyền nghĩa nông cạn của Tam tạng chứ không biết pháp sâu xa, nên Ngài thành lập một bộ phái riêng gọi là Đa văn bộ để nghiên cứu nghĩa thâm thúy của Tam tạng. Tông nghĩa của bộ này chia ngôn giáo của Phật làm hai loại: Thế gian và Xuất thế gian. Cứ theo luận Dị bộ tông luân nói, thì ngũ âm của Phật là giáo pháp xuất thế, gồm: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh. Năm pháp này có khả năng đưa chúng sinh vào con đường xuất li, nên gọi là giáo pháp xuất thế. Ngoài ra, theo Tam luận huyền nghĩa, trong nghĩa sâu xa mà Đa văn bộ hoằng hóa, có hàm nghĩa Đại thừa, và luận Thành thực chính đã từ bộ này mà ra, cho nên cũng mang một phần nghĩa Đại thừa. [X. luận Bộ chấp dị; luận Thập bát bộ; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Pháp hoa kinh huyền tán yếu tập Q.5]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
đa văn chủ
Xem Phổ môn thiên.
đa văn kiên cố
Firm erudition.
; (多聞堅固) Nghe nhiều bền chắc. Năm trăm năm thứ ba trong năm cái 500 năm. Đa văn nghĩa là biết rộng các pháp như: Đố-Tiệm, Thiên-Viên, Không-Hữu v.v... mà thụ trì. Đa văn kiên cố nghĩa là khoảng 500 năm thứ ba sau đức Phật nhập diệt, ở thời kì này người theo Phật giáo chỉ thích học rộng, nghe nhiều để phát triển về mặt lí thuyết, chứ ít người trực ngộ thực tế. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).
đa văn phân biệt bộ
Xem Thuyết giả bộ.
đa văn thiên
Xem Phổ môn thiênXem Dư Thiên vương.
; (多聞天) Trời Đa văn. Đa văn, Phạm: Vaizravaịa, Pàli: Vessaveịa. Dịch âm: Phệ thất la ma noa, Tì xá la môn, Tì sa môn. Cũng gọi Phổ văn thiên, Chủng chủng văn thiên. Một trong Tứ thiên vương, một trong Thập nhị thiên. Vị thần này giữ gìn phương bắc của châu Diêm phù đề, ở phía bắc của tầng thứ 4 núi Tu di, thống lĩnh hai chúng thần Dạ xoa, La sát và thủ hộ cả ba châu kia. Vì lúc nào vị thần này cũng giữ gìn đạo tràng, lắng nghe Phật pháp nên gọi là Đa văn. Vị Thiên vương này rất được người Ấn độ và vùng Tây vực tin thờ và cũng được tôn là thần Chiến thắng. Hình tượng phổ thông là hình Thần vương, tay trái bưng tháp báu, tay phải cầm gậy báu, chân đạp hai con quỉ. Vì thần này hay ban phúc đức nên cũng được xem là một trong bảy vị Phúc thần. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 ghi chép thì biết ở nước Vu điền tín ngưỡng đối với vị Thiên vương này rất thịnh. Còn Tống cao tăng truyện quyển 1 thì ghi, ở Trung quốc, vào khoảng năm Thiên bảo đời vua Huyền tôn nhà Đường cũng có loại tín ngưỡng này. Trong động Thiên Phật ở Đôn hoàng có đào được bức tranh mầu hình Tì sa môn vẽ trên lụa. Ở Nhật bản, trong chùa An mã có cất giữ tượng Bí Phật, tay trái chống vào trán, cũng có Đâu bạt tì sa môn, đây là do Mật giáo truyền vào sau này và được tôn thờ như một vị thần đơn độc. Ngoài ra, ở chùa Giáo vương hộ quốc có tàng trữ tượng Đa văn thiên (tạo vào đời Đường), tương truyền vốn là thần canh giữ thành vua và được đặt trên lầu cửa La thành. Hình tượng theo kiểu Tây vực, đầu đội mũ hình nhiều góc, mình mặc áo giáp bằng da rất bền chắc. Ở chùa Thê hà tại Tha nga cũng còn cất giữ một di tác Đa văn thiên khác. Ngoài ra, Đa văn thiên vương còn có các hình tượng như: 2 mình 4 tay, 10 tay v.v... Lại theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ và Thập nhị thiên nghi quĩ, thì chủng tử của Đa văn thiên là: (vai), hình tam muội da là gậy báu, chân ngôn là: Nam mạc tam mạn đa một đà nam phệ thất la phạ noa dã sa phạ hạ. Còn kinh Tì sa môn thiên vương thì nói, nếu tu pháp Đa văn thiên vương thì có thể được 10 điều lợi ích. [X. kinh Trường a hàm Q.24 phẩm Thiên vương; kinh Kim quang minh Q.2 phẩm Công đức thiên; kinh Đà la ni tập Q.10, Q.11; Đại nhật kinh sớ Q.5; Pháp hoa nghĩa sớ Q.12; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Thập Nhị Thiên, Tứ Thiên Vương).
Đa Văn Thiên Vương
xem Bốn Thiên Vương hộ thế.
đa văn thiên vương
Dhanada (S), Well-learnt 1- Nghe nhiều biết rộng 2- Đa văn thiên vương. Một trong 4 cõi dục giới của Tứ thiên vương thiên: Trì quốc thiên vương (đông), Tăng trưởng thiên vương (nam), Quảng mục thiên vương (bắc), Đa văn thiên vương( bắc) Xem Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn.
Đa văn thiên 多聞天
[ja] タモンテン Tamonten ||| Vaiśravaṇa. One of the four heavenly kings 四天王, who protects the northern region, ruling over the yakṣas 夜叉 and rākṣasas. Also written 毘沙門. => s: Vaiśravaṇa Một trong Tứ thiền thiên, trấn giữ phía Đông, cai quản các loài Dạ-xoa (夜叉 s:yakṣas) và La-sát (rākṣasas). Còn viết Tỳ-sa-môn 毘沙門.
Đa văn tạng
danh xưng dùng ngợi khen ngài A-nan là bậc nghe nhiều biết rộng, dịch sát nghĩa là “kho chứa (những điều) nghe nhiều”; nhưng ở đây không chỉ chung tất cả những điều được nghe, mà chỉ đến những kinh điển ngài A-nan đã nghe Phật thuyết giảng, vì thế chúng tôi dịch là Kho chứa Kinh điển để rõ ý hơn.
đa văn đại đệ tử
Đa Văn đệ nhứt—The chief among the Buddha's hearer: Ananda.
đa văn đệ nhất
The chief among the Buddha's hearers, Ananda.
; (多聞第一) Nghe nhiều bậc nhất. Chỉ cho tôn giả A nan. Trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật, ngài A nan là người nghe Phật nói pháp nhiều nhất và hiểu biết thông suốt, cho nên được gọi là Đa văn đệ nhất. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 558 thượng), nói: Người biết thời rõ vật, thông suốt không nghi, ghi nhớ chẳng qua nghe nhiều hiểu rộng, đủ khả năng lãnh trách nhiệm phụng sự đức Phật: đó là tỉ khưu A nan. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 hạ), nói: A nan thấy Phật, đính lễ buồn khóc, giận mình từ vô thủy đến nay chỉ một mực nghe nhiều, tuy xuất gia đã lâu mà đạo lực không có. (xt. A Nan).
Đa văn 多聞
[ja] タモン tamon ||| To learn much through listening extensively. Widely learned; broad knowledge. => Biết nhiều thông qua nghe nhiều. Học rộng, kiến thức uyên bác.
đa âm
Polysyllabic—Polyphonic.
đa đa
(多多) Phạm: Tàta. Cổ ngữ của Ấn độ, hàm ý là cha. Còn mẹ thì tiếng Phạm làambà, tiếng Pàli là ammà (dịch âm: A ma).
đa đoan
Complicated affairs.
đa đà a già đà
Xem Như Lai.
; Tathagata (skt)—See Như Lai in Vietnamese-English Section and Tathagata in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
đa đà a già độ
Tathagata (skt)—See Đa Đà A Già Đa.
đa đạt ma phái
Thuddhamma (P)Một tông phái Phật giáo Miến điện.
Đa-hu-pi-la
S: dhahulipa hoặc dhaguli, dhahuri, dharuri; »Người thắt dây phồng tay«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ða-hu-li-pa người xứ Ðô-ka-ra (s: dhokara), làm nghề bện dây. Ngày nọ ông bện dây quá nhiều, tay ông phồng lên, đau nhức vô kể. Tình cờ một Du-già sư (s: yogin) đi qua, dừng lại hỏi han ông. Vị này nói ông nếu chỉ như thế mà đã than khóc thì sẽ khổ não thế nào nếu phải tái sinh trong ác đạo. Nghe xong, ông lấy làm sợ hãi, xin tu tập đạo pháp. Vị Du-già sư cho ông nhập môn, ban phúc lành rồi dạy ông quán tưởng như sau:|Trước mặt sợi dây thừng,|cùng hình ảnh chiếc dây,|cả hai – ngươi thử nghĩ,|nằm trong Không vô biên.|Sau đó gắng tinh cần,|quán tưởng không giao động,|về một thể uyên nguyên,|không hề có Tự ngã.|Người bện dây nghe lời, quán tưởng liên tục 12 năm. Ông bỗng ngộ rằng cái gọi là »dây« không có tự ngã gì cả, nó chỉ là một hiện tượng cảm thụ tương đối; và thật thể của cảm thụ này bao trùm như không gian rộng lớn thanh tịnh. Ông chứng rằng hiện tượng và khái niệm về hiện tượng chỉ là một, nó nằm trong Pháp giới (s: dharmadhātu) và ông đạt quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmu-drāsiddhi). Ông sống thêm 700 năm nữa để giáo hoá. Bài thánh ca của ông như sau:|Không gian phi nhị nguyên,|chứa đựng đầy tri kiến,|»hai trở về thành một«|cố tìm thì không ra.|Hãy để tâm vô vi,|trong dạng định tĩnh đó,|Lạc thanh tịnh sẽ lên.||H 23: Ða-la. Trong hình này, Ða-la được trình bày với hai hoa sen, nở búp và xoè. Có sách giảng nghĩa là sen nở búp chỉ ban đêm và xoè là ban ngày và như vậy, Ða-la sẵn lòng cứu độ chúng sinh không kể ngày hay đêm.
Đa-la
多羅; S: tārā; cũng được dịch nghĩa là Ðộ mẫu (度母), Duyên độ mẫu (緣度母);|Theo Phật giáo Tây Tạng, Ða-la là một hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, sinh ra từ »nước mắt« của Ngài để hỗ trợ chính pháp.|Ða-la là hiện thân dạng nữ nhân của lòng Từ bi và là một vị thần rất được Tây Tạng tôn thờ. A-đề-sa là người đầu tiên thờ nữ thần Ða-la trong thế kỉ thứ 11 và kể từ đó nữ thần này trở thành một Hộ Thần (t: yidam) của nhiều người Tây Tạng. Có đến 21 dạng Ða-la, khác nhau về màu sắc, hình dáng, trang sức, hiện ra trong dạng hiền từ hoặc dữ tợn. Màu sắc thông thường hay thấy của Ða-la là màu lục và trắng. Hai phu nhân của vua Tùng-tán Cương-bố (t: songtsen gampo) trong thế kỉ thứ 7 được xem là hiện thân của hai vị này.
đa-la
tên cây phiên âm từ Phạn ngữ là tla, tên khoa học là borassus flabelliformis, mọc phổ biến ở Ấn Độ, Myanma, Śrỵ Lanka và một số vùng nhiệt đới thuộc châu Phi. Cây cao to, mọc thẳng, hoa trắng lớn, trái chín màu đỏ, ăn được. Lá cây có phiến lớn, rộng, xưa dùng để viết chữ lên và lưu giữ được, gọi là lá bối-đa-la, hay lá bối, đặc biệt là giai đoạn đầu tiên của việc ghi chép kinh điển chủ yếu dùng loại lá bối này, nên gọi là bối diệp kinh. Chiều cao cây trung bình khoảng bảy, tám mươi thước cổ (mỗi thước cổ khoảng 0,33 mét), nhưng trong Huệ uyển âm nghĩa nói rằng người xưa ước lệ chiều cao cây này là 10 trượng (tức 100 thước cổ) để làm đơn vị đo chiều cao. Nếu vậy thì ngang tầm một cây đa-la tức là khoảng hơn 30 mét. Đa-la là loại cây khi bị chặt đứt ngọn thì không thể mọc lên được nữa, cũng như cây dừa, cây cau... Vì thế, trong giới luật đức Phật thường dùng hình ảnh cây này để ví dụ những trường hợp phạm tội không thể cải hối.
Đa-la thọ 多羅樹
[ja] タラス taraju ||| A transliteration of the Sanskrit tāla. Also written in Chinese gaosongshou 高竦樹. A tree resembling the palm, which reaches a height of approximately 25 meters. Its flowers are white and its fruit is red, resembling a pomegranate. Its leaves are big enough to use as fans, and were also used for writing on. => Phiên âm từ chữ tāla trong tiếng Sanskrit. Tiếng Hoa còn viết là Cao tủng thọ (高竦樹c: gaosongshou ). Một loại cây tương tự như cây cọ, vươn đến tầm cao 25 mét. Hoa màu trắng, trái màu đỏ, tương tự như quả lựu. Lá rất lớn, có thể dùng làm quạt, cũng được dùng để viết trên đó.
Đa-la 多羅
[ja] タラ tara ||| (1) An abbreviation for the translation of pātra (鉢多羅), a flat silver bowl placed in front of the Buddha image at ceremonies for incense, etc. (2) A transliteration of tāla, a kind of tree. See 多羅樹 (tuoluoshou). (3) A transliteration of tārā, the pupil of the eye. (4) An abbreviation of the transliteration of xiuduoluo 修多羅, Sanskrit sūtra. (5) In the Esoteric sect, a transliteration for tārani, a woman bodhisattva. => 1. Viết tắt của từ dịch âm Bát-đa-la (鉢多羅s: pātra ), một cái bát bằng bạc hơi phẳng, đặt trước mặt tượng Phật để cắm hương trong những buổi lễ. 2. Phiên âm của chữ tāla, là một loại cây. Xem Đa-la thọ (多羅樹 c: tuoluoshou). 3. Phiên âm của chữ tārā, con ngươi của mắt. 4. Viết tắt của từ phiên âm Tu-đa-la (修多羅s: sūtra; c: xiuduoluo). 5. Trong Mật giáo, là tiếng phiên âm của tārani, một vị nữ Bồ-tát.
Đa-ma-la-bạt 多摩羅跋
[ja] タマラハツ tamarahatsu ||| A kind of fragrant plant called tamāla-pattra, which is used for making incense. Translated into Chinese as 藿葉香and 芬香. 〔法華經 T 262.9.21c24〕 => Một loại thực vật có mùi thơm gọi là cây tamāla-pattra, dùng để làm hương. Dịch sang tiếng Hán là Hoắc diệp hương (藿葉香), Phần hương (芬香).
Đa-ri-ka-pa
S: dārikapa; »Vương giả, nô lệ của kĩ nữ«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Lu-i-pa (s: lūipa), sống trong thế kỉ thứ 9. Chuyện này thường được kể chung với chuyện Ðen-gi-pa (s: deṅgipa).|Ða-ri-ka-pa vốn là nhà vua In-đra-pa-la (s: in-drapāla) của thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra). Lần nọ, nhà vua đi săn về thì gặp Ðạo sư Lu-i-pa, ông tỏ lòng quý trọng, muốn mời vị này về hoàng cung, nhưng Lu-i-pa từ chối. Sau đó ông quyết tâm học đạo, nhường ngôi cho con và cùng Ðen-gi-pa (s: deṅgipa) tìm Lu-i-pa. Lu-i-pa cho ông nhập dòng Ca-kra-sam-vara tantra, nhưng vì cả hai không có gì để cúng dường, họ tình nguyện dâng thân mình. Lu-i-pa đem cả hai đến xứ Bi-ra-pu-ri (s: bhirapu-rī) thành Jan-ti-pur (s: jaṅtipur) và bán ông cho nàng Ða-ri-ma (s: darima), kĩ nữ chúa của một ngôi đền tại đó. Lu-i-pa nhận tiền, cùng Ðen-gi-pa đi mất.|Ông phục vụ cho Ða-ri-ma suốt 12 năm nhưng luôn luôn tu học theo lời dạy của Ðạo sư. Ngày nọ có một khách làng chơi – cũng là một nhà vua – đến chơi đền. Trong đêm, khách ra ngoài bài tiết thì thấy trong một bụi cây có hào quang toả ra. Khách ngạc nhiên thấy tên nô lệ của Ða-ri-ma ngồi trên ngai, được 15 tiên nữ hầu hạ. Khách liền gọi Ða-ri-ma, mọi người lúc đó mới biết tên nô lệ là một thánh nhân. Ða-ri-ma tạ lỗi, xin ông nhận lời làm Du-già sư trong đền, nhưng ông từ chối; ngược lại ông nhận Ða-ri-ma và khách làm đệ tử. Ông ngồi trên không trung hát:|Tài sản của vua chúa,|kể cả lọng, voi, ngai,|nhạt mờ bên cạnh ta.|Lọng giải thoát che đầu,|ta cưỡi xe đại thừa,|ngồi trên ngai ba cõi:|niềm vui Ða-ri-ka.|Bài kệ chứng đạo của ông có những dòng sau:|Cõi Cực lạc trong ta,|vì mê vọng che khuất.|Hãy vun bồi thiện nghiệp,|và huệ giác huyền bí,|để trực nhận cõi này.|Dù cho sống trăm năm,|dù cho cố vun bồi,|thiện nghiệp và huệ giác,|mà không có Ðạo sư,|cũng không đạt Cực lạc.
đa-ri-ni
Dharini (S)Mật chú được mở rộng để định tâm. Nghĩa và âm không được liên hệ gì đến những điều có nghĩa khác.
đai
1) To bear. 2) A belt.
đai bi tâm đ
à la ni Karuṇika-hṛdaya-dhāraṇī (S)Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm Đà la ni, Đại bi chúCâu chú của ngài Quán thế âm truyền dạy, có Phật Thích ca chứng minh.
đam bô la
(耽餔羅) Phạm: tàmbùla. Cũng gọi Đảm bộ la, Thiệm bộ la. Tên khoa học: Piper batler. Loại thực vật thường xanh thuộc họ hồ tiêu, tức là cây trầu, sinh sản ở vùng nhiệt đới như các nước: Ấn độ, Tích lan, Miến điện, v.v... Lại có mùi thơm,cặp với chút hạt cau và vôi để nhai, giúp việc tiêu hóa, mà cũng có thể làm cho người nhai hơi say. Các vị tỉ khưu cũng thường nhai trầu. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 66 (Đại 54, 745 trung), nói: Đam bô la (...) là tên quả thuốc bên Ấn độ. Đàn bà địa phương phần nhiều ngậm thuốc này. [X. luận Tập dị môn túc Q.4].
đam bổ la
See Đảm Bộ La.
đam ma lật để quốc
(耽摩栗底國) Đam ma lật để, Phạm: Tàmralipti. Tên một nước xưa thuộc miền Đông Ấn độ ở ngay cửa sông Hằng, nơi mà đường lưu thông trên biển và trên bộ gặp nhau, là một hải cảng quan trọng, cho nên thương nghiệp rất phát đạt. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10 ghi, thì ở nước này có hơn 10 ngôi già lam với hơn nghìn vị tăng và hơn 50 ngôi đền thờ trời. Ngài Huyền trang đã từng đến đây và muốn vượt biển sang nước Sư tử (Tích lan), sau nghe lời khuyên của một vị sa môn, ngài đổi hướng đi xuống miền Nam đến nước Ô đồ. Ngài Nghĩa tịnh cũng đã từng ở đây một năm để học Thanh luận và tiếng Phạm. Hiện nay, nơi này là vùng đất Tamluk trên hữu ngạn sông Hughly, chỉ còn một hải cảng nhỏ, còn thành phố thủa xưa thì đã chìm sâu 6m dưới mặt nước. Gần đây, người ta đã đào được nhiều di vật. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, X) i; N.L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].
đam mê
1) (n) Passion—Indulgence. 2) (v) To indulge—To have a great desire for—To have a passion for.
Đam Nguyên Ứng Chân
耽源應真; C: dānyuán yìngzhēn; J: tangen ō-shin; 8/9. tk.;|Thiền sư Trung Quốc. Sư là môn đệ của Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và được Quốc sư truyền cho cách sử dụng 97 viên tướng, có thể hiểu là một hệ thống truyền pháp bí mật siêu việt chỉ dành cho những người hạng thượng căn. Sư truyền lại hệ thống này cho Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Tổ thứ hai của tông Quy Ngưỡng và từ đây hệ thống 97 viên tướng trở nên một thành phần giảng dạy của các Thiền sư trong tông này.
đam nguyên ứng chân
Tangen Oshi (J), Danyuan yingzhen (C), Tangen Ōshin (J)Tên một vị sư.
Đam Nguyên 耽源
[ja] トンゲン Tangen ||| Danyuan; see Yingzhen 應眞. Tangen (j); Danyuan (c); => Xem Ứng Chân (c: Yingzhen 應眞).
đam thị y
(耽嗜依) Chỗ nương của sự ham thích. Tức là cảm nhận mừng, cảm nhận lo, cảm nhận không mừng không lo. Ba cảm nhận này là nhiễm ô, là chỗ nương của các phiền não. Trái lại, ba cảm nhận thiện, gọi là Xuất li y, là chỗ nương để ra khỏi cõi mê đắm. [X. luận Đại tì bà sa Q.190; luận Câu xá Q.10; luận Du già sư địa Q.3].
Đam trước 耽著
[ja] トンジャク tanjaku ||| Addiction; desire and attachment. => Mê đắm, ham muốn và dính mắc.
đan
1) Màu đỏ—Red—Cinnabar colour. 2) Phương thuốc: A remedy—Drug—Elixir.
; (單) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tờ giấy ghi chép văn thư, đơn từ hoặc các việc trong tùng lâm, gồm có các loại: 1. Danh đơn, gọi tắt là Đơn. Miếng giấy ghi tên mỗi người, dán ở chỗ ngồi, hoặc dán ở giường nằm của mình trong nhà Tăng. Thông thường dùng giấy mầu hồng để ghi. 2. Bạ đơn, cuốn sổ ghi tên của tăng chúng trong tùng lâm. 3. Thảo đơn, cuốn sổ ghi tuổi hạ (sổ tăng tịch) của chư tăng trong thời kì an cư. 4. Sai đơn, cũng gọi Sai trướng, Sai định. Tờ giấy ghi các chức vụ theo thứ tự đã được luân phiên phân bổ. 5. Kinh đơn, tờ giấy vàng ghi tên các bộ kinh mà đại chúng phải đọc tụng hàng ngày. 6. Đơn trướng, sổ chi thu tiền bạc. 7. Nhật đơn, giấy ghi chép các khoản chi thu mỗi ngày. 8. Tuần đơn, giấy ghi chép các khoản chi thu 10 ngày một lần. 9. Nguyệt đơn, giấy ghi các khoản thu chi hàng tháng. 10. Đơn ngân, cũng gọi Đơn sấn. Tờ giấy ghi các khoản chi linh tinh phát cho chúng tăng thường trụ hàng tháng. 11. Đơn vị, gọi tắt là Đơn. Cũng gọi Quải đáp đơn. Chỗ ngồi hoặc nằm của mỗi người trong nhà Tăng. Chỗ ngồi hoặc nằm này dài 6 thước (Tàu), rộng 3 thước. Hai đơn ở hai bên cạnh mình gọi là Lân đơn. Khi từ biệt chùa viện mà đi gọi là Khởi đơn, hoặc gọi là Trừu đơn (rút đơn). Những đồ dùng khi ngủ nghỉ, gọi là Miên đơn; cái mền để đắp, gọi là Bị đơn. Khai sáng tăng đường gọi là Khai đơn. Nếu người phạm giới bị đuổi ra khỏi chùa, gọi là Thiên đơn. [X. mục Thỉnh tang tư chức sự, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; mục Du phương tham thỉnh, mực Nhật tụng quĩ phạm, chương Đại chúng, mục Hạ tiền xuất thảo đơn, chương Tiết lạp và mục Phó tự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Thiền uyển thanh qui Q.1, Q.2; mục Tạp chí trong Tổ đường sự uyển Q.8; Kết chế thảo đơn pháp trong Tăng đường thanh qui Q.3]. (xt. Đơn Trướng, Thỉnh Giả).
đan ba tang kết
(丹巴桑結) (? - 1117) Tạng: Dam-pa saís-rgysa. Vị tăng du phương người Nam Ấn độ truyền bá giáo pháp của phái Giác vực (Tạng: Good-yul-pa) và phái Hi giải (Tạng: Shibyed-pa) thuộc Phật giáo Tây tạng. Thủa nhỏ sư học Văn pháp, sau xuất gia theo ngài Quật tiết ma đề bà (Phạm: Kwemadeva) học tập giới luật và giữ giới rất nghiêm. Sư đã đến Tây tạng năm lần, truyền pháp ở miền Nam Tiền tạng và Hậu tạng. Giáo pháp của sư chủ yếu là Bát nhã, còn về Mật pháp thì sư truyền pháp môn Đại ấn. Năm Thiệu thánh thứ 4 (1097), sư xây chùa ở gần Định nhật tại Hậu tạng. Tương truyền lúc về già sư từng đến chiêm bái núi Ngũ đài. Sau khi sư tịch, chư tăng trong nước vẽ hình sư để lưu truyền. Giáo pháp do sư truyền được hình thành làm hai phái: 1. Phái Hi giải, tu hành theo nghĩa kinh Bát nhã, cốt yếu dứt trừ tất cả phiền não sinh tử. 2. Phái Giác vực, tuyên giảng tâm bồ đề từ bi và kiến giải tính không. Riêng phái Hi giải sau được truyền bá khắp nước Tây tạng, rồi lan cả đến Trung quốc, cũng gọi là phái Đan ba (Tạng:Dampa-ba) và ngài Đan ba tang kết được tôn làm Tổ khai sáng của phái này. [X. Deh-ther síon-po (The Blue Annals); G. Tucci: Tibetan Painted Scrolls; L. A. Waddell: The Buddhism of Tibet; H. Hoffmann: Die Religionen Tibets (The Religions of Tibet)].
đan bạch
(單白) Cũng gọi Bạch nhất, Đơn bạch pháp, Bạch yết ma. Một trong ba loại yết ma, một trong bốn loại yết ma. Bạch trước mọi người một lần. Theo tác pháp yết ma, đối với những việc nhỏ nhặt, tầm thường hàng ngày, thì khi bàn bạc (yết ma) chỉ cần bạch cho chúng tăng biết một lần là việc ấy đã thành. Gồm có 39 việc thuộc Đơn bạch như: Thuyết giới, hành bát, cạo tóc v.v... [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.2; Tứ phần luật hành sự sao Q.thượng phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 1; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.1]. (xt. Yết Ma).
đan bện vào nhau
To be woven.
đan châu nhĩ
(丹珠爾) Tạng: Bstan-ḥgyur. Một trong hai bộ Đại tạng kinh Tây tạng. Đại tạng kinh Tây tạng được chia làm hai bộ: Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ. Cam nghĩa là giáo, Đan nghĩa là luận, còn Châu nhĩ thì nghĩa là phiên dịch. Như vậy, Cam châu nhĩ là Giáo thuyết phiên dịch, còn Đan châu nhĩ là Luận trứ phiên dịch. Cam châu nhĩ cũng gọi là Chính tạng, còn Đan châu nhĩ thì gọi là Phó tạng, Tạp tạng, Tục bộ v.v... đây là cách phân loại đặc biệt của ngài Bố đốn (Tạng: Bu-ston), sau trở thành phương thức nhất định. Nội dung của Đan châu nhĩ bao gồm những lời dạy, sách chú thích, nghi quĩ Mật giáo, truyện kí, ngôn ngữ, văn tự v.v... của các Luận sư. Ngoài ra, còn thu chép những sách soạn thuật của Tây tạng. Ngài Bố đốn chia Đan châu nhĩ làm 3 môn: 1. Luận thích sơ pháp luân là luận Tiểu thừa. 2. Luận thích trung pháp luân là các luận Trung quán bát nhã. 3. Luận thích hậu pháp luân là các kinh Du già. Trong ba môn trên, mỗi môn lại chia làm hai mục: Quán và Hành. Đây là tổ chức phán giáo căn cứ theo thứ tự Tam luân thuyết pháp của đức Phật. Ngoài ra, do nội dung không giống nhau, các luận điển lại được chia làm 3 loại: Thuyết thế tục đế luận điển, Thuyết thắng nghĩa đế luận điển và Thuyết giải thoát đạo luận điển. Trong đó, Thuyết thế tục đế luận điển lại được chia ra 3 bộ môn: 1. Luận điển có tính cách phổ thông về đạo xử thế. 2. Luận điển có tính cách chuyên môn về lợi tha (gồm 4 loại: Nhân minh, Thanh minh, Y phương minh, Công xảo minh). 3. Luận điển có tính cách tự lợi (tức là Nội minh). Các bản in của Đại tạng kinh Tây tạng thì rất nhiều, nhưng tiêu biểu nhất thì có: Đức cách tạng, Tân nại đường tạng, Bắc kinh tạng v.v... Ba loại bản in này đều chia làm hai bộ Cam châu nhĩ và Đan châu nhĩ. Trong đó: - Đan châu nhĩ của tạng Cách đức bao gồm Tán tụng bộ, Bí mật bộ, Bát nhã bộ, Trung quán bộ, Kinh sớ bộ, Duy thức bộ, Câu xá bộ, Luật bộ, Phật truyện bộ, Thư hàn bộ, Nhân minh bộ, Thanh minh bộ, Công xảo minh bộ, Tây tạng soạn thuật bộ, Bổ di kinh luận bộ và Tổng mục lục, tất cả có 213 hòm, hơn 3.400 bộ. - Đan châu nhĩ của tạng Tân nại đường bao gồm Tán tụng bộ, Bí mật bộ, Kinh thích bộ, Thanh minh bộ v.v... và mục lục, được thu vào 224 hòm. - Bộ phận Đan châu nhĩ của tạng Bắc kinh thì có Tán tụng bộ, Bí kinh sớ bộ (chia ra 24 hạng mục gồm Thời luân bộ v.v..), Kinh sớ bộ (chia làm 12 hạng mục gồm Bát nhã bộ v.v..), còn phụ thêm Bổ di kinh, Tây tạng soạn thuật, Nguyện văn v.v... tất cả là 224 hòm, hơn 5.100 bộ.
đan hà
Thiền sư nổi tiếng Trung quốc (739-824), là môn đồ kế vị của Thạch Đầu Hy Thiên. Ông nổi tiếng vì thái độ và bản tánh tự nhiên của mình. Người ta kể rằng trong một lần về thăm Mã tổ, trong khi ngồi chờ Mã Tổ ra tiếp, ông bèn nhảy thót lên vai tượng Văn Thù. Chư Tăng trong tự viện của Mã Tổ tỏ ra giận dữ, nhưng khi Mã Tổ ra đón thì Ngài cười tiếp Đan Hà mà rằng: “Con của ta, con thật là tự nhiên.” Một lần khác khi ông ghé lại một thiền viện, vì trời lạnh nên ông lấy pho tượng Phật trên chánh điện xuống đốt để sưởi ấm. Sư trụ trì trách ông bất kính với một pho tượng thiêng liêng, thì ông trả lời rằng ông đốt để lấy xá lợi, vị sư tưởng ông ngờ nghệch, bèn cười mà hỏi vặn lại ông làm sao tìm được xá lợi trong pho tượng gỗ trả lại cho sư, Đan hà bèn cười to mà rằng: “thế sư lại trách ta đốt gỗ?”—Tan Hsia—A famous Chinese Zen master (739-824), a student and dharma succesor of Shih-t'ou His-ch'ien. He was famous for his natural personality. It is said that one time he returned to see Ma-tsu and while waiting for Ma-tsu to come out to welcome him, he sat himself astride the neck of a statue of Manjusri and caused ourageous opposition from all the monks in Ma-tsu's monastery; however, when Ma-tsu came out, greeted him with a smile and the words: “My son, you are very natural.” Another time when he wandered around the country, once he spent the night in a Zen temple. It was so cold outside, so he took a wooden buddha statue off the shrine to make a fire to warm himself. The abbot (temple priest) told him that as a monk, he should pay respect to the sacred statue. Tan Hsia said, “If you say so, I will get the Buddha's relics out of the ashes and give them back to you." The abbot laughed thinking that this is a dull monk. He told Tan Hsia, “How can you expect to find Buddha's relics in wood?” Tan-Hsia burst out laughing and replied,”Why are you bearing me then for burning the wood?”
đan hà ngật phạn dã vị
(丹霞吃飯也未) Đan hà ăn cơm chưa? Tên công án trong Thiền lâm. Cũng gọi Đan hà vấn thậm xứ lai (Đan hà hỏi từ đâu đến?), Đan hà vấn tăng (Đan hà hỏi vị tăng). Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Đan hà Thiên nhiên và một vị tăng. Bích nham lục tắc 76 (Đại 48, 203 trung) chép: Đan hà hỏi vị tăng: - Từ đâu đến? Vị tăng trả lời: - Dưới núi đến. Sư hỏi: - Ăn cơm chưa? Tăng đáp: - Ăn rồi! Sư hỏi tiếp: - Người đem cơm tới cho ông ăn còn đủ mắt không? Vị tăng không trả lời được. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Liên đăng hội yếu Q.19; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.14].
Đan Hà Thiên Nhiên
丹霞天然; C: dānxiá tiānrán; J: tanka tennen; 739-824;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất và cũng là thầy của Thiền sư Thuý Vi Vô Học. Sư là nhân vật chính trong Công án 76 của Bích nham lục.|Như Thiền sư Viên Ngộ Phật Quả thuật lại trong Bích nham lục, Sư trước học Nho đi vào Trường An ứng thi làm quan. Trên đường đi Sư gặp một thiền khách, ông ta hỏi: »Nhân giả đi đâu?« Sư đáp: »Ði thi làm quan.« Ông khách lại nói: »Thi làm quan đâu có bằng thi làm Phật.« Sư hỏi: »Thi làm Phật phải đến chỗ nào?« Ông khách đáp: »Hiện nay ở Giang Tây có Mã Ðại sư ra đời, là trường thi làm Phật, nhân giả nên đến đó.« Sư bỏ thi, tìm đến Giang Tây ra mắt Mã Tổ. Mã Tổ lại khuyên Sư đến Thạch Ðầu Hi Thiên.|Ðến Thạch Ðầu, Sư luân phiên làm bếp ba năm (Ðiển toạ). Một hôm Thạch Ðầu bảo chúng: »Ngày mai cắt cỏ ở dưới điện Phật.« Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quì gối trước Hoà thượng. Thạch Ðầu thấy thế cười liền cạo tóc cho Sư. Cạo xong Thạch Ðầu lại vì Sư nói Giới (s: śīla), Sư bịt tai ra đi.|Trở lại Giang Tây yết kiến Mã Ðại sư, chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng vào tăng đường trèo lên cổ tượng Văn-thù ngồi. Ðại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã Tổ hay. Tổ đích thân vào tăng đường trông thấy bèn nói: »Con ta, Thiên Nhiên!« Sư bèn bước xuống lễ bái, thưa: »Cảm tạ thầy ban cho pháp hiệu.« Mã Tổ hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Thạch Ðầu đến.« Tổ hỏi: »Ðường Thạch Ðầu trơn, ngươi có té chăng?« Sư đáp: »Nếu có trợt té thì chẳng đến đây.«|Sau khi từ biệt Mã Tổ, Sư vẫn tiếp tục du phương. Ðến chùa Huê Lâm, gặp lúc trời lạnh, Sư bèn lấy tượng Phật gỗ đốt để sưởi, viện chủ trông thấy quở: »Sao đốt tượng Phật của tôi?« Sư lấy gậy bới tro nói: »Tôi đốt tìm Xá-lị.« Viên chủ bảo: »Phật gỗ làm gì có Xá-lị?« Sư nói: »Ðã không có Xá-lị thì thỉnh thêm hai vị nữa đốt.« Viện chủ nghe câu này tất cả kiến chấp đều tan vỡ.|Niên hiệu Trường Khánh năm thứ tư (824) ngày hai mươi ba tháng sáu Sư gọi đệ tử bảo: »Lấy nước nóng tắm, ta sắp đi đây.« Tắm xong, Sư đội mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa đến đất liền tịch. Vua sắc phong là Trí Thông Thiền sư.
đan hà thiêu phật
(丹霞燒佛) Đan hà đốt tượng Phật. Tên công án trong Thiền lâm. Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 48 thượng) chép: Một hôm sư đến chùa Tuệ lâm, gặp thời tiết giá lạnh, sư lấy tượng Phật bằng gỗ đốt để sưởi ấm. Viện chủ trách rằng: - Sao lại đốt tượng Phật của tôi? Sư đưa gậy bới đám tro nói: - Tôi đốt để lấy xá lợi! Viện chủ nói: - Tượng Phật bằng gỗ làm gì có xá lợi? Sư nói: - Nếu không có xá lợi thì đốt pho tượng khác!. Viện chủ từ đó về sau rụng cả râu mày. Điểm cốt yếu trong công án này nhằm cảnh giác người tu hành chân chính, nếu cứ cố chấp tượng gỗ là Phật mà không quán xét tâm tính, chiếu phá vô minh, khơi mở trí tuệ vô lậu, thì khó có cơ đạt được giác ngộ giải thoát.
Đan Hà Tử Thuần
丹霞子淳; C: dānxiá zǐchún; J: tanka shijun; ?-1119;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng đời thứ chín. Sư nối pháp Thiền sư Phù Dung Ðạo Khải. Môn đệ của Sư có hai vị xuất sắc nhất là Chân Yết Thanh Liễu và Hoằng Trí Chính Giác.|Sư họ Cổ, quê ở Kiếm Châu, khoảng 20 tuổi xuất gia. Nơi Phù Dung, Sư được triệt ngộ. Sau Sư đến trụ núi Ðan Hà tại Ðặng Châu.|Sư dạy chúng: »Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa, lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn, sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm, lại qua thường ở trước trăng trong.«|Có vị tăng hỏi: »Ngưu Ðầu (Thiền sư Pháp Dung) khi chưa thấy Tứ tổ thế nào?« Sư đáp: »Cúc vàng vừa nở ong đua hút.« Tăng hỏi: »Sau khi thấy thế nào?« Sư đáp: »Mầm khô hoa rụng rõ không nương.«|Ðến khoảng niên hiệu Tuyên Hoà (1119-1121) vào mùa xuân, Sư viên tịch, tháp được xây ở phía Nam Hồng Sơn.
đan hà tử thuần thiền sư ngữ lục
(丹霞子淳禪師語錄) Cũng gọi: Tùy châu đại hồng sơn Thuần thiền sư ngữ lục, Diệu tục đại sư ngữ lục. Gồm 2 quyển, do thiền sư Đan hà Tử thuần (1064 - 1117) thuộc tông Tào động soạn vào đời Tống, ngài Khánh dự kiểm xét lại, thu trong Vạn tục tạng tập 124. Nguyên bản của bộ ngữ lục này đã bị thất lạc, bản hiện còn do ngài Lương cơ (con cháu xa của ngài Tử thuần) biên chép lại. Quyển thượng gồm: Thướng đường pháp ngữ, Chân tán v.v... được lấy ra từ bộ Sư trụ đại hồng ngữ lục 1 quyuển do ngài Đại dung Phạm thanh (pháp tôn đời thứ 13 của ngài Tử thuần) chép tay. Quyển hạ thu tập thêm: Một số Thướng đường pháp ngữ, Cử cổ và các bài tụng cổ nói về cơ duyên ngữ cú của các bậc tông sư trong Thiền lâm như: Thanh nguyên, Dược sơn, Đạo ngô, Vân nham, Động sơn, Tào sơn, Huyền sa, Đầu tử, Đạo khải v.v...
đan liêu
(單寮) Cũng gọi Độc liêu. Trong các chùa viện Thiền tông, phòng liêu chỉ dành cho một người ở, gọi là Đơn liêu, và người ở một mình như thế cũng gọi là Đơn liêu. Đơn liêu chỉ được dành riêng cho các chức sự đã nghỉ việc như: Đầu thủ, Tri sự hoặc các vị Trưởng lão từ nơi khác đến. [X. mục Trụ trì nhật dụng, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].
đan phức
(單複) Đơn, chỉ cho Thiền tông; Phức, chỉ cho các tông phái khác. Bài Tựa trong kinh Đại phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa (Đại 39, 524 trung), nói: Ba quán trong suốt. Chân giả đều vào. Các luân xen lẫn. Đơn phức viên tu. Bốn tướng tiềm thần.
đan sá nhi mã mục lục
(丹卡兒瑪目錄) Tạng: Phobraí stod-thaí ldan-dkargyi bka# daí bstan-bcos #gyur-ro-coggi dkar chag. Tên đầy đủ: Đan ca nhi mã cung điện dịch kinh luận mục lục. Có 1 quyển, do Phổ tử kết (Tạng: Dpalbrtsegs) và Lỗ hưng bảo (Tạng: Klu#i dbaípo) cùng biên tập. Đây là bản mục lục kinh Phật xưa nhất hiện còn tại Tây tạng và được thu vào Đan châu nhĩ tập. Về niên đại biên soạn mục lục này, cho đến nay vẫn chưa có thuyết nào chính xác, nhưng đại khái được suy đoán là vào khoảng giữa thế kỉ VIII và thế kỉ IX. [X. Tây tạng đại tạng kinh kinh bộ mục lục bộ tự thuyết; Tây tạng Phật học nguyên luận (Lữ trừng)].
đan tam phức tam cụ túc nhất
(單三複三具足一) Cũng gọi Thất chủng lập đề. Bảy cách đặt tên kinh do ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai dựa vào ba hạng mục lớn: Nhân, Pháp, Thí (thí dụ) mà đặt ra để phân biệt ý chỉ của tên kinh. Bảy cách ấy là: 1. Đơn nhân lập đề: Chỉ dùng người để đặt tên kinh, như kinh Phật thuyết A di đà, thì trong đó Phật (tức Phật Thích ca) và A di đà (tức Phật A di đà) đều là người. Phật Thích ca là người năng thuyết, còn Phật A di đà là sở thuyết. 2. Đơn pháp lập đề: Chỉ dùng pháp để đặt tên kinh, như kinh Niết bàn. Trong đó Niết bàn là pháp được dùng làm tên kinh. 3. Đơn thí lập đề: Chỉ dùng thí dụ để đặt tên kinh, như kinh Phạm võng. Phạm võng là tấm lưới báu của Phạm thiên, có hàng trăm nghìn mắt lưới lấp lánh, lớp lớp giao triệt, trùng trùng vô tận mà không ngăn ngại lẫn nhau, hệt như giáo pháp Đại thừa trong kinh Phạm võng, mỗi mỗi giáo pháp cũng trùng trùng vô tận, cho nên được dùng làm thí dụ. 4. Nhân pháp lập đề: Dùng cả người và pháp để đặt tên kinh, như kinh Văn thù vấn bát nhã. Trong đó, Văn thù là người, Bát nhã là pháp. 5. Pháp thí lập đề: Dùng pháp và thí dụ để đặt tên kinh, như kinh Diệu pháp liên hoa. Trong đó. Diệu pháp là pháp, liên hoa là thí dụ. 6. Nhân thí lập đề: Dùng người và thí dụ để đặt tên kinh, như kinh Như lai sư tử hống. Trong đó, Như lai là người, sư tử hống là thí dụ. 7. Cụ túc lập đề: Dùng đủ cả người, pháp và thí dụ để đặt tên kinh. Như kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm, trong đó, Đại phương quảng là pháp, Phật là người, Hoa nghiêm là thí dụ. Trong 7 cách đặt tên kinh nói trên, ba cách đầu Đơn nhân, Đơn pháp, Đơn thí, gọi chung là Đơn tam; ba cách kế tiếp Nhân pháp, Pháp thí, Nhân thí, gọi chung là Phức tam; một cách sau cùng đầy đủ cả Nhân pháp thì gọi là Cụ túc nhất. Ngoài ra, các ngài Cát tạng, Tuệ viễn, Trừng quán v.v... cũng đều có ý kiến về cách đặt tên kinh. Chẳng hạn như trong Pháp hoa du ý của mình, ngài Cát tạng đã nêu ra chín cách: Đãn nhân, Đãn pháp, Đãn xứ, Đãn thời, Đãn sự, Đãn dụ, Pháp dụ song cử, Nhân pháp câu đề và Tam nghĩa lập danh. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Duy ma nghĩa kí Q.1 phần đầu; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.16; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.28].
đan thù
Tanjur (T)Một trong 2 bộ Đại tạng kinh điển của Tây tạng: Cam thù và Đan thù.
đan truyện
(單傳) Đồng nghĩa với Đơn đề. Thầy truyền pháp riêng cho đệ tử. Thiền tông truyền pháp không dựa vào lời nói văn chữ, chỉ một thầy một trò, tùy cơ ứng mà truyền tâm ấn cho nhau, như rót nước từ chiếc bình này sang chiếc bình khác, gọi là Đơn truyền tâm ấn. Ngoài ra, liên quan đến đơn truyền còn có các từ ngữ như: Phật tổ đơn truyền, Đơn truyền Phật pháp, Trực chỉ đơn truyền v.v... [X. Bình xướng trong tắc 1 Bích nham lục; Tổ đình sự uyển Q.5; Phật quả khắc cần thiền sư tâm yếu Q.thượng; luận Tông môn vô tận đăng Q.thượng; Chính pháp nhãn tạng biện đạo thoại chương; Tâm bất đắc chương (Đạo nguyên)].
đan trướng
(單帳) Trong Thiền lâm, khi một vị tăng viên tịch, làm lễ an táng xong, những di vật của người quá cố, như áo, bát và các đồ dùng khác, được đem bán đấu giá để chi dùng vào việc tang lễ. Sau khi tính toán, chi phí hết bao nhiêu thì kết toán trong một tấm phiếu để công bố cho đại chúng biết. Tấm phiếu ấy gọi là Đơn trướng. Mẫu đơn được chép ở điều Đơn thức, chương Trụ trì, trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng như dưới đây: Hòa thượng Đường đầu thị tịch, xin công bố các khoản thu chi như sau: - Định giá các di vật áo, bát v.v... (bao nhiêu). - Bán được (bao nhiêu). - Mua các vật dụng cần thiết (bao nhiêu). - Tổng thu. - Tổng chi. - Còn lại (bao nhiêu). - Những chi phí làm trai thất và cúng dường chư tăng tụng kinh, cũng ghi như trên. Ngày... tháng... năm... Hành giả Tang tư (người phụ trách việc lễ tang). Trình đủ. Người phụ trách cầm tấm phiếu này đến cho các vị ở Lưỡng tự (Đông tự và Tây tự) cùng vị Điển tang để xin kí tên.
đan tâm
Fidelity.
đan vị
(單位) I. Đơn Vị. Danh từ chỉ số lượng, tính về chiều dài, chất lượng, thời gian v.v... Cứ theo kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 chép, thì đức Phật cho rằng, 100 câu chi (Phạm: Koỉi, cũng gọi Câu trí) bằng một A do đa (Phạm: Ayuta), 100 a do đa bằng một Ni do đa (Phạm: Nayuta), 100 ni do đa bằng một cánh cát la (Phạm: Kaôkara), 100 cánh cát la bằng một Tần bà la (Phạm:Bimbara), 100 tần bà la bằng một A sô bà (Phạm: Akwobhya) v.v... gồm 33 loại. Về đơn vị chiều dài thì lấy bảy cực vi trần (Phạm:Paramàịa) làm một A nậu trần (Phạm: Aịu), cho đến bảy hạt lúa mạch (Phạm: Yava) là một đốt ngón tay (Phạm: Anguliparvan), 12 đốt ngón tay bằng một gang tay (Phạm: Vitasti), hai gang tay bằng một khuỷu tay (Phạm: Hasta), bốn khuỷu tay bằng một cung (Phạm: Dhanu), một nghìn cung bằng một Câu lô xá (Phạm: Kroza), bốn Câu lô xá bằng một Do tuần (Phạm: Yojana). Về danh từ chỉ số lượng thì có Thập tiến pháp (Decimal), gồm 16 số: 1, 10, 100, 1.000, 10.000, Lạc xoa (Phạm: Lakwa), Độ lạc xoa (Phạm: Atilakwa), Câu chi, Mạt đà (Phạm: Madhya), A dữu đa, Đại a dữu đa (Phạm: Mahàyuta), Na dữu đa (Phạm: Nayuta) v.v... theo thứ tự cho đến A tăng kì (Phạm: Asaôkhya), từ A tăng kì trở đi đã thất lạc. Ngoài ra, về danh từ chỉ số cực lớn thì có: A tăng kì, Vô lượng, Vô biên, Vô đẳng, Bất khả sổ, Bất khả xưng, Bất khả tư, Bất khả lượng, Bất khả thuyết, Bất khả thuyết bất khả thuyết v.v... Về danh từ chỉ số cực nhỏ thì có: Một phần trăm, một phần nghìn, cho đến một phần Ô ba ni sát đàm (Phạm: Upaniwadam) v.v... Về đơn vị trọng lượng thì có: 20 bối xỉ (Phạm: Raktikà) là một Ca chỉ nễ (Phạm: Kakinì), bốn ca chỉ nễ là một Ma sái (Phạm: Mawa), 20 ma sái là một Ca lợi sa bát na (Phạm: Kàrwàpaịa, khoảng 11 đến 18 gam). Về đơn vị thời gian thì có: 120 sát na (Phạm: Kwaịa) là một Đát sát na (Phạm: Tatkwaịa), 60 đát sa na là một Lạp phạ (Phạm: Lava), 30 lạp phạ là một Mâu hô lật đa (Phạm: Muhùrta), 30 mâu hô lật đa là một ngày đêm. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.12; phẩm Quán không trong kinh Nhân vương bát nhã Q.thượng; kinh Bảo tinh Q.4; luật Ma ha tăng kì Q.9; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Đại tì bà sa Q.177; luận Đại trí độ Q.4, Q.83; luận Du già sư địa Q.79; luận Câu xá Q.12, Q.22; luận Thuận chính lí Q.32; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]. II. Đơn Vị. Vị trí ngồi thiền của mỗi vị tăng trong nhà Tăng. Ở trên giường có dán tên (danh đơn) của mỗi người nên gọi Đơn vị. [X. mục Du phương tham thỉnh ở chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Biện đạo pháp trong Vĩnh bình thanh qui Q.thượng].
đan điền
Hara (J)Trung tâm ý thức, trọng lực, năng lượng và hoạt động của con người, dưới rốn, thuộc vùng bụng dưới.
; Khu vực dưới rún—The pubic region, about 2 ½ below the navel.
; (丹田) Chỉ chỗ ở phía dưới rốn khoảng một tấc. Cũng gọi Hạ đan điền. Khi ngồi Thiền, tập trung hơi thở ở đây khiến tâm không tán loạn và có hiệu lực chữa bệnh. Cũng có chỗ nói ở phía dưới rốn hai tấc rưỡi. Còn ở giữa khoảng hai lông mày thì gọi là Thượng đan điền. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu; Ma ha chỉ quán Q.8].
đan đạo khai
(單道開) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đông Tấn, người Đôn hoàng, họ Mạnh. Thủa nhỏ Sư đã có chí ẩn dật. Lớn lên, sau khi xuất gia, Sư vào ở trong núi hành đạo, không ăn ngũ cốc, chỉ ăn hột bách, nhựa thông và các thứ rêu mọc trên đá. Chẳng sợ nóng lạnh, ngày đêm không nằm, một ngày Sư có thể đi được 700 dặm. Năm Kiến vũ 12 (346) đời Thạch hổ nhà Hậu Triệu, Sư vào đất Nghiệp (Hà nam) ở chùa Chiếu đức tại Lâm chương. Bấy giờ những người tu tiên nghe danh tiếng của Sư đều đến hỏi đạo, nhưng Sư không đáp. Sau khi Thạch hổ chết, trong nước loạn lạc, năm Thăng bình thứ 3 (359) đời Tấn Mục đế, Sư dẫn đồ chúng về Nam, vào Kiến khang (Nam kinh), sau đến núi La phù ở Nam hải, cất am tranh ở một mình. Sư thọ hơn 100 tuổi, nhưng không rõ năm sinh năm mất.
đan đọa giới
Navati Prāyascittiya (P)90 trong số 250 giới của Tỳ kheo.
Đan, đơn 單
[ja] タン tan ||| (1) One, single, simple, singular; simply, merely, only solely. (2) An assigned seating position. (3) Name card; a name card which indicates where the practitioner's assigned seat is in the monks hall. Also a card which names a sutra or indicates the approach to a monastery. => Có các nghĩa sau: 1. Một, đơn lẻ, đơn giản, số ít, giản dị, đơn thuần, đơn độc. 2. Một chỗ ngồi được quy định sẵn. 3. Danh thiếp; tấm thẻ ghi pháp danh cho biết vị trí toạ thiền của từng vị trong thiền đường. Cũng là tấm thẻ ghi tên kinh hay chỉ hướng đền chùa.
đang khi
While.
đang lúc
While.
đang thịnh
Prevailing.
đang thời
At that time—At that moment.
đang tồn tại
Existent.
đang đêm
By the night.
đanh thép
Forceful—Energetic.
đao
1) Lưỡi dao: Knife. 2) Đau đớn: Grieved—Distressed.
đao luân địa ngục
(刀輪地獄) Địa ngục dùng núi dao, bánh xe dao (đao luân) để trừng trị tội nhân. Những người lúc còn sống thích gây đau khổ cho người khác và giết hại chúng sinh, sau khi chết phải rơi vào địa ngục này. Địa ngục này bốn mặt đều là núi, giữa khoảng núi chứa đầy dao, trên hư không có 800 vạn ức vòng dao lớn rơi xuống như mưa. Tội nhân lúc hấp hối, trong lòng lo sợ, đầy dẫy phiền muộn, nên khởi niệm muốn được người ta đâm cho chết ngay, ngục tốt biết được ý nghĩ ấy liền đem dao sắc đến chém, tội nhân rất vui mừng. Sau khi chết, sinh vào giữa núi dao, 4 núi ở 4 mặt cùng lúc sáp lại, ép nát thân tội nhân, lại có ngục tốt đuổi tội nhân lên đỉnh núi dao, chưa lên đến đỉnh núi thì chân và ngực đã bị thương, nhưng vì sợ ngục tốt nên tội nhân phải bò lết lên núi, ngục tốt dùng cây dao đánh chém, trong lúc chưa chết thì có chó sắt, trùng sắt đến cắn rỉa. Rồi chân tội nhân phải mang vòng sắt từ trên hư không rơi xuống, cứ như thế trong một ngày một đêm có tới 60 ức lần chết đi sống lại, trải qua 8.000 vạn năm chịu khổ như vậy ở địa ngục này, rồi mới chuyển sinh 500 đời làm thú vật, lại 500 đời nữa chịu mang thân người nghèo cùng hèn hạ, cho đến khi gặp được thiện tri thức khuyên bảo mới biết phát tâm tu hành. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.5].
Đao Lợi
(s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利): tức Đao Lợi Thiên (忉利天, Trời Đao Lợi), âm dịch là Đa La Dạ Đăng Lăng Xá (多羅夜登陵舍), còn gọi là Tam Thập Tam Thiên (三十三天, Trời Ba Mươi Ba). Theo vũ trụ quan Phật Giáo, cõi trời này nằm ở tầng thứ 2 của 6 cõi trời Dục Giới, là thiên giới do Trời Đế Thích (帝釋天) cư ngụ, ở trên đỉnh núi Tu Di (s: Sumeru, 須彌山). Bốn phương trên đỉnh Tu Di có 8 thành trời, cọng thêm ở giữa có Thiện Kiến Thành (善見城, hay Hỷ Kiến Thành [喜見城]) của Trời Đế Thích), tổng cọng là 33 trú xứ, nên có tên gọi như vậy. Theo Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經) quyển 25, 33 cõi trời có các tên gọi khác nhau, gồm: Trú Thiện Pháp Đường Thiên (住善法堂天), Trú Phong Thiên (住峯天), Trú Sơn Đảnh Thiên (住山頂天), Thiện Kiến Thành Thiên (善見城天), Bát Tư Địa Thiên (鉢私地天), Trú Câu Tra Thiên (住倶吒天), Tạp Điện Thiên (雜殿天), Trú Hoan Hỷ Viên Thiên (住歡喜園天), Quang Minh Thiên (光明天), Ba Lợi Da Đa Thọ Viên Thiên (波利耶多樹園天), Hiểm Ngạn Thiên (險岸天), Trú Tạp Hiểm Ngạn Thiên (住雜險岸天), Trú Ma Ni Tạng Thiên (住摩尼藏天), Toàn Hành Địa Thiên (旋行地天), Kim Điện Thiên (金殿天), Man Ảnh Xứ Thiên (鬘影處天), Trú Nhu Nhuyễn Địa Thiên (住柔軟天), Tạp Trang Nghiêm Thiên (雜莊嚴天), Như Ý Địa Thiên (如意地天), Vi Tế Hành Thiên (微細行天), Ca Âm Hỷ Lạc Thiên (歌音喜樂天), Uy Đức Luân Thiên (威德輪天), Nguyệt Hành Thiên (月行天), Diêm Ma Bà La Thiên (閻魔婆羅天), Tốc Hành Thiên (速行天), Ảnh Chiếu Thiên (影照天), Trí Tuệ Hành Thiên (智慧行天), Chúng Phân Thiên (眾分天), Trú Luân Thiên (住輪天), Thượng Hành Thiên (上行天), Uy Đức Nhan Thiên (威德顔天), Uy Đức Diệm Luân Thiên (威德燄輪天), và Thanh Tịnh Thiên (清淨天). Chúng hữu tình trên cõi trời Đao Lợi có thân dài một do tuần, thọ mạng 1.000 tuổi (100 năm trên cõi thế bằng 1 ngày 1 đêm trên cõi trời này), ăn các thức ăn trong sạch. Khi mới sanh ra, con người ở đây giống như hình dạng đứa bé 6 tuổi của cõi người, sắc diện tròn đầy, áo quần tự có. Hơn nữa, cõi trời này có đầy đủ các loại châu báu, những lầu đài, trang viên, hồ tắm tráng lệ, v.v. Từ xưa, tín ngưỡng cho rằng Đao Lợi Thiên là trú xứ của Trời Đế Thích, đã thịnh hành tại Ấn Độ. Tương truyền sau khi qua đời, Hoàng Hậu Ma Da thác sanh lên cõi trời này; cho nên, sau khi thành đạo, đức Phật đã lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẫu thân trong vòng 3 tháng. Sự việc này được ghi lại rất rõ trong Phật Thăng Đao Lợi Thiên Vị Mẫu Thuyết Pháp Kinh (佛昇忉利天爲母說法經, Taishō No. 815), hay trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經, Taishō No. 412), Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm (忉利天宮神通品). Bên cạnh đó, trong Phật Quốc Ký (佛國記) của Pháp Hiển (法顯, 340?-?) nhà Tấn có câu: “Phật thướng Đao Lợi Thiên tam nguyệt, vị mẫu thuyết pháp (佛上忉利天三月、爲母說法, đức Phật lên cung Trời Đao Lợi ba tháng, vì mẹ thuyết pháp).” Hay như trong Trường Sanh Điện (長生殿), phần Bổ Hận (補恨) của Hồng Thăng (洪昇, 1645-1704) nhà Thanh lại có đoạn: “Ngã đương thượng tấu Thiên Đình, sử nhĩ lưỡng nhân thế cư Đao Lợi Thiên trung, vĩnh viễn thành song, dĩ bổ tùng tiền ly biệt chi hận (我當上奏天庭、使你兩人世居忉利天中、永遠成雙、以補從前離別之恨, ta sẽ tâu lên Thiên Đình, giúp hai ngươi đang sống trong cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn được thành đôi lứa, để bù vào nỗi hận cách biệt trước kia).” Ngoài ra, trong bài Tần Châu Thiên Thủy Quận Mạch Tích Nhai Phật Kham Minh (秦州天水郡麥積崖佛龕銘) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Ảnh hiện Tu Di, hương văn Đao Lợi (影現須彌、香聞忉利, ảnh hiện Tu Di, hương nghe Đao Lợi).”
đao lợi
Xem Đao lợi thiên.
đao lợi chi phó chúc
(忉利之付囑) Sự giao phó ở cung trời Đao lợi. Bồ tát Địa tạng nhận sự giao phó của đức Thích ca Như lai ở cung trời Đao lợi để cứu giúp chúng sinh trong sáu đường, làm cho được giải thoát, vĩnh viễn xa lìa các nỗi khổ. [X. kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện Q.thượng]. (xt. Địa Tạng Bồ Tát).
đao lợi thiên
Tāvatiṁsadevaloka (P), Trāiyas-trimśas (S), Trāiyastrimśa-deva (S)Đao lợi chư thiên, Đạo lỵ thiên, Tam thập tam thiênChư thiên ở cõi trời Đao lợi, cõi trời thứ nhì trong 6 cõi trời dục giới, ở chót núi Tu di, mỗi phía trong bốn phía đều có 8 cảnh trời thêm vào cảnh Hỷ kiến thành ở trung ương, tổng cộng là 33 cảnh trời. Một trong 6 cảnh trời cõi dục giới: - Tứ thiên vương thiên - Đạo lý thiên - Dạ ma thiên - Đâu suất thiên - Hoá lạc thiên - Tha hoá tự tại thiên.Tam Thập Tam ThiênTên một cõi giớiXem Đao lợi thiên
; Trayastrimsàs (S). The heavens of the thirty three devas.
; Trayastrimsas (skt)—Tavatimsa (p)—Đát Lợi Da Đát Lợi Xa Thiên—Đa La Dạ Đăng Lăng Xá Thiên—Cõi trời dục giới thứ hai, trên cõi Diêm Phù Đề. Theo thần thoại Ấn Độ Giáo, thì cõi trời nầy nằm bên trên núi Tu Di, có 32 Thiên thành, mỗi bên có tám thành; thành trung tâm gọi là Hỷ Kiến Thành nơi trú ngụ của vua trời Đế Thích ngàn đầu ngàn mắt bốn tay, cung điện của ông gọi là Bì Xa, nơi cư ngụ của bà vợ Saci và 119.000 tỳ thiếp. Hằng tháng Tứ Thiên vương phải báo cáo với ông những thiện ác cõi thế gian—The second of the desire-heavens, the heaven of Indra. It is the Svarga of Hindu mythology, situated on Meru with thirty-two deva-cities, eight on each side; a central city is Sudarsana, or Amaravati, where Indra, with 1,000 heads and eyes and four arms, lives in his palace called Vaijayanta, and revels in numberless sensual pleasures together with his wife Saci and with 119,000 concubines. There he receives the monthly reports of the four Maharajas as to the good and evil in the world. The whole myth may have an astronomical or meteorological background.
; (忉利天) Phạm:Tràyastriôza,Pàli:Tàvatiôsa. Dịch âm: Đa la dạ đăng lăng xá, Đát lị da đát lị xa. Cũng gọi Tam thập tam thiên. Là tầng trời thứ 2 trong 6 tầng trời ở cõi Dục. Theo Vũ trụ quan Phật giáo, tầng trời này nằm trên chóp núi Tu di, 4 phía chóp núi, mỗi phía đều có 8 Thiên thành (thành quách nhà trời), ở chính giữa có thêm thành Thiện kiến (thành Hỉ kiến) là nơi ở của trời Đế thích, cộng lại là33 chỗ, nên gọi Tam thập tam thiên. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 25, thì Tam thập tam thiên này gồm có: Trụ thiện pháp đường thiên, Trụ phong thiên, Trụ sơn đính thiên, Thiện kiến thành thiên, Bát tư địa thiên, Trụ câu tra thiên, Tạp điện thiên, Trụ hoan hỉ viên thiên, Quang minh thiên, Ba lợi da đa thụ viên thiên, Hiểm ngạn thiên, Trụ tạp hiển ngạn thiên, Trụ ma ni tạng thiên, Toàn hành địa thiên, Kim điện thiên, Man ảnh xứ thiên, Trụ nhu nhuyến địa thiên, Tạp trang nghiêm thiên, Như ý địa thiên, Vi tế hạnh thiên, Ca âm hỉ lạc thiên, Uy đức luân thiên, Nguyệt hành thiên, Diêm ma sa la thiên, Tốc hành thiên, Ảnh chiếu thiên, Trí tuệ hành thiên, Chúng phân thiên, Trụ luân thiên, Thượng thành thiên, Uy đức nhan thiên, Uy đức diệm luân thiên và Thanh tịnh thiên. Cứ theo phẩm Đao lợi thiên trong kinh Trường a hàm quyển 20 nói, thì các hữu tình ở tầng trời này thân cao một do tuần, áo nặng 6 lạng, sống lâu 1.000 năm (1 ngày 1 đêm bằng 100 năm ở thế gian), thức ăn là loại đoàn thực thanh tịnh, cũng có việc trai gái cưới gả, nhưng chỉ dựa vào nhau để lấy khí mà thành tựu âm dương; trẻ sơ sinh ở cõi trời này to bằng đứa bé 6 tuổi ở thế gian, thân hình tròn trịa đầy đặn, tự có quần áo. Ngoài ra, cõi trời này có đầy đủ các thứ của báu, lầu gác, điện đài, vườn rừng, ao hồ, đường sá v.v... tất cả đều đẹp đẽ, thù thắng. Cứ theo luận Câu xá quyển 11 nói, thì cõi trời này ở trên chóp núi Tu di, bốn phía, mỗi phía đều có một ngọn núi cao 500 do tuần, trong đó có một vị thần Dược xoa tên là Kim cương thủ ở để hộ vệ chư thiên. Trong luận còn ghi thuật nhiều về cảnh giới trang nghiêm của cõi trời này, nhưng hơi khác với những điều được miêu tả trong kinh A hàm. Đao lợi thiên là chỗ ở của trời Đế thích, tín ngưỡng về cõi trời này đã được thịnh hành ở Ấn độ từ xưa. Theo truyền thuyết, Thánh mẫu Ma da sau khi mệnh chung đã sinh lên cõi trời này và có lần đức Phật đã lên đây nói pháp cho mẹ nghe trong 3 tháng. [X. kinh Tạp a hàm Q.19, Q.23, Q.45; kinh Trú độ thụ trong Trung a hàm Q.1, kinh Trì trai trong Q.55; kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3; kinh Tăng nhất a hàm Q.28, Q.33, Q.37; kinh Phật thăng Đao lợi thiên vị mẫu thuyết pháp; kinh Chính pháp niệm xứ Q.26 đến Q.35; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.36; luận Đại trí độ Q.9, Q.56; Huyền ứng âm nghĩa Q.2].
Đao lợi thiên 忉利天
[ja] トウリテン tōriten ||| (Trāyastrimśa); also translated as 三十三天 The 'Heaven of the Thirty-three (gods). One of the six heavens in the realm of desire 六欲天, it is located at the top of Mt. Sumeru. At each of its corners there is a peak, where eight gods dwell, and in the palace lives the Lord of the Heavens (Indra, Śakra). => (s: Trāyastrimśa); còn dịch là Tam thập tam thiên [ 三十三天e: The 'Heaven of the Thirty-three (gods)]. Là một trong 6 cõi trời (Lục dục thiên) của Dục giới, nằm trên đỉnh núi Tu-di. Tại mỗi phương trời là một chỏm núi, có tám vị Trời ở đó, trung ương là cung điện của vua trời Đế thích (s:Indra, Śakra).
đao phong
The wind that cuts all living to pieces, at the approach of a world kalpa's end, also described as the disintegrating force at death.
; The wind that cuts all living beings to pieces—Disintegrating force at death.
đao sơn
The hill of swords.
; The hill of swords in one of the hells.
đao đại tuệ
Prajākhadga (S), Paākhagga (P)Kiệt già, Kiếm trí huệ.
Đao đồ
xem Ba đường ác.
đao đồ
The gati or path of rebirth as an animal so called because animals are subjects of the butcher's knife.
; The hells of swords—The gati or path of rebirth as an animal—So called because animals are subjects of the butcher's knife.
; (刀途) Đường dao. Một trong ba đường, là tên khác của đường quỉ đói. Cứ theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 12 nói, thì chúng sinh ở đường quỉ đói thường bị xua đuổi bằng dao, gậy, bị giết chóc, tàn hại, vì thế gọi là Đao đồ. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.4].
Đao-lợi
xem cõi trời Ba mươi ba.
đau khổ
Dukkha (P), Duḥkha (S), Suffering
; Suffering—pain
đau khổ không chịu đựng được
Unbearable sufferings.
đau lòng
Heart-rending—Heart broken
đau thương
Painful—Sorrowful.
đau xót
To sorrow.
đau đớn
Pangs—Pain.
đau đớn của cái chết
The pangs of death
Đào Uyên Minh
(陶淵明, 365-427): thi nhân nhà Đông Tấn của thời đại Lục Triều, tên là Tiềm (潛) hay Uyên Minh (淵明), tự Nguyên Lượng (元亮), nhụ là Tĩnh Tiết (靖節), xuất thân vùng Giang Tây (江西). Ông sanh ra trong một gia đình quý tộc hạ cấp, lại gặp nhiều trắc trở trên con đường thăng quan tiến chức, nên cuối cùng ông làm bài phú Quy Khứ Lai Từ (歸去來辭) theo lịnh của Huyện Bành Trạch và lui về ẩn cư, vui thú điền viên tại cố hương mình. Thi văn ông rất bình dị, ca ngợi tâm tư của kẻ ẩn dật và cuộc sống điền viên. Ông lập ra một trường phái riêng mà cho đến thời nhà Đường thì có nhiều thi hào đã theo như Vương Duy (王維), Mạnh Hạo Nhiên (猛浩然), v.v. Tán văn của ông có Ngũ Liễu Tiên Sanh Truyện (五柳先生傳), Đào Hoa Nguyên Ký (桃花源記), v.v.
Đại Hàm
(大含, Daigan, 1773-1850): vị học tăng của Phái Đại Cốc (大谷派) thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, húy Đại Hàm (大含), hiệu Hồng Tuyết (鴻雪), Nhiễm Hương Nhân (染香人), thụy hiệu là Vân Hoa Viện (雲華院); xuất thân vùng Phong Hậu (豐後, Bungo, thuộc Ōita-ken [大分縣] ngày nay). Ông sanh ra tại Mãn Đức Tự (滿德寺) vùng Phong Hậu, đến năm 1791 thì làm con nối dòng của Phụng Lãnh (鳳嶺) ở Chánh Hạnh Tự (正行寺) vùng Phong Tiền (豐前, Buzen), và kế thừa chức trú trì chùa nầy. Cũng trong năm nầy, ông tham gia khóa học ở Cao Thương Học Liêu (高倉學寮) của Đông Bổn Nguyện Tự (東本願寺, Higashihongan-ji), đến năm 1834 thì làm Giảng Sư tại đây. Ông rất giỏi về thư họa, thi ca và đã từng giao hữu với nhóm Lại Sơn Dương (頼山陽), Điền Năng Thôn Trúc Điền (田能村竹田), v.v. Trước tác của ông có Quy Mạng Tự Huấn Giảng Biện (歸命字訓講辨), Tịnh Độ Luận Chú Giảng Nghĩa (淨土論註講義) 12 quyển, Chánh Tín Niệm Phật Kệ Lục (正信念佛偈錄) 5 quyển, An Lạc Tập Văn Thư (安樂集聞書), v.v.
Đại Huệ Tông Cảo
(大慧宗杲, Daie Sōkō, 1089-1163): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Đàm Hối (曇晦), hiệu Diệu Hỷ (妙喜), Vân Môn (雲門), xuất thân vùng Ninh Quốc (寧國), Tuyên Châu (宣州, thuộc Tỉnh An Huy ngày nay), họ là Hề (奚). Năm lên 13 tuổi, ông theo trường làng học Nho Giáo, đến năm 16 tuổi thì xuất gia với Huệ Tề (慧齊) ở Đông Sơn Huệ Vân Tự (東山慧雲寺). Năm sau ông thọ cụ túc giới, và một mình chuyên tham cứu Thiền. Vào mùa thu năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông lên Lô Sơn (廬山), sau đó đến tham yết Động Sơn Vi (洞山微) và học tông chỉ của vị nầy. Kế đến ông theo làm đệ tử của Trạm Đường Văn Chuẩn (湛堂文準) ở Bảo Phong (寶峰). Vào năm 1115, khi Văn Chuẩn qua đời, có người khuyên ông nên đến tham bái Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤). Nhưng ông lại đến tham vấn Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) trước, và bái yết Trương Thương Anh (張商英) ở nơi đó. Cho đến năm 1124, khi Khắc Cần chuyển đến trú tại Thiên Ninh Tự (天寧寺) vùng Đông Kinh (東京), thì ông theo nhập chúng tham học với Khắc Cần. Sau quá trình tu tập khắc khổ, cuối cùng ông được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Thể theo lời tấu xin của vị Thừa Tướng Lữ Thuấn Đồ (呂舜徒), ông được ban hiệu Phật Nhật Đại Sư (佛日大師). Sau khi Viên Ngộ trở về nước Thục, ông chuyển đến Vân Môn Am (雲門庵) ở Hải Hôn (海昏, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay) để lánh nạn binh đao. Đến năm 1134, ông lại dời đến Dương Tự Am (洋嶼庵) vùng Phúc Kiến (福建), và chính nơi đây ông đã công kích Thiền mang tính mặc chiếu, mà cử xướng Thiền công án. Ba năm sau, ông được thỉnh đến trú tại Kính Sơn Năng Nhân Thiền Viện (徑山能仁禪院), diễn xướng tông phong một cách rực rỡ và được xem như là vị tổ thời Trung Hưng của Lâm Tế Tông. Sau ông bị lưu đày đến Hoành Châu (衡州) vì bị tình nghi thuộc đảng phái phản loạn, lưu lại đó khoảng 10 năm và trong khoảng thời gian nầy ông viết bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏) gồm 6 quyển. Về sau, ông được tha tội, đến trú tại Dục Vương (育王), cùng kết giao với Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺) ở Thiên Đồng Sơn (天童山). Sau ông trở về lại Kính Sơn, được Hoàng Đế Hiếu Tông (孝宗) quy y theo, và ban cho hiệu là Đại Huệ Thiền Sư (大慧禪師). Vào năm thứ nhất (1163) niên hiệu Long Hưng (隆興), ông thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi đời và 58 hạ lạp. Trước tác của ông có Đại Huệ Ngữ Lục (大慧語錄), Đại Huệ Võ Khố (大慧武庫), v.v.
Đại Mai Pháp Thường
(大梅法常, Daibai Hōjō, 752-839): người Tương Dương (襄陽, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), họ là Trịnh (鄭). Ông tu học ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc) từ thưở nhỏ, rồi đăng đàn thọ cụ túc giới ở Long Hưng Tự (龍興寺). Ông rất tinh thông kinh luận, nhưng lại có chí tu Thiền, cuối cùng ông theo làm môn hạ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và được đốn ngộ. Vào năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến trú ở Đại Mai Sơn (大梅山), chỗ ẩn cư xưa kia của Mai Tử Chơn (梅子眞), thuộc phía nam Dư Diêu (余姚), Tứ Minh (四明, thuộc Tỉnh Triết Giang). Sau khi sống nơi ấy được 40 năm, ông bị vị tăng môn đệ của Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) phát hiện ra nơi nhàn cư của mình. Vào năm đầu (836) niên hiệu Khai Thành (開成) nơi đây trở thành Hộ Thánh Tự (護聖寺), với số lượng đồ chúng lên đến sáu bảy trăm người. Vào ngày 19 tháng 9 năm thứ 4 (839) đồng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 88 tuổi đời và 69 hạ lạp. Đệ tử từ pháp của ông có Hàng Châu Thiên Long (杭州天龍), Tân La Ca Trí (新羅迦智), Tân La Trung Sảng (新羅忠彦), v.v. Ông có lưu lại cuốn Minh Châu Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục (明州大梅山常禪師語錄) 1 quyển.
Đại Ngu Lương Khoan
(大愚良寬, Daigu Ryōkan, 1758-1831): ca nhân, thư gia, vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Giang Hộ, húy Lương Khoan (良寬), tự Văn Hiếu (文孝), đạo hiệu Đại Ngu (大愚), xuất thân vùng Xuất Vân Khi (出雲崎, Izumozaki), Việt Hậu (越後, Echigo) trưởng nam của Sơn Bổn Tả Môn Thái Hùng (山本左門泰雄). Năm 1774, ông giao nhà lại cho người em là Do Chi (由之), theo xuất gia thọ giới với Phá Liễu (破了) ở Quang Chiếu Tự (光照寺, Kōshō-ji) vùng Ni Lại (尼瀬), Việt Hậu. Đến năm 1779, ông kế thừa dòng pháp của Quốc Tiên (國仙) ở Viên Thông Tự (圓通寺, Entsū-ji) vùng Bị Trung (僃中, Bicchū). Vào năm 1796, ông trở về cố hương, dừng chân trú tại Ngũ Hợp Am (五合庵) trên Quốc Thượng Sơn (國上山). Ông sống một đời thanh bần, thường hay đùa giỡn với con nít, và vui thú với rượu. Ông rất tinh thông thi ca, tương truyền đến cuối đời ông được thỉnh đến ở tại biệt trang của dòng họ Mộc Thôn (木村, Kimura) ở Đảo Khi (島崎, Shimazaki). Trước tác của ông có Lương Khoan Đạo Nhân Di Cảo (良寬道人遺稿) 1 quyển, Lương Khoan Vịnh Ca (良寬詠歌) 1 quyển, Thảo Đường Tập (草堂集) 2 quyển, Lương Khoan Toàn Tập (良寬全集) 2 quyển, v.v.
Đạo Lâm
(道林, Dōrin, 741-824): vị Thiền tăng của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗) Trung Quốc, người Huyện Phú Dương (富陽), Hàng Châu (杭州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), họ là Phan (潘). Năm lên 21 tuổi, ông thọ cụ túc giới ở Quả Nguyện Tự (果願寺) thuộc Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc ngày nay). Sau đó, ông lên kinh đô Trường An học Hoa Nghiêm Kinh, Đại Thừa Khởi Tín Luận, rồi quay về với Thiền, đến tham yết Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông thường sống trên cành cây tùng lớn của Tần Vọng Tự (秦望寺), nên được gọi là Thiền Sư Điểu Khòa (鳥窠禪師); bên cạnh đó lại có tổ chim bồ cạc, nên ông còn được gọi là Thiền Sư Thước Sào (鵲巢禪師). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820) nhà Đường, Bạch Cư Dị (白居易) có đến đây và tham vấn Phật pháp với ông. Ông thị tịch vào ngày mồng 10 tháng 2 năm thứ 4 (824) niên hiệu Trường Khánh (長慶), thọ 84 tuổi đời và 63 hạ lạp. Ông được ban thụy hiệu là Viên Tu Thiền Sư (圓修禪師).
đe dọa
To frighten—To menace—To threaten—To intimidate—Phật giáo không đe dọa con người bằng những sợ hãi giả tưởng và mặc cảm tội lỗi—Buddhism does not frighten people with imaginary fears and guilt-feelings.
đem theo
To carry about—To bring with.
đen bạc
Ungrateful.
đen tối
Dark—Tư tưởng đen tối: Dark thoughts.
Đen-gi-pa
S: ḍeṅgipa, ḍiṅgi, ḍiṅga, ṭeṅki, ṭaṅki, dheṅki, dha-ki; »Bà-la-môn làm nô lệ cho kĩ nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, môn đệ của Lu-i-pa (s: lūipa), sống giữa thế kỉ thứ 9. Ông là đại thần của nhà vua Nhân-đà Ba-la (s: in-drapāla), với pháp danh Ða-ri-ka-pa (s: dārikapa) tại thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra). Ông cùng nhà vua bỏ vương triều đến xin làm đệ tử của Lu-i-pa. Lu-i-pa đồng ý với điều kiện cả hai đều phải trở thành nô lệ. Lu-i-pa bán vua Nhân-đà Ba-la (s: in-drapāla) cho một kĩ viện tại Orissa, về sau vị này trở thành Ma-ha Tất-đạt Ða-ri-ka-pa. Còn Ðen-gi-pa thì được bán cho một nàng kĩ nữ làm chủ tiệm rượu. Ông làm những công việc hạ tiện nhất của một người nô lệ, hàng ngày phải giã gạo, vì vậy mang tên là Ðen-gi-pa (người giã gạo). Ông tự thuật đời mình như sau:|Ta là Ðen-gi-pa, |Du-già sư Vệ-đà,|đã chứng đạt đại định,|trong lúc đang giã gạo.|Giã gạo với cái chày, |phép Du-già của ta.|Ta hốt gạo vương vãi,|giã với lời khai thị,|của thầy dạy cho ta.|Chẳng quan tâm người khác,|giã gạo sao cho trắng;|Giã tội bằng đức hạnh,|rồi bằng trí kim cương,|gạo là mặt trời, trăng.|Cối giã là tính Không,|»Cho«, »Nhận« đã thành một.|Tư tưởng, ví như sữa, |được thần chú HŪṂ giã,|Ðại lạc trở thành bơ.|Vị nó là Bất nhị.|Bà-la-môn kiêu mạn,|bây giờ đã nhẫn nhục,|nó phải được bán đi,|để giảm lòng kiêu hãnh.|Ðen-gi-pa được bán,|cho một nàng kĩ nữ!|Sau 12 năm tu tập, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bà chủ tiệm rượu tình cờ thấy người ông đầy hào quang sáng loà vội sụp lạy xin tha lỗi. Cũng như Nhân-đà Ba-la, ông được Lu-i-pa dạy cho phép từ bỏ lòng kiêu mạn của giai cấp thượng lưu bằng cách sống đời nô lệ. Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Niềm vui giải thoát ví,|như con ngựa, thớt voi,|như biển cả rộng khắp.|Chứng đạo như con khỉ,|như một đứa trẻ thơ,|như chữ viết trên nước;|Nhất thể ví dòng sông,|như mặt trời, liều thuốc;|Ðạt mục đích ví như,|sợi tóc được gút lại,|như con mắt duy nhất,|như cái bánh xe tròn.|Những biểu tượng các hình ảnh chứng đạo của Ðen-gi-pa cần hiểu như sau: Sự giải thoát ví như con ngựa là sự tự do hoang tàng, ví như thớt voi là sức mạnh và sự bất động, ví như biển cả là sự bao trùm toàn thể. Sự chứng thật ví như con khỉ là con vật thấy gì lấy ngay, như đứa trẻ là người bất phân biệt, như chữ viết trên nước là điều hiện lên rồi mất ngay. Cái nhất thể như dòng sông là biểu tượng sự liên tục biến đổi, như mặt trời là nguồn sáng tự nó, như liều thuốc chữa bệnh thế gian. Ðạt mục đích như sợi tóc gút lại, đó là biểu tượng của hành trì liên tục, con mắt duy nhất là cách nhìn phi nhị nguyên, như bánh xe tám nhánh là sống theo Bát chính đạo, sống thật tại vượt thời gian.
đeo việc thế tục
Weighed down by mundane preoccations.
đi biển có đôi, tu hành có bạn
As a proverb says: “Sea travellers should always be in couple, practicing dharma should always be conducted with friends.”
đi bách bộ
To go for a walk.
đi chân đất
To go barefooted.
đi chùa
To go to the temple.
đi chập chững
To go with short and unsteady steps—To toddle.
đi hàng hai
To play a double game.
đi hành cước
Anupubbena-carikam-caramano (p)—See Hành Cước.
đi kinh hành
Đi thiền hành—To stroll around—To circle on foot—To circumambulate.
đi lui
To walk backwards.
đi lén
To go in secret.
đi lên
To go up.
đi lạc
To lose one's way—To go astray.
đi lủi thủi
To go alone.
đi mau
To go fast (quickly).
đi nhiễu bảy vòng
Một nghi thức cổ truyền Ấn Độ trên 2.500 năm trước, để biểu lộ lòng kính trọng và ngưỡng mộ với Phật—Circle seven times—A traditional ritual, practiced in India over 2,500 years ago, to show respect and admiration for the Buddha.
đi nhiễu quanh
Padakkhina (p)—Lối chào cung kính bằng cách đi vòng quanh theo chiều kim đồng hồ (từ bên phải một người hay đối tượng)—A mode of reverential salutation by walking clockwise (round a person or object, keeping the right side turned to him).
đi theo
To accompany—To go with.
đi thiền hành
Đi kinh hành—To walk slowly and enjoybly without thinking about anything.
đi thong thả
To walk leisurely.
đi thăm ai
To visit someone.
đi thẳng
To go straight—To go right on.
đi thụt lùi
To go backwards.
đi trước
To forego.
đi tìm chân lý
To find the truth.
đi tới đi lui
To go to and fro—To walk up and down.
đi tứ tán
To dispart—To go in different directions.
đi từ nhà nầy sang nhà kia
To go from door to door.
đi vào
To enter—To go in.
đi vào cuộc sống trường cửu
The entrance to eternal life.
đi vòng
To go around.
đi xuống
To go down.
đi đường tắt
To go the shortest way.
đi đến quả vị phật
To lead to the ultimate goal of Buddhahood.
Đi-li-pa
S: dhilipa hoặc delipa, teli, telopa. tailopa, bha-lipa, tailopada; »Thương gia biết thưởng thức«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người buôn dầu và trở nên vô cùng giàu có, sống một cuộc đời vương giả. Ngày nọ, Pháp sư Bà-ha-na (s: bhahana) đến thăm ông, chỉ cho ông thấy cuộc đời Vô thường và ông bắt đầu quan tâm đến đạo pháp. Lần khác vị này nhìn ông ép mè lấy dầu, nhân thế chỉ dạy:|Xem thân là hạt mè,|ép thành trí tư duy,|đổ vào bình Tự tính.|Làm một sợi bấc đèn,|từ giao phối Sắc-Không,|thắp lên bằng tri kiến,|và tỉnh giác thanh tịnh.|Ðèn chiếu phá vô minh,|an trú trong Ðại lạc,|Ðó là vui giải thoát.|Sau chín năm thiền định ông đạt thánh quả. Chứng đạo ca của ông như sau:|Tự tính của riêng ta,|chính là Phật – không khác.|Tự tính mọi thật tại,|chính là Phật – không khác.|Nhờ phép truyền năng lực,|của phép Sa-ha-ja,|của tiên thiên tuyệt đối,|ta đạt cõi vô sinh.
đinh phúc bảo
(丁福保) (1874 - 1952) Người Vô tích, tỉnh Giang tô, tự Trọng hựu, hiệu Trù ẩn cư sĩ. Ông thông minh từ thủa nhỏ, thông suốt kinh sử, hiểu biết cả văn hóa Trung quốc và Tây phương, giỏi toán số, y học, từ chương, khảo cứ, thạo tiếng Nhật. Ông từng làm giáo sư Đại học và Dịch học quán tại kinh đô. Năm 36 tuổi, ông sang Nhật bản khảo sát về y học, sau ông làm nghề thuốc và sáng lập Y học thư cục ở Thượng hải. Năm hơn 40 tuổi ông mới hướng về Phật pháp, bỏ hết sở học ngày trước. Những soạn thuật của ông được chia làm 4 loại tùng thư: Y học, Văn học, Tiến đức, Phật học. Trong đó, đặc sắc của Phật học tùng thư là nhằm khơi mở lòng tin của mọi người về nhân quả ba đời và luân hồi sáu ngả mà phát tâm học Phật. Ông đã lần lượt xuất bản: - Nhất thiết kinh âm nghĩa đề yếu. - Phật kinh tinh hoa lục tiên chú. - Lục tổ đàn kinh tiên chú. - Tâm kinh tiên chú. - Lục đạo luân hồi lục. - Phật học chỉ nam. - Phật học khởi tín luận. - Phiên dịch danh nghĩa tập tân biên. - Nhất thiết kinh âm nghĩa hối biên. - Phật học Đại từ điển. Ông bắt đầu biên soạn bộ Phật học Đại từ điển này vào năm 1912 và hoàn thành năm 1922, đây là một cống hiến lớn lao của ông đối với Phật giáo.
đinh vân bằng
(丁雲鵬) Nhà danh họa sống vào đời Minh, người Hưu ninh, tỉnh An huy, tự là Nam vũ, hiệu Thánh hoa cư sĩ. Ông tin Phật pháp rất thành kính, nhưng cũng hâm mộ Đạo thuật và thích luyện thuốc tiên. Ông vẽ tượng Phật và Lão tử, được chân truyền về họa pháp của Ngô đạo tử. Những tác phẩm của ông được người ta tranh nhau cất giữ coi như bảo vật. [X. Minh nhân tiểu truyện Q.4; Minh họa lục Q.1].
điên
Overturn, upset, upside down.
; 1) Lật úp ngược lại—Overturn—Upset—Upside down. 2) Trán hay đỉnh đầu: The forehead or top.
điên ca
(顛迦) Chỉ cho Nhất điên ca (Phạm: icchantika) tức là Nhất xiển đề. Một trong các loại hữu tình vô tính. Loại hữu tình này ưa thích sống chết, không mong cầu ra khỏi. Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 26, 32 nói, thì Nhất xiển đề phủ nhận lí nhân quả, không tin có quả báo thiện ác; đây có lẽ chỉ cho tín đồ của ngoại đạo Thuận thế. Nhất điên ca (Phạm: icchantika) có thể đã do lầm lẫn từ 2 chữ đồng loại là A xiển để ca (Phạm: acchantika, không ưa thích) và A điên để ca (Phạm: àtyantika, rốt ráo) mà ra. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2 Ngoại đạo thiên]. (xt. Nhất Xiển Đề).
điên cuồng
Mad—Crazy.
điên dại
See Điên khùng.
điên khùng
To be foolish.
điên thích kỉ
(滇釋紀) Gồm 4 quyển, do ngài Viên đỉnh Hòa không biên soạn vào đời Thanh, được đưa vào Vân nam tùng thư tử bộ quyển 29. Nội dung thu chép những truyện kí của 253 vị tăng, tục ở tỉnh Vân nam, gồm 12 phần là: Pháp nguyên biên, Ứng hóa biên, Tùy thích biên, Đường thích biên, Hậu Tấn thích biên, Hậu Chu thích biên, Tống thích biên, Nguyên thích biên, Minh thích biên, Thanh thích biên, Tạp khoa biên và Bổ di biên. Đây là bộ sách đầy đủ và rõ ràng nhất trong Vân nam tăng truyện. [X. Minh quí điền kiềm Phật giáo khảo].
điên tiết
Furious.
điên đảo
Viparyaya (S), Error; upside down, inverted; contrary to reality.
; Viparyaya (skt). (A) Nghĩa của Điên Đảo—The meanings of Inversions: 1) Sai lầm: Error. 2) Sự đảo lộn ngược sự lý, như cho vô thường là thường—Upside down, perversion, inverted; contrary to reality; to believe things as they seem to be, e.g. the impermanent to be permanent; the apparent ego to be real. (B) Phân loại Điên Đảo—Categories of Inversions: 1) Tam Điên Đảo: Three inversions—See Tam Điên Đảo. 2) Tứ Điên Đảo: Four inversions—See Tứ Điên Đảo. 3) Thất Điên Đảo: Seven inversions or upside down views—See Thất Điên Đảo. 4) Bát Điên Đảo: Eight upside down views—See Bát Điên Đảo.
; (顛倒) Phạm: viparìta, viparyàsa. Gọi tắt: Đảo. Chỉ cho cái thấy điên đảo, trái với đạo lí vốn chân thực, như vô thường cho là thường, khổ cho là vui v.v... Về cách chia loại vọng kiến điên đảo, các kinh luận nói không giống nhau. 1. Cứ theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển 7 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 8, thì điên đảo có 2 loại: a) Chúng sinh điên đảo: Chúng sinh không biết rõ chân lí, bị phiền não làm mê mờ. b) Thế giới điên đảo: Chúng sinh mê muội bỏ mất chân tính, ở trong cảnh giới hư dối khởi lên cái thấy điên đảo. 2. Cứ theo kinh Ấm trì nhập quyển thượng, kinh Đại tập pháp môn quyển hạ, kinh Đại phẩm bát nhã quyển 11 và kinh Thất xứ tam quán nói, thì điên đảo có ba loại: a) Tưởng điên đảo: Nhận thức sai lầm đối với mọi hiện tượng. b) Kiến điên đảo: Thấy biết sai lầm. c) Tâm điên đảo: Tâm hư vọng đưa đến nhận thức sai lầm và kiến giải sai lầm. 3. Cứ theo Niết bàn (bản Nam) quyển 2, 7, luận Đại tì bà sa quyển 104, luận Đại trí độ quyển 31 và Đại thừa nghĩa chương quyển 5 phần cuối, thì điên đảo có bốn loại thuộc hữu vi và bốn loại thuộc vô vi. a) Bốn điên đảo hữu vi: Phàm phu không rõ chân tướng của thế gian (thế giới mê vọng) nên cho vô thường là thường, cho khổ là vui, cho bất tịnh là tịnh, cho vô ngã là ngã. b) Bốn điên đảo vô vi: Bậc Thanh văn, Duyên giác, đối với 4 điên đảo hữu vi tuy đã có chính kiến, nhưng lại lầm cho cảnh giác ngộ là thế giới diệt hết, nên không biết Niết bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Tám thứ vọng kiến trên đây gọi chung là 8 điên đảo, hoặc 8 đảo. 4. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 8 và Du già sư địa luận lược toản quyển 3, thì điên đảo có 7 loại: Tư tưởng điên đảo, Thấy biết điên đảo, Tâm trí điên đảo, Vô thường cho là thường, Khổ cho là vui, Bất tịnh cho là tịnh, Vô ngã cho là ngã... Bảy điên đảo này tức là 3 điên đảo và 4 điên đảo nói trên gộp chung lại. Ngoài ra, trong Nhân vương kinh sớ quyển hạ, ngài Viên trắc nêu ra 4 điên đảo là thường, lạc, ngã, tịnh và 6 điên đảo là tham, sân, si, nhân quá khứ, quả vị lai, nhân quả hiện tại, hợp thành 10 điên đảo. Đồng thời, ngài chủ trương dùng pháp quán 4 niệm xứ diệt trừ 4 điên đảo, dùng pháp quán 3 thiện căn diệt trừ 3 độc tham, sân, si và pháp quán tam thế diệt trừ sự chấp trước 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Lại nữa, theo kinh Đại tập pháp môn quyển thượng, thì bốn điên đảo hữu vi, mỗi loại lại có ba điên đảo: Tưởng, Tâm, Kiến, tổng cộng là 12 điên đảo. [X. kinh Hoa nghiêm (60 quyển) Q.10; kinh Pháp hoa Q.6; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.19; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.15].
điên đảo tưởng
Phàm phu ở nơi Thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, gọi là điên đảo tưởng. Bậc Thánh chỉ có Thế lưu bố tưởng chẳng có trước tưởng, nên không gọi là điên đảo tưởng. Có điên đảo tưởng là có phiền não, không có điên đảo thì không có phiền não.
điên đảo vọng tưởng
Upside down and delusive ideas.
; Upside down and illusive ideas.
điêu khắc
Sculpture
điêu khắc trên đá
Sculpture in stone.
điêu linh
See Điêu đứng.
Điêu lương họa đống
(彫樑畫棟): khắc vẽ trên nóc nhà, xà nhà cũng như các trụ cột khác để thể hiện sự hoa lệ của căn nhà. Đây cũng là hình thức từ ban sơ tổ tiên con người thực hiện khi làm nhà. Như trong bài Ngọc Lâu Xuân (玉樓春) của Tống Trưng Dư (宋徵輿, 1618-1667) nhà Minh có câu: “Điêu lương họa đống nguyên vô số, bất vấn chủ nhân tùy ý trú (彫梁畫棟原無數、不問主人隨意住, khắc vẽ khắp nhà nguyên vô số, chẳng hỏi chủ nhân tùy ý ở).”
điêu ngoa
Lying—False.
điêu tàn
Ruined—Desolate.
điêu đứng
Miserable—Unfortunate.
Địch diện chi cơ
(覿面之機): địch diện có nghĩa là xáp mặt nhau, mặt đối mặt; cơ nghĩa là căn cơ, cơ hội, dịp. Trong phần Thùy Thị thuộc tắc thứ 16 của Bích Nham Lục (碧巖錄), hay trong Đại Ứng Lục (大應錄), Đại Đăng Lục (大燈錄) có thấy xuất hiện cụm từ đương cơ địch diện (當機覿面). Tỷ như trong Đại Đăng Lục có đoạn rằng: “Tăng vân: 'Ký đắc'. Lâm Tế thị chúng vân: 'Xích nhục đoàn thượng hữu nhất vô vị chân nhân ... Thử ý như hà ?' Sư vân: 'Địch diện đương cơ cánh vô hồi hỗ' (僧云、記得、臨濟示眾云、赤肉團上有一無位眞人...、此意云何、師云、覿面當機更無回互, Tăng thưa: 'Đã đạt được.' Lâm Tế dạy chúng rằng: 'Trên đống thịt đỏ au có vô vị chân nhân …, ý này là gì ?' Sư đáp: 'Gặp lúc xáp mặt không nên quay đầu')”. Rồi trong bài di kệ của Triệt Ông Nghĩa Hanh (徹翁義亨, Tettō Gikō), vị tổ đời thứ 2 của Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), cũng thấy cụm từ địch diện đương cơ (覿面當機). Như vậy ta có thể biết được rằng đối với dòng Đại Đức Tự cụm từ nầy đóng vai trò quan trọng như thế nào.
điếng hồn
To frighten someone out of his wits.
điếng người
To be frightened to death.
điết
Con đỉa—A leech.
điếu
Câu cá—To angle—To fish.
điếu ngữ
Nắm bắt lời nói, hay sự hiểu biết của đệ tử—Angling words or questions—To fish out what a student knows.
điềm báo trước
Forerunner.
điềm gở
Bad omen.
điềm lành
Good omen.
điềm lạ
Strange omen.
điềm nhiên
Indifferent.
điềm tĩnh
To keep calm or cool.
điềm tốt
Good omen.
điềm xấu
Bad omen.
điềm đạm
Calm—Quiet—Sedate.
điền
1) Điền vào chỗ trống: To fill in (up)—To complete the blank. 2) Land—Field. 3) Phước Điền: Nơi gieo trồng phước đức—A place or state , for the cultivation of meritorious or other deeds. ** For more information, please see Phước Điền.
điền lăng
Tháp—A raised mound, or a stupa.
điền trung trí học
(田中智學) (1861 - 1939) Nhà vận động cải cách tôn giáo tại Nhật bản, người Đông kinh (Tokyo). Năm 10 tuổi, ông xuất gia ở chùa Diệu giác tại Nhất chi giang, pháp hiệu là Trí học. Sau, vì muốn phục hưng Phật giáo tại gia nên ông hoàn tục. Ông lần lượt sáng lập Hội Liên hoa, Hội Quốc trụ và phát hành các tập san: Diệu tông, Nhật liên chủ nghĩa, Độc cổ, Thiên nghiệp dân báo v.v..., cổ xúy chủ nghĩa Nhật liên và đẩy mạnh phong trào tu Phật tại gia. Cuộc vận động này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với giới học giả đương thời, rõ rệt nhất là trường hợp Cao sơn Xư ngưu (). Ông chủ trương lấy giáo nghĩa Nhật liên làm trung tâm giới đàn luận, dung hòa với chủ nghĩa quốc gia thời Minh trị, đồng thời tranh luận với nhà sử học Trọng dã An dịch về pháp nạn của Nhật liên ở Long khẩu; công kích Cơ đốc giáo và các tông phái khác của Phật giáo. Hoạt động của ông đại biểu cho mặt hiện đại hóa tông Nhật liên, hưng thịnh một thời. Ông qua đời vào năm Chiêu hòa 14 (1939), hưởng thọ 79 tuổi. Tác phẩm của ông gồm có: Tây môn chi duy tân, Nhật liên thánh nhân chi giáo nghĩa, Đế quốc hiến pháp giảng nghĩa.
điền tướng y
Áo Cà Sa chấp lại bởi nhiều mảnh trông giống như hình những bờ ruộng—A patch-robe, its patches resembling the rectangular divisions of fields.
điền vương
Udayana (skt)—See Ưu Điền.
điền y
(田衣) Tên khác của áo ca sa. Cũng gọi Thủy điền y, Điền tướng. Áo ca sa gồm những mảnh vải nhỏ được khâu liền lại với nhau, hình tướng vuông vức giống như thửa ruộng nên gọi là Điền y (áo ruộng). Mục Điền tướng khởi duyên trong Thích thị yếu lãm quyển thượng nói (Đại 54, 269 thượng): Luật Tăng kì chép, lúc đức Phật ở gần thành Vương xá, đi dạo trước hang Đế thích, thấy ruộng lúa có những đường bờ phân minh, Ngài bảo tôn giả A nan rằng, tướng áo của chư Phật quá khứ cũng như thế, từ nay theo đó mà may. (xt. Ca Sa).
Điều
條; C: tiáo; J: jō;|1. Nhánh nhỏ, cành cây non; 2. Sợi, chuỗi, gân, tĩnh mạch; 3. Thớ, dệt; 4. Đường kẻ, vật dài và mỏng; 5. Lí do, đề tài, luận lí, tình huống.
điều
To harmonize, blend; regulate, control; to change about.
; 1) Âm điệu của bài hát: A song-tune. 2) Điều hòa: To harmonize—To regulate—To control—To change about. 3) Điều lệ: A law—An order.
điều bà đạt đa
Devadatta (skt)—See Đề Bà Đạt Đa.
điều chi
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là vùng mà xưa kia người Tajiks đã định cư, gần hồ Sirikol—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the region where the Tajiks anciently settled, near the Sirikol lake.
điều chắc chắn
This is a certainty.
điều chỉnh
To adjust.
điều hành
To handle—To manage.
điều kiện
Condition.
điều kiện bên ngoài
Tất cả những trở ngại và bất toàn không do những điều kiện bên ngoài, mà là do tâm tạo. Nếu chúng ta không có sự tỉnh lặng nội tâm, không có thứ gì bên ngoài có thể mang lại hạnh phúc cho chúng ta—External conditions—Problems and dissatisfaction do not develop because of external conditions, but from our own mind. If we don't have internal peace, nothing from outside can bring us happiness.
điều kiện chủ nghĩa
Conditionalism.
điều kiện cách
Conditional mood.
điều kiện tiên quyết
Precondition.
điều kiện trần thế
Worldly condition
điều kỳ diệu
Wonderful things.
Điều lí
條理; C: tiáolǐ; J: jōri; |Lí lẽ, lí luận. Dòng mạch của cuộc tranh luận; đề tài. Dòng, tuyến.
Điều lý 條理
[ja] ジョウリ jōri ||| Reason, logic. The thread of an argument; a theme. Linear. => Lý lẽ, lý luận. Dòng mạch của cuộc tranh luận; đề tài. Dòng, tuyến.
điều lệ
Regulation—Rule.
điều ngũ sự
(調五事) Cũng gọi là Điều ngũ pháp. Điều hòa, tiết chế năm việc: Ăn uống, ngủ nghỉ (điều hòa bên ngoài khi xuất định), thân, hơi thở, tâm (điều hòa bên trong khi nhập định). Đây là khoa thứ 4 trong năm khoa của 25 phương tiện thuộc tiền gia hạnh trong Thập thừa quán pháp do tông Thiên thai lập. 1. Điều tiết ẩm thực: Nếu ăn no quá thì hơi thở gấp và mình mệt, tĩnh tọa không yên; nếu ăn ít quá thì thân gầy ốm tâm thần lơ lửng, ý nghĩ bình bồng; ăn những thứ không được sạch sẽ thì tâm thức hôn mê; ăn những vật không thích hợp với thể chất thì sinh bệnh tật. Cho nên ăn uống phải thận trọng, không đói, không no, điều hòa thích đáng. 2. Điều tiết thụy miên: Nếu thiếu ngủ thì tâm thần bơ phờ, mà ngủ nhiều quá thì bỏ bê việc tu hành, uổng phí công phu, thiện căn tiêu mất. Vì thế ngủ nghỉ phải cẩn thận, không nên tiết chế quá, cũng không nên phóng túng quá. 3. Điều thân: Dù ngồi bán già hay kết già, tư thế của thân phải ngay thẳng, đúng với qui định điều thân, không buông thả cũng không bó buộc thái quá. 4. Điều tức: Điều hòa hơi thở, thở ra thở vào nhịp nhàng, không nhanh không chậm; không thở mạnh, thở gằn hoặc thở nhẹ quá như còn như mất. 5. Điều tâm: Điều phục tâm tán loạn, nếu tâm rơi vào trạng thái nặng nề thì quán niệm dừng lại ở đầu mũi; nếu tâm ở trạng thái lông bông thì đặt tâm hướng xuống dưới khiến tâm ở trạng thái quân bình. Điều hòa 5 việc trên đây giống như người thợ gốm nặn đồ dùng, trước phải nhào đất, đất phải đúng điều độ, không khô quá cũng không nhễu quá mới nặn được đồ. Người tu hành Thập thừa quán pháp cũng vậy, trước phải điều hòa năm việc trên khiến phát sinh tam muội, kế đó mới đạt mục đích phát sinh trí tuệ.
điều ngưu tụ lạc
(調牛聚落) Phạm: Kalmàwadamya, Pàli: Kammàsadhamma, Kammassadhamma, Kammàsadamma. Dịch âm: Kiếm ma sắt đàm, Kiếm ma sa, Kiếp ma sa trụ xứ. Cũng gọi Tất tác pháp, Điều phục kiển sắc vương thành, Điều phục giao ngưu tụ lạc, Tạp sắc mục ngưu tụ lạc, Điều ngưu tụ lạc pháp trị xứ, Pháp hành thành, Trừ diệp, Diệp nghiệm tác. Tên thành ấp ở nước Câu lâu (Phạm: Kuru) nằm về phía tây bắc nước Mạt thố la (Phạm: Mathurà). Cứ theo kinh Đại duyên (Pàli: Mahànidàna-suttanta) trong Trường bộ kinh 15, thì đức Phật đã từng đến đây giáo hóa. [X. kinh Bất động lợi ích trong Trung bộ kinh; kinh Tạp a hàm Q.9, Q.10, Q.15; kinh Niệm xứ trong Trung a hàm; kinh Tu nhàn đề; kinh Đại nhân; kinh Nhân bản dục sinh; kinh Lục độ tập Q.4; kinh Hiền ngu Q.11; kinh Bồ tát bản hạnh Q.hạ; Hữu bộ dược sự Q.7].
điều ngự
To tame and control as a master does a wild elephant or horse, or as the Buddha brings the passions of men under control.
; Thuần hóa như chủ thuần hóa voi ngựa, hay Đức Phật thuần hóa những dục vọng của chúng sanh—To tame and control as a master does a wild elephant or horse, or as the Buddha brings the passions of men under control.
điều ngự sư
See Điều Ngự Trượng Phu.
Điều Ngự Trượng Phu
(s: puruṣa damyasārathi, p: purisadammasārathi, 調御丈夫): âm dịch là Phú Lâu Sa Đàm Miệu Ta La Đề (富樓沙曇藐娑羅提), một trong 10 danh hiệu của Phật, nghĩa là một bậc thầy khéo điều phục và chế ngự, hóa đạo hết thảy các trượng phu. Đây là đại bi và đại trí của Phật, có khi dùng lời nhu hòa, có khi dùng lời bi thiết hay tạp ngữ, v.v., lấy đủ các loại phương tiện để điều ngự người tu hành, giúp cho họ nhập Niết Bàn. Mười danh hiệu này phát xuất từ trong Phật Thuyết Thập Hiệu Kinh (佛說十號經, Taishō No. 782), phần giải thích về Điều Ngự Trượng Phu như sau: “Vân hà Điều Ngự Trượng Phu ? Phật ngôn: 'Phật thị Đại Trượng Phu, nhi năng điều ngự thiện ác nhị loại; ác giả khởi bất thiện Tam Nghiệp, nhi tác chư ác đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sanh nhi đắc ác báo; thiện giả ư thân khẩu ý nhi tu chúng thiện, đắc nhân thiên phước quả; thử chi thiện ác giai do tâm tác, Phật dĩ đệ nhất nghĩa thiện Niết Bàn chi pháp, hiển thị diều ngự linh ly cấu nhiễm hoạch đắc tối thượng tịch diệt Niết Bàn, thị cố đắc danh Điều Ngự Trượng Phu' (云何調御丈夫、佛言、佛是大丈夫、而能調御 善惡二類、惡者起不善三業、而作諸惡墮地 獄餓鬼傍生而得惡報、善者於身口意而修 眾善、得人天福果、此之善惡皆由心作、佛 以第一義善涅槃之法、顯示調御令離垢染 獲得最上寂滅涅槃、是故得名調御丈夫, Thế nào là Điều Ngự Trượng Phu ? Phật dạy: 'Phật là Đại Trượng Phu, có thể điều ngự hai loại thiện và ác; người ác khởi Ba Nghiệp không lành, mà tạo các điều ác, đọa vào Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sanh và bị quả báo ác; người thiện tu các điều lành đối với thân, miệng, ý, được quả phước của trời người; thiện và ác này đều do tâm tạo ra; Phật lấy pháp lành Niết Bàn nghĩa thứ nhất để hiển bày, điều ngự, khiến cho xa lìa cấu nhiễm, đạt được Niết Bàn vắng lặng tối thượng; cho nên có tên gọi là Điều Ngự Trượng Phu).” Câu “Điều Ngự Trượng Phu, nãi huấn Tứ Sanh chi tử (調御丈夫、乃訓四生之子)” có nghĩa là đấng Đại Trượng Phu điều ngự, dạy dỗ đàn con của Bốn Loài.
điều ngự trượng phu
Purusa-damya-sàrathi (S). Taming hero.
; Purusa-damya-sarathi (skt)—Điều Ngự Sư—Một danh hiệu của Phật vì Ngài có thể giúp chúng sanh điều ngự những ham muốn dục vọng—A title of the Buddha given to him as a master who tame and control the passions of men.
; (調禦丈夫) Phạm: puruwa damysàrathi, Pàli: purisadamma-sàrathi. Dịch âm: Phú lâu sa đàm miệu sa la đề. Bậc Điều ngự có thể hóa đạo tất cả trượng phu. Là một trong 10 tôn hiệu của đức Phật. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2 (Đại 25, 72 trung), nói: Phú lâu sa là trượng phu; Đàm miệu là có thể hóa độ; Sa la đề là Điều ngự sư, nên gọi là bậc Điều ngự sư có thể hóa đạo trượng phu. Vì đức Phật dùng đại từ, đại bi, đại trí nên có lúc Ngài dùng lời dịu dàng, có khi dùng lời quở trách, có khi dùng cả hai để điều phục chúng sinh khiến họ chẳng mất đạo tâm. (...) Đức Phật giáo hóa chúng sinh thường theo đạo chẳng bỏ, khiến chúng sinh được thiện pháp đến chết không mất. (xt. Thập Hiệu).
Điều Nhiên
(奝然, Chōnen, 938-1016): vị tăng sống vào khoảng giữa thời Bình An, vị Tổ đời thứ 15 của Đông Đại Tự, húy là Điều Nhiên (奝然), hiệu Pháp Tế Đại Sư (法濟大師), xuất thân vùng Kyoto, con của Đằng Nguyên Chơn Liên (藤原眞連). Ông theo Quán Lý (觀理) ở Đông Nam Viện của Đông Đại Tự học về Tam Luận, rồi theo Nguyên Cảo (元杲) ở Thạch Sơn Tự (石山寺) học Chơn Ngôn Mật Giáo. Năm 983, ông sang nhà Tống cầu pháp, được vua Thái Tông (太宗, tại vị 976-997) hậu đãi, rồi đi tham bái Ngũ Đài Sơn và một số nơi khác; đến năm 986 thì trở về nước, mang theo hơn 5.000 quyển ấn bản mới của Đại Tạng Kinh cùng với tượng Phật Thích Ca đứng bằng gỗ Chiên Đàn. Năm sau, ông dâng biểu xin triều đình cho kiến lập ngôi già lam ở Ái Đãng Sơn (愛宕山) để an trí tượng Phật đã thỉnh về, nhưng trong thời gian ông còn sống thì không thể thực hiện được chí nguyện này. Đến năm 989, ông làm Biệt Đương của Đông Đại Tự và tại nhiệm được 3 năm. Sau này, Thanh Lương Tự (清涼寺) được đệ tử ông là Thạnh Toán (盛算) kiến lập. Trước tác của ông để lại có Nhập Tống Nhật Ký (入宋日記) 4 quyển.
điều phục
To discipline, bring under control.
; To discipline—To bring under control.
; (調伏) 1. Điều hòa ở trong: Chế phục 3 nghiệp thân miệng ý, không làm các việc xấu ác, xa lìa tội lỗi, thuận theo chính pháp, rốt ráo ra khỏi 3 cõi. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 trung), nói: Sức điều phục các chúng sinh đúng như pháp. 2. Giáo hóa bên ngoài: Khiến những kẻ oán địch, ngoại đạo, ác ma đều hàng phụcmà xa lìa tội ác. Nghĩa là dùng pháp để điều phục những ngườinhu thuận, dùng thế lực hàng phục những kẻ cứng cỏi, ương ngạnh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma (Đại 14, 537 thượng), nói: Nối tiếp Tam bảo và làm cho hưng thịnh, không để dứt mất, hàng phục oán ma chế ngự ngoại đạo. Trong Mật giáo có 5 vị Đại minh vương là: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa, hiện tướng giận dữ để hàng phục oán địch, ác ma. Pháp tu lấy 5 vị này làm Bản tôn, gọi là Điều phục pháp (Phạm: Abhicàraka), là một trong 5 hoặc 4 loại pháp tu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.5 (bản dịch mới); Duy ma kinh sớ (Tịnh ảnh); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.4].
điều phục ma quân
To control or subjugate evil spirits.
điều phục thân khẩu ý
To bring into submission the body, mouth, and will.
điều phục vọng tâm
1) Theo dòng thiền Phật giáo, để điều phục vọng tâm, chúng ta phải không bỏ gì vào trong đó (vô tâm)—According to the Buddhist Zen, to tame the deluded mind we must not have any thing in it (take the mind of non-existence or the empty mind). 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, lúc cư sĩ Duy Ma Cật lâm bệnh; vâng mệnh Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đến thăm cư sĩ—According to the Vimalakirti Sutra, when Upasaka Vimalakirti was sick; obeying the Buddha's command, Manjusri Bodhisattva called on Vimalakirti to enquire after his health • Văn Thù hỏi: “Cư sĩ! Bồ Tát có bệnh phải điều phục tâm mình như thế nào?”—Manjusri asked: “How does a sick Bodhisattva control his mind?” • Duy Ma Cật đáp—Vimalakirti replied: a) “Bồ Tát có bệnh phải nghĩ thế nầy: 'Ta nay bệnh đây đều từ các món phiền não, điên đảo, vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thật có, lấy ai chịu bệnh đó. Vì sao? Vì tứ đại hòa hợp giả gọi là thân, mà tứ đại không chủ, thân cũng không ngã. Lại nữa, bệnh nầy khởi ra đều do chấp ngã, vì thế ở nơi ngã không nên sanh lòng chấp đắm.'—“A sick Bodhisattva should think thus: 'My illness comes from inverted thoughts and troubles (klesa) during my previous lives but it has no real nature of its own. Therefore, who is suffering from it? Why is it so? Because when the four elements unite to form a body, the former are ownerless and the latter is egoless. Moreover, my illness comes from my clinging to an ego; hence I should wipe out this clinging.' b) Bây giờ đã biết gốc bệnh, trừ ngay ngã tưởng và chúng sanh tưởng, phải khởi pháp tưởng. Nên nghĩ rằng: 'Thân nầy chỉ do các pháp hiệp thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt chỉ là pháp diệt. Lại các pháp ấy đều không biết nhau, khi khởi không nói nó khởi, khi diệt không nói nó diệt?' Bồ Tát có bệnh muốn diệt trừ pháp tưởng phải nghĩ rằng: 'Pháp tưởng nầy cũng là điên đảo, điên đảo tức là bệnh lớn, ta nên xa lìa nó.' Thế nào là xa lìa? Lìa ngã và ngã sở. Thế nào là lìa ngã và ngã sở? Là lìa hai pháp. Thế nào là lìa hai pháp? Là không nghĩ các pháp trong , ngoài, mà thực hành theo bình đẳng. Sao gọi là bình đẳng? Là ngã bình đẳng, Niết Bàn bình đẳng. Vì sao? Ngã và Niết Bàn hai pháp nầy đều không. Do đâu mà không? Vì do văn tự nên không. Như thế, hai pháp không có tánh quyết định. Nếu đặng nghĩa bình đẳng đó, thì không có bệnh chi khác, chỉ còn có bệnh KHÔNG, mà bệnh KHÔNG cũng không nữa.'—Now that he knows the source of his illness, he should forsake the concept of an ego and a living being. He should think of things (dharma) thus: 'A body is created by the union of all sorts of dharmas (elements) which alone rise and all, without knowing one another and without announcing their rise and fall.' In order to wipe out the concept of things (dharmas) a sick Bodhisattva should think thus: 'This notion of dharma is also an inversion which is my great calamity. So I should keep from it.' What is to be kept from? From both subject and object. What does this keeping from subject and object mean? It means keeping from dualities. What does this keeping from dualities mean? It means not thinking of inner and outer dharmas (i.e. contraries) by the practice of impartiality. What is impartiality? It means equality (of all contraries e.g.) ego and nirvana. Why is it so? Because both ego and nirvana are void. Why are both void? Because they exist only by names which have no independent nature of their own. “When you achieve this equality you are free from all illnesses but there remains the conception of voidness which also is an illusion and should be wiped out as well.' c) Vị Bồ Tát có bệnh dùng tâm không thọ mà thọ các món thọ, nếu chưa đầy đủ Phật pháp cũng không diệt thọ mà thủ chứng. Dù thân có khổ, nên nghĩ đến chúng sanh trong ác thú mà khởi tâm đại bi. Ta đã điều phục được tâm ta, cũng nên điều phục cho tất cả chúng sanh. Chỉ trứ bệnh chấp mà không trừ pháp, dạy cho dứt trừ gốc bệnh. Sao gọi là gốc bệnh? Nghĩa là có phan duyên, do có phan duyên mà thành gốc bệnh. Phan duyên nơi đâu? Ở trong ba cõi. Làm thế nào đoạn phan duyên? Dùng vô sở đắc; nếu vô sở đắc thì không có phan duyên. Sao gọi là vô sở đắc? Nghĩa là ly hai món chấp. Sao gọi là hai món chấp? Nghĩa là chấp trong và chấp ngoài; ly cả hai đó là vô sở đắc—A sick Bodhisattva should free himself from the conception of sensation (vedana) when experiencing any one of its three states (which are painful, pleasurable and neither painful nor pleasurable feeling). Before his full development into Buddhahood (that is before delivering all living beings in his own mind) he should not wipe out vedana for his own benefit with a view to attaining nirvana for himself only. Knowing that the body is subject to suffering he should think of living beings in the lower realms of existence and give rise to compassion (for them). Since he has succeeded in controlling his false views,, he should guide all living beings to bring theirs under control as well. He should uproot theirs (inherent) illnesses without (trying to) wipe out non-existence dharmas (externals for sense data). For he should teach them how to cut off the origin of illness. What is the origin of illness? It is their clinging which causes their illness What are the objects of their clinging? They are the three realms (of desire, form and beyond form). By what means should they cut off their clinging? By means (of the doctrine that) nothing whatsoever can be found, and (that) if nothing can be found there will be no clinging. What is meant by 'nothing can be found? It means (that) apart from dual views (There is nothing else that can be had). What are dual views? They are inner and outer views beyond which there is nothing. d) Ngài Văn Thù Sư Lợi! Đó là Bồ Tát có bệnh, điều phục tâm mình để đoạn các khổ như già, bệnh, chết là Bồ Đề của Bồ Tát. Nếu không như thế thì chỗ tu hành của mình không được trí tuệ thiện lợi. Ví như người chiến thắng kẻ oán tặc mới là dõng, còn vị nào trừ cả già, bệnh, chết như thế mới gọi là Bồ Tát—Manjusri, this is how a sick Bodhissattva should control his mind. Top wipe out suffering from old age, illness and death is the Bodhisattva's bodhi (enlightened practice). If he fails to do so his practice lacks wisdom and is unprofitable. For instance, a Bodhisattva is (called) courageous if he overcomes hatred; if in addition he wipes out (the concept of) old age, illness and death he is a true Bodhisattva. e) Bồ Tát có bệnh nên nghĩ thêm thế nầy: 'Như bệnh của ta đây, không phải là thật, không phải có; bệnh của chúng sanh cũng không phải thật, không phải có.' Khi quán sát như thế, đối với chúng sanh nếu có khởi lòng đại bi ái kiến thì phải bỏ ngay. Vì sao? Bồ Tát phải dứt trừ khách trần phiền não mà khởi đại bi, chớ đại bi ái kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán, nếu lìa được ái kiến thì không có tâm nhàm chán, sanh ra nơi nào không bị ái kiến che đậy, không còn bị sự ràng buộc, lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh nữa. Như Phật nói: 'Nếu mình bị trói mà lại đi mở trói cho người khác, không thể được; nếu mình không bị trói mới mở trói cho người khác được.'—A sick Bodhisattva should again reflcect: Since my illness is neither real nor existing, the illnesses of all living beings are also unreal and non-existent. But while so thinking if he develops a great compassion derived from his love for living beings and from his attachment to this false view, he should (immediately) keep from these feelings. Why is it so? Because a Bodhisattva should wipe out all external causes of troubles (klesa) while develping great compassion. For (this) love and (these) wrong views result from hate of birth and death. If he can keep from this love and these wrong views he will be free from hatred, and wherever he may be reborn he will not be hindered by love and wrong views. His next life will be free from obstructions and he will be able to expound the Dharma to all living beings and free them from bondage. As the Buddha has said, there is no such thing as untying others when one is still held in bondage for it is possible to untie others only after one is free from bonds. f) Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh nên điều phục tâm mình như thế, mà không trụ trong đó, cũng không trụ nơi tâm không điều phục. Vì sao? Nếu trụ nơi tâm không điều phục là pháp của phàm phu, nếu trụ nơi tâm điều phục là pháp của Thanh Văn, cho nên Bồ Tát không trụ nơi tâm điều phục hay không điều phục, lìa hai pháp ấy là hạnh Bồ Tát. Ở trong sanh tử mà không bị nhiễm ô, ở nơi Niết Bàn mà không diệt độ hẳn là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh phàm phu, không phải hạnh Hiền Thánh là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh nhơ, không phải hạnh sạch là hạnh Bồ Tát. Tuy vượt khỏi hạnh ma mà hiện các việc hàng phục ma là hạnh Bồ Tát. Cầu nhứt thiết trí, không cầu sái thời là hạnh Bồ Tát. Dù quán sát các pháp không sanh mà không vào chánh vị (chơn như) là hạnh Bồ Tát. Quán mười hai duyên khởi mà vào các tà kiến là hạnh Bồ Tát. Nhiếp độ tất cả chúng sanh mà không mê đắm chấp trước là hạnh Bồ Tát. Ưa xa lìa mà không nương theo sự dứt đoạn thân tâm là hạnh Bồ Tát. Tuy ở trong ba cõi mà không hoại pháp tánh là hạnh Bồ Tát. Tuy quán 'Không' mà gieo trồng các cội công đức là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành vô tướng mà cứu độ chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành vô tác mà quyền hiện thọ thân là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành vô khởi mà khởi tất cả các hạnh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành sáu pháp Ba la mật mà biết khắp các tâm, tâm sở của chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành sáu phép thần thông mà không dứt hết lậu hoặc phiền não là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ vô lượng tâm mà không tham đắm sanh về cõi Phạm thế (Phạm Thiên) là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành thiền định, giải thoát tam muội, mà không theo thiền định thọ sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ niệm xứ mà không hoàn toàn lìa hẳn thân, thọ, tâm, pháp là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ chánh cần mà không rời thân tâm tinh tấn là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành tứ như ý túc mà đặng thần thông tự tại là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành ngũ căn mà phân biệt rành rẽ các căn lợi độn của chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành ngũ lực mà ưa cầu thập lực của Phật là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành bảy pháp giác chi mà phân biệt rõ trí tuệ của Phật là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành bát chánh đạo mà ưa tu vô lượng Phật đạo là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành các pháp chỉ quán trợ đạo mà trọn không thiên hẳn nơi tịch diệt (Niết Bàn) là hạnh Bồ Tát. Dù thực hành các pháp bất sanh bất diệt, mà dùng tướng hảo trang nghiêm thân mình là hạnh Bồ Tát. Dù hiện oai nghi theo Thanh Văn, Duyên Giác mà không rời Phật pháp là hạnh Bồ Tát. Dù tùy theo tướng hoàn toàn thanh tịnh của các pháp mà tùy theo chỗ sở ứng hiện thân là hạnh Bồ Tát. Dù quán sát cõi nước của chư Phật trọn vắng lặng như hư không mà hiện ra rất nhiều cõi Phật thanh tịnh là hạnh Bồ Tát. Dù chứng đặng quả Phật, chuyển Pháp Luân, nhập Niết Bàn mà không bỏ đạo Bồ Tát là hạnh Bồ Tát vậy—Manjusri, a sick Bodhisattva should thus control his mind while dwelling in neither the (state of) controlled mind nor its opposite, that of uncontrolled mind. For if he dwells in (the state of) uncontrolled mind, this is stupidity and if he dwells in (that of) controlled mind, this is the sravaka stage. Hence a Bodhisattva should not dwell in either and so keep from both; this is the practice of the Bodhisattva stage. When staying in the realm of birth and death he keeps from its impurity, and when dwelling in nirvana he keeps from (its condition of) extinction of reincarnation and escape from suffering; this is the practice of the Bodhisattva stage. That which is neither worldly nor saintly is Bodhisattva development (into Buddhahood). That which is neither impure nor pure is Bodhisattva practice. Although he is beyond the demonic state he appears (in the world) to overcome demons; this is Bodhisattva conduct. In his quest of all knowledge (sarvajna) he does not seek it at an inappropriate moment; this is Bodhisattva conduct. Although he looks into the uncreated he does not achieve Buddhahood; this is Bodhisattva conduct. Although he looks into nidana (or the twelve links in the chain of existence) he enters all states of perverse views (to save living beings); this is Bodhisattva conduct. Although he helps all living beings he does not give rise to clinging; this is Bodhisattva conduct. Although he keeps from the phenomenal he does not lean on the voidness of body and mind; this is Bodhisattva conduct. Although he passes through the three worlds (of desire, form and beyond form) he does not injure the Dharmata; this is the Bodhisattva conduct. Although he realizes the voidness (of thing) he sows the seeds of all merits; this is Bodhisattva conduct. Although he dwells in formlessness he continues delivering living beings; this is Bodhisattva conduct. Although he refrains from (creative) activities he appears in his physical body; this is Bodhisattva conduct. Although he keeps (all thoughts) from rising he performs all good deeds; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the six perfections (paramitas) he knows all the mental states of living beings; this is Bodhisattva conduct. Although he poesses the six supernatural powers he refrains from putting an end to all worldy streams; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the four infinite states of mind, he does not wish to be reborn in the Brahma heavens, this Bodhisattva conduct. Although he practices meditation, serenity (dhyana), liberation and samadhi, he does not avail himself of these to be reborn in dhyana heavens; this is Bodhisattva conduct. Although he practice the four states of mindfulness he does not keep for ever from the karma of body and mind; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the four right efforts he persists in physical and mental zeal and devotion; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the four Hinayana steps to supernatural powers he will continue doing so until he achieves all Mahayana supernatural powers; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the five spiritual faculties of the sravaka stage he discerns the sharp and dull potentialities of living beings; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the five powers of the sravaka stage he strives to achieve the ten powers of the Buddha; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the seven Hinayana degrees of enlightenment he discerns the Buddha's all-wisdom (sarvajna); this is Bodhisattva conduct. Although he practices the eightfold noble truth (of Hinayana) he delights in treading the Buddha's boundless path; this is Bodhisattva conduct. Although he practices samathavipasyana which contributes to the realization of bodhi (enlightenment) he keeps from slipping into nirvana; this is Bodhisattva conduct. Although he practices the doctrine of not creating and not annihilating things (dharma) he still embellishes his body with the excellent physical marks of the Buddha; this is Bodhisattva conduct. Although he appears as a sravaka or a pratyeka-buddha, he does not stray from the Buddha Dharma; this is Bodhisattva conduct. Although he has realized ultimate purity he appears in bodily form to do his work of salvation; this is Bodhisattva conduct. Although he sees into all Buddha lands which are permanently still like space, he causes them to appear in their purity and cleanness; this is Bodhisattva conduct. Although he has reached the Buddha stage which enables him to turn the wheel of the Law (to preach the Dharma) and to enter the state of nirvana, he does not forsake the Bodhisattva path; this is bodhisattva conduct.”
điều phục yết ma
(調伏羯磨) Pháp yết ma buộc vị tỉ khưu phạm pháp phải ở riêng, là một trong 2 loại yết ma (Vĩnh bấn yết ma, Điều phục yết ma). Khi một vị tỉ khưu phạm pháp mà chưa sám hối, thì tất cả các việc ăn uống, đi đứng, nói năng v.v... không được cùng chung với đại chúng; làm như vậy là để nhiếp hóa điều phục kẻ phạm pháp khiến cho họ biết lỗi mà sửa đổi, cầu xin sám hối trước chúng tăng và nguyện không tái phạm nữa. [X. luận Tì ni mẫu Q.2]. (xt. Nhị Chủng Yết Ma).
điều tiết
To harmonize and moderate.
điều tra
Investigation.
điều trị
Therapies.
điều trực định
Theo sự giải thích của tông Thiên Thai, Điều Trực Định có nghĩa là làm cho hòa hợp hay hài hòa tâm bằng cách sữa chữa điều chỉnh những thứ bất thường và lắng tâm không cho nó vọng động lãng xao—According to the T'ien-T'ai sect, “Điều Trực Định” means to harmonize the discord of the mind, to straighten its irregularities, and quiet its distractions.
điều tụng
Âm điệu trong bài tụng—Hymns and chants of gatha.
điều y
Áo đắp từng mảnh của chư Tăng Ni—The monk's patch-robe.
điều ý
Kiểm soát tâm ý và hàng phục ma quân—To control the will, and to subdue its evil.
; (調意) Điều phục ý niệm không cho nghĩ ác. Như dùng bố thí đối trị tham lam bỏn xẻn, dùng giữ giới đối trị phá giới, dùng nhịn nhục đối trị tức giận, dùng tinh tiến đối trị biếng nhác, dùng thiền định đối trị tán loạn, dùng trí tuệ đối trị ngu si. Vô lượng thọ kinh sớ quyển thượng của ngài Tuệ viễn đời Tùy (Đại 37, 102 thượng), nói: Tu hạnh bố thí để đối trị tính bỏn xẻn, gọi là Điều ý.
điều ý hàng ma
To control the will and to subdue the evils.
Điều điều
條條; C: tiáo tiáo; J: jōjō; |Từng chút, từng miếng, từng phần, mỗi điều khoản.
Điều điều 條條
[ja] ジョウジョウ jōjō ||| Each piece, each part, each section, every clause. => Từng chút, từng miếng, từng phần, mỗi điều khoản.
điều độ
To arrange, calculate, manipulate.
; Moderate. • Đặc biệt nói về điều độ về vật chất—Moderate—Temperate—To arrange—To calculate—To manage, especially relating to provision for material needs. • Theo Kinh Pháp Cú, câu 325, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 325, the Buddha taught: “Như heo kia ưa ngủ, lại tham ăn, kẻ phàm ngu vì tham ăn ưa ngủ, nên phải bị tiếp tục sanh mãi trong vòng luân hồi—The stupid one, who is torpid, gluttonous, sleepy and rolls about lying like a hog nourished on pig-wash, that fool finds rebirth again and again.”
Điều 條
[ja] ジョウ jō ||| (1) Twig, small branch. (2) Fiber, string, tendon, vein. (3) Grain, texture. (4) Linear; something long and thin. (5) Reason, theme, logic, circumstances. => 1. Nhánh nhỏ, cành cây non. 2. Sợi, chuỗi, gân, tĩnh mạch. 3. Thớ, dệt. 4. Đường kẻ, vật dài và mỏng. 5. Lý do, đề tài, luận lý, tình huống.
Điều-đạt
xem Đề-bà-đạt-đa.
điểm
1) Một chấm, một điểm—A dot—Nod—Punctuate. 2) Tiếng đồng hồ điểm: The stroke of a clock. 3) Kiểm điểm: To check off.
điểm hoá
(點化) Dạy bảo, dẫn dắt, chỉ bày. Bích nham lục tắc 60 (Đại 48, 192 trung) chép, Vân môn dạy chúng tăng rằng: Điểm hóa đúng lúc, dao giết người, gươm cứu người, đổi lấy con mắt của các ông rồi! Cây gậy hóa thành rồng.
điểm huyệt
To hit a mortal point.
điểm hóa
Cải hóa—Touch into activity, or conversion.
điểm kiểm
(點檢) Cũng gọi Kiểm điểm. Xem xét mọi việc. Trong Thiền lâm, vị hành giả Trà đầu tuần tra kẻ trộm cắp của chùa, hoặc vị hóa chủ xem xét giấy tờ, thư tín, cho đến trà nước, cơm cháo v.v... Còn có nghĩa kiểm xét tâm cảnh. Bích nham lục tắc 76 (Đại 48, 204 trung), nói: Hãy ngồi yên lặng, hướng vào câu ấy mà kiểm điểm xem. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương, Q.hạ Lưỡng tự chương, Tiết lạp chương; Thiền uyển thanh qui Q.5 Hóa chủ điều, Q.9 Đồng hành điều].
điểm mặt
To shake (point) one's finger at someone's face.
điểm nóng tối hậu
Last warm spot—See Lục Điểm Tái Sanh.
điểm sơ khởi
Initial point.
điểm thang
(點湯) Cũng gọi Điện thang. Nghĩa là dâng nước nóng cúng Phật, cúng Tổ hoặc cúng đại chúng. Thang có nhiều loại như: mễ thang, thất hương thang v.v... [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương]. (xt. Điểm Trà).
điểm thạch
Khi Đạo Sinh (355-434) giảng Kinh Niết Bàn, đến chỗ Xiển Đề thành Phật, đá nghe còn phải gật đầu (Sư Đạo Sinh người thời Đông Tấn khoảng 355-434, có lần giảng về thuyết xiển đề thành Phật, bị mọi người công kích khai trừ, sư phải ẩn cư về Lư Sơn. Theo truyền thuyết thì sau khi về Lư Sơn, sư bày những hòn đá quanh thảo am ra làm đệ tử rồi tiếp tục giảng về xiển đề thành Phật. Đá nghe đều gật đầu. Về sau, kinh Đại Bát Niết Bàn do Đàm Vô Sấm dịch truyền đến phương nam, nội dung về xiển đề thành Phật giống như điều ngài Đạo Sinh đã giảng, mọi người lúc đó mới nhận ra sư là người giỏi. Lúc đó mới có câu “Sinh côn thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu,” nghĩa là khi ông Sinh thuyết pháp thì đá cứng cũng phải gật đầu)—The stones nodded in approval, when T'ao-Shêng read the Nirvana Sutra.
điểm trà
(點茶) Cũng gọi Điện trà. Cùng với điểm thang (điện thang) hợp chung lại gọi là Điểm trà thang. Nghĩa là pha trà, rót nước nóng cúng dường. Trong các Thiền viện, trà và nước nóng thường được dâng cúng Phật, Tổ hoặc cúng dường chúng tăng. Khi vị Trụ trì đãi chúng tăng uống trà, nước nóng, thì gọi là Trà lễ hoặc Thang lễ. Trong trường hợp cúng một lúc đãi cả trà và thang thì gọi là Trà thang lễ. Tấm bảng treo lên để thông báo việc vị Trụ trì đãi trà gọi là Trà bài; tấm thiệp mời tham dự tiệc trà gọi là Trà trạng; quả trống đánh lúc cử hành nghi lễ uống trà gọi là Trà cổ. Trong hai quả trống ở Pháp đường, quả ở góc đông bắc là Pháp cổ, quả ở góc tây bắc là Trà cổ. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Trụ trì chương, Q.hạ Lưỡng tự chương; Thiền lâm tượng khí tiên ẩm đạm môn].
điểm trần
(點塵) Bụi nhỏ. Đồng nghĩa với Hằng hà sa. Ví dụ cho số lượng rất nhiều, không thể tính đếm được. (xt. Hằng Hà Sa).
điểm tâm
Buổi ăn sáng nhẹ—A snack, or light repast in the morning, not a proper meal.
; (點心) Tâm muối. Tiếng Tây tạng: Lantshva# i sems. Là một trong 60 tâm. Tức chỉ cho cái tâm tráo trở tìm tòi nhớ nghĩ suy tính so đo, dần dần tăng trưởng đến vô cùng. Ví dụ tâm người một khi đã khởi động suy nghĩ thì mỗi lúc càng tăng thêm suy nghĩ, hệt như tính chất mặn của muối, hễ vào chỗ có muối thì vị mặn càng tăng thêm. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng), nói: Thế nào là diêm tâm? Nghĩa là suy nghĩ lại càng tăng thêm sự suy nghĩ. Trong Mật tông, lấy sự chuyên tâm an trụ nơi lí chữ A chẳng sinh để đối trị diêm tâm.
điểm tịnh
(點淨) I. Điểm Tịnh. Theo luật Phật chế, tỉ khưu được phép dùng ba tấm áo và đồ lót để ngồi v.v..., nhưng khi sử dụng áo mới phải làm phép điểm tịnh, nghĩa là lấy một miếng vải cũ vá lên áo mới hoặc chấm một chấm đen lên áo mới. Như thế mới không phạm luật và đượcthanh tịnh. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 3]. II. Điểm Tịnh. Kiểm điểm số người tham dự pháp hội. Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 454 hạ), nói: Khi có pháp sự, đánh trống, thổi loa, Tri khách điểm tịnh rồi, dẫn thí chủ niệm hương xong, quì trước lư hương.
điểm tức bất đáo
(點即不到) Đánh dấu khi không đến. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đối lại với Đáo tức bất điểm (đến thì không phải đánh dấu). Trong Thiền lâm, khi chúng tăng nhóm họp, vị nào vắng mặt thì ghi một dấu chấm bên cạnh tên của vị ấy. Ngoài ra, Điểm tức bất đáo còn được dùng để chỉ cho người hiểu được chút ít yếu chỉ của tông môn thì hay nói nhiều; còn người lãnh hội sâu sắc thì lại ít nói gọi là Đáo tức bất điểm. [X. Thung dung lục tắc 28; Cảnh đúc truyền đăng lục Q.12 Hưng hóa Tồn tưởng chương].
điểm tựa
Strong point.
điểm xuất phát
Point of departure.
điểm đăng
Đốt đèn—To light a lamp.
điển
Kinh điển—Canon—Rule.
điển cố
Historical references.
điển khách
Vị Tăng phụ trách việc tiếp khách trong tự viện—The monk who takes charge of visitors in a monastery.
; (典客) Cũng gọi Tri khách (.......), Điển tân (). Chức vụ của vị tăng phụ trách việc tiếp khách trong Thiền lâm, một trong 6 chức Đầu thủ của Tây tự (). Cứ theo Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 Lưỡng tự chương Tri khách điều ghi, thì phàm các viên quan, đàn việt, bậc tôn túc và bậc danh đức từ các nơi đến thăm viếng hoặc là người lỡ đường ghé vào, vị Điển khách đều phải pha trà nước tiếp đãi, rồi phái người đi thông báo cho vị Trụ trì biết, sau mới dẫn đến yết kiến. Nếu là khách thường thì chỉ tiếp đãi ở liêu Tri khách. Nếu khách muốn thăm hỏi vị Trụ trì, Thủ kho, các liêu v.v... thì sai người đưa đi, còn nếu khách muốn nghỉ lại qua đêm thì phải chuẩn bị đầy đủ giường màn, đồ lặt vặt, dầu đèn, than củi v.v... Ngoài ra, đối với những người mới đến cầu học, phải đặc biệt quan tâm, nếu vị Duy na đi vắng thì Điển khách phải làm việc thay. Nghĩa là Điển khách phải trông nom việc cơm cháo cho họ, không được để thiếu sót. [X. Thiền uyển thanh qui Q.4]. (xt. Tri Khách).
điển lãm
Phần tóm lược những điểm chính yếu trong kinh—Summary of the essentials of a sutra, or canonical book.
; (典攬) Điển là kinh điển; Lãm là chọn lấy những điểm chủ yếu. Nghĩa là tóm tắt những nghĩa cốt yếu trong kinh điển để giảng nói cho rõ. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 275 trung), nói: Mở bày đường vào Niết bàn, dạy cho điển lãm. (...) Trí tuệ điển lãm là cốt tủy của việc tu đạo. Trong Vô lượng thọ kinh sớ, ngài Tuệ viễn (chùa Tịnh ảnh) cũng nói: Thông hiểu kinh điển mà tóm tắt được nghĩa cốt yếu, gọi là điển lãm.
điển toà
(典座) Chức vụ của vị tăng phụ trách việc ăn uống của đại chúng trong tùng lâm, là một trong 6 vị Tri sự thuộc Đông tự. Cứ theo điều Điển tọa của chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4, chức Điển tọa trông coi cơm cháo cho đại chúng, tất cả thức ăn uống đều phải sạch sẽ, thích hợp và sử dụng một cách tiết kiệm. Chức vụ này tuy lo việc ăn uống lặt vặt, nhưng từ xưa đã rất được coi trọng và thường thỉnh cử vị tăng đức hạnh cao khiết đảm nhiệm. Bởi vì công việc này cũng là một phương pháp tu trì, nếu giao cho một người không có tâm đạo phụ trách thì chỉ luống công vô ích. Ngoài ra, căn nhà của vị Điển tọa ở gọi là Điển tọa liêu () hoặc Điển tọa phòng. Dưới quyền Điển tọa có các chức vụ: Phạn đầu (phụ trách cơm), Chúc đầu (phụ trách cháo), Mễ đầu (phụ trách gạo), Sài đầu (phụ trách củi), Viên đầu (phụ trách việc vườn tược) v.v... [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Thiền uyển thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên chức vị môn]. (xt. Tri Sự).
điển toà giáo huấn
(典座教訓) Có 1 quyển, do thiền sư Đạo nguyên, Tổ của tông Tào động Nhật bản, soạn, thu vào Đại chính tạng tập 82 Vĩnh bình thanh qui quyển đầu. Khi ngài Đạo nguyên đang tu học tại Trung quốc (đời Tống), một hôm, ngài gặp một vị lão tăng giữ chức Điển tọa từ núi A dục vương đến. Vị lão tăng nói: Điển tọa cũng là một việc tu hành Phật đạo. Từ đó, đối với chức vụ Điển tọa, ngài Đạo nguyên có một thái độ nghiêm chính, dù một hạt gạo, một hột cơm cũng không để lãng phí. Nội dung sách này thu chép những điều giáo huấn chức vụ Điển tọa, nghĩa là việc trông coi cơm cháo cho chư tăng cũng là một phương tiện tu đạo và được rất nhiều công đức. Bởi vậy, vị Điển tọa cần phảidụng tâm để cho ba đức viên mãn và sáu vị hoàn bị.
điển toà trùng sinh
(典座蟲生) Điển tọa sinh sâu. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Qui sơn Linh hựu, Sơ tổ của tông Qui ngưỡng và sư Thạch sương Khánh chư ở đời Đường. Thời gian ở đạo tràng của thiền sư Qui sơn, sư Thạch sương giữ chức Mễ đầu. Một hôm, ngài Qui sơn đến chỗ sư đang sàng gạo và nói: - Vật của thí chủ không được để rơi rớt! Thạch sương trả lời: - Không dám làm rơi rớt. Ngài Qui sơn liền nhặt một hạt gạo từ mặt đất lên, nói: - Ông bảo không dám để gạo rơi, vậy chứ cái gì đây? Thạch sương im lặng. Ngài Qui sơn nói: - Đừng xem thường hạt gạo này, vì trăm nghìn hạt gạo đều do hạt gạo này mà ra! Thạch sương bèn hỏi lại: - Vậy hạt gạo này từ đâu sinh ra? Ngài Qui sơn cười lớn và trở về phương trượng. Buổi chiều, ngài lên Pháp đường nói với đại chúng: - Trong gạo có sâu, đại chúng nên thận trọng! Tiếng sâu trong câu nói của ngài Qui sơn là ám chỉ Thạch sương. Vì cơ phong của sư Thạch sương rất sắc bén, lanh lẹ, chứng tỏ sức lãnh ngộ của sư đã hoàn toàn thấu triệt, nên ngài Qui sơn dùng lời khen ngợi sư một cách kín đáo. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Thiền uyển mông cầu Q.trung].
Điển toạ
典座; J: tenzo;|Người lo việc ẩm thực trong một Thiền viện. Công việc này là một trong những công việc đòi hỏi trách nhiệm nhiều nhất và vì vậy chỉ được truyền trao cho những vị tăng có tuổi, đã có nhiều kinh nghiệm.|Nhiều vị Thiền sư danh tiếng đã đảm nhận chức vụ này như Quy Sơn Linh Hựu, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Ðan Hà Thiên Nhiên v.v… Cách làm việc của một Ðiển toạ khác với một đầu bếp bình thường ở chỗ tư tưởng. Ðiển toạ xem công việc của mình là cúng dường Tam bảo và cơ hội để luyện tâm. Nếu Ðiển toạ lo nấu thức ăn ngon, tiết kiệm, không phí của, thận trọng trong từng hành động, thì công việc này chính là Thiền trong mọi hành động hằng ngày.|Chính vị Thiền sư danh tiếng của Nhật là Ðạo Nguyên Hi Huyền cũng đã rõ được tầm quan trọng của một vị Ðiển toạ trong một Thiền viện và chính Sư cũng đã được một vị dạy thế nào là »Thiền« trong Thiền tông. Khi vừa đặt chân sang đất Trung Quốc du học thì Sư đã có dịp yết kiến một cao tăng – dưới dạng một vị Ðiển toạ tại núi A-dục vương. Sư đang ngồi trên thuyền thì vị Ðiển toạ đến mua nấm và dọ hỏi cách nấu nấm này ra sao. Ông từ chối lời mời ở lại đêm của Sư vì lí do phải trở về lo nấu ăn cho tăng chúng và và nói thêm rằng, chính việc làm đầy trách nhiệm này là thiền trong hoạt động. Sư ngạc nhiên hỏi vì sao ông không chú tâm đến toạ thiền và quán Công án trong lúc tuổi đã cao. Vị Ðiển toạ chỉ mỉm cười và nói: »Ông bạn từ phương xa của tôi! Ông không biết biện đạo (j: bendō) mà cũng chẳng thông hiểu văn tự! (j; monji).« Lời nói này đã khắc sâu vào lòng Sư và sau này Sư cũng có viết một tác phẩm quan trọng với tên Ðiển toạ giáo huấn (典座教訓; j: ten-zokyōkun) để khuyên răn đệ tử đảm nhận chức vụ này trong thiền viện.
điển táng
(典喪) Chức vụ của vị tăng trông coi về tang lễ trong tùng lâm. Chức này được chia làm hai: Chủ tang và Tang tư. Chủ tang cũng gọi là Tang chủ, là người phụ trách tổng quát mọi việc liên quan đến tang lễ, còn Tang tư ở dưới vị Chủ tang, phải thông hiểu những nghi thức và qui tắc của tang lễ để hướng dẫn việc chôn cất cho đúng phép. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3 Trụ trì chương Thiên hóa điều].
Điển Tòa
(典座, Tenso): chức vị người có trách nhiệm trông coi về chỗ ngồi của chúng tăng. Nguyên trước kia vị này trông coi về giường ngũ cũng như y phục của tăng chúng. Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽) 1, có đoạn rằng: “Điển Tòa, Tăng Kỳ Luật vân, điển thứ phó sàng tòa, thử chưởng tăng cửu sự chi nhất dã (典座、僧祇律云、典次付床座、此掌僧九事之一也, Tăng Kỳ Luật dạy rằng Điển Tòa là người chuyên trách lo về giường nằm chỗ ngồi; vị này chấp chưởng một trong chín việc của chúng tăng).” Nó còn là chức vụ trong yếu trong Lục Tri Sự (六知事, sáu vị Tri Sự). Trong Thiền Tông, đây là chức vị trông coi về việc ăn uống cho đại chúng. Chương Điển Tòa của Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) 3 có đoạn rằng: “Điển Tòa chức, chủ đại chúng trai chúc (典座職、主大眾齋粥, chức Điển Tòa chủ yếu lo cơm cháo chay cho đại chúng).”
điển tọa
Vị Tăng phụ trách về việc sắp xếp chỗ ngồi, chỗ đứng, giường chiếu, và ăn uống trong tự viện—The verger who indicates the order of sitting, standing, bedding, mat, and food, etc. in a monastery.
điểu
Chim—A bird.
; (鳥) Phạm: Sat, su, maĩju. Dịch âm: Tát, Tô, Mạn nhũ. Dịch ý: Không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, tuyệt đối. Kinh điển thù thắng gọi là Diệu điển (đặc biệt chỉ cho kinh Pháp hoa); pháp không thể nghĩ bàn, không thể so sánh gọi là Diệu pháp (mĩ danh của kinh Pháp hoa), đạo lí sâu xa mầu nhiệm gọi là Diệu lí; cảnh giới bất khả tư nghì gọi là Diệu cảnh; quả nhờ diệu nhân diệu hạnh mà chứng được gọi là Diệu quả (quả Phật). [X. Đại nhật kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Pháp hoa du ý; Pháp hoa huyền tán Q.1; Phạm ngữ tạp danh; Bí tạng kí Q.cuối]. (xt. Thập Diệu).
điểu cư
(鳥居) Một trong 19 Chấp kim cương của Mật giáo. Vị Kim cương này thường mở bày diệu vị đề hồ cho chúng sinh; bởi vì Ngài trông coi về diệu đức tối tôn tối thắng của Mạn đồ la bí mật nên gọi là Diệu chấp kim cương. Vị Kim cương này có đầy đủ đức lợi mình và lợi người. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].
điểu khoà đạo lâm
(鳥窠道林) (741 - 824) Vị Thiền tăng thuộc tông Ngưu đầu ở đời Đường. Người Phú dương, Hàng châu, họ Phan (có thuyết nói là họ Ông), thủa nhỏ tên là Hương quang. Cứ theo truyện Đạo lâm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4 nói, thì năm lên 9 tuổi, sư xuất gia, 21 tuổi, sư đến thụ giới Cụ túc ở chùa Quả nguyện thuộc Kinh châu (Hồ bắc). Sau sư theo pháp sư Phục lễ ở chùa Tây minh tại Trường an học kinh Hoa nghiêm và luận Đại thừa khởi tín. Ngài Phục lễ dạy cho sư bài tụng Chân vọng và bảo tu Thiền định. Bấy giờ, vua Đại tông thỉnh thiền sư Đạo khâm vào kinh đô, sư Đạo lâm đến tham yết và khế ngộ tâm yếu. Trên đường về nam, sư thấy trên núi Tần vọng có cây tùng cao to, tàn lá quấn quanh tròn như cái lọng, sư bèn lên ở trên đó, bởi thế người đời gọi là thiền sư Điểu khòa (Thiền sư tổ chim), bên cạnh lại có tổ chim khách nên cũng gọi là hòa thượng Thước sào. Khi Bạch cư dị làm Thứ sử Hàng châu, có lần đã đến thăm sư và hỏi (Vạn tục 138, 24 hạ): Thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: - Chớ tạo các điều ác, vâng làm những việc lành. Cư dị nói: - Con nít 3 tuổi cũng nói được như vậy! Sư bảo: - Con nít 3 tuổi tuy nói được, nhưng ông già 80 làm không được. Bạch cư dị thán phục, liền cất gác bằng tre cho sư ở và từ đó thường đến hỏi đạo. Gác ấy về sau trở thành chùa Quảng hóa. Năm Trường khánh thứ 4 (824) sư tịch, hưởng thọ 84 tuổi, 63 tuổi hạ, thụy hiệu Viên tu Thiền sư. Về hành trạng của sư, trong Tống cao tăng truyện quyển 11 ghi chép có hơi khác. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Liên đăng hội yếu Q.2; Phật tổ lịch đại thông tải Q.16; Thiền tông chính mạch Q.2; Phật tổ cương mục Q.21].
điểu thú toà
(鳥獸座) Chỉ cho tòa ngồi của chư Phật, Bồ tát có tạo hình cầm thú. Thông thường trên tòa chim thú còn đặt tòa sen. Có nhiều loại hình: - Tòa sư tử là của bồ tát Văn thù, Pháp giới hư không tạng và La sát thiên. - Tòa voi của bồ tát Phổ hiền, Kim cương hư không tạng và Đế thích thiên. - Tòa ngựa của bồ tát Bảo quang hư không tạng và Mã minh. - Tòa trâu của Uy đức minh vương, Diêm ma thiên và y xá na thiên. - Tòa dê của Hỏa thiên. - Tòa chim công của Khổng tước minh vương và Liên hoa hư không tạng. - Tòa chim kim sí (Ca lâu la) của Nghiệp dụng hư không tạng. - Tòa con rùa của Thủy thiên. - Tòa quỉ của Tì sa môn thiên. Ngoài ra, trời Tứ thiên vương đạp trên lưng tà quỉ, Minh vương Hàng tam thế thì đạp trên lưng trời Đại tự tại và vợ là Ô ma. xt. Tòa).
điểu thử tăng
1) Điểu Thử Tăng là vị Tăng phá giới, được ví với một loài có thân hình nửa chim nửa chuột: A “bat monk,” i.e. one who breaks the commandments, with elusiveness of a creature that is partly bird and partly mouse. 2) Người nói chuyện không có nghĩa lý giống như tiếng rít của loài chim hay chuột: One who chatters without meaning like the twittering of birds or the squeaking of rats.
; (鳥鼠僧) I. Điểu thử tăng: Tăng chim chuột. Ví dụ tỉ khưu phá giới. Cũng gọi là thử tăng: Tăng chuột. Chim chuột là tên khác của loài dơi. Dơi tuy bay như chim mà không phải là loài chim, cho nên dùng để ví dụ cho tăng lữ trụy lạc ở thời mạt pháp. Kinh Phật tạng quyển thượng (Đại 45, 788 hạ), nói: Ví như con dơi, lúc muốn bắt chim thì chui vào hang làm chuột, khi muốn bắt chuột thì bay lên không trung làm chim, nhưng thực thì chim chẳng ra chim chuột chẳng ra chuột, thân thì hôi hám, chỉ thích chỗ tối tăm. Này Xá lợi phất! Các tỉ khưu phá giới cũng như thế, đã chẳng được dự vào hàng tăng để bố tát, tự tứ, cũng chẳng phải đi phu dịch cho nhà vua, không gọi là tại gia, cũng chẳng phải là xuất gia. II. Điểu thử tăng: Dùng tiếng khịt khịt (tức...) của chuột và tiếng chiếp chiếp (không) của chim để ví dụ lời nói vô ý nghĩa. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 779 thượng), nói: Bọn ta ngu si, vừa nghe tức không..... liền bỏ tu hành, chứ không biết rằng nghĩa của thử tức điểu không.. ......... (tiếng kêu của chuột, của chim), đã được nói nhiều trong các kinh luận, mà chẳng chịu tìm hiểu.
điểu tích
Dấu tích mà chim đã để lại trong không trung, đây là điều không tưởng—The tracks left in the air by a flying bird, unreal.
; (鳥迹) Dấu chân của chim trong hư không. Chim bay giữa hư không chẳng để lại dấu vết gì, từ ngữ này được dùng để ví dụ các pháp chỉ có tên suông chứ không có thực thể. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 377 trung), nói: Ví như dấu chân chim hiện trong hư không, thực chẳng có việc ấy. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma cật sở vấn quyển trung nói: Bồ tát quán chúng sinh như dấu chân chim trong hư không, như con của thạch nữ (đàn bà bằng đá), như việc trong chiêm bao.
điểu tứ sinh
(鳥四生) Loài chim thuộc 4 cách sinh. Cứ theo kinh Khởi thế nhân bản quyển 5, ở mạn bắc biển lớn có một đại thụ (cây to) tên là Cư tra xa ma li, ở bốn phía cây này đều có cung điện đẹp đẽ lộng lẫy và ở đó có vua chim Kim sí (chim bảo vệ Phật pháp, ăn thịt rồng) và rồng cư trú. Cả chim và rồng đều là loài vật thuộc 4 cách sinh: sinh từ trứng, sinh từ bào thai, sinh nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh. 1. Vua chim Kim sí sinh từ trứng ở phía đông đại thụ, chỉ có thể bắt rồng sinh từ trứng để ăn thịt. 2. Vua chim Kim sí sinh từ bào thai ở phía nam đại thụ, có thể bắt rồng sinh từ trứng và từ bào thai để ăn. 3. Vua chim Kim sí ở phía tây đại thụ, có thể bắt rồng sinh từ trứng, từ bào thai và từ nơi ẩm ướt để ăn. 4. Vua chim Kim sí tự nhiên hóa sinh ở phía bắc đại thụ, có thể bắt rồng sinh từ trứng, từ bào thai, từ nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh để ăn.
Điểu Vũ Thiên Hoàng
(鳥羽天皇, Toba Tennō, tại vị 1107-1123): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thời Bình An, Hoàng Tử thứ nhất của Quật Hà Thiên Hoàng (堀河天皇, Horikawa Tennō, tại vị 1086-1107), tên là Tông Nhân (宗仁, Munehito). Ông nhường ngôi lại cho Sùng Đức Thiên Hoàng (崇德天皇, Sutoku Tennō, tại vị 1123-1141), đến năm 1129 (niên hiệu Đại Trị [大治] thứ 4), ông kế thừa sự nghiệp của Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇), làm Viện Chính trong suốt 28 năm trường với 3 đời vua. Chính ông đã từng bài xích Sùng Đức Thượng Hoàng (崇德上皇).
điểu đạo
1) Đường đi của chim, ý nói những việc khó khăn, bí ẩn: The path of the birds, evasive, mysterious, difficult, as is the mystic life. 2) Một hòn đảo thần thoại chỉ có thể bay đến đó mà thôi: A fabulous island only reached by flight.
; (鳥道) Đường chim. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền lâm, từ này được dùng để ví dụ chí đạo (ở đây chỉ cho đạo Thiền) mông mênh thăm thẳm, đến đi tự tại, không rơi vào tất cả cái thấy thiên chấp có - không, mê - ngộ, giống như con chim bay giữa bầu trời bao la, dứt bặt mọi dấu vết. Động sơn lục (Đại 47, 524 hạ) chép: Giáp sơn hỏi: - Động sơn có ngôn cú gì để dạy người học không? Tăng thưa: - Bình thường dùng Tam lộ học dạy người. Giáp sơn hỏi: - Tam lộ học là những gì? Tăng đáp: - Huyền lộ, điểu đạo và triển thủ. Tổ đình sự uyển quyển 4 (Vạn tục 113, 50 hạ), nói: Điểu đạo cũng như hư không vậy.
điện
Caitya (S). A temple, hall, palace.
; 1) Dâng lễ: To offer. 2) Đền chùa: A temple—A hall—A place. 3) Điển chớp: Lightning. 4) Tượng trưng cho vô thường: Symbolizes the impermanence and transient.
điện chủ
Điện Ti—Tên gọi khác của chức Tri Điện trong chùa—Another name for the warden of a temple.
; (殿主) Cũng gọi Điện tư (......). Tên khác của Tri điện. Một trong 6 vị Đầu thủ của Tây tự (). Chức vụ trông nom việc bao sái, quét tước và đèn hương hoa trái trên điện Phật. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng Lưỡng tự chương Tây tự đầu thủ điều]. (xt. Tri Điện).
điện chủ, điện từ
The warden of a temple.
điện hỏa thạch quang
See Điện Quang Thạch Hỏa.
điện phật
Buddhist shrine.
điện quang thạch hoả
(電光石火) Tia lửa xẹt ra từ viên đá. Ví dụ sự chớp nhoáng. Bích nham lục tắc 26 (Đại 48, 167 thượng), nói: Tia lửa xẹt ra còn cơ biến. Khá cười kẻ đến vuốt râu hùm.
điện quang thạch hỏa
Còn gọi là Điện Hỏa Thạch Quang, ví sự việc nhanh như làn điển chớp—Lightning and flint-fire, transient.
điện quang triều lộ
(電光朝露) Ánh chớp, sương mai. Ví dụ thân người vô thường nay còn mai mất. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 296 thượng), nói: Giống hệt chiêm bao và bọt nước, cũng như sương mai cùng ánh chớp. Bởi vì thân người vô thường, các pháp vô thường là một trong những giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo, nên trong các kinh, luận khi bàn về sự vô thường thì ngoài việc giảng giải rõ nghĩa vô thường một cách trực tiếp ra, còn dùng những hiện tượng như: ánh chớp, sương mai, chiêm bao, ảo thuật, bọt nước v.v... là những cái sinh diệt biến hóa trong khoảng sát na (tích tắc) để nêu rõ tính chất của sự vô thường.
điện thí
(殿試) Dự thi trong cung điện. Đây là phương thức thi cử (thi Tiến sĩ) để tuyển dụng quan lại tại Trung quốc trong thời khoa cử, do nhà vua đích thân khảo thí các sĩ tử ở cung điện. Thời ấy, phương thức này cũng được áp dụng để tuyển chọn tăng quan. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 43, thì vào năm Khai bảo thứ 2 (969) đời Bắc Tống, Thiên tử ban chiếu cho các vị sa môn trong nước đều phải qua kì điện thí về 10 điều nghĩa của kinh, luật, luận, người nào làm trúng hết sẽ được vua ban cho áo đỏ.
điện thờ phật tỳ lô giá na
Vairocana's Hall.
điện ti
See Điện Chủ.
điện trà
Dâng cúng trà lên Đức Phật, Tổ, hay chư hương linh—To make an offering of tea to a Buddha, founder of a sect, and/or spirits.
điện đường
(殿堂) Tên gọi chung các tòa nhà quan trọng trong chùa viện Phật giáo. Điện là nơi thờ tượng chư Phật, Bồ tát; Đường là nơi chúng tăng thuyết pháp hành đạo. Điện đường tùy theo sự phụng thờ Bản tôn và cách sử dụng nó mà đặt tên. Nơi phụng thờ tượng chư Phật, Bồ tát thì gọi là Đại hùng bảo điện (Đại điện), Tì lô điện, Dược sư điện, Di lặc điện, Quan âm điện, Vi đà điện, Kim cương điện, Già lam điện... Nơi tàng trữ pháp bảo thì có Tàng kinh lâu (Tàng kinh các), Chuyển luân tạng điện; nơi đặt di cốt thì có Xá lợi điện. Nơi thờ tượng các Tổ sư thì gọi là Khai sơn đường, Tổ sư đường, Ảnh đường, La hán đường v.v... Nơi dùng để giảng kinh, hội họp và tu đạo thì gọi là Pháp đường, Thiền đường, Bản đường, Học giới đường, Sám đường, Niệm Phật đường, Vân thủy đường v.v... Còn những nơi dùng cho việc sinh hoạt hàng ngày và tiếp đãi tân khách thì có Trai đường (Thực đường), Khách đường, Tẩm đường (Phương trượng), Trà đường (nhà tiếp khách của vị Trụ trì), Diên thọ đường (nhà dưỡng bệnh của chư tăng đau ốm) v.v... Những điện đường quan trọng trong các chùa viện Trung quốc, như: Phật điện, Pháp đường, Tì lô điện, Thiên vương điện, Phương trượng v.v... thông thường được kiến thiết theo đường chính giữa bắc nam của chùa; ngoài ra, như Trai đường, Thiền đường, Già lam điện, Tổ sư đường, Quan âm điện v.v... thì được xây cất ở hai bên và phía sau chính điện. Về cách bài trí tượng Phật trong điện Phật thì như điện Phật của chùa Phật quang trên núi Ngũ đài bên Trung quốc, thờ tượng đức Phật Thích ca ở chính giữa, bên trái là Phật Di lặc, bên phải là Phật Di đà, bên trái ngoài cùng là bồ tát Phổ hiền, bên phải ngoài cùng là bồ tát Quan âm. Đây là cách bài trí ở đời Đường. Đến đời Tống thì có hình thứcMột Phật bốn đệ tử(Phật Thích ca và các ngài Văn thù, Phổ hiền, Ca diếp, A nan). Từ đời Tống về sau thì thường thờ có ba vị: Phật Thích ca ở chính giữa, Phật Di đà, Di lặc ở hai bên, hoặc Phật Di lặc ở chính giữa, Phật Thích ca, Di đà ở hai bên. Cũng có khi Phật Dược sư thay thế Phật Di đà ngồi ở bên trái. Về sau, Phật Di lặc được thờ riêng ra ở Di lặc các hoặc Di lặc điện. Ở các đời Tống, Liêu, cũng có nơi thờ năm vị đếnbảy vị Phật trong điện Phật. Các ngôi chùa lớn ở đời Nguyên, phần nhiều xây cấthai điện Phật ở đằng trước và đằng sau chùa; điện đằng trước thờ Phật Tam thế, tức là Phật Nhiên đăng, Phật Thích ca và Phật Di lặc; còn điện đằng sau thì thờ Ngũ trí Như lai. Đời Minh phần nhiều điện Phật cũng thờ Phật Tam thế. Đời Minh về sau, các chùa đã có qui tắc nhất định, cho nên việc bài trí tượng Phật đại khái đã được thống nhất. Thông thường các chùa thờ tượng Tam tôn: Chính giữa là Phật Thích ca, bên trái là Phật Dược sư, bên phải là Phật Di đà; hoặc chính giữa Phật Thích ca, bên trái tôn giả Ca diếp, bên phải tôn giả A nan. Phật Dược sư, Phật Di đà ít thấy có các vị đứng hầu hai bên. Điện Phật bé nhỏ thì chỉ thờ Phật Thích ca và hai vị tôn giả, còn Phật Dược sư và Phật Di đà thì được thờ ở điện riêng. Ngoài ra, đời sau, ở hai bên điện Phật phần nhiều có đắp tượng 18 vị La hán. Phía sau Phật đàn, thường thiết trí tượng Quan âm, tay cầm cành dương và bình nước, đứng trên núi Phổ đà lạc già ở giữa biển, chung quanh thì đắp tượng của 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham học; hoặc miêu tả cảnh tượng tám tai nạn được cứu thoát trong phẩm Phổ môn của kinh Pháp hoa quyển 7. Các chùa viện lớn, ngoài điện Phật ra, còn xây cất các điện đường sau: 1. Điện Thiên vương: Chính giữa điện thờ tượng Bản tôn là Di lặc, hai bên thờ Tứ đại thiên vương; sau lưng tượng Di lặc thờ tượng bồ tát Vi đà tay cầm Bảo chử để phòng vệ chùa viện. 2. Điện Kim cương: Các chùa viện ở đời Minh, tại phía trong cửa Tam quan (Sơn môn) có xây điện Kim cương để thờ tượng hai lực sĩ Mật tích Kim cương gọi là Nhị vương. Về sau, tượng hai vị này được thờ ngay ở bên trong cửa Tam quan, chứ không thiết trí điện riêng nữa. Vẻ mặt của hai lực sĩ này hùng dũng, hiện tướng dữ tợn, tay cầm chày kim cương, đứng hai bên cửa Tam quan để bảo vệ già lam. 3. Pháp đường (nhà giảng): Nơi thuyết giảng Phật pháp, thường được xây cất ở phía sau điện Phật. Trong Pháp đường có thờ tượng Phật và thiết trí một đài cao gọi là Pháp tòa; sau Pháp tòa treo một bức bình phong bằng vải (ngày nay phần nhiều làm bình phong bằng gỗ), hoặc vẽ bức tranh sư tử để tượng trưng cho sự thuyết pháp của Phật; bên trái Pháp đường có chuông, bên phải có trống, khi pháp sư lên tòa thuyết pháp thì đánh chuông trống. 4. Thiền đường (nhà Tăng, nhà Vân thủy): Nơi chư tăng tu luyện. Trong Thiền đường kê một dãy giường liền nhau (quảng đơn) và những cái giá để treo đạo cụ. Chính giữa đặt một cỗ khám thờ tượng Thánh tăng. Vào thời nhà Đường, Thực đường và Thiền đường được dùng chung, nhưng về sau được thiết trí riêng ra và qui định Thực đường ở phía đông, Thiền đường ở phía tây. 5. Tì lô các (Vạn Phật lâu, Tàng kinh các, lầu Vạn Phật, gác để kinh): Chia làm 2 tầng, tầng trên thờ Tam thân Phật (Pháp thân, Báo thân, Hóa thân) và tượng Vạn Phật; hai bên tả hữu để Đại tạng kinh, phía sau thờ tượng Đại sĩ Quan âm; tầng dưới tôn trí đức Tì lô giá na Như lai, hai bên thờ 18 vị la hán và 20 vị trời uy đức. 6. Chuyển luân tạng điện (Chuyển tạng điện): Ở giữa điện để một chiếc kệ sách thật lớn, trên kệ để kinh, khi cần dùng quyển kinh nào thì xoay vòng sẽ tìm ra một cách dễ dàng. Đây là do đại sĩ Thiện tuệ (Phó hấp) ở đời Lương sáng tạo ra để cho những người thâm tín Phật pháp mà không biết chữ hoặc vì quá bận rộn vì cuộc sống nên không có thì giờ để đọc tụng. Nếu dốc một lòng tin tưởng thì những người ấy chỉ xoay một vòng cũng có thể được công đức ngang với những người đọc tụng kinh điển. Bởi thế, trong Chuyển luân tạng điện nào cũng có thờ tượng của đại sĩ Thiện tuệ ở trước điện. Ngoài ra còn thiết trí tượng tám vị Đại thần tướng xoay chuyển bánh xe của kệ kinh ấy gọi là Thiên long bát bộ. 7. Già lam điện (Thổ địa đường, nhà thờ thần Đất): Điện này được xây dựng ở phía đông điện Phật hoặc Pháp đường, thờ tượng thần Thổ địa bảo hộ già lam. Ngày nay phần nhiều thờ ba tượng: Trưởng giả Cấp cô độc - người đầu tiên xây dựng tịnh xá Kì viên - thái tử Kì đà và vua Ba tư nặc. 8. Tổ sư đường: Kiến trúc này nằm ở phía tây điện Phật hoặc Pháp đường, thờ đại sư Đạt ma hoặc vị Tổ khai sơn. Ngày nay, Tổ sư đường của các chùa thông thường thờ các ngài Đạt ma và Tuệ năng làm tổ Thiền tông, ngài Mã tổ sáng lập tùng lâm, ngài Bách trượng đặt ra thanh qui, cho nên đặt tượng ngài Đạt ma ở giữa, ngài Tuệ năng hoặc Mã tổ ở bên trái, ngài Bách trượng ở bên phải, ba tượng ngồi ngang nhau. 9. Dục thất: Đặt tượng Bạt đà bà la (Thiện thủ). 10. Hương tích trù (Trù phòng, nhà bếp): Thời xưa đều thờ tượng một vị Bồ tát (truyền là tượng ngài Hồng sơn), nhưng từ đời Nguyên về sau thì phần nhiều thờ tượng bồ tát Khẩn na la vương để cầu sự che chở của ngài. [X. Thích môn chính thống Q.3 Tháp miếu chí; Đàm châu bạch lộc sơn Linh ứng thiền tự Đại Phật điện kí; Tín châu Thiên ninh tự kí; Kim lăng phạm sát chí Q.3, Q.16; Thiếu lâm tự chí; Toàn đường văn Q.676].
điện ảnh
Sự vô thường của vạn hữu cũng giống như ánh điện chớp—Impermanence of all things like lightning and shadow.
Điện 殿
[ja] テン ten ||| A palace (Pali: pāsāda). => Cung điện (p: pāsāda).
Điệp
(牒): nguyên lai xưa kia, Điệp là tên gọi của một loại văn thư của quan phủ, hay nói đúng hơn là bức văn chuyển giao của cấp trên, là cái Trát hay tờ trình. Người xưa thường viết trên thẻ tre hay miếng gỗ; từ niên hiệu Nguyên Phong (元豐, 1078-1085) nhà Bắc Tống trở đi, các văn từ tố tụng được gọi là Trạng; chỉ có các công văn chuyển giao của quan phủ mới gọi là Điệp. Trong Công Văn Đàn Tràng, Điệp là một loại văn thư không kém phần quan trọng dâng lên chư Thần linh, hay là văn thư chuyển giao giữa Thần với Thần. Trong nghi lễ Phật Giáo Việt Nam, có khá nhiều loại Điệp được dùng đến như Điệp Cúng Cầu Siêu, Điệp Cúng Cô Hồn, Điệp Cấp Phóng Sanh, Điệp Cấp Tụng Thủy Sám, Điệp Thăng Kiều Giải Oan Bạt Độ, Điệp Thượng Phan, Điệp Cúng Tam Thế Tiền Khiên, Điệp Vu Lan, Điệp Cúng Trai Tuần, Điệp Cúng Bà Cô, Điệp Cúng Vớt Chết Nước, v.v.
điệp
Bản văn thư—Records—Tablets.
Điệp mộng
(蝶夢): giấc mơ biến thành con bướm, còn gọi là hồ điệp mộng (蝴蝶夢), hồ điệp chi mộng (蝴蝶之夢). Sự tích này được thuật lại trong Tề Vật Luận (齊物論) của Trang Tử (莊子). Một hôm nọ, Trang Chu nằm mộng thấy mình biến thành con bướm, bản thân ông rất vui mừng, hân hoan tự đắc, quên đi chẳng biết mình là Trang Chu. Đến khi tỉnh dậy, mới biết mình là Trang Chu; chẳng biết giấc mộng của Trang Chu chính la con bướm, giấc mộng của con bướm lại là Trang Chu. Câu chuyện này nói lên tâm cảnh Vạn Vật Nhất Thể (萬物一體, vạn vật cùng một thể), không có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Trong U Mộng Ảnh (幽夢影) của Trương Triều (張潮, 1650-?) nhà Thanh có một câu nổi tiếng là: “Trang Chu mộng vi hồ điệp, Trang Chu chi hạnh dã; hồ điệp mộng vi Trang Chu, hồ điệp chi bất hạnh dã (莊周夢爲蝴蝶、莊周之幸也、蝴蝶夢爲莊周、蝴蝶之不幸也, Trang Chu mơ làm con bướm, Trang Chu thật may mắn vậy; con bướm mơ làm Trang Chu, con bướm quả bất hạnh vậy).” Câu chuyện này còn nêu rõ triết lý nhân sinh vô thường, như mộng huyễn, thời gian trôi qua như chớp mắt, giàu sang, phú quý chẳng thể cầu mong được. Trong bài Cổ Phong Ngũ Thập Cửu Thủ (古風五十九首) của thi sĩ Lý Bạch (李白, 701-762) có đoạn: “Trang Chu mộng hồ điệp, hồ điệp vi Trang Chu, nhất thể cánh biến dị, vạn sự lương du du, nãi tri bồng lai thủy, phục tác thanh thiển lưu (莊周夢蝴蝶、蝴蝶爲莊周、一體更變易、萬事良悠悠、乃知蓬萊水、復作清淺流, Trang Chu mơ bươm bướm, bươm bướm là Trang Chu, một thể lại thành khác, vạn sự tốt dài lâu, mới biết bèo trôi dạt, lại làm dòng nước trôi).” Hơn nữa, trong bài Mãn Giang Hồng (滿江紅) của Cát Đàm (葛郯, ?-?) nhà Tống, được thâu lục trong Toàn Tống Từ (全宋詞), có câu: “Bất quản phù sanh như điệp mộng (不管浮生如蝶夢, chẳng kể phù sinh như mộng bướm).” Câu “điệp mộng mang mang, Tây Trúc hà bằng chi siêu độ (蝶夢茫茫、西竺何憑之超度)” có nghĩa giấc mơ bướm mờ mịt, mênh mang, không biết nương vào đâu để được siêu độ về cõi Tây Trúc, quốc độ của chư Phật.
điệp sáp
(叠澀) Một trong những kiểu kiến trúc ở thời xưa. Trong lối kiến trúc này, các lớp gạch hoặc đá xây chồng lên nhau, đến một độ cao nào đó, người ta làm những cái gờ, chỉ bằng cách đặt một hàng gạch hoặc đá nhô ra khỏi hàng gạch ở dưới mấy phân hoặc mấy tấc tùy theo kỹ thuật; đặt một hàng hoặc hai, ba hàng như thế, rồi lên trên lại thu vào dần cũng như những hàng gạch trước. Phật giáo cũng thu dụng lối kiến trúc này và đặc biệt khi xây các tòa tháp.
điệp thích
(牒釋) Gọi đủ: Điệp văn tác thích. Đem chia những thiên, chương dài trong tác phẩm thành từng đoạn ngắn, gọi là Điệp văn; rồi theo từng đoạn ấy mà giải thích, gọi là Điệp thích. Đây là một trong những phương pháp được sử dụng để giải thích các kinh, luận.
đoan
1) Bắt đầu: Beginning—Coming forth—Elementary principles—A point either beginning or end. 2) Đoan chính: Proper—Straight. 3) See Đoan Trang.
đoan chính
Proper—Properly—Ordered—Rectitude—Integrity.
Đoan chính 端正
[ja] タンショウ tanshō ||| (1) Correct, upright posture, especially while practicing meditation. (2) An elegant appearance; charming, graceful. 〔法華經 T 262.9.21b05〕 => 1. Đứng đắn, tư thế ngay thẳng, đặc biệt khi ngồi thiền. 2. Dáng dấp tao nhã, duyên dáng, thanh nhã.
đoan mĩ tam bồ đề
(端美三菩提) Tạng: Thon-mi sambhoṭa. Cũng gọi: Thôn mễ tang bố trát. Ông sinh ở Vệ châu (Tạng: Dbus), sống ở khoảng thế kỉ VII, là Tể tướng dưới triều vua Khí tông lộng tán (Tạng: Sroíbtsan-sgam-po, tức Tùng tán cương bố) của Tây tạng. Năm 632, vâng mệnh vua, ông cùng với 16 người khác sang Ấn độ học Phật học và Âm vận học để chuẩn bị cho việc sáng tạo văn tự Tây tạng. Với mục đích ấy, trước hết, ông theo Bà la môn Lê cận (Tạng: Li-byin) học văn tự, rồi sau đó theo Thiên minh sư tử (Tạng: Lharig-pah!i seṅ-ge) học văn pháp. Học xong, ông trở về Tây tạng, phỏng theo chữ Phạm đã được đổi mới ở thời Vương triều Cấp đa (có thuyết nói phỏng theo văn tự Laĩca, văn tự Wartu, Vartu là một trong những thể chữ Tất đàm của nước Ca thấp di la) kết hợp với tiếng Tây tạng mà tạo thành văn tự gồm 4 mẫu âm và 30 tử âm chữ Tây tạng. Về sau, ông có viết 8 bộ sách về văn pháp,nhưng hiện chỉ còn: Văn pháp luận căn bản tam thập tụng (Tạng: Luṅ-du ston-pahi rtsaba sum-cu-pa shes-bya-ba, Đông bắc mục lục số 4348), Văn pháp luận tính nhập pháp (Tạng: Luṅ-du ston-pa rtags-kyi h!jug-pa shes-bya-ba, Đông bắc mục lục số 4349). Ngoài ra, ông còn là người đầu tiên dịch kinh tiếng Phạm ra tiếng Tây tạng. Những bộ kinh do ông dịch gồm có: kinh Đại thừa bảo khiếp trang nghiêm, kinh Bách bái sám hối, kinh Bảo vân... Theo suy đoán thì trước thời Đoan mĩ, Tây tạng đã có chữ viết rồi, còn công sáng tạo ra văn tự chỉ là do người đời sau qui cho Đoan mĩ mà thôi. Còn 8 bộ sách về văn pháp thì cũng chỉ là truyền thuyết, chứ thực sự thì Đoan mĩ cũng chỉ soạn có 2 bộ đã ghi ở trên. [X. Tây tạng văn hóa chi tân nghiên cứu (Thanh mộc Văn giáo); Deb-ther síonpo (The Blue Annals); Dpag-bsam ljonbzaí; E. Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston].
đoan mĩ văn pháp
(端美文法) Là hai bộ sách Văn pháp luận căn bản tam thập tụng (Tạng: Luṅ-du ston-paḥi rtsaba sum-cu-pa shes-bya-ba) và Văn pháp luận tính nhập pháp (Tạng: Luṅ-du ston-pa rtag-kyi ḥjug-pa shes-bya-ba) của ông Đoan mĩ tam bồ đề. Vào năm 632, vua Tây tạng là Khí tông lọng tán (Tạng: Sroí-btsan sgam-po) phái Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: Thon-misambhoỉa) đến Ấn độ học văn tự. Sau khi về nước, Đoan mĩ tam bồ đề soạn 8 bộ sách Văn pháp, nay chỉ còn 2 bộ, tức là Đoan mĩ văn pháp hiện đang lưu hành. Nhưng nội dung 2 bộ sách này cũng như người chú thích là Hi độ (Tạng: Si-tu) không thấy nói gì đến mối quan hệ giữa 2 bộ này với các bộ khác, cho nên thuyết 8 bộ có lẽ đã do người đời sau ức đoán mà thôi. Tam thập tụngđược viết bằng văn vần thể 7 chữ, trình bày rõ về 30 tự mẫu của văn pháp Tây tạng, cònTính nhập pháp là sách nói về cách dùng động từ. Hai bộ sách này chịu ảnh hưởng rất sâu của phái Ca thản độ lạp (Kàtantra) thuộc phái Văn điển Ấn độ, cho nên trong sách phần nhiều thu dụng qui tắc về văn pháp của phái này làm khuôn mẫu. Người đời coi 2 bộ sách này là những viên ngọc của văn pháp Tây tạng. (xt. Đoan Mĩ Tam Bồ Đề).
đoan nghiêm
In strict propriety.
; (端嚴) Đoan chính trang nghiêm. Kinh Thắng man (Đại 12, 219 thượng), nói: Như núi chúa Tu di đoan nghiêm thù thắng hơn các núi. Đức Phật dùng ý ấy để ví dụ sự thù thắng của chính pháp. Bởi vì tiếp thụ chính pháp có thể được sức đại tinh tiến; tiếp thụ chính pháp có thể khiến cho ma lo khổ, tất cả pháp lành khác không thể sánh kịp. Cho nên núi Tu di trang nghiêm thù thắng được dùng để ví dụ chính pháp. [X. phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa].
đoan toạ
(端坐) Tướng ngồi thiền, tức là ngồi rất ngay thẳng: Thân không ngả trước sau, không nghiêng phải trái, tai thẳng với vai, chót mũi thẳng với rốn, sau đó điều hòa hơi thở, một lòng chuyên chú không loạn động. Tông kính lục quyển 35 (Đại 48, 212 hạ), nói: Lấy lí bỏ văn, ngồi thẳng lắng lòng, tâm tự quán xét, đó là nhân thù thắng chuyên chú ở một cảnh mà tu tập thiền định. Kinh Phổ hiền quán cũng nói (Đại 9, 393 trung): Tất cả biển nghiệp chướng, đều từ vọng tưởng sinh; nếu người muốn sám hối, ngồi ngay quán thực tướng. Kinh này nói thêm: Sau khi Phật diệt độ, nếu các đệ tử Phật ở những nơi vắng vẻ, yên tĩnh như nghĩa địa, rừng cây, a luyện nhã v.v..., thụ trì đọc tụng kinh Phương đẳng, ngồi ngay thẳng suy tư về nghĩa sâu xa của Đại thừa, nhờ sức tư niệm mạnh mẽ mà được thấy thân Phật, tháp Phật Đa bảo và phân thân của vô lượng chư Phật trong 10 phương. [X. luận Tối thượng thừa, Tông kính lục Q.75].
đoan trang
Dignity—Decent (a).
đoan tâm chính ý
Tâm đoan chính ý, không làm việc ác—With a proper mind and regulated will, doing no evil.
; (端心正意) Cùng nghĩa với Đoan tâm chính hạnh. Tâm ý ngay thẳng nghiêm trang, tức là ngăn dứt 3 độc tham sân si, và không làm các điều xấu ác. Cứ theo kinh Vô lượng thọ quyển hạ chép, thì đức Phật nói với ngài Di lặc và các Bồ tát rằng, sở dĩ những người ở cõi này (Tịnh độ) có thể đoan tâm chính ý, không làm các điều ác, đạt đến đạo đức cùng tột mà chúng sinh trong thế giới ở 10 phương không thể sánh bằng, là vì các loài người trời ở trong cõi nước của chư Phật cứ tự nhiên làm việc thiện và rất dễ giáo hóa vậy. Vả lại, đoan tâm chính ý không những chỉ là đầu mối của việc tu thiện, diệt ác nói chung, mà còn là nền tảng của việc tọa thiền. Truy môn cảnh huấn quyển 1 (Đại 48, 1047 thượng), nói: Đoan tâm chính ý, tịnh tâm rỗng lặng, xếp chân kết già, không duyên theo cảnh, nghe lại tính nghe, tỉnh sáng không mờ, lìa hẳn hôn trầm, trạo cử.
Đoan tĩnh
(端靜): đoan chánh trầm tĩnh. Như trong Nam Sử (南史), Hậu Phi Truyện Hạ (后妃傳下), phần Trần Hậu Chúa Thẩm Hoàng Hậu (陳後主沈皇后), có đoạn: “Hậu tánh đoan tĩnh, hữu thức lượng, quả thị dục, thông mẫn cường ký (后性端靜、有識量、寡嗜欲、聰敏強記, Hoàng Hậu tánh tình trầm tĩnh, biết độ lượng, ít ham muốn, thông minh nhớ kỹ).” Hay trong bản Khất Trạc Dụng Trình Tuân Ngạn Trạng (乞擢用程遵彥狀) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Nhi đoan tĩnh chi sĩ, tuy hữu quá nhân chi hành, ưng vụ chi tài (而端靜之士,雖有過人之行,應務之才, mà kẻ đoan chánh trầm tĩnh, tuy có làm điều sai trái, cũng nên trọng dụng tài của người ấy).”
đoan tọa
Ngồi thẳng và đúng cách (tọa thiền)—To sit straight and proper.
đoan đích
(端的) Nghĩa là sự, lí phải chính xác, chân thực, rõ ràng khiến mọi người dễ thấy. Phần bình xướng tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 hạ), chép: Vả nói Đạt ma là Quan âm, Chí công là Quan âm, vậy chính xác (đoan đích) ai là Quan âm?. Khi đoan đích được dùng làm phó từ thì có nghĩa là hoàn toàn. Bích nham lục tắc 18 (Đại 48, 212 hạ), nói: Dù cho người học hoàn toàn (đoan đích) mù, nhưng khi người thầy tiếp vật lợi sinh thì chưa hẳn họ đã không thấy có phần trong đó. [X. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.3; Đại trí thiền sư kệ tụng; Đại thông thiền sư ngữ lục Q.3].
đong
To measure.
đoàn
1) Băng (nhạc): Band. 2) Một khối: A mass—A lump. 3) Một nhóm: A group—A company. 4) Quả cầu: A ball. 5) Tròn: Round.
đoàn bái
Mọi người cùng quỳ lạy với nhau—To kneel, or worship altogether as a company.
đoàn phiến thái cổ
(團扇太鼓) Chiếc trống lớn hình cái quạt tròn. Phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa nói, nếu sai người trỗi nhạc và đánh trống để cúng dường, thì dù chỉ một tiếng nhỏ cũng có thể khiến người thành Phật đạo. Tín đồ tông Nhật liên của Nhật bản đánh trống Đoàn phiến mỗi khi xướng tụng Na mô Diệu pháp Liên Hoa kinh. Trống này bưng bằng da, hình tròn, có cán cầm, giống như cái quạt, nên gọi là Đoàn phiến thái cổ.
đoàn thực
See Suyển Thực.
; (揣食) Ăn thức ăn được nắm thành những viên tròn, nhỏ. Một trong 4 cách ăn, một trong 2 cách ăn. Đoàn thực được chia làm 2 loại: 1. Thô thực: Như cơm, bánh, miến, mì v.v... 2. Tế thực: Như bơ, dầu, hương vị và các đồ uống v.v... Đoàn thực cũng chỉ chung cho tất cả thức ăn của cõi Dục. [X. luận Câu xá Q.10; luận Thành thực Q.2]. (xt. Tứ Thực).
đoàn tu khổ hạnh
A band of ascetics.
đoàn tụ
To reunion—To bring together.
đoái hoài
To think of—To remember.
đoái thương
To have mercy (pity) on.
đoái tưởng
To think of someone.
đoán sai
To guess wrong.
đoán trước
To foretell—To foresee.
đoán án
To judge.
đoán đúng
To guess right.
đoạn
Xem diệt.
; Uccheda (S). To cut off, end, get rid of, cause to cease.
; 1) Cắt đứt: Uccheda (skt)—To cut off—To get rid of—To cause to cease. 2) Một đoạn, một phần: A section. 3) Một đoạn văn: A paragraph. 4) Một miếng: A piece.
đoạn biến tri
(斷遍知) Do biết rõ suốt lí của 4 đế mà đoạn trừ được kiến hoặc và tu hoặc. Tức là ở quả (đoạn) thêm tên của nhân (biến tri) nên gọi là Đoạn biến tri. Đoạn biến tri lấy trạch diệt làm thể, gồm có 9 thứ gọi là Cửu biến tri; trong đó có 6 thứ thuộc về các phiền não Kiến đế sở đoạn trong 3 cõi và 3 thứ thuộc về các phiền não Tu đạo sở đoạn. Sáu biến tri là: 1. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Khổ đế và Tập đế ở cõi Dục. 2. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Diệt đế ở cõi Dục. 3. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Đạo đế ở cõi Dục. 4. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Khổ đế và Tập đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. 5. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Diệt đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. 6. Biến tri đoạn trừ kiến hoặc của Đạo đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Ba biến tri là: 1. Biến tri đoạn trừ phiền não của Tu đạo ở cõi Dục. 2. Biến tri đoạn trừ phiền não của Tu đạo ở cõi Sắc. 3. Biến tri đoạn trừ phiền não của Tu đạo ở cõi Vô sắc. [X. luận Câu xá Q.21; luận Phẩm loại túc Q.6]. (xt. Cửu Biến Tri, Biến Tri).
đoạn diêm
(斷鹽) Cũng gọi Diêm đoạn. Cấm ăn muối. Trong thời gian hành giả Mật giáo tu bí pháp, trì tụng thần chú để trừ khử các chất độc, thì không được ăn muối: Đây là một trong những điều kiện quan yếu để thành tựu pháp tu này. Cứ theo kinh Nhương ngu lê đồng nữ, thì Nhương ngu lê là một trong những hóa thân của bồ tát Quán tự tại, pháp tu lấy Ngài làm Bản tôn thì có thể trừ khử các thứ độc hại, như thuốc độc, chú độc, trùng độc, quỉ độc v.v... Khi tu pháp này, hành giả tuyệt đối không được ăn ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ), muối, dầu v.v..., để nhẹ bớt thực dục, làm cho các chất cáu bẩn trong mình giảm thiểu, giữ gìn thân thể trong sạch. [X. luật Ngũ phần Q.26; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.9].
đoạn diệt
The heterodox teaching which denies the law of cause and effect, i.e. of karma; annihilation, cutting off.
; • Đoạn diệt: Ucchindati (p)—Ucchinatti (skt)—To annihilate—To extirpate—To destroy utterly. • Sự đoạn diệt: Uccheda (p & skt)—Annihilation—Annihilationism—Destruction—Extirpation. 1) Khi chúng ta đoạn diệt hết lòng tham và dục vọng, thì sự khổ đau sẽ chấm dứt—Eliminate—Eradicate—Remove—Extinct—When we remove all craving and desire from our mind, suffering will come to an end. 2) Giáo thuyết ngoại đạo chối bỏ luật nhơn quả của nghiệp: The heterodox teaching which denies the law of cause and effect, i.e. karma.
đoạn diệt kiến
Uccheda-drsti (skt)—Đây là quan điểm của nhóm theo duy vật quyết định chủ nghĩa—View of extinction—The standpoint of materialistic determinism.
đoạn diệt luận
(斷滅論) Cũng gọi Đoạn kiến, Thất chủng đoạn diệt luận, Thất đoạn diệt luận. Chủ trương cho rằng chúng sinh sau khi chết hoàn toàn đoạn diệt. Là một trong 6 kiến chấp của ngoại đạo Ấn độ. Luận thuyết này dựa vào vị lai mà sinh khởi 7 thứ kiến chấp, cho rằng thân 4 đại (đất, nước, lửa, gió), 6 nhập (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) do cha mẹ sinh ra là vô thường, sau khi chết trở về đoạn diệt, hoặc sinh vào 6 nơi là: trời cõi Dục, trời cõi Sắc và 4 cõi Vô sắc (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ), nhưng sau khi hết báo cũng đều đoạn diệt. Thuyết này tương đương với chủ trương của tông Thất sự đoạn diệt trong 16 tông ngoại đạo Ấn độ. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Đoạn Kiến).
đoạn diệt thuyết
Ucchedavada (p & skt)—Đoạn diệt thuyết đối lại với Thường hằng thuyết—Negativism or Nihilism opposed to eternalism—See Lục Sư Ngoại Đạo.
Đoạn diệt 斷滅
[ja] ダンメツ danmetsu ||| (uccheda, upaśānti, prahāna). Get rid of, remove, do away with; be deprived of; lose. Quench, put out, eradicate, exterminate. Cessation, nirvāna. (s: uccheda, upaśānti, prahāna). => Trừ diệt sạch, tẩy trừ, trừ khử, lấy đi sạch; không còn nữa. Dập tắt, làm tách rời ra, trừ tiệt, huỷ diệt. Sự ngừng nghỉ, niết-bàn .
đoạn dâm
Cutting off lust—See Tứ Giới (D) (1).
đoạn hoà
(斷和) Quyết đoán giải hòa. Khi xảy ra việc tranh chấp giữa đôi bên, nhân vật thứ 3 đứng ra làm trọng tài dàn xếp, quyết đoán, khiến cho họ giải hòa với nhau, gọi là Đoán hòa. [X. Bích nham lục chủng điện sao 42].
đoạn hoặc
Dứt bỏ mê lầm vọng hoặc (bằng chân trí)—To bring illusion to an end.
; (斷惑) Phạm: kleśaḥ prahīyate. Hoặc là tên khác của phiền não. Đoạn hoặc nghĩa là nhờ vào công năng của đạo hữu lậu và đạo vô lậu để đoạn trừ phiền não. Còn gọi là Đoạn kết (tức Kết sử cũng là tên khác của phiền não), Đoạn chướng, Li nhiễm. Do đạo Vô gián mà đoạn trừ phiền não, nhờ đạo giải thoát mà chứng được chân lí Niết bàn (Bồ đề), hợp chung lại gọi là Đoạn hoặc chứng lí, gọi tắt là Đoạn chứng. Phật giáo bộ phái lấy việc dứt hết phiền não, chứng được quả A la hán làm mục đích, cho nên đến giai vị Kiến đạo thì dứt trừ được những sai lầm về tư tưởng và tri thức (mê lí hoặc, tức là kiến hoặc); và đến giai vị Tu đạo thì đoạn trừ phiền não căn bản (mê sự hoặc, tức là Tu hoặc). Vì kiến hoặc có thể được đoạn trừ trong thời gian ngắn nên gọi là Đốn đoạn, còn Tu hoặc thì phải tu hành trong thời gian lâu dài mới có thể lần lượt đoạn trừ nên gọi là Tiệm đoạn. Đoạn phiền não có hai loại: 1. Vô lậu đoạn (Tất cánh đoạn): Bậc Thánh nhờ trí vô lậu dứt trừ tận gốc tất cả hạt giống phiền não, không cho tái sinh. 2. Hữu lậu đoạn (Tổn phục đoạn): Phàm phu tu 6 pháp quán hữu lậu, quán thượng địa (cõi Sắc) và hạ địa (cõi Dục) để đoạn trừ hay áp phục phiền não ở hạ địa không cho hiện hành. Theo luận Câu xá quyển 21 thì Đoạn hoặc có thể chia ra 3 loại: 1. Kiến sở đoạn (Kiến đạo sở đoạn, Kiến đoạn): Giai vị kiến đạo đoạn trừ phiền não. 2. Tu sở đoạn (Tu đạo sở đoạn, Tu đoạn): Giai vị Tu đạo đoạn trừ phiền não. 3. Phi sở đoạn (Phi đoạn, Bất đoạn): Các pháp vô lậu thì không còn phiền não để đoạn. Phiền não được đoạn trừ như thế nào? Do 4 nhân: 1. Biến tri đoạn: Đoạn trừ Tự giới duyên hoặc của 2 đế Khổ, Tập và Vô lậu duyên hoặc của 2 đế Diệt, Đạo trong Kiến hoặc. Tự giới duyên hoặc là những phiền não chỉ lấy cảnh giới của chính mình nương ở làm đối tượng mà sinh khởi; còn Vô lậu duyên hoặc thì là những phiền não lấy pháp vô lậu của 2 đế Diệt, Đạo làm đối tượng mà sinh khởi. Hai loại hoặc này đều là hoặc mê mất lí của 4 đế, cho nên nếu biết rõ khắp(biến tri)lí của các sở duyên (đối tượng bị mê mất) thì hoặcliền bị đoạn trừ. Chẳng hạn như hoặccủa Khổ đế nhờ biết rõ lí của Khổ đế mà đoạn trừ;hoặccủa Tập đế nhờ biết rõ lí của Tập đế mà đoạn trừ. 2. Năng duyên đoạn: Đoạn trừ Tha giới duyên hoặc của 2 đế Khổ, Tập. Chẳng hạn như người ở cõi Dục lấy cõi Sắc v.v... làm đối tượng mà khởi hoặc, gọi là Tha giới duyên hoặc. Tha giới duyên hoặc là sở duyên của Tự giới duyên hoặc, bởi thế, nếu dứt được Tự giới duyên hoặc thì Tha giới duyên hoặc cũng bị đoạn trừ. 3. Sở duyên đoạn: Đoạn trừ Hữu lậu duyên hoặc của 2 đế Diệt, Đạo. Vì Hữu lậu duyên hoặc lấy Vô lậu duyên hoặc làm sở duyên, cho nên khi đoạn trừ được Vô lậu duyên hoặc thì Hữu lậu duyên hoặc tự nhiên cũng bị đoạn trừ. 4. Đối trị đoạn: Ở giai đoạn Tu đạo, phiền não hoặc lậu chỉ có thể được đoạn trừ bằng đạo Đối trị. Trong 9 địa mỗi địa đều có 9 phẩm hoặc,hoặccủa phẩm thượng thượng được đối trị bằng đạo của phẩm hạ hạ và hoặc của phẩm hạ hạ được đối trị bằng đạo của phẩm thượng thượng. Căn cứ vào tính chất, Đoạn hoặc lại được chia làm 2 thứ: 1. Tự tính đoạn: Tính chất của phiền não vốn nhơ nhớp, nếu tự thể không sinh khởi thì tự nhiên đoạn trừ. 2. Duyên phược đoạn (Sở duyên đoạn, Li phược đoạn): Như hữu lậu thiện hoặc sắc pháp trở thành đối tượng của phiền não nên bị phiền não trói buộc, cho nên không phải đoạn trừ tự thể của phiền não mà phải đoạn trừ phiền não năng duyên mới được giải thoát. Tông Duy thức cho rằng các phiền não Phân biệt khởi đến ngôi Kiến đạo mới đứt trừ; còn những phiền não Câu sinh khởi thì đến gia vị Tu đạo mới đoạn trừ được. Tóm lại, tông Câu xá thừa nhận trí hữu lậu có khả năng đoạn hoặc, nhưng Kinh bộ và tông Duy thức thì chủ trương trí hữu lậu chỉ có thể đè nén sự hiện hành của phiền não chứ không thể diệt trừ chủng tử (hạt giống) của chúng. Do đó, tông Câu xá chủ trương đạo Vô gián của hữu lậu, vô lậu đều có thể đoạn trừ phiền não, gọi là Đoạn đạo. Trái lại, tông Duy thức cho rằng trí gia hạnh và đạo Hữu lậu là Phục đạo (đạo chế phục, tức đè ép sự hiện hành của phiền não), chứ không phải là Đoạn đạo (đạo dứt trừ phiền não). Còn trí Căn bản và đạo Vô lậu thì vừa là Phục đạo, vừa là Đoạn đạo. Luận Thành duy thức quyển 8 nêu ra thuyết Tam đoạn: Tự tính đoạn, Li phược đoạn và Bất sinh đoạn, y theo thứ lớp có thể đoạn trừ nhiễm ô, hữu lậu thiện và vô phú vô kí, các đường ác và Vô tưởng định. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 5 nêu ra thuyết Tứ đoạn: Tự tính đoạn, Tương ứng đoạn, Duyên phược đoạn và Bất sinh đoạn. Ngoài ra, các tông Tam luận, Hoa nghiêm, Thiên thai v.v... chủ trương chân tướng của mọi sự tồn tại là bản thể của giác ngộ, tuy nói là đoạn phiền não nhưng rốt ráo là vô đoạn. Mật giáo thì cho rằng đoạn hoặc của Hiển giáo là Quá hoạn đoạn, nghĩa là Hiển giáo cho tất cả phiền não là tai họa, là tội lỗi, phải nhờ vào trí thủy giác tu hành mới đoạn trừ được. Còn đoạn hoặc của Mật giáo là Công đức đoạn, nghĩa là Mật giáo coi phiền não và bản giác vốn không hai, cho nên, nếu ngộ được phiền não vốn không thì tức là đoạn trừ phiền não. [X. luận Đại tì bà sa Q.51, Q.53; luận Câu xá Q.16, Q.25; luận Thuận chính lí Q.6; luận Thành duy thức Q.10; luận Du già sư địa Q.54, Q.59; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.9]. (xt. Tứ Đế, Đoạn Đạo).
đoạn hoặc phổ
Universal cutting off of delusions.
Đoạn hoặc 斷惑
[ja] ダンワク danwaku ||| 'Destruction of delusion. ' => Phá trừ mê hoặc.
đoạn hòa
Quyết định bàn cãi và đi đến hòa hợp (Tăng chúng)—To decide a dispute and cause harmony.
đoạn khổ pháp
(斷苦法) Giáo pháp giúp chúng sinh dứt hẳn nỗi khổ sinh tử luân hồi mà đạt đến Niết bàn giải thoát tối hậu. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1].
đoạn kiến
quan điểm sai lầm cho rằng thân tâm này với các pháp thế gian là đoạn diệt, không thường tồn, chẳng hạn như cho rằng đời sống hoàn toàn chấm dứt sau khi chết, không có kiếp sau...
; Ucchedadarsana (S). The view that death ends life, in contrast with thường kiến that body and soul are eternal, both views being heterodox; also world-extinction and the end of causation; annihilation view.
; Ucchedaditthi (p)—Ucchedadarsana (skt)—Annihilation-illusion or Annihilation-view—Phủ nhận sự hiện hữu của hiện tượng và bám vào chủ nghĩa hoàn toàn hủy diệt, nghĩa là khi chết là chấm dứt tất cả, đối lại với chủ trương cho rằng thân tâm là thường trụ bất diệt; cả hai đều là tà kiến—Nihilism—Holding to the view of total annihilation, or the view that death ends life, or world-extinction and the end of causation, in contrast with the view that body and soul are eternal, both views being heterodox—The philosophic doctrine that denies a substantial reality to the phenomenal universe—Holding to the view of total annihilation.
; (斷見) Phạm: uccheda-dṛṣṭi, Pàli: uccheda-diṭṭhi. Cũng gọi: Đoạn diệt luận, đối lại với Thường kiến. Một trong 2 kiến chấp. Tức là loại tà kiến chấp thế gian và ngã (cái ta) cuối cùng đều đoạn diệt hẳn. Nhân quả của các pháp mỗi mỗi khác nhau và nối tiếp, chẳng phải thường cũng không phải đoạn. Người đoạn kiến chỉ chấp một chiều, họ bảo không có nhân quả, con người chỉ sống trong một thời kì, sau khi chết là hết; không có thiện ác báo ứng, không có tội phúc: đây là chủ trương của ngoại đạo Đoạn kiến, một trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ. Những người đề xướng chủ nghĩa hư vô cũng thuộc loại đoạn kiến. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 26, thì Đoạn kiến có hai loại: 1. Không có quả báo, tội phúc, khổ vui, đời sau. 2. Tất cả các pháp đều không. Luận Đại tì bà sa quyển 200 nói, ác kiến tuy có nhiều loại, nhưng không ngoài Hữu kiến (chấp có) và Vô kiến (chấp không). Hữu kiến chỉ cho Thường kiến, Vô kiến chỉ cho Đoạn kiến. Hai kiến chấp này đều thuộc về Biên kiến (chấp một bên, một chiều). Cho nên đức Thích tôn dạy phải lìa cả Thường và Đoạn mà giữ lấy Trung đạo. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Đại bát niết bàn Q.27 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.49, Q.77; luận Du già sư địa Q.7, Q.58; phẩm Phá ngoại đạo trong luận Phật tính Q.1; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Đoạn Diệt Luận).
Đoạn kiến 斷見
[ja] ダンケン danken ||| (uccheda-drsti). (1) "Nihīism." the mistaken view that results from not discerning the principle of cause and effect that centers on the idea that the world or oneself can be destroyed; for example, the idea that once a being dies, there is not future rebirth, or that life is something limited to this world, and therefore the nihīistic view of denying the reception of the fruits of good and evil acts. (2) The destruction of mistaken views. => (s: uccheda-drsti). “Hư vô chủ nghĩa”Cái nhìn sai lầm do hậu quả không nhận ra được nguyên lý nhân quả nên xoay quanh ý tưởng rằng thế giới hay chính mình có thể hoại diệt; chẳng hạn nghĩ rằng một sinh thể chết đi thì không còn tái sinh trong đời sống tương lai, hoặc quan niệm đời sống là một điều gì đó bị hạn cuộc trong thế gian nầy, do vậy nên Đoạn kiến phủ nhận quả báo của việc thiện hay ác. Phá trừ các tà kiến.
Đoạn kiết 斷結
[ja] ダンケツ danketsu ||| To sever the binding of the afflictions. In this case, 結 is an abbreviation for 結縛. The elimination of the afflictions that are the purview of the Paths of Seeing 見道 and Cultivation 修道 in the three realms, based on the practices such as the sixteen minds 十六心. 〔瑜伽論 T 1579.30.355a19〕 => Cắt đứt sự ràng buộc của phiền não. Trong trường hợp nầy, chữ Kiết là viết tắt của Kiết phược結縛. Sự đoạn trừ phiền não là phạm vi hoạt động của Kiến đạo và Tu đạo trong Tam giới, làm nền tảng cho các công hạnh như Thập lục tâm.
Đoạn Kiều Diệu Luân
(斷橋妙倫, Donkyō Myōrin, 1201-1261): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Đoạn Kiều (斷橋), hay còn gọi là Tùng Sơn Tử (松山子), người Hoàng Nham Tùng Sơn (黃巖松山), Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ là Từ (徐). Năm lên 18 tuổi, ông xuất gia ở Quảng Huệ Viện (廣慧院) vùng Vĩnh Gia (永嘉, Tỉnh Triết Giang), rồi sau đó du phương hành cước. Đầu tiên ông đến tham vấn Cốc Nguyên Nguyên Đạo (谷源源道), có chỗ sở ngộ, sau đó gặp được Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Tuyết Đậu Sơn (雪竇山) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Khi Sư Phạm chuyển đến Kính Sơn (徑山) và Dục Vương Sơn (育王山) thì ông đi theo hầu. Vào tháng 3 năm đầu (1242) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐), ông đến trú trì Thoại Phong Kỳ Viên Tự (瑞峰祇園寺) ở Đài Châu, rồi sống qua một số chùa khác như Thoại Nham Tịnh Độ Thiền Tự (瑞巖淨土禪寺), Quốc Thanh Tự (國清寺) ở Thiên Thai Sơn (天台山, Tỉnh Triết Giang), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Phủ Lâm An (臨安府, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 25 tháng 4 năm thứ 2 (1261) niên hiệu Cảnh Định (景定), ông thị tịch, hưởng thọ 61 tuổi đời và 44 hạ lạp. Hai vị thị giả của ông là Văn Bảo (文寳) và Thiện Tĩnh (善靖) biên tập bộ Đoạn Kiều Hòa Thượng Ngữ Lục (斷橋和尚語錄) 2 quyển.
đoạn kết
Cắt đứt sự trói buộc của phiền não dục vọng—To cut off the bonds, i.e. of passion.
đoạn li diệt tam giới
(斷離滅三界) Tức là Đoạn giới, Ly giới và Diệt giới. Ba giới này đều lấy giải thoát vô vi (trạch diệt vô vi) làm thể. 1. Đoạn giới: Đoạn trừ 8 kết mà được trạch diệt. 2. Ly giới: Trong 9 kết (ái, khuể, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, khan), lìa tham kết mà được trạch diệt. 3. Diệt giới: Diệt các phiền não theo 9 kết mà được trạch diệt. Trên đây là y cứ vào lí thế tục mà có 3 giới khác nhau, chứ nói theo thực nghĩa thì thể của chúng đều không khác nhau. Trong đó, Đoạn giới và Ly giới là do đoạn trừ phiền não mà được, còn Diệt giới là nhờ vào việc diệt hoặc của cảnh sở duyên mà được. Trên đây là thuyết của Tiểu thừa. Ngoài ra, về danh nghĩa của Tam giới còn có nhiều thuyết, như luận Đại tì bà sa quyển 29 nói: - Đoạn giới: Đoạn tất cả hành. - Ly giới: Lìa tất cả hành. - Diệt giới: Diệt tất cả hành. Lại có thuyết cho là: - Đoạn giới: Đoạn vô minh kết - Ly giới: Đoạn ái kết. - Diệt giới: Đoạn các kết còn lại. Cũng có thuyết giải thích: - Đoạn giới: Đoạn 8 kết và các phiền não tương ứng với 8 kết cùng sinh. - Ly giới: Đoạn ái kết và các phiền não tương ứng với ái kết cùng sinh. - Diệt giới: Đoạn các kết khác và các phiền não tương ứng cùng sinh. Còn tông Duy thức Đại thừa nói: - Đoạn giới: Đoạn các hành mà Kiến đạo đoạn. - Ly giới: Lìa các hành mà Tu đạo đoạn. - Diệt giới: Diệt các hành thuộc sở y. [X. kinh Tạp a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.22; luận Câu xá Q.25; luận Hiển tông Q.24; luận Du già sư địa Q.27]. (xt. Tam Giới).
đoạn luật nghi
(斷律儀) Phạm: Prahàịa-saôvara. Chỉ cho Tĩnh lự luật nghi (Định cộng giới) và Vô lậu luật nghi (Đạo cộng giới) cùng sinh với 9 đạo Vô gián. Tức chỉ cho Tĩnh lự luật nghi cùng sinh với 9 đạo Vô gián trong định Vị chí hữu lậu và Vô lậu luật nghi cùng sinh với 9 đạo Vô gián trong định Vị chí vô lậu. Trong đó, Định cộng giới và Đạo cộng giới cùng sinh với 8 đạo Vô gián trước có năng lực đoạn trừ các phiền não sinh khởi ở cõi Dục; còn Định cộng giới và Đạo cộng giới cùng sinh với đạo Vô gián thứ 9 có năng lực đoạn trừ phiền não và ác giới ở cõi Dục, vì thế mà đặc biệt được gọi là Đoạn luật nghi. Đoạn luật nghi cùng với Biệt giải thoát luật nghi, Tĩnh lự luật nghi và Vô lậu luật nghi gọi chung là Tứ luật nghi. [X. luận Đại tì bà sa Q.119; luận Câu xá Q.14].
đoạn lậu
(斷漏) Lậu là tên khác của phiền não. Đoạn lậu nghĩa là dứt tuyệt các phiền não.
đoạn mạt ma
Marmacchid (skt)—Nỗi đau đớn cùng cực lúc lâm chung vì tử huyệt bị tổn hại (nỗi đau nầy chỉ có trong dục giới chứ không có trong sắc giới và vô sắc giới)—To cut through wound, or reach vital parts; cause to die.
; (斷末摩) Chỉ cho nỗi khổ lúc hấp hối sắp chết. Mạt ma là dịch âm của tiếng Phạm marman, nghĩa là huyệt chết, đốt xương, là những chỗ hiểm trong thân thể con người, nếu bị thương tổn thì sẽ đau đớn dữ dội mà có thể đưa đến tử vong hoặc điên cuồng. Vì thế Đoạn mạt ma (dứt các đốt xương) được dùng để diễn tả nỗi đau đớn cùng cực lúc hấp hối sắp chết. Trong 3 cõi, chỉ có cõi Dục có khổ đoạn mạt ma, nhưng không phải ở cảnh giới nào cũng có khổ này. Như luận Đại tì bà sa quyển 190 (Đại 27, 953 thượng), nói: Ở cõi Dục, địa ngục không có đoạn mạt ma; súc sinh, ngã quỉ thì có đoạn mạt ma; con người trong 3 châu (trừ Bắc câu lư châu), các châu còn lại đều có đoạn mạt ma. Các vị trời ở cõi Dục cũng không có đoạn mạt ma, vì họ không tạo nghiệp não loạn. [X. luận Câu xá Q.10; luận Thuận chính lí Q.30; Q.35; Câu xá luận kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].
đoạn nghi sinh tín
(斷疑生信) Đoạn trừ nghi hoặc, tin nơi diệu lí thực tướng. Tông Thiên thai cho rằng Như lai dùng 2 trí Quyền (tạm thời), Thực (chân thực) làm năng lực mầu nhiệm và coi phần Bản môn của kinh Pháp hoa có công dụng thù thắng đoạn nghi sinh tín. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 9 (Đại 33, 797 trung), nói: Kinh này dùng 2 trí Quyền, Thực đoạn trừ 7 thứ phương tiện vô minhtối đại, cùng vào viên nhân, phá tình chấpTích gần (Ứng thân Phật), sinh lòng tin sâu vàoBản địa(Pháp thân Phật), cho đến khiến bậc Đẳng giác cũng đoạn nghi sinh tín, công dụng thù thắng như thế há cùng với các kinh khác ư?.
đoạn nghiệp
Upacchedaka-kamma (P). Destructive karma.
đoạn nhục
Mamsa-bhak-sana-vinivrtta (skt)—Cấm ăn thịt. Tiểu Thừa không cấm dùng thịt (tam tịnh, ngũ tịnh, hay cửu tịnh nhục), còn trong luật Đại Thừa Bồ Tát đạo, lấy tâm đại bi làm gốc nên nghiêm cấm việc ăn thịt (trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Ngài Ca Diếp hỏi Đức Thế Tôn: “Vì sao mà Thế Tôn lại không cho ăn thịt?” Đức Thế Tôn bảo: “Ăn thịt là làm mất đi hạt giống từ bi.”)—To forbid flesh; meat was permitted by the Buddha under the Hinayana cult, but forbidden in Mahayana under the Bodhisattva cult.
; (斷肉) Phạm: Màôsa-bhakwaịa-vinivftta. Tuyệt đối cấm ăn thịt. Theo luật của Tiểu thừa, tỉ khưu được ăn 3 thứ thịt: không thấy, không nghe và không ngờ. Tức là không trông thấy con vật bị giết, không nghe tiếng con vật kêu khi bị giết và không ngờ rằng con vật ấy bị giết là vì mình. Nhưng trong các kinh điển Đại thừa như kinh Phạm võng, kinh Niết bàn, kinh Lăng già v.v... đều lấy tâm đại bi làm chính nên cấm chỉ tất cả việc ăn thịt trong bất kì trường hợp nào. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 4 (Đại 12, 386 thượng), nói: Thiện nam tử! Bắt đầu từ nay không cho phép đệ tử Thanh văn ăn thịt. Nếu nhận món thịt do tín đồ bố thí thì khi ăn nên quán tưởng như ăn thịt con mình. Ngài Ca diếp lại bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Tại sao Như lai không cho phép ăn thịt? Thiện nam tử! Người ăn thịt là người dứt hạt giống đại từ. Ngài Ca diếp lại hỏi: Bạch đức Thế tôn! Tại sao trước kia cho phép các tỉ khưu ăn 3 loại tịnh nhục? Này Ca diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy là tùy theo việc mà tạm chế định. [X. kinh Phạm võng Q.hạ]. (xt. Tố Thực, Sát Sinh).
Đoạn phược 斷縛
[ja] ダンバク danbaku ||| To sever defilements. 〔二障義HPC 1.807b〕 => Cắt đứt phiền não. Đồ chúng 徒衆 [ja] トシュウ toshū ||| (1) A multitude of disciples. A disciple. (2) The lay followers of a temple or monastery. (3) The common people. => 1. Nhóm đông đệ tử. Môn đệ. 2. Hàng đệ tử cư sĩ tại gia của một ngôi chúa hay tự viện. 3. Thường dân.
đoạn phục
To cut off and overcome.
; Cắt đứt và chế ngự hay khuất phục (không cho phiền não và ma quân ẩn núp trong thân tâm)—To cut off and overcome (passion and illusion).
; (斷伏) Chế phục và đoạn trừ phiền não. Đoạn là đoạn trừ hạt giống của phiền não; Phục là chế phục sự hiện hành của phiền não. Nói theo thứ tự thì trước hết chế phục phiền não rồi sau đó mới đoạn trừ.
đoạn quả
Nirvana.
đoạn sát
Cutting off killing—See Tứ Giới (D) (2).
đoạn sự sa môn
(斷事沙門) Cũng gọi Đoán sự tỉ khưu. Một chức tăng có quyền hạn xử trị các tăng ni vi phạm kỉ luật trong giáo đoàn. Đoán sự nghĩa là phán quyết sự kiện. Cứ theo Tục cao tăng truyện quyển 21, thì thời Bắc Tề, có ngài Hồng tuân, một vị tăng tinh thông giới luật, được vua thỉnh cử làm Đoán sự sa môn chuyên phán quyết các việc vi phạm pháp luật hay những việc tranh cãi để giữ cho đoàn thể tăng ni được nghiêm chính. [X. Đại tống tăng sử lược Q.trung]. (xt. Tăng Quan, Tăng Cương).
đoạn tang
To go out of mourning.
đoạn thiện căn
xem nhất-xiển-đề.
; Cắt đứt và đoạn tận thiện căn—To cut off or destroy, roots of goodness.
; (斷善根) Phạm: Kuzala-mùla-samuccheda. Gọi tắt: Đoạn thiện. Dứt mất căn lành. Theo tà kiến thượng phẩm mà phủ định nhân quả gọi là Đoạn thiện căn. Cứ theo luận Câu xá quyển 17, khi khởi tà kiến thượng phẩm (ở trình độ cao) thì chỉ đoạn thiện căn ở cõi Dục, còn thiện căn của 9 phẩm (9 giai đoạn) là do 9 phẩm tà kiến nghịch thuận đối nhau, đoạn trừ dần dần theo thứ lớp chứ không phải đoạn trừ ngay trong một lúc. Trong 4 châu quanh núi Tu di, trừ châu Bắc câu lô, người trong 3 châu còn lại đều có đoạn thiện căn này. Sau khi đoạn thiện căn, nếu lại đặt ra nghi vấn có nhân quả hay không, hoặc phát khởi chính kiến tin chắc có nhân quả, thì có thể lại được thiện căn như cũ, gọi là Tục thiện căn hoặc là Tục thiện (thiện căn nối tiếp trở lại). Luận Du già sư địa quyển 1 thì nói, đoạn thiện căn nghĩa là chỉ đoạn sự hiện hành của thiện căn chứ không phải đoạn chủng tử (hạt giống) của thiện căn. Phật giáo Đại thừa cho rằng Nhất xiển đề là người phủ định nhân quả, vì thế cũng gọi là Đoạn thiện căn. [X. luận Phát trí Q.2; luận Câu xá Q.10; luận Thuận chính lí Q.9; Du già luận kí Q.1].
Đoạn thiện căn 斷善根
[ja] ダンゼンコン danzenkon ||| (mūlaccheda). The cutting off of one's good roots of meritorious practice. => (s: mūlaccheda). Cắt đứt căn lành hay công đức tu hành của mình.
đoạn thiện xiển đề
1) Loại cực ác đã dứt bỏ hết mọi thiện căn, nên không bao giờ thành Phật được: The icchanti, or outcast, who cannot attain Buddhahood, i.e. a man of great wickedness. 2) Vị Bồ Tát đại bi không muốn thành Phật vì muốn lưu chuyển trong cõi Ta Bà để cứu độ chúng sanh: A bodhisattva who separates himself from Buddhahood to save all beings.
; (斷善闡提) Chỉ cho những chúng sinh điên đảo khởi tà kiến không tin nhân quả, dứt hết tất cả thiện căn. Xiển đề nói đủ là Nhất xiển đề (Phạm: Icchantika), chỉ cho hạng chúng sinh hữu tình đam mê đắm trước các thú vui thích ở đời mà không biết mong cầu đạo xuất li, thường bị coi như loại chúng sinh vĩnh viễn không thể thành Phật. Nhưng, đối với việc Xiển đề có thể thành Phật hay không, các kinh luận cũng như các tông phái có những chủ trương khác nhau, đến nay vẫn chưa có thuyết nào nhất định. Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng phần đầu, thì Đoạn thiện xiển đề là một trong 3 loại Xiển đề, loại chúng sinh này tuy khó mong thành Phật, nhưng nếu nhờ uy lực của Phật, phát tâm Bồ đề thì cũng có thể đạt đến cảnh giới Niết bàn giải thoát, cho nên thuộc về Xiển đề hữu tính. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.26, Q.32 (bản Bắc); kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. (xt. Nhất Xiển Đề).
đoạn thường
1) Chấm dứt và tiếp tục: End and continuance. 2) Đoạn kiến và thường kiến: Annihilation and Permanence. 3) Tử và bất tử: Death and immortality.
đoạn thường nhị kiến
See Đoạn Thường.
Đoạn thường nhị kiến. 斷常二見
[ja] ダンジョウニケン danjō niken ||| The two views of nihīism 斷見 and eternalism 常見; also expressed as non-existence 無見 and existence 有見. => Hai kiến chấp về Đoạn (đoạn kiến) và Thường (thường kiến); còn gọi là Vô kiến và Hữu kiến.
Đoạn thường 斷常
[ja] ダンジョウ danjō ||| Nihīism 斷見 and eternalism 常見 or non-existence and existence. See 斷常二見. 〔瑜伽論 T 1579.30.623c20〕 => Đoạn kiến và Thường kiến, hoặc Hữu kiến và Vô kiến . Xem Đoạn thường nhị kiến.
đoạn thất
Thất thứ bảy hay thất cuối cùng của bảy thất—The final seventh, i.e. forty-ninth day of obsequies for the dead.
đoạn thực
1) Ăn kiêng hay ăn chay: To fast. 2) Tự nhịn đói: To starve oneself voluntarily.
; (斷食) Quyết định dứt hẳn việc ăn uống trong một thời gian đặc biệt nào đó để cầu nguyện hoặc để thành tựu sự tu hành. Từ xưa, Ấn độ đã thực hành pháp đoạn thực, vốn là một trong những pháp của phái Du già hoặc các phái ngoại đạo khác. Nhưng về sau Phật giáo cũng thu dụng pháp này, nhất là những nhà tu bí pháp của Mật tông thực hành đoạn thực để biểu thị sự thành tâm và giữ gìn thân thể thanh tịnh. Cứ theo kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn quyển trung, người tu hành nếu muốn cầu được Tất địa thì trước hết phải giữ đủ 8 giới, hoặc đoạn thực trong 2, 3 ngày. Vả lại, đoạn thực không phải chỉ làm cho tâm thanh tịnh, mà còn khiến cho người tu pháp khi thành tựu việc tu hành, tránh được những thứ bẩn thỉu, hôi thối từ trong mình tiết ra, như phẩn giải, đờm dãi v.v... Đoạn thực cũng còn chữa được bệnh tật. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 (Đại 23, 509 trung) chép: Ngài Mục liên hỏi y sư Kì bà rằng: Đệ tử bị bệnh, phải chữa cách nào? Kì bà đáp: Thưa, chỉ bằng cách đoạn thực. Gần đây bên Âu, Mĩ dấy lên phong trào Đoạn thực, tuy không liên quan gì đến vấn đề tông giáo, nhưng Đoạn thực có khả năng trị bệnh và khai phát tiềm năng của sinh mệnh. Ngoài ra, thời gian Đoạn thực dài hay ngắn là tùy theo người mà có khác nhau. Đoạn thực cũng có nhiều loại, như: Diêm đoạn là không ăn muối, Cốc đoạn là không ăn ngũ cốc, Mộc thực là chỉ ăn trái cây v.v... [X. kinh Đà la ni tập Q.11; kinh Diệu tí bồ tát sở vấn Q.2; Thích thị yếu lãm Q.thượng; mục Ma kiệt đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].